5.2. Kênh Aquaporins
Hàng rào lipid của lớp sừng không cho nước thấm qua, do đó trên thượng bì có những kênh
protein giúp cho việc khuếch tán nước ra lớp thượng bì gọi là kênh Aquaporins. Có 13 loại kênh
Aquaporins được đánh số từ 0 đến 12.
6. DA KHÔ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
6.1. Da khô và tuổi
Từ lúc sinh ra đến khoảng 4 tuần tuổi, các chức năng của hàng rào bảo vệ da sẽ từ từ hoàn
thiện: Lớp tế bào sừng dày hơn, hiện tượng mất nước qua thượng bì giảm. Sự phát triển về chức
năng và cấu trúc này sẽ đạt được sự hoàn chỉnh chủ yếu trong 1 năm đầu đời. Các nghiên cứu
cũng cho thấy sự khác biệt TEWL của làn da người trẻ và nguời trưởng thành phụ thuộc vào
những vùng da khác nhau. Ví dụ, khi tuổi tăng, TEWL sẽ tăng ở vùng cổ nhưng sẽ giảm ở vùng
trán và má.
Số lượng của lipid ở bề mặt da của người trẻ cũng cao hơn và giảm dần theo tuổi. Nguyên
nhân do sự thay đổi hormon theo tuổi, cụ thể là giảm androgen làm giảm sự sản xuất bã nhờn,
cũng như làm giảm kích thước các hạt lipid.
6.2. Da khô và hiện tượng viêm
Tổn thương hàng rào bảo vệ da sẽ kích thích sản xuất các cytokine của thượng bì, đặc biệt là
interleukin la, IL-6, IL-8. Hiện tượng này xảy ra trong môi trường có độ ẩm thấp, điều này có thể
giải thích tại sao các đợt bùng phát của chàm thể tạng, ngứa da, viêm da thường xảy ra vào mùa
đông.
6.3. Da khô và stress
Từ lâu, stress về tâm lý đã được chứng minh có liên quan đến các bệnh như viêm da cơ địa,
vảy nến và viêm da tiết bã. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh mối liên hệ giữa stress và tổn
thương hàng rào bảo vệ da. Các hormone của stress như glucocorticoid ức chế sự tổng hợp lipid
làm cho da khô.
7. ĐIỀU TRỊ
7.1. Nguyên tắc
Tránh các tác nhân gây dị ứng (kể cả các tác nhân làm sạch).
Chú ý sử dụng sản phẩm dưỡng ẩm thường xuyên (tốt nhất sau khi tắm, sau khi rửa tay, rửa
mặt), ít nhất 2 lần 1 ngày.
Số lượng dưỡng ẩm phù hợp: 250-500 g/tuần.
Nếu có các bệnh lý khác kèm theo, thoa cách các thuốc điều trị tại chỗ khác ít nhất 30 phút
(đối với corticosteroid) hoặc ít nhất 1 giờ (đối với tacrolimus). Tỉ lệ phù hợp của sản phẩm dưỡng
ẩm và các thuốc điều trị tại chỗ là 10:1.
42
7.2. Điều trị cụ thể
Tình trạng da khô có thể được cải thiện bằng những sản phẩm dưỡng ẩm. Chất giữ ẩm là
những sản phẩm giúp tăng độ ẩm cho làn da. Chúng thường chứa các thành phần lipid như
ceramide, acid béọ và cholesterol, glycerin... Dạng dưỡng ẩm thường được sử dụng đó là hỗn
dịch dầu trong nước như kem, lotion hay hỗn dịch nước trong dầu như kem thoa tay. Cơ chế của
chất dưỡng ẩm thông qua việc tăng hấp thu nước vào trong da, giảm ma sát giữa các Lớp lamella
của lớp sừng hoặc hình thành một tấm màng để khóa ẩm. Các chất dưỡng ẩm chia làm ba loại
chính: chất cấp ẩm (humectant), chất làm mềm (emollient) hay chất khóa ẩm (occlusive).
Các chất khóa ẩm hoạt động theo cơ chế vật lý, nó sẽ hình thành một tấm màng để khóa
ẩm, giảm hiện tượng mất nước qua thượng bì. Nó chỉ có hiệu quả khi tồn tại ở trên da. Các sản
phẩm dưỡng ẩm có thành phần khóa ẩm rất hiệu quả, nhưng đôi khi sẽ làm da chúng ta có cảm
giác nặng nề, nhờn, bít lỗ chân lông do khả năng bao phủ của nó và thường chỉ thích hợp cho
những ai da khô, vùng có khí hậu lạnh, môi trường khắc nghiệt. Những chất khóa ẩm thường gặp
bao gồm: petrolatum, lanolin, dầu, dầu khoáng, các loại dầu tự nhiên như dầu hạt hướng dương,
dầu olive...
Các chất cấp ẩm hoạt động như một nam châm. Nó hút nước từ không khí và từ sâu trong da
để cung cấp độ ẩm cho da. Tuy nhiên, nó chỉ hút nước từ không khí nếu độ ẩm của không khí >
80%, nếu không nó sẽ hút nước từ Lớp sâu của da và ngược lại làm da khô hơn. Chính vì lí do đó
sẽ hiệu quả hơn nếu phối hợp chất cấp ẩm và chất khóa ẩm. Các sản phẩm dưỡng ẩm là chất cấp
ẩm rất phù hợp cho những làn da dầu và sống ở những vùng nhiệt đới. Những chất như glycerin,
urea, hydroxy acid, lactic acid, propylene glycol... nằm trong nhóm này.
Các chất làm mềm: thường được thêm vào trong sản phẩm giúp da mềm mại và mịn màng,
tăng độ đàn hồi của da. Nó lấp đầy những khoảng trống của các tế bào sừng bị bong ra. Có nhiều
chất khóa ẩm hay chất cấp ẩm đồng thời cũng giữ vai trò là chất làm mềm như: lanolin,
petrolatum, dầu khoáng.
Các thành phần tự nhiên khác như: mầm lúa mì, shea butter hoặc những chất chống oxy hóa
như vitamin c, vitamin E, trà xanh, coenzyme Q10 cũng được thêm vào trong các sản phẩm
dưỡng ẩm. Những chất chống oxy hóa này có khả năng giảm tác hại của các gốc oxy hóa tự do
trên da, từ đó giảm quá trình lão hóa da. Một thành phần đặc biệt khác là GHK Cu: đây là chất
được sử dụng rộng rãi với khả năng làm lành vết thương,
43
Lipid chỉ chiếm khoảng 10% trọng lượng của lớp sừng. Tuy nhiên, vai trò của nó vô cùng
quan trọng trong giữ ẩm cho da. Hầu hết những lipid này đều được tự tổng hợp trong lớp thượng
bì chứ không được cung cấp từ chế độ ăn. Tuy nhiên, linoleic acid - một thành phần của
phospholipid, glucosylceramide và ceramide 1, 4, 9 lại là một acid thiết yếu quan trọng chỉ có thể
được cung cấp qua chế độ ăn hay thuốc thoa tại chỗ. Cụ thể hơn, a-linoleic là một acid béo co-3
có ở cá hồi và dầu cá như dầu gan cá tuyết, lòng đỏ trứng, sữa bò, đậu nành, mỡ heo, cây mướp
tây...
9. CÁCH CHĂM SÓC DA KHÔ
- Tắm đúng cách
+ Đừng quên đóng cửa phòng tắm.
+ Chỉ tắm trong khoảng thời gian từ 5-10 phút.
+ Sử dụng nước ấm.
+ Sử dụng những loại sữa tắm dịu nhẹ, không chứa hương liệu.
+ Sử dụng một lượng sữa tắm vừa đủ để làm sạch chất dơ và dầu trên da.
+ Lau khô nhẹ nhàng bằng khăn sạch.
+ Sử dụng dưỡng ẩm (kem, mỡ, dung dịch) ngay sau khi tắm xong hoặc sau khi rủa tay.
- Nên lựa chọn những sản phẩm dưỡng ẩm dạng kem hay dạng mỡ sẽ tốt hơn dạng
dung dịch.
- Sử dụng son dưỡng ẩm phù hợp. Neu môi bị ngứa hay châm chích sau khi sử dụng son
dưỡng ẩm, hãy đổi một loại khác.
- Lựa chọn những sản phẩm chăm sóc da dịu nhẹ, không có hương thơm. Khi da bị
khô, tránh sử dụng những sản phẩm như xà bông khử mùi hoặc các sản phẩm chăm sóc
da chứa cồn, hương liệu, retinoid, alpha-hydroxy acid (AHA).
- Mang găng tay.
+ Bàn tay là nơi đầu tiên dễ bị chú ý nhất nếu da bị khô. Mang găng tay có thể làm
giảm tình trạng khô da, đặc biệt khi trời lạnh, khi thực hiện những hoạt động đụng
nước như rủa Chén, giặt đồ hoặc tiếp xúc hóa chất...
- Ưu tiên những quần áo ít gây cọ xát hoặc ngứa như coton, lụa.
- Lựa chọn xà phòng giặt đồ dành cho da nhạy cảm.
ngoài ra nhiều nghiên cứu chứng minh nó còn có khả năng tăng tổng hợp collagen cũng nhu làm
giảm các nếp nhăn nhỏ.
8. C HẾ ĐỘ ĂN VÀ DA KHÔ
-
Tránh tiếp xúc gần với những nguồn nhiệt trực tiếp như bếp lửa, than nóng...
-
Sử dụng máy làm ẩm không khí.
44
10. KẾT LUẬN
Da khô là một trong những tình trạng hay gặp trong da liễu. Hầu hết những tình trạng nhẹ,
bệnh nhân đều tự xử lý được với các sản phẩm dưỡng ẩm mua dễ dàng ngoài thị trường trước khi
tìm đến bác sĩ da liễu. Đối với những tình trạng nặng, cần chú ý giải thích cho bệnh nhân những
hậu quả có thể xảy ra cũng như dùng những sản phẩm điều trị thích hợp, hiệu quả.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
A.K. Dabrowska, F. Spano, s. Derler et al (2017). The relationship between skin function, barrier
properties, and body-dependent factors. S7án Research and Technology/.
2.
David H Chu (2012). Development and stnicture of skin. In Fitzpatrick’s Dermatology in general
medicine, 8th edition, Me Graw Hill, pp.58-74.
3.
G. Moncrieff, M. Cork, S.Lawton, s. Kokiet, c. Daly, c.Clark (2007). Use of emollients in dry-skin
conditions: consensus statement. Clinical and Experimental Dermatology, 38(3): 231-38.
4.
Baumann L. (2009). Dry' skin. Cosmetic Dermatology: Principles and Practice, 2th edition, Me Graw Hill,
pp 83-93.
5.
Ruzica Jurakic Toncic, SanjaKezic, Suzana Ljubojevic Hadzavdic, BrankaMarinovic. (2017). Skin banier
and dry' skin in the mature patient. Clinics in Dermatology. matol
2017.10.002
45
CÁC HỆ THỐNG PHÂN LOẠI DA
(CLASSIFICATIONS OF SKIN TYPE)
1. ĐẠI CƯƠNG
Các sản phẩm chăm sóc da và mỹ phẩm bắt đầu định hình vào năm 1915 bởi sự cạnh tranh
dữ dội giữa hai doanh nhân Helena Rubinstein và Elizabeth Arden, cả hai bà đều mở các thẩm
mỹ viện vào năm đó và phát triển thành một đế chế kinh doanh hùng mạnh.
Vào lúc này, các từ da khô, nhờn, kết hợp và nhạy cảm đã được Helena Rubinstein sử dụng
để mô tả và xác định là có bốn loại da Cơ bản. Trong khi những định nghĩa này được đưa ra mà
không có một tranh luận chuẩn nào để hiểu về các loại da thì các sản phẩm chăm sóc da và mỹ
phẩm càng phát triển, trở thành ngành công nghiệp có doanh số hàng triệu đô và tạo ra các nhóm
sản phẩm mới gọi là duợc mỹ phẩm (cosnieceuticals). Tuy nhiên, một công thức mỹ phẩm không
được kiểm soát có thể can thiệp vào chức năng sinh học của da. Ngày nay, các sản phẩm này trở
nên đại chúng với số lượng tiêu thụ ngày càng tăng.
Trong lúc các sản phẩm chăm sóc da trên thị trường đã thay đổi đáng kể và trải qua một sự
phát triển mạnh trong cuối thế kỷ qua vài tiến bộ tương đối đã được thực hiện để hiểu rõ hoặc
phân loại da. Thật vậy, cách xác định loại da theo truyền thống trên thực tế không đủ để hướng
dẫn thầy thuốc và người tiêu dùng chọn lựa sản phẩm thích hợp. Điều này đặc biệt đáng chú ý vì
ngày càng có nhiều sản phẩm được đưa ra thị trường và được chỉ định cho một số loại da đặc biệt
như khô hoặc nhạy cảm.
Phân loại da không chỉ quan trọng vì giúp đánh giá bệnh nhân và theo dõi điều trị mà còn
dùng để đánh giá trong các nghiên cứu. Một số phân loại da như của Fitzpatrick, đánh giá da dựa
vào khả năng bắt nắng, dùng để theo dõi đáp ứng điều trị. Một số phân loại khác dừng trên lâm
sàng để đánh giá các rối loạn về mặt thẩm mỹ và theo dõi hiệu quả khi dùng thuốc.
Trước khi bắt đầu với bất cứ điều trị hay thủ thuật nào, bác sĩ lâm sàng cần xác định loại da
của bệnh nhân để đánh giá sự đáp ứng cũng như nhận định các nguy cơ kết hợp.
2. CÁC HỆ THỐNG PHÂN LOẠI DA
2.1. Hệ thống phân loại da của Fitzpatrick (1975)
Hệ thống này lúc đầu được đưa ra để phân loại da bệnh nhân nhằm xác định liều của tia cực
tím khi điều trị vảy nến. Hệ thống này dựa vào khả năng bắt nắng của da nguời bệnh cho nên
không xác định chính xác màu da, ít dự đoán đáp ứng của đa đối với một
46
Số chấn thương do laser hoặc phẫu thuật. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua, hệ thống này vẫn
được sử dụng và hiện tại các bác sĩ chuyên khoa da vẫn dùng hệ thống này đe lên kế hoạch điều
trị bằng tia cực tím hoặc dự đoán đáp ứng da khi điều trị laser.
Bảng 1. Phân loại da theo Fitzpatrick
Loại da
Đặc điểm
Khả năng bắt nắng
1
Da trắng, mắt xanh/nâu,
tóc nâu/đỏ
Luôn phỏng nắng, không bị bắt nắng
II
Da trắng, mắt xanh
Dễ phỏng nắng, đôi khi bị bắt nắng
III
Da vàng
Đôi khi phỏng nắng, luôn luôn bắt nắng
IV
Da nâu lợt
ít khi phỏng nắng, dễ bắt nắng
V
Da nâu
Hiếm khi phỏng nắng, luôn bắt nắng
VI
Da nâu đen/đen
Không bao giờ phỏng nắng, bắt nắng mức độ nặng
Hệ thống phân loại da theo Baumann (2005)
Hệ thống này phân loại da thành 16 loại. Phân loại da của Rubinstein không nhận định được
những đặc điểm khác của da có trên lâm sàng như: nhờn, đề kháng, có khuynh hướng phát triển
sắc tố hoặc nếp nhăn, còn hệ thống phân loại của Baumann (BSTS Baumann skin typing system)
là một sự cải tiến để phân loại da dựa trên bốn cặp đặc điểm chính của da:
-
Nhòm (oily)/khô (dry)
-
Nhạy cảm (sensitive)/đề khàng (resistant)
-
Sắc tố (pigmented)/không sắc tố (nonpigmented)
-
Nhăn (wrinkled)/căng (tight)
Bởi vì 4 cặp đặc điểm trên không thề tách ròi nên việc đánh giá dựa trên 4 đặc điểm này sẽ
cho ra 16 loại da. Phân loại da theo Baumann dựa vào một hệ thống câu hỏi để xác định loại da
cơ bản cũng như đánh giá tình trạng da sau các thay đổi của cuộc sống, vì thế phân loại da không
hằng định. BSTS đặc biệt hướng dẫn cho thầy thuốc, bệnh nhân, người tiêu dùng nhận diện các
sản phẩm thích hợp cho da mình.
2019
BSTS được xác định bởi một loạt câu hỏi được cập nhật và cải tiến liên tục. Các câu hỏi,
các mô tả hoàn chỉnh về mỗi loại da và sản phẩm khuyến cáo cho mỗi loại da được tìm thấy
trong sách “The skin type solution”, sách này được xuất bản ở nhiều nước, bằng nhiều ngôn ngữ.
Bác sĩ và chuyên gia chăm sóc da có thể tham gia và góp phần vào việc thu thập các dữ liệu để
cập nhật các câu hỏi về phân loại da tại com. BSTS có 10 ngôn ngữ tại web này.
Khi đã đăng kí trên web các chuyên gia chăm sóc da có thể email các câu hỏi đến cho bệnh nhân
để bệnh nhân có thể tự đánh giá da của mình. Sau đó, kết quả BSTS của bệnh nhân sẽ được báo
cáo cho bác sĩ hoặc nhà thẩm mỹ học. Bác sĩ có thể quyết định điều trị dựa vào loại da của cá
nhân và chính các phân loại da này tạo thuận lợi trong thực hành. Quan trọng hơn là chuyên gia
chăm sóc da và bác sĩ chuyên khoa da có thể sử dụng các thông tin này để giúp xác định sản
phẩm nào và quá trình nào thích hợp nhất cho bệnh nhân. Các câu hỏi BSTS thường xuyên được
cập nhật theo các dữ liệu của thống kê. Hơn nữa, các câu hỏi mới được phát triển là kết quả của
quá trình hiệu đính.
47
Chúng ta sẽ đề cập đến bốn cặp đặc điểm mà dựa vào đó BSTS phân loại. Trong quá trình
đó 16 loại da thay đổi sẽ được mô tả. Mỗi đặc điểm trong bốn đặc điểm này có một loạt các câu
hỏi riêng biệt và được cho điểm để xác định cho đặc điểm đó.
Ví dụ: xác định nhờn hay khô thì dùng 0 (oily) hoặc D (dry). Khi điểm được xác nhận, lời
khuyên về chăm sóc da sẽ dễ được đưa ra. Quan điểm điều trị hoặc chăm sóc da kết hợp với
BSTT được nhấn mạnh là điều trị không xâm lấn, tại chỗ, ban đầu.
Bảng 2. Phân loại da theo Baumann
Nhờn (O)
Sắc tố (P)
Nhờn (O) Không
sắc tố (N)
Khô (D) Sắc
to (P)
Khô(D) Không sắc
tố (N)
Nhạy cảm (S)
0SPW
OSNW
DSPW
DSNW
Nhăn (W)
Nhạy cảm (S)
OSPT
OSNT
DSPT
DSNT
Căng (T)
Đề kháng (R)
ORPW
ORNW
DRPW
DRNW
Nhăn (W)
Đề kháng (R)
ORPT
ORNT
DRPPT
DRNT
Căng (T)
* Hydrat hóa da
Phân loại từ nhờn đến khô: da khô có đặc điểm hoặc là giảm sút hàng rào bảo vệ, thiếu chất
giữ ẩm tự nhiên hoặc là giảm sự tiết bã nhờn. Da nhờn biểu hiện bằng tăng sản xuất chất bã. Mặc
dù bệnh nhân có thể than phiền là có kết hợp, khô ở má và nhờn ở vùng chữ T, dạng này thường
được xếp cuối bảng. Tình trạng O/D giúp đơn giản việc chăm sóc da. Trong BSTS điểm cao nhất
tương ứng với tăng tiết bã nhờn, trong đó điểm thấp nhất tương ứng với da mất nước. Da rơi vào
điểm giữa là da bình thường.
Chăm sóc da có đặc điểm nhờn đến khô: các loại da nhờn khó điều trị bởi vì không hiệu quả
với thuốc bôi do quá nhiều chất nhờn tiết ra. Thêm vào đó, kem chống nắng thường hòa tan trong
dầu có thể làm tăng nhờn. Cách điều trị tốt nhất cho da nhờn là rủa trực tiếp. Chất rửa tạo bọt và
chất rửa có salicylic acid có thể sử dụng cho những bệnh nhân này. Nước hoa hồng (toner) có thể
dùng cho loại da này nếu muốn. Chất giữ ẩm không cần thiết. Nếu muốn sử dụng các dạng nhẹ
hơn thì lotion có thể chấp nhận được. Chất bã chứa một lượng cao vitamin E nên dạng da nhờn
biểu hiện khả năng chống oxy hóa cao. Hầu hết các loại da nhờn thường gặp ở người dưới 40
tuổi và có thể có biểu hiện mụn. Loại gel và serum thích hợp hơn cream trên bệnh nhân da nhờn.
Một Lớp phấn trên kem chống nắng có thể giúp làm giảm bóng nhờn trên bệnh nhân da nhờn có
dùng kem chống nắng. Da khô cần chất rửa không tạo bọt để không làm cạn lớp lipid bảo vệ ở bề
mặt da. Trong khi da vẫn còn ẩm, chất giữ ẩm phải được bôi để bắt giữ nước trên bề mặt da.
Nước hoa hồng không được sử dụng ở bệnh nhân da khô. Chất giữ ẩm phải được chọn lựa dựa
trên khả năng làm giảm sự mất nước qua thượng bì nhằm sửa chữa hàng rào bảo vệ da. Loại da
quá khô phải tránh rửa kỹ (cọ xát) bởi vì cọ xát sẽ làm giảm sự thấm qua hàng rào thượng bì. Các
loại kem chống nắng dạng lotion và cream thích hợp cho các loại da khô.
Da bình thường sẽ tốt khi dùng công thức lotion hơn là gel hoặc cream. Loại da bình
48
thường có thể thay đổi thành da khô ở môi trường có độ ẩm giảm hoặc ở thời tiết lạnh.
* Da nhạy cảm
Có đặc điểm từ nhạy cảm đến đề kháng: điểm cao là da nhạy cảm, điểm thấp là da đề kháng.
Da nhạy cảm có đặc điểm dễ viêm và biểu hiện bằng mụn trứng cá đỏ, có cảm giác ngứa, nóng rát
hoặc dễ phát ban. Da đề kháng có lớp thượng bì khỏe mạnh để có thể bảo vệ làn da chống lại các dị
ứng nguyên, các chất kích thích khác từ môi trường và chống mất nước. Người có làn da đề kháng
hiếm khi có hồng ban hoặc mụn. Tổng quát, ta có thể điều trị bằng các sản phẩm chăm sóc da mạnh
hơn và dùng các giải pháp như lột bằng hóa chất.
Chăm sóc da từ đặc điểm nhạy cảm đến đề kháng: cá nhân da đề kháng có thể sử dụng hầu hết
các sản phẩm chăm sóc da mà không sợ phản ứng phụ xuất hiện (ví dụ như mụn, phát ban hoặc
ngứa...). Mặt khác cùng một chất lượng nhưng thoa trên da đề kháng có thể bị cho là sản phẩm
không hiệu quả bởi vì da của những bệnh nhân này đòi hỏi nồng độ cao của các hoạt chất trong sản
phẩm. Nói cách khác, loại da đề kháng có hàng rào bảo vệ da khá mạnh. Do đó, người có làn da đề
kháng có thể không thích hợp với các sản phẩm nhẹ do những sản phẩm này không thể xâm nhập
vào thượng bì để tạo ra kết quả. Những bệnh nhân da đề kháng cần nồng độ cao của acid glycolic
và cần Thời gian kéo dài hơn trong quang hóa trị liệu. Họ ít bị dị ứng với các sản phẩm chăm sóc
da hơn da nhạy cảm.
Những bệnh nhân da nhạy cảm thường biểu hiện phản ứng viêm. Quá trình điều trị được đặt ra
để ngăn ngừa và giảm kích thích cũng như tình trạng viêm thông qua việc sử dụng các sản phẩm
chống viêm. Bởi vì bốn loại da nhạy cảm có thể chồng lắp lên nhau nên các khuyến cáo về chăm sóc
da sẽ phụ thuộc vào loại da nhạy cảm hoặc phụ thuộc vào sự kết hợp của các loại da của bệnh nhân.
Tổng quát, ở da nhạy cảm tránh chà xát kỹ da mặt bởi vì sự cọ xát sẽ làm suy yếu hàng rào bảo vệ da
và có thể làm nặng hơn tình trạng mụn.
49
* Sắc tố da
Đặc điểm từ có sắc tố (Pigmented, P) đến không sắc tố (Nonpigmented, N). Màu sắc da
không phải là trọng tâm ở đây. Các cá nhân có khuynh huớng phát triển những thay đổi tăng sắc
tố được xếp nhóm p trong hệ thống BSTS, những cá nhân không có sắc tố được xếp nhóm N.
Bệnh nhân nhóm P: để thay đổi sắc tố có thể dùng hóa chất để lột, laser, thuốc bôi.
Bệnh nhân nhóm N: da thường sáng, không có khả năng rám nắng. Tuy nhiên, những cá
nhân tóc đỏ (da trắng) có khuynh hướng xuất hiện tàn nhang và cũng được xếp vào nhóm p trong
hệ thống phân loại BSTS.
Chăm sóc da có đặc điểm p đến N: các cá nhân loại da N không cần bất cứ sản phẩm chăm
sóc da đặc biệt nào. Tuy nhiên, da nhóm p thích hợp với những hoạt chất làm sáng da như
arbutin, hydroquinon, kojic acid. Các sản phẩm chứa niacinamide và đậu nành có thể ngăn ngừa
tăng sắc tố không mong muốn. IPL và Fraxel là những điều trị phối hợp dành cho những bệnh
nhân BSTS tăng sắc tố để giúp loại trừ tăng sắc tố do ánh sáng mặt trời hoặc sạm da.
50
*Lão hóa da
Đặc điểm từ có nếp nhăn (wrinkled, W) đến căng da (tight, T): trong bộ câu hỏi BSTS cần
nhận diện các nguy cơ của nếp nhăn. Các câu hỏi về các thói quen như tiếp xúc ánh sáng mặt
trời, hút thuốc lá, sử dụng giường làm nâu da cần được chú ý. Ngoài ra, có các câu hỏi về tổ tiên
để xác lập tác động của di truyền trên việc tạo nếp nhăn da.
Các nhóm w không cần thiết phải có nếp nhăn da ngay tại thời điểm hoàn thành các câu hỏi
nhưng theo Thời gian họ cần các biện pháp bắt đầu ngăn ngừa do họ có nguy cơ.
Các cá nhân da sáng hơn thường có biểu hiện nhóm w hơn là ở nhóm da sậm. Retinoid,
kem chống nắng và chống oxy hóa phải được sử dụng ở bệnh nhân nhóm w.
* Da kết hợp
Như đã trình bày từ trước, đánh giá bốn cặp đặc điểm sẽ phân loại được 16 loại da khác
nhau. BSTS có thể trợ giúp thêm trong quá trình điều trị đặc biệt ở những làn da có vấn đề và
chọn lựa sản phẩm không cần toa thích hợp nhất cũng như chọn lựa quá trình chăm sóc cho
những cá nhân có làn da đặc biệt.
Một bệnh nhân có da khô, nhạy cảm, không sắc tố, căng (DSNT) sẽ thích hợp với những
sản phẩm có chức năng sửa chữa được hàng rào bảo vệ da.
Các sản phẩm chứa retinoid và chống oxy hóa sẽ thích hợp nhất cho những bệnh nhân da
nhờn, nhạy cảm, không sắc tố và nhăn (0SNW) bởi vì những người này da thường nổi mụn và có
khuynh hướng dễ xuất hiện nếp nhăn.
Các sản phẩm chọn lọc sẽ được chỉ định ở những làn da đặc biệt, cần chú ý đến khuynh
hướng hoặc tình trạng phối hợp ở các làn da này.
Khi một bệnh nhân tăng sắc tố, có nhăn (PW) da thường có tiền căn tiếp xúc ánh sáng
mặt trời, biểu hiện nếp nhăn và dày sừng ánh sáng. Da sậm thường gặp ở bệnh nhân có tăng
sắc tố,
căng trong khi đó da sáng thường gặp ở những bệnh nhân không có sắc tố, dễ xuất
hiện nếp nhăn. Ngoài ra, bệnh chàm thường gặp ở bệnh nhân da khô, nhạy cảm (DS) trong
khi đó mụn thường gặp ở da nhờn, nhạy cảm (OS). Trứng cá đỏ gặp ở bệnh nhân OSNW.
Cuối cùng, cần khuyến cáo mỗi cá nhân thực hiện bộ câu hỏi BSTS ở lúc đầu và thực hiện
lại khi có stress, hoặc khi có biểu hiện thay đổi trên da bởi vì phân loại da sẽ không hằng định.
Sự thay đổi da có thể do stress hoặc có thể thay đổi trong quá trình stress, có thai, mãn kinh, thay
đổi thời tiết, do những thay đổi đáng kể từ môi trường ngoài hoặc các thay đổi bên trong Cơ thể.
Đã có những thay đổi đáng kể và phát triển theo lũy thừa các cản phàm chăm sóc da kể từ
ngày sản phẩm của Helena Rubinstein và Elizabeth Arden được đưa ra thị trường. Các công ty
thường đưa ra các quảng cào quá mức và lẫn lộn.
51
BSTS, bộ câu hỏi để xác định BSTS có thể dùng để thu thập các dữ liệu và cung cấp sản
phẩm chăm sóc da thích hợp và khuyến cáo quá trình chăm sóc. BSTS đánh giá dựa vào bốn đặc
điểm nhờn/khô, nhạy cảm/đề kháng, có sắc tố/không có sắc tố, nếp nhăn/ căng da, tạo ra bốn mã
số cho mỗi loại da. Mỗi loại da được xác định sẽ nêu được khuynh hướng dùng sản phẩm phát
triển tình trạng da liên quan.
Điểm BSTS của bệnh nhân cung cấp cho bác sĩ và nhà thẩm mỹ học các thông tin có thật
để có thể dễ khuyến cáo các sản phẩm chăm sóc da OTC thích hợp cho bệnh nhân. Điểm BSTS
cũng cho phép người tiêu dùng quyết định chọn các sản phẩm tại chỗ thích hợp cho loại da của
họ. Bác sĩ và bệnh nhân có thể sử dụng hệ thống có tại typesolution.com.
2.3. Hệ thống phân loại của Glogau (1994)
Hệ thống của Glogau phân loại các mức độ lão hóa da do ánh sáng như nếp nhăn, rối loạn
màu sắc da. Hệ thống phân loại da của Glogau dựa vào sự so sánh bên ngoài giữa da người bệnh
và các hình ảnh được chụp trước đó. Hệ thống này có mục đích tuyên truyền hơn là công cụ để
làm căn cứ cho các khuyến cáo lâm sàng.
Bảng 3. Phân loại lão hóa da của Glogau
Nhóm
Loại
Tuổi trung
bình
Mô tả
Đặc điểm da
1
Nhẹ
28-35
Không có nếp
nhăn
Lão hóa da ánh sáng mức độ nhẹ: thay đổi sắc tố
nhẹ, không dày sừng, nếp nhăn rất ít
II
Trung
bình
35-50
Nếp nhăn xuất
hiện khi cử
động
Lão hóa da ánh sáng mức độ nhẹ đến trung bình:
có vài đốm nâu có thể có dày sừng, xuất hiện
nếp nhăn khi cười
III
Tiến
triển
50-65
Nếp nhăn xuất
hiện khi nghỉ
ngơi
Lão hóa da ánh sáng mức độ tiến triển: tình
trạng tăng sắc tố rõ, có giãn mạch, có dày sừng,
trang điểm dày mới che được nếp nhăn
IV
Nặng
60-75
Nhiều nếp
nhãn
Lão hóa da ánh sáng mức độ nặng: da màu vàng
- xám, có thể xuất hiện tốn thương tiến ác tính,
nhiều nếp nhăn, không thề che đậy bằng trang
điểm
2.4. Hệ thống phân loại dựa vào sự tăng nhiễm sắc tố da của Taylor (2006)
Phân loại gồm các tấm cạc mỏng có từ 10 đến 15 màu da khác nhau. Một vùng tăng nhiễm
sắc được đối chiếu với một màu của tấm cạc. Phân loại này đánh giá các tổn thương rối loạn sắc
tố.
52
2.5. Hệ thống phân loại da của Roberts
Là sự phối hợp phân loại da của Fitzpatrick và Glogau, đánh giá khả năng nhiễm sắc của da với
chấn thương, tổn thương viêm và mô tả hình thái sẹo của da bệnh nhân
Hệ thơng phân loại đụa vào sụ- tăng nhiễm sắc đa cùa Roberts (Hỉ
hppetpigmentation)
Ho
Giảm sắc tố
H1
Tăng nhiễm sắc mức độ nhẹ và tạm thời (<1 năm)
H2
Tăng nhiễm sắc mức độ nhẹ và kéo dài (>1 năm)
H3
Tăng nhiễm sắc mức độ trung bình và tạm thời (<1 năm)
H4
Tăng nhiễm sắc mức độ trung bình và kéo dài (>1 năm)
H5
Tăng nhiễm sắc mức độ nặng và tạm thời (<1 năm)
Hg
Tãng nhiễm sắc mức độ nặng và kéo dài (>1 năm)
Hệ thống
scarring
phân loại đụu vào sẹo đa của Roberts.' mô tả hình thái sẹo (Sỉ
So
Sẹo teo da
S1
Sẹo không teo da
s2
Sẹo dạng dát
S3
Sẹo dạng mãng
s4
Sẹo lồi
s5
Sẹo lồi dạng cục
3. KẾT LUẬN
Có rất nhiều hệ thống phân loại da, các phân loại này đều giúp cho bác sĩ cũng như bệnh
nhân biết được đặc điểm da từ đó có thể chọn lựa sản phẩm điều trị hoặc chăm sóc phù hợp.
Chọn lựa sử dụng phân loại nào sẽ tùy thuộc vào mục đích điều trị hay nghiên cứu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Baumann L, Weisberg E (2002). “The Baumann skin typing system”. Cosmetic dermatology/, pp. 69-74.
2. Castenedo-Tardan MP, Baumann L (2002). “Scales used to classify skin”. Cosmetic dermatology/, pp.
342-346.
3. Nguyễn Thị Thời Loan (2009). “Hệ thống phân loại da của Roberts", mnv.quylioandli.org.vn.
53
DA NHỜN
(OILY SKIN)
1. ĐẠI CƯƠNG
Sự tiết nhờn đóng một vai trò quan trọng trong việc giữ ẩm da thông qua sản xuất glycerol - một thành
phần cần thiết cho sự nguyên vẹn của hàng rào bảo vệ da. Hơn nữa, chất nhờn còn cung cấp lipid cho bề mặt
của da, ngăn hiện tượng mất nước qua thượng bì (TEWL). Tuy nhiên, nếu sự tăng tiết nhờn quá mức sẽ gây
ra da nhờn.
Da nhờn là một trong những than phiền thường gặp nhất, đặc biệt ở lứa tuổi thanh thiếu niên. Da nhờn là
một tác nhân góp phần gây nên mụn trứng cá và rất ảnh hưởng thẩm mỹ. Những người da nhờn trung bình
hay nặng thường than phiền về việc phải rửa mặt quá nhiều lần trong ngày nhưng da thường bóng nhờn chỉ
vài giờ sau đó. Họ thường có lỗ chân lông to và rất khó khăn trong việc tìm được một loại kem chống nang
phù hợp với da của mình. Trên lâm sàng, biểu hiện của da nhờn là hiện tượng bóng vùng chữ T (trán, mũi,
cằm). Những đặc điểm của da nhờn ảnh hưởng trên cả nam và nữ, làm họ mất tự tin vào bản thân cũng như
các mối quan hệ xã hội.
2. TUYẾN BÃ NHỜN
Số lượng tuyến bã nhờn thường duy trì ồn định suốt đời. Tuy nhiên, kích thước của nó thì tăng dần theo
tuổi. Tuyến bã nhờn thường khác nhau về kích thước và ở khắp cơ thể trừ lòng bàn tay, lòng bàn chân, số
luợng tuyến nhờn tập tiling nhiều nhất ở mặt và đầu nhưng chỉ có một ít được tìm thấy ở môi. Tuyến bã nhờn
nằm ở Lớp bì lưới, thường đi chung với nang lông tạo thành
đơn vị nang lông tuyến nhờn, nhưng một số ít
cũng xuất hiện ở những vùng không có nang lông như mí mắt, núm vú, bộ phận sinh dục...
2.1. Chức năng của chất nhờn
Vai trò chính xác của chất nhờn vẫn chưa được hiểu hết hoàn toàn. Những nghiên cứu gần đây cho thấy
vai trò của chất nhờn phức tạp hơn nhiều so với hiểu biết của chúng ta. Chất nhờn không chỉ đóng vai trò
quan trọng trong việc giữ ẩm da, ngăn hiện tượng mất nước qua thượng bì, nó còn chống lại các stress do có
chứa vitamin E - một chất chống oxy hóa mạnh và CoQlO. Hơn nữa, chất nhờn còn có khả năng ức chế hoạt
động của vi khuẩn do có chứa IgG có thể ngăn ngừa nhiễm trùng. Một số vai trò khác có thể kể đến như: điều
hòa quá trình sinh tổng hợp steroid (thông qua việc sử dụng cholesterol làm chất nền), kiểm soát có chọn lọc
các hoạt động của hormone ở da, bảo vệ tế bào sừng khỏi tia UVB...
Tuy nhiên, sự tiết nhờn quá mức sẽ làm bít tắc lỗ chân lông, tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn như
Propionibacterium acnes phát triển và gây mụn trứng cá. Đồng thời, chất nhờn cũng góp phần tham gia vào
sự hình thành nhân mụn.
54
2.2. Số lượng tuyến nhờn
Số lượng tuyến bã nhờn có thể thay đổi từ 400 - 900/cm2 ở trên mặt đến < 100/cm2 ở các vị
trí khác trên cơ thể, thậm chí ở vùng cẳng tay còn < 50/cm2.
2.3. Cấu trúc của chất nhờn và sự tiết nhờn
Sự tổng hợp và trao đổi của các thành phần lipid của tế bào bã nhờn diễn ra hơn một tuần.
Hiện tượng này ở người trẻ nhanh hơn người già. Tuyến bã nhờn bao gồm hai loại tế bào: tế bào
bã nhờn và các tế bào gai của ống biểu mô. Tế bảo bã nhờn phải trải qua ba giai đoạn để đạt kích
thước tối đa: giai đoạn chưa biệt hóa, giai đoạn biệt hóa và giai đoạn trưởng thành. Các tế bào bã
nhờn tăng kích thước do tích tụ lipid và có thể tăng gấp 100 - 150 lần. Các thành phần của chất bã
nhờn bao gồm: cholesterol, cholesterol ester, acid béo, diglyceride, triglyceride và hai thành phần
đặc biệt wax esters và squalene mà không vị trí nào khác trong cơ thể sản xuất được, kể cả các tế
bào sừng của lớp thượng bì.
2.4. Định lượng nồng độ chất nhờn
Đe xác định mức độ bóng nhờn của da, ta có thể sử dụng các phương pháp định lượng chất
nhờn trên da. Tuy nhiên, không phải tất cả các lipid trên bề mặt da đều là chất bã nhờn. Các lipid
trên bề mặt da bao gồm hai loại: các thành phần của lớp thượng bì được sản xuất bởi các tế bào
sừng trưởng thành (bao gồm 25% cholesterol, 50% ceramides, 15% acid béo tự do và một lượng
nhỏ cholestryl esters và cholestryl sulfate) và các thành phần của chất bã nhờn (57,5%
triglyceride và các sản phẩm thủy phân của nó, 26% wax esters, 12% squalene, 3% cholesterol
esters và 1,5% cholesterol). Đồng thời, các lipid trên bề mặt da không phân bố đồng đều ở các
nơi trên cơ thể, tỉ lệ của các lipid thượng bì so với lipid của chất nhờn của các vùng
cũng hoàn toàn khác nhau. Những vị trí của cơ thể có nhiều chất nhờn bao gồm: trán, da đầu,
phần trên của thân, ngực. Nồng độ chất nhờn trên da có thể rất cao từ 100 -500 pg/cm2 hoặc thấp
khoảng 25-40 pg/cm2. Nồng độ chất nhờn tiết ra phụ thuộc và số lượng và kích thước của tuyến
nhờn. Kích thước tuyến nhờn càng lớn, nồng độ lipid tiết ra càng nhiều. Ở những vùng có nhiều
tuyến nhờn, ví dụ như vùng trán, nồng độ lipid dao động từ 150-300 pg/cm2 nhưng trong đó nồng
độ lipid do tế bào sừng thượng bì đóng góp chỉ có 25-40 pg/cm2 hay 3-6%. Tuy nhiên, khi tuyến
nhờn chưa phát triển (giai đoạn tiền dậy thì) hoặc ở những vị trí thiếu tuyến nhờn (ví dụ như lòng
bàn tay, lòng bàn chân) thì chất nhờn bề mặt chủ yếu là lipid của lớp thượng bì.
Sự hiện diện của chất nhờn trên da có thể đo được một cách khách quan bằng những phương
pháp không xâm lấn như: những miếng giấy thấm hút nhờn, đánh giá bằng cách đo độ sáng, đất
sét bentonite hay những dải băng nhạy cảm lipid. Ngoài ta, tác giả
55
Phương pháp
Nồng độ thông thường (Casual
level)
Tỉ lệ bài tiết chất nhờn (Sebum excretion
rate)
Phân loại
Tĩnh
Động
Vùng da
Thực hiện ở vùng da không điều
trị
Đo lượng chất nhờn ở vùng da bóng nhờn
trong một khoảng thời gian nhất định.
Đơn vị tính
pg/cm2
pg/cm2/phút
Yêu cầu
Phương pháp đo lường trên những
vùng da khác nhau trong những
khoảng thời gian khác nhau để đạt
được mức độ tiết nhờn tối đa (ví
dụ: trán: 5-6 giờ).
Cũng là phương pháp đo lường trên da
nhưng bằng những kỹ thuật mới giúp biết
được tỉ lệ này chỉ sau 1 giờ.
Bên cạnh những phương pháp khách quan, còn có những bảng câu hỏi do bệnh nhân tự trả
lời được xây dựng để đánh giá tình trạng da nhờn của bệnh nhân. Đầu tiên là bảng câu hỏi “Oily
skin self-assessment Scale” (OSSAS) đánh giá mức độ nghiêm trọng của da nhờn thông qua 3
câu hỏi cảm nhận về thị giác, xúc giác và cảm giác. Thứ hai là bảng câu hỏi “Oily Skin Impact
Scale” (OSIS) đánh giá mức độ ảnh hưởng của da nhờn thông qua 2 câu hỏi về sự phiền toái của
da nhờn và sự tự tin của bản thân. Tuy nhiên, cần chú ý mức độ tin cậy của những bảng câu hỏi
này sẽ bị tác động bởi những yếu tố môi trường như độ ẩm, các mùa trong năm hoặc điều kiện
sinh học như thay đổi hormon và quan trọng nhất là cảm nhận chủ quan của bệnh nhân. Một bảng
câu hỏi tương đối chính xác nhất là “Oily Skin Self Image Questionnaire” (OSSIQ) bao gồm 18
câu hỏi để đánh giá nhận thức cũng như hành vi và những hậu quả cảm xúc liên quan đến da
nhờn.
3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DA NHỜN
Cơ chế chính xác của việc sản xuất chất nhờn vẫn chưa được sáng tỏ. Tuy nhiên, có nhiều
yếu tố ảnh hưởng đến việc tiết nhờn. Retinoid, hormone, yếu tố tăng trưởng, chế độ ăn, gen, tuổi,
GIỚI... là các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động và sự biệt hóa của tuyến bã nhờn.
3.1. Androgen và các hormone
Androgen từ lâu đã được biết đến như một yếu tố quan trọng trong quá trình tiết bã bởi vì
chất nhờn tăng tiết khi giai đoạn dậy thì bắt đầu và bệnh nhân bị hội chứng buồng trứng đa nang
thường bị mụn trứng cá. Bên cạnh đó, mụn trứng cá thường bùng phát trước chu kỳ kinh nguyệt,
điều này do việc giãn nở tối đa ống tuyến nhờn dẫn đến sự tăng tiết chất nhờn quá mức.
Androgen thường làm tăng sinh các tế bào tiết nhờn của vùng mặt hơn so với các vùng khác của
cơ thể.
Testosterone không liên quan trục tiếp đến việc tiết nhờn do nam GIỚI có nồng độ
Baumann L. đã mô tả có hai cách để định lượng nồng độ chất nhờn: nồng độ thông thường và tỉ
lệ bài tiết chất nhờn. Tuy nhiên, hai cách này chỉ đo được nồng độ chứ không phân tích được
các
thành phần của chất nhờn.
56
testosterone cao nhiều hơn so với nữ nhung mức độ tiết nhờn chỉ cao hơn một chút. Estrogens,
insulin, glucocorticoid và prolactin, hormon tuyến giáp cũng có ảnh hưởng đến chức năng của
tuyến nhờn nhưng cơ chế chưa được rõ ràng.
3.2. Chế độ ăn và hoạt động sản xuất bã nhờn
Chế độ ăn có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc sản xuất chất nhờn. Chất nhờn có
thể được tổng hợp trong tuyến nhờn từ nhiều nguồn như glucose, acetate và acid béo. Tuy nhiên,
mộ số lipid từ chế độ ăn (đặc biệt là acid béo) có thể được hấp thu từ tuần hoàn vào các tế bào
nhờn mà không có sự thay đổi. Một số nghiên cứu cho thấy chocolate có làm tăng nồng độ chất
nhờn. Tuy nhiên, sự thay đổi này không có ý nghĩa. Ngược lại, với chế độ ăn giảm caloric, chỉ
trong 4-8 tuần có thể giảm được 40% sự sản xuất chất nhờn.
Một chế độ ăn giàu carbohydates, nhiều đường sẽ làm tăng đường huyết, tăng insulin máu và
tăng hình thành yếu tố tăng truởng giống insulin 1 (Insulin-like growth factor 1 - IGF1). Ngoại
trừ pho mát, sữa và các chế phẩm từ sữa mặc dù có chỉ số đường thấp nhưng vẫn có khả năng cao
kích thích tiết insulin. Nồng độ insulin và IGF1 đạt đỉnh ở giai đoạn dậy thì và giảm dần cho đến
khoảng 30 tuổi. Insulin và IGF1 kích thích tuyến nhờn tăng tổng hợp lipid. IGF 1 cũng làm tăng
sản xuất androgen và hoạt động chuyển hóa androgen ở ngoại vi, từ đó tăng tiết nhờn.
3.3. Stress và hoạt động sản xuất bã nhờn
Từ những năm 1972, stress đã được chứng minh có sự liên quan với việc tăng lượng acid
béo tự do trên da. Corticotropin - releasing hormone (CRH), được biết như một stress hormone và
các thụ thể của hormone này được tìm thấy trên tuyến bã nhờn. CRH tăng cường quá trình tổng
hợp lipid và quá trình chuyển đổi của dihydroepi androsterone sulfate (DHEAS) thành
testosterone trong tế bào bã nhờn. Do đó, hormone này đóng một vai trò quan trọng mối liên hệ
giữa stress và sự sản xuất bã nhờn. Tuyến nhờn cũng có những thụ thể của chất p - một chất trung
gian thần kinh được phóng thích mỗi khi bị stress. Trong thực nghiệm, chất p này kích thích
tuyến bã tăng hoạt động và điều này giải thích những trường hợp mụn liên quan đến stress.
3.4. Gen và hoạt động sản xuất bã nhờn
Hoạt động sản xuất bã nhờn cũng có tác động của gen. Sự vượt trội allele của gen
cytochrome P450 đã được ghi nhận ở những bệnh nhân tăng tiết nhờn. Một đột biến trên
cytochrome P450 có thể dẫn đến sự tăng phân hủy các các retinoid tự nhiên và đây chính là
nguyên nhân gây rối loạn sự trưởng thành của tế bào bã gây ra da nhờn. Ngoài ra, sự biểu hiện
quá mức của gen Smad 7 đối với chuột chuyển gen có tương quan với sự tăng sản của tuyến
nhờn và sự biểu hiện quá mức c-myc liên quan đến sự tổng hợp lipid bã.
57
3.5. Tuổi, GIỚI, chủng tộc, sự thay đổi theo mùa và hoạt động sản xuất bã nhờn
Hoạt động sản xuất nhờn thay đổi theo những giai đoạn khác nhau của cuộc đời phụ thuộc
vào sự sản xuất androgen. Tuyến nhờn phát triển mạnh ở trẻ sơ sinh, nhưng kích thước của
chúng giảm đáng kể vài tuần sau khi sinh, bắt đầu tăng trở lại với sự tăng hoạt động vỏ thượng
thận và đạt đến mức tối đa ở người trẻ trưởng thành. Mặc dù số lượng tuyến bã nhờn tương đối
ổn định trong suốt cuộc đời, tỉ lệ tiết nhờn cao nhất trong độ tuổi từ 15-35 tuổi và suy giảm từ từ
theo tuổi. Ở bất kỳ độ tuổi nào, giá trị trung bình của chất nhờn ở nam giới cao hơn của phụ nữ.
Mặc dù mức lipid bề mặt giảm theo tuổi. Tuy nhiên, kích thước tuyến bã nhờn lại lớn hơn. Điều
này có thể giải thích tại sao trên mặt của người lớn tuổi ta quan sát thấy các lỗ chân lông lớn
hơn.
Nhiều nghiên cứu cho thấy người da đen có tuyến bã nhờn lớn hơn, nồng độ chất nhờn
cũng cao hơn so với người da trắng. Người Mỹ gốc Phi cho thấy sự bài tiết bã nhờn nhiều hơn
đáng kể so với người Đông Á, họ cũng có số lượng lỗ chân lông lớn hơn, nhưng số lượng lỗ chân
lông tăng lên theo tuổi ở tất cả các chủng tộc.
Sự tiết nhờn cũng phụ thuộc vào nhiệt độ: tăng l°c sẽ tăng tiết nhờn lên 10% (do sự thay đổi
độ nhớt của chất nhờn chứ không phải do tăng sản xuất chất nhờn).
4. ĐIỀU TRỊ TĂNG TIẾT NHỜN
4.1. Điều trị tại chỗ
Mặc dù có nhiều sản phẩm trên thị trường quảng cáo có khả năng ức chế tiết nhờn. Tuy
nhiên, có rất ít sản phẩm thực sự hiệu quả. Hầu hết các sản phẩm này chứa các thành phần như
talc hoặc các chất có khả năng hấp thu chất nhờn hơn là ức chế tiết nhờn. Một số chất khác cũng
được sử dụng như chiết xuất từ hạt mè, dầu argan, cây cọ lùn Bắc Mỹ... Retinoid thoa tại chỗ
không làm giảm sản xuất bã nhờn. Laser, tái tạo da bằng hóa chất, tiêm trong da botulinum toxin
cũng được sử dụng để điều trị tình trạng tăng tiết nhờn và lỗ chân lông to nhưng kết quả cũng rất
thay đổi.
4.2. Điều trị toàn thân
Isotretinoin là thuốc hiệu quả nhất trong việc điều trị tăng tiết bã nhờn. Các chất kháng
androgen như ketoconazole, spironolactone có hiệu quả ít. Progesterone chỉ có hiệu quả trong
thời gian ngắn 2-3 tháng khi sử dụng ở phụ nữ nhưng không có hiệu quả ở nam.
5. CHĂM SÓC DA NHỜN
Da nhờn là một loại da khó điều trị vì không có phương pháp nào thực sự hiệu quả trong
việc giảm tiết bã nhờn. Việc sử dụng những sản phẩm chăm sóc da cũng có nhiều điều cần lưu ý.
58
Làm sạch da với sữa rửa mặt dành riêng cho da nhờn
Da nhờn thường đi liền với vấn đề nan giải khác là mụn trứng cá. Do vậy, việc đầu tiên và
quan trọng nhất, là phải đảm bảo da mặt luôn sạch sẽ.
Da nhờn rất khó tính nên cần chọn loại sữa rửa mặt dành riêng da nhờn. Sữa rửa mặt dịu
nhẹ, không chứa dầu (oil free) sẽ giúp làm sạch da, thông thoáng lỗ chân lông và ngăn ngừa mụn
trứng cá. Có thể lựa chọn những sản phẩm chứa các thành phần như benzoyl peroxide, salicylic
acid, glycolic acid hay beta-hydroxy acid.
Nên dùng sữa rửa mặt 2 lần/ngày vào buổi sáng, buổi tối để làm sạch bụi bẩn, mồ hôi bám
trên da, các lớp trang điểm, tẩy các tế bào chết và luôn giữ da sạch sẽ, thông thoáng.
Có thể dùng nước hoa hồng hàng ngày nếu muốn
Sử dụng nước hoa hồng có thể làm da kích ứng và tăng tiết nhờn. Tuy nhiên, nếu vẫn muốn
sử dụng, nên chọn nước hoa hồng loại dịu nhẹ, không chứa cồn (alcohol) để không gây kích ứng
da và dùng vào mỗi buổi tối, buổi sáng sau khi rửa mặt bằng sữa rửa mặt, chỉ nên sử dụng ở
những vùng tiết nhờn nhiều như trán, hai má và cằm.
Tẩy tế bào chết cho da nhờn
Tẩy tế bào chết cho da nhờn từ 1 - 2 lần/tuần để làm bong tróc lớp tế bào chết, làm thoáng
lỗ chân lông và ngăn ngừa mụn trứng cá.
Hạn chế trang điểm
Nên thực hiện các bước trang điểm cần thiết nhất và chọn sản phẩm trang điểm dành cho da
nhờn, loại tốt, có nguồn gốc rõ ràng không gây kích ứng da và chú ý phải tẩy trang sạch sẽ.
Chọn mỹ phẩm phù hợp
Tùy theo nhu cầu, có thể lựa chọn kem dưỡng trắng da, chống lão hóa ban đêm dành cho da
nhờn (thành phần không được chứa dầu và có khả năng kiềm dầu cao). Nên lựa chọn dạng gel
hay serum.
Chọn kem dưỡng ẩm da thích hợp cho da nhờn: sau khi làm sạch, da có khuynh hướng tăng
tiết nhờn để bù vào lượng dầu bị mất và nhanh chóng trở lại bóng nhờn như cũ. Dưỡng ẩm thích
hợp ngay sau khi làm sạch da mặt chính là bước quan trọng nhất giúp điều tiết nhờn cho da dầu.
Nên ưu tiên chọn sản phẩm dạng dung dịch (lotion).
Bảo vệ da hàng ngày
Cần đặc biệt lưu ý đến việc bảo vệ làn da khỏi tác động của ánh nắng mặt trời, khói bụi
bằng đeo khẩu trang, bôi kem chống nắng, đội mũ, mặc áo dài tay mỗi khi ra đường. Khi sử dụng
kem chống nắng, có thể thoa thêm một lớp phấn mỏng để giảm bóng nhờn.
59
6. KẾT LUẬN
Với những tiến bộ trong sự hiểu biết về sinh lý và sinh học phân tử của tuyến bã nhờn và
quá trình chuyển hóa của lipid, chúng ta sẽ đã làm sáng tỏ hơn những khía cạnh Cơ bản của việc
tiết bã cũng như da nhờn. Tuy là một loại da khó điều trị vì không có phương pháp nào thực sự
hiệu quả trong việc giảm tiết bã nhờn, nhưng nếu chú ý chăm sóc da đúng cách và phù hợp,
chúng ta vẫn có một làn da khỏe mạnh và “trẻ lâu” hơn các loại da khác.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chica ES, Zaouati DC, Wolkenstein p, et al (2007). Development and validation of a questionnaire to
evaluate how a cosmetic product for oily skin is able to improve well-being in women. J Eur Acad Dermatol
Venereol, 21(9): 1181-6.
2. Clarke SB, Nelson AM, George RE, et al (2007). Phannacologic modulation of sebaceous gland activity:
mechanisms and clinical applications. Dermatol Clin, 25(2): 137-46.
3. Baumann L., Saghari s., Weisberg E. (2009). Oily skin. Cosmetic Dermatology: Principles and Practice, 2th
edition, Me Graw Hill, pp.75-82.
4. Nouveau-Richarđ s, Zhu w, Li YH, et al (2007). Oily skin: specific features in Chinese women. Skin
ResTechnol, 13:43-48.
5. TliaiH. Saktuna, Howard I. Maibach(2012). Oily skin: Anoverview. SkinPhannacolPhysiol, 25: 227-35.
6. Rose AE, Goldberg DJ (2013). Safety and efficacy of intradennal injection of botulinum toxin for the
treatment of oily skin. Dermatol Surg,.39(3 Pt l):443-8.
60
DA NHẠY CẢM
(SENSITIVE SKIN)
1. ĐẠI CƯƠNG
Da nhạy cảm là một vấn đề quan trọng trong thực hành lâm sàng do tính phổ biến và mức
độ ảnh hưởng của nó đối với các phương pháp điều trị bệnh da, cũng như sự tuân thủ điều trị và
chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Tuy nhiên, việc chẩn đoán, điều trị và dự phòng da nhạy
cảm vẫn là một thách thức đối với bác sĩ lâm sàng bởi chưa có đủ công cụ chẩn đoán mang tính
khách quan, sự biến thiên về triệu chứng ở mỗi người và độ đa dạng, phổ biến của các chất gây
nhạy cảm. Hiểu biết về da nhạy cảm giúp bác sĩ và bệnh nhân lựa chọn được sản phẩm điều trị và
chăm sóc da phù hợp, tránh làm nặng thêm tình trạng da.
2. ĐỊNH NGHĨA
Có nhiều định nghĩa khác nhau về da nhạy cảm, trong đó định nghĩa da nhạy cảm khái quát
nhất là tình trạng cảm giác châm chích, nóng rát, căng kéo (đôi khi thấy đau hoặc ngứa) khi da
phản ứng quá mức với các tác động bên ngoài như tác nhân vật lý (ánh sáng, tia cực tím, môi
trường nóng, lạnh...), hóa học (hóa mỹ phẩm, xà phòng, tác nhân ô nhiễm...), hoặc với các tác
nhân bên trong cơ thể như yếu tố cơ địa, nội tiết (chu kỳ kinh nguyệt), tâm lý (stress)... dù không
có bệnh lý thực thể nào. Một số bài báo gần đây còn xem da nhạy cảm như là một hội chứng với
các triệu chứng sau đây : (1) có tính nhạy cảm cao (đánh giá chủ quan), (2) có hoặc không có
triệu chứng lâm sàng khách quan, (3) có thể xuất hiện đơn độc hoặc đi kèm với các tình trạng da
khác, (4) ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống.
Hiện tại do các nghiên cứu ban đầu cho thấy không có sự tương quan giữa các yếu tố triệu
chứng cơ năng, triệu chứng thực thể, yếu tố kích hoạt, nên vẫn còn sự tranh cãi khi xếp da nhạy
cảm như một tình trạng da thoáng qua hay là bệnh lý da thực thể. Tuy vậy, vẫn chưa có sự đồng
thuận chính thức về danh pháp “da nhạy cảm”, có thể có các cụm từ khác để chỉ hiện tượng tăng
phản ứng quá mức này như: da dễ kích ứng (irritable), da phản ứng quá mức (hyperreactive), da
không dung nạp (intolerant).
3. DỊCH TỄ
Trước đây tình trạng da nhạy cảm được xem là chỉ ảnh hưởng trên một nhóm nhỏ dân số.
Các khảo sát gần đây với các bảng câu hỏi tự đánh giá cho thấy tần suất da nhạy cảm chiếm tỉ
lệ khá cao. Khảo sát với dân số 34.000 nguôi ở 7 quốc gia đã cho thấy 49% phụ nữ châu Âu,
51% phụ nữ Mỹ và 56% phụ nữ Nhật ghi nhận tình trạng da nhạy cảm. Các khảo sát
61
thực hiện ở một số nước châu âu khác như Pháp, Ý, Bồ đào Nha, Tây Ban Nha,... cũng cho tỉ lệ
tương tự.
Tỉ lệ da nhạy cảm ở nữ GIỚI cao. hơn nam GIỚI, với 50 - 61% so với 30 - 44%, tuy vậy tần
suất ớ nam giới đang tăng nhanh. Một điều thú vị là nghiên cứu cho thấy nguyên nhân gây ra da
nhạy cảm có khác biệt giữa nam và nữ. Nếu như da nhạy cảm ở nữ GIỚI chủ yếu do mỹ phẩm thì
ở nam GIỚI nguyên nhân là do việc cạo râu, chà xát và tấy tế bào chết quá mức. Mức độ nhạy
cảm lần lượt tăng dần theo thứ tự ở người da đen, da trắng và da vàng. Điều này được lý giải là do
người da đen có số lớp tế bào ở lớp sừng nhiều hơn người da trắng. Người châu Á có da nhạy cảm
hơn người da trắng có thể do chế độ ăn nhiều đồ cay. Tần suất cũng thay đổi theo mùa, với mùa
hè cao hơn mùa đông. Độ tuổi cũng có ảnh hưởng lên khuynh hướng da nhạy cảm. Người trẻ tuổi
dễ có các triệu chứng da nhạy cảm hơn. Tuy vậy, người lớn tuổi với hiện tượng da lão hóa, mỏng
manh hơn cho nên dễ phản ứng với những chất kích ứng thường gặp. Người > 50 tuổi có khuynh
hướng tăng nhạy cảm ở da đầu và bộ phận sinh dục. Hiện tại chưa có nghiên cứu nào về tình
trạng da nhạy cảm ở trẻ em. Tuy nhiên, ở trẻ em, do tỉ lệ diện tích da so với chỉ số khối cơ thể
cao, dễ tiếp xúc quá mức với các sản phẩm chăm sóc da, nên dễ có khuynh hướng trở thành da
nhạy cảm.
4. BỆNH NGUYÊN
Các yếu tố ảnh hưởng đến độ nhạy cảm của da rất đa dạng, bao gồm yếu tố nội sinh và
ngoại sinh:
-
Yếu tố nội sinh: di truyền, bệnh đi kèm
-
Yếu tố ngoại sinh: yếu tố môi trường, mỹ phẩm và các sản phẩm chăm sóc da
Yếu tố di truyền được chia thành hai phần gồm yếu tố chủ thể và yếu tố cấu trúc da. Yếu
tố chủ thể gồm GIỚI nữ, người châu Á, trẻ tuổi, dễ bị ửng đỏ hay nóng bừng mặt, yếu tố nội tiết,
vị trí giải phẫu (vùng mặt - nếp mũi má). Yếu tố cấu trúc da bao gồm lớp sừng mỏng/bị phá vỡ,
giảm giữ nước, tăng phân bố thần kinh ở thượng bì, tăng tuyến mồ hôi, giảm Sphingolipids, tăng
lipid trung tính, tăng mất nước qua thượng bì.
Một trong những mối liên hệ quan trọng được nhắc đến là liên hệ giữa da nhạy cảm và cơ
địa dị ứng nói chung. Viêm da CƠ địa là bệnh lý thường gặp nhất có khuynh hướng dẫn đến da
nhạy cảm. Người ta thấy rằng mật độ thần kinh ở da những bệnh nhân viêm da cơ địa cao hơn so
với da bình thường, đồng Thời da nhạy cảm và viêm da tiếp xúc có chung một số con đường
cytokine. Tuy vậy, một số nghiên cứu khác lại cho thấy cơ địa dị ứng vẫn không phải là yếu tố
dự đoán cho da nhạy cảm, với tỉ lệ tự đánh giá tình trạng da nhạy cảm là tương đương giữa hai
nhóm người có CƠ địa dị ứng và người không có cơ địa dị ứng. Đồng thời, khoảng 1/3 phụ nữ có
CƠ địa dị ứng tự đánh giá không phải là da nhạy cảm. Tóm lại, một số tác giả xem viêm da cơ
địa là bệnh lý đa yếu tố, tác động lên những bệnh nhân có rối loạn chức năng hàng rào thượng bì
với da khô và nhạy cảm. Mặt khác, một số ít trường hợp da nhạy cảm lại là biểu hiện dưới lâm
sàng của tình trạng viêm da tiếp xúc dị ứng. Những trường hợp này cần đến Patch test và
Photopatch test để loại trừ các bệnh lý nền tiềm ẩn. Những bệnh nhân hen và viêm mũi dị ứng,
viêm kết mạc dị ứng cũng có tăng độ nhạy cảm của da với nhiều chất kích ứng khác nhau. Ngoài
ra, các nghiên cứu còn chỉ ra mối liên hệ giữa da nhạy cảm và các bệnh lý như: vảy nến không
62
điển hình, trứng cá đỏ, viêm da quanh miệng, thể tạng tiết bã, erythro-couperosis. Tuy vậy, thực
tế cho thấy khó phân biệt triệu chứng ở bệnh nhân là do tình trạng da nhạy cảm hay do bệnh da đi
kèm.
Việc sử dụng mỹ phẩm và các sản phẩm chăm sóc da chứa alcohol, propylene glycol,
butylene glycol, cocamidopropylbetaine, triethanolamine, resorcine, trichloroacetic acid và alpha
hydroxy acid Có thể làm xấu đi tình trạng da nhạy cảm. Corticosteroid thoa làm da càng mỏng
manh và gây ra hồng ban tại chỗ mạn tính, có thể khởi phát triệu chứng da nhạy cảm và giảm khả
năng dung nạp mỹ phẩm. Tiếp xúc với tia UVA và các liệu pháp khác như liệu pháp ánh sáng,
mài mòn da, laser tái tạo bề mặt và săn chắc da đều có thể làm trầm trọng thêm da nhạy cảm.
Chú ý, như trong định nghĩa, các yếu tố môi trường, các tác nhân vật lý như nóng - lạnh,
ánh nắng, gió, máy lạnh và ô nhiễm môi trường đều có thể khởi phát phản ứng nhạy cảm ở da.
Những yếu tố khác liên quan đến lối sống bao gồm: chế độ ăn nhiều đồ cay, cà phê, rượu, thói
quen vệ sinh da, tắm quá mức, lạm dụng sản phẩm chăm sóc da và tiếp xúc với các hóa chất
trong môi trường làm việc.
5. SINH BỆNH HỌC
Cho đến hiện tại, sinh bệnh học của da nhạy cảm vẫn còn phức tạp và chưa được hiểu tường
tận, tuy vậy đây được coi như tình trạng giảm ngưỡng kích thích ở da, không phải là do cơ chế
miễn dịch hay dị ứng. Ba yếu tố chính trong sinh bệnh học của da nhạy cảm là tổ hàng rào bảo
vệ da, yếu tố thần kinh cảm giác và đáp ứng viêm - đáp ứng mạch máu ở da. Trong đó, yếu tố
hàng rào bảo vệ da đóng vai trò then chốt.
• Hàng rào bảo vệ da bị tổn thương
Lớp sừng ở da đóng vai trò như một hàng rào bảo vệ da khỏi sự mất nước và sự xâm nhập
của các chất gây lớ ch ứng. P.J. Frosch và A.M. Kligman chỉ ra rằng 14% người da nhạy cảm
trong dân số bình thường có liên quan đến hàng rào Lớp sừng mỏng và dễ thấm qua. Hàng rào
này bị tổn thương dẫn đến tăng tính thấm thượng bì và biến đổi Lớp lipid gian bào. Lúc này sự
xâm nhập của các chất ngoại sinh có thể kích thích tế bào sừng và tế bào Langerhan sản xuất các
chất trung gian gây viêm, khởi nguồn cho triệu chứng da nhạy cảm. Biến đổi chức năng hàng rào
bảo vệ da làm các chất gây kích ứng có thể xâm nhập sâu dễ dàng hơn, gây ra các phản ứng ở da
nhanh và mạnh hơn so với dân số thông thường. Đồng Thời, bệnh nhân có da nhạy cảm thường
than phiền triệu chứng “căng kéo”, đây chính là cảm giác gây ra do sự mất nước qua thượng bì
(TEWL) nhanh chóng khi không còn sự toàn vẹn của Lớp sừng. Vai trò sự toàn vẹn của lớp sừng
trong sinh bệnh học da nhạy cảm đã được khảo sát qua rất nhiều nghiên cứu đo lường sự mất
nước qua thượng bì (TEWL) trong đánh giá da nhạy cảm, cũng như nghiên cứu sử dụng các chế
phẩm bôi và uống để phục hồi hàng rào bảo vệ da. Chú ý là tình trạng bất thường tương tự ở lớp
sừng thượng bì cũng có thể gặp trên nền bệnh lý da có sẵn trước đó như viêm da cơ địa, da vảy
cá, vảy nến.
• Thần kinh cảm giác tăng phản ứng
Da nhạy cảm được đánh giá chủ yếu qua cảm giác chủ quan ở da, do đó đã có nhiều nghiên
cứu đi sâu vào đánh giá đáp ứng thần kinh cảm giác ở đối tượng này. Từ lâu người ta đã biết sợi
C-cảm giác chịu trách nhiệm chính trong việc tiếp nhận và dẫn truyền các tín hiệu từ da. Cảm
63
giác này được định nghĩa là “nóng rát”, hay “châm chích” khi thực hiện test với acid lactic.
Không chỉ vậy, nghiên cứu còn khảo sát biến đổi của não bộ trên MRI chức năng (fMRI), cho
thấy tình trạng tăng hoạt động thần kinh lan tỏa ở cả hai bán cầu não trên những bệnh nhân đa
nhạy cảm so với nhóm chứng khi có bất thường cảm giác da. Các nghiên cứu gần đây còn cho
thấy không chỉ dừng lại ở đầu tận thần kinh và hạch thần kinh mà còn có vai trò của các chất
trung gian dẫn truyền và thụ thể tương ứng. Một số chất dẫn truyền đã được nghiên cứu như chất
p, calcitonin gene-related peptide (CGRP), vasoactive intestinal peptide (VIP) và các interleukin
như IL-1, IL-8, PGE2, PGF2 và TNF-a. Một chất điều hòa cảm giác quan trọng khác là thụ thể
nóng transient receptor potential vanilloid 1 (TRPV1) chịu trách nhiệm cho thụ cảm đau, nóng,
nhiệt. Tăng biểu hiện quá mức kênh ion này có thể đóng vai trò quan trọng trong sinh bệnh học
của da nhạy cảm. Mức độ biểu hiện TRPV1 khác nhau có thể do gene hoặc do biến thiên chức
năng màng tế bào keratinocyte trên bề mặt da của mỗi người. Tóm lại, đối tượng da nhạy cảm có
những biến đổi về thần kinh như sau:
-
Biến đổi ở đầu tận thần kinh.
-
Tăng phóng thích chất dẫn truyền thần kinh.
-
Xử lý tín hiệu ở thần kinh trung ương thay đổi.
-
Chấn thương mạn tính ở các đầu tận thần kinh.
-
Chậm đào thải chất trung gian dẫn truyền
•
Đáp ứng viêm - đáp ứng mạch máu
Như trong định nghĩa cũng đã nhắc đến, da nhạy cảm phản ứng với những tác nhân ngoại
sinh bằng cảm giác chủ quan như nóng, rát, châm chích, có thể có hoặc không có triệu chứng
thực thể. Nhiều đối tượng da nhạy cảm ghi nhận hiện tượng đỏ da. Nhiều nghiên cứu cố gắng tìm
mối tương quan giữa hai nhóm triệu chứng này. Một số nghiên cứu cho thấy không có mối tương
quan giữa cảm giác da chủ quan và triệu chứng lâm sàng khách quan. Tuy nhiên, một số nghiên
cứu khác, qua Patch test cho thấy những đối tượng có da nhạy cảm đáp ứng với các chất gây kích
ứng kinh điển và các dị nguyên từ mỹ phẩm (ví dụ octane, acetyl-b-methylcholine chloride) lần
lượt gấp 10 lần và gấp 3 lần
64
SO với những người da thường. Kết quả này được cho là do một chuỗi quá trình phức tạp bao
gồm sự thay đổi lưu lượng máu đến da, thành phần làm ẩm ở thượng bì, độ pH của da. Mức độ
khác biệt giữa những cá thể với nhau được cho là do tính đa hình trong kiểu gen quy định TNF-
O. và do tăng biểu hiện NGF (Nerve Growth Factor). Những thay đổi này tinh vi và đi trước
những biểu hiện có thể nhìn thấy được trên lâm sàng.
Các tác nhân có thể gây kích ứng da nhạy cảm:
Chất tiếp xúc đặc hiệu
Yêu tố nội sinh và môi trường
Mỹ phẩm trang điểm
Mỹ phẩm chăm sóc da (sữa rửa mặt, toner, kem giữ ẩm)
Mỹ phẩm chăm sóc tóc (dầu gội, dầu xả, thuốc nhuộm)
Nước hoa, xà phòng, kem chống nắng, tampon
Chất tẩy rửa gia dụng, bột giặt, nước xả
Không khí nóng - lạnh - khô Độ ẩm
thấp
Thay đổi nhiệt độ
Gió
Ánh nắng mặt trời ô nhiễm môi
trường
Chu kỳ kinh nguyệt
Stress
Thức ăn cay
6. PHÂN LOẠI DA NHẠY CẢM
Hiện tại chưa có đồng thuận nào về phân loại da nhạy cảm. Có nhiều cách phân loại dựa
trên các tiêu chí khác nhau. Năm 1991, Mills và Burger chia da nhạy cảm làm bốn loại dựa trên
các bệnh cảnh da liễu sẵn có bao gồm: (1) có bệnh da mạn tính như viêm da tiết bã, vảy nến; (2)
có bệnh da như nhóm 1 nhưng triệu chứng nhẹ và không điển hình; (3) có tiền sử bệnh da (bỏng,
viêm da tiếp xúc...), làn da trông có vẻ bình thường nhưng dễ bị nhạy cảm; (4) bệnh nhân không
thuộc các nhóm trên, nhưng cảm giác khó chịu khi dùng mỹ phẩm và không có biểu hiện bất
thường rõ rệt. Dựa trên mức độ của các triệu chứng lâm sàng và các yếu tố kích hoạt, Willis và
de Lacharrière lại chia da nhạy cảm làm ba nhóm: (1) nhóm da quá nhạy cảm với mọi loại tác
nhân bao gồm cả tác nhân ngoại sinh như mỹ phẩm, môi trường và cả các tác nhân nội sinh, triệu
chứng có thể cấp tính hoặc kéo dài dẫn đến những ảnh hưởng về mặt tâm lý; (2) da nhạy cảm với
các tác nhân gây kích ứng tại chỗ đặc biệt là mỹ phẩm, biểu hiện thường nhẹ hơn và thường chỉ
65
giới hạn ở một số mỹ phẩm xác định; (3) da nhạy cảm với môi trường bên ngoài, phản ứng với
nóng và thay đổi nhiệt độ nhanh, da thường khô, mỏng và ửng đỏ.
7. LÂM SÀNG
Thường bệnh nhân tự chẩn đoán được các triệu chứng của da nhạy cảm, tình trạng nhạy
cảm thường nặng lên do các tác nhân từ bên ngoài và các yếu tố di truyền.
Triệu chứng chủ quan bao gồm nóng rát, châm chích, như có kiến bò, ngứa, căng da. Triệu
chứng thay đổi nhiều giữa người này so với người khác. Triệu chứng khởi phát nhanh sau vài
phút tiếp xúc với mỹ phẩm. Tuy nhiên, đa số bệnh nhân chỉ để ý triệu chứng sau vài giờ. Triệu
chứng khố chịu có thể tồn tại một khoảng thời gian ngắn hoặc dài trước khi tồn tại vĩnh viễn.
Triệu chứng khách quan thường là da khô, đỏ, tróc vảy mịn, giãn mạch, không có triệu chứng
của viêm và kích ứng. Da nhạy cảm thường gặp ở phụ nữ da khô, sáng màu (type II) nhưng cũng
có thể gặp ở đàn ông da nhờn, tối màu.
Da mặt thường nhạy cảm nhất vì da mặt là nơi được sử dụng mỹ phẩm nhiều nhất và là nơi
hàng rào da mỏng, có nhiều đầu tận thần kinh, ở mặt, nếp mũi má là vùng nhạy cảm nhất vì Lớp
sừng có tính thấm cao, có nhiều tuyến mồ hôi, nang lông và phân bố nhiều thần kinh, tiếp theo là
gò má, cằm, trán và môi trên. Có sự liên hệ giữa rụng tóc và nhạy cảm da đầu. Triệu chứng nhạy
cảm vùng da đầu cũng giống da mặt, bao gồm cảm giác ngứa, đau, châm chích, yếu tố khỏi phát
bao gồm ô nhiễm, nhiệt, cảm xúc và dầu gội. Trong đó ngứa và châm chích thường gặp nhất, gàu
không nên được coi là một triệu chứng của da nhạy cảm.
Người có da nhạy cảm có thể có biểu hiện lâm sàng của các bệnh lý khác như mụn trứng
cá, viêm da tiếp xúc, viêm da cơ địa, vảy nến, trứng cá đỏ, viêm da tiết bã và bạch biến. Các bệnh
nhân với tình trạng da nhạy cảm có thể có ảnh hưởng về tâm lý bao gồm lo âu, sợ hãi, tâm lý nhậy
cảm.
8. CHẨN ĐOÁN
Triệu chứng lâm sàng thường do bệnh nhân tự cảm nhận và đánh giá với nhiều triệu chứng
thay đổi. Kligman và cs. mô tả bốn nhóm triệu chứng của da nhạy cảm để giúp ích cho chẩn
đoán: (1) dấu hiệu kích ứng chủ quan do bệnh nhân cảm nhận mà không có triệu chứng lâm sàng;
(2) kích thích thần kinh cảm giác bao gồm triệu chứng ngứa, châm chích, bỏng rát, căng da (3)
đáp ứng với hợp chất hóa học (4) kích thích tâm lý. Tuy nhiên, để thuận lợi cho chẩn đoán,
bệnh
nhân cần trả lời một bảng câu hỏi và thực hiện các xét nghiệm để xác định tình trạng nhạy
cảm.
Có nhiều bảng câu hỏi đánh giá và chẩn đoán tình trạng da nhạy cảm, dưới đây là bảng câu
hỏi của Querleux và cs.. Bảng câu hỏi gồm các vấn đề có liên quan đến da rất nhạy cảm và các
phản ứng sẽ gặp khi tiếp xúc với sản phẩm thoa tại chỗ, các sản phẩm vệ sinh và các yếu tố môi
trường. Ngoài ra, Misery và cs. cũng đưa ra một bảng điểm thang đo mức độ nhạy cảm của da
phân loại bằng 10 đặc điểm do bệnh nhân trả lời, thang đo này phản ánh được mức độ tương
quan giữa da nhạy cảm và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.
1
Bạn có cho rằng da mình bị nhạy cảm, dễ bị kích ứng không?
2
Bạn có thấy da mình có xu hướng bị kích ứng? 66
3
Bạn có thấy da mình đỏ, ngứa, kích ứng?
4
Bạn có phải tránh dùng mỹ phẩm nào đó vì bị kích ứng da không?
5
Da bạn có dễ bị kích ứng bởi mỹ phẩm hay sản phẩm vệ sinh da?
6
Có sản phẩm nào khiến da bạn bị châm chích, ngứa hay nóng rát?
7
Bạn có từng bị tác dụng không mong muốn nào trên da khi sử dụng mỹ phẩm và sản phẩm
vệ sinh da chưa?
8
Da bạn có bị khó chịu khi ra trời lạnh hay gặp lạnh?
9
Da bạn có bị khó chịu khi ra trời nắng nóng hay tiếp xúc hơi nóng?
10
Da bạn có bị khó chịu khi thay đổi nhiệt độ đột ngột, ví dụ đang đi ngoài trời nắng nóng và
bước vào phòng lạnh?
11
Khi đi ra gió có làm cho da bạn bị châm chích, ngứa hay nóng rát?
12
Khi tiếp xúc với môi trường ô nhiễm có làm da bạn bị kích ứng?
13
Khi đi ra gió có làm cho da bạn bị châm chích, ngứa hay nóng rát?
Có nhiều xét nghiệm hỗ trợ chẩn đoán nhưng không có xét nghiệm nào đủ mạnh để khẳng
định chẩn đoán. Frage và cs. đề xuất chia xét nghiệm làm ba nhóm: (1) nhóm xét nghiệm phản
ánh đáp ứng thần kinh cảm giác; (2) nhóm xét nghiệm đánh giá những triệu chứng của da nhạy
cảm và (3) nhóm xét nghiệm đánh giá chức năng sinh lý và cấu trúc của da.
Xét nghiệm phát hiện da nhạy cảm
-
Test châm chích (stinging test) được xem là thử nghiệm hiệu quả nhất để đánh giá đáp
ứng của thần kinh cảm giác. Châm chích là biến thể của cảm giác đau nhanh và thoáng
qua khi đầu dây thần kinh cảm giác bị kích thích. Mức độ châm chích phụ thuộc vào hóa
chất sử dụng, thường dùng acid lactic (LA), có thể dùng capsaicin, ethanol, menthol,
sorbic acid, benzoic acid.
-
Test acid lactic: bôi LA 10% tại nep mũi - má hoặc gò má, cảm giác châm chích được
đánh giá chủ quan bởi bệnh nhân trên thang điểm 0-4 sau 2,5 phút và sau 5 phút. Bệnh
nhân được xem là có làn da nhạy cảm khi điểm số > 3. Châm chích xảy ra nhiều hơn
trong môi trường nóng ẩm. Những bệnh nhân có cảm giác châm chích nhiều thường
phản ứng mạnh hơn với những chất gây mày đay, tiếp xúc đi
67
kèm với sự tăng mất nước qua thượng bì, tăng tốc độ lắng máu khi làm patch test
với chất kích ứng.
-
Test capsaicin: sử dụng capsaicin trong dụng dịch ethanol 10% thoa lên nếp mũi má,
capsaicin chỉ điểm da nhạy cảm mạnh hơn LA.
-
Test nicotinate và sodium laudry sulfate (SLS) (các chất gây giãn mạch trên da): methyl
nicotinate là chất giãn mạch mạnh, dùng bôi lên 1/3 trên mặt trong cẳng tay với nồng độ
từ 1,4 đến 13,7% trong 5 giây. Hồng ban được đo bởi laser Doppler velocimetry. Bệnh
nhân có da nhạy cảm sẽ có hiện tượng tăng phản ứng giãn mạch. Test tương tự có thể
thực hiện với SLS ở các nồng độ khác nhau.
-
Test đánh giá mức độ ngứa: histamin là chất thường được dùng nhất, tiêm histamine
dihydrochloride 100 mcg/1 mLNaCl 0,9% trong da mặt trước cẳng tay. Sau một khoảng
Thời gian, bệnh nhân được hỏi để đánh gia về mức độ và thời gian ngứa.
-
Test rửa với chất tẩy rửa chuyên biệt, sau khi rửa bệnh nhân được hỏi về cảm giác bỏng
rát, châm chích, căng da và ngứa theo thang điểm. Tương tự là test rửa tay với amoni
surfactant ở 40°C trong 20 phút, test được thực hiện hai lần cách nhau 2 giờ trong 2 ngày
liên tiếp.
Các test đánh giá đáp ứng sinh lý của da
Phản ánh sự thay đổi của da trước khi có biểu hiện lâm sàng, bao gồm test đánh giá độ mất
nước qua da (evaporimetry), test đánh giá độ ẩm của thượng bì (corneometry), test đánh giá sự
thay đổi bề mặt thượng bì (Prohlometiy, Squametry test), test đánh già thay đổi màu da
(colorimetry), siêu âm đánh giá sự thay đổi độ dày của da. Trong đó test đành giá độ mất nước
qua da dựa trên áp lực hơi nước trên bề mặt da hay được dùng nhất.
Để xác định chẩn đoán da nhạy cảm đặc biệt là các trường hợp nghi ngờ có viêm da tiếp
xúc cấp hoặc mạn, có các bệnh viêm da mạn tính (chàm) không cải thiện với điều trị hoặc
nghi ngờ có phát ban da và niêm mạc nghi ngờ do quả mẫn muộn, bệnh nhân nên được làm
patch test hoặc photo-patch test để loại trừ các tình trạng trên. Patch test nên được thực hiện
với toàn bộ các loại mỹ phẩm Một vài nghiên cứu cho thấy patch test với nickel sulphate
thường dương.tinh cao hơn ở bệnh nhân da nhạy cảm Trong hầu hết các trường hợp nhạy
cảm nickel, sau khỉ ngưng các sản phẩm có chứa tác nhân này thì lâm sàng cải thiện rõ rệt.
9. ĐIỀU TRỊ VÀ PHÒNG NGỪA
9.1. Điều trị
Kiểm soát tình trạng da nhạy cảm không đơn giản đối với bác sĩ lẫn bệnh nhân vì biểu hiện
da nhạy cảm rất chủ quan, phản ứng của da thay đổi theo từng cá thể và tình trạng nhạy cảm có
thể bị kích hoạt bởi nhiều yếu tố khác nhau. Da nhạy cảm cũng là thách thức cho ngành mỹ
phẩm vì mấu chốt đảm bảo sự dễ chịu cho bệnh nhân là chọn lựa loại hình điều trị, chăm sóc da
phù hợp và chọn lựa sản phẩm phù hợp, không gây kích ứng hay dị ứng .
68
Sử dụng thuốc thoa: corticoid thoa hiệu quả nhất cho da nhạy cảm. Tuy nhiên, hạn chế dùng
vì tác dụng phụ gây teo mỏng da, làm yếu hàng rào bảo vệ da. Các thuốc ức chế calcineurin thoa
tại chỗ cũng hiệu quả trong điều trị da nhạy cảm và không có các tác dụng phụ như corticoid.
Tuy nhiên, có thể gây cảm giác bỏng rát, ngứa nhẹ và thoáng qua.
Sử dụng mỹ phẩm: sử dụng những sản phẩm chăm sóc da ít chất bảo quản và chất hoạt động
bề mặt trong 8 tuần làm thay đổi đặc tính của da nhạy cảm, cải thiện hàng rào bảo vệ. Chất giữ
ẩm cũng đóng vai trò quan trọng trong giữ ẩm, giảm nguy cơ kích ứng và khôi phục tính toàn vẹn
của Lớp thượng bì. Nên sử dụng sản phẩm dành riêng cho da nhạy cảm có chứa ít thành phần,
không chứa chất gây nhạy cảm hoặc chất kích thích giãn mạch.
Gần đây có những nghiên cứu trị liệu với chất đối kháng TRPV1, là một chất ức chế hoạt
động do capsaisin. Trans-4-tert-butylcyclohexanol làm giảm cảm giác nóng rát gây ra do
capsaicin. Kem 10% probiotic lysate (chiết xuất Bifidobacterium longum sp) cũng được báo cáo
giảm nhạy cảm da do giảm khả năng phản ứng của thần kinh.
Giữ ẩm: điều trị với chiết xuất Rhodiola rosea/1 carnosine (RCAC) cải thiện hàng rào bảo
vệ da. Dieamant và cs. báo cáo hợp chất này giảm sự mất nước qua thượng bì, cải thiện độ ẩm và
cảm giác dễ chịu cùa da. Tác giả cho rằng sự thay đổi đó là do tăng giải phóng opoid peptide và
điều hòa sản phẩm cytokine của tế bào keratin.
Tác nhân tẩy rửa: xà phòng là sản phẩm vệ sinh hay gây dị ứng nhất, thường gặp nhất ở
những người hay rửa tay. Ở những bệnh nhân này nên được khuyên sử dụng chất tẩy rửa phù
hợp, tốt nhất là gel chứa cồn với chất giữ ẩm. Những chế phẩm gel này duy trì được độ toàn vẹn
của hàng rào bảo vệ da, giảm khô và phục hồi chức năng của hàng rào bảo vệ da. Kết hợp điều trị
bằng chất tẩy rửa không xà phòng và thuốc thoa tại chỗ giúp cải thiện tốt triệu chứng.
Kem chống lão hóa: Merinville và cs. qua nghiên cứu của mình đã đề nghị sử dụng sodium
salicylate thay vỉ dùng salicylic acid trong kem chống lão hóa cho da nhạy cảm vì có thể gây kích
ứng. Hydroxy acid là thành phần thường thấy trong kem chống lão hóa cũng gây kích ứng cho da
nhạy cảm nên được thay thế polyhydroxy và bionic. Ngoài ra, có thể cho thêm chất chống oxy
hóa, làm khỏe hơn hàng rào bảo vệ da và giữ ẩm.
Các mỹ phẩm khuyên dùng cho da nhạy cảm nên là những sản phẩm chọn lọc thành phần
trong công thức (hạn chế dùng chất bảo quản, chất diện hoạt và không hương liệu...). Không
dùng tá dược bốc hơi như mentol. Tránh dung môi thấm qua da (chọn polyethylene glycol thay
cho propylene glycol). Mỹ phẩm vô trùng là một bước đột phá cho da nhạy cảm. Những loại mỹ
phẩm này đòi hỏi quy trình sản xuất hoàn toàn vô trùng, công thức vô trùng, Giới hạn khắt khe
các thành phần thiết yếu và kỹ thuật đóng chai vô trùng với hệ thống nắp cho phép giữ sản phẩm
tuyệt đối vô trùng, không có khoảng chết, tránh tiếp xúc không khí trong suốt Thời gian sử dụng.
Mỹ phẩm trang điểm nên sử dụng dạng bột, dễ rửa trôi với nước, kẻ mi và mascara nên dùng
màu đen, màu mắt nên dùng tông sáng, sử dụng kem chống nắng vật lý, dùng kem nền dạng kem
69
hoặc dạng bột, không dùng son móng.
Chiến lược điều trị da nhạy cảm có thể được thực hiện bằng cách ngưng tất cả các mỹ phẩm
trang điểm và chăm sóc da, các thuốc thoa làm khô da và chứa chất gây kích ứng, chỉ dùng sữa
rửa mặt syndet trong vòng 2 tuần. Sau đó, điều trị các bệnh lý da như trứng cá đỏ... bằng phương
pháp thích hợp trong ít nhất 2 tuần. Tiếp theo là sử dụng các test đánh giá như patch test, photo-
patch test, test gây châm chích, test thử các loại mỹ phẩm.
9.2. Phòng ngừa
Để chăm sóc và phòng ngừa cho da nhạy cảm nên có chế độ vận động hợp lý, chế độ ăn
uống cân bằng: bổ sung dầu hạt lanh (flaxseed oil), antioxidants, ngủ đủ giấc, hạn chế stress,
sống lạc quan. Chú ý:
-
Hạn chế không dùng nhiều mỹ phẩm cùng lúc.
-
Lựa chọn mỹ phẩm chuyên dành cho da nhạy cảm.
-
Lựa chọn những sản phẩm không có mùi thơm.
-
Tránh dùng xà phòng.
-
Dùng các lotion làm sạch không rửa lại.
-
Lau qua các vùng da khô nhẹ nhàng bằng giấy mỏng, không dùng sợi cotton.
-
Thoa kem dưỡng ẩm nhiều lần trong ngày nếu phải thường xuyên khi ở trong phòng
máy lạnh hoặc điều kiện khí hậu khô nóng.
-
Thận trọng khi sử dụng chế phẩm chứa AHAs, retinoid hay tretinoin.
-
Ngưng bôi ngay nếu bất kỳ mỹ phẩm nào gây nóng rát, khó chịu.
-
Sau 3-6 tháng ngưng dùng mỹ phẩm, có thể thử dùng lại lần lượt từng sản phẩm
với
khoảng cách 1-2 tuần. Lưu ý không loại trừ nguy cơ bị kích ứng trở lại.
-
Chọn sản phẩm làm sạch dành cho da nhạy cảm.
-
Chọn dầu gội không chứa chất làm sạch gây kích ứng.
-
Tránh dùng mặt nạ tẩy da chết hay làm sạch quá mức.
-
Bảo vệ da tránh ra nắng, gió, hơi nóng hoặc thay đổi nhiệt độ đột ngột.
-
Hạn chế dùng bia rượu, cà phê, thức ăn cay nóng.
-
Cần được điều trị nếu bị trầm cảm hoặc stress.
Bệnh nhân có làn da nhạy cảm được khuyên nên đến bác sĩ Da liễu khi da trở nên nhạy cảm
và không được cải thiện bằng các biện pháp chăm sóc thông thường hoặc khi các triệu chứng
nhạy cảm quá mức trở nên nặng nề như ngứa, bỏng rát, đỏ, sưng phù, mụn nước, bóng nước...
10. KẾT LUẬN
Da nhạy cảm là một hiện tượng ngày càng phổ biến ở xã hội hiện đại cùng với việc dùng mỹ
phẩm ngày càng nhiều. Tỉ lệ gặp ở người châu Á nhiều hơn ở người da trắng. Các phương thức
sinh - vật lý học đã phát triển để đánh giá và tiên đoán tình trạng da nhạy cảm. Da mặt là vùng da
với các đặc thù riêng cho nên dễ bị nhạy cảm nhất. Tính ổn định hàng rào bảo vệ da của lớp
70
sừng, các yếu tố dẫn truyền thần kinh cùng với các thụ thể thần kinh là những yếu tố rất quan
trọng trong sinh bệnh học của da nhạy cảm. Quản lý da nhạy cảm cần chú trọng việc phòng ngừa,
trong đó lựa chọn mỹ phẩm thích hợp và các điều cần tránh là thiết yếu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
André o. Barel, Ph.D., M.S., Marc Paye, Ph.D., Howard I. Maibach, M.D.(2001), Handbook of Cosmetic
Science and Technology) Fourth Edition, CRC Press Taylor & Francis Group
2.
Pons-Guiraud A. (2004). Sensitive skin: a complex and multifactorial syndrome. Journal of Cosmetic
Dermatology. 3:145-148.
3.
Aran c. Inamadar, Aparaa Palit (2013). Sensitive skin: Anoverview. Indian J Dermatol Venereol Lep- rol.
79: 9-16.
4.
E. Berardesca, M. Farage and H. Maibach (2013). Sensitive skin: An overview. International Journal of
Cosmetic Science. 35: 2-8.
5.
G. Primavera and E. Berardesca (2005). Sensitive skin: mechanisms and diagnosis. International Journal of
Cosmetic Science. 27: 1-10.
6.
J. Escalas-Tabemer, E. Gonzalez-Guena, A. Guerra-Tapiac (2011). Sensitive Sirin: A Complex Syndrome.
Aetas Dermosifiliogr. 102:563-571.
7.
Baumann L., Sogol Saghari, Edmund Weisberg (2009). Sensitive skin. Cosmetic Dermatology: Principles
and Practice, 2°' edition, Me Graw Hill, pp. 94-7.
8.
Richters R, Denise F, Natallia u, Willem V, Van Eip p., Van de Kerkliof p. (2015). What Is Sensitive Sirin?
A Systematic Literature Review of Objective Measurements. Skin Pharmacol Physiol. 28:75-83.
71
DINH DƯỠNG VÀ DA
(NUTRITION AND THE SKIN)
1. ĐẠI CƯƠNG
Hơn 2000 năm trước, Hippocrates đã nói: “Hãy làm cho thức ăn trở thành thuốc và để cho
thuốc trở thành thức ăn của bạn”. Thực phẩm là loại thuốc duy nhất mà mỗi cơ thể khỏe mạnh
đều cần dùng mỗi ngày. Theo quan điểm đó, chế độ dinh dưỡng tốt sẽ là nền tảng cơ bản cho một
sức khỏe tốt nói chung và làn da khỏe mạnh nói riêng.
Ngày nay, các bệnh do thiếu vitamin và các chất dinh dưỡng liên quan đến da như pellagra,
viêm bì đầu chi cơ thể ruột... đã giảm dần do chế độ dinh dưỡng được chú trọng.
Đã có những nghiên cứu tập trung vào những lợi ích cho da từ việc ăn vào một số thực
phẩm nhất định hoặc bổ sung. Kết luận cho thấy tình trạng của da có thể bị ảnh hưởng bởi những
thay đổi về tình trạng dinh dưỡng cơ bản.
2. ĂN KIÊNG TRONG MỘT SỐ BỆNH DA
2.1. Mụn trứng cá
Mụn tiling cá là một trong những bệnh da phố biến nhất. Năm 1998, người ta thấy rằng chỉ
riêng ở Mỹ, mụn tiling cá đã ảnh hưởng từ 40 đến 50 triệu người. Điều thú vị là các nghiên cứu
dịch tễ học ở các quần thế dân CU' không thuộc phương Tây (ví dụ như người Inuit, dân đảo
Okinawa, thợ săn Ache và dân đảo Kitavan), thì thấy mụn trứng cá rất hiếm. Từ đó chỉ ra rằng
chế độ ăn uống, bao gồm đường huyết, có thể đóng vai trò quan trọng trong việc phát sinh mụn.
Nó đối lập với tỉ lệ mắc chứng mụn trứng cá tăng lên cũng trong cộng đồng dân cư đó nhưng ăn
uống theo lối sống phương Tây. Theo đó, Cordain đã dứt khoát không tán thành với ý kiến từ đầu
những năm 1970 cho rằng chế độ ăn kiêng không đóng góp vào sinh lý bệnh của mụn trứng cá.
Cordain đã phân tích những bằng chứng đáng kể thu thập từ hai nghiên cứu năm 1969 bởi
Fulton và năm 1971 bởi Anderson cho thấy những thay đổi liên quan trong hằng định nội môi về
nội tiết và cytokine gây ra bởi chế độ ăn uống. Từ đó, chế độ ăn uống được xem là một trong yếu
tố ngoại sinh hàng đầu ảnh hưởng đến sự phát triển mụn.
2.1.1. Đường, chất béo và mụn trứng cá
Việc tiêu thụ thường xuyên, lâu dài các bữa ăn có đường huyết cao, làm tăng nồng độ
insulin, có thể gây ra chứng tăng insulin máu mạn tính và kháng insulin, tăng yếu tố phát triển
giống insulin 1 (insulin-like growth factor 1 = IGF-1) và giảm protein gắn kết yếu tố tăng trưởng
insulin 3 (IGFBP-3), thúc đẩy sự gia tăng và chết theo chương trình
72
của các tế bào sừng. Các nguyên nhân khác gần đây của mụn trúng cà, như mức sản xuất bã nhờn
thông qua androgen, cũng như quá trình viêm, cũng bị ảnh hưởng bởi chế độ ăn uống. Cordain
lưu ý rằng insulin và IGF-1 kích động sự tổng hợp androgen cũng như bã nhờn và ức chế sự sản
xuất globulin gắn kết hơnnon sinh dục ở gan, dẫn đến tăng lượng androgen lưu hành.
Các enzyme desaturase có thể ảnh hưởng đến sự hình thành và sự xuất hiện của mụn trứng
cá. Cordain xác định tăng sử dụng các loại thực phẩm acid béo không bão hòa nhiều omega 3,
làm giảm tỉ lệ acid béo omega-6: omega-3, liên quan đến tình trạng viêm của mụn trứng cá.
2.1.2. Sữa và mụn trứng cá
Người ta nhận thấy mối quan hệ tích cực giữa việc tiêu thụ sữa và sự phát triển của mụn, đi
từ những ảnh hưởng chuyển hóa của sữa, có thể là do các hormon và các phân tò hoạt tính sinh
học có trong sữa.
Adebamowo và cs., sau một nghiên cứu trên 4.273 cậu bé, từ năm 1996 đến năm 1998 đã
báo cáo một mối liên quan giữa việc tiêu thụ sữa không kem và mụn trứng cá. Các tác giả đã kết
luận những phát hiện này đối với các thành phần nội tiết tố trong sữa không béo hoặc các yếu tố
ảnh hưởng đến nội tiết tố nội sinh.
Năm 2009, một tổng quan hệ thống của 21 nghiên cứu quan sát và sáu nghiên cứu lâm sàng
đã tìm ra các liên kết rõ ràng. Hai thử nghiệm đối chứng lớn cho thấy sữa bò làm tăng cả số người
bị mụn trứng cá và mức độ nghiêm trọng của nó. Sữa bò làm tăng các hormone sinh dục nam,
làm tăng mức insulin giống như các loại thực phẩm làm tăng lượng đường trong máu khác.
2.1.3. Chất iod và mụn trứng cá
Danby cho rằng thiếu hụt iod gây ra nguy cơ sức khỏe lớn hơn so với quá liều và nồng độ
iod trong sữa dường như tương đương với nồng độ trong sữa mẹ. Fulton cho rằng ở những người
dễ bị mụn trứng cá, iodine bài tiết qua các tuyến bã nhờn có thể gây kích thích nang lông tuyến
bã
và góp phần làm bùng phát mụn.
Trên thực hành lâm sàng, chúng ta thấy một số thuốc có thể gây phát ban dạng trứng cá,
trong số đó có các thuốc chứa chất iod.
2.1.4. Mụn trứng cá và chocolate
Cacao không liên quan đến mụn, mụn - nếu có - có thể gây ra từ các thành phần khác của
thanh chocolate ví dụ như chất béo thực vật hydro hóa, sữa...
2.2. Các bệnh da dị ứng (chàm, mày đay...)
Bệnh dị ứng ảnh hưởng đến hơn 150 triệu người châu Âu và hơn một tỉ người trên toàn thế
giới. Vì nguy cơ dị ứng được xác định bởi sự tương tác giữa các yếu tố di truyền và môi trường
nên việc giảm ảnh hưởng từ môi trường là mục tiêu can thiệp sớm. Một
73
số chiến lược can thiệp đã được thử nghiệm như tránh dị nguyên (thức ăn/mạt bụi nhà); can thiệp
chế độ ăn uống với vitamin D, acid béo omega-3 hoặc những thú' khác; các sản phẩm chứa lợi
khuẩn (probiotics và prebiotics); liệu pháp miễn dịch dị nguyên (phấn hoa, mạt bụi nhà) và các
loại thuốc (kháng virus, các cytokine, steroid); tất cả đều có kết quả khác nhau. Trong những
chiến lược hiện có trong phòng ngừa dị ứng ban đầu, can thiệp dinh dưỡng sóin đã trở thành một
trong những phương pháp thành công nhất. Trên những trẻ sơ sinh có nguy cơ cao tiến triển các
bệnh dị ứng như ít nhất có quan hệ trực hệ với người có tiền căn dị ứng (mẹ, cha hoặc anh chị
ruột) và không được nuôi bằng sữa mẹ trong 4 tháng đầu đời, việc cho bú sữa công thức chứa
đạm thủy phân ở trẻ nhũ nhi cho thấy làm giảm đáng kể nguy cơ dị ứng, chủ yếu là bệnh chàm
thế tạng trước tuổi đi học.
Dị ứng với protein sữa bò (Cow’s milk protein allergy = CMPA) là dị ứng thức ăn phổ biến
nhất ở trẻ nhũ nhi. Tất cả các hướng dẫn đều khuyến cáo nên cho bú mẹ hoàn toàn đến khi trẻ
được 4-6 tháng tuổi, mà không có bất kỳ hạn chế trong chế độ ăn uống của người mẹ. Hiện chưa
có bằng chứng cho thấy việc thay đổi chế độ ăn uống của người mẹ trong Thời kỳ mang thai hoặc
cho con bú có tác dụng bảo vệ chống lại dị ứng ở trẻ nhũ nhi có nguy cơ. Hơn nữa, việc thay đổi
chế độ ăn có thể gây ra sự thiếu hụt dinh dưỡng ở người mẹ cho con bú và trẻ nhũ nhi.
Histamin được tạo ra bởi các tế bào mast trong cơ thể. Tuy nhiên, nó cũng được tìm thấy
trong nhiều loại thực phẩm ăn vào và được lưu trữ trong cơ thể. Một số thực phẩm giàu chất
histamin một cách tự nhiên, một số khác tạo histamin trong quá trình lên men. Histamin hiện diện
với số lượng lớn trong thực phẩm hư hỏng và có thể gây ra các triệu chứng ngộ độc thực phẩm
ngay cả ở người khỏe mạnh. Thông thường, histamin ăn vào từ thức ăn bị phân hủy tại ruột non
thông qua một enzyme đặc biệt là diamino oxidase. Tuy nhiên, nếu thiếu enzyme này hoặc nếu
lượng histamin chiếm quá lớn, diamino oxidase không đủ để làm giảm histamin nhanh chóng và
nó sẽ đi từ màng niêm của một non vào trong máu. Sau đó cơ thể phản ứng với các triệu chứng
như nổi mày đay, đau đầu, hen suyễn, làm tăng triệu chứng của bệnh chàm và/hoặc tiêu chảy.
Các xét nghiệm dị ứng không giúp gì được vì đây không phải là trường hợp dị ứng thực phẩm.
Thực phẩm hun khói, lên men, ướp muối, đồ biển nên được hạn chế sử dụng với nhóm
đối
tượng mắc bệnh da dị ứng.
2.3. Bệnh viêm da dạng Herpes
Viêm da dạng herpes (bệnh Duhring - DH) là bệnh da bóng nước tự miễn hiếm gặp, tiến
triển mạn tính. Bệnh biểu hiện lâm sàng đặc tiưng với mụn nước, bóng nước trên da kèm ngứa
nhiều, bệnh ruột nhạy cảm gluten và lang đọng kháng thể IgA ở lớp bì nông.
Hầu hết bệnh nhân (khoảng 80%) khi duy trì chế độ ăn uống không chứa gluten sẽ đáp ứng
với việc kiểm soát bệnh da của họ. Một số bệnh nhân có thể ngừng điều trị dapsone. Tuân thủ chế
độ ăn uống không chứa gluten là rất khó và đòi hỏi một người bệnh có quyết tâm và kiên trì.
Cần ăn kiêng trong 5-12 tháng trước khi liều dapsone có thể được giảm.
Sự lắng đọng IgA cũng như các kháng thể tuần hoàn không tương quan với lượng gluten
trong các nghiên cứu ngắn hạn. Tuy nhiên, một số nghiên cứu đã gợi ý một mối tương quan với
sự bồi lắng bổ sung. Tránh ăn gluten trong 10 năm hoặc nhiều hơn đã làm mất các lắng đọng IgA
ở da và sau đó trở lại như cũ khi phục hồi ăn lại gluten.
Gluten là một hỗn hợp hai protein gồm gliadin và glutenin, nhưng bạn sẽ không tìm thấy
74
chúng trong thịt hoặc trứng. Thay vào đó, gluten có mặt trong nhiều loại thực phẩm được tiêu thụ
hằng ngày như mì căn (dùng thay thế thịt trong các món chay), lúa mì, lúa mạch đen và lúa mạch
hoặc phụ gia thực phẩm cho các loại thức ăn chế biến sẵn như kem, nước dùng, đồ hộp...
3. CÁC CHẤT DINH DƯỠNG BỔ SUNG VÀ DA
Dưới đây liệt kê về một số chất bổ sung dinh dưỡng phổ biến nhất đang được sử dụng hoặc
được nghiên cứu trong lĩnh vực chăm sóc sắc đẹp đặc biệt là chăm sóc da, đi từ những ảnh hưởng
của chúng trên da. Cũng cần lưu ý nhắc bệnh nhân nên thảo luận về việc sử dụng các chất này với
bác sĩ của họ khi mang thai, cho con bú hoặc đang điều trị một bệnh nào khác.
3.1. Alpha lipoic acid
Bình thường cơ thể vẫn sản xuất được một lượng nhỏ chất này nhưng nếu được bổ sung
nhiều thì da thêm mịn màng và chống lại dấu hiệu lão hóa da. Có lẽ, alpha lipoic acid đã từng
được coi là một chất chống oxy hóa, nhưng một báo cáo gần đây người ta thấy nó tác động tích
cực lên năng lượng và trên sức khỏe của da hơn vai trò của chất chống oxy hóa.
3.2. Các acid béo
3.2.1. Trên bệnh chàm
Người ta đã so sánh lượng phospholipid huyết tương của 41 người lớn bị chàm với 50
người
bình thường thì thấy acid 6-omega linoleic (LA) tăng lên đáng kể và tất cả các chất chuyển
hóa của nó cũng giảm.
Một nghiên cứu mù đôi kéo dài 12 tuần về ảnh hưởng của việc bổ sung acid béo ở bệnh
nhân viêm da cơ địa dị ứng thì thấy rằng nhóm dùng eicosapentaenoic acid (EPA) ít ngứa và đỡ
nặng hơn so với nhóm dùng giả duợc. Dường như bổ sung acid béo n-3 có thể cải thiện các triệu
chứng chàm trong trong ngắn hạn. Đáng chú ý, nồng độ acid béo n-3 bị giảm hụt trong chế ăn
chay.
Không phải tất cả các bác sĩ đều chấp nhận các tiện ích của việc sửa đổi chế độ ăn uống
trong điều trị bệnh chàm. Tuy nhiên, các khuyến cáo của bệnh nhân nên bao gồm các lời khuyên
về cách tắm, làm ẩm da cùng các đề xuất chế độ ăn uống.
75
PUFAs được biết là ức chế sự tổng hợp các eicosanoid có nguồn gốc từ acid arachidonic và
do đó có hiệu quả chống lại các bệnh dị ứng.
Các acid béo omega-3 không được tổng hợp tự nhiên trong cơ thể.
Các nguồn thực phẩm chứa acid béo omega-3 bao gồm cá ngừ albacore, cá hồi, cá thu,
menhaden (một loài cá xứ lạnh ở biển đông của Bắc Mỹ), dầu canola, dầu hạt lanh, quả óc chó,
rong biển và trúng.
Điều cần lưu ý là những con cá này không tổng hợp các acid béo trên nhưng tích lũy chúng
thông qua chế độ ăn uống, có thể bao gồm cả các chất độc hại. Vì lý do đó, đặc biệt trong trường
hợp độc tính của thủy ngân trong cá ngừ albacore, FDA khuyến cáo việc hạn chế tiêu thụ một số
loài cá ăn thịt.
Dầu gan cá tuyết và các loại dầu cá khác là nguồn cung cấp các acid béo chưa bão hòa.
Chúng là thành phần quan trọng của màng tế bào và hàng rào bảo vệ da.
ALA, EPA và DHA là những acid béo omega-3 thiết yếu hàng đầu.
Các hoạt động chống viêm và giảm kích ứng của các hợp chất này đã được xác lập
thông
qua một số nghiên cứu chúng minh trên bệnh vảy nến và rosacea.
3.2.2. Trên đáp ứng miễn dịch và bệnh vảy nến
DHA đã được chứng minh ức chế được quà trình viêm và đáp ứng miễn dịch trong phản
ứng tăng cảm tiếp xúc trên da ở chuột. Các nhà nghiên cứu cho ăn kiêng DHA và EPA cho
chuột
bị tiếp xúc với với 2,4-dinitrol-fluorobenzene. Ket luận rằng DHA làm giảm sự thâm nhập
của tế bào lympho T CD4 vào tai và giảm thiểu sự biểu hiện mRNA interlengin, IL-lbeta và IL-2
trong tai. Điều này cho thấy hoạt động ức chế miễn dịch từ dầu cá là do DHA và chứ không phải
từ chất đồng nhóm n-3 PUFA của nó.
Một nghiên cứu đa trung tâm, ngẫu nhiên và mù đôi, kéo dài 14 ngày, trong đó có 83 bệnh
nhân nhập viện do bệnh vảy nến thể mảng có chỉ số PASI tối thiểu là 15 được chọn ngẫu nhiên
để tiêm tĩnh mạch mỗi ngày chất nhũ tương omega-3 hoặc nhũ tương omega-6, các nhà nghiên
cứu nhận thấy sự cải thiện lớn hơn ở nhóm omega-3 với mức độ vảy nến đã giảm đi, được lặp lại
bởi việc tự đánh giá bệnh nhân. Các nhà nghiên cứu kết luận rằng bệnh vảy nến thể mảng có thể
được điều trị hiệu quả với các acid béo omega-3 đường tĩnh mạch.
3.2.3. Trên tình trạng lão hóa và ung thư da
Các acid béo omega-3 còn giúp tăng thể tích da, làm giảm sự xuất hiện của các nếp nhăn.
Nguôi ta đã nhận thấy vai trò quan trọng của acid béo omega-3 trong việc ngăn ngừa ung
thư da không melanoma bằng cách tăng Thời gian tiềm ẩn của khối u, làm giảm số lưọng khối u,
tăng ngưỡng ban đỏ trung hòa qua bức xạ tia uv ở người và làm giảm nồng độ prostaglandin E
synthase type 2 [PGE (2)] ở da người tiếp xúc với UVB.
76
Nên kết hợp acid béo omega-3 vào chế độ ăn và nên bổ sung 1.000 mg/ngày.
Bảng 1. Các nguồn thực phẩm giàu acid béo
Quả bơ
Dầu hạt lanh
Dầu canola
Dầu hoa anh thảo
Cá (đặc biệt là cá ngừ albacore, cá hồi hồ, cá thu, cá menhaden và cá hồi) Dầu hạt lanh
Hempseed
Các loại hạt
Dầu olive
Đậu phộng Dầu cây rum (giàu oleic)
Đậu nành
Dầu hoa hướng dương (lượng oleic cao)
Hạt óc chó
Chất chống oxy hóa (antioxidants)
Chất chống oxy hóa là những chất bảo vệ tế bào khỏi bị oxy hóa gây ra bởi các yếu tố ngoại
sinh lẫn nội sinh.
Bảng 2. Các nguồn thực phẩm giàu chất chống oxy hoá
Quả mọng
Quả lớn
Rau
Đậu
Cù
Ngũ cốc
Hạt và quả
khô
Nho đen
Quà mâm xôi đen
Blueberry
Quả mâm xôi Bắc
cực
Quả nam việt quất
Crowberry
Việt quất leo
Quả lý
Dâu
Cam nhỏ
Chà là
Nho Bưởi
Kiwi
Chanh
Thơm Mận
Lựu
Cam
Artichaud
Bắp cải
Brussel ớt
Cải xoăn
Mùi tây
Tiêu
Bắp cải đỏ
Rau bina
Đậu tằm
Đậu phộng
Đậu tây
Đậu nành
Gừng
Củ cải đỏ
Lúa mạch
Kiều mạch
Hạt kê Yến
mạch
Mơ khô Mận
khô Hạt
hướng dương
Quả óc chó
3.4. Arnica
Việc dùng cây Arnica montana đã được các nhà thực hành vi luợng đồng căn thúc đẩy trong
hàng trăm năm. Arnica được sử dụng nhờ thành phần sequiterpene lactones với đặc tính chống
viêm của nó.
ứng dụng trong chăm sóc da chính của chất này là để điều trị và phòng ngừa vết bầm tím.
Cần lưu ý với đường uống liều cao có thể có hại và cũng có khả năng gây dị ứng. Nếu phát
ban nhẹ, bệnh nhân có thể nhạy cảm với các hợp chất helenalin, một thành phần quan trọng được
tìm thấy trong arnica. Lúc bấy giờ, cần ngưng uống.
77
Ngoài đường uống, các loại kem đặc trị với Arnica, như Donell Super Skin K -Derm và
kem Boiron Arnica được bác sĩ Baumann L. sử dụng để giúp tan nhanh vết thâm tím.
3.5. Beta-carotene
Beta carotene là thành viên của họ carotenoid, có màu sắc sậm (đỏ, cam vàng), các chất tự
nhiên hòa tan trong chất béo, có trong một số loại trái cây, ngũ cốc, dầu và rau quả (như mơ, cà
rốt, ớt xanh, rau bina, bí và khoai lang). Đáng chú ý, trong một nghiên cứu có hệ thống các chất
chống oxy hóa trong thực phẩm, cà rốt có hàm lượng chất chống oxy hóa thấp nhất trong các loại
củ. Vì nó có thể được biến đổi thành vitamin A hoạt tính (retinol), beta-carotene là một
provitamin, như alpha và gamma-carotene.
Betacaroten được quan tâm nhiều hơn các hợp chất carotenoid khác vì nó đóng góp nhiều
hơn cho dinh dưỡng con người so với các chất liên quan của nó. Việc sử dụng beta-carotene có
hệ thống 15 đến 30 mg/ngày trong 10 tói 12 tuần đã cho thấy có khả năng phòng ngừa nổi ban đỏ
do tia uv nhưng không đủ để bảo vệ chống lại tia uv.
Vào tháng 9 năm 2007, Stahl và Sies đã làm rõ rằng chế độ ăn uống giàu carotenoid như
beta-carotene và lycopene, cũng như flavonoid, góp phần ngăn ngừa sự hình thành hồng ban gây
ra bởi tia cực tím sau khi ăn và phân tán tới các vùng phơi sáng, kể cả da và mắt.
Điều đáng chú ý là sự bổ sung beta-carotene đã được chứng minh là góp phần làm tăng
nguy cơ phát triển ung thư phế quản ở người hút thuốc và những người tiếp xúc với amiăng.
Việc ăn uống quá nhiều chất beta-carotene và các chất provitamin A khác sẽ làm da màu
vàng hơn (nhưng không vàng ở củng mạc mắt - điểm giúp sơ khởi phân biệt với vàng da do
tổn
thương gan).
Việc thừa carotenoid không nguy cơ gây hại so với thừa vitamin A. Tuy nhiên, sẽ nên bổ
sung chất này cho những đối tượng ở vùng khí hậu nhiệt đói vì phải tiếp XÚC ánh nắng mặt trời
thường xuyên và những người ăn uống không cân đối, không đủ carotenoid.
3.6. Biotin
Còn được gọi là vitamin B7, đã được chứng minh là làm tăng độ dày móng lên đến 25%
ở những bệnh nhân bị móng tay dễ gãy. Móng sẽ khỏe hơn khi bổ sung biotin. Liều 2,5 mg
biotin hàng ngày cho tất cả các bệnh nhân có móng dễ gãy hoặc tách móng. Hội chứng móng
giòn đã được chứng minh có cải thiện với liều lượng này.
3.7. Dầu hạt lựu (Borage seed oil)
Dầu hạt lựu là loại acid béo omega-6 giàu chất gamma-linolenic acid (GLA). Chất này
không được tổng hợp bởi da người từ tiền chất LA. GLA giúp dưỡng ẩm da, làm dịu viêm da và
đỏ.
78
3.8. Bromelain
Ananas comosus, gốc của chất bromelain, một từ dùng để chỉ các thành phần chứa các
enzyme proteolytic, có tính chất kháng viêm. Ngoài việc sử dụng nó như một chất hỗ trợ tiêu hoá,
bromelain thường được sử dụng để điều trị viêm và tổn thương mô mềm. Các enzyme proteolytic
của bromelain đã mang lại nhiều lợi ích chữa lành vết thương, như giảm bớt các vết thâm tím,
chứng phù và đau. Ngoài ra, nó còn có năng lực tiềm tàng như một kháng sinh.
Các tác giả đề nghị uống 500 mg bromelain 2 lần/ngày trong 3 ngày cho tất cả các bệnh
nhân sau khi làm thủ thuật như chích filler, nhằm giảm bớt vết bầm tím.
Bromelain bị chống chỉ định với bệnh nhân sử dụng thuốc chống đông như warfarin, trẻ em,
người bị dị ứng với dứa hoặc ong và những người có tiền sử hồi hộp, đánh trống ngực.
3.9. Caffeine
Thành phần được biết đến nhiều nhất của cà phê, caffein được tìm thấy tự nhiên trong lá,
hạt, hoặc trái cây ở một số cây và có trong trà, chocolate, soda và các sản phẩm khác. Sử dụng
các loại thức uống phổ biến như cà phê và trà, caffein hoặc các chất chuyển hóa của nó được cho
là mang lại đặc tính chống ung thư và chống oxy hóa đáng kể.
Trong các sản phẩm như Rosaliac và Replenix CF, caffein còn là một chất chống viêm và
làm co mạch giúp giảm dấu hiệu đỏ mặt.
Vì caffeine gây mất nước, chỉ nên được thưởng thức một cách điều độ, uống nước nhiều và
không dùng nhiều với kem và đường. Tác dụng khử nước của caffein giúp nó trở thành một chất
phụ phổ biến trong các loại kem giúp làm giảm san da cam (cellulite) và hiệu quả có thể kéo dài
khoảng 24 giờ.
3.10. Coenzyme Q10
Các nguồn thực phẩm tốt của CoQlO bao gồm cá, vỏ sò, rau dền và quả hạch.
CoQlO, là hợp chất hòa tan chất béo, giúp ngăn ngừa quá trình oxy hóa bằng cách ức chế sự
peroxid hóa lipid trong màng huyết tương, do đó ngăn chặn sự phát triển của gốc tự do. Trong ty
thể của mỗi tế bào của cơ thể, CoQlO đóng một vai trò quan trọng trong đường dẫn adenosine
triphosphate sản sinh năng lượng. Sản xuất năng lượng là một khí a cạnh quan trọng của sự trao
đổi chất của tế bào, hiệu quả của nó được cho là giảm theo độ tuổi. Mức CoQlO cũng trùng hợp
với sự suy giảm của tuổi tác và việc bổ sung ubiquinone giúp giảm tốc độ lão hóa và bệnh tật.
Việc thoa tại chỗ CoQlO làm giảm mức oxy hóa được đo bằng phát xạ photon yếu và
giảm độ sâu của nếp nhăn. Trong cùng một nghiên cứu, CoQlO ức chế biểu hiện collagenase
trong nguyên bào sợi người sau khi chiếu tia UVA.
79
Các nhà nghiên cứu kết luận rằng CoQlO có hiệu quả trong việc ngăn ngừa những ảnh
hưởng có hại của việc tiếp xúc với tia uv.
CoQlO có tác dụng kích thích giống như caffein nên được sử dụng vào buổi sáng, thường là
200 mg.
Các bệnh nhân dùng statin để giảm cholesterol cũng cần bổ sung chất này, vì statin làm
giảm mức CoQlO tự nhiên. Mức CoQlO thấp có liên quan đến sự mệt mỏi và co cứng cơ. Những
người dùng thuốc giảm cholesterol nên cân nhắc uống 400 mg mỗi sáng.
3.11. Dầu hoa anh thảo
Xuất xứ từ hạt cây anh thảo (Oenothera biennis), họ Onagraceae. Đây là một trong những
nguồn tốt nhất cung cấp cả LA và GLA, một acid béo thiết yếu không bão hòa quan trọng trong
sản xuất prostaglandin. LA được cơ thể sử dụng để tổng hợp GLA. Ngoài ra, LA duy trì sự gắn
kết lớp sừng và giúp giảm mất nước qua da.
Lợi ích về mặt sức khỏe của dầu hoa anh thảo là nhờ chất GLA. Trong một thử nghiệm mù
đôi đánh giá tác động của việc uống dầu hoa anh thảo với bệnh chàm, các nhà nghiên cứu nhận
thấy sự cải thiện có ý nghĩa thống kê giữa các bệnh nhân có uống dầu hoa anh thảo về mức độ
nghiêm trọng của các triệu chứng, bao gồm giảm tỉ lệ phần trăm diện tích da bệnh, triệu chứng
viêm, khô da và ngứa.
Dầu hoa anh thảo kết hợp với kẽm được dùng để làm giảm khô mắt, cải thiện móng dễ gãy
và điều trị mụn trứng cá và phỏng nắng.
Việc bổ sung chất này giúp làm ẩm da, làm giảm chứng viêm và kích ứng. Cũng có tác giả
đặc biệt đề xuất dùng dầu hoa anh thảo cho bệnh nhân thường xuyên bị rát da.
3.12. Glucosamine
Trong tự nhiên có nguồn gốc từ vỏ sò, ốc. Các chất tổng hợp glucosamin và dẫn xuất N-
acetyl glucosamine là amino-monosaccharides có vai trò sinh học quan trọng, đặc biệt là trong
sản xuất sụn.
Chúng đóng vai trò tiền chất cho sự tổng hợp acid hyaluronic (HA) và proteoglycans. Với
vai trò của nó trong sản xuất HA, glucosamine mang lại nhiều lợi ích khác nhau như tăng cường
hydrat hóa, giảm nếp nhăn và làm lành vết thương. Ngoài tính chống viêm và bảo vệ sụn,
glucosamine còn có hiệu quả trong điều trị tăng sắc tố vì nó ức chế sự hoạt hóa tyrosinase do đó
ức chế tổng hợp melanin.
Các tác giả khuyến cáo nên uống 1500 mg/ngày, đặc biệt đối với người trên 35 tuổi.
3.13. Chiết xuất hạt dẻ ngựa (Aesculus hippocastanum)
Trong số những loại cây hạt dẻ ngựa, hạt dẻ ngựa châu Âu (Aesculus hippocastanum) là loại
được sử dụng phổ biến nhất cho mục đích y học.
Với dạng uống, chiết xuất hạt dẻ hạt ngựa (HCSE = horse chesnut seed extract) đã được
chứng minh giúp cải thiện tình trạng viêm và khó chịu về tuần hoàn. Bệnh nhân dùng thuốc
chống đông máu nên được khuyên không nên bổ sung HCSE.
80
lần, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của tế bào, chức năng thụ thể màng và sự kết
dính. Chức năng sinh học chính của nó trong chất nền gian bào là ổn định cấu trúc tế bào và hình
thành nên chất nhớt đàn hồi (elastoviscous) bao bọc các tổ chức sợi, trong đó sợi collagen và
elastin.
HA giữ độ ẩm nên làm da căng sáng. Nó cũng là thành phần chính của một số chất chích
làm đầy da, tiêm khớp trong viêm khớp gối, đường thoa và uống. Tuy nhiên, do HA được chuyển
hóa trong dạ dày nên hiệu quả bổ sung bằng đường uống khó thành công.
3.15. Sắt
Được tìm thấy trong mỗi tế bào của Cơ thể, sắt là một khoáng chất quan trọng và rất cần
thiết trong việc sản xuất hemoglobin. Thiếu sắt có thể liên quan đến rụng tóc và các đốm trắng
hoặc các dải đứng trên móng, móng hình muỗng. Các bác sĩ nên kiểm tra mức độ ferritin của
bệnh nhân trước khi đề nghị bổ sung sắt. Các chất bổ sung sắt được khuyến cáo cho bệnh nhân
chỉ khi được xác định là có chứng cớ lượng sắt thấp, sắt dư thừa có thể tạo ra các gốc tự do và
tăng tốc lão hóa da. Nguồn thực phẩm chứa sắt bao gồm đậu khô, trái cây sấy khô, lòng đỏ trứng,
cá hồi, cá ngừ, ngũ cốc nguyên hạt và các thực phẩm khác.
3.16. Lycopene
Trong tự nhiên, lycopene có trong máu và mô người.
Nó là một loại carotenoid nhưng lại không phải là tiền chất của vitamin A, được biết đến
như là chất màu đỏ chủ yếu đặc trưng của cà chua.
Lycopene làm giảm các tổn thương oxy hóa ở mô, góp phần hấp thụ hoặc giảm nhẹ tác động
của bức xạ uv, bảo vệ chống lại sự phát ban dở sau khi phơi nhiễm tia cực tím và cũng có công
dụng chống oxy hóa.
3.17. Niacin
Niacin là một cofactor tồn tại ở hai dạng: nicotinamide-adenine dinucleotide (NAD) và
nicotinamide-adenine dinucleotide phosphate (NADP). NAD và NADP hoạt động như là chất
cho và chất nhận hydro trong phản ứng oxy hóa khử liên quan đến sự tổng hợp và chuyển hóa
của carbonhydrate, acid béo và protein.
Còn được gọi là vitamin B3 hoặc acid nicotinic, niacin đã được biết đến từ lâu vì sự cần
thiết cho các hoạt động của da và hệ thần kinh. Niacinamide (còn gọi là nicotinamide) là amide
dạng niacin. Các thuật ngữ acid nicotinic và nicotinamid được sử dụng ít hơn bởi vì chúng có âm
thanh tương tự, mặc dù không liên quan đến nicotin.
Trong cơ thể người; niacin được tống hợp nội sinh từ tryptophan. Ngũ cốc, men bia, cá, thịt,
sữa, gan, đậu sấy khô là những nguồn thực phẩm cung cấp niacin tốt nhất.
3.14. Acid hyaluronic (HA)
Một trong ba thành phần chính của hạ bì, HA, còn được gọi là hyaluronan, là glycos-
aminoglycan phơng phú nhất trong da người. Nó có khả năng liên kết nước với thể tích gấp 1000
81
các công thức chuyên biệt để điều trị tổn thương da do ánh sáng, viêm, tăng sắc tố và da khô.
Liều dùng hàng ngày là 15 - 20 mg niacin, hoặc khoảng 60 mg tryptophan ngoại sinh.
3.18. Polypodium leucotomos
Dẫn xuất từ họ dương xỉ, Polypodium leucotomos đã được sử dụng đế điều trị các chứng
viêm, được cho là có hoạt tính chống oxy hóa mạnh và giúp bảo vệ da với nang thông qua đường
uống.
3.19. Các polyphenol
Bao gồm hơn 8.000 hợp chất tự nhiên, polyphenol là chất chuyển hóa thực vật có hoạt tính
chống oxy hóa khác nhau. Tất cả các chất đa dạng này đều có cùng cấu trúc kết cấu, một phenol
hoặc một vòng thơm với ít nhất một nhóm hydroxyl.
Các chất polyphenol được xem là những chất chống oxy hóa trong chế độ ăn của con người
và được tim thấy trong một loạt các loại rau, hoa quả, thảo mộc, ngũ cốc, trà, cà phê, propolis và
rượu vang đỏ.
Flavonoids là polyphenol có nhiều trong thực phẩm, được nghiên cứu nhiều nhất và có thể
được chia thành nhiều loại.
Bảng 3. Các thực phẩm có nhiều polyphenol
Rau
Trái cây
Khác
Artichaud
Bông cải xanh
Bắp cải
Cà tím
Xà lách
ô liu
Hành
Đậu nành
Rau bina (rau chân vịt)
Táo/lê
Mơ
Quả mọng (nhiều loại) Cherry
Họ cam quýt
Cà chua đỏ và đen
Nho
Đào
Mận
Cacao
Hạt cà phê
Hạt lanh/dầu hạt lanh
Các loại hạt từ ngũ cốc Quả
hạch
Propolis
Rượu vang đỏ
Trà xanh và trà đen
Sự thiếu hụt niacin và niacinamide có liên quan đến sự phát triển của một sô loại ung thư,
bao gồm ung thư da, liên quan đến bệnh pellagra với các biểu hiện tiêu chảy, viêm da và chứng sa
sút trí tuệ. Trong nhiều năm, niacinamide đã được sử dụng bằng đường thoa và uống để điều trị
các bệnh viêm. Ví dụ, Berk và cs. mô tả việc sử dụng niacinamide đường uống với tetracycline
điều trị bệnh bóng nước dạng pemphigoid. Trứng cá đỏ cũng là một trong số các chỉ định cho
điều trị niacinamide. Trên thực tế, niacin được biết đến với tác động giãn mạch.
Niacinamide không gây ra các phản ứng phụ trên da và là một thành phần rất hiệu quả trong
82
Trong số nhiều polyphenol khác có stilbene (ví dụ resveratrol, được tìm thấy trong rượu
vang đỏ), lignans (ví dụ như enterodiol, được tìm thấy trong dầu hạt lanh và hạt lanh), tannin (ví
dụ acid ellagic, có trong lựu, quả mâm xôi, dâu tây, việt quất và quả óc chó), acid
hydroxycinnamic, acid phenolic, trong đó acid caffeic và ferulic thường được tìm thấy trong thực
phẩm.
Người ta đã nghiên cứu công dụng của catechins trà xanh, acid ferulic, resveratrol và các
thành phần khác.
Trong một cuộc khảo sát, các nhà khoa học cho các con chuột bị cắt buồng trứng ăn nhiều
cỏ ba lá màu đỏ trong 14 tuần (có 11 % isoflavones) thì thấy có tỉ lệ thấp triệu chứng loãng
xương, tăng mức độ collagen đáng kể ở nhóm điều trị so với nhóm chứng và độ dày lớp biểu bì
cũng như sự sừng hóa vẫn bình thường ở nhóm được điều trị nhưng lại giảm trong nhóm đối
chứng. Các nhà nghiên cứu kết luận rằng lão hóa da gây ra bởi sự suy giảm estrogen có thể được
giảm bớt bởi việc bổ sung thường xuyên của isoflavone trong cỏ ba lá đỏ.
3.20. Selenium
Là một chất khoáng được tìm thấy tự nhiên trong cơ thể và các loại thực phẩm khác nhau,
đặc biệt là các loại hạt của Brazil. Một số hải sản, thịt, ngũ cốc và các sản phẩm từ sữa có chứa
selen cũng như một số thực phẩm thực vật, tùy thuộc vào hàm lưọng selen trong đất trồng.
Selen là chất chống oxy hóa quan trọng, cần thiết cho sức khoẻ, với một lượng nhỏ.
Selenium ở dạng uống và thoa có vẻ như mang lại nhiều lợi ích cho da. Nước khoáng giàu
selenium dùng trong hỗ điều trị bệnh vảy nến, chàm và các tình trạng da viêm khác tại các spa.
Lượng selen hàng ngày được đề nghị cho người lớn là 55 qg/ngày và quá liều có thể gây hại
(thường hơn 400 pg/ngày). Trên thực tế, lượng selenium quá mức có thể dẫn đến lựng tóc.
3.21. Vitamin A
Retinol, còn gọi là vitamin A, một trong những vitamin tan trong dầu, không được tổng hợp
trong cơ thể người. Thuật ngữ “retinoids” dùng để chỉ vitamin A và tất cả các chất dẫn xuất tự
nhiên và tổng hợp của nó bao gồm retinol.
Các loại carotenoid như cà rốt, dưa đỏ, khoai lang, rau bina, sữa, bơ thực vật, tróng, gan bò
và ngũ cốc ăn sáng đều là các nguồn thực phẩm giúp bổ sung vitamin A.
Nhu cầu hàng ngày của vitamin A là 1.000 - 5.000 IU.
Các tác dụng sinh học: điều hòa sự tăng trưởng và sự biệt hóa của các tế bào biểu mô, trong
đó có sự tăng sinh thượng bì và sự sừng hóa, ức chế sự phát triển của khối u trong quá trình sinh
ung thư, giảm sự phát triển tế bào ác tính, giảm viêm và tăng cường hệ thống miễn dịch.
83
Retinoid cũng đã được chứng minh giúp cải thiện rạn da và sự bất thường màu sắc của da.
Vitamin A cũng đặc biệt có lọi cho bệnh nhân bị mụn trứng cá, vì nó giúp làm giảm mức độ
dầu trong da.
Ngoài ra, retinoic acid, hay tretinoin, được biết là làm đảo ngược các dấu hiệu lão hóa da.
Trong sự kết hợp với vitamin c và E, kẽm, vitamin A đóng góp vào việc nâng cao chức năng hàng
rào bảo vệ da cũng như hoạt động bảo vệ các tế bào miễn dịch.
Ngoài các thay đổi về mắt như quáng gà, khô mắt, thiếu hụt vitamin A thể hiện trên da bằng
các sẩn sừng nang lông xuất hiện ở mặt trước bên đùi và sau bên cánh tay, sau đó lan đến mặt
duỗi chi, vai, bụng, lưng, mông, mặt và sau cổ.
3.22. Vitamin c
Được biết đến trong lịch sử vì vai trò của nó trong việc phòng ngừa bệnh scorbut.
Vitamin c có rất nhiều trong trái cây có múi. Trên thực tế vào đầu thế kỷ XVIII, các thủy thủ
đã biết việc ăn cam quýt giúp ngăn ngừa tình trạng bất thường về răng, rối loạn chảy máu, tổn
thương bầm máu đặc trưng trên da và suy giảm tinh thần.
Hiện nay, vitamin c được xem là một chất chống oxy hóa mạnh và được sử dụng hiệu quả
như một chất chống lão hóa và chống viêm.
Trong da, vitamin c giúp làm tăng sự tổng hợp collagen khi được bổ sung vào môi trường
nuôi cấy. Do đó, về mặt lý thuyết nó góp phần ngăn ngừa hoặc thậm chí đảo ngược một số dấu
hiệu lão hóa da và có hiệu quả trong việc ngăn ngừa và điều trị vết rạn da.
Trong một nghiên cứu kéo dài 3 tháng về tác động của việc uống kết hợp vitamin c và E, các
nhà nghiên cứu cho thấy có sự giảm đáng kể về phản ứng cháy nắng đối với phơi nhiễm tia cực
tím, với dimers thymine giảm đáng kể do tia uv gây ra.
Ngoài ra, vitamin c còn có hiệu quả bảo vệ chống lại tổn hại trên DNA thông qua vai trò của
một chất chống oxy hóa. Nhiều bác sĩ khuyên bệnh nhân uống vitamin c 500 mg uống hai lần mỗi
ngày.
3.23. Vitamin D
Vitamin D3, thường gọi rút ngắn thành vitamin D, vừa là một hormone vừa và một chất
chống oxy hóa. Ngoài tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, vitamin D có thể thu vào cơ thể thông qua
thực phẩm như sữa, dầu cá và một số loại cá béo như cá hồi, cá mòi, cá trích, cá ngừ và tôm.
Nấm cũng là một nguồn thực phẩm tốt giúp bo sung vitamin D.
Qua quá trình trao đổi chất, vitamin D được chuyển hóa thành 25-hydroxyvitamin D (25
(OH) D) ở gan và 1,25-dihydroxyvitamin D (1,25 (OH) 2D) bởi thận.
Các chất chuyển hóa của vitamin D3, đặc biệt là calcitriol, giúp điều chỉnh hoạt động của tế
bào sừng và các tế bào miễn dịch, từ đó đóng một vai trò quan trọng trong điều trị bệnh vảy nến.
84
hormon cận giáp huyết thanh, làm tăng mật độ xương và có thể làm giảm tỉ lệ gãy xương, đặc
biệt ở người cao tuổi.
Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các chất tương tự vitamin D có thể có vai trò trong việc
điều trị ung thư hắc tố mặc dù tránh tiếp xúc với tia cực tím vẫn là cách phòng ngừa tốt nhất
chống lại ung thư da.
Mặc dù có bằng chứng ngược lại, các tuyên bố cho rằng việc sử dụng kem chống nắng dẫn
đến thiếu hụt vitamin D vẫn là một chủ đề gây tranh cãi. Hiểu rằng tiếp xúc với ánh nắng mặt trời
kéo dài làm tăng nguy cơ ung thư da, việc bổ sung vitamin D bằng đường uống thay cho việc tiếp
xúc tia uv có vẻ là cách tiếp cận an toàn nhất, đặc biệt phù hợp đối với những người có nguy cơ
mắc bệnh ung thư da cao (ví dụ những người có mái tóc đỏ và tàn nhang, hoặc tiền sử gia đình bị
ung thư da).
Hàm lượng vitamin D trong máu nên được kiểm tra ở tất cả các bệnh nhân. Nếu nồng độ
thấp, nên bổ sung vitamin D và chú ý chế độ ăn uống cũng như tiếp xúc ánh nắng mặt trời một
cách có giới hạn (vài phút/ngày).
3.24. Vitamin E
Vitamin E bao gồm tocopherols và tocotrienols. Đây là chất chống oxy hóa tan trong chất
béo quan trọng nhất, được tìm thấy tự nhiên trong nhiều loại rau, đặc biệt là rau bina, bơ, bắp,
dầu thực vật, hạt hướng dương, đậu nành, ngũ cốc nguyên hạt, quả hạch, margarine và trong một
số sản phẩm thịt và sữa.
Ở người, vitamin E bảo vệ các màng tế bào khỏi quá trình peroxid hóa và sự tấn công của
các gốc tự do. Ngoài việc giúp ngăn ngừa bệnh tim mạch, vitamin E cũng có hiệu quả trong việc
làm giảm khô da, đặc biệt ở những người uống retinoid.
Vitamin E cũng có tác dụng chống viêm trên da nhờ sự ức chế tổng hợp và giải phóng các
chất trung gian hóa học. Ngoài việc ổn định lysosome, vitamin E làm giảm sản xuất
prostaglandin E2 và làm tăng sản xuất interleukin-2.
Nhu cầu vitamin E của người lớn vào khoảng 15 mg mỗi ngày. Vitamin E có thể làm tăng
khả năng bầm tím nếu dùng liều lượng lớn. Bệnh nhân đang trải qua các quy trình phẫu thuật nên
tránh dùng vitamin E liều cao và cũng nên ngưng vitamin E 10 ngày trước khi phẫu thuật để giảm
thiểu nguy cơ bầm tím.
Giống như tất cả các chất chống oxy hoá, vitamin D thể hiện khả năng giảm tốc độ lão hóa
da. Tổng hợp vitamin D3 từ da giảm theo độ tuổi.
Thiếu vitamin D có thể dẫn đến sự gia tăng hormon cận giáp trong huyết thanh, góp phần
làm giảm xương, loãng xương và gãy xương. Bổ sung vitamin D đã được chứng minh là ức chế
85
cho kết quả tốt sau theo dõi từ 2 đến 3 tháng.
Trong mô hình viêm da dị ứng, các nhà nghiên cứu cho chuột ăn một chế độ ăn thiếu kẽm
trong 4 tuần và thấy rằng sự thiếu hụt kẽm ảnh hưởng đến rào cản da và các hệ miễn dịch.
Lượng kẽm cần thiết là 15 mg/ngày ở nam GIỚI và 12 mg/ngày đối với phụ nữ, kể cả lúc
mang thai. Điều quan trọng cần lưu ý là chỉ có 20% kẽm hiện diện trong chế độ ăn uống thực sự
hấp thu bởi cơ thể. Khi bổ sung khoáng chất uống, lượng kẽm và sắt phải tương đương để chúng
không can thiệp vào sự hấp thụ. Kẽm bị mất chủ yếu do phân, nước tiểu, tóc, da, mồ hôi, tinh
dịch và kinh nguyệt. Nồng độ Zn tăng quá mức sẽ làm ảnh hưởng trên chuyển hóa đồng.
4. CHẾ ĐỘ ĂN VÀ THẲM MỸ DA
Dựa trên các nghiên cứu, Baumann L. gọi ý một số hướng dẫn tổng quát về chế độ ăn để có
làn da khỏe, trẻ và đẹp.
Những khuyến cáo này là những can thiệp dài hạn nhằm đảm bảo sức khỏe tổng thể tốt và
ngăn ngừa các nếp nhăn trong tương lai chứ không phải là điều trị các nếp nhăn đã tồn tại và chỉ
là những hướng dẫn chung. Nhu cầu ăn kiêng tùng cá nhân có thể khác nhau.
4.1. Hạn chế năng lưọng
Trong vài năm gần đây, một nghiên cứu về chống lão hóa nhằm xác định liệu tuổi thọ và sức
khỏe của con người có thể tăng lên hay không. Trong quá trình này, hạn chế calori đã cho thấy
làm kéo dài tuổi thọ trung bình và tối đa ở các loài khác nhau. Chưa biết liệu CR (hạn chế năng
lượng = caloric restriction) có thể kéo dài tuổi thọ trung bình và tối đa hay sức khỏe của con
người. Tuy nhiên, các bằng chứng dịch tễ sẵn có cho thấy rằng CR đã góp phần làm tăng tuổi thọ
trung bình và tối đa ở một quần thể con người ở Okinawa, Nhật Bản. Điều cần lưu ý là việc hạn
chế lượng calo vào trong các nghiên cứu đó khá là cực đoan (cao tói 60%).
Nồng độ Zn đầy đủ quan trọng trong sự lành thương và chức năng tế bào T, neutrophil, tế
bào diệt tự nhiên. Kẽm cũng được cho là có khả năng chống oxy hóa và hỗ trợ các vi chất dinh
dưỡng khác trong việc tăng cường chức năng của rào cản da cũng như các hoạt động bảo vệ của
các tế bào miễn dịch. Trong một nghiên cứu đối chứng giả duợc đã báo cáo vào năm 2002, người
ta thấy uống sulfate kẽm với liều 10 mg/kg mỗi ngày để điều trị tình trạng mụn cóc tăng nhanh đã
3.25. Kẽm
Là một nguyên tố thiết yếu nhưng không do cơ thể con người tạo ra. Nó có trong các loại
thực phẩm khác nhau, đặc biệt là thịt có hàm lượng protein cao như nạc thịt bò, thịt gà, cá, tôm,
cua, sò, hến, sản phẩm từ sữa, rau đậu. Chế độ ăn chay thường chứa ít kẽm hơn chế độ ăn thịt.
Kẽm là thành phần quan trọng của nhiều men liên quan đến con đường chuyển hóa và chức
năng tế bào, tổng hợp protein và acid nucleic
86
4.2. Khuyến nghị tổng quát về chế độ ăn
Ăn cá hồi ít nhất 3 lần/tuần. Thêm các loại rau hạt vào chế độ ăn kiêng của bạn hoặc sử
dụng dầu hạch làm dầu ăn. Ăn thực phẩm giàu chất chống oxy hoá, chẳng hạn như nhiều loại quả
mọng và lựu. Ăn nhiều trái cây, rau quả, rau đậu. Đặc biệt, ăn trái cây và rau cải trong mùa sẽ bổ
dưỡng hơn.
Sử dụng gia vị như oregano, gừng và húng quế, tất cả đều có đặc tính chống oxy hoá.
Uống từ 2 đến 4 Chến trà xanh mỗi ngày, uống nhiều nước (từ 1 đến 2 lít mỗi ngày, tùy
thuộc vào mức độ gắng sức, điều kiện độ ẩm và nhu cầu cá nhân).
Bổ sung với CoQlO, ít nhất 1 viên 200 mg vào buổi sáng.
Uống một lượng rượu vang đỏ vừa phải, chứa chất chống oxy hóa polyphenolic resveratrol
và chiết xuất từ hạt nho, cả hai đều mang lại hiệu quả đáng kể. Việc hấp thụ quá nhiều rượu sẽ
dẫn đến sự hình thành tự do của da.
Hạn chế hoặc tránh các loại đường, chất béo bão hòa và thực phẩm chế biến. Đường có thể
góp phần làm mụn trứng cá và thúc đẩy quá trình lão hóa bằng cách làm cho glycosyl hóa các
protein cần thiết.
Theo giả định rằng những gì là tốt cho tiêu hóa là tốt cho da, ăn ít hơn suất ăn bình thường
kiểu Mỹ và nhai chậm (lý tưởng là không vừa ăn vừa đọc sách, xem TV, hoặc bị phân tâm).
4.3. Bổ sung thực phẩm theo phân loại da
Bảng 4. Khuyến cáo thực phẩm bỗ sung theo các tham số từ hệ thống phân loại da của Baumann
(Baumann Skin Typing System = BSTS)
Loại da
Cần bổ sung
Khô
Dầu hạt
Cholesterol
Dầu hoa anh thảo
Glucosamine
Các acid béo có omega-3
Dầu
Vitamin A
Nhạy cảm
Dầu cá, dầu từ cá biển sâu (acid béo omega-3, đặc biệt là acid
eicosapentaenoic và acid docosahexaenoic)
Sắc tố
Pycnogenol Vitamin c Đậu nành
Không sắc tố
Không cần thiết
Nếp nhăn
Coenzyme Q 10 Trà xanh
Lựu
Pycnogenol
Vitamin c Vitamin E
Chắc
Không cần thiết
Khỏe
Không cần thiết
87
5. KẾT LUẬN
Việc duy trì chế độ ăn uống phù hợp cho từng loại bệnh được xem là cách điều trị không
dùng thuốc, có lợi ích với da nói riêng và cho sức khỏe chung.
Thay đổi lối sống của một người không dễ thực hiện, người bệnh cần được giáo dục sức
khỏe để nhận biết những giá trị mang lại từ chế độ dinh dưỡng hợp lí, dù phải lâu dài.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Baumann L. (2009). “Cosmetic dermatology/’ Me Grow Hill, USA.
2. Klaus Wolff, Lowell A. Goldsmith, Stephen I.Katz, Barbara A. Gilchrest, Amy s. Paller, David J.leffell
(2008). Fitzpatrick ‘s Dermatology' in general medicine. Me Grow Hill, USA.
3. BS Nguyễn Thanh Minh. Bài giảng bài “Biểu hiện da trong bệnh dinh dưỡng”.
4. “Những vấn đề trong dinh duỡng lâm sàng”. Nhờ xuất bàn Y học.
5. Zuberbier (2001). “The role of allergens and pseudoallergens in urticaria”. J Invest Dermatol Symp
Proc,ố,ỵyp. 132-134
88
89
Chương II
CHĂM SÓC DA
90
MỸ PHẨM TRANG ĐIỂM
(MAKEUP)
1. ĐẠI CƯƠNG
Mỹ phẩm trang điểm là các sản phẩm mỹ phẩm có màu giúp che giấu khuyết điểm về sắc tố
và đường nét, tạo khuôn mặt với kích thước, hình dạng một cách thẩm mĩ hơn, bảo vệ da với
nắng phần nào và đáp ứng nhu cầu Thời trang của cá nhân.
Trong khoa Da liễu, trang điểm cho phép các bệnh nhân có vấn đề về sắc tố (nám, tàn
nhang, tăng sắc tố sau viêm, hồng ban sau viêm, trứng cá đỏ, bạch biến, sẹo...) che đậy khuyết
điểm một cách hiệu quả và đem lại cho họ chất lượng cuộc sống tốt hơn.
Sản phẩm trang điểm có thể được sử dụng trực tiếp lên da nhưng thông thường được thoa
trên một lớp kem dưỡng, để lớp trang điểm được mịn màng và tạo “màng” ngăn cách với da
mặt.
2. LỊCH SỬ
Việc dùng mỹ phẩm để tô điểm và chăm sóc sắc đẹp đã có từ gần hai triệu năm nay.
ở các bức tranh hang động đầu tiên của 30.000 năm trước, người ta đã mô tả việc sử dụng
trang sức và mỹ phẩm trong những nghi thức của giao phối và săn bắn.
Người Ai Cập cổ đại đã biết dùng tinh dầu thơm và mỡ đặc để thoa cho da trơn mướt, dùng
khói đen của đèn để nhuộm đen chân mày và lông mi, bột kim loại antimoin để vẽ viền mắt và tô
đậm vùng quanh mắt. Người Trung Hoa và Nhật dùng bột gạo, bột màu (lấy từ lá trà xanh, rượu
sa kê ...) để trang điểm. Ở châu Âu vào những năm 1755-1790, người ta biết dùng phấn bột, màu
phổ biến là hồng và cam.
Thế kỷ XX, phấn thoa mặt được dùng ở phương Tây với các tông màu: trắng, kem, màu
hồng và ô liu đi kèm với việc vẽ mắt đen, xanh dương, nâu và hạt dẻ. Sau 1917, sơn móng và son
môi dạng thỏi lần lượt ra đời. Kem nền được phát minh và cấp bằng sáng chế vào năm 1936 bởi
Max Factor. Sau khi được dùng trong công nghiệp điện ảnh, sản phẩm này trở nên phổ biến cho
mọi đối tượng có nhu cầu trang điểm.
3. CÁC SẢN PHẨM DÙNG CHO TRANG DIÊM
Trên mặt, các sản phẩm trang điểm bao gồm kem nền, phấn phủ, phấn má (còn gọi là má
hồng), phấn màu mắt, chì kẻ mày, chì kẻ môi, sản phẩm vẽ viền mí, mascara, tẩy trang mắt, tẩy
trang mặt, che khuyết điểm, son màu, son bóng. Kem che khuyết điểm của mặt cũng có thể được
91