thẩm-mỹ-nội-khoa-full-chinh-sua_compressed

21/11/2025 • by Bs CKI Phẫu thuật tạo hình, tái tạo và thẩm mỹ Trương Hoài Anh • botox
Bìa sách Thẩm Mỹ Nội Khoa chủ biên TS.BS Nguyễn Trọng Hào

Giới thiệu về sách Thẩm Mỹ Nội Khoa

Trong bối cảnh nhu cầu làm đẹp không phẫu thuật ngày càng tăng cao, cuốn sách “Thẩm Mỹ Nội Khoa” do TS.BS. Nguyễn Trọng Hào (Giám đốc Bệnh viện Da Liễu TP.HCM) chủ biên là một tài liệu y khoa chính thống, cập nhật và vô cùng giá trị. Đây là sản phẩm trí tuệ của tập thể y bác sĩ Bệnh viện Da Liễu TP.HCM, được biên soạn nhằm chuẩn hóa kiến thức và phục vụ công tác đào tạo liên tục cho chuyên ngành da liễu thẩm mỹ.

Nội dung chính của tài liệu

Cuốn sách được chia thành 5 chương lớn, bao quát toàn bộ các khía cạnh từ cơ bản đến nâng cao của thẩm mỹ nội khoa, giúp người đọc nắm vững kiến thức nền tảng và các kỹ thuật thực hành lâm sàng hiện đại.

Chương 1: Đại cương

Cung cấp cái nhìn tổng quan về quan điểm sắc đẹp, nhân trắc học, cấu trúc da, giải phẫu học vùng mặt và cổ. Đặc biệt, chương này đi sâu vào phân loại da (da khô, da nhờn, da nhạy cảm), dinh dưỡng và các yếu tố ảnh hưởng đến sự lành vết thương.

Chương 2: Chăm sóc da

Hướng dẫn chi tiết về các sản phẩm và quy trình chăm sóc da khoa học. Nội dung bao gồm mỹ phẩm trang điểm, chất làm sạch, chất giữ ẩm, các hoạt chất làm trắng, chống nắng, chăm sóc tóc, móng và đặc biệt là quy trình chăm sóc da sau điều trị laser.

Chương 3: Các tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ

Phân tích chuyên sâu về bệnh học và phác đồ điều trị các vấn đề thẩm mỹ phổ biến như: lão hóa da, nám da (melasma), tăng sắc tố sau viêm, mụn trứng cá, bạch biến, sẹo (lồi, rỗ), rạn da, da sần vỏ cam (cellulite) và xóa xăm.

Chương 4: Laser, ánh sáng và các thiết bị phát năng lượng

Trình bày nguyên lý và ứng dụng lâm sàng của các công nghệ cao trong thẩm mỹ: Laser CO2, IPL, RF, sóng siêu âm hội tụ (HIFU/MFU), đèn LED và các loại laser triệt lông, điều trị mạch máu, sắc tố. Chương này cũng đề cập đến an toàn laser và xử trí biến chứng.

Chương 5: Thủ thuật thẩm mỹ và phẫu thuật da

Hướng dẫn kỹ thuật thực hiện các thủ thuật xâm lấn tối thiểu và phẫu thuật da cơ bản: tiêm Botulinum toxin, chất làm đầy (Fillers), Mesotherapy, thay da sinh học (Chemical Peel), lăn kim, PRP, căng chỉ và các phẫu thuật móng, cấy tóc.

Giá trị thực tiễn

Đây là tài liệu tham khảo không thể thiếu đối với các bác sĩ da liễu, bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ và các học viên đang theo đuổi lĩnh vực thẩm mỹ nội khoa, giúp nâng cao tay nghề và đảm bảo an toàn, hiệu quả trong điều trị cho bệnh nhân.

Trang: / 518
Trang 1 Trang 2 Trang 3
📖 Xem bản dịch / Nội dung văn bản

41
Thẩm mỹ nội khoa
Số lượng của lipid ở bề mặt da của
người trẻ cũng cao hơn và giảm dần theo
tuổi. Nguyên nhân do sự thay đổi hormon
theo tuổi, cụ thể là giảm androgen làm
giảm sự sản xuất bã nhờn, cũng như làm
giảm kích thước các hạt lipid.
6.2. Da khô và hiện tượng viêm
Tổn thương hàng rào bảo vệ da sẽ kích
thích sản xuất các cytokine của thượng bì,
đặc biệt là interleukin lo, IL-6, IL-8. Hiện
tượng này xảy ra trong môi trường có độ
ẩm thấp, điều này có thể giải thích tại sao
các đợt bùng phát của chàm thể tạng,
ngứa da, viêm da thường xảy ra vào mùa
đông.
6.3. Da khô và stress
Từ lâu, stress về tâm lý đã được chứng
minh có liên quan đến các bệnh như viêm
da cơ địa, vảy nến và viêm da tiết bã.
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh mối liên
hệ giữa stress và tổn thương hàng rào
bảo vệ da. Các hormone của stress như
glucocorticoid ức chế sự tổng hợp lipid
làm cho da khô.
7. ĐIỀU TRỊ
7.1. Nguyên tắc
Tránh các tác nhân gây dị ứng (kể cả
các tác nhân làm sạch).
Chú ý sử dụng sản phẩm dưỡng ẩm
thường xuyên (tốt nhất sau khi tắm, sau
khi rửa tay, rửa mặt), ít nhất 2 lần 1 ngày.
Số lượng dưỡng ẩm phù hợp: 250-500
g/tuần.
Nếu có các bệnh lý khác kèm theo,
thoa cách các thuốc điều trị tại chỗ khác ít
nhất 30 phút (đối với corticosteroid) hoặc
ít nhất 1 giờ (đối với tacrolimus). Tỉ lệ phù
hợp của sản phẩm dưỡng ẩm và các thuốc
điều trị tại chỗ là 10:1.
7.2. Điều trị cụ thể
Tình trạng da khô có thể được cải thiện
bằng những sản phẩm dưỡng ẩm. Chất
giữ ẩm là những sản phẩm giúp tăng độ
ẩm cho làn da. Chúng thường chứa các
thành phần lipid như ceramide, acid béo
và cholesterol, glycerin... Dạng dưỡng ẩm
thường được sử đó là hỗn dịch dầu trong
nước như kem, lotion hay hôn dịch nước
trong dầu như kem thoa tay. Cơ chế của
chất dưỡng ẩm thông qua việc tăng hấp
thu nước vào trong da, giảm ma sát giữa
các lớp lamella của lớp sừng hoặc hình
thành một tấm màng để khóa ẩm. Các
chất dưỡng ẩm chia làm ba loại chính:
chất cấp ẩm (humectant), chất làm mềm
(emollient) hay chất khóa ẩm (occlusive).
Các chất khóa ẩm hoạt động theo cơ
chế vật lý, nó sẽ hình thành một tấm màng
để khóa ẩm, giảm hiện tượng mất nước
qua thượng bì. Nó chỉ có hiệu quả khi tồn
tại ở trên da. Các sản phẩm dưỡng ẩm có
thành phần khóa ẩm rất hiệu quả, nhưng
đôi khi sẽ làm da chúng ta có cảm giác
nặng nề, nhờn, bít lỗ chân lông do khả
năng bao phủ của nó và thường chỉ thích
hợp cho những ai da khô, vùng có khí hậu
lạnh, môi trường khắc nghiệt. Những chất
khóa ẩm thường gặp bao gồm: petrolatum,
lanolin, dầu, dầu khoáng, các loại dầu tự
nhiên như dầu hạt hướng dương, dầu olive.
Các chất cấp ẩm hoạt động như một
nam châm. Nó hút nước từ không khí và
từ sâu trong da để cung cấp độ ẩm cho
da. Tuy nhiên, nó chỉ hút nước từ không
khí nếu độ ẩm của không khí > 80%, nếu
không nó sẽ hút nước từ lớp sâu của da và
ngược lại làn da khô hơn. Chính vì lí do đó
sẽ hiệu quả hơn nếu phối hợp chất cấp ẩm
và chất khóa ẩm. Các sản phẩm dưỡng ẩm
là chất cấp ẩm rất phù hợp cho những làn
da dầu và sống ở những vùng nhiệt đới.

42
Chương 1
Đại cương
Những chất như glycerin, urea, hydroxy
acid, lactic acid, propylene glycol... năm
trong nhóm này.
Các chất làm mềm: thường được thêm
vào trong sản phẩm giúp da mềm mại và
mịn màng, tăng độ đàn hồi của da. Nó lấp
đầy những khoảng trống của các tế bào
sừng bị bong ra. Có nhiều chất khóa ẩm
hay chất cấp ẩm đồng thời cũng giữ vai trò
là chất làm mềm như: lanolin, petrolatum,
dầu khoáng.
Các thành phần tự nhiên khác như:
mầm lúa mì, shea butter hoặc những
chất chống oxy hóa như vitamin C, vita-
min E, trà xanh, coenzyme Q10 cũng được
thêm vào trong các sản phẩm dưỡng ẩm.
Những chất chống oxy hóa này có khả
năng giảm tác hại của các gốc oxy hóa
tự do trên da, từ đó giảm quá trình lão
hóa da. Một thành phần đặc biệt khác là
GHK Cu: đây là chất được sử dụng rộng
rãi với khả năng làm lành vết thương,
ngoài ra nhiều nghiên cứu chứng minh nó
còn có khả năng tăng tổng hợp collagen
cũng như làm giảm các nếp nhăn nhỏ.

8. CHẾ ĐỘ ĂN VÀ DA KHÔ
Lipid chỉ chiếm khoảng 10% trọng
lượng của lớp sừng. Tuy nhiên, vai trò của
nó vô cùng quan trọng trong giữ ẩm cho
da. Hầu hết những lipid này đều được tự
tổng hợp trong lớp thượng bì chứ không
được cung cấp từ chế độ ăn. Tuy nhiên,
linoleic acid - một thành phần của phos-
pholipid, glucosylceramide và ceramide 1,
4, 9 lại là một acid thiết yếu quan trọng chỉ
có thể được cung cấp qua chế độ ăn hay
thuốc thoa tại chỗ. Cụ thể hơn, a-linoleic
là một acid béo 0-3 có ở cá hồi và dầu cá
như dầu gan cá tuyết, lòng đỏ trứng, sữa
bò, đậu nành, mỡ heo, cây mướp tây...
9. CÁCH CHĂM SÓC DA KHÔ
- Tắm đúng cách
+ Đừng quên đóng cửa phòng tắm.
+ Chỉ tắm trong khoảng thời gian từ
5-10 phút.
+ Sử dụng nước ấm.
+ Sử dụng những loại sữa tắm dịu nhẹ,
không chứa hương liệu.
+ Sử dụng một lượng sữa tắm vừa đủ
để làm sạch chất dơ và dầu trên da.
+ Lau khô nhẹ nhàng bằng khăn sạch.
+ Sử dụng dưỡng ẩm (kem, mỡ, dung
dịch) ngay sau khi tắm xong hoặc
sau khi rửa tay.
- Nên lựa chọn những sản phẩm dưỡng
ẩm dạng kem hay dạng mỡ sẽ tốt hơn
dạng dung dịch.
- Sử dụng son dưỡng ẩm phù hợp. Nếu
môi bị ngứa hay châm chích sau khi sử
dụng son dưỡng ẩm, hãy đổi một loại
khác.
- Lựa chọn những sản phẩm chăm sóc
da dịu nhẹ, không có hương thơm. Khi
da bị khô, tránh sử dụng những sản
phẩm như xà bông khử mùi hoặc các
sản phẩm chăm sóc da chứa cồn, hương
liệu, retinoid, alpha-hydroxy acid (AHA).
- Mang găng tay.
+ Bàn tay là nơi đầu tiên dễ bị chú ý
nhất nếu da bị khô. Mang găng tay có
thể làm giảm tình trạng khô da, đặc
biệt khi trời lạnh, khi thực hiện những
hoạt động đụng nước như rửa chén,
giặt đồ hoặc tiếp xúc hóa chất...
- Ưu tiên những quần áo ít gây cọ xát
hoặc ngứa như coton, lụa.
- Lựa chọn xà phòng giặt đồ dành cho
da nhạy cảm.

43
Thẩm mỹ nội khoa
- Tránh tiếp xúc gần với những nguồn
nhiệt trực tiếp như bếp lửa, than nóng... -
- Sử dụng máy làm ẩm không khí.
10. KẾT LUẬN
Da khô là một trong những tình trạng
hay gặp trong da liễu. Hầu hết những tình
trạng nhẹ, bệnh nhân đều tự xử lý được với
các sản phẩm dưỡng âm mua tua dễ dàng
ngoài thị trường trước khi tìm đến bác sĩ
da liễu. Đối với những tình trạng nặng, cần
chú ý giải thích cho bệnh nhân những hậu
quả có thể xảy ra cũng như dùng những
sản phẩm điều trị thích hợp, hiệu quả.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. A.K. Dabrowska, F. Spano, S. Derler
et al (2017). The relationship between skin
function, barrier properties, and body-de-
pendent factors. Skin Research and Tech-
nology.
2. David H Chu (2012). Development
and structure of skin. In Fitzpatrick's Der-
matology in general medicine, 8th edition,
Mc Graw Hill, pp.58-74.
3. G. Moncrieff, M. Cork, S.Lawton, S.
Kokiet, C. Daly, C. Clark (2007). Use of
emollients in dry-skin conditions: consen-
sus statement. Clinical and Experimental
Dermatology, 38(3): 231-38.
4. Baumann L. (2009). Dry skin. Cos-
metic Dermatology: Principles and Prac-
tice, 2th edition, Mc Graw Hill, pp.83-93.
5. Ružica Jurakić Tončić, SanjaKezić,
Suzana Ljubojević Hadžavdić, BrankaMa-
rinović. (2017). Skin barrier and dry skin
in the mature patient. Clinics in Dermatol-
ogy. ma-
tol.2017.10.002

44
Chương 1
Đại cương
CÁC HỆ THỐNG PHÂN LOẠI DA
(CLASSIFICATIONS OF SKIN TYPE)
1. ĐẠI CƯƠNG
Các sản phẩm chăm sóc da và mỹ
phẩm bắt đầu định hình vào năm 1915 bởi
sự cạnh tranh dữ dội giữa hai doanh nhân
Helena Rubinstein và Elizabeth Arden, cả
hai bà đều mở các thẩm mỹ viện vào năm
đó và phát triển thành một đế chế kinh
doanh hùng mạnh.
Vào lúc này, các từ da khô, nhờn, kết hợp
và nhạy cảm đã được Helena Rubinstein
sử dụng để mô tả và xác định là có bốn
loại da cơ bản. Trong khi những định nghĩa
này được đưa ra mà không có một tranh
luận chuẩn nào để hiểu về các loại da thì
các sản phẩm chăm sóc da và mỹ phẩm
càng phát triển, trở thành ngành công
nghiệp có doanh số hàng triệu đô và tạo
ra các nhóm sản phẩm mới gọi là dược
mỹ phẩm (cosmeceuticals). Tuy nhiên,
một công thức mỹ phẩm không được kiểm
soát có thể can thiệp vào chức năng sinh
học của da. Ngày nay, các sản phẩm này
trở nên đại chúng với số lượng tiêu thụ
ngày càng tăng.
Trong lúc các sản phẩm chăm sóc da
trên thị trường đã thay đổi đáng kể và trải
qua một sự phát triển mạnh trong cuối thế
kỷ qua vài tiến bộ tương đối đã được thực
hiện để hiểu rõ hoặc phân loại da. Thật vậy,
cách xác định loại da theo truyền thống
trên thực tế không đủ để hướng dẫn thay
thuốc và người tiêu dùng chọn lựa sản
phẩm thích hợp. Điều này đặc biệt đáng
chú ý vì ngày càng có nhiều sản phẩm
được đưa ra thị trường và được chỉ định
cho một số loại da đặc biệt như khô hoặc
nhạy cảm.
Phân loại da không chỉ quan trọng vì
giúp đánh giá bệnh nhân và theo dõi điều
trị mà còn dùng để đánh giá trong các
nghiên cứu. Một số phân loại da như của
Fitzpatrick, đánh giá da dựa vào khả năng
bắt nắng, dùng để theo dõi đáp ứng điều
trị. Một số phân loại khác dùng trên lâm
sàng để đánh giá các rối loạn về mặt thẩm
mỹ và theo dõi hiệu quả khi dùng thuốc.
Trước khi bắt đầu với bất cứ điều trị
hay thủ thuật nào, bác sĩ lâm sàng cần xác
định loại da của bệnh nhân để đánh giá sự
đáp ứng cũng như nhận định các nguy cơ
kết hợp.
2. CÁC HỆ THỐNG PHÂN LOẠI DA
2.1. Hệ thống phân loại da của
Fitzpatrick (1975)
Hệ thống này lúc đầu được đưa ra để
phân loại da bệnh nhân nhằm xác định
liều của tia cực tím khi điều trị vảy nến. Hệ
thống này dựa vào khả năng bắt nắng của
da người bệnh cho nên không xác định
chính xác màu da, ít dự đoán đáp ứng của
da đối với một số chấn thương do laser
hoặc phẫu thuật. Tuy nhiên, trong nhiều
năm qua, hệ thống này vẫn được sử dụng
và hiện tại các bác sĩ chuyên khoa da vẫn
dùng hệ thống này để lên kế hoạch điều trị
bằng tia cực tím hoặc dự đoán đáp ứng da
khi điều trị laser.

45
Thẩm mỹ nội khoa
Bảng 1.2. Phân loại da theo Fitzpatrick
Loại da
Đặc điểm
Khả năng bắt nắng
I
Da trắng, mắt xanh/nâu, tóc
nâu/đỏ
Luôn phỏng nắng, không bị bắt nắng
II
Da nâu lợt
Dễ phỏng nắng, đôi khi bị bắt nắng
III
Da trắng, mắt xanh
Đôi khi phỏng nắng, luôn luôn bắt nắng
IV
Da vàng
Ít khi phỏng nắng, dễ bắt nắng
V
Da nâu
Hiếm khi phỏng nắng, luôn bắt nắng.
VI
Da nâu đen/đen
Không bao giờ phỏng nắng, bắt nắng
mức độ nặng
2.2. Hệ thống phân loại da theo
Baumann (2005)
Hệ thống này phân loại da thành 16
loại. Phân loại da của Rubinstein không
nhận định được những đặc điểm khác của
da có trên lâm sàng như: nhờn, đề kháng,
có khuynh hướng phát triển sắc tổ hoặc
nếp nhăn, còn hệ thống phân loại của Bau-
mann (BSTS Baumann skin typing system)
là một sự cải tiến để phân loại da dựa trên
bốn cặp đặc điểm chính của da:
- Nhờn (oily)/khô (dry)
- Nhạy cảm (sensitive) đề kháng (resis-
tant)
- Sắc tố (pigmented)/không sắc tố (non-
pigmented)
- Nhắn (wrinkled)/căng (tight)
Bởi vì 4 cặp đặc điểm trên không thể
tách rời nên việc đánh giá dựa trên 4 đặc
điểm này sẽ cho ra 16 loại da. Phân loại da
theo Baumann dựa vào một hệ thống câu
hỏi để xác định loại da cơ bản cũng như
đánh giá tình trạng da sau các thay đổi
của cuộc sống, vì thế phân loại da không
khẳng định. BSTS đặc biệt hướng dẫn cho
thầy thuốc, bệnh nhân, người tiêu dùng
nhận diện các sản phẩm thích hợp cho da
mình.
BSTS được xác định bởi một loạt câu
hỏi được cập nhật và cải tiến liên tục. Các
câu hỏi, các mô tả hoàn chỉnh về mỗi loại
da và sản phẩm khuyến cáo cho mỗi loại
da được tìm thấy trong sách “The skin
type solution”, sách này được xuất bản ở
nhiều nước, bằng nhiều ngôn ngữ. Bác sĩ
và chuyên gia chăm sóc da có thể tham
gia và góp phần vào việc thu thập các dữ
liệu để cập nhật các câu hỏi về phân loại
da tại com. BSTS có 10 ngôn
ngữ tại web này. Khi đã đăng kí trên web
các chuyên gia chăm sóc da có thể email
các câu hỏi đến cho bệnh nhân để bệnh
nhân có thể tự đánh giá da của mình. Sau
đó, kết quả BSTS của bệnh nhân sẽ được
báo cáo cho bác sĩ hoặc nhà thẩm mỹ
học. Bác sĩ có thể quyết định điều trị dựa
vào loại da của cá nhân và chính các phân
loại da này tạo thuận lợi trong thực hành.
Quan trọng hơn là chuyên gia chăm sóc da
và bác sĩ chuyên khoa da có thể sử dụng
các thông tin này để giúp xác định sản
phẩm nào và quá trình nào thích hợp nhất
cho bệnh nhân. Các câu hỏi BSTS thường
xuyên được cập nhật theo các dữ liệu của
thống kê. Hơn nữa, các câu hỏi mới được
phát triển là kết quả của quá trình hiệu
đính.

46
Chương 1
Đại cương
Chúng ta sẽ đề cập đến bốn cặp đặc
điểm mà dựa vào đó BSTS phân loại. Trong
quá trình đó 16 loại da thay đổi sẽ được
mô tả. Mỗi đặc điểm trong bốn đặc điểm
này có một loạt các câu hỏi riêng biệt và
được cho điểm để xác định cho đặc điểm
đó.
Ví dụ: xác định nhờn hay khô thì dùng 0
(oily) hoặc D (dry). Khi điểm được xác nhận,
lời khuyên về chăm sóc da sẽ dễ được đưa
ra. Quan điểm điều trị hoặc chăm sóc da
kết hợp với BSTT được nhấn mạnh là điều
trị không xâm lấn, tại chỗ, ban đầu.
Bảng 2. Phân loại da theo Baumann
Nhờn (O)
Sắc tố (P)
Nhờn (O)
Không sắc
tố (N)
Khô (D) Sắc
tố (P)
Khô (D)
Không sắc
tố (N)
Nhạy cảm
(S)
OSPW
OSNW
DSPW
DSNW
Nhăn (W)
Nhạy cảm
(S)
OSPT
OSNT
DSPT
DSNT
Căng (T)
Đề kháng (R)
ORPW
ORNW
DRPW
DRNW
Nhăn (W)
Đề kháng (R)
ORPT
ORNT
DRPPT
DRNT
Căng (T)
* Hydrat hóa da
Phân loại từ nhờn đến khô: da khô có
đặc điểm hoặc là giảm sút hàng rào bảo
vệ, thiếu chất giữ ẩm tự nhiên hoặc là giảm
sự tiết bã nhờn. Da nhờn biểu hiện bằng
tăng sản xuất chất bã. Mặc dù bệnh nhân
có thể than phiền là có kết hợp, khô ở má
và nhờn ở vùng chữ T, dạng này thường
được xếp cuối bảng. Tình trạng O/D giúp
đơn giản việc chăm sóc da. Trong BSTS
điểm cao nhất tương ứng với tăng tiết bã
nhờn, trong đó điểm thấp nhất tương ứng
với da mất nước. Da rơi vào điểm giữa là
da bình thường.
Chăm sóc da có đặc điểm nhờn đến
khô: các loại da nhờn khó điều trị bởi vì
không hiệu quả với thuốc bôi do quá nhiều
chất nhờn tiết ra. Thêm vào đó, kem chống
nắng thường hòa tan trong dầu có thể làm
tăng nhờn. Cách điều trị tốt nhất cho da
nhờn là rửa trực tiếp. Chất rửa tạo bọt và
chất rửa có salicylic acid có thể sử dụng
cho những bệnh nhân này. Nước hoa hồng
(toner) có thể dùng cho loại da này nếu
muốn. Chất giữ ẩm không cần thiết. Nếu
muốn sử dụng các dạng nhẹ hơn thì lo-
tion có thể chấp nhận được. Chất bã chứa
một lượng cao vitamin E nên dạng da
nhờn biểu hiện khả năng chống oxy hóa
cao. Hầu hết các loại da nhờn thường gặp
ở người dưới 40 tuổi và có thể có biểu hiện
mụn. Loại gel và serum thích hợp hơn
cream trên bệnh nhân da nhờn. Một lớp
phấn trên kem chống nắng có thể giúp
làm giảm bóng nhờn trên bệnh nhân da
nhờn có dùng kem chống nắng. Da khô
cần chất rửa không tạo bọt để không làm
cạn lớp lipid bảo vệ ở bề mặt da. Trong khi
da vẫn còn ẩm, chất giữ ẩm phải được bôi
để bắt giữ nước trên bề mặt da. Nước hoa
hồng không được sử dụng ở bệnh nhân da
khô. Chất giữ ẩm phải được chọn lựa dựa
trên khả năng làm giảm sự mất nước qua
thượng bì nhằm sửa chữa hàng rào bảo vệ
da. Loại da quá khô phải tránh rửa kỹ (cọ
xát) bởi vì cọ xát sẽ làm giảm sự thấm qua

47
Thẩm mỹ nội khoa
hàng rào thượng bì. Các loại kem chống
nắng dạng lotion và cream thích hợp cho
các loại da khô.
Da bình thường sẽ tốt khi dùng công
thức lotion hơn là gel hoặc cream. Loại da
bình thường có thể thay đổi thành da khô
ở môi trường có độ ẩm giảm hoặc ở thời
tiết lạnh.
* Da nhạy cảm
Có đặc điểm từ nhạy cảm đến đề
kháng: điểm cao là da nhạy cảm, điểm
thấp là da đề kháng. Da nhạy cảm có đặc
điểm dễ viêm và biểu hiện bằng mụn trứng
cá đỏ, có cảm giác ngứa, nóng rát hoặc dễ
phát ban. Da đề kháng có lớp thượng bì
khỏe mạnh để có thể bảo vệ làn da chống
lại các dị ứng nguyên, các chất kích thích
khác từ môi trường và chống mất nước.
Người có làn da đề kháng hiếm khi có
hồng ban hoặc mụn. Tổng quát, ta có thể
điều trị bằng các sản phẩm chăm sóc da
mạnh hơn và dùng các giải pháp như lột
bằng hóa chất.
Chăm sóc da từ đặc điểm nhạy cảm
đến đề kháng: cá nhân da đề kháng có thể
sử dụng hầu hết các sản phẩm chăm sóc
da mà không sợ phản ứng phụ xuất hiện
(ví dụ như mụn, phát ban hoặc ngứa...).
Mặt khác cùng một chất lượng nhưng
thoa trên da để kháng có thể bị cho là sản
phẩm không hiệu quả bởi vì da của những
bệnh nhân này đòi hỏi nồng độ cao của
các hoạt chất trong sản phẩm. Nói cách
khác, loại da đề kháng có hàng rào bảo vệ
da khá mạnh. Do đó, người có làn da đề
kháng có thể không thích hợp với các sản
phẩm nhẹ do những sản phẩm này không
thể xâm nhập vào thượng bì để tạo ra kết
quả. Những bệnh nhân da đề kháng cần
nồng độ cao của acid glycolic và cần thời
gian kéo dài hơn trong quang hóa trị liệu.
Họ ít bị dị ứng với các sản phẩm chăm sóc
da hơn da nhạy cảm.
Những bệnh nhân da nhạy cảm thường
biểu hiện phản ứng viêm. Quá trình điều
trị được đặt ra để ngăn ngừa và giảm kích
thích cũng như tình trạng viêm thông qua
việc sử dụng các sản phẩm chống viêm.
Bởi vì bốn loại da nhạy cảm có thể chồng
lấp lên nhau nên các khuyến cáo về chăm
sóc da sẽ phụ thuộc vào loại da nhạy cảm
hoặc phụ thuộc vào sự kết hợp của các
loại da của bệnh nhân. Tổng quát, ở da
nhạy cảm tránh chà xát kỹ da mặt bởi vì
sự cọ xát sẽ làm suy yếu hàng rào bảo vệ
da và có thể làm nặng hơn tình trạng mụn.

48
Chương 1
Đại cương
* Sắc tố da
Đặc điểm từ có sắc tố (Pigmented,
P) đến không sắc tố (Nonpigmented, N).
Màu sắc da không phải là trọng tâm ở
đây. Các cá nhân có khuynh hướng phát
triển những thay đổi tăng sắc tố được xếp
nhóm P trong hệ thống BSTS, những cá
nhân không có sắc tố được xếp nhóm N.
Bệnh nhân nhóm P: để thay đổi sắc tố
có thể dùng hóa chất để lột, laser, thuốc
bôi.
Bệnh nhân nhóm N: da thường sáng,
không có khả năng tái Tuy nhiên, những cá
nhân tóc đỏ (da trắng) có khuynh hướng
xuất hiện tàn nhang và cũng được xếp vào
nhóm P trong hệ thống phân loại BSTS.
Chăm sóc da có đặc điểm P đến N.
các cá nhân loại da N không cần bất cứ
sản phẩm chăm sóc da đặc biệt nào. Tuy
nhiên, da nhóm P thích hợp với những hoạt
chất làm sáng da như arbutin, hydroqui-
non, kojic acid. Các sản phẩm chứa niacin-
amide và đậu nành có thể ngăn ngừa tăng
sắc tố không mong muốn. IPL và Fraxel là
những điều trị phối hợp dành cho những
bệnh nhân BSTS tăng sắc tố để giúp loại
trừ tăng sắc tố do ánh sáng mặt trời hoặc
sạm da.
* Lão hóa da
Đặc điểm từ có nếp nhăn (Wrinkled,
W) đến căng da (tight, T): trong bộ câu hỏi
BSTS cần nhận diện các nguy cơ của nếp
nhăn. Các câu hỏi về các thói quen như
tiếp xúc ánh sáng mặt trời, hút thuốc lá,
sử dụng giường làm nâu da cần được chú
ý. Ngoài ra, có các câu hỏi về tổ tiên để
xác lập tác động của di truyền trên việc
tạo nếp nhăn da.

49
Thẩm mỹ nội khoa
Các nhóm W không cần thiết phải có
nếp nhăn da ngay tại thời điểm hoàn thành
các câu hỏi nhưng theo thời gian họ cần
các biện pháp bắt đầu ngăn ngừa do họ
có nguy cơ.
Các cá nhân da sáng hơn thường có
biểu hiện nhóm W hơn là ở nhóm da sậm.
Retinoid, kem chống nắng và chống oxy
hóa phải được sử dụng ở bệnh nhân nhóm
W.
* Da kết hợp
Như đã trình bày từ trước, đánh giá bổn
cặp đặc điểm sẽ phân loại được 16 loại
da khác nhau. BSTS có thể trợ giúp thêm
trong quá trình điều trị đặc biệt ở những
làn da có vấn đề và chọn lựa sản phẩm
không cần toa thích hợp nhất cũng như
chọn lựa quá trình chăm sóc cho những
cá nhân có làn da đặc biệt.
Một bệnh nhân có da khô, nhạy cảm,
không sắc tố, căng (DSNT) sẽ thích hợp
với những sản phẩm có chức năng sửa
chữa được hàng rào bảo vệ da.
Các sản phẩm chứa retinoid và chống
oxy hóa sẽ thích hợp nhất cho những bệnh
nhân da nhờn, nhạy cảm, không sắc tố và
nhăn (OSNW) bởi vì những người này da
thường nổi mụn và có khuynh hướng dễ
xuất hiện nếp nhăn.
Các sản phẩm chọn lọc sẽ được chỉ
định ở những làn da đặc biệt, cần chú ý
đến khuynh hướng hoặc tình trạng phối
hợp ở các làn da này.
Khi một bệnh nhân tăng sắc tố, có
nhăn (PW) da thường có tiền căn tiếp xúc
ánh sáng mặt trời, biểu hiện nếp nhăn và
dày sừng ánh sáng. Da sậm thường gặp
ở bệnh nhân có tăng sắc tố, căng trong
khi đó da sáng thường gặp ở những bệnh
nhân không có sắc tố dex xuất hiện nếp
nhăn. Ngoài ra, bệnh chàm thường gặp ở
bệnh nhân da khô, nhạy cảm (DS) trong
khi đó mụn thường gặp ở da nhờn, nhạy
cảm (OS). Trứng cá đỏ gặp ở bệnh nhân
(SNW.
Cuối cùng cần khuyến cáo mỗi cá nhân
thực hiện bộ câu hỏi BSTS ở lúc đầu và
thực hiện lại khi có stress, hoặc khi có biểu
hiện thay đổi trên da bởi vì phân loại da
sẽ không khẳng định. Sự thay đổi da có
thể do stress hoặc có thể thay đổi trong
quá trình stress, có thai, mãn kinh, thay
đổi thời tiết, do những thay đổi đáng kể từ
môi trường ngoài hoặc các thay đổi bên
trong cơ thể.
Đã có những thay đổi đáng kể và phát
triển theo lũy thừa các sản phẩm chăm
sóc da từ ngày sản phẩm của Helena
Rubinstein và Elizabeth Arden được đưa ra
thị trường. Các công ty thường đưa ra các
quảng cáo quá mức và lẫn lộn.
BSTS, bộ câu hỏi để xác định BSTS có
thể dùng để thu thập các dữ liệu và cung
cấp sản phẩm chăm sóc da thích hợp và
khuyến cáo quá trình chăm sóc. BSTS
đánh giá dựa vào bốn đặc điểm nhờn/khô,
nhạy cảm/đề kháng, có sắc tố/không có
sắc tố, nếp nhăn căng da, tạo ra bốn mã
số cho mỗi loại da. Mỗi loại da được xác
định sẽ nêu được khuynh hướng dùng sản
phẩm phát triển tình trạng da liên quan.
Điểm BSTS của bệnh nhân cung cấp
cho bác sĩ và nhà thẩm mỹ học các thông
tin có thật để có thể dễ khuyến cáo các
sản phẩm chăm sóc da OTC thích hợp cho
bệnh nhân. Điểm BSTS cũng cho phép
người tiêu dùng quyết định chọn các sản
phẩm tại chỗ thích hợp cho loại da của
họ. Bác sĩ và bệnh nhân có thể sử dụng hệ
thống có tại typesolution.com
2.3. Hệ thống phân loại của Glogau (1994)
Hệ thống của Glogau phân loại các
mức độ lão hóa da do ánh sáng như nếp
nhăn, rối loạn màu sắc da. Hệ thống phân
loại da của Glogau dựa vào sự so sánh
bên ngoài giữa da người bệnh và các hình
ảnh được chụp trước đó. Hệ thống này có
mục đích tuyên truyền hơn là công cụ để
làm căn cứ cho các khuyến cáo lâm sàng.t

50
Chương 1
Đại cương
Bảng 1.3. Phân loại lão hóa da của Glogau
Nhóm
Loại
Tuổi trung
bình
Mô tả
Đặc điểm da
I
Nhę
28-35
Không có nếp
nhăn
Lão hóa da ánh sáng mức độ nhẹ:
thay đổi sắc tố nhẹ, không dày sừng,
nếp nhăn rất ít
II
Trung
bình
35-50
Nếp nhăn
xuất hiện khi
cử động
Lão hóa da ánh sáng mức độ nhẹ đến
trung bình: có vài đốm nâu có thể có
dày sừng, xuấthiện nếp nhăn khi cười
III
Tiến
triển
50-65
Nếp nhăn
xuất hiện khi
nghỉ ngơi
Lão hóa da ánh sáng mức độ tiến
triển: tìnhtrạng tăng sắc tố rõ, có giãn
mạch, có dày sừng, trang điểm dày
mới che được nếp nhăn
VI
Nặng
60-75
Nhiều nếp
nhăn
Lão hóa da ánh sáng mức độ nặng:
da màu vàng - xám, có thể xuất hiện
tổn thương tiến ác tính, nhiều nếp
nhăn , không thể che đậy bằng trang
điểm
2.4. Hệ thống phân loại dựa vào
sự tăng nhiễm sắc tố da của Taylor
(2006)
Phân loại gồm các tấm cạc mỏng có
từ 10 đến 15 màu da khác nhau. Một vùng
tăng nhiễm sắc được đối chiếu với một
màu của tấm cạc. Phân loại này đánh giá
các tổn thương rối loạn sắc tố.
D - 0
D - 1
D - 2
D - 3
D - 4
D - 5
D - 8
D - 6
D - 9
D - 7
D - 10

51
Thẩm mỹ nội khoa
2.5. Hệ thống phân loại da của
Roberts
Là sự phối hợp phân loại da của Fitzpat-
rick và Glogau, đánh giá khả năng nhiễm
sắc của da với chấn thương, tổn thương
viêm và mô tả hình thái sẹo của da bệnh
nhân
Hệ thống phân loại đưa vào sự tăng nhiễm sắc đa của Roberts
(H: hyperpigmentation)
Ho
Giảm sắc tố
H1
Tăng nhiễm sắc mức độ nhẹ và tạm thời (<1 năm)
H2
Tăng nhiễm sắc mức độ nhẹ và kéo dài (>1 năm)
H3
Tăng nhiễm sắc mức độ trung bình và tạm thời (<1 năm)
H4
Tăng nhiễm sắc mức độ trung bình và kéo dài (>1 năm)
H5
Tăng nhiễm sắc mức độ nặng và tạm thời (<1 năm)
H6
Tăng nhiễm sắc mức độ nặng và kéo dài (>1 năm)
Hệ thống phân loại đạn vào Seo đa của Roberts: mô tả hình thái sẹo
(S: scarring)
So
Sęo teo da
S1
Sęo không teo da
S2
Sẹo dạng dát
S3
Sẹo dạng màng
S4
Sẹo lồi
S5
Sẹo dạng cục
3. KẾT LUẬN
Có rất nhiều hệ thống phân loại da, các
phân loại này đều giúp cho bác sĩ cũng như
bệnh nhân biết được đặc điểm da từ đó có
thể chọn lựa sản phẩm điều trị hoặc chăm
sóc phù hợp. Chọn lựa sử dụng phân loại
nào sẽ tùy thuộc vào mục đích điều trị hay
nghiên cứu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Baumann L, Weisberg E (2002). “The
Baumann skin typing system”. Cosmetic
dermatology, pp. 69-74.
2. Castenedo-Tardan MP, Baumann L
(2002). “Scales used to classify skin”. Cos-
metic dermatology, pp. 342-346.
3. Nguyễn Thị Thời Loan (2009). “Hệ
thống phân loại da của Robertso. 11.
quyhoandh.org.vn.

52
Chương 1
Đại cương
DA NHỜN
(OILY SKIN)
1. ĐẠI CƯƠNG
Sự tiết nhờn đóng một vai trò quan
trọng trong việc giữ ẩm da thông qua sản
xuất glycerol - một thành phần cần thiết
cho sự nguyên vẹn của hàng rào bảo vệ
da. Hơn nữa, chất nhờn còn cung cấp lipid
cho bề mặt của da, ngăn hiện tượng mất
nước qua thượng bì (TEWL). Tuy nhiên,
nếu sự tăng tiết nhờn quá mức sẽ gây ra
da nhờn.
Da nhờn là một trong những than phiền
thường gặp nhất, đặc biệt ở lứa tuổi thanh
thiếu niên. Da nhờn là một tác nhân góp
phần gây nên mụn trứng cá và rất ảnh
hưởng thẩm mỹ. Những người da nhờn
trung bình hay nặng thường than phiền về
việc phải rửa mặt quá nhiều lần trong ngày
nhưng da thường bóng nhờn chỉ vài giờ
sau đó. Họ thường có lỗ chân lông to và
rất khó khăn trong việc tìm được một loại
kem chống nắng phù hợp với da của mình.
Trên lâm sàng, biểu hiện của da nhờn là
hiện tượng bóng vùng chữ T (trán, mũi,
cằm). Những đặc điểm của da nhờn ảnh
hưởng trên cả nam và nữ, làm họ mất tự
tin vào bản thân cũng như các mối quan
hệ xã hội.
2. TUYẾN BÃ NHỜN
Số lượng tuyến bã nhờn thường duy trì
ổn định suốt đời. Tuy nhiên, kích thước của
nó thì tăng dần theo tuổi. Tuyến bã nhờn
thường khác nhau về kích thước và ở khắp
cơ thể trừ lòng bàn tay, lòng bàn chân. Số
lượng tuyến nhờn tập trung nhiều nhất ở
mặt và đầu nhưng chỉ có một ít được tìm
thấy ở môi. Tuyến bã nhờn nằm ở lớp bì
lưới, thường đi chung với nang lông tạo
thành đơn vị nang lông tuyến nhờn, nhưng
một số ít cũng xuất hiện ở những vùng
không có nang lông như mí mắt, núm vú,
bộ phận sinh dục...
2.1. Chức năng của chất nhờn
Vai trò chính xác của chất nhờn vẫn
chưa được hiểu hết hoàn toàn. Những
nghiên cứu gần đây cho thấy vai trò của
chất nhờn phức tạp hơn nhiều so với hiểu
biết của chúng ta. Chất nhờn không chỉ
đóng vai trò quan trọng trong việc giữ ẩm
da, ngăn hiện tượng mất nước qua thượng
bì, nó còn chống lại các stress do có chứa
vitamin E - một chất chống Oxy hóa mạnh
và CoQ10. Hơn nữa, chất nhờn còn có khả
năng ức chế hoạt động của vi khuẩn do có
chứa IgG có thể ngăn ngừa nhiễm trùng.
Một số vai trò khác có thể như: điều hòa
quá trình sinh tổng hợp steroid (thông qua
việc sử dụng cholesterol làm chất nền),
kiểm soát có chọn lọc các hoạt động của
hormone ở da, bảo vệ tế bào sừng khỏi tia
UVB...
Tuy nhiên, sự tiết nhờn quá mức sẽ làm
bít tắc lỗ chân lông, tạo điều kiện thuận lợi
cho vi khuẩn như Propionibacterium acnes
phát triển và gây mụn trứng cá. Đồng thời,
chất nhờn cũng góp phần tham gia vào sự
hình thành nhân mụn.
2.2. Số lượng tuyến nhờn
Số lượng tuyến bã nhờn có thể thay đổi
từ 400 - 900/cm2 ở trên mặt đến < 100/
cm2 ở các vị trí khác trên cơ thể, thậm chí
ở vùng căng tay còn < 50/cm. 2.3. Cấu
trúc của chất nhờn và sự tiết nhờn
Sự tổng hợp và trao đổi của các thành
phần lipid của tế bào bã nhờn diễn ra hơn
một tuần. Hiện tượng này ở người trẻ nhanh
hơn người già. Tuyến bã nhờn bao gồm hai

53
Thẩm mỹ nội khoa
loại tế bào: tế bào bã nhờn và các tế bào
gai của ống biểu mô. Tế bảo bã nhờn phải
trải qua ba giai đoạn để đạt kích thước tối
đa: giai đoạn chưa biệt hóa, giai đoạn biệt
hóa và giai đoạn trưởng thành. Các tế bào
bã nhờn tăng kích thước do tích tụ lipid và
có thể tăng gấp 100 - 150 lần. Các thành
phần của chất bã nhờn bao gồm: choles-
terol, cholesterol ester, acid béo, diglycer-
ide, triglyceride và hai thành phần đặc biệt
wax esters và squalene mà không vị trí
nào khác trong cơ thể sản xuất được, kể
cả các tế bào sừng của lớp thượng bì.
2.4. Định lượng nồng độ chất nhờn
Để xác định mức độ bóng nhờn của
da, ta có thể sử dụng các phương pháp
định lượng chất nhờn trên da. Tuy nhiên,
không phải tất cả các lipid trên bề mặt
da đều là chất bã nhờn. Các lipid trên bề
mặt da bao gồm hai loại: các thành phần
của lớp thượng bì được sản xuất bởi các
tế bào sừng trưởng thành (bao gồm 25%
cholesterol, 50% ceramides, 15% acid béo
tự do và một lượng nhỏ cholestryl esters
và cholestryl sulfate) và các thành phần
của chất bã nhờn (57,5% triglyceride và
các sản phẩm thủy phân của nó, 26%
wax esters, 12% squalene, 3% cholesterol
esters và 1,5% cholesterol). Đồng thời,
các lipid trên bề mặt da không phân bố
đồng đều ở các nơi trên cơ thể, tỉ lệ của
các lipid thượng bì so với lipid của chất
nhờn của các vùng cũng hoàn toàn khác
nhau. Những vị trí của cơ thể có nhiều chất
nhờn bao gồm: trán, da đầu, phần trên của
thân ngực. Nồng độ chất nhờn trên da
có thể rất cao từ 100 -500 Kg/cm2 hoặc
thấp khoảng 25-40 Kg/cm2. Nồng độ chất
nhờn tiết ra phụ thuộc và số lượng và kích
thước của tuyến nhờn. Kích thước tuyến
nhờn càng lớn, nồng độ lipid tiết ra càng
nhiều. Ở nhi có nhiều tuyến nhờn, ví dụ
như vùng trán, nồng độ lipid dao động từ
150-300 kg/cm2 nhưng trong đó nồng độ
lipid do tế bào sừng thượng bì đóng góp chỉ có
25-40 kg/cm2 hay 3-6%. Tuy nhiên, khi
tuyến nhờn chưa phát triển (giai đoạn tiền
dậy thì) hoặc ở những vị trí thiếu tuyến
nhờn (ví dụ như lòng bàn tay, lòng bàn
chân) thì chất nhờn bề mặt chủ yếu là lipid
của lớp thượng bì.
Sự hiện diện của chất nhờn trên da
có thể đo được một cách khách quan
bằng những phương pháp không xâm lấn
như: những miếng giấy thấm hút nhờn,
đánh giá bằng cách đo độ sáng, đất sét
bentonite hay những dải băng nhạy cảm
lipid. Ngoài ra, tác giả Baumann L. đã mô
tả có hai cách để định lượng nồng độ chất
nhờn: nồng độ thông thường và tỉ lệ bài tiết
chất nhờn. Tuy nhiên, hai cách này chỉ đo
được nồng độ chứ không phân tích được
các thành phần của chất nhờn.
Phương pháp
Nồng độ thông thường
(Casual level)
Tỉ lệ bài tiết chất nhờn
(Sebum excretion rate)
Phân loại
Tĩnh
Động
Vùng da
Thực hiện ở vùng da không điều
trị
Đo lượng chất nhờn ở vùng da
bóng nhờn trong một khoảng
thời gian nhất định.
Đơn vị tính
µg/cm2
µg/cm2/phút
Yêu cầu
Phương pháp đo lường trên
những vùng da khác nhau trong
những khoảng thời gian khác
nhau để đạt được mức độ tiết
nhờn tối đa (ví dụ: trán: 5-6 giờ).
cũng là phương pháp đo lường
trên da nhưng bằng những kỹ
thuật mới giúp biết được tỉ lệ
này chỉ sau 1 giờ.

54
Chương 1
Đại cương
Bên cạnh những phương pháp khách
quan, còn có những bảng câu hỏi do bệnh
nhân tự trả lời được xây dựng để đánh giá
tình trạng da nhờn của bệnh nhân. Đầu
tiên là bảng câu hỏi “Oily skin self-as-
sessment Scale” (OSSAS) đánh giá mức
độ nghiêm trọng của da nhờn thông qua
3 câu hỏi cảm nhận về thị giác, xúc giác
và cảm giác. Thứ hai là bảng câu hỏi “Oily
Skin Impact Scale” (OSIS) đánh giá mức
độ ảnh hưởng của 2 câu hỏi về sự phiền
toái của da nhờn và sự tự tin của bản thân.
Tuy nhiên, cần chú ý mức độ tin cậy của
những bảng câu hỏi này sẽ bị tác động bởi
những yếu tố môi trường như độ ẩm, các
mùa trong năm hoặc điều kiện sinh học
như thay đổi hormon và quan trọng nhất
là cảm nhận chủ quan của bệnh nhân. Một
bảng câu hỏi tương đối chính xác nhất là
“Oily Skin Self Image Questionnaire” (OS-
SIQ) bao gồm 18 câu hỏi để đánh giá nhận
thức cũng như hành vi và những hậu quả
cảm xúc liên quan đến da nhờn.
3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
DA NHỜN
Cơ chế chính xác của việc sản xuất
chất nhờn vẫn chưa được sáng tỏ. Tuy
nhiên, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc
tiết nhờn. Retinoid, hormone, yếu tố tăng
trưởng, chế độ ăn, gen, tuổi, giới... là các
yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động và sự biệt
hóa của tuyến bã nhờn.
3.1. Androgen và các hormone
Androgen từ lâu đã được biết đến như
một yếu tố quan trọng trong quá trình tiết
bã bởi vì chất nhờn tăng tiết khi giai đoạn
dậy thì bắt đầu và bệnh nhân bị hội chứng
buồng trứng đa nang thường bị mụn trứng
cá. Bên cạnh đó, mụn trứng cá thường
bùng phát trước chu kỳ kinh nguyệt, điều
này do việc giãn nở tối đa ống tuyến nhờn
dẫn đến sự tăng tiết chất nhờn quá mức.
Androgen thường làm tăng sinh các tế
bào tiết nhờn của vùng mặt hơn so với các
vùng khác của cơ thể.
Testosterone không liên quan trực tiếp
đến việc tiết nhờn do nam giới có nồng
độ testosterone cao nhiều hơn so với nữ
nhưng mức độ tiết nhờn chỉ cao hơn một
chút. Estrogens, insulin, glucocorticoid
và prolactin, hormon tuyến giáp cũng có
ảnh hưởng đến chức năng của tuyến nhờn
nhưng cơ chế chưa được rõ ràng.
3.2. Chế độ ăn và hoạt động sản
xuất bã nhờn
Chế độ ăn có thể đóng một vai trò quan
trọng trong việc sản xuất chất nhờn. Chất
nhờn có thể được tổng hợp trong tuyến
nhờn từ nhiều nguồn như glucose, acetate
và acid béo. Tuy nhiên, một số lipid từ chế
độ ăn (đặc biệt là acid béo) có thể được
hấp thu từ tuần hoàn vào các tế bào nhờn
mà không có sự thay đổi. Một số nghiên
cứu cho thấy chocolate có làm tăng nồng
độ chất nhờn. Tuy nhiên, sự thay đổi này
không có ý nghĩa. Ngược lại, với chế độ
ăn giảm caloric, chỉ trong 4-8 tuần có thể
giảm được 40% sự sản xuất chất nhờn.
Một chế độ ăn giàu carbohydates,
nhiều đường sẽ làm tăng đường huyết,
tăng insulin máu và tăng hình thành yếu
tố tăng trưởng giống insulin 1 (Insulin-like
growth factor 1 - IGF1). Ngoại trừ pho mát,
sữa và các chế phẩm từ sữa mặc dù có chỉ
số đường thấp nhưng vẫn có khả năng cao
kích thích tiết insulin. Nồng độ insulin và
IGF1 đạt đỉnh ở giai đoạn dậy thì và giảm
dần cho đến khoảng 30 tuổi. Insulin và IGF1
kích thích tuyến nhờn tăng tổng hợp lipid.
IGF 1 cũng làm tăng sản xuất androgen
và hoạt động chuyển hóa androgen ngoại
vi, từ đó tăng tiết nhờn.

55
Thẩm mỹ nội khoa
3.3. Stress và hoạt động sản xuất
bã nhờn
Từ những năm 1972, stress đã được
chứng minh có sự liên quan với việc tăng
lượng acid béo tự do trên da. Corticotropin
- releasing hormone (CRH), được biết như
một stress hormone và các thụ thể của
hormone này được tìm thấy trên tuyến bã
nhờn. CRH tăng cường quá trình tổng hợp
lipid và quá trình chuyển đổi của dihydroe-
piandrosterone sulfate (DHEAS) thành
testosterone trong tế bào bã nhờn. Do đó,
hormone này đóng một vai trò quan trọng
mối liên hệ giữa stress và sự sản xuất
bã nhờn. Tuyến nhờn cũng có những thụ
thể của chất P - một chất trung gian thần
kinh được phóng thích mỗi khi bị stress.
Trong thực nghiệm, chất P này kích thích
tuyến bã tăng hoạt động và điều này giải
thích những trường hợp mụn liên quan đến
stress.
3.4. Gen và hoạt động sản xuất bã
nhờn
Hoạt động sản xuất bã nhờn cũng có
tác động của gen. Sự vượt trội allele của
gen cytochrome P450 đã được ghi nhận
ở những bệnh nhân tăng tiết nhờn. Một
đột biến trên cytochrome P450 có thể dẫn
đến sự tăng phân hủy các các retinoid tự
nhiên và đây chính là là nguyên nhân gây
rối loạn sự trưởng thành của tế bào bã gây
ra da nhờn. Ngoài ra, sự biểu hiện quá mức
của gen Smad 7 đối với chuột chuyển gen
có tương quan với sự tăng sản của tuyến
nhờn và sự biểu hiện quá mức C-1 myc
liên quan đến sự tổng hợp lipid bã.
3.5. Tuổi, giới, chủng tộc, sự thay
đổi theo mùa và hoạt động sản xuất
bã nhờn
Hoạt động sản xuất nhờn thay đổi
theo những giai đoạn khác nhau của cuộc
đời phụ thuộc vào sự sản xuất androgen.
Tuyến nhờn phát triển mạnh ở trẻ sơ sinh,
nhưng kích thước của chúng giảm đáng
kể vài tuần sau khi sinh, bắt đầu tăng trở
lại với sự tăng hoạt động vỏ thượng thận
và đạt đến mức tối đa ở người trẻ trưởng
thành. Mặc dù số lượng | tuyến bã nhờn
tương đối ổn định trong suốt cuộc đời, tỉ
lệ tiết nhờn cao nhất trong độ tuổi từ 15-
35 tuổi và suy giảm từ từ theo tuổi. Ở bất
kỳ độ tuổi nào, giá trị trung bình của chất
nhờn ở nam giới cao hơn của phụ nữ. Mặc
dù mức lipid bề mặt giảm theo tuổi. Tuy
nhiên, kích thước tuyến bã nhờn lại lớn
hơn. Điều này có thể giải thích tại sao trên
mặt của người lớn tuổi ta quan sát thấy
các lỗ chân lông lớn hơn.
Nhiều nghiên cứu cho thấy người da
đen có tuyến bã nhờn lớn hơn, nồng độ
chất nhờn cũng cao hơn so với người da
trắng. Người Mỹ gốc Phi cho thấy sự bài
tiết bã nhờn nhiều hơn đáng kể so với
người Đông Á, họ cũng có số lượng lỗ chân
lông lớn hơn, nhưng số lượng lỗ chân lông
tăng lên theo tuổi ở tất cả các chủng tộc.
Sự tiết nhờn cũng phụ thuộc vào nhiệt
độ: tăng 1°C sẽ tăng tiết nhờn lên 10% (do
sự thay đổi độ nhớt của chất nhờn chứ
không phải do tăng sản xuất chất nhờn).
4. ĐIỀU TRỊ TĂNG TIẾT NHỜN
4.1. Điều trị tại chỗ
Mặc dù có nhiều sản phẩm trên thị
trường quảng cáo có khả năng ức chế tiết
n1 Tuy nhiên, có rất ít sản phẩm thực sự
hiệu quả. Hầu hết các sản phẩm này chứa
các thành phần như talc hoặc các chất có
khả năng hấp thu chất nhờn hơn là ức chế
tiết nhờn. Một số chất khác cũng được sử
dụng như chiết xuất từ hạt mè, dầu argan,
cây cọ lùn Bắc Mỹ... Retinoid thoa tại chỗ
không làm giảm sản xuất bã nhờn. Laser,
tái tạo da bằng hóa chất, tiêm trong da
botulinum toxin cũng được sử dụng để

56
Chương 1
Đại cương
điều trị tình trạng tăng tiết nhờn và lỗ chân
lông to nhưng kết quả cũng rất thay đổi.
4.2. Điều trị toàn thân
Isotretinoin là thuốc hiệu quả nhất
trong việc điều trị tăng tiết bã nhờn. Các
chất kháng androgen như ketoconazole,
spironolactone có hiệu quả ít. Progester-
one chỉ có hiệu quả trong thời gian ngắn
2-3 tháng khi sử dụng ở phụ nữ nhưng
không có hiệu quả nam.
5. CHĂM SÓC DA NHỜN
Da nhờn là một loại da khó điều trị vì
không có phương pháp nào thực sự hiệu
quả trong việc giảm tiết bã nhờn. Việc sử
dụng những sản phẩm chăm sóc da cũng
có nhiều điều cần lưu ý.
Làm sạch da với sữa rửa mặt dành
riêng cho da nhờn
Da nhờn thường đi liền với vấn đề nan
giải khác là mụn trứng cá. Do vậy, việc đầu
tiên và quan trọng nhất là phải đảm bảo da
mặt luôn sạch sẽ.
Da nhờn rất khó tính nên cần chọn loại
sữa rửa mặt dành riêng da nhờn. Sữa rửa
mặt dịu nhẹ, không chứa dầu (oil free) sẽ
giúp làm sạch da, thông thoáng lỗ chân
lông và ngăn ngừa mụn trứng cá. Có thể
lựa chọn những sản phẩm chứa các thành
phần như benzoyl peroxide, salicylic acid,
glycolic acid hay beta-hydroxy acid.
Nên dùng sữa rửa mặt 2 lần/ngày vào
buổi sáng, buổi tối để làm sạch bụi bẩn,
mồ hôi bám trên da, các lớp trang điểm,
tẩy các tế bào chết và luôn giữ da sạch sẽ,
thông thoáng.
Có thể dùng nước hoa hồng hàng ngày
nếu muốn
Sử dụng nước hoa hồng có thể làm da
kích ứng và tăng tiết nhờn. Tuy nhiên, nếu
vẫn muốn sử dụng, nên chọn nước hoa
hồng loại dịu nhẹ, không chứa cồn (alco-
hol) để không gây kích ứng da và dùng
vào mỗi buổi tối, buổi sáng sau khi rửa
mặt bằng sữa rửa mặt, chỉ nên sử dụng ở
những vùng tiết nhờn nhiều như trán, hai
má và cằm.
Tẩy tế bào chết cho da nhờn
Tẩy tế bào chết cho da nhờn từ 1 - 2
lần/tuần để làm bong tróc lớp tế bào chết,
làm thoáng lỗ chân lông và ngăn ngừa
mụn trứng cá.
Hạn chế trang điểm
Nên thực hiện các bước trang điểm cần
thiết nhất và chọn sản phẩm trang điểm
dành cho da nhờn, loại tốt, có nguồn gốc
rõ ràng không gây kích ứng da và chú ý
phải tẩy trang sạch sẽ.
Chọn mỹ phẩm phù hợp
Tùy theo nhu cầu, có thể lựa chọn kem
dưỡng trắng da, chống lão hóa ban đêm
dành cho da nhờn (thành phần không
được chứa dầu và có khả năng kiềm dầu
cao). Nên lựa chọn dạng gel hay serum.
Chọn kem dưỡng ẩm da thích hợp cho
da nhờn: sau khi làm sạch, da có khuynh
hướng tăng tiết nhờn để bù vào lượng dầu
bị mất và nhanh chóng trở lại bóng nhờn
như cũ. Dưỡng ẩm thích hợp ngay sau khi
làm sạch da mặt chính là bước quan trọng
nhất giúp điều tiết nhờn cho da dầu. Nên
ưu tiên chọn sản phẩm dạng dung dịch
(lotion).
Bảo vệ da hàng ngày
Cần đặc biệt lưu ý đến việc bảo vệ làn
da khỏi tác động của ánh nắng mặt trời,
khói bụi bằng đeo khẩu trang, bôi kem
chống nắng, đội mũ, mặc áo dài tay mỗi
khi ra đường. Khi sử dụng kem chống nắng,
có thể thoa thêm một lớp phấn mỏng để
giảm bóng nhờn.

57
Thẩm mỹ nội khoa
6. KẾT LUẬN
Với những tiến bộ trong sự hiểu biết
về sinh lý và sinh học phân tử của tuyến
bã nhờn và quá trình chuyển hóa của lip-
id, chúng ta sẽ đã làm sáng tỏ hơn những
khía cạnh cơ bản của việc tiết bã cũng như
da nhờn. Tuy là một loại da khó điều trị vì
không có phương pháp nào thực sự hiệu
quả trong việc giảm tiết bã nhờn, nhưng
nếu chú ý chăm sóc da đúng cách và phù
hợp, chúng ta vẫn có một làn da khỏe
mạnh và “trẻ lâu” hơn các loại da khác.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chica ES, Zaouati DC, Wolkenstein
P, et al (2007). Development and valida-
tion of a questionnaire to evaluate how a
cosmetic product for oily skin is able to
improve well-being in women. J Eur Acad
Dermatol Venereol, 21(9): 1181-6.
2. Clarke SB, Nelson AM, George RE, et
al (2007). Pharmacologic modulation of
sebaceous gland activ ity: mechanisms
and clinical applications. Dermatol Clin,
25(2): 137-46.
3. Baumann L., Saghari S., Weisberg E.
(2009). Oily skin. Cosmetic Dermatology:
Principles and Prac tice, 2th edition, Mc
Graw Hill, pp. 75-82.
4. Nouveau-Richard S, Zhu W, Li YH,
et al (2007). Oily skin: specific features in
Chinese women. Skin Res Technol, 13:43-
48.
5. Thai H. Sakuma, Howard I. Maibach
(2012). Oily skin: An overview. Skin Phar-
macol Physiol, 25: 227-35.
6. Rose AE, Goldberg DJ (2013). Safe-
ty and efficacy of intradermal injection of
botulinum toxin for the treatment of oily
skin. Dermatol Surg, 39(3 Pt 1):443-8.

58
Chương 1
Đại cương
DA NHẠY CẢM
(SENSITIVE SKIN)
1. ĐẠI CƯƠNG
Da nhạy cảm là một vấn đề quan trọng
trong thực hành lâm sàng do tính phổ biến
và mức độ ảnh hưởng của nó đối với các
phương pháp điều trị bệnh da, cũng như sự
tuân thủ điều trị và chất lượng cuộc sống
của bệnh nhân. Tuy nhiên, việc chẩn đoán,
điều trị và dự phòng da nhạy cảm vẫn là
một thách thức đối với bác sĩ lâm sàng bởi
chưa có đủ công cụ chẩn đoán mang tính
khách quan, sự biến thiên về triệu chứng ở
mỗi người và độ đa dạng, phổ biến của các
chất gây nhạy cảm. Hiểu biết về da nhạy
cảm giúp bác sĩ và bệnh nhân lựa chọn
được sản phẩm điều trị và chăm sóc da
phù hợp, tránh làm nặng thêm tình trạng
da.
2. ĐỊNH NGHĨA
Có nhiều định nghĩa khác nhau về da
nhạy cảm, trong đó định nghĩa da nhạy cảm
khái quát nhất là tình trạng cảm giác châm
chích, nóng rát, căng kéo (đôi khi thấy đau
hoặc ngứa) khi da phản ứng quá mức với
các tác động bên ngoài như tác nhân vật
lý (ánh sáng, tia cực tím, môi trường nóng,
lạnh...), hóa học (hóa mỹ phẩm, xà phòng,
tác nhân ô nhiễm...), hoặc với các tác nhân
bên trong cơ thể như yếu tố cơ địa, nội tiết
(chu kỳ kinh nguyệt), tâm lý (stress)... dù
không có bệnh lý thực thế nào. Một số bài
báo gần đây còn xem da nhạy cảm như là
một hội chứng với các triệu chứng sau đây:
(1) có tính nhạy cảm cao (đánh giá chủ
quan), (2) có hoặc không có triệu chứng
lâm sàng khách quan, (3) có thể xuất hiện
đơn độc hoặc đi kèm với các tình trạng
da khác, (4) ảnh hưởng đáng kể đến chất
lượng cuộc sống.
Hiện tại do các nghiên cứu ban đầu
cho thấy không có sự tương quan giữa các
triệu chứng cơ năng, triệu chứng thực thể,
yếu tố kích hoạt, nên vẫn còn sự tranh cãi
khi xếp da nhạy cảm như một tình trạng da
thoáng qua hay là bệnh lý da thực thể. Tuy
vậy, vẫn chưa có sự đồng thuận chính thức
về danh pháp “da nhạy cảm”, có thể có các
cụm từ khác để chỉ hiện tượng tăng phản
ứng quá mức này như: da dễ kích ứng (ir-
ritable), da phản ứng quá mức (hyperreac-
tive), da không dung nạp (intolerant).
3. DỊCH TỄ
Trước đây tình trạng da nhạy cảm được
xem là chỉ ảnh hưởng trên một nhóm nhỏ
dân số. Các khảo sát gần đây với các bảng
câu hỏi tự đánh giá cho thấy tần suất da
nhạy cảm chiếm tỉ lệ khá cao. Khảo sát với
dân số 34.000 người ở 7 quốc gia đã cho
thấy 49% phụ nữ châu u, 51% phụ nữ Mỹ
và 56% phụ nữ Nhật ghi nhận tình trạng da
nhạy cảm. Các khảo sát thực hiện ở một
số nước châu u khác như Pháp, Ý, Bồ Đào
Nha, Tây Ban Nha,... cũng cho tỉ lệ tương
tự.
Tỉ lệ da nhạy cảm ở nữ giới cao hơn nam
giới, với 50 - 61% so với 30 - 44%, tuy vậy
tần suất ở nam giới đang tăng nhanh. Một
điều thú vị là nghiên cứu cho thấy nguyên
nhân gây ra da nhạy cảm có khác biệt giữa
nam và nữ. Nếu như da nhạy cảm ở nữ giới
chủ yếu do mỹ phẩm thì ở nam giới nguyên
nhân là do việc cạo râu, chà xát và tẩy tế
bào chết quá mức. Mức độ nhạy cảm lần
lượt tăng dần theo thứ tự ở người da đen,
da và da vàng. Điều này được lý giải là do
người da đen có số lớp tế bào ở lớp sừng
nhiều hơn người da trắng. Người châu Á
có da nhạy cảm hơn người da trắng có thể
do chế độ ăn nhiều đồ cay. Tần suất cũng

59
Thẩm mỹ nội khoa
thay đổi theo mùa, với mùa hè cao hơn
mùa đông. Độ tuổi cũng có ảnh hưởng lên
khuynh hướng da nhạy cảm. Người trẻ tuổi
dễ có các triệu chứng da nhạy cảm hơn.
Tuy vậy, người lớn tuổi với hiện tượng da
lão hóa, mỏng manh hơn cho nên dễ phản
ứng với những chất kích ứng thường gặp.
Người > 50 tuổi có khuynh hướng tăng
nhạy cảm ở da đầu và bộ phận sinh dục.
Hiện tại chưa có nghiê trạng da nhạy cảm
ở trẻ em. Tuy nhiên, ở trẻ em, do tỉ lệ diện
tích da so với chỉ số khối cơ thể cao, dễ
tiếp xúc quá mức với các sản phẩm chăm
sóc da, nên dễ có khuynh hướng trở thành
da nhạy cảm.
4. BỆNH NGUYÊN
Các yếu tố ảnh hưởng đến độ nhạy
cảm của da rất đa dạng, bao gồm yếu tố
nội sinh và ngoại sinh:
- Yếu tố nội sinh: di truyền, bệnh đi kèm
- Yếu tố ngoại sinh: yếu tố môi trường,
mỹ phẩm và các sản phẩm chăm sóc da
Yếu tố di truyền được chia thành hai
phần gồm yếu tố chủ thể và yếu tố cấu trúc
da. Yếu tố chủ thể gồm giới nữ, người châu
Á, trẻ tuổi, dễ bị ửng đỏ hay nóng bừng
mặt, yếu tố nội tiết, vị trí giải phẫu (vùng
mặt - nếp mũi má). Yếu tố cấu trúc da bao
gồm lớp sừng mỏng/bị phá vỡ, giảm giữ
nước, tăng phân bổ thần kinh ở thượng bì,
tăng tuyến mồ hôi, giảm Sphingolipids,
tăng lipid trung tính, tăng mất nước qua
thượng bì.
Một trong những mối liên hệ quan
trọng được nhắc đến là liên hệ giữa da
nhạy cảm và cơ địa dị ứng nói chung.
Viêm da cơ địa là bệnh lý thường gặp nhất
có khuynh hướng dẫn đến da nhạy cảm.
Người ta thấy rằng mật độ thần kinh ở
da những bệnh nhân viêm da cơ địa cao
hơn so với da bình thường, đồng thời da
nhạy cảm và viêm da tiếp xúc có chung
một số con đường cytokine. Tuy vậy, một
số nghiên cứu khác lại cho thấy cơ địa
dị ứng vẫn không phải là yếu tố dự đoán
cho da nhạy cảm, với tỉ lệ tự đánh giá tình
trạng da nhạy cảm là tương đương giữa
hai nhóm người có cơ địa dị ứng và người
không có cơ địa dị ứng. Đồng thời, khoảng
1/3 phụ nữ có cơ địa dị ứng tự đánh giá
không phải là da nhạy cảm. Tóm lại, một
số tác giả xem viêm da cơ địa là bệnh lý
đa yếu tố, tác động lên những bệnh nhân
có rối loạn chức năng hàng rào thượng bì
với da khô và nhạy cảm. Mặt khác, một số
ít trường hợp da nhạy cảm lại là biểu hiện
dưới lâm sàng của tình trạng viêm da tiếp
xúc dị ứng. Những trường hợp này cần đến
Patch test và Photopatch test để loại trừ
các bệnh lý nền tiềm ẩn. Những bệnh nhân
hen và viêm mũi dị ứng, viêm kết mạc dị
ứng cũng có tăng độ nhạy cảm của da
với nhiều chất kích ứng khác nhau. Ngoài
ra, các nghiên cứu còn chỉ ra mối liên hệ
giữa da nhạy cảm và các bệnh lý như: vảy
nến không điển hình, trứng cá đỏ, viêm
da quanh miệng, thể tạng tiết bã, eryth-
ro-couperosis. Tuy vậy, thực tế cho thấy
khó phân biệt triệu chứng ở bệnh nhân là
do tình trạng da nhạy cảm hay do bệnh da
đi kèm.
Việc sử dụng mỹ phẩm và các
sản phẩm chăm sóc da chứa alcohol,
propylene
glycol,
butylene
glycol,
cocamidopropylbetaine, triethanolamine,
resorcine, trichloroacetic acid và alpha
hydroxy acid có thể làm xấu đi tình trạng
da nhạy cảm. Corticosteroid thoa làm da
càng mỏng manh và gây ra hồng ban tại
chỗ mạn tính, có thể khởi phát triệu chứng
da nhạy cảm và giảm khả năng dung nạp
mỹ phẩm. Tiếp xúc với tia UVA và các liệu
pháp khác như liệu pháp ánh sáng, mài
mòn da, laser tái tạo bề mặt và săn chắc
da đều có thể làm trầm trọng thêm da
nhạy cảm.
Chú ý, như trong định nghĩa, các yếu tố
môi trường, các tác nhân vật lý như nóng
- lạnh, ánh nắng, gió, máy lạnh và ô nhiễm

60
Chương 1
Đại cương
môi trường đều có thể khởi phát phản ứng
nhạy cảm ở da. Những yếu tố khác liên
quan đến lối sống bao gồm: chế độ ăn
nhiều đồ cay, cà phê, rượu, thói quen vệ
sinh da, tắm quá mức, lạm dụng sản phẩm
chăm sóc da và tiếp xúc với các hóa chất
trong môi trường làm việc.
5. SINH BỆNH HỌC
Cho đến hiện tại, sinh bệnh học của da
nhạy cảm vẫn còn phức tạp và chưa được
hiểu tường tận, tuy vậy đây được coi như
tình trạng giảm ngưỡng kích thích ở da,
không phải là do cơ chế miễn dịch hay dị
ứng. Ba yếu tố chính trong sinh bệnh học
của da nhạy cảm là yếu tố hàng rào bảo
vệ da, yếu tố thần kinh cảm giác và đáp
ứng viêm - đáp ứng mạch máu ở da. Trong
đó, yếu tố hàng rào bảo vệ da đóng vai trò
then chốt.
• Hàng rào bảo vệ da bị tổn thương
Lớp sừng ở da đóng vai trò như một
hàng rào bảo vệ da khỏi sự mất nước và
sự xâm nhập của các chất gây kích ứng.
P.J. Frosch và A.M. Kligiman chỉ ra rằng
14% người da nhạy cảm trong dân số bình
thường có liên quan đến hàng rào lớp sừng
mỏng và dễ thấm qua. Hàng rào này bị tổn
thương dẫn đến tăng tính thẩm thượng
bì và biến đổi lớp lipid gian bào. Lúc này
sự xâm nhập của các chất ngoại sinh
có thể kích thích tế bào sừng và tế bào
Langerhan sản xuất các chất trung gian
gây viêm, khởi nguồn cho triệu chứng da
nhạy cảm. Biến đổi chức năng hàng rào
bảo vệ da làm các chất gây kích ứng có
thể xâm nhập sâu dễ dàng hơn, gây ra
các phản ứng ở da nhanh và mạnh hơn so
với dân số thông thường. Đồng thời, bệnh
nhân có da nhạy cảm thường than phiền
triệu chứng “căng kéo”, đây chính là cảm
giác gây ra do sự mất nước qua thượng
bì (TEWL) nhanh chóng khi không còn sự
toàn vẹn của lớp sừng. Vai trò sự toàn vẹn
của lớp sừng trong sinh bệnh học da nhạy
cảm đã được khảo sát qua rất nhiều nghiên
cứu đo lường sự mất nước qua thượng bì
(TEWL) trong đánh giá da nhạy cảm, cũng
như nghiên cứu sử dụng các chế phẩm bôi
và uống để phục hồi hàng rào bảo vệ da.
Chú ý là tình trạng bất thường tương tự ở
lớp sừng thượng bì cũng có thể gặp trên
nền bệnh lý da có sẵn trước đó như viêm
da cơ địa, da vảy cá, vảy nến.
• Thần kinh cảm giác tăng phản ứng
Da nhạy cảm được đánh giá chủ yếu
qua cảm giác chủ quan ở da, do đó đã có
nhiều nghiên cứu đi sâu vào đánh giá đáp
ứng thần kinh cảm giác ở đối tượng này.
Từ lâu người ta đã biết sợi C-cảm giác chịu
trách nhiệm chính trong việc tiếp nhận và
dẫn truyền các tín hiệu từ da. Cảm giác
này được định nghĩa là “nóng rát”, hay
“châm chích” khi thực hiện test với acid
lactic. Không chỉ vậy, nghiên cứu còn khảo
sát biến đổi của não bộ trên MRI chức
năng (fMRI), cho thấy tình trạng tăng hoạt
động thần kinh lan tỏa ở cả hai bán cầu
não trên những bệnh nhân da nhạy cảm
so với nhóm chứng khi có bất thường cảm
giác da. Các nghiên cứu gần đây còn cho
thấy không chỉ dừng lại ở đầu tận thần
kinh và hạch thần kinh mà còn có vai trò
của các chất trung gian dẫn truyền và thụ
thể Một số chất dẫn truyền đã được ng-
hiên cứu như chất P, calcitonin gene-relat-
ed peptide (CGRP), vasoactive intestinal
peptide (VIP) và các interleukin như IL-1,
IL-8, PGE2 PGF2 và TNF-0. Một chất điều
hòa cảm giác quan trọng khác là thụ thể
nóng transient receptor potential vanil-
loid 1 (TRPV1) chịu trách nhiệm cho thụ
cảm đau, nóng, nhiệt. Tăng biểu hiện quá
mức kênh ion này có thể đóng vai trò quan
trọng trong sinh bệnh học của da nhạy
cảm. Mức độ biểu hiện TRPV1 khác nhau
có thể do gene hoặc do biến thiên chức
năng màng tế bào keratinocyte trên bề

61
Thẩm mỹ nội khoa
mặt da của mỗi người. Tóm lại, đối tượng
da nhạy cảm có những biến đổi về thần
kinh như sau:
- Biến đổi ở đầu tận thần kinh.
- Tăng phóng thích chất dẫn truyền thần
kinh.
- Xử lý tín hiệu ở thần kinh trung ương
thay đổi.
- Chấn thương mạn tính ở các đầu tận
thần kinh.
- Chậm đào thải chất trung gian dẫn
truyền
• Đáp ứng viêm - đáp ứng mạch máu
Như trong định nghĩa cũng đã nhắc
đến, da nhạy cảm phản ứng với những tác
nhân ngoại sinh bằng cảm giác chủ quan
như nóng, rát, châm chích, có thể có hoặc
không có triệu chứng thực thể. Nhiều đối
tượng da nhạy cảm ghi nhận hiện tượng
đỏ da. Nhiều nghiên cứu cố gắng tìm mối
tương quan giữa hai nhóm triệu chứng này.
Một số nghiên cứu cho thấy không có mối
tương quan giữa cảm giác da chủ quan
và triệu chứng lâm sàng khách quan. Tuy
nhiên, một số nghiên cứu khác, qua Patch
test cho thấy những đối tượng có da nhạy
cảm đáp ứng với các chất gây kích ứng
kinh điển và các dị nguyên từ mỹ phẩm
(ví
dụ
octane,
acetyl-b-methylcholine
chloride) lần lượt gấp 10 lần và gấp 3 lần
so với những người da thường. Kết quả
này được cho là do một chuỗi quá trình
phức tạp bao gồm sự thay đổi lưu lượng
máu đến da, thành phần làm ẩm ở thượng
bì, độ pH của da. Mức độ khác biệt giữa
những cá thể với nhau được cho là do tính
đa hình trong kiểu gen quy định TNF-0
và do tăng biểu hiện NGF (Nerve Growth
Factor). Những thay đổi này tinh vi và đi
trước những biểu hiện có thể nhìn thấy
được trên lâm sàng.
Hàng rào
bảo vệ
da bị tổn
thương.
đáp ứng
viêm - đáp
ứng mạch
máu
Thân kinh
cảm giác
tăng phản
ứng
Da
nhạy cảm

62
Chương 1
Đại cương
Chất tiếp xúc đặc hiệu
Yếu tố nội sinh và môi trường
Mỹ phẩm trang điểm
Mỹ phẩm chăm sóc da (sữa rửa mặt, toner,
kem giữ ẩm)
Độ ẩm thấp Mỹ phẩm chăm sóc tóc (dầu gội,
dầu xả, thuốc nhuộm)
Nước hoa, xà phòng, kem chống nắng, tampon
Chất tẩy rửa gia dụng, bột giặt, nước xả
Không khí nóng - lạnh - khô
Độ ẩm thấp
Thay đổi nhiệt độ
Gió
Ánh nắng mặt trời
Ô nhiễm môi trường
Chu kỳ kinh nguyệt
Stress
Thức ăn cay
Các tác nhân có thể gây kích ứng da nhạy cảm:
6. PHÂN LOẠI DA NHẠY CẢM
Hiện tại chưa có đồng thuận nào về
phân loại da nhạy cảm. Có nhiều cách
phân loại dựa trên các tiêu chí khác nhau.
Năm 1991, Mills và Burger chia da nhạy
cảm làm bốn loại dựa trên các bệnh cảnh
da liễu sẵn có bao gồm: (1) có bệnh da
mạn tính như viêm da tiết bã, vảy nến; (2)
có bệnh da như nhóm 1 những triệu chứng
nhẹ và không điển hình, (3) có tiền sử bệnh
da (bỏng, viêm da tiếp xúc. ), làn da trông
có vẻ bình thường nhưng dễ bị nhạy cảm;
(4) bệnh nhân không thuộc các nhóm trên,
nhưng cảm giác khó chịu khi dùng mỹ
phẩm và không có biểu hiện bất thường rõ
rệt. Dựa trên mức độ của các triệu chứng
lâm sàng và các yếu tố kích hoạt, Willis và
de Lacharrière lại chia da nhạy cảm làm
ba nhóm: (1) nhóm da quá nhạy cảm với
mọi loại tác nhân bao gồm cả tác nhân
ngoại sinh như mỹ phẩm, môi trường và cả
các tác nhân nội sinh, triệu chứng có thể
cấp tính hoặc kéo dài dẫn đến những ảnh
hưởng về mặt tâm lý; (2) da nhạy cảm với
các tác nhân gây kích ứng tại chỗ đặc biệt
là mỹ phẩm, biểu hiện thường nhẹ hơn và
thường chỉ giới hạn ở một số mỹ phẩm xác
định; (3) da nhạy cảm với môi trường bên
ngoài, phản ứng với nóng và thay đổi nhiệt
độ nhanh, da thường khô, mỏng và ửng đỏ.
7. LÂM SÀNG
Thường bệnh nhân tự chẩn đoán được
các triệu chứng của da nhạy cảm, tình
trạng nhạy cảm thường nặng lên do các
tác nhân từ bên ngoài và các yếu tố di
truyền,
Triệu chứng chủ quan bao gồm nóng
rát, châm chích, như có kiến bò, ngứa,
căng da. Triệu chứng thay đổi nhiều giữa
người này so với người khác. Triệu chứng
khởi phát nhanh sau vài phút tiếp xúc với
mỹ phẩm. Tuy nhiên, đa số bệnh nhân chỉ
để ý triệu chứng sau vài giờ. Triệu chứng
khó chịu có thể tồn tại một khoảng thời
gian ngắn hoặc dài trước khi tồn tại vĩnh
viễn. Triệu chứng khách quan thường là da
khô, đỏ, tróc vảy mịn, giãn mạch, không có
triệu chứng của viêm và kích ứng. Da nhạy
cảm thường gặp ở phụ nữ da khô, sáng
màu (type II) nhưng cũng có thể gặp ở đàn
ông da nhờn, tối màu.

63
Thẩm mỹ nội khoa
Da mặt thường nhạy cảm nhất vì da
mặt là nơi được sử dụng mỹ phẩm nhiều
nhất và là nơi hàng rào da mỏng, có nhiều
đầu tận thần kinh. Ở mặt, nếp mũi má là
vùng nhạy cảm nhất vì lớp sừng có tính
thẩm cao, có nhiều tuyến mồ hôi, nang
lông và phân bổ nhiều thần kinh, tiếp theo
là gò má, cằm, trán và môi trên. Có sự
liên hệ giữa rụng tóc và nhạy cảm da đầu.
Triệu chứng nhạy cảm vùng da đầu cũng
giống da mặt, bao gồm cảm giác ngứa,
đau, châm chích, yếu tố khởi phát bao
gồm ô nhiễm, nhiệt, cảm xúc và dầu gội.
Trong đó ngứa và châm chích thường gặp
nhất, gàu không nên được coi là một triệu
chứng của da nhạy cảm.
Người có da nhạy cảm có thể có biểu
hiện lâm sàng của các bệnh lý khác như
mụn
tiếp xúc, viêm da cơ địa, vảy nến, trứng
cá đỏ, viêm da tiết bã và bạch biến. Các
bệnh nhân với tình trạng da nhạy cảm có
thể có ảnh hưởng về tâm lý bao gồm lo âu,
sợ hãi, tâm lý nhạy cảm.
8. CHẨN ĐOÁN
Triệu chứng lâm sàng thường do bệnh
nhân tự cảm nhận và đánh giá với nhiều
triệu chứng thay đổi. Kligman và cô, mô tả
bốn nhóm triệu chứng của da nhạy cảm để
giúp ích cho chẩn đoán: (1) dấu hiệu kích
ứng chủ quan do bệnh nhân cảm nhận mà
không có triệu chứng lâm sàng, (2) kích
thích thần kinh cảm giác bao gồm triệu
chứng ngứa, châm chích, bỏng rát, căng
da (3) đáp ứng với hợp chất hóa học (4)
kích thích tâm lý. Tuy nhiên, để thuận lợi
cho chẩn đoán bệnh nhân cần trả lời một
bảng câu hỏi và thực hiện các xét nghiệm
để xác định tình trạng nhạy cảm.
Có nhiều bảng câu hỏi đánh giá và
chẩn đoán tình trạng da nhạy cảm, dưới
đây là bảng câu hỏi của Querleux và cs.
Bảng câu hỏi gồm các vấn đề có liên quan
đến da rất nhạy cảm và các phản ứng sẽ
gặp khi tiếp xúc với sản phẩm thoa tại
chỗ, các sản phẩm vệ sinh và các yếu tố
môi trường. Ngoài ra, Misery và cs. cũng
1
Bạn có cho rằng da mình bị nhạy cảm, dễ bị kích ứng không?
2
Bạn có thấy da mình có xu hướng bị kích ứng?
3
Bạn có thấy da mình đỏ, ngứa, kích ứng?
4
Bạn có phải tránh dùng mỹ phẩm nào đó vì bị kích ứng da không?
5
Da bạn có dễ bị kích ứng bởi mỹ phẩm hay sản phẩm vệ sinh da?
6
Có sản phẩm nào khiến da bạn bị châm chích, ngứa hay nóng rát?
7
Bạn có từng bị tác dụng không mong muốn nào trên da khi sử dụng mỹ phẩm
và sản phẩm vệ sinh da chưa?
8
Da bạn có bị khó chịu khi ra trời lạnh hay gặp lạnh?
9
Da bạn có bị khó chịu khi ra trời nắng nóng hay tiếp xúc hơi nóng?
10
Da bạn có bị khó chịu khi thay đổi nhiệt độ đột ngột, ví dụ đang đi ngoài trời
nắng nóng và bước vào phòng lạnh?
11
Khi đi ra gió có làm cho da bạn bị châm chích, ngứa hay nóng rát?
12
Khi tiếp xúc với môi trường ô nhiễm có làm da bạn bị kích ứng?
13
Khi đi ra gió có làm cho da bạn bị châm chích, ngứa hay nóng rát?

64
Chương 1
Đại cương
đưa ra một bảng điểm thang đo mức độ
nhạy cảm của da phân loại bằng 10 đặc
điểm do bệnh nhân trả lời, thang đo này
phản ánh được mức độ tương quan giữa
da nhạy cảm và chất lượng cuộc sống của
bệnh nhân.
Có nhiều xét nghiệm hỗ trợ chẩn đoán
nhưng không có xét nghiệm nào đủ mạnh
để khẳng định chẩn đoán. Frage và cs, đề
xuất chia xét nghiệm làm ba nhóm: (1)
nhóm xét nghiệm phản ánh đáp ứng thần
kinh cảm giác; (2) nhóm xét nghiệm đánh
giá những triệu chứng của da nhạy cảm và
(3) nhóm xét nghiệm đánh giá chức năng
sinh lý và cấu trúc của da.
Xét nghiệm phát hiện da nhạy cảm
- Test châm chích (stinging test) được
xem là thử nghiệm hiệu quả nhất để
đánh giá đáp ứng của thần kinh cảm
giác. Châm chích là biến thể của cảm
giác đau nhanh và thoáng qua khi đầu
dây thần kinh cảm giác bị kích thích.
Mức độ chậm chích phụ thuộc vào hóa
chất sử dụng, thường dùng acid lactic
(LA), có thể dùng capsaicin, ethanol,
menthol, sorbic acid, benzoic acid.
- Test acid lactic: bôi LÀ 10% tại nếp mũi
- má hoặc gò má, cảm giác châm chích
được đánh giá chủ quan bởi bệnh nhân
trên thang điểm 0 - 4 sau 2,5 phút và
sau 5 phút. Bệnh nhân được xem là có
làn da nhạy cảm khi điểm số >3. Châm
chích xảy ra nhiều hơn trong môi trường
nóng ẩm. Những bệnh nhân có cảm
giác châm chích nhiều thường phản ứng
mạnh hơn với những chất gây mày đay,
tiếp xúc đi kèm với sự tăng mất nước
qua thượng bì, tăng tốc độ lắng máu khi
làm patch test với chất kích ứng.
- Test capsaicin: sử dụng capsaicin
trong dung dịch ethanol 10% thoa lên
nếp mũi má, capsaicin chỉ điểm da nhạy
cảm mạnh hơn LA.
- Test nicotinate và sodium laudry
sulfate (SLS) (các chất gây giãn mạch
trên da): methyl nicotinate là chất giãn
mạch mạnh, dùng bôi lên 1/3 trên mặt
trong cẳng tay với nồng độ từ 1,4 đến
13,7% trong 5 giây. Hồng ban được đo
bởi laser Doppler velocimetry. Bệnh
nhân có da nhạy cảm sẽ có hiện tượng
tăng phản ứng giãn mạch.
- Test tương tự có thể thực hiện với SLS
ở các nồng độ khác nhau. Test đánh giá
mức độ ngứa: histamin là chất thường
được dùng nhất, tiêm histamine dihydro-
chloride 100 mcg/1 mL NaCl 0,9% trong
da mặt trước cẳng tay. Sau một khoảng
thời gian, bệnh nhân được hỏi để đánh
giá về mức độ và thời gian ngứa.
- Test rửa với chất tẩy rửa chuyên biệt,
sau khi rửa bệnh nhân được hỏi về cảm
giác bỏng rát, châm chích, căng da và
ngứa theo thang điểm. Tương tự là test
rửa tay với amoni surfactant ở 40°C
trong 20 phút, test được thực hiện hai
lần cách nhau 2 giờ trong 2 ngày liên
tiếp.
Các test đánh giá đáp ứng sinh lý của
da
Phản ánh sự thay đổi của da trước khi có
biểu hiện lâm sàng, bao gồm test đánh giá độ
mất nước qua da (evaporimetry), test đánh
giá độ ẩm của thượng bì (corneometry),
test đánh giá sự thay đổi bề mặt thượng bì
(Profilometry, Squametry test), test đánh
giá thay đổi màu da (colorimetry), siêu âm
đánh giá sự thay đổi độ dày của da. Trong
đó test đánh giá độ mất nước qua da dựa
trên áp lực hơi nước trên bề mặt da hay
được dùng nhất.
Để xác định chẩn đoán da nhạy cảm
đặc biệt là các trường hợp nghi ngờ có
viêm da tiếp xúc cấp hoặc mạn, có các
bệnh viêm da mạn tính (chàm) không cải
thiện với điều trị hoặc nghi ngờ có phát
ban da và niêm mạc nghi ngờ do quá mẫn
muộn, bệnh nhân nên được làm patch test
hoặc photo-patch test để loại trừ các tình
trạng trên. Patch test nên được thực hiện

65
Thẩm mỹ nội khoa
với toàn bộ các loại mỹ phẩm. Một vài ng-
hiên cứu cho thầy patch test với nickel
sulphate thường dương tính cao hơn ở
bệnh nhân da nhạy cảm. Trong hầu hết
các trường hợp nhạy cảm nickel, sau khi
ngưng các sản phẩm có chứa tác nhân này
thì lâm sàng cải thiện rõ rệt.
9. ĐIỀU TRỊ VÀ PHÒNG NGỪA
9.1. Điều trị
Kiểm soát tình trạng da nhạy cảm
không đơn giản đối với bác sĩ lẫn bệnh
nhân vì biểu hiện da nhạy cảm rất chủ
quan, phản ứng của da thay đổi theo từng
cá thể và tình trạng nhạy cảm có thể bị
kích hoạt bởi nhiều yếu tố khác nhau. Da
nhạy cảm cũng là thách thức cho ngành
mỹ phẩm vì mấu chốt đảm bảo sự dễ chịu
cho bệnh nhân là chọn lựa loại hình điều
trị, chăm sóc da phù hợp và chọn lựa sản
phẩm phù hợp, không gây kích ứng hay dị
ứng
Sử dụng thuốc thoa: corticoid thoa hiệu
quả nhất cho da nhạy cảm. Tuy nhiên, hạn
chế dùng vì tác dụng phụ gây teo mỏng
da, làm yếu hàng rào bảo vệ da. Các thuốc
ức chế calcineurin thoa tại chỗ cũng hiệu
quả trong điều trị da nhạy cảm và không
có các tác dụng phụ như corticoid. Tuy
nhiên, có thể gây cảm giác bỏng rát, ngứa
nhẹ và thoáng qua.
Sử dụng mỹ phẩm: sử dụng những sản
phẩm chăm sóc da ít chất bảo quản và
chất hoạt động bề mặt trong 8 tuần làm
thay đổi đặc tính của da nhạy cảm, cải
thiện hàng rào bảo vệ. Chất giữ ẩm cũng
đóng vai trò quan trọng trong giữ ẩm, g ứng
và khôi phục tính toàn vẹn của lớp thượng
bì. Nên sử dụng sản phẩm dành riêng cho
da nhạy cảm có chứa ít thành phần, không
chứa chất gây nhạy cảm hoặc chất kích
thích giãn mạch.
Gần đây có những nghiên cứu trị liệu với
chất đối kháng TRPV1, là một chất ức chế
hoạt động do capsaicin. Trans-4-tert-bu-
tylcyclohexanol làm giảm cảm giác nóng
rát gây ra do capsaicin. Kem 10% probiotic
lysate (chiết xuất Bifidobacterium longum
sp) cũng được báo cáo giảm nhạy cảm da
do giảm khả năng phản ứng của thần kinh.
Giữ ẩm: điều trị với chiết xuất Rhodiola
rosea/lcarnosine (RCAC) cải thiện hàng
rào bảo vệ da. Dieamant và cs, báo cáo hợp
chất này giảm sự mất nước qua thượng bì,
cải thiện độ ẩm và cảm giác dễ chịu của
da. Tác giả cho rằng sự thay đổi đó là do
tăng giải phóng opoid peptide và điều hòa
sản phẩm cytokine của tế bào keratin. |
Tác nhân tẩy rửa: xà phòng là sản phẩm vệ
sinh hay gây dị ứng nhất, thường gặp nhất
những người hay rửa tay. Ở những bệnh
nhân này nên được khuyên sử dụng chất
tẩy rửa phù hợp, tốt nhất là gel chứa cồn
với chất giữ ẩm. Những chế phẩm gel này
duy trì được độ toàn vẹn của hàng rào bảo
vệ da, giảm khô và phục hồi chức năng của
hàng rào bảo vệ da. Kết hợp điều trị bằng
chất tẩy rửa không xà phòng và thuốc thoa
tại chỗ giúp cải thiện tốt triệu chứng.
Kem chống lão hóa: Merinville và
cs. qua nghiên cứu của mình đã đề nghị
sử dụng sodium salicylate thay vì dùng
salicylic acid trong kem chống lão hóa
cho da nhạy cảm vì có thể gây kích ứng.
Hydroxy acid là thành phần thường thấy
trong kem chống lão hóa cũng gây kích
ứng cho da nhạy cảm nên được thay thế
polyhydroxy và bionic. Ngoài ra, có thể
cho thêm chất chống oxy hóa, làm khỏe
hơn hàng rào bảo vệ da và giữ ẩm.
Các mỹ phẩm khuyên dùng cho da nhạy
cảm nên là những sản phẩm chọn lọc thành
phần trong công thức (hạn chế dùng chất
bảo quản, chất diện hoạt và không hương
liệu. .). Không dùng tá dược bốc hơi như
mentol. Tránh dung môi thấm qua da (chọn
polyethylene glycol thay cho propylene
glycol). Mỹ phẩm vô trùng là một bước

66
Chương 1
Đại cương
đột phá cho da nhạy cảm. Những loại
mỹ phẩm này đòi hỏi quy trình sản xuất
hoàn toàn vô trùng, công thức vô trùng,
giới hạn khắt khe các thành phần thiết
yếu và kỹ thuật đóng chai vô trùng với hệ
thống nắp cho phép giữ sản phẩm tuyệt
đối vô trùng, không có khoảng chết, tránh
tiếp xúc không khí trong suốt thời gian sử
dụng. Mỹ phẩm trang điểm nên sử dụng
dạng bột, dễ rửa trôi với nước, kẻ mi và
mascara nên dùng màu đen, màu mắt nên
dùng tông sáng, sử dụng kem chống nắng
vật lý, dùng kem nền dạng kem hoặc dạng
bột, không dùng sơn móng.
Chiến lược điều trị da nhạy cảm có thể
được thực hiện bằng cách ngưng tất cả
các mỹ phẩm trang điểm và chăm sóc da,
các thuốc thoa làm khô da và chứa chất
gây kích ứng, chỉ dùng sữa rửa mặt syndet
trong vòng 2 tuần. Sau đó, điều trị các bệnh
lý da như trứng cá đỏ bằng phương pháp
thích hợp trong ít nhất 2 tuần. Tiếp theo là
sử dụng các test đánh giá như patch test,
photo-patch test, test gây châm chích,
test thử các loại mỹ phẩm.
9.2. Phòng ngừa
Để chăm sóc và phòng ngừa cho da
nhạy cảm nên có chế độ vận động hợp lý,
chế độ ăn uống cân bằng: bổ sung dầu hạt
lanh (flaxseed oil), cantioxidants, ngủ đủ
giấc, hạn chế stress, sống lạc quan. Chú ý:
- Hạn chế không dùng nhiều mỹ phẩm
cùng lúc.
- Lựa chọn mỹ phẩm chuyên dành cho
da nhạy cảm.
- Lựa chọn những sản phẩm không có
mùi thơm.
- Tránh dùng xà phòng.
- Dùng các lotion làm sạch không rửa
lại.
- Lau qua các vùng da khô nhẹ nhàng
bằng giấy mỏng, không dùng sợi cotton.
- Thoa kem dưỡng ẩm nhiều lần trong
ngày nếu phải thường xuyên khi ở trong
phòng máy lạnh hoặc điều kiện khí hậu
khô nóng.
- Thận trọng khi sử dụng chế phẩm chứa
AHAs, retinoid hay tretinoin.
- Ngưng tôi ngay nếu bất kỳ mỹ phẩm
nào gây nóng rát, khó chịu.
- Sau 3-6 tháng ngưng dùng mỹ phẩm,
có thể thử dùng lại lần lượt từng sản
phẩm với khoảng cách 1-2 tuần. Lưu ý
không loại trừ nguy cơ bị kích ứng trở
lại.
- Chọn sản phẩm làm sạch dành cho da
nhạy cảm.
- Chọn dầu gội không chứa chất làm
sạch gây kích ứng.
- Tránh dùng mặt nạ tẩy da chết hay làm
sạch quá mức
- Bảo vệ da tránh ra nắng, gió, hơi nóng
hoặc thay đổi nhiệt độ đột ngột.
- Hạn chế dùng bia rượu, cà phê, thức ăn
cay nóng.
- Cần được điều trị nếu bị trầm cảm
hoặc stress.
Bệnh nhân có làn da nhạy cảm được
khuyên nên đến bác sĩ Da liễu khi da trở
nên nhạy cảm và không được cải thiện
bằng các biện pháp chăm sóc thông
thường hoặc khi các triệu chứng nhạy cảm
quá mức trở nên nặng nề như ngứa, bỏng
rát, đỏ, sưng phù, mụn nước, bóng nước...
10. KẾT LUẬN
Da nhạy cảm là một hiện tượng ngày
càng phổ biến ở xã hội hiện đại cùng với
việc dùng mỹ phẩm ngày càng nhiều. Tỉ lệ
gặp ở người châu Á nhiều hơn ở người da
trắng. Các phương thức sinh - vật lý học
đã phát triển để đánh giá và tiên đoán tình
trạng da nhạy cảm. Da mặt là vùng da với

67
Thẩm mỹ nội khoa
các đặc thù riêng cho nên dễ bị nhạy cảm
nhất. Tính ổn định hàng rào bảo vệ da của
lớp sừng, các yếu tố dẫn truyền thần kinh
cùng với các thụ thể thần kinh là những
yếu tố rất quan trọng trong sinh bệnh học
của da nhạy cảm. Quản lý da nhạy cảm
cần chú trọng việc phòng ngừa, trong đó
lựa chọn mỹ phẩm thích hợp và các điều
cần tránh là thiết yếu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. André O. Barel, Ph.D., M.S., Marc Paye,
Ph.D., Howard I. Maibach, M.D.(2001),
Handbook of Cos metic Science and Tech-
nology Fourth Edition, CRC Press Taylor &
Francis Group
2. Pons-Guiraud A. (2004). Sensitive
skin: a complex and multifactorial syn-
drome. Journal of Cosmetic Dermatology.
3:145–148.
3. Arun C. Inamadar, Aparna Palit
(2013). Sensitive skin: An overview. Indian
J Dermatol Venereol Lep rol. 79: 9-16.
4. E. Berardesca, M. Farage and H. Mai-
bach (2013). Sensitive skin: An overview.
International Journal of Cosmetic Sci-
ence. 35: 2–8.
5. G. Primavera and E. Berardesca
(2005). Sensitive skin: mechanisms and
diagnosis. International Jour nal of Cos-
metic Science. 27: 1-10.
6. J. Escalas-Taberner, E. González
-Guerra, A. Guerra-Tapiac (2011). Sensi-
tive Skin: A Complex Syn drome. Actas
Dermosifiliogr. 102:563-571.
7. Baumann L., Sogol Saghari, Edmund
Weisberg (2009). Sensitive skin. Cosmetic
Dermatology: Prin ciples and Practice, 24
edition, Mc Graw Hill, pp. 94-7.
7. Richters R, Denise F, Natallia U, Wil-
lem V, Van Erp P., Van de Kerkhof P. (2015).
What Is Sensitive Skin? A Systematic Liter-
ature Review of Objective Measurements.
Skin Pharmacol Physiol. 28:75–83.

68
Chương 1
Đại cương
DINH DƯỠNG VÀ DA
(NUTRITION AND THE SKIN)
1. ĐẠI CƯƠNG
Hơn 2000 năm trước, Hippocrates đã
nói: “Hãy làm cho thức ăn trở thành thuốc
và để cho thuốc trở thành thức ăn của
bạn”. Thực phẩm là loại thuốc duy nhất
mà mỗi cơ thể khỏe mạnh đều cần dùng
mỗi ngày. Theo quan điểm đó, chế độ dinh
dưỡng tốt sẽ là nền tảng cơ bản cho một
sức khỏe tốt nói chung và làn da khỏe
mạnh nói riêng.
Ngày nay, các bệnh do thiếu vitamin và
các chất dinh dưỡng liên quan đến da như
pellagra, viêm bì đầu chi cơ thể ruột... đã
giảm dần do chế độ dinh dưỡng được chú
trọng.
Đã có những nghiên cứu tập trung vào
những lợi ích cho da từ việc ăn vào một
số thực phẩm nhất định hoặc bổ sung.
Kết luận cho thấy tình trạng của da có thể
bị ảnh hưởng bởi những thay đổi về tình
trạng dinh dưỡng cơ bản.
2. ĂN KIÊNG TRONG MỘT SỐ BỆNH
DA
2.1. Mụn trứng cá
Mụn trứng cá là một trong những bệnh
da phổ biến nhất. Năm 1998, người ta thấy
rằng chỉ riêng ở Mỹ, mụn trứng cá đã ảnh
hưởng từ 40 đến 50 triệu người. Điều thú vị
là các nghiên cứu dịch tễ học ở các quần
thể dân cư không thuộc phương Tây (ví dụ
như người Inuit, dân đảo Okinawa, thợ săn
Ache và dân đảo Kitavan), thì thấy mụn
trứng cá rất hiếm. Từ đó chỉ ra rằng chế
độ ăn uống, bao gồm đường huyết, có thể
đóng vai trò quan trọng trong việc phát
sinh mụn. Nó đối lập với tỉ lệ mắc chứng
mụn trứng cá tăng lên cũng trong cộng
đồng dân cư đó nhưng ăn uống theo lối
sống phương Tây. Theo đó, Cordain đã dứt
khoát không tán thành với ý kiến từ đầu
những năm 1970 cho rằng chế độ ăn kiêng
không đóng góp vào sinh lý bệnh của mụn
trứng cá.
Cordain đã phân tích những bằng
chứng đáng kể thu thập từ hai nghiên cứu
năm 1969 bởi Fulton và năm 1971 bởi An-
derson cho thấy những thay đổi liên quan
trong hằng định nội môi về nội tiết và cy-
tokine gây ra bởi chế độ ăn uống. Từ đó,
chế độ ăn uống được xem là một trong yếu
tố ngoại sinh hàng đầu ảnh hưởng đến sự
phát triển mụn.
2.1.1. Đường, chất béo và mụn trứng
cá
Việc tiêu thụ thường xuyên, lâu dài các
bữa ăn có đường huyết cao, làm tăng nồng
độ insulin, có thể gây ra chứng tăng insulin
máu mạn tính và kháng insulin, tăng yếu
tố phát triển giống insulin 1 (insulin-like
growth factor 1 = IGF-1) và giảm protein
gắn kết yếu tố tăng trưởng insulin 3 (IG-
FBP-3), thúc đẩy sự gia tăng và chết theo
chương trình của các tế bào sừng. Các
nguyên nhân khác gần đây của mụn trứng
cá, như mức sản xuất bã nhờn thông qua
androgen, cũng như quá trình viên, cũng
bị ảnh hưởng bởi chế độ ăn uống. Cordain
lưu ý rằng insulin và IGF-1 kích động sự
tổng hợp androgen cũng như bã nhờn và
ức chế sự sản xuất globulin gắn kết hor-
mon sinh dục ở gan, dẫn đến tăng lượng
androgen lưu hành.
Các enzyme desaturase có thể ảnh
hưởng đến sự hình thành và sự xuất hiện
của mụn trứng cá. Cordain xác định tăng

69
Thẩm mỹ nội khoa
sử dụng các loại thực phẩm acid béo
không bão hòa nhiều omega 3, làm giảm
tỉ lệ acid béo omega-6: omega-3, liên quan
đến tình trạng viêm của mụn trứng cá.
2.1.2. Sữa và mụn trứng cá
Người ta nhận thấy mối quan hệ tích
cực giữa việc tiêu thụ sữa và sự phát triển
của mụn, đi từ những ảnh hưởng chuyển
hóa của sữa, có thể là do các hormon và
các phân tử hoạt tính sinh học có trong
sữa..
Adebamoto và cs., sau một nghiên cứu
trên 4.273 cậu bé, từ năm 1996 đến năm
1998 đã báo cáo một mối liên quan giữa
việc tiêu thụ sữa không kem và mụn trứng
cá. Các tác giả đã kết luận những phát
hiện này đối với các thành phần nội tiết tố
trong sữa không béo hoặc các yếu tố ảnh
hưởng đến nội tiết tố nội sinh.
Năm 2009, một tổng quan hệ thống của
21 nghiên cứu quan sát và sáu nghiên cứu
lâm sàng đã tìm ra các liên kết rõ ràng. Hai
thử nghiệm đối chứng lớn cho thấy sữa bò
làm tăng cả số người bị mụn trứng cá và
mức độ nghiêm trọng của nó. Sữa bò làm
tăng các hormone sinh dục nam, làm tăng
mức insulin giống như các loại thực phẩm
làm tăng lượng đường trong máu khác.
2.1.3. Chất iod và mụn trứng cá
Danby cho rằng thiếu hụt iod gây ra
nguy cơ sức khỏe lớn hơn so với quá liều
và nồng độ iod trong sữa dường như tương
đương với nồng độ trong sữa mẹ. Fulton
cho rằng ở những người dễ bị mụn trứng
cá, iodine bài tiết qua các tuyến bã nhờn
có thể gây kích thích nang lông tuyến bã
và góp phần làm bùng phát mụn.
Trên thực hành lâm sàng, chúng ta
thấy một số thuốc có thể gây phát ban
dạng trứng cá, trong số đó có các thuốc
chứa chất iod.
2.1.4. Mụn trứng cá và chocolate
Cacao không liên quan đến mụn, mụn
- nếu có - có thể gây ra từ các thành phần
khác của thanh chocolate ví dụ như chất
béo thực vật hydro hóa, sữa...
2.2. Các bệnh da dị ứng (chàm, mày
đay...)
Bệnh dị ứng ảnh hưởng đến hơn 150
triệu người châu u và hơn một tỉ người
trên toàn thế giới. Vì nguy cơ dị ứng được
xác định bởi sự tương tác giữa các yếu tố
di truyền và môi trường nên việc giảm ảnh
hưởng từ môi trường là mục tiêu can thiệp
sớm. Một số chiến lược can thiệp đã được
thử nghiệm như tránh dị nguyên (thức ăn/
mạt bụi nhà); can thiệp chế độ ăn uống với
vitamin D, acid béo omega-3 hoặc những
thứ khác, các sản phẩm chứa lợi khuẩn
(probiotics và prebiotics); liệu pháp miễn
dịch dị nguyên (phấn hoa, mạt bụi nhà) và
các loại thuốc kháng virus, các cytokine,
steroid); tất cả đều có kết quả khác nhau.
Trong những chiến lược hiện có trong
phòng ngừa dị ứng ban đầu, can thiệp dinh
dưỡng sớm đã trở thành một trong những
phương pháp thành công nhất. Trên những
trẻ sơ sinh có nguy cơ cao tiến triển các
bệnh dị ứng như ít nhất có quan hệ trực hệ
với người có tiền căn dị ứng (mẹ, cha hoặc
anh chị ruột) và không được nuôi bằng sữa
mẹ trong 4 tháng đầu đời, việc cho bú sữa
công thức chứa đạm thủy phân ở trẻ nhũ
nhi cho thấy làm giảm đáng kể nguy cơ dị
ứng, chủ yếu là bệnh chàm thể tạng trước
tuổi đi học.
Dị ứng với protein sữa bò (Cows milk
protein allergy = CMPA) là dị ứng thức ăn
phổ biến nhất ở trẻ nhũ nhi. Tất cả các
hướng dẫn đều khuyến cáo nên cho bú mẹ
hoàn toàn đến khi trẻ được 4-6 tháng tuổi,
mà không có bất kỳ hạn chế trong chế độ
ăn uống của người mẹ. Hiện chưa có bằng
chứng cho thấy việc thay đổi chế độ ăn
uống của người mẹ trong thời kỳ mang
thai hoặc cho con bú có tác dụng bảo vệ
chống lại dị ứng ở trẻ nhũ nhi có nguy cơ.
Hơn nữa, việc thay đổi chế độ ăn có thể

70
Chương 1
Đại cương
gây ra sự thiếu hụt dinh dưỡng ở người mẹ
cho con bú và trẻ nhũ nhi.
Histamin được tạo ra bởi các tế bào
mast trong cơ thể. Tuy nhiên, nó cũng
được tìm thấy trong nhiều loại thực phẩm
ăn vào và được lưu trữ trong cơ thể. Một
số thực phẩm giàu chất histamin một
cách tự nhiên, một số khác tạo histamin
trong quá trình lên men. Histamin hiện
diện với số lượng lớn trong thực phẩm
hư hỏng và có thể gây ra các triệu chứng
ngộ độc thực phẩm ngay cả ở người khỏe
mạnh. Thông thường, histamin ăn vào từ
thức ăn bị phân hủy tại ruột non thông
qua một enzyme đặc biệt là diamino ox-
idase. Tuy nhiên, nếu thiếu enzyme này
hoặc nếu lượng histamin chiếm quá lớn,
diamino oxidase không đủ để làm giảm
histamin nhanh chóng và nó sẽ đi từ niêm
màng của ruột non vào trong máu. Sau đó
cơ thể phản ứng với các triệu chứng như
nổi mày đay, đau đầu, hen suyễn, làm tăng
triệu chứng của bệnh chàm và/hoặc tiêu
chảy. Các xét nghiệm dị ứng không giúp
gì được vì đây không phải là trường hợp dị
ứng thực phẩm.
Thực phẩm hun khói, lên men, ướp
muối, đồ biển nên được hạn chế sử dụng
với nhóm đối tượng mắc bệnh da dị ứng.
2.3. Bệnh viêm da dạng Herpes
Viêm da dạng herpes (bệnh Duhring -
DH) là bệnh da bóng nước tự miễn hiếm
gặp, tiến triển mạn tính. Bệnh biểu hiện
lâm sàng đặc trưng với mụn nước, bóng
nước trên da kèm ngứa nhiều, bệnh ruột
nhạy cảm gluten và lắng đọng kháng thể
IgA ở lớp bì nông.
Hầu hết bệnh nhân (khoảng 80%) khi
duy trì chế độ ăn uống không chứa gluten
sẽ đáp ứng với việc kiểm soát bệnh da của
họ. Một số bệnh nhân có thể ngừng điều trị
dapsone. Tuân thủ chế độ ăn uống không
chứa gluten là rất khó và đòi hỏi một người
bệnh có quyết tâm và kiên trì.
Cần ăn kiêng trong 5-12 tháng trước
khi liều dapsone có thể được giảm.
Sự lắng đọng IgA cũng như các kháng
thể tuần hoàn không tương quan với lượng
gluten trong các nghiên cứu ngắn hạn. Tuy
nhiên, một số nghiên cứu đã gợi ý một mối
tương quan với sự bồi lắng bổ sung. Tránh
ăn gluten trong 10 năm hoặc nhiều hơn đã
làm mất các lắng đọng IgA ở da và sau đó
trở lại như cũ khi phục hồi ăn lại gluten.
Gluten là một hỗn hợp hai protein gồm
gliadin và glutenin, nhưng bạn sẽ không
tìm thấy chúng trong thịt hoặc trứng. Thay
vào đó, gluten có mặt trong nhiều loại thực
phẩm được tiêu thụ hằng ngày như mì căn
(dùng thay thế thịt trong các món chay),
lúa mì, lúa mạch đen và lúa mạch hoặc phụ
gia thực phẩm cho các loại thức ăn chế
biến sẵn như kem, nước dùng, đồ hộp...
3. CÁC CHẤT DINH DƯỠNG BỔ
SUNG VÀ DA
Dưới đây liệt kê về một số chất bổ sung
dinh dưỡng phổ biến nhất đang được sử
dụng hoặc được nghiên cứu trong lĩnh vực
chăm sóc sắc đẹp đặc biệt là chăm sóc
da, đi từ những ảnh hưởng của chúng trên
da. Cũng cần lưu ý nhắc bệnh nhân nên
thảo luận về việc sử dụng các chất này với
bác sĩ của họ khi mang thai, cho con bú
hoặc đang điều trị một bệnh nào khác.
3.1. Alpha lipoic acid
Bình thường cơ thể vẫn sản xuất được
một lượng nhỏ chất này nhưng nếu được
bổ sung nhiều thì da thêm mịn màng và
chống lại dấu hiệu lão hóa da. Có lẽ, alpha
lipoic acid đã từng được coi là một chất
chống oxy hóa, nhưng một báo cáo gần
đây người ta thấy nó tác động tích cực lên
năng lượng và trên sức khỏe của da hơn
vai trò của chất chống oxy hóa.

71
Thẩm mỹ nội khoa
3.2. Các acid béo
3.2.1. Trên bệnh chàm
Người ta đã so sánh lượng phospholip-
id huyết tương của 41 người lớn bị chàm
với 50 người bình thường thì thấy acid
6-omega linoleic (LA) tăng lên đáng kể và
tất cả các chất chuyển hóa của nó cũng
giảm.
Một nghiên cứu mù đôi kéo dài 12 tuần
về ảnh hưởng của việc bổ sung acid béo ở
bệnh nhân viêm da cơ địa dị ứng thì thấy
rằng nhóm dùng eicosapentaenoic acid
(EPA) ít ngứa và đỡ nặng hơn so với nhóm
dùng giả dược. Dường như bổ sung acid
béo n-3 có thể cải thiện các triệu chứng
chàm trong trong ngắn hạn. Đáng chú ý,
nồng độ acid béo n-3 bị giảm hụt trong
chế ăn chay.
Không phải tất cả các bác sĩ đều chấp
nhận các tiện ích của việc sửa đổi chế độ
ăn uống trong điều trị bệnh chàm. Tuy
nhiên, các khuyến cáo của bệnh nhân nên
bao gồm các lời khuyên về cách tắm, làm
ẩm da cùng các đề xuất chế độ ăn uống.
PUFAs được biết là ức chế sự tổng hợp
các eicosanoid có nguồn gốc từ acid ar-
achidonic và do đó có hiệu quả chống lại
các bệnh dị ứng.
Các acid béo omega-3 không được
tổng hợp tự nhiên trong cơ thể.
Các nguồn thực phẩm chứa acid béo
omega-3 bao gồm cá ngừ albacore, cá hồi,
cá thu, menhaden (một loài cá xứ lạnh ở
biển động của Bắc Mỹ), dầu canola, dầu
hạt lanh, quả óc chó, rong biển và trứng.
Điều cần lưu ý là những con cá này
không tổng hợp các acid béo trên nhưng
tích lũy chúng thông qua chế độ ăn uống,
có thể bao gồm cả các chất độc hại. Vì lý
do đó, đặc biệt trong trường hợp độc tính
của thủy ngân trong cá ngừ albacore, FDA
khuyến cáo việc hạn chế tiêu thụ một số
loài cá ăn thịt.
Dầu gan cá tuyết và các loại dầu cá
khác là nguồn cung cấp các acid béo chưa
bão hòa. Chúng là thành phần quan trọng
của màng tế bào và hàng rào bảo vệ da.
ALA, EPA và DHA là những acid béo ome-
ga-3 thiết yếu hàng đầu.
Các hoạt động chống viêm và giảm kích
ứng của các hợp chất này đã được xác lập
thông qua một số nghiên cứu chứng minh
trên bệnh vảy nến và rosacea.
3.2.2. Trên đáp ứng miễn dịch và
bệnh vảy nến
DHA đã được chứng minh ức chế được
quá trình viêm và đáp ứng miễn dịch trong
phản ứng tăng cảm tiếp xúc trên da ở
chuột. Các nhà nghiên cứu cho ăn kiêng
DHA và EPA cho chuột bị tiếp xúc với với
2,4-dinitrol-fluorobenzene. Kết luận rằng
DHA làm giảm sự thâm nhập của tế bào
lympho T CD4 vào tai và giảm thiểu sự
biểu hiện mRNA interlengin, IL-1beta và
IL-2 trong tai. Điều này cho thấy hoạt động
ức chế miễn dịch từ dầu cá là do DHA và
chứ không phải từ chất đồng nhóm n-3
PUFA của nó.
Một nghiên cứu đa trung tâm, ngẫu
nhiên và mù đôi, kéo dài 14 ngày, trong
đó có 83 bệnh nhân nhập viện do bệnh
vảy nến thể mảng có chỉ số PASI tối
thiểu là 15 được chọn ngẫu nhiên để
tiêm tĩnh mạch mỗi ngày chất nhũ tương
omega-3 hoặc nhũ tương omega-6, các nhà
nghiên cứu nhận thấy sự cải thiện lớn hơn
ở nhóm omega-3 với mức độ vảy nến đã
giảm đi, được lặp lại bởi việc tự đánh giá
bệnh nhân. Các nhà nghiên cứu kết luận
rằng bệnh vảy nến thể mảng có thể được
điều trị hiệu quả với các acid béo omega-3
đường tĩnh mạch.
3.2.3. Trên tình trạng lão hóa và ung
thư da
Các acid béo omega-3 còn giúp tăng
thể tích da, làm giảm sự xuất hiện của các
nếp nhăn.

72
Chương 1
Đại cương
Người ta đã nhận thấy vai trò quan
trọng của acid béo omega-3 trong việc
ngăn ngừa ung thư da không melanoma
bằng cách tăng thời gian tiềm ẩn của khối
u, làm giảm số lượng khối u, tăng ngưỡng
ban đỏ trung hòa qua bức xạ tia UV ở
người và làm giảm nồng độ prostaglandin
E synthese type 2 [PGE (2)] ở da người tiếp
xúc với UVB.
Nên kết hợp acid béo omega-3 vào chế
độ ăn và nên bổ sung 1.000 mg/ngày.
Bảng 1. Các nguồn thực phẩm giàu acid béo
Bảng 2. Các nguồn thực phẩm giàu chất chống oxy hoá
Quả bơ
Dầu hạt lanh
Dầu canola
Dầu hoa anh thảo
Cá (đặc biệt là cá ngừ albạcore, cá hồi hồ, cá thu, cá menhaden và cá hồi)
Dầu hạt lanh
Hempseed
Các loại hạt
Dầu olive
Đậu phộng
Dầu cây rum (giàu oleic)
Đậu nành
Dầu hoa hướng dương (lượng oleic cao)
Hạt óc chó
Chất chống oxy hóa (antioxidants)
Chất chống oxy hóa là những chất bảo
vệ tế bào khỏi bị oxy hóa gây ra bởi các
yếu tố ngoại sinh lẫn nội sinh.
Quả mọng
Quả lớn
Rau
Đậu
Củ
Ngũ cốc
Hạt và
quả khô
Nho đen
Quả mâm
xôi đen
Blueberry
Quả mâm
xôi Bắc cực
Quả nam
việt quất
Quả lý
Dâu
Cam nhỏ
Chà là
Nho
Bưởi
Kiwi
Chanh
Thơm
Mận
Lựu
Cam
Artichaud
Bắp cải
Brussel
Ớt
Cải xoăn
Mùi tây
Tiêu
Bắp cải đỏ
Rau bina
Đậu tằm
Đậu phộng
Đậu tây
Đậu nành
Gừng
Củ cải đỏ
Lúa mạch
Kiều mạch
Hạt kê
Yến mạch
Mơ khô
Mận khô
Hạt
hướng
dương
Quả óc
chó

73
Thẩm mỹ nội khoa
3.4. Arnica
Việc dùng cây Arnica montana đã được
các nhà thực hành vi lượng đồng căn thúc
đẩy trong hàng trăm năm. Arnica được
sử dụng nhờ thành phần sequiterpene
lactones với đặc tính chống viêm của nó.
Ứng dụng trong chăm sóc da chính của
chất này là để điều trị và phòng ngừa vết
bầm tím.
Cần lưu ý với đường uống liều cao có
thể có hại và cũng có khả năng gây dị ứng.
Nếu phát ban nhẹ, bệnh nhân có thể nhạy
cảm với các hợp chất helenalin, một thành
phần quan trọng được tìm thấy trong arnica.
Lúc bấy giờ, cần ngưng uống.
Ngoài đường uống, các loại kem
đặc trị với Arnica, như Donell Super Skin
K -Derm và kem Boiron Arnica được bác sĩ
Baumann L. sử dụng để giúp tan nhanh
vết thâm tím.
3.5. Beta-carotene
Beta carotene là thành viên của họ
carotenoid, có màu sắc sậm (đỏ, cam
vàng), các chất tự nhiên hòa tan trong
chất béo, có trong một số loại trái cây, ngũ
cốc , dầu và rau quả (như mơ, cà rốt, ớt
xanh, rau bina, bí và khoai lang). Đáng chú
ý, trong một nghiên cứu có hệ thống các
chất chống oxy hóa trong thực phẩm, cà
rốt có hàm lượng chất chống oxy hóa thấp
nhất trong các loại củ. Vì nó có thể được
biến đổi thành vitamin A hoạt tính (retinol),
beta-carotene là một provitamin, như
alpha và gamma-carotene. .
| Betacaroten được quan tâm nhiều hơn
các hợp chất carotenoid khác vì nó đóng
góp nhiều hơn cho dinh dưỡng con người
so với các chất liên quan của nó. Việc sử
dụng beta-carotene có hệ thống 15 đến 30
mg/ngày trong 10 tới 12 tuần đã cho thấy
có khả năng phòng ngừa nổi ban đỏ do tia
UV nhưng không đủ để bảo vệ chống lại
tia UV.
Vào tháng 9 năm 2007, Stahl và Sies
đã làm rõ rằng chế độ ăn uống giàu
carotenoid
như
beta-carotene
và
lycopene, cũng như flavonoid, góp phần
ngăn ngừa sự hình thành hồng ban gây ra
bởi tia cực tím sau khi ăn và phân tán tới
các vùng phơi sáng, kể cả da và mặt.
Điều đáng chú ý là sự bổ sung beta-
carotene đã được chứng minh là góp phần
làm tăng nguy cơ phát triển ung thư phế
quản ở người hút thuốc và những người
tiếp xúc với amiăng.
Việc ăn uống quá nhiều chất beta-
carotene và các chất provitamin A khác sẽ
làm da màu vàng hơn (nhưng không vàng
ở củng mạc mắt - điểm giúp sơ khởi phân
biệt với vàng da do tổn thương gan).
Việc thừa carotenoid không nguy cơ
gây hại so với thừa vitamin A. Tuy nhiên,
sẽ nên bổ sung chất này cho những đối
tượng ở vùng khí hậu nhiệt đới vì phải
tiếp xúc ánh nắng mặt trời thường xuyên
và những người ăn uống không cân đối,
không đủ carotenoid.
3.6. Biotin
Còn được gọi là vitamin B7, đã được
chứng minh là làm tăng độ dày mỏng lên
đến 25% ở những bệnh nhân bị móng tay
dễ gãy. Móng sẽ khỏe hơn khi bổ sung
biotin. Liều 2,5 mg biotin hàng ngày cho
tất cả các bệnh nhân có móng dễ gãy hoặc
tách móng. Hội chứng móng giòn đã được
chứng minh có cải thiện với liều lượng này.
3.7. Dầu hạt lựu (Borage seed oil)
Dầu hạt lựu là loại acid béo omega-6
giàu chất gamma-linolenic acid (GLA).
Chất này không được tổng hợp bởi da
người từ tiền chất LA GLA giúp dưỡng ẩm
da, làm dịu viêm da và đỏ.

74
Chương 1
Đại cương
3.8. Bromelain
Ananas comosus, gốc của chất brome-
lain, một từ dùng để chỉ các thành phần
chứa các enzyme proteolytic, có tính chất
kháng viêm. Ngoài việc sử dụng nó như
một chất hỗ trợ tiêu hoá, bromelain thường
được sử dụng để điều trị viêm và tổn
thương mô mềm. Các enzyme proteolytic
của bromelain đã mang lại nhiều lợi ích
chữa lành vết thương, như giảm bớt các
vết thâm tím, chứng phú và đau. Ngoài
ra, nó còn có năng lực tiềm tàng như một
kháng sinh.
Các tác giả đề nghị uống 500 mg
bromelain 2 lần/ngày trong 3 ngày cho tất
cả các bệnh nhân sau khi làm thủ thuật
như chích filler, nhằm giảm bớt vết bầm
tím.
Bromelain bị chống chỉ định với bệnh
nhân sử dụng thuốc chống đông như
warfarin, trẻ em, người bị dị ứng với dứa
hoặc ong và những người có tiền sử hồi
hộp, đánh trống ngực.
3.9. Caffeine
Thành phần được biết đến nhiều nhất
của cà phê, caffein được tìm thấy tự nhiên
trong lá, hạt, hoặc trái cây ở một số cây và
có trong trà, chocolate, soda và các sản
phẩm khác. Sử dụng các loại thức uống
phổ biến như cà phê và trà, caffein hoặc
các chất chuyển hóa của nó được cho là
mang lại đặc tính chống ung thư và chống
oxy hóa đáng kể.
Trong các sản phẩm như Rosaliac và
Replenix CF, caffein còn là một chất chống
viêm và làm co mạch giúp giảm dấu hiệu
đỏ mặt.
Vì caffeine gây mất nước, chỉ nên được
thưởng thức một cách điều độ, uống nước
nhiều và không dùng nhiều với kem và
đường. Tác dụng khử nước của caffein
giúp nó trở thành một chất phụ phổ biến
trong các loại kem giúp làm giảm sần da
cam (cellulite) và hiệu quả có thể kéo dài
khoảng 24 giờ.
3.10. Coenzyme Q10
Các nguồn thực phẩm tốt của CoQ10
bao gồm cá, vỏ sò, rau dền và quả hạch.
CoQ10, là hợp chất hòa tan chất béo,
giúp ngăn ngừa quá trình oxy hóa bằng
cách ức chế sự peroxid hóa lipid trong
màng huyết tương, do đó ngăn chặn sự
phát triển của gốc tự do. Trong ty thể
của mỗi tế bào của cơ thể, CoQ10 đóng
một vai trò quan trọng trong đường dẫn
adenosine triphosphate sản sinh năng
lượng. Sản xuất năng lượng là một khía
cạnh quan trọng của sự trao đổi chất của
tế bào, hiệu quả của nó được cho là giảm
theo độ tuổi. Múc CoQ10 cũng trùng hợp
với sự suy giảm của tuổi tác và việc bổ
sung ubiquinone giúp giảm tốc độ lão hóa
và bệnh tật.
Việc thoa tại chỗ CoQ10 làm giảm mức
oxy hóa được đo bằng phát xạ photon yếu
và giảm độ sâu của nếp nhăn. Trong cùng
một nghiên cứu, CoQ10 ức chế biểu hiện
collagenase trong nguyên bào sợi người
sau khi chiếu tia UVA.
Các nhà nghiên cứu kết luận rằng
CoQ10 có hiệu quả trong việc ngăn ngừa
những ảnh hưởng có hại của việc tiếp xúc
với tia UV.
CoQ10 có tác dụng kích thích giống
như caffein nên được sử dụng vào buổi
sáng, thường là 200 mg.
Các bệnh nhân dùng statin để giảm
cholesterol cũng cần bổ sung chất này, vì
statin làm giảm mức CoQ10 tự nhiên. Mức
CoQ10 thấp có liên quan đến sự mệt mỏi
và co cứng cơ. Những người dùng thuốc
giảm cholesterol nên cân nhắc uống 400
mg mỗi sáng.

75
Thẩm mỹ nội khoa
3.11. Dầu hoa anh thảo
Xuất xứ từ hạt cây anh thảo (Oenothera
biennis), họ Onagraceae. Đây là một trong
những nguồn tốt nhất cung cấp cả LA và
GLA, một acid béo thiết yếu không bão hòa
quan trọng trong sản xuất prostaglandin.
LA được cơ thể sử dụng để tổng hợp GLA.
Ngoài ra, LA duy trì sự gắn kết lớp sừng và
giúp giảm mất nước qua da.
Lợi ích về mặt sức khỏe của dầu hoa
anh thảo là nhờ chất GLA. Trong một thử
nghiệm mù đôi đánh giá tác động của việc
uống dầu hoa anh thảo với bệnh chàm,
các nhà nghiên cứu nhận thấy sự cải thiện
có ý nghĩa thống kê giữa các bệnh nhân có
tổng dầu hoa anh thảo về mức độ nghiêm
trọng của các triệu chứng, bao gồm giảm
tỉ lệ phần trăm diện tích da bệnh, triệu
chứng viêm, khô da và ngứa.
Dầu hoa anh thảo kết hợp với kẽm được
dùng để làm giảm khô mắt, cải thiện móng
dễ gãy và điều trị mụn trứng cá và phỏng
nắng.
Việc bổ sung chất này giúp làm ẩm da,
làm giảm chứng viêm và kích ứng. Cũng
có tác giả đặc biệt đề xuất dùng dầu hoa
anh thảo cho bệnh nhân thường xuyên bị
rát da.
3.12. Glucosamine
Trong tự nhiên có nguồn gốc từ vỏ
sò, ốc. Các chất tổng hợp glucosamin
và dẫn xuất N-acetyl glucosamine là
amino-monosaccharides có vai trò sinh
học quan trọng, đặc biệt là trong sản xuất
sụn.
Chúng đóng vai trò tiền chất cho
sự tổng hợp acid hyaluronic (HA) và
proteoglycans. Với vai trò của nó trong sản
xuất HA, glucosamine mang lại nhiều lợi
ích khác nhau như tăng cường hydrat hóa,
giảm nếp nhăn và làm lành vết thương.
Ngoài tính chống viêm và bảo vệ sụn,
glucosamine còn có hiệu quả trong điều
trị tăng sắc tố vì nó ức chế sự hoạt hóa
tyrosinase do đó ức chế tổng hợp melanin.
Các tác giả khuyến cáo nên uống 1500
mg/ngày, đặc biệt đối với người trên 35
tuổi.
3.13. Chiết xuất hạt dẻ ngựa
(Aesculus hippocastanum)
Trong số những loại cây hạt dẻ ngựa, hạt
dẻ ngựa châu u (Aesculus hippocastanum)
là loại được sử dụng phổ biến nhất cho
mục đích y học.
Với dạng uống, chiết xuất hạt dẻ hạt
ngựa (HCSE = horse chesnut seed extract)
đã được chứng minh giúp cải thiện tình
trạng viêm và khó chịu về tuần hoàn. Bệnh
nhân dùng thuốc chống đông máu nên
được khuyên không nên bổ sung HCSE
3.14. Acid hyaluronic (HA)
Một trong ba thành phần chính của
hạ bì, HA, còn được gọi là hyaluronan, là
glycos aminoglycan phong phú nhất trong
da người. Nó có khả năng liên kết nước với
thể tích gấp 1000 lần, đóng vai trò quan
trọng trong sự phát triển của tế bào, chức
năng thụ thể màng và sự kết dính. Chức
năng sinh học chính của nó trong chất nền
gian bào là ổn định cấu trúc tế bào và hình
thành nên chất nhớt đàn hồi (elastoviscous)
bao bọc các tổ chức sợi, trong đó sợi
collagen và elastin.
HA giữ độ ẩm nên làm da căng sáng.
Nó cũng là thành phần chính của một số
chất chích làm đầy da, tiêm khớp trong
viêm khớp gối, đường thoa và uống. Tuy
nhiên, do HA được chuyển hóa trong dạ
dày nên hiệu quả bổ sung bằng đường
uống khó thành công.

76
Chương 1
Đại cương
3.15. Sắt
Được tìm thấy trong mỗi tế bào của cơ
thể, sắt là một khoáng chất quan trọng và
rất cần thiết trong việc sản xuất hemoglo-
bin. Thiếu sắt có thể liên quan đến rụng
tóc và các đốm trắng hoặc các dải đứng
trên móng, móng hình muỗng. Các bác sĩ
nên kiểm tra mức độ ferritin của bệnh nhân
trước khi đề nghị bổ sung sắt. Các chất bổ
sung sắt được khuyến cáo cho bệnh nhân
chỉ khi được xác định là có chứng có lượng
sắt thấp. Sắt dư thừa có thể tạo ra các gốc
tự do và tăng tốc lão hóa da. Nguồn thực
phẩm chứa sắt bao gồm đậu khô, trái cây
sấy khô, lòng đỏ trứng, cá hồi, cá ngừ, ngũ
cốc nguyên hạt và các thực phẩm khác.
3.16. Lycopene
Trong tự nhiên, lycopene có trong máu
và mô người.
Nó là một loại carotenoid nhưng lại
không phải là tiền chất của vitamin A,
được biết đến như là chất màu đỏ chủ yếu
đặc trưng của cà chua.
Lycopene làm giảm các tổn thương oxy
hóa ở mô, góp phần hấp thụ hoặc giảm
nhẹ tác động của bức xạ UV, bảo vệ chống
lại sự phát ban đỏ sau khi phơi nhiễm tia
cực tím và cũng có công dụng chống oxy
hóa.
3.17. Niacin
Niacin là một cofactor tồn tại ở hai
dạng: nicotinamide-adenine dinucleotide
(NAD) và nicotinamide-adenine dinucle-
otide phosphate (NADP). NAD và NADP
hoạt động như là chất cho và chất nhận
hydro trong phản ứng oxy hóa khử liên
quan đến sự tổng hợp và chuyển hóa của
carbonhydrate, acid béo và protein.
Còn được gọi là vitamin B3 hoặc acid
nicotinic, niacin đã được biết đến từ lâu
vì sự cần thiết cho các hoạt động của da
và hệ thần kinh. Niacinamide (còn gọi là
nicotinamide) là amide dạng niacin. Các
thuật ngữ acid nicotinic và nicotinamid
được sử dụng ít hơn bởi vì chúng có âm
thanh tương tự, mặc dù không liên quan
đến nicotin.
Trong cơ thể người, niacin được tổng
hợp nội sinh từ tryptophan. Ngũ cốc, men
bia, cá, thịt, sữa, gan, đậu sấy khô là những
nguồn thực phẩm cung cấp niacin tốt nhất.
Sự thiếu hụt niacin và niacinamide có
liên quan đến sự phát triển của một số
loại ung thư, bao gồm ung thư da, liên
quan đến bệnh pellagra với các biểu hiện
tiêu chảy, viêm da và chứng sa sút trí tuệ.
Trong nhiều năm, niacinamide đã được sử
dụng bằng đường thoa và uống để điều trị
các bệnh viêm. Ví dụ, Berk và cs. mô tả
việc sử dụng niacinamide đường uống với
tetracycline để điều trị bệnh bóng nước
dạng pemphigoid. Trứng cá đỏ trong số
các chỉ định cho điều trị niacinamide. Trên
thực tế, niacin được biết đến với tác động
giãn mạch.
Niacinamide không gây ra các phản
ứng phụ trên da và là một thành phần rất
hiệu quả trong các công thức chuyên biệt
để điều trị tổn thương da do ánh sáng,
viêm, tăng sắc tổ và da khô.
Liều dùng hàng ngày là 15 - 20 mg
niacin, hoặc khoảng 60 mg tryptophan
ngoại sinh.
3.18. Polypodium leucotomos
Dẫn xuất từ họ dương xỉ, Polypodium
leucotomos đã được sử dụng để điều trị
các chứng viêm, được cho là có hoạt tính
chống oxy hóa mạnh và giúp bảo vệ da với
nắng thông qua đường uống.

77
Thẩm mỹ nội khoa
3.19. Các polyphenol
Bao gồm hơn 8.000 hợp chất tự nhiên,
polyphenol là chất chuyển hóa thực vật có
hoạt tính chống oxy hóa khác nhau. Tất
cả các chất đa dạng này đều có cùng cấu
trúc kết cấu, một phenol hoặc một vòng
thơm với ít nhất một nhóm hydroxyl.
Các chất polyphenol được xem là
những chất chống oxy hóa trong chế độ
ăn của con người và được tìm thấy trong
một loạt các loại rau, hoa quả, thảo mộc,
ngũ cốc, trà, cà phê, propolis và rượu vang
đỏ.
Flavonoids là polyphenol có nhiều
trong thực phẩm, được nghiên cứu nhiều
nhất và có thể được chia thành nhiều loại.
Bảng 3. Các thực phẩm có nhiều polyphenol
Rau
Trái cây
Khác
Artichaud
Bông cải xanh
Bắp cải
Cà tím
Xà lách
Ô liu
Hành
Đậu nành
Rau bina (rau chân vịt)
Táo/lê
Mơ
Quả mọng (nhiều loại)
Cherry
Họ câm quýt
Cà chua đỏ và đen
Nho
Đào
Mận
Cacao
Hạt cà phê
Hạt lanh/ dầu hạt lanh
Các loại hạt ngũ cốc
Quả hạch
Propolis
Rượu vang đỏ
Trà xanh và trà đen
Trong số nhiều polyphenol khác có
stilbene (ví dụ resveratrol, được tìm thấy
trong rượu vang đỏ), lignans (ví dụ như
enterodiol, được tìm thấy trong dầu hạt
lanh và hạt lanh), tannin (ví dụ acid ellagic,
có trong lựu, quả mâm xôi, dâu tây, việt
quất và quả óc chó), acid hydroxycinnamic,
acid phenolic, trong đó acid caffeic và
ferulic thường được tìm thấy trong thực
phẩm,
Người ta đã nghiên cứu công dụng của
catechins trà xanh, acid ferulic, resveratrol
và các thành phần khác.
Trong một cuộc khảo sát, các nhà
khoa học cho các con chuột bị cắt buồng
trứng ăn nhiều cỏ ba lá màu đỏ trong 14
tuần (có 11 % isoflavones) thì thấy có tỉ lệ
thấp triệu chứng loãng xương, tăng mức
độ collagen đáng kể ở nhóm điều trị so với
nhóm chứng và độ dày lớp biểu bì cũng
như sự sừng hóa vẫn bình thường ở nhóm
được điều trị nhưng lại giảm trong nhóm
đối chứng. Các nhà nghiên cứu kết luận
rằng lão hóa da gây ra bởi sự suy giảm
estrogen có thể được giảm bớt bởi việc bổ
sung thường xuyên của isoflavone trong
cỏ ba lá đỏ.
3.20. Selenium
Là một chất khoáng được tìm thấy tự
nhiên trong cơ thể và các loại thực phẩm
khác nhau, đặc biệt là các loại hạt của
Brazil. Một số hải sản, thịt, ngũ cốc và các
sản phẩm từ sữa có chứa selen cũng như
một số thực phẩm thực vật, tùy thuộc vào
hàm lượng selen trong đất trồng.
Selen là chất chống oxy hóa quan trọng,

78
Chương 1
Đại cương
cần thiết cho sức khỏe, với một lượng nhỏ.
Selenium ở dạng uống và thoa có vẻ
như mang lại nhiều lợi ích cho da. Nước
khoáng giàu selenium dùng trong hồ điều
trị bệnh vảy nến, chàm và các tình trạng
da viêm khác tại các spa. Lượng sele hàng
ngày được đề nghị cho người lớn là 55 mg/
ngày và quá liều có thể gây hại (thường
hơn 400 ng/ngày). Trên thực tế, lượng
selenium quá mức có thể dẫn đến rụng
tóc.
3.21. Vitamin A
Retinol, còn gọi là vitamin A, một trong
những vitamin tan trong dầu, không được
tổng hợp trong cơ thể người. Thuật ngữ
“retinoids” dùng để chỉ vitamin A và tất cả
các chất dẫn xuất tự nhiên và tổng hợp
của nó bao gồm retinol.
Các loại carotenoid như cà rốt, dưa
đỏ, khoai lang, rau bina, sữa, bơ thực vật,
trứng, gan bò và ngũ cốc ăn sáng đều
là các nguồn thực phẩm giúp bổ sung
vitamin A.
Nhu cầu hàng ngày của vitamin A là
1.000 - 5.000 IU.
Các tác dụng sinh học: điều hòa sự
tăng trưởng và sự biệt hóa của các tế bào
biểu mô, trong đó có sự tăng sinh thượng
bì và sự sừng hóa, ức chế sự phát triển của
khối u trong quá trình sinh ung thư, giảm
sự phát triển tế bào ác tính, giảm viêm và
tăng cường hệ thống miễn dịch.
Retinoid cũng đã được chứng minh
giúp cải thiện rạn da và sự bất thường màu
sắc của da.
Vitamin A cũng đặc biệt có lợi cho bệnh
nhân bị mụn trứng cá, vì nó giúp làm giảm
mức độ dầu trong da.
Ngoài ra, retinoic acid, hay tretinoin,
được biết là làm đảo ngược các dấu hiệu
lão hóa da. Trong sự kết hợp với vitamin
C và E, kẽm, vitamin A đóng góp vào việc
nâng cao chức năng hàng rào bảo vệ da
cũng như hoạt động bảo vệ các tế bào
miễn dịch.
Ngoài các thay đổi về mắt như quáng
gà, khô mắt, thiếu hụt vitamin A thể hiện
trên da bằng các sản sừng nang lông xuất
hiện ở mặt trước bên đùi và sau bên cánh
tay, sau đó lan đến mặt duỗi chi, vai, bụng,
lưng, mông, mặt và sau cô.
3.22. Vitamin C
Được biết đến trong lịch sử vì vai
trò của nó trong việc phòng ngừa bệnh
scorbut.
Vitamin C có rất nhiều trong trái cây
có múi. Trên thực tế vào đầu thế kỷ XVIII,
các thủy thủ đã biết việc ăn cam quýt giúp
ngăn ngừa tình trạng bất thường về răng,
rối loạn chảy máu, tổn thương bầm máu
đặc trưng trên da và suy giảm tinh thần.
Hiện nay, vitamin C được xem là một
chất chống oxy hóa mạnh và được sử
dụng hiệu quả như một chất chống lão
hóa và chống viêm.
Trong da, vitamin C giúp làm tăng sự
tổng hợp collagen khi được bổ sung vào
môi trường nuôi cây. Do đó, về mặt lý
thuyết nó góp phần ngăn ngừa hoặc thậm
chí đảo ngược một số dấu hiệu lão hóa da
và có hiệu quả trong việc ngăn ngừa và
điều trị vết rạn da.
Trong một nghiên cứu kéo dài 3 tháng
về tác động của việc uống kết hợp vitamin
C và E, các nhà nghiên cứu cho thấy có
sự giảm đáng kể về phản ứng cháy nắng
đối với phơi nhiễm tia cực tím, với dimers
thymine giảm đáng kể do tia UV gây ra.
Ngoài ra, vitamin C còn có hiệu quả
bảo vệ chống lại tổn hại trên DNA thông
qua vai trò của một chất chống oxy hóa.
Nhiều bác sĩ khuyên bệnh nhân uống
vitamin C 500 mg uống hai lần mỗi ngày.
3.23. Vitamin D

79
Thẩm mỹ nội khoa
Vitamin D3, thường gọi rút ngắn thành
vitamin D, vừa là một hormone vừa và một
chất chống oxy hóa. Ngoài tiếp xúc với
ánh nắng mặt trời, vitamin D có thể thu
vào cơ thể thông qua thực phẩm như sữa,
dầu cá và một số loại cá béo như cá hồi,
cá mòi, cá trích, cá ngừ và tôm. Nấm cũng
là một nguồn thực phẩm tốt giúp bổ sung
vitamin D.
Qua quá trình trao đổi chất, vitamin D
được chuyển hóa thành 25-hydroxyvitamin
D (25 (OH) D) ở gan và 1,25-dihydroxyvita-
min D (1,25 (OH) 2D) bởi thận.
Các chất chuyển hóa của vitamin D3,
đặc biệt là calcitriol, giúp điều chỉnh hoạt
động của tế bào sừng và các tế bào miễn
dịch, từ đó đóng một vai trò quan trọng
trong điều trị bệnh vảy nến.
Giống như tất cả các chất chống oxy
hoá, vitamin D thể hiện khả năng giảm tốc
độ lão hóa da. Tổng hợp vitamin D3 từ da
giảm theo độ tuổi.
Thiếu vitamin D có thể dẫn đến sự gia
tăng hormon cận giáp trong huyết thanh,
góp phần làm giảm xương, loãng xương
và gãy xương. Bổ sung vitamin D đã được
chứng minh là ức chế hormon cận giáp
huyết thanh, làm tăng mật độ xương và có
thể làm giảm tỉ lệ gãy xương, đặc biệt ở
người cao tuổi.
Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các
chất tương tự vitamin D có thể có vai trò
trong việc điều trị ung thư hắc tố mặc dù
tránh tiếp xúc với tia cực tím vẫn là cách
phòng ngừa tốt nhất chống lại ung thư da.
Mặc dù có bằng chứng ngược lại, các
tuyên bố cho rằng việc sử dụng kem chống
nắng dẫn đến thiếu hụt vitamin D vẫn là
một chủ đề gây tranh cãi. Hiểu rằng tiếp
xúc với ánh nắng mặt trời kéo dài làm tăng
nguy cơ ung thư da, việc bổ sung vitamin
D bằng đường uống thay cho việc tiếp xúc
tia UV có vẻ là cách tiếp cận an toàn nhất,
đặc biệt phù hợp đối với những người có
nguy cơ mắc bệnh ung thư da cao (ví dụ
những người có mái tóc đỏ và tàn nhang,
hoặc tiền sử gia đình bị ung thư da).
Hàm lượng vitamin D trong máu nên
được kiểm tra ở tất cả các bệnh nhân. Nếu
nồng độ thấp, nên bổ sung vitamin D và
chú ý chế độ ăn uống cũng như tiếp xúc
ánh nắng mặt trời một cách có giới hạn
(vài phút/ngày).
3.24. Vitamin E
Vitamin E bao gồm tocopherols và
Tocotrienols. Đây là chất chống oxy hóa
tan trong chất béo quan trọng nhất, được
tìm thấy tự nhiên trong nhiều loại rau, đặc
biệt là rau bina, bơ, bắp, dầu thực vật, hạt
hướng dương, đậu nành, ngũ cốc nguyên
hạt, quả hạch, margarine và trong một số
sản phẩm thịt và sữa.
Ở người, vitamin E bảo vệ các màng tế
bào khỏi quá trình peroxid hóa và sự tấn
công của các gốc tự do. Ngoài việc giúp
ngăn ngừa bệnh tim mạch, vitamin E cũng
có hiệu quả trong việc làm giảm khô da,
đặc biệt ở những người uống retinoid.
Vitamin E cũng có tác dụng chống viêm
trên da nhờ sự ức chế tổng hợp và giải
phóng các chất trung gian hóa học. Ngoài
việc ổn định lysosome, vitamin E làm giảm
sản xuất prostaglandin E2 và làm tăng sản
xuất interleukin-2.
Nhu cầu vitamin E của người lớn vào
khoảng 15 mg mỗi ngày. Vitamin E có
thể làm tăng khả năng bầm tím nếu dùng
liều lượng lớn. Bệnh nhân đang trải qua
các quy trình phẫu thuật nên tránh dùng
vitamin E liều cao và cũng nên ngưng
vitamin E 10 ngày trước khi phẫu thuật để
giảm thiểu nguy cơ bầm tím.
3.25. Kẽm
Là một nguyên tố thiết yếu nhưng
không do cơ thể con người tạo ra. Nó có
trong các loại thực phẩm khác nhau, đặc

80
Chương 1
Đại cương
biệt là thịt có hàm lượng protein cao như
nạc thịt bò, thịt gà, cá, tôm, cua, sò, hến,
sản phẩm từ sữa, rau đậu. Chế độ ăn chay
thường chứa ít kẽm hơn chế độ ăn thịt.
Kẽm là thành phần quan trọng của
nhiều men liên quan đến con đường chuyển
hóa và chức năng tế bào, tổng hợp protein
và acid nucleic . Nồng độ Zn đầy đủ quan
trọng trong sự lành thương và chức năng
tế bào T, neutro phil, tế bào diệt tự nhiên.
Kẽm cũng được cho là có khả năng chống
oxy hóa và hỗ trợ các vi chất dinh dưỡng
khác trong việc tăng cường chức năng của
rào cản da cũng như các hoạt động bảo
vệ của các tế bào miễn dịch. Trong một
nghiên cứu đối chứng giả dược đã báo cáo
vào năm 2002, người ta thấy uống sulfate
kẽm với liều 10 mg/kg mỗi ngày để điều trị
tình trạng mụn cóc tăng nhanh đã cho kết
quả tốt sau theo dõi từ 2 đến 3 tháng.
Trong mô hình viêm da dị ứng, các nhà
nghiên cứu cho chuột ăn một chế độ ăn
thiếu kẽm trong 4 tuần và thấy rằng sự
thiếu hụt kẽm ảnh hưởng đến rào cản da
và các hệ miễn dịch.
Lượng kẽm cần thiết là 15 mg/ngày ở
nam giới và 12 mg/ngày đối với phụ nữ, kể
cả lúc mang thai. Điều quan trọng cần lưu
ý là chỉ có 20% kẽm hiện diện trong chế độ
ăn uống thực sự hấp thu bởi cơ thể. Khi
bổ sung khoáng chất uống, lượng kẽm và
sắt phải tương đương để chúng không can
thiệp vào sự hấp thụ. Kẽm bị mất chủ yếu
do phần, nước tiểu, tóc, da, mồ hôi, tinh
dịch và kinh nguyệt. Nồng độ Zn tăng quá
mức sẽ làm ảnh hưởng trên chuyển hóa
đồng.
4. CHẾ ĐỘ ĂN VÀ THẨM MỸ DA
Dựa trên các nghiên cứu, Baumann L.
gợi ý một số hướng dẫn tổng quát về chế
độ ăn để có làn da khỏe, trẻ và đẹp.
Những khuyến cáo này là những can
thiệp dài hạn nhằm đảm bảo sức khỏe
tổng thể tốt và ngăn ngừa các nếp nhăn
trong tương lai chứ không phải là điều trị
các nếp nhăn đã tồn tại và chỉ là những
hướng dẫn chung. Nhu cầu ăn kiêng từng
cá nhân có thể khác nhau.
4.1. Hạn chế năng lượng
Trong vài năm gần đây, một nghiên cứu
về chống lão hóa nhằm xác định liệu tuổi
thọ và sức khỏe của con người có thể tăng
lên hay không. Trong quá trình này, hạn
chế calori đã cho thấy làm kéo dài tuổi thọ
trung bình và tối đa ở các loài khác nhau.
Chưa biết liệu CR (hạn chế năng lượng =
caloric restriction) có thể kéo dài tuổi thọ
trung bình và tối đa hay sức khỏe của con
người. Tuy nhiên, các bằng chứng dịch tễ
sẵn có cho thấy rằng CR đã góp phần làm
tăng tuổi thọ trung bình và tối đa ở một
quần thể con người ở Okinawa, Nhật Bản.
Điều cần lưu ý là việc hạn chế lượng calo
vào trong các nghiên cứu đó khá là cực
đoan (cao tới 60%).
4.2. Khuyến nghị tổng quát về chế
độ ăn
Ăn cá hồi ít nhất 3 lần/tuần. Thêm các
loại rau hạt vào chế độ ăn kiêng của bạn
hoặc sử dụng dầu hạch làm dầu ăn. Ăn thực
phẩm giàu chất chống oxy hoá, chẳng hạn
như nhiều loại quả mọng và lựu. Ăn nhiều
trái cây, rau quả, rau đậu. Đặc biệt, ăn trái
cây và rau cải trong mùa sẽ bổ dưỡng hơn.
Sử dụng gia vị như oregano, gừng và
húng quế, tất cả đều có đặc tính chống
oxy hoá.
Uống từ 2 đến 4 chén trà xanh mỗi
ngày. Uống nhiều nước (từ 1 đến 2 lít mỗi
ngày, tùy thuộc vào mức độ gắng sức, điều
kiện độ ẩm và nhu cầu cá nhân).
Bổ sung với CoQ10, ít nhất 1 viên 200
mg vào buổi sáng.
Uống một lượng rượu vang đỏ vừa

81
Thẩm mỹ nội khoa
phải, chứa chất chống oxy hóa polypheno-
lic resveratrol và chiết xuất từ hạt nho, cả
hai đều mang lại hiệu quả đáng kể. Việc
hấp thụ quá nhiều rượu sẽ dẫn đến sự hình
thành tự do của da.
Hạn chế hoặc tránh các loại đường,
chất béo bão hòa và thực phẩm chế biến.
Đường có thể góp phần làm mụn trứng cá
và thúc đẩy quá trình lão hóa bằng cách
làm cho glycosyl hóa các protein cần thiết.
Theo giả định rằng những gì là tốt cho
tiêu hóa là tốt cho da, ăn ít hơn suất ăn
bình thường kiểu Mỹ và nhai chậm (lý
tưởng là không vừa ăn vừa đọc sách, xem
TV, hoặc bị phân tâm).
4.3. Bổ sung thực phẩm theo phân
loại da
Bảng 4. Khuyến cáo thực phẩm bổ sung theo các tham số từ hệ thống phân loại da của
Baumann (Baumann Skin Typing System = BSTS)
Loại da
Cần bổ sung
Khô
Dầu hạt Cholesterol
Dầu hoa anh thảo
Glucosamine
Các acid béo có omega-3
Dầu
Vitamin A
Nhạy cảm
Dầu cá, dầu từ cá biển sâu (acid béo omega-3, đặc biệt là acid
eicosapentaenoic và acid docosahexaenoic)
Sắc tố
Pycnogenol
Vitamin C
Đậu nành
Không sắc tố
Không cần thiết
Nếp nhăn
Coenzyme Q 10
Trà xanh Luu
Pycnogenol
Vitamin C
Vitamin E
Chắc
Không cần thiết
Khỏe
Không cần thiết
5. KẾT LUẬN
Việc duy trì chế độ ăn uống phù hợp
cho từng loại bệnh được xem là cách điều
trị không dùng thuốc, có lợi ích với da nói
riêng và cho sức khỏe chung.
Thay đổi lối sống của một người không
dễ thực hiện, người bệnh cần được giáo
dục sức khỏe để nhận biết những giá trị
mang lại từ chế độ dinh dưỡng hợp lí, dù
phải lâu dài.

82
Chương 1
Đại cương
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Baumann L. (2009). "Cosmetic der-
matology." Mc Graw Hill, USA.
2. Klaus Wolff, Lowell A. Goldsmith,
Stephen I. Katz, Barbara A. Gilchrest, Amy
S. Paller, David J.leffell (2008). Fitzpat-
rick's Dermatology in general medicine.
Mc Graw Hill, USA.
3. BS Nguyễn Thanh Minh. Bài giảng
bài “Biểu hiện da trong bệnh dinh dưỡng”.
4. “Những vấn đề trong dinh dưỡng lâm
sàng”. Nhà xuất bản Y học.
5. Zuberbier (2001). “The role of aller-
gens and pseudoallergens in urticaria". J
Invest Dermatol Symp Proc, 6, pp. 132–
134

83
Thẩm mỹ nội khoa
Chương 2
Chăm sóc da

84
Chương 2
Chăm sóc da
• MỸ PHẨM TRANG ĐIỂM (MAKEUP) ................................................................................. 85
• CÁC SẢN PHẨM LÀM SẠCH ỨNG DỤNG TRONG LÂM SÀNG
(CLEANSERS IN DERMATOLOGY) ...................................................................................... 96
• CHẤT GIỮ ẨM TRONG CHĂM SÓC VÀ ĐIỀU TRỊ
CÁC BỆNH LÝ VỀ DA
(MOISTURIZERS IN DERMATOLOGY)...............................................................................100
• MỸ PHẨM VÀ DƯỢC PHẨM TRONG CHĂM SÓC THẨM MỸ DA
(COSMECEUTICAL AND PHARMACEUTICAL PRODUCTS IN
DERMATOLOGY).....................................................................................................................104
• CÁC CHẤT LÀM TRẮNG DA (SKIN WHITENING AGENTS).........................................117
• CHĂM SÓC DA (SKIN CARE)...............................................................................................125
• ĐÈN LED TRONG TRỊ LIỆU DA (LED IN DERMATOLOGY)...........................................129
• MESOPORATION TRONG CHĂM SÓC DA
(MESOPORATION IN SKIN CARE) ....................................................................................132
• BẢO VỆ DA KHỎI TÁC HẠI CỦA ÁNH NẮNG MẶT TRỜI
(PHOTOPROTECTION)..........................................................................................................136
• CHĂM SÓC TÓC (HAIR CARE)............................................................................................142
• CHĂM SÓC MÓNG (NAIL CARE).......................................................................................148
• CHĂM SÓC DA SAU ĐIỀU TRỊ LASER (POSTLASER SKIN CARE)..............................152
• THẨM MỸ MÔI (LIP COSMETICS)......................................................................................155
• THẨM MỸ MẮT (EYE COSMETICS).....................................................................................161
Chương 2 : CHĂM SÓC DA

85
Thẩm mỹ nội khoa
MỸ PHẨM TRANG ĐIỂM
(MAKEUP)
1. ĐẠI CƯƠNG
Mỹ phẩm trang điểm là các sản phẩm
mỹ phẩm có màu giúp che giấu khuyết
điểm về sắc tố và đường nét, tạo khuôn
mặt với kích thước, hình dạng một cách
thẩm mĩ hơn, bảo vệ da với nắng phần
nào và đáp ứng nhu cầu thời trang của cá
nhân. .
Trong khoa da liễu, trang điểm cho phép
các bệnh nhân có vấn đề về sắc tố (nám,
tàn nhang, tăng sắc tố sau viêm, hồng ban
sau viêm, trứng cá đỏ, bạch biến, sẹo...)
che đậy khuyết điểm một cách hiệu quả
và đem lại cho họ chất lượng cuộc sống
tốt hơn.
Sản phẩm trang điểm có thể được sử
dụng trực tiếp lên da nhưng thông thường
được thoa trên một lớp kem dưỡng, để lớp
trang điểm được mịn màng và tạo “màng
ngăn cách với da mặt.
2. LỊCH SỬ
Việc dùng mỹ phẩm để tô điểm và
chăm sóc sắc đẹp đã có từ gần hai triệu
năm nay.
Ở các bức tranh hang động đầu tiên
của 30.000 năm trước, người ta đã mô tả
việc sử dụng trang sức và mỹ phẩm trong
những nghi thức của giao phối và săn bắn.
Người Ai Cập cổ đại đã biết dùng tinh
dầu thơm và mỡ đặc để thoa cho da trơn
mướt, dùng khói đen của đèn để nhuộm
đen chân mày và lông mi, bột kim loại anti-
moin để vẽ viền mắt và tô đậm vùng quanh
mắt. Người Trung Hoa và Nhật dùng bột
gạo, bột màu ( lấy từ lá trà xanh, rượu sa
kê ) để trang điểm. Ở châu u vào những
năm 1755-1790, người ta biết dùng phần
bột, màu phổ biến là hồng và cam.
Thế kỷ XX, phấn thoa mặt được dùng ở
phương Tây với các tông màu trắng, kem,
màu hồng và ô liu đi kèm với việc vẽ mắt
đen, xanh dương, nâu và hạt dẻ. Sau 1917,
sơn móng và son môi dạng thỏi lần lượt ra
đời. Kem nền được phát minh và cấp bằng
sáng chế vào năm 1936 bởi Max Factor.
Sau khi được dùng trong công nghiệp điện
ảnh, sản phẩm này trở nên phổ biến cho
mọi đối tượng có nhu cầu trang điểm.
3. CÁC SẢN PHẨM DÙNG CHO
TRANG ĐIỂM
Trên mặt, các sản phẩm trang điểm bao
gồm kem nền, phấn phủ, phấn má (còn gọi
là hồng), phấn màu mắt, chì kẻ mày, chì
kẻ môi, sản phẩm vẽ viền mí, mascara, tẩy
trang mắt, tẩy trang mặt, che khuyết điểm,
son màu, son bóng. Kem che khuyết điểm
của mặt cũng có thể được dùng cho thân
và chi.
3.1. Kem nền (Foundations)
Sản phẩm làm nền cho các bước trang
điểm tiếp theo trên mặt. Kem nền được
thiết kế để thêm màu sắc, giúp che giấu
các khuyết điểm về màu sắc trên mặt, tạo
sắc da khỏe và trẻ trung hơn.
3.1.1. Về mặt công thức
Có bốn công thức kem nền cơ bản là
kem pha dầu, kem pha nước, kem không
dầu và kem không nước hay còn gọi là
kem khử nước.

86
Chương 2
Chăm sóc da
Kem nền chứa dầu hoặc pha dầu được
bào chế dưới dạng nhũ tương nước -
trong - dầu bao gồm các hạt sắc tố treo
trong dầu, như là dầu vô cơ hoặc cồn
lanolin. Các loại dầu thực vật (dầu dừa,
dầu mè, dầu rum) và những ester tổng hợp
(isopropyl
myristate,
octyl
palmitate
isopropyl palmitate) cũng có thể được kết
hợp thêm. Sau khi bôi các loại kem này,
nước sẽ bốc hơi đi để lại các hạt màu đã
được làm ẩm. Các công thức chứa dầu sẽ
không bị chuyển màu khi tiếp xúc với chất
nhờn của da, vì các hạt sắc tố đã được
tráng đầy dầu, chúng dễ sử dụng và tồn tại
lâu trên da. Loại này thích hợp cho người
da khô.
Kem nền pha nước là các nhũ tương
dầu trong nước có chứa một lượng nhỏ
dầu, các hạt sắc tố sẽ được nhũ tương hóa
với một lượng nước khá lớn. Vì các hạt sắc
tố đã được tráng trong dầu nên loại kem
nền này cũng ít bị bay màu. Tuy nhiên, thời
gian sản phẩm bám trên da thường ngắn
hơn so với kem pha dầu (do thành phần
dầu thấp hơn). Chúng thường được đóng
chai và thích hợp cho người da khô ít hay
da bình thường.
Kem nền không dầu: hoàn toàn không
chứa một loại chất béo từ động vật, thực
vật hay chất béo vô cơ nào. Chất “làm trơn”
phủ các hạt sắc tố thường được dùng là sil-
icones dimethicone, hay cyclomethicone,
Silicone ít gây kích ứng, không tạo nhân
mụn và cho cảm giác khô ráo nên được
sử dụng rộng rãi và được thiết kế cho da
nhờn. Do có dạng lỏng nên sản phẩm cũng
sẽ được bảo quản trong chai.
Một cụm từ được dùng khác là “kem
chống nhờn”. Chúng chứa các chất thấm
hỗ trợ như bột talc, kaolin, hồ bột, hay
các polymer khác có khả năng hấp thu bã
nhờn ở nồng độ cao hơn. Thông thường
chúng được pha trong dimethicone. Tuy
nhiên, cũng có thể thêm chất béo vô cơ
vào một số công thức. Vì vậy, kem chống
nhờn không hẳn là kem không chứa dầu.
Kem không chứa nước hay khử nước
là các chất không thấm nước. Dầu thực
vật, chất béo vô cơ, lanolin và các ester
tổng hợp khác tạo nên lớp dầu, sau đó có
thể được trộn với sáp để làm thành kem.
Một lượng lớn hạt màu được kết hợp trong
công thức, hình thành một loại kem nền
có màu mờ đục. Các tác nhân tạo màu
được pha trong kem là titanium dioxide
với oxide sắt, đôi khi cho một hợp chất có
màu xanh nước biển đậm. Các sản phẩm
này có thể đóng gói dưới dạng lọ, ổng, hộp
phấn hay thỏi son. Chúng thường được sử
dụng để hóa trang hoặc che giấu các sẹo
vùng mặt.
3.1.2. Về mặt trình bày
Kem nền được trình bày dưới dạng
nước, dạng kem, dạng nén. Mỗi loại phù
hợp với từng loại da và thời điểm sử dụng
khác nhau.
Nền dạng nước: là loại nền ở thể lỏng,
đánh mỏng tự nhiên, có độ che khuyết
điểm thấp, nên dùng vào ban ngày và phù
hợp với người da dầu hoặc hỗn hợp.
Nền dạng kem có hai loại: dạng thỏi
(stick foundation) và dạng kem (creme
foundation). Cả hai đều là loại kem nền ở
thể đặc, có nhiều chất dầu, phù hợp với
người da khô, hoặc có nhu cầu che lấp
hoàn toàn những khuyết điểm của làn da,
dùng buổi tối, đi tiệc, trang điểm cô dâu,
trên sân khấu hoặc hóa trang.
Nền dạng nén: kết hợp của kem nền và
phấn phủ.
Kem nền có nhiều màu, màu nền sẽ tùy
thuộc vào màu da. Người ta thấy kem nền
dành cho làn da người Kavkaz sẽ được
thiết kế với ít nhất 7-8 gam màu, trong khi
dành cho người da đen phải có ít nhất 10-
12 gam màu trở lên để có thể che lấp các
đốm sắc tố da bất thường.
Gần đây, các dạng biến tấu” của kem
nền: BB cream, CC cream và D ứng dụng
nhiều. Chúng là các loại kem nền trang

87
Thẩm mỹ nội khoa
điểm đa chức năng: dưỡng da, chống nắng
và trang điểm.
BB là từ viết tắt cho Beauty Balm hoặc
Blemish Balm, gồm kem lót, kem che
khuyết điểm, kem nền trong cùng một sản
phẩm, thuận tiện cho trang điểm nhanh,
đơn giản.
CC viết tắt cho cụm từ Color Correcting
có tác dụng tương tự như BB cream,
thường có kết cấu dạng mousse nên nhẹ
thoáng hơn BB cream, có tính năng giữ
ẩm, chống nắng, điều chỉnh màu sắc và
che khuyết điểm cho da.
DD viết tắt từ chữ Daily Defense cream,
Dark Diminishing hoặc Dynamic Duo
Cream: tương tự như BB cream và CC
cream nhưng có chỉ số chống nắng cao,
khả năng | che phủ tốt và khắc phục các
khuyết điểm của các sản phẩm thế hệ
trước.
3.1.3. Cách sử dụng
Màu của kem nền cần được chọn lựa
càng tiệp với màu da tự nhiên càng tốt.
Kem nền không hợp màu da sẽ tạo ra một
đường viền phân cách màu sắc ở cạnh
hàm. Màu sắc của kem nền nên được
chọn dưới ánh sáng tự nhiên, vì ánh sáng
đèn tại các cửa hiệu có thể gây sai lệch sự
cảm nhận về màu sắc.
Kem nền được thoa bằng đầu ngón tay
hoặc bông phấn mousse, chấm nhẹ một ít
kem lên trán, mũi, cằm và má, rồi tán đều
theo vòng tròn cho đến khi kem trải khắp
khuôn mặt kể cả môi. Sau đó, có thể dùng
tiếp bông phấn phủi nhẹ từ trên xuống dưới
để xóa đi những vệt kem và ép phẳng các
sợi lông tơ ở mặt. Chúng ta cũng nên kiểm
tra xem kem nền đã tan hết chưa và không
để bám kem ở đường chân tóc, trước tại
và dưới cằm.
3.1.4. Các thành phần thường gặp
trong sản phẩm kem nền
Stearic acid
Dimethicone
Glycerin
Propylene glycol
Talc
Ascorbyl palmitate
Lecithin
Squalene
Copernicia cerifera (Carnauba) wax
Butylene glycol
Tocopherol
Tocopheryl acetate
Cyclomethicone
Triethanolamine
Magnesium aluminum silicate
Dầu khoáng (mineral oil)
Silica Fragrance (hương liệu)
Các thành phần thực vật (dầu thực vật...)
Chất tạo màu
Cellulose gum
Nước

88
Chương 2
Chăm sóc da
Bảng 1. Chọn lựa màu sắc kem nền cho các khiếm khuyết về sắc tố trên mặt
Màu vùng da mặt
Bệnh lý
Màu của kem nền
Đỏ
Vảy nến, lupus, rosacea
Kem nền trên lớp lót màu
xanh
Vàng
Solar elastosis, sắc da
vàng nhạt sau thẩm phân
hoặc hóa trị
Kem nền trên lớp lót màu
tím
Nâu (tăng sắc tố)
Nám, tàn nhang, nevi
Kem nền trên lớp lót màu
trắng
Giảm hoặc mất sắc tố
Sau viêm, bạch biến, bẩm
sinh.
Kem nền trên lớp lót màu
nâu
3.1. Kem che khuyết điểm
(Concealers)
Kem che khuyết điểm là sản phẩm sử
dụng các màu và chất liệu giúp che giấu
hoặc che phủ các vùng da không hoàn
hảo trên mặt hoặc có thể thông qua các
hiệu ứng về ánh sáng. Các kem che khuyết
điểm được bào chế thành các sản phẩm
có độ mờ để các bất thường về màu sắc
của lớp da bên dưới không bị lộ ra.
Chúng có thể được dùng cho mặt lẫn
các khuyết điểm về màu sắc của thân
và chi; được để lên da bằng tay, cọ, bông
phấn hoặc phun và thường được sử dụng
kết hợp với kem nền. Kem che khuyết điểm
có nhiều màu, màu càng tối thì che giấu
sẹo càng tốt.
Nhìn chung, bất cứ hãng mỹ phẩm nào
cũng có kem che khuyết điểm riêng để
dùng một cách phù hợp với kem nền và
phấn phủ của họ. Hai nhãn hiệu kem che
khuyết điểm nổi tiếng và chuyên nghiệp
trong y khoa là Dermablend (của Vichy) và
Covermark (của O’Leary)
Các thành phần thường gặp trong sản phẩm kem che khuyết điểm
Ricinus communis (Castor) seed oil
Dimethicone
Glycerin
Talc
Hydrolyzed rice protein
Glyceryl stearate
Kaolin
Mineral oil
Hydrolyzed corn starch
Hương liệu
Oleyl alcohol
Sodium chloride
Chất màu
Nước

89
Thẩm mỹ nội khoa
Phấn phủ
Lớp phấn đánh trên lớp kem nền hoặc
kem che khuyết điểm giúp ổn định màu,
thấm hút mồ hôi và chất bóng nhờn, tạo
một lớp bao phủ mờ và mịn màng cho da.
Phấn phủ được đóng gói dưới dạng hộp
phấn nén hoặc hộp bột phấn rời và được
phết lên da bằng bông phấn hoặc bằng cọ.
Các thành phần thường gặp trong phấn phủ
Các thành phần thường gặp trong sản phẩm phấn má
Dimethicone
Glycerin
Talc: chủ yếu
Ascorbyl palmitate
Lanolin oil
Squalane
Tocopherol
Tocopheryl acetate
Kaolin zinc
Sorbitan sesquiisostearate
Mineral oil
Magnesium carbonate
Magnesium stearate
Kẽm stearate
Đá phần tinh chế
Oxid kẽm
Silica
Hương liệu
Các thành phần thực vật
(botanical ingredients)
Chất tạo màu (colorants)
Bột talc
Glycerin
Potassium alimium
Camphor
Isopropyl myristate
Sorbitan stearate
Alcohol denat
Zinc oxide
Carbomer
Hương liệu
Chất tạo màu
Các thành phần từ thực vật
Bột talc (silicate magnesium khử nước):
Là thành phần chính của phấn phủ. Sau đó
là một lượng lớn các chất màu để bao phủ.
Các chất màu dùng cho phần mặt được
liệt kê theo thứ tự có độ mờ tăng dần như
sau: titanium dioxide, kaolin, magnesium
carbonate, magnesium stearate, kẽm
stearate, đá phần tinh chế, oxid kẽm, tinh
bột gạo, bột phần kết tinh và bột talc.
3.3. Phấn má (má hồng)
Là các sản phẩm có màu giúp làm tăng
màu hồng của đôi má cũng như để nhấn
mạnh, làm nổi bật xương gò má hoặc che
phủ các khuyết điểm của da vùng này.
Có hai loại: dạng bột và dạng kem. Má
hồng dạng bột thông dụng hơn, được cấu
tạo giống như phấn nén thoa mặt chỉ khác
về màu sắc và độ nhũ. Má hồng dạng kem
có công thức giống như kem lót khử nước,
cũng chỉ khác về màu sắc và độ nhũ. Dạng
kem phù hợp với người da khô và nên dùng
vào mùa lạnh hơn.
Má hồng được thoa lên má ở điểm
ngay dưới đồng tử, sau đó sẽ được quét
rộng lên phía trên và ra ngoài hai bên mắt.

90
Chương 2
Chăm sóc da
Ricinus Communis (Castor) Seed Oil
Glycerin
Sáp: sáp ong trắng, sáp lanolin, sáp , sáp
cọ carnauba, sáp cresin và các loại tổng
hợp khác.
Propylene glycol
Polybutene
Stearalkonium hectorite
Mica
Titanium dioxide
Zinc oxide candelilla
Carbomer
Mineral oil
Chất tạo mùi
Các thành phần thực vật
Chất màu
3.4. Son môi
Là sản phẩm có màu và kết cấu giúp
đôi môi có màu sắc tươi thắm và mọng
bóng. Son thường được dùng bằng cọ
hoặc tô trực tiếp lên môi.
3.4.1. Lịch sử
Phẩm màu dùng cho mỗi đã có mặt từ
thời Sumerians, khoảng 7000 trước Công
nguyên. Khác với các sản phẩm trang điểm
khác, son môi có lịch sử đầy “thăng trầm”.
Ở Hy Lạp vào năm 1000 trước Công
nguyên, son đỏ được gái mại dâm sử dụng
để phân biệt với những người phụ nữ có
đẳng cấp trong xã hội. Trong nhiều thế kỷ,
dấu son đó được xem như một hình ảnh
đánh dấu tội lỗi.
Vào thế kỷ XVII, nhà thờ cho rằng trang
điểm là việc làm của ma quỷ và những ai
dùng son được xem như phù thủy. Trong
thời đại Victoria ở thế kỷ XIX, việc dùng
son bị cấm tại Anh. Đến thế kỷ XX, son môi
mới thịnh hành trở lại và công đầu thuộc
về Hollywood
Hollywood đã đem son môi trở lại với
phái đẹp, khi các diễn viên thoải mái dùng
son trên màn ảnh cũng là lúc nhiều phụ nữ
bắt chước làm theo.
Đầu những năm 1900, son môi được
làm chủ yếu từ thuốc nhuộm và thoa lên
môi bằng chổi nhỏ. Khoảng năm 1915,
cây son dạng ống hình trụ có thể đẩy
lên bắt đầu xuất hiện. Vài năm sau, các
thương hiệu như Estée Lauder, Chanel hay
Elizabeth Arden bắt đầu sản xuất và bán
son dạng thỏi.
3.4.2. Các thành phần thường gặp
trong sản phẩm son môi
Độ an toàn của chất màu dùng trong
son môi rất quan trọng và cần được đặc
biệt chú ý vì son là sản phẩm có thể lọt
vào miệng.
FDA chia những loại màu đã được
chứng nhận thành ba nhóm: màu FD & C,
màu D & C và màu dùng cho mỹ phẩm cũng
như thuốc thoa ngoài da. Chỉ có hai nhóm
đầu được dùng trong son môi, nhóm thứ
ba chỉ dùng ở các vị trí mà chúng không
thể rời vô miệng.
3.5. Chì vẽ môi
Trình bày dưới hình thức các thanh sắc
tố được vặn đùn lên hoặc dạng bút chì và

hacklink satın al mumu模拟器 雷电模拟器 向日葵 giftcardmall/mygift giftcardmall balance mygift giftcardmall matbet matbet giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş matbet matbet giriş matbet güncel giriş vaycasino vaycasino güncel giriş vaycasino giriş matbet matbet giriş pusulabet pusulabet giriş pusulabet pusulabet güncel giriş pusulabet giriş matbet matbet güncel giriş matbet giriş pusulabet pusulabet giriş pusulabet güncel giriş Fixbet Fixbet Güncel Giriş Salvobet Salvobet Giriş Salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Turk Porno Turk Porno Giriş Turk Porno casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi casibom casibom jojobet izmir escort izmir buca escort buca escort jojobet casibom jojobet jojobet jojobet jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş izmir escort izmir buca escort buca escort izmir escort bayan salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Giriş Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Deneme Bonusu Veren Giriş Deneme Bonusu Veren salvobet salvobet salvobet salvobet Casibom betgaranti betgaranti betgaranti matbet matbet giriş matbet matbet giriş Casibom Casibom Salvobet jojobet Salvobet Salvobet Salvobet Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Güncel Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis bahsegel Fixbet Fixbet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş 1xbet 1xbet Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş perabet giriş perabet perabet güncel giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Listesi Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler grandpashabet grandpashabet grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler vaycasino vaycasino giriş Casibom Casibom Giriş www.giftcards.com Marsbahis Casibom Casibom Casibom Casibom Casibom Grandpashabet Grandpashabet Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Marsbahis Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Casibom Fixbet Fixbet Giriş Casibom Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Holiganbet Holiganbet Güncel Adres Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Resmi Adres Matbet Matbet Matbet Güncel Adres Pusulabet Pusulabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler holiganbet holiganbet giriş holiganbet holiganbet giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Giriş Adresi Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Casibom Casibom Güncel Adres Holiganbet Holiganbet Güncel Adres Salvobet Salvobet Giriş Adresi Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Salvobet Salvobet Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Giriş Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Marsbahis Marsbahis Resmi Adres Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Casibom Pusulabet Pusulabet Güncel Giriş Casibom Casibom perabet perabet giriş Casibom jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş casibom giriş casibom giriş pokerklas marsbahis holiganbet holiganbet giriş Deneme Bonusu Veren Siteler holiganbet holiganbet giriş Deneme Bonusu Veren Siteler pokerklas jojobet jojobet Casibom Casibom Casibom imajbet casibom holiganbet giriş canlı maç izle canlı maç izle canlı maç izle canlı maç izle canlı maç izle Casibom Casibom Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Casibom Casibom Güncel Adres Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler holiganbet Trabzon escort Trabzon escort bayan ortahisar escort escort trabzon Pusulabet Casibom Deneme Bonusu Veren Siteler Casibom Güncel Giriş Pusulabet Güncel Giriş Casibom Casibom Casibom Casibom Casibom