thẩm-mỹ-nội-khoa-full-chinh-sua_compressed

21/11/2025 • by Bs CKI Phẫu thuật tạo hình, tái tạo và thẩm mỹ Trương Hoài Anh • botox
Bìa sách Thẩm Mỹ Nội Khoa chủ biên TS.BS Nguyễn Trọng Hào

Giới thiệu về sách Thẩm Mỹ Nội Khoa

Trong bối cảnh nhu cầu làm đẹp không phẫu thuật ngày càng tăng cao, cuốn sách “Thẩm Mỹ Nội Khoa” do TS.BS. Nguyễn Trọng Hào (Giám đốc Bệnh viện Da Liễu TP.HCM) chủ biên là một tài liệu y khoa chính thống, cập nhật và vô cùng giá trị. Đây là sản phẩm trí tuệ của tập thể y bác sĩ Bệnh viện Da Liễu TP.HCM, được biên soạn nhằm chuẩn hóa kiến thức và phục vụ công tác đào tạo liên tục cho chuyên ngành da liễu thẩm mỹ.

Nội dung chính của tài liệu

Cuốn sách được chia thành 5 chương lớn, bao quát toàn bộ các khía cạnh từ cơ bản đến nâng cao của thẩm mỹ nội khoa, giúp người đọc nắm vững kiến thức nền tảng và các kỹ thuật thực hành lâm sàng hiện đại.

Chương 1: Đại cương

Cung cấp cái nhìn tổng quan về quan điểm sắc đẹp, nhân trắc học, cấu trúc da, giải phẫu học vùng mặt và cổ. Đặc biệt, chương này đi sâu vào phân loại da (da khô, da nhờn, da nhạy cảm), dinh dưỡng và các yếu tố ảnh hưởng đến sự lành vết thương.

Chương 2: Chăm sóc da

Hướng dẫn chi tiết về các sản phẩm và quy trình chăm sóc da khoa học. Nội dung bao gồm mỹ phẩm trang điểm, chất làm sạch, chất giữ ẩm, các hoạt chất làm trắng, chống nắng, chăm sóc tóc, móng và đặc biệt là quy trình chăm sóc da sau điều trị laser.

Chương 3: Các tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ

Phân tích chuyên sâu về bệnh học và phác đồ điều trị các vấn đề thẩm mỹ phổ biến như: lão hóa da, nám da (melasma), tăng sắc tố sau viêm, mụn trứng cá, bạch biến, sẹo (lồi, rỗ), rạn da, da sần vỏ cam (cellulite) và xóa xăm.

Chương 4: Laser, ánh sáng và các thiết bị phát năng lượng

Trình bày nguyên lý và ứng dụng lâm sàng của các công nghệ cao trong thẩm mỹ: Laser CO2, IPL, RF, sóng siêu âm hội tụ (HIFU/MFU), đèn LED và các loại laser triệt lông, điều trị mạch máu, sắc tố. Chương này cũng đề cập đến an toàn laser và xử trí biến chứng.

Chương 5: Thủ thuật thẩm mỹ và phẫu thuật da

Hướng dẫn kỹ thuật thực hiện các thủ thuật xâm lấn tối thiểu và phẫu thuật da cơ bản: tiêm Botulinum toxin, chất làm đầy (Fillers), Mesotherapy, thay da sinh học (Chemical Peel), lăn kim, PRP, căng chỉ và các phẫu thuật móng, cấy tóc.

Giá trị thực tiễn

Đây là tài liệu tham khảo không thể thiếu đối với các bác sĩ da liễu, bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ và các học viên đang theo đuổi lĩnh vực thẩm mỹ nội khoa, giúp nâng cao tay nghề và đảm bảo an toàn, hiệu quả trong điều trị cho bệnh nhân.

Trang: / 518
Trang 1 Trang 2 Trang 3
📖 Xem bản dịch / Nội dung văn bản

191
Thẩm mỹ nội khoa
cải thiện màu da. Các yếu tố tăng trưởng
có thể giúp da phục hồi, làm trắng và đều
màu da hơn, nhưng cũng có thể kích thích
melanocyte tăng tổng hợp melanin. Tránh
lăn kim, đặc biệt là người da sậm màu vì
có thể làm nặng thêm tình trạng PIH. 7.3.
Chất sáng da toàn thân
Nhiều trường hợp can thiệp tại chỗ làm
nặng thêm PIH, có thể sử dụng các chất
chống oxy hóa đường toàn thân: GSH,
L-cysteine peptides, vitamin C, chiết xuất
thiên nhiên. Tranesemic acid đường toàn
thân gần đây cũng cho thấy hiệu quả cải
thiện sắc tố và làm đều màu da. 7.4. Mỹ
phẩm trang điểm
Trong các trường hợp PIH sậm màu,
kém đáp ứng điều trị hay đang trong giai
đoạn điều trị, có thể sử dụng các loại mỹ
phẩm che khuyết điểm và làm đều màu
da, có thể giúp cải thiện hình thức và chất
lượng cuộc sống cho bệnh nhân, nhất là
khi PKH ở những vùng da dễ thấy như
mặt, cổ, tay. Cần chọn các loại mỹ phẩm
che lấp được những vùng da tăng sắc tố
mà vẫn tiếp với màu da thật và bền màu,
không nhờn rít, không trôi.
8. KẾT LUẬN
Ở người da sậm màu, tình trạng tăng
sắc tố sau viêm khá thường gặp và gây
một số khó khăn trong thực hành lâm
sàng. Tuy vậy, vẫn có nhiều lựa chọn điều
trị đối với tình trạng PIH, kể cả thuốc bôi
tại chỗ, các thủ thuật can thiệp và thuốc
đường toàn thân. Cần khởi động điều trị
sớm và đúng mức để cải thiện nhanh
cũng như tránh làm nặng thêm PIH. Các
phương pháp như peel hay laser được xem
như điều trị hỗ trợ hoặc thay thế cho các
thuốc bôi tại chỗ. Tư vấn bệnh nhân các
biện pháp tránh nắng triệt để và không
quên sử dụng kem chống nắng trong suốt
quá trình điều trị.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Oram Y, Akkaya AD, (2014) Refracto-
ry Postinflammatory Hyperpigmentation
Treated Fractional CO2 Laser, The Jour-
nal of Clinical and Aesthetic Dermatology.
7(3):42-44.
2. Callender VD et al, (2011) Postin-
flammatory Hyperpigmentation: Etiologic
and Therapeutic Consid erations, Am J
Clin Dermatol : 12 (2): 87-99
3. Davis EC, Callender VD, (2010) Post-
inflammatory Hyperpigmentation: A Re-
view of the Epidemiol ogy, Clinical Fea-
tures, and Treatment Options in Skin of
Color, The Journal of clinical and aesthet-
ic dermatology;3(7):20-31.
4. Katz TM, Goldberg LH, Firoz BF,
Friedman PM, (2009) Fractional photo-
thermolysis for the treatment of postin-
flammatory hyperpigmentation, Dermatol
Surg. 35(11):1844-8.
5. Cho SB, Park SJ, Kim JS, Kim MJ,
Bu TS, (2009)Treatment of post-inflam-
matory hyperpigmentation using 1064-nm
Q-switched Nd:YAG laser with low fluence:
report of three cases, J Eur Acad Dermatol
Venereol. 2009 Oct;23(10):1206-7.
6. Susan Taylor et al, (2009) Postin-
flammatory Hyperpigmentation, Journal
of Cutaneous Medicine and Surgery, Vol
13, No 4 (July/August), pp 183–191
7. Ahn HH, Kim IH, (2006) Whitening
effect of salicylic acid peels in Asian pa-
tients, Dermatol Surg.32(3):372-5; discus-
sion 375.
8. Ramon Ruiz-Maldonado, (1997)
Postinflammatory hypopigmentation and
hyperpigmentation, Semi nars in Cutane-
ous Medicine and Surgery, Vol 16, No 1:
pp 36-43

192
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
MỤN TRỨNG CÁ THÔNG THƯỜNG
(ACNE VULGARIS)
1. ĐẠI CƯƠNG
Mụn trứng cá là một bệnh có tỉ lệ
hiện mắc cao trong chuyên khoa da liễu,
thường gặp trong lứa tuổi thanh thiếu niên.
Tuy nhiên, vẫn có thể mắc bệnh trong giai
đoạn từ 30 - 50 tuổi.
Hiện nay, mụn trứng cá được xem là
bệnh mạn tính, ảnh hưởng nhiều đến chất
lượng cuộc sống, nhất là với thanh niên.
Mụn trứng cá có cơ chế bệnh sinh phức
tạp, do đó điều trị cần phối hợp nhiều biện
pháp và kéo dài đủ liệu trình, đặc biệt là
cần phải được điều trị tích cực, kịp thời để
hạn chế bệnh và di chứng của nó.
2. NGUYÊN NHÂN
Mụn trứng cá là bệnh của đơn vị nang
lông tuyến bã với bốn cơ chế chính phối
hợp như sau: tăng sinh chất bã trong tuyến
bã, thay đổi tiến trình sừng hóa ở cổ nang
lông sự hiện diện và hoạt tính của vi khuẩn
Propionibacterinum acnes (P. acnes) và
phản ứng viêm.
2.1. Sự tăng sinh chất bã trong tuyến
bã
Chất bã được tổng hợp từ tuyến bã, một
thành phần của đơn vị nang lông tuyến bã.
Dihydrotestosterone (DHT) là một hóc môn
sinh dục nam (androgen) mạnh có vai trò
quan trọng trong sinh bệnh mụn trứng cá.
DHT gây giãn tuyến bã, tăng sinh và biệt hóa
tế bào tuyến bã qua đó làm tăng tiết chất
bã. DHT được tạo thành từ Testosterone
nhờ men chuyển 50-Reductase. Men
5α-Reductase có hoạt tính mạnh nhất ở
các vùng da mặt, ngực và lưng.
Sự tăng tiết chất bã làm tăng khả năng
phát bệnh mụn trứng cá chứ không phải là
nguyên nhân duy nhất của bệnh.
2.2. Sự tăng sừng tại cổ nang lông
Có sự bất thường trong quá trình biệt
hóa và tăng sinh của tế bào sừng tại ống
dẫn nang lông, những tế bào sừng bị kết
dính với nhau, tạo thành nút chặn, bít kín
miệng nang lông không cho chất bã thoát
ra ngoài, làm cho chất bã ứ lại, dẫn đến
tuyến bã phình to ra tạo nên nhân mụn.
Nguyên nhân của sự tăng sừng này
được cho là do gia tăng tính kết dính của
các tế bào sừng ở miệng nang lông, giảm
bong sừng, giảm số lượng acid linoleic, sự
kích thích của androgen, sự tăng hoạt tính
của Interleukin 1 (IL-1) và tác động của P.
acnes.
2.3. Sự hiện diện và hoạt tính của vi
khuẩn Propionibacterium acnes
(P acnes)
P acnes là vi khuẩn kỵ khí, thường trú
ở khoang miệng, ruột già, kết mạc, ống
tai ngoài và ở da đặc biệt là ở nang lông
tuyến bã. P acnes có thể sinh nhân mụn
qua nhiều cơ chế: P. acnes thuỷ phân
triglycerides tạo ra acid béo và acid béo
tạo nhân mụn, P. acnes có thể gây ra các
biểu hiện của intergrin B1, 03, 06 và flagrin
trên tế bào thượng bì, thúc đẩy sự tăng
sinh và biệt hóa tế bào sừng, P. acnes dưới
dạng biofilm đã có tác dụng như một chất
hồ, kết dính các tế bào sừng gây cản trở
bài tiết chất bã. P acnes còn có thể gây
mụn trứng cá qua các cơ chế đáp ứng
viêm: Pacnes kích thích cytokines thông
qua đường Toll-like receptor 2, P acnes có

193
Thẩm mỹ nội khoa
đặc tính sinh kháng nguyên, P acnes có
đặc tính hóa ứng động hấp dẫn các bạch
cầu đến tập trung tại các nang lông và có
thể làm nặng thêm tiến trình viên bằng các
hệ thống men của nó.
2.4. Phản ứng viêm
Nhiều nghiên cứu cho thấy hiện tượng
viêm dưới lâm sàng xảy ra trên nền da bình
thường, đôi khi được thấy sớm trước khi
có nhân mụn trứng cá hoặc sự tăng sừng
tại miệng nang lông.
Hiện tượng viêm trong mụn trứng cá
được xảy ra qua tác động của nhiều cơ
chế:
- Sự đáp ứng của tế bào T giúp đỡ, qua
đó các cytokines được bài tiết ra. Các
cytokines IL-12, TNF-B, IFN-Y đã được
phát hiện tại các nang lông không bị tổn
thương.
- Acid linoleic có nồng độ thấp trong
bệnh nhân mụn trứng cá, sự thiếu hụt
acid linoleic có thể dẫn đến giải phóng
các cytokines tiền viêm IL-10, TNF-Y.
- Leucotrien B4 (LTB4) là một chất trung
gian tiền viên được tổng hợp từ acid
arachidonic. Các tiền chất leucotrien
được tổng hợp trong tuyến bã. Leucot-
rien cũng gây nên sự xâm nhập và hoạt
hóa bạch cầu đơn nhân và đa nhân.
- Đáp ứng miễn dịch bẩm sinh.
2.5. Các yếu tố khác
Những yếu tố ảnh hưởng đến mụn
trứng cá như: di truyền, cơ chế điều hòa
nội tiết thần kinh, chế độ ăn uống nhiều
đường sữa và một số yếu tố môi trường,
lạm dụng mỹ phẩm và thuốc bôi có
corticoid.
3. TRIỆU CHỨNG
Thương tổn trong mụn trứng cá rất đa
dạng gồm nhân mụn trứng cá, sẩn, mụn
mủ, nang, nốt, sẹo và có thể gặp ở nhiều
giai đoạn khác nhau.
Thương tổn da: có hai loại thương tổn
là không viêm và viêm.
Thương tổn không viêm: mụn cồi hay
nhân trứng cá (comedon) do ứ đọng các
chất bã trong lòng tuyến bã. Có hai loại:
- Nhân trứng cá mở hay mụn đầu đen
(black heads): Màu đen này là do tích tụ
các lipids bị oxy hóa, nhiều sắc tố mel-
anin và các tế bào sừng bị nén lại chứ
không phải bị “do”, hoặc do bụi.
- Nhân trứng cá đóng hay mụn đầu
trắng (white heads) hay nang nhỏ (mi-
crocyst): Là những chấm nhỏ màu trắng
ngà, dưới da, đường kính vài mm do chất
bã không thoát ra ngoài được.
Thương tổn viên:
- Sẩn nhỏ có quầng viêm đỏ chung
quanh.
- Nốt, cục sưng, mềm, lớn. Một vài nốt
tạo thành nang ở sâu. Các cục sau này có
thể hóa mềm tạo ra áp-xe, sau đó để lại
sẹo rất xấu.
Vị trí: vùng tiết bã nhờn nhiều như:
- Mặt: nhiều nhất ở hai bên má.
- Mũi, trán, cằm ít bị hơn.
- Tại: nang ở dái tai.
- Ở nam giới: vai, vùng trước ngực, lưng
có thể bị.
- Da mặt thường bóng, lỗ chân lông to,
tiết nhiều chất nhờn

194
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
4. DI CHỨNG
4.1. Dát thâm
Phản ứng viêm trong mụn trứng cá kích
thích tế bào sắc tố làm tăng tổng hợp sắc
tố melanin, tăng sự phân bổ melanin trong
lớp sừng. Phản ứng viêm cũng làm tổn
thương màng đáy, dẫn đến tích tụ melanin
trong lớp bì. Như vậy, sau khi các thương
tổn mụn trứng cá hồi phục, vết thâm sẽ
được hình thành, trong thượng bì và trong
bì. Tỉ lệ có vết thâm ở bệnh nhân mụn
trứng cá Việt Nam là khá cao: nam 78,3%,
nữ là 76,7%. Tỉ lệ này cao hơn nhiều so với
người Mỹ gốc Phi, người Latin, người Da
trắng, châu Á và Mỹ gốc Ấn với tỉ lệ lần lượt
là 65%, 48%, 25%, 18% và 10%, trong một
nghiên cứu của Perkin năm 2014 tại Mỹ.
4.2. Seo
Sẹo có thể xảy ra do tổn thương da
trong suốt quá trình hoạt tính và hồi phục
của mụn trứng cá. Quá trình lành thương
tiến triển qua ba giai đoạn: viêm, tăng sinh
và hình thành mô hạt và tái tạo chất nền.
Có hai loại sẹo cơ bản tùy thuộc vào sự
tăng sinh hay mất collagen: sẹo lõm và
sẹo lồi. Sẹo lõm có các dạng: sẹo hình
thùng, hình lòng chảo, hình phễu. Sẹo lồi
có sẹo lồi và phì đại.
Đặc tính di truyền là một yếu tố quan
trọng trong việc hình thành sẹo ở bệnh
nhân.
5. ĐIỀU TRỊ
5.1. Nguyên tắc chung
Điều quan trọng là phải thu thập tiền
sử điều trị, bao gồm tất cả các thuốc bệnh
nhân tự mua (OTC), liều lượng, thời gian,
kết hợp, các phản ứng phụ. Lưu ý, các
thuốc corticosteroid, steroid đồng hoá,
thuốc an thần kinh, lithium có thể làm mụn
nặng hơn.
Cần lưu ý tiền sử gia đình và xu hướng
tạo sẹo.
5.2. Thuốc thoa tại chỗ
Các retinoid
Có tác dụng làm bình thường hóa sự
bong vảy, giảm tạo comedones và ức chế
phát triển các tổn thương mới. Ngoài ra,
nó cũng có tác dụng chống viêm, ức chế
hoạt động của bạch cầu, giảm giải phóng
các cytokines tiền viêm và các chất trung
gian khác, giảm hoạt động của các thụ thể
TLR.
Các sản phẩm gồm có tretinoin,
adapalene và tazarotene. Các retinoid có
thể làm giảm sự tăng sắc tố sau viêm, Các
retinoid có thể tác gây kích ứng, đỏ da và
khô da.
Benzoyl peroxide
Benzoyl peroxide có tác dụng kháng
khuẩn mạnh và chưa bị đề kháng bởi P
acnes. Nó làm giảm số lượng P acnes và
ly giải triglycerid. Nó có tác dụng tiêu nhân
mụn. Benzoyl peroxide có thể gây kích ứng
da và làm bong vảy.
Thuốc kháng sinh tại chỗ
Thuốc clindamycin tại chỗ có hiệu
quả trong điều trị mụn trứng cá nhẹ. Nên
điều trị đồng thời với benzoyl peroxit hoặc
retinoid để hạn chế đề kháng kháng sinh.
Dapson dạng thoa tại chỗ cũng có hiệu
quả.
Các thuốc khác
Acide azelaic có tác dụng tiêu sừng và
giảm viêm.
Lưu huỳnh, natri sulfacetamit, resorcin
và acid salicylic vẫn còn hữu ích.

195
Thẩm mỹ nội khoa
5.3. Thuốc đường toàn thân
Kháng sinh
Chỉ định cho mụn trứng cá mức độ
trung bình và nặng. Không được dùng
kháng sinh đơn độc. Cần phối hợp với các
biện pháp trị liệu khác.
Kháng sinh điều trị mụn trứng cá gồm
có các nhóm sau:
- Nhóm tetracyclin. Là kháng sinh thuộc
nhóm ưa lipid, các tetracyclin có thể
thấm sâu vào chất bã trong nang lông.
Nó có tác dụng kìm khuẩn, làm giảm số
lượng P. acnes. Nó cũng làm giảm nồng
độ acid béo tự do, do đó cũng có tác
dụng chống viêm.
Liều dùng: 100 mg x 2 v/ngày.
- Nhóm macrolides. Là kháng sinh thuộc
nhóm ưa lipid, có tác dụng kìm khuẩn,
làm giảm số lượng P acnes và cũng có
tác dụng chống viêm. Erythromycin,
clindamycin đã bị đề kháng nhiều, do đó
azithromycin đã được sử dụng thay thế
nhiều hơn.
Azithromycin: 250 mg x 2v/ngày x 3
ngày/tuần.
- Trimethoprim - Sulfamethoxazole,
DDS: cũng có hiệu quả trong mụn trứng
cá. Tuy nhiên, lưu ý tác dụng phụ, dễ gây
dị ứng thuốc.
- Cephalexin, Cephalosporin thế hệ thứ
nhất, có tác dụng diệt khuẩn P. acnes in
vitro. Tuy nhiên, vì nó là là kháng sinh
ưa nước, không có tính ưa lipid nên khó
thấm vào nang lông.
Liệu pháp nội tiết
Có thể chống lại tác dụng của
androgen trên tuyến bã nhờn. Thuốc ngừa
thai uống có thể cải thiện mụn bằng bốn
cơ chế chính. Thứ nhất, chúng làm giảm
lượng androgen sinh dục bằng cách ức
chế sản xuất luteinizing hormone (LH);
thứ hai, giảm lượng testos terone tự do
bằng cách tăng sản xuất globulin gắn kết
hormon sinh dục, thứ ba, chúng ức chế
hoạt động của hoạt tính reductase 5-0,
cuối cùng, progestin có thể ngăn chặn các
thụ thể androgen trên keratinocytes và se-
bocytes.
Isotretinoin
Việc sử dụng isotretinoin đường uống
đã cách mạng hóa việc điều trị mụn trứng
cá kháng trị liệu.
Cơ chế tác dụng của isotretinoin chưa
được hiểu hoàn toàn. Thuốc gây ức chế
hoạt động của tuyến bã nhờn. Trong một
số bệnh nhân, ức chế tuyến bã vẫn tiếp tục
năm, nhưng phần lớn bệnh nhân, bã nhờn
được sản xuất trở lại bình thường sau 2-4
tháng. Quần thể P. acnes cũng giảm trong
quá trình sử dụng Isotretinoin. Tuy nhiên,
isotretinoin không có tác dụng ức chế P.
acnes in vitro. Vì vậy, tác dụng đó có thể
là gián tiếp, do làm giảm lượng lipid cần
thiết trong nang lông để P. acnes phát
triển. Isotretinoin cũng có tác dụng chống
viêm và có thể làm giảm sự tăng sừng hóa
tại nang lông. Những hiệu ứng này cũng là
tạm thời.
5.4. Các liệu pháp điều trị khác
LED (Light Emitting Diode: đi-ốt phát
quang)
Tạo ra nhiều ánh sáng có bước sóng
khác nhau nằm trong vùng hồng ngoại
không nhìn thấy được và trong vùng ánh
sáng nhìn thấy được với cường độ thấp.
Những bước sóng thường dùng bao gồm:
màu xanh dương (400-470), màu xanh lá
cây (470-550), màu đỏ (630-700) và vùng
gần hồng ngoại (NIR) (700-1200). Tùy
vào các bước sóng khác nhau, LED có tác
dụng làm giảm số lượng P acnes, chống
viêm, ngăn ngừa tăng sắc tố sau viêm và
tăng quá trình lành thương.

196
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
Intense pulsed light (IPL)
Trong quá trình phát triển, P acnes sản
xuất porphyrin trong nang lông. IPL kích
thích porphyrin, tạo ra oxy đơn nguyên tử,
tiêu diệt có chọn lọc vi khuẩn yếm khí P.
acnes.
Photodynamic therapy (liệu pháp quang
động học) PDT
PDT được giới thiệu là dùng một chất
nhạy ánh sáng để điều trị chọn lọc trên
da. Thoa aminolevulinic acid (ALA) hoặc
methylaminolevulinate
(MAL)
lên
tổn
thương, sau đó chiếu ánh sáng. Phương
pháp này kích hoạt các porphyrin và làm
tổn thương các tuyến bã nhờn, cải thiện
mụn trứng cá.
Laser KTP với liều năng lượng thấp có thể
được sử dụng để kích hoạt các porphyrins
của P. acnes giải phóng các phân tử gốc
tự do tiêu diệt vi khuẩn.
Các laser diode 1.450 nm, laser
yttrium aluminum garnet (Nd:YAG) và
laser erbium (1.540 nm) có bước sóng dài,
thâm nhập sâu trong da có thể làm giảm
hoạt động tuyến bã nhờn bằng nhiệt và
có hiệu quả trong điều trị các tổn thương
viêm.
Dược mỹ phẩm và liệu pháp hỗ trợ điều
trị mụn trứng cá
Rửa mặt: Các loại chất tẩy rửa được
sử dụng cho mụn trứng cá bao gồm chất
tẩy rửa không chứalipid, chất tẩy rửa tổng
hợp (syndets), chất làm se, chất tẩy tế bào
chết, hoặc chất mài mòn nhẹ và có thể ở
dạng thanh hoặc dung dịch.
Rửa mặt với chất tẩy rửa cũng đã được
chứng minh có thể giảm tổn thương viêm
và không viêm trong mụn trứng cá khi thực
hiện hai lần mỗi ngày.
Khuyến cáo là nên dùng chất tẩy rửa
nhẹ có pH hơi acid hoặc trung tính, không
chứa cồn, không mài mòn, có thể dễ dàng
rửa sạch, có chứa benzoyl peroxide hoặc
salicylic acid; và được sử dụng hai lần mỗi
ngày.
Chất làm ẩm đặc biệt dùng cho điều trị
mụn trứng cá có khả năng giảm độ khô và
cảm giác châm chích khi dùng các thuốc
BP0, tretinoine do đó cải thiện sự tuân thủ
điều trị. Đề xuất chung là sử dụng chất làm
ẩm một lần một lần mỗi ngày vào buổi
sáng.
Các chất chống bã nhờn có tính chống
viêm. Các chất làm mềm có trong các sản
phẩm kiểm soát bã nhờn đã được chứng
minh là hấp thụ và giữ được bã nhờn, giảm
độ bóng của da và giảm nguy cơ hình
thành nhân mụn trứng cá và mụn trứng cá
viêm.
Kết quả của một số nghiên cứu lâm
sàng đã cho thấy hoạt tính làm giảm bã
nhờn của retinoid, đặc biệt là adapalen,
cũng như liều thấp clindamycin, nicotin-
amide, benzoyl peroxide, acid azelaic, các
hợp chất kẽm,
Thuốc tiêu sừng: Các thuốc tiêu sừng
như retinaldehyde, retinol, alpha-hydroxy
acid (e.g., glycolic acid), beta-hydroxy acid
(e.g., salicylic acid), and polyhydroxy acid
(e.g., lactobionic acid and gluconolactone)
có nồng độ thấp trong nhiều loại kem có
tác dụng làm dịu và làm sáng da.
Chất bảo vệ da và tẩy trắng: Vì rối loạn
sắc tố là một di chứng thường gặp của
mụn trứng cá ở người châu Á, việc phòng
ngừa và điều trị tình trạng này rất quan
trọng. Salicylic acid là một liệu pháp hiệu
quả và an toàn để điều trị mụn ở người Á
châu và cải thiện tăng sắc tố da ở những
bệnh nhân da sẫm màu.
Các sản phẩm kháng sinh phi kháng
sinh: Các chất chống ăn mòn (ABA) đã
chứng minh tính chống phóng xạ, chống
dính và chống vi khuẩn. Điều này có thể
làm giảm số lượng vi khuẩn P. acnes và

197
Thẩm mỹ nội khoa
tránh đề kháng kháng sinh. Alkylglycosid
đơn thuần hoặc sucrose stearat có thể
ngăn ngừa sự kết dính và gây ra sự tách
rời của P acnes trên tế bào sừng. Việc bổ
sung nicotinamide vào hai chất trên làm
tăng hiệu quả chống kết dính..
Chế độ ăn trong điều trị mụn trứng cá
Hạn chế uống sữa tách chất béo (skim
milk), đường.
Bảng 1. Phác đồ điều trị mụn trứng cá của Bệnh viện Da Liễu TP. HCM
6. ĐIỀU TRỊ DI CHỨNG MỤN TRỨNG
CÁ
6.1. Điều trị dát thâm sau viêm
(Postinflammatory hyperpigmenta-
tion - PIH)
Phải điều trị mụn trứng cá trước khi
điều trị dát thâm. Dùng kem chống nắng
có vai trò quan trọng và xuyên suốt. Có
nhiều loại thuốc và phương pháp khác
nhau có thể điều trị PIH an toàn và hiệu
quả. Hydroquinone (HQ) đơn trị có thể
có hiệu quả trong điều trị PIH, nhưng
nên phối hợp với các tác nhân khác, như
retinoid, chất chống oxy hoá, glycolic acid,
kem chống nắng và corticosteroid. Ví dụ:
công thức của Kligman chứa 5% HQ, 0,1%
tretinoin và 0,1% dexamethasone, là một
sự kết hợp có hiệu quả nhưng lưu ý tai biến
do sử dụng tretinoin và steroid. Mequinol là
một dẫn xuất và thay thế cho hydroquinone
là 4-hydroxyanisole, được cho là ít gây kích
ứng da hơn HQ.

198
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
Retinoid thế hệ thứ ba, adapalene và
tazarotene, là các chất tổng hợp tại chỗ
cũng có hiệu quả trong điều trị PIH.
Nhiều nghiên cứu khác cũng chỉ ra tính
an toàn và hiệu quả của acid azelaic, kojic
acid (KA) trong điều trị dát thâm. Ngoài ra,
các chất khác như niacinamide, N-acetyl
glucosamine, ascorbic acid và đậu nành
cũng có hiệu quả nhất định trong điều trị
dát thâm.
Lột da nông bằng hóa chất với các
loại glycolic acid (GA), salicylic acid (SA),
trichloroacetic acid (TCA) hay Jessner’s
solution, cũng có hiệu quả.
Liệu pháp laser và ánh sáng. Các
loại laser được sử dụng thường là
neodymium-doped
yttrium
aluminum
garnet (Nd:YAG) laser, laser phân đoạn.
6.2. Điều trị sẹo teo
| Điều trị sẹo mụn phụ thuộc vào nhiều
yếu tố bao gồm sự đáp ứng của từng cá
nhân, tính chất các loại vết sẹo và chi phí.
Có rất nhiều lựa chọn có hiệu quả khác
nhau bao gồm:
a) Tái tạo bề mặt da xâm lấn:
Chỉ định tốt nhất với sẹo hình thùng và
hình phễu. Hiệu quả với sẹo sâu, cần tránh
tổn thương nang lông. Có thể dùng các
loại laser xâm lấn như laser CO, Erbium
YAG: nó sẽ phá hủy phần mô bị tổn thương
bằng cách đốt nóng, bay hơi. Sau đó, mô
mới sẽ được tái tạo.
Một số hóa chất được áp lên da để phá
hủy lớp thượng bì nông. Phần da bị hư hỏng
sẽ được tái tạo và đẩy nhanh quá trình sửa
chữa, hồi phục. Các loại acid được dùng
thường là: glycolic acid (alpha-hydroxy
acid), pyruvic acid salicylic acid, TCA
Cross, dung dịch Jessner gồm A Salicylic,
Resorcinol, acid lactic và ethanlol.
Mài da và vị mài da là kỹ thuật tái tạo
da mặt bằng cách dùng những dụng cụ cơ
học mài da, phá hủy lớp thượng bị để kích
thích tái tạo biểu mô. Dụng cụ này có thể
là các đầu khoan cực nhỏ bằng kim cương.
b) Tái tạo bề mặt da không xâm lấn:
sử dụng laser xung màu, IPL, Q - Switched
Nd:YAG.
c) Làm đầy bề mặt sẹo: hyaluronic acid:
chích trực tiếp bên dưới sẹo hình phễu/
hình thùng.
d) Lăn kim: những đầu kim nhỏ được
châm vào thượng bì sâu khoảng 1,5-2 mm,
tạo những vi vết thương. Sau đó nhờ quá
trình lành thương, tạo collagen mới.
e) Cắt bỏ và bóc tách dưới da (cắt đáy
sẹo): tách dãy sợi nối sẹo với lớp bì sâu,
kích thích phản ứng sợi. Cắt mô sợi co kéo
và nâng cao bề mặt sẹo: dùng dao 30 hình
tam giác để góc 15 độ xuyên qua da cạnh
chu vi sẹo, luồn song song đáy sẹo sau đó
di chuyển dao theo hình rẽ quạt cắt các
sợi co kéo. Trong vài tuần, sẹo lõm sẽ đầy
lên dần. Không tổn thương lớp thượng bì.
f) Ghép da.
6.3. Sẹo lồi
PDP kết hợp tiên tại chỗ corticosteroid
hoặc 5 fluorouracil có hiệu quả. Áp lạnh
cũng hiệu quả nhưng gây đau và có thể để
lại dát tăng/giảm sắc tố.
Phẫu thuật cắt bỏ được áp dụng từ lâu
nhưng dễ tái phát. Hiện nay phẫu thuật cắt
bờ trong thương tổn sẹo kết hợp tiêm cor-
ticosteroid trong thương tổn đem lại hiệu
quả cao và có tính thẩm mỹ. Cũng có thể
phẫu thuật kết hợp với băng ép.
7. KẾT LUẬN
Mụn trứng cá là bệnh mạn tính, thường
gặp nhất trong lứa tuổi thành thiếu niên.
Bệnh có cơ chế bệnh sinh phức tạp nên
điều trị phải phối hợp nhiều biện pháp để

199
Thẩm mỹ nội khoa
đạt được hiệu quả tốt. Cần thay đổi quan
niệm cho rằng mụn trứng cá là bệnh của
lứa tuổi thanh thiếu niên, tự giới hạn không
cần điều trị. Nó cần phải được chữa trị kịp
thời, đủ thời gian và đúng phác đồ để dự
phòng các di chứng và cải thiện chất lượng
cuộc sống.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Goh CL. (2016) et al, 2016, Meeting
the Challenges of Acne Treatment in Asian
Patients: A Review of the Role of Dermo-
cosmetics as Adjunctive Therapy, J Cutan
Aesthet Surg; 9:85-92.
2. Thiboutot D, Gollnick H et al, (2009)
New insights into the management of ac-
ne:an update from the Global Alliance to
Improve Outcomes in Acne Group, JAM
ACAD DERMATOL. 2009 May;60(5 Sup pl):
S1-50.3. Davis EC, Callender VD, (2010)
Postinflammatory Hyperpigmentation, A
Review of the Epidemiology, Clinical Fea-
tures, and Treatment Options in Skin of
Color, J Clin Aesthet Dermatol, Jul; 3(7):
20–31.
4. Habif Thomas P., Ed. (2010). “Acne,
Rosacea, and Related Disorders”, Clinical
Dermatology: A Color Guide to Diagnosis
and Therapy Edinburgh, Mosby, pp 185-
188.
5. Berch J.(2010). “Rosacea, Perioral
Dermatitis and Similar Dermatoses, Flush-
ing and Flushing Syn drome”. Rook ‘s Text-
book of Dermatology, 8th edition, Wiley -
Blackwell, chapter 43.1-9.
6. James WD, Ed. (2011). “Acne”, Else-
vier Inc, pp 228.
7. Layton A.M., Ed. (2010). “Acne vul-
garis“, Rook’s Textbook of Dermatology,
Oxford, OX4 2DQ, UK,
Blackwell Publishing Ltd, pp 42.47,.
8. Leda Semyonov (2010), “Acne as a
public health problem”, ITALIAN JOURNAL
OF PUBLIC HEALTH, 7, pp. 112-114.
9.
Sarah
EG,
Naldi
L,
et
al.,
Eds.
(2003).
“Acne
vulgar-
is”,
Evidence-based
Dermatology.
10. Wolff Klaus and Goldsmith Lowell
A., et al, (2012). “Acne vulgaris and acne-
iform eruptions”, Fitzpat rick’s Dermatolo-
gy In General Medicine, New York, McGraw
Hill, 2, pp 690-694.
11. Zaenglein et al, (2016) Guidelines of
care for the management of acne vulgaris,
J AM ACAD DERMA TOL. 2016 May;74(5):
945-73.233.
12. Nguyen Thanh Hung, (2015), Đặc
điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan
đến mụn trứng cá ở các bệnh nhân tại các
Phòng Khám Da Liễu khu vực phía Nam.
Bệnh Viện Da Liễu TP HCM. 13. Phác đồ
điều trị Bệnh Viện Da Liễu TP HCM 2015.

200
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
BỆNH BẠCH BIẾN
(VITILIGO)
1. ĐẠI CƯƠNG
Bạch biến là bệnh da mất sắc tố mắc
phải thường gặp nhất, chiếm khoảng 0,5-
1% dân số, trong đó 23-36% bệnh nhân là
trẻ em dưới 12 tuổi. Trong 50% ca bệnh,
khởi bệnh sẽ bắt đầu vào trước tuổi 20 và
khoảng 80% trước 30 tuổi. Bạch biến xảy
ra ở mọi chủng tộc, nam - nữ như nhau, yếu
tố gia đình cũng được ghi nhận khi 20% có
thành viên trong gia đình mắc bạch biến.
Biểu hiện của bệnh là những dát, mảng
mất sắc tố, có thể ở bất cứ vùng da nào
trên cơ thể nhưng thường gặp là quanh
các lỗ tự nhiên (mắt, mũi, miệng, rốn và bộ
phận sinh dục) và những vị trí dễ bị chấn
thương như cùi chỏ, đầu gối. Diễn biến tự
nhiên của bệnh hoặc là lan nhanh trong
nhiều tháng rồi ổn định, hoặc lan ra cơ thể
trong nhiều năm.
Một số bệnh tự miễn như viêm tuyến
giáp Hashimoto, suy giáp hoặc cường
giáp, thiếu máu ác tính, bệnh Addison,
lupus đỏ, viêm khớp dạng thấp, đái tháo
đường phụ thuộc insulin, vảy nến, rụng tóc
từng mảng, ung thư dạ dày cũng đã được
ghi nhận có phối hợp với bệnh bạch biến,
đặc biệt trong nhóm bạch biển toàn thân
có tính cách gia đình.
Bệnh gây mất thẩm mỹ, từ đó ảnh
hưởng đến tâm sinh lý và chất lượng cuộc
sống của người bệnh, nhất là ở những
người có làn da sẫm màu.
2. PHÂN LOẠI
Hệ thống phân loại bệnh bạch biến đã
được đề nghị cách đây 50 năm. Về phương
diện điều trị và dự hậu, có thể phân thành
hai nhóm chính: Bạch biến theo phân đoạn
hay theo khoanh da (SV = Segmental Vitili-
go): gồm những thương tổn khu trú, không
đối xứng, không diễn tiến lan rộng.
Bạch biến không theo phân đoạn
(NSV= Non Segmental Vitiligo): bao gồm
bạch biến toàn thân, thường lan rộng, đối
xứng, kể cả bạch biến ở vùng mặt và đầu
chi.
Đặc trưng của bạch biến theo phân
đoạn là khởi phát sớm, diễn tiến nhanh,
sau đó tồn tại hầu như không đổi.
Năm 2007, Ủy ban chuyên về bệnh
bạch biến của châu u đã đưa ra một phân
loại chi tiết như sau:

201
Thẩm mỹ nội khoa
3. NGUYÊN NHÂN SINH BỆNH
Bệnh xảy ra do những hắc tố bào biến
mất hoặc bị phá hủy. Sự phá hủy toàn bộ
các hắc tố bào không thể giải thích chỉ
bằng một cơ chế duy nhất và bạch biến
được xem là một bệnh học đa yếu tố với
nhiều giả thuyết như: gene (HLA-DR4,
-Dw7, -DR7, -DR1, -B13, -Cw6, -DR53, -A19),
tự miễn dịch, stress oxy hóa, giảm MMP
2 và 8, tự nhiễm độc, thần kinh, thuốc:
pembrolizumab, nivolumab và thuốc ức
chế BRAF (vemurafenib, dabrafenib) sử
dụng để điều trị ung thư tế bào sắc tố,
nhiễm siêu vi...
Có ba nhóm giả thuyết về sinh bệnh
học của bệnh nhằm giải thích về việc biến
mất của các hắc tố bào:
3.1. Thuyết phá hủy hắc bào
Về lý thuyết, hắc tố bào có thể chết theo
chương trình hoặc do hoại tử. Do không có
thâm nhiễm viêm rõ ràng nên sự chết tế
bào theo chương trình có thể là chủ yếu,
được chứng minh trong nghiên cứu thực
nghiệm ở động vật. Tuy nhiên, sự đề kháng
nội tại của hắc bào đối với quá trình chết
theo chương trình tương đối cao, nên sự
huỷ hắc bào cũng có thể xảy ra do nhiều
nguyên nhân khác như tự miễn, yếu tố thần
kinh và rối loạn quá trình oxy hóa khử.
3.2. Thuyết ức chế hắc bào hoặc
khiếm khuyết kết dính
Sự chết đi của hắc bào không đủ đưa
đến bệnh bạch biến, mà chính sự ức chế
hình thành melanin hoặc sự khiếm khu-
yết về kết dính làm biến mất các hắc bào
mới là yếu tố quan trọng. Một số tác giả
cho rằng bạch biến là một bệnh có hai
giai đoạn liên tiếp. Ở giai đoạn đầu, hoạt
động của tyrosinase giảm, trong khi ở giai
đoạn hai sự ức chế sản xuất melanin sẽ
làm chết hắc bào. Giả thuyết cũng cho
rằng sự khiếm khuyết về kết dính liên quan
đến việc biến mất hắc lào trong nhóm
bạch biến không theo phân đoạn. Mức độ
tenascin tăng lên ở đáy và bì nhú gợi ý rằng
những phân tử chất nền ngoài tế bào đã
ức chế sự kết dính hắc bào với fibronectin,

202
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
góp phần vào sự mất hắc bào. Sự tách rời
và loại trừ hắc bào qua thượng bì sau vì
chấn thương là nguyên nhân gây mất sắc
tố theo hiện tượng Koebner.
3.3. Thuyết bài xuất hắc bào
(melanocytorrhagy)
Giả thuyết này giải thích đầy đủ các
dữ kiện đã nêu ở phần trên, bao gồm sự
tách rời và loại trừ hắc bào qua thượng
bì, thuyết sinh hoá-thần kinh và tự miễn.
Theo đây, bệnh bạch biến là một rối loạn
“bài xuất hắc bào” tiên phát, với hắc bào đã
biến đổi phản ứng lại với sự cọ xát và có
thể với những áp lực khác.
Nhiệm vụ của các đuôi gai của hắc bào
là giúp chuyển các hạt tổng hợp hắc tố tới
các tế bào sừng xung quanh và giúp hắc
bào bám chặt vào màng đáy. Trong môi
trường nuôi cấy, nếu thêm HP, sẽ làm mất
các đuôi gai và trong một số trường hợp sẽ
làm tách rời hắc bào. Sự giải phóng nhiều
catecholamine có thể là một yếu tố làm
nặng thêm bệnh bạch biến (nhóm NSV).
Nó có thể làm mất các đuôi gai, làm tách
rời và làm mất các hắc bào qua thượng bì.
Ngoài khiếm khuyết về kết dính và
mất đuôi gai, những bất thường khác có
thể đưa đến giảm sức đề kháng của hắc
bào (nhóm NSV) với cọ xát và cuối cùng bị
tách rời do chấn thương cơ học hoặc hóa
học. Ở vùng da không bị thương tổn trong
bệnh bạch biến không theo phân đoạn
vài giờ sau khi cọ xát các hắc bào bị tách
khỏi màng đáy và bị các tế bào sừng thoái
hóa xung quanh với sự lắng đọng các chất
dạng hạt ngoại tế bào.
Đã có bằng chứng in vivo về sự mất hắc
bào mạn tính qua da ở bệnh nhân bạch
biến không theo phân đoạn. Tuy còn hạn
chế, nhưng có bằng chứng thuyết phục
bệnh bạch biến theo phân đoạn cũng có
cơ chế sinh bệnh giống với bệnh bạch biến
không theo phân đoạn. Khi hắc bào bị mất
không đáng kể, vẻ ngoài của da vẫn không
thay đổi. Nhưng nếu các vùng da bị cọ xát
mạnh hoặc liên tiếp, ví dụ như bàn tay, bàn
chân hoặc mí mắt, hắc bào bị tách rời và
bị mất với số lượng lớn, thì dễ có khả năng
xảy ra các dát bạch biến hơn.
4. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG
Các dát mất sắc tố giới hạn rõ ở mọi
vị trí trên cơ thể. Thường gặp ở những
vùng da hở (như mặt, cổ, mi mắt, mũi, đầu
ngón), các nếp gấp của cơ thể (nách, bẹn),
đầu vú, rốn, môi, cơ quan sinh dục ngoài.
Sự mất màu ở lông, tóc (leukotrichia hoặc
poliosis) trên vùng da bệnh. Võng mạc có
thể cũng bị ảnh hưởng những màu sắc của
mống mắt không bị thay đổi. Màu sắc của
bờ xung quanh không bị ảnh hưởng, cũng
có những trường hợp tăng hoặc giảm sắc
tố.
Bệnh có thể khởi phát sau căng thẳng
về tâm lý. Hiện tượng Koebner.
5. ĐIỀU TRỊ
Cần tránh các yếu tố thuận lợi phát triển
bệnh ánh nắng, chấn thương). Ánh nắng
mặt trời sẽ gây phỏng, làm tổn thương lan
rộng, làm các tổn thương bạch biến trở nên
nổi bật hơn trên nền da sạm xung quanh
do cháy nắng.
Có thể dùng trang điểm che khuyết
điểm hoặc các phương pháp ngụy trang.
Nhiều phương cách điều trị được áp
dụng điều trị nội khoa bằng thuốc (tại chỗ,
toàn thân), bằng các phương pháp vật lí và
điều trị ngoại khoa.
5.1. Điều trị nội khoa
5.1.1. Điều trị tại chỗ
Đa số các thuốc thoa được liệt kê dưới

203
Thẩm mỹ nội khoa
đây hầu như đều off- label cho điều trị bệnh
bạch biến dù mang lại kết quả lâm sàng và
tác động dựa theo cơ chế sinh bệnh.
Thoa kem corticosteroid:
- Có thể dùng cho bạch biến ở thân và
ở chi thời gian tới 3 tháng. Loại có hoạt
tính cao nên tránh điều trị ở những vùng
da mỏng như mặt (đặc biệt là mi mắt),
cổ, nách và bẹn. Kết quả tốt ở các vùng
da phơi bày (mặt và cổ), ở người có làn
da sẫm màu và các thương tổn mới.
- Tiêm tại chỗ ít sử dụng.
- Các tác dụng phụ: teo da, giãn mạch,
rạn da, viêm nang lông do steroid, mụn,
rậm lông.
Thoa các chất ức chế calcineurin (kem
pimecrolimus 0,1 %, mỡ tacrolimus 0,03%
và 0,1%)
- Có thể được sử dụng ở mi mắt, mặt,
cổ, nách, háng và trẻ em >2 tuổi, là lựa
chọn điều trị tốt cho các vùng có diện
tích nhỏ và khó chữa như mí mắt. Kết
quả tốt nhất ở vùng da phơi bày ra ánh
sáng mặt trời như mặt, cổ.
- Tác động như tác nhân điều biến miễn
dịch.
- Một số tác dụng phụ như cảm giác rát
bỏng, ngứa khi thoa thuốc và tăng sắc
tố.
Dẫn xuất vitamin D
Có hai chất:
- Calcipotriene (calcipatriol) 0,005% là
dẫn xuất tổng hợp của vitamin D3 giúp
điều hòa sản xuất và phát triển các tế
bào da, tác dụng ức chế miễn dịch trên
các tế bào dạng lympho. Kết hợp thoa
calcipotriene và chiếu UVB dải hẹp hoặc
PUVA cho kết quả tốt hơn với đơn trị liệu.
- Tacalcitol: làm giảm sự chuyển đổi tế
bào da (skin cell turnover) một cách quá
mức.
Prostaglandin và các chất tương tự
prostaglandin E2 (PGE2) và prostaglandin
F2 alpha (PGF2α)
Cơ chế: điều hòa miễn dịch, sinh sắc tố
và phát triển của hắc tố bào.
Thoa PGE2 2 lần/ngày x6 tháng trên
bạch biến ổn định cho kết quả tốt và ít tác
dụng phụ. Tia UV sản xuất enzyme cyclox-
ygenase (COX-2), là một chất kích thích
gây viêm và phân bào, từ đó sinh tổng hợp
PGE2 trong tế bào sừng và cho kết quả tái
tạo sắc tố da. Các chất được sử dụng: Lat-
anoprost, Bimatoprost và Travoprost.
Các thuốc mới hơn:
- Cucumis Melo: hoạt động giống như
superoxide dismutase và catalase khi
kết hợp với liệu pháp UVB có chọn lọc.
Hiệu quả còn tranh cãi và cần thêm
nhiều nghiên cứu..
- Hormone kích thích melanocyte alpha
và chất đồng vận Afamelanotide: Giúp
sự sinh sắc tố bằng cách gắn vào thụ
thể melanocortin-1 (MC1R). Afamela-
notide kích thích sự sinh sắc tố và tăng
sự phát triển của hắc tố nhưng không
ảnh hưởng đến sự phân hóa của tế bào
gốc melanocyte. Ngược lại, quang liệu
pháp thì gây sự biệt hóa của nguyên bào
sắc tố, như vậy cho afamelanotide khi
kết hợp với đèn chiếu UVB có thể tăng
tốc độ và mức độ tái tạo sắc tố. Khu-
yết điểm lớn của afamelanotide là gây
nâu da mạnh (mất thẩm mỹ vì sự tương
phản rõ nét trong màu sắc da).
- L-Carnosine (Beta-Alanyl-L-Histidine):
Một dipeptide có đặc tính chống oxy
hóa cao bảo vệ màng tế bào khỏi bị hư
hại do oxy hóa và giảm rối loạn chức
năng của ty lạp thể liên quan đến tuổi
tác (rối loạn chức năng của ty lạp thể
dẫn đến tổn thương tế bào trong tế bào
sừng. Điều này đã được báo cáo là một
trong những cơ chế sinh bệnh trong
bạch biến).

204
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
- Photocil (Alpha-Glucosyl Hesperidin +
diethylaminohydroxybenzoyl
Hexyl
Benzoate): Tác nhân trị bệnh trên lí
thuyết cung cấp NB-UVB chọn lọc từ
các bức xạ tia cực tím có hại khi tiếp
xúc với ánh sáng mặt trời tự nhiên.
- Piperine và các đồng phân tổng hợp:
Piperine là một alkaloid chính từ Piper
nigrum (black pepper), có hoạt tính kích
thích tăng trưởng melanocytes trong
canh cấy (nhưng nó không kích thích
tổng hợp melanine). Khi kết hợp nó với
bức xạ UVA, cân được tiến hành theo
chu kỳ để tránh độc ánh sáng.
- Pseudocatalase (Pcat): thoa toàn thân
1-2 lần/ngày, sau đó chiếu NB-UVB.
- Thoa các chất chống oxy hóa như cur-
cumin...
- Ngoài ra còn có các yếu tố tăng trưởng
nguyên bào sợi (bFGF), chất capsaicin...
5.1.2. Điều trị tẩy sắc tố da trong
bệnh bạch biến (Depigmentation ther-
apy)
Chỉ định: bệnh nhân không đáp ứng với
điều trị thông thường, có diện tích da bệnh
rộng lớn (80%), có làn da ngăm và sự mất
thẩm mỹ của bệnh ảnh hưởng nhiều đến
chất lượng cuộc sống của họ. Cần thảo
luận với bệnh nhân, chi phí và thời gian
điều trị, sự mất vĩnh viễn sắc tố da, các
phản ứng phụ.
Monobenzyl ether of hydroquinone
(MBEH) 20% là chất duy nhất được FDA
chấp thuận cho việc tẩy sắc tố, thuốc được
thoa trong 9-12 tháng hoặc hơn. Các chất
khác cũng được sử dụng là monomethyl
ether of hydroquinone (MMEH) (20%) có
thể dùng thay thế MBEH hoặc 4-methoxy
phenol và phenol 88%. Các tác dụng phụ
của nhóm chất này bao gồm viêm da tiếp
xúc dị ứng, mất sắc tố kiểu confetti, da
màu đất nung.
- Các tác nhân vật lý tẩy sắc tố da bao
gồm laser Q-switched, laser ruby, laser
alexandrite chiểu đơn độc hoặc kết hợp
thoa 4-methoxyphenol. Ngoài ra, liệu
pháp lạnh (cryotherapy) cũng có thể
được sử dụng.
Chọn lựa kế tiếp trong việc tẩy sắc tố
da bao gồm imatinib mesylate, imiquim-
od và diphencyprone. Các dẫn xuất khác
nhau của phenol, vắc-xin u ác tính, inter-
feron gamma, busulfan đang được nghiên
cứu thêm.
5.1.3. Quang trị liệu
Cơ chế điều trị được giải thích bao gồm
loại bỏ các kháng thể, ngăn chặn sự phá
hủy tế bào sắc tố và kích thích các cyto-
kine (yếu tố tăng trưởng).
* PUVA hệ thống: cần một thời gian dài
1-3 năm mới đạt kết quả tối ưu. Nhiều tác
dụng phụ như buồn nôn, ói mửa, ngộ độc
ánh sáng và tăng nguy cơ ung thư và lão
hóa da. Vì vậy, PUVA không được dùng
thường xuyên trong điều trị bệnh bạch
biến.
* PUVA tại chỗ: giúp hạn chế vùng da
bị nhạy cảm ánh sáng và tránh được tác
dụng phụ của psoralen toàn thân nhưng
có thể gây hồng ban, bóng nước và làm
tăng sắc tố ở vùng da quanh thương tổn.
* UVB dải hẹp (bước sóng 311 nm): kết
quả tốt thể hiện ở các vùng mặt, cổ và các
thương tổn mới. Vùng bàn tay, bàn chân ít
đáp ứng. Điều trị được thực hiện 2-3 lần/
tuần.
* Vi quang trị liệu UVB hay còn gọi là
UVB nhắm đích cho tổn thương dưới 30%
diện tích da. Tia chỉ tập trung trên vùng da
bệnh nên liều tích lũy thấp và khắc phục
được nhược điểm gây tăng sắc tố ở vùng
da bình thường so với liệu pháp PUVA.
* KUVA liệu pháp: uống Khellin 100 mg
2 giờ trước khi chiếu UVA.
* Ánh sáng đơn sắc excimer 308 nm
(MEL=monochromatic excimer light)

205
Thẩm mỹ nội khoa
MEL đã được dùng cho điều trị bạch
biến theo phân đoạn và không phân đoạn
ở người lớn. Ưu điểm của MEL là giảm
nguy cơ quá liều (do mật độ năng lượng
thấp), có khả năng điều trị một diện tích
lớn hơn.
Cần lưu ý rằng quang trị liệu nói chung
không phù hợp cho những người bị bạch
biến có làn da quá trắng và thường được
tiến hành 2 lần/tuần cho mỗi giai đoạn kéo
dài 3-4 tháng. Thời gian điều trị có thể phải
tiếp tục cho đến khi các tổn thương giảm
sắc tố hồi phục hoàn toàn hoặc tối đa là
1-2 năm. Việc tránh bị bỏng (biểu hiện đỏ
da, rộp da, bong da, ngứa hay đau) là quan
trọng. Các tác dụng phụ: hồng ban, khô da,
bóng nước, phỏng, tăng nguy cơ tái phát
HSV, lão hóa da và K da.
5. 1.4. Điều trị toàn thân
- Minocycline đường uống: 100 mg ngày.
- Steroid đường uống liều thấp beta-
methasone hoặc dexamethasone 5 mg
x 2 ngày liên tiếp/tuần trong 3 - 6 tháng.
- Afamelanotide cấy dưới da
- Cyclophosphamide (2 x 50 mg/ngày)
- Cyclosporin (6 mg/kg/ngày)
- Yếu tố hoại tử chống bướu alpha (Anti-
tumour Necrosis Factor-α)
Các chất chống oxy hóa: Pseudocata-
lase, vitamin E, vitamin C, ubiquinone, lipo-
ic acid, Polypodium leucotomos, kết hợp
catalase/superoxide dismutase, Ginkgo
biloba... có thể dùng đơn độc hoặc kết hợp
điều trị vật lí. Các thuốc chống oxy hóa
nên được cho trong hoặc trước quang trị
liệu nhằm mục đích chống lại stress oxy
hóa gây ra bởi bức xạ tia cực tím.
5.2. Điều trị ngoại khoa
- Chỉ định:
+ Bạch biến thể khu trú hoặc bạch biến
thể đoạn.
+ Vị trí đáp ứng kém với điều trị thông
thường (môi, ngực, núm vú và cơ
quan sinh dục).
+ Bệnh ổn định là tiêu chí quan trọng.
- Tiêu chuẩn chọn bệnh:
+ Không có hiện tượng Koebner
+ Không tiền căn sẹo lồi
+ Bệnh nhân > 12 tuổi
Điều trị ngoại khoa sẽ loại bỏ những
lớp ở trên của vùng da tổn thương (bằng
cách cạo, bào mòn, sử dụng giấy ráp hoặc
laser) và thay thế bằng vùng da chứa sắc
tố lấy từ vị trí khác. Có nhiều phương pháp
điều trị ngoại khoa thông dụng có ghép
thượng bì (gồm ghép dùi lỗ nhỏ và ghép
mụn nước) và cấy ghép tế bào thượng bì
như phương pháp chuyển tế bào sắc tố
(melanocyte transfer).
- Ưu điểm
+ Dễ, nhanh và ít tốn kém.
+ Tỉ lệ thành công cao với ít tác dụng
phụ có thể ngăn ngừa.
+ Có thể được thực hiện ở mọi nơi, ở
bất kỳ vị trí nào (ngoại trừ góc miệng)
- Biến chứng
+ Tại vùng nhận: hình ảnh da “đá phiến”,
đốm chấm, xuất hiện nhiều màu sắc
và không phù hợp màu sắc, có thể có
quầng mất sắc tố quanh vùng nhận.
Ngoài ra, sẹo phì đại, sẹo lồi cũng có
thể xảy đến.
+ Tại vùng hiến: sẹo (sẹo nông, sẹo lồi
và sẹo phì đại), mất sắc tố hoặc gây
lan rộng thêm tổn thương bạch biến
hoặc viêm da tiếp xúc dị ứng với băng
dính...

206
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
Xu hướng điều trị mới
Nhằm cải thiện hiệu quả điều trị và
giới hạn thấp nhất các tác dụng phụ, gần
đây người ta có xu hướng kết hợp nhiều
phương pháp điều trị khác nhau (thoa
thuốc + quang trị liệu và/hoặc laser).
Các phương cách kết hợp có thể kể
như sau:
Thoa thuốc ức chế calcineurin kết hợp
excimer laser
- Thoa chiết xuất nhau (placentrex) kết
hợp NB-UVB
- Thoa kem ethyl vallinate kết hợp NB-
UVB
- Thoa kem tetrahydrocurcuminoid kết
hợp NB-UVB điểm
- Thoa calcipotriol + NB-UVB
- Laser Er-YAG + thoa 5-flurouracil + NB-
UVB
Fractional carbon dioxide laser + thoa
5-flurouracil cream
- Vi mài da kết hợp thoa 5-flurouracil
cream
- Tiêm tại chỗ 5-flurouracil + NB-UVB
- Fractional CO, laser + steroids hoạt lực
mạnh + NB-UVB
- Mài da với Er-YAG laser + corticoid
hoạt lực mạnh +NB-UVB 4%
- Thoa khellin 4% và/hoặc tacrolimus
0,1% + excimer đơn sắc
Hình 1. Ghép mụn nước

207
Thẩm mỹ nội khoa
Sơ đồ 1. Hướng dẫn điều trị bệnh bạch biến thể không phân đoạn
(theo Hiệp hội châu Âu).
Các chữ viết tắt: CS = corticosteroid; KP: Koebner phenomenon; TCI = topical calcineurin
inhibitors; NB-UVB = narrowband ultraviolet B; MEL = monochromatic excimer light

208
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
Sơ đồ 2.
Hướng dẫn điều trị bệnh bạch biến thể đoạn (theo Hiệp hội châu Âu)

209
Thẩm mỹ nội khoa
5.3. Trang điểm che khuyết điểm,
ngụy trang
- Trang điểm ngụy trang với các kem
che màu
- Xăm vĩnh viễn (cần cân nhắc do diễn
biến khó lường của bệnh bạch biến) và
bán vĩnh viễn.
5.4. Điều trị tâm lí
Mức độ nhận thức về bệnh bị ảnh
hưởng nhiều bởi tính cách của bệnh nhân
hơn những đặc điểm khách quan của bạch
biến. Ngoài ra, các tác động xã hội (văn
hóa, tôn giáo...) cũng góp phần không nhỏ
và nhất là sự khó khăn trong điều trị. Từ
đó, việc điều trị tâm lí rất cần thiết khi tiếp
xúc bệnh nhân.
6. DỰ HẬU
Dự hậu xấu cho các trường hợp bệnh
kéo dài, có lông tóc bạc màu (leucotrichia),
có thương tổn da ở thể cực (acrofacial
lesions) hoặc có thương tổn ở vị trí khó trị.
7. KẾT LUẬN
Dù y học đã có nhiều tiến bộ, nhưng đến
ngày nay bạch biến vẫn là căn bệnh mà
sinh bệnh học chưa sáng tỏ hoàn toàn và
kết quả điều trị vẫn còn hạn chế. Từ nhiều
cơ chế sinh bệnh, nhiều phương pháp điều
trị khác nhau đã được ứng dụng, đơn độc
hoặc kết hợp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. M Yildirim, V Baysal, HS Inaloz, M
Can. The role of oxidants and antioxi-
dants in generalized vitiligo at tissue level.
JEADV. 2004, 18; 683 - 86.
2. Panigrahi Hemanta kumar et al. Effi-
cacy of leech therapy and ayurvedic com-
pound in vitiligo: A quasi experimenatl
study. IJRAP 3(6), Nov-Dec 2012.
3. Afsheen Bilal, Irfan Anwar. Guide-
lines for the management of vitiligo. Jour-
nal of Pakistan Associa tion of Dermatolo-
gists. 2014, 24 (1): 68-78.
4. Benjamin S Daniel and Richard Wit-
tal. Vitiligo treatment update. Australian
Journal of Dermatology. (2015) 56, 85-
92. 5. Mauro Picardo, Alain Taieb. Vitiligo
2010.

210
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
XĂM VÀ XÓA XĂM
(TATTOO AND TATTOO REMOVAL)
1. LỊCH SỬ XĂM
Xăm là một thủ thuật đưa sắc tố vào da
nhằm tạo nên các dấu hiệu, hình ảnh trên
cơ thể con người. Có nhiều bằng chứng
cho thấy nghệ thuật xăm xuất hiện từ rất
lâu trong lịch sử nhân loại với mục đích
thể hiện phong tục, tín ngưỡng, văn hóa
hay đơn thuần chỉ để khẳng định cá tính,
cảm xúc của người xăm. Năm 1991, các
nhà khoa học tìm thấy một xác ướp tự
nhiên, sau này được xác định 5.300 tuổi và
là xác ướp cổ nhất từng được khám phá,
ở dãy núi otztal Alps gần biên giới nước
Áo và Italia. Trên thân mình xác ướp có tới
57 hình xăm, chứng tỏ nghệ thuật xăm đã
xuất hiện từ 3.300 năm trước công nguyên
vào Thời Đồ Đồng (Bronze Age). Vào thời
Hy Lạp và La Mã cổ đại, hình xăm là dấu
hiệu để nhận biết tội phạm và nô lệ hay
những thành viên trong một giáo phái nào
đó.
Trong hàng ngàn năm, xăm được thực
hiện bằng tay để đưa sắc tố vào da thông
qua các vết thương trên da. Sau đó vào
những năm 1800, người ta phát minh ra
máy xăm điện, tạo cuộc cách mạng cho
loại hình nghệ thuật này. Xăm trở nên phổ
biến và dễ tiếp cận hơn cho tất cả mọi
người.
2. PHÂN LOẠI XĂM
2.1. Phân loại theo màu sắc
Xăm có thể phân loại theo màu của
sắc tố tạo nên vết xăm. Thường gặp nhất
là màu đen, nhưng theo thời gian, xăm sử
dụng nhiều màu sắc như đỏ, xanh dương,
xanh lá cây, nâu... ngày càng phổ biến. Hai
màu hay nhiều hơn sẽ được trộn lẫn để tạo
thành một màu đặc biệt hay màu mới, ví
dụ màu trắng và đỏ pha với nhau thành
màu hồng.
2.2. Phân loại theo kiểu xăm
Có năm kiểu xăm, đó là:
- Xăm chuyên nghiệp (professional
tattoos): Trong quá khứ, loại xăm này
thường thấy ở binh lính trong quân đội
hoặc các tay đua xe. Tuy nhiên, ngày
nay cùng với sự phát triển của xã hội
mọi người ở các lứa tuổi hay tầng lớp
kinh tế - xã hội khác nhau đều có thể có
được hình xăm chuyên nghiệp. Loại xăm
này nằm sâu trong lớp bì với mật độ sắc
tố cao, hình ảnh sắc nét và có độ bóng.
Người kỹ thuật viên có thể trộn lẫn hoặc
chồng nhiều lớp mực xăm lên nhau nên
khó xác định loại sắc tố nào đã được sử
dụng. Điều này gây khó khăn cho việc
chọn lựa laser thích hợp để xóa loại xăm
này.
- Xăm không chuyên (amateur tattoos):
Nói chung loại xăm này thường thấy ở
nhóm tuổi thiếu niên hoặc thành viên
của các băng nhóm. Dụng cụ xăm đơn
giản thậm chí chỉ cần xăm bằng tay với
các loại mực từ viết bị, chì than, hay nhọ
nồi. Ngoài màu đen ra, hiếm khi thấy
những màu khác trong hình xăm không
chuyên. Loại xăm này có mật độ thấp,
năm nông ở lớp bì nên đáp ứng tốt với
điều trị bằng laser.
- Xăm thẩm mỹ (cosmetic tattoos): Đúng
như tên gọi, loại xăm này có tác dụng
cải thiện vẻ bề ngoài như che dấu một
vết sẹo, làm cho môi, mắt có vẻ rộng
hơn... Màu xăm thường là trắng, nâu đỏ,
đỏ, cam, màu da. Nhiều loại xăm thẩm
mỹ có thành phần sắc tố từ sắt với hai
dạng hóa trị: ferrous oxide màu đen và

211
Thẩm mỹ nội khoa
ferric Oxide màu đỏ nâu. Xăm y khoa
(medical tattoos): Loại xăm này thường
do các nhân viên y tế thực hiện với mục
đích đánh dấu các vùng thân thể như tái
tạo núm vú sau đoạn nhũ, hay đánh dấu
để xạ trị.
- Xăm chấn thương (traumatic tattoos):
Đây là loại xăm ngoài ý muốn do các
vật lạ như mảnh pháo hoa, cát, kim
loại, mảnh thủy tinh, thuốc súng, nhựa
đường, bụi... văng và nằm sâu vào lớp bì
sau chấn thương giao thông hoặc cháy
nổ.
3. KỸ THUẬT XĂM
Trong trường hợp xăm bằng máy, người
ta sử dụng thiết bị cầm tay với những mũi
kim cứng (1 đến 14 mũi kim). Các mũi kim
xăm được nhúng vào mực và di chuyển
trên da theo hình vẽ thiết kế sẵn, xuyên
nhanh theo thế thẳng đứng xuống 0,5 - 2
mm dưới da, đưa sắc tố vào lớp bì. Sau khi
xăm xong, vùng da được rửa sạch bằng
hỗn hợp alcohol và nước. Một số trường
hợp, mực được đổ trải lên vùng cần xăm và
kim đi xuyên qua để mang các màu sắc tô
vào da. Bằng cách này, các thợ xăm không
chuyên nghiệp x xuống không quá sâu
dưới da. Những dụng cụ khác có thể được
sử dụng là viết chì, viết bị, đinh ghim, dây
đàn... Phần lớn sắc tố trồi ra ngoài thượng
bì trong vòng 10 ngày đầu tiên. Vị trí cuối
cùng của sắc tố là ở vùng giữa và sâu của
lớp bì, nhưng với xăm không chuyên ng-
hiệp thì sắc tố nông và phát tán hơn. Các
mẩu sắc tổ nằm trong nguyên bào sợi, đại
thực bào và đôi khi trong dưỡng bào quanh
mạch máu. Chúng cũng có thể được tìm
thấy quanh nang lông và tuyến bã. Nhiều
khởi sắc tố quá lớn để đi xuyên qua thành
mạch máu và rời khỏi vùng lắng đọng ban
đầu, nhưng theo thời gian sự khuếch tán
sắc tố sẽ làm mờ hình xăm và lắng đọng
tại các hạch bạch huyết.
4. BIẾN CHỨNG CỦA XĂM
Có nhiều báo cáo về các trường hợp
nhiễm trùng tại chỗ xăm (mụn cóc, u mềm
lây, lao da không điển hình), nhiễm tụ cầu
kháng methicillin lan rộng từ chỗ xăm và
viêm nội tâm mạc nhiễm trùng trong vòng
một tuần sau xăm. Tại các vùng dịch tễ
phong, hiện tượng tự tiêm nhiễm bệnh
phong sau xăm cũng thường gặp.
Ngoài nguyên nhân nhiễm trùng thường
gặp, một số bệnh da xuất hiện ngay chỗ
xăm, hoặc có các trường hợp dị ứng mực
xăm như một vật lạ hoặc kháng nguyên.
(Bång 1).

212
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ

213
Thẩm mỹ nội khoa
6. LỊCH SỬ XÓA XĂM
Cho tới cách đây 50 năm, phương pháp
hóa học và cơ học vẫn giữ vai trò chính
trong xóa xăm. Vào năm 543 sau Công
nguyên, bác sĩ người Hy Lạp Aetius thực
hiện kỹ thuật xóa xăm bằng cách làm trầy
da, sau đó bôi muối và các chất hóa học
lên vết thương Một phương pháp khác là
mài mòn da bằng dụng cụ như bàn chải
kim loại hoặc dao kim cương để phá hủy da
và sắc tố xăm bên trong. Người ta còn sử
dụng những sản phẩm như dung dịch tri-
chloracetic acid với nồng độ lên đến 100%.
Kết quả xóa xăm của những phương pháp
phá hủy không chọn lọc kể trên có thể một
phần hoặc hoàn toàn, nhưng luôn luôn dẫn
đến sẹo và rối loạn sắc tố da. Phẫu thuật
cắt bỏ da chứa hình xăm cũng là một chọn
lựa trong thời gian dài. Cho dù có kết quả
tốt nhất vẫn để lại một đường sẹo.
Vào năm 1960, Maiman tạo ra loại
laser đầu tiên sử dụng tinh thể ruby tổng
hợp. Nghiên cứu ứng dụng thiết bị này
vào y học nhanh chóng được tiến hành và
chỉ trong vòng 3 năm, Goldman đã chứng
minh tia laser có khả năng phá hủy có
chọn lọc các thể màu trên da. Năm 1967,
Goldman và cs. xóa xăm thành công bằng
cả hai loại laser Q-Switched (QS) ruby và
QS Nd:YAG. Tuy nhiên, do thiếu kiến thức
về vật lý đồng thời kết quả điều trị không
dự đoán trước được nên laser QS dần đi
vào quên lãng.
Vào những năm 1960, 1970, các loại la-
ser liên tục như C, và argon trở thành lựa
chọn điều trị trong xóa xăm. Những loại
laser này chọn nước là thể màu mục tiêu
để gây bóc tách không chọn lọc mô và
mực xăm bên trong. Kết quả về mặt thẩm
mỹ không nói trước được nhưng xóa xăm
bằng phương pháp này thường gây sẹo.
Sau đó vào những năm 1980, Anderson và
Parrish mô tả lý thuyết ly giải quang nhiệt
có chọn lọc, trong đó laser QS có thể tiêu
hủy mục tiêu trong da một cách chọn lọc.
Lý thuyết này giải thích những hiện tượng
mà Goldman quan sát trước đây.
Laser QS ruby là loại QS đầu tiên có mặt
trên thị trường, sau đó là QS Nd:YAG và QS
alexandrite. Cả ba loại laser vẫn được sử
dụng cho đến ngày hôm nay và điều cần
lưu ý là mỗi bước sóng sẽ có hiệu quả loại
bỏ một số sắc tố nhất định (Bảng 2).
Đến tháng 12/2012, FDA (Hoa Kỳ) đã
công nhận thiết bị laser có xung cực ngắn
(picosecond = 1/1.000 tỉ giây) trong điều
trị các thương tổn sắc tố và xóa xăm.
Loại laser này cho hiệu quả điều trị cũng
như tính an toàn cao hơn so với các laser
Q-switched.
Bảng 2. Các loại laser xóa xăm Laser

214
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
7. XÓA XĂM BẰNG LASER
Q-SWITCHED VÀ PICOSECOND
7.1. Chọn lựa bệnh nhân
- Hỏi bệnh sử: tiền sử nói chung, sự lành
vết thương, khuynh hướng tạo sẹo, tiền
sử bệnh nhiễm trùng.
- Lưu ý: dùng isotretinoin trong vòng 6
tháng, từng điều trị bằng muối vàng.
- Hỏi về “xăm kép” (double tattoos).
- Tư vấn trước điều trị: mong đợi thực tế,
tác dụng phụ có thể xảy ra, chi phí điều
trị, phải điều trị nhiều lần (6 - 10 lần).
- Khuyên tránh nắng trước và trong quá
trình điều trị.
- Chụp hình.
7.2. Kỹ thuật thực hiện
- Đảm bảo an toàn cho bác sĩ và bệnh
nhân: đeo kính thích hợp. Mỹ phẩm và
các sản phẩm chăm sóc da nên được
loại ra khỏi vùng điều trị.
- Da nên khô ráo và không có chất tẩy rửa
chứa chất dễ gây cháy nổ như isopropyl
alcohol.
- Gây tê tại chỗ: kem lidocaine 5% (LMX-
5),
2,5%
lidocaine/2,5%
pridocaine
cream (EMLA), máy làm lạnh, tiêm lido-
caine, gây tê vùng...
- Test spot với dấu hiệu đáp ứng với la-
ser: thương tổn chuyển sang màu trắng
hoặc có chấm xuất huyết.
- Chăm sóc sau điều trị: bôi thuốc mỡ
kháng sinh hoặc chất giữ ẩm, tránh
nắng tuyệt đối. Có thể đóng mày và tróc
vảy kéo dài 7 - 10 ngày.
- Khoảng thời gian giữa hai lần điều trị
kế tiếp: 6 – 8 tuần.
7.3. Biến chứng của xóa xăm bằng
laser
Rối loạn sắc tố da: giảm sắc tố thoáng
qua (thường gặp do laser bước sóng 694
hay 755 nm), giảm sắc tố kéo dài (do điều
trị có tính lặp lại nhiều lần, mức năng tăng
sắc tố thoáng qua (người da sậm màu,
tiếp xúc ánh nắng).
Tạo sẹo (< 5%): thường do mức năng
lượng quá cao, gặp ở ngực và mắt cá, vùng
da có lượng mực xăm nhiêu.
Xăm thẩm mỹ trở nên đen hơn: thường
có liên quan đến xăm thẩm mỹ chứa sắt
oxide hoặc titanium oxide.
Phản ứng dị ứng: quá mẫn tức thì (mày
đay), quá mẫn muộn (hình thành u hạt),
phản ứng dị ứng toàn thân.
8. KẾT LUẬN
Việc xăm mình ngày càng phổ biến hơn
trước đây và được chấp nhận bởi nhiều lứa
tuổi, thành phần trong xã hội. Tuy nhiên,
cần tuân thủ các nguyên tắc bảo đảm an
toàn trong quá trình xăm nhằm phòng
ngừa những biến chứng có thể xảy ra.
Hiện nay, phương pháp chính và có hiệu
quả cao trong xóa xăm là laser Q-switched
ruby, Nd:YAD, alexan drite và laser pico-
second. Việc xóa xăm làm mất nhiều thời
gian và chi phí tốn kém nên chúng ta cần
cân nhắc trước khi quyết định xăm trên cơ
thể mình. Nhu cầu xăm và xóa xăm ở khắp
nơi, do vậy có thể trang bị một máy laser
Q-switched với chi phí vừa phải phù hợp
với tình hình thực tế của mỗi trung tâm
nhằm xóa xăm cũng như điều trị các tình
trạng da tăng sắc tố khác, đáp ứng nhu
cầu ngày càng cao của nhân dân.

215
Thẩm mỹ nội khoa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Choudhary S, Elsaie ML, Leiva A,
Nouri K (2010). Lasers for tattoo removal:
a review. Lasers Med Sci; 25:619–627.
2. HO SG, Goh CL (2015). Laser tattoo
removal: a clinical update. J Cutan Aes-
thet Surg;8(1):9-15.
3. Kazandjieva J, Tsankov N. Tattoos:
dermatological complications (2007). Clin
Dermato; 25: 375–382.
4. Kent KM, Graber EM (2012). La-
ser Tattoo Removal: A Review. Dermatol
Surg;38:1-13
5. Naga LI, Alster TS (2017). Laser Tat-
too Removal: An Update. Am J Clin Der-
matol; 18(1):59-65.
6. Shah SD, Aurangabadkar SJ. (2015)
Newer trends in laser tattoo removal. J
Cutan Aesthet Surg;8(1):25-9.

216
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
1. ĐẠI CƯƠNG
Mỹ phẩm là những chất được dùng trên
cơ thể để làm sạch, làm đẹp, tăng vẻ hấp
dẫn hay thay đổi diện mạo mà không ảnh
hưởng cấu trúc hay chức năng của cơ thể.
Mỹ phẩm trên thị trường hiện nay được sử
dụng rất phổ biến. Mỹ phẩm trang điểm và
chăm sóc da là các sản phẩm mà phụ nữ
ưa thích nhưng có thể gây tác dụng không
mong muốn trên da: các mỹ phẩm có chứa
corticoid gây nên tình trạng teo da, giãn
mạch, giảm sắc tố, bội nhiễm, phát ban
mụn trứng cá, các sản phẩm chứa hoạt
chất lột da gây kích ứng, viêm da tiếp xúc,
các chất dưỡng ẩm có thể gây mụn, các
chất tẩy trắng có thể gây tình trạng mất
sắc tố hoặc tăng sắc tố. Các thương tổn
này không đơn độc mà thường kết hợp với
nhau làm cho bệnh nhân và cả bác sĩ nhận
định khó khăn. Đôi khi bản thân bệnh nhân
cũng đã có bệnh nền tảng và nặng thêm
do mỹ phẩm. Việc xử trí các tác dụng phụ
này không phải lúc nào cũng đơn giản.
Ngưng mỹ phẩm là hiển nhiên nhưng sẽ
gây tình trạng khó chịu do lệ thuộc. Bác sĩ
chuyên khoa da liễu cần kiên nhẫn tư vấn
bệnh nhân và lựa chọn phương pháp thích
hợp cho từng tình trạng cụ thể. Bảo vệ sự
toàn vẹn cấu trúc da là kim chỉ nam cho
giải pháp điều trị. Tất cả các xáo trộn cấu
trúc sẽ mang đến tác dụng phụ mới không
mong muốn.
2. VIÊM DA TIẾP XÚC KÍCH ỨNG VÀ
DỊ ỨNG DO MỸ PHẨM
2.1. Viêm da tiếp xúc kích ứng
(Irritant contact dermatitis)
TAI BIẾN DA DO MỸ PHẨM
(COMPLICATIONS OF COSMETICS)
Viêm da tiếp xúc kích ứng là viêm
nhiễm tại chỗ không được điều hòa qua
trung gian hệ thống miễn dịch và gây ra
bởi yếu tố nội sinh và ngoại sinh.
Tác nhân: sản phẩm làm sạch, kem
dưỡng ẩm hay làm mềm có thành phần
dầu và nước hòa trộn với nhau, chứa chất
hoạt động bề mặt và chất nhũ tương hóa.
Khi những mỹ phẩm này sử dụng trên mặt
hay da khô, da bị chàm là những tình trạng
da mà hàng rào lớp sừng kém hiệu quả,
phản ứng kích ứng có thể xảy ra. Cường
độ viêm nhiễm liên hệ với nồng độ chất
kích ứng và thời gian tiếp xúc. Một số mỹ
phẩm gây kích ứng chỉ sau khi dùng lặp đi
lặp lại, hiện tượng này gọi là kích ứng do
tích lũy. Ma sát, chấn thương và kích ứng
cơ học có thể gây ra bởi những mỹ phẩm
được sử dụng phổ biến có chứa hạt để làm
bong vảy da.
Triệu chứng: khô, nứt và hồng ban, tróc
vảy.
Patch test nên thực hiện trong trường
hợp nghi ngờ viêm da tiếp xúc kích ứng
mạn tính để loại trừ viêm da tiếp xúc dị
ứng, nên thực hiện.
2.2. Viêm da tiếp xúc dị ứng
(Allergic contact dermatitis)
Tác nhân: mỹ phẩm, sản phẩm vệ sinh
da và dưỡng ẩm, mỹ phẩm tóc và móng.
Hương liệu là nguyên nhân dị ứng thường
gặp nhất, sau đó là chất bảo quản và thuốc
nhuộm tóc. Tuy nhiên, tất cả các thành
phần gồm thành phần thiên nhiên, cũng
có thể là chất gây nhạy cảm.
Phản ứng dị ứng do tiếp xúc với mỹ
phẩm là phản ứng quá mẫn muộn như
viêm da tiếp xúc dị ứng và viêm da tiếp xúc

217
Thẩm mỹ nội khoa
dị ứng với ánh sáng, ngoài ra cũng có thể
là phản ứng tức thì, là mày đay tiếp xúc.
Triệu chứng lâm sàng: phụ thuộc loại
sản phẩm sử dụng, vị trí bôi và mức độ
nhạy cảm của bệnh nhân. Thông thường,
mỹ phẩm và những thành phần là dị ứng
nguyên yếu và viêm da do dị ứng mỹ phẩm
nhẹ: hồng ban, phù nhẹ, bong vảy và sần.
Mặt là vùng thường gặp nhất, đặc biệt là
mi mắt. Trong giai đoạn cấp tính: ngứa,
hồng ban, phù và mụn thường giới hạn ở
vùng tiếp xúc trực tiếp. Giai đoạn mạn tính:
mảng hồng ban lichen hóa với tăng sừng
và nứt có thể lan rộng ngoài vùng tiếp xúc
trực tiếp. Sưng và phù là gợi ý cho dị ứng.
Patch test quan trọng ở bệnh nhân
nghi ngờ viêm da tiếp xúc dị ứng với mỹ
phẩm và vẫn là tiêu chuẩn vàng trong chẩn
đoán. Ngoài viêm da tiếp xúc dị ứng, cũng
có phản ứng quá mẫn tức thì, dùng prick
test là tiêu chuẩn vàng cho chẩn đoán.
2.3. Điều trị
Tránh những chất gây kích ứng hay dị
ứng nguyên. Nếu tác nhân gây ra không
thể tránh, trong trường hợp dị ứng nguyên
trong môi trường nghề nghiệp, thiết bị bảo
hộ cá nhân như găng tay, quần áo bảo hộ
và kem dưỡng ẩm nên dùng. Viêm da tiếp
xúc cấp tính có thể điều trị với corticoste-
roid tại chỗ hay toàn thân, phụ thuộc vào
độ nặng của phản ứng. Bệnh nhân nên
được hướng dẫn dùng chăm sóc da hằng
ngày như chất làm mềm, để duy trì chức
năng hàng rào da và giảm nguy cơ viêm
da tiếp xúc.
3. GIÃN MẠCH (TELANGIECTASIA)
| Giãn mạch là một tình trạng có những
đường mạch máu nhỏ có thể nhìn thấy
trên da. Tình trạng này được đặc trưng bởi
dãn bất thường mao mạch và tiểu động
mạch. Giãn mạch do steroid có thể do
kích thích giải phóng nitric oxide từ tế bào
nội mô mạch máu lớp bì dẫn đến giãn bất
thường của mao mạch. Cần chẩn đoán
phân biệt với những giãn mạch tự nhiên
qua hỏi bệnh sử, khám, kiểm tra cẩn thận.
Điều trị
Có thể dùng laser như PDL cho điều trị
giãn mạch lan tỏa, Nd:YAG/KTP cho những
mạch máu nhỏ và laser với bước sóng dài
Nd:YAG (1064nm) cho mạch máu lớn và
sâu hơn. Ngoài ra, Intense Pulsed Light
(IPL) là lựa chọn tốt cho giãn mạch nông.
Trong trường hợp giãn mạch kèm xuất
huyết dưới da có thể điều trị với vitamin C,
vitamin K.
4. OCHRONOSIS
Ochronosis là một rối loạn ít gặp, đặc
trưng lâm sàng bởi xuất hiện của những
sắc tố xanh - đen hay xám - xanh, mô học
cho thấy lắng đọng vàng - nâu trong lớp
bì. Vị trí: da, sụn tai và củng mạc mắt. Có
hai loại là nội sinh còn gọi là “alkaptonuric
orchronosis” và ochronosis ngoại sinh.
Ochronosis ngoại sinh là một rối loạn da
đặc trưng bởi thay đổi màu sắc xanh - đen
do dùng kéo dài kem làm sáng da chứa
hydroquinone, tiếp xúc tại chỗ với phenol
hay resorcinol ở người da sậm màu, sau
sử dụng kháng sốt rét như quinine. Lâm
sàng và mô học giống với Ochronosis nội
sinh. Thường không có biểu hiện hệ thống,
biểu hiện là những dát xanh - đen đối xứng
hai bên, không triệu chứng, điển hình biểu
hiện tăng sắc tố trong vùng phơi bày ánh
sáng mặt trời như vùng má, thái dương
và cổ. Tổn thương sẩn và nốt có thể thấy.
Ochronosis ngoại sinh rất khó điều trị, gây
ảnh hưởng thẩm mỹ và đối mặt với vấn đề
thất vọng với điều trị.

218
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
5. MỤN TRỨNG CÁ DO MỸ PHẨM
(ACNE COSMETICA)
Mụn trứng cá do mỹ phẩm (acne cos-
metica) là một biến thể mụn trứng cá liên
quan tới việc sử dụng sản phẩm chăm sóc
da, mỹ phẩm hoặc các sản phẩm chăm
sóc tóc.
* Cần phân biệt các khái niệm
sau: Comedongenicity: sinh cồi mụn.
Acnegenicity bao gồm comedonegenicity
và khởi phát sẩn, mụn mủ.
Hai khái niệm này khác nhau về cơ
chế sinh bệnh. Comedongenicity gây ra
comedon (mụn đầu trắng, mụn đầu
đen) do nút sừng ở nang lông (follicular
plugging). Acnegenicity gây sẩn, mụn mủ
do kích ứng nang lông (follicular irritation).
Vì vậy, những chất sinh cồi mụn không
nhất thiết sinh mụn và ngược lại.
Những chất có thể sinh cồi mụn có trong mỹ phẩm
Những chất gây kích ứng nang lông
(chất sinh mụn) có thể được kể tên trong
các sản phẩm mỹ phẩm nhưng không có
ý nghĩa do sự tương tác giữa các thành
phần, nồng độ và điều quan trọng hơn là
sự nhạy cảm của cá thể để hình thành
mụn trứng cá.
Mỹ phẩm có chứa chất gây mụn gây ra
mụn trứng cá ở một người chưa chắc gây
mụn trứng cá ở người khác. Trong thực
hành lâm sàng, tai biến trong mỹ phẩm
do sinh mụn nhiều hơn do sinh cồi mụn,
điều đó làm những chất sinh mụn có vai
trò quan trọng hơn chất sinh cồi mụn.
Một khái niệm khác cần phân biệt ac-
neiform eruptions. Phát ban mụn trứng cá
thường xảy ra sau 2-4 tuần trong khi đó
hiện tượng “breakout” (viêm da tiếp xúc
kích ứng nang lông) xảy ra 48 giờ sau khi
sử dụng mỹ phẩm mới.
Test những chất sinh cồi mụn: Ban
đầu, các chất có khả năng sinh cồi mụn
được thử nghiệm trên tai thỏ. Một bên tại
là chứng, tại còn lại bôi 0,5 mL chất có
khả năng sinh cồi mụn 5 ngày mỗi tuần
liên tiếp trong 2 tuần, đánh giá mỗi ngày:
lỗ chân lông, tăng sừng Sau 14 ngày, sinh
thiết tìm tăng sừng trong đơn vị nang lông

219
Thẩm mỹ nội khoa
tuyến bã. Nếu có chất đó có khả năng sinh
cồi mụn. Ngày nay, thử nghiệm tiến hành
phần lưng trên của người. Mặc dù thử ng-
hiệm trên lưng của người có nhiều ưu điểm
hơn so với tai thỏ nhưng nó cũng có những
nhược điểm: hầu hết các mỹ phẩm được
sử dụng trên mặt, có sự khác nhau về lỗ
chân lông và các tuyến bã nhờn vùng mặt
so với vùng lưng. Vì vậy, comedongenic và
noncomedogenic chỉ có tác dụng tham
khảo, không phải là tuyệt đối.
Điều trị: Ngưng mỹ phẩm đang sử dụng.
Bởi chất tiêu sừng: bezoxyl peroxide, sali-
cylic acid và retinoid.
6. CÁC PHẢN ỨNG DA KHÁC DO MỸ
PHẨM (OTHER SKIN REACTIONS
DUE TO COSMETICS)
6.1. Hội chứng mày đay tiếp xúc
(contact urticaria syndrome):
Nổi sẩn phù 30-60 phút sau khi tiếp
xúc tác nhân xác định. Biểu hiện từ nhẹ
đến nghiêm trọng (tử vong). Chẩn đoán
xác định qua bệnh sử (vùng da tiếp xúc
ngứa, rát, bỏng, sẩn phù hoặc triệu chứng
hô hấp) và test da đối với tác nhân nghi
ngờ. Có hai type: miễn dịch và không miễn
dịch. Trong đó, mày đay tiếp xúc không
miễn dịch là thường gặp nhất, không có
tiền căn tiếp xúc trước đó, xảy ra khu trú
không ảnh hưởng toàn thân. Trong trường
hợp điển hình, độ mạnh của phản ứng phụ
thuộc vào nồng độ và vị trí bôi. Cơ chế
chưa rõ. Benzoic acid, cinnamic acid và
cinnama thường được sử dụng trong mỹ
phẩm và là chất có khả năng gây ra phản
ứng này.
Mày đay tiếp xúc miễn dịch là phản
ứng dị ứng ngay lập tức type I, xảy ra trên
những người nhạy cảm và thường xuyên
hơn trên người có cơ địa dị ứng. Các hóa
chất được tiết ra nhờ phản ứng phân tử IgE
đặc hiệu trên màng tế bào mast. Từ mày
đay khu trú có thể lan rộng, đi kèm với các
triệu chứng khác viêm mũi dị ứng, viêm
kết mạc, hen suyễn và phản vệ. Theo cách
này, methylparaben, ethylparaben, henna
và ammonium persulfate trong mỹ phẩm
có thể gây phản ứng toàn thân.
6.2. Phản ứng quá mẫn muộn
(delayed hypersensitivity
reactions-type IV):
Là phản ứng quá mẫn qua trung gian
tế bào T. Chẩn đoán viêm da tiếp xúc
dị ứng dựa vào bệnh sử, thăm khám
phù hợp và patch test. Các thành phần
trong mỹ phẩm gây ra viêm da tiếp xúc
dị ứng theo nghiên cứu North American
Contact
Dermatitis
Group
(NACDG):
Paraphenylenediamine
(PPD),
Lanolin
and derivatives, Glyceryl thioglycolate,
Propylene glycol, Toluene sulfonamide/
formaldehyde resin, kem chống nắng và
các chất hấp thu UV khác, methacrylates.
Hầu hết các phản ứng dị ứng trong mỹ
phẩm được gây ra bởi chất tạo mùi, chất
bảo quản và một vài chất khác.
6.3. Phản ứng da do chất tạo mùi
(skin reactions due to fragrances):
Dị ứng với chất tạo mùi phổ biến, chiếm
khoảng 1% dân số nói chung. Viêm da có
thể ở mặt, cổ, tay, nách hoặc có thể khắp
người. Trên thực tế, chất tạo mùi luôn đứng
trong top 10 dị ứng nguyên gây viêm da
tiếp xúc, chỉ đứng thứ hai sau nickel và là
chất thường gặp nhất gây viêm da tiếp xúc
trong mỹ phẩm, đồ dùng vệ sinh cá nhân,
đồ gia dụng, chất tẩy rửa và gia vị. Mỹ
phẩm “unscented? (mỹ phẩm không chất
tạo mùi) vẫn có thể bao gồm một chất tạo
mùi. Dị ứng với chất tạo mùi thường bị bỏ
sót, vì vậy patch test là một công cụ quan
trọng để chẩn đoán. Dị ứng với chất tạo mùi
có sự khác biệt giữa các dân tộc và địa lý.
Điều quan trọng cần lưu ý là hóa chất nền
hương liệu (fragrance-based chemicals)

220
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
đôi khi được dán nhãn “fragrance-free
6.4. Phản ứng da do chất bảo quản
(skin reactions due to preservatives):
Chất bảo quản giúp ngăn ngừa sự phát
triển của vi sinh vật trong mỹ phẩm, nếu
chất bảo quản có tác dụng lâu dài sẽ ngăn
ngừa sự oxy hóa và tia UV. Khoảng 60 hóa
chất thường được sử dụng trong mỹ phẩm.
Các phản ứng bất lợi do chất bảo quản đã
thúc đẩy cho sự phát triển của mỹ phẩm
không có chất bảo quản. Các sản phẩm
ngày được cải tiến về quy trình sản xuất
và đóng gói (ví dụ như sử dụng thực vật có
hoạt tính kháng khuẩn).
Paraben esters, nhóm chất bảo quản
được sử dụng rộng rãi trong mỹ phẩm và
các sản phẩm chăm sóc da, có hiệu quả
kháng vi nấm và vi khuẩn gram (+). Par-
aben hiếm khi gây nhạy cảm trừ trường
hợp bôi lên da chàm. Những bệnh nhân
nhạy cảm với paraben có thể dung nạp
khi bôi trên da lành. Propylene glycol là
một dung môi và chất làm ẩm phổ biến,
có tác dụng kháng vi sinh vật. PG là chất
gây kích ứng nhẹ trên người nhạy cảm.
Formal dehyde và chất giải phóng formal-
dehyde được sử dụng rộng rãi. Formalde-
hyde thường có trong công thức của các
sản phẩm rửa trôi (dầu gội đầu). Quarter-
nium-15, imidazolidinyl urea, diazolidinyl
urea, DMDM hydantoin và 3-bromo-2-ni-
tropropane-1,3-diol là chất bảo quản giải
phóng formaldehyde. Methyldibromoglu-
taronitrile và phenoxyethanol (Euxyl 400)
là chất bảo quản có công thức hỗn hợp.
Butylated hydroxyanisole, butylated hy-
droxy toluene, tocopherol, propyl gallate,
and t-butyl hydroquinone là những chất
vừa tác dụng chống oxy hóa vừa là chất
bảo quản, thỉnh thoảng được báo cáo như
là dị ứng nguyên.
7. KẾT LUẬN
Mỹ phẩm và các sản phẩm chăm sóc
da ngày càng có vai trò quan trọng, không
chỉ giúp làm đẹp mà còn hỗ trợ bác sĩ da
liễu trong việc điều trị bệnh lý da. Vì vậy,
bác sĩ da liễu cần có kiến thức cơ bản về
mỹ phẩm như là cách chọn mỹ phẩm cho
từng loại da, sử dụng chúng như thế nào và
điều quan trọng nhất là cần biết những tác
dụng không mong muốn do việc sử dụng
mỹ phẩm, đồng thời cách xử trí khi tai biến
xảy ra. Việc sử dụng mỹ phẩm không phù
hợp hoặc không đúng cách sẽ gây ra các
thương tổn khác nhau. Nhiều thương tổn
dai dẳng và rất khó để điều trị, ảnh hưởng
đến thẩm mỹ cũng như chất lượng cuộc
sống của bệnh nhân. Nhận định đúng và
tiên lượng tốt sẽ giúp bác sĩ tư vấn, phòng
ngừa và điều trị tốt hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Baumann L., (2012) Cosmetics and
Skin Care in Dermatology, in Fitzpatrick’s
Dermatology in General Medicine. pp3016-
3017.
2. Bhattar P.A., (2015) et al., Exogenous
Ochronosis. Indian Journal of Dermatolo-
gy, 60(6): pp. 537-543.
3. Draelos, Z.D., (2014) Acne Cosmet-
ica, in Pathogenesis and Treatment of
Acne and Rosacea. pp. 265-p270.
4. Habif T.P., (2015) Clinical dermatolo-
gy: Elsevier Health Sciences.
5. Hajar T., (2015) et al., A systematic
review of topical corticosteroid withdraw-
al (“steroid addiction”) in patients with
atopic dermatitis and other dermatoses. J
Am Acad Dermatol, 72(3): pp. 541-549.e2.

221
Thẩm mỹ nội khoa
6. Mehta S.S. and B.S.N. Reddy, (2003)
Cosmetic dermatitis - current perspec-
tives. International Journal of Dermatolo-
gy. 42(7): pp. 533-542. 7.
7. Rathi S., (2006) Abuse of topical
steroid as cosmetic cream: A social back-
ground of steroid dermatitis. Indian Jour-
nal of Dermatology. 51(2): pp. 154-155.
8. Rathi S.K. and Kumrah L, (2011) Top-
ical corticosteroid-induced rosacea-like
dermatitis: a clinical study of 110 cases.
Indian J Dermatol Venereol Leprol. 77(1):
pp. 42-6.
9. Wolff K., (2008) et al., Fitzpatrick’s
Dermatology in General Medicine, 2 Vol-
umes. Transplantation.

222
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
DA SẦN VỎ CAM
(CELLULITE)
1. ĐẠI CƯƠNG
Cellulite là thuật ngữ dùng để mô tả
tình trạng da sần sùi, không mịn màng, lồi
lõm, nhấp nhô “như vỏ cam” thường xuất
hiện trên mặt ngoài đùi, mặt sau đùi và
mông ở phụ nữ tuổi trưởng thành. Dù vẫn
còn nhiều tranh cãi, nhưng đa số các tác
giả đồng tình cho rằng cellulite không phải
là bệnh lý, chỉ ảnh hưởng về mặt thẩm mỹ,
dù một số trường hợp có kèm theo các
bệnh lý nội khoa tim mạch được ghi nhận.
Tuy nhiên, cellulite và cân nặng không liên
quan đến nhau, ngay cả những người vóc
dáng cân đối cũng có thể gặp tình trạng
này.
2. DỊCH TỄ
80 - 90% gặp ở phụ nữ trưởng thành. Tỉ
lệ ở phụ nữ da trắng cao hơn phụ nữ châu
Á.
Nam giới ít gặp do sự sắp xếp các mô
liên kết chắc chắn hơn nữ giới. Đồng thời
da ở nam giới trưởng thành cũng dày hơn.
Có thể gặp tình trạng cellulite ở nam
giới có sự khiếm khuyết androgen thứ
phát như hội chứng Klinefelters, cắt bỏ
tinh hoàn hoặc điều trị bằng estrogen như
trong ung thư tiền liệt tuyến...
3. SINH BỆNH HỌC
Khi các mô liên kết trong lớp bì trở nên
kém đàn hồi, các túi mỡ sẽ thoát ra và
trồi lên trên bề mặt da, trong khi các mô
liên kết lại có khuynh hướng kéo da hướng
xuống, điều này dẫn đến việc lồi lõm, nhấp
nhô trên bề mặt da. Đồng thời, sự ứ trệ
trong việc dẫn lưu bạch huyết gây phù nề
và giảm tưới máu tại chỗ của hệ vi tuần
hoàn sẽ làm nặng thêm tình trạng cellulite.
Quá trình hình thành tình trạng cellulite
được mô tả như sau:
- Estrogen giữ vai trò quan trọng.
Estrogen tác động lên nguyên bào sợi
và tác động lên collagenase gây phá vỡ
collagen bao bọc quanh tế bào mỡ, làm
collagen đứt gãy giữa các khối mỡ.
- Từ đó, các mô mỡ được giải phóng, tập
trung phân bố nhiều ở các vùng mô liên
kết kém săn chắc.
Về mặt mô học: ghi nhận vách ngăn
mô liên kết ở phụ nữ có tình trạng cellulite
mỏng hơn và nhìn chung có phương vuông
góc với bề mặt da làm mỡ dễ thoát ra hơn
so với vách ngăn mô liên kết có phương
truyền chéo ở phụ nữ bình thường.
4. CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ
- Tuổi: theo thời gian, các mô liên kết
giảm dần tính đàn hồi, do đó phụ nữ
càng lớn tuổi, nguy cơ cellulite càng cao.
- Thuốc lá: nguy cơ cao ở cả hút thuốc lá
chủ động và thụ động.
- Estrogen: tình trạng cellulite sẽ nặng
lên khi có tình trạng tăng estrogen cao
như thai kì, cho con bú và sử dụng thuốc
tránh thai uống kéo dài.
- Gen: mã hóa men angiotensin-
coverting (ACE), làm tăng sự hình thành
angiotensin II trong mô mỡ dưới da, dẫn
đến giảm lưu lượng máu. Từ đó giảm
oxy máu trong môi trường mô mỡ và
gây phản ứng viêm tại chỗ.

223
Thẩm mỹ nội khoa
- Ít tập thể dục, ít vận động, đặc biệt là
ngồi nhiều sẽ làm giảm lưu lượng máu
do tì đè.
- Chỉ số khối cơ thể (BMI) càng cao thì
nguy cơ xuất hiện cellulite càng nhiều.
- Chế độ ăn: nhiều carbohydrate gây
tăng lượng mỡ toàn cơ thể, dẫn đến
tăng biểu hiện cellulite.
5. LÂM SÀNG VÀ PHÂN ĐỘ
Cellulite có thể ảnh hưởng đến tất cả
các vùng trong cơ thể có mô mỡ dưới da,
nhưng thường gặp nhất là ở mặt ngoài
đời, mặt sau đùi, mông, hông, vùng bụng
quanh rốn, ngực, cánh tay sau và sau cô.
Phân độ theo Nurnberger và Muller, đây là bảng phân độ hiện nay thường được
dùng nhất. Gồm có ba độ:
Phân độ theo Rossi và Vergnanini: có bốn độ
Phân độ theo Hexsel: độ nặng của
cellulite dựa vào 5 yếu tố, mỗi yếu tố đánh
giá thang điểm từ 0 - 3.
- Số lượng vùng lõm
- Độ sâu vùng lõm
- Biểu hiện lâm sàng
- Độ rộng của mô lỏng lẻo
- Bảng phân độ theo Nurnberger và
Muller

224
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
6. ĐIỀU TRỊ
6.1. Thuốc bôi
Các loại thuốc bôi chứa caffeine, các
dạng retinol, dẫn xuất thực vật có tác dụng
tiêu mỡ, kích thích vi tuần hoàn ngoại vi
giúp dễ dàng dẫn lưu bạch huyết, giảm tình
trạng phù nề. Caffeine tác động lên men
ly giải triglyceride, biến đổi triglyceride
thành các acid béo tự do và glycerol.
Alkaloids, tương tự caffeine, giúp tiêu
mỡ nhờ ức chế hoạt động của phospho-
diesterase và tăng adenosine monophos-
phate vòng (CAMP).
Retinol có tác dụng chống lại việc tạo
mỡ nhờ vào việc ức chế sự biệt hóa của
các tế bào mỡ tiền thân.
Các dẫn xuất thực vật như ginko biloba,
centella asiatica, hạt dẻ ngựa làm giảm
sự tạo mỡ và hoạt hóa quá trình tiêu mỡ.
Đồng thời còn có vai trò chống oxy hóa và
kháng viêm.
6.2. Liệu pháp sóng âm
Nhờ vào độ nén cao của các khí tạo ra
các áp lực nhỏ khác nhau giúp thay đổi
nhiệt độ và độ dày của vùng cần điều trị.
Năm 1980, sóng âm năng lượng cao được
ứng dụng lần đầu tiên trong việc điều
trị tán sỏi. Ngày nay, các sóng âm năng
lượng thấp được ứng dụng trong việc điều
trị nhiều bệnh khác nhau như đau cơ, bệnh
cơ xương hệ thống,... trong đó có tình
trạng cellulite.
Các giả thiết về tác dụng của sóng âm
năng lượng thấp:
- Cải thiện tuần hoàn tại chỗ thông qua
việc tân sinh các mạch máu mới.
- Tăng sự biệt hóa các sợi collagen và
elastin,
- Tăng sự dẫn lưu của hệ bạch huyết.
243
- Tăng tính thấm tế bào, kích thích sự
trao đổi của các tế bào mỡ và hoạt hóa
men phospholipase thông qua thụ thể B
trên màng tế bào mỡ.
6,3. Thiết bị Radiofrequency (RF)
Hiện nay, RF là một trong những
phương pháp thường được dùng để điều
trị tình . trạng cellulite. Năng lượng RF
gây tác động nhiệt trong lớp bì, biến đổi
và tăng sinh collagen làm da săn chắc.
Đồng thời, các tế bào mỡ dưới da sẽ hấp
thu nhiệt và bị phá vỡ thông qua việc ly
giải màng tế bào. Có thể dùng RF để điều
trị tình trạng cellulite riêng rẽ hoặc kết hợp
với massage.
6.4. Tách đáy thương tổn
Chỉ định: cho tình trạng cellulite xuất
hiện cả lúc thả lỏng.
Khi vách ngăn của các sợi mô liên kết
bị cắt tách, dẫn đến việc tái tạo lại lực căng
dưới da, do đó sẽ giảm nhẹ được tình trạng
trồi ra của các túi mỡ. Đồng thời, trong
khoang trống được tạo ra bởi các chỗ nhỏ
sẽ có sự phân bố lại các tiểu thùy mỡ.
Tách đáy thương tổn được chia làm ba
nhóm:
(1) Tách đáy thương tổn bằng tay
- Dùng một cái ổng đầu chuốt mỏng như
cái muỗng (forked cannula) hoặc kim
không lõi 18G đưa vào 10-20 mm trong
lớp mô mỡ dưới da, song song với bề
mặt da.
- Độ sâu rất quan trọng, nếu thực hiện
quá nông có thể gây hoại tử da, ngược
lại nếu quá sâu có thể dẫn đến việc cải
thiện tình trạng cellulite không đáng kể.
Do đó, kỹ thuật này phụ thuộc nhiều vào
kỹ năng và kỹ thuật của phẫu thuật viên.
- Từng vùng riêng lẻ thực hiện thủ thuật
không nên lớn quá 3 cm.

225
Thẩm mỹ nội khoa
(2) Tách đáy thương tổn bằng chân
không
Nhờ hệ thống chân không với kim 22 G,
chúng ta hoàn toàn có thể kiểm soát được
các thông số: độ sâu (6 - 10 mm), diện tích
vùng điều trị (5 cm hoặc 3 x 6 cm) với lưỡi
cắt nhỏ 0,45 mm.
3) Tách đáy thương tổn bằng laser
- Laser tác động gây phá vỡ vách ngăn
của các sợi mô liên kết trong lớp bì.
- Cả hai bước sóng 1064 nm và 1320 nm
đều có hiệu quả.
6.5. Thiết bị laser và ánh sáng
- Có thể dùng laser Nd: YAD 1064 nm
hoặc 1440 nm hoặc laser năng lượng
thấp, thiết bị ánh sáng trong việc điều
trị tình trạng cellulite.
- Laser Nd: YAD 1064 nm tạo năng lượng
nhiệt đi sâu vào lớp bì và hạ bì, dẫn đến
cơ chế lành thương, thúc đẩy sự tăng
sinh collagen. Lớp collagen sinh ra dày
đặc hơn sẽ nén chặt lại trong vùng cần
điều trị, không cho các túi mỡ thoát ra
ngoài.
- Laser Nd: YAD 1440 nm (xâm lấn tối
thiểu) tác động tiêu hủy có chọn lọc các
tế bào mỡ trồi ra, dẫn đến việc làm trơn
phăng phần liên kết bì - hạ bì. Đồng thời,
dùng nhiệt tách các vách ngăn ở hạ bì,
các lớp cơ và tạo nhiệt trong lớp bì từ
trong ra ngoài giúp tăng độ dày của lớp
bì và độ đàn hồi của da bằng việc kích
thích sự tăng sinh và tái tạo collagen.
- Trong khi đó, laser năng lượng thấp
(LLLT) lại không sinh nhiệt được trong
cấu trúc vùng cần điều trị, LLLT có
vai trò tăng tạo CMP vòng do oxy hóa
cytochrome C, kết quả là phá vỡ các tế
bào mỡ, tạo các lỗ hổng tạm thời trong
màng tế bào giúp tăng tính thấm tế bào.
Từ đó, mỡ sẽ thoát vào trong khoang
ngoại bào. Ngoài ra, LLLT còn thúc đẩy
sự dẫn lưu hạch bạch huyết, lưu lượng
máu dưới da, tăng sinh collagen mới.
Như vậy, laser năng lượng thấp chủ yếu
kích thích sự tổng hợp collagen bằng
tác động gián tiếp sinh học trên màng
tế bào.
- Thiết bị ánh sáng (LED) sinh nhiệt
giúp thúc đẩy vi tuần hoàn, dẫn lưu
bạch huyết và tổng hợp collagen. Tuy
nhiên, thiết bị ánh sáng riêng lẻ không
có hiệu quả cao trong điều trị tình trạng
cellulite, nên thường là cần phải kết hợp
với laser (ví dụ: laser năng lượng thấp
955 nm với đèn LED 650 nm).
6.6. Các phương pháp khác:
Đánh giá về hiệu quả điều trị cần thêm
nhiều nghiên cứu nữa.
- Liệu pháp giảm sung huyết vật lý:
kết hợp áp lực âm và dương từ máy
massage chân không thúc đẩy tăng lưu
lượng máu trong hệ vi tuần hoàn tĩnh
mạch và hệ bạch huyết, từ đó giúp tái
phân bổ lượng dịch ngoại bào.
- Extracorporeal shock-wave therapy
(ESWT)
+ Giảm độ dày của lớp mỡ dưới da, cải
thiện được tình trạng da sần sùi trong
cellulite.
+ Tác dụng phụ: đau, đỏ và bầm máu
tại vùng điều trị.
+ Chống chỉ định: thai kì.
- HIFU
+ Năng lượng HIFU tác động gây phá
vỡ các mô mỡ đích.
+ Nhờ sự hội tụ cao của năng lượng siêu
âm tần số cao, các mô phá hủy bị giới
hạn tại các điểm nhỏ. Đồng thời, HIFU
còn tác động làm các phân tử chuyển
động tại vùng đó, dẫn đến việc tăng
nhiệt độ tại mô đích trên 56°C và gây
hoại tử đồng các tế bào mỡ.

226
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
+ Có nhiều thiết bị HIFU, trong đó
LipoSonix đã được FDA chấp thuận
trong điều trị giảm mỡ.
- Ly giải lạnh mỡ (Cryolipolysis)
+ Nguyên lý của việc ly giải lạnh mỡ dựa
trên các tế bào mỡ có độ nhạy cảm
với lạnh cao hơn so với các tế bào
khác. Năm 2012, ly giải lạnh mỡ được
FDA chấp thuận trong việc giảm mỡ
vùng bụng và đùi, còn trong điều trị
tình trạng cellulite vẫn chưa có nhiều
nghiên cứu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Avram M. M., (2004), “Cellulite: a re-
view of its physiology and treatment”. J
Cosmet Laser Ther, 6 (4), pp. 181 - 185.
2. Daniel P. F., Garrett L. V., Vineet M.,
(2017), “Cellulite: аreview with a focus on
subcision”. Clinical, Cosmetic and Investi-
gational Dermatology, 10, pp. 17 - 23.
3. Enzo E., (2013), “Cellulite: Advanc-
es in treatment: Facts and controversies”.
Clinical in Dermatology, 31, pp. 725 - 730.
4. Irene Z., Andrea S., Roberto C., et al,
(2015), “Cellulite treatment: acomprehen-
sive literature review”. Journal of Cosmet-
ic Dermatology, 14, pp. 224 - 240.
5. Janda K., Tomikowska A., (2014),
“Cellulite - cause, prevention, treatment”.
Ann Acad Med Stetin, 60, pp. 29 - 38.
6. Khan M. H., Victor F., Rao B., et al.
(2010), “Treatment of cellulite”. J Am Acad
Dermatol, 62, pp. 361 - 370.
7. Paul J. R., Michael J., B., Carl F., et al,
(2016), “A Noninvasive Mechanical Treat-
ment to Reduce the Visible Appearance of
Cellulite”. Cutis. 2016, 98 (6), pp. 393 - 398.
8. Rossi A. M., Katz B. E., (2014), “A
modern approach to the treatment of cel-
lulite”. Dermatol Clin, 32 (1), pp. 51 - 59.
9. Stefanie L., Nils K., Neil S., et al, (2015),
“Cellulite: An Evidence-Based Review”. Am
J Clin Derma tol. 2015 Aug;16(4):243-256
10. Zahra A., Farzin H., Reza M., et al,
(2016), “Review of the Mechanisms and
Effects of Noninvasive Body Contouring
Devices on Cellulite and subcutaneous
Fat”. Int J Endocrinol Metab, 14 (4), pp.
36727.

227
Thẩm mỹ nội khoa
1. ĐẠI CƯƠNG
Rạn da là dấu hiệu rất thường gặp, tỉ
lệ hiện mắc khoảng 20 - 40% dân số, dấu
hiệu lâm sàng đặc trưng là teo da dạng
đường thẳng, các đường này vuông góc
với trục của lực kéo tác động trên da. Rạn
da không ảnh hưởng đến sức khỏe nhưng
ảnh hưởng đến thẩm mỹ. Rạn da được
chia thành các nhóm khác nhau dựa trên
hình ảnh thương tổn: (striae albae, atrophi-
cae, distensae, rubrae, nigrae, lineae) hoặc
sinh bệnh học (striae adolescen tium,
gravidarum).
2. DỊCH TỄ
- Phụ nữ thường gặp hơn (60 - 80%) so
với nam giới (10 - 30%).
- Người da trắng và tóc đỏ chiếm tỉ lệ
cao hơn những người da màu. Tăng sắc
tố (Striae nigrae) chỉ được tìm thấy ở
người da màu.
- Rạn da xuất hiện chủ yếu ở trẻ vị thành
niên và phụ nữ từ 22 đến 41 tuổi. Rất
hiếm khi xảy ra ở trẻ sơ sinh và người
lớn tuổi.
3. NGUYÊN NHÂN
Có rất nhiều nguyên nhân:
- Tăng trưởng nhanh ở tuổi dậy thì
- Mang thai
- Béo phì
- Hội chứng Cushing, hội chứng Marfan
- Thuốc corticosteroid, hóa trị, điều trị
lao, ngừa thai
- Yếu tố di truyền
- Phẫu thuật
- Khác: chế độ ăn kiêng ít protein, bệnh
gan mạn tính, bệnh truyền nhiễm mạn
tính (bệnh lao, viêm màng não, Hod-
gkin).
4. LÂM SÀNG
Các giai đoạn của rạn da: ban đầu là
các đường giới hạn rõ, màu đỏ hồng hoặc
tím, song song với nhau, chưa có hiện
tượng teo da, kéo dài từ vài tháng đến 1
hoặc 2 năm.
Sau đó, màu đỏ biến mất và chuyển
thành các đường teo da. Số lượng thường
nhiều, chiều dài thay đổi từ vài mm đến
hơn 20 cm, chiều rộng từ vài mm đến vài
cm. Các vết rạn vuông góc với trục của lực
kéo dãn da và phân bố theo các đường của
Langer. Nang lông và tuyến bã biến mất.
Vị trí thường gặp: hồng, bụng và vú ở
phụ nữ, thắt lưng, bên ngoài bắp đùi và
hông nam giới.
Diễn tiến: mờ dần và thu hẹp dần theo
thời gian. Trong trường hợp sử dụng cor-
ticoid, các biến chứng nặng nề có thể gặp
như phù hoặc loét da.
RẠN DA
(STRETCH MARKS)

228
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
Hình 1. Các vị trí thường gặp của rạn da.
(Nguồn: S. Al-Himdani et al, Br J Dermatol. 2014)
5. MÔ BỆNH HỌC
Rạn da có thể coi là các vết sẹo do tổn
thương mô liên kết dưới da, bắt đầu với hiện
tượng viêm (striae rubrae) và kết thúc bằng
đường teo da màu trắng điển hình (striae
albae). Giai đoạn đầu, lớp thượng bì vẫn
bình thường, nhưng sau đó tiến triển teo
mỏng dần. Lớp hạt có thể biến mất. Vùng
nối bì - thượng bì gần như đường thẳng.
Melanin tích tụ tại màng đáy. Trong rạn
da Striae rubrae, có sự tẩm nhuận các tế
bào viêm gồm lymphocytes, monocytes,
đôi khi có neutrophils và các tế bào
mast. Có thể kèm theo hiện tượng xuất
huyết. Trong giai đoạn cuối, số lượng
glycoaminoglycans gia tăng đáng kể.
Trong khi đó, số lượng fibrillin, microfibrils
gần với vùng nổi bì - thượng bì lại giảm.
Mô liên kết trong lớp bì trở nên lỏng lẻo.
Số lượng các sợi collagen và elastin giảm.
Các sợi elastin và fibrillin chạy song song
với vùng nổi bị thượng bì, hình ảnh này
tương tự trong mô học của vết sẹo. Các
nang lông, tuyến mồ hôi và tuyến bã bị
biến dạng

229
Thẩm mỹ nội khoa
Thượng bì
Key
Elastin
Collagen
Normal skin
Striae rubrae
Striae albae
Bì nhú
Bì lưới
Hình 2. Hình ảnh so sánh về mô học giữa da thường (a,b), striae rubrae (c-e)
và striae albae (f-h). Nhuộm Haematoxylin eosin.
(Nguồn: S. Al-Himdani et al, Br J Dermatol. 2014)
(a) Da thường (b) trong lớp bì nhú, các sợi
collagen và elastin sắp xếp lộn xộn, trong
lớp bì lưới thì các sợi này sắp xếp song song
với mặt da. (c) Striae rubrae (d, e) Các sợi
elastin mảnh chiếm ưu thế ở lớp hạ bì với
những sợi cong dày hơn phân bố ở ngoại
vi, có sự giảm và tái tổ chức các sợi elastin
và fibrylin, kèm theo sự thay đổi cấu trúc
của collagen (f) Striae albae (g,h) mô bị teo
mỏng, mất các nhu bì, các bó collagen xếp
dày đặc theo chiều song song với mặt da,
tương tự như mô học của vết sẹo.

230
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
6. ĐIỀU TRỊ
Cho đến nay, các phương pháp điều trị
rạn da hiệu quả không cao. Do đó, thương
kết | hợp nhiều phương pháp trong điều trị
rạn da.
6.1. Thuốc thoa
Các thuốc thoa thường chứa các chất
sau: vitamin A, vitamin E, collagen-elastin
hydrolysates, Centella asiatica, panthenol,
hyaluronic acid, elastin, menthol và allan-
toin.
6.1.1. Tretinoin
- Cơ chế: tác động lên nguyên bào sợi và
kích thích tổng hợp collagen. Hiệu quả
trong Striae rubra hơn Striae albae.
- Thời gian điều trị từ 4 - 6 tháng.
- Tretinoin 0,1% mới có hiệu quả, nồng
độ thấp hơn không hiệu quả.
6.1.2. Trofolastin cream
Trofolastin cream chứa Centella asiati-
ca, có khả năng kích thích các nguyên bào
sợi và có tác dụng đối kháng glucocorti-
coid.
6.1.3. Cocoa butter (bơ cacao)
Nhiều sản phẩm chứa bơ ca cao được
sử dụng rộng rãi nhằm ngăn ngừa rạn da,
nhưng hiệu quả chưa được chứng minh
bằng nghiên cứu lâm sàng.
6.1.4. Silicon
Một vài nghiên cứu thấy thoa silicon có
tác dụng tăng sinh collagen, phòng ngừa
rạn da. Nhưng hiệu quả chưa được chứng
minh bằng thử nghiệm lâm sàng.
6.2. Lột bằng hóa chất
Acid glycolic (GCA) và acid trichloroax-
etic (TCA) có tác dụng làm tăng tổng hợp
collagen. Một vài nghiên cứu chứng minh
phương pháp này cải thiện tình trạng rạn da,
đặc biệt là hai dạng striae albae và striae
rubrae.
6.3. Laser không xâm lấn
Pulsed dye laser (PDL) 585 nm, Nd-YAG
1064 nm, laser excimer 308 nm xenon clo
rua (XeCl), laser copper bromide 577 nm,
laser CO2 10600 nm. Ngoài ra, IPL, sóng
vô tuyến (RF) và UV cũng đã được sử dụng
trong các nghiên cứu điều trị rạn da. Tuy
nhiên, hiệu quả vẫn còn hạn chế. 6.4. Các
kỹ thuật khác: như Fractional resurfacing,
lăn kim RF, hiệu quả vẫn còn đang nghiên
cứu.
7. KẾT LUẬN
Rạn da là dấu hiệu rất thường gặp trên
lâm sàng, nguyên nhân liên quan đến rất
nhiều yếu tố. Rạn da không ảnh hưởng đến
sức khỏe nhưng ảnh hưởng rất nhiều đến
thẩm mỹ. Cho đến nay, chưa có phương
pháp nào thực sự có hiệu quả trong điều
trị cũng như phòng ngừa rạn da.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cho S, Park ES, Lee DH et al (2006),
“Clinical features and risk factors for stri-
ae distensae in Korean adolescents”, J Eur
Acad Dermatol Venereol, 20, pp. 1108–13.
2. Buchanan K, Fletcher HM, Reid M
(2010), “Prevention of striae gravidarum
with cocoa butter cream”, Int J Gynaecol
Obstet, 108(1), pp. 65-8.
3. Goldman A, Rossato F, Prati C (2008),
“Stretch marks: treatment using the 1064-
nm Nd:YAG laser”, Dermatol Surg, 34,
pp.686-92.
4. Ud-Din S, McAnelly SL, Bowring A
et al (2013), “A double-blind controlled
clinical trial assessing the effect of topical
gels on striae distensae (stretch marks): a

231
Thẩm mỹ nội khoa
non-invasive imaging, morphological and
immunohistochemical study, Arch Derma-
tol Res, 305, pp.603–17.
5. Kang S, Kim KJ, Griffiths CE et al
(1996), “Topical tretinoin (retinoic acid)
improves early stretch marks”, Arch Der-
matol, 132, pp.519–26.
6. Abdel-Latif AM, Albendary AS (2008),
“Treatment of striae distensae with micro-
dermabrasion: a clin ical and molecular
study”, J Egyptian Women Dermatol Soc,
5, pp.24–30.
7. Longo L, Postiglione MG, Marangoni
O et al (2003), “Two-year follow-up results
of copper bromide laser treatment of stri-
ae”, J Clin Laser Med Surg, 21, pp. 157–60.
8. Suh DH, Chang KY, Son HC et al
(2007),
“Radiofrequency
and
585-nm
pulsed dye laser treatment of striae dis-
tensae: a report of 37 Asian patients”, Der-
matol Surg, 33, pp.29–34.
9. Al-Dhalimi MA, Abo Nasyria AA
(2013), “A comparative study of the ef-
fectiveness of intense pulsed light wave-
lengths (650 nm vs 590 nm) in the treat-
ment of striae distensae”, J Cosmet Laser
Ther, 15, pp. 120–5.
10. Suh DH, Lee SJ, Lee JH et al (2012),
“Treatment of striae distensae combined
enhanced penetration platelet-rich plas-
ma and ultrasound after plasma fractional
radiofrequency”, J Cosmet Laser Ther, 14,
pp. 272–6.
11. Kim IS, Park KY, Kim BJ et al (2012),
“Efficacy of intradermal radiofrequency
combined with autol ogous platelet-rich
plasma in striae distensae: a pilot study”,
Int J Dermatol, 51, pp. 1253–8.
12. Ryu HW, Kim SA, Jung HR et al
(2013), “Clinical improvement of striae
distensae in Korean patients using a com-
bination of fractionated microneedle ra-
diofrequency and fractional carbon diox-
ide laser”, Dermatol Surg. 39, pp. 1452–8.
13. Shin JU, Roh MR, Rah DK et al
(2011), “The effect of succinylated atelo-
collagen and ablative fraction al resurfac-
ing laser on striae distensae”, J Dermato-
log Treat, 22, pp. 113-21.
14. Aust MC, Knobloch K, Vogt PM
(2010), “Percutaneous collagen induction
therapy as a novel thera peutic option for
striae distensae”, Plast Reconstr Surg,
126, pp.219–20e.
15. Park KY, Kim HK, Kim SE et al
(2012), “Treatment of striae distensae us-
ing needling therapy: a pilot study”, Der-
matol Surg, 38, pp.1823-8.
16. Alexiades-Armenakas MR, Dover
JS, Arndt KA (2008), “The spectrum of
laser skin resurfacing: non-ablative, frac-
tional, and ablative laser resurfacing”, J
Am Acad Dermatol, 58, pp. 719–37.
17. Katz TM, Goldberg LH, Friedman
PM (2009), “Nonablative fractional photo-
thermolysis for the treat ment of striae ru-
bra”, Dermatol Surg, 35, pp. 1430–3.

232
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
SẸO LỒI VÀ SẸO PHÌ ĐẠI
(KELOIDS - HYPERTROPHIC SCARS)
1. ĐẠI CƯƠNG
Sẹo lồi, sẹo phì đại là sự bất thường
trong quá trình lành vết thương. Cả hai
đều được đặc trưng bởi sự tăng sinh tại
chỗ nguyên bào sợi và sản xuất collagen
quá mức trong quá trình lành vết thương.
Biểu hiện lâm sàng thường là những nốt
hay mảng giới hạn rõ, bề mặt trơn láng,
thường có màu hồng hay tím.
Sẹo lồi do sự quá phát của mô sợi sau
khi lành vết thương. Sẹo lồi thường lan
rộng, lớn nhanh khỏi bờ thương tổn ban
đầu, bề mặt nhô cao, căng bóng, màu đỏ
hay hồng, ngứa và nhạy cảm khi sờ. Sẹo lồi
có thể thứ phát xuất hiện sau chấn thương
hay phẫu thuật, sau phản ứng viêm như
mụn, bỏng hoặc xỏ lỗ tai... nhưng cũng có
thể u xơ nguyên phát. Rất dễ tái phát sau
khi cắt bỏ. Sẹo phì đại thường thứ phát, tổ
chức xơ phát triển quá mức vẫn còn trong
giới hạn thương tổn ban đầu, sau khi cắt
bỏ sẹo thường không tái phát.
Sẹo lồi, sẹo phì đại thường xảy ra sau
một tổn thương da như: vết rách da, xăm,
bỏng, chích ngừa, sau phẫu thuật... hay
do những bất thường của da do quá trình
viêm như mụn trứng cá, nhiễm trùng da,
côn trùng cắn ở những vùng da chịu áp
lực cao như: vai, vùng xương ức, cằm dưới,
cánh tay. Sẹo lồi, sẹo phì đại thường xảy ở
người da đen, da vàng nhiều hơn người da
trắng và thường có yếu tố di truyền.
Sẹo lồi được mô tả lần đầu năm 1700
trước CN. Năm 1806, Alibert dùng thuật
ngữ cheloide để mô tả hình dạng càng cua
do sự tiến triển thêm của mô sợi xâm lấn
vào vùng da không bị thương tổn. Sẹo lồi
thường gặp ở mọi lứa tuổi, hiếm ở trẻ sơ
sinh và người già. Tỉ lệ nam nữ như nhau
trừ sẹo lồi do xỏ tai (thường gặp ở phụ nữ
trẻ).
2. SINH BỆNH HỌC
Đây là kết quả của một quá trình lành
sẹo bất thường (trong đó có vai trò của
các GF: TGF β và PDGF). Nguyên nhân là
do mất kiểm soát cơ chế điều hòa tái tạo
và sửa chữa mô tổn thương.
3. PHÂN BIỆT SẸO LỒI VÀ SẸO PHÌ
ĐẠI

233
Thẩm mỹ nội khoa
4. ĐIỀU TRỊ
4.1. Sẹo phì đại
Sẹo phì đại có thể không cần điều trị vì
có thể tự khỏi sau 6 đến 12 tháng. Nếu cần
điều trị thì có thể lựa chọn:
- Tiêm corticosteroid trong thương tổn.
- Sử dụng laser xung màu với bước sóng
585 - 595 nm.
- Phẫu thuật.
- Kết hợp giữa tiêm corticosteroid trong
thương tổn và laser xung màu.
4.2. Sẹo lồi
Hiện chưa có phương pháp nào điều
trị tốt nhất cho tất cả các sẹo lồi. Tùy vị
trí, kích thước, độ sâu, tuổi sẽ chọn lựa
phương pháp thích hợp nhất cho từng
sẹo ở các giai đoạn khác nhau. Tuy nhiên,
phòng ngừa sẹo vẫn đóng vai trò quan
trọng nhất trong việc kiểm soát sẹo lồi.
4.2.1. Tiếng steroid trong sẹo
Đây là cách thường dùng nhất, tiêm
trong sẹo triamcinolon acetonid (10-40
mg/mL) tùy theo kích thước và vị trí tổn
thương, người lớn tối đa: 120 mg, trẻ em
1-5 tuổi: 40 mg, 6-10 tuổi: 80 mg.
Thời gian điều trị: mỗi tháng tiêm 1 lần
x 4-6 tháng.
Liều: 20-40 mg 0 1-2 cm; 40-80 mg
02-6 cm, 80-120 mg 06-10 cm.
Cần tư vấn trước cho bệnh nhân: vùng
tiêm thuốc có thể gây đau, teo, giãn mao
mạch, rối loạn sắc tố xung quanh vùng
tiêm, mụn, rối loạn kinh nguyệt.
Kết hợp băng ép dưới áp lực thường
xuyên hay silicon gel mang lại hiệu quả tốt
hơn
4.2.2. Phẫu thuật sẹo lồi
Đây là phương pháp có thể làm hài lòng
bệnh nhân vì nó đem lại kết quả thẩm mỹ
tức thì Tuy nhiên, cần lưu ý tái phát sẹo lồi
sau phẫu thuật. Kết quả đạt được tối đa
khi giảm sức căng sẹo tối đa và đường cắt
sẹo dọc theo nếp lằn da. Không nên cắt
trọn toàn bộ sẹo lồi hay đường rạch da nên
nằm trong sẹo (cắt chừa rìa) và may hai
lớp làm giảm sức căng sẹo.
Điều trị hỗ trợ: tiêm steroid sau phẫu
thuật giúp kiểm soát tái phát sẹo lồi.
Những bệnh nhân có tiền sử sẹo lồi
nên tránh chọn phương pháp phẫu thuật
hoặc các can thiệp thẩm mỹ nếu không
cần thiết.
Chỉ định: sẹo lồi lớn qua nhận định
không thể chích nhiều lần. Nếu chích nhiều
lần thì gây nhiều mụn nổi ở lưng ngực,
rong kinh rong huyết từ mũi chích thứ hai,
da quanh chỗ chích có thể rậm lông.
Vị trí thường gặp: dái tai, ngực, vai,
cánh tay.
4.2.3. Điều trị với nitơ lỏng
Có thể điều trị đơn độc hoặc kết hợp
với các điều trị khác. Cơ chế tác động là
kết hợp phá hủy trực tiếp tế bào và mạch
máu nuôi sẹo, dẫn đến thiếu oxy gây chết
tế bào.
Áp lạnh: mỗi lần 30 giây x 2-3 lần/chu
kỳ x 5-10 chu kỳ.
Tác dụng phụ: đau và lành thương kéo
dài, mất sắc tố 4.2.4. Pulse Dye Laser
Cải thiện triệu chứng sẹo phì đại: giảm
chiều cao sẹo, cải thiện hình dáng sẹo với
bước sóng 585 nm. Cơ chế giảm vi mạch
máu sẹo, gây thiếu oxy tế bào. Chú ý rằng
điều trị càng sớm, kết quả càng tốt. Có thể
kết hợp với các điều trị khác.

234
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
4.2.5. Radiation therapy
Cơ chế hoạt động xạ trị trên sẹo lồi
chưa rõ. Một số tác giả cho rằng trên sẹo
lồi sớm có thể tia xạ làm giảm tổng hợp
fibroblast collagen, giảm tăng sinh mạch
máu.
Điều trị RT đơn không hiệu quả trên
sẹo lồi lâu mặc dù nó có thể làm giảm tình
trạng ngứa trên tổn thương. Sẹo lồi dày
cần phẫu thuật cắt bỏ trước khi tiến hành
điều trị RT.
4.2.6. Silicon gel sheets
Cơ chế: chưa rõ, một số tác giả nghĩ do
mất nước thượng bì, giảm điện dẫn tế bào.
> Điều trị khác: imiquimod, 5-FU,
bleomycin, retinoids, calcium channel
blockers, mitomycin C và interferon-a 2b.
5. ĐIỀU TRỊ DỰ PHÒNG
Đây là mục đích đầu tiên và quan trọng
nhất để kiểm soát sẹo lồi. Bệnh nhân có
tiền sử bản thân hay gia đình bị sẹo lồi
không nên chọn lựa phương pháp phẫu
thuật hay xỏ lỗ tai. Vết thương nên được
đóng với độ căng tối thiểu và nên sử dụng
kết hợp các biện pháp | hỗ trợ sau khi phẫu
thuật cắt bỏ sẹo lồi để giảm tái phát.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hilary Baldwin MD. Keloid Manage-
ment in Surgery of the skin. 2010, 669-682
2. Shaffer J, Taylor S. Cook-Bolden F.
Keloidal scars: a review with a critical look
at therapeutic options. Am Acad Derma-
tol. 2002; 46:S63-97.
3. Mustoe T, Cooter R, Gold M, et al. In-
ternational clinical recommenda-tions on
scar management. Plast Reconstr Surg.
2002;110:560-571.
4. Durani P; Bayat A. Level of evidence
for the treatment of keloid disease. J Plast
Reconstr Aesthet Surg 2008;61:4-17.
5. Asilian A. New combination of triam-
cinolone, 5FU, PDL for treatment of keloid
and hypertrophic scars. Dermatol Surg.
2006 Jul;32(7): 907-15.

235
Thẩm mỹ nội khoa
SẸO RỖ
(ATROPHIC SCARS)
1. ĐẠI CƯƠNG
Sẹo là kết quả của quá trình lành
thương tự nhiên dẫn đến sự hình thành mô
sợi thay thế mô bình thường bị hủy hoại do
chấn thương hoặc bệnh lý nào đó. Sự hình
thành sẹo có thể tạo sẹo lồi do tăng thành
lập mô sợi, nhưng phổ biến hơn là sẹo rỗ
do quá trình giảm hay mất mô tại chỗ tổn
thương. Sẹo rỗ thường gặp trên bệnh nhân
bị mụn trứng cá, thủy đậu, chấn thương và
một số bệnh lý khác ở da. Các yếu tố quan
trọng tác động lên sự hình thành sẹo rỗ
là độ nặng của sang thương, thời gian trì
hoãn từ lúc xuất hiện thương tổn viêm da
đến khi được điều trị đúng cách, vị trí giải
phẫu da và yếu tố nội tại của bệnh nhân
(kiểu gen nhạy cảm, đáp ứng viêm...).
2. CƠ CHẾ BỆNH SINH
Quá trình viêm lan rộng xuống lớp bì
hoặc diễn tiến đến vỡ thành nang lông.
Sẹo được hình thành sau khi sang thương
viêm và bắt đầu quá trình lành thương
trong lớp bì.
Quá trình lành thương gồm ba giai đoạn:
viêm, tăng sinh và tái tạo. Ba giai đoạn này
có sự chồng lấp và được điều hòa bởi các
cytokine như EGF, TGF-8, MAPs và MMPs.
Trong sẹo rỗ do mụn, vi khuẩn P acnes
góp phần vào quá trình hình thành sẹo
thông qua hỗ trợ hủy chất nền ngoại bào
bằng cách kích thích biểu hiện proMMPs-1
và -9 ở đại bào đơn nhân và proMMP-2 ở
nguyên bào sợi.
- Giai đoạn viêm: (0-5 ngày) quá trình
đông máu phóng thích các cytokine
hóa hướng động bạch cầu đa nhân, đơn
nhân tới vết thương.
- Giai đoạn tăng sinh: (3-6 tuần) các tế
bào sừng (keratinocyte) di chuyển tái
tạo thượng bì, tân tạo mạch máu, kết
tập nguyên bào sợi để tổng hợp chất
nền ngoại bào.
- Giai đoạn tái tạo: (vài tháng) quá trình
thoái giáng và tái định hình collagen.
Collagen type III sẽ trở thành collagen
type I trưởng thành. Quá trình được điều
hòa bởi matrix metalloproteases (MMPs)
và tissue inhibitor metalloproteases
(TIMPs). Nếu tỉ lệ MMPs/TIMPs thấp
sẽ dẫn tới hình sẹo lõm và ngược lại sẽ
hình thành sẹo lồi.
3. PHÂN LOẠI SẸO
- Theo Ellis (1987): sẹo lỗ (ice pick), sẹo
hình hố (crater), sẹo hình lượn sóng (un-
dulation), sẹo đường hầm (tunnel), sẹo
nông (shallow-type) và sẹo phì đại.
- Theo Langdon (1999): type 1- sẹo
nông có đường kính nhỏ, type 2- sẹo lỗ
(ice pick); type 3- sẹo có thể làm đầy
(distensible).
- Phân loại thường dùng trên lâm sàng,
dựa vào biểu hiện lâm sàng và mô học,
chia thành ba loại:
+ Sẹo lỗ (ice pick) hay sẹo đáy nhọn:
hẹp (đường kính <2 mm), sâu, giới
hạn rõ, hình V, xâm lấn đến bì sâu hay
mô hạ bì.
+ Sẹo hình xe hộp (boxcar) hay sẹo đáy
vuông: sẹo lõm hình tròn hay bầu dục,
bờ đứng dọc rất rõ, tạo thành hình
chữ U. Miệng sẹo trên bề mặt rộng
hơn sẹo lỗ và không thu hẹp thành
một điểm ở đáy. Những sẹo này có
thể nông (0,1-0,5 mm) hay sâu (> 0,5
mm), đường kính thay đổi từ 1,5-4,0

236
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
mm.
+ Sẹo cuốn (rolling): là hậu quả của sự
dính lớp bì, ngoài ra da có vẻ như bình
thường, thường rộng hơn 4-5 mm
đường kính. Lớp bì bị neo giữ vào hạ
bì do sự xơ hóa bất thường dẫn đến
lớp da bên trên bị cuốn hay lượn sóng.
Những sẹo này thường nông, bề dày
bằng lớp thượng bì, có bờ không rõ.
- Theo Robert scaring scale: S0 sẹo teo
S1 không sẹo; S2 dát; S3 mảng, giới hạn
trong vùng tổn thương nguyên phát; S4
sẹo lồi; S5 sẹo lồi, cục.
- Theo Kadung: dựa trên hình ảnh lâm
sàng như hình dạng, tính liền lạc
(consistency), màu sắc, khả năng làm
đầy (distensibility). Có thể đánh giá tính
hiệu quả của các liệu pháp điều trị sẹo.
Phân loại Goodman theo đặc tính sinh
lý bệnh, chia sẹo teo (atrophic) thành dát
nông, bị sâu, quanh nang lông, thiều dưỡng
mỡ.
Phân loại Goodman theo độ nặng lâm
sàng định tính như dát - hồng ban tăng hay
giảm sắc tố ngang mặt da, nhận thấy bởi
bệnh nhân và người khác ở mọi khoảng
cách, nhẹ - không thấy rõ ở khoảng giao
tiếp, che tốt bởi trang điểm và lông râu,
trung bình - thấy rõ ở khoảng giao tiếp, khó
che bởi trang điểm, lông râu, biến mất khi
căng da, nặng - thấy rõ ở khoảng giao tiếp,
khó che bởi trang điểm, lông râu, không
biến mất khi căng da.
- Phân loại Goodman theo độ nặng
lâm sàng định lượng: từ 0-84 điểm, khó sử
dụng, đánh giá mất nhiều thời gian.

237
Thẩm mỹ nội khoa
4. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ
SẸO RỖ
4.1. Phương pháp tái tạo bề mặt
4.1.1. Lột hóa chất
Thủ thuật lật gây bong vảy hóa học có
kiểm soát của lớp thượng bì và lớp bì, giúp
tăng quá trình sửa chữa của da. Trước khi
lột, da nên được rửa sạch với cồn hoặc ac-
eton nhằm loại bỏ màng bảo vệ tự nhiên
của da để tăng thẩm nhập hóa chất. Các
hóa chất lột có thể dùng là salicylic acid,
glycolic acid, pyruvic acid, trichloroacetic
acid. Lựa chọn nồng độ phụ thuộc vào hóa
chất được dùng, vùng da điều trị và độ
nặng của sẹo. Chống nắng giữa những đợt
lột và 4 tuần sau đợt cuối là cần thiết để
tránh hiện tượng tăng sắc tố da. Lột hóa
chất có thể làm nặng thêm mụn trứng cá
sẩn - mụn mủ và thỉnh thoảng bệnh nhân
phát triển sản và mụn mủ ngay sau khi lột.
Tuy nhiên, kỹ thuật này ít có nguy cơ tạo
sẹo và giảm sắc tố da do ít ảnh hưởng đến
vùng da lành và cấu trúc phần phụ xung
quanh.
Salicylic acid: là một trong những hóa
chất lột tốt nhất cho điều trị sẹo rỗ. Tính
ưa lipid của nó cho phép thâm nhập vào
lớp nông của thượng bì và tuyến bã để loại
bỏ lipid gian bào. Nồng độ thường dùng là
30%, làm nhiều lần (3-5 lần, mỗi 3-4 tuần).
Tác dụng phụ nhẹ và thoáng qua, gôm chủ
yếu hồng ban và khô da. Tăng sắc tố sau
viêm dai dẳng hay sẹo rất ít gặp cho nên
nó an toàn cho tất cả loại da.
Dung dịch Jessyner: phối hợp salicylic
acid với resorcinol và lactic acid trong 95%
ethanol, Resorcinol tương tự về cấu trúc
và đặc tính hóa học với phenol. Nó phá
hủy liên kết hydro yếu của keratin và tăng
thấm nhập của các hóa chất khác. Lactic
acid là một alpha hydroxy acid gây bong
tách tế bào sừng và sau đó bong vảy lớp
sừng. Chống chỉ định dùng trong những
trường hợp viêm da hay nhiễm trùng vùng
điều trị, sử dụng isotretinoin trong vòng 6
tháng trước đó, viêm da tiếp xúc dị ứng và
phản ứng dị ứng hệ thống với resorcinol.
Glycolic acid: làm mỏng lớp sừng, thúc
đẩy ly giải thượng bì. Tăng biểu hiện gen
hyaluronic acid và collagen lớp bì bởi tăng
tiết IL-6. Chống chỉ định: viêm da tiếp xúc,
thai kỳ, tăng nhạy cảm glycolate. Tác dụng
phụ tăng sắc tố thoáng qua hay kích ứng
không đáng kể. Thường dùng 70% glycolic
acid, thực hiện 5-6 đợt, mỗi 2 tuần.

238
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
Pyruvic acid: thúc đẩy tổng hợp colla-
gen và tạo sợi đàn hồi. Dùng 40-70% pyru-
vic acid cho điều trị sẹo rỗ vừa. Tác dụng
phụ là bong vảy, đóng mày, cảm giác châm
chích, bỏng rát trong lúc điều trị.
Trichloroacetic Acid: gây biến tính pro-
tein, cho hiệu quả cao nhưng không chỉ
định cho da sậm màu vì nguy cơ tăng sắc
tố. Nồng độ 10-20% gây lột rất nông mà
không thâm nhập lớp hạt bên dưới, 25-
35% lột nông với lan tỏa trong thượng bì,
40-50% gây tổn thương nhú bì và nồng độ
cao hơn 50% gây tổn thương bì lưới. Do
đó, dùng nồng độ > 35% nên giới hạn trong
điều trị sẹo đáy nhọn. Không cần gây tê
hay an thần đặc biệt ở nồng độ thấp. Thủ
thuật lặp lại mỗi 4 tuần với 3-4 đợt điều trị.
4.1.2. Siêu mài mòn/mài mòn da
(microler Tanabrasion/dermabrcsion)
Microdermabrasion và dermabrasion
là kỹ thuật tái tạo bề mặt, gây bào mòn
cơ học da tổn thương để thúc đẩy tái
biểu mô hóa. Microdermabrasion dùng
tinh thể aluminum Oxide, tác động trên
da nông hơn so với dermabrasion, chỉ
loại bỏ lớp ngoài của thượng bì, làm tăng
quá trình bong vảy tự nhiên. Không giống
dermabrasion, microdermabrasion có thể
làm lặp lại với khoảng cách ngăn, ít gây
đau, không cần gây tê y đợt. Tác dụng phụ
gồm vết bầm, cảm giác bỏng hay châm
chích, nhạy cảm ánh sáng và thỉnh thoảng
đau. Biến chứng ít và ít nặng hơn so với
dermabrasion, nhưng microdern abrasion
cho hiệu quả thấp hơn và không nên dùng
để điều trị sẹo sâu.
Dermabrasion loại bỏ hoàn toàn thượng
bì và thâm nhập đến nhú bì hay bì lưới, dẫn
đến tái tạo protein cấu trúc da. Lựa chọn
tay cầm phụ thuộc độ sâu và loại sẹo cần
được điều trị. Demabrasion thực hiện dưới
gây tê tại chỗ hay toàn thân. Tác dụng phụ
thường gặp như hồng ban kéo dài, nhiễm
trùng (nhiễm vi khuẩn, vị nấm, siêu vi), sẹo
lồi hay sẹo phì đại, nhạy cảm ánh sáng,
giảm hay tăng sắc tố thoáng qua hoặc
vĩnh viễn, đặc biệt ở bệnh nhân da sậm
màu. Dermabrasion là thủ thuật cần có kỹ
năng cao. Dermabrasion không cải thiện
tối ưu sẹo đáy nhọn hoặc sẹo đáy vuông
sâu.
4.1.3. Lăn kim (skin needling hay
needle dermabrasion)
Lăn kim có tác dụng tương tự laser vi
điểm trên da nhưng không có hiệu ứng
nhiệt. Lựa chọn điều trị dành cho sẹo rỗ
đáy vuông hoặc đáy tròn nông, Dụng cụ
lăn kim gồm một con quay vô trùng mang
nhiều kim, tạo ra nhiều vi lỗ trên da ở mức
độ trung bì - nhú bì tùy theo độ dài kim.
Phương pháp này gây tổn thương cơ học,
khởi phát dòng thác của yếu tố tăng trưởng,
dẫn đến tạo collagen và tái cấu trúc mô da.
Hiệu quả của kỹ thuật phụ thuộc vào khả
năng kích thích quá trình tân tạo collagen
mới. Quá trình tân tạo collagen bắt đầu từ
5 ngày sau tổn thương và tiếp tục trong
một thời gian dài, đạt đỉnh trong khoảng
12 tuần sau điều trị. Kết quả tối ưu có thể
thấy sau 32 tuần từ đợt điều trị cuối cùng.
Ngoài ra, lăn kim tạo ra những kênh nhỏ
giúp tăng hấp thu những thuốc khác dùng
tại chỗ.
Kỹ thuật này tương đối an toàn cho tất
cả các loại da và ít nguy cơ tăng sắc tố
sau viêm so với laser tái tạo bề mặt, lột
hóa chất hoặc mài mòn da. Thời gian hồi
phục sau lăn kim ngắn hơn so với những
thủ thuật tái tạo bề mặt khác, | Số lần điều
trị phụ thuộc vào đáp ứng tái tạo collagen
của mỗi người và vào sự mong muốn của
bệnh nhân. Hầu hết bệnh nhân cần 3-4
lần điều trị mỗi 4 tuần. Chống chỉ định
chính là dùng thuốc chống đông, rối loạn
đông máu, nhiễm trùng da, tiêm collagen
và chất làm đầy trong 6 tháng trước thủ
thuật, tiền sử cá nhân hay gia đình có sẹo
lồi hay sẹo phì đại.
Gần đây, Fabbrocini và cs, đề xuất
phương pháp mới phối hợp lăn kim và

239
Thẩm mỹ nội khoa
huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) trong
điều trị sẹo mụn. PRP chứa những yếu tố
tăng trưởng tự thân, đặc biệt là yếu tăng
trưởng biểu mô, yếu tố tăng trưởng tách
từ tiểu cầu, yếu tố chuyển dạng beta và
yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu, là
những yếu tố rất hữu ích giúp tăng lành
vết thương và sửa chữa mô. Dùng phối
hợp lăn kim và PRP hiệu quả hơn trong cải
thiện sẹo mụn so với sử dụng lăn kim đơn
thuần.
4.1.4. Laser trị liệu
Laser tái tạo bề mặt gồm laser bóc
tách và không bóc tách, đạt hiệu quả cao
trong điều trị sẹo mụn và dễ sử dụng hơn
so với những phương pháp khác. Laser
thường dùng cho điều trị sẹo đáy vuông
hay sẹo đáy tròn.
Laser bóc tách (laser CO., laser Erbium
YAG tái tạo bề mặt da), qua cơ chế bốc hơi
và làm khô, làm bong lớp thượng bì và mô
sẹo tổn thương. Mặt khác, laser không bóc
tách như laser Nd YAG và Diode, chủ yếu
kích thích tạo collagen mới, mà không gây
tổn thương thượng bì.
Laser bóc tách có tính chọn lọc cao với
nước, hoạt động theo cơ chế quang nhiệt
chọn lọc và gây bốc hơi lớp nông của da.
- Laser CO, (bước sóng 10600 nm): gây
bốc hơi mô ở độ sâu 20-60 km. Năng
lượng của laser được hấp thu bởi nước
trong nội bào và ngoại bào dẫn đến tạo
nhiệt nhanh và bốc hơi mô. Laser CO,
làm nóng lớp bì bên dưới dẫn đến thúc
đẩy quá trình lành vết thương, làm tái
tạo collagen và co mô do nhiệt. Loại
laser này có hai tác dụng chính là biến
tính protein trong mô xung quanh và
gây hiệu ứng nhiệt đối với protein lớp bì,
dẫn đến sản xuất nhiều protein chất nền
và nguyên bào sợi, thúc đẩy quá trình
lành vết thương. Quá trình tái tạo biểu
mô thường mất 5-10 ngày và hồng ban
sau điều trị có thể tồn tại trong nhiều
tháng.
-
Laser
Erbium:
vttrinum-anminum-
garnet (Er:YAG) có bước sóng 2940
nm, có tính chọn lọc với nước gấp 10
lần so với laser CO, nên làm giảm tổn
thương do nhiệt. Do năng lượng của
laser Er:YAG gần với đỉnh hấp thu của
nước (3000 nm) nên hầu hết tất cả năng
lượng được hấp thu trong thượng bì và
bì nhú. Kết quả là mức độ xâm lấn nông
hơn và tổn thương nhiệt bên dưới ít hơn,
cho nên thời gian lành thương ngắn hơn
và tác dụng phụ thấp hơn. Thời gian tái
tạo biểu mô mất 4-7 ngày.
- Laser bóc tách có nguy cơ cao gây biến
chứng và tác dụng phụ. Tác dụng phụ
gôm cấp tính (đau tạm thời, đỏ, nhiễm
trùng) và mạn tính (tăng sắc tố, sẹo,
sưng phù).
4.1.5. Laser không bóc tách
Thường dùng cho điều trị nếp nhăn mặt
và sẹo mụn vì ít tác dụng phụ. Những laser
này ít tác động lên thượng bì và kích thích
lớp bì sản xuất collagen mới.
- Neodymium-doped vitrinum aluminum
garnet (Nd:YAG) có bước sóng 1320 nm
hay 1064 nm, thường dùng cho bệnh
nhân da sậm màu và nhạy cảm. Laser
này tác động vào nước và collagen bên
dưới mà không phá hủy lớp thượng bì.
Tổn thương nhiệt sẽ kích thích giải phóng
các hóa chất trung gian gây viêm, hoạt
hóa nguyên bào sợi, tân sinh collagen và
tái tạo lớp bì. Bệnh nhân cần được điều
trị nhiều đợt (3-5 đợt mỗi tháng trong
nhiều tháng). Kết quả đạt được kéo dài
và tiếp tục sau lần điều trị cuối cùng. Ưu
điểm của kỹ thuật này là giảm thời gian
nghỉ dưỡng sau điều trị và giảm nguy cơ
nhiễm trùng cũng như biến chứng tăng
hay giảm sắc tố sau viêm.
- Laser Diode (1450 nm): tác động vào
nước của lớp nhú bì làm tái tạo collagen
bên dưới và thúc đẩy tạo collagen mới.

240
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
Hiện tượng tăng tổng hợp và lắng đọng
collagen kéo dài đến 6 tháng sau điều
trị. Tác dụng phụ thường ít, có thể gây
hồng ban, phù và tăng sắc tố.
4.2. Ly giải quang nhiệt vi điểm
(Fractional Photothermolysis-FP)
Mặc dù laser không bóc tách có hiệu
quả trong điều trị sẹo mụn nhưng kết quả
thu được không ấn tượng như dùng laser
bóc tách. Tuy nhiên, laser bóc tách có thể
gây tổn thương các lớp của da đặc biệt
là lớp thượng bì. Do đó, phương pháp ly
giải quang nhiệt vi điểm được sử dụng để
tạo ra những tổn thương nhiệt vi thể đồng
nhất ở những độ sâu khác nhau trong da.
FP gây tổn thương chọn lọc mô lớp bì dẫn
đến đáp ứng lành thương, kích thích tân
tạo collagen kéo dài mà không tổn thương
thượng bì như laser tái tạo bề mặt truyền
thống hay mài mòn da hoặc lột hóa chất.
Hiệu quả điều trị được thấy với nhiều loại
sẹo từ sẹo đáy nhọn đến sẹo đáy vuông
và đáy tròn. Vùng điều trị lành hoàn toàn
trong vòng 24 giờ trong khi đối với laser
tái tạo bề mặt bóc tách là 2 tuần. Ưu điểm
của FP là giảm thời gian nghỉ dưỡng sau
điều trị, giảm tác dụng phụ so với laser bóc
tách truyền thống và tăng hiệu quả tái tạo
mô so với phương pháp không bóc tách.
4.3. Radiofrequency (RF)
RF lưỡng cực vi điểm là một phương
pháp tương đối mới, đem lại hiệu quả đáng
kể trong điều trị sẹo mụn, qua cơ chế làm
nóng lớp bì sâu vi điểm để gây tổn thương
mô và dẫn đến đáp ứng lành thương, kích
thích tái tạo collagen trong lớp bì. Phương
pháp này gây đồng protein giới hạn ở trung
bì, gây tổn thương bóc tách < 5% ở thượng
bì. Lợi ích của phương pháp này là giảm
thời gian nghỉ dưỡng sau điều trị, không
ảnh hưởng đến hắc tố da (melanin), giá
thành thấp hơn laser tái tạo bề mặt và ít
tác dụng phụ.
4.4. Phương pháp phẫu thuật
4.4.1. Cắt đáy sẹo (subcision)
Kỹ thuật này dùng tốt nhất cho sẹo đáy
tròn. Kỹ thuật đơn giản, dùng kim luồn vào
dưới da và di chuyển theo nhiều hướng.
Nguyên tắc của phương pháp này là cắt
đứt những dải xơ sợi nội đáy sẹo và mô
bên dưới, đồng thời kích thích tái tạo mô
liên kết, từ đó đẩy nền sẹo lên nông hơn,
giúp cải thiện độ lõm của da.
Phương pháp tiến hành:
- Gây tê tại chỗ bằng kem bôi hoặc tiêm
dưới da
- Sử dụng kim 18 - 20G hoặc kim Nokor
xuyên qua da tại vị trí kế cận sẹo theo
hướng xiên xuống đến lớp bì sâu, sau đó
di chuyển kim song song với bề mặt da
và qua lại thành hình rẽ quạt để phá vỡ
các dải xơ.
- Rút kim ra và ép chặt lỗ kim, kèm với
chườm lạnh để tránh chảy máu và hạn
chế hình thành bầm máu.
- Chăm sóc sau thủ thuật: chườm lạnh
trong vòng 1 ngày, sử dụng kháng sinh
và kháng viêm trong vòng 5 - 7 ngày.
Lưu ý:
- Thận trọng ở vùng thái dương, trước tại
và vùng xương hàm dưới để tránh làm
tổn thương thần kinh và mạch máu lớn
vùng mặt.
- Nếu có nhiều vùng sẹo đáy tròn, ưu
tiên can thiệp vùng lõm sâu nhất. Tránh
can thiệp quá nhiều vùng trong cùng
một lần để hạn chế phù nề và sưng bầm
quá mức.
- Lặp lại thủ thuật sau 3 - 4 tuần nếu cần.
Ưu điểm của phương pháp này là dễ
thực hiện, hiệu quả kéo dài, không tốn kém,
thời gian nghỉ dưỡng ngắn, dùng cho nhiều
loại da (I-IV), không có biến chứng nặng,
cải thiện đáng kể trong thời gian ngắn mà
không gây tổn thương bề mặt da.

hacklink satın al mumu模拟器 雷电模拟器 向日葵 giftcardmall/mygift giftcardmall balance mygift giftcardmall matbet matbet giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş matbet matbet giriş matbet güncel giriş vaycasino vaycasino güncel giriş vaycasino giriş matbet matbet giriş pusulabet pusulabet giriş pusulabet pusulabet güncel giriş pusulabet giriş matbet matbet güncel giriş matbet giriş pusulabet pusulabet giriş pusulabet güncel giriş Fixbet Fixbet Güncel Giriş Salvobet Salvobet Giriş Salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Turk Porno Turk Porno Giriş Turk Porno casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi casibom casibom jojobet izmir escort izmir buca escort buca escort jojobet casibom jojobet jojobet jojobet jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş izmir escort izmir buca escort buca escort izmir escort bayan salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Giriş Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Deneme Bonusu Veren Giriş Deneme Bonusu Veren salvobet salvobet salvobet salvobet Casibom betgaranti betgaranti betgaranti matbet matbet giriş matbet matbet giriş Casibom Casibom Salvobet jojobet Salvobet Salvobet Salvobet Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Güncel Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis bahsegel Fixbet Fixbet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş 1xbet 1xbet Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş perabet giriş perabet perabet güncel giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Listesi Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler grandpashabet grandpashabet grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler vaycasino vaycasino giriş Casibom Casibom Giriş www.giftcards.com Marsbahis Casibom Casibom Casibom Casibom Casibom Grandpashabet Grandpashabet Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Marsbahis Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Casibom Fixbet Fixbet Giriş Casibom Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Holiganbet Holiganbet Güncel Adres Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Resmi Adres Matbet Matbet Matbet Güncel Adres Pusulabet Pusulabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler holiganbet holiganbet giriş holiganbet holiganbet giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Giriş Adresi Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Casibom Casibom Güncel Adres Holiganbet Holiganbet Güncel Adres Salvobet Salvobet Giriş Adresi Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Salvobet Salvobet Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Giriş Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Marsbahis Marsbahis Resmi Adres Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Casibom Pusulabet Pusulabet Güncel Giriş Casibom Casibom perabet perabet giriş Casibom jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş casibom giriş casibom giriş pokerklas marsbahis holiganbet holiganbet giriş Deneme Bonusu Veren Siteler holiganbet holiganbet giriş Deneme Bonusu Veren Siteler pokerklas jojobet jojobet Casibom Casibom Casibom imajbet casibom holiganbet giriş canlı maç izle canlı maç izle canlı maç izle canlı maç izle canlı maç izle Casibom Casibom Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Casibom Casibom Güncel Adres Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler holiganbet Trabzon escort Trabzon escort bayan ortahisar escort escort trabzon Pusulabet Casibom Deneme Bonusu Veren Siteler Casibom Güncel Giriş Pusulabet Güncel Giriş Casibom Casibom Casibom Casibom Casibom