441
Thẩm mỹ nội khoa
Một số trường hợp lột da không hiệu
quả.
Để tránh tăng sắc tố do lột da: dùng
hydroquinol 2% 2- 3 tuần trước lột có tác
động ức chế sản xuất melanin thông qua
ức chế men tyrosinase và kem chống
nắng, ngưng hydroquinone 2% trước lột
2-3 ngày.
442
Chương 5
Thủ thuật thẩm mỹ và phẫu thuật da
ỨNG DỤNG LĂN KIM VI ĐIỂM TRONG DA LIỄU
(MICRONEEDLE IN DERMATOLOGY)
1. GIỚI THIỆU CHUNG
Kim lăn vi điểm (microneedle) ra đời
năm 2000 bởi nhà sáng chế người Đức
Liebl và được sử dụng rộng rãi từ năm
2006 như là một phương pháp tăng sinh
collagen” bởi nhà phẫu thuật Fernades.
Ngày nay, kim lăn vi điểm được xem là
phương pháp điều trị ít xâm lấn, đơn giản,
an toàn, hiệu quả và có nhiều ứng dụng
trong Da liễu như trẻ hóa da, điều trị sẹo,
đặc biệt sẹo do mụn, sạm da, tăng tiết mồ
hôi,..
Đặc biệt, kim lăn vi điểm không gây hủy
lớp thượng bì nên ít gây tăng viêm, phù
hợp cho việc điều trị trên các bệnh nhân
da sậm màu (Fitz IV-VI).
Cơ chế: khi kim lăn tạo các vết thương
“giả”, cơ thể sẽ hoạt hóa cơ chế lành
thương, gồm ba giai đoạn.
1. Giai đoạn viêm tiểu cầu phóng thích
ra các yếu tố hóa ứng động, thu hút các
tiểu cầu khác, bạch cầu đa nhân và các
nguyên bào sợi đến nơi có vết thương.
2. Giai đoạn tăng sinh: sau khi bạch cầu
đơn nhân đến thay thế bạch cầu đa nhân,
sẽ biến đổi thành đại bào trong 48 giờ và
giải phóng một lượng lớn các yếu tố tăng
trưởng nhu PGF (platelet derived growth
factor), TGF-a, TGF-β (transforming growt
alpha và beta), các protein hoạt hóa mô
liên kết, yếu tố tăng trưởng mô liên kết và
FGF (fibroblast growth factor), kích thích
sự di chuyển và tăng sinh các nguyên bào
sợi. Sau đó, các tế bào sừng tăng sản xuất
laminin và collagen IV và VII, bắt đầu tại
thành lập màng đáy.
3. Giai đoạn tái tạo: kéo dài vài tháng
đến vài năm, collagen III sẽ thay thế từ từ
bằng collagen I, mô liên kết dần được tái
tạo và cân bằng.
Đồng thời, kim lăn vi điểm cũng phá vỡ
một phần các bó sợi sẹo xơ cũ, giúp cho
hiện tượng tái mạch xảy ra.
Sau 6 tháng (tính từ khi kết thúc lần
điều trị cuối, 4 lần, cách nhau mỗi tháng)
cho thấy có sự gia tăng collagen và elastin
gấp 400%. Sau 1 năm lớp gai và nhú bì dày
lên, các bó sợi collagen sắp xếp hình lưới
thay vì song song như trong sẹo.
Kim lăn vi điểm còn giúp đưa thuốc
qua da nhờ tạo các đường dẫn cho thuốc
điều trị xuyên qua lớp thượng bì đến các
mạch máu ở lớp bì.
Liebl và cs. (2012) đưa ra một giả thiết
khác về cơ chế của kim lăn vi điểm. Khi
đưa kim đến gần, điện thế màng tế bào
lúc nghỉ khoảng 70 mV sẽ nhanh chóng
tăng lên -100 mV. Từ đó, các tế bào tăng
hoạt động, giải phóng ra các protein khác
nhau, kali và các yếu tố tăng trưởng giúp
các nguyên bào sợi di chuyển đến vị trí có
thương tổn, tạo ra các elastin và collagen.
Đồng thời, cũng tạo ra MMP (matrix metal-
loproteinase) có vai trò giảm sự tăng sinh
sắc tố.
443
Thẩm mỹ nội khoa
2. CÁC LOẠI LĂN KIM VI ĐIỂM HIỆN
NAY
2.1. Theo đăng kí với FDA: năm
loại cơ bản
Ứng dụng lâm sàng
2.2.1. Kim lăn tự dùng tại nhà
Độ sâu kim < 0,15 mm. Điều trị: lỗ chân
lông to, nếp nhăn nông, giảm tiết bã nhờn,
đưa các dưỡng chất chăm sóc da vào sâu
bên trong như lipopeptides, chất chống lão
hóa... Đối với các vùng da lớn như rạn da
bụng, đùi, da sần vỏ cam... thường dùng
Beauty Mouse (480 kim, độ sâu kim 0,2
mm).
2.2.2. Kim lăn dạng con dấu
(Derma-stamp)
Độ sâu kim 0,2-3 mm. Nhờ kim đi thẳng
đứng vào da – điều trị cho các vùng sẹo
rời rạc như sẹo thủy đậu, các nếp nhăn.
2.2.3. Kim lăn dạng bút (Dermapen)
Đầu bút chứa 9-12 kim. Có thể chỉnh
độ sâu kim và tốc độ (700 vòng/phút hoặc
412 vòng/phút). Khi dùng cho bệnh nhân
khác chỉ cần thay đầu bút chứa kim. Điều
trị: vùng hẹp như mũi, quanh mắt, quanh
môi.
2.2.4. DermaFrac
Kết hợp vị mài mòn, kim lăn vi điểm,
đưa thuốc vào mô sâu và đèn LED. Điều
trị: lão hóa da, tổn thương da do ánh nắng
mặt trời, mụn, lỗ chân lông to, da không
đều màu, nếp nhăn nông và sâu, các rối
loạn tăng sắc tố và sẹo nông.
2.2.5. Kim lăn đưa thuốc qua da
Dùng để đưa thuốc vào da, đặc biệt là
vắc-xin. Có nhiều loại: rỗng, đặc và hốc.
Dạng đặc đưa thuốc vào lớp thượng bì, còn
hai loại còn lại đưa thuốc vào sâu trong bì.
2.2.6. Kim lăn kết hợp RF
Bên cạnh tác dụng của kim lăn, RF giúp
tái tạo bì, tân sinh elastin và collagen. Độ
sâu 0,5 - 3,5 mm, tùy chỉnh. Điều trị: sẹo,
tăng tiết mồ hôi, săn chắc da, trẻ hóa da...
2.2.7. Kim lăn kết hợp ánh sáng LED
Điều trị các nếp nhăn và sẹo. Cần thêm
nhiều nghiên cứu.
3. ỨNG DỤNG LÂM SÀNG
Có thể dùng riêng rẽ hoặc kết hợp với
lột da bằng hóa chất (peel), huyết thanh
giàu tiểu cầu, RF, tách đáy sẹo và các loại
laser...
3.1. Trẻ hóa da
Kim lăn vi điểm giúp sắp xếp lại các sợi
collagen cũ và tạo ra các collgen, elastin
444
Chương 5
Thủ thuật thẩm mỹ và phẫu thuật da
và mao mạch mới giúp da săn chắc, mịn
màng, giảm nếp nhăn nông và sâu, thu nhỏ
lỗ chân lông. Ngoài ra, còn có thể làm săn
chắc các vùng da chảy nhão ở cánh tay,
bụng, đùi, các vùng giữa ngực và mông.
Đặc biệt làm săn chắc da sau thủ thuật
hút mỡ. Hiệu quả sẽ tăng lên khi kết hợp
bôi serum vitamin C, tretinoin và tế bào
gốc.
Các nghiên cứu về hiệu quả điều trị trẻ hóa da bằng kim lăn vi điểm
Các nghiên cứu về hiệu quả điều trị sẹo mụn bằng kim lăn vi điểm
3.2. Seo
3.2.1, Sẹo mụn
Đây là chỉ định thường gặp nhất. Cần ít
nhất 4-6 lần điều trị, cách nhau mỗi 4 tuần.
Hiệu quả trên dạng rolling và boxcar nông,
ít hiệu quả trên sẹo dạng icepick và boxcar
sâu. Có thể kết hợp lột da bằng hóa chất,
huyết tương giàu tiểu cầu, tách đáy sẹo, liệu
pháp lạnh và kỹ thuật CROSS (Chemical
Reconstruction Of Skin Scars).
445
Thẩm mỹ nội khoa
Các nghiên cứu về hiệu quả điều trị sẹo không do mụn bằng kim lăn vi điểm
Các nghiên cứu về hiệu quả điều trị sạm da bằng kim lăn vi điểm
Sẹo không do mụn
Có thể sẹo bỏng, sẹo chấn thương, sẹo
phẫu thuật, sẹo thủy đậu,... Cần ít nhất 3-5
lần điều trị, cách nhau mỗi 4 tuần. It hiệu
quả trên sẹo dạng đường hoặc lô sẹo to
sâu.
3.3. Sạm da và quầng thâm mắt
Có thể dùng DermFrac cho vùng da
quanh mắt.
Mụn trứng cá
Kim lăn vị điểm RF tác động nhiệt trực
tiếp phá hủy tuyến bã và làm giảm tiết bã
nhờn, đồng thời làm giảm sự tăng sinh các
tế bào sừng.
446
Chương 5
Thủ thuật thẩm mỹ và phẫu thuật da
Các nghiên cứu về hiệu quả điều trị sẹo mụn bằng kim lăn vi
Các nghiên cứu về hiệu quả điều trị rụng tóc bằng kim lăn vi điểm
3.5. Rụng tóc
Kim lăn dùng tại nhà thường được chỉ
định cho bệnh nhân. Minoxidil kết hợp kim
lăn vi điểm cho hiệu quả cao hơn dùng
minoxidil riêng rẽ trong điều trị hói đầu.
Kết hợp bôi triamcinolone acetonide với
kim lăn vi điểm cũng cho kết quả tốt trong
điều trị trụi tóc từng vùng.
Bạch biến
Giả thiết được đưa ra: cơ chế lành
thương làm tăng sự di chuyển các tế bào
sừng kèm với tế bào melanin. Đồng thời,
các cytokine kích thích tế bào melanin
từ bờ vùng da bình thường di chuyển vào
vùng mất sắc tố. Tuy các nghiên cứu còn
ít, chỉ là báo cáo ca, nhưng gợi ý thêm một
phương pháp điều trị bạch biến riêng rẽ
hoặc kết hợp với các phương pháp khác.
Có thể sử dụng kim lăn vi điểm riêng rẽ
hoặc kết hợp với bội tacrolimus.
447
Thẩm mỹ nội khoa
Các nghiên cứu về hiệu quả điều trị bạch biến bằng kim lăn vi điểm
Các nghiên cứu về hiệu quả điều trị các bệnh lý da bằng kim lăn vi điểm
3.7. Khác
Tương lai: các bệnh lý do gen như ly
thượng bì bóng nước, tóc bạc sớm,..
3.8. Cung cấp thuốc qua da: các kim
nhỏ sẽ tạo ra những kênh” giúp đưa thuốc
vào sâu trong da dễ dàng hơn.
4. CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Mụn viêm nhiều. Nhiễm trùng, nhiễm
nấm, herpes môi hay mụn cóc tại vùng da
cần điều trị.
Các bệnh lý collagen, da mạn tính mức
độ trung bình hoặc nặng như: chàm, vảy
nến...
Bệnh lý rối loạn đông máu hoặc đang
dùng thuốc chống đông. Cơ địa sẹo lồi.
Bệnh nhân đang xạ hoặc hóa trị.
Có thai.
5. CÁCH TIẾN HÀNH: gồm 5 bước:
5.1. Khám và tư vấn về phương
pháp điều trị, xem bệnh nhân có
chống chỉ định
Lưu ý: tốt nhất cho bệnh nhân uống
vitamin A và vitamin C ít nhất 1 tháng
trước điều trị do: vitamin A tác động 400-
1.000 gen điều hòa quá trình tăng sinh và
biệt hóa tất cả các tế bào thượng bì và bì.
Vitamin C kích thích tổng hợp collagen và
ức chế tổng hợp melanin.
448
Chương 5
Thủ thuật thẩm mỹ và phẫu thuật da
5.2. Tẩy trang, rửa mặt sạch, ủ tê 45
phút đến 1 giờ bằng hỗn hợp lignocaine và
prilocain/tetracaine (nếu chọn độ sâu kim
> 0,5 mm). Sau đó, lau sạch bằng nước
muối sinh lý và sát trùng da.
5.3. Tiến hành thủ thuật lăn kim
Chọn lựa kim lăn: dựa vào độ dày của
lớp thượng bì và lớp bì (độ sâu kim > 1 mm
là qua lớp bì).
Một số chỉ định thường gặp
Cách thực hiện: Một tay căng da, tay
còn lại cầm kim lăn vuông góc với mặt
da theo hướng ngang, dọc và chéo, mỗi
huớng 5 lần (nếu lăn kim máy tự động, đi
qua hết vùng điều trị 1 lần, có thể lặp lại
lần 2 ở những vùng cần điều trị đặc biệt).
Endpoint: xuất huyết điểm. 5.4. Bôi thuốc
điều trị tùy chỉ định 5.5. Hướng dẫn cho
bệnh nhân cách chăm sóc da sau khi làm
thủ thuật
Đỏ da và phù nề có thể kéo dài khoảng
3-5 ngày. Nếu bệnh nhân đau nhiều có thể
chườm đá. Kem chống nắng được khuyên
dùng ít nhất 12 giờ sau điều trị. Khoảng
cách giữa các lần điều trị cách nhau 2-8
tuần, tùy thuộc vào chỉ định và độ sâu kim
sử dụng. Kim càng sâu thì khoảng cách
càng dài (ví dụ: kim 1,5 mm, ít nhất lặp lại
sau 3 tuần).
Thường gặp đỏ đa và kích ứng trong
vài giờ đầu. Có thể gặp các dấu vết hình
mạng lưới thường sau hai lần điều trị trên
vùng da mặt sát xương, gồ cao, hạn chế
bằng cách giảm lực khi lăn kim và dùng
kim nhỏ. Ít gặp: tăng sắc tố sau viêm, mụn
nặng thêm, tái hoạt herpes, tăng nhạy cảm
hệ thống, phản ứng u hạt dị ứng, nhiễm
trùng tại chỗ, viêm da tiếp xúc kích ứng.
7. KẾT LUẬN
Kim lăn vi điểm là một trong những
phương pháp tái tạo bề mặt da hiệu quả
và an toàn rất phù hợp với người có týp da
sậm màu (IV, V theo Fitzpatrick) nhờ ít có
nguy cơ tạo sẹo và tăng sắc tố sau viêm.
Kỹ thuật có tính dung nạp tốt và bảo tồn
thượng bì nên cho phép thực hiện nhiều
lần đến khi đạt kết quả tối ưu. Ngoài ra,
khi kết hợp với những công nghệ như sóng
RF, đèn LED kim lăn vi điểm có thêm nhiều
chỉ định mà không thêm nguy cơ tác dụng
phụ. Nói chung, đây là một phương pháp
dễ thực hiện, không cần đầu tư tốn kém,
mang lại hiệu quả cao giúp giải quyết tốt
nhiều bệnh lý da và tình trạng da liên quan
thẩm mỹ.
449
Thẩm mỹ nội khoa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Aashim S., Savita Y., et al. (2017),
“Microneedling: Advances and widening
horizon”. Indian Derma tology Online Jour-
nal, 7, pp. 244-54.
2. Brandon E C., Nada E., et al. (2016),
“Microneedling in skin of color: A review
of uses and efficacy”. Journal American
Academy Dermatol, 74, pp. 348-355.
3. Chandrashekar B S., Sriam R., et al
(2014), “Evaluation of microneedling frac-
tional radiofrequency device for treatment
of acne scars”. J Cutan Aesthet Surg, 7,
pp. 93-97.
4. El-Domyati M, Barakat M., et al
(2015), “Mutiple microneedling sessions
for minimally invasive fa cial rejuvenation:
an objective assessment”. Int J Dermatol,
54, pp. 1361-1369.
5. Johnson C L, Mark A D., et al. (2016),
“Mesotherapy, Microneedling, and Chem-
ical peels”. Clinical Plastic Surg, 43, pp.
583-595.
6. Kim S T., Lee K H., et al. (2014),
“Treatment of acne vulgaris with fraction-
al radiofrequency micronee
dle”. J Dermatol, 41, pp. 596-591.
7. Lee S J., Goo J W., et al. (2012), “Use
of fractional radiofrequency microneedle
for the treatment of
inflammatory acne vulgaris in Koran
patients”. Dermatol Surg, 38, pp. 400-405.
8. Lewis W., (2014), “Is microneedling
really the next big thing?”. Plast Surg Pract,
7, pp. 24-28.
9. Sunil D., Savita Y., et al, (2014), “Mi-
croneedling for acne scars in Asian skin
type: an effective low cost treatment mo-
dality”, Journal of Comestic Drmatology,
13, pp. 180-187.
10. Vijay P Z., Gayatri M K., et al, (2016),
“Needling in inpresponsive stable vitiligo”.
J Am Acad Derma to, 75, pp. 199-200.
450
Chương 5
Thủ thuật thẩm mỹ và phẫu thuật da
HUYẾT TƯƠNG GIÀU TIỂU CẦU
(PLATELET RICH PLASMA)
1. TỔNG QUÁT
1.1. Tiểu cầu
Tiểu cầu là các phân mảnh của mẫu
tiểu cầu (megakaryocyte), một loại tế bào
bạch cầu sinh ra ở tủy xương. Tiểu cầu là
tế bào nhỏ nhất trong các tế bào máu, có
hình tròn hoặc hình bầu dục với đường
kính xấp xỉ 2 µm (1,2- 2,3 µm). Tiểu cấu trú
ngụ trong các mạch máu và có nồng độ
cao trong lách. Bình thường số lượng tiểu
cầu trong máu từ 140.000 đến 400.000/
mm (µL). Đời sống trung bình của tiểu cầu
là 10 ngày trước khi bị thực bào bởi các
đại thực bào của hệ thống lưới nội mô. Về
cấu tạo, bên trong tiểu cầu là một siêu cấu
trúc phức tạp, chủ yếu gồm một hệ thống
vi quản ở ngoại vi, hệ thống ống dày đặc, ti
lạp thể, nhiều hạt (alpha- 24 có số lượng α,
delta- δ, lambda- λ) và hệ thống các kênh
mở. Trong tiểu cầu, hạt ở từ 50 đến 80
hạt và hình thành trong quá trình trưởng
thành của mẫu tiểu cầu. Hạt có đường
kính khoảng 200- 500 nm, được bao quanh
bởi một lớp màng và chứa khoảng 30 loại
protein có hoạt tính sinh học khác nhau,
trong đó có thể kể đến các protein như
yêu tô 4 tiêu câu, yếu tố von Willebrand,
fibrinogen, thrombospondin, protein S, yếu
tố XIII... là những yếu tố quan trọng tham
gia vào quá trình đông cầm máu của tiểu
cầu. Hạt cũng chứa rất nhiều các protein
bao gồm nhiều yếu tố tăng trưởng có chức
năng quan trọng trong quá trình làm lành
vết thương.
1.2. Huyết tương giàu tiểu cầu
(PRP - Platelet rich plasma)
Huyết tương giàu tiểu cầu được định
nghĩa là một thể tích huyết tương tự thân
có nồng độ tiểu cầu cao gấp nhiều lần mức
cơ bản trong máu tĩnh mạch. Bình thường
số lượng tiểu cầu trong máu khoảng từ
140.000 đến 400.000 tiểu cầu/µL máu
(trung bình 200.000), trong khi đó số lượng
tiểu cầu trong PRP cao hơn gấp nhiều lần,
từ 2- 8 lần, so với mức trung bình. Sở dĩ
cần một nồng độ lớn tiểu cầu trong PRP
để điều trị vì vai trò quan trọng và chủ yếu.
của tiểu cầu trong liệu pháp PRP để điều
trị nhiều bệnh lý khác nhau.
1.3. Các yếu tố tăng trưởng và hiệu
quả
- PGDF: có tác động kích thích hình
thành mạch máu mới giúp cung cấp oxy
và chất dinh dưỡng cho da. Đồng thời,
kích thích tế bào sợi phát triển, tạo mới
collagen làm tăng độ đàn hồi của da.
- VEGF: tăng sinh mạch máu mới.
- TGF-Beta: cân bằng sự phát triển của
tế bào sợi với tế bào cơ, từ đó giúp điều
hòa sự săn chắc và đàn hồi của da.
- EGF: kích thích tăng sinh tế bào biểu bì
và trung bì.
- IGF và HGF: hỗ trợ thêm cho hoạt động
liền sẹo, kích thích mạch máu, tế bào cơ
và tế bào sợi phát triển, đồng thời sửa
chữa các mô cơ bị hư hại.
451
Thẩm mỹ nội khoa
1.4. Bước chuẩn bị
Huyết tương giàu tiểu cầu được nhận
từ máu người cho trong cùng giai đoạn trị
liệu.
1.5. Cách tiến hành
Lấy máu tĩnh mạch 30 mL sẽ cho 3-5
mL huyết tương giàu tiểu cầu tùy theo số
lượng tiểu cầu của từng người, thiết bị sử
dụng và kỹ thuật làm. Máu lấy ra được
thêm vào chất kháng đông để bước đầu
dự phòng kích hoạt tiểu cầu.
Ly tâm máu lần một với lực ly tâm mềm
(soft spin) để tách hồng cầu ra khỏi huyết
tương, để lại tiểu cầu, bạch cầu và các yếu
tố đông máu. Sau ly tâm lần một thường
có ba lớp dịch được tạo ra: lớp dưới cùng
chứa hồng cầu (trọng lượng riêng 1,09), lớp
giữa chứa tiểu cầu và bạch cầu còn gọi là
lớp buffy coat (trọng lượng riêng 1,06), lớp
trên cùng chứa huyết tương (trọng lượng
riêng 1,03).
Lấy tiểu cầu trên bề mặt qua một ống
vô trùng khác (không có thuốc chống đông
máu).
Thể tích lớp giữa chiếm khoảng 10%
thể tích máu được lấy sẽ được ly tâm lần
thứ hai với lực ly tâm cứng (hard spin) để
được một ông tập trung tiêu câu
Mức thấp hơn 1/3 là huyết tương giàu
tiểu cầu và trên 2/3 là huyết tương nghèo
tiểu cầu.
Loại bỏ huyết tương nghèo tiểu cầu và
lấy tiểu cầu trong một lượng nhỏ huyết
tương giàu tiểu cầu (2-4 mL) bằng cách
nhẹ nhàng lắc ống.
Một số tác giả kích hoạt tiểu cầu với
thrombin hoặc canxi, trong khi một số
khác lại sử dụng tiểu cầu mà không được
kích hoạt trước đó, cho rằng như vậy sẽ
thu được kết quả tốt hơn.
Có rất nhiều hệ thống huyết tương giàu
tiểu cầu được thương mại hoá, tạo điều
kiện thuận lợi cho việc chuẩn bị sẵn sàng
để áp dụng. Tất cả các hệ thống này hoạt
động trên một lượng nhỏ máu (20-60 mL)
và trên nguyên tắc ly tâm. Kết quả là thu
được các hợp chất huyền phù và bạch
cầu. Các hệ thống này khác nhau rất nhiều
trong khả năng thu thập và tập trung tiểu
cầu phụ thuộc vào phương pháp và thời
gian ly tâm. Sự khác nhau về nồng độ tiểu
cầu và bạch cầu ảnh hưởng đến sự đa
dạng của nồng độ các yếu tố tăng trưởng.
Khi lượng huyết tương giàu tiểu cầu chứa
nhiều bạch cầu có thể dẫn đến tình trạng
bạch cầu hoạt hóa giải phóng ra MMPs
(matrix
metalloproteinases)
và
IL-1β
(interleukin) và một số enzym tiêu protein
gây thoái giáng chất căn bản, hủy hoại
mô xung quanh, ức chế tăng sinh tế bào.
Ngược lại, theo một số nghiên cứu khác
thì bạch cầu có tác dụng chống nhiễm
khuẩn và điều hòa miễn dịch, sản xuất ra
VEGF- một yếu tố tăng trưởng quan trọng
trong tăng sinh mạch máu. Tuy nhiên,
cũng theo tài liệu trên thì vai trò tích cực
và tiêu cực của bạch cầu trong PRP vẫn
còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu thêm.
Rất khó để đánh giá bộ dụng cụ huyết
tương giàu tiểu cầu nào tốt hơn và tệ hơn.
2. NHỮNG ỨNG DỤNG CỦA PRP
- Nha khoa
- Chấn thương chỉnh hình
- thể thao
- Da liễu - thẩm mỹ
2.1. Chỉ định
- Điều trị sẹo rỗ
- Điều trị mụn
- Trẻ hóa da, chống lão hóa
- Xóa nếp nhăn, làm đầy
452
Chương 5
Thủ thuật thẩm mỹ và phẫu thuật da
- Chữa hói đầu, rụng tóc
- Chữa vết loét mạn tính, phỏng, tia xạ
- Phục hồi mô bệnh, tăng sinh các mô
khỏe mạnh.
2.2. Chống chỉ định tuyệt đối
- Các hội chứng mất chức năng của tiểu
cầu
- Giảm tiểu cầu nặng (<50x10°/dL)
- Giảm fibrinogen trong máu
- Nhiễm trùng huyết
2.3. Chống chỉ định tương đối
- Có dùng NSAID 48 giờ trước khi làm
phẫu thuật
- Mới có sốt hoặc các bệnh nhiễm khác
- Ung thư máu
- Tiền căn nhiễm Pseudomonas,
Enterococcus, Klebsiella
- Hgb < 10 g/dL
- Tiểu cầu dưới 10 - 5/µL.
2.4. Một số nguy cơ
- Nhiễm trùng: 1/50.000 ca
- Dị ứng khi gây tê tại chỗ
- Bệnh nhân ngất do thấy máu hoặc do
đau khi tiêm
- Tiêm ra ngoài vị trí điều trị
3. KẾT LUẬN
Huyết thanh giàu tiểu cầu hiện là công
nghệ chống lão hóa da mới. Sản phẩm
trích từ chính máu của bệnh nhân nên
không lo bị lây nhiễm, dị ứng. Điều trị với
gây tê tại chỗ, không gây tổn thương nhiều,
ít ảnh hưởng đến sinh hoạt. Các nhân tố
tăng trưởng trong tiểu cầu thúc đẩy liên
tục việc tăng sinh tế bào mới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Pietrzak W.S and B. L. Eppley (2005).
Platelet rich plasma: biology and new
technology. J Craniofac Surg, 16 (6),
1043-1054.”Platelet-Rich Plasma Thera-
py.” Harvard Health Letter 34.12 (2009):
6-7. Academic Search Premier. Web. 6
Oct. 2013.
2. Sampson S, M. Gerhardt and B.
Mandelbaum (2008). Platelet rich plas-
ma injection grafts for muscu loskeletal
injuries: a review. Curr Rev Musculoskelet
Med, 1 (3-4), 165-174.
3. Marx R.E (2001). Platelet-rich plas-
ma (PRP): what is PRP and what is not
PRP? Implant Dent, 10 (4), 225-228.
4. Ehrenfest D.M.D, L. Rasmusson and
T. Albrektsson (2008). Classification of
platelet concentrates: from pure plate-
let-rich plasma (P-PRP) to leucocyteand
platelet-rich fibrin (L-PRF). Trends in Bio
technology, Vol.27 (No.3), 158-167.
5. Everts P.A, A. van Zundert, J. P.
Schonberger et al (2008). What do we use:
platelet-rich plasma or platelet-leukocyte
gel? J Biomed Mater Res A, 85 (4), 1135-
1136.
6. Leitner G.C, R. Gruber, J. Neumuller
et al (2006). Platelet content and growth
factor release in plate let-rich plasma: a
comparison of four different systems. Vox
Sang, 91 (2), 135-139.
7. Mazzocca A.D, M. B. McCarthy, D. M.
Chowaniec et al (2012). Platelet-rich plas-
ma differs according to preparation meth-
od and human variability. J Bone Joint
Surg Am, 94 (4), 308-316. 114.
8. R. a. Development (2010). In Vitro
Comparison of Autologous Conditioned
Plasma (ACP) to a Buffy Coat-Based Plate-
let-Rich Plasma (PRP) Product. Arthrex
Inc. All rights reserved.
453
Thẩm mỹ nội khoa
KỸ THUẬT ĐỐT ĐIỆN
(ELECTROSURGERY)
Phẫu thuật dao điện là một kỹ thuật
sử dụng điện gây ra nhiệt phá hủy mô,
tổ chức của cơ thể, thông thường nhất là
dưới dạng quang đông, bóc bay hay than
hóa tổ chức. Cần nắm kiến thức cơ bản
về dòng điện, kháng trở, volt, nguồn điện,
dạng sóng điện từ và ảnh hưởng của nó
trên da nhằm có kế hoạch chuẩn bị tiền
phẫu, chọn lựa phương pháp điều trị, kết
quả sau phẫu thuật cũng như giảm thiểu
nguy cơ tổn thương điện cho cả bệnh nhân
và bác sĩ.
1. CÁC LOẠI DAO MỔ ĐIỆN THƯỜNG
SỬ DỤNG HIỆN NAY
- Dao mổ điện đơn cực (monopolar)
- Dao mổ điện lưỡng cực (bipolar)
2. TÁC DỤNG NHIỆT LÊN MÔ SINH
HỌC
Dòng điện là dòng dịch chuyển của
các hạt mang điện. Khi dòng điện đi qua
vùng có trở kháng (mô...) sẽ tổn thất năng
lượng dạng nhiệt và gây tác dụng nhiệt lên
mổ sinh học.
• 37 - 45°C xảy ra thay đổi hóa học tế bào.
Tuy nhiên, các tế bào trở lại bình thường
khi nhiệt độ trở về giá trị bình thường
• > 45°C: sự thay đổi không thể đảo ngược
và làm chết tế bào.
• 45°C - 60°C: protein trong tế bào mất đi
cấu hình bốn phần và trở nên cô đặc lại
thành chất dính như keo. Quá trình này
được gọi là “sự đồng” (coagulation).
• 60°C - 100°C: mô bị khô, nước trong tế
bào bốc hơi. Quá trình này được gọi là
“sự làm khổ” (dessication).
• > 100°C: các chất rắn của mô biến đổi
thành cacbon. Quá trình này được gọi là
“sự đốt thành than” (carbonization).
Khi dòng điện qua mô dẫn, mô bị sấy
khô. Dòng điện đi theo con đường có ít
trở kháng nhất, sẽ lan tỏa sang hai bên
của điện cực gây ra lan tỏa nhiệt làm tổn
thương mô hai bên. Sự lan tỏa nhiệt sang
hai bên nhiều sẽ gây tổn thương mổ không
mong muốn.
3. HỆ THỐNG MÁY ĐỐT ĐIỆN: máy
phát dòng điện, điện cực âm (ground pad),
điện cực dương (pencil).
4. CÁC DẠNG SÓNG (TẦN SỐ KHÁC
NHAU VÀ TÁC DỤNG)
Dạng sóng liên tục: còn gọi là “cắt”.
Dạng sóng không liên tục: còn gọi là “đốt”.
Pha trộn dạng sóng liên tục và không liên
tục: còn gọi là “vừa cắt vừa đốt”.
5. CÁC KỸ THUẬT PHẪU THUẬT ĐIỆN
Cắt electrosection: điện cực tiếp xúc
trực tiếp mô một phần, tia lửa dòng điện
tần số cao sẽ phát sinh giữa điện cực và
mô làm bốc bay tổ chức mô.
454
Chương 5
Thủ thuật thẩm mỹ và phẫu thuật da
Đốt fulguration: điện cực điều trị không
tiếp xúc với mô và tia lửa dòng điện tần số
cao sẽ phát sinh giữa điện cực và mô làm
quang đông tổ chức.
Đốt desiccation: dao đốt tiếp xúc trực
tiếp với mô, làm tác dụng nhiệt rất nhiều
bởi vì dòng điện được “tản đều” qua da.
6. TẠI SAO BỆNH NH N KHÔNG BỊ
ĐIỆN GIẬT” KHI PHẪU THUẬT VIÊN
DÙNG DAO MỔ ĐIỆN?
Năm 1920, Dr. William Bovie khám phá
ra rằng tại tần số > 100.000 Hz vòng trong
1 giây (100 kHz), không gây ra kích thích
thần kinh cơ trên cơ thể sống. Dòng điện
tần số cao hơn 100 kHz được sử dụng bởi
vì không làm cho cơ bị co giật cũng không
gây đau, nghĩa là không kích thích dây thần
kinh hay sợi cơ. Các máy đốt điện hiện nay
đều vận hành an toàn ở tần số 200 kHz
hoặc cao hơn (nên cũng được gọi là máy
cắt đốt cao tần).
7. CÁC NGUY CƠ KHI SỬ DỤNG DAO
MỔ ĐƠN CỰC
Đôi khi phẫu thuật viên vô ý chạm đầu
dao điện đang hoạt động vào dụng cụ khác
ở ngoài phẫu trường, dao mổ đơn cực hoạt
động có thể xẹt tia lửa điện.
Dễ bắt lửa trong môi trường phòng mổ
có nhiều nguyên liệu dễ cháy, khí oxy.
Nếu điện cực thu hồi tiếp xúc không tốt
với da bệnh nhân, cháy bỏng có thể xảy ra
tại chỗ điện cực thu hồi.
8. DAO MỔ LƯỠNG CỰC: hạn chế các
nguy cơ của dao mổ đơn cực như: tiếp
xúc trực tiếp điện dụng, không gây các
tổn thương tại chỗ & các tổn thương do
lỗi của điện cực thu hồi.
9. KHI SỬ DỤNG DAO MỔ ĐƠN CỰC
NÊN ĐẶT MIẾNG ĐỆM LÓT (PAD) Ở
VÙNG CÓ TIẾP XÚC NHIỀU NHẤT VÀ
ĐÓNG NHẤT
Những nơi có khối cơ được phân bố
mạch máu tốt. Tránh những vùng có
xương khớp (gồ ghề), lông, mô sẹo, mỡ
thừa nhiều..
Bề mặt da không có dầu, lotion Vị trí
càng gần phẫu trường càng tốt. Chú ý
đường đi của dòng điện qua các “mảnh
cấy” (implant) trong cơ thể.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Soon, S. L. & Washington, C. V., Jr
(2010) Electrosurgery, electrocoagulation,
electrofulgru-ation,
electrodessication,
electrosection, electrocautery. In: J. K.
Robinson, C. W. Hanke, D. M. Siegel & A.
FratUa (eds). Surgery of the Skin: Proce-
dural Dermatology (pp. 137-152).
2. Mosby Elsevier, St Louis, MO. Ben-
nett R. (1988). Electrosurgery. In Bennett
R, editor. Fundamentals of cutaneous sur-
gery. St Louis: CV mosby:
3. Sebben J.E/(1988) Electrosurgery.
In: Rad JL (ed). Textbook of dermatologic
surgery. Lippincott - Ra
455
Thẩm mỹ nội khoa
CÁC KỸ THUẬT
RẠCH DA - KH U DA - VẠT DA TẠO HÌNH SEO
(SKIN INCISION - SKIN SUTURE - SKIN FLAP SCAR SURGERY)
1. CÁC KỸ THUẬT RẠCH DA
Hai yếu tố ảnh hưởng đến tính thẩm mỹ
của vết mổ trong phẫu thuật da liễu: (1)
thiết kế đường mổ và (2) kỹ thuật mổ.
Các nguyên tắc của việc thiết kế đường
mổ được thống nhất, bao gồm: bảo tồn
các bờ tự do (ví dụ: mi mắt, đầu mũi, cánh
mũi, môi), bảo tồn các đường, nếp nhăn
tự nhiên và đặt sẹo mổ ở các đường tiếp
nối của các tiểu đơn vị thẩm mỹ vùng mặt.
Khi cầm dao mổ tránh nghiêng cán dao vì
khi rạch da sẽ để đường mổ xiên. Dao mổ
được đặt thẳng góc với mặt da, khi rạch
da làm cho đường mổ có bờ thẳng góc,
khi may hai mép vết thương sẽ áp sát vào
nhau. Rạch da đồng nhất ở các bờ nhằm
bóc tách được lớp sâu dưới da. Sau khi
rạch da, bóc tách và lấy phần da bệnh.
Bóc tách hai bờ vết thương làm giảm sức
căng da để khi may da tránh sự co kéo vết
thương dễ hình thành sẹo xấu.
Mục tiêu bóc tách
(1)Tạo thuận lợi cho việc khép vết
thương hay vạt da khỏi dính vào cấu trúc
bên dưới tránh sức căng da khi may.
(2)Giúp thấy rõ mép vết thương khi
khâu, bóc tách da cùng mặt phẳng với nền
của thương tổn cắt bỏ.
2. KỸ THUẬT KH U DA
2.1. Khâu chôn chỉ
Kích cỡ chỉ khâu và kim khâu phụ thuộc
vào vị trí giải phẫu, độ dày của lớp da và độ
căng của vết thương.
Kỹ thuật khâu và vị trí khâu bị ảnh
hưởng bởi việc khép mô dưới da có hiệu
quả không.
Việc đặt mối chỉ thích hợp và không
làm tổn thương bề mặt da là điều quan
trọng để đạt hiệu quả tối ưu cho việc lành
sẹo.
Mục tiêu của việc khâu chôn chỉ là
chuyển sức căng đến lớp bì lưới và giúp
thấy rõ mép vết thương cho phép việc
khép chính xác và không căng lớp bì nhú
và thượng bì.
456
Chương 5
Thủ thuật thẩm mỹ và phẫu thuật da
Hình 1. Cách may lớp dưới da
Hình 2. Kiểm tra sau khi may.
Nếu khâu chôn chỉ đúng thì sau khi
khâu, cả hai mép vết thương sẽ nhìn thấy
rõ và giảm thiểu tối đa việc chảy máu từ
lớp bì.
Sau khi may lớp dưới da kiểm tra
khoảng trống không còn khi căng mép da,
số lượng mối chỉ đã đủ khép vết thương.
2.2. Khâu chỉ ở bề mặt
Khâu chỉ ở bề mặt (khâu da) cho phép
mép vết thương dính lại với nhau và điều
chỉnh mép vết thương tương thích với nhau
sau khi khâu chôn chỉ. Lý tưởng là chỉ khâu
lớp biểu bì da không gây sức căng hay
giảm thiểu tối đa sự căng vết thương. Vết
thương có lớp bì mỏng cần khâu chỉ chặt
hơn (các mối chỉ đặt gần nhau hơn) và vị
trí khâu gần mép vết thương hơn.
457
Thẩm mỹ nội khoa
Hình 3. Đóng da hai lớp, khoảng trống dưới da được đóng kín
và đóng da hai mép liền khít nhau
Hình 4. Đóng da một lớp
458
Chương 5
Thủ thuật thẩm mỹ và phẫu thuật da
Hình 5. May liên tục (Surjet)
Hình 6. May liên tục luồn dưới da
Hình 7. Cách may da dùng cho các góc cạnh
459
Thẩm mỹ nội khoa
Hình 8. May kiểu Blair Donati (may xa xa gần gần)
3. VẠT DA TRONG PHẪU THUẬT
VÙNG MẶT
Hình 9. Các vùng da cắt hình thoi theo nếp làn da
460
Chương 5
Thủ thuật thẩm mỹ và phẫu thuật da
Hình 10. Các vật da thường sử dụng trên mặt
1- Vạt da trượt 2- Vạt da xoay 3- Vạt da LLL của Dufourmentel
4 - Vạt da cánh diều của Dufourmentel
Hình 11. (A) khuyết da hình tam giác và vạt da xoay (B) tạo vùng khuyết da thứ phát sau
khi rạch da (C) Cách đóng da lý tưởng của vùng khuyết da nguyên phát và thứ phát
3.1. Vạt da xoay (rotation flap)
Vạt da xoay kinh điển, là một trong kiểu
chính trong vat da tình huống, được gọi
tên theo phương pháp di chuyển của vùng
mổ xoay vào chỗ khuyết da có dạng hình
tam giác xoay quanh một trục.
461
Thẩm mỹ nội khoa
Hình 12. (A) Mô hình vạt da xoay. (B) Việc kéo dài vạt da làm tăng tính di chuyển xoay.
Vùng khuyết da thứ phát cũng sẽ tăng thêm kích thước
Hình 13. (A) Mẫu vật da xoay lúc đầu. (B) Cắt phần cuối của trục xoay làm tăng tính
xoay của vạt da
Hình 14. (A) Mẫu vật da xoay lúc đầu. (B) Mẫu vạt da xoay.
(C) Vật da được cắt ra, bóc tách để di chuyển vùng da xung quanh
Hình 15. May các mối chỉ để giữ và may lớp dưới da làm giảm sự căng chỗ khuyết da
thứ phát
462
Chương 5
Thủ thuật thẩm mỹ và phẫu thuật da
Hình 16. (A) Mô hình cắt làm nhô cao bờ của vạt da (B) Vạt da sẽ dễ dàng xoay không
có sự co kéo
Hình 17. (A) Tai bèo khi xoay vạt da. (B) Sau khi chỉnh tai bèo
Hình 18. Sơ đồ minh họa vạt da chuyển vị. Ghi nhận hưởng của đông che khuyết da so
với may từ cạnh bên. Kích thước của vạt da cũng bằng với vùng khuyết da cần chuyển vị
3.2. Vạt da chuyển vị
(transposition flap)
463
Thẩm mỹ nội khoa
Hình 19. (A) Tai bèo khi xoay vạt da. (B) Sau khi chỉnh tai bèo
Hình 20. (A) Vạt da chuyển vị kinh điển. (B) Vạt da chuyển vị hình thoi
Ghi chú: • chỉ vị trí may khóa; –> <– chỉ lực căng thứ phát
464
Chương 5
Thủ thuật thẩm mỹ và phẫu thuật da
Hình 21. (A) Mô hình và chuyển vạt da góc 30°, chú ý là vạt da chỉ bằng 2 chiều rộng
của khuyết da. (B), (C) mô hình không tương ứng của vạt da góc 30°
Hình 22. Mô hình vạt da hai thùy, chú ý sự giống nhau với vạt da xoay trong việc hoạt
động cũng như nên rộng. Tuy nhiên, rất ít mổ xoay như trong vat da xoay
Ghi chú: • chỉ vị trí may khóa; -> <- chỉ lực căng thứ phát
465
Thẩm mỹ nội khoa
Hình 23. Mạch máu nuôi của vùng trán dành cho da có cuống
Hình 24. Vạt da trán mũi có cuống
Hình 25. Vạt da gian cực trước và sau mổ
3.3. Vạt da có cuống
3.4. Vạt da gian cực (interpolation fap)
466
Chương 5
Thủ thuật thẩm mỹ và phẫu thuật da
3.5. Vạt da tình huống (random
pattern flaps)
Tùy theo tình huống của vùng da
khuyết mà vạt da được cắt theo nếp lằn
da.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chirurgie cutanée réparatrice de la
face et du cou - Jean Pierre Bessde 2003,
Edition Masson.
2. Menter A (2006). Surgery of the
Skin: Procedural Dermatology. Proceed-
ings (Baylor University Med ical Cen-
ter).;19(2):162-163..
3. Miller C.J, Antunes M.B (2015). Sur-
gical technique for optimal outcomes:
Part I. Cutting tissue: Incis ing, excising,
and undermining. Journal of the American
Academy of Dermatology, Volume 72, Is-
sue 3, 377 - 387.
4. Miller C.J, Antunes M.B (2015). Sur-
gical technique for optimal outcomes:
Part II. Repairing tissue: Suturing. Journal
of the American Academy of Dermatology,
Volume 72, Issue 3, 389-402.
Hình 25. Vạt da gian cực trước và sau mổ
467
Thẩm mỹ nội khoa
MỘT SỐ PHẪU THUẬT MÓNG CƠ BẢN
(BASIC NAIL SURGERY)
1. ĐẠI CƯƠNG
Phẫu thuật móng cần thiết để chẩn
đoán bệnh, điều trị móng chọc thịt, móng
gọng kìm, u cuộn mạch, ung thư tế bào gai
dưới móng... Nếu có kinh nghiệm có thể
thực hiện nhanh và hạn chế nguy cơ loạn
dưỡng móng vĩnh viễn.
2. NỘI DUNG CHÍNH
2.1. Giải phẫu móng
Hình 1. Giải phẫu đơn vị móng
2.2. Chuẩn bị trước mổ
Ghi nhận các tiền sử bệnh: bệnh mạch
ngoại biên, bệnh mạch collagen, đái tháo
đường, rối loạn đông máu, đang dùng
thuốc chống đông, dị ứng thuốc.
X-quang giúp xác định mức độ lan rộng
của u tân sinh vào xương. Chụp hình trước
mổ, nhất là đối với các thương tổn tăng
sắc tố, tân sinh, thương tổn có nguy cơ
loạn dưỡng móng vĩnh viễn.
Tư vấn cho bệnh nhân về phẫu thuật,
đau, hạn chế cử động sau mổ. Nguy cơ
loạn dưỡng móng vĩnh viễn, giấy cam đoan
trước mổ.
2.3. Kháng sinh dự phòng trước
phẫu thuật
Vi khuẩn sinh bệnh ở da thường là
S. aurenus. Ở móng chọc thịt da nhiễm
trùng, phẫu thuật dưới gối, tiền sử bệnh
468
Chương 5
Thủ thuật thẩm mỹ và phẫu thuật da
tim mạch, đang mang vật nhân tạo (van
tim, khớp nhân tạo) cần sử dụng kháng
sinh dự phòng một giờ trước phẫu thuật.
Thời gian làm thủ thuật thường ngắn (15
phút), hiếm khi dùng thêm liều 6 giờ sau
mổ. Nếu dùng, liều 6 giờ sau mô thường
bằng 1/2 liêu trước mộ.
Bảng 1. Kháng sinh dự phòng trước mổ
Hình 2. Block thần kinh gốc ngón cái
2.4. Vô cảm
Vô cảm (block) thần kinh ngón với
lidocain 2%. Nếu cần vô cảm kéo dài dùng
bupivacaine 0,25% (Hình 2). Có thể dùng
epinephrine trong vô cảm thần kinh để hạn
chế chảy máu, nhưng nên tránh ở bệnh
nhân có bệnh mạch máu ngoại biên. 1-1,5
mL thuốc tê vào mỗi bên của ngón. Cần
10-15 phút để thuốc tê có hiệu quả. Nếu
bệnh nhân còn đau, tiêm thêm thuốc tê
vào chỗ nổi nếp móng gần và bên (Hình 3).
469
Thẩm mỹ nội khoa
Hình 3. Block thần kinh ngón đầu xa
Block ngôn xa
Gây tê đầu xa qua nếp móng gần
Gây tê đầu xa qua nếp dưới móng
2.5. Chăm sóc sau mổ
Ngay sau thủ thuật, chùi sạch và khô.
Dùng gạc ép trực tiếp lên vùng mổ trong
vài phút để cầm máu. Đắp gạc vaseline,
gạc khô lên trên, băng dính nhưng không
quá chặt. Mang dép hở ngón. Thay bằng
lần đầu sau 24 giờ, rồi 1 lần/ngày.
3. CÁC THỦ THUẬT
3.1. Sinh thiết móng
Sau đây là các thay đổi móng cần sinh
thiết móng:
- Băng sắc tố riêng biệt trên một ngón
duy nhất phát triển trong độ tuổi 40 đến
60, mặc dù u hắc tố có thể gặp ở trẻ em
nhưng rất hiếm.
470
Chương 5
Thủ thuật thẩm mỹ và phẫu thuật da
- Sắc tố móng phát triển đột ngột trong
một phiến móng trước đây bình thường.
- Sắc tố đột nhiên trở nên đậm hơn hoặc
lớn hơn hoặc sắc tố trở nên mờ gần
mầm móng.
- Sắc tố mắc phải của ngón tay cái, ngón
trỏ, hoặc ngón chân cái.
- Sắc tố phát triển sau một tiền sử chấn
thương ngón và đã loại trừ tụ máu dưới
móng.
- Bất kỳ tổn thương mắc phải nào ở
những bệnh nhân có tiền sử u hắc tố.
- Nếu sắc tố có liên quan với loạn dưỡng
móng phá hủy một phần hoặc mất phiến
móng.
- Nếu phát hiện sắc tố của da quanh
móng (bao gồm cả nếp móng bên) (dấu
hiệu Hutchinson), điều này bao gồm các
sắc tố của tiêu bì hoặc nếp dưới móng.
Tiêu chuẩn ABCDEF của 1 hắc tố
melanoma) dưới móng
Các đặc điểm nổi bật nhất của u hắc
tố dưới móng có thể được tóm tắt theo
tiêu chuẩn mới với các chữ cái ABCDEF.
Trong hệ thống này là A viết tắt của tuổi
(age) (tỉ lệ mới mắc cao nhất ở độ tuổi
50-60) và viết tắt của người Mỹ gốc Phi
(African Ameri cans), người châu Á (Asians)
và người Mỹ bản địa (Native Americans),
nhóm người này chiếm 1/3 các trường hợp
u hắc tố. B viết tắt nâu đến đen (brown to
black) và với bề rộng (breadth) 3 mm trở
lên và bờ (borders) đa dạng. C là viết tắt
thay đổi (change) bằng móng hoặc thiếu
sự thay đổi hình thái mỏng, mặc dù điều
trị đầy đủ. D cho biết thường gặp liên quan
đến ngón (digit). E là viết tắt sự lan rộng
(extension) của sắc tố đến nếp móng gần
và/hoặc bên (dấu hiệu Hutchinson) và F
chỉ tiền sử gia đình (family) hoặc cá nhân
có nevus loạn sản hoặc u hắc tố.
Dấu hiệu Hutchinson: sự lan rộng màu
nâu đen quanh móng từ băng đen dọc
móng đến nếp móng gần và bên, là một
chỉ điểm quan trọng của u hắc tố dưới
móng. Tăng sắc tố quanh móng cũng có
thể xảy ra trong bệnh Bowen của đơn vị
móng. Giả dấu hiệu Hutchinson do tăng
sắc tố móng và mầm móng thấy qua nếp
gấp móng mờ.
Tăng sắc tố đường dọc móng (TSTDM)
Đây là một phát hiện phổ biến do nhiều
nguyên nhân. Bệnh sử (thời gian bắt đầu,
kéo dài, thuốc) và khám (đường kính, màu
sắc) rất quan trọng. Soi da (dermoscopy)
cũng có giá trị. Các nguyên nhân thường
gặp nhất của tăng sắc tố móng theo chiều
dọc gồm:
TSTDM do thuốc và tia xạ TSTDM nội
tiết (bệnh Addison) TSTDM kết hợp với
nhiễm HIV TSTDM kết hợp với tổn thương
móng do viêm TSTDM dinh dưỡng (thiếu
vitamin B12 hay folate) TSTDM chấn
thương
471
Thẩm mỹ nội khoa
TSTDM chủng tộc
Sinh thiết sắc sắc tố
Hình 4. Sơ đồ để tiếp cận sinh thiết móng đen theo chiều dọc
Sinh thiết ở phía gần của sọc (Hình
1). Nếu nguồn gốc của sắc sắc tố gần với
liềm móng, mẫu sinh thiết sẽ bao gồm nếp
móng gần. Rạch 2 đường dài 5 mm ở chỗ
nối nếp móng gần và bên hướng ra ngoài
ngón, kéo nếp móng gần lui sau. Dùng
punch 4 hoặc 5 mm đế lây phiền móng
phía trên, dùng punch 3 mm để lấy giường
mong ho tương ứng, có thể dùng 1 punch
3mm cho phiến móng gần và mô bên dưới.
Không cần khâu mầm móng giữa và xa,
nên khâu lại ở mầm móng gần để hạn chế
tối đa khả năng loạn dưỡng móng.
Sinh thiết cạo (share) cho các tổn
thương lớn hơn và tổn thương ở mầm
móng gần. Cắt mầm móng theo chiều
ngang, bóc tách mầm móng và khâu lại
với chỉ tiêu hoặc nilon. Tránh ảnh hưởng
bờ cong của liêm móng để phòng ngừa
li móng đầu xa và cong bất thường ở bờ
tự do móng. Sinh thiết ở phía gần của sọc
(Hình 1). Nếu nguồn gốc của sắc sắc tố
gần với liềm móng, mẫu sinh thiết sẽ bao
gồm nếp móng gần. Rạch 2 đường dài 5
mm ở chỗ nối nếp móng gần và bên hướng
ra ngoài ngón, kéo nếp móng gần lui sau.
Dùng punch 4 hoặc 5 mm đế lây phiền
móng phía trên, dùng punch 3 mm để lấy
giường mong ho tương ứng, có thể dùng
1 punch 3mm cho phiến móng gần và mô
bên dưới. Không cần khâu mầm móng giữa
và xa, nên khâu lại ở mầm móng gần để
hạn chế tối đa khả năng loạn dưỡng móng.
Sinh thiết cạo (share) cho các tổn
thương lớn hơn và tổn thương ở mầm
móng gần. Cắt mầm móng theo chiều
ngang, bóc tách mầm móng và khâu lại
với chỉ tiêu hoặc nilon. Tránh ảnh hưởng
bờ cong của liêm móng để phòng ngừa li
móng đầu xa và cong bất thường ở bờ tự
do móng.
472
Chương 5
Thủ thuật thẩm mỹ và phẫu thuật da
Hình 5. (A) Dải móng đen, mô học cho thấy nevus bộ nối (nevus junctional);
(B) Bộc lộ mầm móng gần thấy tổn thương sắc tố theo hướng dọc; (C) Cắt bệnh phẩm
theo chiều dọc; (D) Khâu vết thương dọc bằng chỉ tiêu 6-0; (E) Đóng các vết thương dọc;
(F) Kết quả sau mổ thấy phiến móng mỏng nhẹ theo chiều dọc.
Hình 6. Sinh thiết cạo mầm móng. Dùng lưỡi dao số 15 ấn sâu 1-2 mm vào gốc bằng
sắc tố, sau đó đi song song với biểu mô.
473
Thẩm mỹ nội khoa
Hình 7. Cắt bằng punch 3 mm. Nâng nếp móng gần lên, đặt punch vuông góc với da,
xuyên qua phiến móng gần xuống xương.
Hình 6. Sinh thiết cạo mầm móng. Dùng lưỡi dao số 15 ấn sâu 1-2 mm vào gốc bằng
sắc tố, sau đó đi song song với biểu mô.
Hình 8. Dùng kéo đầu nhọn cắt đáy của punch, không dùng forcep để tránh biến dạng
mẫu.
Hình 9. Cắt dọc bên, dùng kéo “chúc đầu xuống” để lấy mô quanh màng xương.
474
Chương 5
Thủ thuật thẩm mỹ và phẫu thuật da
3.2. Phẫu thuật móng chọc thịt
Móng chọc thịt là một bệnh lý phổ biến.
Nguyên nhân là do sự mất cân bằng giữa
chiều rộng của phiến móng - giường móng
và phì đại nếp móng. Điều trị phẫu thuật
được chỉ định khi điều trị bảo tồn thất bại
hoặc trong trường hợp vừa và nặng. Qua
hơn 100 năm, có hơn 75 phương pháp
phẫu thuật móng chọc thịt. Đối với trường
hợp do móng mọc ngược vào trong, cần
thu hẹp phiến móng. Khi do phì đại các
nếp móng, cần cắt mô mềm thừa quanh
móng.
Làm hẹp phiến móng
Thủ thuật cắt một phần móng kết hợp
với lấy một phần mầm móng tương ứng
(Hình 10).
Sau khi gây tê gốc ngón, cắt một găng
ngón tay làm thành một dải cao su để cột
gốc ngón sẽ cho một phẫu trường khô.
Nên cột chỉ trong một thời gian ngắn.
Nếu mô hạt nhiều thì lấy mô hạt bằng
một trong các phương tiện: nạo, dao điện,
laser CO2 (bóc bay tổ chức).
Xác định 1/5 - 1/4 phiến móng ở vị trí
móng chọc thịt cần cắt. Dùng một kéo nhỏ
đầu nhọn cắt từ bờ tự do của móng đến hết
đầu gần của móng ở dưới nếp gấp móng
gần, lúc này tay sẽ có cảm giác “nhẹ”. Có
thể cắt bằng laser CO2 (tác dụng bóc bay
tổ chức).
Dùng kìm Kelly thẳng (không mấu)
hoặc kìm cặp kim kẹp vào phần móng vừa
cắt càng nhiều càng tốt. Xoay nhẹ ra ngoài
về phía nếp móng bên, đồng thời kéo thẳng
về phía bờ tự do của móng. Nếu phiến
móng bị gãy thì kẹp phần phiền móng còn
lại và kéo ra.
Phá hủy phần mầm móng nằm dưới
phần phiến móng vừa lấy đi bằng một
trong các phương tiện sau: thìa nạo, dung
dịch phenol 88% hoặc NaOH 10%, dao
điện (đồng), laser CO2 (bóc bay tổ chức).
Cầm máu sàn móng bằng một trong
các phương tiện: dao điện (đông), laser
CO2 (quang đông).
Vị trí lấy mô hạt sẽ lành sau vài tuần.
Cắt mô thừa phì đại quanh móng
Khi móng chọc thịt do phì đại các nếp
móng, có hai loại phẫu thuật khác nhau.
Thủ thuật Howard - Dubois là thủ thuật tốt
nhất cho trường hợp nhẹ đến trung bình,
thủ thật “super U” là thủ thuật tốt nhất cho
những trường hợp nặng.
Thủ thuật Howard-Dubois (Hình 11)
Rạch một vết mổ miệng cá song song
và bên dưới 5 mm các nếp móng xung
quanh đầu ngón, đi từ giữa đến các mặt
bên của đất xa. Rạch một vết mổ thứ hai
để tạo ra một cái nêm có chiều rộng lớn
nhất khoảng 7 mm ở giữa đầu xa. Dùng
một kéo sắc nhọn loại bỏ hình lưỡi liềm.
Các cạnh vết thương phải được tính
toán xem có cắt bỏ đi mô chưa. Nếu
không, phải cắt một dải mới từ mép dưới
của vết thương. Cắt bỏ mô mỡ và xơ ở vết
thương để dễ đóng da. Đóng da bằng các
mũi khâu rời (nilon 4-0 hoặc 5-0) hoặc liên
tục có khóa để tránh chảy máu.
475
Thẩm mỹ nội khoa
Hình 10. Phẫu thuật móng chọc thịt.
(A) Đã gây tê. (B) Garrot gốc ngón. (C) Nạo mô hạt. (D), (E) Cắt móng chọc. (F) Cầm máu
và hủy mầm móng tương ứng bằng laser co,.
(G) Hoàn tất phẫu thuật.
476
Chương 5
Thủ thuật thẩm mỹ và phẫu thuật da
Hình 11. Kỹ thuật Howard-Dubois.
(A) Một trường hợp móng chọc thịt trung bình (bên và xa). (B) Loại bỏ da và mỡ từ bên
này sang bên kia của đầu ngón. (C) Khâu với nilon 4-0. (D). Kết quả sau 2 tháng.
Hình 12. Thủ thuật super U.
(A) Móng chọc thịt nặng (bên và xa) với mô hạt bên. (B) Rạch ngang từ nếp móng gần,
chạy song song với cạnh bên và xa của móng, từ bên này sang bên kia.
(C) Mô phì đại được lấy ra. (D) Khâu liên tục có khóa với chỉ không tiêu 4.0.
Thủ thuật “ super U ” (Hình 12)
Peres Rosa, một bác sĩ da liễu người
Brazin, đã mô tả kỹ thuật này, nó rất tốt
trong tình huống phì đại nặng các nếp
móng. Cần thông báo cho bệnh nhân biết
rằng các hoạt động hàng ngày sẽ bị ảnh
hưởng trong giai đoạn hậu phẫu vì thời
gian lành bệnh dài (lên đến 2 tháng).
Rạch một đường hình chữ U từ phần
gần của nếp móng bên, chạy qua đến nếp
móng xa và kết thúc ở nếp móng bên phía
bên kia, bao gồm toàn bộ mô phì đại. Một
vết mổ thứ hai bắt đầu vào rãnh móng bên,
trong cùng một vị trí như vết mổ đầu tiên,
kéo dài đến ngón nơi vết mổ đầu tiên đã
kết thúc. Dùng kẹp Adson kéo giữ mô phì
đại ra, dùng kéo đầu nhọn cắt mô phì đại
ra ở nơi tiếp xúc với xương. Khâu liên tục
có khóa với chỉ không tiêu 3.0 hoặc 4.0,
xung quanh chỗ rạch đầu tiên để tránh
chảy máu.
477
Thẩm mỹ nội khoa
3.3. Móng gọng kìm
Móng gọng kìm là một loại tăng cong
ngang của móng. Độ cong tăng từ gần
đến xa. Thường gặp nhiều ở ngón chân
hơn ngón tay. Móng gọng kìm có thể do
di truyền hoặc mắc phải các nguyên nhân
khác nhau, chẳng hạn như biến dạng bàn
chân, sau chấn thương hoặc phẫu thuật,
bệnh da mạn tính và viêm xương khớp
thoái hóa. Trong hầu hết các trường hợp,
gốc của xương đốt xa lớn ra làm giảm độ
cong của móng gần và do đó tăng độ cong
móng xa. X-quang cho thấy sự mở rộng
của gốc đốt xa và phát triển gai xương
bên ở đầu xa, giống như một cái móc. Vì
giường móng bám chắc vào xương, việc
nâng lên từ từ của phiến móng kéo giường
móng và một phần xa của xương tạo nên
gai xương.
Phương pháp điều trị bảo tồn trong
trường hợp nhẹ hoặc cho bệnh nhân không
thể phẫu thuật. Có nhiều phương pháp
không phẫu thuật như nẹp móng, di siêu
đàn hồi và ủi móng. Vì chúng không tác
động vào căn nguyên gây bệnh, tái phát là
không thể tránh khỏi và diễn ra trong vòng
một vài tuần thậm chí sau một tháng hoặc
điều trị kéo dài hàng năm.
Điều trị phẫu thuật rất hiệu quả. Đặc
biệt chỉ định trong trường hợp với ấn vào
đau, đau khi hoạt động thể thao và mang
giày. Có nhiều phương pháp khác nhau tùy
theo các mức độ nghiêm trọng.
Cắt bỏ sừng mầm móng chọn lọc
Phương pháp này dựa trên cơ chế bệnh
sinh của móng gọng kìm. Lấy đi áp lực bên
ngoài ở gốc rộng của đất tận dẫn đến ít
cong của móng gần và do đó ít quá cong
phần xa phiến móng. Điều này làm giảm
đau ngay sau mổ. Vì mục đích này, hủy
sừng bên của mầm móng là tốt nhất.
Cắt bỏ sừng mầm móng chọn lọc và
tạo hình giường móng
Sau khi hủy sừng bên của mầm móng,
tách hai phần ba xa của móng ra khỏi
giường móng, cắt nằm ngang với một kéo
cắt móng tay và lấy ra (Hình 13).
Từ lề gần của móng còn lại đến nếp
dưới móng, rạch một vết dọc ở giữa đến
tận xương của giường móng bị chèn ép.
Khi lưỡi dao mổ đến đầu xa, cảm nhận
gai xương như một vết sưng nhỏ. Một vết
rạch ngang trên da đầu ngón ngoài nếp
dưới móng 0,5 cm và vuông góc với đường
rạch đầu tiên, như một chữ T đảo nghịch
(phương pháp Haneke cải tiến). Điều này
cho phép tiếp cận xương tốt hơn là chỉ
rạch dọc (phương pháp Haneke).
Tách giường móng và da đầu ngón ra
khỏi xương. Dùng gouge gặm gai xương
để làm phẳng đốt xương tận.
Các vạt của giường mong được trải ra
bằng mũi khâu buộc đảo ngược với chỉ
4.0 đi từ một nếp móng bên qua đầu ngón
phía lòng bàn tay đến nếp móng bên kia và
quay ngược lại (Hình 13 A). Những sợi chỉ
này cố định mặt gấp của búp ngón. Chèn
vào các rãnh móng bên bằng các ống cao
su mỏng, phía trên có các chỉ khâu để
tránh cắt mô quanh móng. Khi những nếp
gấp móng tay được kéo ra ngoài tạo thành
một hình thoi (trong trường hợp vết rạch
dọc đơn giản) hoặc một hình tam giác
(trong trường hợp của T ngược) một chỗ
khuyết xuất hiện, dễ dàng đóng chỗ khu-
yết với một vòng quay vào phía trong bộ
trong của vật giường móng. Mức độ xoay
vòng phụ thuộc vào mức độ gọng kìm của
giường móng. Khi tăng sản xương không
quá nghiêm trọng, một đường chỉ khâu
khóa đủ để dàn trải giường móng. Tuy
nhiên, không sử dụng phương pháp khấu
buộc như Hình 13 kết quả vẫn tốt.
478
Chương 5
Thủ thuật thẩm mỹ và phẫu thuật da
Hình 13. (A) Sơ đồ cắt bỏ sừng mầm móng chọn lọc và tạo hình giường móng.
(B) Móng gọng kìm nhìn từ phía trên. (C) Móng gọng kìm nhìn từ phía trước.
(D) Rút hai dải phiền móng bên. (E) Đốt bằng hóa chất sừng mầm móng bên.
(F) Lấy 2/3 phiến móng xa. (G) Rạch hình chữ T ngược bộc lộ gai xương. (H) Sau khi cắt
gai xương. (I) Sơ đồ chỉ khâu đảo ngược buộc trên ống cao su bảo vệ rãnh bên khỏi bị
rách. (J) Ngay sau mổ trải dài giường móng bằng khâu liên tục có khóa.
479
Thẩm mỹ nội khoa
3.4. U cuộn mạch
U cuộn mạch là một khối u lành tính
ảnh hưởng hầu hết ở ngón tay, nhưng vài
trường hợp ở ngón chân. Đó là một “bệnh
phụ nữ”, có khi lên tới 90% các trường
hợp được báo cáo ở những phụ nữ quanh
tuổi bốn mươi. Trên lâm sàng, nó là một
tổn thương dưới móng ấn đau màu xanh
tím. Đau kịch phát là triệu chứng chủ đạo.
Đau có thể tối thiểu hoặc nghiêm trọng,
lan đến cánh tay, chạm nhẹ làm đau trầm
trọng hơn.
Nhạy cảm lạnh là rất gợi ý, có độ nhạy,
độ đặc hiệu 100%. Hết đau khi đặt áp lực
300 mmHg tại gốc ngón (test Hildreth).
Test Love có độ nhạy 100% và độ đặc hiệu
78%: khi nhận chính xác tại vị trí của khối
u, nó sẽ gây đau cấp tính.
Chẩn đoán hình ảnh có thể giúp chẩn
đoán: X-quang: hình ảnh tiêu xương trong
khoảng 50% trường hợp. Siêu âm phát hiện
được các khối u cuộn mạch lớn hơn 3 mm.
MRI rất đặc hiệu khi sử dụng cuộn
(coil) thích hợp, nhưng chỉ nên dành cho
trường | hợp tái phát hoặc không điển hình
(Hình 15 A).
Điều trị là phẫu thuật. Tái phát có thể
xảy ra khi cắt bỏ u còn sót hoặc có nhiều
khối u cuộn mạch ban đầu (Hình 15 C).
Đường mổ phụ thuộc vị trí u cuộn mạch,
sau đây xin giới thiệu một phương pháp
phẫu thuật rạch bờ giường móng có thể
bộc lộ đủ và lấy hoàn toàn khối u ở bất kỳ
vùng dưới móng nào do Wang và cs, giới
thiệu vào năm 2013.
Loại bỏ toàn bộ phiền móng để lộ khối
u, rạch một đường cong gần phía của khối
u dọc theo rìa móng (Hình 14). Đầu gần
của đường rạch cong gần với bờ ngoài của
mầm móng. Tiếp tục bóc tách xuống đất
xa, một vạt phía duỗi chứa giường móng
và mầm móng được nâng lên để bộc lộ
khối u đầy đủ. Bóc tách cẩn thận khối u
và cắt bỏ hoàn toàn, bao gồm cả vỏ, sử
dụng keo vi phẫu để ít tổn thương giường
móng. Sau đó, đặt vạt trở về vị trí ban đầu,
khâu liên tục vết rạch với chỉ 6-0 kim tròn.
Không đặt lại phiến móng, giường móng
được phủ bằng gạc vaseline.
Ngoài ra, có thể phẫu thuật theo đường
bên không rút móng (Hình 15 B), đường
qua giường móng có rút móng (Hình 16).
480
Chương 5
Thủ thuật thẩm mỹ và phẫu thuật da
Hình 14. (A) Trước khi phẫu thuật, đánh dấu vị trí của khối u, thiết kế đường rạch.
(B) Gỡ bỏ phiến móng để lộ khối u (mũi tên). Đường rạch bờ móng là đường nét đứt.
(C) Nâng giường móng lên bộc lộ khối u (mũi tên). Sử dụng kéo nhỏ bóc tách cẩn thận
khối u (mũi tên). (D) Cắt bỏ hoàn toàn gồm cả vỏ còn nguyên vẹn. (E) Đóng vạt giường
móng bằng chỉ 6.0. Không đặc phiến móng vào vị trí ban đầu. (F) So sánh ngón tay cái
phẫu thuật và ngón cái bình thường sau 2 năm, hoàn toàn không có biến dạng.
481
Thẩm mỹ nội khoa
Hình 16. Đường mổ u cuộn mạch qua giường móng.
Hình 15. (A) Hình MRI xác định u cuộn mạch (mũi tên). (B) Phẫu thật theo đường bên,
không rút móng ở cùng bệnh nhân hình A. (C) Phẫu thuật lần 2 theo đường mổ Wang
cho u cuộn mạch còn sót (mũi tên).
482
Chương 5
Thủ thuật thẩm mỹ và phẫu thuật da
3.5. Ung thư tế bào gai dưới móng
Ung thư biểu mô tế bào gai dưới móng
(subungual squamous cell carcinoma,
SUSCC) là ung thư phổ biến nhất của đơn
vị móng. Virus sinh ung thư HPV (human
papilloma virus), phơi nhiễm tia xạ và hóa
chất có thể đóng vai trò trong sự phát
triển của SUSCC. Một tiền sử chấn thương
móng phổ biến ở bệnh nhân SUSCC nhưng
nó không liên quan đến ung thư.
SUSCC gặp chủ yếu ở nam giới, tuổi từ
50 đến 69 và ảnh hưởng chủ yếu đến các
ngón tay cái và ngón tay trỏ. Nó có thể biểu
hiện với sự thay đổi tối thiểu của móng như
móng đỏ (erythronychia), hoặc bắt chước
bệnh móng lành tính một ngón như nấm
móng, chín mé mạn tính, mụn cóc. Chẩn
đoán SUSCC thường bị chậm. Tuy nhiên,
khi SUSCC không xâm lấn xương, sau khi
cắt bỏ khối u, bệnh nhân có tiên lượng tốt.
SUSCC không điều trị thì tăng trưởng
chậm và xâm lấn tại chỗ. Xâm lấn xương
gặp trong khoảng 20% trường hợp SUS-
CC. Di căn lan tỏa và tử vong thì rất hiếm.
Ở giai đoạn đầu, ít biết về các yếu tố tiên
lượng của SUSCC nhưng độ sâu của xâm
lấn và dấu hiệu mô bệnh học của nhiễm
HPV có thể cho tiên lượng không thuận lợi.
Khi chụp X-quang có thêm nhiễm vào
xương đòi hỏi phải cắt cụt ngón từng phần,
Khi không có thâm nhiễm vào xương, thực
hiện phương pháp phẫu thuật bảo tồn để
tối ưu hóa chất lượng cuộc sống. Phẫu
thuật vi phẫu Mohs (Mohs micrographic
surgery, MMS) là lựa chọn điều trị tốt nhất
cho SUSCC, bởi vì nó có tỉ lệ chữa bệnh
cao và tiết kiệm mộ. Tuy nhiên, thực hiện
MMS ở đơn vị móng làm tốn thời gian và
vị trí này đầy thử thách, đòi hỏi bác sĩ phải
được đào tạo phẫu thuật và mô bệnh lý
học. Hơn nữa, MMS không phải lúc nào
cũng mang lại lợi ích về chức năng và thẩm
mỹ ở đơn vị móng. Tuy nhiên, cắt rộng đơn
vị móng và ghép da là một lựa chọn tốt thế
cho MMS ở bệnh nhân SUSCC.
Các bước phẫu thuật cắt rộng đơn vị
móng và ghép da
Gây tê thần kinh gốc ngón, garrot gốc
ngón. Cắt rộng đơn vị móng thành khối
gồm hai nếp móng bên, nếp móng gần
và nếp dưới móng (Hình 17). Đường rạch
ngang ở đáy đốt xa, cách khớp liên đốt từ
3-5 mm tùy vào phẫu thuật ở ngón tay hay
chân, đủ sâu nhưng tránh tổn thương gân
duỗi xa. Đường rạch kéo dài ra hai bên và
đầu xa đến nếp dưới móng ở đỉnh, sâu đến
màng xương, cách nếp bên và dưới móng
từ 2 - 5 mm. Dùng dao điện phá hủy hoàn
toàn sừng mầm móng. Ghép da toàn phần
lấy từ tay không thuận, khâu vào vùng
khuyết với chỉ 4.0 không tiêu. Đặt lên phía
trên gạc vaseline tầm mupirocin 2%, giữ
tại chỗ với chỉ 3.0 không tiêu. Cắt gạc
vaseline sau 7 ngày, cắt chỉ sau 3 tuần.
483
Thẩm mỹ nội khoa
Hình 17. Cắt rộng đơn vị móng và ghép da. A: Cắt rộng thành khối sâu đến màng
xương. B. Ghép da vào chỗ khuyết. C.Một năm sau phẫu thuật.
4. KẾT LUẬN
Hiện nay, khi có một một kiến thức tốt
về giải phẫu học, sinh lý học, bệnh lý học,
phẫu thuật móng không còn là một nhiệm
vụ khó khăn. Tuy nhiên, nó đòi hỏi một óc
tưởng tượng vì nhiều tổn thương, đặc biệt
là khối u móng, sẽ dẫn đến khuyết tật hoặc
tạo ra bệnh cảnh mới. Ngoài ra, cần có kỹ
năng phẫu thuật tốt.
484
Chương 5
Thủ thuật thẩm mỹ và phẫu thuật da
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vidimos AT, Ammirati CT, Poblete-Lo-
pez C (2009). Nail surgery. Dermatologic
Surgery: Saunders Elsevier. p. 192-200.
2. Tosti A (2015). Nail Disorders: Prac-
tical Tips for Diagnosis and Treatment,
An Issue of Dermatologic Clinics: Elsevier
Health Sciences;.
3. Abimelec P (2009). Tips and tricks in
nail surgery. Seminars in cutaneous medi-
cine and surgery; 28(1): 55-60.
4. Vidimos AT, Ammirati CT, Poblete-Lo-
pez C(2009). Dermatologic Surgery: Saun-
ders Elsevier.
5. Jung DJ, Kim JH, Lee HY, Kim DC,
Lee SI, Kim TY (2015). Anatomical charac-
teristics and surgical treatments of pincer
nail deformity. Archives of plastic surgery.;
42(2): 207-13.
6. Jellinek N(2007). Nail matrix biopsy
of longitudinal melanonychia: diagnostic
algorithm including the matrix shave biop-
sy. Journal of the American Academy of
Dermatology.; 56(5): 803-10.
7. Scher R.K., Daniel C.R.(2005). Nails:
Diagnosis,
Therapy,
Surgery:
Elsevier
Saunders; 2005.
8. Richert B (2012). Surgical manage-
ment of ingrown toenails - an update over-
due. Dermatol Ther. ;25(6): 498-509.
9. Robinson J.K. (2010). Nail Surgery.
Surgery of the Skin: Procedural Dermatol-
ogy: Mosby Elsevier; p. 754-91.
10. Trương Lê Đạo(2006). Phẫu thuật
móng chọc thịt ngón chân cái. Chăm sóc
da.; 1(1):[tr.48-51].
11. Grover C, Khurana A, Bhattacharya
SN, Sharma A(2015). Controlled trial com-
paring the efficacy of 88% phenol versus
10% sodium hydroxide for chemical ma-
tricectomy in the management of ingrown
toenail. Indian J Dermatol Venereol Lepro.;
81(5): 472-7.
12. Richert B, Di Chiacchio N, Haneke
E(2011). Nail Surgery: Taylor & Francis;.
13. Wang PJ, Zhang Y, Zhao J.J.(2013),
Treatment of subungual glomus tumors
using the nail bed margin approach. Der-
matologic surgery: official publication for
American Society for Dermatologic Sur-
gery [et al].: 39(11): 1689-94.
14. Amici JM, Bailly JY, Beylot-Barry M,
Egasse D, Thomas L (2012). Chirurgie un-
gueale. Chirurgie dermatologique: Elsevier
Health Sciences France;. p. 255-80.
15. Topin-Ruiz S, Surinach C, Dalle S,
Duru G, Balme B, Thomas L. (2017). Sur-
gical Treatment of Sub ungual Squamous
Cell Carcinoma by Wide Excision of the
Nail Unit and Skin Graft Reconstruction:
An Evaluation of Treatment Efficiency and
Outcomes. JAMA dermatology.
485
Thẩm mỹ nội khoa
PHẪU THUẬT CẤY GHÉP TÓC
(HAIR TRANSPLANTATION)
1. ĐẠI CƯƠNG
Phẫu thuật cấy ghép tóc là phẫu thuật
được thực hiện nhằm chỉnh sửa lại tóc
vùng da đầu bị hói hay thưa tóc. Có rất
nhiều loại phẫu thuật thay thế tóc vùng da
đầu. Đại đa số là cấy ghép tóc. Tuy nhiên,
phẫu thuật ghép vạt da hay dùng phẫu
thuật túi căng dãn da để tạo hình khuyết
da đầu cũng là các phương thức sử dụng
cho thay thế tóc. Các kỹ thuật này có thể
sử dụng riêng rẽ hay kết hợp nhằm giúp
bệnh nhân có được kết quả tốt nhất về cấy
ghép tóc
Cấy tóc hiện tay được xem là một trong
những giải pháp hiệu quả nhất để phục hồi
mái tóc cho người bị rụng tóc, hói đầu, sẹo
vùng đầu. Đặc biệt, cấy tóc còn thực hiện
để cấy lông mày, lông mi, lông bụng, lông
chân, âm mao...
Cấy ghép tóc liên quan đến việc lấy đi
một mảnh nhỏ có mang sợi tóc từ vùng
cho tóc và mảnh nhỏ tóc này được ghép
vào vị trí hói đầu hay vị trí thưa tóc.
2. PHƯƠNG PHÁP
Có hai phương thức cấy ghép tóc: phẫu
thuật lấy tóc theo đơn vị nang lông (FUSS:
follicular unit strip surgery) hay lấy đơn vị
nang lông (FUE: follicular unit extraction).
2.1. FUSS
Phẫu thuật lấy tóc theo đơn vị nang
lông (FUSS): phẫu thuật viên sẽ lấy một
mảng da đầu vùng gáy dài từ 10-25 cm,
chiều rộng từ 2 cm theo chiều dài mặt sau
da đầu. Sau khi lấy da xong, may da đầu
lại. Vùng da này sẽ có sẹo dầu vào vùng
tóc sau đầu.
Tiếp theo đó, đội ngũ phẫu thuật viên
sẽ cắt nhỏ mảnh da đầu này thành từ 500 -
2000 miếng ghép nhỏ, mỗi đơn vị nang tóc
này bao gồm từ 2-4 nang tóc sẽ được cắm
vào vùng cần được cấy tóc theo phương
pháp cấy lúa, số lượng và kích thước nang
tóc ghép được cấy vào tùy thuộc vào kiểu
tóc, chất lượng, màu sắc và kích cỡ của
vùng ghép tóc.
486
Chương 5
Thủ thuật thẩm mỹ và phẫu thuật da
Hình 1. Phương thức FUSS
2.2. FUE
Phương thức lấy tóc theo đơn vị nang
tóc FUE: đội ngũ phẫu thuật viên sẽ cạo
vùng da đầu phía sau nơi lấy tóc và phẫu
thuật viên sẽ lấy từng đơn vị nang tóc bằng
một dụng cụ chuyên dùng giống như một
cây bút có môtơ xoáy vào từng nang tóc,
lấy ra được từ 1 đến 3 nang tóc. Vùng da
cho tóc có ưu điểm là lành không để lại
sẹo.
Trong các kỹ thuật cấy tóc hiện nay
thì kỹ thuật FUE hay còn gọi là kỹ thuật
cấy tóc từng sợi một được đánh giá là kỹ
thuật hoàn hảo và tốt nhất. Bởi lẽ kỹ thuật
này không cần cắt một mảng da đầu phía
sau để lấy tóc mà tóc được lấy ra từng sợi
một để cấy bằng máy khoan chân tóc có
đường kính rất nhỏ khoảng 1 mm.
Sau hai cách lấy này, thì kỹ thuật cấy
tóc là như nhau. Sau khi chuẩn bị từng
nang tóc ghép, gây tê vùng da đầu để ghép
tóc, vùng da đầu ghép tóc sẽ được tạo 1
đầu kim sau đó đưa đơn vị nang tóc cắm
vào lỗ vừa tạo ra
Ngày nay, với kỹ thuật tiến bộ người ta
sáng chế các bút có đầu kim mang nang
tóc và cắm vào vùng da đầu ngay không
cần tạo lỗ trước đó. Như vậy, cần nhiều
người tham gia tiến trình này để việc cấy
ghép tóc được nhanh chóng.
Gốc tóc được lấy ra từ máy khoan
punch vi phẫu nên giữ được nguồn dinh
dưỡng do máu nuôi sống một cách dễ
dàng. Các gốc tóc này có đầy đủ chân tóc
và thân tóc, sau khi lấy sẽ được lấy cấy
ngay vào vùng cần cấy nên tránh được các
thủ thuật chia cắt thủ công, mất thời gian
có thể làm tóc dễ bị rối loạn biến dưỡng,
487
Thẩm mỹ nội khoa
Hình 2. Phương thức FUE
Kỹ thuật FUE được thực hiện hoàn toàn
bằng robot nên không có đường sẹo rạch
sau đầu. Vùng cho tóc hoàn toàn không
sưng, không phù nề, không bị sẹo và cũng
không bị đau. Việc lấy tóc có thể thực hiện
nhiều lần để cấy mà không giới hạn số lần.
Kỹ thuật FUE cũng rất thích hợp để cấy tóc
trên vùng da đầu bị sẹo do da đầu thường
bị cứng và thiếu máu ở vùng có sẹo.
Trung bình một phiên cấy tóc, các
chuyên viên có thể thực hiện từ 3.000
- 4.000 sợi trong vòng 4-5 tiếng nên các
bệnh nhân cần cấy tóc nhiều có thể ra về
trong ngày mà không cần thực hiện nhiều
phiên.
Sau mổ, cho thuốc giảm đau, bằng gạc
quanh đầu ít nhất từ một đến hai ngày,
cũng cần dùng kháng sinh và kháng viêm
trong vài ngày, bệnh nhân ra viện sau 2-5
ngày.
Trong khoảng 2-3 tuần tóc ghép sẽ
rụng đi, nhưng ghi nhận rằng trong một vài
tháng tóc mới sẽ mọc lại. Đa số bệnh nhân
thấy tóc mới mọc 60% trong khoảng 6 đến
9 tháng. Một vài phẫu thuật viên ghi toa
Minoxidil nhằm cải thiện mọc tóc sau cấy
tóc, nhưng cơ chế chưa rõ ràng.
Như tất cả các hình thức phẫu thuật,
cấy ghép tóc cũng có nguy cơ bao gồm
chảy máu và nhiễm trùng. Cũng có nguy
cơ sẹo và nhìn không tự nhiên vùng tóc
mọc mới.
Ngày nay với sự phát triển của y học,
người ta tạo ra những sợi tóc sinh học
nhân tạo dùng để cấy ghép tóc với những
dụng cụ thích hợp để đưa từng sợi tóc vào
da đầu.
488
Chương 5
Thủ thuật thẩm mỹ và phẫu thuật da
2.3. Cấy tóc sinh học Biofibre
Đây là phương pháp cấy tóc sử dụng
sợi tóc sinh học với cấu tạo đặc biệt (ba
lớp như tóc tự thân, có các nút thắt ở gốc
tóc) để cấy vào vùng da đầu không có tóc,
tóc bị rụng, vết sẹo... nhằm phục hồi tóc
một cách tự nhiên hiệu quả đạt tới 90%
sau khi cấy.
Kỹ thuật này sử dụng bút cấy chuyên
dụng để đưa các sợi tóc sinh học vào vùng
mất tóc một cách chính xác và đảm bảo
an toàn nhất tạo sự tương thích sinh học
cao. Trong quá trình thực hiện, sợi tóc
được cấy dưới lớp biểu bì dài khoảng 5-10
(mm), góc tạo thành giữa kim cấy tóc với
da đầu ở vị trí chếch 45 độ, sau đó cấy tóc
vào lớp biểu bì theo đường zíc zắc, khoảng
200 sợi/4-5 (cm2), ngược với chiều mọc
của các sợi tóc vốn có để tạo sự kích thích
lớp chất sừng xung quanh Biofibre bảo vệ
các nang lông mới được hình thành khỏi ổ
vi khuẩn từ bên ngoài. Từ đây, các sợi tóc
sinh học Biofibre với cấu tạo đặc biệt, có
độ tương thích trên 90% so với tóc tự thân,
khi được cấy vào da đầu sẽ chắc khỏe tự
nhiên như tóc thật, khả năng chống chịu
tốt, duy trì lâu dài và an toàn tuyệt đối cho
người sử dụng.
Sau khi cấy tóc sinh học Biofibre, tóc
được phục hồi hiệu quả với mật độ tối đa,
mỗi sợi tóc cách nhau 1-2 (mm), đảm bảo
tự nhiên và không bị rụng hay khô xơ theo
thời gian.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Crisostomo M.R. (September 2014).”
FUE: What is it?”.
ticle/fue-what-it
2.
Harris
JA.
(Nov
2008).
“Fol-
licular
unit
extraction.”.
Facial
Plast
Surg. 24: 404– 13. PMID 19034817.
doi:10.1055/s-0028-1102904.
3. Onda M, Igawa HH, Inoue K, Tanino
R (Dec 2008). “Novel technique of follic-
ular unit ex traction hair transplantation
with a powered punching device.”. Derma-
tol Surg. 34: 1683– 8. PMID 19018825.
doi:10.1111/j.1524-4725.2008,34346.x.
4. Rassman WR, Bernstein RM, Mc-
Clellan R, Jones R, et al. (2002). “Follic-
ular Unit Extraction: Min imally invasive
surgery for hair transplantation”. Dermatol
Surg. 28 (8): 720–7. doi:10.1046/j.1524
4725.2002.01320.x.
489
Thẩm mỹ nội khoa
TRẺ HÓA VÙNG KÍN
(VAGINAL REJUVENATION)
Quá trình lão hóa, sinh con và sự thay
đổi nội tiết tố có thể dẫn đến giảm độ đàn
hồi và niêm mạc ở bộ phận sinh dục bị teo
đi và điều này làm ảnh hưởng rất nhiều đến
chất lượng cuộc sống của người phụ nữ.
Trong một nghiên cứu trên 421 phụ nữ
sinh con 1 lần, 48% đều cho thấy vùng âm
hộ âm đạo bị giãn nở và có khoảng 50%
các trường hợp này cảm thấy việc cải thiện
độ chặt của vùng kín sẽ gia tăng cảm giác
cho cả bản thân và người bạn tình.
Trong những năm gần đây, nhiều kỹ
thuật mới ít xâm lấn điều trị tình trạng giãn
nở và teo của vùng sinh dục thay thế cho
các phẫu thuật cổ điển và nhiều nghiên
cứu cho thấy phụ nữ rất hài lòng với các
kỹ thuật này.
1. THUỐC BÔI TẠI CHỖ
1.1. Chất làm trắng âm hộ
Mặc dù không có nghiên cứu so sánh
hiệu quả làm trắng da vùng âm hộ giữa
các loại công thức khác nhau, có nhiều
sản phẩm được quảng cáo trên thị trường
được sử dụng ở vùng sinh dục. Các sản
phẩm không có chứa hydroquinone và sử
dụng các chất như niacinamide và kojic
acid cũng cho thấy hiệu quả ở những vùng
khác.
1.2. Chất làm săn chắc vùng sinh
dục
Có rất nhiều loại sản phẩm còn đang
được bàn cãi như: kem bôi, gel, viên đặt,
dạng dầu, dạng ống, dạng thụt rửa và xà
phòng được cho là cải thiện độ đàn hồi
của âm đạo và mạch máu nuôi đến 24 giờ,
tăng sự thỏa mãn nhu cầu tình dục của cả
khách hàng lẫn bạn tình.
Các sản phẩm làm săn chắc vùng sinh
dục chủ yếu dựa trên tính chất làm se khít
để đạt hiệu quả. Rất nhiều hóa chất và thảo
dược được tìm thấy trong những sản phẩm
này, như Woodfordia, floribunda, dầu hạnh
nhân và ficus glomerata, đều có hoạt tính
làm se. Một trong những chất làm se phổ
biến nhất được sử dụng là phèn (alumi-
num potassium sulfate hydrate), một loại
muối được sử dụng từ xưa đề là săn chắc
vùng sinh dục và “tái tạo trinh nữ”.
Các chất làm se làm mất nước biểu mô
thông qua việc gây ra áp lực thẩm thấu và
kết tủa protein bề mặt tế bào. Sự kết tủa
những protein này tạo ra hàng rào làm cho
các phân tử khó thẩm qua hơn. Sự co lại
của biểu mô bề mặt có thể tạo ra cảm giác
săn chắc âm đạo, nhưng việc thoa các sản
phẩm này không ảnh hưởng đến lớp cơ
hay mạch máu bên dưới. Mặc dù các chất
này có hoạt tính kháng khuẩn nhẹ, việc sử
dụng lặp lại lâu dài có thể làm cho ngứa và
khô làm đau khi giao hợp.
Những thành phần khác cũng được tìm
thấy trong các sản phẩm thoa như: labi-
sia punila (một loại thảo mộc với hoạt tính
phytoestrogen được sử dụng ở Đông Nam
Á), dầu cây trà (kháng khuẩn), manjakani
(kháng viêm, chống oxy hóa), vitamin E, lô
hội và cả vàng.
Mặc dù không được FDA công nhận
nhưng các sản phẩm này vẫn được sử
dụng khá phổ biến ở một số bệnh nhân.
1.3. Liệu pháp không hormone
Rất nhiều triệu chứng của tình trạng
teo sinh dục có thể được cải thiện với các
thuốc bôi tại chỗ như dưỡng ẩm, chất bôi
trơn và estrogen, mặc dù không cải thiện
độ đàn hồi của cấu trúc âm hộ – âm đạo.
490
Chương 5
Thủ thuật thẩm mỹ và phẫu thuật da
Mặc dù thiếu các nghiên cứu thử
nghiệm lâm sàng để chứng minh hiệu
quả, các chất dưỡng ẩm và bôi trơn, cũng
như hoạt động tình dục một cách đều đặn
thường được khuyến cáo là lựa chọn đầu
tiên cho những phụ nữ có các triệu chứng
teo sinh học nhẹ. Hoạt động tình dục đều
đặn giúp duy trì dòng máu nuôi âm đạo và
bôi trơn, giúp cải thiện tình trạng đau khi
giao hợp cũng như giảm các triệu chứng
khác. Việc bồi dưỡng ẩm thường xuyên có
thể làm giảm pH âm đạo, giúp làm giảm
các triệu chứng của tình trạng teo sinh
dục. Mặc dù các chất dưỡng ẩm này có
thể không hiệu quả như hormone, nhưng
có thể giảm đáng kể các khó chịu cho
người bệnh và cải thiện chất lượng cuộc
sống. Trái ngược với chất dưỡng ẩm được
sử dụng thường xuyên, chất bôi trơn chỉ
nên sử dụng khi cần để giảm tình trạng
đau trong khi giao hợp.
Có rất ít nghiên cứu về độ an toàn của
các sản phẩm dưỡng ẩm và bôi trơn. Việc
sử dụng chất bôi trơn còn có thể ảnh hưởng
đến thảm vi khuẩn ở âm đạo và tăng nguy
cơ nhiễm trùng.
1.4. Liệu pháp hormone
Nếu các triệu chứng teo sinh dục không
được cải thiện với liệu pháp thoa không
hormone, estrogen thoa âm đạo có thể có
hiệu quả. Việc sử dụng estrogen thoa tại
chỗ được ưa chuộng hơn đường toàn thân
khi chỉ có các triệu chứng ở âm đạo. Es-
trogen thoa giúp làm giảm nguy cơ dùng
toàn thân và các tác dụng phụ và cải thiện
đáng kể các triệu chứng. Thuốc thoa es-
trogen hiện tại có ở Mỹ gồm: 2 loại kem, 1
loại vòng đặt âm đạo và 1 thuốc viên đặt.
Theo khảo sát Cochrane dựa trên 19 thử
nghiệm trên 4.162 phụ nữ cho thấy các
sản phẩm này có hiệu quả tương đương
trong việc giảm các triệu chứng sau mãn
kinh, tuy vậy dường như dạng vòng đặt dễ
sử dụng và tạo thuận tiện hơn.
2. LASER
2.1. Laser xâm lấn
Công nghệ laser fractional vi xâm lấn
cho thấy khi kết hợp với kỹ thuật tái tạo bề
mặt xâm lấn giúp làm giảm thời gian lành
thương và tác dụng phụ. Các nghiên cứu
cho thấy tính khả thi khi lựa chọn nhiều
độ dài xung với mức độ xâm lấn và đặc
tính làm đông khác nhau, cho kết quả lành
nhanh hơn, không sẹo và kích thích tái tạo
collagen mới.
Do hiệu quả tái tạo mô, nhiều nghiên
cứu đã được thực hiện từ năm 2008 ứng
dụng công nghệ laser CO2 điều trị trẻ hóa
âm đạo. Trẻ hóa vùng kín là một thủ thuật
nhanh, ít đau và xâm lấn tối thiểu giúp kích
thích vùng mô bên trong ống sinh dục nữ,
giúp tân tạo niêm mạc, cải thiện tình trạng
mô và phục hồi chức năng.
Thật ra, thành âm đạo ngày càng trở
nên mỏng hơn, mất dần độ đàn hồi trong
suốt giai đoạn sinh sản. Toàn bộ âm đạo
dần trở nên ngắn lại, lớp biểu mô dễ bị tổn
thương, thường chảy máu ngay cả chỉ với
chấn thương nhỏ.
Triệu chứng của việc teo vùng âm
hộ - âm đạo gồm có: khô, ngứa, cảm giác
bỏng rát, đau, đau khi đi tiểu, đau khi giao
hợp, tiểu không tự chủ, tiểu đêm và viêm
bàng quang, Tình trạng ngày càng xấu đi
theo thời gian và ảnh hưởng nghiêm trọng
đến chất lượng cuộc sống.
Cơ chế:
- Biểu mô âm đạo đặc trưng bởi sự vắng
mặt của lớp keratin và sự hiện diện
của một lượng nước lớn. Khi mô bị tổn
thương vị xâm lấn bởi laser fractional
CO2 và nhiệt độ của laser kích thích tế
bào sợi trở lại thành các nguyên bàvo
sợi sinh sản để có thể phục hồi lại cấu
trúc của bó sợi collagen với lượng nước
đầy đủ.
