291
Thẩm mỹ nội khoa
căn bản (basic fibroblast growth factor-
bFGF) và nhân tố ức chế yếu tố chuyển
tăng trưởng B1 (transforming growth
factor B1-TGF B1), từ đó giúp điều trị sẹo
lồi.
2.3. Ứng dụng lâm sàng
2.3.1. Sóng liên tục
Ở chế độ này, laser có vai trò là thiết bị
làm bốc bay.
Nước trong mô địch hấp thu năng
lượng laser, nóng lên, sôi và bốc hơi đem
theo phần mô xung quanh.
Khoảng 90% năng lượng laser CO2
được hấp thu vào 20-30 um da bề mặt.
Laser sóng liên tục để lại phía sau một
vùng dày tổn thương nhiệt rộng 0,2-1 mm.
Chế độ sóng liên tục thường được
dùng để loại bỏ các tổn thương da như bớt
thượng bì và mụn cóc.
2.3.2. Sóng xung
Năng lượng đỉnh của mỗi sung bằng
2-10 lần laser CO2 sóng liên tục nhưng
năng lượng trung bình cùng khoảng thời
gian là như nhau.
Ở chế độ này, laser hoạt động như một
thiết bị cắt. Vùng hoại tử mỏng hơn so với
chế độ sóng liên tục.
Các công ty dùng các thuật ngữ khác
nhau cho laser sóng xung.
Siêu xung (the Ultrapulse) tạo năng
lượng đến 500 mJ ở mỗi sung rộng 600
micro giây (us) đến 1 ms.
Kỹ thuật Tru-Pulse (xung phản xạ) cung
cấp 500 mJ ở mỗi độ rộng xung 60 us.
Nguyên tắc chính là độ dài xung ngắn
hơn thời gian thư giãn nhiệt của da (1
ms), nhằm hạn chế đến mức tối thiểu tổn
thương mô bao quanh. Điều này được ứng
dụng trong mục đích cắt mô da và tái tạo
bề mặt da.
Tóm lại, xung laser CO2 1 ms với mức
năng lượng khoảng 5 mJ/cm2 làm bốc
bay mô đến độ sâu 20-30 km và vùng mô
tổn thương nhiệt xung quanh khoảng 40-
120 m.
Chế độ dùng sóng xung có thể được
chọn dùng điều trị các tổn thương da nhỏ
như u tuyến mồ hôi và bớt sắc tố nhỏ. Mục
đích nhằm hạn chế tổn thương ở mức tối
thiểu mô xung quanh.
2.3.3. Chỉ định laser CO2 trong điều trị
da liễu
- Các u lành tính ở da
+ Nốt ruồi
+ U nhú
+ U tuyến mồ hôi
+ Ban vàng kích thước dưới 0,7 cm
+ Bớt sùi
+ U bạch mạch
+ Sẩn cục
+ Skin tags
+ Mũi sư tử
+ U tuyến mồ hôi (syringoma)
+ Dày sừng tiết bã
+ Dày sừng ánh sáng
+ U mềm lây
+ Mụn cóc
+ Sùi mào gà.
- Các u ác tính ở da không có chỉ định
phẫu thuật
+ Ung thư tế bào đáy thể nông
+ Bệnh Bowen (kết hợp với chuyên khoa
Ung bướu)
+ Bệnh Paget (kết hợp với chuyên khoa
Ung bướu)
+ Ngoài ra, laser CO2 còn được dùng
trong phẫu thuật.
292
Chương 4
Laser, ánh sáng và các thiết bị phát năng lượng khác
2.3.4. Chống chỉ định của laser CO2
- Chống chỉ định tuyệt đối:
+ Mới ngưng sử dụng Isotretinoin liều
cao kéo dài dưới 6 tháng
+ Vùng da điều trị đang bị nhiễm trùng
do vi khuẩn hoặc virus
- Chống chỉ định tương đối:
+ Tiền sử sẹo lồi hoặc sẹo phì đại
+ Thường xuyên tiếp xúc với tia cực tím
+ Vùng da điều trị đã bị chiếu tia xạ
hoặc mới áp dụng các thủ thuật lột
da bằng hóa chất, hoặc mới làm thủ
thuật mài da.
+ Bị các bệnh tạo keo
+ Ngoài ra, với người đang mang thai,
đang đặt máy tạo nhịp, tiểu đường
không kiểm soát được mức đường
huyết... cũng không nên tiến hành thủ
thuật laser.
2.3.5. Ưu và nhược điểm của laser CO2
- Ưu điểm
+ Các tổn thương ở thượng bì không để
lại sẹo.
+ Có mật độ năng lượng lớn hơn và tích
cực hơn so với laser Fractional (tính
phá hủy cao hơn) do đó thường chỉ
cần thực hiện trong một lượt.
+ Vô khuẩn, nhờ nhiệt độ cao nên
thường không nhiễm trùng sau mổ.
- Nhược điểm
+ Không phẫu thuật được thương tổn
có kích thước lớn.
+ Tốc độ chậm nên nếu có nhiều tổn
thương thì thời gian làm thủ thuật
phải kéo dài.
+ Phải tuân thủ tuyệt đối các biện pháp
an toàn laser.
+ Có thể gây hậu quả ngoài mong
muốn: tổn thương sâu thì có thể để
lại sẹo lồi hoặc sẹo lõm, đôi khi để
lại vết sậm màu hoặc vết trắng vĩnh
viễn, một số bệnh có thể tái phát sau
thủ thuật.
2.3.6. Các nguyên tắc an toàn laser
CO2
- Kiểm soát chặt chẽ việc tiếp cận với
phòng laser.
- Bảo vệ mắt thích đáng cho bệnh nhân,
thủ thuật viên và các phụ tá.
- Tránh sử dụng đồng thời với các vật
liệu dễ cháy, các chế phẩm bôi da có
chứa cồn.
- Sử dụng các thiết bị phẫu thuật không
gây phản xạ, ví dụ các kềm y tế, lá chắn
mắt.
- Dùng gạc tẩm dung dịch nước muối
sinh lý để bảo vệ vùng da xung quanh.
- Sử dụng máy hút khói vì DNA của HPV
(Human Papillomavirus) và DNA tiền
virus HIV đã được phân lập từ hơi khói
laser CO2
2.3.7. Chuẩn bị trước thủ thuật
Cần xác định sự đồng ý của người nhận
thủ thuật trước khi tiến hành, cùng với việc
giải thích rõ cách thức tiến hành, các mục
tiêu mong muốn của thủ thuật, cũng như
diễn biến hậu phẫu và các biến chứng có
thể xuất hiện tại vùng điều trị, sự thay đổi
sắc tố có thể có và cách thức chăm sóc
sau điều trị.
2.3.8. Tiến hành thủ thuật
- Thực hiện các biện pháp vô trùng, thủ
thuật viên và người phụ tá phải mang
găng tay, khẩu trang y tế và mũ đúng
quy định.
- Bảo vệ mắt: mặt của bệnh nhân phải
được bảo vệ với lá chắn mặt hoặc băng
gạc ướt. Thủ thuật viên và người phụ
tá nên sử dụng kính bảo vệ mắt thích
hợp. Tùy từng loại laser sẽ có các loại
kính thích hợp (được cung cấp theo máy
laser khi mua).
293
Thẩm mỹ nội khoa
- Làm sạch khu vực làm thủ thuật với
dung dịch povidone iodine 5% (không
nên sử dụng cồn bởi vì dễ gây cháy).
- Vô cảm
Trước khi làm thủ thuật laser CO2 cần
vô cảm tại chỗ bằng thuốc tê dạng bội
hoặc tiêm lidocaine 2% có hoặc không có
kèm epinephrine.
- Với các tổn thương lớn hoặc bệnh nhân
không thể hợp tác thì có thể sử dụng
phương pháp gây mê.
- Với nốt ruồi, u tuyến mồ hôi, ban vàng,
u mềm lây... dùng laser CO2 công suất
10-15w, thời gian xung 0,1-0,2s, đường
kính chùm tia 0,3-0,5 mm bốc bay từng
lớp đến hết tổn thương (smoking burn)
- Với nốt ruồi có kích thước lớn, cao hơn
bề mặt da, đặc biệt nốt ruồi bờ mi: có
thể bốc bay hoặc cắt bỏ cả khối tổ chức.
2.3.9. Chăm sóc sau thủ thuật
- Bảo vệ vết thương sau thủ thuật bằng
cách bôi lớp rất mỏng mỡ kháng sinh
hoặc dung dịch povidone iodine 5%.
- Nên đợi các mài, vảy xuất hiện trên vết
đốt Laser tự bong ra, vì việc bóc chúng
có thể gây nhiễm khuẩn và rất dễ tạo
sẹo xấu.
- Tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng
mặt trời trước và sau trị liệu 4 đến 6 tuần
và luôn sử dụng kem chống nắng SPF từ
50 trở lên) trong suốt quá trình điều trị
và sau đó 6 tháng.
- Không nên sử dụng mỹ phẩm và sữa
rửa mặt có tính tẩy rửa mạnh hoặc
những kem dưỡng da có tính bào mòn
da.
- Với vùng da tương đối sạch như ở mặt
thì thường được chỉ định bối kháng sinh
cục bộ như tetracyclin hoặc mupirocin
lên vết đốt cho đến khi tái tạo được biểu
mô.
2.3.10. Tác dụng phụ và biến chứng
có thể gặp khi sử dụng laser CO2
- Tăng sắc tố sau viêm: tăng sắc tố sau
viêm hay xảy ra với làn da sẫm màu của
người châu Á. Làm “test spot” trên một
vùng da ít phơi bày có thể giúp xác định
trước điều này. Hạn chế đến mức thấp
nhất nguy cơ này bằng các biện pháp
trước và sau điều trị với kem chống nắng
phổ rộng, hydroquinone, tretinoin và
tránh phơi nắng. Tăng sắc tố sau viêm
có xu hướng giảm dần qua 4-6 tháng.
- Giảm sắc tố sau viêm: có thể tồn tại
vĩnh viễn nhưng may mắn là điều này ít
xảy ra hơn tăng sắc tố sau viêm.
- Nhiễm khuẩn.
- Tái hoạt Herpes Simplex: nếu bệnh
nhân có tiền sử Herpse ở môi thì nên
được cho điều trị dự phòng bằng kháng
virus.
- Để sẹo: các phương pháp cắt bỏ tổn
thương thuộc vùng nổi bì và thượng bì,
như tăng sản tuyến bã, u tuyến mồ hôi...
chắc chắn sẽ tạo sẹo. Bệnh nhân nên
được tư vấn trước. Với các tổn thương ở
thượng bì, trị liệu giảm nhẹ cố ý có thể
giúp giới hạn sẹo sau thủ thuật thông
qua điều trị bằng laser ở đợt bổ sung.
Cần nhớ có vùng | hoại tử tiếp cạnh
vùng bốc bay. Việc thay đổi tổ chức mô
có thể gây sẹo phì đại và sẹo lồi.
- Thương tổn mặt: thương tổn giác mạc
là chủ yếu.
- Tạo các tổn thương hạt kê.
- Đau sau thủ thuật: hầu hết trường hợp
đau sau thủ thuật có thể được xử lý
bằng thuốc giảm đau đường uống như
paracetamol, kháng viêm NSAIDS.
Khói laser có thể gây viêm phế nang
trên súc vật và những cấu trúc nhỏ chứa
HPV tạo thành hạt khí dung trong khi đốt
bằng laser CO, có thể gây nguy hại cho
294
Chương 4
Laser, ánh sáng và các thiết bị phát năng lượng khác
phẫu thuật viên. Vì vậy, cần sử dụng máy
hút khói và mang khẩu trang bảo hộ khi sử
dụng laser CO2.
Việc phát hiện sớm các biến chứng và
nhanh chóng có những bước xử trí thích
ứng và kịp thời là rất quan trọng. Sự chậm
trễ trong việc điều trị có thể đưa đến hậu
quả nghiêm trọng, bao gồm cả việc gây
sẹo và rối loạn sắc tố vĩnh viễn.
3. TÓM LẠI
Trong ngành da liễu hiện nay, laser CO,
là kỹ thuật được ưa chuộng và đã đem lại
rất nhiều lợi ích to lớn trong việc điều trị
bệnh da cũng như trong lĩnh vực Thẩm mỹ
nhờ vào các tính chất ưu việt là: ít gây đau,
không cần phẫu thuật, không mất hoặc ít
mất thời gian nghỉ dưỡng. Tuy nhiên, để
điều trị có hiệu quả và an toàn, việc thực
hiện thủ thuật cân được chuẩn bị chu đáo,
đúng chỉ định, đúng kỹ thuật, đúng quy
trình cũng như cần phát hiện sớm và xử
lý đúng mức các biến chứng có thể xảy ra.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bệnh viện Da liễu Tp. Hồ Chí Minh
(Bệnh học Da liễu-2008): “Ứng dụng La-
ser trong điều trị bệnh dao
2. ThS. Vũ Thái Hà - TS. Nguyễn Sĩ Hóa
(2012): “Laser trong điều trị da liễu”
3. TS. Nguyễn Thị lai
4. Tay, Yong-Kwang, and Chan, Yuin-
Chew (2011). Textbook of Laser and
Light Dermatology in the Asian Skin.
River Edge, NJ, USA: WSPC.
5. Fulton JE, Rahimi AD, Helton P, Dahl-
berg K, Kelly AG (1999). Disappointing
results following re surfacing of facial
skin with CO, lasers for prophylaxis of
keratosis and cancers. Dermatol Surg ;
25: 729–32.
6. Lauchli S, Kempf W, Dragieva G, Burg
G, Hafner J (2003). CO, laser treatment
of warts in immuno suppressed pa-
tients. Dermatology.; 206: 148–52.
7. Hohenleutner U, Wlotzke U, Konz B,
Landthaler M (1995). Carbon dioxide la-
ser therapy of a wide spread epidermal
nevus. Lasers Surg Med.; 16: 288–91.
8. Khoo L (2001). Carbon dioxide laser
treatment of benign skin lesions. Na-
tional Skin Centre Experi ence.; 12:2.
9. Verma KK, Ovung EM (2002). Epider-
mal and sebaceous nevi treatment with
CO, laser. Indian J Der matol Venereol
Leprol; 68: 23–4.
10. Krupa Shankar DS, Kushalappa AA,
Suma KS, Pai SA (2007). Multiple der-
matofibromas on face treated with car-
bon dioxide laser. Indian J Dermatol Ve-
nereol Leprol; 73:194–5.
11. Simo R, Sharma VL (1998). The use
of the CO, laser in rhinophyma surgery:
Personal technique and experience,
complications and long-term results.
Fac Plast Surg. ; 14: 287–95.
12. Goon PK, Dalal M, Peart FC (2004).
The gold standard for decortication of
rhinophyma: Combined erbium-YAG/
CO2 laser. Aesthetic Plast Surg; 28:
456–60.
13. Wang J, Roenigk HH. (1999), Jr
Treatment of multiple facial syringomas
with the carbon dioxide laser. Dermatol
Surg.; 25: 136–9.
295
Thẩm mỹ nội khoa
ÁNH SÁNG VÀ LASER ĐIỀU TRỊ MỤN TRỨNG CÁ
(LASER AND LIGHT-BASED DEVICES FOR ACNE)
Mụn trứng cá là bệnh lý thường gặp, đặc
trưng bởi tình trạng viêm mạn tính, khu trú
ở đơn vị nang lông - tuyến bã. Cơ chế bệnh
sinh do sự sừng hóa bất thường gây bít
tắc phễu nang lông, sự tăng sản xuất bã
nhờn, phản ứng viêm và tăng sinh vi khuẩn
Propionibacterium acnes (P. acnes).
Điều trị tùy theo độ nặng của mụn với
kháng sinh uống, isotretinoin, kháng sinh
bôi, retinoid bôi, benzoyl peroxide, acid
azelaic.
Hiện nay, bên cạnh phác đồ thông
thường, các thiết bị ánh sáng và laser
ngày càng phát triển và đã được ứng dụng
thành công trong điều trị mụn trứng cá.
1. TỔNG QUAN CÁC THIẾT BỊ ÁNH
SÁNG VÀ LASER TRONG ĐIỀU TRỊ
MỤN TRỨNG CÁ
1.1. Các thiết bị ánh sáng
1.1.1. Ánh sáng xanh và ánh sáng đỏ
- Ánh sáng xanh
Với bước sóng 400 - 600 nm, ánh sáng
xanh tác động đến lớp thượng bì, giảm
phản ứng viêm và sự sừng hóa bất thường
của phễu nang lông. Ngoài ra, bên trong
tế bào P acnes sản xuất lượng lớn copro-
porphyrin III và protoporphyrin IX. Các loại
porphyrin này đều nhạy cảm với ánh sáng.
Sau khi hấp thụ ánh sáng xanh, phản
ứng quang hóa xảy ra, giải phóng các oxy
nguyên tử và hoạt hóa các gốc tự do. Đây
là môi trường hiếu khí, từ đó làm cản trở
sự phát triển và bất hoạt vi khuẩn kỵ khí P
acnes.
Ánh sáng xanh là thiết bị hiệu quả nhất
để kích hoạt ánh sáng trên các porphyrin
nội sinh chứa trong P. acnes. Tuy nhiên,
ánh sáng xanh xâm nhập kém, năng lượng
thấp do hiện tượng tán xạ và do sự hấp thu
melanin.
Nhiều nghiên cứu cho thấy hiệu quả
của ánh sáng xanh giúp giảm gần 80%
mụn viêm. Có thể dùng mức năng lượng
2 J/cm2 (415 nm) để duy trì hạn chế các
tổn thương mới hoặc mức năng lượng
29 J/cm2 đối với tình trạng viêm nặng.
- Ánh sáng đỏ
Khác với ánh sáng xanh, ánh sáng đỏ
với bước sóng 620 - 660 nm có khả năng
xâm nhập sâu đến tuyến bã, có tác dụng
chống viêm. Mặc dù P. acnes có thể bị bất
hoạt bởi ánh sáng xanh, nhưng ánh sáng
đỏ lại có hiệu quả hơn trong việc tiêu hủy
vi khuẩn này. Ngoài tác dụng hoạt hóa
protoporphyrin IX nội sinh của P acnes,
ánh sáng đỏ còn làm giảm sự phóng thích
các cytokine của đại thực bào, từ đó có
tác dụng giảm viêm.
- Đèn LED: ánh sáng xanh – ánh sáng
đỏ kết hợp .
Kết hợp ánh sáng xanh và ánh sáng đỏ
có hiệu quả điều trị mụn viêm cao hơn việc
dùng một loại thiết bị riêng lẻ. Một số các
nghiên cứu cho thấy đèn LED có hiệu quả
giảm 77-90% các thương tổn mụn viêm,
giảm 34-54% thương tổn mụn không viêm.
Hiện nay, có nhiều thiết bị sử dụng đèn
LED như illuMask Acne Light Therapy (La
Lumiere, LLC, Cleveland, OH (445 nm, 630
nm)), Omnilux Clear-U (Phototherapeu
ticsLtd., London, UK(415 nm, 633 nm)),
and Ocimple Light Therapy System MP200
(Ceragem Medisys, Inc., Suwon, SouthKo-
rea (420 nm, 660 nm)).
296
Chương 4
Laser, ánh sáng và các thiết bị phát năng lượng khác
1.1.2. IPL (Intense Pulsed Light)
Cơ chế tác động của IPL trong việc
điều trị mụn dựa trên tác động quang hóa
porphyrin nội sinh của P. acnes. Tác động
quang hóa này do vùng ánh sáng xanh và
ánh sáng đỏ của hệ thống IPL. Ngoài ra,
ánh sáng khi được hấp thụ, tạo ra phản
ứng quang nhiệt có tác dụng phá hủy các
tuyến bã, giúp làm giảm tiết chất nhờn.
Nhiều nghiên cứu cho thấy vai trò của
IPL trong điều trị mụn, đặc biệt là khi có
viêm nặng. Các tác giả cho rằng điều trị
IPL mỗi 3 tuần có thể làm giảm >70%
thương tổn mụn viêm, một số tác giả khác
ghi nhận việc trị liệu IPL thường xuyên hơn
có thể đạt hiệu quả giảm > 85% tổn thương
mụn viêm và không viêm.
Để tác động trực tiếp lên các phễu nang
lông, một thiết bị hút chân không áp lực
âm được gắn thêm vào thiết bị IPL, nhằm
giúp căng dãn bề mặt da, làm sạch chất
bẩn bám ở nang lông, lấy đi các cồi đen.
Thiết bị hút này làm tăng hiệu quả điều trị
của IPL, nâng các thành phần trong lớp bì
gần sát bề mặt da, giúp sự chuyển năng
lượng hiệu quả hơn, cho phép trị liệu dễ
dàng hơn ở những vùng da khó tiếp xúc
như mũi hoặc vùng trán.
1.1.3. Liệu pháp quang động học (PDT)
Cơ chế hoạt động của PDT dựa trên
việc sử dụng chất nhạy cảm ánh sáng.
Chất này được hấp thu bởi nang lông tuyến
bã, từ đó xảy ra quá trình chuyển hóa sản
xuất ra các gốc tự do và oxy nguyên tử diệt
P.acnes và giúp điều hòa hoạt động tuyến
bã.
Liệu pháp PDT dùng các chất nhạy
cảm ánh sáng như: 5-ALA (amino levulinic
acid), MAL (methyl amino levilunate), ICG
(indo-cyanin green), indole-2 acetic acid.
Trong đó,
MAL (dẫn xuất của ALA) thấm vào da
dễ dàng hơn.
Các nguồn ánh sáng được đề nghị: ánh
sáng xanh, ánh sáng đỏ, đèn LED, IPL, có
thể dùng laser màu, laser KTP.
Kỹ thuật: các chất nhạy cảm ánh sáng
được ủ trên bề mặt da trong 3 giờ cho
phép chất này thấm vào sâu đến tuyến bã
ở hạ bì. Thiết bị laser và ánh sáng được sử
dụng sau đó sẽ dễ dàng tác động đến các
tuyến bã. Sau trị liệu PDT, bệnh nhân cần
phải tránh nắng kỹ.
1.2. Các thiết bị laser
1.2.1. Laser hồng ngoại
Tia hồng ngoại có bước sóng 700 -
1000 nm, có thể xâm nhập đến hạ bì, sâu
hơn ánh sáng đỏ, với tổn thương tối thiểu
ở thượng bì. Thể màu hấp thu của tia hồng
ngoại là nước của tế bào tuyến bã, tạo nên
tổn thương nhiệt và giảm sự tiết bã nhờn.
Laser Erbium 1540 nm là loại laser có
bước sóng gần vùng hồng ngoại: đốt nóng
không chọn lọc tuyến bã.
Laser Diode 1450 nm đốt nóng lớp bì
nông, đồng nhiệt các tiểu thùy tuyến bã,
giảm hoạt động tuyến bã. Laser Diode có
thể kết hợp với laser màu để điều trị mụn.
1.2.2. Laser màu (PDL)
Thể màu hấp thu của laser PDL là oxy-
hemoglobin ở mạch máu được tạo thành
trong quá trình viên của thương tổn mụn.
Vai trò, hiệu quả điều trị mụn của laser
PDL vẫn còn nhiều tranh luận,
1.2.3. Laser potassium titanyl
phosphate (Laser KTP)
Laser KTP với bước sóng 535 nm phát
ánh sáng màu xanh lá, xâm nhập sâu hơn
ánh | sáng xanh dương. Cơ chế hoạt động
có thể do sự phá hủy các mao mạch nhỏ
297
Thẩm mỹ nội khoa
gây thiếu máu nuôi, hoặc hoạt hóa quá
trình quang hóa porphyrin, giúp loại trừ
vi khuẩn P. acnes và gây tổn thương nhiệt
trên tuyến bã.
Chưa có nhiều nghiên cứu điều trị mụn
bằng laser KTP.
2. ỨNG DỤNG CÁC THIẾT BỊ ÁNH
SÁNG VÀ LASER TRONG ĐIỀU TRỊ
MỤN TRỨNG CÁ
2.1. Chỉ định
- Bệnh nhân có chống chỉ định với các
điều trị thông thường (thuốc bôi hoặc
thuốc uống)
- Bệnh nhân không đáp ứng với các điều
trị thông thường (thuốc bôi hoặc thuốc
uống)
- Bệnh nhân có tình trạng viêm nặng,
mụn viêm nhiều
- Bệnh nhân mong muốn có kết quả điều
trị nhanh hơn.
2.2. Chống chỉ định
- Phụ nữ có thai
- Bệnh nhân đang dùng thuốc gây nhạy
cảm ánh sáng
- Bệnh nhân đang uống isotretinoin
trong vòng 6 tháng
- Bệnh nhân có nguy cơ sẹo lồi
- Bệnh nhân đang có nhiễm trùng tại
chỗ.
2.3. Thực hiện
2.3.1. Đánh giá trước điều trị
- Tốp da bệnh nhân
- Lưu ý tiền căn, bệnh kèm theo, thuốc
bôi và thuốc uống bệnh nhân đã và
đang sử dụng.
- Chọn lựa thiết bị ánh sáng và laser
phù hợp với tình trạng mụn trứng cá của
bệnh nhân.
298
Chương 4
Laser, ánh sáng và các thiết bị phát năng lượng khác
2.3.2. Kỹ thuật
- Thông số, thời gian chiếu, lượt chiếu
khác nhau tùy theo từng thiết bị.
- Cần điều trị lặp lại nhiều lần.
2.3.3. Chăm sóc sau điều trị
- Hạn chế tiếp xúc với ánh nắng
- Dùng kem chống nắng đúng cách.
- Khi cần kết hợp thuốc bôi và thuốc
uống phải trao đổi và tuân thủ sự tư vấn
của bác sĩ điều trị.
2.4. Biến chứng
- Có thể gặp: đau nhẹ đến trung bình,
hồng ban, phù nhẹ thoáng qua và tự
biến mất không cần điều trị.
- Nhìn chung, hầu hết các thiết bị ánh
sáng và laser điều trị mụn an toàn,
không có biến chứng lâu dài.
- Lưu ý, cần tránh nắng kỹ trong vòng
24 giờ sau điều trị mụn trứng cá với liệu
pháp quang động học (ALA-PDT) vì ánh
sáng có thể hoạt hóa thêm porphyrin
làm tăng độc ánh sáng.
299
Thẩm mỹ nội khoa
3. KẾT LUẬN
Như vậy, các thiết bị ánh sáng và la-
ser an toàn và hiệu quả trong điều trị mụn
trứng cá. Cơ chế tác động chủ yếu dựa
trên cơ chế quang hóa hoặc quang nhiệt
hoặc kết hợp cả hai.
Có thể ứng dụng các thiết bị ánh sáng
và laser như là một phương pháp điều trị
thay thế khi bệnh nhân không đáp ứng
hoặc có tác dụng phụ với các phương
pháp điều trị thông thường, hoặc có thể
kết hợp khi bệnh nhân mong muốn có kết
quả điều trị nhanh hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Alexiades M. (2017). Laser and light-
based treatments of acne and acne scar-
ring. Clinics in Derma tology; 35(7):183-
189.
2. Marc Z. et al (2016). Energy-Based
Devices in Treatment of Acne Vulgaris.
Dermatol Surg,; 42: 573-585.
3. Mark S. et al (2016). Physical modal-
ities (devices) in the management of acne.
Dermatol Clin,; 34: 215-223.
4. Sophie M. et al (205). Acne vulgaris
and light-based therapies. Journal of Cos-
metic and Laser Ther apy, ; 17: 122-128.
5. Uma K. et al (2016). Photodynamic
therapy for the treatment of different se-
verity of acne: A system atic review. Pho-
todiagnosis and Photodynamic therapy;
14:191-199.
300
Chương 4
Laser, ánh sáng và các thiết bị phát năng lượng khác
LASER TRONG ĐIỀU TRỊ TỔN THƯƠNG MẠCH MÁU
(LASERS FOR VASCULAR LESIONS)
1. ĐẠI CƯƠNG
Tổn thương mạch máu là các rối loạn
về sự phát triển mạch máu ở một vùng da,
thương tổn có thể do sự thay đổi mật độ
mạch máu hoặc thay đổi về kích thước
mạch máu hay cả hai, có hay không sự
tăng sinh nội mạc mạch máu.
Sang thương mạch máu ở da thì rất
đa dạng. Tổn thương có thể nằm rất nông
như những tổn thương mạch máu do lão
hóa hoặc có thể nằm rất sâu tới lớp bì sâu
hay tới mô mỡ dưới da. Đánh giá độ sâu
của sang thương để lựa chọn thiết bị laser,
bước sóng phù hợp cho những thương tổn
mạch máu khác nhau.
Mức độ xuyên sâu của laser theo từng bước sóng
Mỗi loại thương tổn mạch mạch máu
sẽ được điều trị với một bước sóng phù
hợp, ví dụ đối với những tổn thương mạch
máu sâu ở lớp bì thì những máy laser với
bước sóng 532 nm hay 595 nm hay những
thiết bị IPL thì gần như không có hiệu quả
khi điều trị cho những tổn thương này.
Ngược lại những thiết bị laser với bước
sóng 755 nm, 800 nm, 1064 nm thì lại có
hiệu quả trong điều trị những tổn thương
mạch máu này.
Ngoài sự chọn lựa bước sóng cho phù
hợp với thương tổn mạch máu thì cũng
cần phải lựa chọn kích thước đầu phát
sóng (spot size) cho phù hợp với độ nông
sâu của thương tổn mạch máu.
301
Thẩm mỹ nội khoa
302
Chương 4
Laser, ánh sáng và các thiết bị phát năng lượng khác
Mức độ xuyên sâu của tia laser theo spot size
Mức độ xuyên sâu của tia laser theo spot size
303
Thẩm mỹ nội khoa
Cơ chế của sự phá hủy mạch máu: Sự
hấp thu ánh sáng của hemoglobin (Hgb),
oxy-Hgb, met-Hgb tạo thành nhiệt năng
–> phá hủy tế bào nội mô mạch máu –>
phá hủy mạch máu.
2. NHỮNG SANG THƯƠNG MẠCH
MÁU THƯỜNG GẶP
2.1. Giãn mạch vùng mặt (Facial
telangiectases)
Đây là thương tổn mạch máu hay gặp
nhất, có thể tự xuất hiện hoặc có thể do
mụn trứng cá đỏ hay do ánh sáng.
Đây là tổn thương mạch máu nằm
nông trên mặt, nên những laser hay IPL với
những bước sóng ngắn thì được sử dụng
trong điều trị những tổn thương này.
Laser với bước sóng 532 nm với mức
năng lượng cao hay laser xung dài bước
sóng trong khoảng 532 nm - 980 nm với
mức năng lượng thấp hay pulse dye laser
(PDL) với bước sóng 585 hoặc 595 nm thì
có hiệu quả cao trong điều trị những tổn
thương này.
Ngoài ra, laser xung dài với bước sóng
1064 nm hay IPL thì cũng có hiệu quả
tương đối trong một số tổn thương mạch
máu vùng mặt.
Giãn mạch vùng mũi được điều trị một lần với laser bước sóng 532 nm
304
Chương 4
Laser, ánh sáng và các thiết bị phát năng lượng khác
Giãn mạch vùng mũi được điều trị một lần với laser bước sóng 595 nm
Giãn mạch ở chân được điều trị một lần với Alexandrite xung dài 755 nm
2.2. Dãn tĩnh mạch chân (Leg Veins)
Đây là những tổn thương nằm khá sâu.
Đối với những tĩnh mạch có kích thước
< 300 micrometer thì được điều trị với
laser có bước sóng 532 nm và PDL có
bước sóng 585 nm.
Đối với những tĩnh mạch có kích thước
> 300 micrometer thì được điều trị với la-
ser Alexandrite với bước sóng 755 năm
hoặc laser xung dài với bước sóng 1064
nm + laser với bước sóng 595 nm.
305
Thẩm mỹ nội khoa
Giãn mạch ở chân được điều trị một lần với Alexandrite xung dài 595 nm
2.3. Poikiloderma
Đây là tình trạng tổn thương da mạn
tính do ánh sáng. Tổn thương là những dát,
mảng tăng sắc tố kèm giãn mạch thường
xuất hiện ở ngực và cổ. .
Pulse dye laser với bước sóng 532 nm,
585 nm, 595 nm với mức năng lượng cao
thì có hiệu quả cao trong điều trị Poikilo-
derma.
Poikiloderma thì cũng được điều trị tốt
bằng IPL.
2.4. U mạch hình nhện Spider
Hemangiomas)
Thường xuất hiện ở trẻ em, thiếu niên
tuổi dậy thì hay phụ nữ mang thai.
Sang thương là một nốt giãn tĩnh mạch
to ở trung tâm xung quanh là những mao
mạch nhỏ. Có hình thù như một con nhện.
Được điều trị với Pulse dye laser hay
laser có bước sóng 532 nm với mức năng
lượng cao.
2.5. U mạch do lão hóa (Senile
Hemangiomas)
Điều trị với Pulse dye laser hay Laser
có bước sóng 532 nm với mức năng lượng
cao.
306
Chương 4
Laser, ánh sáng và các thiết bị phát năng lượng khác
Hồ tĩnh mạch được điều trị một lần với laser bước sóng 532 nm.
2.6. Hồ tĩnh mạch (Venous Lake)
Đây là những sang thương thường thấy
ở môi hay vùng màng nhầy. Tổn thương là
những mạch máu lớn nằm sâu.
Được điều trị với Pulse dye laser hay
Laser Alexandrite có bước sóng 755-nm,
Laser xung dài Nd:YAG có bước sóng 595
nm + 1064 nm với mức năng lượng cao.
Hồ tĩnh mạch được điều trị một lần với laser bước sóng 532 nm.
307
Thẩm mỹ nội khoa
2.7. Bớt rượu vang (PWSs)
Đây là một bớt mạch máu lành tính,
được hình thành do sự giãn mạch và sự
bất thường về hình dạng mạch máu.
Chiếm 0,3% dân số. | Sang thương
là những dát màu hồng ở trẻ em. Sang
thương sẽ trở nên sậm màu hơn, trở nên
tin hơn và một số nơi tạo thành nốt khi trẻ
lớn lên.
Pulse dye laser với bước sóng 595 nm
là laser chính yếu trong điều trị bớt rượu
vang (V beam®: Pulse dye laser xung dài,
năng lượng cao với công nghệ làm lạnh
kèm theo).
Một số laser cũng có hiệu quả nhất
định trong điều trị PWSs như: Laser
potassium titanyl phosphate (KTP) với
bước sóng 532 nm, laser Alexandrite (755
nm), Nd:YAG (1.064 nm), IPL
Bớt rượu vang được điều trị với laser bước sóng 595 mm
3. KẾT LUẬN
Tổn thương mạch máu trong da liễu
khá đa dạng, phong phú và hiện nay có
nhiều phương pháp để điều trị. Trong đó
điều trị tổn thương mạch máu trong da liễu
bằng laser được xem là một trong những
phương pháp đem lại hiệu quả cao mà lại
ít tác dụng phụ đồng thời lại đạt được khía
cạnh về thẩm mỹ sau điều trị. Để đạt được
những kết quả này chúng ta cần có những
trang thiết bị về laser với những tính năng
chuyên biệt, phù hợp để trị liệu cho sang
thương mạch máu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Goldberg D.J.(2005). “Laser Derma-
tology”.
2. Arielle N.B. Kauvar (2005). “Princi-
ple and Practices in Cutaneous Laser Sur-
gery”.
3. Raulin C (2011). “Laser and IPL
Technology in Dermatology and Aesthetic
Medicine”.
308
Chương 4
Laser, ánh sáng và các thiết bị phát năng lượng khác
LASER TRONG ĐIỀU TRỊ CÁC THƯƠNG TỔN SẮC TỐ
(LASERS FOR PIGMENTED LESIONS)
1. ĐẠI CƯƠNG
Các thương tổn sắc tố là tình trạng rất
phổ biến ở mọi chủng tộc, được chia thành
hai loại là bẩm sinh và mắc phải. Dưới tác
động của ánh nắng mặt trời, những thương
tổn này càng xuất hiện nhiều và với mức
độ trầm trọng hơn. Do vậy, làm mờ hoặc
loại bỏ chúng là nhu cầu rất thường gặp
của bệnh nhân. Trong số các phương pháp
điều trị, laser được xem là biện pháp chủ
lực và giải quyết được nhiều loại thương
tổn sắc tố.
2. LỊCH SỬ
Vào năm 1963, Leon Goldman và đồng
nghiệp phát hiện ra các xung 0,5 ms của
bức xạ laser ruby được các thương tổn sắc
tố da hấp thu một cách chọn lọc. Những
tác giả này cũng khám phá ra rằng ngưỡng
tiếp xúc bức xạ làm tổn thương thượng bì
sẽ thấp hơn 10 - 100 lần nếu sử dụng laser
ruby Q-switched (QSRL) với độ dài xung là
50 ns. Tuy nhiên, khả năng của QSRL tác
động lên sắc tố đã không được đánh giá
đúng đắn. Thay vào đó, trong nhiều năm
liền, người ta điều trị các thương tổn sắc
tố bằng laser sóng liên tục không chọn
lọc, ví dụ như laser argon và laser CO,. Cho
đến cuối những năm 1980, Anderson và
cộng sự, đã phát hiện ra laser Q-switched
Nd:YAG bước sóng 1064 nm, 532 nm và
355 nm làm giảm melanin một cách chọn
lọc. Đây chính là thuyết lý ly giải quang
nhiệt có chọn lọc (selective photother-
molysis), mô tả những tổn thương vi thể
do nhiệt khi mô đích hấp thu có chọn lọc
các xung bức xạ. Nhóm tác giả này cũng
chỉ ra những bước sóng càng dài (ít được
melanin hấp thu hơn) thì cần phải có năng
lượng càng cao để mang lại hiệu quả.
Trong vòng 20 năm gần đây, công nghệ
laser và ánh sáng không ngừng phát triển,
liên tục cho ra đời các thiết bị tác động
chọn lọc lên sắc tố để nhằm loại bỏ các
tổn thương sắc tổ cũng như xóa xăm một
cách hiệu quả và an toàn.
3. CƠ SỞ KHOA HỌC
3.1. Tương tác laser - mô trong các
thương tổn sắc tố
Việc sử dụng các nguồn laser và ánh
sáng điều trị thương tổn sắc tố dựa vào
nguyên lý ly giải quang nhiệt có chọn lọc.
Nguyên lý này cần phải có: (1) sử dụng
một bước sóng được mục tiêu hấp thu tốt,
(2) độ dài xung ngắn hơn thời gian thải
nhiệt (thời gian cần thiết để nhiệt độ mục
tiêu được giảm xuống 50%), (3) mật độ
năng lượng đủ lớn để đạt hiệu quả mong
muốn lên mục tiêu. Ban đầu, ly giải quang
nhiệt có chọn lọc được áp dụng để điều
trị các thương tổn mạch máu với thể màu
(chromophore) mục tiêu là oxyhemoglobin.
Sau đó, nguyên lý này được áp dụng trong
các thương tổn sắc tố bằng cách tác động
lên các hạt màu mục tiêu là melanin nội
sinh và hạt carbon ngoại sinh.
Melanin là thể màu mục tiêu có phổ
hấp thu rộng với tia cực tím, ánh sáng khả
kiến (visible) và cận hồng ngoại (near-in-
frared). Tuy nhiên, khả năng hấp thu ánh
sáng của melanin giảm dần khi bước sóng
tăng. Tế bào sắc tố (melanocyte) chứa
các tiểu thể nội bào tương (melanosome)
là nơi tổng hợp melanin. Sau khi hình
thành trong tế bào sắc tố, melanosome và
melanin được chuyển đến các tế bào sừng
xung quanh. Những melanosome chứa
melanin này có đường kính 0,5 - 1 nm và
309
Thẩm mỹ nội khoa
thời gian thải nhiệt khoảng 250 - 1.000 ns.
Dựa vào nguyên lý ly giải quang nhiệt có
chọn lọc, với thời gian thải nhiệt ngắn như
vậy, người ta sẽ dùng độ dài xung cực ngắn
(tính bằng nano giây hoặc pico giây) để tác
động một cách hiệu quả lên melanosome
mục tiêu. Như vậy, một xung laser với mức
năng lượng cực cao tác động trong thời
gian rất ngắn sẽ tăng nhiệt nhanh chóng
ở melanosome mục tiêu (ước tính khoảng
10 triệu độ/giây), làm nó nổ tung.
Hình ảnh kính hiển vi điện tử đã khẳng
định sự phá hủy có chọn lọc melanosome
| bên trong các tế bào sắc tố và tế bào
sừng chứa melanin, nhưng cơ chế chính
xác tại sao các tế bào này bị phá hủy
thì chưa được biết rõ. Người ta giả thiết
rằng, sự phá hủy tế bào sắc tố và tế bào
sừng chứa melanin là do tác động cơ học
của các sóng âm phát ra từ melanosome
hấp thu ánh sáng. Những tế bào này tổn
thương sẽ dẫn đến hiện tượng không bào
hóa, lắng đọng sắc tố và vật liệu nhân ở
ngoại vi tế bào. Sau tổn thương, sự tái tạo
sắc tố nhờ vào những tế bào sắc tố còn lại
từ các cấu trúc phần phụ hay từ vùng da
lân cận không bị chiếu tia.
Khi điều trị các thương tổn sắc tố,
laser Q-Switched tạo một lớp màu trắng
tại chỗ chiếu tia. Đây là đáp ứng mô do
nhiệt độ tạo ra các khoang bốc hơi bên
trong melanosome, gây tán xạ ánh sáng
nhìn thấy tạo nên hình ảnh màu trắng. Liều
tiếp xúc với laser đủ làm tổn thương mel-
anosome tương quan rõ với ngưỡng lâm
sàng gây trắng da tức thì. Nói một cách
khác, nếu chưa thấy màu trắng tại chỗ
chiếu tia, nghĩa là liều tiếp xúc laser chưa
đủ. Da càng sậm thì ngưỡng này càng
thấp vì có lượng melanin thượng bì nhiều.
Khi tăng bước sóng, sự hấp thu melanin sẽ
giảm, nên cần phải tăng liều tiếp xúc laser
để đạt ngưỡng. Ở mức năng lượng dưới
ngưỡng dường như lại kích thích tạo mela-
nin vì hoạt hóa tế bào sắc tố mà không đạt
ngưỡng phá hủy.
3.2. Laser không chọn lọc lên sắc
tố
Laser CO2 (10.600 nm), erbium-YAG
(2.940 nm), Erbium xxx (1.540 nm) và
yttrium scandium gallium garnet (YSGG)
(2.790 nm) là những laser tác động không
chọn lọc lên sắc tố. Chúng loại bỏ sắc tố
nhờ khả năng tác động lên nước và bóc
bay toàn bộ thượng bì, gồm tế bào sắc tố
và tế bào sừng melanin hóa. Những thiết
bị trước đây loại bỏ lớp tương đối đồng
nhất lớp thượng bì. Những thiết bị vi điểm
(fractional) sau này phá hủy bì và thượng bì
theo từng cột chừa lại những khoảng giữa
không bị ảnh hưởng. Theo cách này, việc
lành vết thương diễn ra nhanh chóng hơn
nhờ các mô xung quanh còn nguyên vẹn.
Laser vi điểm CO2 và erbium-YAG hoạt
động giống như dạng không phải vi điểm
của chúng nhưng tia chiếu ra thành nhiều
cột nhỏ. Vì chỉ có một tỉ lệ sắc tố thượng
bì bị tác động nên cần điều trị nhiều lần để
đạt hiệu quả mong muốn. 3.3. Laser chọn
lọc lên sắc tố
Những công nghệ laser trước đây, như
laser sóng liên tục (continuous wave -
CW) và gần liên tục (quasi-CW) gồm laser
argon (488, 514 nm), copper vapor (511
nm), krypton (521, 530 nm) có thể được
sử dụng để loại bỏ sắc tố một cách chọn
lọc nhờ bước sóng nằm trong phổ hấp thu
của melanin. Tuy nhiên, không thể hạn chế
nhiệt tỏa ra từ mục tiêu và làm cho vùng
da lân cận bị tổn thương. Tỉ lệ nguy cơ/lợi
ích cao với những thiết bị laser sóng liên
tục và gân liên tục này.
Hiện nay, có ba loại laser xung ngắn
chọn lọc lên sắc tố đã được sử dụng rộng
rãi là: (1) laser Q-switched ruby (QSRL)
(694 nm), (2) laser Q-switched alexan-
drite (755 nm) và (3) laser Q-switched
neodymium: YAG (Nd:YAG & KTP) (1.064,
532 nm). Những laser này tác động chọn
lọc lên melanin bằng bức xạ xung ngắn
cường độ cao ở nhiều bước sóng khác
310
Chương 4
Laser, ánh sáng và các thiết bị phát năng lượng khác
nhau. “Q-switched” là từ viết tắt của
“Quality-Switched” mô tả loại laser phát ra
xung có năng lượng cực cao (10° W) với
độ dài xung cực ngắn.
Laser QSRL phát ra ánh sáng đỏ ở
bước sóng 694 nm và độ dài xung 28 - 40
ns. Ánh sáng được truyền qua cánh tay
khớp nối với spot size 5 hay 6,5 mm và tần
số 2 Hz. Laser Q-switched alexandrite có
bước sóng cận hồng ngoại 755 nm, độ dài
xung 50 - 100 ns, spot size 2 - 4 mm và tần
số lên đến 10 Hz. Tùy vào thiết bị cụ thể,
ánh sáng được truyền qua một hệ thống
cánh tay khớp nối hay qua một dây cáp sợi
quang học. Laser Q-switched Nd:YAG phát
ra ánh sáng hồng ngoại bước sóng 1.064
nm. Bước sóng này có thể giảm xuống một
nửa bằng cách đưa tinh thể KTP (potas-
sium-titanyl-phosphate) vào đường dân
của tia laser. Các tay cầm nhuộm màu có
thể chuyển bước sóng 532 nm thành 585
năm (vàng) hay 650 nm (đỏ). Một cánh tay
khớp nối truyền xung với spot size 1,5 - 8
mm, độ dài xung 5 - 10 ns và tần số lên
đến 10 Hz.
Laser xung dài (tính bằng mili giây
chứ không phải nano giây) 532 nm (KTP)
Nd:YAG và xung nhuộm màu 595 nm,
ứng dụng chính là điều trị các thương tổn
mạch máu, có thể được sử dụng để loại
bỏ những thương tổn sắc tố. Tuy nhiên,
độ dài xung của những laser này gần với
thời gian thải nhiệt của toàn bộ thượng bì,
vì vậy gây tổn thương không chọn lọc lên
melanosome. Cũng do xung dài tính bằng
mili giây nên laser gây tác động nhiệt đơn
thuần lên mục tiêu, không giống như tác
động quang cơ (photomechanical) của
những loại laser Q-switched. Mục tiêu
trong trường hợp này thực ra là tế bào sắc
tố chứ không phải melanosome. Ngoài ra,
những thiết bị laser xung dài, giống như
IPL, chỉ hiệu quả cao trong loại bỏ sắc tố
không mong muốn ở lớp thượng bì, không
thích hợp điều trị thương tổn sắc tố lớp bì
vì độ xuyên sâu không đủ.
Laser Q-switched ruby, alexandrite và
Nd:YAG cũng có những thiết bị cùng bước
sóng nhưng hoạt động ở chế độ thông
thường (không Q-switched). Những laser
chế độ thông thường này thường được sử
dụng để triệt lông vì với mức năng lượng
cao và xung dài chúng tác động lên các
cấu trúc sắc tố lớn hơn như nang lông hay
mạng tế bào thay vì những melanosome
riêng lẻ hay tế bào sắc tố. Loại laser này
đã chứng tỏ hiệu quả trong loại bỏ các
thương tổn sắc tố lớp thượng bì nhưng
không phải là một lựa chọn lý tưởng vì tổn
thương có thể lan sang mô xung quanh.
Đến tháng 12/2012, FDA (Hoa Kỳ) đã
công nhận thiết bị laser có xung cực ngắn
(picosecond = 1/1.000 tỉ giây) trong điều
trị các thương tổn sắc tố và xóa xăm.
Loại laser này cho hiệu quả điều trị cũng
như tính an toàn cao hơn so với các laser
Q-switched (độ dài xung tính bằng nano
giây).
IPL cũng có thể được sử dụng để loại
bỏ sắc tố. Ánh sáng đa sắc được phát
ra trong khoảng 515 - 1.200 nm (từ ánh
sáng nhìn thấy đến hồng ngoại) và người
ta dùng những kính lọc để chặn ánh sáng
trên hay dưới bước sóng đã định trước. Bởi
vì melanin có phổ hấp thu rộng nên không
cần thiết sử dụng những thiết bị laser đơn
sắc để tác động lên melanin ở lớp nông.
Những bước sóng ngắn hơn do IPL phát ra
sẽ được melanin hấp thu nhiều. IPL phóng
ra ánh sáng dạng xung đơn, xung kép hay
xung 3. Cũng giống như những laser mili-
second khác, độ dài xung của IPL gần với
thời gian thải nhiệt của thượng bì (10 ms)
và tạo tác động quang nhiệt, chứ không
phải quang cơ, lên mục tiêu. Để tránh tổn
thương lớp thượng bì bình thường xung
quanh, hầu hết các thiết bị IPL phải có hệ
thống làm lạnh trong suốt quá trình điều
trị để bảo vệ thượng bì khỏi tổn thương
nhiệt quá mức. IPL không nên sử dụng cho
các thương tổn sắc tố lớp bì.
311
Thẩm mỹ nội khoa
4. ĐIỀU TRỊ MỘT SỐ THƯƠNG TÔN
SẮC TỐ THƯỜNG GẶP
Có nhiều loại thương tổn sắc tố, thay
đổi theo số lượng, độ sâu và mật độ của
melanin hay phân bố của mực xăm. Việc
tiếp cận điều trị tình trạng tăng sắc tố da
tùy thuộc vào vị trí của sắc tố (lớp thượng
bì, bì, hay hỗn hợp), phân bố của sắc tố
(nội bào, ngoại bào) và bản chất của sắc tố
melanin hay hạt mực xăm). Những thương
tổn sắc tố lành tính đáp ứng tốt với laser
gồm có: đốm nâu, tàn nhang, nevus of Ota,
nevus of Ito và “blue” nevus, Kết quả điều
trị không ổn định với các trường hợp: dát
café sữa, nevus spilus và nevus Becker.
Điều trị các nevus bẩm sinh và mắc phải
vẫn là vấn đề bàn cãi vì khả năng phá hủy
không hoàn toàn những tế bào nevus nằm
sâu bên dưới. Những tình trạng tăng sắc
tố như nám má (melasma) và tăng sắc tố
sau viêm chỉ đem lại kết quả vừa phải.
4.1. Thương tổn sắc tố đáp ứng tốt
với laser ánh sáng
4.1.1. Đốm nâu và tàn nhang
Đốm nâu là những dát màu nâu, giới
hạn rõ ở vùng tiếp xúc thường xuyên với
ánh nắng như mặt, cánh tay, bàn tay, tần
suất gia tăng theo tuổi.
Tàn nhang là những dát nâu ở vùng
phơi bày ánh sáng và thường sậm hơn sau
khi tiếp xúc ánh nắng. Thương tổn thường
xuất hiện ở trẻ em và gia tăng vào mùa hè,
tần suất giảm theo tuổi.
Laser Q-switched có lẽ là phương pháp
hiệu quả nhất trong điều trị đốm nâu và
tàn nhang, nhất là ở những bệnh nhân có
type da sáng. Kết quả loại bỏ hoàn toàn
hoặc gần như hoàn toàn có thể đạt được
thậm chí sau một lần điều trị. Bất lợi chính
của laser Q-switched là gây đỏ và sưng
kéo dài 1-2 ngày và có thể đóng mày kéo
dài khoảng 1 tuần. Tăng sắc tố sau viêm
xảy ra ở những người type da sậm. Những
loại laser Q-switched thích hợp trong là
Nd:YAG (532 nm), alexandrite (755 nm) và
ruby (694 nm). Laser Q-switched Nd:YAG
(532 nm) có xu hướng gây chấm xuất
huyết nhiều hơn hai loại laser kia.
Để
giảm
thời
gian
nghỉ
dưỡng
(downtime) và biến chứng liên quan với
laser Q-switched, IPL có thể được sử dụng
hiệu quả, nhất là ở những bệnh nhân muốn
cải thiện những tình trạng khác như lỗ
chân lông to, giãn mạch vùng mặt.
Ngoài laser Q-switched, những laser
xung dài (như laser Nd:YAG 532 nm,
laser pulsed-dye 595 nm, laser ruby và laser
alexandrite) cũng có thể được dùng để
điều trị đốm nâu và tàn nhang và đặc biệt
hiệu quả ở những người da màu. Những
laser này ít cần thời gian nghỉ dưỡng hơn
nhưng phải điều trị vài lần để cho kết quả
tối ưu.
4.1.2. Nevis of Ota và nevus of Ito
Nevus of Ota là một hamartoma tế bào
sắc tố lớp bì, thường gặp ở người châu Á
và chiếm khoảng 0,6% dân số. Biểu hiện là
dát tăng sắc tố xanh thường ở vùng thần
kinh sinh ba. Hình ảnh mô học cho thấy tế
bào sắc tố trải rộng ở lớp bì nông. Nevus of
Ito là thương tổn màu xanh xám có cùng
đặc điểm mô học với nevus of Ota nhưng
nằm ở vùng vai hay cánh tay, nơi chi phối
của thần kinh trên đòn sau và thần kinh
cánh tay bên.
Laser Q-switched Nd:YAG (1064 nm),
Q-switched alexandrite (755 nm) và
Q-switched ruby (694 nm) đã đem lại kết
quả tốt cho loại thương tổn này. Thường
điều | trị từ ba lần trở lên mới thấy cải
thiện lâm sàng. Điểm đáp ứng lâm sàng
là thương tổn trắng ra ngay khi điều trị với
laser Q-switched alexandrite và Q-switched
ruby và trắng ra kèm với chấm xuất huyết
khi điều trị với laser Q-switched Nd:YAG.
Lúc đầu, khoảng cách giữa hai lần điều trị
là 6-8 tuần và sau một thời gian khi thương
312
Chương 4
Laser, ánh sáng và các thiết bị phát năng lượng khác
tổn đã sáng ra nhiều cần phải có mức năng
lượng cao hơn để đạt điểm đáp ứng lâm
sàng, khoảng cách điều trị cũng nên kéo
dài ra vài tháng. Gần đây, laser fractional
cũng chứng tỏ có hiệu quả trong điều trị
nevus of Ota ở bệnh nhân điều trị thất bại
với laser Q-switched Nd:YAG 1064 nm.
4.1.3. Nevus Hori
Nevus Hori còn gọi là nevus dạng Ota
hai bên mắc phải (Acquired bilateral nevus
of Ota-like macules - ABNOM)
Đây là tình trạng thường gặp ở người
châu Á, chiếm khoảng 0,8% dân số. Biểu
hiện là những dát tăng sắc tố hơi xanh
ở hai bên gò má. Không giống với nevus
of Ota, nevus Hori là tình trạng mắc phải
thường xuất hiện sau 20 tuổi, ở cả hai bên
mặt và không ảnh hưởng niêm mạc. Mô
học cho thấy các tế bào sắc tố đang hoạt
động tổng hợp melanin ở phần nhú và
phần giữa của lớp bì.
Điều trị tương tự như với nevus of Ota.
4.1.4. Nevus xanh (Blue nevus)
Nevus xanh là thương tổn tế bào sắc
tố lành tính xuất hiện tự phát ở trẻ em và
thanh niên. Tế bào sắc tố nằm sâu trong
lớp bì và thương tổn có màu xanh đen do
hiệu ứng tán xạ ánh sáng Tyndall ở lớp mô
bên trên. Các tế bào sắc tố ở lớp bì sâu đáp
ứng tốt với laser Q-switched. 4.2. Thương
tổn sắc tố có thể đáp ứng một phần với
laser/ánh sáng
4.2.1. Nám má (melasma)
Đây là tình trạng tăng sắc tố có sinh
bệnh học phức tạp và điều trị cũng khó
khăn. Chọn lựa điều trị đầu tiên là tránh
nắng và sử dụng các thuốc bôi làm trắng.
Để cho thuốc tác động lên tế bào sắc tố ở
nang lông, cần điều trị ít nhất 6 tuần trước
khi đánh giá kết quả. Laser và ánh sáng
chỉ nên được xem xét sử dụng ở những
trường hợp không đáp ứng với thuốc điều
trị. Các loại laser/ánh sáng được sử dụng
để điều trị melasma, đó là:
- Laser vi điểm
- Laser Q-switched/Picosecond
- Laser mạch máu
- IPL
4.2.2. Nevus Becker
Nevus Becker là một hamartoma sắc
tổ ít gặp và xảy ra chủ yếu ở thanh niên.
Nevus đặc trưng bởi rậm lông và tăng
sắc tố, thường nằm một bên vai, cánh tay,
vùng xương vai, | hay thân mình. Triệt lông
bằng các laser sắc tố với độ dài xung tính
bằng ms hay ánh sáng xung, trong khi
vùng da tăng sắc tố được điều trị với laser
Q-switched. Có thể sử dụng laser erbium
để bào lớp thượng bì và bì nông để làm
sạch một phần sắc tố.
4.2.3. Dát café sữa (Café-au-lait
macules)
Dát café sữa là những thương tổn
phẳng tăng sắc tố màu nâu sậm và có
thể là dấu hiệu của một bệnh da liên quan
đến di truyền (ví dụ, u sợi thần kinh). Hình
ảnh mô học cho thấy sự tăng sản xuất
melanin trong thượng bì và hiện diện các
melanosome khổng lồ trong cả tế bào sắc
tố lẫn tế bào sừng (keratinocyte). Mặc dù
dát café sữa là các thương tồn nông nhưng
khó điều trị và cần phải điều trị nhiều lần
để cho kết quả tối ưu.
Loại laser được dùng để điều trị dát cafe
sữa là laser Q-switched với bước sóng 532
nm và laser xung 510 nm. Trong trường
hợp không đáp ứng với laser Q-switched,
có thể sử dụng laser erbium để bào nông
lớp thượng bì.
4.2.4. Nevus Spilus
Khi những dát hay sản tăng sắc tố sậm
màu nằm bên trong một dát café sữa,
người ta gọi đó là nevus spilus. Điều trị
tương tự với dát café sữa.
313
Thẩm mỹ nội khoa
4.2.5. Nevi tế bào sắc tố Melanocytic
nevi)
Việc sử dụng laser điều trị các Nevi
tế bào sắc tố vẫn còn là vấn đề bàn cãi,
mối quan tâm chính trong việc sử dụng
laser là khả năng làm chậm trễ chẩn đoán
các thương tổn tần sinh gây melanoma.
Tuy nhiên, tỉ lệ melanoma khác nhau giữa
các chủng tộc. 0 châu A, tỉ lệ melanoma
khoảng 0,2-2,2/100.000, thấp hơn nhiều
so với người da trắng. Hơn nữa, vị trí
thường gặp của melanoma ở những người
da màu là những vùng da không tiếp xúc
trực tiếp với ánh nắng như lòng bàn tay,
lòng bàn chân, dưới móng và bề mặt niêm
mạc. Chính vì vậy, việc sử dụng laser điều
trị Nevi tế bào sắc tố khá phổ biến ở các
nước châu Á. Laser Q-switched được sử
dụng cho những thương tổn này.
4.3. Xăm
Xăm là một thủ thuật đưa sắc tố vào da
nhằm tạo nên các dấu hiệu, hình ảnh trên
cơ thể con người. Có nhiều bằng chứng
cho thấy nghệ thuật xăm xuất hiện từ rất
lâu trong lịch sử nhân loại với mục đích
thể hiện phong tục, tín ngưỡng, văn hóa
hay đơn thuần chỉ để khẳng định cá tính,
cảm xúc... của người xăm. Ngày nay, việc
xăm mình ngày càng phổ biến hơn trước
đây và được chấp nhận bởi nhiều lứa tuổi,
thành phần trong xã hội. Bên cạnh đó, nhu
cầu xóa xăm cũng tăng theo.
Hiện nay, phương pháp chính và có hiệu
quả cao trong xóa xăm là laser Q-switched
ruby,
Q-switched
Nd:YAD,
Q-switched
alexandrite và laser picosecond trong đó
môi bước sóng sẽ có hiệu quả loại bỏ một
số sắc tố xăm nhất định.
5. KỸ THUẬT ĐIỀU TRỊ
- Điều quan trọng là khai thác bệnh sử
trước điều trị và tư vấn cho bệnh nhân
về những kết quả có thể xảy ra.
- Cần phải vô cảm cho những thương
tổn lớn hay sắc tố lớp bì.
- Đeo kính bảo vệ mắt thích hợp cho tất
cả mọi người trong phòng thủ thuật.
- Chọn các thông số điều trị tùy thuộc
vào loại laser, type da của bệnh nhân và
loại thương tổn.
- Mức năng lượng đủ sẽ làm trắng
thương tổn ngay sau chiếu laser.
- Chăm sóc vết thương thích hợp để đạt
kết quả tốt. Có thể bôi một số loại thuốc
mỡ và bệnh nhân cần được giải thích về
quá trình lành vết thương.
5.1. Chuẩn bị trước thủ thuật
5.1.1. Đánh giá bệnh nhân
Trước khi tiến hành điều trị, cần hỏi
bệnh sử bao gồm tiền sử sử dụng thuốc,
sự lành vết thương (nhất là khi có tiền sử
sẹo lồi), cơ địa dễ xuất huyết, tiền sử bệnh
nhiễm trùng, nhất là nhiễm viêm gan siêu
vi và HIV. Bệnh nhân có tiền sử gần đây sử
dụng isotretinoin hay tiền sử sẹo lồi hoặc
sẹo phì đại nên được điều trị một cách
thận trọng vì có nguy cơ cao sẹo xấu sau
thủ thuật.
Trước khi điều trị bất cứ thương tổn
sắc tố nào, cần có chẩn đoán đúng cho
những thương tổn nghi ngờ. Nên sinh thiết
cho những trường hợp thương tổn sắc tố
không điển hình hay nếu chẩn đoán vẫn
còn chưa rõ. Ngay khi có chẩn đoán xác
định, sẽ chọn loại laser thích hợp dựa vào
độ sâu, loại sắc tố trong da và loại da của
bệnh nhân.
Nhiều bệnh nhân không được thông tin
rõ và có mong đợi không thực tế về khả
năng của laser. Bệnh nhân cần được bảo
đầy đủ về kết quả dự kiến của mỗi điều trị
và những tác dụng phụ có thể xảy ra. Bệnh
nhân cũng phải hiểu về sự cần thiết của
314
Chương 4
Laser, ánh sáng và các thiết bị phát năng lượng khác
việc điều trị nhiều lần và thương tổn có thể
không được loại bỏ hoàn toàn. Chụp hình
trước điều trị rất cần thiết để lưu hồ sơ và
đánh giá kết quả.
5. 1.2. Vô cảng
Việc vô cảm khi điều trị tùy thuộc vào
vị trí, kích thước và độ sâu của thương
tổn cũng như ngưỡng đau của bệnh nhân.
Cảm giác tạo ra khi sử dụng một xung
laser ở mức năng lượng thấp điều trị
thương tổn sắc tố thượng bì giống như có
một sợi dây cao su bắn lên da. Mức năng
lượng cao khi điều trị thương tổn lớp bì
như nevus of Ota sẽ gây khó chịu hơn và
cần phải vô cảm. Nếu điều trị một vùng
nhỏ, như các nốt ruồi rải rác, thì thường
không cần vô cảm. Đối với thương tổn lớn
cần vô cảm bằng một trong các phương
pháp sau đây:
- Bôi tê tại chỗ (ví dụ Emla cream)
- Tiêm lidocain tại chỗ (có hay không có
epinephrine)
- Gây tê vùng
- Thuốc an thần uống hay tiêm bắp
- Gây mê tĩnh mạch hay mê toàn thân
(trong trường hợp trẻ em hoặc một số
trường hợp ít gặp ở người lớn)
5.1.3. Nguyên tắc an toàn
Nguy cơ của laser có thể chia thành hai
loại: do tia (liên quan đến tác động trực
tiếp của tia) và không do tia (ví dụ do khói).
Nguy cơ do tia gồm có cháy, bỏng nhiệt và
tổn thương mắt. Nên thiết kế phòng thủ
thuật sao cho tất cả bề mặt phản xạ và
cửa sổ phải được che phủ, khóa cửa chính
từ bên trong, treo biển hiệu cảnh báo và
không có vật liệu dễ cháy nổ hay thuốc
gây mê. Có thể xảy ra cháy nổ nếu laser
được sử dụng cùng với sự hiện diện của
khí oxy (ví dụ ống xông mũi). Màn, khăn và
gạc cũng dễ bắt lửa và để phòng ngừa nên
sử dụng vật liệu ướt hay không bắt lửa.
Nguy cơ cho mắt cũng cần phải chú ý
khi mặt tiếp xúc trực tiếp với đường truyền
tia hay gián tiếp qua một tia phản xạ. Tất
cả những người trong phòng phải đeo kính
bảo vệ với mật độ quang học phù hợp cho
bước sóng của laser đó. Khi điều trị ở vùng
mặt, bệnh nhân nên đeo kính kim loại.
Tất cả mỹ phẩm trang điểm và kem
chống nắng phải được lau sạch khỏi vùng
cần điều trị, bởi vì những sản phẩm này
sẽ cản trở việc truyền tia xuống bề mặt
da. Ngoài ra, nhiều loại mỹ phẩm có chứa
muối và oxide kim loại (ví dụ titanium
dioxide) có thể bắt lửa sau khi tiếp xúc các
xung của laser Q-switched.
5.2. Mô tả kỹ thuật
Đầu chiếu laser nên đặt vuông góc với
bề mặt da và ống nhựa hay que hướng tia
tựa lên da để đảm bảo tia laser tập trung
trên vùng cần điều trị. Các thông số chính
xác thay đổi tùy vào loại laser, type da bệnh
nhân theo Fitzpatrick và tính chất thương
tổn. Nói chung, mật độ năng lượng thấp
dùng cho da sậm chứa nhiều thể màu.
Nên bắn một đến hai xung vào thương tổn
để xác định ngưỡng đáp ứng là khi thương
tổn chuyển sang trắng. Mô đáp ứng tối
ưu khi nhanh chóng xuất hiện màu trắng
đồng nhất nhưng mờ và không gây phá vỡ
thượng bì. Nên chọn mật độ năng lượng
thấp nhất tạo nên đáp ứng này để điều trị.
Khi năng lượng quá thấp, màu trắng sẽ
không thấy rõ. Nếu dùng mức năng lượng
dưới ngưỡng, có thể dẫn đến hiện tượng
tăng sắc tố sau viêm do kích thích sản
xuất melanin. Nếu năng lượng quá cao, sẽ
tổn thương thượng bì với biểu hiện là xuất
huyết xảy ra. Điều này làm đóng vảy mô,
thương tổn lâu lành và cũng có nguy cơ tố
sau viêm, hay biến đổi kết cấu da. Sau khi
đã xác định được mật độ năng lượng tối
ưu, xung cần được phát ra nhanh chóng
(lên đến 10 Hz, tùy vào từng loại laser), với
độ trùng lấp (overlap) khoảng 10%.
315
Thẩm mỹ nội khoa
Trong hầu hết các trường hợp, những
điều trị kế tiếp nên tiến hành sau 6 tuần.
Một số thương tổn sắc tố (ví dụ nốt ruồi)
chỉ cần một đến hai lần điều trị, trong khi
những loại khác (ví dụ dát café sữa) cần
điều trị nhiều lần.
Không giống như thương tổn lớp bì,
những thương tổn thượng bì có thể được
điều trị với các loại laser ms và IPL. Điểm
đáp ứng lâm sàng (clinical endpoint) với
những thiết bị này khác hẳn với laser
Q-switched. Ngay sau chiếu thương tổn sẽ
hơi sậm và có thể xuất hiện hồng ban ở rìa.
Sau điều trị, thương tổn sắc tố đóng mày
sậm hơn, rụng ra sau vài ngày. Nên sử
dụng hệ thống làm lạnh da trong khi điều
trị với IPL để bảo vệ thượng bì khỏi tổn
thương nhiệt quá mức. Cần điều trị nhiều
lần với IPL để loại bỏ tối ưu các thương tổn
sắc tố thượng bì.
Nói chung, thương tổn lớp bì cần mức
năng lượng cao hơn thượng bì. Spot size
càng lớn thì độ xuyên càng sâu. Ở bệnh
nhân da sậm, nên sử dụng mức năng
lượng thấp cũng đã đạt ngưỡng đáp ứng.
Khi điều trị cả thương tổn thượng bì và
bì, bệnh nhân da càng sậm thì nguy cơ
tăng hay giảm sắc tố sau thủ thuật càng
cao. Thiết bị với bước sóng dài, như laser
Nd:YAG 1.064 nm, thường được chọn vì
bước sóng càng dài thì càng xuyên sâu
hơn bước sóng ngắn và ít làm tổn thương
thượng bì mà vẫn giữ tác động lên lớp bì.
Bệnh nhân với làn da rám nắng” không nên
điều trị vì họ có nguy cơ giảm sắc tố thành
đốm kéo dài hàng tuần đến hàng tháng
sau điều trị.
5.3. Chăm sóc sau thủ thuật
Phản ứng trắng mô xảy ra ngay sau điều
trị với laser Q-switched sẽ phai dần trong
vòng 20 phút. Phản ứng dụng mày đay
có thể gây hồng ban, phù, ngứa và châm
chích tại chỗ hay xung quanh vùng da điều
trị. Hiện tượng này kéo dài vài giờ và có
thể điều trị bằng kháng histamin. Thương
tổn điều trị sẽ sậm hơn trong vài ngày, sau
đó đóng mày và tróc đi trong 7-10 ngày.
Lượng mày đóng nhiều hay ít tùy thuộc
vào mức độ điều trị. Điều trị quá mức sẽ
tạo mụn nước hay bóng nước. Những
thiết bị có bước sóng ngắn (ví dụ QSRL)
điều trị cho bệnh nhân type da sậm màu
thì có nguy cơ cao tạo bóng nước. Trong
điều trị với laser Q-switched Nd:YAG 532
nm, chấm xuất huyết thường xảy ra sau
khi vùng da màu trắng đã phai. Cả melanin
và hemoglobin đều hấp thu tốt với những
bước sóng này, gây vỡ các mạch máu nhỏ.
Chấm xuất huyết kéo dài 5-10 ngày và là
một bất lợi đáng chú ý khi sử dụng những
loại laser nói trên. Có thể giảm thiểu tác
dụng phụ này bằng cách đè một phiến
kính (slide) lên da để ép mạch máu và đẩy
hemoglobin ra khỏi vùng chiếu tia.
Xử trí cảm giác khó chịu sau laser bằng
chườm lạnh với gạc ướt hoặc túi nước đá.
Nên hướng dẫn bệnh nhân rửa nhẹ vùng
điều trị với chất rửa dịu nhẹ và bôi kem giữ
ẩm 2 lần/ngày. Nếu có mày thì hãy để bong
ra tự nhiên. Để giảm thiểu nguy cơ tăng
sắc tố sau viêm và tái phát, bệnh nhân nên
tránh nắng và sử dụng kem chống nắng
phổ rộng SPF từ 30 trở lên trong vài tháng
sau điều trị.
6. TÁC DỤNG PHỤ VÀ BIẾN CHỨNG
Tăng sắc tố sau viêm không phải là
hiếm gặp khi điều trị các thương tổn sắc
tố và thường gặp nhất ở những người có
type da sậm màu. Dùng mức năng lượng
dưới ngưỡng có thể kích thích tạo mela-
nin. Mặc dù tăng sắc tố sau viêm là lành
tính nhưng có thể kéo dài vài tháng và ảnh
hưởng nhiều đến tính thẩm mỹ. Phòng
ngừa bằng năng lượng đủ cao cho thương
tổn. Khi đã xảy ra tăng sắc tố sau viêm, có
thể sử dụng thuốc bôi chứa hydroquinone
để điều trị.
316
Chương 4
Laser, ánh sáng và các thiết bị phát năng lượng khác
Dù ít gặp hơn tăng sắc tố sau viêm như
giảm sắc tố cũng có thể xảy ra, nhất là ở
những bệnh nhân có type da sậm màu.
Vì lý do đó, không nên điều trị cho những
người đang có tình trạng rám nắng.
7. KẾT LUẬN
Thương tổn sắc tố là những tình trạng
thường gặp và ảnh hưởng nhiều đến tính
thẩm mỹ. Điều trị bằng thuốc bôi tại chỗ
thường không hiệu quả cho hầu hết các
trường hợp trong khi phẫu thuật mang lại
những kết quả không mong muốn. Laser
và ánh sáng thường là phương pháp được
lựa chọn trong điều trị các tình trạng tăng
sắc tố. Để có kết quả tối ưu, bác sĩ cần sử
dụng loại thiết bị laser phù hợp, chọn lựa
bệnh nhân đúng và chăm sóc thương tổn
hợp lý. Điều trị phụ thuộc vào độ sâu của
thương tổn, type da bệnh nhân và thông số
của thiết bị laser. Trước khi điều trị, cả bác
sĩ và bệnh nhân nên hiểu rõ những hạn chế
và bất lợi của laser. Tuy nhiên, nếu thực
hiện quy trình điều trị một cách cẩn thận
và đúng đắn, tư vấn đầy đủ cho bệnh nhân,
phương pháp laser sẽ mang lại kết quả tốt
nhất trong điều trị các thương tổn sắc tố.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Raulin C, Karsai S (2011). Laser and
IPL Technology in Dermatology and Aes-
thetic Medicine. Spring er-Verlag Berlin
Heidelberg.
2. Goldberg D.J (2005). Laser Derma-
tology. Springer-Verlag Berlin Heidelberg.
3. Goldberg D.J (2008). Laser Derma-
tology - Pearls and Problems. Blackwell
Publishing.
4. Nouri K. (2011). Lasers in Dermatol-
ogy and Medicine. Springer-Verlag London
Limited.
5. Kono T et al (2016). Theoretical re-
view of the treatment of pigmented lesions
in Asia skin. Laser Ther;25(3):179-184
6. Stewart N, Lim AC, Lowe PM et al
(2013). Lasers and laser-like devices: Part
one. Australasian Jour nal of Dermatology
54, pp: 173–183.
7. Wu J, Yoo J, Goldberg DJ (2014).
Laser Therapy for Pigmented Lesions.
In Handbook of Lasers in Dermatology,
Springer-Verlag London, pp: 95-114.
317
Thẩm mỹ nội khoa
LASER TRIỆT LÔNG
(LASERS AND LIGHT FOR HAIR REMOVAL)
1. ĐẠI CƯƠNG
Việc sử dụng laser để triệt lông, hoặc
triệt bằng ánh sáng, đang trở thành một xu
hướng ngày càng phổ biến trong lĩnh vực
Da thẩm mỹ. Sự chọn lựa dùng ánh sáng
cho phép nhắm đến thể màu (chromo-
phore) cụ thể và giảm thiểu tổn thương da.
Triệt lông rất được quan tâm vì lông dư
thừa ở bệnh nhân rậm lông có thể làm cho
bệnh nhân mặc cảm... Hiện tại có nhiều
cách loại bỏ lông như: cạo lông, thuốc làm
rụng lông, điện phân và nhất là dùng tia
laser. Tất cả các phương pháp triệt lông
đều có tác dụng phụ, nhưng laser là thuận
lợi hơn bởi vì nó nhanh, an toàn và hiệu
quả khi sử dụng.
Khái niệm về triệt lông đã được xác
định trong năm 1998 của Cục Quản lý
Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA),
cho phép một số nhà sản xuất đèn flash
và tia laser triệt lông sử dụng thuật ngữ
“triệt lông vĩnh viễn.” Các tiêu chuẩn để
xác định triệt lông vĩnh viễn gồm: “Giảm
dần đều số lượng lông mọc lại sau chế độ
điều trị và hiệu quả phải được duy trì lâu
dài. Số lượng các sợi lông mọc lại phải
ổn định trong một thời gian lớn hơn thời
gian của chu kỳ tăng trưởng hoàn toàn của
nang lông, trong khoảng 4-12 tháng tùy vị
trí cơ thể. Triệt lông vĩnh viễn không có
nghĩa là cần phải loại bỏ hoàn toàn các sợi
lông trong khu vực điều trị”.
Trong triệt lông bằng laser, các mục
tiêu cụ thể là melanin nội sinh. Melanin
được tìm thấy trong các phễu và thân lông
giai đoạn phát triển (Anagen). Laser triệt
lông phải phát ra ánh sáng trong quang
phổ hấp thụ melanin, với bước sóng từ 250
- 1.200 nm mới có hiệu quả. Một trở ngại
cho việc triệt lông bằng laser là melanin
cũng nằm trong lớp thượng bì. Nó không
chỉ làm giảm hiệu quả điều trị da hấp thụ
một phần năng lượng tia laser, mà còn
có thể gây tổn thương lớp thượng bì. Làm
mát là một phương pháp hiệu quả để giảm
thiểu tình trạng này.
Hiện tại, thị trường triệt lông bằng laser
phát triển rất mạnh, có bốn loại máy laser
sử dụng thông thường: laser xung dài ruby
(694 nm), laser alexandrite xung dài (755
nm), laser diode bán dẫn xung dài (800-
810 nm) và các xung dài Nd: YAG laser
(1064 nm). Ngoài ra, hệ thống Pulsed Light
Intense (IPL) (với bước sóng 515-1.200
nm) được chấp nhận như một phương
pháp an toàn và hiệu quả cho triệt lông.
Có hai loại lông: - Lông tơ: màu sáng có
ở khắp nơi trên cơ thể - Lông trưởng thành:
có ở đầu, mu, mặt.
Cấu tạo nang lông gồm có bốn thành
phần:
- Phễu nang lông: từ bề mặt da đến phần
đổ vào của tuyến mồ hôi trong nang
lông
- Eo: từ phần đổ vào của tuyến mồ hôi
đến phần tiếp nối của tuyến bã
- Thân từ phần đổ vào của tuyến bã đến
chỗ bám của cơ dựng lông
- Thùy nang lông là mầm nang lông, vị
trí chính cho sự phát triển của lông.
318
Chương 4
Laser, ánh sáng và các thiết bị phát năng lượng khác
Các giai đoạn phát triển của lông:
- Giai đoạn phát triển (anagen): kéo dài
khoảng 6 tháng
- Giai đoạn thoái triển (catagen): 2-3
tuần
- Giai đoạn nghỉ (telogen): 3-4 tháng
319
Thẩm mỹ nội khoa
2. NỘI DUNG CHÍNH
2.1. Chỉ định
- Lông dư thừa ảnh hưởng đến cả nam
giới và phụ nữ, ở mọi lứa tuổi và có thể
có tác động về mặt xã hội và tâm lý của
bệnh nhân.
- Lông không mong muốn bao gồm
những bệnh nhân bị rậm lông và lông to.
- Biến đổi chuyển đổi giới tính từ nam
sang nữ.
- Người lý tưởng cho triệt lông bằng la-
ser là người có làn da trắng và lông màu
đen.
- Chống chỉ định
- Vùng da triệt lông đang bị viêm nhiễm
trùng, hoặc cháy nắng không nên điều
trị.
- Người bị sẹo lồi và sẹo phì đại không
phải là một chống chỉ định tuyệt đối,
nhưng những người này cần được theo
dõi tích cực hơn.
- Bệnh nhân có tiền sử nhiễm trùng tái
phát (ví dụ: herpes simplex và tụ cầu)
nên được bắt đầu vào dự phòng để ngăn
chặn.
- Bệnh nhân đang điều trị nội tiết tố cần
được tư vấn về những hạn chế của điều
trị tẩy lông. Ngoài ra, những người có
bệnh da nhất định như bệnh bạch biến
và bệnh vảy nến nên tránh tẩy lông bằng
laser ở các khu vực bị ảnh hưởng, vì nó
có thể dẫn đến hiện tượng Koebner.
- Cuối cùng, bệnh nhân dùng minoxidil
nên được cảnh báo rằng hiệu quả điều
trị có thể bị gián đoạn bởi thuốc.
2.2. Phương pháp tiếp cận
Khi một người được xác định cho triệt
lông cần phải tư vấn trước khi được thực
hiện, khai thác tiền sử của bệnh nhân là rất
quan trọng khi tư vấn. Những loại thuốc
hiện họ đang dùng, sẹo lồi hay phì đại, có
hay không có một nhiễm trùng tại chỗ ở
các khu vực điều trị.
Đã có triệt lông khác trong quá khứ,
tình trạng nội tiết của họ và thời gian tiếp
xúc với ánh nắng mặt trời gần đây.
Khám thực thể cũng rất quan trọng và
nên liên quan đến đánh giá của màu da
của bệnh nhân, tình trạng da, màu lông,
đường kính lông và mật độ.
Bệnh nhân phải được thông báo rằng
ít nhất 4 tuần trước khi điều trị bằng laser,
không nhỏ hoặc dùng các loại kem làm
rụng lông hoặc sử dụng điện phân ở các
vùng triệt lông. Ngoài ra, khu vực điều trị
không nên tiếp xúc với ánh mặt trời.
Trước khi điều trị vài ngày, bệnh nhân
cần được hướng dẫn cao hoặc sử dụng
một loại kem làm rụng lông. Ngày bệnh
nhân đến điều trị thì khu vực cần điều trị
phải sạch sẽ và không được trang điểm
lên vùng đó. Thuốc bôi tê tại chỗ có thể
tiến hành 1-2 giờ trước khi thực hiện.
Bệnh nhân cần được tư vấn đầy đủ kết
quả dự kiến của mỗi đợt điều trị và những
tác dụng phụ có thể xảy ra.
Hiệu quả điều trị còn thay đổi tùy vào
mỗi bệnh nhân.
2.3. Kỹ thuật
Laser ruby với bước sóng 694 11m
Laser ruby phát ra ánh sáng ở bước
sóng 694 nm, nó có khả năng hấp thụ tốt
nhất bởi melanin (hắc tố) nhưng độ sâu
thâm nhập ngắn nhất. Về mặt lý thuyết, la-
ser ruby có hiệu quả nhất trong triệt lông
theo các điều kiện phù hợp, nhưng nó tiềm
ẩn rất lớn về tổn thương lớp biểu bì. Vì vậy,
việc làm mát được dùng song song trong
điều trị để làm giảm nhiệt độ của da và
khu vực lân cận.
Kết quả rất khả quan khi sử dụng laser
320
Chương 4
Laser, ánh sáng và các thiết bị phát năng lượng khác
ruby 694 nm. Thời gian theo dõi trung bình
khoảng 8 tháng sau khi điều trị lần cuối.
Theo quan sát, bệnh nhân điều trị với
một mật độ năng lượng trung bình khoảng
46 J/cm2 có kết quả cao hơn (lông mọc
thưa thớt) so với mức 39 J/cm2. Trong khi
sự gia tăng mức năng lượng có thể góp
phần vào hiệu quả tổng thể, nó cũng làm
tăng tác dụng phụ, có thể nổi mẩn đỏ sau
điều trị, phồng rộp, giảm sắc tố, tăng sắc
tố và để lại sẹo. Những tác dụng phụ, đặc
biệt là sự thay đổi sắc tố da và sẹo, thường
thấy nhiều với da sậm màu, đặc biệt là da
loại IV đến VI. Điều này cho thấy là bước
sóng ngắn hơn dẫn đến độ hấp thụ laser
lớn hơn, thường thấy ở loại da sậm màu.
Do đó, với laser này chủ yếu dùng cho
bệnh nhân có da sáng
Nhìn chung, hầu hết các nghiên cứu
thực hiện với laser ruby 694 nm đã cho thấy
nó là một phương pháp an toàn và hiệu
quả cho triệt lông vĩnh viễn. Khi so sánh
ba đợt trị liệu sử dụng laser ruby với ba đợt
wax lông hay điện phân, kết quả cho thấy
laser làm giảm 38-49% lông, trong khi hai
phương pháp kia có hiệu quả không cao.
Việc gia tăng số lần điều trị làm giảm thêm
số lượng lông. Hầu hết các nghiên cứu đã
cho thấy người có màu da sáng hoặc sậm
đạt được kết quả trị liệu tốt hơn. Họ đáp
ứng tốt với điều trị laser và ít bị tác dụng
phụ hơn vì lượng melanin ở sợi lông của
họ dồi dào, trong khi ở thượng bì lại ít hơn.
Laser alexandrite với bước sóng 755 nm
Laser alexandrite (màu lục) có bước
sóng 755 nm. Bước sóng hơi dài này cho
phép một sự thâm nhập sâu hơn vào da
với ít hấp thu bởi melanin ở thượng bì.
Về mặt lý thuyết, tác dụng phụ ít hơn la-
ser ruby đối với bệnh nhân da sậm (phồng
rộp, giảm sắc tố và tăng sắc tố vẫn có xảy
ra). Giảm lông cũng rất tốt.
Một số nghiên cứu
Theo Lloyd và Mirkov: giảm 78% lông
sau 1 năm với 5 lần điều trị (spot size 10
mm, năng lượng 20 J, độ dài xung 20 ms,
khoảng nghỉ giữa các lần: 3 tuần). Tương
tự , Eremia ghi nhận trung bình 74% lông
giảm ở tất cả các bệnh nhân sau ba lần
điều trị. Người da sáng hơn cho thấy kết
quả cao hơn mức trung bình, ngược lại, da
đen cho kết quả thấp hơn mức trung bình.
Các tác giả cho rằng kết quả giảm lông
phụ thuộc vào độ lớn tia laser, với cùng
một mật độ năng lượng, họ tin rằng sẽ
cung cấp nhiều năng lượng hơn trong mỗi
xung, ít bị phân tán và thâm nhập sâu hơn.
Nghiên cứu của Nouri và cs. cũng chỉ ra
rằng spot size càng lớn thì càng hiệu quả
hơn trong việc triệt lông. Có ba nghiên cứu
cho thấy không có sự khác biệt nào đáng
kể trong triệt lông khi độ dài xung thay đổi
từ 2-20 ms.
Tương tự với laser ruby, có tỉ lệ thuận
giữa số số lần điều trị và hiệu quả tổng
thể. Một nghiên cho thấy giảm 55% lông ở
bệnh nhân với các loại da III-V. Cũng vậy,
khi so sánh ba đợt trị liệu sử dụng laser với
bốn đợt điện phân, thấy rằng laser alexan-
drite không chỉ hiệu quả hơn (giảm lông
trung bình 74% so với 35% của phương
pháp điện phân) mà còn ít đau hơn.
Theo một nghiên cứu thì hiệu quả của
từng loại laser diode, Nd: YAG, alexandrite
và ruby lần lượt là 57,5%, 42,3%, 54,7% và
52,8%. Nghiên cứu này được thực hiện tối
thiểu sau 6 tháng từ đợt trị liệu cuối cùng
(có ít nhất 3 đợt). Tác giả kết luận rằng la-
ser diode thích hợp cho type da sáng màu
trong khi laser alexandride là lựa chọn
hàng đầu cho type da sậm màu.
Laser diode với bước sóng 800 - 810
năm
Laser diode 800 nm có thể so sánh với
laser alexandrite 755 nm và trở nên phổ
biến hơn cùng với Nd: YAG laser để điều
trị bệnh nhân với các loại da sậm màu.
Cả hai Laser diode và laser alexandrite
tạo ra ánh sáng ở giữa dãy quang phổ
và được hấp thụ tốt bởi melanin ở nang
321
Thẩm mỹ nội khoa
lông. Kết quả so sánh sau 1 năm sử dụng
alexandrite và diode laser cho | thấy cả
hai đều đạt hiệu quả tốt trong triệt lông
và không có sự khác biệt đáng kể (85% và
84%).
Hơn nữa, Bouzari và cs. so sánh
alexandrite,
diode
và
Nd:
YAG
và
alexandrite và diode laser có hiệu quả
tương tự. Một nghiên cứu khác cũng cho
kết quả tương tự giữa ba lần điều trị bằng
laser alexandrite hoặc laser diode. Tuy
nhiên, trong nghiên cứu này, việc giảm
lông khoảng 37-46% cho cả hai loại laser.
So với laser alexandrite, laser diode đau
và có tác dụng phụ nhiều hơn, đặc biệt là
tăng sắc tố và phồng rộp.
Một nghiên cứu so sánh các spot size
khác nhau (8, 10 và 14 mm) chỉ ra rằng
sau 3 lần điều trị tổng cộng 3 tháng không
thấy có sự khác biệt đáng kể nào trong
hiệu quả triệt lông. Tuy nhiên, cũng như
với laser ruby và alexandrite, 2 lần điều trị
bằng laser diode làm giảm lông (35-53%)
nhiều hơn so với 1 lần điều trị (28-33%)
(sau trung bình 2 tháng). Cũng vậy, trong
nghiên cứu này, laser diode có hiệu quả
hơn nhiều so với việc cạo lông.
Một nghiên cứu gần đây đánh giá hiệu
quả của laser diode 810 lên những bệnh
nhân thuộc type da II-IV cho thấy những
bằng chứng về mặt lâm sàng và mô bệnh
học trong việc giảm lông (70%) sau 6
tháng.
Nd: YAG laser với bước sóng 1.064 nm
Các Nd: YAG 1.064 nm có bước sóng
dài nhất và thâm nhập sâu nhất trong
số các hệ thống laser nói trên, làm giảm
melanin một cách chọn lọc. Nd: YAG có
thể xâm nhập vào da 5-7 mm, độ sâu mà
ở đó hầu hết các cấu trúc lông ở đó. Hơn
nữa, sự kết hợp của việc hấp thụ melanin
ít và thâm nhập sâu dẫn đến giảm tổn
thương lớp thượng bì, nơi có nhiều melanin.
Những đặc điểm này giúp laser Nd: YAG là
sự lựa chọn an toàn nhất cho da rám nắng
hay bệnh nhân có da sậm màu. Đây có lẽ
là phương pháp an toàn nhất để điều trị
tất cả các loại da, nó không nhất thiết phải
hiệu quả nhất.
(a) Vùng nách phải với những sợi lông thô cứng: trước điều trị
322
Chương 4
Laser, ánh sáng và các thiết bị phát năng lượng khác
(b) Các sợi lông mịn sau 3 tháng và 5 lần bắn laser Nd: YAG 1064
Bouzari và cộng sự, so sánh triệt lông
bằng Nd: YAG xung dài, alexandrite và la-
ser diode và thấy rằng sau 3 tháng, điều trị
bằng laser Nd: YAG là kém hiệu quả nhất.
Điều thú vị trong nghiên cứu này là 5 bệnh
nhân với sự kết hợp điều trị với cả 3 loại la-
ser mang lại hiệu quả cao nhất. Giả thuyết
là khi dùng nhiều bước sóng, sợi lông sẽ bị
phá hủy ở nhiều điểm khác nhau trong da,
bước sóng càng cao thì vị trí phá hủy càng
ở sâu, ngược lại bước sóng ngắn hơn thì
phá hủy nông hơn.
Nghiên cứu xác định tính hiệu quả và an
toàn của laser Nd:YAG xung dài cho thấy
rằng điều trị sẽ hiệu quả hơn (45-53% tùy
vào vị trí) ở type da sậm màu (V-VI). Sau
6 tháng, bệnh nhân với type da I-II giảm
41-43%, trong khi ở những bệnh nhân type
da III IV là 44-48%. Một nghiên cứu khác
cho thấy hiệu quả là tương đương ở những
bệnh nhân type da II-IV khi sử dụng mật độ
năng lượng khác nhau (50, 80, 100 J/cm2)
Hiệu quả lần lượt là 29%, 29% và 27%.
Hệ thống ánh sáng xang cường độ cao
(Intense Pulsed Light - IPL)
Hệ thống Intense Pulsed Light (IPL)
không phải là một kỹ thuật laser, nhưng
gần đây đã được ứng dụng để triệt lông.
IPL sử dụng nguyên lý ly giải quang
nhiệt có chọn lọc, phá hủy nang lông thông
qua sự hấp thu năng lượng của melanin ở
lông
Hệ thống IPL có đèn flash tạo ra ánh
sáng có bước sóng từ 515- 1.200 nm trong
dãy quang phổ. Quang phổ rộng là một lợi
thế của IPL khi có sự chọn lựa thích hợp về
các thông số năng lượng, thời gian xung
và phổ phát xạ...
Melanin hấp thu ánh sáng từ 400 - 750
nm dưới dạng nhiệt từ xung IPL, trong
khoảng thời gian cực ngắn sẽ nâng nhiệt
độ ở thân và nang lông lên cao đủ để phá
hủy tế mầm của nang lông bên dưới. Sau
đó, các mảnh vỡ của các tế bào này được
loại bỏ khỏi các mô bằng hiện tượng thực
323
Thẩm mỹ nội khoa
bào. Nang lông nhiều tế bào melanin sẽ bị
thương tổn nhiều hơn.
Chỉ có lông trong thời kỳ tăng trưởng
mới có thể truyền nhiệt, do đó cần chiếu
IPL nhiều đợt mới triệt hết lông. Nếu lông
đen trên nền da trắng thì kết quả sẽ tốt.
Lông màu bạch kim, hung đỏ, bạc kết quả
kém vì lượng melanin thấp. Ngoài việc
hủy nang lông, tia IPL còn làm tổn thương
mạch máu nuôi nang lông nên sẽ ngăn
chặn quá trình phát triển lông trong nhiều
tháng liền.
Hiệu quả tùy thuộc vào loại da, lông,
các thông số và số lần điều trị. Spot size
lớn sẽ làm cho việc điều trị được nhanh
hơn và sự phân bổ tia tốt hơn. Lông màu
đen cho hiệu quả tốt nhất
Gel cơ bản
- Giảm chỉ số phản xạ của ánh sáng
quang học truyền đến da
- Tạo ra tác dụng thải nhiệt
Sinh lý tương tác
Nguyên lý hoạt động của IPL là ly giải
quang nhiệt có chọn lọc với bước sóng
chuyên biệt. Nguyên lý này cần phải có:
- Sử dụng một bước sóng được mục tiêu
(melanin, hemoglobin) hấp thu tốt.
- Độ dài xung ngắn hơn thời gian thải
nhiệt (thời gian cần thiết để nhiệt độ
mục tiêu được giảm xuống 50%)
- Mật độ năng lượng đủ lớn để đạt hiệu
quả mong muốn lên mục tiêu
- Kích thước điểm (spot size) cùng độ
dài sóng (wavelength) ảnh hưởng đến
độ sâu xâm nhập.
- Kích thước điểm nhỏ hơn, sự tán xạ
nhanh hơn tạo độ sâu nhanh hơn.
- Kích thước điểm lớn hơn –> sự tán xạ
ít hơn –> tia xạ đến mục tiêu tốt hơn
nhưng cần năng lượng nhiệt lớn hơn.
Độ dài sóng (wavelength):
Hemoglobin: hấp thu bước sóng từ
500-600 nm (max: 580 nm)
Melanin: hấp thu bước sóng: 400-750
nm, độ dài sóng dài hơn – melanin hấp thu
ít | hơn. Bước sóng phát ra được kiểm soát
bởi:
- Bộ lọc bên trong, ngăn bước sóng
không mong muốn.
- Tác dụng thải nhiệt: cho phép sự
chuyển giao có kiểm soát năng lượng
nhiệt từ nơi có nhiệt độ cao đến nơi có
nhiệt độ thấp hơn 4 bước sóng dài hơn
– xâm nhập sâu hơn vào da nhưng tạo
ra lượng nhiệt ít hơn bước sóng ngắn.
- Thời gian xung (pulse duration): thay
đổi từ 1-50 ms. Lý tưởng nhất là:
+ Ngắn hơn thời gian làm lạnh của mô
đích
+ Dài hơn thời gian làm lạnh của thượng
bì
- Thời gian thải nhiệt (Thermal Relax-
ation Time-TRT):
+ Thời gian giữa hai xung: nhiệt độ của
thượng bì hạ xuống
+ Đảm bảo nhiệt độ mô<70°C
+ Tính bằng độ dẫn nhiệt ε= 2,72
- Bước sóng và thời gian phát xung
+ Bước sóng dài hơn, melanin hấp thu
kém hơn.
+Type da sáng lông màu sáng -> bước
sóng ngắn, năng lượng cao
+ Type da tối: lông cứng, dày 4 bước
sóng dài hơn, năng lượng thấp hơn
+ Tăng số lượng xung, thời gian xung,
thời gian thải nhiệt
- Thời gian lý tưởng giữa các đợt điều trị
+ Vẫn còn bàn cãi
324
Chương 4
Laser, ánh sáng và các thiết bị phát năng lượng khác
+ Chỉ có sợi lông đang ở giai đoạn
anagen mới đáp ứng tốt với năng
lượng ánh sáng IPL... Do đó, thời gian
lý tưởng giữa các đợt điều trị thay đổi
theo:
+ Tỉ lệ sợi lông anagen
+ Đáp ứng của cơ thể với các thông số
+ Số lần trung bình: 7-8 lần
+ Loại ánh sáng: IPL, laser...
+Nghiên cứu của Chana và Grobbelaar
trên 364 bệnh nhân, thời gian nghỉ
trung | bình là 8 tuần, có thể thay đổi
tùy vùng lông.
+ Hiệp hội Laser da Châu u: cần 3-8
đợt điều trị
+ Gold và cộng sự, nhận thấy có sự khác
biệt đáng kể của điều trị nhiều lần so
với một lần -> hiệu quả liên quan đến
số lần điều trị.
+ Nghiên cứu của Gold và cs. trên 31
bệnh nhân cho thấy sau 3 tháng của
1 đợt | trị liệu đạt hiệu quả trung bình
60%. Tương tự, Sadick và cs. nghiên
cứu trên 34 bệnh nhân đạt hiệu quả
khoảng 76% sau 3,7 đợt điều trị.
Trong một nhóm 14 bệnh nhân sau
hơn 1 năm trị liệu (trung bình 21
tháng), hiệu quả đạt được là 83% sau
khoảng 3,9 lần điều trị.
Kỹ thuật chiếu IPL
Ấn đầu chiếu thẳng góc vào mặt da
sát nhau, theo thứ tự, hướng đi đã định
sẵn. Điều này làm tăng hiệu quả do giảm
khoảng cách từ mặt đầu chiếu đến lông,
đẩy máu ra khỏi các mạch nông làm giảm
sự hấp thu bức xạ của hemoglobin.
Nên bắt đầu với mức năng lượng thấp
và kiểm tra lại sau 1-2 phát chiếu đầu, nếu
chưa đủ thì tăng năng lượng lên từ từ từng
0,5-1 J/cm2 đến khi có cảm giác hơi châm
chích
Hiệu quả mong muốn là hồng ban, phù
nề quanh mầm lông (không phải luôn luôn
có). Tuy nhiên, người có da type IV - V: hiện
tượng đỏ da có thể chỉ bắt đầu xuất hiện
từ vài phút đến vài giờ sau chiếu IPL, do đó
nên thực hiện chiếu thử trước khi điều trị.
Hiện tượng đồng bộ quá trình phát triển
lông
Mức năng lượng thấp có thể đồng bộ
hóa sự phát triển của các lông đang nghỉ,
dẫn đến lông sẽ mọc ra nhiều hơn, có thể
gây hoang mang lo lắng cho bệnh nhân
nếu không được tư vấn trước. Tuy nhiên,
đợt chiếu IPL tiếp theo sẽ hiệu quả hơn vì
lúc đó có nhiều lông đang ở giai đoạn phát
triển (có nhiều melanin).
Ngoài triệt lông vĩnh viễn, IPL còn giúp
da vùng đó trẻ hóa do kích thích tăng sinh
collagen dưới da, do đó sau triệt lông, da
sẽ mịn, các lỗ chân lông trông khít hơn, vì
vậy sẽ trông đẹp và trẻ trung hơn.
Chống chỉ định dùng IPL
- Hiện có hay tiền căn bị ung thư da, có
sang thương tiền ung thư như nhiều nevi
loạn sản...
- Da đang bị nhiễm trùng, nhiễm Herpes
simplex.
+ Nhạy cảm với ánh sáng do bệnh lý (Lu-
pus đỏ hệ thống...) hay do di truyền
do thuốc gây nhạy cảm với ánh sáng:
isotretinoin, tetracyclin, doxycyclin...
- Đang điều trị bằng thuốc chống đông
máu hay bệnh ưa chảy máu mạn tính.
- Tiểu đường mạn tính.
- Đang có tình trạng suy giảm miễn dịch:
nhiễm HIV, AIDS, đang uống thuốc ức
chế miễn dịch.
- Rối loạn hormone nội tiết: buồng trứng
đa nang...
- Bệnh nhân dễ có sẹo lồi (kaloid) hay
sẹo phì đại
- Da đang rám nắng hay mới đi biển về
- Đang sử dụng steroid khu trú hay toàn
thân, thuốc kháng viêm non-steroid
325
Thẩm mỹ nội khoa
- Bệnh nhân đang có da rất khô
- Bệnh nhân da type VI
- Bệnh nhân đang đặt máy tạo nhịp
- Phụ nữ đang mang thai và cho con bú
Tác dụng phụ khi chiếu IPL
IPL có hiệu quả trên hầu hết các bệnh
nhân mặc dù có thể gây một vài tác dụng
phụ. Theo Raulin và cs., so với việc dùng
IPL cho các mục đích khác, IPL trong triệt
lông gây nhiều biến chứng hơn. Type da
càng cao (theo phân loại của Fitzpatrick)
thì càng xuất hiện nhiều biến chứng. Đỏ
da, đóng mày, tăng sắc tố là các tác dụng
phụ hay gặp nhất. Chúng cho thấy sự phản
ứng hồng ban phù nề xung quanh nang
lông.
Sự biến đổi thành màu vàng ở phần
cuối của sợi lông đã được báo cáo bởi
Radmanesh. Nó do bởi việc phá hủy
melanocyte nằm ở nang lông nhưng không
phá hủy các tế bào mầm. Tình trạng bạc
màu lông tóc có thể xem là tác dụng không
mong muốn nhất (chiếm 0-10%). Nguyên
nhân là do thời gian thải nhiệt của melanocyte
khác so với của tế bào mầm.
Cảm giác châm chích sau làm, có thể
kéo dài một vài giờ, có thể tự hết hoặc phải
bồi thuốc làm dịu da, giữ ẩm,...
Tạo bóng nước: bôi Eosin 2%, kháng
sinh, kháng viêm uống.
Tăng sắc tố sau viêm:
- Không phải hiếm gặp, thường gặp nhất
ở những người có type da sậm màu (V,
VI) .
- Có thể kéo dài nhiều tháng, ảnh hưởng
nhiều đến tính thẩm mỹ và tinh thần của
bệnh nhân.
- Có thể bôi hydroquinone.
- Hạn chế: chọn mức năng lượng vừa đủ
cho thương tổn.
- Nếu dùng mức năng lượng dưới
ngưỡng có thể kích thích tạo melanin
làm da sậm hơn.
- Giảm sắc tố: ít gặp hơn, nhất là bệnh
nhân có type da sậm màu.
- Sẹo phì đại, sẹo lồi: hiếm.
Tần số sóng kết hợp
Thiết bị tần số vô tuyến đã được kết
hợp với cả IPL và laser diode để cung cấp
phương pháp điều trị triệt lông tối ưu cho
một phạm vi rộng hơn của các loại da.
Việc kết hợp được cân nhắc đến khía cạnh
an toàn cho bệnh nhân với các loại da sậm
màu hơn, bởi vì năng lượng sóng cao tần
không được hấp thu bởi melanin ở lớp hạ
bì. Công nghệ này là sức mạnh tổng hợp
quang-điện, có một cơ chế kép làm nóng
nang lông với năng lượng điện (cụ thể là
tần số vô tuyến) và nung nóng sợi lông với
năng lượng quang học. Một sự kết hợp của
tần số vô tuyến (RF) và laser đã được sử
dụng cho lông tóc màu trắng hoặc vàng,
nhưng có hiệu quả thấp.
Chăm sóc sau triệt lông
- Loại bỏ lớp gel, lau sạch da bằng giấy
hoặc vải mềm
- Xịt nước khoáng hay chườm lạnh vùng
vừa làm xong để giảm đau và giảm thiểu
phù nề
- Bôi kem steroid cho các bệnh nhân nổi
mụn nước, giảm đỏ và phù nề.
- Bệnh nhân cần phải sử dụng kem
chống nắng SPF250) và tránh tiếp xúc
với ánh nắng mặt trời trực tiếp
- Thuốc giảm đau ít khi cần thiết.
326
Chương 4
Laser, ánh sáng và các thiết bị phát năng lượng khác
Laser và IPL trong triệt lông
327
Thẩm mỹ nội khoa
3. KẾT LUẬN
Lông dư thừa là một tình trạng rất phổ
biến, ảnh hưởng đến cả nam giới và phụ
nữ, ở mọi lứa tuổi. Nó có thể có tác động
về mặt xã hội và tâm lý của bệnh nhân. Với
sự ra đời của công nghệ laser, laser không
bóc tách thế hệ mới và hệ thống ánh sáng
đã trở thành một trong những phương
pháp phổ biến trong chuyên ngành da
thẩm mỹ. Cho đến nay, phương pháp này
cho thấy tính an toàn, tác dụng nhanh và
hiệu quả.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nouri K (2012), Lasers in Dermatolo-
gy and Medicine. Springer-Verlag London
Limited.
328
Chương 4
Laser, ánh sáng và các thiết bị phát năng lượng khác
LASER TÁI TẠO DA BÓC TÁCH
(ABLATIVE LASERS FOR SKIN RESURFACING)
1. GIỚI THIỆU
Có nhiều loại laser và ánh sáng được
ứng dụng để điều trị lão hóa da do ánh
sáng như laser bóc tách, laser không bóc
tách, các loại ánh sáng và tiêu nhiệt ánh
sáng phân đoạn.
2. LỊCH SỬ
Ứng dụng laser trong chuyên khoa da
đã có gần 50 năm, lĩnh vực này đã thay
đổi từ năm 1983, khi Anderson và Parrish
tìm ra nguyên lý tiêu nhiệt chọn lọc chất
hấp thu ánh sáng trong mô được gọi là
chromophore, bằng cách chọn bước sóng,
thời gian chiếu và mức năng lượng phù
hợp có thể gây hiệu ứng nhiệt chỉ ở mô
địch mà không gây tổn hại các cấu trúc
xung quanh.
Hệ thống laser đặc biệt đầu tiên được
phát triển để tái tạo da là laser CO, xung,
được FDA (Food and Drug Administration)
chấp nhận năm 1996. Hệ thống laser CO2
ban đầu là dạng sóng liên tục, dạng này
chỉ hiệu quả để phá hủy các tổn thương
lớn nhưng không có khả năng bóc tách
các lớp mỏng của mô và do nhiệt lượng
nung nóng mở nhiều nên dễ có khả năng
tạo sẹo và thay đổi sắc tố. Đặc tính không
thể đoán trước được của laser xung liên
tục đã làm hạn chế sử dụng chúng trong
tái tạo da mặt. Sau đó, sự phát triển của
laser xung năng lượng cao đã trở nên an
toàn khi sử dụng do thời gian tiếp xúc
ngắn hơn thời gian tản nhiệt của mô nên
giảm được nguy cơ tổn thương nhiệt đến
cấu trúc xung quanh mô địch.
Laser xung ngắn erbium sttrium -
aluminium - garnet (Er:YAG) được FDA
chấp thuận điều trị tái tạo da, nhằm thay
thế laser CO,. Đây là loại laser duy trì được
hiệu quả lâm sàng như laser CO, nhưng có
thời gian phục hồi ngắn và hạn chế được
tác dụng phụ.
Hiện nay, có rất nhiều loại thiết bị laser
và ánh sáng dùng để điều trị tổn thương da
do ánh sáng. Chọn lựa kỹ thuật thích hợp
sẽ phụ thuộc vào mức độ tổn thương nếp
nhăn, kinh nghiệm của bác sĩ, sự mong đợi
và lối sống của bệnh nhân.
329
Thẩm mỹ nội khoa
3. CHỈ ĐỊNH VÀ CHỐNG CHỈ ĐỊNH
3.1. Chỉ định
- Nếp nhăn nhẹ đến trung bình, tốt nhất
là ở vùng không liên quan đến cử động
- Các dấu hiệu tổn thương do ánh sáng
(rối loạn sắc tố và dầy sừng)
- Sẹo teo nông
- Các tổn thương da ở nông
3.2. Chống chỉ định
- Bệnh nhân có các mong đợi không
thực tế
- Bệnh nhân thường xuyên tiếp xúc với
ánh sáng mặt trời
- Bệnh nhân bị nhiễm trùng, nhiễm siêu
vi, nhiễm nấm hoặc bị viêm ở vùng da
sắp được điều trị
- Bệnh nhân trước đó được phẫu thuật
chỉnh hình ở mi mắt dưới (do có nguy cơ
bị lộn mi khi dùng laser tái tạo da xung
quanh mi mắt)
- Bệnh nhân có màu da thuộc loại IV-V
(do có nguy cơ tăng sắc tố sau viêm)
- Bệnh nhân đang sử dụng isotretinoin
(do có nguy cơ sẹo phì đại)
- Bệnh nhân có xu hướng tạo sẹo (do dễ
có nguy cơ tạo sẹo sau phẫu thuật)
4. ĐÁNH GIÁ BỆNH NHÂN TRƯỚC
PHẪU THUẬT
Bệnh nhân lý tưởng để tái tạo da bằng
laser là bệnh nhân có màu da sáng (loại I,
II, III), có các tổn thương da cần điều trị với
hy vọng thực tế về kết quả điều trị. Đánh
giá bệnh nhân và tư vấn kỹ là tuyệt đối cần
thiết để tránh sai lầm và tránh phóng đại
kết quả. Bác sĩ cần trả lời các câu hỏi sau:
- Bệnh nhân có tổn thương cần tái tạo
da không? Tất cả tổn thương nghi ngờ
phải được sinh thiết trước khi điều trị.
- Trước đây bệnh nhân có được điều trị
gì ở các vùng này chưa?
- Laser tái tạo da không thể che đậy
được tình trạng giảm sắc tố hoặc tình
trạng xơ hóa do ca da, liệu pháp lạnh
hoặc lột bằng phenol..
- Màu da của bệnh nhân thuộc loại nào,
bệnh nhân có màu da sáng sẽ ít có nguy
cơ tăng sắc tố sau viêm hơn bệnh nhân
có màu da sậm.
- Bệnh nhân có tiền sử nhiễm herpes
môi không? Bệnh nhân cần được điều
trị dự phòng thuốc kháng siêu vi trước
khi điều trị vùng quanh miệng.
- Bệnh nhân có bệnh tự miễn hoặc có
suy giảm miễn dịch không?
- Bệnh nhân có đang dùng thuốc chống
chỉ định cho việc tái tạo da không?
- Bệnh nhân có khuynh hướng tạo sẹo
phì đại hoặc sẹo lồi không?
- Bệnh nhân có tuân thủ đúng hướng
dẫn sau phẫu thuật không?
- Bệnh nhân có sức khỏe không tốt hoặc
cảm xúc không ổn định thì không nên
điều trị laser tái tạo da.
5. KỸ THUẬT
Chuẩn bị trước phẫu thuật
- Đánh giá và tư vấn một cách đầy đủ
- Uống kháng sinh dự phòng
Không có sự đồng thuận giữa các
chuyên gia về phác đồ thích hợp nhất trước
khi phẫu thuật tái tạo da. Việc sử dụng hỗn
hợp acid retinoic thoa, các tác nhân làm
trắng như hydroquinon hoặc 0-hydroxy
acid nhiều tuần trước khi điều trị được
đưa ra như là một phương pháp để làm da
phục hồi nhanh và giảm tần suất tăng sắc
tố sau viêm. Việc thoa tretinoin sẽ làm các
hóa chất dễ thấm vào da và làm tăng quá
330
Chương 4
Laser, ánh sáng và các thiết bị phát năng lượng khác
trình tái tạo biểu mô sau khi cà da hoặc lột
da bằng hóa chất. Tuy nhiên, vết thương
do laser tái tạo da có bản chất khác với
vết thương do các phương pháp vật lý nên
việc xâm nhập da bằng laser sẽ không bị
ảnh hưởng bởi các thuốc bôi. Hơn nữa,
tăng sắc tố sau viêm thường gặp sau điều
trị laser tái tạo da nên nhiều chuyên gia
tin rằng điều trị dự phòng bằng các tác
nhân làm trắng sẽ | làm giảm tần suất tác
dụng phụ này nhưng nhiều khảo sát đã
chứng minh việc dùng trước tretinoin thoa,
hydroquinon hoặc glycolic acid không ảnh
hưởng đến tần suất tăng sắc tố sau viêm
trên bệnh nhân tái tạo da bằng laser.
Do cần độ ẩm để tái tạo biểu mô sau
điều trị nên có thể có nguy cơ nhiễm trùng,
nhiều chuyên gia ủng hộ việc dùng kháng
sinh dự phòng.
Biến chứng nhiễm trùng thường gặp
nhất là tái nhiễm herpes môi. Bệnh nhân
có tiền căn nhiễm herpes môi cần điều
trị dự phòng bằng acyclovir, famciclovir,
valacyclovir. Bệnh nhân sẽ bắt đầu uống
vào ngày phẫu thuật và dùng liên tục 7-10
ngày sau phẫu thuật.
Mô tả kỹ thuật
Laser CO2
Chú ý:
- Vùng da mỏng (quanh miệng) cần ít
lần lặp lại
- Vùng không phải mặt (cổ, ngực) không
nên làm vì ít nang lông - tuyến bã nên sẽ
giảm khả năng tái tạo biểu mô.
- Tránh lặp lại xung để làm giảm nguy
cơ tạo sẹo
Mức năng lượng tối đa phát ra của mỗi
xung hoặc mỗi lần quét từ 4-5 J/cm2, đây
là mức năng lượng cần thiết để bốc hơi
toàn bộ mô. Nhiều nghiên cứu về hệ thống
laser xung liên tục và laser CO2 xung hoặc
laser CO2 quét cho thấy sau một quá trình
tái tạo da điển hình, lượng nước trong mô
bốc hơi ở độ sâu 20-60 um tạo ra vùng tổn
thương nhiệt từ 20-150 um.
Độ sâu của tái tạo da liên quan trực
tiếp đến số lần lặp lại và thường giới hạn ở
thượng bì và lớp bì nông. Tuy nhiên, sự lặp
lại xung trên vùng điều trị với nhiều lần đi
nhanh hoặc đặt thiết bị có mức chồng lấp
cao sẽ dễ có nguy cơ tạo sẹo. Cần tránh
lặp lại xung và mang đi không hoàn toàn
một phần mô bị khô là điều quan trọng để
ngăn ngừa sự tích nhiệt với bất kỳ loại la-
ser nào.
Mục đích của laser tái tạo bóc tách là
để bốc hơi mô đến lớp nhú bì. Việc giới
hạn độ sâu sẽ làm giảm nguy cơ tạo sẹo
và thay đổi sắc tố. Khi chọn lựa thông số
điều trị, bác sĩ phải chú ý đến các yếu tố
như đặc điểm của bề mặt da, màu sắc da,
các điều trị trước đó. Để giảm nguy cơ tổn
thương nhiệt quá mức, phần mô bị khô
phải được mang đi bằng gạc ẩm sau mỗi
lần đi xung để tia laser tiếp xúc với lớp bì
ở bên dưới.
Lợi ích về lâm sàng và mô học của
laser tái tạo da rất nhiều. Đối với laser
CO2 hầu hết các nghiên cứu cho thấy ít
nhất cải thiện 50% màu da và nếp nhăn.
Thuận lợi lớn nhất của tái tạo da bằng
laser CO2 là sự co thắt mô tốt, tạo collagen
mới kéo dài và tu sửa collagen. Mô học ở
vùng điều trị laser cho thấy có sự thay thế
tế bào thượng bì không điển hình và loạn
sản bằng tế bào bình thường, tạo tế bào
thượng bì khỏe mạnh, hiệu quả rõ nhất
xuất hiện ở lớp nhú bì, các khối vô tổ chức
tạo bởi các tổn thương do ánh sáng bị
động lại và được thay thế bằng các bó sợi
collagen bình thường sắp xếp song song
với bề mặt da. Ngay lập tức sau điều trị
laser CO2 một đáp ứng viêm bình thường
sẽ xuất hiện, tạo mô hạt, tạo mạch máu
mới, tăng sinh đại thực bào và nguyên bào
sợi.
Collagen co lại và tu sửa lớp bì là các
biểu hiện lâm sàng có lợi quan sát được
sau khi tái tạo da bằng laser CO, và tình
trạng này bị tác động bởi nhiều yếu tố. Hiệu
331
Thẩm mỹ nội khoa
ứng nhiệt của tia laser trên da làm co thắt
sợi collagen ở nhiệt độ từ 55-62° thông
qua sự phá vỡ chuỗi interpeptide dẫn
đến sự thay đổi về hình dạng để collagen
có cấu trúc xoắn ba. Do đó, phân tử
collagen rút ngắn khoảng 1/3 chiều dài
bình thường. Sự co các sợi collagen do
laser có thể hoạt động như là giá đỡ cho
các collagen mới, dẫn đến việc sản xuất
ra các dạng rút ngắn mới. Lần lượt các
nguyên bào sợi di chuyển vào vết thương
sau khi tái tạo bằng laser có thể tăng điều
chỉnh các biểu hiện của yếu tố điều hòa
miễn dịch để phục vụ cho việc tăng cường
có collagen liên tục.
Laser CO2 tái tạo da là công cụ hiệu
quả nhất để cải thiện các nếp nhăn ở mặt
do ánh sáng. Tuy nhiên, các nếp nhăn cử
động (dynamic rhytides) thì không chỉ
định điều trị bằng laser. Nhiều bệnh nhân
có biểu hiện tái phát các nếp nhăn khi cử
động (đặc biệt vùng giữa hai chân mày)
khoảng 6-12 tháng sau điều trị. Như vậy,
việc tiêm Botox thường được phối hợp với
laser tái tạo da để có sự cải thiện lâm sàng
lâu dài.
Trong một nỗ lực để giải quyết nhiều
khó khăn liên quan đến việc sử dụng nhiều
pass trong điều trị laser CO2 tái tạo da, các
thay đổi trong kỹ thuật đã được phát triển.
Điều trị một pass duy nhất tạo hiệu quả
tái tạo biểu mô nhanh và ít tác dụng phụ.
Vùng da sau khi điều trị laser còn nguyên
vẹn như là một vết thương sinh học chứ
không cần loại bỏ một phần mô bị khô
(như với quy trình nhiều pass). Hơn nữa
việc điều trị nhiều pass có thể áp dụng
khu trú ở vùng có nhiều tổn thương do
ánh sáng để giới hạn các tổn thương nhiệt
không cần thiết và các tổn thương cơ học
trên vùng da không liên quan.
Erbium: Yttrium - Aluminium - Garnet
(Er:YAG)
Chú ý:
- Mật độ năng lượng từ 5-15 J/cm2 phụ
thuộc vào mức độ tổn thương và vị trí
giải phẫu.
- Khi dùng mức năng lượng thấp, cần lặp
lại nhiều pass để tái tạo toàn bộ thượng
bì.
- Thời gian xung ngắn được sử dụng để
tái tạo mô và xung dài được dùng nhằm
làm đông và làm giảm vùng tổn thương
nhiệt.
Laser Er:YAG là công cụ tái tạo da phát
ra ánh sáng ở bước sóng 2.940 nm, tương
ứng với đỉnh hấp thu của nước 3.000 nm.
Hệ số hấp thu của Er:YAG là 12.800 cm
(của laser CO2 là 800 cm) đã làm cho
ER:YAG hấp thu nước trong mô gấp 12-18
lần laser CO2. Thời gian xung (trung bình
250 us) cũng ngắn hơn laser CO2 nên giảm
sự khuếch tán nhiệt, cầm máu kém và dễ
chảy máu lúc phẫu thuật nên cản trở việc
điều trị sâu vào lớp bì. Do ít tổn thương
nhiệt nên số lượng collagen co thắt cũng
giảm khi điều trị bằng
Er: YAG (1-4%) so với quan sát được khi
điều trị bằng laser CO2.
Có 2-4 um được bốc hơi khi mật độ
năng lượng là mỗi Joule/mỗi cm nên chỉ
tạo hiệu quả bóc tách mô nông. Do có ít
mô bị hoại tử khi chiếu laser nên việc lấy đi
các mô mất nước không cần thiết.
Dùng xung ngắn, năng lượng từ 5-15 J/
cm2, phụ thuộc vào mức độ tổn thương và
vị trí giải phẫu. Khi mức năng lượng thấp
được chọn cần phải thực hiện nhiều pass
để tái tạo toàn bộ thượng bì. Độ sâu của
việc tái tạo khi dùng sóng ngắn sẽ không
bị giảm khi dùng nhiều pass liên tiếp do
số lượng hoại tử do nhiệt là tối thiểu ở
mỗi pass. Khi chiếu nhiều pass (3-4) bằng
Er:YAG xung ngăn mới đạt được độ sâu
tương tự như khi dùng laser CO2 một pass
với thông số điển hình. Để tái tạo toàn bộ
thượng bì với Er:YAG xung ngắn, ở mức
năng lượng 5 J/cm2 ít nhất phải sử dụng
2-3 pass để làm tăng sự xâm nhập vào
mô. Đối với tổn thương sâu ở lớp bì hoặc
332
Chương 4
Laser, ánh sáng và các thiết bị phát năng lượng khác
các vùng trên mặt bị lão hóa do ánh sáng
nặng và chảy xệ nhiều có thể cần 9-10
pass (trong khi đó laser CO2 chỉ cần 2-3
pass).
Chảy máu thành chấm do cầm máu
không đủ và sự thay đổi màu sắc mô khi
dùng nhiều pass Er:YAG có thể cản trở việc
đánh giá lành vết thương trên lâm sàng.
Vùng da chiếu laser sẽ trắng ngay lập tức
và nhanh chóng phai màu. Những yếu tố
này gây nhiều khó khăn cho bác sĩ xác
định đích điều trị (treatment endpoint).
Các chỉ định dùng Er:YAG xung ngắn là
các tổn thương ở thượng bì và bì, lão hóa
do ánh sáng mức độ nhẹ và rối loạn sắc tố
nhẹ. Thuận lợi lớn nhất của Er:YAG xung
ngắn là thời gian phục hồi nhanh. Sự tái
tạo thượng bì hoàn toàn sẽ trong 5,5 ngày
(so với 8,5 ngày khi dùng laser CO2). Đau
sau phẫu thuật và thời gian có hồng bạn
sẽ giảm khi tái tạo da bằng Er:YAG xung
ngắn, hồng ban biến mất sau 3-4 tuần. Do
ít gây tổn thương nhiệt và tổn thương da
nên ít có nguy cơ rối loạn sắc tố, vì vậy
laser Er:YAG là chỉ định tốt cho bệnh nhân
có màu da sậm. Bất lợi lớn của loại laser
này là hạn chế khả năng co thắt collagen
và ít tạo mới và liên tục collagen sau phẫu
thuật. Kết quả lâm sàng cuối cùng thì ít ấn
tượng hơn laser CO2 khi điều trị các nếp
nhăn sâu. Tuy nhiên, với lão hóa, ánh sáng
nhẹ việc cải thiện 50% là thường gặp. Mặc
dù hiệu quả trên lâm sàng và mô học ít ấn
tượng hơn laser CO2 nhưng laser Er:YAG
xung ngăn vẫn được chỉ định cho lão hóa
da do ánh sáng với thời gian phục hồi
nhanh.
Nhằm hạn chế các khuyết điểm của
laser Er:YAG xung ngắn, hệ thống laser
Er:YAG biến đổi đã được phát triển để cải
thiện tình trạng cầm máu, tăng số lượng
collagen co thắt và tăng chỉnh sửa mô. Đó
là hệ thống Er: YAG-CO, hybrid có cả tái tạo
bằng Er:YAG và laser CO2 xung. Trong đó,
thành phần Er:YAG tạo năng lượng đến 28
J/cm2, thời gian xung là 350 US; còn việc
cầm máu sẽ do laser CO2 có xung 1-100
mg, năng lượng từ 1-10 W. Vùng hoại tử
nhiệt sâu khoảng 50 tum phụ thuộc vào
thông số điều trị và độ dày của lớp collagen
được kéo dài đến 3 tháng sau 4 pass điều
trị. Một dạng biến đổi khác của Er:YAG là
laser Er:YAG kiểu đôi (dual model Er:YAG),
kết hợp xung ngắn (200 - 300 us) và xung
dài làm đông nên có thể xâm nhập sâu
đến 200 m mỗi pass. Năng lượng ra từ
laser hai đầu này sẽ kết hợp thành một
dòng gọi là ghép kênh quang học.
Sự co thắt collagen xuất hiện ngay sau
khi điều trị bằng laser CO2 trong khi đó,
laser Er:YAG biến đổi thì không gây co thắt
lập tức nhưng tạo nên sự co thắt chậm.
6. CHĂM SÓC SAU PHẪU THUẬT
Trong quá trình tái tạo biểu mô, kỹ thuật
chăm sóc vết thương hở phải được thực
hiện. Vết thương sẽ lành tốt và giảm nguy
cơ tạo sẹo khi duy trì được môi trường ẩm
vì sự hiện diện của vảy khô sẽ cản trở sự di
chuyển của các tế bào sừng. Mặc dù đã có
sự đồng thuận cho việc chăm sóc nhưng
vẫn có các bất đồng tồn tại liên quan đến
việc chăm sóc vết thương laser tái tạo da.
Kỹ thuật mở là bôi một lớp kem dày để tái
tạo biểu mô, trong khi đó, kỹ thuật đóng
là băng kín hoặc bán kín vùng điều trị. Kỹ
thuật mở dễ quan sát vết thương, kỹ thuật
đóng ít có sự liên quan của bệnh nhân vào
việc chăm sóc vết thương và giảm được
đau sau phẫu thuật. Những thuận lợi của
kỹ thuật đóng là tăng sự thoải mái của
bệnh nhân, giảm hồng ban và sưng phù,
tăng tốc độ tái tạo biểu mô và giả tham gia
của bệnh nhân trong việc chăm sóc vết
thương nhưng cần nhiều chi phí bổ sung
và có nguy cơ nhiễm trùng khi sử dụng
gạc.
- Chườm đá và dùng kháng viêm cần chỉ
định trong thời gian này, thuốc giảm đau
đặc biệt quan trọng trong vài ngày đầu
sau phẫu thuật.
333
Thẩm mỹ nội khoa
Cần theo dõi và phát hiện sớm các biến
chứng để điều trị
7. BIẾN CHỨNG
Các biến chứng của laser tái tạo da thì
khác nhau và liên quan đến kinh nghiệm
của bác sĩ, vùng được điều trị và màu da
của bệnh nhân.
Một số các phản ứng của mô như hồng
ban và phù nề sẽ xuất hiện ngay lập tức
sau khi điều trị và không được coi là biến
chứng. Hồng bạn có thể đậm và có thể kéo
dài nhiều tháng sau khi điều trị. Mức độ
hồng ban liên quan trực tiếp đến độ sâu
của tái tạo và số pass thực hiện. Hồng bạn
có thể giảm tự nhiên hoặc có thể giảm khi
bôi vitamin C (cần dùng ít nhất 4 tuần sau
phẫu thuật để tránh kích thích).
Tương tự các thuốc bôi khác như
retinonic acid, glycolic acid và kem chống
nắng phải hạn chế trong một thời gian
ngắn sau phẫu thuật cho đến khi sự lành
vết thương đáng kể xuất hiện. Đánh giá
bệnh nhân đầy đủ trước phẫu thuật rất cần
thiết để tránh tai biến và tối ưu được kết
quả lâm sàng.
Các tai biến nhẹ của laser tái tạo da là
tạo hạt kê và xuất hiện mụn do băng ép và
dùng thuốc bôi, đặc biệt trên bệnh nhân
có cơ địa mụn. Hạt kê và mụn sẽ mất tự
nhiên khi vết thương lành, khi ngưng kem
giữ ẩm và đắp gạc. Kháng sinh uống được
chỉ định khi mụn không đáp ứng với thuốc
bôi. Viêm da tiếp xúc, viêm da kích thích,
viêm da dị ứng có thể xuất hiện do thuốc
bôi, xà phòng rửa và chất giữ ẩm dùng sau
phẫu thuật. Hầu hết các tại biến này là tự
nhiên do giảm hàng rào bảo vệ da trong
quá trình tái tạo da mới.
Có thể có nguy cơ nhiễm trùng do
Staphylococcus, Pseudomonas, Candida.
Việc dùng kháng sinh dự phòng đang
được thảo luận. Sau khi tái tạo da bằng
laser CO2 khoảng 7% bệnh nhân xuất hiện
nhiễm HSV khu trú hoặc lan tỏa, thường
gặp trong tuần đầu sau khi phẫu thuật và
có thể biểu hiện bằng vết trợt. Ngay cả khi
được điều trị dự phòng, nhiễm herpes vẫn
có thể xuất hiện đến 10% và cần điều trị
tích cực.
Biến chứng đáng kể nhất của laser tái
tạo da là tạo sẹo phì đại và lộn mi. Mặc dù
nguy cơ tạo seo đã giảm đáng kể bằng kỹ
thuật xung nhưng nếu xếp đặt xung không
ý thức hoặc đi chồng lấp xung hoặc mang
đi không hết các mô bị mất nước có thể
gây tổn thương nhiệt quá mức góp phần
tạo xơ hóa. Nếu hồng ban khu trú kèm
ngứa đặc biệt
hàm dưới có thể có nguy cơ tạo sẹo.
Corticosteroid nhóm I có thể được thoa để
giảm phản ứng viêm.
Lộn mi ở mi dưới sau khi tái tạo da
quanh mắt thì hiếm gặp nhưng nếu xuất
hiện cần phải chỉnh sửa. Tai biến này
thường xuất hiện trên bệnh nhân trước đó
được chỉnh hình ở mi dưới hoặc có thực
hiện phẫu thuật khác ở quanh mắt. Cần
khám trước khi điều trị để đánh giá độ đàn
hồi của da mi mắt. Nếu vùng da quanh mi
mắt không nhanh chóng trở về vị trí bình
thường sau động tác kéo da xuống (snap
test) thì không nên tái tạo da bóc tách
vùng mi dưới. Tổng quát, mức năng lượng
thấp và đi vài pass được chỉ định khi điều
trị vùng quanh mi mắt để giảm nguy cơ
lộn mi.
Tăng sắc tố là một trong các tác dụng
phụ thường gặp của laser tái tạo da và hay
xuất | hiện trên bệnh nhân da sậm. Tuy tai
biến này thoáng qua những biến mất chậm
khi dùng các loại kem bôi sau phẫu thuật
như hydoquinone, retinoic, azelaic, glycolic
acid. Cần dùng kem chống nắng thường
xuyên để ngăn ngừa. Tuy nhiên, việc điều
trị dự phòng trước phẫu thuật cũng không
giảm được tần suất tăng sắc tô sau viêm.
334
Chương 4
Laser, ánh sáng và các thiết bị phát năng lượng khác
Số lượng tác dụng phụ và tai biến của
laser CO2 và laser Er:YAG tương tự nhau
nhưng khác nhau về thời gian, tần suất và
mức độ.
Tăng sắc tố sau viêm rất thường gặp
với tất cả các thiết bị tái tạo da. Tăng sắc
tố do laser Er:YAG biến đổi có thể kéo dài
hơn laser Er:YAG xung ngắn.
8. KẾT LUẬN
Tái tạo da bóc tách đã làm thay đổi
phương pháp điều trị lão hóa da do ánh
sáng ở mặt. Công nghệ và kỹ thuật đã liên
tục phát triển nhằm nâng cao khả năng
cải thiện các nếp nhăn, sẹo và các rối
loạn sắc tố, rút ngắn thời gian hồi phục.
Việc sử dụng kỹ thuật và thông số điều trị
thích hợp có thể tạo nên kết quả lâm sàng
tốt khi sử dụng bất kỳ thiết bị tái tạo da
nào. Do đó, việc chọn lựa thiết bị sẽ phụ
thuộc vào kinh nghiệm của bác sĩ, loại tổn
thương da và đặc điểm của bệnh nhân. Khi
sử dụng bất kỳ loại laser tái tạo da nào,
việc chăm sóc tích cực sau phẫu thuật
phải luôn được đặt ra.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Goh C.L (2011). Ablative laser resur-
facing in the Asian skin. Texbook of laser
and light dermatology in the Asian skin
2011; 8; 83-89.
2. Wanitphakdeedecha R., Alster T.S
(2011). Laser for resurfacing. Laser in der-
matology and medicine ; 9: 103-111.
3. Alster T.S., Tanzi E.L (2005). Laser
skin resurfacing: Alabative and nonabla-
tive. Surgery of the skin, procedural der-
matology; 38: 611-618.
Bảng tác dụng phụ và biến chứng của laser tái tạo da bóc tách
335
Thẩm mỹ nội khoa
LASER TRẺ HÓA DA KHÔNG BÓC TÁCH
(NONABLATIVE LASERS FOR SKIN RESURFACING)
1. ĐẠI CƯƠNG
Cho đến thời điểm hiện tại, laser bóc
tách vẫn có hiệu quả hơn laser không bóc
tách trong việc điều trị trẻ hóa da. Chúng
tạo ra các thương tổn nhỏ trên bề mặt da,
kích thích các hóa chất trung gian gây
viêm, tăng sinh nguyên bào sợi, mô liên
kết và các protein nền ở da. Qua đó, kích
thích hiện tượng lành thương, giúp tái tạo
bề mặt và săn chắc da. Phương pháp này
rất có hiệu quả về lâm sàng. Tuy nhiên,
cần phải cân nhắc giữa lợi ích và các biến
chứng có thể xảy ra như viêm đỏ và phù
nề trong vài tuần, nguy cơ tăng sắc tố sau
viêm, sẹo... Do vậy, nhiều bệnh nhân muốn
được áp dụng những phương pháp khác
để có thể rút ngắn thời gian nghỉ dưỡng,
cũng như hạn chế tác dụng phụ.
Trong khi đó, laser trẻ hóa da không
bóc tách tác động trên các thể màu và
gây ra hiệu ứng nhiệt nhưng không làm tổn
thương bề mặt da. Cơ chế tác dụng hiện
vẫn chưa được hiểu rõ một cách đầy đủ. Về
lý thuyết, laser kích thích dưới ngưỡng gây
thương tổn và tác động lên mạch máu ở
lớp bì có thể dẫn đến đáp ứng lành thương,
hoạt hóa nguyên bào sợi và tái tổ chức mô
liên kết. Qua đó, giúp tăng cường trẻ hóa
da và gần như không cần phải nghỉ dưỡng.
2. CƠ CHẾ TÁC ĐỘNG
Các thiết bị được sử dụng trong trẻ hóa
da không bóc tách chủ yếu bao gồm: la-
ser, ánh sáng và sóng vô tuyến RF, Laser
sử dụng năng lượng trong phổ hồng ngoại
hoặc gần hồng ngoại tác động lên các thể
màu chuyên biệt ở da như nước, hắc tố
và Hb. Ngược lại, năng lượng sóng RF tạo
nhiệt vùng bì và mô dưới da. Mặc dù cơ
chế khác nhau, nhưng kết quả tác động lại
tương tự nhau. Cả thiết bị ánh sáng và RF
đều có tác dụng làm tăng nhiệt độ lớp bì,
qua đó kích thích đáp ứng lành thương mà
không gây tổn thương bề mặt.
Một trong những tác động có hại của
ánh sáng mặt trời, cũng như lão hóa da là
giảm mô liên kết ở lớp bì và đây là mục tiêu
chính trong điều trị trẻ hóa da không bóc
tách. Các nhà khoa học đã chứng minh
tác động nhiệt ở lớp bì gây phóng thích
các cytokine viêm tại chỗ, qua đó tăng
sinh nguyên bào sợi và dẫn đến tăng tổng
hợp mô liên kết. Nghiên cứu nhiều loại
laser khác nhau trên chuột cho thấy có sự
gia tăng đáng kể mô liên kết và chất nền
ngoại bào. Liu và cs, chứng minh sự gia
tăng chủ yếu mô liên kết tuýp I sau điều
trị laser xung nhuộm (PDL), Nd:YAG 1.320
nm và 1.064 nm xung dài. Ngoài ra, việc
sử dụng Nd:YAG 1.064 nm cũng kích thích
tăng sinh mô liên kết tuýp III. Kết quả làm
cải thiện độ đàn hồi và trẻ hóa da.
Riêng đối với nhóm tác động trên mạch
máu, một số nghiên cứu cho thấy laser
KTP kích thích hình thành mô liên kết nhiều
hơn so với laser 1.064 nm trong trẻ hóa
vùng da lão hóa do ánh sáng. PDL làm gia
tăng đáng kể tiền chất mô liên kết (procol-
lagen) tuýp I và III, tăng hoạt động nguyên
bào sợi, dày lớp gai và tái tạo da. Cơ chế
gây giảm các nếp nhăn vẫn chưa biết rõ,
nhưng có giả thuyết cho rằng laser ánh
sáng vàng gây thương tổn tế bào nội mô
mạch máu nên phóng thích các hóa chất
trung gian làm kích thích nguyên bào sợi
sản sinh mô liên kết mới. Xét nghiệm mô
học cho thấy có sự thay thế mới mô đàn
hồi và mô liên kết ở vùng bì nông. Ngoài ra,
có sự gia tăng tế bào và chất nhầy (mucin)
trong vùng tái tạo mô liên kết.
336
Chương 4
Laser, ánh sáng và các thiết bị phát năng lượng khác
Bên cạnh việc điều trị làm giảm nếp
nhăn và hiện tượng chùng da, các biểu
hiện lão hóa da khác cũng được nhắc
đến như rối loạn sắc tố, thương tổn mạch
máu... Tuỳ loại thương tổn khác nhau có
thể lựa chọn loại laser phù hợp nhằm tăng
khả năng đáp ứng về mặt lâm sàng.
3. CÁC LOẠI LASER KHÔNG BÓC
TÁCH
3.1. Laser KTP 532 nm (Potassium
titanyl phosphate)
Đây là một trong những thiết bị được
sử dụng trong trẻ hóa da vùng mặt và
được hấp thu chủ yếu bởi hắc tố và Hb.
Laser KTP có hiệu quả trên những thương
tổn mạch máu hay hắc tố, làm săn chắc,
giảm sẹo mụn và nếp nhăn da. Lee và cs,
nghiên cứu trên 150 bệnh nhân cho thấy
laser KTP hiệu quả hơn Nd:YAG xung dài
sau 3 - 6 đợt điều trị, nhưng việc kết hợp
sẽ mang lại hiệu quả hơn là việc sử dụng
từng loại riêng lẻ. Hiện tượng tái tạo mô
liên kết tiếp tục xảy ra sau điều trị 6 - 12
tháng.
3.2. Pulse dye laser (PDL) 585 nm
hay 595 nm
PDL có ánh sáng vàng tác động đến
hắc tố và oxyhemoglobin. Đây là loại laser
dùng điều trị các thương tổn mạch máu.
Một số tác giả đặt ra giả thuyết laser làm
thương tổn nội mô mạch máu làm phóng
thích các cytokine, dẫn đến tái tạo và tăng
sinh mô liên kết. Gần đây, người ta cho
rằng PDL 595 nm kích hoạt protoporphyrin
IX, là một chất nhạy cảm ánh sáng, có
nhiều trong các tế bào bị thương tổn do
ánh sáng, dẫn đến phá hủy tế bào, phóng
thích các cytokine và sửa chữa mô liên kết.
Các tác dụng phụ chủ yếu bao gồm phù
nhẹ, ban xuất huyết, tăng sắc tố sau viêm
thoáng qua. Những hệ thống PDL hiện đại
có tác dụng làm trẻ hóa da nhưng ít gây
tác dụng phụ và giảm xuất huyết da. PDL
với bước sóng 585 và 595 nm được dùng
để điều trị các nếp nhăn nhẹ ở mặt. Việc
kết hợp PDL với aminolevulinic acid (ALA)
cũng làm tăng hiệu quả điều trị lão hóa da
do ánh sáng. Đây là hướng đi mới nhằm
đưa ra một lựa chọn điều trị thay thế h hóa
da. 3.3. 1320 nm Neodymium yttrium alu-
minium garnet (Nd:YAG)
Nd:YAG 1320 nm là một trong những
laser được sử dụng để điều trị trẻ hóa da
không xâm lấn. Đây là laser với bước sóng
có thể tập trung vào lớp mạch, bì lưới giữa
và được nước hấp thu. Do được nước hấp
thu và phân tán mạnh trong lớp bì nên giúp
kích thích hoạt động lành thương lan rộng.
Quá trình này thúc đẩy sản sinh nguyên
bào sợi thông qua hai yếu tố chính: yếu tố
tăng trưởng nguyên bào sợi cơ bản (basic
fibroblast growth factor-bFGF) và yếu tố
tăng trưởng chuyển dạng B1 (transforming
growth factor B1 TGF-81). Kết quả là
kích thích mô liên kết tuýp I, III, VII và
tropoelastin. Laser 1.320 năm Nd:YAG
cần có hệ thống làm lạnh bề mặt để tránh
thương tổn bề mặt thượng bì và được
dùng điều trị sẹo mụn, lão hóa da do ánh
sáng, nếp nhăn với kết quả khác nhau. Do
ít bị hắc tổ hấp thu nên có thể sử dụng cho
mọi tuýp da mà không gây thay đổi sắc
tố. Khi điều trị cho bệnh nhân có nếp nhăn
nhẹ hay sẹo mụn, Weiss và cs, đề nghị sử
dụng | lượng từ 17-19 J/cm2, thời gian làm
lạnh là 25 ms (trước, trong và sau điều trị
là 10, 5, 10 ms), thời gian xung là 50 mg,
2 hay 3 lượt. Kết quả, sẹo mụn cải thiện
30-50% trong số 4/5 bệnh nhân và khoảng
20% không có đáp ứng điều trị. Rogachef-
sky và cs, điều trị 12 bệnh nhân mỗi tháng
1 lần trong 3 đợt cho thấy sẹo mụn dạng
teo ở mặt có cải thiện, còn sẹo hỗn hợp thì
mềm hơn và nhìn ít lỗ chỗ hơn. Sadick cho
rằng 6 đợt điều trị sẽ hiệu quả hơn chỉ áp
dụng 3 đợt. 3.4. Q-switched (QS) Nd:YAG
1.064 nm
337
Thẩm mỹ nội khoa
Laser QS Nd:YAG 1.064 nm không chỉ
hiệu quả trong điều trị xoá xăm, thương
tổn mạch máu, hắc tố, mà còn tác dụng
trên nếp nhăn, lão hóa da do ánh sáng và
sẹo mụn. Laser này ít bị nước hấp thu và
gây tổn thương mô liên kết sâu hơn so
với các bước sóng khác. Có giả thuyết
cho rằng nếu so sánh với những laser
không bóc tách khác, QS Nd:YAG 1.064
nm gây thương tổn lớp bì nhiều nhất vì thế
kích thích tái tạo mô liên kết mạnh nhất.
Nghiên cứu 8 bệnh nhân sử dụng mức
năng lượng 7 J/cm2, kích thước điểm 3
mm, 2 lượt với điểm đáp ứng là chấm xuất
huyết. Kết quả, có 6/8 bệnh nhân giảm
nếp nhăn.
3.5. Erbium:glass 1.540 nm
Laser 1.540 nm Erbium:Glass cũng
có tác dụng tái tổ chức lớp bì trong việc
điều trị những nếp nhăn nhỏ, mụn trứng
cá thông thường, sẹo mụn và sẹo teo vùng
mặt. Những laser này sử dụng hệ thống
làm mát bằng kính saphia (sapphire lens)
trong quá trình điều trị. Fournier áp dụng
trên 42 bệnh nhân có nếp nhăn quanh
mắt, miệng từ nhẹ đến trung bình trong 5
đợt cách nhau mỗi 6 tuần cho thấy tất cả
đều cải thiện sau 6 tháng điều trị. Theo dõi
thêm 35 tháng trên 11 bệnh nhân đã nhận
đủ 5 đợt điều trị, trong đó có 5 bệnh nhân
nhận thêm 2 đợt khác vào tháng thứ 14
và 20, với mức năng lượng 8 J/cm2, kích
thước điểm 4 mm, tần số 2 HZ với 3 lượt
quanh mắt và 5 lượt quanh miệng. Kết quả
tất cả bệnh nhân đều có giảm nếp nhăn
da, trong đó cải thiện 51,7% sau 12 tháng
và 29,8% sau 35 tháng. Mức độ hài lòng
của bệnh nhân là 70% sau khoảng 30
tháng. Điều này cho thấy laser 1.540 nm
Erbium:Glass kích thích tái tạo mô liên kết
trong dài hạn.
3.6. 1450 nm diode
Laser diode 1.450 nm tác động lên
những mô có chứa nước để kích thích tái
tạo, tăng sinh mô liên kết và được sử dụng
trong điều trị nếp nhăn quanh mắt, miệng,
cũng như sẹo mụn vùng mặt. Nghiên cứu
trên 20 bệnh nhân nếp nhăn quanh mắt
và miệng với một bên mặt dùng laser kèm
làm lạnh và một bên mặt chỉ làm lạnh đơn
thuần. Tác giả sử dụng tần số từ 0,5 - 1,0
Hz, độ rộng xung 160 - 260 ms, kích thước
điểm 4 mm, thời gian làm lạnh trước,
trong, sau điều trị 40 - 80 ms và lặp lại mỗi
2 - 4 tháng. Sau 6 tháng, có 13/20 vị trí
có chiếu laser cho thấy sự cải thiện trong
khi không có trường hợp nào làm lạnh đơn
thuần giảm nếp nhăn. Bệnh nhân bị nếp
nhăn quanh mắt cũng cải thiện nhiều hơn
nếp nhăn quanh miệng. Tanzi và cs. tiến
hành nghiên cứu 20 bệnh nha từ nhẹ đến
trung bình với một bên mặt dùng laser di-
ode 1.450 nm và một bên dùng laser 1.320
nm Nd:YAG với ba đợt điều trị cách tháng.
Kết quả ở cả hai nhóm cải thiện nhiều nhất
sau 6 tháng với tác dụng phụ không đáng
kể. Phân tích tiếp cho thấy sử dụng laser
diode 1.450 nm cải thiện và làm bệnh nhân
hài lòng nhiều hơn.
4. ÁNH SÁNG VÀ CÁC THIẾT BỊ PHÁT
RA NĂNG LƯỢNG
4.1. Intense pulsed light (IPL)
IPL là hệ thống phát ra ánh sáng với
bước sóng từ 500-1.200 nm, tác động hiệu
quả trên hắc tố, Hb và ít hơn trên nước. IPL
được dùng điều trị các thương tổn mạch
máu, rối loạn sắc tố và nếp nhăn nhẹ.
Khuynh hướng hiện nay là sử dụng IPL như
một phương pháp làm chậm lại quá trình
lão hóa da bằng cách điều trị từng đợt
cách khoảng và hiệu quả này chỉ đạt được
sau nhiều năm điều trị.
Đầu tiên, IPL được dùng để điều trị
những thương tổn lão hóa da do ánh sáng
mặt trời khá thành công. Sau đó, IPL được
dùng để điều trị các thương tổn mạch máu,
338
Chương 4
Laser, ánh sáng và các thiết bị phát năng lượng khác
hắc tố và cũng có tác dụng trong việc sản
sinh mô liên kết và đàn hồi ở da. Một trong
những bất lợi khi dùng IPL là không có hệ
thống làm mát đi kèm. Cần cẩn trọng khi
điều trị cho bệnh nhân có da sậm màu và
tăng nguy cơ phỏng nắng trên những bệnh
nhân đã nhuộm da.
Mặc dùng IPL không phải là thiết bị tác
động hiệu quả trên nếp nhăn da, nhưng
việc điều trị cũng có cải thiện. Đầu lọc được
sử dụng để tác động trên các thể màu
chuyên biệt. Theo Weiss và cs, nếu điều
trị các thay đổi sắc tố nên dùng thẻ | hơn
và đầu lọc bước sóng thấp hơn. Goldberg
và cs. dùng đầu lọc 645 nm điều trị nếp
nhăn vùng mặt trên 30 bệnh nhân có týp
da I-III. Thời gian điều trị trong 10 tuần (1-4
đợt), với 3 xung 7 ms, khoảng cách xung là
50 ms. Kết quả sau 6 tháng cho thấy 53%
có cải thiện chút ít, 30% cải thiện không
rõ ràng và 17% không cải thiện. Bitter sử
dụng IPL trên những bệnh nhân bị thương
tổn da do ánh sáng mặt trời với kết quả
trên 90% giảm được rối loạn sắc tố bề mặt,
giãn mạch, nếp nhăn nhỏ. Tác giả sử dụng
đầu lọc bước sóng ngắn hơn (550 nm), độ
rộng xung ngăn (làm thương tổn thượng bì
ít hơn) và chia làm nhiều đợt điều trị. Đánh
giá mô học trên một bệnh nhân 4 tuần sau
khi kết thúc điều trị cho thấy có sự tạo mới
mô liên kết ở cả lớp mạch và lớp bì lưới.
Mức độ hài lòng của bệnh nhân cao (88%)
và không có ban xuất huyết. Đây là một ưu
thế so với PDL.
Trong một nghiên cứu so sánh hiệu
quả với laser CO2 trong điều trị nếp nhăn
quanh miệng trên 20 bệnh nhân có da tuýp
II, Hedelund và cộng sự , phân bố ngẫu
nhiên một nửa đối tượng sử dụng IPL mỗi
3 tháng. Kết quả cho thấy tái tạo bề mặt
bằng laser CO2, hiệu quả cao hơn. Tuy
nhiên, lại xuất hiện nhiều biến chứng một
cách có ý nghĩa như rối loạn sắc tố, hồng
ban dai dẳng. Trong khi đó, nhóm sử dụng
IPL không ghi nhận bất cứ tác dụng phụ
nào đáng kể. Về tác dụng dài hạn, cả hai
nhóm đều cải thiện độ đàn hồi của da cho
dù nhóm dùng IPL không giảm nếp nhăn
đáng kể. Mặc dù chưa có định chuẩn cách
thức điều trị, nhiều tác giả vẫn khuyến
khích sử dụng IPL mỗi 3 - 6 tháng nhằm
mang lại hiệu quả trẻ hóa da trong dài hạn.
Tương tự như PDL, xu hướng gần đây là
kết hợp IPL với aminolevulinic acid (ALA)
trong điều trị lão hóa da do ánh sáng.
Phương pháp kết hợp này cho thấy hiệu
quả hơn trong việc điều trị thương tổn da
do ánh sáng, rối loạn sắc tố dạng đốm và
những nếp nhăn nhỏ so với dùng IPL đơn
thuần. Phương pháp có mức dung nạp tốt
và gây tác dụng phụ không đáng kể. Ngoài
ra, việc kết hợp với sóng vô tuyến (RF) sẽ
hỗ trợ và cải thiện hiệu quả điều trị bằng
IPL (hệ thống Elos, Syneron). Hệ thống này
có bộ phận IPL tác động nhiệt trên các thể
màu và sau đó sử dụng sóng RF để làm
ấm mô địch.
4.2. Ánh sáng hồng ngoại (1.100 -
1.800 nm)
Thiết bị ánh sáng hồng ngoại phổ rộng
bước sóng từ 1100 - 1800 nm có tác dụng
làm tăng nhiệt độ của nước trong mô dẫn
đến co mô, cải thiện da chùng và nếp
nhăn. Một nghiên cứu trên 11 bệnh nhân
nữ có độ tuổi trung bình là 64 trên vùng da
từ nếp mũi má đến vùng trước tại, từ đỉnh
gò má đến trên xương đòn. Năng lượng sử
dụng 30 - 36 J/cm2, 230 - 440 xung mỗi
đợt, thời gian phát xung lên đến 11 giây, hệ
thống làm mát giữ thượng bì ở mức 40°C.
Bệnh nhân nhận hai đợt điều trị cách nhau
1 tháng và có 11/12 trường hợp hoàn tất
quá trình nghiên cứu. Kết quả cho thấy
cải thiện có ý nghĩa ở vùng da dưới cằm
và dưới hàm. Bệnh nhân thường bị đỏ da
nhẹ thoáng qua trong 30 phút đầu và sẽ
tự khỏi.
339
Thẩm mỹ nội khoa
4.3. Light-Emitting Diodes (LED)
LED là thiết bị ánh sáng gồm nhiều
bước sóng khác nhau có tác động lên
thượng bì, hoạt hóa ti thể và nguyên bào
sợi nhưng không gây hiệu ứng nhiệt, không
gây tổn thương da. Cơ chế tác động hiện
vẫn chưa được rõ, nhưng có thể dựa trên
nguyên lý kích thích thụ thể quang học tế
bào, các bào quan và những protein hiện
hữu. LED tương tác với chất nền ngoại bào
và nguyên bào sợi giúp sửa chữa mô liên
kết, kích thích nguyên bào sợi sản sinh mô
liên kết, ức chế hoạt động men huỷ mô liên
kết dẫn đến hiệu ứng làm giảm nếp nhăn
da.
Mỗi bước sóng ánh sáng không tác
động tối ưu lên tất cả các thể màu. Do vậy,
việc kết hợp nhiều bước sóng khác nhau
là chìa khóa dẫn đến hiệu quả về mặt lâm
sàng. Đầu tiên, sử dụng bước sóng gần
phổ hồng ngoại 830 nm, sau đó 72 giờ
dùng tiếp bước sóng 633 nm và lặp lại
sau 4 tuần. Đây là cơ chế tác động quang
sinh học dựa trên nguyên tắc điều trị lành
thương. Cả hai bước sóng này gây hiệu
ứng trên lớp tế bào đáy và các tế bào lớp
bì, gây hiệu ứng tích cực lên thượng bì.
Dưới đây là bảng phân loại bước sóng LED
và những tác động trên lâm sàng.
5. LỰA CHỌN THIẾT BỊ TỐI ƯU
TRONG TRẺ HÓA DA
Việc tiếp xúc quá mức với UVA, UVB
của ánh sáng mặt trời làm thay đổi hình
thái, quá trình chuyển hóa thượng bì và
các chất nền ngoại bào vùng bì, kết hợp
hiện tượng lão hóa theo thời gian làm da
chùng, lỏng lẻo và xuất hiện nếp nhăn.
Các tác động oxy hóa do việc hấp thụ
tia UV làm gia tăng men MMPs 1 & 2
(matrix
metalloproteinases)
dẫn
đến
thương tổn mô đàn hồi bên dưới lớp mô
liên kết. Đối với những thương tổn do ánh
sáng nói chung và nếp nhăn da nói riêng,
việc sử dụng laser CO2 và/hoặc Er:YAG
vẫn là tiêu chuẩn vàng để trẻ hóa da. Tuy
nhiên, bệnh nhân có nguy cơ gặp những
biến chứng nghiêm trọng và thời gian nghỉ
dưỡng có thể kéo dài nhiều tháng.
Để vượt qua những trở ngại này, người
ta đã phát triển kỹ thuật tái tạo bề mặt
không xâm lấn bằng laser và IPL. Nguyên
lý là tác động nhiệt có kiểm soát vùng mô
bên dưới lớp thượng bì sao cho gây được
hiệu ứng tăng sinh và tái tạo mô liên kết
mà không làm tổn thương lớp thượng
bì. Do vậy, gần như không cần thời gian
nghỉ dưỡng. Tuy nhiên, thực tế lâm sàng
cho thấy mức độ hài lòng của bệnh nhân
không cao và sự tái tạo mô liên kết trên
mô học không phản ánh được kỳ vọng.
Giữa hai phương pháp trẻ hóa da xâm
lấn và không xâm lấn là kỹ thuật vi phân
nhằm tạo ra những thương tổn nhỏ li ti để
kích thích tái tạo thượng bì và hiện tượng
lành thương, Với thế hệ máy đầu tiên tạo
thương tổn bề mặt rất nhỏ, gần như không
thấy và hiệu quả lâm sàng không như kỳ
vọng của nhiều khách hàng. Khách hàng
cảm giác không có thay đổi đáng kể nào
340
Chương 4
Laser, ánh sáng và các thiết bị phát năng lượng khác
do nhìn thấy bề mặt da vẫn vậy. Hiện nay,
các nhà sản xuất tạo ra những kỹ thuật vi
phân mới hơn làm tăng hiệu quả trẻ hóa
da. Tuy nhiên, thương tổn trên bề mặt da
thường lớn hơn và bệnh nhân cũng cần
thời gian nghỉ dưỡng sau điều trị.
Như vậy, việc lựa chọn phương pháp trẻ
hóa da tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố như cơ
địa ich hàng (giới, tuổi, loại thương tổn, khả
năng đáp ứng), các thiết bị hiện có và mức
kỳ vọng về hiệu quả lâm sàng. Bác sĩ cần
tư vấn đầy đủ để tìm ra cách thức tiếp cận
phù hợp với từng đối tượng khách hàng cụ
thể. Cần lưu ý thông số khuyến cáo của
nhà sản xuất thiết bị và có thể tham khảo
một số liệu trình điều trị như bảng sau:
6. CHỈ ĐỊNH ĐIỀU TRỊ
Không nên áp dụng cho những bệnh
nhân có bệnh lý mạn tính hay kỳ vọng quá
mức vào phương pháp điều trị. Quá trình
cải thiện diễn tiến từ từ và cần nhiều tháng
để thấy đầy đủ tác dụng. Một số trường
hợp cần phải được điều trị trong nhiều đợt.
Những chỉ định có thể xem xét sử dụng
laser không bóc tách trong trẻ hóa da:
- Nếp nhăn nhẹ vùng mặt
- Lão hóa da do ánh sáng mặt trời
- Đốm nâu
- Seo
7. CHUẨN BỊ TRƯỚC ĐIỀU TRỊ
Cần báo trước cho bệnh nhân biết
phương pháp trẻ hóa da không bóc tách
có thể kém hiệu quả so với những phương
pháp truyền thống. Những bệnh nhân ít bị
bắt nắng thì phù hợp hơn với cách tiếp cận
này. Trường hợp có tiền sử nhiễm Herpes
simplex, nên cho bệnh nhân uống kháng
virus phòng ngừa nếu điều trị vùng da
quanh miệng. Cần kiểm tra tiền sử bệnh,
đánh giá lâm sàng, tham vấn lựa chọn
phương pháp điều trị thích hợp, nguy cơ có
thể gặp phải, lợi ích nhận được khi áp dụng
kỹ thuật này. Nên thoa thuốc tê tại chỗ để
