141
Thẩm mỹ nội khoa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vũ Hồng Thái, Nguyễn Trọng Hào
(2013). “Bảo vệ da khỏi tác hại của ánh
nắng mặt trời”. Nhà xuất bản Y học.
2. Almutawa F, Buabbas H (2014).
“Photoprotection: Clothing and Glass”.
Dermatol Clin, 32(3), pp. 439-48
3. Baron ED, Suggs AK (2014). “Intro-
duction to Photobiology”. Dermatol Clin,
32(3), pp. 255-66.
4. Sérgio Schalka (2014). “Brazilian
Consensus on Photoprotection”. An Bras
Dermatol., 89(6 Suppl 1):55.
5. Jansen, R., Wang, S.Q., Burnett, M.
et al (2013). “Photoprotection by naturally
occurring, physical, and systemic agents”.
J Am Acad Dermatol, 69, pp. 853.el-853.
e12.
142
Chương 2
Chăm sóc da
CHĂM SÓC TÓC
(HAIR CARE)
1. ĐẠI CƯƠNG
Chăm sóc tóc là nhu cầu làm đẹp của
cả nam lẫn nữ ở mọi độ tuổi. Bản thân sợi
tóc nguyên thủy vẫn khỏe mạnh và có sức
sống nhất. Tuy nhiên, quá trình làm việc,
sinh hoạt và chăm sóc cơ thể hàng ngày
có thể làm sợi tóc bị hư tổn và mất sự khỏe
mạnh vốn có của nó. Như bất kỳ bộ phận
nào của cơ thể, tóc cũng cần một chế độ
chăm sóc hợp lý tùy đặc điểm của từng cá
thể riêng biệt.
2. ĐẶC ĐIỂM SỢI TÓC
2.1. Phân loại
Trong thời kỳ bào thai, lông măng
(lanugo hair) rất mảnh và thành phần cấu
tạo không có lớp tủy. Sau khi sinh, lông
tơ (vellus hair) có kích thước chưa đến 40
um, ngắn, mảnh, không hắc tố hay có màu
nhạt. Đến giai đoạn dậy thì, một số lông tơ
trưởng thành và phát triển tuyến bã. Lông
trưởng thành (terminal hair) đường kính từ
50 - 150 nm, chứa hắc tố, tập trung ở da
đầu, chân mày, lông mi, nách, vùng sinh
dục.
2.2. Chu kỳ phát triển
Chu kỳ lông, tóc trải qua qua ba giai
đoạn: (1) Phát triển kéo dài khoảng 150
tuần, (2) Chuyển tiếp trong khoảng 1 tuần,
nang tóc hầu như thoái triển hoàn toàn
và (3) Nghỉ ngơi trong 12 tuần kế tiếp với
khoảng 50 - 100 sợi tóc rụng mỗi ngày. Số
lượng tóc vào khoảng 100.000 - 150.000
sợi và mỗi nang tóc có thể tạo mới 20 sợi
tóc với tốc độ mọc 12 mm/tháng.
2.3. Cấu trúc sợi tóc
Cấu trúc sợi tóc bao gồm: (1) Lớp biểu
bì bảo vệ thân tóc bên ngoài, kế đến là
(2) Lớp vỏ nằm ngay bên dưới lớp biểu bì,
thành phần chủ yếu là keratin, tạo nên sắc
thái, hình dáng, màu sắc, độ đàn hồi và
sức mạnh của sợi tóc, và trong cùng là (3)
Lớp tủy, thường chỉ hiện diện trên các sợi
tóc dày và không có ở những sợi mảnh.
Sợi
tóc
có
đường
kính
khoảng
50 - 100 μm, được cấu tạo bởi lớp biểu bì,
lớp vỏ và trong một số trường hợp, có cả
lớp tủy ở trung tâm. Tóc mảnh có đường
kính khoảng 50-60 μm, trung bình khoảng
60-80 μm, tóc dày 80-100 μm. Tất cả được
hình thành từ những tế bào chết và được
phủ chủ yếu một loại protein gọi là keratin.
Sợi tóc chứa khoảng 65-95% keratin,
phần còn lại bao gồm nước, lipid, sắc tố
và một số thành phần khác. Các protein
được hình thành từ nhiều chuỗi dài từ
20 - 50 amino acid (aa) dạng xoắn hay
ngoằn ngoèo, trong đó, cysteine đóng
vai trò quan trọng nhất. Mỗi đơn vị
cystine chứa 2 aa trong 2 chuỗi khác
nhau và gắn kết bằng cầu nối 2 phân tử
sulfur, hình thành nên liên kết disulfide rất
vững chắc. Bên cạnh đó, sợi tóc cũng có
rất nhiều liên kết peptide và sự hiện diện
nhiều nhóm CO- cũng như NH- làm gia
tăng liên kết hydro giữa các chuỗi phân tử
gần bên. Hắc tố melanin hiện diện ở lớp vỏ
dưới dạng hạt, đóng vai trò định hình màu
của tóc.
2.4. Đặc tính của sợi tóc
2.4.1. Đặc tính vật lý
Sợi tóc có khả năng hấp thu hay mất
đi độ ẩm. Khi ướt, vảy lớp biểu bì có
143
Thẩm mỹ nội khoa
khuynh hướng dựng lên, tăng độ ma sát
nên giảm hiện tượng tĩnh điện, mái tóc
định hình theo nếp. Ngược lại, khi khô sẽ
làm tăng tĩnh điện nên nhìn mái tóc có vẻ
rối. Đặc tính này phụ thuộc vào loại tóc,
cách chăm sóc, thời tiết và môi trường
xung quanh.
2.4.2. Đặc tính thấm hút
Tất cả sợi tóc đều có khả năng ngâm
nước lên tới 200% trọng lượng của chúng.
Nếu sợi tóc còn nguyên vẹn, đặc biệt là lớp
biểu bì và lớp f chưa bị tổn thương, nước
có thể ngâm vào và thoát ra từ từ.
2.4.3. Đặc tính đàn hồi
Sợi keratin trong lớp vỏ có khả năng
kháng lại lực gây biến dạng. Tóc khỏe
mạnh khi bị ngấm nước có thể kéo dãn
đến 30% và trở về bình thường sau khi khô
lại. Nếu dùng lực quá mức, tóc sẽ không
hồi phục và đứt gãy.
2.4.4. Đặc tính hình thái .
Sắc thái sợi tóc phụ thuộc nhiều yếu tố
như di truyền, môi trường hay cách chăm
sóc tóc. Mái tóc bị ảnh hưởng đường kính
trung bình của sợi tóc, cứng hay mềm, tác
động của môi trường (gió, nóng, ẩm...) và
kể cả việc chăm sóc như việc sử dụng máy
sấy, uốn, nhuộm, dầu dưỡng, keo tóc...
2.4.1. Đặc điểm chủng tộc
Mặc dù không khác nhau về thành
phần sinh hoá, nhưng chủng tộc khác
nhau sẽ có cấu trúc sợi tóc khác nhau.
Tóc người châu Á thường thẳng, mặt cắt
ngang sợi tóc lớn nhất và nang tóc hình
tròn. Trong khi đó, người châu u có mặt
cắt ngang trung bình và nang tóc hình bầu
dục. Riêng tóc người châu Phi cong, có
mặt cắt ngang nhỏ nhất và nang tóc hình
elip. Tóc có khuynh hướng xoắn chặt nên
chất bã nhờn khó bao phủ, vì vậy không
nên gội thường xuyên như loại tóc thẳng.
Gội đầu thường xuyên sẽ làm tóc mờ đục
và khó tạo kiểu. Khi quan sát dưới kính
hiển vi điện tử, các nhà khoa học phát hiện
ra tóc người châu Á dày nhất (khoảng 100
μm), kế đến là châu Phi (khoảng 80 μm) và
cuối cùng là da trắng (khoảng 50 μm). Tế
bào biểu bì dài khoảng 5 - 10 μm cho cả
ba loại tóc.
3. NGUYÊN NHÂN GÂY HƯ TỔN TÓC
3.1. Cơ học
Quá trình gội đầu làm cọ xát bề mặt,
đồng thời do ngấm ướt nên sợi tóc dễ bị
thương tổn. Kế đến, việc lau khô không
đúng cách, dùng khăn quá thô ráp, đặc
biệt là việc tạo kiểu, chải tóc mạnh, dùng
lược cũng sẽ tiếp tục tác động đến lớp
biểu bì và gãy đứt sợi tóc.
3.2. hóa học
Các chất hoạt động bề mặt trong xà
phòng có một đầu ưa mỡ gắn kết với chất
bã nhờn và một đầu ưa nước để kéo trôi
khi xả nước. Việc này sẽ làm mất đi lớp
lipid bảo vệ, khiến tóc và da đầu khô nên
dễ bị tổn thương. Ví dụ xà phòng có chứa
sulfates và sulfonates, vốn là nhóm ion
âm gây tẩy rửa mạnh nên dễ tác động đến
tóc và da đầu.
Chlorine trong nước hồ bơi sẽ làm trôi
dần lớp lipid bề mặt và giáng hóa cầu nối
disulfide trong lớp vỏ. Tổn thương này
cũng tương tự khi tắm dưới vòi nước chảy
mạnh, mặc dù ở mức độ nhẹ hơn.
Nhiệt độ do tắm nước nóng hay dùng
máy sấy khiến lớp biểu bì bị đứt gãy và làm
yếu liên kết protein trong lớp vỏ.
Hóa chất do nhuộm tóc sẽ làm phù và
nứt vỡ tạo những lỗ tổn thương bề mặt.
Qua các lỗ này, chất nhuộm sẽ oxy hóa
các phân tử lớp vỏ và phá vỡ các liên kết
protein,
144
Chương 2
Chăm sóc da
Tẩy tóc làm mất đến 60% cysteine
protein trong lớp vỏ và làm tổn thương cả
lớp biểu bì trên bề mặt.
Duỗi tóc nhằm mục đích khiến các liên
kết bên trong cấu trúc thân tóc yếu đi nên
dù mức độ nhẹ cũng làm hư tổn sợi tóc.
3.3. Môi trường
Ánh nắng và bức xạ tia cực tím làm phá
vỡ các cầu nối protein, Gió làm các sợi tóc
va đập vào nhau gây các thương tổn bề
mặt lớp biểu bì.
Nước và không khí ô nhiễm tương tác
với các phân tử làm yếu các liên kết pro-
tein. Các ion trong nước cứng cũng gây
tổn hại do sự phân cực quá mạnh kéo
sạch các chất bã nhờn tự nhiên khiến tóc
trở nên khô và nhạy cảm hơn với những
tác động gây hại khác.
Các chất kết tủa do mưa hay tuyết tác
động xấu đến bề mặt sợi tóc.
4. CHĂM SÓC TÓC
Kỹ thuật chăm sóc bao gồm việc làm
sạch tóc và da đầu, bảo vệ chúng khỏi các
tác nhân có thể gây hại và hồi phục bề mặt
sợi tóc thương tổn. Dầu gội giúp làm sạch
tóc và da nhờn, dầu dưỡng phục hồi sợi hư
tổn và giúp dễ chải tóc, ngăn ngừa rụng,
trông khỏe khoắn, óng ả, mềm mại. Hồi
phục sợi tóc tổn thương chủ yếu tập trung
vào việc cải thiện đặc tính lý hóa của sợi
tóc.
Mái tóc đẹp phụ thuộc nhiều yếu tố,
kể cả quan điểm cá nhân và truyền thống
văn hóa. Tuy nhiên, mái tóc khỏe thường
cần có các đặc tính như nhìn sáng bóng,
trơn láng, không bị uốn cong, sợi tóc chắc,
không bị đứt gãy, đuôi tóc không hư tổn,
chẻ ngọn và độ phồng tóc phù hợp.
4.1. Gội đầu
Nhằm làm sạch các chất bã nhờn, mồ
hôi, vị nấm, da chết, các chất tạo kiểu tóc,
chất bẩn từ môi trường trên tóc và da đầu.
Mục đích chính của dầu gội là làm sạch
da đầu nên phải dễ trội sạch, có độ phân
hủy sinh học và ít kích ứng da/mắt. Dầu
gội tốt sẽ không gây hư tổn tóc và làm sợi
tóc trông khỏe khoắn và mang lại mái tóc
đẹp, thẩm mỹ.
Chất tẩy rửa là thành phần chính trong
dầu gội. Đây là các chất có hoạt tính bề
mặt với cấu trúc phân tử gồm cả đầu ra
mỡ và ưa nước. Đầu ưa mỡ gắn với chất bã
nhờn hay chất bẩn tan trong dầu và đầu ra
nước gắn với nước giúp cho việc rửa sạch.
Có bốn loại chất tẩy rửa cơ bản trong dầu
gội:
- Nhóm ion âm như lauryl sulfate, laureth
sulfates, sarcosines, sulfosuccinates.
- Nhóm ion dương
- Nhóm lưỡng cực bao gồm betaines
(như cocamidopropyl betaine), sul-
taines, dẫn xuất imidazolinium
- Nhóm không phải ion
- Trước đây, công thức dầu gội gồm ba
thành phần chính là chất tẩy rửa, chất
dưỡng tóc và chất hỗ trợ. Ngày nay, các
nhà sản xuất tạo ra dầu gội gồm nhiều
thành phần khác nhau như:
+ Chất tẩy rửa: làm sạch da đầu.
+ Chất tạo bọt: làm dầu gội có bọt.
+ Chất dưỡng tóc: giúp tóc trở nên
mượt và mềm mại sau khi làm sạch
chất bã nhờn.
+ Chất làm đặc: làm dầu gội đặc hơn.
+ Chất tạo đục: làm dầu gội có độ đục.
+ Chất ly tách: ngăn chặn xà phòng
bám trên sợi tóc và da dầu, đặc biệt
khi dùng với nước cứng. Đây là khác
biệt cơ bản giữa dầu gội dạng nước
và xà phòng dạng cục.
145
Thẩm mỹ nội khoa
+ Chất tạo mùi: đem lại cảm giác dễ
chịu.
+ Chất bảo quản: ngăn chặn vi trùng và
vi nấm xâm nhập.
+ Thành phần khác: nhằm mục đích
thương mại hay điều trị.
Năm 2013, trên thế giới có khoảng
11.000 sản phẩm mới bao gồm dầu gội,
dầu dưỡng, chất tạo kiểu tóc và các sản
phẩm dùng điều trị. Trong số này, khoảng
35% dầu gội là dành cho tóc hư tổn, 31%
tác dụng làm sáng tóc và 24% giúp mượt
tóc. Ngoài tác dụng làm sạch da đầu, lợi
ích sử dụng các sản phẩm này rất hạn chế
ngoại trừ những trường hợp nhằm mục
đích điều trị. Ước tính thị trường dành cho
tóc lên đến 60 tỉ (USD) trong năm 2016.
Trên thị trường có khá nhiều dầu gội, chủ
yếu dùng để quảng bá:
- Dầu gội dành cho tóc thường (Normal
hair shampoo)
- Dầu gội dành cho tóc khô (Dry hair
shampoo)
- Dầu gội dành cho tóc nhờn hay dầu
(Oily hair shampoo)
- Dầu gội trẻ em (Baby shampoo)
-
Dầu
gội
hàng
ngày
(Everyday
shampoo).
- Dầu gội dưỡng tóc (Conditioning
shampoo)
- Dầu gội sạch sâu (Deep cleaning
shampoo)
- Dầu gội dành cho tóc hư tổn (Damaged
hair shampoo)
- Dầu gội nhuộm tóc (Hair dyeing
shampoo)
- Dầu gội điều trị (Medicated shampoo)
- Dầu gội dân tộc (Ethnic shampoo)
Để gội đầu, cần thấm ướt tóc và da dầu
bằng nước ấm, rồi nhỏ lượng dầu gội vừa
đủ vào lòng bàn tay, xoa nhẹ dầu gội lên
da đầu, tránh dùng dầu gội lên thân tóc.
Sau đó, rửa sạch bằng nước ấm cho đến
khi trội sạch dầu gội hoàn toàn. Dùng khăn
quấn phủ mái tóc nhằm thấm nước, để
khô tự nhiên, không lau hay sấy tóc. Cuối
cùng, sử dụng lược răng thưa, chải nhẹ
nhàng khi tóc còn hơi ẩm ướt. Về tần suất
gội đầu thì không có giới hạn về mặt khoa
học mà tuỳ thuộc thói quen, kiểu tóc, môi
trường, văn hóa... Số lần thay đổi từ 1 lần/
ngày đến mỗi 2 tuần hoặc không bao giờ
gội đầu. Những dấu hiệu như tóc rủ xuống,
mất phồng, khó tạo kiểu có thể cho thấy
cần phải gội đầu và nếu da nhờn có thể gọi
mỗi ngày.
4.2. Dưỡng tóc
Dầu dưỡng thường ở dạng lỏng, hồ
hoặc kem có tác dụng như tuyến bã, giúp
tóc mềm mại và bóng mượt. Dầu dưỡng
có tác dụng lắng đọng các chất trên bề
mặt thân tóc, tạo ra một cấu trúc mạng
lưới keo dạng phiến gồm cồn béo và các
chất có hoạt tính bề mặt điện tích dương.
Lớp dầu dưỡng phủ bề mặt giúp tóc không
thấm nước, trơn láng, giảm rối, giảm rụng
tóc khi chải. Dầu dưỡng cũng làm giảm
hiện tượng tĩnh điện giữa các sợi do chải
tóc do lắng đọng các ion tích điện trên thân
tóc và trung hòa điện tích. Một tác dụng
khác là làm sợi tóc sáng lên do thân tóc
phản xạ ánh sáng. Dầu dưỡng cũng có tác
dụng tăng cường chất lượng sợi tóc bằng
cách làm tròn lại lớp vỏ và tủy bị thương
tổn do cọ xát. Một số loại dầu dưỡng thêm
thành phần bảo vệ tác hại của tia cực tím.
Thường sử dụng dầu dưỡng cho phần đuôi
tóc, chứ không tập trung cho phần thân
tóc hay da đầu. Tác dụng dưỡng tóc có
thể gia tăng tuỳ thuộc thành phần được sử
dụng. Sau khi gội đầu xong, lựa chọn dầu
dưỡng rồi trải lên tay, xoa từ đuôi tóc lên.
Dùng ngón tay hay lược thưa chải đều và
để khoảng 10 phút (nêu tóc hư tổn nhiều)
trước khi rửa sạch lại bằng nước ấm.
Lựa chọn dầu dưỡng tuỳ loại thương
tổn, mức độ nặng hay nhẹ. Những trường
146
Chương 2
Chăm sóc da
hợp tóc thương tổn nghiêm trọng, chẻ
ngọn, cần dùng dầu dưỡng đậm đặc dạng
kem, chứa nhiều cồn béo. Trường hợp
muốn giúp sợi tóc dày hơn nên dùng dầu
dưỡng để lại chứa những chất có trọng
lượng phân tử nhẹ hơn.
Bảng 1. Các thành phần dưỡng tóc
Thành phần
Hoạt chất
Chức năng
Silicone
Dimethicone, amodimethicone
Làm tóc mềm mại, trơn
láng, dễ chải
Bis-aminopropyl dimethicone
Làm sáng tóc
Chất có hoạt tính bề
mặt điện tích dương
Stearamidopropyl dimethyl-
amine, | behentrimonium
methosulfate, behentrimonium
chloride, dicetyldimonium
chloride
Phân tử tích điện dương
kết nối với vùng hư tổn làm
tóc íttích điện, mềm mại,
trơn láng, dễ chải
Cồn béo
Cetyl alcohol, stearyl alcohol
Làm tóc khô trơn láng,
chải nhẹ nhàng khi tóc còn
ướt
Cetearyl alcohol (hỗn hợp cetyl
vàstearyl alcohol)
Giúp sản phẩm đặc và
giống kem
Dầu
Hydrogenated coconut oil,
mineral oil, argan oil, Moroccan
oil
Giữ ẩm, giúp tóc mềm mại
Thành phần thêm
vào
Panthenol, vitamin E
Hỗ trợ thêm nhằm giữ ẩm,
chống oxy hoá...
Bảo vệ tóc
Nếu làm việc hay sinh hoạt ngoài trời
nắng, cần sử dụng nón rộng vành để tránh
hư tổn tóc và da đầu. Dùng nón bơi và rửa
sạch các hóa chất sau khi tắm hồ bơi. Sau
đó, làm sạch da đầu bằng dầu gội dành
riêng cho người bơi lội và dầu dưỡng sâu.
Trường hợp dùng tóc giả, chỉ nên sử dụng
loại nhẹ để tránh kéo tóc, không dùng liên
tục và giữ da dầu sạch sẽ. Khi tạo kiểu tóc
không nên cột quá chặt, không dùng nhiệt
hay hóa chất. Hạn chế tối đa việc dùng
dụng cụ nhiệt để tạo kiểu và không nên
quá 1 lần/tuần. Tránh nhuộm, duỗi, tạo nếp
khi khí trời hanh khô hay vào mùa đông (ít
nhất 8 - 10 tuần/lần), nên làm cùng một
lúc hoặc uốn hay duỗi trước, sau đó 2 tuần
thì nhuộm. Đồng thời, dùng dầu dưỡng sau
khi gội, đặc biệt là loại có chứa oxit kẽm và
nón rộng vành khi ở ngoài trời.
5. BÀN LUẬN
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều
dầu gội khác nhau nhưng mục đích là làm
sạch tóc, da đầu và bã nhờn. Ngoài ra,
chúng còn có những tác dụng khác như
kiểm soát gàu, giảm kích ứng và dưỡng
tóc. Chất dưỡng tóc được sử dụng chủ yếu
147
Thẩm mỹ nội khoa
để làm mượt, mềm sợi tóc, giúp dễ chải
hơn. Bên cạnh đó, chúng còn giúp mái
tóc định nếp, nhìn sáng hơn, giảm thương
tổn sau khi tạo lớp áo mỏng bao phủ bên
ngoài, không thấm nước, chống tia cực
tím..
6. KẾT LUẬN
Bên cạnh đặc điểm di truyền của từng
cá thể, để có mái tóc khỏe mạnh cần tránh
các nguyên nhân có thể gây hư tổn và
chăm sóc tóc đúng cách.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Marsh J, Gray J, Tosti A (2015).
“Healthy Hair”. Switzerland: Springer.
2. Hordinsky M., Caramori A.P.A, Don-
ovan J.C (2016). “Hair Physiology and
Grooming”. Cosmetic Der matology -
Products and Procedures 2nd Edition, pp.
234-8
3. Draelos Z.D. (2005). “Hair Care-An Il-
lustrated Dermatologic Handbook”. North
Yorkshire: Taylor & Francis.
148
Chương 2
Chăm sóc da
CHĂM SÓC MÓNG
(NAIL CARE)
1. ĐẠI CƯƠNG
Móng quan trọng về chức năng và thẩm
mỹ. Móng là phần phụ da do keratin biệt
hóa. Móng là một phần của đầu ngón, là
công cụ linh hoạt nhất và một trong những
cơ quan cảm giác quan trọng nhất của con
người. Móng bảo vệ ngón, giúp nhật các
vật nhỏ và hoàn thiện cảm giác sờ tinh tế.
Do đó, chăm sóc móng quan trọng.
2. GIẢI PHẪU MÓNG
Hình 1. Móng bình thường [1]
1. Băng bì móng và nếp móng xa (hyponychium); 2. Bờ tự do phiến móng;
3. Phiến móng bao trùm lên giường móng; 4. Liềm móng; 5. Tiểu bì (cuticle);
6. Nếp móng gần bao trùm lên mầm móng gần; 7. Nếp móng bên.
149
Thẩm mỹ nội khoa
Thượng bì
Thượng bì
Nếp móng sau
Tiểu bì
Sợi colagen dọc
Mầm móng
Bờ xa của liềm móng
Giường móng
Nếp dưới móng
Xương
Liềm móng
Nếp móng bên
Phiến móng
Hình 2. Hình móng cắt dọc [2]
3. CHĂM SÓC MÓNG
3.1. Bảo dưỡng móng
- Giữ móng sạch sẽ: Ngâm chân và tay
trong nước xà phòng ấm, rồi cọ xát nhẹ
nhàng móng với một bàn chải mềm.
Điều này giúp ngăn ngừa nhiễm trùng.
- Bảo vệ móng tay: Đeo găng tay khi:
+ Thực hiện các hoạt động có thể làm
hỏng móng tay, chẳng hạn như làm
vườn.
+ Đeo găng tay cao su lót bông khi xử lý
hóa chất mạnh hoặc xà phòng trong
thời gian dài. Xà phòng và hóa chất
có thể làm suy yếu móng tay, làm cho
chúng dễ bị vỡ. Cắt tỉa móng (người
lớn): Để làm mềm móng chân dày,
ngâm móng chân trong nước muối
ấm (một muỗng cà phê muối thêm
vào một nửa lít nước) trong 5 - 10
phút trước khi cắt tỉa. Trước khi cắt
tỉa móng tay nên bôi kem urê 10%
vào móng. Kem dưỡng ẩm ngăn ngừa
móng tay vỡ hoặc nứt khi cắt tỉa và
giúp dễ cắt móng tay cứng hoặc dày.
Móng nên được cắt theo một đường
thẳng, chỉ làm tròn nhẹ ở mũi.
150
Chương 2
Chăm sóc da
Hầu hết các chuyên gia khuyên bạn
không nên cắt giảm hoặc đẩy lùi các lớp
tiểu bì, vì nó có thể làm hỏng móng và làm
tăng nguy cơ nhiễm trùng. Khi cắt tỉa xong,
móng bị răng cưa nên làm đều móng với
thanh mài móng hoặc bảng đá nhám. Nên
cắt bớt da xước gần móng tay hoặc móng
chân.
- Cắt tỉa móng (trẻ sơ sinh): Nên cắt
móng tay và móng chân cho trẻ sơ sinh
vì chúng có hệ thống miễn dịch yếu hơn
so với người lớn và dễ bị bệnh nhiễm
trùng. Ngoài ra, nếu móng quá dài, bé
có thể làm xước mình. Móng của bé
thường mềm. Cắt đầu móng tròn cho an
toàn. Sử dụng một tay để giữ ngón tay
hoặc ngón chân của em bé và nhấn da
dưới móng xuống và ra khỏi con đường
làm giảm khả năng cắt da. Sau đó, sử
dụng tay khác để cắt móng và làm tròn
các cạnh sắc nét. Đối với móng tay, cắt
theo hình dạng tự nhiên của móng tay.
Móng chân thường được cắt thẳng qua.
Khi tất cả các móng tay được cắt tỉa,
dùng bảng đá nhám mềm để làm tròn
cạnh thổ.
- Dưỡng ẩm cho móng: Móng tay khỏe
mạnh đòi hỏi độ ẩm. Khi dùng kem
dưỡng da vào tay, hãy chắc chắn để
chà một số lên móng tay. Nên bôi kem
dưỡng ẩm sau khi rửa tay bằng xà phòng
và sau khi tắm.
- Sơn sửa móng tay và móng chân:
+ Làm móng tay, móng chân chuẩn
thường bao gồm mài đầu móng, tạo
dáng móng và sơn móng. Một số thợ
móng tay và móng chân loại bỏ hoặc
đẩy lùi các lớp biểu bì của móng. Hầu
hết các chuyên gia khuyên bạn không
nên cắt giảm hoặc đẩy lùi lớp tiểu bì,
vì nó có thể làm hỏng móng và làm
tăng nguy cơ nhiễm trùng.
+ Móng chân được rửa với nước ấm, xà
phòng, cọ chân và xoa bóp bàn chân
với các loại kem dưỡng ẩm.
Tuy nhiên, không nên sơn móng nếu bị
nhiễm trùng móng, có vết cắt hở, vết loét
trên những nếp móng hoặc lớp biểu bì.
Móng tay nhân tạo có thể làm tăng
nguy cơ nhiễm trùng. Trong một số trường
hợp, một khoảng cách phát triển giữa các
móng tay acrylic và móng tay tự nhiên.
Khoảng cách này tạo ra một môi trường
ẩm ướt, ấm áp giúp vi khuẩn và nấm phát
triển. Nếu bị nhiễm trùng, móng tay trở nên
dày và đổi màu. Tuy nhiên, những thay đổi
này không thấy vì nằm bên dưới móng tay
acrylic. Do đó, nếu móng tay hoặc ngón
tay sưng lên và đau, nên đến bác sĩ khám.
3.2. Những điều nên làm
- Giữ móng ngắn và sạch sẽ. Sử dụng
dụng cụ cắt móng tốt hay một kéo nhỏ
để cắt móng mỗi tuần hoặc hai tuần.
Nếu móng quá dài, chúng dễ gãy và
chứa vi khuẩn gây bệnh bên dưới. Cắt
móng tay theo hình dạng của đầu ngón
tay, cắt thẳng qua nhưng một chút tròn
ở hai bên để móng mạnh mẽ. Cắt móng
chân thẳng qua. Điều này sẽ giúp ngăn
ngừa móng chọc thịt. Một số người sử
dụng một dụng cụ dũa móng hoặc bảng
đá nhám để làm mịn các đầu móng tay.
Hãy chắc chắn rằng chúng mới và sắc.
Chà xát qua lại rất nhẹ nhàng dọc theo
phần cuối của móng tay để loại bỏ phần
cạnh thô.
- Lau khô tay sau khi rửa, hoặc khi chúng
ẩm ướt. Chà xát chất dưỡng ẩm trên
móng tay, đặc biệt là khi tay của bạn
cảm thấy khô. Ăn một chế độ ăn uống
cân bằng lành mạnh giữ cho móng tay
của bạn mạnh mẽ.
- Thay đổi với mỗi ngày. Khi dùng vòi
tắm công cộng và tại các hồ bơi, mang
dép tông để ngăn ngừa nhiễm nấm
móng chân
151
Thẩm mỹ nội khoa
3.3. Những điều không nên làm
Cắn móng tay hoặc bóc da xung quanh
móng. Nó có thể gây ra nhiễm trùng và gây
đau. Dùng móng tay nay hoặc chọc vào đồ
vật. Điều này có thể gây tổn thương móng.
Cắt hoặc đẩy lùi lớp tiều bì, mảnh nhỏ của
da nơi móng tay phát triển ra khỏi ngón
tay. Điều đó có thể dẫn đến nhiễm trùng.
Sử dụng tẩy móng tay đã sơn móng
nhiều hơn hai lần một tháng. Sử dụng
móng giả vì chúng có thể rất có hại cho
móng tay và không được khuyến khích.
4. KẾT LUẬN
Chăm sóc móng giúp móng khỏe, đẹp,
ngừa được nhiễm trùng và nấm móng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nicolopoulos J., G.J. Goodman, A.
Howard (2002). “Diseases of the genera-
tive nail apparatus”. Australas J Dermatol,
43(2), pp. 81-90; quiz 91-2.
2. Rook A., T. Burns (2010). “Disorders
of Nails”. Rook’s textbook of dermatology,
pp. 65.1-65.2.
152
Chương 2
Chăm sóc da
CHĂM SÓC DA SAU ĐIỀU TRỊ LASER
(POSTLASER SKIN CARE)
1. ĐẠI CƯƠNG
Hiện nay laser được sử dụng rất nhiều
trong y học nói chung cũng như trong da
liễu nói riêng. Một liệu trình trị liệu bằng
laser trong da liễu thì thường gồm có ba
bước: chuẩn bị trước điều trị, điều trị và
chăm sóc hướng dẫn sau điều trị. | Laser
được sử dụng trong da liễu để trị liệu rất
nhiều các vấn đề về da như: sạm da, bớt
sắc tố, sẹo lõm, sẹo xấu, thương tổn về
mạch máu... với những tình trạng da khác
nhau đòi hỏi các thiết bị laser có những
đặc tính chuyên biệt khác nhau như: bước
sóng, độ rộng xung, spot size, mức năng
lượng, khoảng cách xung...
Với những vấn đề về da khác nhau,
những thiết bị laser với những đặc tính
khác nhau sẽ đưa đến những tình trạng da
khác nhau sau điều trị. Vì vậy ngoài những
chăm sóc da chung cho da sau điều trị la-
ser cần có những chăm sóc riêng biệt cho
từng loại laser cụ thể để điều trị một tình
trạng da cụ thể.
2. NHỮNG CHĂM SÓC CHUNG SAU
ĐIỀU TRỊ LASER
Giảm sự kích ứng, sưng tấy, nóng rát
của vùng điều trị với laser bằng máy làm
lạnh, túi lạnh, nước khoáng...
Hình 1. Đắp mặt nạ
làm lạnh sau điều trị
laser.
Tránh làm chấn thương vùng được điều
trị laser trong 2 ngày đầu tiên, không cạo
râu ít nhất 24 giờ sau điều trị laser hoặc
cho đến khi vùng được điều trị laser không
còn hồng ban, xuất huyết điểm.
Sau khi điều trị với laser nên sử dụng
kem chống nắng có chỉ số SPF ít nhất là
30, nên tránh tiếp xúc với ánh sáng mặt
trời khi vùng điều trị còn hồng ban. Trong
vòng 24 giờ sau điều trị laser hay khi vùng
153
Thẩm mỹ nội khoa
được điều trị laser còn hồng bạn không
nên có những hoạt động gắng sức, tránh
xông hơi, tắm nước nóng.
Kháng sinh bối (trong xóa xăm, sau la-
ser điều trị mạch máu). Kháng sinh uống
(trong một số trường hợp được điều trị với
laser vi điểm bóc tách).
Tránh sử dụng những thuốc làm tăng
nhạy cảm với ánh sáng như:
- Kháng sinh:
+ Quinolon (ciprofloxacin, levofloxacin)
+ Cyclines (tetracyclin, doxycyclin, mi-
nocyclin)
+ Sulfonamides (sulfamethoxazole và
trimethoprim, sulfamethoxazole)
- Kháng histamin: diphenhydramine.
- Kháng sốt rét: quinine, chloroquine, hy-
droxychloroquine.
- Thuốc điều trị ung thư: 5-fluorouracil,
vinblastine, dacarbazine.
- Thuốc điều trị tim mạch: amiodarone,
nifedipine, quinidine, diltiazem. - Thuốc
lợi tiểu: furosemide, hydrochlorothia-
zide.
- Thuốc điều trị tiểu đường: sulfony-
lureas (chlorpropamide, glyburide).
- Thuốc giảm đau NSAID: naproxen,
piroxicam.
- Thuốc điều trị tâm thần: phenothi-
azines: chlorpromazine. thuốc trầm
cảm ba vòng: desipramine, imipramine.
3. CHĂM SÓC SAU ĐIỀU TRỊ MỘT
SỐ LOẠI LASER
3.1. Sau điều trị với Pulse dye laser
(PDL) và Nd:YAG
Ngay sau khi được điều trị với PDL hay
Nd:YAG, bệnh nhân thường có cảm giác
bỏng rát, cảm giác này sẽ nhanh chóng
biến mất sau đó mà không cần có bất cứ
can thiệp gì.
| Phù nề vùng điều trị có thể xảy ra
sau khi được điều trị với PDL hay Nd:YAG,
nhưng tình trạng này sẽ tự động biến mất
trong vòng 24 giờ.
Ban xuất huyết thường hay ra sau khi
được điều trị với PDL hay Nd:YAG, những
bạn xuất huyết này thường tự mất trong
vòng 10 ngày.
Rộp bóng nước vùng điều trị là tác
dụng phụ thường gặp sau khi được điều
trị với PDL hay Nd:YAG. Tránh làm vỡ bóng
nước và bôi giữ ẩm cho đến khi tổn thương
lành và điều chỉnh lại thông số điều trị cho
lần tiếp theo.
Sau khi được điều trị với PDL hay
Nd:YAG có thể xảy ra tình trạng tăng sắc
tố vùng điều trị • ngưng tiến trình điều trị
cho đến khi tình trạng này biến mất.
Nên vệ sinh vùng điều trị với những
chất rửa nhẹ nhàng. 3.2. Sau điều trị với
laser vi điểm bóc tách
| Chăm sóc da sau điều trị với laser vi
điểm bóc tách thì cực kì quan trọng vì khi
được điều trị với laser, vi điểm bóc tách bề
mặt lớp thượng bì bị tổn thương làm cho
vùng điều trị dễ bị nhiễm trùng và tạo sẹo.
Ngoài ra, khi được điều trị với laser vi điểm
bóc tách da vùng điều trị thường nóng, rát,
đau, chảy máu, phù nề, rỉ dịch.
Dùng mask lạnh đắp lên vùng điều trị
ngay sau khi kết thúc quá trình điều trị.
Trong tuần đầu sau điều trị, dùng kháng
sinh, giảm đau, dịch rửa êm dịu và tránh
nắng trực tiếp.
154
Chương 2
Chăm sóc da
4. KẾT LUẬN
Chăm sóc da sau laser đúng cách
vừa giúp đạt được hiệu quả điều trị cho
khách hàng vừa giúp giảm bớt những cảm
giác khó chịu do laser gây ra sau điều trị,
đồng thời giúp hạn chế những biến chứng,
những tác dụng phụ do laser gây nên.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Goldberg D.J.(2005). Laser Derma-
tology.
2. Arielle N.B. Kauvar (2005). Principle
and Practices in Cutaneous Laser Surgery.
3. Raulin C. (2011). Laser and IPL Tech-
nology in Dermatology and Aesthetic Med-
icine.
155
Thẩm mỹ nội khoa
THẨM MỸ MÔI
(LIP COSMETICS)
1. ĐẠI CƯƠNG
Nằm ở vị trí trung tâm của khuôn mặt,
đôi môi không chỉ đem đến vẻ đẹp hình
thể mà còn là biểu hiện gợi cảm của giới
tính. Một đôi môi đầy đặn, đường nét rõ
ràng, màu sắc tươi nhuận và hài hòa với
khuôn mặt là biểu hiện của tuổi trẻ, sức
khỏe và cả sự hấp dẫn của phái nữ.
2. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA MÔI
2.1. Đặc điểm giải phẫu học
Bờ môi, một vùng chuyển tiếp đặc biệt
từ cấu trúc da đến màng niêm mạc, chỉ duy
nhất được thấy ở loài người. Bờ môi không
có lông, không có tuyến nước bọt nhưng
có nhiều tuyến bã (dễ tạo sẩn Fordyce).
Thượng bì của bờ môi có cấu trúc đặc
biệt: rất dày lớp sáng và rất mỏng lớp sừng,
vì thế môi rất dễ tổn thương, dễ bị mất
nước và khô. Nhú bì giàu mao mạch, làm
cho môi có màu đỏ tươi nhất là ở người da
trắng. Tế bào hắc tố ở lớp đáy rất nhiều ở
chủng tộc da màu, nhưng rất ít với người
da trắng. Cung Cupid là đường cong ngay
phần chính giữa của bờ môi trên, tạo nên
sự duyên dáng của giới tính.
Dưới lớp thượng bì của bờ môi là cơ
vòng miệng, gồm có hai phần phần nông
và phần sầu. Phần sâu gồm có phần ngoại
vi và phần bờ. Đây chính là vị trí quan trọng
trong kỹ thuật nâng môi: chất làm đầy
được tiêm vào đây.
2.2. Cấu trúc không gian của môi
Định nghĩa về cấu trúc không gian của
mối ban đầu thu hút sự chú ý của pháp y
vì mỗi cá nhân có một cách sắp xếp khác
nhau, khá giống với những dấu vân tay.
Ngành nghiên cứu về vấn môi được gọi là
chailoscopy. Quá trình phát triển của các
loại son không phai đã tạo điều kiện cho
pháp y phát triển các phương pháp giúp
tìm thấy những dấu vết ngâm trong các
vụ án. Dấu vân môi có thể được phân loại
theo nhiều cách và mật độ phân bố của
chúng trong các cộng đồng đã được xác
định.
2.3. Độ nhạy cảm của mỗi đối với
môi trường
Thượng bì của môi có lớp sừng rất
mỏng và ít melanin, nên chúng rất dễ bị
tổn thương bởi các yếu tố hóa học, vật
lý hay vi khuẩn. Tiếp xúc kéo dài với ánh
nắng mặt trời, nhất là đối với những người
da sáng màu, có thể dẫn đến sự xuất hiện
của bệnh viêm môi ánh sáng, hay thậm
chí ung thư biểu mô tế bào sợi. Hút thuốc
lá cũng đã được chứng minh là một trong
những nguy cơ lớn gây ung thư môi.
3. SỰ LÃO HÓA CỦA MÔI
Cũng như da, môi cũng bị tác động bởi
tiến trình lão hoá. Các sợi collagen thoái
biến, thượng bì mỏng đi cùng với sự thay
đổi trong cấu trúc xương hàm và răng làm
thay đổi hình dạng của môi.
156
Chương 2
Chăm sóc da
Theo thời gian, môi rủ xuốngn ở phần
mép môi: từ một đường cong lõm ở trẻ
sơ vsinh và trẻ em đến một đường thẳng
ngang ở người lớn và sau đó trở thành
một đường cong ngược lại đối với người
cao tuổi. Đôi môi, nhất là môi dưới, co dần
lại theo tuổi. Môi trên thấp dần đi và mở
rộng hơn. Viền môi thì rộng hơn, dài hơn
và dày lên ở khóe miệng. Các nếp nhăn
hình thành ở vùng da xung quanh môi, độ
sâu và cách sắp xếp của nó khác nhau rõ
rệt ở mỗi người và một số người trẻ cũng
có những đường rãnh rất sâu. Mạng lưới vị
mô bề mặt (cả nhú bì và niêm mạc) có thể
nhỏ đi và thưa hơn.
4. VIÊM MÔI VÀ KHÔ NỨT MÔI
Viêm môi là một biểu hiện lâm sàng
thường gặp do nhiều nguyên nhân. Môi bị
khô, nứt nhẹ, các đường rãnh trên bờ môi
rõ nét, có thể bong ít vảy. Viền môi không
còn rõ nét, trong trường hợp nặng có thể bị
tiết dịch. Các tế bào sừng của môi khô nứt
thì được ép phẳng xuống, tăng diện tích bề
mặt. Điều này cho thấy rằng, quá trình thay
thế của những tế bào sừng thì chậm hơn
ở môi bị khô nứt. Mức độ khó để có thể
nhìn thấy cũng có tương quan với độ giảm
cathepsin D, một trong những enzyme có
tham gia vào quá trình bong vảy. Môi trên
có vẻ ít bị khô hơn so với môi dưới. Sự khô
nứt tăng theo tuổi tác.
Khô môi có thể do môi trường lạnh
hoặc khô, tác động lặp đi lặp lại gây ra cho
môi. Nó thường gặp ở những vùng cao, khí
hậu lạnh, độ ẩm thấp, gió nhiều dễ gây mất
nước qua thượng bì. Nó cũng có có thể xảy
ra đối với những người sử dụng vitamin A
theo đường uống, hoặc do thiếu vitamin
B12 (riboflavin), B6 (Pyridoxine), nicotinic
acid folic acid hoặc sắt. Liếm môi thường
xuyên cũng là thói quen không tốt (hay
gặp ở trẻ em) dễ dẫn đến khô môi và có
thể bị viêm môi (lip licker’s dermatitis).
Môi cũng dễ bị viêm do dị ứng với những
tác nhân sau: nickel, balsam of peru,
neomycin, formaldehyde, cocamidopro-
pyl betaine, cobalt dichloride, propylene
glycol, bacitracin, pronopol và rượu.
Khiếm khuyết sắc tố, nhất là tàn nhang,
vết thâm và bạch biển cũng có thể xảy ra.
Một số dân tộc, ví dụ như người Thái Lan,
có môi dễ bị thâm đen do sự tích tụ mel-
anin trong lớp nền biểu bì, trong khi số
tế bào hắc tố không hề tăng lên. Chứng
bệnh này có thể là bẩm sinh, do hút thuốc
hoặc do dị ứng với một chất nào đó có ở
địa phương. Tàn nhang ở môi cũng là một
bệnh nghề nghiệp hay gặp ở những người
da sáng màu và làm việc thường xuyên
ngoài biển. Hút thuốc cũng có thể làm
tăng lượng sắc tố ở niêm mạc miệng của
những người da sẫm màu hơn (người châu
Phi, châu Á, Ấn Độ).
5. CHĂM SÓC THẨM MỸ MÔI
Một đôi môi đẹp cần hội đủ nhiều yếu
tố: đầy đặn, đường nét rõ ràng và cân xứng
với khuôn mặt, không khô ráp và màu sắc
tươi nhuận. Như vậy, chăm sóc thẩm mỹ
môi cần phối hợp nhiều biện pháp. 5.1. Giữ
ẩm
Do lớp sừng mỏng nên môi dễ bị mất
nước và trở nên khô. Thoa kem dưỡng ẩm
là cần thiết để khắc phục vấn đề này. Sản
phẩm có thể dùng riêng hoặc phối hợp
trong các thành phần của son môi.
Trookiman chứng minh các sản phẩm
chăm sóc môi có chứa hyaluronic acid
phức hợp ba peptide gồm palmitoyl-gly-
cylhistidyl-lysine (Pal-GHK), niacin và một
loại acid béo có thể cải thiện độ dày của
môi, gia tăng thể tích môi và làm môi mượt
hơn.
157
Thẩm mỹ nội khoa
5.2. Làm đầy
Có nhiều loại chất làm đầy. Chất làm
đầy có thể được thực hiện riêng, nhưng
sẽ hiệu quả hơn nếu phối hợp với các biện
pháp khác như Botulinum toxin A... Đối với
khách hàng trẻ tuổi tiêm các chất làm đầy
để làm tái tạo đường nét thẩm mỹ môi, che
lấp khuyết điểm. Đối với khách hàng lớn
tuổi thì thường cần làm tăng thể tích môi,
làm rõ nét đường viền môi và làm giảm
nếp nhăn trên môi và quanh môi.
Người châu Á thường có bờ môi đầy
đặn (so với châu u), môi trên dày hơn môi
dưới. Nhu cầu của khách hàng thường là
cần làm rõ nét viền môi hơn là làm dày
môi và hài hòa chung với khuôn mặt. Tại
châu Á, tỉ lệ độ dày môi giữa môi trên/môi
dưới là 1:1,618 được xem là dễ chấp nhận.
Mỗi phụ nữ thường dày hơn nam giới và
thường cong ra phía trước nhiều hơn. Nếu
tiêm quá nhiều chất làm đầy cho khách
hàng nam sẽ gây hiệu ứng xấu, thậm chí
gây nữ hóa bộ phận này.
Thủ thuật làm đầy môi bao gồm sự tái
tạo dáng và/hoặc làm đầy đặn bờ môi.
Lưu ý tạo hình dáng của cung Cupid cho
mỹ thuật và tỉ lệ của bờ môi và vùng da
nằm dưới mũi phải cân xứng. Điều quan
trọng là phải đánh giá chiều cao của môi
và răng cửa để không ảnh hưởng đến khả
năng nhai của khách hàng có nhiều kỹ
thuật tiên khác nhau. Kỹ thuật depot: nâng
một điểm ở mỗ sâu, kỹ thuật đường hầm:
tiêm thuốc thành đường nằm ngang trong
mộ, kỹ thuật đóng dấu: tiêm một điểm ở
mô sâu, vừa nâng kim vừa tiệm tạo thành
cột đứng dọc trong mô. Dùng cannula để
giúp đưa thuốc vào mô.
Mục đích của kỹ thuật cannula nhằm
hạn chế tổn thương, sử dụng ít thuốc nhất
với kết quả tự nhiên. Sự áp dụng kỹ thuật
cannula đã làm giảm thời gian dưỡng
thương, giảm đau và dễ dàng hơn cho
phẫu thuật viên khi đưa thuốc vào trong
môi.
Hình 1. Sơ đồ hình ảnh siêu âm
(A) Sơ đồ hình ảnh siêu âm tĩnh môi. (B) Hình ảnh siêu âm cắt ngang của môi dưới tuyến
nước bọt được mô tả như những vùng mật độ dày, ở mô dưới da của môi.
S: sagittal (dọc); T: transverse (ngang).
158
Chương 2
Chăm sóc da
Hình 2. Hình ảnh siêu âm trước và sau khi tiêm chất làm đầy Siêu âm đường giữa, dọc
môi trên trước (A) và sau tiêm (B). Cơ vòng môi 1) phần nông và phần sâu; phần sâu chia
thành 2 phần ngoại vi 3) phần bờ. Dấu hoa thị cho thấy lắng đọng hyaluronic acid. Các
tuyến nước bọt được miêu tả giữa lớp cơ và da.
Tiêm thuốc vào môi khá đau, đôi khi
yêu cầu phải gây tê vùng. Phong bế dây
thần kinh hốc mắt dưới (infraorbital nerve)
cho thủ thuật môi trên, dây thần kinh cằm
(mentalis nerve) cho môi dưới. Các biện
pháp khác gây tê khác gồm có gây tê bề
mặt với lidocainecream kết hợp chườm
lạnh. Một số sản phẩm chất làm đầy hiện
nay có pha thêm lidocain có thể tiêm trực
tiếp vào môi, không cần gây tê trước.
Trong một nghiên cứu của Wolfgang G, chỉ
có 35,5% khách hàng tham gia nghiên cứu
là cần gây tê thêm bằng các phương pháp
khác như thoa EMLA, hoặc tiêm thêm
lidocain tại chỗ
Tai biến thường gặp sau tiêm chất làm
đầy ở môi là tạo những khối u nhỏ, mất
cân đối bờ môi. Những biến chứng khác
bao gồm: nhiễm trùng, biofilm, tái hoạt
herpes, u hạt trong môi, tăng/giảm nhạy
cảm của mỗi do tổn thương các nhánh
thần kinh, tăng giảm sắc tố, sưng môi,
tụ máu và thậm chí tắc mạch. Các biến
chứng do tiêm hyaluronic acid có thể được
điều trị bằng tiêm Hyaluronidase tại chỗ.
Ngoài mục tiêu phục vụ thẩm mỹ, tiêm
chất làm đầy cũng còn nhằm mục đích
điều trị cho bệnh nhân bị mất cân xứng
vùng mặt sau chấn thương, liệt mặt hoặc
sau phẫu thuật ung thư.
5.3. Xăm môi
Kỹ thuật này chưa được FDA chấp
nhận. Xăm môi là kỹ thuật dùng kim đưa
chất màu vào trong da, nhằm vẽ lại viền
môi, tạo hình dáng mới cho môi, thậm chí
đem lại màu sắc khác cho môi. Chất màu
này, (mực), tồn tại vĩnh viễn trong môi. Kỹ
thuật này có rất nhiều biến chứng nguy
hiểm như: nhiễm trùng, tạo các u hạt do
lắng đọng mực trong môi, dị ứng, sưng và
bỏng môi, phát ban, tạo sẹo... FDA đã có
khuyến cáo cho người có nhu cầu làm đẹp
về những nguy cơ này khi xăm môi.
5.4. Son môi
Ngày nay, phụ nữ dùng son môi để làm
nổi bật cá tính, sức hút và nhấn mạnh ở nụ
cười của họ. Đây không hề là một việc làm
sáo rỗng, nó thể hiện quan điểm về bản
thân của người phụ nữ và nói lên những gì
mỗi người muốn thể hiện trong xã hội.
Loại son môi dùng ngày nay là một sản
phẩm trang điểm có thành phần là các loại
bột khô chứa màu được hòa tan với các
chất tạo màu khác, nhằm làm nổi bật sắc
môi.
159
Thẩm mỹ nội khoa
Một công thức son môi kinh điển gồm
có:
- Sáp (khoảng 15%) ở thể rắn ở nhiệt độ
phòng. Nó tạo độ cứng và độ mịn khi sử
dụng
- Bột sáp ẩm (20%) giúp bôi trơn thỏi
son sau khi sử dụng
- Dầu (30%) để hòa tan các chất tạo màu
- Chất tạo bề mặt (khoảng 10%) để cải
thiện bề mặt son
- Chất tạo màu, thuốc nhuộm và/hoặc
pearls (20%) tạo màu cho son
- Chất bảo quản và chất chống oxy hóa
(1%) giúp ổn định công thức
- Mùi hương (1%)
- Thành phần hoạt tính bao gồm các
chất lọc tia UV để chống nắng, chống
lão hóa và kéo dài tác dụng. Các chất
như vitamin A, vitamin E (tocopherol),
và vitamin C cũng có mặt trong các sản
phẩm này.
Tùy thuộc vào nồng độ các chất trên
mà người ta có thể tạo ra nhiều loại son
khác nhau. Các loại son có khả năng giữ
ẩm cho môi gồm có: son dưỡng môi (Lip
balm), son kem (Crème lipstick). Các loại
không có chất dưỡng ẩm gồm có: son
bóng (Lip gloss) tạo độ bóng cho môi, son
lì (Matte lipstick) là son mờ, khi thoa lên
môi sẽ cho ra màu sắc đậm, son lâu trôi
(Long lasting lipstick). Khi dùng những
loại son này cần lót bằng kem dưỡng ẩm.
Ngoài ra, còn có các loại son khác như:
son nhũ (Pearly/frost lipstick) có chứa
các tinh thể mica hay silica tạo nên hiệu
ứng lấp lánh trên môi, son đổi màu (Sheer/
Stain lipstick)...
Lưu ý khi dùng son môi:
- Son môi có thể gây viêm da tiếp xúc
dị ứng. Những thành phần gây dị ứng
thường là: ricinoleic acid, benzoic acid,
lithol rubine BCA (Pigment Red 57-1),
micro crystalline wax, oxybenzone, pro-
pyl gallate, C18 aliphatic compounds và
dầu thầu dầu (castor oil).
- Kim loại nặng trong son môi: hàm
lượng kim loại trong sản phẩm môi là
một vấn đề quan tâm. Trong một nghiên
cứu tại Oakland, California, Sa Liu đã
phát hiện 24/32 sản phẩm son môi có
chứa nồng độ kim loại nặng cao gồm:
titan, nhôm, chì, Cr, Cd, Mn, Ni Cu. Nếu
thoa các loại son này với tần suất 3 lần/
ngày thì lượng hấp thu các kim loại này
vào cơ thể sẽ cao hơn ngưỡng cho phép
(acceptable daily | intakes - APIs). Tại
Việt Nam, cũng đã có báo cáo về trường
hợp ngộ độc chì do thoa son môi.
- Sử dụng son môi nhiều hơn 3 lần mỗi
ngày có thể gây nguy cơ mắc bệnh
Lupus ban đỏ hệ thống. Theo Jun Wang,
nguy cơ này sẽ càng gia tăng nêu lứa
tuổi bắt đầu sử dụng càng trẻ.
6. KẾT LUẬN
Môi có một vị trí rất quan trọng trên
khuôn mặt đem lại vẻ đẹp hình thể cho
từng cá nhân và đôi khi là biểu tượng gợi
cảm của giới tính. Chăm sóc thẩm mỹ môi
là một nhu cầu rất lớn đòi hỏi các nhà khoa
học phải tham gia nghiên cứu để bảo đảm
được sự an toàn, đem lại sự hoàn chỉnh
cho khách hàng. Bên cạnh đó, bản thân
khách hàng cũng cần phải là người tiêu
dùng thông minh để có thể tự bảo vệ cho
vẻ đẹp và sức khỏe của chính mình.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Rosen A., Shan S., Yi N (2017). “Al-
lergic contact cheilitis in children and im-
provement with patch testing”. AAD Case
Reports, pp.25-8
2. Luthra A. (2015). “Shaping Lips with
Fillers”. J Cutan Aesthet Surg, 8(3), pp.
139–142.
160
Chương 2
Chăm sóc da
3. Buhren B.A. (2016). “Hyaluronidase:
from clinical applications”. Eur J Med Res.
4. Catherine H et al. (2016). “Lips and
Lipsticks”. Cosmetic Dermatology Prod-
ucts and Procedures.
5. Singh G.K. (2017). “High Altitude
Dermatology”. Indian J Dermatol, 62(1),
pp. 59–65.
6. Julia V, Florian L. (2014). “Do you
know where your fillers go? An ultrastruc-
tural investigation of the lips”, Clinical
Cosmetic and Investigational Dermatolo-
gy, pp. 191–199.
7. Wang J, Ashley B.K. (2008). “Is lip-
stick associated with the development of
systemic lupus erythema tosus (SLE)?”.
Clin Rheumatol, 27(9), pp. 1183-1187.
8. Trookman N.S. (2009). “Clinical As-
sessment of a Combination Lip Treatment
to Restore Moisturiza tion and Fullness”.
The Journal of Clinical and Aesthetic Der-
matology, 21, pp. 5.
9. Tattoos and Permanent Makeup,
Cosmetics facts From the U.S. Food and
Drug
Administration,
gov/ForConsumers/ConsumerUpdates/
ucm316357.htm.
10. Woffles T. L. Wu (2016). “Consen-
sus on Current Injectable Treatment Strat-
egies in the Asian Face”. Aesth Plast Surg,
40, pp. 202–214.
11. Philipp-Dormston W.G. (2014). “A
prospective, open-label, multicenter, ob-
servational, postmarket study of the use
of a 15 mg/mL hyaluronic acid dermal fill-
er in the lips”. Journal of Cosmetic Derma
tology, 13, pp. 125-134.
161
Thẩm mỹ nội khoa
THẨM MỸ MẮT
(EYE COSMETICS)
1. ĐẠI CƯƠNG
Sắc đẹp của đôi mắt không chỉ đến từ
sự long lanh của nhãn cầu, mà còn được
tôn vinh bởi bờ mi cong, đôi mày sắc nét
và đặc biệt là làn da trong sáng xung
quanh. Những yếu tố tại khu vực này rất
mỏng manh và cần được chăm sóc đặc
biệt. Sự hiểu biết về giải phẫu, sinh lý và
nhất là các phương pháp làm đẹp cho các
tổ chức này sẽ giúp duy trì được vẻ đẹp,
tuổi trẻ và sức sống.
2. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA MẮT
2.1. Đặc điểm giải phẫu và sinh lý
da vùng quanh mắt
Da vùng dưới mí mắt là một trong
những phần mỏng nhất trong cơ thể, rất
ít mô mỡ, do đó các biểu hiện lão hóa da
rõ nét hơn so với phần còn lại của da mặt.
Sự lão hóa da do những thay đổi về cấu
trúc sinh lý và giải phẫu của cơ thể và tác
động của môi trường theo thời gian dẫn
đến mất độ đàn hồi của da, mỏng da, rối
loạn sắc tố, giãn mao mạch, giảm sự giữ
nước trong thượng bì...
2.2. Đặc điểm giải phẫu và sinh lý
lông mi
Lông mi là những sợi lông, mọc từ các
nang lông xung quanh mắt. Cũng như lông
và tóc ở các bộ phận khác, lông mi là một
hỗn hợp các tế bào chết đã được keratine
hóa, chất kết dính, các hạt sắc tố và một
lượng nước nhỏ. Keratin chiếm đến 95%
tổng thành phần của lông mi, giúp lông mi
không tan và không phản ứng với hóa chất.
Bề mặt bên ngoài được cấu thành từ một
lớp vảy trong suốt, xếp chồng lên nhau gọi
là tế bào biểu bì, bảo vệ cho các bộ phận
bên trong, gọi là vỏ lông mi (cortex). Lớp
vỏ này ảnh hưởng đến hình dạng của lông
mi, có đặc tính cơ học và màu sắc riêng,
khác nhau giữa các dân tộc.
Lông mi có chức năng cách nhiệt, bảo
vệ mắt khỏi bụi bẩn và truyền tín hiệu cho
mi mắt nhắm lại theo phản xạ khi có vật gì
đó cách mắt một khoảng quá gần. Lông
mi có một chu kì phát triển ngắn hơn và
chậm hơn tóc, thường rụng đi sau khoảng
3 tháng. Tại nang lông, trong chu kỳ an-
agen (phát triển) thường sẽ sản sinh ra
một sợi lông mi khoảng 0,12-0,14 mm/
ngày, là khoảng nửa mức phát triển của
tóc. Khoảng ba phần từ các nang lông mi
ở giai đoạn telogen (nghỉ ngơi).
Hướng mọc của lông mi phụ thuộc vào
vị trí của nang lông trong da. Độ cong của
lông mi bắt nguồn từ mặt phẳng cong,
“hình dấu phẩy” của lông, dài khoảng 2
mm. Lông mi được bố trí quanh mắt trong
một dải hẹp khoảng 1-2 mm, mọc thành
những hàng không thắng, khoảng từ 5-6
sợi ở mi trên và 3-4 sợi ở mi dưới. Lông
mi ở mi trên dài hơn (8-12 mm) và nhiều
hơn (90-200) ở mi trên, trong khi chỉ có
khoảng 75-80 sợi ở mi dưới, mỗi sợi chỉ dài
khoảng 6-8 mm. Ở cùng một người, độ dài
lông mi vẫn khác nhau rất nhiều và mặc
dù thời gian chu kỳ phát triển của lông mi
là như nhau, những sợi lông dài hơn vẫn
mọc nhanh hơn và tồn tại lâu hơn những
sợi lông ngắn.
2.3. Đặc điểm giải phẫu và sinh lý
lông mày
Lông mày là những dải lông ngắn mọc
từ dải da phía trên hốc mắt. Xuyên suốt
lịch sử, con người đã luôn chú tâm đến
162
Chương 2
Chăm sóc da
việc chải lông mày như một cách định
hình khuôn mặt. Xu hướng về độ dày và
hình dạng lông mày đáng mơ ước trong
văn hóa phương Tây đã thay đổi dần
trong thế kỷ XX, từ những cặp lông mày
mỏng, được cắt tỉa của những năm 1920
- 1930 trở thành lông mày tự nhiên không
cần chải chuốt trong những năm 1980.
Xu hướng ngày nay hướng đến lông mày
dày hơn nhưng tạo hình phù hợp với từng
khuôn mặt.
3. ĐIỀU TRỊ THẨM MỸ MẮT
3.1. Chăm sóc da vùng quanh mắt
Mí mắt là vùng da mỏng nhất trong cơ
thể, đôi khi chỉ dày 0,2 mm. Bức xạ UV là
nguyên nhân quan trọng gây ra sạm da,
thay đổi độ mịn của da và tạo ra những
nếp nhăn. Các yếu tố khác dẫn đến lão hóa
da bao gồm yếu tố di truyền, hút thuốc và
cọ xát mạn tính do dị ứng theo mùa, chất
kích thích, hoặc viêm da tiếp xúc.
Các phương pháp chăm sóc da vùng
quanh mắt bao gồm kem chống nắng, kem
thoa tại chỗ chống oxy hóa, retinoid, chất
làm làm đầy và tăng tổng hợp collagen.
3.1.1. Kem chống nắng
Là liệu pháp được sử dụng đầu tiên và
xuyên suốt trong tiến trình chăm sóc da
vùng quanh mắt.
3.1.2. Chất chống oxy hóa tại chỗ
Có khả năng diệt các gốc tự do, chứa
các phân tử hoạt tính và rất không ổn định.
Các gốc tự do có khả năng gây tổn hại
màng tế bào, DNA và các cấu trúc protein
của tế bào. Các gốc tự do cũng có thể dẫn
đến phản ứng viêm, làm tăng quá trình
lão hóa. Các gốc tự do có thể được tạo ra
từ quá trình chuyển hóa của tế bào bình
thường hoặc có thể được kích hoạt bởi các
yếu tố bên ngoài, bao gồm tia UV và hút
thuốc lá.
3.1.3. Vitamin C thoa tại chỗ
Đã được chứng minh giảm hồng ban
do tia UV gây ra, giảm bỏng nắng và giảm
xuất hiện của các nếp nhăn. Vitamin C
đóng một vai trò quan trọng trong kích
thích sản xuất collagen.
3.1.4. Vitamin E
Làm giảm số lượng tế bào bị bỏng
nắng, giảm tổn thương da do UVB gây ra
và có thể ức chế sự hình thành khối u do
tia cực tím. Alpha-tocopherol, chất chống
oxy hóa liên kết màng tế bào, bảo vệ màng
tế bào khỏi bị tổn thương Vitamin E đã
được chứng minh có khả năng ức chế men
metalloelastase đại thực bào của người,
qua đó làm giảm sự thoái hóa sợi elastin.
3.1.5. Trà xanh
Chất chống oxy hóa trà xanh chiết xuất
từ lá và chồi của cây Camellia sinensis
bao gồm epicatechin, epicatechin-3-gal-
late, epigallocatechin. Các nghiên cứu đã
chỉ ra rằng thoa trà xanh tại chỗ có thể ức
chế khả năng sinh ung thư do UV.
3.1.6. Vitamin B3
Niacinamide được thoa tại chỗ, không
chỉ có đặc tính chống oxy hóa và kháng
viêm, mà còn có thể cải thiện sạm da bằng
cách giảm chuyển melanosomes tới các
tế bào sừng. Hiệu quả của niacinamide
được thoa tại chỗ bao gồm cải thiện cấu
trúc da và độ căng của da và giảm tăng
sắc tố. Tác dụng phụ của các chất chống
oxy hóa tại chỗ gồm viêm da tiếp xúc dị
ứng hoặc kích ứng.
3.1.7. Retinoid
Chỉ tretinoin và tazaroten là được FDA
chấp thuận để điều trị các dạng tổn thương
da do ánh sáng. Các retinoid có tác dụng
cải thiện nếp nhăn bằng cách gia tăng
tổng hợp collagen. Retinoid cũng cải thiện
chứng rối loạn sắc tố do ức chế hoạt tính
men tyrosinase, dẫn đến giảm tổng hợp
melanin, giảm chuyển melanosome, tăng
163
Thẩm mỹ nội khoa
sự phát tán keratinocyte. Ngoài ra, retinoid
góp phần làm mượt cấu trúc da.
Tác dụng phụ của retinoid: thường gặp
nhất là da bị kích ứng, đặc trưng bởi mẩn
đỏ, khô và tróc da. Điều này có thể được
giảm thiểu bằng cách chọn loại thích hợp
retinoid cho da của bệnh nhân, dùng kèm
các sản phẩm mềm da, dưỡng ẩm.
3.1.8. Các chất peptide
Các chất kích thích collagen điển hình
bao gồm các hợp chất peptide và các yếu
tố tăng trưởng. Các yếu tố tăng trưởng là
các peptide trọng lượng phân tử cao, có
khả năng điều hòa các hoạt động tế bào
chuyên biệt, bao gồm sửa chữa và tăng
trưởng mô, các tín hiệu gian bào.
Các chất sau có vai trò trong việc làm
trẻ hóa da.
- TGF
- Yếu tố tăng trưởng thượng bì
- Yếu tố tăng trưởng chiết xuất từ tiểu
cầu
- Yếu tố tăng trưởng giống insulin
- Yếu tố tăng trưởng fibroblast
- Yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu
(VEGF).
Một biến chứng liên quan đến việc
sử dụng các yếu tố tăng trưởng của con
người là sự phát triển của ung thư da hoặc
sự tiến triển của tiền ung thư.
3.2. Quầng thâm quanh mắt
Mức độ mệt mỏi của một người và sự
lão hóa thường được thể hiện rõ ở vùng da
quanh ổ mắt.
3.2.1. Nguyên nhân
Có ba nhóm nguyên nhân.
- Cấu trúc dây chằng mặt, cấu trúc
xương: Các dây chằng trên khuôn mặt
và cấu trúc xương là khuôn khổ để nâng
đỡ mô mềm trên mặt và ảnh hưởng đến
diện mạo tổng thể của khuôn mặt. Sự
lão hóa làm giảm lượng mỡ dưới da,
giảm thể tích xương và dây chằng trở
nên lỏng lẻo, cơ chùng xuống gây hiện
độ bóng râm quanh mắt.
- Cấu trúc mô mềm giữa khuôn mặt: Da
mí mắt mỏng và trong suốt, ít mô mỡ nên
không che kín phần mô mềm bên dưới,
bao gồm mạng lưới mạch máu dưới da
dày đặc và cơ vòng mắt. Điều này dẫn
đến sự phản xạ ánh sáng không đều của
các cấu trúc da khác nhau tạo nên bóng
râm và quầng thâm dưới mắt. Dịch mí
mắt dưới có thể tích tụ trong vùng mô
mềm dưới da vùng này góp phần tạo
sắc tố thâm. Sự phóng thích các sản
phẩm thoái hóa của hemoglobin như
heimosiderin và biliverdin góp phần làm
tăng sắc tố tại chỗ. Một loạt các quá
trình bệnh lý và tuổi tác liên quan đến
quá trình tăng tính thẩm thấu của các
mạch máu tại chỗ cũng dẫn đến những
thay đổi sắc tố. Mí mắt phù nề biểu hiện
tích tụ chất lỏng thường nặng hơn sau
bữa ăn mặn hoặc vào buổi sáng.
- Cấu trúc da: Sự lão hóa da gây nên
các tình trạng mất độ đàn hồi, do mất
collagen và/hoặc elastin, mỏng da, rối
loạn sắc tố, giãn mao mạch, giảm tiết
chất bã trên bề mặt da dẫn đến khô da,
tác dụng của UV làm thay đổi cấu trúc
thượng bì. Các nguyên nhân khác gồm:
mất ngủ, tâm trạng buồn rầu (làm các
cơ chùng xuống), các bệnh lý gây tăng
sắc tố như sạm da, các bệnh lý gây viêm
cũng góp phần làm tăng sắc tố quanh
mắt thường được thấy ở những người bị
dị ứng hoặc dị ứng với không khí, thói
quen chà xát da xung quanh mắt và
cũng có thể là đặc tính của một gia đình.
- Watanabe và cs, đã nhận thấy rằng có
sự biến động hàng ngày trong sự xuất
hiện biểu hiện nhiễm sắc tố da trên mô
học của lớp da vùng quanh mắt. Các
tác giả suy đoán rằng phù nề và dày
lên của lớp hạ bì ảnh hưởng đến tăng
164
Chương 2
Chăm sóc da
cường phản xạ ánh sáng khuếch tán
từ các vùng màu sắc, kết quả là tăng
quầng thâm quanh mắt khác nhau giữa
các thời điểm trong ngày.
Hình 1. a) Quầng thâm quanh mắt do cơ vòng mắt nhô cao; b) Quầng thâm quanh mắt
do lông mày cao tạo bóng râm và cơ vòng mắt nhô cao; c) quầng thâm do lắng đọng
hemosiderin; d) quầng thâm do lắng đọng sắc tố.
3.2.2. Điều trị
Bước đầu tiên trong việc quản lý các
quầng thâm dưới da là xác định nguyên
nhân của các yếu tố sinh bệnh. Một loạt
các biện pháp can thiệp bao gồm các lựa
chọn không xâm lấn như che giấu và trang
điểm, các phương pháp điều trị xâm lấn
tối thiểu như bổ sung chất làm đầy và tái
tạo bề mặt da, cũng như các phương pháp
điều trị xâm lấn sâu hơn như can thiệp
phẫu thuật.
- Trang điểm: che phủ bằng kem lót và
phấn nền là lựa chọn ít xâm lấn nhất để
điều trị các quầng thâm.
- Retinoids: là dẫn xuất vitamin A có tác
dụng giảm sự xuất hiện của quầng thâm
ở vùng dưới ổ mắt. Thứ nhất, chúng
thúc đẩy sự tổng hợp collagen và thúc
đẩy việc tái tổ chức các bó collagen để
cải thiện làn da và chất lượng da. Chúng
cũng làm giảm hàm lượng melanin
và làm giảm kích thước của phức hợp
Golgi melanocyte và lưới nội thất. Tổng
hợp các hiệu ứng này làm tăng độ mịn
màng của da và giảm sự đổi màu và rối
loạn sắc tố.
- Hydroquinone nồng độ thấp: như
hydroquinone 2-6% thường đủ để đạt
được giảm sắc tố.
- Kojic acid: cũng có tác dụng ngăn chặn
con đường tyrosinase.
- Peptide: là một thành phần phổ biến
của vũ khí chống lại quầng thâm. Hiện
nay, có hơn 25 công thức peptide khác
biệt được sử dụng trong các hợp chất
được thiết kế để cải thiện chất lượng da.
Nói chung, các phân tử này hoạt động
trong ma trận ngoại bào (ECM) trong
da để thúc đẩy sự hình thành collagen.
Các peptide thần kinh được phân loại
165
Thẩm mỹ nội khoa
thành các peptide tín hiệu, các peptide
enzyme ức chế và các peptide của chất
mang. Các peptide tín hiệu như palmitoyl
pentapeptide-4 kích thích ECM điều
chỉnh hoạt động của nguyên bào sợi để
tăng lượng collagen và fibronectin loại I
và III. Các peptide tín hiệu cũng tăng đàn
hồi, proteoglycan, glycosaminoglycan
và fibronectin - các khối xây dựng của
da mạnh.
- Điều trị không xâm lấn: Gồm IPL lý
tưởng cho bệnh nhân có Fitzpatrick
loại I-III; Tần số vô tuyến, các thiết bị RF
(Radiofrequency) laser chuyển mạch Q,
laser nhuộm xung...
- Điều trị xâm lấn tối thiểu:
+ Lột da bằng hóa chất: thường kết hợp
với các can thiệp khác hoặc được sử
dụng một mình trong điều trị quầng
thâm. Phương thức này có hiệu quả
trong việc điều trị các quầng thâm do
hiện diện các sắc tố bất thường trên
da và các nếp nhăn. Collagen da được
cải thiện sau khi lột da. Các loại acid
tricloroacetic (TCA) có nhiều nồng độ
khác nhau và có thể được sử dụng để
đạt được các biện pháp điều trị sâu
hơn với nồng độ tăng dần lên.
+ Chất làm đầy acid hyaluronic: acid
hyaluronic đã trở thành phương
pháp điều trị được lựa chọn trong
nhiều trường hợp để giải quyết các
đường viền dưới mắt bất thường có
thể dẫn đến quầng thâm. Sự dễ sử
dụng và khả năng đảo ngược với
hyaluronidase tạo ra một phương
thức điều trị hiệu quả để giải quyết
tình trạng thiếu hụt thể tích trong
vùng quanh ổ mắt có thể dẫn đến
bóng mờ trong vùng mắt dưới mắt.
Goldberg miêu tả ba vùng quanh
mắt có thể bổ sung chất làm đầy:
vùng rộng quanh hốc mắt (orbital rim
hollow), vùng rộng gò má (zygomatic
hollow) và vùng rỗng ngã ba vách
ngăn (septal confluence). Những
vùng giải phẫu này tương ứng với sự
gắn bó mật thiết giữa da và các mô
sâu hơn và xương được tạo ra bởi dây
chằng mắt-gò má (orbitozygomatic).
Tiểm trực tiếp chất làm đầy vào các
cấu trúc này có thể giúp mở rộng các
dây chằng, làm mờ các đường viền
trong vùng quanh hốc mắt. Sự cải
thiện quầng thâm có thể đạt được
bằng cách sử dụng đơn độc chất làm
đầy.
3.3. Bọng mỡ dưới mắt (Puffiness)
Bọng mỡ dưới mắt do nhiều nguyên
nhân khác nhau. Trong một phân tích của
114 đối tượng (67 nam giới và 47 phụ nữ,
tuổi trung bình 52 tuổi, độ tuổi từ 23-76),
Goldman và các cs. kết luận các nguyên
nhân sau:
- Gò má thấp và hốc mắt sâu (52%)
- Sụp mỡ vùng quanh mắt (48%)
- Da nhão và tổn thương da do ánh nắng
(35%)
- Ứ dịch mí mắt (326)
- Tăng hoạt động của cơ vòng mi
(Orbicularis) (20%)
- Đường viền tam giác gò má (Triangular
cheek festoon) (13%)
Các biện pháp xử lý bao gồm: phẫu
thuật, tái tạo da bằng laser, tiêm chất làm
đầy, gây liệt cơ bằng Botox.
166
Chương 2
Chăm sóc da
Bảng 1. Một số loại kem dùng cho vùng da quanh mắt tại thị trường Mỹ
HydroPeptide Eye (Azure, Issaquah, WA)
Thành phần chính:
• Haloxyl (palmitoyl oligopeptide, palmitoyl tetrapeptide-7, chrysin and N-hydrox-
ysuccinimide), Eye liss (dipeptide-2), vitamin K, Syn-coll (palmitoyl tripeptide-5),
Matrixyl 3000 (palmitoyl tetrapeptide-7, palmitoyl oligopeptide), Dermaxyl (palmi-
toyl. oligopeptide), Aldenine (tripeptide-1), Argireline (acetyl hexapeptide-8), hesperi-
din methyl chalcone, retinyl palmitate, green tea, sodium hyaluronate.
Chỉ định: Lão hóa da do ánh sáng, quầng thâm, bọng mỡ dưới mắt .
Gloss Dual-Treatment Eye Area (Young Pharmaceuticals, Hartford, CT)
Thành phần chính:
• STT Eye Area Restorative Eye Cream: 0.5% trichloroacetic acid, vitamin C ester,
vitamin E ester, ferulic acid ester, green tea extract, hesperidin methyl chalcone, ni-
acinamide, 18-beta-glycyrrhe- tinic acid (licorice), Argireline (acetyl-hexapeptide-8),
Granactive AGE (palmitoyl hexapeptide-14), Chronoline (caprooyl tetrapaptide-3),
B-White (oligopeptide-68)
• MWF Retinol Eye Area: Retinol EmoluGel microsponge
Chỉ định: Lão hóa da do ánh sáng, quầng thâm, bọng mỡ dưới mắt.
CELFIX DNA iQuad Infusion Total Eye Complex (Precision MD, NY, NY)
Thành phần chính:
• Haloxyl (palmitoyl oligopeptide, palmitoyl tetrapeptide-7, chrysin, hydroxysuc
cinimide), Matrixyl 3000 (palmitoyl tetrapeptide-7, palmitoyl oligopeptide), pho-
tolyase liposomes, caf feine, ubiquinone, grape seed oil, green tea extracts, ivy ex-
tract, sodium hyaluronate, plankton extract
Chỉ định: Lão hóa da do ánh sáng, quầng thâm, bọng mỡ dưới mắt.
167
Thẩm mỹ nội khoa
Tensage Eye Contour (Biopelle, Ferndale, MI)
Thành phần chính:
8% SCA (snail secretion filtrate) derived from Cryptomphalus aspersa Chỉ định:
Lão hóa da do ánh sáng. NeoStrata SKIN ACTIVE Intensive Eye Therapy (Neostrata
Co, Inc., Princeton, NJ) Thành phần chính: NeoGlucosamine TM (melanin produc-
tion inhibitor), palmitoyl oligopeptide, palmitoyl tet rapeptide-7, tocopheryl acetate
(vitamin E), sodium hyaluronate, caffeine, Malus domestica fruit cell culture extract
(apple stem cell extract)
Chỉ định: Lão hóa da do ánh sáng, quầng thâm, bọng mỡ dưới mắt
Revalé Skin Replenishing Eye Therapy
Thành phần chính: 1% CoffeBerry extract Chỉ định: Lão hóa da do ánh sáng, bọng
mỡ dưới mắt Lumiè re Riche Bio-restorative Eye Balm (NEOCUTIS, Inc. San Francis-
co, CA) Thành phần chính: PSp® (purified skin proteins- a mixture of human growth
factors, cytokines, and inter leukins), caffeine, hyaluronic acid
Chỉ định: Lão hóa da do ánh sáng, quầng thâm, bọng mỡ dưới mắt.
Replenix® Eye Repair Cream (Topix Pharmaceuticals, Inc., N. Amityville, NY)
Thành phần chính: all-trans-retinol, green tea polyphenols, Arnica montana, phy-
tonadione (vitamin K), hesperidin methyl chalcone, sodium hyaluronate, dipeptide-2,
N-hydroxysuccinimide, chrysin, palmitoyl oligopeptide, palmitoyl tetrapeptide-7
Chỉ định: Lão hóa da do ánh sáng, quầng thâm, undereye bọng mỡ dưới mắt.
Pro+Therapy MD TM Ultimate Lift + Correcting Eye Cream (Valeant Pharmaceuti-
cals, Bridgewater, NJ)
Thành phần chính:
Kinetin (0.1%)-Zeatin (0.1%) Complex, Eye Regener® (a registered trademark of
Silab, Brive Cedex, France)- derived from white lupine and alfalfa seed, acts to en-
hance lymphatic drainage; In tensyl® (a registered trademark of Silab, Brive Cedex,
France)- hydrolyzed Manihot esculenta tuber ex tract, 3-D glucan biopolymer acts to
smooth and lift skin within 10 minutes
Chỉ định: Lão hóa da do ánh sáng, bọng mỡ dưới mắt.
168
Chương 2
Chăm sóc da
Các nếp nhăn quanh mắt
Nếp nhăn quanh mắt thường là biểu
hiện rất sớm của sự lão hóa trên khuôn
mặt. Các yếu tố thúc đẩy cho sự xuất hiện
nếp nhăn sớm là hút thuốc, tiếp xúc ánh
nắng nhiều, tiền sử gia đình và màu da (da
trắng xuất hiện sớm hơn da đen). Sự biểu
cảm nhiều của khuôn mặt cũng làm nếp
nhăn xuất hiện sớm, nhiều và thậm chí sâu
hơn.
Các phương pháp điều trị gồm có:
- Kem thoa tại chỗ
+ Retinoid (tretinoin, Retin-A, Renova):
Trong số các phương pháp điều trị y
tế, đây là cách được chứng minh và
hiệu quả nhất để cải thiện các dấu
hiệu lão hóa chẳng hạn như sắc tố
không đều, độ nhám và nhăn.
+ Acid alpha-hydroxy: Đây là những cái
gọi là “acid trái cây” và bao gồm glycolic
và acid lactic. Các chế phẩm chứa
các acid hoa quả này khá an toàn và
chỉ gây kích ứng nhẹ và tạm thời. Tuy
nhiên, sự cải tiến mà chúng tạo ra là
tương đối tinh tế.
+ Chất chống oxy hoá: Chúng bao gồm
vitamin A, C và E, cũng như beta-car-
otene. Các sản phẩm có chất chống
oxy hóa có thể cung cấp một số biện
pháp chống nắng (mặc dù bạn vẫn
nên sử dụng kem chống nắng) và
cải thiện các nếp nhăn một cách nhẹ
nhàng.
+ Dưỡng ẩm có thể làm cho nếp nhăn
trở nên ít chú ý hơn. + Lột da bằng
hóa chất: sử dụng các thành phần
như acid salicylic và acid trichloro-
acetic và thâm nhập sâu hơn vào da.
- Các phương pháp khác: laser tái tạo bề
mặt, tiêm chất làm đầy, gây liệt cơ bằng
Botox và phẫu thuật thẩm mỹ.
3.5. Chăm sóc lông mi
3.5.1. Mascara
Trên 70% phụ nữ dùng mỹ phẩm thì
dùng mascara. Trên thực tế, mascara là
một sản phẩm rất được phái nữ ưa chuộng.
Mascara được dùng để tô lông mi cho sậm
hơn, dày hơn và dài hơn để thấy chúng rõ
hơn. Công thức mascara có thể được phân
thành hai loại chính: thấm nước và không
thấm nước.
Các loại mascara thấm nước thường
cung cấp cho lông mi một hỗn hợp gồm
sáp, polymer và màu trong một chất nhũ
tương nước. Nước giúp tăng cường các
đặc tính của lông mi bằng cách thấm
vào lòng, thổi phồng đường kính lên đến
30% và trong nhiều trường hợp, khiến cho
mi mắt cong lên. Sáp được hòa tan vào
nước tạo nên một hỗn hợp kem mịn, đặc,
lướt lên trên mi mắt dưới dạng một lớp
phim dày, chống phai, mài mòn và xước
suốt cả ngày, nhưng vẫn có thể rửa đi dễ
dàng bằng nước ấm và xà phòng. Polymer
thường được cho vào để giữ mascara kết
dính với nhau cũng như dính lên mi mắt.
Những tiến bộ trong công nghệ polymer
trong hai mươi năm qua đã cho ra những
chất có thể tồn tại suốt một ngày, cho dù
chúng được quét lên mi mắt dưới dạng
nước.
Mascara không thấm nước thì thường
dùng dung môi là hydrocarbon và nguyên
liệu khan. Chúng cung cấp một lớp phim
lâu phai cho mi mắt, không thấm nước và
không bị lem. Bản chất khan của loại mas-
cara này làm chúng khó bôi lên và khó rửa
đi. Tuy nhiên, nó dễ kích ứng mắt hơn.
Một số nguyên liệu khác có thể được
thêm vào công thức để tăng cường một số
đặc điểm cụ thể của lông mi. Một phương
pháp thường dùng để sản xuất mascara
kéo dài mi là thêm các sợi vào công thức,
169
Thẩm mỹ nội khoa
từ đó khi được quét lên mắt, các sợi này
sẽ kéo các sợi mi dài hơn độ dài tự nhiên
của chúng. Tương tự, một số phân tử lớn,
nhẹ, rỗng có thể được cho vào màng mas-
cara để tạo nên một lớp màng dày hơn cho
lông mi dày. Các polymer tổng hợp hoặc
tự nhiên với các đặc tính mới cũng có thể
được sử dụng để tăng hiệu ứng uốn cong
ở lông mi.
Còn có các dạng mascara khác, ví dụ
như mascara trong lớp phủ không thấm
nước, lớp phủ óng ánh hoặc sơn lót.
3.5.2. Kỹ thuật chải mascara
Kỹ năng sử dụng cũng đóng vai trò
lớn giúp người dùng có được vẻ ngoài
mà mình mong muốn mà không mất quá
nhiều thời gian và dụng cụ chải mascara
lông xoắn đã có nhiều thay đổi, cải tiến,
làm việc dùng mascara dễ dàng và nhanh
chóng hơn.
3.5.3. Một số kỹ thuật chăm sóc lông
mi khác
Khả năng thay đổi vẻ ngoài cho lông
mi không chỉ nằm ở mascara. Ví dụ, lông
mi giả hoặc bộ nối dài lông mi được thiết
kế để tạo độ dày, độ đầy đặn và độ dài cho
lông mi tự nhiên. Lông mi giả có thể thay
đổi hoàn toàn vẻ ngoài của một đôi mắt.
Có hai loại lông mi giả: tạm thời hoặc bán
vĩnh viễn. Lông mi tạm thời được gắn lên
mắt bằng keo, được thiết kế đặc biệt cho
mục đích của nó. Chúng được gắn lên
mi mắt bằng một loại keo tạm thời, giúp
chúng dễ gắn lên cũng như gỡ ra vào cuối
ngày.
Nhuộm màu lông mi là phương pháp
nhuộm màu bán vĩnh viễn lên mi mắt, có
thể dùng trong khoảng một tháng. Đây là
một sản phẩm gồm hai phần, tương tự như
nhuộm màu vĩnh viễn cho tóc. Một loại
kem oxy hóa được trộn với một chất oxy
hóa, bôi lên lông mi và để yên từ 15 - 20
phút. Màu nhuộm hình thành khi thấm vào
lông mi. Hiện nay, không có phẩm màu
nào được FDA cho phép dùng nhuộm vĩnh
viễn lông mi và lông mày.
Chuốt mi được thực hiện bằng cách lăn
lông mi quanh một ống cotton nhỏ. Lông
mi sau đó được phủ một lớp gel có độ pH
cao, thấm vào trong lông mi và phá vỡ liên
kết disulfide giữ các sợi keratin protein ở
cortex. Sau khoảng 15 phút, một lớp phủ
trung hòa thứ hai được phủ lên mí mắt để
trung hòa lại độ pH và tái tạo các liên kết
giữa các sợi protein để giữ lông mi ở hình
dạng mới của nó sau khi gỡ ra khỏi ống
cotton. FDA đã cho phép sử dụng những
hóa chất này trên tóc, nhưng chưa cho
phép sử dụng quanh mắt.
Bộ nối mi là những sợi tổng hợp được
gắn lên từng sợi lông mi, thường là dùng
keo cyanoacrylate. Thông thường, một mi
mắt sẽ có khoảng 30-80 sợi lông được gắn
bộ nối mi và có thể dùng được trong một
đến hai tháng, sau đó, cần điều chỉnh lại
theo chu kỳ phát triển tự nhiên của lông
mi.
Cấy ghép lông mi có liên quan đến việc
di chuyển các nang da đầu đến mí mắt.
Những vết mổ nhỏ sẽ được thực hiện ở
lông mi trên và dưới, để cấy ghép các nang
tóc vào. Cần phải uốn và cắt tỉa bằng tay vì
tóc ở những nang da đầu sẽ tiếp tục mọc
tương đối thẳng trong nhiều năm.
Xăm mi mắt, là phương pháp nhuộm
màu vào da ở viền mi mắt để giả kẻ mắt
hoặc để nhìn giống lông mi. Phương pháp
này có tác dụng vĩnh viễn nhưng có thể
xóa đi bằng phẫu thuật laser.
Trong khoảng mười năm vừa qua,
rất nhiều sản phẩm đã được cho ra đời,
tuyên bố có thể kích thích về mặt sinh
lý làm lông mi phát triển, đậm màu hơn,
dày, dài và cong hơn. Một bộ phận lớn
trong số này dùng các chất tương tự như
prostaglandin, cũng giống như thuốc dùng
điều trị bệnh tăng nhãn áp, nhưng có thêm
các tác dụng phụ kể trên (tác dụng tích
cực).
170
Chương 2
Chăm sóc da
Phương pháp duy nhất được FDA cho
phép dùng để kích thích sự phát triển của
lông mi là dung dịch nhãn khoa Bimato-
prost 0,03% (được bán dưới tên Latisse).
Bimatoprost kéo dài lông mi bằng cách
tăng tỉ lệ nang lông mi trong kỳ phát triển
(anagen). Đồng thời, bimatoprost kích
thích sự hình thành melanin, làm cho lông
mi nhìn đậm hơn và tăng cả kích thước
của nốt da, cấu trúc ảnh hưởng đến độ dày
và độ đầy đặn của lông mi.
Một vài sản phẩm khác có thể chứa
một hoặc nhiều loại peptide khác nhau,
vitamin, chiết xuất thiên nhiên hoặc các
chất tạo điều kiện, ở dạng huyết thanh,
mascara lót hoặc dạng mascara. Những
sản phẩm này tuyên bố có thể nuôi dưỡng
tốt các nang lông mi để phát triển tăng
trưởng hoặc nuôi dưỡng cả chính lông
mi, giảm gãy rụng. Tuy nhiên, có rất ít hay
thậm chí là không có bằng chứng lâm
sàng độc lập để chứng minh những điều
này. 3.6. Chăm sóc lông mày
Tạo hình cho lông mày gồm các biện
pháp như cắt, tỉa và nhổ những sợi lông
không mong muốn khỏi lông mày bằng
nhíp, sáp hoặc một kỹ thuật có tên là
threading. Threading có nguồn gốc ở vùng
Trung Đông và các nền văn hóa châu Á
xưa, dùng một sợi chỉ xoắn xung quanh
những sợi lông thừa và nhỏ chúng khỏi
nang lông.
Khi muốn tô đậm lông mày của mình,
hoặc điều chỉnh khi mày mọc thưa, không
đều, thường dùng nhiều loại mỹ phẩm khác
nhau dành cho lông mày. Phần lông mày
và bút chì kẻ có thể có nhiều màu trung
tính và thường được chọn sao cho giống
hoặc nhạt hơn một cút sao với màu lông
mày tự nhiên của người dùng. Gel thì có
thể có hoặc không có màu, được bôi lên
mày bằng mascara-type applicator hoặc
spoolie (một lông chải xoắn độc lập) và
thường chứa polymer để giữ cố định kiểu
dáng của lông mày (tương tự như keo vuốt
tóc).
Các kỹ thuật chăm sóc lông mày thì
cũng tương tự chăm sóc lông mi/mi mắt
bao gồm nhuộm, xăm và lông mày nhân
tạo. Cũng như với lông mi, nhiều loại huyết
thanh có thể được dùng để kích thích cho
lông mày phát triển.
Một cuộc thảo luận đáng chú ý trong
lĩnh vực thẩm mỹ mắt những năm gần
đây là việc sử dụng than đen (có thể gọi
là D&C Black No 2). Than đen là một sắc
tố mịn được chế biến từ một hỗn hợp đốt
không hoàn toàn của khí hydrocarbon
hoặc dầu và là một nguyên liệu quý, đặc
biệt là trong thẩm mỹ mắt, vì nó có thể tạo
được màu đen sẫm hơn nhiều so với oxit
sắt. Đã có nhiều cuộc tranh luận đáng kể
về tiềm năng gây ung thư của than đen.
Năm 2004, FDA đã nghiên cứu về tính an
toàn của than đen khi sử dụng trong thẩm
mỹ và đi đến kết luận rằng nó đủ an toàn
để sử dụng, nhưng phải được chứng nhận
hàng loạt về độ tinh khiết vì có thể có mặt
các chất gây ô nhiễm PAH, sản phẩm phụ
sinh ra từ quá trình sản xuất than đen [21].
Do tiếp xúc trực tiếp với cơ thể người,
tất cả mọi loại mỹ phẩm đều nên được bảo
quản kỹ lưỡng khỏi các vi sinh vật xâm hại.
Điều này đặc biệt đúng đối với mỹ phẩm
mắt, vì chỉ cần tiếp xúc với một sản phẩm
độc đã có thể gây nhiễm trùng mắt và có
thể biến chứng phức tạp hơn nữa.
171
Thẩm mỹ nội khoa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hwang J.C (2016). “Periorbital In-
jectables: Understanding and Avoiding
Complications”, J CutanAes thet Surg,
9(2), pp. 73–79.
2. Sarah A. V., et al. (2016). “Eye Cos-
metics”. Cosmetic Dermatology Products
and Procedures.
3. Tattoos and Permanent Makeup.
Cosmetics facts from the U.S. Food and
Drug Administration. https://
gov/ForConsumers/ConsumerUpdates/
ucm316357.htm.
4. Bucay V.W., et al. (2013). “Adjunctive
Skin Care of the Brow and Periorbital Re-
gion”. Clin Plastic Surg, pp. 225-236.
5. Woffles T. L. Wu (2016). “Consensus
on Current Injectable Treatment Strate-
gies in the Asian Face”. Aesth Plast Surg,
pp. 202–214.
172
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
Chương 3
Một số tình trạng da
liên quan đến thẩm mỹ
173
Thẩm mỹ nội khoa
Chương 3 : MỘT SỐ TÌNH TRẠNG
DA LIÊN QUAN ĐẾN THẨM MỸ
• LÃO HÓA DA (SKIN AGING).................................................................................................174
• NÁM DA (MELASMA, CHLOASMA)...................................................................................178
• TĂNG SẮC TỐ SAU VIÊM (POSTINFLAMMATORY HYPERPIGMENTATION).........186
• MỤN TRỨNG CÁ THÔNG THƯỜNG (ACNE VULGARIS).............................................192
• BỆNH BẠCH BIẾN (VITILIGO)..............................................................................................200
• XĂM VÀ XÓA XĂM (TATTOO AND TATTOO REMOVAL).............................................210
• TAI BIẾN DA DO MỸ PHẨM (COMPLICATIONS OF COSMETICS)............................216
• DA SẦN VỎ CAM (CELLULITE)...........................................................................................222
• RẠN DA (STRETCH MARKS) ............................................................................................... 227
• SẸO LỒI VÀ SẸO PHÌ ĐẠI (KELOIDS - HYPERTROPHIC SCARS)...............................232
• SẸO RỖ (ATROPHIC SCARS)................................................................................................235
• TĂNG TIẾT MỒ HÔI (HYPERHIDROSIS)...........................................................................247
174
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
LÃO HÓA DA
(SKIN AGING)
1. ĐẠI CƯƠNG
Tính trên toàn thế giới, tuổi thọ con
người ngày càng tăng nhờ điều kiện dinh
dưỡng đầy đủ, chăm sóc y tế tốt, giảm
tử vong trẻ em. Tình hình nhân khẩu học
đang chuyển hướng tăng tỉ lệ của nhóm
người cao tuổi. Tuy nhiên, con người vẫn
không thể tránh khỏi quá trình lão hóa cho
dù tuổi thọ tăng cao. Lão hóa, quá trình
suy mòn và già yếu của tế bào, bị tác động
bởi di truyền cùng với những tổn thương
tích lũy do nội sinh và từ môi trường xảy ra
trong suốt quá trình sống. Do vậy, các hệ
thống dịch vụ y tế sẽ phải ngày càng tập
trung nhiều hơn vào nhóm người cao tuổi.
Da người, chiếm 1/6 trọng lượng cơ
thể, là chỉ điểm rõ nhất của sự lão hóa. Khi
tuổi thọ gia tăng, con người có thời gian
làm việc dài hơn (trước khi nghỉ hưu), họ
sẽ cần những can thiệp nhằm cải thiện vẻ
bề ngoài và đảo ngược những dấu hiệu lão
hóa. Từ đó, sẽ có sự gia tăng đáng kể số
người tìm đến các chuyên gia thẩm mỹ, bác
sĩ da liễu và phẫu thuật thẩm mỹ. Để điều
trị hiệu quả bệnh da người già và sử dụng
hợp lý những can thiệp nhằm đảo ngược
quá trình lão hóa da, điều quan trọng là
phải nắm rõ những biến đổi về mặt lâm
sàng và mô học đi cùng với quá trình lão
hóa da.
2. NGUYÊN NHÂN CỦA LÃO HÓA DA
Lão hóa da do hai yếu tố: nội sinh và
ngoại sinh. Lão hóa nội sinh là hậu quả
của biến đổi sinh lý không thể tránh khỏi
do tác động của thời gian, tốc độ lão hóa
do yếu tố di truyền quyết định. Lão hóa
ngoại sinh là những biến đổi do những yếu
tố bên ngoài như tiếp xúc lâu dài với ánh
nắng mặt trời, hút thuốc lá, lối sống...
Lão hóa nội sinh xảy ra do tổn thương
tích lũy nội sinh từ quá trình hình thành liên
tục các loại oxy tái hoạt hóa (reactive oxy-
gen species - ROS) trong chuyển hóa hiếu
khí. Mặc dù da chứa một mạng lưới men
chống oxy hóa (superoxide dismutase,
catalase và glutathione peroxidase) và
những phân tử chống oxy hóa (vitamin E,
coenzyme Q10, ascorbate và carotenoids)
nhưng hệ thống này không đủ hiệu quả và
có khuynh hướng thoái hóa theo thời gian.
Do vậy, ROS vẫn làm tổn thương một số
thành phần tế bào như màng tế bào, các
enzyme và DNA.
Một số yếu tố ngoại sinh tác động cùng
với quá trình lão hóa nội sinh sẽ làm da
lão hóa sớm. Tiếp xúc ánh nắng mặt trời
là nguyên nhân chính gây lão hóa da sớm,
ngoài ra còn một số yếu tố khác như hút
thuốc lá, cơ vùng mặt biểu lộ cảm xúc lặp
đi lặp lại (sử dụng các cơ mắt, cau mày),
tư thế nằm ngủ một bên tạo nếp nhăn, tác
động của trọng lực...
Lão hóa da ánh sáng (photoaging) gồm
những biến đổi da từ những tổn thương tích
lũy do bức xạ cực tím. Nếu không được
bảo vệ, chỉ cần vài phút tiếp xúc ánh nắng
mỗi ngày trong vài năm có thể gây biến
đổi da trông thấy. Tiếp xúc thường xuyên
với ánh nắng , da sẽ mất khả năng tự sửa
chữa, tia cực tím bẻ gãy các collagen và
giảm tổng hợp collagen mới.
Hút thuốc lá gây ra những biến đổi sinh
hóa trong cơ thể làm đẩy nhanh quá trình
lão hóa. Các nghiên cứu cho thấy một
người hút từ 10 điếu mỗi ngày da có nguy
cơ xuất hiện nếp nhăn sâu so với người
không hút thuốc. Hút thuốc lá trong một
vài năm cũng có thể làm cho da trông vàng
vàng không khỏe mạnh. Những dấu hiệu
trên có thể biến mất hay giảm đi rõ nếu
175
Thẩm mỹ nội khoa
ngưng hút thuốc lá, thậm chí nếu người đó
hút trong nhiều năm hay hút nhiều khi còn
trẻ.
Quá trình cơ mặt co kéo liên tục, theo
thời gian dẫn đến hình thành những rãnh
sâu trên trán, giữa hai chân mày, quanh
mắt và rãnh mũi má tạo hình ảnh già nua
trước tuổi.
Tác động liên tục của trọng lực ảnh
hưởng đến sự phân bố mô mềm vùng mặt
làm da chảy xuống. Theo thời gian, da trở
nên lỏng lẻo làm giảm khả năng nâng đỡ
mô mềm, lúc này trọng lực trở thành một
yếu tố quan trọng. Da chảy xệ đặc biệt
thấy rõ ở mí và dưới tạo hình ảnh “túi mắt”,
ở gò má và vùng cổ.
Một số yếu tố ngoại sinh khác cũng
góp phần thúc đẩy quá trình lão hóa như
stress, chế độ ăn uống không hợp lý, ô
nhiễm môi trường...
3. ĐẶC ĐIỂM DA LÃO HÓA
Da lão hóa sẽ có những biến đổi về mặt
màu sắc hay kết cấu da như:
- Rối loạn sắc tố da: nám, đồi mồi, tàn
nhang, da có đậm độ không đều...
- Da khô, mất độ mịn màng.
- Da chảy nhão, hình thành nếp nhăn, túi
mỡ.
- Hình thành những thương tổn tân sinh
như dày sừng tiết bã, dày sừng ánh sáng,
u mạch, giãn mạch, tăng sản tuyến bã...
4. PHÒNG NGỪA VÀ ĐIỀU TRỊ
4.1. Phòng ngừa
- Tránh nắng: hạn chế tiếp xúc ánh nắng
trong khoảng từ 10 giờ sáng đến 4 giờ
chiều, sử dụng các biện pháp che chắn,
bôi kem chống nắng phổ rộng với SPF
> 30.
- Bỏ hút thuốc lá.
- Chăm sóc da đúng cách: làm sạch,
dưỡng ẩm.
- Tránh sử dụng mỹ phẩm không rõ
nguồn gốc.
- Lối sống lành mạnh, tránh stress,
có chế độ ăn uống hợp lý đầy đủ dinh
dưỡng, tạo môi trường trong lành...
4.2. Điều trị
- Dược mỹ phẩm là những mỹ phẩm
chức năng và sản phẩm chăm sóc da,
bao gồm loại kế toa và không kê toa. Tác
động trên da của dược mỹ phẩm là sự
kết hợp tác dụng dưỡng ẩm của tá dược
với tác dụng chính của hoạt chất. Thuốc
bồi thường hiệu quả khi những dấu hiệu
lão hóa ở mức độ nhẹ đến vừa. .
- Tái tạo da bằng hóa chất (chemical
peeling): Trong thủ thuật này, một hóa
chất dạng dung dịch được bôi lên da làm
tạo vết thương ở bì và thượng bì để loại
bỏ các sang thương nông và cải thiện
kết cấu da. Lột nông kích thích phát
triển thượng bì nhờ loại bỏ lớp sừng mà
không hoại tử. Sau khi tróc ra, thượng
bì dày lên với thay đổi tái tạo về chất.
Lột trung bình hủy thượng bì nhiều hơn
và gây viêm ở bì nhú. Cuối cùng, lột sâu
tạo đáp ứng viêm xuống tận bì lưới, kích
thích sản xuất collagen và chất nền mới.
- Laser/ánh sáng: Có hai nhóm chính
trong thủ thuật trẻ hóa da là laser bóc
tách (ablative) và laser không bóc tách
(nonablative). Để giải quyết những
vấn đề liên quan đến sắc tố da, có thể
sử dụng laser xung dài, Q-switched,
picosecond, IPL. Để cải thiện kết cấu da,
có thể sử dụng laser xung liên tục, laser
vi điểm.
- Các thiết bị phát năng lượng khác:
radiofrequency (RF), sóng siêu âm hội
tụ đưa nhiệt lượng xuống mô liên kết
giúp tái tạo collagen, làm săn chắc da
176
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
không xâm lấn.
- Botulinum toxin A (BTX - A): BTX - A
có tác dụng ức chế sự phóng thích
acetylcholine tại chỗ nối thần kinh - cơ
dẫn đến liệt cơ. Nhờ vào cơ chế này mà
BTX - A được chỉ định điều trị những
nếp nhăn động gây nên do sự co cơ).
Hiện nay việc sử dụng BTX - A (Botox®,
Dysport® Xeomin®) trong thẩm mỹ đã
trở nên phổ biến trên thế giới nói chung
và tại Việt Nam nói riêng. Đây là thủ
thuật thẩm mỹ không xâm lấn được
thực hiện nhiều nhất trên thế giới.
- Các chất làm đầy (fillers): được tiêm
vào da để làm đầy những khiếm khuyết
như nếp nhăn tĩnh, sẹo lõm.
177
Thẩm mỹ nội khoa
5. KẾT LUẬN
Quá trình lão hóa xảy ra với tất cả mọi
người khi đến tuổi già. Tuy nhiên, không
phải ai cũng hiểu và biết cách đón nhận
điều đó. Chúng ta nên giải thích cho bệnh
nhân quá trình lão hóa phức tạp và do
nhiều yếu tố. Để can thiệp vào quá trình
lão hóa, xu hướng chung hiện nay là “chăm
sóc, phòng ngừa” thay cho “sửa chữa, thay
thế”. Thông tin quan trọng nhất cần cung
cấp cho họ là không có điều gì có thể ngăn
cản được sự lão hóa, nhưng với lối sống
tích cực (chế độ ăn uống, sinh hoạt, tránh
nắng...) và một số thủ thuật điều trị có thể
phòng ngừa và làm nhẹ bớt những dấu
hiệu lão hóa. Bệnh nhân cần kiên nhân,
chọn các cơ sở chuyên khoa uy tín, không
nên tự điều trị, sử dụng mỹ phẩm không rõ
nguồn gốc.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vũ Hồng Thái, Nguyễn Trọng Hào
(2013). Bảo vệ da khỏi tác hại của ánh
nắng mặt trời. Nhà xuất bản y học.
2. Tosti A, Hexsel D (2013). Update in
Cosmetic Dermatology. Springer-Verlag
Berlin Heidelberg.
3.
Diane
H.
(2015).
Aging
Skin:
Diagnosis, Prevention, and Treatment.
In Dermatology for Advanced Practice
Clinicians įst edition, Wolters Kluwer, pp:
366-380.
4. Zoe D. (2016). Cosmetic Dermatology:
Products and Procedures 2nd edition,
John Wiley & Sons, Ltd.
178
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
NÁM DA
(MELASMA, CHLOASMA)
1. ĐẠI CƯƠNG
Nám da (rám má, nám má) là rối loạn
sắc tố da mắc phải, biểu hiện bởi những
dát, mảng tăng sắc tố phân bố đối xứng ở
mặt, cổ và hiếm khi ở chi trên.
Nguyên nhân gây bệnh hiện chưa rõ.
2. YẾU TỐ NGUY CƠ
- Tần suất nám da cao ở những người
có tiền căn gia đình bị nám da cho thấy
nám | da có yếu tố di truyền.
- Tiếp xúc ánh sáng mặt trời là yếu tố
chủ yếu gây nám da.
- Nám da xảy ra cùng với sự thay đổi nội
tiết tố (thai kỳ, thuốc ngừa thai...), nhưng
mối liên quan giữa chúng chưa rõ.
- Bệnh lý tuyến giáp.
- Thuốc: uống thuốc gây nhạy cảm ánh
sáng, thuốc chống động kinh...
- Sử dụng mỹ phẩm,
- Stress.
3. CHẨN ĐOÁN
3.1. Dịch tễ học
Rất thường gặp (8,8-40%) và thường
xuất hiện ở loại da III-IV theo Fitzpatrick.
Trên 90% là nữ và đa số ở độ tuổi sinh
sản.
3.2. Lâm sàng
3.2.1. Hình thái
- Dạng trung tâm mặt (gò má, trán, mũi,
môi trên, cằm) hay gặp nhất.
- Dạng gò má.
- Dạng hàm dưới
3.2.2. Vị trí sắc tố
Hình ảnh phân tích bằng đèn Wood (đèn cực tím)
179
Thẩm mỹ nội khoa
Chẩn đoán phân biệt
- Tăng sắc tố sau viêm
- Đốm nâu do ánh sáng mặt trời (solar
lentigines)
- Tàn nhang
- Tăng sắc tố do thuốc
- Hori’s nevus
- Ota’s nevus
- Lichen phẳng do ánh sáng
- Tăng sắc tố do ma sát (frictional
melanosis)
- Nám da Riehl.
4. ĐIỀU TRỊ
4.1. Nguyên tắc
- Tránh các yếu tố làm bệnh nặng thêm:
ánh nắng mặt trời, thuốc ngừa thai, mỹ
phẩm hoặc thuốc có khả năng gây nhạy
cảm ánh sáng.
- Tác động lên melanin: ngăn chặn và
loại bỏ sắc tố.
4.2. Điều trị cụ thể
4.2.1. Chống nắng hiệu quả
- Tránh tiếp xúc nắng tránh ở ngoài nắng
trong thời gian từ 9 giờ sáng đến 4 giờ
chiều, không phơi nắng.
- Chống nắng cơ học: dùng quần dài, áo
dài tay, nón rộng vành, kính mát, khẩu
trang che mặt... để bảo vệ da.
- Sử dụng kem chống nắng phổ rộng
> SPF 30. Thoa 30 phút trước khi ra
nắng, thoa nhắc lại mỗi 2-3 giờ, thoa đủ
lượng kem cần thiết. Có thể kết hợp với
viên uống chống nắng.
4.2.2. Các loại thuốc thoa
- Ức chế tổng hợp melanin.
- Ngăn chuyển melanosome từ tế bào
hắc tố sang tế bào sừng (keratinocyte).
- Tăng chu kỳ tái tạo tế bào lớp thượng
bì.
180
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
181
Thẩm mỹ nội khoa
Ưu nhược điểm của một số loại thuốc thoa điều trị nám da:
4.2.3. Lột bằng hóa chất
Các hóa chất lột:
- Trichloracetic acid 10-35% - Jessner’s
solution
- Glycolic acid 20-70%
- Lactic acid 92%
- Salicylic acid 20-50%
- Tretinoin 1-5%
- Amino fruit acid 20-60% - Khác: phytic
acid, mandelic acid, pyruvic acid...
+ Mặc dù lột bằng hóa chất có thể cải
thiện nám da bằng cách lấy đi các
melanine không cần thiết. Tuy nhiên,
nó có thể gây kích ứng, từ đó dẫn đến
tình trạng tăng sắc tố sau viêm. Tác
dụng phụ này đặc biệt thường gặp ở
bệnh nhân có làn da sậm màu.
182
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
+ Lột bằng glycolic acid với nồng độ
tăng dần có thể là một biện pháp hỗ
trợ có ích cho liệu pháp thuốc thoa
trong trường hợp nám da thượng bì
khó điều trị. Tuy nhiên, có thể gây nên
tình trạng tăng sắc tố sau điều trị,
cần thảo luận với bệnh nhân lợi ích
và nguy cơ mang lại trước khi điều trị.
183
Thẩm mỹ nội khoa
4.2.4. Điều trị bằng laser và ánh sáng
4.2.5. Thuốc uống hỗ trợ
| Polypodium leucotomos, Tranexamic
acid, các chất chống oxy hóa: các acid
amin,
các
vitamin
như:
Glutathione,
L-cysteine, Polyphenol, Proanthocyanidin,
Pycnogenol, Leucin, Methionine, Ellagic
acid, vitaminA, C, E, ...
4.2.6. Trang điểm (hóa trang)
Sử dụng một số sản phẩm trang điểm
ngụy trang, lưu ý sử dụng loại sản phẩm
phù hợp với loại da của bệnh nhân.
4.2.7. Sơ đồ điều trị
4.2.8. Theo dõi điều trị
- Sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân
- Tác dụng phụ của các phương pháp
điều trị: thuốc, lột, laser/ánh sáng
184
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
5. DIỄN TIẾN VÀ TIÊN LƯỢNG
- Đáp ứng điều trị chậm.
- Cả thầy thuốc và bệnh nhân cần kiên
trì.
- Kết quả điều trị không bền vững, dễ tái
phát.
6. PHÒNG NGỪA
- Tránh nắng, chống nắng tích cực.
- Loại bỏ nguyên nhân gây nám: nội tiết,
stress, mỹ phẩm, thuốc.
- Chế độ chăm sóc da phù hợp.
185
Thẩm mỹ nội khoa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ball Arefiev KL, Hantash BM (2012),
“Advances in the treatment of melasma: a
review of the recent literature”, Dermatol
Surg, 38(7 Pt 1), pp. 971-84
2. Krupa Shankar et al (2014), “Evi-
dence-Based Treatment for Melasma: Ex-
pert Opinion and a Review”, Dermatol Ther
(Heidelb); 4, pp. 165-186
3. Heth VM, Pandya AG (2011), “Melas-
ma: a comprehensive update part I”, J Am
Acad Dermatol, 65(4), pp. 689-97
4. Heth VM, Pandya AG. Melasma
(2011), “A comprehensive update part II”,
J Am Acad Dermatol, 65(4), pp. 699-714
5. Prignano F, Ortonne JP, Buggiani G,
Lotti T (2007), “Therapeutical approach-
es in melasma”, Dermatol Clin, 25(3), pp.
337-42
6. Vashi NA, Kundu RV (2013), “Facial
hyperpigmentation: causes and treat-
ment”, Br J Dermatol, 169 Suppl 3, pp. 41-
56. doi: 10.1111/bjd. 12536.
186
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
TĂNG SẮC TỐ SAU VIÊM
(POSTINFLAMMATORY HYPERPIGMENTATION)
1. ĐẠI CƯƠNG
Màu da là một đặc điểm quan trọng
liên quan tới văn hóa xã hội của con người.
Một sự thay đổi nhỏ về màu da cũng có
thể ảnh hưởng lớn tới tính thẩm mỹ và tác
động lên tâm lý người bệnh. Màu da trước
tiên phụ thuộc vào sắc tố melanin, do các
tế bào sắc tố (melanocyte) tiết ra. Do đó,
sự duy trì màu da bình thường phụ thuộc
vào sự ổn định của cấu trúc và chức năng
của các tế bào này. Bên cạnh đó, các yếu
tố khác cũng tham gia đình hình màu da
như hemoglobin, carotenoid...
Sự thay đổi màu sắc da, bên cạnh
những nguyên nhân ít gặp như sự lắng
đọng của thuốc, kim loại hay các rối loạn
mạch máu, thì chủ yếu là do sự thay đổi
sắc tố melanin trong da với hai thể là tăng
hay giảm sắc tố. Tăng sắc tố thường gặp
hơn, có thể do nhiều nguyên nhân khác
nhau, trong đó tăng sắc tố sau viêm là
nguyên nhân phổ biến, hay gặp trong thực
hành lâm sàng, ảnh hưởng đến chất lượng
cuộc sống người bệnh và là thách thức
trong điều trị đối với bác sĩ da liễu.
2. ĐỊNH NGHĨA
Tăng sắc tố sau viêm là một rối loạn
tăng sắc tố có tính chất tạm thời, ở vị trí
của một tình trạng viêm xảy trước đó, do
một bệnh lý da, chấn thương hay thủ thuật
trên da...
3. DỊCH TỄ
Tăng sắc tố sau viêm có thể gặp ở bất
kỳ lứa tuổi nào, màu da nào và không có
sự ưu thế về giới tính. Tuy nhiên, tình trạng
này thường xảy ra hơn ở nhóm bệnh nhân
type da IV-VI Fitzpatrick.
4. SINH BỆNH HỌC
Nhìn chung, mức độ tăng sắc tố sau
viêm phụ thuộc hai yếu tố chính là tình
trạng viêm (độ nặng, thời gian) và khuynh
hướng phản ứng của tế bào sắc tố ở mỗi
cá nhân (individual chromatic tendency),
có thể mạnh, yếu hay bình thường đối với
tình trạng viêm. Ngoài ra, còn một số yếu
tố khác làm nặng hơn tình trạng tăng sắc
tố sau viêm như tiếp xúc ánh sáng mặt trời,
sử dụng thuốc gây nhạy cảm ánh sáng...
Độ nặng của tình trạng viêm là yếu tố
ảnh hưởng quan trọng tới đáp ứng tăng
sắc tố. Các nghiên cứu đã ghi nhận các
tình trạng viêm nặng dẫn đến tăng sắc tố
nặng hoặc thậm chí hủy hoại tế bào sắc
tố dẫn đến giảm sắc tố sau viêm. Một số
tác giả cũng cho rằng bản chất của bệnh
lý da cũng ảnh hưởng đến mức độ tăng
sắc tố sau viêm. Ví dụ như các bệnh da có
tổn thương dẫn đến phá vỡ lớp màng đáy
như lupus đỏ, lichen phẳng... có thể để lại
sắc tố sau viêm đáng kể dù triệu chứng
lâm sàng có thể không rõ ràng. Bên cạnh
đó, tình trạng viêm kéo dài hoặc tái đi tái
lại như trong chàm thể tạng cũng dẫn đến
tình trạng tăng sắc tố sau viêm nặng hơn
các tình trạng viêm cấp tính.
Mức độ tăng sắc tố sau viêm cũng
được một số tác giả cho rằng liên quan tới
khuynh hướng phản ứng của tế bào sắc
tố của mỗi cá nhân. Giả thiết này dựa trên
quan sát từ thực tế đến lâm sàng rằng sau
một chấn thương hay tổn thương viêm các
cá nhân khác nhau sẽ có đáp ứng tổng hợp
melanin bình thường hoặc tăng hay giảm
187
Thẩm mỹ nội khoa
khác nhau. Sự khác nhau này được cho là
đặc tính liên quan di truyền trội trên nhiễm
sắc thể thường. Những cá nhân có tế bào
sắc tố “yếu”, dễ bị tổn thương hay hủy hoại
bởi quá trình viêm hay chấn thương, thì dễ
bị giảm sắc tố sau viêm. Những bệnh nhân
bạch biến và người thân của họ thuộc
nhóm này. Những người thân này có thể
không xuất hiện sang thương bạch biến
hay Halo nevị nhưng dễ bị giảm sắc tố sau
viêm. Còn những cá nhân có tế bào sắc tố
đáp ứng ở mức bình thường thì sẽ thay đổi
không đáng kể sắc tố sau viêm và nhóm
những cá nhân có tế bào sắc tố đáp ứng
“mạnh” sẽ dẫn đến tăng sắc tố đáng kể
sau quá trình viêm hay chấn thương.
Bản chất của hiện tượng tăng sắc tố có
thể do tăng số lượng tế bào sắc tố hoặc
tăng lượng sắc tố melanin trong lớp bì
hoặc thượng bì. Trong bệnh cảnh tăng sắc
tố sau viêm, hiện tượng tăng sắc tố là do
tăng lượng sắc tố melanin qua hai cơ chế
chính: tăng sự lắng đọng melanin trong
lớp bì và/hoặc đáp ứng tăng tổng hợp
melanin trong lớp thượng bì. Các đáp ứng
viêm trong lớp thượng bì sẽ dẫn đến sự
phóng thích và oxy hóa acid arachidonic
thành prostaglandin (PGE), leukotriene
(LTC, LTD), cũng như tăng sự phóng thích
thromboxane 2 và các hóa chất trung gian
khác, dẫn đến sự tăng sinh số lượng và kích
thước của các tế bào sắc tố và tế bào đuôi
gai. Sự tăng sinh này dẫn đến sự tăng tổng
hợp melanin cũng như tăng sự vận chuyển
các sắc tố này đến các keratinocyte xung
quanh. LTC là chất tác động mạnh nhất,
hoạt hóa tyrosinase gấp hai lần các chất
chuyển hóa từ acid arachidonic khác.
Đối với sự lắng đọng sắc tố melanin
trong lớp bì, có ba giả thiết cho hiện tượng
này: (1) các tế bào sắc tố bị tổn thương,
phóng thích trực tiếp melanin vào lớp bì
và được thực bào bởi các đại thực bào;
(2) các melanosome được vận chuyển
trực tiếp vào lớp bì qua các nhánh của
tế bào sắc tố hoặc (3) các đại thực bào
qua lớp màng đáy bị tổn thương di cư lên
lớp thượng bì, thực bào các melanosome
rồi quay về lớp bì. Tùy vào vị trí tăng sắc
tố ở lớp bì, thượng bì hay cả hai mà biểu
hiện lâm sàng của tăng sắc tố sau viêm sẽ
khác nhau.
5. NGUYÊN NHÂN
Tăng sắc tố sau viêm là kết quả của
nhiều tình trạng viêm khác nhau. Tình trạng
viêm này có thể bắt nguồn từ các nguyên
nhân nội sinh hoặc ngoại sinh. Tình trạng
viêm nội sinh bao gồm các bệnh lý ở da
như lịchen phẳng, vảy nến, chàm, mụn
trứng cá... Trong khi đó, các tình trạng
viêm do nguyên nhân ngoại sinh bao gồm
các phản ứng do ánh sáng, các thủ thuật
ở da như laser, lột da bằng hóa chất... Các
nguyên nhân thường gặp của tăng sắc tố
sau viêm được liệt kê trong Bảng 1.
188
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
Bảng 1. Nguyên nhân thường gặp gây tăng sắc tố sau viêm
6. BIỂU HIỆN LÂM SÀNG
Dát tăng sắc tố phân bố ngay tại vùng
bị viêm hay chấn thương tùy theo vị trí
các hạt sắc tố mà màu sắc biểu hiện trên
lâm sàng có thể khác nhau. Tăng sắc tố ở
lớp thượng bì biểu hiện bằng các dát màu
nâu hay nâu sậm, tồn tại vài tháng đến vài
năm và có thể tự hồi phục mà không cần
điều trị. Tăng sắc tố ở lớp bì làm da vùng
thương tổn có màu xanh - xám, nếu không
điều trị có thể tồn tại kéo dài hoặc vĩnh
viễn. Mức độ tăng sắc tố có liên quan đến
type da sậm màu, quá trình viêm kéo dài
hoặc tái đi tái lại hay do tiếp xúc với tia UV.
7, ĐIỀU TRỊ
Nguyên tắc chung
Nguyên tắc đầu tiên trong đánh giá,
tiên lượng, điều trị và dự phòng PIH là đánh
giá nguy cơ gây PIH. Quá trình viêm càng
kéo dài, type da càng sậm màu thì nguy
cơ PIH càng lớn. Một khi PH đã xuất hiện,
cần can thiệp sớm để cải thiện nhanh PIH
và ngăn ngừa tăng sắc tố trở lại. Chống
nắng - tránh nắng là biện pháp hàng đầu
trong cả phòng ngừa và điều trị PIH. Bên
cạnh biện pháp bảo vệ da dưới nắng, hiện
nay đã có rất nhiều phương pháp để điều
trị PIH, cả thuốc bôi, can thiệp thủ thuật tại
chỗ và thuốc uống toàn thân. Đồng thời có
thể phối hợp nhiều phương pháp để tăng
cường hiệu quả điều trị. Tuy nhiên, lưu ý
bản thân PIH có thể tự cải thiện dân theo
thời gian, do đó cần can thiệp đúng cách
để đẩy nhanh quá trình hồi phục và tránh
gây ra hoặc làm nặng thêm PIH sẵn có.
7.1. Chống nắng
Người có type da càng sậm màu càng
cần lưu ý các biện pháp chống nắng. Tránh
ra nắng từ 10 giờ - 16 giờ, khi ra nắng cần
có trang phục bảo vệ vải dày, màu sậm,
nhiều lớp, ưu tiên chọn loại vải có tác dụng
ngăn tia UV. Cần sử dụng kem chống nắng
có chỉ số SPF > 30 ở vùng da đang có nguy
cơ PH và vùng da tiếp xúc với ánh nắng,
bôi kem chống nắng 30 phút trước khi ra
ngoài.
Lưu ý cơ địa người có type da sậm màu
có nồng độ melanin trong da cao nên dễ
thiếu hụt vitamin D, cần phòng ngừa thiếu
vitamin D khi tránh nắng bằng cách ăn
thức ăn giàu vitamin D như cá hồi, dầu
gan cá và bổ sung viên uống vitamin D, với
tổng nhu cầu vitamin D mỗi ngày khoảng
1.000 IU.
7.2. Điều trị tại chỗ
Các phương pháp điều trị tại chỗ được
ưu tiên áp dụng cho PIH nông. Các lựa
189
Thẩm mỹ nội khoa
chọn có thể sử dụng gồm: thuốc bôi tại
chỗ có tác dụng làm giảm sắc tố như
Hydroquinone, Azelaic acid, kojic acid,
lịcorice, retinoid, chemical peel; laser. PH
sâu kém đáp ứng với điều trị tại chỗ hơn.
7.2.1. Thuốc bôi tại chỗ
Hydroquinone (HQ) là điều trị đầu tay
cho PIH. Bằng cách ức chế men tyrosi-
nase, Hydroquinone ức chế chuyển hóa di-
hydroxyphenylalanine (DOPA) thành mel-
anin, thường được sử dụng ở nồng độ từ
2 - 4%. HQ có thể được dùng đơn trị liệu
hoặc phối hợp với các nhóm thuốc bôi
khác như retinoids, glycolic acid, cortico-
steroid và các chất chống oxy hóa để tăng
hiệu quả điều trị. Lưu ý, HQ có tác dụng
mạnh nhưng cũng dễ làm nặng thêm PIH
do có thể gây phản ứng kích ứng, nhất là
khi sử dụng nồng độ cao và phối hợp với
các nhóm thuốc khác như retinoid. Các
tác dụng phụ khác có thể gặp của HQ có
thể kể đến như viêm da tiếp xúc, giảm sắc
tố vùng da lành xung quanh, bệnh da xám
nâu ngoại sinh (exogenous ochronosis) và
bệnh bạch bì (leukoderma) vĩnh viễn.
Retinoid: là dẫn xuất của vitamin A, có
thể được sử dụng đơn độc hoặc phối hợp
với các loại thuốc bôi khác trong điều trị
PIH. Retinoid có nhiều tác động sinh học
lên nhiều giai đoạn khác nhau, dẫn đến
làm sáng da, gồm điều hòa sự tăng sinh,
biệt hóa và kết dính tế bào, ức chế sự chết
tế bào theo chương trinh (apotosis) và đặc
tính kháng viêm. Lưu ý 50% bệnh nhân khi
sử dụng retinoid xuất hiện triệu chứng
viêm da tiếp xúc do retinoid, cần lựa chọn
những dạng bào chế dễ dung nạp, bắt đầu
ở nồng độ thấp và tăng dần tùy theo đáp
ứng điều trị để tránh làm nặng thêm PIH.
Azelaic acid (AA) là một dicarboxylic
acid phân lập từ Pityriasis versicolor, có
tác động ức chế tyrosinase, độc tế bào
chọn lọc và ức chế tăng sinh các tế bào
melanocyte bất thường thông qua việc
ức chế tổng hợp DNA và các enzyme ti
thể. AA cho thấy quả trong điều trị PH và
thường được sử dụng với nồng độ 20%
dưới dạng kem. Các tác dụng phụ thường
nhẹ và thoáng qua.
Ascorbic acid. L-ascorbic acid (AA) hay
còn gọi là vitamin C là chất chống oxy hóa
tự nhiên chiết xuất từ thực vật. AA có tác
dụng làm sáng da do tương tác với con
đồng ở vị trí hoạt động của tyrosinase và
hạn chế sự oxy hóa dopaquinone, một tiền
chất trong quá trình tổng hợp melanine.
Ngoài ra, AA còn có đặc tính kháng viêm
và bảo vệ da dưới nắng. AA thường được
sử dụng ở nồng độ 5-10%, phối hợp với
các hoạt chất làm giảm sắc tố khác. Lưu
ý công thức phân tử nguyên thủy của AA
kém bền hơn các dẫn xuất ester hóa.
Niacinamide là dẫn xuất ở dạng hoạt
động của vitamin B3 hay còn gọi là niacin.
Niacinamide không có tác động ức chế
tyrosinase hay tăng sinh tế bào mà làm
giảm vận chuyển melanosome đến các
tế bào keratinocyte, đồng thời tác động
lên tín hiệu tế bào giữa keratinocyte và
melanocyte để làm giảm quá trình tổng
hợp melanin. Niacinamide tương đối ổn
định dưới ánh sáng, độ ẩm, pH acid, kiềm
hay các chất oxy hóa. Niacinamide có
thể sử dụng đơn độc ở nồng độ 2-5% hay
phối hợp với các chất khác như N-acetyl
glucosamine.
Kojic acid. Kojic acid (KA) là một sản
phẩm chuyển hóa có nguồn gốc từ nấm
Acetobacter, Aspergillus và Penicillium.
KA có tác dụng làm giảm sắc tố do ức
chế tyrosinase bằng cách tạo phức chất
với đồng ở vị trí hoạt động của men này.
KA cũng có thể sử dụng phối hợp với các
chất làm trắng khác như glycolic acid và
hydroquinone để làm tăng hiệu quả điều
trị. Lưu ý có thể gặp tình trạng viêm da tiếp
xúc kích ứng do KA.
Corticoid bôi có tác dụng giảm viêm
nhanh, được ưu tiên sử dụng trong viêm da
thực vật ánh sáng (phytophotodermatitis)
hay PH do trị liệu ánh sáng, không áp dụng
cho PIH sau mụn trứng cá. Ngoài ra, có
190
Chương 3
Một số tình trạng da liên quan đến thẩm mỹ
thể sử dụng những chất làm trắng khác
như Arbutin, N-acetyl glucosamine, chiết
xuất đậu nành. Cần hạn chế sử dụng các
chất có khả năng kích ứng trong điều trị
PIH để tránh làm nặng thêm tình trạng
tăng sắc tố.
7.2.2. Chemical peel
Trên những bệnh nhân có type da sậm
màu (type IV - VI), peel nông tác động đến
lớp bì nhú, được dung nạp khá tốt và có
kết quả điều trị khả quan. Một số tác dụng
phụ thường gặp như hồng ban, cảm giác
bỏng rát, PIH, HSV tái hoạt, tróc vảy nông
và xuất hiện mụn nước. Các biến chứng
khác có thể gặp như giảm sắc tố, tạo sẹo
lồi và sẹo phì đại. Do đó cần lựa chọn bệnh
nhân kỹ càng, chú ý tiền căn nhiễm HSV,
tiền căn nhạy cảm với những loại thuốc
bôi và các thủ thuật can thiệp khác, chọn
hoạt chất peel thích hợp và tư vấn bệnh
nhân tránh nắng - chống năng kỹ càng để
ngăn ngừa PIH xuất hiện hoặc nặng | hơn
sau peel. Lưu ý hạn chế peel sâu vì lợi ích
mang lại có thể kém hơn so với nguy cơ
gây tăng sắc tố thêm sau peel, nhất là ở
những bệnh nhân có type da sậm màu.
Glycolic acid (GA) chiết xuất từ cây mía,
là một dạng alpha-hydroxy acid (AHA) tự
nhiên, thúc đẩy ly giải thượng bì, làm phân
tán melanin ở lớp màng đáy và tăng tổng
hợp collagen ở lớp bì. GA với nồng độ từ
20 - 70% được sử dụng khi peel và trung
hòa bởi | nước hoặc sodium bicarbonate.
Nghiên cứu cho thấy peel với GA môi
3 tuần phối hợp với điều trị tại chỗ
hydroquinone 2G/GA gel 10% và tretinoin
0,05% giúp cải thiện lâm sàng nhanh hơn
và rõ rệt hơn so với chỉ sử dụng thuốc bôi
tại chỗ.
Salicylic acid (SA) có nguồn gốc từ vỏ
cây liễu, là một dạng beta-hydroxy acid
gây ly giải lớp sừng bằng cách phá vỡ liên
kết ở lớp lipid gian bào. Peel nông với SA
nồng độ từ 20 - 30% không cần dung dịch
trung hòa. Nghiên cứu tại Hàn Quốc cho
thấy peel vớ SA 30% mỗi 2 tuần trong 3
tháng trên bệnh nhân PTH do mụn trứng
cá giúp cải thiện rõ màu da từ sau lần peel
đầu tiên, đồng thời cũng cải thiện tình
trạng hồng ban, khô da, tróc vảy. Độ an
toàn và hiệu quả của peel với SA đã được
kiểm chứng ngay cả trên những bệnh nhân
PIH có type da V - VI.
Ngoài ra, có thể sử dụng các hoạt chất
peel nông khác như trichloroacetic acid
(TCA) hay dung dịch Jessner’s.
7.2.3. Laser
Mặc dù các chất làm sáng da tại chỗ
vẫn là điều trị đầu tay đối với PIH, laser và
các loại nguồn sáng khác có thể có vai trò
phối hợp điều trị hoặc thay thế trong những
trường | hợp thất bại với điều trị thuốc bôi
tại chỗ. Laser ánh sáng xanh (510 nm,
532 nm), ánh sáng đỏ (694 nm) hay gần
hồng ngoại (755 nm, 1064 nm) là những
bước sóng chọn lọc sắc tố, có đích nhằm
là các melanosome nội bào. Tuy vậy, do
phổ hấp thụ của melanin khá rộng (từ 250
nm - 1200 nm), năng lượng laser đến các
đích nhằm sâu có thể bị hấp thụ bởi sắc
tố thượng bì và gây ra rối loạn sắc tố nặng
thêm, xuất hiện bóng nước, tạo sẹo. Do đó,
lưu ý chọn các loại laser có bước sóng dài
hơn (1064 nm) có khả năng xuyên sâu đến
lớp bì, kèm theo biện pháp làm mát phù
hợp sẽ giúp tăng hiệu quả điều trị mà vẫn
an toàn trên những bệnh nhân có type da
sậm màu. Đã có những trường hợp báo
cáo điều trị hiệu quả PIH trên những bệnh
nhân da sậm với blue light photodynamic
therapy,
laser
Nd:YAG
và
fractional
photothermolysis. Ngoài ra, còn có thể sử
dụng laser tonning với năng lượng thấp,
spot size lớn cũng có hiệu quả cải thiện
sắc tố. PIH cũ trên nền sẹo ở vùng không
tiếp xúc ánh nắng cần sử dụng laser với
mức năng lượng cao hơn.
7.2.4. Mesotherapy
Tài liệu về Mesotherapy trong điều trị
PIH vẫn còn khá ít ỏi. Tiềm hyaluronic
acid, các chất chống oxy hóa có thể giúp
