file-sach

20/11/2025 • by Bs CKI Phẫu thuật tạo hình, tái tạo và thẩm mỹ Trương Hoài Anh • giải phẫu
Sách Phẫu thuật Mũi cho người châu Á của Man Koon Suh

Tóm Tắt Nội Dung Sách Phẫu Thuật Mũi Người Châu Á

Cuốn sách là một cẩm nang toàn diện và chuyên sâu về phẫu thuật tạo hình mũi dành cho người châu Á, tập trung vào việc áp dụng các kỹ thuật phẫu thuật hiện đại để đạt được kết quả thẩm mỹ tối ưu, đồng thời giải quyết các vấn đề chức năng và biến chứng thường gặp. Sách cung cấp nền tảng kiến thức vững chắc về giải phẫu mũi, quy trình chuẩn bị trước mổ, các phương pháp nâng sóng và tạo hình đầu mũi, cũng như cách xử lý các ca phức tạp như mũi lệch và mũi ngắn co rút.

Các Chủ Đề Nổi Bật

  • Giải Phẫu Cơ Bản và Kỹ Thuật Thu Hoạch Mô Tự Thân: Trình bày chi tiết về giải phẫu mũi ngoài và mũi trong, các lớp mô mềm, và các cấu trúc hỗ trợ quan trọng cho chức năng hô hấp. Hướng dẫn kỹ thuật thu hoạch sụn tự thân từ tai, vách ngăn và sụn sườn, cùng với mô mềm tự thân như biểu bì mỡ và cân cơ thái dương.
  • Nâng Sóng Mũi với Miếng Cấy Ghép: Phân tích ưu nhược điểm, đặc tính và chỉ định của các loại vật liệu cấy ghép phổ biến như Silicone, Gore-Tex (e-PTFE) và Sili-Tex. Đặc biệt chú trọng đến việc gọt và sử dụng miếng cấy ghép sao cho phù hợp với đặc điểm da dày và nhu cầu thẩm mỹ của người châu Á.
  • Xử Lý Biến Chứng Liên Quan đến Implant: Đề cập đến các biến chứng thường gặp như co thắt bao xơ, huyết khối muộn, vôi hóa, đỏ da, lộ sóng và nhiễm trùng. Cung cấp các giải pháp can thiệp phẫu thuật để khắc phục từng loại biến chứng.
  • Tạo Hình Đầu Mũi Người Châu Á: Đây là phần quan trọng nhất, tập trung vào các kỹ thuật khâu sụn (gian sụn, xuyên vòm) và các loại mảnh ghép sụn (lá chắn, thanh chống trụ mũi, mở rộng vách ngăn) để kéo dài, xoay và định hình đầu mũi, nhằm điều chỉnh các vấn đề như đầu mũi bè, mũi dài, và mũi ngắn hếch.
  • Sửa Chữa Mũi Lệch và Mũi Ngắn Co Rút: Đưa ra các phương pháp tiếp cận và kỹ thuật phẫu thuật phức tạp để chỉnh sửa mũi lệch toàn diện (vách ngăn, xương, sụn) và xử lý các ca mũi ngắn co rút, bao gồm kỹ thuật bóc tách mặt phẳng kép và sử dụng mảnh ghép mở rộng vách ngăn.

Cuốn sách là tài liệu tham khảo thiết yếu cho các bác sĩ phẫu thuật tạo hình và thẩm mỹ muốn chuyên sâu về lĩnh vực nâng mũi cho đối tượng người châu Á, nơi yêu cầu thẩm mỹ và cấu trúc giải phẫu có nhiều khác biệt so với phương Tây.

Trang: / 524
Trang 1 Trang 2 Trang 3
📖 Xem bản dịch / Nội dung văn bản

177


Hình 4-24 a: Da đầu mũi mỏng với biến dạng lúm đồng tiền sau khi loại bỏ miếng
cấy ghép với nguy cơ lộ miếng cấy ghép đang diễn ra.
b: Không có sự gia cố cho da đầu mũi mỏng, một mảnh ghép sụn trên đầu mũi dễ
dàng nhìn thấy qua da. Do đó, da đầu mũi mỏng luôn đòi hỏi phải tăng cường với
miếng ghép biểu bì.
3. Điều trị
Đầu tiên, nếu miếng cấy ghép chưa bị lộ, giải pháp tương đối đơn giản. Có thể rút
ngắn kích thước hoặc chiều dài của miếng cấy ghép để đảm bảo rằng miếng cấy
ghép không mở rộng vào đầu mũi và các vị trí có nguy cơ. Khu vực có nguy cơ lộ
miếng cấy ghép sẽ cho thấy sự mỏng đi của các mô mềm trên da, điều này có thể
khiến khu vực này bị lõm sau khi lấy miếng cấy ghép ra ngoài. Khu vực này nên
được lấp đầy bằng miếng cấy ghép biểu bì mỡ để củng cố mô mềm ở đầu, sụn tai
hoặc sụn tự thân khác nên tránh nếu không có sự gia cố biểu bì mỡ vì có thể nhìn
thấy các đường nét qua làn da mỏng. (Hình 4-24).
Thứ hai, nếu miếng cấy ghép đã xuyên qua da hoặc màng niêm mạc, miếng cấy
ghép phải được loại bỏ cẩn thận và da hoặc màng bị thủng phải được sửa chữa.
Nếu khu vực này khó sửa chữa, cần phải chữa ở thì hai và điều chỉnh lại trong một
cuộc tái phẫu thuật. Tái phẫu thuật cắt bỏ sẹo hoặc sửa chữa với vạt.
Khi có thể khâu, cần phải gia cố da bị thủng và mô mềm bị mỏng bằng một miếng
ghép biểu bì mỡ để giảm thiểu tối đa sự co rút và biến dạng lõm. Nếu miếng cấy

178

ghép đã bị lộ, có thể sử dụng phương pháp nâng sóng bằng các mô tự thân như
biểu bì mỡ, nhưng chỉ nên được thực hiện trong tái phẫu thuật sau ít nhất 3-4 tháng.
Khu vực khâu tại vị trí lộ miếng cấy ghép có thể bị biến dạng lõm, do đó bệnh nhân
cần được thông báo về khả năng tái phẫu thuật.
VII. Tính di động của miếng cấy ghép và sự sai lệch
1. Tính di động của miếng cấy ghép
1) Nguyên nhân
a. Chèn sai vị trí miếng cấy ghép trên màng xương (Hình.4-25)
b. Các vấn đề gây ra bởi màng xương yếu mặc dù miếng cấy ghép được đặt chính
xác bên dưới màng xương.
2) Điều trị
Điều chỉnh bằng cách chèn miếng cấy ghép vào bên dưới màng xương. Nếu tình
trạng được gây ra mặc dù miếng cấy ghép đặt ở vị trí chính xác, mà là vì màng
xương yếu, bệnh nhân nên được trấn an rằng sự chuyển động nằm trong phạm vi
bình thường nếu sự chuyển động này vẫn còn nhỏ. Nếu sự chuyển động này là
đáng kể, miếng cấy ghép có thể được chèn bên dưới bề mặt bao xơ, nhưng điều
này rất khó thực hiện mà không làm tổn thương bề mặt phía sau của màng xương.
Miếng cấy ghép Goretex có sự kết dính tốt hơn với xương mũi và có sự phát triển
bên trong của mô so với miếng cấy ghép silicone sẽ mang lại sự ổn định cao hơn,
và việc thay thế miếng cấy ghép cũng có thể giúp ích.
2. Miếng cấy ghép lệch
1) Nguyên nhân
a. Miếng cấy ghép bị lệch được tạo ra khi tạo khoang để đặt miếng cấy ghép. Khi
thực hiện vết mổ trên niêm mạc mũi bên phải để tạo khoang, rất dễ đẩy khoang theo
hướng bên trái tại khu vực sóng mũi. Vì vậy, sẽ an toàn hơn khi rạch hai bên để tạo
khoang.
b. Chiều rộng: Khoang quá rộng có thể gây ra sự di chuyển quá mức của miếng cấy
ghép, nhưng khoang quá khít với miếng cấy ghép khiến bạn khó xác nhận xem hình
dạng khoang có phù hợp hay không. Do đó, khoang nên được tạo lớn hơn một chút

179

so với miếng cấy ghép với đủ không gian để điều chỉnh trong vòng 1-2 tuần sau khi
phẫu thuật khi phát hiện ra hiện tượng lệch.

Hình 4-25 Khả năng di động của miếng cấy ghép được đặt phía trên màng xương
Miếng cấy ghép trên màng xương cho thấy sự di chuyển dễ dàng và có xu hướng bị
lệch. Miếng cấy ghép dưới màng xương yếu cũng có thể đôi khi di chuyển nhưng
phạm vi di chuyển của nó không lớn mà khá là hạn chế.
c. Ví dụ, nếu sóng của bệnh nhân không đều, nếu sóng mũi nghiêng về một bên, thì
miếng cấy ghép nên được điêu khắc để bù cho sự khác biệt góc cạnh của độ dốc
sóng mũi hoặc nếu không thì miếng cấy ghép có thể bị lệch.
2) Điều trị
a. Đối với miếng cấy ghép silicone, phương pháp cắt bao xơ bên ngoài dọc một bên
được thực hiện ở phía đối diện với độ lệch bằng cách đặt các đường giới hạn của
bao xơ lên mặt phẳng sàn và rạch theo chiều dài của miếng cấy ghép. Khoảng trống
khoang thích hợp được tạo ra để đặt miếng cấy ghép, và miếng cấy ghép được đẩy
về hướng vào đúng vị trí tạo lực ép đã nhắm trước và tại vị trí cố định (Hình 4-26).
Đây là một biện pháp điều chỉnh đơn giản và hiệu quả.
b. Một phương pháp khác liên quan đến việc loại bỏ miếng cấy ghép và hình thành
một khoang mới chính xác bên dưới bao xơ và đặt miếng cấy ghép vào khoang mới
này. Phương pháp này là an toàn nhất và hiệu quả nhất trong việc ngăn chặn các
đường cong liên quan (Hình 4-27). Như trong trường hợp được đề cập trong phần
a), việc điều chỉnh miếng cấy ghép bị lệch với các bao xơ bị bỏ lại có thể có nguy cơ

180

bị lệch thêm vì bao xơ của túi mới và tỉ lệ mô bình thường có thể không giống nhau
ở bên trái và bên phải, gây ra sự co rút khác nhau trong quá trình lành thương. Vì
vậy, một số bác sĩ phẫu thuật cho rằng các bao xơ phải được loại bỏ, nhưng tác giả
tin rằng các lợi ích của việc loại bỏ bao xơ không vượt qua lợi ích khi để bao xơ ở
lại. Việc lệch lặp lại là không phổ biến, trong khi điều kiện của việc sai lệch là

Hình 4-26 Cắt bỏ nang dọc một bên
a: Miếng cấy ghép silicone lệch,
b: cắt bao xơ dọc theo giới hạn trái của bao xơ,
c: Hậu phẫu sau 2 tuần

181


Hình 4-27 Sửa chữa miếng cấy ghép bị lệch
a: Trước phẫu thuật
b: Hậu phẫu

chủ yếu dựa vào độ chính xác của khoang trong quá trình phẫu thuật và quan sát
trong quá trình băng ép sau phẫu thuật.
c. Chỉnh sửa miếng cấy ghép Goretex dễ dàng hơn do thiếu sự hình thành bao xơ.
Cần có khoảng trống để di chuyển thích hợp theo hướng lệch của của miếng cấy
ghép, sau đó thanh nâng được đưa vào bên dưới miếng cấy ghép để tách miếng
cấy ghép ra khỏi xương mũi và sụn và đặt đúng vị trí của nó. Tất nhiên, quy trình có
thể liên quan đến việc loại bỏ miếng cấy ghép hiện có và thay thế bằng miếng cấy
ghép mới tùy thuộc vào điều kiện thực tế.
VIII. Sự nhiễm trùng

182

Tỷ lệ nhiễm trùng của miếng cấy ghép đã được báo cáo lên tới 5,3%, nhưng có một
sự khác biệt đáng kể phụ thuộc vào bác sĩ phẫu thuật. Trong trường hợp tác giả, tỷ
lệ nhiễm trùng là khoảng 0,5%.
Nhiễm trùng đòi hỏi phải loại bỏ miếng cấy ghép, gây căng thẳng đáng kể cho bệnh
nhân và bác sĩ phẫu thuật vì mục tiêu cuối cùng của ca phẫu thuật vẫn chưa được
hoàn thành (Hình 4-28). Hơn nữa, đã có báo cáo về các trường hợp nhiễm trùng
sau nâng mũi tiến triển vượt ra khỏi nhiễm trùng cục bộ thành hội chứng sốc nhiễm
độc, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, viêm tủy và các bệnh nhiễm trùng nói chung
khác. Vì vậy, các thủ thuật nâng mũi bằng miếng cấy ghép cần phải dựa trên các
biện pháp phòng ngừa tỉ mỉ.
1. Nguyên nhân
Nhiễm trùng có thể được gây ra bởi lỗi trong việc khử trùng, chảy máu và sự căng
của mô. Nó thường xảy ra khi hệ thống miễn dịch của bệnh nhân bị suy yếu do căng
thẳng, hút thuốc và những thứ tương tự.

Hình 4-28 Nhiễm trùng sau khi nâng sóng mũi
a: miếng cấy ghép silicone,

183

b: miếng cấy ghép Gore-Tex
2. Phòng ngừa nhiễm trùng
1) Thực hành thao tác vô trùng tỉ mỉ
a. Sử dụng miếng cấy ghép sau khi bảo quản trong dung dịch kháng sinh hoặc dung
dịch betadine.
b. Bơm rửa khoang nơi miếng cấy ghép sẽ được đưa vào bằng kháng sinh.
c. Bệnh nhân nên duy trì tình trạng thể trạng tốt trước và sau phẫu thuật.
d. Các mô cần phải được giảm bớt sức căng.
e. Bệnh nhân bị viêm mũi nặng cần tránh phẫu thuật, và bệnh nhân bị viêm xoang
cần đặc biệt thận trọng.
f. Bệnh nhân nên được tiêm kháng sinh sau phẫu thuật cho mục đích phòng ngừa.
g. Vì khối máu tụ làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn, cầm máu trong phẫu thuật và băng
ép sau phẫu thuật là rất quan trọng. Bệnh nhân xuất hiện chảy máu nhiều hơn bình
thường trong phẫu thuật được khuyến cáo bằng cách đặt ống dẫn lưu vào vị trí vết
mổ trong một ngày. Khối máu tụ đã hình thành trong quá trình phẫu thuật cần phải
được loại bỏ bằng cách sử dụng ống tiêm ngay khi nó ở dạng lỏng trong một tuần
sau khi phẫu thuật.
Đặt miếng cấy ghép bên dưới chứ không phải bên trên màng xương là một kỹ thuật
phẫu thuật được sử dụng để giảm thiểu tối đa nguy cơ nhiễm trùng, vì màng xương
dày hơn và mạnh hơn mô dưới da và mô dưới cân cơ. Miếng cấy ghép lớn hơn với
độ cứng lớn hơn sẽ dễ gây ra sự ăn mòn trên thành làm tăng nguy cơ nhiễm trùng.
Miếng cấy ghép mỏng, ngắn và mềm được cho là làm giảm nguy cơ nhiễm trùng.
3. Điều trị
Một khi nhiễm trùng phát triển, một vết mổ nên được thực hiện ở niêm mạc mũi để
khử trùng môi trường xung quanh của miếng cấy ghép bằng kháng sinh. Bệnh nhân
cũng nên được điều trị bằng kháng sinh thông qua việc uống hoặc tiêm tĩnh mạch
Nếu việc điều trị không cải thiện sau một tuần, miếng cấy ghép phải được loại bỏ
ngay lập tức, nếu không bệnh nhân có nguy cơ bị co rút, tổn thương sụn hoặc mô

184

mềm, và tạo lỗ dò. Thực hiện xét nghiệm độ nhạy cảm với kháng sinh với mủ hoặc
dịch từ mô từ khu vực bị nhiễm trùng là một bước cần thiết để chọn kháng sinh thích
hợp.
Sau khi loại bỏ miếng cấy ghép, tái phẫu thuật nên được thực hiện 6 tháng sau hoặc
muộn hơn, nhưng thời hạn có thể rút ngắn xuống còn 2 tuần nếu tái phẫu thuật chỉ
dựa vào các mô tự thân.
IX. Phản ứng của cơ thể với vật lạ
Ngay cả trong trường hợp không có nhiễm trùng, có thể xảy ra sưng tiếp diễn và lặp
đi lặp lại và hồng ban tại chỗ có thể cải thiện hoặc trầm trọng hơn mà không biến
mất hoàn toàn được.
Uống thuốc kháng viêm giúp cải thiện các triệu chứng, nhưng trong hầu hết các
trường hợp, miếng cấy ghép cần phải được loại bỏ.
X. Các dấu hiệu nhìn thấy đƣợc của việc phẫu thuật có dùng miếng cấy ghép
Khi bất cứ ai có thể nhìn thấy bệnh nhân đã được phẫu thuật bằng miếng cấy ghép,
có thể nói rằng đó là khi miếng cấy ghép đã mang lại một vẻ bề ngoài có dấu hiệu
phẫu thuật với miếng cấy ghép. Điều này không phải gây ra bởi một lý do. Chiều cao
quá mức của miếng cấy ghép có thể làm cho mũi có vẻ không tự nhiên, nhưng da
mỏng, đổi màu hoặc lộ miếng cấy ghép cũng là những lý do phổ biến. Các đường
giới hạn của miếng cấy ghép có thể nhìn thấy được vì nhiều lý do cũng có thể là một
yếu tố. Hầu hết, bề ngoài có các dấu hiệu của việc mổ có dùng miếng cấy ghép gây
ra không phải bởi một yếu tố mà bởi sự kết hợp của các yếu tố này. Do đó, giải
pháp cho vấn đề này là giải quyết từng yếu tố. Các điều chỉnh cho sự đổi màu da và
mức độ lộ của miếng cấy ghép được giải quyết trong phần IX và V, và phần này sẽ
đề cập các dấu hiệu khi khám thấy các đường giới hạn của miếng cấy ghép.
1. Các dạng dấu hiệu
Các đường giới hạn của miếng cấy ghép có thể nhìn thấy được chia thành 5 loại
sau (Hình 4-29).
a. Khi chiều rộng miếng cấy ghép quá rộng
b. Khi chiều rộng miếng cấy ghép quá hẹp

185

c. Khi miếng cấy ghép được gọt quá thô và góc cạnh
d. Khi da trở nên quá mỏng
e. bao xơ được hình thành
Các loại (a) đến (d) xảy ra đối với tất cả các miếng cấy ghép bất kể loại miếng cấy
ghép nào (cả silicone và Goretex), nhưng dạng (e) sự hình thành bao xơ chỉ liên
quan đến miếng cấy ghép silicone. Các loại còn lại (a) - (c) dựa trên cảm giác thẩm
mỹ của bác sĩ phẫu thuật, chuyên môn, kinh nghiệm, và sự thể hiện liên quan đến
việc gọt của miếng cấy ghép.

Hình 4-29 5 loại bề ngoài có các dấu hiệu của việc phẫu thuật có dùng miếng cấy
ghép
a: miếng cấy ghép rộng,
b: miếng cấy ghép hẹp,
c: miếng cấy ghép với các đường giới hạn sắc nét,
d: da mỏng,
e: sự co rút bao xơ
2. Phương pháp điều chỉnh cho từng loại (Hình 4-30)

186

Nếu vấn đề về việc nhìn thấy được miếng cấy ghép là do chiều rộng của miếng cấy
ghép quá hẹp hoặc rộng, miếng cấy ghép có thể đơn giản thay thế bằng một miếng
cấy ghép khác với chiều rộng phù hợp hơn. Tương tự, miếng cấy ghép với các góc
quá mức có thể được thay thế bằng miếng cấy ghép không có. Các vấn đề xuất
phát từ da mỏng có thể được giải quyết bằng các phương pháp được liệt kê trong
phần IV và V.
• Miếng cấy ghép nào ít phát sinh vấn đề lộ hơn?
Người ta thường tin rằng miếng cấy ghép Goretex làm mỏng da ít hơn và ít phát
sinh vấn đề lộ hơn so với sản phẩm silicon, nhưng cũng có nhiều trường hợp đi
ngược lại quan điểm này.
Các trường hợp dưới đây xảy ra với Goretex gây ra sự bám dính da và gây ra lộ
hơn về các đường giới hạn của miếng cấy ghép (Hình 4-31). Trong những trường
hợp này, đường giới hạn nhìn thấy được của miếng cấy ghép tương tự với dạng
gây ra bởi viên nang trong miếng cấy ghép silicone.
Xu hướng của Goretex để giảm nguy cơ mỏng da và mang lại vẻ tự nhiên hơn là có
thể áp dụng

187


Hình 4-30 Sửa chữa từng loại bề ngoài nhìn thấy được đã phẫu thuật với miếng cấy
ghép
a: Miếng cấy ghép với chiều rộng quá rộng đã được thay đổi với một chiều rộng nhỏ
hơn,
b: Miếng cấy ghép có chiều rộng quá hẹp được thay đổi với chiều rộng ít hẹp hơn,
c: Miếng cấy ghép với đường giới hạn được gọt quá sắc nét đã được thay đổi thành
các góc cạnh và độ dốc trơn tru,
d: Da sóng mũi mỏng được điều chỉnh bằng cách sử dụng một miếng cấy ghép được
che phủ bằng cân cơ thái dương,

188

e: Trong trường hợp bao xơ bị phì đại và co rút, một giải pháp là cắt bỏ bao xơ và
thay đổi miếng cấy ghép thành Gore-Tex sẽ không hình thành bao xơ.
trong giai đoạn hậu phẫu sớm. Tuy nhiên, với thời gian trôi qua, da bám trực tiếp
vào miếng cấy ghép khiến nó trở nên dễ nhìn thấy, trong khi việc nhìn thấy các
đường giới hạn trong các giai đoạn này là không phải hiếm. Bác sĩ phẫu thuật nên
lưu ý rằng việc thiếu sự hình thành bao xơ có thể khiến da bám dính quá chặt vào
miếng cấy ghép, điều này có thể khiến miếng cấy ghép trở nên rõ hơn.
Nói tóm lại, màu da thay đổi, độ dày của da và mức độ hiển thị các đường giới hạn
phụ thuộc vào chiều cao của miếng cấy ghép,


Hình 4-31 Đường nét và đường giới hạn Gore-Tex có thể dễ dàng nhìn thấy
do sự bám dính của da dọc theo miếng cấy ghép.

độ mỏng da của bệnh nhân và độ căng của da trên khu vực miếng cấy ghép
và ít liên quan đến loại miếng cấy ghép được sử dụng.

189

Điều tương tự áp dụng cho độ cứng của miếng cấy ghép. Miếng cấy ghép
silicon mềm không đảm bảo ít lộ hơn. Miếng cấy ghép loại mềm cho phép sự
bám dính tốt hơn với xương mũi để có sự ổn định hơn, và nó mang lại sự
kích thích thấp hơn cho các mô mềm và giảm nguy cơ nhiễm trùng, nhưng ít
liên quan đến việc mang lại vẻ tự nhiên.
Độ cứng của miếng cấy ghép không ảnh hưởng đến da mũi, nhưng ảnh
hưởng đến sự bám dính của bề mặt sàn với xương. Miếng cấy ghép càng
mềm thì độ bám dính càng lớn cho phép ít dịch chuyển hơn và ít sự chuyển
động hơn. Tuy nhiên, những điều này ít liên quan đến sự đổi màu da và các
dấu hiệu nhận biết khác sau phẫu thuật.
Trong khi đó, các vấn đề như mỏng và đỏ da không thể được khắc phục bằng
cách sử dụng miếng cấy ghép silicone có độ mềm cao, Goretex hoặc các loại
miếng cấy ghép khác có độ cứng thấp hơn.
Miếng cấy ghép mang lại vẻ tự nhiên cần phải đáp ứng các điều kiện sau:
a. Chiều cao của miếng cấy ghép: Miếng cấy ghép cao hơn làm tăng nguy cơ
nhìn không tự nhiên.
b. Độ dày da sóng mũi: Bệnh nhân sinh ra có lớp da mỏng ở sóng mũi hoặc
sử dụng miếng cấy ghép quá cao đã làm mỏng da thì dễ có khuynh hướng lộ
sóng và có thể nhìn thấy được các đường giới hạn của miếng cấy ghép.
c. Sức căng của da ở sóng mũi: Sự căng của da có liên quan đến màu đỏ
của da, đây là một trong những dấu hiệu nhận biết vẻ bề ngoài đã phẫu thuật.
d. Khoang: Sự tồn tại của một lượng mô mềm vừa đủ giữa miếng cấy ghép
và da giúp làm giảm sự nhận biết của miếng cấy ghép. Lớp này có thể được
bổ sung bằng cách sử dụng cân cơ hoặc bao xơ từ phẫu thuật trước đó.
e. Gọt miếng cấy ghép: Chiều rộng của miếng cấy ghép và độ dốc ở cả hai
bên của miếng cấy ghép quyết định vẻ bên ngoài tự nhiên.
Tham khảo thêm
1. Coursey, D. L. Staphylococcal endocartidtis following septorhinoplasty. Arch.
Otolaryngol. 99 : 545, 1974

190

2.
Jin HA, etc. Calcification deposits in nasal silicone implant: Regional distribution
in relation to surrounding soft tissues. J Korean Soc Plast Reconstr Surg, 31:
315, 2004
3.
Malaisrie SC, Malekzadeh S, Biedlingmaier JF : In vivo analysis of bacterial
biofilm formation on facial plastic bioimplant. Laryngoscope. 1998 Nov : 108(11
Pt 1) : 1733-8
4, M.K. Suh. Contracted short nose correction using irradiated homologous costal
cartilage. Arch Aesth Plast Surg. 16(3) 117- 124, 2010
5.
Thomas, S. W., Baird, I. M. and Frazier R. W. Toxic shock syndrome following
submucous resection and rhinoplasty. JAMA 247 : 2402, 1982

191


CHƢƠNG 5
NÂNG SÓNG MŨI VỚI MÔ TỰ THÂN

I. Nâng sóng mũi với cân cơ thái dương
II. Nâng sóng mũi với biểu bì mỡ
III. Nâng sóng mũi với sụn sườn
IV. Nâng sóng mũi với sụn cắt mỏng được bọc bằng cân cơ thái dương


CHƢƠNG 5
NÂNG SÓNG MŨI VỚI MÔ TỰ THÂN

So với miếng cấy ghép alloplastic, nâng sóng mũi với mô tự thân không có tác dụng
phụ gây ra bởi miếng cấy ghép, làm cho nó trở thành phương pháp ưa thích nhất
đối với các bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ. Tuy nhiên, nâng sóng mũi với mô tự thân
thường dẫn đến kết quả không đạt yêu cầu đối với các bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ
châu Á khi xử lý vấn đề sóng mũi thấp. Lý do tại sao việc sử dụng miếng cấy ghép
vẫn được ưa chuộng hơn ở phẫu thuật nâng sóng mũi ở người châu Á là vì nó
không chỉ là miếng cấy ghép dễ dàng được đúc mà còn có tần suất thấp của tác
dụng phụ do miếng cấy ghép đối với người châu Á có da sóng mũi dày hơn so với
người phương Tây. Mặc dù vậy, nâng sóng mũi với mô tự thân là một kỹ thuật cần
phải được thành thạo đối với bác sĩ phẫu thuật để phẫu thuật cho những bệnh nhân
có da sóng mũi rất mỏng hoặc để giải quyết các trường hợp bệnh nhân có tác dụng
phụ do miếng cấy ghép.
Trong phẫu thuật nâng mũi của người châu Á, các vật liệu được sử dụng rộng rãi là
cân cơ thái dương, biểu bì mỡ, sụn sườn và sụn được cắt nhỏ (Hình 5-1).

192

I. Nâng sóng mũi với cân cơ thái dƣơng
Phương pháp thu hoạch cân cơ thái dương được đề cập trong Chương 1. Cân cơ
thái dương không lớn về số lượng và có tỷ lệ hấp thụ nhất định. Do đó, hạn chế
nâng toàn bộ chiều cao sóng mũi bằng vật liệu này. Do đó, nó chủ yếu được sử
dụng để chỉ tăng vùng gốc mũi hoặc điều chỉnh độ dốc hoặc bất thường của vùng
sóng mũi (Hình 5-2).
Temporal fascia cân cơ thái dương
Rib cartilage sụn sườn
Dermofat biểu bì mỡ
Diced cartilage sụn được cắt mỏng

193

Hình 5-1 Mô tự thân để nâng sóng mũi

Hình 5-2 Nâng vùng gốc mũi với cân cơ thái dương
II. Nâng sóng với biểu bì mỡ
Phương pháp thu hoạch biểu bì mỡ được đề cập chi tiết trong Chương 1. Chúng tôi
đề nghị bác sĩ phẫu thuật đặt biểu bì mỡ trên sóng mũi để đo chiều dài và chiều
rộng trước.
Trong trường hợp của người châu Á, điểm bắt đầu của miếng cấy ghép thường ở
mức của đường lông mi hoặc đường mí mắt đôi. Tuy nhiên, nên khuyến khích đặt
biểu bì mỡ trên điểm này một chút.
Nói chung, điểm giữa đường mí mắt đôi và lông mày là phù hợp (Hình 5-3). Do đó,
hình dạng của vùng gốc mũi có thể được hình thành một cách tự nhiên vì một tỷ lệ
nhất định của biểu bì mỡ được hấp thụ. Điểm cuối của biểu bì mỡ là cần phải đến
gần được đầu mũi.
Trước khi đặt biểu bì mỡ, cần phải cắt tỉa nó theo chiều rộng và có hình dạng phù
hợp. Nhìn chung chiều rộng 10 mm là phù hợp, nhưng bác sĩ phẫu thuật có thể thay
đổi theo chiều rộng của mũi bệnh nhân.
Vì trong trường hợp sử dụng miếng cấy ghép, biểu bì mỡ nên được cắt tỉa rộng ở
phía mặt sàn trong khi hẹp ở phía mặt mái. (Hình 5-4).

194


Hình 5-3 điểm bắt đầu của miếng cấy ghép biểu bì mỡ
Hình 5-4 Cắt tỉa miếng cấy ghép biểu bì mỡ
a: cắt tỉa miếng cấy ghép biểu bì mỡ,
b: Hình dạng tương tự như miếng cấy ghép, phần mặt mái hẹp hơn so với phần mặt
sàn.

195


Hình 5-5 Cố định miếng cấy ghép biểu bì mỡ
Khi xác định mặt nào nên tiếp xúc với vạt da, người ta thường nghĩ rằng lớp hạ bì
nên tiếp xúc với vạt da, để thúc đẩy việc cung cấp máu cho biểu bì mỡ, giúp miếng
cấy ghép sống sót. Tuy nhiên, tác giả tin rằng không có sự khác biệt đáng kể.
Mặc dù lớp hạ bì phải đối diện với mặt sàn, nó vẫn tiếp xúc với màng xương. Khi mô
mỡ ở phần mặt mái, khá dễ dàng để cắt tỉa nó theo hình dạng tương tự như miếng
cấy ghép.
Một mặt của biểu bì mỡ nên được cố định ở giữa lông mày bằng cách sử dụng chỉ
khâu kéo ra trong khi cố định vùng kết thúc với sụn alar hoặc góc vách ngăn (Hình
5-5). Chỉ khâu kéo ra này phải được loại bỏ sau một tuần.
Biểu bì mỡ yêu cầu nhiều hơn mức ở khoảng 20 ~ 30% khi xem xét tỷ lệ hấp thụ.
Bệnh nhân có thể thấy độ cao hơn so với lúc ban đầu và sóng mũi rộng trong một
tháng hoặc lâu hơn sau phẫu thuật.
Nâng mũi bằng miếng ghép biểu bì mỡ có ưu điểm cho hình dạng trông tự nhiên,
ngăn ngừa lộ miếng cấy ghép, không bị đổi màu da, ít có khả năng nhiễm trùng, phù
hợp với bệnh nhân có làn da mỏng.

196

Hình 5-6 cho thấy kết quả trước và sau phẫu thuật.
Tuy nhiên, do tỷ lệ hấp thụ cao, bệnh nhân có thể không hài lòng với chiều cao của
sóng mũi (Hình 5-7).

Hình 5-6 Hình trước và sau phẫu thuật sử dụng miếng ghép biểu bì mỡ (sóng mũi)
a: trước phẫu thuật,
b: sau phẫu thuật 4 tháng (Nâng sóng mũi bằng miếng ghép biểu bì mỡ, tạo hình
đầu mũi bằng miếng ghép chống trụ mũi và miếng ghép trên đầu mũi với sụn vách
ngăn),
c: trước phẫu thuật

197

d: sau phẫu thuật 6 tháng (nâng sóng mũi với miếng cấy ghép biểu bì mỡ, tạo hình
đầu mũi)

Hình 5-7 Một trường hợp với sự hấp thụ đáng kể của miếng cấy ghép biểu bì mỡ ở
sóng mũi
a: trước phẫu thuật,
b: sau phẫu thuật 3 tháng,
c: sau phẫu thuật 6 tháng
III. Nâng sóng mũi với sụn sƣờn
Có một lượng đáng kể sụn sườn trong cơ thể chúng ta với tỷ lệ hấp thụ ít hơn so với
biểu bì mỡ làm cho sụn sườn có thể nâng cao phần sóng mũi như mong muốn.
Phương pháp thu hoạch cho sụn sườn được đề cập chi tiết trong Chương 1.
Khi sử dụng sụn sườn để nâng sóng mũi, cần đặc biệt chú ý đến việc ngăn ngừa
sụn sườn cong vênh. Vì vậy, nên sử dụng vùng trung tâm của sụn sườn hoặc sử
dụng cùng một lượng màng niêm mạc được gắn ở cả hai bên theo nguyên tắc mặt
cắt ngang cân bằng của Gibson (Hình 1-56).
Tuy nhiên, không dễ dàng gì để tuân theo nguyên tắc này để phù hợp với độ cong
của sụn với phần sóng mũi khi gọt sụn sườn để nâng sóng mũi. Tuy nhiên, để tránh
cong vênh, chèn dây K vào giữa sụn sườn nếu có thể (Hình 5-8), tuy nhiên, tác giả
không thích kỹ thuật này.

198

Tác giả sẽ giới thiệu một phương pháp gọt sử dụng sự cong vênh.
Trước hết, chạm khắc sụn sườn theo đối xứng hai bên sao cho tuân thủ theo
nguyên tắc mặt cắt ngang cân bằng, sau đó khắc mặt sàn và mặt mái của sụn sườn
giống như miếng cấy ghép. Độ cong vênh theo hướng sàn-mái không phải là vấn
đề, bởi vì nó tương tự như đường cong mũi. Để dễ dàng thích nghi hơn với phương
pháp này, hãy sử dụng một bên vỏ của sụn sườn bằng cách cắt nó theo một độ dày
nhất định (Hình 5-9).
Mặc dù cong vênh có thể xảy ra ở một bên, nó có thể phản ánh đường cong mũi tự
nhiên để có kết quả tốt hơn. Trong trường hợp cong vênh quá mức, nó có thể được
kiểm soát bằng rạch các đường mổ trên miếng cấy ghép, nhưng việc này đòi hỏi
kinh nghiệm rất nhiều để đạt thành công bằng phương pháp này. (Hình 5-10).
Sau khi sụn sườn được đưa vào mũi, phần đầu nên được cố định bằng dây K trong
một tuần trong khi phần dưới nên được cố định vào sụn trên bên ngoài bằng chỉ
khâu không tan.
Nâng sóng bằng sụn sườn là lợi thế trong việc nâng mũi theo như bệnh nhân mong
muốn (Hình 5-11). Các bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ phương Tây có xu hướng tránh
sử dụng miếng cấy ghép, và do đó thường thực hiện nâng mũi bằng cách sử dụng
sụn vách ngăn mũi hoặc sụn sườn.
Trong trường hợp bệnh nhân châu Á, sụn vách ngăn mũi có số lượng nhỏ trong khi
chiều cao đòi hỏi của sóng mũi

199


Hình 5-8 dây K để phòng ngừa cong vênh sụn sườn

Hình 5-9 Gọt sụn sườn để nâng sóng mũi

200


Hình 5-10 Rạch các đường mổ trên bề mặt sụn sườn có thể kiểm soát độ cong vênh
ở một mức độ nào đó.

Hình 5-11 Hình trước và sau phẫu thuật nâng sóng mũi bằng sụn sườn
a: trước phẫu thuật
b: sau phẫu thuật

201


Hình 5-12 Đường nét sụn sườn có thể dễ dàng nhìn thấy qua da sóng mũi
Hình 5-13 Bất thường trên bề mặt sóng mũi sau khi nâng sóng mũi bằng sụn sườn.
a: trước phẫu thuật. (sự tái hấp thu không đồng đều của miếng cấy ghép có thể gây
ra sự bất thường trên bề mặt),
b: sau phẫu thuật. (miếng cấy ghép biểu bì mỡ sau khi loại bỏ miếng cấy ghép sụn
sườn)

là lớn. Do đó, sụn sườn có thể là một nguyên liệu tốt cho người châu Á.
Tuy nhiên, hình dạng của sụn sườn có thể hiển thị trên da sau khi phẫu thuật (Hình
5-12), hoặc sụn sườn có thể được hấp thụ không đều, thường gây ra biến dạng
sóng mũi (Hình 5-13). Vì lý do này, không có gì lạ khi loại bỏ sụn sườn ở sóng mũi
và thay thế bằng miếng ghép biểu bì mỡ hoặc miếng cấy ghép ở Hàn Quốc. Tuy
nhiên, sụn sườn vẫn là một trong những vật liệu hữu ích nhất để nâng sóng mũi, và
do đó cần phải phát triển kỹ thuật mổ để có thể đối phó với các điểm bất lợi của sụn
sườn.
IV. Nâng sóng mũi với sụn đƣợc cắt mỏng bọc với cân cơ thái dƣơng
Kỹ thuật mổ này đòi hỏi phải cắt sụn thành những miếng nhỏ, bọc chúng bằng cân
cơ giống như bọc xúc xích và cuối cùng đưa nó vào trong sóng mũi để nâng cao

202

sóng mũi (Hình 5-14). Sụn được sử dụng trong kỹ thuật này bao gồm sụn tai, sụn
vách ngăn hoặc sụn sườn, v.v.
Sụn tai hoặc sụn vách ngăn có số lượng nhỏ so với sụn sườn, do đó thay vì chỉ sử
dụng sụn tai hoặc sụn vách ngăn, cả hai nên được sử dụng cùng nhau thường
xuyên.
Phương pháp mổ này cho kết quả miếng cấy ghép ít bị lộ hơn và trông tự nhiên hơn
so với việc sử dụng toàn bộ sụn sườn. Tuy nhiên, chiều cao mong muốn có thể
không đạt được vì tỷ lệ hấp thụ cao. Nó không có lợi thế hơn so với miếng cấy ghép
biểu bì mỡ về chiều cao. Loại sụn này không có lợi thế về chiều cao đạt được khi
xem xét thời gian về lâu về dài, và thậm chí một biến dạng nhỏ hoặc một phần sụn
đôi khi được nhìn thấy. Vì lý do này, việc sử dụng phương pháp này đang giảm dần
ở Hàn Quốc. (Hình 5-15).
Temporal Fascia cân cơ thái dương
Syringe containing diced cartilage Ống tiêm chứa sụn được cắt mỏng

Hình 5-14 Nâng sóng mũi với sụn được cắt mỏng

203


Hình 5-15 Một phần sụn được nhìn xuyên qua da sau khi nâng sóng mũi với sụn
được cắt mỏng.

Tham khảo thêm
1.
Daniel RK. Calvert JC. Diced cartilage in rhinoplasty surgery. Plast Reconstr
Surg. 113: 2156, 2004
2.
Daniel RK. Mastering rhinoplasty. Springer. 2010
3.
DH Jung, Rhinoplasty. Greenbook Co. 91, 2002
4.
Miller TA. Temporalis fascia grafts for facial and nasal implants. Br J Plast Surg.
25: 276, 1972

204

CHƢƠNG 6
TẠO HÌNH ĐẦU MŨI NGƢỜI CHÂU Á

I. Các nguyên tắc cơ bản của tạo hình đầu mũi 1: Kỹ thuật khâu đầu mũi
II. Các nguyên tắc cơ bản của tạo hình đầu mũi 2: Miếng ghép sụn
III. Ứng dụng tạo hình đầu mũi 1: Độ nhô ra
IV. Ứng dụng tạo hình đầu mũi 2: Sửa chữa đầu mũi bị bè ra và mũi dài
V. Các kỹ thuật nâng cao của tạo hình đầu mũi: Sửa mũi ngắn
VI. Những nguyên nhân và giải pháp cho tạo hình đầu mũi không đạt yêu cầu ở
người châu Á


CHƢƠNG 6
TẠO HÌNH ĐẦU MŨI NGƢỜI CHÂU Á

Tạo hình đầu mũi là phần quan trọng nhất của phẫu thuật nâng mũi, và là một cuộc
mổ hoàn thành tạo hình mũi ở bước cuối cùng. Sụn Alar (sụn dưới bên ngoài) cho
thấy sự khác biệt lớn về kích thước, hình dạng, lực hỗ trợ tùy thuộc vào chủng tộc
và đặc tính của từng người (Hình 6-1). Không giống như sụn trên bên ngoài, sụn
alar không được hỗ trợ bởi vách ngăn mũi mà chỉ được hỗ trợ bởi các mô mềm
xung quanh. Kết quả là, đầu mũi rủ xuống xảy ra khi các mô mềm bị tổn thương.
Nếu bác sĩ phẫu thuật chèn miếng cấy ghép silicone vào đầu mũi, sụn alar không
được hỗ trợ bởi vách ngăn mũi có thể không chịu được sức nặng và áp lực của
miếng cấy ghép, có thể dẫn đến biến dạng mỏ chim (Hình 6-2). Tất nhiên, miếng cấy
ghép silicone nằm ở đầu mũi có thể thêm các áp lực quá mạnh vào đầu mũi và sẽ
có nguy cơ về sự nhô ra khi nó xuyên qua da (Hình 6-3). Do đó, để có được kết quả
thành công của việc sửa đầu mũi, cần phải hiểu đầy đủ các đặc điểm giải phẫu của

205

sụn alar và mô mềm, tác động của chúng đối với hình dạng của đầu mũi, các tác
dụng khác nhau của tạo hình đầu mũi và kết quả cuối cùng dự kiến.
Chúng ta có thể quan sát nhiều hình dạng khác nhau ở đầu mũi của người châu Á,
nhưng nhìn chung mũi châu Á so với người da trắng thường có đặc điểm da dày,
sụn yếu và mỏng hơn, trụ mũi co rút và thùy alar bè ra (Hình 6-4 ). Các đặc tính bất
lợi này giới hạn sự thay đổi hình dạng của đầu mũi, và các phương pháp khác nhau
đã được thực hiện để khắc phục những hạn chế đó. Ngoài ra, so với người da
trắng, người châu Á có quan điểm khác nhau về vẻ đẹp và cấu trúc giải phẫu. Vì lý
do này, rất khó để tạo ra đầu mũi với các đường nét rõ ràng và góc khác biệt. Có rất
nhiều sự thay đổi giữa các cá nhân ngay cả trong sở thích của hình dạng. Để thực
hiện tạo hình đầu mũi, điều quan trọng là phải phân tích chính xác chiều rộng mũi,
đường nét, thể tích, đối xứng, trục xoay, sự hỗ trợ, độ nhô và mối quan hệ thùy alar
– trụ mũi, và cần phải quan sát chúng từ các khía cạnh khác nhau; mặt trước, mặt
bên, mặt xiên và mặt đáy.
Các yếu tố quan trọng nhất đối với người châu Á, đặc biệt là người Hàn Quốc, là
trục xoay và độ nhô. Điều đó nghĩa là, mối quan tâm chính của

206

Hình 6-1. Sự khác biệt về chủng tộc của cấu trúc giải phẫu sụn alar
a, b: Sụn alar của người da trắng thường lớn và phát triển tốt.
c, d: Không có gì lạ khi sụn alar người châu Á nhỏ và yếu.

Hình 6-2. Biến dạng mỏ chim
a: Đầu mũi bị rủ xuống khi sụn alar bị ép bởi áp lực của miếng cấy ghép silicone,
b: Sửa chữa được thực hiện thông qua dịch chuyển miếng cấy ghép silicone và sửa
đổi đầu mũi bằng thanh chống sụn vách ngăn ở trụ mũi

Hình 6-3 Sự trồi ra của miếng cấy ghép silicon qua da đầu mũi mỏng
Vị trí miếng cấy ghép vào đầu mũi có nguy cơ miếng cấy ghép tiếp xúc qua da.

207

Hình 6-4 Đầu mũi và thùy mũi thường gặp ở mũi châu Á

người Hàn Quốc khi muốn nâng mũi là chiều cao của đầu mũi và đầu mũi có hếch
lên hay không. Có rất nhiều sự thay đổi giữa các cá nhân trong sở thích về thể tích
của đầu mũi. Một số người nhấn mạnh vào truyền thống phương Đông coi đầu mũi
bè là vận may, nhưng một số người muốn thay đổi đầu mũi bè thành hình dạng thon
và tinh tế. Do đó, cần tham khảo ý kiến bệnh nhân về chiều rộng hoặc thể tích của
đầu mũi trước khi phẫu thuật, và hơn nữa phải làm quen với các phương pháp phẫu
thuật thay đổi thể tích.
Liên quan đến một đầu mũi lý tưởng, khuyến nghị các đường nét được kết nối tự
nhiên từ khu vực chau mày đến điểm kết thúc của mũi nhưng bằng cách nào đó có
hình dạng tròn ở góc nhìn phía trước. Trong trường hợp này, lỗ mũi không được
hiển thị quá mức và vành alar ở cả hai bên cần phải có hình dạng mòng biển tinh tế
(Hình 6-5). Ở góc nhìn bên, hình ảnh lý tưởng là vành alar không nên rút lại hoặc
treo lên sao cho nó phù hợp với trụ mũi mà không bộc lộ độ dài ra trong 2 ~ 4mm
(Hình 6-6). Góc mũi môi phù hợp là 90 ~ 95. Và khuyến nghị rằng chiều cao của mũi
chiếm 55 ~ 60% của chiều dài mũi (Hình 6-7). Ở mặt đáy, lý tưởng là giữ không cho
quá rộng ở mặt đáy của mũi, hình tam giác tinh tế

Hình 6-5 Hình dạng mũi được người Hàn Quốc ưa thích
Hình 6-6 Góc nhìn bên lý tưởng

208


Hình 6-7 Góc mũi môi lý tưởng
Hình 6-8 Góc nhìn từ nền mũi lý tưởng

mũi, không dư quá mức thùy dưới đầu mũi, và lỗ mũi trong như hình giọt nước mắt
(Hình 6-8). Tuy nhiên, trên hết, điều quan trọng là phải có được hình dạng tự nhiên
của đầu mũi phù hợp với khuôn mặt và toàn bộ mũi, đặc biệt là chiều cao của mũi
hơn là các tiêu chuẩn lý tưởng như vậy. Không nên nhấn mạnh vào độ nhô ra của
đầu mũi dẫn đến mũi hếch hoặc đầu mũi nhô ra quá nhiều không phù hợp với chiều
dài hoặc kích thước của mũi, hoặc toàn bộ khuôn mặt.
1) Mục đích của tạo hình đầu mũi
Nói chung, hình dạng của mũi với đầu mũi hơi nhếch lên trông đẹp hơn mũi với mũi
bị rủ hoặc mũi phẳng. Do đó, tạo hình đầu mũi được thực hiện để kéo dài đầu mũi,
xoay đầu mũi hoặc điều chỉnh đầu mũi bè. Tạo hình đầu mũi được thực hiện thông
qua thao tác chính xác của sụn bằng cách sử dụng các đặc điểm giải phẫu của sụn
alar.
Mục đích cuối cùng của tạo hình đầu mũi là để đạt được một hình dạng ổn định và
đẹp. Phân tích giải phẫu trước hoặc trong quá trình phẫu thuật là rất quan trọng bởi
vì mỗi bệnh nhân có sụn alar khác nhau. Trong mọi trường hợp, luôn đòi hỏi phải
giữ đối xứng mà không được thất bại. Ngoài ra, cần phải nắm vững các kỹ năng

209

phẫu thuật khác nhau cũng như hiểu rõ về phương pháp phẫu thuật và vật liệu ghép
đang sử dụng.
2) Hỗ trợ đầu mũi
Điều quan trọng là phải hiểu chính xác các cấu trúc hỗ trợ của đầu mũi trước khi tạo
hình đầu mũi. Đó là sụn alar quyết định hình dạng và chiều cao của đầu mũi. Sụn
Alar được làm từ sụn trong và sụn ngoài, được kết nối với khe hình lê bằng các sụn
kèm theo. Sụn kèm theo kết nối sụn ngoài của sụn alar và khe hình lê, thường sẽ
bao gồm một số mảnh. Cấu trúc kết nối như vậy được gọi là phức hợp bản lề. Sụn
Alar không được hỗ trợ bởi bất kỳ cấu trúc cố định nào, mà bởi lớp da xung quanh
hoặc các mô mềm trong đó và dây chằng treo, vùng cuộn và mô mềm ở giữa và
dưới sụn trong. Do đó, bất kỳ tổn thương hoặc sụp đổ của các mô mềm trong quá
trình phẫu thuật cũng có thể gây ra thay đổi chiều cao đầu mũi. Đặc biệt là khi đầu
mũi được phát hiện dễ dàng chịu áp lực và lực đàn hồi của nó quá yếu trước khi
phẫu thuật, nó đòi hỏi

Hình 6-9 Sụn trong yếu

210

a: Trụ mũi ngắn với sụn trong yếu,
b: Độ đàn hồi yếu và dễ bị đẩy khi tạo áp lực lên đầu mũi,
c: sụn trong ngắn và yếu,
d: thanh chống trụ mũi tăng cường gia cố cho sụn trong

tránh cắt quá nhiều cấu trúc hỗ trợ ở đầu mũi và củng cố sự hỗ trợ bằng cách sử
dụng thanh chống trụ mũi hoặc miếng ghép mở rộng vách ngăn (Hình 6-9).
3) Các khái niệm cơ bản của tạo hình đầu mũi
Nguyên tắc cơ bản của tạo hình đầu mũi có thể được giải thích bằng lý thuyết hình
tam giác của Anderson. Anderson cho rằng có thể sự xoay và nhô ra của đầu mũi có
thể sửa bằng cách điều chỉnh hai sụn ngoài và một sụn trong của sụn alar với góc
nhìn đầu mũi được hỗ trợ bởi ba sụn này giống như máy ảnh được hỗ trợ bởi giá ba
chân (Hình 6-10). Giả sử hai sụn ngoài và một sụn trong là ba chân, Anderson nhấn
mạnh rằng một trong ba chân bị cắt có thể làm giảm chiều dài dẫn đến việc xoay
theo hướng ra trước.
Nói cách khác, cắt chân ở phần thấp sẽ làm giảm độ nhô đầu mũi cho phép nó di
chuyển xuống dưới, trong khi cắt phần sụn ngoài sẽ làm tăng độ nhô đầu mũi cho
phép phần đầu của nó xoay ra phía trước.
Mở rộng chân ở phần thấp bằng cách dùng miếng ghép sẽ cho phép đầu mũi hướng
lên trên trong khi cắt sụn ngoài thêm sẽ làm tăng độ nhô và làm xoay đầu mũi hơn
nữa.
Như vậy, yếu tố quan trọng nhất quyết định hình dạng và sự hỗ trợ của đầu mũi là
sụn alar, và nhiều

211


Hình 6-10 Lý thuyết 3 chân của Anderson
a: rút ngắn sụn trong: xoay phần đuôi,
b: rút ngắn sụn ngoài: xoay phần đầu,
c: rút ngắn cả hai sụn: hạ thấp đầu mũi,
d: miếng ghép: nhô đầu mũi và xoay phần đầu,
e: miếng ghép và làm ngắn sụn ngoài: nhô đầu mũi và xoay phần đầu

phương pháp tạo hình đầu mũi cũng cho thấy tầm quan trọng trong sửa đổi hình
dạng của sụn alar.
Ngoài sụn alar, một yếu tố quan trọng khác ảnh hưởng hình dạng và sự hỗ trợ của
đầu mũi là phần đuôi của vách ngăn mũi. Phần quan trọng nhất của tạo hình đầu
mũi là khả năng chắc chắn trong cấu trúc để đầu mũi có thể chịu được sức căng của

212

mô mềm của da đầu mũi được che phủ lại sau phẫu thuật và lực chấn thương tạo ra
trong một thời gian dài sau phẫu thuật.
Có ba yếu tố quan trọng để hỗ trợ đầu mũi; kích thước và độ đàn hồi của sụn alar,
vùng cuộn của sụn trên bên ngoài và sụn alar, và cuối cùng là mô mềm giữa và
xung quanh sụn trong của sụn alar, được gọi là các cấu trúc hỗ trợ chính của đầu
mũi.
Ngoài ra còn có nhiều cấu trúc hỗ trợ khác của đầu mũi bao gồm cả khu vực nơi dây
chằng gian vòm và sụn alar được kết nối với khe hình lê, v.v Những cấu trúc hỗ trợ
này của đầu mũi có thể thường bị tổn thương trong quá trình phẫu thuật. Trong
trường hợp đó, khu vực này phải được khôi phục hoặc gia cố nếu cần thiết để có
thể hỗ trợ đầu mũi đúng cách.
Để giữ được đầu mũi có tình trạng ổn định trong một thời gian dài mà không có bất
kỳ tác dụng phụ nào, nên tránh cắt và ít làm tổn thương mô, bao gồm cả sụn đầu
mũi và sắp xếp lại mô hoặc các thay đổi hình dạng để cuối cùng đạt được kết quả
như mong muốn ở đầu mũi.
I. Các nguyên tắc cơ bản của tạo hình đầu mũi 1: Kỹ thuật khâu đầu mũi
So với người da trắng, người châu Á có da dày ở đầu mũi và sụn alar nhỏ. Do đó,
thực tế rất khó để có được sự thay đổi hình dạng của đầu mũi chỉ bằng kỹ thuật
khâu sụn alar. Theo đó, miếng ghép sụn được áp dụng rộng rãi, so với kỹ thuật
khâu đầu mũi trong tạo hình đầu mũi đối với người châu Á. Tuy nhiên, sử dụng kỹ
thuật khâu đầu mũi đúng cách cũng có thể cho phép đạt được sự thay đổi hình dạng
của đầu mũi như mong muốn. Mặc dù chỉ riêng kỹ thuật khâu đầu mũi là không hiệu
quả, nhưng nó có thể củng cố cấu trúc của miếng ghép sụn. Ngoài ra, sử dụng kết
hợp với miếng ghép sụn có thể giúp tạo ra một sự thay đổi hiệu quả về hình dạng.
Hiệu quả thu được từ kỹ thuật khâu đầu mũi bao gồm sự nhô ra, xoay và giảm thể
tích của đầu mũi. Cách tiếp cận bên ngoài so với cách tiếp cận bên trong là lợi thế
để thực hiện một kỹ thuật khâu đầu mũi hiệu quả.
1. Khâu sụn trong
(1) Phương pháp

213

Phẫu thuật có thể được thực hiện tại điểm giữa giữa sụn trong của sụn alar hai bên
(Hình. 6-11). Phần lớn dùng chỉ # 5-0 Nylon hoặc PDS để khâu, và đầu kim tròn
được khuyến khích để tránh tổn thương cho sụn.
(2) Hiệu quả
a. Sửa chữa sự bất đối xứng của sụn trong của sụn alar
b. Sửa chữa sự bất đối xứng vị trí của sụn alar (Hình 6-12).
c. Thu hẹp chiều rộng của trụ mũi, nếu nó rộng
d. Tăng cường lực hỗ trợ đầu mũi.
(3) Giới hạn
Lực hỗ trợ đầu mũi quá yếu nếu chỉ bằng kỹ thuật khâu sụn trong. Do đó, nỗ lực
nâng đầu mũi bằng kỹ thuật khâu đầu mũi này là không đủ. Điều này khuyến khích
để tăng cường

Hình 6-11 Chỉ khâu gian sụn

214


Hình 6-12 Chỉ khâu gian sụn để điều chỉnh bất đối xướng phần đầu vị trí bên phải
sụn alar
a: vành alar co rút lại ở phía bên phải,
b, c: phần đầu vị trí sụn alar ở bên phải,
d: sụn alar bên phải được giải phóng từ sụn trên bên ngoài và nâng cao ở phần đuôi,
e, f: khâu gian sụn để cố định nâng cao sụn alar bên phải,
g, h, i: Sau khi khâu gian sụn, sụn alar bên phải được đặt cùng vị trí với sụn alar bên
trái,
j: hậu phẫu (điều chỉnh độ lệch của miếng cấy ghép và tạo hình đầu mũi)
lực bằng cách thực hiện thanh chống trụ mũi, miếng ghép mở rộng vách ngăn hoặc
miếng ghép trên sụn, v.v
2. Khâu xuyên vòm
1) Phương pháp

215

Đây là một phương pháp thay đổi hình dạng của phần vòm bằng cách thực hiện
khâu phần đệm với trục ngang trên phần vòm của sụn alar (Hình 6-13). Đối với kỹ
thuật khâu đầu mũi chỉ # 5-0 Nylon hoặc PDS chủ yếu được sử dụng, và điều quan
trọng là phải giữ được tính đối xứng mọi lúc. Nếu có sự bất đối xứng ở cả hai vòm,
bác sĩ phẫu thuật có thể bổ sung bằng cách thay thế chỉ khâu xuyên vòm có kích
thước khác nhau (Hình 6-14). Trong trường hợp này, có thể có sự thay đổi hình
dạng của đầu mũi tùy thuộc vào vị trí hoặc sức căng của chỉ khâu.
Vì chỉ khâu được đặt ở khoảng cách xa hơn ra khỏi đỉnh vòm, các sụn bên ngoài
hẹp hơn dẫn đến tăng hiệu quả của đầu mũi nhô ra và giảm thể tích của đầu mũi.
Tuy nhiên, thu hẹp quá mức có thể dẫn đến sự vênh của sụn bên ngoài, và sự xuất
hiện của đầu mũi bị bó lại hoặc alar bị sụp. (Hình 6-15). Kỹ thuật khâu đầu mũi được
đề cập ở trên bằng cách bóc tách da tiền đình bên dưới vòm và sụn giữa của sụn
alar có thể làm giảm thể tích hơn nữa hoặc giảm độ nhô của đầu mũi (Hình 6-16).
2) Hiệu ứng
a. Giảm chiều rộng của đầu mũi gây ra bằng cách giảm khoảng cách giữa các vòm,
và do đó điều chỉnh đầu mũi bè (Hình 6-17),
b. Hơi kéo dài đầu mũi.
c. Xoay đầu mũi về phía đầu hoặc phía đuôi tùy thuộc vào vị trí khâu.
d. Những ảnh hưởng này, tuy nhiên, rất hạn chế đối với người châu Á có sụn alar
nhỏ.
3) Chú ý
a. Khi chỉ khâu xuyên vòm được thực hiện quá mức cho người châu Á có sụn alar
nhỏ, nó có thể dẫn đến đầu mũi bị bó lại hoặc ala sụp đổ (Hình 6-15).
b. Khi xoay phần đầu của sụn ngoài xảy ra ở bệnh nhân co rút alar do khâu xuyên
vòm, hãy chú ý hơn đến khả năng co rút alar có thể xấu đi (Hình 6-18).
3. Khâu gian vòm
1) Phương pháp
Đây là kỹ thuật khâu thắt chặt cả hai phần vòm của sụn alar (Hình 6-19).

216

2) Hiệu quả
a. Giảm độ rộng của đầu mũi bằng cách giảm góc phân kỳ vòm
b. Tăng nhẹ chiều dài của đầu mũi
c. Sửa vòm không đối xứng, nếu có

217


Hình 6-13 Khâu xuyên vòm

218


Hình 6-14 Khâu gian vòm được thiết kế không đối xứng để điều chỉnh sự bất cân
xứng của đầu mũi
a, b: trước khi cột chỉ, khâu gian vòm được thiết kế để điều chỉnh sự bất đối xứng
của sụn alar),
c, d: Sau khi khâu gian vòm, đối xứng đầu mũi đã đạt được.

219


Hình 6-15 Đầu mũi bị chèn ép

220


Hình 6-16 Khâu vùi dưới vòm và gian vòm

221



Hình 6-17 Khâu gian vòm điều chỉnh đầu mũi tròn
a: đầu mũi hình tròn,

222

b: sụn alar lớn, phân kỳ vòm mũi lớn.
c: khâu xuyên vòm
d: khoảng cách xuyên vòm giảm nhưng sự thay đổi thể tích đầu mũi không quá rõ
ràng ngay sau khi khâu xuyên vòm,
e: khâu gian vòm (phân kỳ vòm giảm, và lồi tròn sụn bên trở nên thẳng hơn và ít lồi
hơn),
f: ngay sau hậu phẫu. (Khối lượng đầu mũi giảm và hình dạng đầu mũi tròn dạng
hình vuông được thay đổi thành hình tam giác.)


Hình 6-18 Co rút Alar có thể trầm trọng sau khi khâu gian vòm không phù hợp.
a: Trước phẫu thuật
b: Sau khi khâu gian vòm, co rút ala bên phải trở nên tồi tệ hơn trước khi phẫu
thuật.

223


Hình 6-19 Khâu gian vòm
a. Bao phủ vùng kết thúc của miếng ghép để miếng ghép không thể bị lộ trong
trường hợp dùng thanh chống trụ mũi hoặc miếng ghép mở rộng vách ngăn.
b. Ngăn chặn miếng sụn ghép xen giữa hai mái vòm dẫn đến giảm chiều cao
trong trường hợp dùng miếng ghép trên đầu mũi (Hình 6-20).

224


Hình 6-20 Miếng ghép trên đầu mũi phủ giữa hai vòm alar dẫn đến mất chiều cao
đầu mũi.
a: miếng ghép trên đầu mũi không có khâu gian vòm,
b: sụn tai có thể nhìn thấy giữa cả hai vòm,
c: miếng ghép trên đầu mũi dựa trên khâu gian vòm
4. khâu sụn trong – vách ngăn
1) Phương pháp
Nó được thực hiện theo cách khâu phần đuôi của vách ngăn mũi và sụn trong của
sụn alar (Hình 6-21). Đỉnh mũi có thể nhô ra hoặc hạ xuống tùy thuộc vào vị trí khâu
của sụn trong và đuôi vách ngăn, nhưng phương pháp này cho phép trụ mũi chỉ đơn
giản là kéo về phía sau (Hình 6-22). Hiệu quả như vậy rất hữu ích trong việc sửa
mũi dài hoặc treo trụ mũi (Hình 6-23). Phương pháp này có thể được sử dụng cùng
với miếng ghép thanh chống trụ mũi (Hình 6-24).
2) Hiệu quả
a. Kéo dài đầu mũi

225

b. xoay đầu của đầu mũi (giảm chiều dài của mũi)
c. Hạ thấp đầu mũi
d. Sửa chữa việc treo trụ mũi (Hình.11-28, Hình 11-30)
(3) Chú ý
a. Khi đầu mũi được kéo dài ra dẫn đến sự gia tăng khoảng cách gian vòm, nó cần
được bổ sung bằng khâu gian vòm, v.v.

226

Hình 6-21 Khâu vách ngăn – trụ trong
a: Khâu vách ngăn – trụ trong,
b ~ e: Trình tự phẫu thuật (Mũi khâu đầu tiên bắt đầu ở phần bên phải sụn trong, sau
đó là đuôi vách ngăn và cuối cùng kết thúc ở phần bên trái sụn trong. Chỉ khâu sẽ
được buộc bằng lực căng thích hợp)

Hình 6-22 Thay đổi chiều cao của mũi theo mức độ của khâu vách ngăn – sụn trong.

hacklink satın al mumu模拟器 雷电模拟器 向日葵 giftcardmall/mygift giftcardmall balance mygift giftcardmall matbet matbet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Betgaranti Betgaranti Güncel Adres Betgaranti Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Fim İzle Fim İzle Giriş Fim İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Fim İzle Fim İzle Güncel Adres Fim İzle jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Giriş Casibom Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Jojobet Jojobet Giriş Jojobet Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Deneme Bonusu Film İzle Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Türkçe Dublaj Film İzle Film İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi perabet perabet giriş holiganbet holiganbet giriş Casibom Lesfillmercom Casibom Lesfillmercom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Gerbergirlcom Casibom Gerbergirlcom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Spcelectriccontrolcom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş marsbahis marsbahis giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş matbet matbet giriş matbet güncel giriş vaycasino vaycasino güncel giriş vaycasino giriş matbet matbet giriş pusulabet pusulabet giriş pusulabet pusulabet güncel giriş pusulabet giriş matbet matbet güncel giriş matbet giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Resmi Adres pusulabet pusulabet giriş pusulabet güncel giriş Fixbet Fixbet Güncel Giriş Salvobet Salvobet Giriş Salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Turk Porno Turk Porno Giriş Turk Porno casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi casibom casibom jojobet izmir escort izmir buca escort buca escort jojobet casibom holiganbet holiganbet giriş jojobet holiganbet holiganbet giriş jojobet jojobet jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş izmir escort izmir buca escort buca escort izmir escort bayan salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Giriş Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Deneme Bonusu Veren Giriş Deneme Bonusu Veren salvobet salvobet salvobet salvobet Casibom betgaranti betgaranti betgaranti matbet matbet giriş matbet matbet giriş Casibom Casibom Salvobet jojobet Salvobet Salvobet Salvobet Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Güncel Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis bahsegel Fixbet Fixbet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş 1xbet 1xbet Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Listesi Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler grandpashabet grandpashabet grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler vaycasino vaycasino giriş jojobet grandpashabet casibom Casibom Casibom Giriş casibom www.giftcards.com Marsbahis grandpashabet jojobet jojobet grandpashabet casibom jojobet Casibom Casibom Casibom Casibom Casibom Grandpashabet Grandpashabet Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Marsbahis Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres grandpashabet grandpashabet giriş Casibom Fixbet Fixbet Giriş Casibom Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Holiganbet Holiganbet Güncel Adres Nevşehir escort Kapadokya escort Nevşehir escort bayan nevşehir eskort escort nevşehir Casibom Casibom Giriş Adresi Kapadokya esc Casibom Casibom Resmi Adres Matbet Matbet Matbet Güncel Adres Pusulabet Pusulabet Giriş Adresi imajbet giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Trabzon escort escort trabzon Trabzon escort bayan