e-bacsy.com
PHẪU THUẬT TẠO HÌNH
MŨI NGƯỜI CHÂU Á
Cố vấn chủ biên: J. REGAN THOMAS, MD
Chủ bút: YONG JU JANG, MD, PhD
Biên dịch: • Ths, Bs. ĐINH CÔNG PHÚC
• Bs. NGUYỄN HỒNG DƯƠNG
SÁCH BIÊN DỊCH LƯU HÀNH NỘI BỘ
e-bacsy.com
Cuốn sách: “ Phẫu thuật tạo hình mũi người châu Á” được
chuyển ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt từ cuốn “Rhinoplas
ty for the Asian Nose” của nhóm tác giả Tiến sĩ YONG JU JANG
cùng cộng sự - bởi Ths.Bs Đinh Công Phúc cùng sự hỗ trợ nhóm
E-bacsy.
Đây là cuốn sách thứ hai nằm trong nhóm dự án “Thư viện sách
thẩm mỹ Tiếng Việt” của nhóm, tiếp sau cuốn sách “Phẫu thuật
tạo hình mí mắt người châu Á”. Bản quyền cuốn sách thuộc về
nhà xuất bản Elsevier và bản quyền dịch thuộc về bác sỹ Đinh
Công Phúc cùng nhóm E-bacsy.
Với mục tiêu giới thiệu những cuốn sách thẩm mỹ nổi tiếng trên
thế giới, vừa đảm bảo nội hàm kiến thức chuyên môn cao vừa có
giá trị áp dụng trên lâm sàng, chúng tôi đã nỗ lực hết mình trong
quá trình tìm kiếm, lựa chọn đầu sách, đồng thời chuyển ngũ
bám sát nội dung sách gốc với cách diễn đạt dễ hiểu nhất. Tuy
vậy cũng không tránh khỏi sai sót trong quá trình biên soạn. Rất
mong nhận được ý kiến đóng góp từ độc giả và quý đồng nghiệp
để nhóm tiếp tục hoàn thiện hơn trong những lần sau và trong
những tác phẩm sắp tới.
Mọi ý kiến đóng xin gửi vào địa chỉ mail: drphucqn@gmail.com
Fanpage:
Website: E-bacsy.com
Chân thành cám ơn sự ủng hộ của quý đồng nghiệp
Thay mặt nhóm dịch E-bacsy.
Ths. Bs Đinh Công Phúc
e-bacsy.com
Phụ lục
Chương 1: Cấu trúc giải phẫu mũi của người châu Á
Chương 2: Quy trình lai căng để tạo hình mũi người châu Á
Chương 3: Nâng mũi bằng Silicone
Chương 4: Độn sống mũi bằng các tổ chức tự thân
Chương 5: Ghép mô tương đồng cho nâng mũi
Chương 6: Nâng mũi bằng Filler
Chương 7: Ghép kéo dài vách ngăn trong thuật nâng mũi người châu Á
Chương 8: Kỹ thuật mảnh ghép đầu mũi cho mũi người châu Á
Chương 9: Sửa mũi gồ ở người châu Á
Chương 10: Thu gọn cánh mũi và liên quan cánh mũi - trụ mũi
Chương 11: Sửa mũi ngắn
Chương 12: Tạo hình mũi cho người Đông Nam Á
Chương 1
Cấu trúc giải phẫu mũi của người châu Á
Kyung-Chul Moon, MD, PhD, Seung-Kyu Han, MD, PhD
Từ khóa
• Mũi người châu Á • Giải phẫu mũi • Hình dạng mũi ngoài
MỤC TIÊU
• Cơ nở mũi và cơ hạ vách mũi phát triển rất khỏe ở hầu hết người châu
Á, có lỗ mũi hướng theo chiều ngang
• Hình dạng đầu trên ngoài của sụn cánh mũi và chiều dài chân của đầu
trong sụn cánh mũi ảnh hưởng đến hình dạng của lỗ mũi ngoài.
• Đặc điểm của các cấu trúc nâng đỡ đầu mũi góp phần vào hình dạng đầu
mũi rộng của người châu Á và đầu mũi không nhô ra với nền mũi rộng.
Tạo hình mũi ở mũi người
châu Á có nhiều khác biệt đáng kể so
với mũi ở người da trắng. Tạo hình
mũi đang trở nên ngày càng phổ
biến ở người châu Á, nên các phẫu
thuật viên tạo hình mũi cần phải
hiểu rõ các cấu trúc giải phẫu liên
quan và thành thạo trong những kỹ
năng cần thiết để phục vụ cho nhu
cầu của những người này.
Bài này mô tả một cách ngắn
gọn những đặc trưng khác biệt của
mũi người châu Á. Tác giả nhấn
mạnh hai điểm. Đầu tiên, những vấn
đề đã được nhắc đến ở một bài khác
(ví dụ: đặc điểm giải phẫu chung của
mũi) sẽ được bỏ qua trong bài này.
Do đó, những học viên phẫu thuật
tạo hình mũi có thể học những kiến
thức được bỏ qua này ở một tài liệu
khác. Thứ hai, mũi của người Châu
Á có những sự biến đổi về kiểu hình
rất lớn. Không có mũi người Châu
Á điển hình. Bởi vậy, thuật ngữ mũi
người Châu Á trong bài này được
giới hạn trong mũi của người Đông
Á (như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung
Quốc).
Bài này cung cấp những nền
tảng vừa phải để hiểu về đặc điểm
giải phẫu và những kỹ thuật mới
trong tạo hình mũi ở người Châu Á.
MŨI NGOÀI
Mũi của người Châu Á thường
được mô tả là có một đầu mũi phình
ra hình củ hành (to rộng), trụ mũi
ngắn, hình dáng cánh mũi loe nền
cánh mũi rộng, góc mũi môi nhọn,
và sống mũi thấp.
1
e-bacsy.com
Tỷ lệ chiều dài mũi/ chiều cao sống
mũi/ chiều cao gốc mũi của mũi
người da trắng là 2:1:0,75. Tuy
nhiên, ở người Châu Á là 2:0,61:0,28
Trong tạo hình mũi ở người Châu
Á, sống mũi và đầu mũi là những
cấu trúc thường được can thiệp
nhất. Nâng cao sống mũi và làm đầu
mũi thon gọn hơn là những phần
quan trọng nhất trong tạo hình mũi
ở nhóm người này. Thay đổi hình
dáng của hai cấu trúc này có thể ảnh
hưởng đến góc mũi trán và góc mũi
môi của mặt. Việc đề cao sự hiểu
biết và vẻ đẹp tự nhiên của hai góc
này là những yếu tố trọng yếu cũng
như việc đạt tới góc mũi trán và góc
mũi môi lý tưởng là chìa khóa để có
kết quả thành công và hài lòng về
mặt thẩm mỹ trong tạo hình mũi ở
người Châu Á.
Trong tạo hình nâng mũi sử
dụng chất liệu cấy ghép, vị trí chính
xác của 2 đầu tận cùng của chất liệu
là rất quan trọng. Nhìn chung, nam
giới có khuynh hướng thích gốc mũi
cao hơn so với nữ giới. Nâng sống
mũi truyền thống cũng đưa đến
nâng cao gốc mũi. Trong một vài
ca, nâng cao gốc mũi có thể làm mờ
hoặc xóa bỏ gốc mũi, dẫn đến biến
dạng gốc mũi. Yu và Jang đã báo
cáo là những người Châu Á trải qua
phẫu thuật tạo hình mũi ưa thích
góc mũi trán khoảng 138o.
Định nghĩa góc mũi môi là
góc giữa bờ dưới của mũi khi nhìn
nghiêng với bề mặt của môi trên,
góc mũi môi lý tưởng theo cổ điển
là 95o- 100o ở nam và 103o - 108o ở
nữ. Sinno và cộng sự đã báo cáo
là không có một sự khác biệt về
sở thích rõ ràng có ý nghĩa thống
kê cho hầu hết góc mũi môi thẩm
mỹ giữa người da trắng và người
Châu Á. Tuy nhiên, ở mũi người
Châu Á, đầu mũi thường xoay
xuống dưới với một góc mũi môi
nhọn từ 70o đến 80o.
Chiều dài cầu mũi (khoảng
cách giữa điểm gốc mũi và điểm
nhô cao nhất của đầu mũi hay
đỉnh mũi) và chiều dài cầu sụn mũi
(khoảng cách giữa điểm nối sụn -
xương và đỉnh mũi) ở người Châu
Á ngắn hơn đáng kể so với người da
trắng
2
Hình 1. Các lớp dưới da của mũi. DF: lớp mỡ
sâu, M: lớp hệ thống cân cơ nông (SMAS),
SF: lớp mỡ nông. Thần kinh mũi ngoài chạy
trong lớp mỡ sâu (mũi tên)
e-bacsy.com
3
DA VÀ MÔ DƯỚI DA
Đặc trưng của lớp da và mô
dưới da ở người Châu Á là có độ
dày và độ nhờn thay đổi. Theo một
nghiên cứu sử dụng CT quét ở mũi
người Hàn Quốc, độ dày da mũi
trung bình là 3,3 mm ở gốc mũi; 2,4
mm ở chỗ khớp gian mũi; 2,9 mm
ở đầu mũi; và 2,3 mm ở trụ mũi.
Trong nghiên cứu đó, độ dày da tại
đỉnh mũi và trụ mũi là có liên quan
với kết quả phẫu thuật kém hay
không, vì vậy độ dày da vùng này
được xem là yếu tố tiên lượng cho
sự thành công của phẫu thuật tạo
hình đầu mũi.
Giống như người da trắng,
lớp dưới da ở mũi người Châu Á
được tạo thành bởi 3 lớp: (1) lớp
mỡ nông, (2) hệ thống cân cơ nông
của mũi (SMAS), và (3) là lớp mỡ
sâu (hình 1). Hệ thống cân cơ nông
ở vùng mũi trên có ranh giới rõ và
dễ dàng bóc tách, nhưng hệ thống
cân cơ nông ở vùng mũi dưới lại
bám chặt hơn và không có ranh giới
rõ. Những thần kinh và mạch máu
chính chạy trong lớp mỡ sâu. Tan
satit và cộng sự đã có báo cáo ghi
nhận độ dày mô mềm từ da đến
xương trán tại vùng ụ trán mũi ở
mũi người Châu Á là 7,2 ± 2,1 mm và
nơi hẹp nhất là tại gốc mũi và vùng
phủ qua xương mũi với độ dày 3,1 ±
1,8 mm. Độ dày của mô tăng lên 5,7
± 3,4 mm ở trên sụn cánh mũi lớn
và sụn cánh mũi ngoài.
Các mô mềm bao phủ một
phần ba dưới của mũi là rất quan
trọng trong tạo hình đầu mũi. Da
của 1/3 dưới mũi dày hơn và nhờn
hơn so với phần trên. Mô dưới da
không phân tách rõ ràng. Bởi vậy, sẽ
rất khó khăn để tách biệt lớp da và
lớp cơ. Giải phẫu ở vùng này khác
nhau theo đơn vị cánh mũi và hình
dáng lỗ mũi. Dựa theo độ nhô và độ
tròn của đơn vị cánh mũi, chúng
ta có thể phân biệt thành mũi nằm
ngang (mũi loe) và mũi nằm dọc
(mũi thẳng đứng).
Dựa trên dữ liệu từ việc phẫu
tích 20 xác người còn tươi, cho thấy
độ dày da của đơn vị cánh mũi ở người
Châu Á là thay đổi từ 1,25 mm đến
2,75 mm. Độ dày da bên ngoài của
đơn vị cánh mũi ngoài có xu hướng
thay đổi theo hình dáng của lỗ mũi,
với da ở loại mũi nằm ngang (mũi loe)
là dày hơn so với mũi nằm dọc (mũi
thẳng đứng).
CÁC CƠ CỦA MŨI NGOÀI
Hình dáng khác nhau của
mũi người Châu Á bị ảnh hưởng
bởi lực kéo của các cơ mũi bao
quanh mũi ngoài. Cơ mũi ngoài
bao gồm cơ nở mũi trước và sau,
cơ ngang mũi, cơ nâng môi trên -
cánh mũi, cơ hạ vách mũi. Chúng
được xác định bằng cách bóc tách
dưới da một cách cẩn thận. Cơ hẹp
lỗ mũi nhỏ thông thường hiếm khi
nhìn thấy. Thỉnh thoảng nó được
xác định dưới kính hiển vi.
Có nhiều sự khác biệt
đáng kể trong đặc trưng của một
vài cơ mũi tương quan với hình
e-bacsy.com
Hình 2: Mô học của điểm giữa đơn vị cánh mũi cho thấy cơ nở mũi trước (nhuộm Masson tri
chrome, độ phóng đại 40 lần). Lỗ mũi dạng nằm ngang (bên trái) cho thấy thể tích cơ lớn hơn
so với lỗ mũi dạng thẳng đứng (bên phải).
dáng của lỗ mũi. Nhìn chung, cơ
mũi của đơn vị cánh mũi trong
dáng lỗ mũi nằm ngang thì phát
triển hơn so với dáng đứng.
Chúng có một góc tù hình thành
bởi trục dài của lỗ mũi, hơn là
góc nhọn của lỗ mũi với dáng
đứng. Những khác biệt này là
trọng tâm của chương này.
Cơ nở lỗ mũi trước là cơ nở
mũi đầu tiên, khi co thì làm nở
rộng cánh mũi. Cơ này có thể có
chức năng trong việc mở rộng lỗ
mũi và duy trì sự loe của cánh mũi
ra bên ngoài. Cơ nở lỗ mũi trước
phát triển mạnh ở những lỗ mũi
dáng nằm ngang, nhưng phát triển
kém ở những lỗ mũi dáng đứng.
Trong loại lỗ mũi nằm ngang, cơ
này và phần nguyên ủy của nó từ
sụn cánh mũi trên ngoài đính vào
trong mép đuôi của cuống sụn
cánh mũi lớn ngoài và da của đơn
vị cánh mũi là dễ dàng được xác
định. Ngược lại, việc xác định cơ
nở lỗ mũi trước ở lỗ mũi dáng
4
e-bacsy.com
đứng là rất khó khăn. Hơn nữa,
kích thước của lớp cơ này ở dáng
mũi nằm ngang là lớn hơn đáng
kể so với dáng mũi đứng.
Chức năng của cơ nở lỗ
mũi sau hay cơ cánh mũi là kéo
cánh mũi và phần sau của trụ mũi
hướng xuống dưới, làm nở rộng lỗ
mũi và kéo dài mũi. Cơ này cũng có
chức năng trong việc mở rộng lỗ
mũi và duy trì sự loe của cánh mũi
ra phía ngoài. Ở lỗ mũi dáng thẳng
đứng, cơ nở lỗ mũi sau chỉ đính giới
hạn ở nền cánh mũi, nhưng ở lỗ mũi
dáng ngang thì sự đính này mở rộng
đến cả đơn vị cánh mũi và nền cánh
mũi. Lớp cơ ở lỗ mũi dáng ngang là
dày hơn đáng kể so với lỗ mũi dáng
đứng. Bằng cách cắt, hoặc bằng cách
làm yếu đi sự phát triển mạnh của
cơ cánh mũi, chức năng duy trì hình
dạng cánh mũi của chúng cũng yếu
đi, do đó làm cho mũi bớt loe và bớt
tròn hơn.
Cơ hạ vách mũi là đính vào
trong trụ mũi, niêm mạc vách ngăn,
và cuống trong của sụn cánh mũi
lớn. Chức năng của cơ này là kéo trụ
mũi đầu mũi và bờ sống mũi của lỗ
mũi xuống dưới. Mặc dù cơ hạ vách
mũi liên quan với sự rũ xuống của
đầu mũi, nó cũng ảnh hưởng lên
hình dáng của lỗ mũi. Trong dáng
mũi nằm ngang, cơ hạ vách mũi
đính vào chân của cuống trong sụn
cánh mũi lớn, mở rộng đến trụ mũi
và da tiền đình mũi, cũng như niêm
mạc vách ngăn. Tuy nhiên, ở dáng
mũi đứng, cơ hạ vách mũi có
thể đính vào chân của cuống trong
sụn cánh mũi lớn hoặc không. Mà
thay vào đó, nó bám tận hướng đến
da của nền trụ mũi (hình 3).
Cơ ngang mũi làm kéo dài mũi
và làm hẹp tiền đình mũi, tạo ra một
cái mũi bó chặt hoặc mũi phẳng. Đặc
trưng của cơ ngang mũi là không có
sự thay đổi đáng kể theo hình dạng
của mũi. Trong cả hai kiểu mũi, cơ
này không kéo dài đến đơn vị cánh
mũi. Độ rộng của cơ không khác
biệt đáng kể giữa hai kiểu mũi.
Cơ nâng môi trên cánh mũi
có đặc trưng tương tự nhau ở cả hai
loại mũi. Tất cả các sợi cơ của nó đi
vào nếp mũi môi và cơ của môi trên
mà không đính vào đơn vị cánh mũi.
Cơ hẹp lỗ mũi nhỏ là một cơ
nhỏ mà sự hiện diện của nó được
ghi nhận không nhất quán. Nhìn
chung, cơ hẹp lỗ mũi nhỏ không
hiện diện ở hầu hết mũi của người
Châu Á. Về mặt vi thể, lớp cơ hẹp lỗ
mũi nhỏ được xác định tại đỉnh của
lỗ mũi trong khoảng 10%. Cơ này
dường như không ảnh hưởng đến
hình dáng của lỗ mũi.
Cơ mũi bất định được ghi
nhận tồn tại ở giữa cơ mũi ngang và
cơ nâng môi trên cánh mũi ở người
da trắng. Tuy nhiên, nó không thể
xác định được ở hầu hết mũi người
Châu Á
5
e-bacsy.com
Hình 3. Cơ hạ vách mũi của một lỗ mũi dạng nằm ngang (bên trái) dính vào cuống trong sụn
cánh mũi lớn, da tiền đình và da trụ mũi (mũi tên). Cơ hạ vách mũi của một lỗ mũi nằm thẳng
đứng (bên phải). Điểm cuối của cơ hạ vách mũi trong loại lỗ mũi thẳng đứng không đi tới chân
của cuống trong sụn cánh mũi lớn và da trụ mũi
Hình 4. Những cấu trúc hỗ trợ đầu mũi gồm sự dính giữa sụn cánh mũi lớn và sụn cánh mũi trên
ngoài (hình trên bên trái), sự dính giữa cuống ngoài sụn cánh mũi lớn và lỗ hổng hình lê (hình
trên bên phải), sự dính giữa hai vòm của sụn cánh mũi lớn (hình dưới bên trái), và sự dính giữa
cuống trong sụn cánh mũi lớn với đuôi vách ngăn mũi (hình dưới bên phải), dây chằng sụn -
trung bì Pitanguy là không thấy ở đây
6
e-bacsy.com
7
NHỮNG CẤU TRÚC NÂNG ĐỠ
ĐẦU MŨI
Quan điểm chung đồng ý
rằng những thành phần quan trọng
nâng đỡ cho đầu mũi ở người da
trắng bao gồm sự dính giữa sụn
cánh mũi trên ngoài với sụn cánh
mũi lớn và khe hở hình lê. Sự dính
giữa hai vòm của sụn cánh mũi lớn,
giữa cuống trong của sụn cánh mũi
lớn với đuôi vách ngăn mũi và dây
chằng sụn-trung bì da Pitanguy
(hình 4). Tuy nhiên, không có sự
thống nhất chung cho những thuật
ngữ và định nghĩa những cấu trúc
này. Cấu trúc kết nối giữa sụn cánh
mũi trên ngoài và sụn cánh mũi
lớn được mô tả như những sợi xơ
hoặc mô sợi. Cấu trúc giữa cuống
ngoài và khe hở hình lê đã được mô
tả như những sợi xơ rõ ràng hoặc
mô sợi. Cấu trúc giữa hai vòm của
sụn cánh mũi lớn được mô tả như
là dây chằng gian vòm, dây chằng
treo, hoặc mô liên kết đan xen dày
đặc một cách bất thường. Cấu trúc
giữa cuống trong và đuôi vách ngăn
mũi được mô tả như là những sợi
màng liên kết lỏng lẻo, hoặc những
sợi như dây chằng. Trong một vài
trường hợp, chúng không được mô
tả như một cấu trúc kết nối.
Những cấu trúc nâng đỡ đầu
mũi đóng vai trò quan trọng trong
tạo hình đầu mũi. Thật sự, những
yếu tố hỗ trợ đầu mũi thường giảng
trong quá trình tập huấn tạo hình
mũi thường quy, cũng như là kỹ
thuật xuyên hoàn toàn, đường rạch
gian sụn, làm giảm góc vách ngăn
mũi, và rạch hoặc cắt bớt sụn cánh
mũi lớn.
Vì vậy, việc hiểu rõ ràng
những cấu trúc này là rất cần thiết
với phẫu thuật viên tạo hình mũi.
Lee và cộng sự đã cố gắng để xác
định chính xác những cấu trúc nâng
đỡ đầu mũi bằng nghiên cứu vi thể
song song với nghiên cứu đại thể
những đặc trưng của mũi người
Châu Á - những người với đặc trưng
cấu trúc mũi khác biệt so với mũi
nguời da trắng.
Ở mũi người Châu Á, những
mô sợi dày đặc liên kết giữa sụn
cánh mũi trên ngoài và cuống ngoài
sụn cánh lớn được thấy rất rõ. Giữa
hai sụn cánh mũi này, rất nhiều sợi
collagen dày đặc được sắp xếp đều
đặn theo một hướng. Tuy nhiên,
một số lượng nhỏ của những chất
nền không định hình cũng được
quan sát thấy. Từ góc nhìn mô học,
những phát hiện này tương ứng với
những mô liên kết cân đối dày đặc.
Đặc biệt, sự liên kết là rất mạnh mẽ
giữa hai sụn cánh mũi lớn và sụn
cánh mũi trên ngoài, phù hợp với
định nghĩa của một dây chằng
Đối với cấu trúc giữa cuống
ngoài sụn cánh lớn với khe hở hình
lê, sụn vừng và những mô sợi
dày đặc cũng được quan sát rất rõ
ràng. Kiểm tra vi thể những vùng
e-bacsy.com
này cho thấy sự hiện diện một số
lượng rất phong phú của những sợi
collagen và sợi cơ.
Những sợi collagen này có
chút không hằng định, thể hiện sự
sắp xếp đều đặn cũng như không
đều đặn. Vùng này cũng được tạo
bởi một số lượng nhỏ những sợi
đàn hồi, tế bào và chất nền không
định hình. Từ phương diện mô học,
những cấu trúc này có thể là những
mô sợi cơ.
Nghiên cứu đại thể ở mũi người
Châu Á cho thấy những mô lỏng lẻo
chiếm đầy khu vực giữa hai vòm
sụn cánh mũi lớn. Kiểm tra vi thể
cho thấy những mô vùng này gồm
rất nhiều chất nền không định hình.
Thêm vào đó là số lượng nhỏ của
những sợi collagen và sợi đàn hồi
nằm rải rác khắp diện cắt. Dựa trên
phương diện mô học, những cấu
trúc này có thể là mô liên kết lỏng
lẻo.
Giữa cuống trong sụn cánh
lớn và đuôi vách ngăn thì không
thấy cấu trúc hỗ trợ đáng chú ý nào
có thể xác định được ở mũi người
Châu Á.
Dây chằng sụn - trung bì của
Hình 5. (A, B) Dây chằng sụn - trung bì (mũi tên) đi vào trong mô cơ vòng môi và sụn vách
ngăn (phần đi vào trong sụn vách ngăn đã bị chia tách). ASA: góc vách ngăn trước (anterior
septal angle)
8
e-bacsy.com
mũi là những cấu trúc hẹp, màu
trắng, dạng sợi, nằm tập trung ở
trung tâm của sống mũi, được mô
tả lần đầu tiên bởi Pitanguy và cộng
sự. Cấu trúc này được tin là có vai
trò kết nối giữa trung bì của một
phần ba trên mũi với điểm gặp nhau
của hai cuống trong sụn cánh lớn đi
xuống đến dưới vách ngăn. Bởi vậy,
dây chằng sụn - trung bì có thể ảnh
hưởng đến sự cân bằng trong mối
tương quan đầu mũi - sống mũi. Ở
mũi người Châu Á, có những dải sợi
dày đặc màu trắng chạy theo hướng
thẳng đứng giữa cơ mũi ngang và
nền trụ mũi. Cấu trúc này có nguồn
gốc từ lớp sâu của cơ ngang mũi và
tận cùng tại mép đuôi của sụn vách
ngăn. Ở một vài bệnh nhân (19%),
sự kết dính này mở rộng đến tận cơ
vòng môi (hình 5). Về mô học, cấu
trúc này gồm những sợi mô liên kết
dày đặc và sắp xếp không đồng đều
(như là một dải cân).
Vì vậy, dây chằng sụn - trung bì ở
người Châu Á có thể gọi tên khác là
cân cơ sụn giữa.
Với những cấu trúc hỗ trợ
đầu mũi này, có hai đặc trưng đáng
chú ý ở mũi người Châu Á. Đầu
tiên, những mô liên kết lỏng lẻo
chỉ tồn tại giữa hai vòm của hai
sụn cánh mũi lớn, góp phần trong
việc tạo khoảng cách xa hơn giữa
hai vòm sụn cánh mũi. Thứ hai,
một cấu trúc hỗ trợ đáng kể lại
không hiện diện ở chỗ dính giữa
cuống trong sụn cánh lớn và đuôi
vách ngăn mũi.
Bởi vậy, mảnh chân của cuống
trong là dài hơn mảnh trụ mũi ở
người Châu Á điển hình. Hai đặc
trưng trên góp phần tạo ra một đầu
mũi rộng và tẹt ở người Châu Á với
nền mũi cũng rộng.
9
Hình 6. Hình dạng của cuống giữa phẳng. Cấu
trúc này có thể nhận thấy rõ ở hầu hết mũi người
Châu Á.
Hình. 7. Mảnh chân dài ở mũi người Châu Á.
e-bacsy.com
SỤN MŨI
Sụn cánh mũi lớn gồm cuống
ngoài, cuống giữa và cuống trong.
Kích thước và sức mạnh của cặp
sụn cánh mũi lớn là yếu tố chính
quyết định hình dạng của đầu mũi.
Khi xem xét một chuỗi dài những
khác biệt về giải phẫu giữa hình
dạng của mũi người Châu Á và mũi
người da trắng, thì cách tiếp cận về
phẫu thuật cũng nên có những khác
biệt rõ ràng.
Các sụn cánh mũi ở người
Châu Á là mỏng và yếu, chỉ có thể
đủ sức hỗ trợ một ít cho lớp da dày
và đơn vị xơ mỡ phủ ở trên. Thao
tác can thiệp vào sụn cánh mũi ngày
càng trở nên phổ biến hơn trong
phẫu thuật tạo hình mũi ở người
Châu Á. Thực hiện thủ thuật này thì
đầu tiên nên thao tác chính xác và
thích hợp vào khu vực ngã ba giữa
hai cuống ngoài và cuống trong của
sụn cánh mũi lớn.
Trong nghiên cứu của Zelnik
và Gingrass, chiều dài và chiều rộng
trung bình của cuống ngoài sụn
cánh lớn ở người da trắng lần lượt
là 22 mm và 11 mm. Tuy nhiên, Ofo
dile và James đã thực hiện nghiên
cứu tuơng tự trên xác người nam da
đen thì thấy rằng chiều dài và chiều
rộng trung bình lần lượt là 18 mm
và 12 mm. Ở người Châu Á, chiều
dài, chiều rộng và độ dày trung bình
của cuống ngoài lần lượt là 18 mm,
10 mm và 5 mm. Khoảng cách từ
cuống ngoài đến vành lỗ mũi ở trong
giữa và ngoài lần lượt là 5,8 mm
6,9 mm và 11,8 mm. Hình dạng của
cuống ngoài được chia thành lõm,
lồi, lõm - lồi, lồi - lõm, và phẳng.
Hình dạng cuống ngoài ở người
Châu Á không giống với người da
trắng và người da đen. Hình dạng
phổ biến nhất của mũi người Châu
Á là lõm dạng lòng chảo. Hình dạng
này được thấy ở 40% nam và 50 %
nữ người Châu Á. Tuy nhiên, hình
dạng lồi - lõm, là hình dạng phổ
biến nhất ở những chủng tộc khác,
được thấy ở 30% người da trắng và
50% người da đen. Sự so sánh giữa
cuống phải và cuống trái chỉ ra là có
7% bệnh nhân có sự bất cân xứng
giữa hai cuống ngoài sụn cánh lớn.
Khái niệm về cuống giữa
được giới thiệu lần đầu tiên bởi
Sheen và Sheen năm 1987. Ở người
da trắng, cuống giữa được tạo bởi
đoạn tiểu thùy và đoạn vòm của
sụn cánh mũi lớn. Ở người Châu Á,
hầu như không thể phân chia cuống
giữa thành đoạn tiểu thùy và đoạn
vòm bởi vì hình dạng của cuống
giữa điển hình là phẳng. Chiều dài
của cuống giữa được đo từ điểm đi
trệch của cuống trong đến đỉnh vòm
sụn cánh mũi. Ở mũi người Châu Á
chiều dài trung bình của cuống giữa
là 4,9 mm (hình 6).
Chiều dài của cuống trong được
chia điển hình thành đoạn trụ
mũi và đoạn chân tính từ điểm
đi trệch. Guyuron đã tiến hành
phép đo tiến cứu mảnh chân của
cuống trong và ghi nhận chiều dài
trung bình là 5,8 mm
10
e-bacsy.com
(thay đổi từ 4 - 7,5 mm)
Ở mũi người Châu Á, chiều
dài trung bình của mảnh trụ mũi
và mảnh chân lần lượt là 8,7 mm
và 6,9 mm (hình 7). Độ rộng và độ
dày trung bình của chúng lần lượt
là 4,3 mm và 0,6 mm. Điều này gợi ý
rằng phẫu thuật viên có thể sử dụng
mảnh chân cuống trong dài hơn và
có góc đổ sau nhiều hơn cho mũi
người Châu Á. Đây là một sự khác
biệt quan trọng giữa mũi người
Châu Á và người da trắng và như
vậy có thể tái tạo vòm dưới ở mũi
người Châu Á hiệu quả hơn so với
người da trắng. Hình dạng của cuống
trong thường được chia thành
thẳng, loe đơn giản và loe phức tạp.
Loại thẳng là phổ biến nhất, và chỉ
5% bệnh nhân Châu Á có hình dạng
bất đối xứng của cuống mũi trong.
Sụn vách ngăn có thể là sụn
được sử dụng phổ biến nhất trong
tạo hình mũi ở người da trắng bởi vì
nó nằm trong phạm vi phẫu thuật
mà không cần các mảnh ghép bổ
sung. Thêm vào đó, sụn vách ngăn
cứng và thẳng tự nhiên làm cho nó
trở thành lựa chọn lý tưởng cho
tạo hình mũi. Tuy nhiên, trong tạo
hình mũi ở người Châu Á thì sử
dụng sụn vách ngăn không phải
luôn luôn có khả năng bởi vì số
lượng sụn vách ngăn lấy được
thường là không đủ cho cho thủ
thuật tạo mảnh ghép sụn. Kim và
cộng sự đã đo kích thước sụn vách
ngăn lấy được mà vẫn duy trì cấu
trúc L đủ rộng 10 mm. Chiều dài
đuôi trung bình của sụn vách ngăn
thu hoạch được là 15,1 mm và chiều
dài sống trung bình là 18,2 mm.
Bởi vậy, kích thước và số lượng
của sụn vách ngăn thu hoạch được
là không đủ cho những thủ thuật
tạo hình mũi phức tạp, và như
vậy làm tăng sự cần thiết phải
thu hoạch mảnh ghép ở những
vị trí khác. Kim và cộng sự đã
đo diện tích của sụn vách ngăn
sử dụng chụp cắt lớp vi tính (CT
scanning). Ở người da trắng,
Hình 8: Điểm thoát ra của thần kinh mũi
ngoài. Mũi tên dày chỉ ra điểm thoát ra của
thần kinh. Mũi tên mỏng chỉ ra đường giữa
mũi và chỗ nối xương mũi - xương hàm trên
11
e-bacsy.com
diện tích sụn ở nam và nữ lần
lượt là 998 và 861 mm2.
Ở người Châu Á, những sụn
này ở người nam và nữ lần lượt là
962 và 750 mm2. Như vậy, sụn vách
ngăn ở nữ người da trắng lớn hơn
đáng kể so với nữ người Châu Á.
Tuy nhiên, không có sự khác biệt
đáng kể của nam người da trắng so
với nam người Châu Á.
NHỮNG CẤU TRÚC QUYẾT
ĐỊNH HÌNH DẠNG LỖ MŨI Ở
MŨI NGƯỜI CHÂU Á
Lỗ mũi chấp nhận được về
mặt thẩm mỹ được mô tả là có hình
giọt nước, với trục dài từ đáy lỗ mũi
đến đỉnh hướng nhẹ về phía trong.
Tuy nhiên, hầu hết người Châu Á lỗ
mũi theo hướng ngang. Những thủ
thuật tạo hình mũi phổ biến ở người
Châu Á bao gồm thay đổi hoặc sửa
chữa lại hình dạng này. Những yếu
tố có thể ảnh hưởng lên hình dạng
lỗ mũi bao gồm đặc trưng của các
sụn cánh mũi, những cấu trúc hỗ
trợ đầu mũi, và sức kéo của cơ mũi
lên những khu vực bao quanh. Mặc
dù sự khác biệt giải phẫu ở từng
cấu trúc mũi của mỗi người Châu
Á đã được mô tả trước đây, nhưng
chúng tôi tập trung vào sự tương
quan giữa những cấu trúc của mũi
với hình dạng của lỗ mũi.
Cơ nở mũi trước, cơ nở mũi
sau, cơ hạ vách mũi phát triển mạnh
ở những lỗ mũi có hình dạng nằm
ngang. Tuy nhiên, những cơ này lại
phát triển kém ở những lỗ mũi có
hình dạng đứng.
Hình dạng của cuống ngoài
sụn cánh mũi phổ biến là lõm hoặc
lõm-lồi ở những lỗ mũi nằm ngang,
trong khi lại là lồi hoặc lồi - lõm ở
những lỗ mũi đứng. Dựa theo hình
dạng của cuống trong, thì không có
sự khác biệt giữa lỗ mũi nằm ngang
và lỗ mũi đứng. Cả hai hình dạng có
cuống trong chủ yếu là thẳng. Tuy
nhiên, hai loại lỗ mũi này lại có sự
khác biệt đáng kể về tỷ lệ của mảnh
chân cuống trong. Đặc biệt, lỗ mũi
nằm ngang có tỷ lệ chân / cuống
trong lớn hơn so với lỗ mũi thẳng
đứng.
Dựa trên sự khác biệt giải
phẫu giữa lỗ mũi nằm ngang và lỗ
mũi đứng, một hình dạng lỗ mũi
vừa ý hơn về giải phẫu có thể đạt
được bằng cách làm yếu cơ nở mũi
trước, cơ nở mũi sau, cơ hạ vách
mũi. Giải pháp khác là thay đổi hình
dạng của cuống ngoài thông qua kỹ
thuật khâu sụn. Và cuối cùng là thay
đổi tỷ lệ chân của cuống trong bằng
cách di chuyển phần mảnh chân lên
mảnh trụ mũi thông qua việc khâu
áp sát chân để tạo ra một hình dạng
lỗ mũi có thể chấp nhận được.
THẦN KINH MŨI NGOÀI
Nhánh mũi ngoài của thần
kinh sàng trước (hay thần kinh mũi
ngoài) xuất phát ở chỗ nối giữa
xương mũi và sụn cánh mũi trên
ngoài. Thần kinh mũi ngoài hoàn
toàn là thần kinh cảm giác và
12
e-bacsy.com
thường bị cắt đứt trong những
đường rạch trong mũi hoặc khi mổ
xẻ quanh chỗ khớp gian sụn của
mũi. Cắt ngang thần kinh mũi ngoài
dẫn đến sự tê của đầu mũi. Tuy
nhiên, điều này lại không phát hiện
ra trong quá trình phẫu thuật. Sự tê
hoặc giảm nhạy cảm của đầu mũi có
thể gây ra một sự bất tiện lớn đối
với bệnh nhân. Nó có thể tạo ra sự
mất cảm giác hoặc giảm nhạy cảm
vĩnh viễn ở vùng đầu mũi. Ngoài ra,
một vài bệnh nhân còn phàn nàn
về chứng đau thần kinh hoặc tăng
nhạy cảm nghiêm trọng có thể bắt
đầu một vài tháng sau phẫu thuật
bởi vì sự hình thành của u thần kinh
ở mỏm cụt thần kinh. Biến chứng
này có thể thỉnh thoảng là đối tượng
của sự kiện tụng, và nó có thể là một
chẩn đoán quá mức. Bởi vậy, phẫu
thuật viên về tạo hình mũi phải nên
quen thuộc với giải phẫu của sợi
thần kinh này.
Điểm đi ra của thần kinh mũi
ngoài từ đầu xa xương mũi là khá
hằng định ở khoảng 6,5 mm đến 8,5
mm (trung bình 7.3 mm) bên ngoài
đường giữa mũi bất kể kích thước
của xương mũi (hình 8). Đường
kính trung bình của sợi thần kinh
tại điểm thoát ra là 0,4 mm. Sau khi
đi ra từ một rãnh nhỏ của đầu xa
xương mũi, thần kinh mũi ngoài đi
trong lớp mỡ sâu ngay sát bên dưới
lớp cân cơ nông.
Để tối thiểu hóa tổn thương thần
kinh này trong tạo hình mũi ở người
Châu Á tác giả có những gợi ý sau:
• Đầu tiên, tốt nhất là nên
tránh những đường rạch gian sụn
sâu hoặc trong sụn. Thay vào đó, sự
bóc tách nên duy trì ngay trên bề
mặt của sụn (sâu đến lớp mỡ sâu).
• Thứ hai, sự bóc tách mô
mềm tại chỗ nối giữa xương mũi và
sụn cánh mũi trên ngoài không nên
mở rộng quá xa ra bên ngoài. Nó
nên được giới hạn trong khoảng 6,5
mm từ đường giữa mũi ở mỗi bên.
Cuối cùng, khi sống mũi được nâng
bởi mảnh ghép đệm, chỉ nên sử
dụng vật liệu ghép hoặc cấy ít hơn
13 mm chiều rộng tại mức điểm nối
sụn - xương.
CẤP MÁU CHO ĐẦU MŨI
Hệ thống động mạch nông
của mũi được biết rõ nhờ nhiều ng
hiên cứu về giải phẫu khác nhau. Ở
người Châu Á, nghiên cứu mạch máu
của mũi tập trung vào cấp máu cho
đầu mũi bởi vì việc sử dụng phương
pháp mổ mũi hở hoặc thủ thuật cắt
giảm thể tích đầu mũi ngày càng gia
tăng. Điều này có thể làm tăng khả
năng hoại tử da của đầu mũi. Những
trường hợp biến dạng đầu mũi do
sẹo co kéo cũng được quan sát thấy.
Theo những nghiên cứu trên
xác người da trắng, cấp máu chính
cho đầu mũi được đáp ứng bởi động
mạch mũi ngoài. Bởi vậy, có ít nguy
cơ hoại tử đầu mũi, thậm chí cả khi
động mạch trụ mũi bị cắt đứt. Jung
và cộng sự đã ghi nhận những động
mạch chính được phân bố tại đầu
mũi và trụ mũi ở người Châu Á.
13
e-bacsy.com
Động mạch mũi ngoài là động mạch
cấp máu chính cho đầu mũi trong
78% ca, trong khi động mạch sống
mũi là động mạch cấp máu chính
cho đầu mũi trong 22% ca. Động
mạch mũi ngoài và động mạch sống
mũi cấp máu cho đầu mũi thông
qua lớp SMAS của mũi hoặc lớp mỡ
nông ngay trên nó. Động mạch này
băng qua vùng vòm của sụn cánh
mũi cái mà quyết định “điểm xác
định đầu mũi”. Bởi vậy, nó dễ dàng
bị tổn thương trong khi phẫu tích
khu vực này. Khoảng cách giữa rãnh
mũi má và động mạch mũi ngoài
được ghi nhận là 3 mm ở người da
trắng. Tuy nhiên, ở người Châu Á đo
được là 4 mm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Han SK, Woo HS, Kim WK. Ex
tended incision in open-approach
rhinoplasty for Asians. Plast Re-
constr Surg 2002;109:2087–96.
2. McKinney P, Sweis I. A clin
ical definition of an ideal na
sal radix. Plast Reconstr Surg
2002;109:1416–8 [discussion:
1419–20].
3. Jang YJ, Alfanta EM. Rhinoplasty
in the Asian nose.
Facial Plast Surg Clin North Am
2014;22:357–77.
4. Ishii CH. Current update in Asian
rhinoplasty. Plast
Reconstr Surg Glob Open
2014;2:e133.
5. Jang YJ, Moon BJ. State of the art
in augmentation rhinoplasty: im
plant or graft? Curr Opin Otolaryn
gol Head Neck Surg 2012;20:280–
6.
6. Zelken JA, Hong JP, Broyles JM,
et al. Preventing elevated radix de
formity in Asian rhinoplasty with
a chimeric dorsal-glabellar con
struct. Aesthet Surg J
2016;36:287–96.
7. Yu MS, Jang YJ. Preoperative com
puter simulation for Asian rhino
plasty patients: analysis of accuracy
and patient preference. Aesthet
Surg J 2014;34:
1162–71.
8. Fitzgerald JP, Nanda RS, Currier
GF. An evaluation of the nasola
bial angle and the relative incli
nations of the nose and upper lip.
Am J Orthod Dentofacial Orthop
1992;102:328–34.
9. Legan HL, Burstone CJ. Soft tis
sue cephalometric analysis for or
thognathic surgery. J Oral Surg
1980;38:744–51.
10. Nandini S, Prashanth CS, So
miah SK, et al. An eval- uation of
nasolabial angle and the rela
tive inclina- tions of the nose and
upper lip. J Contemp Dent Pract
2011;12:152–7.
11. Armijo BS, Brown M, Guyuron
B. Defining the ideal nasolabial an
gle. Plast Reconstr Surg 2012;129:
759–64.
14
e-bacsy.com
12. Biller JA, Kim DW. A contempo
rary assessment of facial aesthetic
preferences. Arch Facial Plast Surg
2009;11:91–7.
13. Sinno HH, Markarian MK,
Ibrahim AM, et al. The ideal na
solabial angle in rhinoplasty: a
preference analysis of the gener
al population. Plast Reconstr Surg
2014;134:201–10.
14. Monasterio FO, Orsini R. Sur
gery of the non-Indo- European
face. Clin Plast Surg 1996;23:341–
56.
15. Kim NG, Park SW, Park HO,
et al. Are differences in external
noses between whites and Kore
ans caused by differences in the
nasal septum? J Craniofac Surg
2015;26:922–6.
16. Cho GS, Kim JH, Yeo NK, et al.
Nasal skin thickness measured us
ing computed tomography and its
ef- fect on tip surgery outcomes.
Otolaryngol Head Neck Surg
2011;144:522–7.
17. Han SK. Asian rhinoplasty.
Seoul (South Korea): Koonja Pub
lishing Inc; 2006.
18. Tansatit T, Moon HJ, Rung
sawang C, et al. Safe planes for in
jection rhinoplasty: a histological
anal- ysis of midline longitudinal
sections of the Asian nose. Aes
thetic Plast Surg 2016;40:236–44.
19. Chun KW, Kang HJ, Han SK,
et al. Anatomy of the alar lobule
in the Asian nose. J Plast Reconstr
Aes- thet Surg 2008;61:400–7.
20. Ducut EG, Han SK, Kim SB, et
al. Factors affecting nostril shape in
Asian noses. Plast Reconstr Surg
2006;118:1613–21
[discussion:
1622–3].
21. Jung JA, Jung SY, Han SK, et
al. Nostrilplasty by manipulat
ing the dilator naris muscles: a
pilot study. Plast Reconstr Surg
2016;138:1010–3.
15
e-bacsy.com
Chương 2
Quy trình lai căng để tạo hình mũi người
châu Á
Mổ mũi hở không cần rạch qua trụ mũi
Jae-Goo Kang, MD, PhD, Kyung Won Kwon, MDa, Jinsoon Chang,
MD, PhD
Từ khóa
• Quy trình mổ mũi hở không rạch qua trụ mũi • Ghép kéo dài vách ngăn
• Quy trình cho Phẫu thuật tạo hình mũi người châu Á
• Quy trình mổ mổ mũi kín
MỤC TIÊU
• Ưu điểm chính của phẫu thuật nâng mũi nội soi là khả năng của phẫu
thuật viên điều chỉnh hình dạng mũi mà da bên ngoài còn nguyên vẹn,
điều không thể làm với phương pháp mổ mũi hở.
• Phương pháp lai căng (không rạch qua trụ mũi) mang lại khả năng tiếp
xúc và tiếp cận kỹ thuật không giới hạn, cho phép tất cả các quy trình có
thể trong phương pháp mổ hở đưa ra phản hồi bề mặt của phẫu thuật nội
soi.
• Cách tiếp cận quy trình lai căng cũng tuân theo cùng logic, trình tự và
các kỹ thuật mổ mũi cấu trúc, chú trọng rất lớn vào tiếp cận xương mũi.
• Phương pháp lai căng cũng cho phép cả cách hoạt động của não trái
(phân tích và phân tích kỹ thuật trước mô; đánh giá giải phẫu) và cách
phẫu thuật não phải (đánh giá cao hình dạng, cân bằng hoặc tỷ lệ da còn
nguyên).
• Về mặt kỹ thuật, chỉ có rạch da 2 bên trụ mũi.
ĐẠI CƯƠNG
Đây có phải là quy trình mổ nội
soi mũi cho người châu Á?
Hiện nay, nâng mũi nội soi đã
mở rộng các chỉ định và hiện đang
áp dụng các kỹ thuật của mổ mũi
hở. Quy trình tiếp cận được sụn
mũi cho phép chỉnh sửa đầu mũi.
Tiếp cận xa hơn tới sụn cánh mũi
ngoài (LLC), chẳng hạn như duy
chuyển vòm mũi ở trong và sụn
cánh mũi ngoài có thể giải phóng
sụn cánh mũi qua nội soi. Tiếp cận
qua tiền đình mũi của Fuleihan là sự
bổ sung gần đây của phương pháp
nọi soi để cải thiện và đánh
16
e-bacsy.com
giá LLC thông qua cắt qua tiền đình
mũi.
Tuy nhiên, các phương pháp
này đều là cơ bản của phẫu thuật
nâng mũi nội soi: tôn trọng và bảo
tồn sự nguyên vẹn trụ mũi trong,
da dính bên ngoài nhỏ nhất có thể
để nâng đỡ đầu mũi. Ưu điểm xuất
phát từ điều này như: ít can thiệp, ít
nhiễm trùng và yêu cầu ghép ít hơn,
trong khi có kết quả tương đương
(nếu không vượt trội) và nhanh
hơn. Bảo tồn tổ chức phần mềm của
đầu mũi là ưu tiên sau thuật, chứng
thực giá trị thực và tính thẩm mỹ tự
nhiên của của phẫu thuật nội soi.
Tuy nhiên, lợi ích của phẫu
thuật này thì đã thấy rõ. Nếu có vấn
đề trong khu vực cấm, giải phẫu trụ
mũi ? Bao gồm:
1. Thiếu hụt nghiêm trọng
của trụ mũi trong để nâng đỡ đầu
mũi.
2. Bất đối xứng ở trụ trong,
chẳng hạn như khe hở môi mũi.
Ngay cả những người phẫu
thuật nội soi cũng thích mổ hở để
sửa những thiếu hụt ở trụ mũi trong
và sử dụng mảnh ghép để tạo khung
đỡ cho đầu mũi được thẩm mỹ hơn.
Có thể mổ hở nếu phẫu thuật viên
muốn chỉnh sửa chính xác những
chỗ giải phẫu còn thiếu. Tuy nhiên,
trong mổ hở, phẫu thuật viên không
chỉ mất đi sự hỗ trợ đầu mũi vốn có
mà còn là lợi thế quý giá của phẫu
thuật nâng mũi nội soi: cơ hội nhìn
thấy bề mặt không bị xáo trộn và do
đó, tinh chỉnh hoặc kiểm soát hình
dạng mũi. Nâng mũi nội soi là một
phẫu thuật có thể quan sát được
sự thay đổi bề mặt da trong phẫu
thuật, cung cấp phản hồi thích hợp
cho các quyết định tiếp theo. Tuy
nhiên, yếu hoặc thiếu trụ trong ở
mũi người châu Á (Hình 1A) thì
không nên dùng nâng mũi nội soi.
Phẫu thuật viên tiếp cận hoặc sờ
thấy trụ mũi trong, do đó mất kiểm
soát bề mặt của phẫu thuật nội soi
mũi. Dường như không thể tránh
khỏi; tuy nhiên, có một cách để giữ
lại tính tự nhiên của nội soi này (khả
năng phản hồi bề mặt da) trong khi
thực hiện phẫu thuật cắt bỏ hoàn
toàn trong mổ hở.
Quy trình hở mà không mổ
mũi hở
Kỹ thuật được báo cáo bởi
Guerrerosantos và các phẫu thuật
viên khác về cơ bản là một cách mổ
hở mà không có vết rạch qua trụ
mũi, như tên gọi của nó. Nó không
phải là một phiên bản mổ rộng hơn
của phẫu thuật nội soi vì có rất ít sự
tôn trọng đối với các nguyên lý nội
soi cơ bản (mổ hạn chế, cấy ghép và
giảm thiểu việc làm mất hệ thống
hỗ trợ). Thay vào đó, nó tuân theo
logic, trình tự và kỹ thuật của phẫu
thuật nâng mũi cấu trúc hở (OSR),
nhấn mạnh đến việc đạt được khả
năng tiếp xúc xương mũi. Sự xuất
hiện của nó thúc đẩy bởi nhu cầu về
phẫu thuật nâng mũi có tính năng
linh hoạt trong phẫu thuật và độ
17
e-bacsy.com
chính xác kỹ thuật.
Như thể hiện trong các số liệu,
hình dung tuyệt vời của phương
pháp này cho phép hầu như tất cả
các quy trình có trong phương pháp
mổ hở: thao tác ở toàn bộ vách
ngăn (ghép nhiều và chỉnh sửa vách
ngăn) và các kỹ thuật phẫu thuật
khác nhau trên chóp mũi (cắt tỉa
đầu mũi, vạt trụ mũi ngoài, khâu,
hoặc đặt mảnh ghép). Nó thực sự là
cách mổ hở, có cùng độ chính xác và
kiểm soát trong lúc mổ (Hình 1B).
Sự khác biệt so với phương pháp
mổ hở là nó tránh được vết rạch qua
trụ mũi và giữ lại sự liên tục của da
trụ mũi. Sự khác biệt này không chỉ
đơn thuần là có 1 đường mổ mà còn
mang lại cho phẫu thuật viên một
lợi ích đáng kể: cơ hội duy nhất để
kiểm soát sự thay đổi bề mặt trong
thời gian thực trên mỗi bước của
phẫu thuật nâng mũi. Kỹ thuật này
là một món quà bất thường cho các
phẫu thuật viên nâng mũi, cho phép
cả chế độ hoạt động của não trái
(phân tích và độ chính xác kỹ thuật;
từ truy cập mở đến giải phẫu) và
chế độ phẫu thuật não phải (đánh
giá cao hình dạng, cân bằng hoặc tỷ
lệ trong bối cảnh tổng thể của mũi,
Hình 2)
Về mặt kỹ thuật, chỉ có các
đường rạch bên trụ mũi. Cách tốt để
tiếp cận (Hình 1) là:
1. Mở rộng các vết mổ xuống
đến chân của trụ mũi trong.
2. Bóc tách hoàn toàn LLC
khỏi các tổ chức và bóc tách hoàn
toàn vách ngăn màng để dễ thao tác
Xem thảo luận sau về các khía
cạnh kỹ thuật.
GIẢI PHẪU ĐÚNG: TRIẾT LÝ
PHẪU THUẬT
Trái ngược với phẫu thuật
nâng mũi phương Tây, trong đó
phương pháp phẫu thuật chủ yếu
là cắt bỏ (để có được một phiên
bản nhỏ hơn, tinh tế hơn), ngược
lại hoàn toàn ở những người châu
Á được phẫu thuật ghép thêm cho
mũi to hơn, cao hơn. Mổ hở là quy
trình có khả tiếp xúc tối đa và thao
tác cho các yêu cầu ghép khác nhau.
Sự bất lợi giải phẫu của mũi
người châu Á thích ghép vách
ngăn, Do đó cần kỹ thuật mổ hở
Một mối quan hệ trái ngược
giữa độ dày của da và độ dày của
LLC là đúng, và nguồn gốc của đầu
mũi ít nhô ra và kết quả dưới mức
tối ưu khi phẫu thuật đầu mũi trên
người châu Á. Giảm LLC là để tinh
chỉnh đầu mũi dẫn đến đầu mũi
không có hình dạng nhất định và ít
nhô ra. Da dày và tổ chức bên dưới
phủ qua mũi sẽ hạn chế mũi co kéo.
Mong muốn làm thanh mảnh đầu
mũi bằng cách loại bỏ đầu của LLC
với mô sẹo hình thành giữa da phủ
ở trên và LLC đã được phẫu thuật
thu gọn. Để vượt qua trở ngại này,
với đầu mũi của người châu Á cần
nhiều cấu trúc hơn để đẩy lớp
18
e-bacsy.com
rắn chắc và tạo đầu mũi ưa thích
cho mũi người châu Á. Khi khâu
SEG vào vị trí, thì sụn cánh mũi
được di chuyển lên trên mảnh ghép,
tạo thành một lý do khác để dũng kỹ
thuật mổ mũi hở trên người châu Á.
Giải phóng đủ trụ mũi ngoài là
quan trọng, để phẫu thuật nâng
mũi cấu trúc
Chất liệu tạo đầu mũi và
chuyển động của LLC thường được
yêu cầu mong muốn cho vị trí đầu
mũi nhọn ra. Điều này gây ra căng
da đầu mũi quá mức, sẽ ảnh hưởng
đến việc duy trì lâu dài vị trí đầu
mũi. Do đó, đưa lên và giải phóng
đủ LLC từ các tổ chức giữ lại (tại chỗ
cong và vùng xoay) là quan trọng
nhất đối với LLC (Hình 3 và 4):
• Giải phóng tổ chức giữ tại vị trí
cong
(di động phần sau của LLC)
• Giải phóng xoay mũi cho phép
đầu mũi đưa ra trước tốt hơn (di
động phần trước của LLC).
Mức độ mổ không còn thuộc
về phẫu thuật nội soi. Bây giờ, OSR,
tập trung vào
1. Tiếp xúc hoàn toàn và gải phóng
các cấu trúc giải phẫu liên quan (co
kéo hoặc thiểu sản LLC).
2. Xây dựng lại khung cấu trúc mũi
(SEG làm nền tảng cho tạo đầu mũi).
Do đó, việc sử dụng SEG bằng
phương pháp đường rạch bên kéo
dài trở thành chính yếu cho phẫu
thuật đầu mũi cho người châu Á.
19
da dày cao hơn, nhờ đó có được sự
tinh tế hơn. Điều này có nghĩa là
không chỉ ghép sụn nhiều hơn mà
còn làm cho cấu trúc nâng đỡ của
đầu mũi ổn định hơn cấu trúc đầu
so với phương pháp thường được
sử dụng (thanh chống trụ mũi)
được sử dụng trong phẫu thuật đầu
mũi người da trắng.
Dùng thanh chống trụ mũi dễ
dẫn đến bị lật hoặc xoay quá mức
khi chúng ta cố gắng tạo đầu mũi
nhô ra hơn. Không nghi ngờ gì nữa,
cần phải có các biện pháp đặc biệt
để ngăn chặn đầu mũi xoay này.
Nâng mũi người châu Á đòi
hỏi kéo dài thêm, không chỉ nhô đầu
mũi (hình 2). Về kỹ thuật, kéo dài
phần sống mũi cũng như đầu mũi là
rất quang trọng. Ghép kéo dài vách
ngăn (SEG) đã trở nên ưa thích để
đạt được mục đích này. SEG là một
kỹ thuật thực sự linh hoạt, kiểm
soát được xoay đầu mũi, liên quan
đến cánh mũi-trụ mũi và góc mũi
má.
Các đặc điểm sau đây là kh
iếm khuyết nổi bật của chóp mũi
người châu Á, không xử lí và đã lãng
quên trong thời gian qua:
• Thiểu sản xương hàm trên có trụ
mũi ngắn hoặc rút ngắn.
• Lỗ mũi nằm ngang, có vết lằn ở
cánh mũi
• Da đầu mũi mềm, khó dựng đầu
mũi
• Đầu mũi thấp, dễ bị xoay.
Điều này có thể khống chế bỡi
SEG, cung cấp một nền tảng vững và
e-bacsy.com
Tránh sẹo qua trụ là những lợi
ích đặc biệt ở bệnh nhân châu Á
Mặc dù những ưa thích nhất
trong phẫu thuật nâng mũi ở người
châu Á, mổ mũi hở có những khiếm
khuyết trên những bệnh nhân da
dày. Đường rạch qua trụ mũi có thể
gây phiền hà và gây ra vết sẹo khó
chịu ở một số bệnh nhân. Ngoài ra
còn có nguy cơ tổn thương mạch
máu từ kỹ thuật loại bỏ mỡ, thường
được thực hiện trên bệnh nhân
châu Á. Không nghi ngờ gì nữa, việc
tránh nó là một ưu điểm tuyệt vời
ở những người có da dày sẫm màu
da, nhiều tuyến bã nhờn. Mặc dù
điều tương tự cũng có thể xảy ra với
bệnh nhân da mỏng, nhưng phản
hồi bề mặt da, kiểm soát và điều
chỉnh thời gian mổ thực là quý giá
trong phẫu thuật đầu mũi cho ngươi
châu Á. Khả năng này, xuất phát từ
lớp da còn nguyên vẹn, làm giảm sự
mơ hồ của lớp da dày hơn và nguy
hiểm trong phẫu thuật.
Đây là lý do căn bản cho quy
trình hiện tại, đặc biệt quan tâm
đến giải phẫu mũi của người châu
Á; tuy nhiên, những lợi thế rõ ràng
có thể chia sẻ cho những dân tộc
khác muốn nâng mũi. Các phẫu
thuật viên chính khuyến khích dùng
phương pháp này:
1. Bất cứ khi nào OSR đưa ra chẩn
đoán đúng và điều trị rõ ràng (cho
biến dạng phức tạp hoặc tiếp cận kỹ
thuật)
Hình 1. (A) Lớp trung gian của mũi châu Á đòi hỏi phải tiếp xúc mở để sửa chữa trực tiếp và
hỗ trợ giải phẫu những chỗ còn yếu hoặc thiếu. (B) Phương pháp lai mang lại khả năng tiếp
cận và tiếp cận kỹ thuật không giới hạn, có thể so sánh với phương pháp mở.
20
e-bacsy.com
Hình 2. Phản hồi bề mặt liên tục từ kỹ thuật cho phép tinh chỉnh từng mm những thay đổi nhỏ
qua từng bước phẫu thuật nâng mũi. (A) Da phủ bên ngoài là rất quan trọng và cân bằng hơn.
Tinh chỉnh nền mũi rộng đòi hỏi đầu mũi đưa ra trước hơn, một nhiệm vụ khó khăn trong
21
e-bacsy.com
2. Với việc quan sát sự thay đổi bề
mặt da trong phẫu thuật, điều rất
quan trọng do mối quan tâm lớn
liên quan đến chuyển động da, thay
đổi cân bằng và tác động da bề mặt
của từng quy trình.
CÁC BƯỚC PHẪU THUẬT
Trình tự các bước phẫu thuật
là quan trọng và nên được thiết kế
tối ưu để kiểm soát được tình trạng
cải thiện ít rủi ro sau mổ và ít tác
động đến vùng mổ. Trình tự thay
đổi theo cách mổ nhưng nó cũng
phụ thuộc vào nội dung phẫu thuật;
ví dụ, cho dù đó là giảm hoặc tăng
kích thước mũi.
Ưu điểm nổi bật của quy trình
hiện tại cho phép chỉ định đa dạng
hơn: thu hẹp đầu mũi to (Hình 5),
kéo dài đầu mũi nhô ra (Hình 6),
cải thiện tình trạng mất cân bằng
cánh mũi-trụ mũi và sửa mũi lệch
(Hình 7). Nó chắc chắn có lợi cho
các trường hợp khó cần phẫu thuật
nội soi mũi trên người da trắng. Tuy
nhiên, trong bối cảnh hiện nay, có vẻ
phù hợp cho phẫu thuật nâng mũi
trên người châu Á để minh họa rõ
nhất các bước phẫu thuật với trình
tự logic và hợp lý.
Đường mổ
Đường rạch bắt đầu ở mặt
bên của chân trụ mũi sau đó kéo
dài ra tới mặt sau đầu mũi của sụn
cánh mũi. Sau đó, các phẫu thuật
viên thích lật ngược dao mổ số 15
lên để mổ từ đỉnh mũi qua trụ mũi
đến chân của trụ mũi tới đầu trong
sụn cánh mũi (Hình 8). Mổ tương
tự ở phía đối diện.
Đường rạch đủ rộng để bóc
tách hết sụn cánh mũi, tiếp cận
toàn bộ vách ngăn hay toàn bộ phía
trên ngoài và xương mũi. Khi lên kế
hoạch ghép độn cánh mũi, đường
mổ thì có giới hạn để có thể bảo tồn
mảnh ghép độn.
Di chuyển sụn cánh mũi và giải
phóng sụn cánh mũi ngoài (cuộn)
Dùng kéo nhỏ cong tách da ra
khỏi LLC. Tách từ bờ sau của LLC và
kéo dài qua vòm sụn đến sụn cánh
mũi trong. Đường rạch thứ 2 thì bắt
đầu tại trụ mũi. Nên dùng kéo sắc
bén để tách da để bảo tồn trụ mũi
và lớp da còn nguyên vẹn.
Chủ động xác định bề của sụn
mũi để tránh cắt vào nó. Sau đó, 2
bên sẽ thông nhau, dùng móc da
kéo vòm sụn ra trước (Hình 8B).
Tiếp theo, mỗi LLC có thể
được kéo ra khỏi lỗ mũi và đưa ra
trường hợp sống mũi đã đủ cao. (B) Phương pháp cho phép phản hồi bề mặt cần thiết để tìm ra
chiều rộng, chiều cao và độ nhô đầu mũi của mô cấy ghép. (C) Kết quả ngay lập tức trên bàn mổ
so với trước phẫu thuật. (D) Nhìn thẳng sau phẫu thuật. Mũi trông nhỏ hơn và hẹp hơn mặc dù
kích thước mũi tăng lên từ đầu mũi hoặc sống mũi. Phương pháp cho phép phẫu thuật não phải
để đạt được sự cân bằng thành công giữa mũi trên và dưới trong trường hợp đầy thách thức
22
e-bacsy.com
không kém gì so với phương pháp
mổ hở. Cắt bỏ đầu mũi được thực
hiện và nên ở mức tối thiểu và phía
sau vòm vì mục đích chính của nó
là giải phóng LLC với sụn bên trên,
không bao giờ giảm kích thước
(Hình 3).
Lớp tiền đình luôn được bảo
tồn. Tổ chức liên kết với da thường
giữ lại gần bề mặt vòm mũi. Tách
các liên kết này ra khỏi da đầu mũi
và chuẩn bị cho bước tiếp theo.
Bóc tách vách ngăn màng và tiếp
xúc với sụn vách ngăn mũi
Để tiếp cận sụn vách ngăn, cần phải
rạch rộng thêm. Di động được hoàn
toàn LLC 1 bên lỗ mũi. Tách LLC khỏi
nhau bắt đầu từ dây chằng giữa, và
tách xuống thấp và ra sau hơn từ
trên xuống (Hình 8C). Nhìn trực
tiếp, thực hiện bóc tách cẩn thận ở
đường giữa của vách ngăn màng, có
thể kéo LLC ra 2 bên (mở ra diện
phẫu thuật). Ở những trường hợp
mũi gãy nhiều, sụn vách ngăn ở
giữa bị thiếu. Thật dễ dàng để mất
mặt phẳng phẫu thuật chính xác và
làm thủng vách ngăn màng. Sờ cẩn
thận và xác định vị trí của sụn vách
Hình 4. (A) Người nam trẻ tuổi với dáng mũi ngắn và huếch lên. (B) Giải phóng LLC và đưa nó
ra trước. (C) Nhìn thẳng mặt bệnh nhân.
23
e-bacsy.com
Hình 5. (A) Phụ nữ 23 tuổi, đầu mũi tròn to, 1 năm sau khi dùng SEG ghép tăng cường vách
ngăn qua phương pháp lai căng. (B) Bóc tách rộng tạo điều kiện tiếp xúc và khâu mảnh
ghép, nhưng vẫn cho phép kiểm soát tinh tế hình dạng mũi với da nguyên vẹn.
24
e-bacsy.com
ngăn là rất quan trọng để tránh rủi
ro. Như vậy, tiếp cận hoàn toàn với
toàn bộ vách ngăn cộng với sống
mũi trước (Hình 8 D). Ở giai đoạn
này, toàn bộ LLC có thể được
chuyển đến từng lỗ mũi, cho phép
hình dung đồng thời cả hai sụn
cánh mũi mà không bị biến dạng,
điều này không được phép trong
phương pháp nội soi (Hình 8E).
Hình. 6. Nữ 20 tuổi có mũi ngắn và xoay đầu mũi, kết quả sau khi thực hiện quy trình lai
căng.
25
e-bacsy.com
Trong các trường hợp thẩm mỹ với
vách ngăn thẳng, trong đó vai trò
của phẫu thuật tạo hình vách ngăn
được xác định trong việc lấy mảnh
ghép, việc tiếp cận với vách ngăn
được thực hiện thông qua đường
rạch xuyên 1 nửa riêng biệt. Để duy
trì độ vững chắc và tính toàn vẹn
của vách ngăn, thì không nên bóc
tách toàn bộ vách ngăn màng và sự
liên kết giữa góc vách ngăn sau và
vách ngăn màng vẫn còn nguyên.
Khung xương hóa sống mũi,
chỉnh sửa vách , cắt xương
Đối với quá trình khung
xương của vùng sống mũi, chỉnh sửa
vách ngăn và cắt xương, không có
điểm chung nào của phương pháp
hiện tại cần mô tả đặc biệt. Tiếp cận
kỹ thuật và nội dung và khả năng cơ
động của quy trình, gần giống với
phương pháp mổ hở. Trình tự quy
trình sẽ ra trong các phần sau.
Khung xương hóa và lấy bỏ phần
gồ của sống mũi.
Sửa vách ngăn và kết quả: không
giống như cách mổ hở, đánh giá kỹ
thuật có thể bị hạn chế phần nào
của vị trí của các mảnh ghép được
bảo đảm bằng chỉ khâu, đặc biệt là
ở những bệnh nhân có da rắn chắc.
Tạo vách ngăn tốt (chiều rộng của
thanh chống vách ngăn <10 mm) có
thể làm mất tính toàn vẹn của vách
ngăn, gây ra các vấn đề sau phẫu
thuật. Người ta phải luôn để ít nhất
một thanh chống rộng 12 mm theo
chiều dọc và sống mũi.
Đục xương: Nói chung là không phổ
biến phải đục xương hai bên trong
phẫu thuật nâng mũi ở người châu
Á. Nâng sống mũi phải phù hợp với
nền mũi, ý nghĩa của đục xương là
không tác dụng, tạo ra nền xương
không tự nhiên ở mỗi bên.
Bởi vì sống mũi và trục mũi hướng
về đầu mũi.
Vị trí của mảnh ghép tăng
cường
Vách ngăn thu được nên cắt
tỉa để làm SEG. Hình ảnh kích thước
thật phải lập kế hoạch trước phẫu
thuật. Trước phẫu thuật nên cắt
mảnh giấy có hình dạng tương tự
như SEG. Vẽ điểm đính sụn cánh
mũi và chồng lên sụn vách ngăn
được chính xác. Dùng 2 móc da đầu
tù để kéo mép vết mổ ra để tiếp xúc
với sụn vách ngăn và có đủ khoảng
trống để thực hiện đặt SEG (Hình
8F). SEG được chèn chính xác tại vị
trí của vách ngăn bằng 3 mũi khâu
5-0 polydioxanone (PDS). Định vị
chính xác SEG là bước quan trọng
nhất của phẫu thuật đầu mũi vì đầu
trên của nó sẽ tạo nên hình dạng
đầu mũi thực tế (Hộp 1).
Da còn nguyên vẹn, việc kiểm
soát chính xác vị trí đầu mũi có thể
được thực hiện bằng các thao tác
chính xác và hiệu quả nhất, điều này
26
e-bacsy.com
Hình 7. (A) Kết quả của quy trình lai căng cho bệnh nhân bị dị tật mũi-môi thứ phát, cho thấy
kết quả tốt như đã ghép sụn sườn và sụn vách ngăn. (B) Kích thước và vị trí của kéo dài sụn
vách ngăn cũng kéo dài. Ghép sụn cánh mũi thì dùng cho những trường hợp khác. Thiểu sản
hay vị trí của LLC bị lệch ở mũi người châu Á đòi hỏi phải có khung đỡ để nâng giữa đầu mũi.
không có trong kỹ thuật mổ hở. Hai
loại SEG là hay được sử dụng và mô
tả trong bài viết trước của tác giả
Kang và Ryu).
Đặt lại vị trí sụn cánh mũi
ngoài
Để định vị lại LLC, mảnh ghép
được gắn thêm và cả 2 sụn cánh mũi
được kéo ra bên và khâu chính xác
sụn cánh mũi tại các điểm đã được
đánh dấu trên mảnh ghép bằng chỉ
5-0 PDS, đầu tiên tại điểm nhô ra
của trụ mũi, thứ hai tại vòm đầu
mũi (hình 8G). Vị trí của khâu vòm
tại vòm đầu mũi rất quan trọng để
định hướng đầu mũi. Điều này được
thực hiện bằng cách hạ thấp trần
mũi và nâng cao phần đuôi, do đó
làm giảm khả năng làm tròn chóp
mũi và hỗ trợ bờ cánh mũi.
Loại bỏ tất cả các thành phần
giữ LLC lại trước khi khâu nó vào
SEG là một bước chính, như đã thảo
luận trước. Giải phóng vùng cuộn
được thực hiện trước khi kéo sụn
cánh mũi ra. Để di chuyển ra trước
(nhô ra), cần phải mổ sâu hơn để
giải phóng LLC (tại vùng cuộn) để
tạo sự thích hợp và không căng cho
SEG. Các tác giả đã quan sát lâm
sàng, dây chằng hình quả lê gồm
nhiều lớp. Trong quá trình mổ, luôn
phải cẩn thận khả năng làm rách
27
e-bacsy.com
Hình 8. Các bước phẫu thuật. (A) Rạch da từ sau ra trước, ngoài vào trong qua trụ mũi và đến
chân trụ mũi. (B) Kéo sụn cánh mũi ra. Bóc tách bắt đầu ở phần ngoài của LLC được kết nối
với phần trong ở trụ mũi. Dùng móc da đơn để kéo ra và tiếp cận đầu trên sụn vách ngăn. (C)
Bóc tách vách ngăn màng để tiếp xúc với sụn vách ngăn. Sau khi kéo 2 sụn cánh mũi ra 1 bên
lỗ mũi, tách LLS ra 2 bên bắt đầu từ dây chằng giữa và vào trong ra sau và xuống sâu hơn.
28
e-bacsy.com
Nhìn trực tiếp, cắt cẩn thận đường giữa của vách ngăn màng. (D) Thấy đầu mũi không bị biến
dạng. Toàn bộ LLC có thể kéo ra 2 bên của lỗ mũi, cho phép thấy rõ được cả 2 sụn cánh mũi
không bị biến dạng. Điều này không thể có trong quy trình noi soi, vách ngăn màng không bị
cắt đi. (E) Tiếp cận đầu trên sụn vách ngăn. Cắt đường giữa cẩn thận và chú ý đầu trên sụn vách
ngăn để tránh làm thủng vách ngăn màng. Kết quả là thấy được toàn bộ mặt trước của sụn vách
ngăn. (F) vị trí của SEG. Dùng 2 móc đầu tù kéo phần đầu vách ngăn ra. Khâu mảnh ghép vách
ngăn vào sụn vách ngăn ở vị trí mong muốn. (G) Đặt lại vị trí sụn cánh mũi. Sau khi LLC đủ di
động, cả 2 sụn cánh mũi được kéo sang 1 bên lỗ mũi trái và khâu mảnh ghép tăng cường vào
trụ mũi và vòm của đầu mũi. (H) Độ rộng mũi vừa đủ và đầu mũi thon gọn. Mảnh lót thêm sụn
được khâu vào mỗi bên để làm tăng độ nhô của mảnh ghép tăng cường để đủ tạo độ rộng của
đầu mũi. Phía trước đầu mũi nhô thêm 7-9mm được phủ lớp màng sụn.
niêm mạc và không nên giải phóng
quá mức.
Nâng cầu mũi
Đối với các trường hợp thông
thường, ghép chất liệu nhân tạo
(Silatics [AART Inc, Reno, Nevada]
hoặc Goretex [W. L. Gore & Associ
ates Inc, Flagstaff, Arizona]) được
ưu tiên. Trong quá trình tinh chỉnh
đầu mũi, mảnh sống mũi được lặp
đi lặp lại và chèn vào để điều chỉnh
độ rộng và liên quan đến độ nhô của
chóp mũi. Sát trùng triệt để được
thực hiện: bên trong mũi thì bằng
iốt Pididone, làm sạch vết thương
định kỳ bằng nước muối, che miệng
bệnh nhân trước khi tiến hành phẫu
thuật khâu vết mổ, thay găng tay và
giảm thiểu xử lý các thao tác thừa.
Tinh chỉnh đầu mũi
Để đảm bảo độ rộng vừa đủ
của dáng vẻ tự nhiên đầu mũi, các
mảnh sụn được gắn vào SEG (Hình
8H). Phía đầu mũi nhô ra 7-9mm
là sụn vách ngăn hay sụn tai. Màng
sụn được bọc thêm phần đầu mũi.
Khâu sụn sẽ kiểm tra qua da, sau đó
được cắt tỉa tỉ mỉ để đạt được vẻ
ngoài mong muốn. Để đưa ra quyết
định này, xem xét các câu hỏi sau
đây:
1. Đầu mũi có đều hay đối xứng
không? Xem lại ảnh trước mổ có cải
thiện hơn không ?
2. Độ rộng của chóp mũi có hòa
quyện với đường thẩm mỹ của sống
mũi không ?
3. Có nếp nhăn sâu trên cánh mũi
hoặc vết nhăn do hướng của lỗ mũi
(vách ngăn mũi ngoài) ?
4. Có nên cần thiết sờ nắn đầu mũi ?
Câu trả lời cho những câu hỏi này
là:
1. Kiểm tra cẩn thận phức hợp đầu
mũi dưới lớp da có đối xứng, có
đều không. Ép nhẹ đầu mũi và đưa
đầu mũi nhô ra phía trước (trái mũi
nhô ra trước, xuống dưới) cho thích
hợp. Nếu đầu mũi trước mổ cao, tạo
thành một hình tròn trên đầu mũi,
nên kéo đầu mũi xuống dưới nhô ra
trước.
2. Độ rộng của đầu mũi nên chỉnh
khoảng bằng ¼ độ rộng giữa 2 đầu
lông mày. Nếu da đầu mũi ép căng,
29
e-bacsy.com
chặt quá qua phần sụn đầu mũi thì
nên ghép thêm các tổ chức làm đầy
để làm trang điểm thêm đầu mũi
được tự nhiên.
3. Trong quá trình tinh chỉnh đầu
mũi, hay gặp van mũi ngoài nằm
khá sâu bên dưới sụn cánh mũi (
sụn cánh mũi tạo khung đỡ kém)
và lỗ mũi co kéo. Tình trạng hay gặp
như lỗ mũi bị trống hay cánh mũi
bị huếch sẽ nặng hơn khi chúng ta
thực hiện quy trình tạo hình đầu
mũi thông thường (cắt tỉa đầu mũi,
khâu đỉnh 2 sụn cánh mũi và thu
nền mũi).
Khi gần kết thúc cuộc mổ,
SEG trở nên căng hơn. Bờ cánh mũi
bị co kéo nhiều hơn và đổ xuống từ
đầu mũi nơi có SEG, dẫn đến mũi
không tự nhiên hoặc không còn
nét tự nhiên giữa chóp mũi và cánh
mũi. Đây không phải là kết quả ngạc
nhiên với phẫu thuật LLC ở bệnh
nhân châu Á, những người bị biến
dạng do thiểu sản và sai lệch vị trí
đầu mũi. Hầu hết hình dáng lỗ mũi
cho thấy sai lệch ví trí của LLC ở đầu
mũi, đó là quy tắc chứ không phải là
trường hợp ngoại lệ. Một vài phẫu
thuật viên có cái nhìn lạc quan và
tin tưởng rằng lớp da dày đủ nâng
đỡ cánh mũi, do đó không cần nâng
đỡ thêm cho cánh mũi. Quy tắc sinh
học thì có sự khác biệt: các tổ chức
phần mềm không nâng đỡ thì co
kéo và tổ chức co kéo dày lên, da
dày hơn thì đòi hỏi phải có sự nâng
đỡ tốt hơn. Các phẫu thuật viên tin
rằng sau khi nhìn thấy những
khuyết điểm của trụ mũi, có thể
dùng sụn sườn để điều chỉnh.
Các phương pháp nâng đỡ
cánh mũi bằng sụn sườn gồm:
Ghép bờ cánh mũi
Đối với các trường hợp co kéo
cánh mũi ít
Ghép phủ qua sụn cánh mũi ngoài
Để tạo nên sự mượt mà từ
đầu mũi đến cánh mũi.
Được sử dụng khi nhô đầu
mũi vượt quá 3 mm
Lót cánh mũi
Để nâng đỡ van trong dưới
đầu mũi – cánh mũi
Cục tròn trên đầu mũi cần cắt chỉnh
nhỏ và ghép thêm cho phù hợp với
mũi.
Ghép thêm bên dưới (cánh mũi)
Không nên thực hiện thường
xuyên và chỉ dành riêng cho lỗ mũi
co kéo nhiều, không cho lỗ mũi co
kéo tại chỗ
Đủ mạnh để tạo ra khác biệt,
chẳng hạn như sự bất đối xứng
trong cánh mũi hoặc hình dạng lỗ
mũi
Ghép phức hợp được ưa
chuộng trong thiếu hụt tiền đình
mũi.
4. Khi đóng vết mổ bằng nylon 6-0,
kiểm tra đầu mũi xem có ngóc ngách
nào không. Những thiếu sót nhỏ có
thể được lấp đầy bằng sụn bị nghiền
nát nhẹ nhàng thông qua đường mổ
trụ trong. Chúng có thể được đặt
bên dưới đầu mũi hoặc dọc theo rìa
đầu mũi hoặc dọc theo rìa của phức
30
e-bacsy.com
BOX 1
Sử dụng mảnh ghép tăng cường của SEG: kết hợp ghép đầu mũi với
ghép hỗ trợ
SEG là một mảnh ghép hỗ trợ và một mảnh ghép ẩn (không hiển thị
bên ngoài). Việc sử dụng nó có thể được mở rộng đầu mũi bằng cách thêm
chiều dài và đưa mảnh ghép nhô ra trước. Nếu nhìn kỹ vào hình dạng của SEG
trong Hình 8H, có một số chiều dài thêm, nhô ra phía trước. Nhiều lý do cho
chiều dài thêm này.
KIỂM SOÁT CHÍNH XÁC ẢNH TRƯỚC MỔ
Sửa đổi sử dụng các thành phần nhô ra của SEG cho phép thực hiện
chính xác ảnh trước mổ. Việc sửa đổi này thể hiện tình huống giống hệt như
chuẩn bị một mảnh ghép chính xác phù hợp với ảnh nghiêng được định sẵn
từ hình ảnh kích thước thật. Trong phẫu thuật nâng mũi của tác giả, có một
mô hình phản ánh chính xác cấu hình đầu mũi được chuẩn bị trước phẫu
thuật, sử dụng hình ảnh kích thước, mà tác giả sử dụng để tạo SEG chính xác
trong quá trình phẫu thuật (xem Hình 8).
PHẪU THUẬT TẠO HÌNH ĐẦU MŨI, CHIẾN LƯỢC GHÉP ĐẦU MŨI
Trong hầu hết phẫu thuật tạo hình mũi người châu Á, ghép phủ qua
phức hợp cánh mũi. Sụn cánh mũi quá yếu không thể tạo dáng đầu mũi và
giấu dưới lớp da dày hơn, do đó chúng chỉ dùng như một khung ghép đầu
mũi. Mảnh ghép tiếp theo yêu cầu thường xuyên như một mảnh ghép trụ mũi
để hỗ trợ ghép lót. Mảnh ghép thứ ba không phải là bất thường. Nhiều mảnh
ghép sẽ tiềm ẩn nhiều nguy cơ và biến chứng trong tạo hình mũi. Điều này là
không cần thiết cho chiến lược tạo đầu mũi của phẫu thuật viên. Một mảnh
ghép duy nhất (SEG cải tiến) tạo thành đầu mũi, cung cấp một hình dạng đơn
giản nhưng chính xác và sử dụng tinh tế hơn cho sụn có sẵn, do đó, sụn sẵn có
nhiều hơn cho các mục đích sử dụng khác.
KIỂM SOÁT TỐT LỖ MŨI VÀ THÙY MŨI
Nếu các phẫu thuật viên cố gắng đạt được độ nhô của chóp mũi chỉ với
SEG (không có mảnh ghép đầu mũi bổ sung), nó thường dẫn đến lỗ mũi lớn
và đầu mũi nhỏ mất cân đối. Sự thiếu hụt bẩm sinh về cấu trúc đầu mũi tại
chỗ (kích thước và độ vững chắc ở giữa) không phù hợp với chiều dài trụ mũi
tăng lên từ SEG. Một kết quả cân bằng đòi hỏi phải ghép thêm để mở rộng
chóp mũi. Với SEG cải tiến, tỷ lệ lỗ mũi- cánh dễ dàng được kiểm soát bằng
cách điều chỉnh điểm ghim của lớp trong hoặc giữa trên SEG (xem Hình 5B).
31
e-bacsy.com
hợp cánh mũi đầu mũi. Sụn phải
mềm, trải rộng và giữ lại và lấp đầy
khoảng trống nhỏ trong và xung
quanh chóp mũi, đảm bảo mọi góc
của bề mặt được tái tạo đều được
nâng đỡ tốt.
Một lần nữa, nhìn trực tiếp
thực tế bên ngoài là quan trọng
nhất của phương pháp này. Phản
ảnh trong lúc phẫu thuật từ da
nguyên vẹn cho phép tạo được sự
tinh tế trong việc đánh giá và hoàn
thiện kết quả cuối cùng. Điều này
cung cấp mọi thứ cần thiết cho phẫu
thuật nâng mũi chính xác bởi một
phẫu thuật viên có con mắt nghệ
thuật.
ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM
Ưu điểm
1. Khi bắt đầu bóc tách ở phần trụ
mũi, sử dụng kéo sắc để bảo tồn
tính toàn vẹn của da mỏng trụ mũi
và không phạm vào trụ trong của
sụn cánh mũi.
2. Trong quá trình mổ, chủ động
xác định và tuân theo bờ của LLC.
Nếu bờ của LLC bì mất thì phần sau
của sụn cánh mũi sẽ bị xoay. Đây là
một kỹ thuật tốt trong sửa đầu mũi
tròn, biến dạng và đầu giữa của sụn
cánh mũi.
3. Khi có kế hoạch ghép độn thêm
cánh mũi, để bảo tồn mảnh ghép tốt
thì nên rạch kéo dài ra bên ngoài.
4. Trong phẫu thuật nâng mũi ở
người châu Á, việc bóc tách thường
rộng hơn của phương pháp hiện tại
đòi hỏi phải khôi phục lại những
hỗ trợ đã mất hơn là cố ghép thêm
vào để đạt được sự gia tăng mong
muốn.
5. Xu hướng gần đây và các điểm
quan trọng trong phẫu thuật nâng
mũi ở người châu Á gồm
• SEG đã trở thành công cụ chính
kỹ thuật tạo hình đầu mũi và kéo
dài đầu mũi để tạo độ nhô cần thiết
ở người châu Á
• Thách thức của LLC (thiểu sản
hay dị tật đầu mũi) đòi hỏi phải
nâng cánh mũi và giữa đầu mũi (với
SEG)
• Ghép thích hợp để nâng cánh
mũi để tạo ra dáng mũi trông tự
nhiên và điều chỉnh chức năng của
van mũi ngoài.
6. Cung cấp mảnh ghép hạn chế là
một vấn đề thực tế trong phẫu thuật
nâng mũi ở người châu Á. Đưa ra
một cách chính xác mô cần ghép
giúp phẫu thuật viên kiểm soát kết
quả bằng cách ưu tiên vật liệu có
sẵn.
Nhược điểm
1. Người ta không thể khắc phục
da dày bằng cách sắp xếp LLC để
cố gắng có đầu mũi thon gon hơn.
Thông thường, da dày thì đòi hỏi thì
phải có khung nâng đỡ mạnh hơn
cho đầu mũi tinh tế.
2. Da dày khâu phủ qua mảnh ghép
đầu mũi quá căng sẽ gây thiếu máu
nuôi vạt da. Tuân thủ nghiêm ngặt
để duy trì sự liên tục của da trụ mũi
và không mổ mũi hở là một ưu tiên
32
e-bacsy.com
và sẽ dễ để sửa các biến chứng.
Chuyển sang rạch qua trụ mũi bất
cứ khi nào cần thiết.
3. Kéo da đầu mũi qua căng để khâu
lại sẽ làm cho đầu mũi bị đè xuống,
không tạo được đỉnh mũi như ý và
làm méo lệch khung đỡ ảnh hưởng
đến chức năng và thẩm mỹ. Hơn
nữa, căng da quá mức sẽ gây hoại tử
vạt da. Về lâu dài, độ nhô đỉnh mũi
và kéo dài mũi có thể bị mất do sự
tự tiêu mảnh ghép.
4. Ở những bệnh nhân da mỏng, có
thể nhìn thấy mảnh ghép bên dưới
sau phẫu thuật. Các cạnh nhô ra của
phức hợp đầu mũi cần kiểm tra và
cắt tỉa tỉ mỉ để tránh tạo cạnh sắc và
bất thường gồ lên trên da. Sử dụng
màng sụn để ngụy trang thêm cho
phần đầu mũi phức tạp.
TÓM LƯỢC
Người ta hay mổ mũi hở
nhưng các phẫu thuật viên ngày
nay có thể lựa chọn phương pháp ít
xâm lấn hơn. Nâng mũi nội soi, mặc
dù không được chỉ định cho tất cả
bệnh nhân, nhưng thường không
được sử dụng cho những người
châu Á. Bệnh nhân cần OSR do thiếu
hụt giải phẫu đáng kể có thể được
sử dụng phương pháp lai căng này.
Ngoài ra, phương pháp lai căng là
linh hoạt trong phạm vi phẫu thuật
hoặc tiếp cận. Nó có thể là một cách
tiếp cận quy trình nội soi cổ điển
hoặc giới hạn trong một số trường
hợp tái cấu trúc OSR. Như vậy, lợi
ích của phương pháp lai căng là
xứng đáng được quan tâm cho các
phẫu thuật viên nâng mũi người
châu Á và trong các khóa đào tạo.
Sự khác biệt không chỉ đơn thuần là
nó cắt bỏ vết mổ mà còn là cơ hội để
điều chỉnh thay đổi từng mm nhỏ
trong mỗi bước nâng mũi, một lợi
ích thực sự và đáng kể.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Kamer FM, Pieper PG. Nasal
tip surgery: a 30-year experience.
Facial Plast Surg Clin North Am
2004; 12(1):81–92.
2. Palma P, Khodaei I, Bertossi D, et
al. Hybrid rhino- plasty: beyond
the dichotomy of rhinoplasty
techniques. Acta otorhinolaryngol
Ital 2013;33(3): 154–62.
3. Simons RL. Perspectives on the
evolution of rhino- plasty. Arch Fa
cial Plast Surg 2009;11(6):409–
11.
4. Tasman AJ, Palma P. The
infracartilaginous approach revis
ited. Arch Facial Plast Surg 2008;
10(6):370–5.
5. Gassner HG, Mueller-Vogt U,
Strutz J, et al. Nasal tip recontour
ing in primary rhinoplasty: the
endonasal complete release ap
proach. JAMA Facial Plast Surg
2013;15(1):11–6.
6. Fuleihan NS. The transvestib
ular approach: a new horizon in
rhinoplasty. Arch Facial Plast Surg
2006;8(4):273–82.
33
e-bacsy.com
7. Constantian MB. Rhinoplasty as
an operation. In: Constantian MB,
editor. Rhinoplasty: craft and
magic. St Louis (MO): Quality
Medical; 2009. p.253–415.
8. Pastorek NJ, Becker DG. Treating
the caudal septal deflection. Arch
Facial Plast Surg 2000;2(3):217–
20.
9. Perkins SW, Tardy ME. External
columellar incisional approach to
revision of the lower third of the
nose. Facial Plast Surg Clin North
Am 1993;1:79–98.
10. Perkins SW. The evolution of
the combined use of endonasal and
external columellar approaches
to rhinoplasty. Facial Plast Surg
Clin North Am 2004;12(1):35–50.
11. Guerrerosantos J. Open rhi
noplasty without skin- columel
la incision. Plast Reconstr Surg
1990;85(6):955–60.
12. Cardenas-Camarena L, Guer
rero MT. Improving nasal tip pro
jection and definition using inter
do- mal sutures and open approach
without transcolu- mellar incision.
Aesthetic Plast Surg 2002;26(3):
161–6.
13. Bruschi S, Bocchiotti MA, Ver
ga M, et al. Closed rhi- noplasty with
marginal incision: our experience
and results. Aesthetic Plast Surg
2006;30(2):155–8.
14. Toriumi DM. Structure ap
proach in rhinoplasty.
Facial Plast Surg Clin North Am
2005;13(1):93–113.
15. Gassner HG. Structural grafts
and suture techniques in function
al and aesthetic rhinoplasty. GMS
Curr Top Otorhinolaryngol Head
Neck Surg 2010;9:Doc01.
16. Tebbetts JB. Shaping and posi
tioning the nasal tip without struc
tural disruption: a new, systemat
ic approach. Plast Reconstr Surg
1994;94(1):61–77.
17. Kang JG, Ryu J. Nasal tip sur
gery using a modified septal ex
tension graft by means of extended
marginal incision. Plast Reconstr
Surg 2009;123(1):343–52.
18. Jang YJ, Yu MS. Rhinoplasty for
the Asian nose. Facial Plast Surg
2010;26(2):93–101.
19. Toriumi DM, Swartout B. Asian
rhinoplasty. Facial
Plast Surg Clin North Am
2007;15(3):293–307, v.
20. Daniel RK. Secondary rhino
plasty. In: Daniel RK, ed- itor. Rhi
noplasty: an atlas of surgical
techniques. New York: Springer;
2002. p. 421–525.
21. Pastorek N. Surgical manage
ment of the boxy tip.
Aesthet Surg J 2007;27(3):306–18
[quiz: 319–21].
22. Lam SM. Asian rhinoplasty. Se
min Plast Surg 2009; 23(3):215–
22.
23. Jeong JY. Obtaining maximal
stability with a septal extension
technique in East Asian rhinoplas
ty. Arch Plast Surg 2014;41(1):19–
34
e-bacsy.com
24. Kim MH, Choi JH, Kim MS, et
al. An introduction to the septal
extension graft. Arch Plast Surg
2014; 41(1):29–34.
25. Kim JH, Song JW, Park SW, et
al. Effective septal extension graft
for asian rhinoplasty. Arch Plast
Surg 2014;41(1):3–11.
26. Kim HC, Jang YJ. Columellar in
cision scars in Asian patients un
dergoing open rhinoplasty. JAMA
Facial Plast Surg 2016;18(3):188–
93.
27. Bafaqeeh SA, Al-Qattan MM. Si
multaneous open rhi- noplasty and
alar base excision: is there a prob
lem with the blood supply of the
nasal tip and columellar skin? Plast
Reconstr Surg 2000;105(1):344–7
[dis- cussion: 348–9].
28. Sevin A, Sevin K, Erdogan B, et
al. Open rhinoplasty without trans
columellar incision. Ann Plast
Surg 2006;57(3):252–4.
29. Toriumi DM. New concepts in
nasal tip contouring. Arch Facial
Plast Surg 2006;8(3):156–85.
30. Constantian MB. Experience
with a three-point method for
planning rhinoplasty. Ann Plast
Surg 1993;30(1):1–12.
31. Kim EK, Daniel RK. Oper
ative techniques in Asian rhino
plasty. Aesthet Surg J 2012;32(8):
1018–30.
32. Kim JH, Jang YJ. Use of diced con
chal cartilage with perichondrial at
tachment in rhinoplasty. Plast Re
constr Surg 2015;135(6):1545.53.
35
e-bacsy.com
Chương 3
Nâng mũi bằng Silicone
In – Sang Kim
Từ khóa
• Nâng mũi • Nâng mũi người châu Á • Ghép dị loại • Silicone
• Wing graft
MỤC TIÊU
• Ghép silicone có thể được dùng một cách an toàn để nâng mũi ở mũi
nếu có biện pháp phòng ngừa.
• Sụn tự thân thích hợp cho đầu mũi, trái ngược với sống mũi.
• Nhiều mảnh ghép độn được xếp chồng lên nhau để cho đầu mũi nhô ra.
• Mảnh ghép mở rộng vách ngăn tạo sự nâng đõ và ổn định cho các mảnh
ghép chồng lên nhau và ngăn ngừa lực đè lên trụ mũi.
• Các mảnh ghép cánh là rất cần thiết để ngăn ngừa biến dạng ép và lộ
mảnh ghép khi sử dụng nhiều ghép chồng lên (onlay).
Giới Thiệu
Nâng sống mũi là một vấn đề
đầy thách thức cho phẫu thuật viên
tạo hình mũi ở Châu Á vì số bệnh
nhân đòi hỏi nâng mũi là rất nhiều.
Chất liệu tự thân như là sụn
sườn, sụn cắt nhỏ bọc trong cân,
miếng ghép trung bì – mỡ hoặc
trung bì, đã được sử dụng cho nâng
sống mũi bởi các phẫu thuật viên
người châu Á. Tuy nhiên, nâng mũi
bằng silicone vẫn chiếm ưu thế lớn
nhất ở các nước châu Á.
Chất liệu nhân tạo có nhiều
thuận lợi hơn chất liệu tự thân, như
là dễ sử dụng, số lượng cung cấp là
không giới hạn, giảm các thủ thuật
xâm lấn thêm, và kết quả thẩm mỹ
vượt trội không gì so sánh được.
Nâng mũi sử dụng chất liệu
Silicone
Tạo hình mũi ở người Châu Á
là độc nhất ở nhiều khía cạnh. Sống
mũi của người châu Á tương đối
phẳng và rộng, tuy nhiên, trong văn
hóa châu Á lại ưa thích một cầu mũi
cao to và rõ ràng hơn.
Có một số cân nhắc về thẩm
mỹ mà cần được hiểu và xử lí trong
nâng mũi ở người châu Á.
Ở khuôn mặt người châu Á,
mũi giúp tăng cường vẻ đẹp và sự
hài hòa với những bộ phận khác
36
e-bacsy.com
trên mặt như là gò má và trán,
những cái mà tương đối phẳng và
tròn. Mũi không nên nhô quá cao để
thu hút sự chú ý của người khác.
Đường cong từ trán đến cầu
mũi là rất trơn tru và nhẹ nhàng,
đặc biệt là ở nữ. Góc mũi trán ở
người châu Á không có hình dạng
xác định, đúng hơn nó là một sự
uốn cong trơn tru nhẹ nhàng. Khi
đường cong khá nông này bị xóa đi
bởi sự nâng mũi quá cao, thì sẽ xuất
hiện một diện mạo không tự nhiên
sau phẫu thuật.
Có một vài kỹ thuật khó và
khác biệt trong tạo hình mũi ở
người châu Á. Những kỹ thuật đã
thành công cao ở mũi người da
trắng nhưng lại thường không phù
hợp và không vừa ý ở mũi người
châu Á.
Sụn cánh mũi lớn yếu và nhỏ
với cuống trong ngắn, da dày phủ
bên ngoài làm cho kỹ thuật khâu và
tạo hình đầu mũi không được vừa ý
ở nhiều mũi người châu Á.
Miếng ghép kéo dài sụn vách
ngăn có thể cũng không cung cấp
được sự rõ nét và độ nhô đầu mũi
một cách phù hợp như mong muốn
của bệnh nhân. Ngoài ra, nguy cơ
biến chứng cao, như là vẹo vách
ngăn và rũ xuống của đầu mũi do
đuôi vách ngăn yếu. Sụn vách ngăn
thường mỏng và nhỏ, đặc biệt là ở
nữ người châu Á.
Có thể nói tạo hình nâng mũi
là một trong những phẫu thuật
thẩm mỹ phổ biến nhất ở châu Á,
và bệnh nhân mong đợi về kết quả
thường là cao, và sự bình phục
nhanh mà không có rối loạn nào
đáng kể phải được thảo luận trước.
Trong vấn đề này, silicone vẫn là
chất liệu được lựa chọn bởi nhiều
phẫu thuật viên ở các nước châu Á.
Sử dụng sụn sườn có liên
quan đến sẹo thành ngực, tràn khí
màng phổi, thời gian phẫu thuật
kéo dài, và chi phí mổ và chuẩn bị
tâm lý cho bệnh nhân. Đầu mũi làm
bằng sụn sườn thường là cứng đơ
kỳ quặc và không dễ chịu. Ngoài ra,
sử dụng sụn sườn không tránh khỏi
các biến chứng. Cong vênh và tự
tiêu là thường xuyên gặp, và nhiễm
trùng có thể xảy ra dù không phổ
biến. Bởi vì bản chất cứng tự nhiên
của sụn sườn, nó có thể dễ dàng bị
gãy do chấn thương hơn chất liệu
nhân tạo đàn hồi. Vì những lý do
đó, sụn sườn được bảo lưu như là
phương sách cuối cùng chứ không
phải là lựa chọn đầu tiên cho phẫu
thuật nâng mũi thẩm mỹ lần đầu bởi
hầu hết bác sĩ phẫu thuật. Sử dụng
sụn sườn trong nâng mũi thẩm mỹ
lần đầu nên được đánh giá cẩn thận
về lợi ích và chi phí, mức độ thoải
mái của bệnh nhân, và khả năng
phải điều trị thêm.
Đối với sụn thái nhỏ và mảnh
ghép da/da– mỡ, vẫn tồn tại những
vấn đề không thể tránh khỏi, ví dụ
như, tự tiêu, số lượng không đủ,
không đồng đều, thời gian phẫu
thuật tăng lên, tỷ lệ biến chứng do
phẫu thuật, và sẹo tại vị trí lấy sụn.
37
e-bacsy.com
Silicone không bị tự tiêu và
biến dạng. Silicone cũng có lợi thế
hơn các chất liệu nhựa dẻo khác.
Vì bản chất thì nó không thấm tự
nhiên, silicone không chứa vi khuẩn
bên trong nó và dễ dàng khử trùng
bằng các dung dịch sát khuẩn.
Ngược lại, chất liệu xốp về
mặt lý thuyết là dễ bị nhiễm trùng
hơn. Kích thước của lỗ lớn hơn 1
µm cho phép vi khuẩn xâm nhập.
Trong khi đại thực bào đòi hỏi kích
thước lỗ từ 30 đến 50 µm. Một vài
nghiên cứu chỉ ra rằng nguy cơ
nhiễm trùng của sinh khối bị ảnh
hưởng bởi sự hiện diện của những
lỗ nhỏ, vì vi khuẩn có thể định cư ở
những cấu trúc này nơi chúng được
bảo vệ chống lại hoạt động của đại
thực bào – tế bào mà không thể xâm
nhập vào các chất liệu sinh học.
Silicone được hình thành từ
sự trùng hợp của silica (SiO2) và
các liên kết chéo nối tiếp nhau và sự
mở rộng của chất liệu, cái mà có thể
tạo ra silicone gel hay silicone cao
su, tùy thuộc vào đặc trưng của quá
trình điều chế. Silicone cao su cũng
có sẵn ở một vài dạng, như là mềm,
vừa và cứng.
Silicone cao su đề kháng với
sự biến đổi mô vật chủ, và nó trơ về
mặt hóa học, chỉ gây ra phản ứng
rất ít với vật chủ.
Silicone cao su có khả năng
đàn hồi cao, chịu lực tốt hoặc ít biến
dạng. Nó duy trì hình dạng ban đầu
của nó qua một dải nhiệt độ rộng từ
-55oC ->+400oC. Vì vậy, nó có thể
được hấp khử trùng mà không làm
hỏng bản chất của nó.
Silicone đúc là có sẵn với
nhiều kiểu dáng khác nhau trên thị
trường, tuy nhiên, chúng sẽ không
tương ứng với mọi kiểu dáng khác
nhau của từng cái mũi riêng lẻ. Để
có kiểu dáng mong muốn, mỗi sili
cone sẽ được cắt gọt trước và trong
quá trình phẫu thuật cho mỗi bệnh
nhân.
Chất liệu silicone hình chữ L
được sử dụng rộng rãi ở các nước
châu Á. Một trong những ưu điểm
chính của loại silicone này là đường
cong sống mũi sẽ trơn tru và không
bị gián đoạn từ gốc mũi đến đầu
mũi. Với silicone hình chữ L, cả sống
mũi và đầu mũi được nâng đồng
thời mà không cần những can thiệp
khác phức tạp ở đầu mũi.
Silicone hình chữ L có thể
là một lựa chọn hấp dẫn cho bệnh
nhân châu Á vì những khó khăn cực
lớn của tạo hình đầu mũi với vách
ngăn yếu, cấu trúc nền sụn nhỏ và
yếu với cuống trong ngắn, và mô
mềm che phủ dày.
Tuy nhiên, nhược điểm của
silicone hình chữ L là rõ ràng.
Đầu tiên, nguy cơ của các vấn
đề ở da đầu mũi, như lộ chất liệu
là cao, đặc biệt là khi nó có độ dài
quá mức, hoặc sức căng lớn trên
đầu mũi do ảnh hưởng của silicone.
Chất liệu có thể bị lộ ra qua da đầu
mũi hoặc qua niêm mạc vách ngăn
(hình 1). Thậm chí một chất liệu với
đoạn thẳng đứng ngắn, như là chất
38
e-bacsy.com
liệu “hình con chim” cũng có thể bị
lộ ra, bởi vì trong nhiều trường hợp,
những chất liệu đó là đủ dài để tiếp
xúc trực tiếp với da đầu mũi.
Thứ hai, sự xoay quá mức
của đầu mũi rất phổ biến. Với sili
cone hình chữ L, rất khó để kéo dài
đầu mũi. Bởi vậy, thường thì điểm
nhô cao nhất của đầu mũi được tạo
ra trong một vị trí xoay nhiều hơn.
Hậu quả là tiểu đơn vị đầu mũi dưới
bị kéo dài một cách thẳng đứng,
điều này là không tự nhiên. Hình
thái mũi không tự nhiên này là rõ
ràng hơn khi nó được sử dụng cho
những bệnh nhân mũi ngắn với đầu
mũi xoay quá mức.
Thứ ba, hình thái đầu mũi
tổng hợp thường là hẹp bất thường
và có một điểm nhọn. Đầu mũi mới
được tạo ra bởi silicone chỉ nhô lên
ở phần trung tâm, điều này không
hài hòa với các tiểu đơn vị rộng và
dày ở xung quanh.
Thứ tư, hiện tượng “đế giày trượt
băng” có thể xuất hiện. Với khớp
gian mũi ở trung tâm như là một
trục đòn bẩy, phần xa dài hơn của
chất liệu cấy rớt xuống một cách tự
nhiên theo thời gian do trọng lực,
và sự tiêu dần của sức căng trên đầu
mũi làm quá trình này được đẩy
nhanh thêm. Khi độ nhô của đầu
mũi mất dần với đầu xa của chất
liệu cấy rớt xuống dưới, đầu gần
của chất liệu sẽ được nâng lên, hậu
quả là nó thả trôi trên xương mũi,
điều này sẽ tạo ra sự nâng cao quá
mức của gốc mũi.
Do những lo ngại liên quan
đến silicone hình chữ L, silicone
hình chữ I có thể được sử dụng để
thay thế. Khi sử dụng silicone hình
chữ I, việc nâng đầu mũi được thực
hiện riêng biệt với sụn tự thân.
Đối với chất liệu hình chữ I,
một vài phẫu thuật viên đã lo lắng về
khả năng gián đoạn giữa sống mũi
và đầu mũi, điều mà có thể không
lộ rõ cho đến khi các tổ chức bị tiêu
biến hoàn toàn sau phẫu thuật.
Tuy nhiên, vấn đề gián đoạn
có thể được loại bỏ bằng cách khâu
silicone trực tiếp với mảnh ghép
Hình 1: Chất liệu bị lộ ra thông qua da đầu mũi hoặc thông qua vách ngăn màng
39
e-bacsy.com
đệm trên đầu mũi, như được mô tả
sau đây trong bài viết này.
Mặc dù có nhiều lợi thế tiềm
năng, nhưng sử dụng chất liệu nhân
tạo trong nâng mũi thường không
được khuyến khích ở các nước
phương Tây do lo ngại có thể xảy ra
nhiễm trùng và sự lộ chất liệu.
Ngược lại, kinh nghiệm chung
với những kết quả thuận lợi trong
thời gian dài làm cho chất liệu sil
icone vẫn được sử dụng rộng rãi ở
các nước châu Á.
Một số phẫu thuật viên cho
rằng chất liệu silicone dung nạp tốt
hơn bởi người châu Á có da dày; tuy
nhiên, rất khó để tạo hình đầu mũi
ở người châu Á các độ dày da khác
nhau. Ngay cả đối với những bệnh
nhân da dày, sức căng và sự kích
thích quá mức hoặc nhiễm khuẩn
chất liệu thì không thể dung nạp
được.
Tỷ lệ biến chứng trong cấy sil
icone khác nhau đáng kể, tùy thuộc
vào kinh nghiệm của phẫu thuật
viên, kỹ thuật phẫu thuật, và thiết
kế chất liệu. Đặc biệt, những biến
chứng nghiêm trọng như là lộ chất
liệu và nhiễm trùng thì liên quan
đến những sai sót về kỹ thuật hơn
là đặc tính vốn có của chất liệu.
Gần đây, tỷ lệ biến chứng với
chất liệu silicone được báo cáo là đã
giảm, nó có thể là do những cải tiến
về thiết kế chất liệu, sử dụng chất
liệu mềm hơn, phương pháp phẫu
thuật thận trọng hơn, và sự đánh
giá cũng như kỹ năng tốt hơn của
phẫu thuật viên.
Kỹ thuật phẫu thuật
Trải Săng
Trải săng phù hợp là rất quan
trọng để khử trùng triệt để vùng
phẫu thuật. Trải săng không thấm
nước dọc theo đường chân tóc được
thực hiện bằng cách sử dụng những
tấm màng dạng phim dính để dọn
sạch tóc khỏi vùng phẫu thuật. Lông
tiền đình mũi được cắt sạch trước
khi trải săng, và sau đó da của tiền
đình mũi và khoang mũi trước được
chà rửa cẩn thận bằng gạc tẩm dung
dịch sát trùng. Khoang mũi sau
cũng được nhét nhẹ nhàng với gạc
tẩm dung dịch sát trùng, để giảm sự
hít máu vào lúc phẫu thuật và giảm
sự trào ngược của nước bọt và máu
từ khoang miệng.
Gạc khô hoặc mặt nạ khử
trùng được băng nhẹ nhàng lên môi
trên phủ lên miệng nhưng không
được làm tắc nghẽn đường thở của
miệng.
Thiết kế chất liệu
Một chất liệu cấy được thiết
kế chính xác là rất quan trọng cho
một kết quả thành công.
Độ dày của chất liệu được lựa
chọn trong phạm vi 2 – 10 mm. Chất
liệu cấy với độ dày 2 – 5 mm thường
được chọn phổ biến. Đối với độ dày
của chất liệu, thì càng mỏng càng
tốt trên tiền đề là giá trị thẩm mỹ
không bị xâm lấn quá nhiều. Lý do
chất liệu mỏng hơn mức có thể lại
40
e-bacsy.com
được chọn là vì khi chất liệu dày hơn
3 mm, mặc dù nó có thể thay đổi
theo độ dày của da, nhưng bờ của
nó có thể bị nhìn thấy. Tuy nhiên,
việc có thể nhìn thấy mảnh ghép là
một sự đánh đổi phổ biến cho các
chất liệu nâng mũi khác cũng như
chất liệu tự thân.
Tùy thuộc vào hình dáng mũi
của từng người mà thiết kế chất liệu
sao cho phù hợp. Nên cắt gọt chất
liệu trước khi tiêm thuốc tê tại chỗ.
Chất liệu được cắt gọt theo hình
dạng mong muốn của mũi.
Đối với mũi có gốc mũi thấp
và đầu mũi có độ nhô tương đối
tốt. Chất liệu cấy được thiết kế dày
hơn ở phần gốc mũi và mỏng dần về
phía đầu mũi. Nếu mũi có góc mũi
trán nông với độ nhô đầu mũi kém,
chất liệu được thiết kế mỏng ở gốc
mũi và dần dần dày hơn về phía đầu
mũi (hình 2).
Chất liệu được cắt gọt ban
đầu được áp trên sống mũi để kiểm
tra hình dáng chung của mũi và độ
dài thích hợp của chất liệu. Điểm
gốc mũi của chất liệu được đặt tại
chỗ đánh dấu da chỉ ra nơi bắt đầu
của mũi, thường là ở mức mép lông
mi trên. Điểm bắt đầu của mũi được
ấn định thay đổi theo giải phẫu của
bệnh nhân, giữa nếp trên sụn mi
trên và đường giữa hai đồng tử.
Phần chất liệu đầu gần không nên
xóa đi góc mũi trán, mà nên hòa lẫn
với đường cong nhẹ nhàng ở vùng
này.
Trong quá trình cắt gọt, bề
mặt đáy của chất liệu được gọt theo
một hình dạng lõm để phù hợp với
phần sống mũi lồi. Tại vùng khớp
gian sụn, thường đòi hỏi độ lõm
nhiều hơn của chất liệu. Các mép
ngoài và mép trên của chất liệu
thường được vuốt thon nhọn cẩn
thận để tránh chất liệu cấy có thể bị
nhìn thấy.
Chất liệu được cắt gọt ban
đầu được bảo quản trong dung dịch
sát trùng cho đến khi cần thao tác ở
những bước tiếp theo.
Đường rạch và nâng vạt da
Hình 2: Chất liệu được thiết kế phù hợp với
hình dáng mũi của bệnh nhân
41
Sau khi tiêm thuốc tê tại chỗ,
rạch da mép trụ, và vạt da trụ mũi
được nâng lên. Vạt da được bóc tách
ở mặt phẳng trên màng sụn cho
những bệnh nhân da mỏng. Ngược
lại, ở những bệnh nhân da dày, vạt
da được bóc tách trong mặt phẳng
dưới da để loại bỏ bớt hệ thống cân
cơ nông hay còn gọi là thủ thuật cắt
giảm mỡ, thủ
e-bacsy.com
thuật thường hữu ích để cải thiện
sự định rõ của đầu mũi. Đối với
phẫu thuật cắt giảm mỡ, một lớp
mô mềm được loại bỏ một cách
thận trọng, rồi nâng vạt da. Độ dày
mô mềm để lại trên sụn thay đổi tùy
thuộc vào độ dày của da đầu mũi.
Để ngăn ngừa tổn thương đám rối
trung bì của vạt da trong quá trình
phẫu thuật, một lớp mỡ mỏng ở mặt
dưới của vạt da phải được bảo tồn.
Cắt giảm mỡ mở rộng xa về
phía ngoài hoặc vượt qua nếp trên
cánh mũi nên để bảo tổn sự cấp máu
ở đầu gần. Ở khu vực đầu mũi trên,
mặt phẳng bóc tách được thay đổi
thành mặt phẳng trên màng sụn.
Tạo khoang dưới màng
xương
Điều quan trọng là nâng
chính xác mặt phẳng màng xương
khỏi xương mũi. Bóc tách dưới
màng xương chỉ nên giới hạn đến
điểm đánh dấu nơi bắt đầu của mũi
trên da. Bóc tách mở rộng về phía
đầu sẽ làm cho chất liệu di lệch sớm
về phía đầu và làm chảy máu nhiều
hơn từ đường nối mũi trán, có thể
gây ra máu tụ sau phẫu thuật.
Một đường dọc cho nâng mũi
dọc theo sống mũi từ đầu mũi đến
trán, được vẽ ở tư thế nằm trước
khi trải săng. Bởi vì sự không cân
xứng của mặt luôn hiện diện ở một
chừng mực nào đó, nên điểm gốc
mũi, khớp gian mũi, đầu mũi và
nhân trung có thể không sắp thẳng
thành một hàng dọc một cách hoàn
hảo, và cũng như vậy, xương và sụn
của sống mũi thường không cân
xứng hai bên. Bởi vậy, đường vẽ dọc
sống mũi này, cái mà nhìn thẳng
nhất trên bệnh nhân, sẽ giúp định
hướng cho việc sắp xếp silicone,
xương mũi, sụn cánh mũi lớn và sụn
cánh mũi ngoài trên, và mảnh ghép
đầu mũi một cách thẳng hàng.
Vạt màng xương được nâng
lên đầu tiên dọc theo đường dọc
sống mũi và được tách rộng ra hai
bên một cách đối xứng. Kích thước
của túi dưới màng xương này là hơi
rộng hơn một chút, khoảng 10% so
với độ rộng của chất liệu. Nếu túi
này quá rộng, sự di chuyển và lệch
chất liệu sớm sẽ xảy ra. Tuy nhiên,
nếu nó quá hẹp, chất liệu sẽ bị đặt
không ổn định hoặc không cân xứng
và có thể cũng dẫn đến bị lệch.
Mảnh ghép kéo dài vách ngăn
Sau khi hoàn thành thủ thuật
cắt giảm mỡ, sụn cánh mũi được
nhìn thấy một cách rõ ràng. Sau đó,
niêm mạc vách ngăn được bóc tách
để bộc lộ đuôi vách ngăn, và sụn
vách ngăn đã lấy. Với những bệnh
nhân châu Á có sụn vách ngăn rất
yếu và mỏng, độ rộng của cấu trúc
L nên lớn hơn 1 cm (như quy ước
thông thường) để duy trì sự vững
chắc của cấu trúc, mặc dù mảnh sụn
vách ngăn lấy được sẽ nhỏ hơn.
Mảnh ghép kéo dài vách ngăn
là một trong những kỹ thuật dùng
42
e-bacsy.com
cho đầu mũi đáng tin cậy nhất ở
người châu Á. Nó sẽ nâng đỡ đầu
mũi mạnh hơn và chắc chắn hơn
thanh chống trụ mũi.
Tuy nhiên, nó thường không
đủ để đạt được độ nhô đầu mũi cần
thiết được đòi hỏi ở những bệnh
nhân người châu Á. Nỗ lực quá
mức để nâng đầu mũi sử dụng đơn
độc mảnh ghép kéo dài vách ngăn
ở những bệnh nhân có đuôi vách
ngăn yếu thường dẫn đến những
biến chứng, như là vẹo vách ngăn,
biến dạng trụ mũi, và sự rũ xuống
kéo dài của đầu mũi.
Do đó, sức căng trên đầu mũi
do mảnh ghép kéo dài vách ngăn ở
những bệnh nhân này nên ở mức
tối thiểu đến vừa phải, chứ không
mạo hiểm sự vững chắc của mảnh
ghép.
Để ngăn ngừa biến chứng,
mảnh ghép nên mở rộng về phía sau
để phủ lên phần dày hơn và mạnh
hơn của đuôi vách ngăn. Tuy nhiên,
nó không nên quá sâu xuống đến
mào xương hàm trên. Nếu mảnh
ghép được lấy lùi quá về phía sau
đến mức tiếp xúc với mào xương
hàm trên, sẽ không có chỗ cho sự
di động của mảnh ghép về phía sau,
và nguy cơ mảnh ghép bị nghiêng
hoặc lồi ra về bên ngoài sẽ tăng lên
khi sức căng chỉ được giải phóng ở
phía ngoài. Bảo tồn một khoảng nhỏ
giữa mảnh ghép và mào xương hàm
trên để giải phóng sức căng và sự di
động về phía sau của mảnh ghép là
điều cần thiết. Tuy nhiên, nếu mảnh
ghép được lấy hướng quá về phía
trước, xoay của mảnh ghép và vẹo
của vách ngăn là những biến chứng
có thể xảy ra, vì sự tăng mômen
xoắn trên phần yếu hơn của đuôi
vách ngăn.
Đối với mũi người châu Á,
dùng đơn độc mảnh ghép kéo dài
vách ngăn thường không đủ, và bởi
vậy, nó được kết hợp với các mảnh
ghép đệm. Khi các mảnh ghép đệm
được kết hợp để nâng đầu mũi, thì
mảnh ghép kéo dài vách ngăn sẽ có
vai trò hỗ trợ hơn là vai trò nâng, và
sự vững chắc của mảnh ghép được
ưu tiên hơn là mức độ nâng được
của đầu mũi.
Trong việc sử dụng kết hợp
với các mảnh ghép đệm, mảnh ghép
kéo dài vách ngăn cũng giúp ngăn
chặn sự suy giảm tỷ lệ trụ mũi – tiểu
đơn vị đầu mũi bởi những mảnh
ghép đệm nhiều lớp.
Đặt tạm thời chất liệu trong
khoang sống mũi
Chất liệu cắt gọt lần đầu được
đặt vào trong khoang sống mũi. Hình
dáng mũi được kiểm tra kỹ lưỡng
sau khi đặt chất liệu. Cắt gọt lại và
đặt thử lại chất liệu có thể cần thiết
cho đến khi đạt được hình dáng mũi
mong muốn. Phẫu thuật viên có thể
ước tính độ nhô cần thiết của đầu
mũi bởi chất liệu, cũng như mức độ
xoay lên/ xoay xuống của đầu mũi
bằng cách di chuyển chất liệu lùi và
tiến.
43
e-bacsy.com
Thay thế đầu xa của chất liệu
bằng những mảnh ghép đệm
chồng lên nhau
Để đạt đủ độ nhô đầu mũi ở
người châu Á, việc xếp chồng nhiều
mảnh ghép đệm đã được tán thành.
Bởi vì sụn vách ngăn có sẵn là giới
hạn, sụn vành tai thường được sử
dụng cho mục đích này.
Thường sẽ có 2 đến 4 lớp sụn
vành tai xếp chồng lên nhau, vì 3 lớp
sụn vành tai sẽ dày khoảng 5 mm.
Chiều dài đầu đuôi của mảnh ghép
xếp chồng thường dài hơn một chút
so với mảnh vòm của sụn cánh mũi,
và độ rộng khoảng 7 – 8 mm, tương
ứng với độ rộng tự nhiên của các
điểm xác định đầu mũi, là 6 – 8 mm
ở nữ và 8 – 10 mm ở nam.
Khi các mảnh ghép đệm xếp
chồng được chuẩn bị, chiều dài
tương đương với mảnh ghép được
cắt bỏ trên đầu xa của mảnh sili
cone. Sau đó các mảnh ghép xếp
chồng được khâu vào đầu của sili
cone.
Các mảnh ghép xếp chồng
được khâu cố định với chất liệu sil
icone ở cùng một mức độ hoặc nhô
nhẹ một chút so với mảnh silicone
để làm nổi bật độ nhô đầu mũi.
Đầu cuối của silicone có thể
được cắt gọt và vát nhiều hơn để
phù hợp với các mảnh ghép đệm
và độ nghiêng của cuống ngoài sụn
cánh mũi.
Mảnh ghép kết hợp giữa sili
cone và mảnh ghép đệm bây giờ
được cố gắng để đặt trong khoang
sống mũi, và mảnh ghép có thể cắt
gọt thêm nếu cần thiết. Khi hình
dạng mong muốn của mũi đạt được
hoàn toàn, các mảnh ghép đệm
được đặt cẩn thận trên đầu mũi, và
khâu cố định với mép đuôi của các
sụn cánh mũi (hình 3).
Hình 3: Các mảnh ghép đệm được đặt cẩn
thận lên đầu mũi, và được khâu cố định với
mép đuôi của sụn cánh mũi
Thông thường, không gian
chết giữa chất liệu cấy và sống
mũi trong khu vực đầu mũi trên là
không đáng kể với kỹ thuật này. Cắt
gọt cẩn thận chất liệu và sử dụng
silicone mềm sẽ giúp tối thiếu hoá
không gian chết ở vùng này.
Tuy nhiên, nếu xuất hiện một
không gian chết lớn hơn bởi vì sự
chênh lệch chiều cao giữa sống mũi
và đầu mũi, thì mép xa của chất liệu
sẽ được thiết kế theo hình nêm để
vừa vặn với sự khác biệt ở đầu của
các sụn cánh mũi, và chất liệu cấy
được khâu với cuống ngoài sụn.
Nâng đầu mũi được thực hiện riêng
44
e-bacsy.com
biệt với mảnh ghép đệm hay mảnh
ghép độn (hình 4).
Mảnh ghép dạng đôi cánh
Hạn chế đáng chú ý nhất của
các mảnh ghép đệm nhiều lớp là sẽ
để lại diện mạo như cái kẹp ở đầu
mũi, đó là kết quả của sự tích tụ ở
đường giữa do các mảnh ghép đệm
chồng lên nhau, với sự đổ sập của
mô mềm ở bên ngoài vùng mảnh
ghép xảy ra sau đó.
Để ngăn chặn sự biến dạng
giống cái kẹp này, các mảnh ghép
dạng đôi cánh được áp dụng ở hai
bên phần ngoài của các mảnh ghép
xếp chồng (hình 5).
Chúng cung cấp sự hỗ trợ về
cấu trúc cho đơn vị cánh mũi và
vành cánh mũi chống lại sự đổ sập
của mô mềm. Và chúng cũng cung
cấp sự chuyển tiếp trơn tru không
bị gián đoạn của đường cong từ
đầu mũi đến các đơn vị cánh mũi và
xóa bỏ các mép của các mảnh ghép
đệm xếp chồng làm giảm đi khả
năng nhìn thấy mảnh ghép. Chúng
hoạt động như các cuống ngoài mới
tương ứng với vòm mũi mới được
tạo ra bởi các mảnh ghép đệm. Sụn
vành tai là phù hợp nhất cho mục
đích này vì độ cong tự nhiên của
chúng.
Kích thước và độ nghiêng của
mảnh ghép dạng đôi cánh có thể
thay đổi tùy theo ý định phẫu thuật.
Các mảnh ghép dạng đôi cánh
cũng có thể sử dụng để điều trị co
rút vành cánh mũi. Bởi vì chúng
Hình 4: Nếu một không gian chết có ý nghĩa
là chắc chắn xuất hiện do sự khác biệt chiều
cao đáng kể giữa sống mũi và đầu mũi, mép xa
của chất liệu cấy được thiết kế theo hình nêm
để vừa vặn với sự khác nhau ở phần đầu của
các sụn cánh mũi, và chất liệu cấy được khâu
với các cuống ngoài của sụn cánh mũi.
Hình 5: Để ngăn chặn biến dạng giống cái kẹp
của đầu mũi, các mảnh ghép dạng đôi cánh
được áp dụng ở hai bên cạnh ngoài của các
mảnh ghép đệm nhiều lớp để ngăn ngừa biến
dạng giống cái kẹp này.
45
e-bacsy.com
được cố định một cách chắc chắn
với các mảnh ghép đệm ở trong
giống như các mảnh ghép vành có
bản lề, chúng hỗ trợ nâng đỡ mạnh
mẽ hơn chống lại sự co rút so với
các mảnh ghép vành cánh mũi.
Sự sửa đổi lớn cuối cùng về
hình dạng đầu mũi đạt được bằng
cách cắt gọt tinh xảo các mảnh ghép
đệm và ứng dụng các mảnh ghép
đệm hoặc độn bổ sung khi cần thiết.
Kỹ thuật kết hợp giữa các
mảnh ghép đệm xếp chồng và mảnh
ghép kéo dài vách ngăn là rất hiệu
quả trong việc kéo dài đầu mũi khi
cần thiết, và mức độ nâng được của
đầu mũi hầu như không bị giới hạn
(hình 6).
Một trường hợp đại diện của
kỹ thuật này được thể hiện trong
hình 7.
Ngược lại, đối với các kỹ
thuật được sử dụng rộng rãi bằng
cách dùng chất liệu silicone, đầu
của thanh silicone (thẳng hoặc hình
chữ L) được đặt trên đỉnh của vòm
mũi, và một mảnh của sụn tự thân
được đặt trên hoặc trước đầu xa của
thanh silicone để hạn chế bóng đầu
mũi. Các kỹ thuật này dễ dàng tạo
độ nhô và độ xoay của đầu mũi và
tạo ra những kết quả đẹp với những
trường hợp được lựa chọn, đặc biệt
là ở những người có đầu mũi xoay
xuống dưới. Tuy nhiên những kỹ
thuật này có xu hướng tạo ra một
đầu mũi xoay lên quá mức và không
tự nhiên. Độ nhô và độ xoay của đầu
mũi tăng mà không có sự kéo dài
tương ứng của đầu mũi. Tiểu đơn vị
đầu mũi dưới được kéo dài theo trục
dọc và không tự nhiên với sự giảm
của tỷ lệ trụ mũi – tiểu đơn vị đầu
mũi. Đầu mũi thường chỉ nhô lên ở
trung tâm với hình dáng giống như
cái kẹp ở các mức độ khác nhau. Việc
sửa đổi khả quan của đầu mũi cũng
khó khăn trong những kỹ thuật này.
Hình 6: Kết hợp các mảnh ghép đệm nhiều
lớp với mảnh ghép kéo dài vách ngăn là rất
hữu hiệu cho việc kéo dài đầu mũi và nâng
đầu mũi
46
e-bacsy.com
Các biến chứng
Một số biến chứng liên quan
đến chất liệu silicone là rất nghiêm
trọng, đòi hỏi xử lý ngay lập tức và
quyết đoán, và một vài biến chứng
ít nghiêm trọng và có thể điều trị
với những thao tác ít xâm lấn hơn.
Những biến chứng nghiêm
trọng là nhiễm trùng, chất liệu lòi ra,
và bao xơ co rút nặng. Những biến
chứng ít nghiêm trọng hơn như:
lệch, bị nhìn thấy, vôi hóa và một số
biến chứng khác. Những biến chứng
nghiêm trọng là rất hiếm ở những
phẫu thuật viên giàu kinh nghiệm,
và liên quan nhiều với những sai sót
kỹ thuật của phẫu thuật viên hơn là
đặc điểm vốn có của silicone, như
thảo luận ở dưới đây. May mắn thay,
những biến chứng nghiêm trọng là
có thể tránh được và có thể được
giảm bớt.
Nhiễm trùng
Nhiễm trùng là biến chứng
đáng sợ và rắc rối nhất, cái mà phải
tránh với các biện pháp phòng ngừa
tỉ mỉ.
Các chất liệu nhân tạo là dễ bị
nhiễm trùng, và khi nhiễm trùng, nó
biểu hiện các triệu chứng điển hình,
như đỏ, sưng và chảy mủ.
Nhiễm trùng chậm cũng có
thể xảy ra, và nó thường khó thấy và
ít rõ ràng, biểu hiện như là sự sưng
tái phát muộn hoặc đỏ nhẹ. Có bằng
chứng về một vết thương mãn tính
nhưng nhiễm trùng tái phát thường
liên quan đến màng sinh học của vi
khuẩn trên bề mặt chất liệu.
Màng sinh học của vi khuẩn
gây ra nhiễm trùng và viêm gây nên
sự chậm lành tự nhiên mà nuôi cấy
vi khuẩn bình thường: không tìm
thấy vi khuẩn.
Để ngăn chặn sự xâm nhiễm
của vi khuẩn, quan trọng là phải
sát trùng triệt để vùng phẫu thuật.
Trong lúc phẫu thuật, bắt buộc phải
thường xuyên chà rửa găng tay và
Hình 7: Một ca tiêu biểu cho việc kết hợp các mảnh ghép đệm nhiều lớp với mảnh ghép kéo
dài vách ngăn
47
