PT-tao-hinh-mui-nguoi-chau-A-Full-dauxacnhan2

20/11/2025 • by Bs CKI Phẫu thuật tạo hình, tái tạo và thẩm mỹ Trương Hoài Anh • filler
Bìa sách Phẫu Thuật Tạo Hình Mũi Người Châu Á của Yong Ju Jang

Giới thiệu về tài liệu Phẫu Thuật Tạo Hình Mũi Người Châu Á

Cuốn sách Phẫu thuật tạo hình mũi người châu Á (Rhinoplasty for the Asian Nose) là một trong những tài liệu nền tảng và quan trọng nhất dành cho các bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ đang hành nghề tại khu vực Á Đông. Được chủ biên bởi Yong Ju Jang, MD, PhD – một chuyên gia hàng đầu về phẫu thuật mũi, cuốn sách đi sâu vào những đặc thù giải phẫu và kỹ thuật xử lý riêng biệt cho chiếc mũi người châu Á, vốn có nhiều điểm khác biệt so với mũi người da trắng (Caucasian).

Đây là bản biên dịch tiếng Việt chi tiết, giúp các bác sĩ dễ dàng tiếp cận các kiến thức cập nhật, từ các phương pháp nâng mũi cơ bản đến các kỹ thuật phức tạp như sửa mũi hỏng, mũi ngắn hay xử lý biến chứng.

Nội dung nổi bật và các chủ đề chính

Cuốn sách bao gồm 12 chương, bao quát toàn diện các khía cạnh của phẫu thuật mũi hiện đại:

  • Giải phẫu học đặc thù: Phân tích sâu về cấu trúc sụn yếu, da dày và đặc điểm mô mềm của mũi người châu Á (Chương 1).
  • Các phương pháp nâng sống mũi: So sánh và hướng dẫn kỹ thuật sử dụng Silicone (Chương 3), các vật liệu tự thân như trung bì mỡ, sụn sườn, sụn cắt nhỏ (Chương 4) và các mô tương đồng như ADM, cân cơ (Chương 5).
  • Kỹ thuật tạo hình đầu mũi: Hướng dẫn chi tiết về ghép mở rộng vách ngăn (SEG) – chìa khóa vàng trong nâng mũi châu Á (Chương 7), và các kỹ thuật ghép sụn đầu mũi đa lớp (Chương 8).
  • Xử lý các ca khó: Các chương chuyên sâu về sửa mũi gồ (Chương 9), thu gọn cánh mũi (Chương 10) và đặc biệt là kỹ thuật kéo dài mũi ngắn, mũi hếch (Chương 11).
  • Các phương pháp không phẫu thuật: Cập nhật về kỹ thuật nâng mũi bằng Filler an toàn và hiệu quả (Chương 6).

Tài liệu này không chỉ cung cấp lý thuyết mà còn đi kèm với các hình ảnh minh họa phẫu thuật thực tế, giúp bác sĩ hình dung rõ ràng các bước thực hiện để đạt được kết quả thẩm mỹ tối ưu và an toàn nhất cho bệnh nhân.

Trang: / 210
Trang 1 Trang 2 Trang 3
📖 Xem bản dịch / Nội dung văn bản

e-bacsy.com
giảm dần khi chất gây bệnh biến
mất. Trong trường hợp nghiêm
trọng, dùng sản phẩm corticoste­
roid và chườm ấm có thể giúp giảm
bớt các triệu chứng. Nhiều phản
ứng được cho là phản ứng dị ứng
hoặc quá mẫn rất có thể là do phản
ứng của vi khuẩn.
U hạt hoặc hạch

Đôi khi một cục nhô lên có thể
hình thành sau khi tiêm filler. Đây
có thể là do hình thành u hạt hoặc
hạch. Bệnh u hạt là một phản ứng
miễn dịch của cơ thể với dị nguyên
được tiêm và được hình thành do
sự tích lũy miễn dịch các tế bào
liên quan đến phản ứng, như tế
bào lympho, để loại bỏ dị nguyên
ra khỏi cơ thể. Điều trị bằng tiêm
corticosteroid hoặc phẫu thuật cắt
bỏ. Hạch là nốt tròn và rắn. Sự phát
triển của hạch là một biến chứng
phổ biến sau khi sử dụng filler để
làm đầy mô mềm và thường được
phân loại là viêm hoặc không viêm
trong tự nhiên. Các nốt viêm có thể
xuất hiện ở bất cứ đâu từ vài ngày
đến vài năm sau tiêm, trong khi các
nốt không viêm thường được nhìn
thấy ngay sau khi tiêm và thường là
thứ phát do tiêm filler không đúng
cách. Điều trị bằng hyaluronidase
(nếu fillerđược sử dụng là axit hy­
aluronic), corticosteroid hoặc phẫu
thuật cắt bỏ.
Tắc mạch

Các biến chứng nghiêm
nghiêm trọng nhất xảy ra sau khi
nâng mũi bằng filler là hoại tử da và
mù mắt. Cơ chế hoại tử tổ sau khi
tiêm axit hyaluronic vẫn chưa được
hiểu đầy đủ. Thiên tắc mạch máu có
thể được chia thành nguyên nhân là
nội mạch hoặc ngoại mạch. Các yếu
tố nội mạch bao gồm tắc nghẽn trực
tiếp động mạch bởi axit hyaluronic
có trọng lượng phân tử lớn và tổn
thương hóa học của lớp nội mạch
bởi axit hyaluronic hoặc tạp chất
trong chất độn. Nguyên nhân ngoại
mạch bao gồm chèn ép tĩnh mạch
bên ngoài do tiêm quá nhiều,18
hoặc phù nề và phản ứng viêm gây
ra bởi một thành phần của chất làm
đầy. Trong số các yếu tố được đề
xuất trước đây, tắc nghẽn nội mạch
được nhiều nhà nghiên cứu cho là
nguyên nhân chính gây tổn thương
mạch máu sau khi tiêm filler.
Thuyên tắc nội mạc

Hầu hết nguyên nhân của các
trường hợp tắc nội mạch xảy ra sau
thủ thuật nâng mũi bằng filler xảy
ra khi filler được tiêm trực tiếp vào
động mạch chính mũi hoặc động
mạch mũi ngoài. Đặc biệt là của
động mạch sống mũi, như tên gọi
của nó, chạy dọc theo sống mũi. Đầu
kim có thể được chọc vào mạch máu
nếu nó được đưa vào song song với
mạch máu. Động mạch sống mũi
thông nối giải phẫu với các nhánh
của động mạch mặt nên thuyên tắc
lan rộng qua các mạch máu được
kết nối và biểu hiện như hoại tử
98

e-bacsy.com
da theo từng vùng cấp máu. Nó cũng
là một nhánh của động mạch nhãn
cầu, do đó việc filler vào động mạch
cũng gây ra các triệu chứng về mắt.
Động mạch mũi bên là một nhánh
từ động mạch mặt và nó chạy dọc
theo rãnh mũi má. Động mạch mũi
bên tiếp nối với động mạch mắt, do
đó thuyên tắc filler có thể đi đến
vùng mắt và trán (Hình 5).

Triệu chứng: Thuyên tắc nội
mạch có tỷ lệ tương đối thấp nhưng
hậu quả của nó là tàn khốc. Khi fill­
er được tiêm vào máu động mạch,
người bệnh rất đau và đôi khi phàn
nàn về cảm giác có thứ gì đó lan ra
từ vị trí tiêm. Khu vực được cấp
máu bởi các mạch máu nơi thuyên
tắc filler trở nên nhợt nhạt do thiếu
máu cục bộ. Vùng thiếu máu cục bộ
sẽ dẫn đến phù nề trong vài giờ, và
sớm xuất hiện đốm đỏ và tía do tắc
nghẽn tĩnh mạch như một hiện
Hình 5. Động mạch mũi, như tên gọi của nó, chạy dọc theo sống mũi. Nó là một mạch máu được
cố định bỡi các mô xung quanh, và đầu kim có thể được đưa vào mạch máu nếu nó được đưa
vào song song với mạch máu. Động mạch mũi thông nối với các nhánh của động mạch mặt nên
thuyên tắc lan rộng các mạch máu được biểu hiện như hoại tử da theo vùng cung cấp máu. Nó
cũng là một nhánh của động mạch mắt, do đó filler chui vào cũng có thể gây ra các triệu chứng
về mắt. Động mạch mũi bên là một nhánh từ động mạch mặt và nó chạy dọc theo rãnh mũi má.
(Chuyển thể từ Moon HJ. Sử dụng filler trong phẫu thuật nâng mũi. Phẫu thuật Plast lâm sàng
2016; 43 (1): 307 Phản17; với sự cho phép.)
99
Động mạch môi
Động mạch
mũi ngoài
Động mạch
sống mũi
Động mạch mắt
Động mạch quắt ngược
Động mạch góc

e-bacsy.com
Sau khoảng 24 giờ, nhiều tổn
thương loét đi kèm với xuất huyết,
xấu đi theo thời gian, dẫn đến bong
da. Sau đó, những phát hiện chắc
chắn về hoại tử da, chẳng hạn như
sự hình thành vảy hoại tử, xảy ra
dần dần. Sau đó, da phục hồi thông
qua quá trình chữa lành vết thương
(Hình 6).

Phòng ngừa: Động mạch mũi
và động mạch mũi bên nằm trong
lớp mỡ nông và SMAS, do đó khi
tiêm phải nên tiêm vào lớp mỡ sâu
để ngăn ngừa thuyên tắc động mạch
mũi và động mạch mũi bên. Sử dụng
kim đầu tù cũng có thể hữu ích cho
những người mới bắt đầu không
quen với kỹ thuật tiêm. Nếu filler
phải được tiêm vào bên cạnh sống
mũi; ví dụ, để điều chỉnh mũi lệch,
kim không bao giờ nên chọc song
song với hướng của mạch máu. Sau
khi đưa kim vào đường giữa, đầu
kim phải di chuyển sang một bên và
tiêm filler vào cùng một lúc để ngăn
tiêm vào mạch máu, mặc dù có thể
có chảy máu do tổn thương mạch.

Điều trị: Nếu người bệnh
than phiền đau dữ dội và da trở nên
nhợt nhạt dọc theo khu vực mạch
máu chi phối trong quá trình tiêm,
hãy ngừng tiêm ngay lập tức và hút
càng nhiều filler càng tốt. Nếu tiêm
acid hyaluronic, thì nên tiêm hyal­
uronidase vì có một số báo cáo gần
đây rằng nếu hyaluronidase được
tiêm xung quanh động mạch, một
số trong đó có thể khuếch tán qua
thành mạch. Một số học viên
khuyên nên tiêm hyaluronidase bất
kể loại chất tiêm nào được tiêm vì
hyaluronidase có thể làm giảm áp
lực kẽ.

Có những báo cáo rằng liệu
pháp heparin có trọng lượng phân
tử thấp làm giảm huyết khối và tắc
mạch; tuy nhiên, có thể khó thực
hiện trong môi trường phòng khám
ngoại trú. Điều rất quan trọng là
cung cấp đủ oxy cho khu vực thiếu
máu cục bộ. Với mục đích này, thì
nên chườm nóng và massage nhẹ
nhàng, và 2% nitroglycerin được áp
dụng cho việc giãn mạch. Bắt đầu
điều trị oxy cao áp là hữu ích nếu
có sẵn. Sử dụng kháng sinh thích
hợp để ngăn ngừa nhiễm trùng thứ
phát. Tiêm prostaglandin E1 10
microgam/ngày/ trong 5 ngày có
hiệu quả. Sau khoảng một ngày, nên
băng vết thương thích hợp sau khi
tẩy da chết và mụn mủ hình thành.
Áp dụng băng ướt để vết thương
nhanh lành hơn và tiếp tục dùng
kháng sinh.

Phản ứng viêm và phù nề: Đôi
khi, các thành phần protein như en­
dotoxin có trong filler có thể gây ra
phản ứng viêm và phù nề, và có thể
gây tổn thương trên da. Điều này
được gây ra chủ yếu bởi axit hyal­
uronic và xuất hiện các triệu chứng
như phù hồng ban, sưng nề da, mụn
mủ, vv, xuất hiện vài ngày sau khi
tiêm. Các triệu chứng xảy ra ở tất cả
các vị trí tiêm filler và những triệu
chứng này được cải thiện dễ dàng
bằng cách điều trị kháng sinh thích
100

e-bacsy.com
hợp và thay băng.
Hình 6. Vùng thiếu máu cục bộ xảy ra trong vài giờ, và sớm xuất hiện đốm và đo tía do tắc nghẽn
tĩnh mạch như một hiện tượng hồi phục. Sau khoảng 24 giờ, nhiều tổn thương loét, kèm theo
ban đỏ, xấu đi theo thời gian, dẫn đến bong da. Sau đó, chắc chắn sẽ hoại tử da, chẳng hạn như
sự hình thành vảy da họa tử, xảy ra dần dần. Sau đó, da phục hồi thông qua quá trình lành vết
thương. (A) hoại tử da tại chỗ. (B) hoại tử da lan rộng. (Từ Moon HJ. Sử dụng filler trong phẫu
thuật nâng mũi. Phẫu thuật Plast lâm sàng 2016; 43 (1): 307 Vang.)
Tài liệu tham khảo
1. Constantinidis J, Daniilidis J.
Aesthetic and functional rhinoplas­
ty. Hosp Med 2005;66:221–6.
2. Murray CA, Zloty D, Warshawski
L. The evolution of soft tissue fill­
ers in clinical practice. Dermatol
Clin 2005;23:343–63.
3. Oneal RM, Izenberg PH,
Schlesinger J. Surgical anatomy of
the nose. In: Daniel RK, editor. Rhi­
no- plasty. Boston: Little Brown;
1993. p. 3–37.
4. Daniel RK, Letourneau A. Rhi­
noplasty: nasal anatomy. Ann Plast
Surg 1998;20:5–13.
101

e-bacsy.com
5. Jung DH, Kim HJ, Koh KS, et al.
Arterial supply of the nasal tip in
Asians. Laryngoscope 2000;
110(2 Pt 1):308–11.
6. Tardy ME Jr. Pratical surgical
anatomy. In: Tardy ME Jr, editor.
Rhinoplasty.
Philadelphia:
W.B.
Saunders Co; 1997. p. 5–125.
7. Yun YS, Choi JC, Jung DH. External
nasal appearance by Koreans, photo
analysis. J Rhinol 1998;5(2):103–7.
8. Gunter JP. Facial analysis for the
rhinoplasty patient. Proceedings
of the 14th Dallas Rhinoplas­
ty Symposium. Dallas, February
28–March 3, 1997. Southwestern,
1997. p. 45–55.
9. Kim P, Ahn JT. Structured non­
surgical Asian rhinoplasty. Aes­
thetic Plast Surg 2012;36(3):
698–703.
10. Tanaka Y, Matsuo K, Yuzuri­
ha S. Westernization of the Asian
nose by augmentation of the ret­
roposi- tioned anterior nasal spine
with an injectable filler. Eplasty
2011;11:e7.
11. Lee YI, Yang HM, Pyeon HJ,
et al. Anatomical and histological
study of the arterial distribution
in the columellar area, and the
clinical implications. Surg Radiol
Anat 2014;36(7):669–74.
12. Jacovella PF. Use of calcium
hydroxylapatite (Radi- esse ) for
facial augmentation. Clin Interv
Aging
2008;3(1):161–74.
13. Lemperle G, Rullan PP,
Gauthier-Hazan N. Avoiding and
treating dermal filler complications.
Plast Re- constr Surg 2006;118(3
Suppl):92S–107S.
14. Narins RS, Jewell M, Rubin M,
et al. Clinical confer- ence: man­
agement of rare events following
dermal fillers - focal necrosis and
angry red bumps. Derma- tol Surg
2006;32:426–34.
15. Dayan SH, Arkins JP, Brindise
R. Soft tissue fillers and biofilms.
Facial Plast Surg 2011;27:23–8.
16. Ledon JA, Savas JA, Yang S, et
al. Inflammatory nodules follow­
ing soft tissue filler use: a review
of causative agents, pathology and
treatment options. Am J Clin Der­
matol 2013;14(5):401–11.
17. Kim DW, Yoon ES, Ji YH, et al.
Vascular complica- tions of hyal­
uronic acid fillers and the role of
hyal- uronidase in management.
J Plast Reconstr Aesthet Surg
2011;64(12):1590–5.
18. Cohen JL. Understanding,
avoiding, and managing dermal
filler complications. Dermatol
Surg 2008;
34(Suppl. 1):S92–9.
19. Weinberg MJ, Solish N. Compli­
cations of hyaluronic acid fillers.
Facial Plast Surg 2009;25:324–8.
20. Grunebaum LD, Allemann IB,
Dayan S, et al. The risk of alar
necrosis associated with dermal
filler in- jection. Dermatol Surg
2009;35:1635–40.
102

e-bacsy.com
21. Glaich AS, Cohen JL, Goldberg
LH. Injection necro- sis of the gla­
bella: protocol for prevention and
treat- ment after use of dermal fill­
ers. Dermatol Surg 2006; 32:276–
81.
22. Sclafani AP, Fagien S. Treat­
ment of injectable soft tissue fill­
er complications. Dermatol Surg
2009;35: 1672–80.
23. Hirsch RJ, Lupo M, Cohen JC,
et al. Delayed pre- sentation of im­
pending necrosis following soft tis­
sue augmentation with hyaluronic
acid and successful management
with hyaluronidase. J Drugs Der­
matol 2007;6:325–8.
24. Kim SG, Kim YJ, Lee SI, et al. Sal­
vage of nasal skin in a case of venous
compromise after hyaluronic acid
filler injection using prostaglandin
E. Dermatol Surg 2011;37:1817–9.
103

e-bacsy.com
Chương 7
Ghép kéo dài vách ngăn trong thuật nâng
mũi người châu Á
Na-Hyun Hwang, MD, MSc, Eun-Sang Dhong, MD, PhD
TỪ KHÓA
• Tạo hình mũi • Sửa mũi lại • Tạo hình vách ngăn mũi • Kéo dài đầu
mũi • Mảnh ghép kéo dài • Ghép kéo dài vách ngăn hình L • Ghép nhô
(Tongue-in-groove)
MỤC TIÊU
• Hai phần ba dưới của mũi châu Á có thể được tăng cường trước và sau
khi sử dụng mảnh ghép mở rộng vách ngăn L.
• Ghép kéo dài vách ngăn hình L gồm mở rộng vách ngăn bằng cách sử
dụng một kỹ thuật ghép nhô cải tiến và ghép kéo dài ra trước.
• Mục đích của kỹ thuật này là tạo ra sự ổn định và nâng đỡ cho vùng vách
ngăn-phụ thuộc sống mũi, cũng như đầu mũi phụ thuộc vào vách ngăn.
• Mảnh ghép mở rộng L được chỉ định trong các trường hợp mổ mới trong
đó xương sống mũi có thể chấp nhận được nhưng sụn sống mũi thì thiếu.
• Trong các trường hợp mổ lại, chẳng hạn như biến dạng mũi ngắn do cấy
ghép dị loại, mảnh ghép mở rộng L bao gồm các mô tự sinh đến vùng sống
và đầu mũi.
Đại Cương

Mũi ngắn là một trong những
thách thức lớn nhất trong nâng mũi,
bất kể người là dân tộc nào. Kéo dài
vách ngăn để giải quyết mũi ngắn và
gia tăng vùng ở giữa mũi, cho phép
xử lí tiếp theo ở phía 1/3 dưới mũi.
Mảnh ghép vách ngăn (SEG) là một
phương pháp kiểm soát độ nhô của
đầu mũi, hình dạng, và xoay đầu
mũi. Phù hợp với mục đích sử
dụng và kích thước sụn vách ngăn
lấy được, thiết kế 3 loại ghép khác
nhau: loại trải ra, loại lót và loại
chống trực tiếp. Tuy nhiên, áp dụng
1 bên SEG đã bị chỉ trích vì có khả
năng dịch chuyển sang hai bên của
vách ngăn. Để đạt được sự ổn định
kỹ thuật ghép nhô cải tiến. Điều này
sẽ làm chắc chắn vùng sống mũi và
tạo nên nền vững chắc cho trụ mũi,
sau đó được khâu đầu trong
104

e-bacsy.com
hai bên. Điều này tạo được sự ổn
định và nâng đỡ, cho phép SEG duy
trì vị trí đường giữa thay vì bị méo
mó sang hai bên.

Kể từ khi được giới thiệu, SEG
đã được lựa chọn rộng rãi để chỉnh
sửa mũi nhỏ và mũi ngắn, đặc biệt
là trong phẫu thuật nâng mũi châu
Á. Tuy nhiên, có sự khác biệt về tính
chất và cách sử dụng SEG ở người
châu Á. Nói chung, SEG tạo ra mũi
kéo dài và tạo đầu mũi. Tuy nhiên,
trong phẫu thuật nâng mũi châu Á,
SEG tạo đỉnh mũi lớn hơn đầu mũi.
Sồng mũi, phần từ khớp gian mũi
đến đỉnh mũi cũng phải nâng lên để
phù hợp với nâng đầu mũi. Do đó,
nâng cao sống mũi là cần thiết cho
một cấu hình mũi hài hòa hơn sau
khi đặt SEG ở người châu Á .Vấn đề
là hầu hết các phẫu thuật nâng sống
mũi được thực hiện với cấy ghép dị
loại trong phẫu thuật taoh hình mũi
người châu Á. Việc sử dụng kết hợp
SEG và cấy ghép sống mũi đã thay
thế các kỹ thuật khác trong phẫu
thuật nâng mũi người châu Á (Hình
1).
Đặt chất liệu sống mũi với
ghép vách ngăn phía trước

Khi áp dụng SEG và mảnh
ghép, việc tách sụn cánh mũi bên
trên khỏi vách ngăn trước là kỹ
thuật được ưu tiên. Cẩn thận tách
niêm mạc sụn ra khoải sụn vách
ngăn, không có sự tiếp nối giữa túi
mổ và khoang mũi, đặt ghép dị loại
trên nền cầu mũi mà bóc tách tạo
khoang quá rộng là không an toàn
(Hình 1). Nhiễm trùng ngay sau mổ
ở quanh implant có thể lan vào vách
ngăn bị cắt bỏ, dẫn đến áp xe rất
nặng. Hầu hết các người bị nhiễm
trùng nặng, bất kể cấp tính hay mãn
tính, sẽ dễ dẫn đến mũi co kéo ngắn
lại do phá hủy khung vách ngăn và
mô mềm. Ngay cả khi bao xơ xung
quanh mảnh ghép dị loại vẫn an
toàn, vấn đề là nó có lâu dài không.
Trọng lực làm cho mảnh ghép dị
loại liên tục đè lên mặt phẳng bên
dưới, thêm áp lực tác động từ các
mô mềm xung quanh (Hình 2). Xử
lí mũi sau nhiễm trùng vách ngăn
là hoàn toàn khác với nhiễm trùng
mũi đơn thuần sau phẫu thuật nâng
mũi đơn thuần. Trong trường hợp
nhiễm trùng sớm hoặc muộn, nếu
không cắt vách ngăn thì việc loại
bỏ hoàn toàn các mô mềm nhiễm
trùng, bao gồm cả bao xơ, cũng như
các tổ chức viêm, có thể thực hiện.
Tuy nhiên, trong các trường hợp
tạo hình vách ngăn toàn bộ, ngay cả
sau khi loại bỏ hoàn toàn áp xe vách
ngăn, cấu trúc nâng đỡ mũi bị mất,
và biến dạng từ vừa đến nặng có thể
vẫn xảy ra (Hình 3).

Viêm mãn tính mà có di lệch
có thể là kết quả của phẫu thuật
mũi toàn bộ, bao gồm tạo hình
vách ngăn phức tạp, phẫu thuật cắt
xương mũi ngoài và cấy ghép dị loại
ở sống mũi. Trên mô bệnh học cho
thấy bao chất lỏng là bao xơ dày với
một lớp lót nhẵn bóng bên trong.
105

e-bacsy.com
Một màng sinh học do vi khuẩn hiếm
khi có thể bắt đầu nhiễm trùng mãn
tính khó chữa và gây ra sự xuất hiện
của cấy ghép dị loại. Sự phát triển
của niêm mạc giống như u bao hoạt
dịch hoặc sự tăng sinh của lớp nội
mạc thì cần phải nghiên cứu thêm
(Hình 4). Tóm lại là bao xơ này gần
giống bao xơ trong đặt túi ngực. Với
viêm nặng, một lớp mô liên kết
dày đặc, hình thành xung quanh
bao xơ bằng cách tập hợp các tế
bào đơn nhân và nguyên bào sợi.
Loạn sản dịch có thể gây ra co kéo.
Quan tâm đặc biệt của ghép
kéo dài vách ngăn ở người
châu Á

Sụn vách ngăn ở người châu
Á có xu hướng nhỏ hơn so với
người da trắng. Diện tích sụn vách
ngăn trung bình ở người Hàn Quốc
được báo cáo là 8,18 cm2 đến 8,57
cm2 ở nam giới và 7,36 cm2 ở nữ.
Lượng sụn vách ngăn lấy được
thường không đủ cho nhiều mảnh
ghép ở người Hàn Quốc. Do đó, phải
lấy thêm sụn tai hay sụn sườn cũng
nên quan tâm trước phẫu thuật. Sụn
vách ngăn mỏng hơn ở người châu
Á và bóc tách dưới niêm mạc (SMR)
của sụn hình tứ giác có xu hướng
làm suy yếu khung nâng đỡ mũi.
Điều chỉnh lệch vách ngăn làm mất
ổn định của vách ngăn ở nền mũi
chỉ thực hiện ở mỏm xương hàm
trên và mặt trước sống mũi (ANS).
Ngay cả khi mảnh ghép hai
bên thành công, khâu đính chắc
chắn giữa ANS và sau góc vách ngăn
là cần thiết để cung cấp đủ khung
nâng đỡ. Hơn nữa, ở những người
châu Á thì đầu trong và đầu giữa
của sụn cánh mũi tương đối yếu,
vượt qua nền mũi yếu là trở ngại
lớn nhất đểổn định đầu mũi. Hầu
hết phẫu thuật nâng mũi châu Á đòi
hỏi phải tăng về 2 chiều khác nhau:
kéo dài trước-sau và kéo dài đầu-
đuôi. Khi chiều dài của mũi được
kéo dài, chiều cao của mũi thường
phải được tăng lên. Nhiều tác giả đã
báo cáo các phương pháp và thiết
kế khác nhau để khắc phục sụn vách
ngăn nhỏ ở châu Á, hầu hết trong số
này chỉ liên quan đến các cải thiện
hạn chế theo hướng đầu-đuôi. Sống
mũi cũng phải được xem xét cẩn
thận. Đây là điều đang tranh cãi để
hạn chế bao xơ trong những trường
hợp ghép di loại ở sống mũi.
Đặc điểm của mặt người châu
Á khi nhìn nghiêng

Trong mặt cắt đứng dọc, sống
mũi có thể phân ra thành sống mũi
xương và sụn mũi. Có 4 sự kết hợp,
tùy thuộc vào xương mũi và độ nhô
của mũi ra trước cao hay thấp, và
phần vách ngăn cao hay thấp. Về
mặt phát triển, xương sống mũi và
sụn mũi cùng phát triển cùng nhau;
do đó, phần xương sống mũi thấp
kết hợp với phần sụn mũi cao hiếm
khi được nhìn thấy.
106

e-bacsy.com
Xương mũi cao với sụn mũi
cao

Xử lí thu gọn mũi và hiện diện
cho các trường hợp mà phẫu thuật
nâng mũi người châu Á và châu Âu
là như nhau. Mục đích là tạo ra sự
cân bằng giữa chỗ mũi gồ và đầu
mũi để đạt được đường thẩm mỹ
sống mũi. Thông thường, xương
mũi ở bên trong và bên ngoài là có
sẵn, và các mảnh ghép thêm trên
sống mũi là không cần thiết, ngoại
trừ trong trường hợp có gốc mũi
quá thấp. Gồ càng lớn thì đòi hỏi
sử dụng mảnh ghép nhiều hơn vì
loại bỏ các tổn thương lớn dẫn đến
tăng khả năng tắc nghẽn đường thở
(Hình 5, hàng trên).
Hình 1. SEG và đặt chất liệu vào. (A) Sơ đồ này cho thấy kỹ thuật phổ biến thực hiện ở người
châu Á. (B) Tạo vòm mũi bằng phức hợp SEG. (C) Nâng sống mũi bằng ghép silicone sau SEG.
107
Hình 2. Theo dõi lâu dài hai loại chất liệu silicone khác nhau. (A) Chụp cắt lớp vi tính (CT) cho
thấy có sự tiêu xương bên dưới thanh silicone dày 4 mm ở một phụ nữ 50 tuổi. Đặt thanh sili-
cone 14 năm trước và không can thiệp vào xương. (B) Một phụ nữ 32 tuổi đã than phiền là đau
sống mũi sau 5 năm sau phẫu thuật và CT cho thấy sự tiêu xương ở dưới chất liệu.

e-bacsy.com
Hình 3. Di chứng nhiễm trùng có hoặc không sau phẫu thuật vách ngăn. (A) Một người bị nhiễm
trùng muộn sau khi đặt silicone mà không phẫu thuật vách ngăn 5 năm trước đó. (B) Mũi được
xử lí mà không để lại di chứng nặng sau khi lấy toàn bộ bao xơ và mô mềm bị nhiễm trùng. (C)
Bao xơ dày quanh thanh silicone. (D) Mũi bị co ngắn lại nhiều, đã phẫu thuật (với phẫu thuật
vách ngăn) tương tự như trong Hình 1.
Xương mũi chấp nhận được
nhưng sụn mũi phát triển
kém

Điều này tương ứng với gồ
nhẹ ở mũi, mũi yên ngựa và độ nhô
bị thiếu. Kéo dài dẫn đến tăng chiều
cao của xương sống mũi, gây ra sự
gián đoạn của đường thẩm mỹ sống
mũi. Trong trường hợp này, để hài
hòa hơn khi chỉ thực hiện ghép
thêm phần sụn mũi, theo độ nhô
đầu mũi lý tưởng. Nếu độn toàn bộ
chiều dài của mũi che lấp sống mũi
ở 2/3 dưới mũi, thì xương sống mũi
trở nên quá cao. Vì vậy, sẽ thích hợp
hơn nên thực hiện mở rộng ra trước
và mở rộng đuôi của vách ngăn còn
lại mà không chạm vào xương sống
mũi. Kéo dài vách ngăn L-strut,
được giới thiệu trong bài viết này,
108

e-bacsy.com
Hình 4. Các dạng nang như bao xơe. (A) Silicon đang đùn ra ở đầu mũi và đổi màu của da đầu
mũi. (B) Có nhiều dịch trong bao xơ, giống như màng của bao hoạt dịch. (C) Một người được
chẩn đoán u nang ở da. Khi mổ mũi hở thì lấy bỏ hoàn toàn nang này.
là phương pháp hiệu quả nhất (xem
hình 5, hàng giữa).
Mũi nhỏ nguyên bản

Ở một người có cấu hình thấp
ở tất cả các khu vực của mũi, bao
gồm gốc mũi, xương sống mũi và
sụn mũi đều thấp như nhau. Mũi nhỏ
thì rất hiếm khi thấy lệch vách ngăn.
Mũi ngắn nguyên bản có chiều dài
và số lượng tổ chức không đủ, ngay
cả với bóc tách niêm mạc lớn, bởi
vì nó liên quan đến sụn vách ngăn
tương đối nhỏ. Kiểm tra bên trong
mũi thấy sụn vách ngăn rất yếu, tạo
hình vách ngăn ít được chỉ định vì
SMR có thể dẫn đến nâng đỡ mũi
yếu hơn. Thay vào đó, sẽ tốt hơn khi
thực hiện phương pháp ghép độn
trên sống mũi và tạo hình đầu mũi.
Vì số lượng sụn không đủ nên sụn
tai hoặc xương sườn có thể được sử
dụng để tạo hình và mở rộng vách
ngăn; tuy nhiên, sẽ an toàn hơn khi
xử lí ghép độn tự thân ở sống mũi
(xem Hình 5, hàng thấp hơn).
Co kéo mũi thứ phát

Đây là biến chứng hay gặp
do phẫu thuật trong tạo hình vách
ngăn ở người châu Á và khó chỉnh
sửa nhất về mặt thẩm mỹ. Trong
trường hợp sửa lại, nên kéo dài mũi
là cần thiết so với mũi nguyên bản.
Bởi vì cần có khung nâng đỡ tốt để
khắc phục tình trạng rút ngắn da do
nhiễm trùng và mô mềm bên trên,
nên việc tạo hình vách ngăn với mở
rộng vách ngăn là cần thiết.
Kỹ thuật tạo hình vách ngăn L
ở người châu Á

Để kéo dài sụn vách ngăn
thanh chống L (trước-đuôi) hiệu
quả thì đòi hỏi sự kết hợp nhiều loại
sụn tự thân. Đôi khi không thể thực
hiện mở rộng thanh chống L hiệu
quả chỉ với sụn vách ngăn vì không
đủ số lượng. Để thực hiện mở rộng
109

e-bacsy.com
110

e-bacsy.com
Hình 5. Đặc điểm lâm sàng của khuôn mặt người châu Á khi nhìn nghiên. (Phía trên bên trái)
Mũi gồ người châu Á, trước phẫu thuật. (Phía trên bên phải) Mũi gồ người châu Á, sau phẫu
thuật. Kỹ thuật mổ giống như ở người phương Tây. (Giữa bên trái) Một người trong đó xương
sống mũi khá cao nhưng 2/3 dưới là thấp và đầu mũi không nhô ra. (Giữa bên phải) Ghép vách
ngăn L được mở rộng về phía trước và đuôi. (Phía dưới bên trái). Một người có mũi nhỏ, sống
mũi thấp, chóp bị thiếu và mũi ngắn. (Phía dưới bên phải) Sống mũi được độn bằng silicone và
dùng thanh chống trụ mũi và ghép sụn để tạo hình đầu mũi.
thanh chống L chỉ với mô tự thân,
cần phải có phần ổ của xoắn tai hoặc
phần hố ghe của xoắn tai, và sụn
sườn nếu sử dụng sụn tai. Ở những
người có tai nhỏ, sụn sườn có thể
được chọn làm lựa chọn chính.
Kéo dài vách ngăn đuôi: Kỹ
thuật Tongue-in-groove cải
tiến

Để có một sống mũi thẳng
thì dùng sụn vách ngăn để nâng đỡ
của phần trước là thuận lợi, các sụn
khác thường dùng ở phần cuối. Đối
với mở rộng vách ngăn thanh chống
L đuôi, sụn sườn là nguồn dồi dào
nhất nếu sụn vách ngăn không đủ;
tuy nhiên, cần xem xét độ cứng của
nó, thuận lợi nhất là sử dụng hố ghe
của xoắn tai ở người châu Á. Trong
15 năm kinh nghiệm của tác giả lớn,
phần hố ghe đã được sử dụng trên
vách ngăn cho kỹ thuật tongue-in-
groove cải tiến và đạt được đỉnh
mũi nhô ra rất tốt. Concha cymba,
khi gấp lại, kích thước là chiều rộng
hơn 7 mm và chiều dài 20 mm, và
đủ để nâng đầu trong và giữa của
sụn cánh mũi ngoài dưới ở người
châu Á (Hình 6A). Đặc biệt, nếu lưỡi
kỹ thuật tongue-in-groove được áp
dụng tại ANS bằng cách sử dụng
xoắn tai để sửa thiếu nâng đỡ đầu
mũi sau khi thực hiện kỹ thuật cau­
dal septal swing-door , có thể đạt
được cả độ nhô và độ ổn định. Có
thể bổ sung cho khung nâng bằng
cách khâu vết thương với các mặt
lõm đối diện nhau. Nó cũng quan
trọng để khâu màng của xoắn tai để
có được độ nâng của sụn (Hình 6B).
Ghép trải rộng: Mở rộng
trước-đuôi

Sụn vách ngăn thích hợp nhất
cho việc mở rộng thanh chống L
ra trước. Mở rộng ra trước đòi hỏi
nhiều chiều rộng hơn so với các
mảnh ghép khác. Điều này có thể
được mô tả như là một mảnh ghép
trải ra có thể nhìn thấy. Vì phần mở
rộng trước có thể từ khu vực vòm
của đầu mũi, nên tránh mở rộng
quá nhiều ra trước, vì dẫn đến khó
có được một đường thẳng trong
vùng cong đầu mũi và đòi hỏi phải
ghép nhiều hơn trên gốc mũi. Cần
khâu nhiều mũi chỉ giữa mép trước
của vách ngăn hiện tại và mép sau
của mảnh ghép trải rộng được chèn
vào (Hình 6C)(Video 1).
111

e-bacsy.com
Hình 6. Kỹ thuật ghép mở rộng vách ngăn thanh chống L. (A) đuôi SEG: gấp xoắn tai lại và khâu
ở cả hai phía của ANS để nâng đỡ và mở rộng đuôi, một kỹ thuật tongue-in-groove cải tiến. (B)
Gấp xoắn tai: khâu mặt lõm lại. Khâu liên tục ở giữa tăng sức mạnh. (C) Ghép trải rộng ra 2 bên:
mảnh ghép có thể nhìn thấy ở trước. (D) Ghép gốc mũi: bất kỳ loại mô mềm nào được ghép trên
gốc mũi để không gồ ghề. (E) Ghép xếp: các mảnh sụn nhỏ được áp dụng giữa trụ trước và trụ
đuôi.
112

e-bacsy.com
Ghép ngụy trang ở gốc mũi

Khi ghép mở rộng thanh
chống L ra trước thì đòi hỏi hải
ghép độn thêm vùng gốc mũi cho
mịn màng và cho đường sống mũi
thẩm mỹ. Tại điểm bắt đầu của mũi
có thể ghép độn bằng cách sử dụng
các loại mảnh ghép khác nhau: hạ
bì vùng giữa xương cùng, fascia
từ cơ thái dương sâu, fascia nông
vùng xươn chũm, và sụn với fascia.
Để điều chỉnh bề mặt không đều
ở xương mũi và khớp gian mũi thì
một lớp ghép mô mềm là hữu ích
(Hình 6D).
Tạo góc vách ngăn ra trước
và ghép chồng lên nhau

Sau khi góc trước của 2 phần
mở rộng gần đạt được, thiết lập góc
vách ngăn phía trước mới. Thông
thường, 4 lớp sụn được khâu tại
khu vực này để tạo ra một góc vách
ngăn trước mới. Nếu có sự không ổn
định với các thanh chống ra trước
và phần đuôi, một mảnh sụn nhỏ có
thể được sử dụng như cái móc để
gia cố (Hình 6E).
Đặt lại sụn mũi ngoài dưới

Sau khi thực hiện mở rộng
thanh chống L, vị trí mới của đầu
giữa sẽ là một điểm xác định đầu
mũi mới. Nhiều mũi khâu khác
nhau, bao gồm khâu giữa vòm, giữa
đầu và khâu đầu ngoài, định vị lại
đầu mũi. Phần sụn sống mũi và sụn
đầu mũi phụ thuộc vào vách ngăn.
Ghép mở rộng vách ngăn ở
người mổ mới để tạo hình
vách ngăn
Chỉ định

Chỉ định kỹ thuật mở rộng
thanh chống vách ngăn L chủ yếu
cho mũi gồ nhẹ, mũi yên ngựa hoặc
mũi thấp ở 2/3 dưới và lệch vách
ngăn.
Cẩn thận

Mũi nhỏ thì kích thước sụn
vách ngăn thu được ít. Khi sụn vách
ngăn bị biến dạng nặng thì chiều dài
thích hợp của mảnh ghép trải rộng
khó có thể đạt được.
Ca lâm sàng 1

Sửa mũi lệch ở phụ nữ 27 tuổi.
Cô ấy có các triệu chứng tắc nghẽn
mũi (Bảng đánh giá triệu chứng tắc
nghẽn mũi [NOSE]: 10), và muốn có
một mũi thẳng hơn và đầu mũi
nhọn hơn. Lấy sụn phần xoắn tai
bên phải và sụn vách ngăn (Hình 7).
Ca lâm sàng 2

Người đàn ông 22 tuổi với
mũi yên ngựa và gồ nhẹ được giới
thiệu để phẫu thuật tạo hình vách
ngăn mũ. Anh ta bị nghẹt mũi nhẹ
ở bên trái (điểm NOSE:7), và muốn
đầu dài ra và sống mũi cao lên.
Anh ta không muốn vùng gốc mũi
cao thêm. Lấy sụn xoắn tai bên phải
và khâu gấp lại để tạo đuôi cho SEG
và dùng mảnh ghép mở rộng thanh
113

e-bacsy.com
Hình 7. Trường hợp 1: Một người bị lệch mũi và đầu mũi thấp. (A) Nhìn nghiên trái: (trái) trước
phẫu thuật, (phải) sau phẫu thuật 1 năm. (B) Nhìn nghiên 1/4. (C) ổ của xoắn tai (ở trên) và Hố
ghe của xoắn tai (bên dưới): sụn vách ngăn rất mỏng và yếu được chia ra và gấp hố ghe của xoắn
tai lại. (D) Nhìn thẳng.
chống vách ngăn L để tạo một góc
vách ngăn trước mới (Hình 8).
Ghép mở rộng vách ngăn ở
người mổ sửa lại để tạo hình
vách ngăn
Chỉ định

Kỹ thuật này là tốt nhất cho
biến dạng mũi ngắn thứ do cấy ghép
dị loại trước đó và biến dạng mũi
yên ngựa sau SMR. Người trước đây
đã độn chất liệu và có ác cảm mạnh
mẽ đối với cấy ghép dị loại.
Cẩn thận

Chuẩn bị lượng sụn tự thân
thích hợp. Trong hầu hết các
trường hợp sửa lại, sụn vách ngăn
và sụn tai có thể không còn tồn
114

e-bacsy.com
tại. Sụn sườn là tốt nhất cho việc
tái tạo vách ngăn.

Có thể áp dụng phương
pháp ghép mở rộng vách ngăn
thanh chống L bằng cách gấp phần
hố ghe và phần ổ của xoắn tai ở hầu
hết các người châu Á (Hình 9).

Không thể bóc tách vách ngăn
trong trường hợp niêm mạc đã bị
phá hủy.

Sự phá hủy nghiêm trọng có
thể xảy ra khi chất
liệu polyetylen xốp được áp dụng
tại vách ngăn dưới dạng ghép trải
rộng hoặc SEG.

Nếu có sự phá hủy nghiêm
trọng tại khu vực vomg mũi, cố định
đuôi xương mũi và mảnh ghép phía
trước là cần thiết sau khi thực hiện
khoan lỗ. Nguyên tắc tương tự áp
dụng cho vùng ANS.
Ca lâm sàng 3

Phụ nữ 38 tuổi bị co kéo mũi
và bị lệch do dùng thanh chống sil­
icon L trước đó; cô ta muốn sửa lại
dị tật mũi ngắn. Lấy bỏ thanh sili­
cone và quy trình mở rộng thanh
chống L được thực hiện bằng xương
sườn thứ 7 bên trái. Lấy fascia của
cơ thẳng bụng để ghép độn lên sống
mũi cho hết gồ ghề (Hình 10).
Ca lâm sàng 4

Người nam 53 tuổi biến dạng
mũi yên ngựa nặng. Cả phần hố ghe
và phần ổ của xoắn tai đều được
áp dụng cho phần mở rộng thanh
chống L. Ghép độn sống mũi bằng
cách sử dụng fascia nông vùng
xương chũm bên phải (Hình 11).
Biến chứng

Các biến chứng tương tự ảnh
hưởng đến SEG thường xảy ra trong
mảnh ghép mở rộng thanh chống
L: cứng quá, giảm độ nhô đỉnh mũi,
lệch mũi và nhiễm trùng. Tuy nhiên,
phần mở rộng thanh chống L có
một lợi thế lớn so với chỉ ghép tự
thân đơn thuần trong trường hợp
mũi nhỏ mà cần phẫu thuật tạo
hình vách ngăn tương đối ít ở người
châu Á.
Tóm lại

Mảnh ghép mở rộng thanh
chống L rất hữu ích trong việc làm
tăng 2/3 dưới của mũi trước và sau
ở mũi tương đối nhỏ trên người
châu Á. Phần mở rộng vách ngăn
thanh chống L bao gồm một mảnh
ghép chồng vách ngăn kéo dài và
mảnh ghép trải dài phía trước. Mục
đích của kỹ thuật này là để tạo ra
một sống mũi phụ thuộc vào vách
ngăn, cũng như đầu mũi phụ thuộc
vào vách ngăn. Do đó, nhu cầu áp
dụng cấy ghép dị loại có thể giảm đi.
115

e-bacsy.com
Hình 8. Trường hợp 2: Một người mũi gồ nhẹ và biến dạng hình yên ngựa. (A) Nhìn nghiên: (bên
trái) trước phẫu thuật, (bên phải) sau phẫu thuật 1 tháng. (B) Nghiên 1/4. (C) Khâu trụ trước
và trụ đuôi để tạo ra một góc vách ngăn trước mới. (D) Nhìn thẳng.
Hình 9. Dùng xoắn tai để mở rộng thanh chống L. (A) (Trái) gập ổ của xoắn lại, (phải) gấp hố
ghe của xoắn tai. (B) Thanh chống L được tái tạo bằng cách dùng xoắn tai.
116

e-bacsy.com
Hình 10. Trường hợp 3: Một người bị mũi ngắn thứ phát. (A) Nhìn nghiên: (trái) trước phẫu
thuật, (phải) sau phẫu thuật 3 tháng. (B) Nghiên 1/4. (C) Sau khi loại bỏ silicone, thanh chống
chữ L được tái tạo lại bằng sụn sườn. (D) Nhìn thẳng.
117

e-bacsy.com
Hình 11. Trường hợp 4: Người bị tật mũi yên ngựa nặng. (A) Nhìn nghiên: (trái) trước phẫu
thuật, (phải) sau phẫu thuật 6 tháng. (B) Nghiên 1/4. (C) Mảnh ghép tự thân hố ghe và ổ của
xoắn tai được sử dụng trong việc tạo ra thanh chống L và fascia vùng xương chũm nông được
ghép trên sống mũi. (D) Nhìn thẳng.
118

e-bacsy.com
Tài liệu tham khảo
1. Byrd HS, Andochick S, Copit S,
et al. Septal extension grafts: a
method of controlling tip pro­
jection shape. Plast Reconstr Surg
1997;100(4):999–1010.
2. Guyuron B, Varghai A. Length­
ening the nose with a tongue-and-
groove technique. Plast Reconstr
Surg 2003;111(4):1533–9 [discus­
sion: 1540–1].
3. Walker TJ, Toriumi DM. Analysis
of facial implants for bacterial bio­
film formation using scanning elec­
tron microscopy. JAMA Facial Plast
Surg 2016;18(4): 299–304.
4. Siggelkow W, Faridi A, Spiritus
K, et al. Histological analysis of sil­
icone breast implant capsules and
correlation with capsular contrac­
ture. Biomaterials 2003;24(6):
1101–9.
5. Hwang SM, Lim O, Hwang MK, et
al. The clinical analysis of the nasal
septal cartilage by measure- ment
using computed tomography. Arch
Craniofac Surg 2016;17(3):140–5.
6. Kim JS, Khan NA, Song HM, et
al. Intraoperative measurements
of harvestable septal cartilage
in rhi- noplasty. Ann Plast Surg
2010;65(6):519–23.
7. Dhong ES. Septorhinoplasty:
endoscopic approach and rein­
forcement of nasal support line. J
Korean Soc Aesthetic Plast Surg
2010;16(3):111–6.
8. Huang J, Liu Y. A modified tech­
nique of septal extension using a
septal cartilage graft for short-
nose rhinoplasty in Asians. Aes­
thetic Plast Surg
2012;36(5):1028–38.
9. Zelken J, Chang CS, Chuang SS,
et al. An econom- ical approach to
ethnic Asian rhinoplasty. Facial
Plast Surg 2016;32(1):95–104.
10. Woo JS, Dung NP, Suh MK. A nov­
el technique for short nose correc­
tion: hybrid septal extension graft.
J Craniofac Surg 2016;27(1):e44–8.
11. Dhong ES, Kim YJ, Suh MK.
L-shaped columellar strut in East
Asian nasal tip plasty. Arch Plast
Surg
2013;40(5):616–20.
12. Chang YL. Correction of difficult
short nose by modi- fied caudal sep­
tal advancement in Asian patients.
Aesthet Surg J 2010;30(2):166–75.
13. Dhong ES, Han SK, Lee CH, et
al. Anthropometric study of alar
cartilage in Asians. Ann Plast Surg
2002;48(4):386–91.
14. Hong ST, Kim DW, Yoon ES, et
al. Superficial mas- toid fascia as
an accessible donor for various
aug- mentations in Asian rhino­
plasty. J Plast Reconstr Aesthet
Surg 2012;65(8):1035–40.
15. Toriumi DM, Pero CD. Asian
rhinoplasty. Clin Plast
Surg 2010;37(2):335–52.
119

e-bacsy.com
Chương 8
MỤC TIÊU
• Mũi châu Á có xu hướng có khung sụn yếu, da dày và mô mềm dồi dào;
tinh chỉnh đầu chính với ghép đầu là cần thiết để tạo ra nhiều phép chiếu
và định nghĩa đầu.
• Phương pháp tinh chỉnh đầu mũi tốt nhất ở những người có da dày và
sụn chóp kém phát triển là ghép đầu với sụn chi phí dày và cứng.
• Các kỹ thuật ghép quan trọng nhất là ghép đầu onlay, ghép lá chắn và
ghép đầu nhiều lớp.
• Chúng tôi đã phân loại mũi Hàn Quốc thành 4 lớp dựa trên hình dạng sụn
alar của chúng và chỉ định các quy trình ghép sẽ tạo ra một đầu có thể chấp
nhận được trong các hình dạng đầu khác nhau này.
• Bởi vì người châu Á khác nhau về cấu hình sụn, độ dày của da và mong
muốn thẩm mỹ, nên cần có một chiến lược ghép đầu phù hợp để đáp ứng
mục tiêu thẩm mỹ của từng người.
Kỹ thuật mảnh ghép đầu mũi cho mũi
người châu Á
Yong Ju Jang,MD, PhD, Sung Hee Kim, MD
Từ khóa
• Phẫu thuật tạo hình mũi người châu Á • Tip grafting • Tip onlay graft
• Shield graft • Multilayer tip grafting
Giới thiệu

Những kỹ thuật trong phẫu
thuật tinh chỉnh đầu mũi bao gồm
phẫu tích hoặc phân chia sụn cánh
mũi lớn, khâu sụn cánh mũi lớn,
và mảnh ghép sụn. Đặc biệt, hai kỹ
thuật sau thường được sử dụng
nhất trong tinh chỉnh đầu mũi. Mũi
người Châu Á thường có cấu trúc
nền sụn yếu, da dày, và mô mềm
nhiều làm cho sống mũi và đầu mũi
kém thanh nhã.

Những đặc trưng giải phẫu
trên nhấn mạnh rằng phẫu thuật
đầu mũi là phần khó nhất trong tạo
hình mũi ở người Châu Á. Độ dày
của da mũi nói riêng đóng một vai
trò quan trọng trong sự thành công
của các kỹ thuật tinh chỉnh đầu mũi.
Trước đây, tác giả đã báo cáo rằng
120

e-bacsy.com
người Hàn Quốc có da mũi dày
hơn người da trắng. Cụ thể, da mũi
người Hàn Quốc dày nhất ở vùng
góc mũi trán, và mỏng hơn ở vùng
nối xương – sụn, dày trở lại tại đầu
mũi và rồi mỏng dần ở vùng trụ
mũi. Tác giả quan sát thấy rằng da
dày hơn ở vùng đầu mũi và trụ mũi
sẽ dẫn đến một đầu mũi kém thanh
nhã. Như vậy, độ dày của da theo
vùng có thể là một yếu tố tiên lượng
cho sự thành công của phẫu thuật
đầu mũi.

Mặc dù kỹ thuật khâu đầu
mũi có thể giúp cải thiện một cách
hiệu quả hình dạng của đầu mũi
ở những bệnh nhân có sụn cánh
mũi lớn phát triển tốt và da mỏng,
nhưng nó thường không cung cấp
đủ độ nhô đầu mũi ở mũi người
Châu Á khi kỹ thuật này sử dụng
chính bản thân đầu mũi như vậy.
Ngược lại, kỹ thuật mảnh ghép đầu
mũi có thể giúp cải thiện hiệu quả
độ nhô, sự xoay và sự rõ nét của
đầu mũi ở mũi người Châu Á bởi vì
nó ít ảnh hưởng bởi độ dày của da
hơn kỹ thuật khâu đầu mũi. Vì vậy,
tác giả thường sử dụng kỹ thuật
mảnh ghép đầu mũi để tinh chỉnh
lại đầu mũi ở mũi người Châu Á. Ở
đây, chúng ta thảo luận về những
loại vật liệu ghép đầu mũi phổ biến
nhất, những phương pháp khác
nhau trong ghép đầu mũi, và sự phù
hợp của những phương pháp này
với từng hình dạng mũi cụ thể. Các
biến chứng có thể xảy ra sau ghép
đầu mũi và cách quản lý chúng cũng
được thảo luận.
Vật liệu ghép đầu mũi

Các yếu tố quan trọng nhất
khi lựa chọn vật liệu cho ghép đầu
mũi là số lượng và chất lượng của
các sụn sẵn có và độ dày của da.
Sụn vách ngăn

Nếu có đủ sụn vách ngăn với
độ dày và độ cứng hợp lý, ghép đầu
mũi có thể được thực hiện dễ dàng
với sụn này. Thực tế, đây là vật liệu
lý tưởng trong ghép đầu mũi vì nó
tránh việc phải lấy bổ sung sụn từ
tai hoặc ngực. Tuy nhiên, ở người
Châu Á, số lượng và chất lượng
của sụn vách ngăn lại thường rất
hạn chế. Điều này là đặc biệt đúng
với bệnh nhân nữ người Đông Á. Ở
những bệnh nhân này, bác sĩ phẫu
thuật tạo hình mũi thường bắt gặp
sụn vách ngăn rất yếu và mỏng,
không thể chịu được sức nặng và
sức căng của da phủ lên mảnh ghép.
Kết quả là đầu mũi sẽ mất hình dạng
đã được ghép của nó sau khi đóng
da (hình 1). Hơn nữa, khi phẫu
thuật đầu mũi sử dụng sụn vách
ngăn yếu được thực hiện trên bệnh
nhân với da dày, sụn ghép chỉ làm
tăng thêm thể tích của đầu mũi. Do
đó, làm xấu đi sự rõ nét của đầu mũi
sau khi đóng da. Một yếu tố khác
cản trở việc sử dụng sụn vách ngăn
cho đầu mũi là mảnh ghép sụn vách
ngăn mỏng này sẽ dễ dàng bị rách
bởi vật liệu khâu khi khâu cố định
mảnh ghép vào sụn cánh mũi lớn
bên dưới.
121

e-bacsy.com
Sụn vành tai

Khi sử dụng sụn vành tai cho
phẫu thuật đầu mũi, phải cố gắng
thu hoạch được nó với màng sụn ở
cả hai mặt hoặc ít nhất là một mặt.

Điều này là bởi vì màng sụn
bao quanh sụn giúp cho việc khâu
cố định mảnh ghép đầu mũi vào
sụn cánh mũi lớn trở nên dễ dàng
hơn. Hơn nữa, sự hỗ trợ từ màng
sụn làm tăng cường sức mạnh của
sụn. Nhưng nên lưu ý rằng sụn vành
tai có độ cong tự nhiên. Phẫu thuật
viên cần đảm bảo rằng độ cong này
không ảnh hưởng đến kết quả phẫu
thuật. Nếu độ cong nội tại của sụn
làm cản trở việc đạt được hình dạng
mong muốn của đầu mũi, một vài vết
rạch như đường gạch chéo có thể
loại bỏ độ cong này. Tuy nhiên, độ
cong tự nhiên của sụn vành tai cũng
có thể được khai thác trong mảnh
ghép dạng hình khiên (thảo luận ở
chương khác); khi sụn vành tai dạng
hình khiên được đặt vào tiểu đơn vị
đầu mũi với mặt lõm hướng về phía
dưới, nó có thể cải thiện sự rõ nét
của đầu mũi trong khi lại ngăn chặn
sự uốn cong về phía trên của mảnh
ghép đầu mũi. Kỹ thuật này đặc biệt
hữu ích ở những bệnh nhân da dày
(hình 2). Khi xem xét sử dụng sụn
vành tai cho mảnh ghép đầu mũi,
phẫu thuật viên phải xem xét cẩn
thận khả năng xảy ra biến chứng
ở vị trí cho như là tụ máu hay hình
thành sẹo lồi. Biến chứng thứ hai là
đặc biệt phải xem xét bởi vì sẹo lồi
ở tai là tương đối phổ biến (1%),
chúng có nhiều khả năng phát triển
khi sụn vành tai được thu hoạch bởi
đường rạch sau tai, và sẹo lồi là rất
khó để điều trị hiệu quả.
Sụn sườn

Ở những bệnh nhân có da
quá dày, sụn vách ngăn và sụn vành
tai có thể không đủ cho mảnh ghép
đầu mũi bởi vì chúng không thể tạo
ra thay đổi đáng kể lên lớp phủ da –
mô mềm quá dày này. Do đó, khi một
bệnh nhân có da dày và sụn đầu mũi
kém phát triển muốn hình dạng đầu
mũi của họ có một sự thay đổi đáng
kể, thì cách tốt nhất là dùng sụn
Hình 1: Sụn vách ngăn mỏng và yếu là không
phù hợp cho mảnh ghép đầu mũi
122

e-bacsy.com
sườn cứng và dày để làm mảnh
ghép đầu mũi sau khi ổn định phần
nền với thanh chống trụ mũi hoặc
một mảnh ghép kéo dài vách ngăn.

Sụn sườn 6 hoặc 7 thường
được sử dụng, và chúng được cắt
thành nhiều lát mỏng bằng dao lấy
da. Những mảnh sụn cắt lát sau đó
được định hình lại để trở thành
mảnh ghép rộng hơn, mảnh ghép
kéo dài vách ngăn, mảnh ghép cho
sống mũi và/hoặc mảnh ghép đầu
mũi (hình 3). Thu hoạch sụn tốt nhất
là đi kèm với màng sụn bởi vì màng
sụn có thể giúp che đậy cho mảnh
ghép đầu mũi. Nếu dùng sụn sườn
để nâng sống mũi, thì phần lõi rất
được ưa thích. Ngược lại, với mảnh
ghép đầu mũi, cả phần lõi và phần
ngoại vi đều có thể được sử dụng vì
sự cong vênh của sụn không phải là
vấn đề quan trọng trong phẫu thuật
đầu mũi.

Bất chấp những thuận lợi
trên, sử dụng sụn sườn cho mảnh
ghép đầu mũi cũng gặp một vài khó
khăn. Đầu tiên, vì sụn sườn cứng
hơn những sụn khác, nó sẽ khó
khăn để khâu với sụn cánh mũi nằm
bên dưới. Hơn nữa, khâu sụn sườn
thường sử dụng vật liệu khâu nhiều
hơn so với những loại sụn khác. Yếu
tố này rất quan trọng bởi vì sử dụng
nhiều vật liệu khâu có thể làm tăng
nguy cơ nhiễm trùng liên quan đến
vật liệu khâu. Thứ hai, theo kinh ng­
hiệm của tác giả, khi một số lượng
lớn sụn sườn cứng và dày được
ghép vào đầu mũi, thì nguy cơ là
phần trung tâm của đám sụn ghép
này sẽ không được nuôi dưỡng tốt.
Điều này có thể dẫn đến hoại tử và
nhiễm trùng thứ phát. Vấn đề này
đặc biệt phổ biến khi mũi đã trải
qua nhiều lần phẫu thuật lại. Đó là
do những cái mũi này thường bị sẹo
Hình 2: Khi sử dụng một mảnh ghép hình khiên bằng sụn vành tai, sự uốn cong lên đầu của
mảnh ghép đầu mũi có thể ngăn chặn được bằng cách đảm bảo là phần lõm của sụn vành tai đối
diện với hướng đuôi (hướng xuống dưới)
123

e-bacsy.com
và xơ hóa nặng nề dẫn đến làm suy
yếu nghiêm trọng tuần hoàn máu
của lớp phủ da – mô mềm của mũi.
Những kỹ thuật mảnh ghép
đầu mũi cụ thể

Có nhiều kỹ thuật mảnh ghép
đầu mũi khác nhau đã được mô
tả. Lựa chọn một trong những kỹ
thuật này nên dựa trên sự xem xét
cẩn thận hình dáng đầu mũi mong
muốn, số lượng và chất lượng của
sụn tự thân sẵn có, và hình dạng
đầu mũi tự nhiên ban đầu của bệnh
nhân.
Mảnh ghép thanh chống trụ mũi

Kỹ thuật này bao gồm việc
đẽo gọt một mảnh dài của sụn
thành một thanh chống và đặt nó
giữa cuống trong và cuống giữa của
hai sụn cánh mũi lớn. Kỹ thuật này
có thể tăng cường hỗ trợ đầu mũi,
đem lại một mức độ nhô đầu mũi
tương đối, thay đổi hình dạng lỗ
mũi, cải thiện tính đối xứng, và
thay đổi góc tiểu đơn vị trụ mũi.
Tuy nhiên, tác giả tin rằng bản thân
thanh chống trụ mũi không thể thay
đổi về cơ bản hình dạng của sụn đầu
mũi. Bởi vậy, kỹ thuật này chỉ nên
sử dụng để tạo ra một cái nền ổn
định cho các mảnh ghép đầu mũi
khác, như là mảnh ghép hình khiên
hoặc mảnh ghép đệm. Một vấn đề
với thanh chống trụ mũi là nếu nó
không được đặt đúng, thì nó có thể
xoay hướng lên đầu mũi hoặc làm
lệch trụ mũi. Sụn vách ngăn và sụn
sườn là những vật liệu thích hợp
để làm mảnh ghép thanh chống trụ
mũi. Độ cong tự nhiên của sụn vành
tai gây khó khăn cho việc sử dụng
nó làm thanh chống trụ mũi.
Hình 3: Sụn sườn đã thu hoạch được thiết kế thành một mảnh ghép mở rộng, một mảnh ghép
sống mũi, và một mảnh ghép đầu mũi
124

e-bacsy.com
Tuy nhiên, nếu không có sự lựa
chọn khác ngoài sụn tai, thì 2 lớp
sụn vành tai khâu cạnh nhau có thể
sử dụng như một mảnh ghép thanh
chống trụ mũi.
Mảnh ghép hình khiên, còn gọi là
mảnh ghép tiểu đơn vị đầu mũi
dưới

Mảnh ghép này đặt trên
cuống trong và cuống giữa của hai
sụn cánh mũi lớn. Kỹ thuật này có
thể làm tăng độ nhô đầu mũi, tăng
cường sự rõ nét của đầu mũi, và làm
cho tiểu đơn vị đầu mũi dưới khác
biệt hơn (hình 4).

Nếu mảnh ghép dài, nó sẽ
không chỉ làm tăng độ nhô đầu mũi,
mà còn làm tăng chiều dài tổng thể
của trụ mũi. Tuy nhiên, cần chú ý là
nếu mảnh ghép ngắn và được đặt
trên một phần tiểu đơn vị đầu mũi
dưới, nó có thể rẽ hướng về phía
trên, và sẽ gây ra sự xoay của đầu
mũi hướng lên trên (hình 5).

Nếu sụn cánh mũi biểu hiện
ra góc vòm mũi phù hợp, việc đặt
một mảnh ghép hình khiên đơn độc
có thể làm tăng độ nhô đầu mũi.
Tuy nhiên ở những bệnh nhân có
sụn đầu mũi tròn và độ nhô kém,
một mảnh ghép hình khiên sẽ làm
nổi bật đường viền tròn này hơn là
làm tăng cường sự rõ nét của đầu
mũi. Do đó, ở những bệnh nhân này,
cần phải đặt nhiều hơn 1 lớp mảnh
ghép hình khiên (mảnh ghép đầu
mũi nhiều lớp, thảo luận ở phần
khác trong bài này). Trong khi đẽo
gọt mảnh ghép, phần ngoại vi của
mảnh ghép nên được vát cẩn thận
hoặc phần mép sụn nên được
nghiền nhẹ nhàng; bước này sẽ
đảm bảo rằng mép mảnh ghép sẽ
không thể được nhìn thấy qua da.
Thủ thuật cắt tỉa mép này đặc biệt
quan trọng ở những bệnh nhân có
da mỏng. Mảnh ghép hình khiên
thường được thiết kế như hình một
cái khiên hay hình cái lá bạch quả.
Đỉnh của mảnh ghép phải rộng để
cả hai đầu tận của mặt đỉnh có thể
cung cấp các điểm xác định đầu
mũi. Mặc dù các mép chính của
mảnh ghép hình khiên phải cao hơn
một chút so với chiều cao vòm sụn
hiện có của đầu mũi, hình dạng này
có thể dẫn đến một kết quả mơ hồ
khi bệnh nhân có da đầu mũi dày.
Bởi vì rất khó để đạt được một sụn
đủ sức mạnh để đẩy phần da dày
phủ lên mảnh ghép nhô lên. Kết quả
là, khi mảnh ghép hình khiên không
đủ mạnh được đặt lên và phần mép
trên của nó cao hơn một chút so với
vòm mũi, nó có thể bị uốn cong bởi
trọng lượng của phần da dày, dẫn
đến nó bị cong hướng lên trên và
tạo nên diện mạo như bị kéo ngược
lên của mũi. Để ngăn chặn hiệu
ứng không mong muốn này, và để
đạt được hiệu quả thẩm mỹ mong
muốn, những kỹ thuật dưới đây có
thể được sử dụng (hình 6).

Đầu tiên, một mảnh ghép hỗ
trợ cho mảnh ghép hình khiên được
đặt ở mặt sau của mảnh ghép hình
khiên, nó được gọi là thanh chặn lùi
125

e-bacsy.com
bằng sụn, mảnh ghép chống lưng,
hay mảnh ghép tựa đỡ. Thứ hai,
mảnh ghép hình khiên có thể được
hỗ trợ trên cả hai mặt với mảnh
ghép đệm cuống ngoài (thảo luận
ở phần khác trong bài này). Thứ ba,
thanh chống trụ mũi dài hoặc mảnh
ghép kéo dài vách ngăn cái mà lộ ra
trên đỉnh của vòm mũi có thể dùng
để hỗ trợ mảnh ghép hình khiên từ
phía sau. Thứ tư, sụn vành tai có thể
sử dụng làm mảnh ghép hình khiên
và được đặt sao cho bề mặt lõm của
nhất của kỹ thuật này là đường viền
của mảnh ghép bị trông thấy rõ qua
da. Biến chứng này đặc biệt phổ
biến ở những người da mỏng. Để
ngăn chặn biến chứng này, cần thiết
phải phủ mô mềm như là cân hoặc
màng sụn lên mảnh ghép. Một biến
chứng khác của mảnh ghép hình kh­
iên là nó bị di chuyển dẫn đến biến
dạng đầu mũi.
Mảnh ghép đệm đầu mũi

Không giống như mảnh ghép
Hình 4: Một bệnh nhân với sự thay đổi về thẩm mỹ thuận lợi ở đầu mũi sau ghép mảnh ghép
hình khiên. Nhìn từ bên (A) và nhìn từ dưới nền (B)
nó hướng xuống dưới, điều này tạo
cho mảnh ghép một lực như lò xo
chống lại sự uốn cong lên trên do áp
lực của phần da dày (hình 2).

Việc đặt một mảnh ghép hình
khiên có thể làm cho mũi trông dài
hơn. Vì vậy, kỹ thuật mảnh ghép
đầu mũi không khuyến cáo cho
bệnh nhân bị chứng sa đầu mũi và
có sống mũi lồi bởi vì mũi họ trông
đã dài rồi. Biến chứng đáng chú ý
hình khiên có hướng nằm dọc,
mảnh ghép đệm thường gồm một
hoặc vài lớp mảnh ghép đặt nằm
ngang trên vòm mũi. Độ rộng của
mảnh ghép đệm lớn hơn độ dài và
chiều cao của nó, và nó thường có
hình chữ nhật. Mảnh ghép này phải
được cố định trên mép dưới của
vòm mũi. Nó giúp làm mềm mại cho
sự chuyển tiếp trên bề mặt từ vòm
mũi đến tiểu đơn vị cánh mũi, tăng
126

e-bacsy.com
Hình 5: Một mảnh ghép hình khiên ngắn ở bệnh nhân có đường cong sụn đầu mũi tròn có thể
tạo ra một đầu mũi trông bị xoay quá mức
Hình 6: Những cách khác nhau để ngăn ngừa mảnh ghép hình khiên bị uốn cong lên phía đầu.
(A) Đặt một mảnh ghép hỗ trợ đằng sau mảnh ghép hình khiên. (B) Đặt một mảnh ghép đệm
cho cuống ngoài để hỗ trợ cho mảnh ghép hình khiên ở hai bên. (C) Đặt một thanh chống trụ
mũi cho tiếp xúc ở trên với vòm mũi và nhờ đó giúp hỗ trợ cho mảnh ghép hình khiên. (D) Sử
dụng sụn vành tai cho mảnh ghép hình khiên và đặt nó sao cho bề mặt lõm đối diện với hướng
đuôi (hướng xuống dưới) và nhờ đó tạo ra một cơ chế như lò xo để chống lại sự uốn cong lên
trên của mảnh ghép.
127

e-bacsy.com
cường độ nhô đầu mũi, và cải thiện
sự rõ nét của đầu mũi. Ở những
bệnh nhân có sự hỗ trợ của đầu mũi
phù hợp và một chút độ nhô của
đầu mũi, mảnh ghép đệm không chỉ
làm tăng độ nhô đầu mũi, nó còn
có thể giúp che giấu sự không đồng
đều của đầu mũi (hình 7).

Nếu mảnh ghép đệm đầu mũi
quá tròn và cùn, nó có thể dẫn đến
một kết quả thẩm mỹ không tốt
(hình 8). Mảnh ghép đệm đầu mũi
có thể xếp chồng nhiều lớp trên
đỉnh của nhau (mảnh ghép đệm
xếp chồng). Tuy nhiên, mặc dù thủ
thuật này có thể cải thiện độ nhô
của đầu mũi đến một mức độ nào
đó khi nhìn từ phía bên, nhưng nó
cũng làm cho tiểu đơn vị đầu mũi
dưới trông dài bất thường khi nhìn
từ phía nền mũi. Một biến chứng
cũng phổ biến của mảnh ghép đệm
đầu mũi là các đường viền bị nhìn
thấy từ bên ngoài da. Mảnh ghép
đệm đầu mũi là một cách lý tưởng
để tạo cho chỗ chuyển tiếp của tiểu
đơn vị trên đầu mũi trông tự nhiên
hơn; thủ thuật này đặc biệt phù hợp
cho những bệnh nhân có sống mũi
lồi.
Mảnh ghép đầu mũi nhiều
lớp sụn

Thông thường, hình dạng
mong muốn của đầu mũi với sự rõ
nét và độ nhô tốt không thể đạt
Hình 7: Một bệnh nhân với hình dạng đầu mũi được cải thiện nhờ mảnh ghép đệm
128

e-bacsy.com
được chỉ với đơn độc một mảnh
ghép hình khiên hay một mảnh ghép
đệm. Vấn đề này là bởi vì những
đầu mũi có độ nhô kém thường có
đường cong đầu mũi tròn và điều
này thường xấu đi khi chỉ đặt một
mảnh ghép hình khiên hay một
mảnh ghép đệm đơn độc. Vì vậy, để
tạo ra đường cong đầu mũi mong
muốn với những vector độ nhô lý
tưởng, phải đặt một vài lớp sụn mới
được (hình 9).

Quan niệm này tương đương
với việc tạo ra một quả đồi trên đỉnh
một ngọn núi hay là thêm vào một
đỉnh mũi thứ hai. Kỹ thuật này cũng
hữu ích cho việc kéo dài phần trung
tâm của mũi ở những bệnh nhân có
mũi ngắn (hình 10). Thủ thuật này
có một vài thuận lợi nhất định. Đầu
tiên, đó là một cách tiếp cận rất linh
hoạt có thể điều chỉnh để phù hợp
với hình dạng và cấu trúc của sụn
cánh mũi lớn bên dưới và tạo ra
một hình dạng đầu mũi hài lòng về
mặt thẩm mỹ mà không có sự xoay
hướng lên không mong muốn. Thứ
hai, nó mang lại một đầu mũi rõ nét
ở những bệnh nhân có da dày. Tuy
nhiên, mảnh ghép đầu mũi nhiều
lớp sụn cũng có một vài nhược
điểm tiềm tàng. Đầu tiên, số lượng
sụn cần thiết để tạo ra khung đầu
mũi như vậy là tương đối lớn. Do
đó, kỹ thuật này có thể gây ra những
rối loạn ở vị trí cho sụn. Thứ hai, có
một nguy cơ cao là mảnh ghép đầu
mũi bị nhìn thấy sau phẫu thuật.
Thứ ba, sử dụng mảnh ghép nhiều
lớp sụn làm tăng nguy cơ viêm và
nhiễm trùng thứ phát.
Hình 8: Đặt một mảnh ghép đệm đầu mũi ở bệnh nhân có đường cong đầu mũi tròn không thể
tạo ra một đường cong đầu mũi lý tưởng
129

e-bacsy.com
Hình 9: Những hình thức khác nhau của kỹ thuật mảnh ghép đầu mũi nhiều lớp (A). Bệnh nhân
điển hình cho thấy sự cải thiện về thẩm mỹ đầu mũi sau khi ghép mảnh ghép đầu mũi nhiều lớp
(B).

Mảnh ghép đầu mũi nhiều lớp
thường được tiến hành qua đường
mổ mũi hở. Do đó, tùy thuộc vào số
lượng sụn cần thiết mà sụn vách
ngăn, sụn vành tai, sụn bình tai,
và/hoặc sụn sườn có thể được thu
hoạch. Tùy theo số lớp sụn cần thiết,
mà sụn được cắt thành nhiều mảnh
ghép hình khiên, mỗi mảnh là ngắn
hơn so với mảnh ban đầu nhưng có
chiều rộng tương đương. Nếu cần
thiết, kéo dài đuôi vách ngăn, đặt
thanh chống trụ mũi, và khâu vòm
có thể được thực hiện trước khi đặt
mảnh ghép nhiều lớp này. Trong
mảnh ghép đầu mũi nhiều lớp, thì
lớp đầu tiên, là lớp dài nhất trong
các mảnh được cắt, sẽ đặt trên cạnh
dưới của cuống giữa và cuống trong
sụn cánh mũi lớn và cố định với chỉ
polydioxanone 5-0 sao cho mép dẫn
đường của nó (mép trên) là cao hơn
chiều cao vòm mũi hiện có. Lớp tiếp
theo, là mảnh dài nhất trong các
mảnh còn lại, được đặt ngay trung
tâm phần đỉnh của mảnh đầu tiên
để mép trên của nó cao hơn mảnh
ghép đầu tiên (video 1). Mảnh ghép
tiếp theo, nếu được sử dụng, được
đặt theo kiểu tương tự. Số lớp của
130

e-bacsy.com
Hình 10: Một bệnh nhân với dị dạng mũi ngắn được điều trị với sự kết hợp mảnh ghép trải rộng,
một mảnh ghép kéo dài vách ngăn, nâng sống mũi, và một mảnh ghép đầu mũi nhiều lớp
mảnh ghép tùy thuộc vào phẫu
thuật viên mong muốn độ nhô
nhiều như thế nào và được xác định
trong lúc phẫu thuật. Trong hầu hết
các ca, tác giả ưa thích đặt chỉ hai
lớp mảnh ghép. Tác giả thấy rằng
lớp đầu tiên giúp đạt được độ nhô
đầu mũi mong muốn và lớp thứ hai
cung cấp một độ nhô bổ sung và làm
cho chỗ chuyển tiếp của tiểu đơn vị
đầu mũi dưới trông tự nhiên hơn
(hình 11).

Khi thực hiện mảnh ghép 2
lớp, lớp thứ hai của mảnh ghép nên
có phần đỉnh rộng hơn và phần đáy
hẹp hơn. Tuy nhiên, độ rộng theo
chiều ngang của hầu hết các mảnh
ghép đặt ở phần dưới phụ thuộc
vào độ dày của da đầu mũi. Với da
mỏng, độ rộng theo chiều ngang của
mảnh ghép lớn hơn sẽ cung cấp sự
rõ nét của đầu mũi trơn tru hơn. Với
da dày, một bề rộng hẹp hơn có thể
dẫn đến một kết quả thẩm mỹ tốt
hơn. Để tạo ra đường cong đầu mũi
hài lòng về mặt thẩm mỹ, điều quan
trọng là phải đẽo gọt nhẹ nhàng các
mép của mảnh ghép sao cho trơn
láng một cách cẩn thận. Sự uốn cong
lên trên của mảnh ghép đầu mũi có
131

e-bacsy.com
Hình 11: Mảnh ghép đầu mũi 2 lớp. Lớp mảnh ghép hình khiên đầu tiên làm tăng độ nhô đầu
mũi, trong khi lớp thứ hai làm tăng nhiều hơn độ nhô và tạo ra chỗ chuyển tiếp của tiểu đơn vị
đầu mũi dưới trông tự nhiên hơn.
thể được ngăn chặn bằng cách đặt
mảnh ghép bằng sụn vành tai với bề
mặt lõm của nó đối diện với hướng
dưới. Một mảnh ghép chống lưng
cũng có thể cần thiết để ngăn chặn
sự uốn cong lên trên của mảnh ghép
chính. Nếu mảnh ghép đầu mũi quá
dễ thấy (một hiện tượng có nhiều
khả năng xảy ra ở những bệnh nhân
có da đầu mũi mỏng), màng sụn,
cân mạc hoặc sụn nghiền nhỏ có thể
được đặt lên để làm trơn láng hơn
cho các mép của mảnh ghép.
Kỹ thuật phân chia vòm mũi
theo chiều dọc cải tiến

Kỹ thuật phân chia vòm mũi
cổ điển bao gồm cắt bớt vòm mũi,
gồm cả da, ép nó hướng vào trong,
và khâu nó lại với nhau ở đường
giữa. Mặc dù khâu vòm mũi theo
chiều dọc có thể cải thiện đáng kể
độ rõ nét của đầu mũi, nhưng có lo
ngại rằng nó có thể làm yếu đi cơ chế
hỗ trợ đầu mũi nội tại, do đó gây ra
những bất thường của đầu mũi như
là đầu mũi hình cái kẹp, khe cánh
mũi hình chữ V, và/hoặc một đầu
mũi như cột chống lều. Hơn nữa, kỹ
thuật này có thể làm tổn thương
132

e-bacsy.com
Hình 12: Kỹ thuật phân chia vòm mũi theo chiều dọc cải tiến. Phần vòm sụn cánh lớn được ép
vào trong sau khi phân chia vòm được khâu với nhau cùng với một thanh chống trụ mũi và
một mảnh ghép đầu mũi hình khiên
phần hỗ trợ bên ngoài của đầu mũi
ở những bệnh nhân có da mỏng và
sụn chắc; tổn thương này có thể
dẫn đến sụp đổ thành bên, co rút
cánh mũi, hoặc đầu mũi bị nâng
lên không đều. Trong nhiều trường
hợp, rất khó để có được một đầu
mũi lý tưởng chỉ bằng cánh sử dụng
thủ thuật phân chia vòm mũi theo
chiều dọc đơn thuần. Tác giả sử
dụng kỹ thuật phân chia vòm mũi
theo chiều dọc cải tiến, với đường
rạch được thực hiện trên cả hai vòm
và một số lượng lớn sụn được mượn
từ mép dưới để khi nhìn từ bên thì
phần sụn bị ép vào trong có một
hình dạng của phần nhô là hình tam
giác hướng về hướng trước dưới.
Một dải sụn có hình dạng giống như
thanh chống trụ mũi được đặt giữa
hai cuống của vòm bị phân chia và
được khâu với phần bị ép vào trong
của vòm của sụn cánh mũi lớn. Sau
đó, một mảnh ghép đầu mũi dạng
hình khiên được đặt ngay trước
phức hợp thanh chống – sụn mới
được tạo ra (hình 12, video 2).

Trong thủ thuật này, da của
tiền đình mũi được bảo tồn bằng
cách bóc tách dọc theo cuống ngoài
và cuống trong hướng lên đến vị
trí chia tách vòm mũi. Mép đầu của
mảnh ghép dạng hình khiên được
điều chỉnh theo chiều cao mong
muốn của đầu mũi mới. Kỹ thuật
phân chia vòm theo chiều dọc cải
tiến là phù hợp với những bệnh
nhân có da đầu mũi dày và sụn cánh
mũi lớn phát triển tốt và tương đối
khỏe (hình 13). Biến chứng của kỹ
thuật này bao gồm đầu mũi bị thu
hẹp quá mức, đơn vị cánh mũi bị
lõm, và đầu mũi mất cân xứng.
Mảnh ghép đệm cho cuống
ngoài

Mảnh ghép này được đặt trên
cuống ngoài sụn cánh mũi lớn. Tác
giả sử dụng kỹ thuật này để sửa
chữa sự lõm và sự không đồng đều
của đường cong cánh mũi, và để
ngăn chặn sự uốn cong lên trên của
mảnh ghép hình khiên (hình 14).
Một mảnh ghép đệm cho cuống
133

e-bacsy.com
Hình 13: Một bệnh nhân với độ nhô đầu mũi được cải thiện nhờ kỹ thuật phân chia vòm mũi
theo chiều dọc cải tiến
Hình 14: (A) Hình chụp trong lúc phẫu thuật của mảnh ghép đệm cho cuống ngoài. (B) Một bệnh
nhân với chỗ lõm ở cánh mũi phải được cải thiện sau khi đặt một mảnh ghép đệm cho cuống
ngoài
ngoài một bên có thể sửa chữa sự
không đồng đều về chiều cao giữa
hai cuống ngoài. Về mặt chức năng,
nó tăng sức mạnh cho cuống ngoài
và nhờ đó cải thiện van mũi bị sụp.
Có thể sử dụng sụn vách ngăn, sụn
vành tai và lớp ngoài cong của sụn
sườn. Biến chứng có thể xảy ra là
mảnh ghép quá dày và bị nhìn thấy
qua da ở những bệnh nhân có da
mỏng.
Mảnh ghép thanh chống cho
cuống ngoài

Kỹ thuật này gồm việc bóc
tách cuống ngoài ra khỏi da tiền
đình mũi và đặt một mảnh ghép sụn
bên dưới cuống ngoài. Kỹ thuật này
có thể sửa chữa sự co rút của cánh
mũi, sự đổ sập của vành cánh mũi,
sự lõm của cuống ngoài, đầu mũi
dạng hình hộp và sự lệch vị trí của
cuống ngoài. Nếu cần thiết, phức
hợp thanh chống - cuống ngoài có
134

e-bacsy.com
thể được xoay xuống dưới để định
vị lại túi mô mềm cho nằm xuống
dưới một chút tại cạnh trong của
đơn vị cánh mũi; thao tác này chủ
yếu được thực hiện để sửa chữa
lại cuống ngoài bị lệch lên trên. Chỉ
định chính của kỹ thuật mảnh ghép
thanh chống cho cuống ngoài là để
sửa chữa sự co rút của cánh mũi mà
biểu hiện là sự mất cân xứng của lỗ
mũi và sự lệch của hai trục lỗ mũi,
gây ra bởi phẫu thuật tạo hình mũi
trước đó (hình 15).

Trong thời gian gần đây, kỹ
thuật này ngày càng được dùng
nhiều hơn để đặt lại cho cuống
ngoài nằm xuống dưới hơn và mảnh
ghép phức hợp để sửa chữa sự di
lệch lên trên của cuống ngoài. Thực
hiện điều này chắc chắn phải tách
cuống ngoài với phần da bên dưới.
Theo kinh nghiệm của tác giả, tách
da tiền đình mũi khỏi cuống ngoài
làm tăng khả năng nhiễm trùng
mảnh ghép bởi vì nó phá vỡ tuần
hoàn máu vùng này hoặc gây ra tổn
khuyết ở niêm mạc. Những vấn đề
này đặc biệt phổ biến ở những ca
tạo hình mũi sửa lại. Bởi vậy, tác
giả khuyến cáo là kỹ thuật này nên
được sử dụng một cách thận trọng
ở những mũi sửa lại nhiều lần. Đáng
chú ý là, mặc dù mảnh ghép thanh
chống cho cuống ngoài hữu ích cho
Hình 15: Một bệnh nhân bị co rút cánh mũi được cải thiện sau khi ghép mảnh ghép thanh chống
cho cuống ngoài
135

e-bacsy.com
sửa chữa sự bất cân xứng của lỗ
mũi, nhưng nó có thể làm phức tạp
hơn sự bất cân xứng của lỗ mũi một
cách không mong muốn.
Mảnh ghép làm đầy trụ mũi

Một đặc điểm giải phẫu
thường thấy ở người Châu Á là
góc mũi môi nhọn. Và để mở rộng
góc trụ mũi – môi bị nhọn này, một
mảnh ghép làm đầy trụ mũi có thể
được đặt ở trước gai mũi trước
(hình 16). Để tối đa hóa hiệu quả
của kiểu ghép này, một mảnh lớn
sụn sườn có thể được đẽo gọt và
đưa vào vị trí này. Bởi vì không dễ
dàng để cố định mảnh ghép này,
việc bóc tách đầy đủ một túi phù
hợp cho kích thước của mảnh ghép
là rất cần thiết. Phẫu thuật này cũng
có thể thực hiện với sụn nghiền
nhỏ. Các biến chứng đáng chú ý là
đường viền mảnh ghép bị nhìn thấy
và một cảm giác khó chịu ở môi trên
khi môi di động.
Lựa chọn kỹ thuật phẫu thuật
dựa trên hình dạng của đầu
mũi

Hình dạng của đầu mũi được
xác định bởi sự tương tác giữa khu­
ng xương sụn với phần da – mô
mềm phủ lên trên của đầu mũi. Đặc
biệt là độ nhô, hướng và sức mạnh
của sụn cánh mũi lớn đóng vai trò
nòng cốt trong thẩm mỹ đầu mũi.
Trong phân tích góc nhìn nghiêng,
một đầu mũi với sự rõ nét và độ nhô
tốt thì sụn cánh mũi lớn sẽ biểu hiện
một độ nhô trước dưới và vòm mũi
tạo góc nhẹ nhàng. Bởi vì những
bệnh nhân tạo hình đầu mũi có sự
khác biệt về hình dạng sụn đầu mũi
và độ dày của da, những kỹ thuật
mảnh ghép đầu mũi được sử dụng
nhằm đạt được đích thẩm mỹ mong
muốn phải được lựa chọn và điều
chỉnh dựa trên đặc điểm giải phẫu
mũi cụ thể của bệnh nhân.

Phân tích của tác giả về mặt
nghiêng của sụn cánh mũi trên bệnh
nhân Hàn Quốc đề nghị 4 phân loại,
được đặt tên là: một đường cong
tròn (loại I), sụn cánh mũi lớn tạo
góc kiểu 1 (loại II), sụn cánh mũi
lớn tạo góc kiểu 2 (loại III), và sụn
cánh mũi lớn giảm sản (loại IV)
(hình 17).

Ở đây, tác giả mô tả các kỹ
thuật mảnh ghép đầu mũi mà sẽ có
khả năng nhất để tạo ra một đầu
mũi hài lòng ở những bệnh nhân
với những hình dạng đầu mũi khác
nhau. Cần lưu ý rằng mục đích của
các hướng dẫn này chỉ đơn giản là
đưa ra một ý tưởng về cách tạo ra
một đầu mũi có sự rõ nét và độ nhô
thỏa đáng; những hướng dẫn này
không nhằm mục đích phục vụ như
là một chỉ dẫn chính xác cho tất cả
các phẫu thuật đầu mũi. Một phẫu
thuật viên có thể sử dụng một kỹ
thuật hoặc kết hợp nhiều kỹ thuật
khác nhau để đáp ứng nhu cầu tinh
chỉnh đầu mũi ở từng bệnh nhân
riêng biệt.
136

e-bacsy.com
Hình 16: Một bệnh nhân với góc mũi môi nhọn được cải thiện sau khi đặt một mảnh ghép làm
đầy
Loại I (Đường cong tròn)

Ở những bệnh nhân mà sụn
cánh mũi lớn chỉ có một đường cong
tròn, thì chỉ đặt một mảnh ghép
hình khiên cũng có thể làm cho đầu
mũi trông xoay nhiều hơn. Ngoài ra,
một mảnh ghép đệm đầu mũi đơn
độc không thể tạo ra độ nhô đầu
mũi mong đợi hoặc một chỗ chuyển
tiếp rõ của tiểu đơn vị đầu mũi trên.
Cách tinh chỉnh ưa thích của tác
giả với loại đầu mũi này là đặt một
mảnh ghép hình khiên nhiều lớp,
được hỗ trợ bởi một mảnh ghép
chống lưng. Hai hoặc ba lớp mảnh
ghép đệm chồng lên nhau và một
mảnh ghép hình khiên cũng có thể
tạo ra hình dạng đầu mũi mong
muốn ở những bệnh nhân có đầu
mũi loại I này.
Loại II (sụn cánh lớn tạo góc kiểu
1)

Ở bệnh nhân đầu mũi loại II,
một mảnh ghép hình khiên ngắn có
thể tăng độ nhô đầu mũi và tạo ra
một chỗ chuyển tiếp rõ giữa tiểu
đơn vị đầu mũi dưới và tiểu đơn vị
137

e-bacsy.com
Hình 17: Phân loại nhìn nghiêng của đường cong sụn cánh mũi ở người Châu Á. (A) Loại I
(đường cong tròn). (B) Loại II (sụn cánh mũi tạo góc kiểu 1). (C) Loại III (sụn cánh mũi tạo góc
kiểu 2), và (D) Loại IV (giảm sản sụn cánh mũi).
đầu mũi dưới và tiểu đơn vị đầu
mũi trên. Kết hợp 1 mảnh ghép đệm
đầu mũi và 1 mảnh ghép tiểu thùy
cũng có thể tạo ra một hình dạng
đầu mũi lý tưởng
Loại III (Sụn cánh lớn tạo góc kiểu
2)

Ở bệnh nhân đầu mũi loại
III, mảnh ghép đệm đầu mũi hoặc
các mảnh ghép đệm xếp chồng có
thể dễ dàng tạo ra một hình dạng
đầu mũi mong muốn với một chỗ
chuyển tiếp hai mặt.
Loại IV (Sụn cánh lớn giảm sản)

Giải phẫu của loại đầu mũi
này thường liên quan đến một đầu
mũi thiếu độ nhô nghiêm trọng. Sửa
chữa loại đầu mũi này đòi hỏi sửa
chữa phần nền với mảnh ghép kéo
dài vách ngăn giúp tăng đáng kể độ
nhô và sự hỗ trợ cho đầu mũi. Sau
đó, mảnh ghép đầu mũi nhiều lớp
như sử dụng với đầu mũi loại I có
thể sử dụng tiếp theo nếu cần thiết
138

e-bacsy.com
Hình 18: (A) Một bệnh nhân với đường cong của mảnh ghép đầu mũi bị nhìn thấy sau 2 năm
phẫu thuật. (B) Sự nhìn thấy mảnh ghép ở bệnh nhân được cải thiện sau khi phẫu thuật chỉnh
sửa lại
Biến chứng của các kỹ thuật
mảnh ghép đầu mũi

Biến chứng của mảnh ghép
đầu mũi là không phổ biến và nên
được xem xét cẩn thận khi lựa chọn
chiến lược tinh chỉnh đầu mũi cho
từng cá nhân riêng biệt.
Sự mất nhô

Biến chứng này nghĩa là độ
nhô của đầu mũi đạt được ở giai
đoạn sớm sau phẫu thuật mất đi
dần dần theo thời gian do sự hấp
thu của mảnh ghép hoặc sự lỏng
dần đi của các múi chỉ khâu
Nhiễm trùng

Biến chứng này xảy ra khi quá
nhiều mảnh sụn được sử dụng cho
mảnh ghép đầu mũi, hoặc khi sử
dụng sụn sườn dày làm mảnh ghép
đầu mũi. Hơn nữa, việc đóng mép
vết mổ không đầy đủ cũng có thể
khiến bệnh nhân bị nhiễm trùng.
Một nguyên nhân khác có thể là
việc sử dụng một lượng lớn vật liệu
khâu để cố định các mảnh ghép đầu
mũi. Dấu hiệu nhiễm trùng là đỏ và
sưng đầu mũi, hình thành mô hạt
tại mép vết mổ, và chảy mủ. Nhiễm
trùng mảnh ghép đầu mũi thường
139

e-bacsy.com
là một biến chứng sớm và phát sinh
trong vòng 4 tuần sau mổ. Khi vấn
đề này phát sinh, tác giả thường
loại bỏ mảnh ghép đầu mũi qua một
đường rạch nhỏ và tưới rửa vùng
đầu mũi.
Mảnh ghép bị nhìn thấy, bị di động
và bị lệch

Biến chứng này thường xảy
ra khi mảnh ghép đầu mũi được sử
dụng trên những bệnh nhân có da
mỏng, hoặc khi mép sụn của mảnh
ghép không được đẽo gọt một cách
trơn tru (hình 18). Nó có thể được
xử lý bằng cách lấy mảnh ghép qua
một đường rạch nhỏ, nghiền nhẹ
nhàng hoặc cắt thành miếng mảnh
ghép và đặt mảnh ghép sụn trở lại
vào vị trí cũ.
Sự nhô quá mức

Biến chứng này đặc trưng
bởi đầu mũi có độ nhô quá mức so
với mong muốn của bệnh nhân. Nó
thường xảy ra hơn ở những bệnh
nhân có da mỏng nhưng lại thực
hiện mảnh ghép đầu mũi xâm lấn
quá mức. Tác giả thường giải quyết
vấn đề này bằng cách loại bỏ hoặc
tỉa bớt một phần mảnh ghép đầu
mũi thông qua đường rạch mép.
Tài liệu tham khảo
1. Rich JS, Friedman WH, Pearl­
man SJ. The effects of lower lateral
cartilage excision on nasal tip pro­
jection. Arch Otolaryngol Head
Neck Surg 1991; 117(1):56–9.
2. Yu MS, Jang YJ. Modified vertical
dome division technique for rhino­
plasty in Asian patients. Laryngo-
scope 2010;120(4):668–72.
3. Behmand RA, Ghavami A,
Guyuron B. Nasal tip sutures part
I: the evolution. Plast Reconstr
Surg 2003; 112(4):1125–9 [discus­
sion: 1146–9].
4. Gunter JP, Landecker A, Co­
chran CS. Frequently used grafts
in
rhinoplasty:
nomenclature
and analysis. Plast Reconstr Surg
2006;118(1):14e–29e.
5. Jang YJ, Yu MS. Rhinoplasty for
the Asian nose. Facial Plast Surg
2010;26(2):93–101.
6. Cho GS, Kim JH, Yeo NK, et al. Na­
sal skin thickness measured using
computed tomography and its
effect on tip surgery outcomes.
Otolaryngol Head
Neck Surg 2011;144(4):522–7.
7. Rohrich RJ, Adams WP Jr. The
boxy nasal tip: clas- sification and
management based on alar carti­
lage suturing techniques. Plast
Reconstr Surg 2001; 107(7):1849–
63 [discussion: 1864–8].
8. Gruber RP, Friedman GD. Suture
algorithm for the broad or bulbous
nasal tip. Plast Reconstr Surg
2002;110(7):1752–64 [discussion:
1765–8].
9. Kim JS, Khan NA, Song HM,
et al. Intra- operative measure­
ments of harvestable septal car­
tilage in rhinoplasty. Ann Plast
Surg 2010; 65(6):519–23.
140

e-bacsy.com
10. Kim JH, Jang YJ. Use of diced
conchal cartilage with perichondri­
al attachment in rhinoplasty. Plast
Reconstr Surg 2015;135(6):1545–
53.
11. Lan MY, Park JP, Jang YJ.
Donor site morbidities resulting
from conchal cartilage har- vesting
in rhinoplasty. J Laryngol Otol
2017;131(6):529–33.
12. Jang YJ, Yi JS. Perspectives in
Asian rhinoplasty. Facial Plast Surg
2014;30(2):123–30.
13. Lan MY, Jang YJ. Revision rhi­
noplasty for short noses in the
Asian population. JAMA Facial
Plast Surg 2015;17(5):325–32.
14. Moon BJ, Lee HJ, Jang YJ. Out­
comes following rhi- noplasty using
autologous costal cartilage. Arch
Facial Plast Surg 2012;14(3):175–
80.
15. Pastorek NJ, Bustillo A, Mur­
phy MR, et al. The extended col­
umellar strut-tip graft. Arch Facial
Plast Surg 2005;7(3):176–84.
16. Jang YJ, Min JY, Lau BC. A mul­
tilayer cartilaginous tip-grafting
technique for improved nasal tip
refine- ment in Asian rhinoplas­
ty. Otolaryngol Head Neck Surg
2011;145(2):217–22.
17. Jang YJ, Hong HR. Augmen­
tation shield grafts. JAMA Facial
Plast Surg 2015;17(4):301–2.
18. Ilhan AE, Saribas B, Caypinar B.
Aesthetic and func- tional results of
lateral crural repositioning. JAMA
Facial Plast Surg 2015;17(4):286–
92.
19. Daniel RK. The nasal tip: anat­
omy and aesthetics. Plast Reconstr
Surg 1992;89(2):216–24.
20. Jang YJ, Kim DY. Treatment
strategy for revision rhi- noplas­
ty in Asians. Facial Plast Surg
2016;32(6):
615–9.
141

e-bacsy.com
Chương 9
Sửa mũi gồ ở người châu Á
Tae-Bin Won, MD, PhD
Từ khóa
• Tạo hình mũi • Tạo hình mũi người • Mũi gồ • Nâng sống mũi
• Phẫu thuật đầu mũi
MỤC TIÊU
• Đặc điểm chung của mũi gồ người châu Á là kích thước nhỏ, gốc mũi
thấp/thấp và đầu mũi bị thiếu.
• Chiến lược xử lý nên tập trung vào việc đạt được mũi lý tưởng và loại bỏ
chỗ gồ ở mũi.
• Số lượng cắt bở gồ dựa trên số lượng dự đoán của phần sống mũi và độ
nhô đầu mũi.
• Nâng gốc mũi và đầu mũi thì sẽ giảm bớt hoặc làm mất gồ.
• Trong các kỹ thuật khác nhau cho mũi gồ, cắt gồ bảo tồn xương và/hoặc
sụn, sau đó là nâng gốc mũi và/ hoặc sống mũi là phương pháp được sử
dụng phổ biến nhất trong mũi gồ người châu Á.
Giới thiệu

Phẫu thuật mũi gồ thường
được coi là một phẫu thuật thu nhỏ
mũi trong hầu hết các giáo trình
cơ bản nâng mũi của phương Tây
và để giảm kích thước mũi. Mặc dù
có trường hợp ngoại lệ, nhưng hầu
hết mũi người châu Á là gồ nhỏ, và
thường liên quan đến một mũi thấp
và phần dưới của mũi. Do đó, sửa
mũi gồ ở người châu Á có sự khác
biệt rõ rệt về khái niệm và kỹ thuật.

Xử lí mũi gồ nhỏ bằng cách
nâng sống mũi và đầu mũi sẽ giảm
độ gồ hoặc đôi khi làm giảm chỗ gồ
đó. Do đó, nghĩa bóng của tạo hình
mũi là chỉ giảm chỗ gồ cho thích
hợp với mũi gồ người châu Á. Trong
bài viết này, các đặc điểm của mũi
gồ người châu Á được đề cập với
sự nhấn mạnh vào kỹ thuật phẫu
thuật thường được sử dụng để có
được kết quả đáng tin cậy.
Giải phẫu liên quan và ứng
dụng lâm sàng

Độ dày của da sống mũi thay
đổi trên từng vùng sống mũi. Dày
nhất là ở gốc mũi và mỏng nhất là
ở khớp gian mũi (Hình 1), dẫn đến
vùng khớp gian mũi lồi nhẹ. Ứng
dụng lâm sàng liên quan đến đặc
điểm giải phẫu này bao gồm là khi
142

e-bacsy.com
cắt nâng chỗ cong của màng xương
ở khớp gian mũi hay mũi gồ và để
tránh cắt vào vùng gốc mũi gây lâu
hồi phục.

Cấu tạo khớp gian mũi của
phần vòm xương sụn cũng là một
khía cạnh quan trọng phải hiểu khi
xử lí giảm gồ. Có sự chồng chéo của
xương mũi ở trên với vách ngăn và
sụn cánh mũi trên. Theo một ng­
hiên cứu về giải phẫu trên xác ở
Hàn Quốc, độ dày tổ chức phủ lên
mũi từ đầu mũi đến gốc mũi trung
bình 7.6 mm. Ở người châu Á, chỉ
cần lấy bỏ một ít xương gồ dư ra thì
có thể xử lí giảm gồ cho đến khi nó
lộ ra sụn bên dưới. Trong trường
hợp có gồ lớn hơn, cần phải cắt bỏ
sụn vách ngăn bên dưới sau khi
cắt xương gồ. Không giải quyết vấn
đề này có thể dẫn đến không hoàn
thiện.

Hình dạng của sụn vách ngăn
có liên quan với với sụn cánh mũi
trên (ULC), khi nó phát triển chỗ
nối sụn xương. Hình dạng theo
thứ tự là hình chữ T->Y->I. Cắt bỏ
vách ngăn để giảm gồ có thể ảnh
hưởng đến giải phẫu tự nhiên. Duy
trì độ dày tự nhiên của vách ngăn
sẽ phòng ngừa các biến chứng về
thẩm mỹ và chức năng, chẳng hạn
như biến dạng V đảo ngược, lật úp
và tắc nghẽn mũi.
Chuẩn bị trước phẫu thuật

Xác định chính xác từng mũi
gồ là chìa khóa trong kế hoạch trước
phẫu thuật, đó là mục tiêu của
quy trình. Đầu tiên, xác định mức
độ và chiều cao của gốc mũi, đó là
điểm bắt đầu của mũi. Sự khác biệt
về điểm xuất phát giữa các chủng
tộc khác nhau đã được đề cập. Từ
xưa đến nay, nơi bắt đầu của gốc
mũi ở người da trắng là nếp mí trên
sụn mi, và người châu Á là ngang
giữa đồng tử. Tuy nhiên, hiện nay có
tác giả cho là điểm bắt đầu gốc mũi
nằm cao hơn. Có tác giả thích điểm
bắt đầu ở người châu Á là điểm
giữa đồng với bờ trên sụn mi. Bước
tiếp theo là xác định tư thế đầu mũi
mong muốn, được quyết định bằng
độ nhô và xoay đầu mũi. Nên vẽ
đường giữa từ gốc mũi đến đầu mũi
mong muốn. Bất kỳ điểm gồ lên nào
trên vùng sống mũi, chẳng hạn như
gồ, là cần điều chỉnh cho lõm xuống
(Hình 2).

Các vấn đề khác cần xem xét
gồm: độ dày của da, đặc điểm của
gồ, độ lệch của mũi và chiều dài của
xương mũi. Các đặc điểm của mũi
gồ được nhìn và sờ nắn cẩn thận. Gồ
có thể bị toàn mũi hay 1 vị trí. Thậm
chí lúc mổ mới nhận ra đó là mũi
gồ. Gồ toàn bộ thường gồ cả thành
phần xương và sụn, trong khi gồ 1
vị trí là do xương mũi và/hoặc sụn
mũi trên. Gồ giả là hiện tượng sống
mũi nhô cao ở vùng khớp gian mũi,
giống như mũi gồ, do gốc mũi sâu
và/hoặc vòm mũi vùng gần đầu mũi
bị ép xuống (Hình 3). Kế hoạch đề
ra trong tình huống này là tập trung
vào việc khôi phục, nâng đỡ và tăng
cường thêm thay vì cắt bỏ
143

e-bacsy.com
Chúng tôi thường rất cẩn thận
khi đánh giá bệnh nhân mũi gồ. Tuy
nhiên, khi nhìn thẳng thì cải thiện về
thẩm mỹ khả quan hơn ở bệnh nhân
mũi gồ. Những đặc tính mũi gồ khi
nhìn thẳng gồm: thẩm mỹ đường
chân mày không tự nhiên, phản xạ
ánh sáng ở vùng gồ và da mỏng với
tình trạng giãn mạch hoặc đổi màu
thường xuyên. Có được một đường
nét thẩm mỹ đầu mũi tự nhiên ở
góc nhìn thẳng cũng rất quan trọng
như khi nhìn nghiêng.
Chiến lược xử lý

Chiến lược xử lý trên từng
bệnh nhân riêng và bố trí lại. Hai
vấn đề phổ biến nhất thể hiện trong
hình 4. Đầu tiên là không xử lí gồ và
nâng gốc và đầu mũi, và thứ hai là
cắt bỏ gồ bảo tồn, sau đó nâng sống
mũi và đầu mũi.
Kỹ thuật phẫu thuật
Quy trình mổ: mổ hở và mổ kín

Chọn lựa phương pháp, mổ
kín nội soi hoặc mổ hở, là thường
được quyết định bởi sự ưu tiên của
phẫu thuật viên và đồng thời với
nâng sống và đầu mũi. Tác giả sử
dụng phương pháp nội soi cho gồ
cục bộ không nâng sống mũi (tức
là ghép mảnh) và chỉ cần thao tác
nhỏ ở đầu mũi. Rạch da một bên
hoặc hai bên hoặc kết hợp với vết
cắt một phần hoặc vết cắt nhỏ được
ưu tiên để xâm nhập vào phần sống
mũi và một vết rạch riêng cho đầu
mũi.
Hình 1. Độ dày của da sống mũi. Dày nhất
trong vùng gốc mũi và mỏng nhất ở khớp
gian mũi, dẫn đến lồi nhẹ tự nhiên ở vùng
khớp gian mũi.
Hình 2. Mũi lý tưởng ở người châu Á. Điểm
bắt đầu lý tưởng của mũi hoặc gốc mũi là
điểm giữa nếp mí trên sụn mi và đồng tử.
144

e-bacsy.com

Kỹ thuật mổ hở thích hợp
trong các trường hợp gồ toàn bộ mà
cần cắt bỏ sụn vách ngăn; kèm theo
có dị tật mũi, chẳng hạn như không
đối xứng hoặc lệch; và những người
cần thay đổi lớn ở đầu mũi. Mặc dù
các thao tác này được thực hiện theo
phương pháp nội soi, nhưng các tác
giả thích mổ hở vì được nhìn trực
tiếp tốt hơn và thoải mái hơn để
thao tác tốt và bảo đảm mảnh ghép,
đảm bảo cố định tốt và đáng tin cậy
hơn. Hạn chế duy nhất của phương
pháp mổ hở là thấy sẹo ở trụ mũi,
nhưng có thể giảm sẹo bằng các kỹ
thuật đóng vết thương cơ bản.
Bóc tách và lấy sụn vách ngăn

Bất kể quy trình nào, nâng
các tổ chức mô mềm trong một mặt
phẳng là trên màng sụn và dưới
màng xương. Tiếp cận góc vách
ngăn phía trước, và nhìn thấy toàn
bộ phần mũi.

Khi sụn vách ngăn di lệch
nhiều hoặc cần thiết lấy sụn, để lại
10 mm sụn sống mũi và đỉnh mũi
sau đó tạo hình vách ngăn. Tuy
nhiên, thực hiện kế hoạch cắt bỏ
gồ, lấy sụn và tạo hình vách ngăn
sau đó phẫu thuật cắt gồ để tránh
sự mất ổn định của vùng khớp gian
mũi.
Trình tự phẫu thuật và Tạo hình
đầu mũi

Trước khi nâng sống mũi,
thường phẫu thuật đầu mũi.
Khoảng 90% hình dạng đầu mũi
nhọn mong muốn (bao gồm cả độ
nhô, xoay và độ tinh tế) được thực
hiện. Nâng sống mũi xong phải sờ
nắn đầu mũi. Tác giả thích trình tự
này vì nó thường giảm thiểu hoặc
tránh giảm phần sống mũi. Chúng
ta thường xuyên gặp vị trí cần nâng
ở sống mũi sau khi đã nâng vẫn còn
thấp và không như ý. Tóm lại, với
bệnh nhân người châu Á điển hình
có khung nâng đỡ đầu mũi, độ nhô
và xoay yếu thì thường phải kiểm
soát theo hai bước. Bước đầu tiên
là ổn định đầu mũi. Bước này là
bước quan trọng nhất và tiền đề
để tạo hình đầu mũi ở người châu
Á. Mục tiêu là để tạo một nền vững
Hình 3. Giả gồ. Nhìn thấy sống mũi lồi lên ở
một bệnh nhân có vòm dưới gần đầu mũi bị
ép xuống trông giống như một cái mũi gồ.
145

e-bacsy.com
Hình 4. Chiến lược xử lý phổ biến của mũi gồ ở người châu Á. (A) Không xử lí chỗ gồ và chỉ
nâng gốc và đầu mũi. (B) Cắt bỏ gồ bảo tồn và sau đó là nâng sống mũi và đầu mũi.
chắc và ghép thêm mảnh ghép trên
nó. Ổn định đầu mũi đạt được
bằng thanh chống trụ mũi hoặc
ghép mở rộng vách ngăn. Trong
số đó, cho đến nay, ghép mở rộng
vách ngăn là cách tạo lực đáng tin
cậy ở những bệnh nhân có khung
nâng đầu mũi yếu và/hoặc cần tạo
độ nhô đáng kể ở đầu mũi. Nó có
thể tạo độ nhô và đồng thời kiểm
soát độ xoay đầu mũi. Bước thứ hai
là điêu khắc tốt chóp mũi. Điều
này được thực hiện bằng cách
kết hợp nhiều loại hình ghép để có
được kết quả mong muốn (Hình
5). Ghép độn onlay, chẳng hạn như
ghép chóp hoặc ghép phủ là chính.
Giảm mũi gồ toàn bộ ở người
châu Á

Nhiều kỹ thuật cắt bỏ mũi gồ
đã được đề xuất. Tác giả sử dụng
hai loại phương pháp cắt bỏ tùy
thuộc vào đặc điểm và kích thước
của mũi gồ. Cắt gồ toàn bộ
đối với gồ lớn và toàn bộ. Việc cắt
bỏ theo truyền thống hoặc cắt ghép
lại để loại bỏ toàn bộ chỗ xương
–sụn gồ với ULC thì hiếm khi được
thực hiện. Trong phẫu thuật cắt
gồ xương-sụn, các thành phần gồ
được giảm từng cái một, cho phép
thao tác và bảo tồn chính xác
niêm mạc mũi và sụn mũi trên.
Các sụn mũi trên đầu tiên được
tách ra khỏi sụn vách ngăn trước
khi giảm gồ. Vách ngăn sống mũi
giảm, sau đó là loại bỏ gồ xương
(Hình 6). Cuối cùng, sụn mũi trên
được cắt tỉa riêng, đặt phía trên
vách ngăn hoặc sử dụng làm mảnh
ghép tự thân hoặc vạt sụn (Hình
7). Thực hiện ổn định và tái tạo lại
vùng giữa vòm mũi với các mảnh
ghép. Định vị mảnh ghép tốt hai bên
ở những bệnh nhân bị cắt bỏ vách
ngăn nhiều ở vùng khớp gian sụn
(Hình 8).

Những lý do để thực hiện
ghép mảnh ghép sau khi cắt gồ
146

e-bacsy.com
được tóm tắt trong Hộp 1. Thật
không may, không có nghiên cứu
nào cho thấy số lượng sụn cần cắt
bỏ và nhu cầu ghép, do đó tác giả
khuyến khích sử dụng nó bất cứ khi
nào nghi ngờ.

Sau khi ổn định vòm mũi,
thực hiện cắt xương mũi qua nội soi
hoặc qua da ở những bệnh nhân bị
biến dạng vòm mũi, sống mũi rộng
hoặc lệch mũi có liên quan.
Cắt gồ bảo tồn trong mũi gồ
nhỏ ở người châu Á

Bởi vì mũi gồ nhỏ ở hầu hết
mũi gồ người châu Á và thường đòi
hỏi phải nâng cao thêm lên, cắt tỉa
một ít phần xương đơn giản của
phần vách ngăn mũi thường là đủ
để đạt được độ phẳng sau khi nâng
sống mũi.

Sử dụng cái đục xương thẳng
nhỏ thay vì một Rubin lớn bằng
Hình 5. Phẫu thuật đầu mũi. Các bước trong tạo hình đầu mũi người châu Á với khung nâng đầu
mũi kém. Ghép mở rộng vách ngăn để hỗ trợ đầu mũi (A), sau đó là cắt tỉa các mảnh ghép để
ghép độn (onlay) trên đầu mũi (B).
Hộp 1: Mảnh ghép sau khi giảm gồ
• Để hỗ trợ và tăng cường vùng khớp gian mũi( chính yếu) ngăn ngừa biến dạng V đảo
ngược. Điều này đặc biệt quan trọng ở những bệnh nhân có xương mũi ngắn. Xương
mũi ngắn có nghĩa là một kết nối ngắn giữa sụn mũi trên và xương mũi và thường kết
nối này bị phá vỡ sau khi loại bỏ gồ gây ra sụp vòm mũi.
• Để kiểm soát chiều rộng giữa vòm mũi và đạt được đường đầu lông mày thẩm mỹ. Gia
tăng độ dày của vách ngăn ở sống mũi, và cắt bỏ vách ngăn quá mức có thể thu hẹp vòm
mũi.
• Để phòng ngừa tắc nghẽn mũi. Đây là hẹp chức năng của vòm mũi, có thể gây tắc ng­
hẽn mũi vì hẹp van bên trong.
• Để sửa lệch mũi hoặc không đối xứng của vòm mũi, nếu có.
147

hacklink satın al mumu模拟器 雷电模拟器 向日葵 giftcardmall/mygift giftcardmall balance mygift giftcardmall matbet matbet giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Betgaranti Betgaranti Güncel Adres Betgaranti Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Fim İzle Fim İzle Giriş Fim İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Fim İzle Fim İzle Güncel Adres Fim İzle jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Giriş Casibom Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Jojobet Jojobet Giriş Jojobet Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Deneme Bonusu Film İzle Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Türkçe Dublaj Film İzle Film İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi perabet perabet giriş holiganbet holiganbet giriş Casibom Lesfillmercom Casibom Lesfillmercom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Gerbergirlcom Casibom Gerbergirlcom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Spcelectriccontrolcom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş marsbahis marsbahis giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş matbet matbet giriş matbet güncel giriş vaycasino vaycasino güncel giriş vaycasino giriş matbet matbet giriş pusulabet pusulabet giriş pusulabet pusulabet güncel giriş pusulabet giriş matbet matbet güncel giriş matbet giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Resmi Adres pusulabet pusulabet giriş pusulabet güncel giriş Fixbet Fixbet Güncel Giriş Salvobet Salvobet Giriş Salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Turk Porno Turk Porno Giriş Turk Porno casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi casibom casibom jojobet izmir escort izmir buca escort buca escort jojobet casibom holiganbet holiganbet giriş jojobet holiganbet holiganbet giriş jojobet jojobet jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş izmir escort izmir buca escort buca escort izmir escort bayan salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Giriş Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Deneme Bonusu Veren Giriş Deneme Bonusu Veren salvobet salvobet salvobet salvobet Casibom betgaranti betgaranti betgaranti matbet matbet giriş matbet matbet giriş Casibom Casibom Salvobet jojobet Salvobet Salvobet Salvobet Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Güncel Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis bahsegel Fixbet Fixbet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş 1xbet 1xbet Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Listesi Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler grandpashabet grandpashabet grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler vaycasino vaycasino giriş jojobet grandpashabet casibom Casibom Casibom Giriş casibom www.giftcards.com Marsbahis grandpashabet jojobet jojobet grandpashabet casibom jojobet Casibom Casibom Casibom Casibom Casibom Grandpashabet Grandpashabet Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Marsbahis Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres grandpashabet grandpashabet giriş Casibom Fixbet Fixbet Giriş Casibom Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Holiganbet Holiganbet Güncel Adres Nevşehir escort Kapadokya escort Nevşehir escort bayan nevşehir eskort escort nevşehir Casibom Casibom Giriş Adresi Kapadokya esc Casibom Casibom Resmi Adres Matbet Matbet Matbet Güncel Adres Pusulabet Pusulabet Giriş Adresi imajbet giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Trabzon escort escort trabzon Trabzon escort bayan Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler