PT-tao-hinh-mui-nguoi-chau-A-Full-dauxacnhan2

20/11/2025 • by Bs CKI Phẫu thuật tạo hình, tái tạo và thẩm mỹ Trương Hoài Anh • filler
Bìa sách Phẫu Thuật Tạo Hình Mũi Người Châu Á của Yong Ju Jang

Giới thiệu về tài liệu Phẫu Thuật Tạo Hình Mũi Người Châu Á

Cuốn sách Phẫu thuật tạo hình mũi người châu Á (Rhinoplasty for the Asian Nose) là một trong những tài liệu nền tảng và quan trọng nhất dành cho các bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ đang hành nghề tại khu vực Á Đông. Được chủ biên bởi Yong Ju Jang, MD, PhD – một chuyên gia hàng đầu về phẫu thuật mũi, cuốn sách đi sâu vào những đặc thù giải phẫu và kỹ thuật xử lý riêng biệt cho chiếc mũi người châu Á, vốn có nhiều điểm khác biệt so với mũi người da trắng (Caucasian).

Đây là bản biên dịch tiếng Việt chi tiết, giúp các bác sĩ dễ dàng tiếp cận các kiến thức cập nhật, từ các phương pháp nâng mũi cơ bản đến các kỹ thuật phức tạp như sửa mũi hỏng, mũi ngắn hay xử lý biến chứng.

Nội dung nổi bật và các chủ đề chính

Cuốn sách bao gồm 12 chương, bao quát toàn diện các khía cạnh của phẫu thuật mũi hiện đại:

  • Giải phẫu học đặc thù: Phân tích sâu về cấu trúc sụn yếu, da dày và đặc điểm mô mềm của mũi người châu Á (Chương 1).
  • Các phương pháp nâng sống mũi: So sánh và hướng dẫn kỹ thuật sử dụng Silicone (Chương 3), các vật liệu tự thân như trung bì mỡ, sụn sườn, sụn cắt nhỏ (Chương 4) và các mô tương đồng như ADM, cân cơ (Chương 5).
  • Kỹ thuật tạo hình đầu mũi: Hướng dẫn chi tiết về ghép mở rộng vách ngăn (SEG) – chìa khóa vàng trong nâng mũi châu Á (Chương 7), và các kỹ thuật ghép sụn đầu mũi đa lớp (Chương 8).
  • Xử lý các ca khó: Các chương chuyên sâu về sửa mũi gồ (Chương 9), thu gọn cánh mũi (Chương 10) và đặc biệt là kỹ thuật kéo dài mũi ngắn, mũi hếch (Chương 11).
  • Các phương pháp không phẫu thuật: Cập nhật về kỹ thuật nâng mũi bằng Filler an toàn và hiệu quả (Chương 6).

Tài liệu này không chỉ cung cấp lý thuyết mà còn đi kèm với các hình ảnh minh họa phẫu thuật thực tế, giúp bác sĩ hình dung rõ ràng các bước thực hiện để đạt được kết quả thẩm mỹ tối ưu và an toàn nhất cho bệnh nhân.

Trang: / 210
Trang 1 Trang 2 Trang 3
📖 Xem bản dịch / Nội dung văn bản

e-bacsy.com
dụng cụ với dụng dịch sát khuẩn.
Chất liệu cấy được ngâm trong dung
dịch khử trùng giữa các giai đoạn
phẫu thuật. Và điều rất quan trọng
là phải ngăn chặn sự phá vỡ của các
rào cản tự nhiên - như là lớp màng
niêm mạc - trong quá trình phẫu
thuật. Thủ thuật đục xương không
phải là một chống chỉ định tuyệt
đối cho nâng mũi bằng silicone;
tuy nhiên, phẫu thuật viên nên rất
cẩn thận để hạn chế rách niêm mạc
trong thủ thuật đục xương hoặc đục
mũi gồ.

Thời gian phẫu thuật kéo dài
liên quan với sự giảm dòng máu đến
mô mềm và làm tăng nguy cơ nhiễm
trùng; bởi vậy, phẫu thuật viên nên
cố gắng giảm thời gian phẫu thuật
càng ít càng tốt.
Lộ chất liệu

Báo cáo tỉ lệ lộ chất liệu của
silicone thay đổi từ 0,48% ->50%,
có thể do sự khác biệt về kỹ thuật
phẫu thuật, hình dạng của chất liệu,
và mức độ kinh nghiệm của phẫu
thuật viên.

Nói chung, có 2 nguồn gốc
của vấn đề này. Thiết kế chất liệu
ghép kém và dài quá mức, và nhiễm
trùng. Một chất liệu cấy dài quá
mức có thể lộ ra thông qua da đầu
mũi hoặc trong khoang mũi. Một
chất liệu được thiết kế kém, là nằm
không ổn định trong góc mũi trán
hoặc trong khoang dưới màng
xương, có thể sẽ di chuyển hướng
về đầu xa, làm tăng khả năng lộ chất
liệu sau đó.

Áp lực quá mức gây bởi thanh
silicone hình chữ L trên đầu mũi
liên quan với nguy cơ cao lộ chất
liệu.

Lộ chất liệu thường gây ra bởi
nhiễm trùng. Một chất liệu có thể bị
lộ ra thông qua mô mềm bị viêm và
bị ngâm trong mủ với các mức độ
khác nhau. Thỉnh thoảng, nhiễm
trùng là ít rõ ràng với chỉ có mô hạt
tối thiểu xung quanh chất liệu cấy.
Trong những trường hợp này, phẫu
thuật viên nên nhận biết về khả
năng bị nhiễm trùng.
Bao xơ co rút

Hình thành bao xơ là một
phản ứng tự nhiên của cơ thể với
chất liệu silicone. Bao xơ bảo vệ
da và mô mềm xung quanh cách ly
với chất liệu. Tuy nhiên, có một vài
trường hợp bị co rút bao xơ rất ng­
hiêm trọng.

Nhiễm trùng là nguyên nhân
được biết đến hàng đầu gây co rút
bao xơ nghiêm trọng. Bao xơ co rút
nghiêm trọng thường xảy ra sau
một nhiễm trùng rõ ràng hoặc sau
khi loại bỏ chất liệu bị nhiễm trùng.

Có nhiều nghiên cứu lâm
sàng chứng minh sự liên quan giữa
sự hiện diện của màng sinh học/sự
chiếm cứ của vi khuẩn và bao xơ co
rút trong chất liệu túi ngực.

Bao xơ dày bất thường sẽ
gây co rút ở các mức độ khác nhau,
tương quan với nhiều yếu tố khác
nhau tương tự như nhiễm trùng và
48

e-bacsy.com
màng sinh học, chẳng hạn như sili­
cone không thể cấy ghép hoặc loại
silicone ở cấp độ phi y học, tổn
thương mô mềm quá mức do kỹ
thuật xâm lấn nhiều, và quá trình
viêm mãn tính hoặc sự kích thích
bởi những di động rất nhỏ của chất
liệu cấy.

Bao xơ co rút là vấn đề thường
gặp trong cấy ghép chất liệu ở ngực.
Thông thường, bao xơ co rút ng­
hiêm trọng của chất liệu cấy ở ngực
được giảm bớt bằng cách tưới rửa
kháng sinh, thuốc chống đông máu
và loại bỏ các yếu tố làm trầm trọng
vấn đề này, như là tổn thương mô
mềm và chảy máu trong quá trình
phẫu thuật. Những biện pháp và kỹ
thuật phòng ngừa này có thể được
áp dụng cho chất liệu cấy ghép ở
mũi
Các biến chứng nhỏ

Có một vài biến chứng ít ng­
hiêm trọng, như là vôi hóa, lệch chất
liệu, chất liệu cấy di động được, và
sự dịch chuyển khỏi vị trí ban đầu
của chất liệu.

Vôi hóa phổ biến trong cấy
ghép với chất liệu silicone hơn là
chất liệu xốp. Nó thường gặp hơn
với những chất liệu nằm trong cơ
thể thời gian dài và tình trạng có thể
xấu hơn với thời gian. Tuy nhiên, nó
cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố về
kỹ thuật, như là kích thích cơ học
mạn tính của mô mềm bởi chất liệu
cấy ghép được thiết kế kém có thể
di động và những sang chấn mô
mềm xung quanh trong quá trình
phẫu thuật. Sử dụng những chất
liệu cấy mềm hơn, giảm khả năng
di động của chất liệu, và giảm tổn
thương mô mềm trong lúc phẫu
thuật có thể làm giảm sự vôi hóa.

Các vấn đề về lệch chất liệu,
chất liệu có thể di động, và sự dịch
chuyển khỏi vị trí ban đầu của chất
liệu có thể tránh được bằng cách
thiết kế chất liệu cấy phù hợp hơn,
tạo khoang sống mũi thích hợp, cố
định chất liệu và đặt nẹp mũi sau
phẫu thuật. Đặt chất liệu một cách
cẩn thận trong khoang dưới màng
xương được tạo ra phù hợp chứ
không phải là khoang dưới cân hay
dưới da giúp giảm khả năng di động
của chất liệu và có thể giảm nguy cơ
chất liệu bị dịch chuyển khỏi vị trí
ban đầu.
Tóm tắt

Tỷ lệ biến chứng trong cấy
ghép chất liệu silicone là khác nhau
đáng kể, tùy thuộc vào kinh nghiệm
của phẫu thuật viên, kỹ thuật phẫu
thuật, và sự thiết kế chất liệu. Những
biến chứng nghiêm trọng như là lộ
chất liệu và nhiễm trùng là hiếm
gặp, và chúng thường liên quan
nhiều đến kỹ thuật bị lỗi hơn là đặc
điểm vốn có của chất liệu. Chất liệu
silicone có thể sử dụng an toàn cho
nâng sống mũi nếu sự phòng ngừa
được thực hiện theo những nguyên
tắc cẩn thận trong bài viết này.
Ngược lại với sống mũi, với việc
49

e-bacsy.com
nâng đầu mũi thì chất liệu tự thân
vẫn được ưa thích hơn.

Bởi vì mức độ cần nâng của
đầu mũi thường là tương đối nhiều
ở người châu Á, những mảnh ghép
đệm xếp chồng kết hợp với mảnh
ghép kéo dài vách ngăn là được sử
dụng cho nâng đầu mũi. Mảnh ghép
dạng đôi cách cũng rất cần thiết để
ngăn ngừa khả năng bị nhìn thấy
của mảnh ghép và biến dạng giống
cái kẹp của đầu mũi khi sử dụng
mảnh ghép đệm nhiều lớp.
Tài liệu tham khảo
1. McCurdy JA. The Asian nose:
augmentation rhino- plasty with
L-shaped silicone implants. Facial
Plast Surg
2002;18(4):245–52.
2. Genther DJ, Papel ID. Surgical na­
sal implants:
indications and risks. Facial Plast
Surg 2016;32:488–99.
3. Perez-Ko¨ hler B, Bayon Y, Bel­
lon JM. Mesh infection and her­
nia repair: a review. Surg Infect
(Larchmt) 2016;20(10):1–14.
4. Ferril GR, Wudel JM, Winkler
AA. Management of complica­
tions from alloplastic implants
in rhino- plasty. Facial Plast Surg
2013;4(21):372–8.
5. Colas A, Curtis J. Medical applica­
tions of silicones.
Biomaterials science. 2nd edi­
tion. New York: Elsevier Inc;
2004. p. 697–707.
6. Erlich MA, Parhiscar A. Nasal
dorsal augmentation with silicone
implants. Facial Plast Surg 2003;19:
325–30.
7. McCurdy JA, Lam SM. Cosmetic
surgery of the Asian face. London:
Thieme Medical Publishers; 2005.
8. Peled ZM, Warren AG, Johnston
P, et al. The use of alloplastic ma­
terials in rhinoplasty surgery: a
meta- analysis. Plast Reconstr Surg
2008;121(3): 85e–92e.
9. Lam SM, Kim YK. Augmenta­
tion rhinoplasty of the Asian nose
with the “bird” silicone implant.
Ann Plast Surg 2003;51:249–56.
10. Tham C, Lai YL, Weng CJ, et al.
Silicone augmentation rhinoplasty
in an Oriental population. Ann Plast
Surg
2005;54:1–5.
11. Ahn J, Horando C, Horn C. Com­
bined silicone and cartilage im­
plants: augmentation rhinoplasty
in Asian patients. Arch Facial Plast
Surg 2004;6(2):
120–3.
12. Jang YJ, Hong HR. Augmenta­
tion shield grafts.
JAMA
Facial
Plast

Surg
2015;17(4):301–2.
13. Tamboto H, Vickery K, Sc MV, et
al. Subclinical (bio- film) infection
causes capsular contracture in a
pro- cine model following augmen­
tation mammoplasty. Plast Recon­
str Surg 2010;126:835–42.
14. Mohan K, Cox JA, Dickey RM, et
al. Treatment of infected facial
50

e-bacsy.com
implants. Semin Plast Surg
2016;30:78–82.
15. Walker TJ, Toriumi DM. Anal­
ysis of facial implants for bacterial
biofilm formation using scanning
electron microscopy. JAMA Facial
Plast Surg 2016;18(4):299–304.
16. Lee MR, Unger JG, Rohrich
RJ. Management of the nasal dor­
sum in rhinoplasty: a systemic re­
view of the literature regarding
technique, outcomes, and com-
plications. Plast Reconstr Surg
2011;128:538e–50e.
17. Loyo M, Ishii LE. Safety of
alloplastic materials in rhi- no­
plasty. JAMA Facial Plast Surg
2013;15:162–3.
18. Ajdic D, Zoghbi Y, Gerth D, et al.
The relationship of bacterial bio­
films and capsular contracture
in breast implants. Aesthet Surg J
2016;36(3):297–309.
19. Jung DH, Kim BR, Rho YS, et al.
Gross and patho- logic analysis of
long-term silicone implants insert­
ed into the human body for aug­
mentation rhinoplasty:
221 revision cases. Plast Reconstr
Surg 2007;120:1997–2003.
51

e-bacsy.com

Không giống như các nước
phương Tây, chất liệu được sử dụng
phổ biến nhất để độn sống mũi ở các
nước châu Á vẫn là ghép chất liệu.
Lý do là ghép chất liệu không chỉ tạo
ra một hình dạng sống mũi đẹp hơn
và thon gọn hơn, mà còn thời gian
mổ ngắn hơn mà không có phẫu
thuật lấy tổ chức ghép trên cùng cơ
thể. Tuy nhiên, nâng mũi bằng cách
sử dụng tổ chức tự thân vẫn là mục
tiêu cuối cùng của các bác sĩ phẫu
thuật nâng mũi thẩm mỹ, bởi vì tổ
chức tự thân ít có khả năng gây ra
các biến chứng liên quan đến cấy
ghép như nhiễm trùng, mỏng da và
đỏ da hoặc bao xơ, hay trồi chất
liệu ra đỉnh mũi hoặc tiền đình mũi.
Các tổ chức tự thân được sử dụng
để nâng sống mũi phần lớn ở người
châu Á chủ yếu là da mỡ, khối sụn
sườn rắn và sụn được cắt nhỏ.
Độn sống mũi với da mỡ

Ghép da mỡ là mô tự thân
được sử dụng phổ biến nhất để
nâng sống mũi ở các nước Đông Á.
Đặc biệt, ghép da mỡ có thể được
thực hiện một cách an toàn nhất
cho da sống mũi mỏng sau khi loại
bỏ chất lỏng đã tiêm không đúng
vào vùng sống mũi, mà hay gặp ở
một số nước châu Á.
Chương 4
Độn sống mũi bằng tổ chức tự thân
Từ khóa
• Tạo hình mũi người châu Á • Độn sống mũi • Sụn được cắt nhỏ
• Ghép mỡ nội bì • Cân thái dương • Mảnh ghép sụn sườn
• Gấp mảnh da ghép
MỤC TIÊU
• Các tổ chức tự thân được sử dụng để độn sống mũi chính ở người châu
Á là da mỡ, khối sụn sườn rắn và sụn cắt nhỏ.
• Kỹ thuật mảnh ghép da gấp định hướng theo chiều dọc cung cấp mảnh
ghép có độ nhô cao, giảm thiểu sự tự tiêu và là một kỹ thuật tốt để độn
sống mũi.
• Một khối mảnh ghép sụn sườn rắn cho phép số lượng lớn nhất để độn
sống mũi trong số các tổ chức tự thân , và cho sống mũi thon gọn hơn.
• Việc ghép sụn cắt nhỏ cho thấy ít tự tiêu hơn so với ghép da mỡ và có
thể dễ dàng thực hiện bởi các bác sĩ phẫu thuật mới.
52

e-bacsy.com
Kỹ thuật mổ
Kỹ thuật lấy mảnh ghép

Ở vùng cùng cụt, lớp hạ bì
dày hơn bất kỳ nơi nào khác trong
cơ thể. Ngoài ra, lớp mỡ dưới da
tương đối dày đặc. Những đặc
điểm giải phẫu của mô mềm vùng
cùng cụt tạo ra một nguồn ghép
da mỡ tuyệt vời. Đây cũng là một
trong những khu vực được che
phủ nhiều nhất của cơ thể, và
sẹo không rõ sau phẫu thuật. Một
mảnh ghép được lấy từ 1 bên mông
sát với nếp gấp liên mông. Rìa giữa
của mảnh ghép nằm ở khoảng 2->3
mm bên so với nếp gấp mông
(Hình 1). Mảnh da mỡ sẽ co nhỏ lại
sau khi lấy. Do đó, việc thiết kế
lấy mảnh da mỡ thì kích thước phải
lớn hơn cần thiết mảnh da thực tế
(trừ phần co lại). Với mục đích độn
sống mũi, tác giả đã lấy mảnh da mỡ
dài 60 mm, rộng 10->12 mm và sâu
6->10 mm. Thiết kế điểm thấp nhất
của vết mổ cao hơn hậu môn ít nhất
3cm.

Da được rạch bằng lưỡi số
15 mà không rạch xâu đến lớp mỡ.
Dùng dao số 10 cắt bỏ lớp biểu bì.
Loại bỏ hoàn toàn lớp biểu bì vì nó
có thể dẫn đến u nang biểu bì tại vị
trí ghép. Sau cắt lớp biểu bì xong,
rạch xâu xuống mô dưới da. Khi vết
mổ ở độ sâu thích hợp, nâng toàn
bộ mảnh ghép lên.
Kỹ thuật nâng sống mũi
Không giống như độn silicone,
đặt mảnh ghép da mỡ trong mặt
phẳng trên màng sụn và màng
xương. Đầu trên của silicone
thường được đặt ở độ cao ngang
với đường lông mi trên hoặc nếp mí
trên. Mảnh ghép da mỡ nên được
đặt cao hơn một ít so với điểm này.
Hầu hết bệnh nhân, tác giả cho thấy
điểm giữa nếp mí trên và lông mày
là phù hợp (Hình 2). Vị trí này sẽ
có xu hướng dẫn đến tăng tính tự
nhiên gốc mũi sau khi bị tự tiêu
một phần của mảnh da mỡ. Thông
thường, điểm cuối của mảnh da mỡ
phải chạm đến chóp mũi.

Trước khi độn vào, mảnh da
mỡ nên được cắt tỉa theo chiều rộng
và hình dạng cho thích hợp. Thông
thường, chiều rộng mảnh ghép 10
mm là phù hợp, nhưng điều này nên
được điều chỉnh theo chiều rộng của
từng mũi riêng. Như hình dạng của
thanh silicone, thì mảnh da mỡ nên
được tạo ra với mặt vòm hẹp hơn
mặt sàng (Hình 3). Về định hướng
của mảnh da mỡ, thực tế là đặt mặt
hạ bì lên trên và đặt dưới da xuống
dưới, ý tưởng là lớp hạ bì sâu gần
với da mũi cho phép phát triển tân
mạch và tăng khả năng sống sót của
mảnh ghép. Tác giả nghĩ rằng định
hướng của vị trí da mỡ không ảnh
hưởng đến sự tự tiêu của mảnh
ghép. Ngoài ra, việc đặt mảnh ghép
sao cho lớp mỡ ở trên cùng tạo
điều kiện cho việc định dạng mảnh
ghép dễ dàng hơn. Để cố định, chỉ
khâu kéo phần cuối của mảnh ghép
da mỡ ra giữa lông mày.
53

e-bacsy.com
Hình 1. Lấy mảnh ghép da mỡ. (A) Lấy mảnh ghép từ một bên mông sát với nếp liên mông. (B)
Sau khi rạch da dọc theo đường vẽ, cắt da tạo thành một khối. (C) Lấy lớp hạ bì và lớp mỡ. (D)
Đóng vết thương.
Hình 2. Điểm bắt đầu của mảnh ghép da mỡ xấp xỉ là điểm giữa của nếp mí và lông mày.
54

e-bacsy.com
Hình 3. Cắt tỉa mảnh ghép da mỡ. (A) cắt phần mỡ của mảnh ghép. (B) Hình dạng của mảnh
ghép gần giống với hình dạng của mảnh ghép dị loại, mặt vòm hẹp hơn mặt sàng.

Phần cuối của mảnh ghép
được cố định vào góc vách ngăn
hoặc vòm của cánh mũi ngoài dưới
bằng chỉ khâu poly-dioxanone 5-0
(Hình 4). Cắt chỉ khâu một tuần
sau khi phẫu thuật.

Mảnh ghép da mỡ có thể
bị tự tiêu một phần đến 18 tháng
sau khi phẫu thuật. Tốc độ tự tiêu
tăng theo lượng mô mỡ. Một số
tác giả đã báo cáo tỷ lệ tự tiêu lên
tới 70%. Các tác giả khác báo cáo
rằng nên làm tăng hơn 25%->30%
là đủ, nhưng tỷ lệ tự tiêu khoảng
40%->60% hoặc cao hơn thường
được coi là trung bình. Vì vậy, làm
to hơn cần được thực hiện khi xem
xét tỷ lệ tự tiêu. Bác sĩ phẫu thuật
cũng phải xem xét tâm lý không
thoải mái của bệnh nhân về chiều
cao và hình dạng không tự nhiên,
thứ phát do quá to, trong giai đoạn
đầu sau mổ. Do đó, làm to hơn từ
30%->40% thường là phù hợp.
Tuy nhiên, tỷ lệ tự tiêu rất khác
nhau ở từng người và không thể
được dự đoán một cách chính xác.
Tự tiêu xảy ra cho đến khoảng 16
tháng sau phẫu thuật, nhưng sau
đó không có nhiều thay đổi (Hình
5). Trong hầu hết các trường hợp,
chiều cao sống mũi không đạt theo
yêu cầu do tỷ lệ hấp thụ cao, đòi hỏi
một kỹ thuật bổ sung như tiêm mỡ.
Chỉ định cho ghép da mỡ

Mặc dù tỷ lệ tái hấp thu tương
đối cao, ghép da mỡ cho phép độn
sống mũi được tự nhiên. Mảnh ghép
không thấy qua da sống mũi, da
mỏng và đỏ không gặp. Do đó, ghép
da mỡ thích hợp cho các tình huống
sau.

1. Những người có da mũi rất
mỏng trong đó cấy ghép silicone có
thể trở nên dễ lộ chất liệu hoặc gây
đỏ da.
55

e-bacsy.com
Hình 4. Cố định của ghép da mỡ. (A) Chỉ khâu kéo ra được sử dụng để cố định đầu trên của mảnh
ghép vào khu vực giữa lông mày. (B) Đầu dưới của mảnh ghép được cố định với góc vách ngăn
hoặc vòm của sụn cánh mũi bên dưới.

2. Những khách hàng e ngại
về cấy ghép silicone hoặc Goretex.

3. Nâng mũi sửa lại do da
mỏng hoặc đỏ từ vật liệu cấy ghép.

4. Sau khi loại bỏ các vật liệu
được tiêm (ví dụ, silicone lỏng), da
sống mũi có thể rất mỏng với kết
cấu không đều. Trong những trường
hợp như vậy, ghép dị loại hoặc ghép
sụn có thể thấy chất liệu qua lớp da
mỏng, và việc ghép da mỡ sẽ phù
hợp hơn.

5. Sửa chữa những biến dạng
nhỏ hoặc không đều ở vùng sống
mũi, cánh mũi hoặc đầu mũi.
Kỹ thuật ghép mảnh da được
khâu lại

Mảnh ghép da mỡ trải qua
quá trình tự tiêu ở cả lớp hạ bì
và lớp mỡ, nhưng sự tự tiêu này
lớn hơn ở lớp mỡ. Để giữ lại số
lượng tối đa của ở sống mũi, độ dày
của lớp da nên tối đa, đồng thời
giảm thiểu độ dày của lớp mỡ. Một
số tác giả đã báo cáo ghép da để
nâng sống mũi. Tuy nhiên, rất khó
khăn cho những mũi quá thấp của
người châu Á, do hạn chế về độ dày
của da người. Kim và Rhee đã
báo cáo độn sống mũi bằng cách sử
dụng mảnh ghép da gấp. Tuy nhiên,
kỹ thuật, cho phép nâng sống mũi
cao hơn nhiều, là một kỹ thuật ghép
da gấp theo chiều dọc được trình
bày lần đầu tiên bởi Cho.

Với bệnh nhân ở tư thế nằm
nghiêng, mảnh ghép được thiết kế
ở vùng cùng cụt như trong Hình 6.
Đầu dưới mảnh ghép cao hơn đầu
xương cụt là 2 cm. Phần đầu trên
thiết kế tùy thuộc vào gốc mũi
56
Thiết kế vị trí Cho

e-bacsy.com
Hình 5. Trước phẫu thuật và sau phẫu thuật của nâng sống mũi bằng cách sử dụng mảnh ghép
da mỡ. (A- C) Trước phẫu thuật. (D- F) Ba năm sau khi ghép da mỡ cho sống mũi thấp và ghép
độn sụn tai để tạo độ nhô nhỏ đầu mũi.
Hình 6. Thiết kế của mảnh ghép da gấp theo hướng thẳng đứng. Mảnh ghép nằm ở giữa đường
vùng cùng cụt, và đầu dưới của mảnh ghép nằm trên xương cụt 2 cm. Chiều dài của mảnh ghép
là 6 cm, chiều rộng của vùng đầu trên là 3-> 4 cm và của vùng đầu dưới là 1,6 ->1,8 cm.
57

e-bacsy.com
Hình 7. Điều chỉnh chiều rộng đầu của mảnh ghép. Chiều cao ở gốc thì cao hơn chiều cao mong
muốn, chiều rộng của vùng đầu mũi của mảnh ghép nên rộng.
(Hình 7). Phần đầu trên của mảnh
ghép phải rộng hơn để tăng diện
tích gốc mũi lớn hơn.
Lấy mảnh ghép

Việc lấy ghép bắt đầu rạch
qua một nửa độ dày của lớp hạ bì
như trong Hình 8. Sau đó, cắt bỏ
lớp thượng bì. Tiếp tục rạch da sâu
xuống bên dưới cho đến lớp mỡ.
Nhấc mảnh ghép lên có kèm thêm
một ít mỡ dính vào mảnh ghép.
Đóng vết thương

Không nên khâu dưới da để
hạn chế hoại tử rìa vết mổ. Khâu lớp
hạ bì bằng chỉ khâu Vicryl 3-0, và
khâu da bằng chỉ nylon 3-0. Không
cần dẫn lưu.
Tạo hình mảnh ghép

Tạo hình mảnh ghép sử dụng
nhiều mũi khâu để gấp mảnh ghép
sao cho nó trở nên nhỏ gọn hơn
theo chiều ngang và tạo chiều cao
tối đa. Mảnh ghép được cố định vào
58

e-bacsy.com
Hình 8. Lấy mảnh ghép da theo chiều dọc. (A) Rạch da theo đường vẽ, độ sâu của vết rạch chỉ
½ lớp da. (B) Bóc lớp thượng bì ra khỏi lớp hạ bì. (C) Rạch sâu hơn cho đến lớp mỡ dưới da.
Hình 9. Tạo hình mảnh ghép. (A) Đánh dấu cho 5 mũi chỉ khâu 2 bên đều nhau có chứa ít lớp
mỡ, (B) Năm chỉ khâu bên trong là chỉ khâu nylon số 6-0. (C) Cắt tỉa phần đáy của mảnh ghép
để loại bỏ những chỗ phồng sau khi khâu bên ngoài. (D) Hoàn tất khâu tạo hình và mảnh
ghép được dựng theo hướng thẳng đứng.
59

e-bacsy.com
một tấm giấy dày với một cái ghim
ở mỗi đầu. Cắt bỏ bớt mỡ dưới da
và giữ lại một ít tối thiểu, sao cho
độ dày kết hợp của lớp hạ bì và mỡ
kết thúc dày khoảng 4 mm (Hình
9). Một đường thẳng được vẽ dọc
theo ở giữa của mảnh ghép, với 2
đường bù ở hai bên. Mảnh ghép
được gấp làm đôi dọc theo đường
giữa bằng cách đặt năm mũi khâu
nylon 6-0 qua các đường bù. Các
cạnh gấp được ghép lại với nhau ở
4 vị trí bằng chỉ khâu nylon 5-0 và
để làm nền của mảnh ghép. Tiếp
theo, mảnh ghép được làm nhỏ gọn
thêm bằng cách sử dụng nhiều chỉ
khâu dọc hoặc ngang bên ngoài
(nylon 5-0). Nếu nền của mảnh
ghép phình ra do các mũi khâu này,
thì phải cắt nền mảnh ghép phẳng
hơn. Tiếp theo, khâu hình tròn
bên ngoài bằng nylon 5-0. Lúc này,
mảnh ghép phải dựng đứng thẳng
trên nền của nó (Hình 9). Chiều
cao cuối cùng của mảnh ghép vào
khoảng 10 đến 12 mm.
60
Hình 10. Trường hợp dùng mảnh ghép da gấp theo chiều dọc để độn sống mũi. (A- C) Trước
phẫu thuật. (D- F) Một năm sau khi phẫu thuật nâng sống mũi bằng dùng mảnh ghép da gấp
theo chiều dọc và tạo hình đầu mũi nhọn bằng khâu ghép thêm sụn vành tai.

e-bacsy.com
Hình 11. Cắt nhỏ sụn sườn để làm giảm độ cong thêm mảnh ghép.
Đặt mảnh ghép vào sống mũi

Đầu của mảnh ghép được cố
định vào gốc mũi bằng chỉ khâu.
Đuôi mảnh ghép được cố định với
góc vách ngăn hoặc vòm của sụn
cánh mũi ngoài dưới.
Ưu và nhược điểm

Mảnh ghép da được định
hướng theo chiều dọc làm tăng
chiều cao của sống mũi không phải
bởi độ dày của da, mà là chiều cao
gấp lại của mảnh ghép và khác biệt
về mặt khái niệm với mảnh ghép da
mỡ đơn giản. Bởi vì điều này, nền
mảnh ghép phải đủ phẳng để không
bị trượt sang một bên khi được đặt
ở giữa sống mũi để tránh sự di lệch
của mảnh ghép.

Một vấn đề quan trọng
khác là làm cho chiều rộng ghép
mảnh hẹp lại và nhỏ gọn bằng cách
sử dụng nhiều chỉ khâu.

Mảnh ghép da gấp có tỷ lệ tự
tiêu là 40% sau 1 năm. Tỷ lệ tự tiêu
theo chiều dọc thì chưa thấy báo
cáo (Hình 10).
Độn sống mũi bằng khối sụn
sườn rắn

Sụn sườn thì rất phong phú
về khối lượng, và tỷ lệ tự tiêu rất
thấp so với mảnh ghép da mỡ, có lợi
thế là cung cấp đủ kích thước cho
độn sống mũi. Tuy nhiên, có thể
xảy ra các biến chứng ở vị trí sụn
sườn như tràn khí màng phổi và
sẹo thành ngực, và cần có một
kỹ năng điêu luyện trong việc chạm
khắc và đặt mảnh ghép. Tuy nhiên,
một kỹ năng phức tạp được thực
hiện bởi một bác sĩ phẫu thuật có
kinh nghiệm có thể mang lại hình
dạng tốt hơn, được xác định rõ
ràng, có thể dự đoán được so với
ghép da mỡ hoặc sụn được cắt nhỏ
61

e-bacsy.com
Hình 12. Cắt 2 bên bờ mảnh ghép để tạo độ cong phù hợp.
Tác giả tin rằng khối sụn sườn rắn
có thể là một lựa chọn tuyệt vời
cho người châu Á với phần sống mũi
rất thấp, yêu cầu nâng sống mũi từ
5 mm trở lên.
Lấy sụn sườn

So với mảnh ghép lấy cho
việc mở rộng vách ngăn, lấy mảnh
ghép cho việc nâng sống mũi cần
phải dài hơn khoảng 5 đến 6 cm. Do
xương sườn thứ bảy tương đối dài
và thẳng, sụn sườn thứ bảy thường
thích hợp hơn cho mục đích nâng
sống mũi. Vì xương sườn thứ bảy
thường không thể lấy từ đường mổ
nếp lằn vú, nên vết rạch da trực tiếp
trên sụn sườn thứ bảy.
Cắt gọt sụn sườn

Gọt sụn sườn là bước quan
trọng nhất, khó khăn và tốn thời
gian nhất để nâng mũi thành công.
Mảnh ghép phải được gọt chính xác
để phù hợp với hình dạng của
sống mũi. Nếu người phẫu thuật
không thể gọt mảnh ghép theo kích
thước và hình dạng cần thiết (chiều
rộng, đường viền, đáy và độ dốc/độ
nhô của cả hai mặt bên), mảnh ghép
sẽ không tiếp xúc tốt bề mặt gốc
mũi và sống mũi chính xác và đồng
đều, và mảnh ghép có thể bị lệch
hoặc nhìn thấy.

Tổng độ dày của sụn sườn
được sử dụng để nâng sống mũi
ở hầu hết người châu Á với một
phần sống mũi rất thấp. Tôn
trọng nguyên tắc của mặt cắt cân
bằng, người ta có thể giảm thiểu
độ cong vênh bằng cách gọt hướng
vào lõi sụn (Hình 11). Mảnh ghép
sụn sườn rắn dày được gọt theo
nguyên tắc cho việc nâng cao sống
mũi thì có khả năng chống cong
vênh khá tốt. Do đó, tác giả tránh
sử dụng kỹ thuật của K-wire được
báo cáo bởi Gunter và đồng nghiệp,
trong đó một dây thép chữ K được
đưa vào giữa của sụn.

Thiết kế mảnh ghép với sụn
lõi là trung tâm. Thanh silicon là
phù hợp nhất với hình dạng mong
muốn trên sống mũi của bệnh nhân
62

e-bacsy.com
và khối sụn cũng được gọt sao cho
phù hợp với hình dạng của thanh
silicone này càng nhiều càng tốt.
Đầu tiên, vùng rìa của mảnh ghép
được gọt bằng dao số 10. Dùng dao
mổ và dao điện định hình thêm khối
sụn để phù hợp với chiều rộng và
độ lõm của mũi. Ở vùng gốc mũi và
đỉnh mũi của mảnh ghép được gọt
hẹp hơn so với sống mũi. Điều quan
trọng là bề mặt dưới của mảnh ghép
phải khớp với sống mũi. Phần gốc
mũi thì mảnh ghép phải được gọt
cong để phù hợp với độ cong gốc
mũi, đó sẽ là quá trình đòi hỏi
khó nhất. Nếu cần thiết, phần đầu
trên của mảnh ghép có thể được
thực hiện để uốn cong bằng cách
cắt ngược ở mặt đáy của mảnh ghép.

Độ cong của mảnh ghép sẽ tối
đa sau một giờ. Như vậy, mảnh
ghép đã gọt phải được đặt trong
dung dịch muối trong một giờ,
sau đó mảnh ghép cần được cắt
tỉa thêm trước khi đặt. Độ cong
vênh quá mức có thể được điều
chỉnh bằng cách cắt một số vết cắt
qua cả hai mặt của mảnh ghép.
Quá trình này đòi hỏi phải có
kinh nghiệm (Hình 12). Những mũi
cần ít phần sống mũi thì được điều
chỉnh bằng cách cắt lát mỏng sụn
sườn thành 3 đến 4 miếng có độ
dày thích hợp (Hình 13). Mặt lõm
của mảnh ghép cong được đặt về
phía sống mũi để tránh mảnh ghép
nhô ra ở vùng gốc và đỉnh mũi.11
Có thể khắc phục một phần cong
vênh quá mức bằng cách (1) cắt
nhẹ vào mặt lõm của mảnh ghép,
(2) tạo thành một đường ngang
ở mảnh ghép, (3) đặt miếng sụn
nhỏ bên dưới chỗ cong đối diện, và
(4) thực hiện khâu cố định mảnh
ghép trên sụn bên trên. Sụn sườn
có kết cấu tương đối trơn và có
Hình 13. Một mảnh sụn được gọt mỏng cho
hợp với sống mũi.
Hình 14. Mảnh ghép được gọt để phù hợp về
mặt giải phẫu với đường cong của sống mũi
và đặc biệt là gốc mũi.
63

e-bacsy.com
thể dễ dàng bị lệch khỏi vị trí
ban đầu. Do đó, điều rất quan
trọng là phải cắt gọt một cách
tỉ mỉ sao cho kết quả của mảnh
ghép có đường cong chính xác về
mặt giải phẫu để tối đa hóa bề
mặt tiếp xúc giữa mảnh ghép và
phần sống mũi (Hình 14). Kỹ thuật
này không chỉ ngăn ngừa di lệch
mà còn giảm thiểu nguy cơ nhiễm
trùng bằng cách giảm không gian
chết bên dưới mảnh ghép.

Hai mảnh ghép được nối với
nhau để tạo độ cong tự nhiên của ở
vùng trên đỉnh mũi (Hình 15).
Vị trí của mảnh ghép trên
sống mũi

Để ngăn ngừa sự di lệch của
mảnh ghép, cần tuân thủ các điểm
sau.

1. Kích thước của khoang
dưới màng xương, trong đó mảnh
Hình 15. Nếu không tạo dáng mũi tốt ở khu
vực trên đỉnh mũi, thì có thể ghép để chống
vùng này lên.
ghép được đặt, không nên quá
rộng. Mảnh ghép phải vừa vặn với
bóc tách để giảm thiểu di động của
mảnh ghép.

2. Toriumi đã để xuất phương
pháp cố định màng sụn, bằng cách
dùng mảnh ghép sụn sườn và ghép
màng màng sụn xen kẽ (Hình 16).
Theo kỹ thuật, khâu một dải màng
sụn sườn vào mặt dưới của phần
trên của mảnh ghép sống mũi để
tạo ra một giao diện sụn sườn/
màng sụn. Sau đó, khoang nhiều
lỗ nhỏ trên xương sống mũi bằng
đục xương thẳng 2 mm hoặc dụng
cụ mài xương ể tạo ra bề mặt nhám
trên xương sống mũi. Và sau đó,
mảnh ghép sống mũi với mảnh ghép
/màng sụn xử lí được đặt trên đỉnh
của xương sống mũi. Bề mặt thô của
xương sống mũi và màng sụn sườn,
cùng với khoang dưới màng xương
sẽ chặt chẽ, ngăn ngừa trượt, di
động hoặc sai lệch của mảnh ghép.

3. Dùng chỉ 5-0 polydioxa­
none khâu mảnh ghép vào sụn cánh
mũi trên. Khâu 2 mũi khâu vào các
phần đầu và đuôi của sụn mũi trên.

4. Cố định dây K chỉ dành
riêng cho các trường hợp đặc biệt
khi mảnh ghép di động không thể bị
hạn chế do mất màng xương, hoặc
trong các trường hợp nâng mũi sửa
lại mà không thể tạo khoang dưới
màng xương.16 Dây K được xuyên
qua da, mảnh ghép, và xương mũi
bên dưới, được lấy bỏ một tuần sau
phẫu thuật (Hình 17).
64

e-bacsy.com
Hình 16. A. Phương pháp khâu cố định màng sụn. B. Khâu màng sụn sườn qua bề mặt dưới
của sụn.
Hình 17. Cố định mảnh ghép sống mũi bằng dây K. Sau khi đánh dấu trên da, dây thép được đâm
xuyên qua mảnh ghép và xương mũi bên dưới. Cắt ngắn dây thép, để lại 10 mm trên vùng vết
rạch da.
65

e-bacsy.com

Những mũi có da mỏng,
những mảnh sụn cắt nhỏ được chèn
lỏng lẻo dọc theo lề hai bên của
mảnh ghép và tránh sự gồ ghề của
sống mũi. Cân cơ thái dương hay
các mảnh của sụn sườn có thể dùng
thay thế. Hình 18 và 19 cho thấy các
ví dụ về nâng sống mũi bằng cách
sử dụng khối mảnh ghép sụn sườn
rắn.
Nâng sống mũi với bọc sụn cắt
nhỏ trong cân cơ thái dương

Hầu hết ghép sụn được khu­
yết cáo nhiều nhất để nâng cao sống
mũi ở người châu Á là sụn sườn, bởi
vì nó cung cấp đủ số lượng chât liệu
sụn cần thiết để độn phần thấp của
sống mũi. Tuy nhiên, mảnh ghép bị
cong và xuyên qua lớp da mỏng là
nhược điểm lớn của ghép khối sụn
sườn rắn. Một kỹ thuật khác để
66
Hình 18. Nâng sống mũi với khối sụn sườn chắc. (A -C) Bệnh nhân nam này bị tẹt sống mũi, đầu
mũi hếch và co kéo cánh mũi trái do bị sẹo co kéo sau khi lấy bỏ thanh silicon tiền đình mũi. (D-
F) 8 tháng sau phẫu thuật (phẫu thuật nâng sống mũi bằng phương pháp ghép khối sụn sườn
rắn với chiều cao 6 mm và phẫu thuật chỉnh sửa đầu mũi bằng ghép sụn vành tai).

e-bacsy.com
khắc phục nhược điểm đó là cắt nhỏ
sụn và bọc lại trong cân thái dương
(Hình 20).

Việc sử dụng mảnh ghép sụn
cắt nhỏ đã được báo cáo từ nhiều
thập kỷ trước, nhưng đã được thay
thế bởi giới thiệu cấy ghép silicone.
Vào năm 2000, Erol đã báo cáo một
kỹ thuật mới về nâng sống mũi
bằng cách sử dụng sụn được cắt
nhỏ được bọc trong Surgicell của
Thổ Nhĩ Kỳ, một lần nữa kéo kỹ
thuật cắt nhỏ sụn đến thực tiễn
đương đại. Tuy nhiên, không giống
như báo cáo ban đầu, Daniel và các
đồng nghiệp đã phát hiện ra rằng
mảnh ghép đã bị tự tiêu hoàn toàn
và cho rằng phản ứng của cơ thể
chống lại Surgicell là nguyên nhân
chính. Vì vậy, họ đã báo cáo một kỹ
thuật sửa đổi được gọi là sụn được
cắt nhỏ bọc trong cân thái
67
Hình 19. Nâng sống mũi với 2 khối sụn sườn rắn. (A-C) Sau tai nạn giao thông, bệnh nhân
bị mũi yên ngựa, xương mũi bị sụp và chóp mũi hếch. (D) Cắt gọt 2 lớp sụn sườn để nâng cao
khoảng 10 mm. Gắn một mảnh nhỏ sụn sườn vào đuôi của mảnh ghép sống mũi như một dạng
của tongue-in-groove để kéo dài đầu mũi hếch. (E) Đặt mảnh ghép. (F) Đầu của mảnh ghép khâu
vào sụn cánh mũi ngoài dưới. (G- I) 2 năm sau phẫu thuật.

e-bacsy.com
dương. Phương pháp này đã được
áp dụng dễ dàng bởi nhiều bác sĩ
phẫu thuật nhờ kỹ thuật dễ dàng
và giảm tỷ lệ tự tiêu. Ghép sụn cắt
nhỏ là một kỹ thuật rất hữu ích để
làm phẳng các bất thường trên sống
mũi hoặc nâng sống mũi.

Sụn cắt nhỏ được sử dụng để
độn sống mũi nhỏ, sữa chữa không
đều của sống mũi và làm mất những
chỗ nối trong sụn sườn. Đối với
nâng sống mũi thì tốt nhất là dùng
sụn cắt nhỏ được bọc trong cân thái
dương
Lấy của Fascia tạm thời

Lấy fascia thái dương sâu
dạng hình chữ nhật, khoảng 5 3 cm.
Đối với sống mũi da mỏng, có thể
lấy một fascia lớn hơn sao cho phải
có phần chồng lên fascia của da, do
đó có thêm lớp mô đệm fascia giữa
da và các mảnh sụn. Kỹ thuật này
giúp giảm thiểu nguy cơ không đều
ở sống mũi.
Gói sụn cắt nhỏ trong ống
Fascia

Tất cả các loại sụn (tai, vách
ngăn, sườn) được cắt thành những
miếng nhỏ có đường kính nhỏ hơn
0,2 mm, sử dụng lưỡi dao số 11
hoặc dao lấy da. Sụn sườn là nguồn
thích hợp hơn khi cần một lượng
lớn sụn cho những người châu Á có
sống mũi rất thấp
Đưa bọc sụn vào khoang bóc
tách

Bọc sụn được đặt trong mặt
phẳng trên màng sụn và dưới màng
xương, và túi phải rộng hơn một
chút so với bản thân mảnh ghép.
Đầu của mảnh ghép được cố định
bằng chỉ khâu, và đầu xa được khâu
vào góc vách ngăn.

Mảnh ghép được đúc theo
khuôn mong muốn bằng nắn bóp
các ngón tay với cả hai tay. Sau đó,
cố định mũi bằng băng giấy và nẹp
nhựa nhiệt dẻo, duy trì trong 1 tuần.
Nếu cần định hình lại mảnh ghép,
loại bỏ nẹp vào ngày thứ 7 sau mổ,
Hình 20. Sụn cắt nhỏ bọc trong fascia thái
dương.
68

e-bacsy.com
phần nẹp 2 bên sẽ được giữ lâu hơn.
Hình 22 cho thấy một trường hợp
ví dụ về nâng sống mũi bằng cách
sử dụng sụn cắt nhỏ được bọc trong
fascia thái dương.
Biến chứng của ghép sụn cắt
nhỏ

Ghép sụn cắt nhỏ cho phép
nâng cao sống mũi tương đối dễ
dàng, điều mà ngay cả người mổ
thiếu kinh nghiệm cũng có thể thực
hiện. Tuy nhiên, bất lợi có thể dự
đoán được bao gồm di lệch mảnh
ghép, sự bất thường hoặc đường
giữa sống mũi không nhô lên, khả
năng tự tiêu và khả năng nhìn thấy
mảnh ghép qua lớp da mỏng. Đặc
biệt, khó khăn để xử lý tỉ mỉ đường
giữa bẹt xuống ở vùng trên đâu
mũi. Nếu khả thi, nên giữ lại nẹp
mũi lâu hơn là để ngăn chặn điều
này; điều quan trọng là lấy một fas­
cia thái dương đủ dài. Nếu sống mũi
không đều được nhìn thấy hoặc sờ
thấy, thì nên đặt thêm sụn cắt nhỏ
hoặc ghép thêm fascia. Khả năng
nhìn thấy các mảnh sụn là hiếm
ở những người châu Á có da dày.
Tuy nhiên, một lượng lớn sụn trên
mũi có da mỏng thì có thể nhìn
thấy qua da hoặc cho thấy sự bất
thường. Đối với mũi có da mỏng,
sụn phải được cắt nhỏ hơn nhiều và
mảnh ghép cần thêm một lớp fascia
khác để bọc. Những bất thường nhỏ
có thể được sửa bằng cách ghép
các hạt sụn chọc thủng qua da
bằng kim số 16. Daniel và cộng sự
đã báo cáo rằng không cần thiết
phải sửa quá mức vì mảnh ghép sẽ
không bị tiêu đi nhiều, nhưng vấn
đề tự tiêu đã gây tranh cãi với nhiều
ý kiến từ các tác giả khác nhau. Tỉ
lệ tự tiêu của sụn căt nhỏ bọc trong
cân thái dương thì ít hơn so mảnh
ghép fascia hoặc ghép da mỡ. Tuy
nhiên, tự tiêu một phần thì cần xem
xét lại. Giảm thiểu không gian chết
giữa các hạt sụn bằng cách cắt nhỏ
sụn và gói tối đa các hạt vào ống
fascia thái dương sẽ hạn chế giảm
chiều cao sống mũi theo thời gian.
Ưu điểm và chỉ định của ghép
sụn cắt nhỏ

Sụn cắt nhỏ có nhiều ưu điểm.
Trên tất cả, kỹ thuật không đòi hỏi
nhiều và mở ra việc sử dụng mảnh
ghép này cho các bác sĩ phẫu thuật
thiếu kinh nghiệm.

So với ghép khối sụn sườn,
ghép sụn cắt nhỏ dễ dàng hơn
nhiều để phù hợp với sự bất thường
của sống mũi. So với ghép khối sụn
sườn, mảnh ghép sụn cắt nhỏ có
xu hướng ít nhìn thấy đường viền
mảnh ghép qua da và không bị cong
vênh.

Tạo khuôn để điều chỉnh độ
lệch, không đều hoặc độ rộng của
mảnh ghép có thể đến 2 tuần sau
phẫu thuật.
69

e-bacsy.com
Hình 21. Quy trình sụn được cắt nhỏ bọc trong fascia thái dương. (A) Lấy cân thái dương sâu.
(B) Ống tiêm 1 ml đã cắt bỏ đầu được bọc bằng fascia thái dương. (C) Sụn được cắt nhỏ. (D)
Các hạt sụn được cắt nhỏ trong ống tiêm được đẩy từ từ và nhẹ nhàng và vào ống fascia.
70

e-bacsy.com
Hình 22. Nâng sống mũi bằng sụn cắt nhỏ được bọc trong cân thái dương. (A-C) Bệnh nhân nữ
này có sống mũi phẳng, đặc biệt là ở giữa vòm mũi. (D-F) 8 tháng sau phẫu thuật ( nâng sống
mũi bằng sụn sườn cắt nhỏ bọc trong cân thái dương), sửa đầu mũi với ghép kéo dài vách ngăn.
Tài liệu tham khảo
1. Na DS, Jung SW, Kook KS, et al.
Augmentation rhinoplasty with
da mỡ graft & fat injection. J Ko­
rean Soc Plast Reconstr Surg
2011;38(1):
53–6.
2. Choi C, Kirk IS, Cho BC. Second­
ary augmentation rhinoplasty with
immediate autogenous da mỡ graft
after removal of paraffinoma.
J Korean Soc Plast Reconstr Surg
2007;034(06):785–91.
3. Hwang K, Kim DJ, Lee IJ. An
anatomic comparison of the skin
of five donor sites for dermal
fat graft. Aesthetic Plast Surg
2001;46(3):327–31.
4. Little JW. Applications of the
classic dermal fat graft in primary
and secondary facial rejuvenation.
Plast Reconstr Surg 2002;109(2)
71

e-bacsy.com
5. Conley JJ, Clairmont AA. Der­
mal-fat-fascia grafts.
Otolaryngology 1978;86(4 Pt 1).
ORL-641-649.
6. Reich J. The application of der­
mis grafts in defor- mities of the
nose. Plast Reconstr Surg 1983;71:
772–82.
7. Erdogan B, Tuncel A, Adanali G,
et al. Augmentation rhinoplasty
with dermal graft and review of the
liter- ature. Plast Reconstr Surg
2003;111:2060–8.
8. Kim HK, Rhee SC. Augmentation
rhinoplasty using a folded “pure”
dermal graft. J Craniofac Surg 2013;
24(5):1758–62.
9. Cho IC. Correction of contracted
noses with unilat- eral cymbal car­
tilage and da mỡ. 73rd congress of
the Korean society of plastic and
reconstructive surgeons, Seoul, Ko­
rea, November 14, 2015.
10. Jang YJ, Yu MS. Rhinoplasty for
the Asian nose.
Facial Plast Surg 2010;26(2):93–
101.
11. Toriumi DM. Dorsal augmenta­
tion using autologous costal carti­
lage or microfat-infused soft tissue
augmentation. Facial Plast Surg
2017;33(2):162–78.
12. Gunter JP, Clark CP, Friedman
RM. Internal stabiliza- tion of au­
togenous rib cartilage grafts in
rhinoplasty: a barrier to cartilage
warping. Plast Reconstr Surg
1997;100:161–9.
13. Toriumi DM, Asher SA. Prima­
ry rhinoplasty tech- niques: use of
costal cartilage. In: Cobo R, editor.
Ethnic considerations in facial plas­
tic surgery. Phila- delphia: Thieme;
2016. p. 196–217.
14. Toriumi DM, Pero CD. Asian
rhinoplasty.
Clin
Plast
Surg
2010;37(2):335–52.
15. Toriumi DM. Discussion: use of
autologous costal cartilage in Asian
rhinoplasty. Plast Reconstr Surg
2012;130(6):1349–50.
16. Daniel RK. Diced cartilage grafts
in rhinoplasty sur- gery: current
techniques and applications. Plast
Re- constr Surg 2008;122(6):1883–
91.
17. Park JH, Jin HR. Use of autol­
ogous costal cartilage in Asian
rhinoplasty. Plast Reconstr Surg
2012;130:1338–48.
18. Balaji SM. Costal cartilage nasal
augmentation rhi- noplasty: study
on warping. Ann Maxillofac Surg
2013;3:20–4.
19. Erol OO. The Turkish delight: a
pliable graft for rhino- plasty. Plast
Reconstr Surg 2000;105:2229–41.
20. Daniel RK, Calvert JW. Diced
cartilage grafts in rhi- noplas­
tic surgery. Plast Reconstr Surg
2004;113:2156–71.
21. Hoehne J, Gubisch W, Kreutzer
C, et al. Refining the nasal dorsum
with free diced cartilage. Facial
Plast Surg 2016;32(4):345–50.
72

e-bacsy.com
22. Kreutzer C, Hoehne J, Gubisch
W, et al. Free diced cartilage: a
new application of diced cartilage
grafts in primary and secondary
rhinoplasty. Plast Reconstr Surg
2017;140(3):461–70.
23. Park P, Jin HR. Diced cartilage in
fascia for major nasal dorsal aug­
mentation in Asians: a review of 15
consec- utive cases. Aesthetic Plast
Surg 2016;40:832–9.
24. Kelly MH, Bulstrode NW, Wa­
terhouse N. Versatility of diced car­
tilage-fascia grafts in dorsal nasal
augmen- tation. Plast Reconstr Surg
2007;120(6):1654–9.
25. Harel M, Margulis A. Dorsal
augmentation with diced cartilage
enclosed with temporal fascia in
second- ary endonasal rhinoplasty.
Aesthet Surg J 2013; 33(6):809–
16.
26. Fatemi MJ, Hasani ME, Rahimi­
an S, et al. Survival of block and fas­
cial-wrapped diced cartilage grafts:
an experimental study in rabbits.
Ann Plast Surg 2012; 69(3):326–
30.
73

e-bacsy.com
Đại Cương

Nâng mũi là phương pháp
được thực hiện phổ biến nhất trong
phẫu thuật tạo hình mũi cho người
châu Á. Có nhiều vật liệu khác
nhau dùng để nâng mũi, và các
bác sĩ phẫu thuật tiếp tục nỗ lực để
tìm ra chất liệu lý tưởng. Vật liệu lý
tưởng là vật liệu an toàn và tương
thích sinh học với ít nguy cơ biến
chứng, chẳng hạn như nhiễm trùng
và di lệch. Hơn nữa, nó phải dễ
dàng để cắt gọt và ổn định về mặt
cơ học với các mô xung quanh.
Ghép tự thân, bao gồm sụn sườn và
sụn vành tai, có khả năng chịu đựng
sinh học cao; tuy nhiên, chúng có
một số nhược điểm, chẳng hạn như
phải phẫu thuật để lấy, thời gian mổ
kéo dài và khó khăn để lấy đủ số
lượng cho nâng mũi. Ghép dị loại, là
vật liệu tổng hợp, bao gồm silicone,
polytetrafluoroetylen (Gore-Tex) và
polyetylen (Medpor), đã có một số
nhược điểm như nguy cơ nhiễm
trùng, co kéo bao xơ và lộ chất liệu.
Do đó, các mảnh ghép tương đồng
có nguồn gốc từ các mô của con
người gần đây đang nhận được sự
chú ý cho mức độ dung nạp mô cao
và ít nguy cơ nhiễm trùng. Hơn nữa,
có một hạn chế trong việc lựa chọn
vật liệu khi ghép tự thân đã được sử
dụng trong các ca đã phẫu thuật
MỤC TIÊU
• Nâng mũi được thực hiện phổ biến nhất trong phẫu thuật tạo hình mũi
cho người châu Á.
• Mảnh ghép tương đồng có nguồn gốc từ các mô của con người là an
toàn và tương thích sinh học.
• Nội bì da dạng là một vật liệu ghép hữu ích nhờ tính toàn vẹn và ổn
định cấu trúc lâu dài cũng như ít nguy cơ nhiễm trùng hoặc loại trừ mảnh
ghép.
• Fascia lata (cân cơ) là tổ chức mềm mại và dễ xử lí, tạo dáng sống mũi
rất mượt mà sau phẫu thuật với nguy cơ ít nhiễm trùng hoặc di lệch thấp.
Chương 5
Ghép mô tương đồng cho nâng mũi
Chang-Hoon Kim, MD, PhD, Sang Chul Park, MD
Từ khóa
• Tạo hình mũi người châu Á • Nâng mũi • Ghép tổ chức tương đồng
• Ghép nội bì da • Ghép cân cơ
74

e-bacsy.com
trước. Trong tình huống này, mảnh
ghép tương đồng có thể là vật liệu
ghép lý tưởng. Trong bài viết này,
các tác giả mô tả ghép nội bì da
(ADM) và ghép fascia lata (TPFL).
Nội bì da (Dermal Dermal
Matrix: ADM)
Đặc điểm của ADM

ADM là một dạng tương thích
sinh học, không gây miễn dịch, và
vật liệu có sẵn để nâng mũi.5,6 ADM
được xử lý từ da nhân tạo thông
qua các kỹ thuật xử lý chuyên dụng.
Trong quá trình chuẩn bị, lớp biểu
bì và các thành phần tế bào của lớp
hạ bì có thể gây ra phản ứng miễn
dịch được loại bỏ trước khi đông
khô. ADM có tính tương thích sinh
học cao vì nó bảo tồn các thành
phần cấu trúc thiết yếu bên ngoài
tế bào, như sợi collagen và elastin.
Collagen và elastin là thành phần
chính của ADM, cung cấp độ căng
và độ đàn hồi. Duy trì cấu trúc da
tự nhiên 3 chiều gồm thâm nhiễm
nguyên bào sợi và tân mạch, thúc
đẩy tái tạo mô. Theo các phân tích
mô học của ADM được cấy ghép,
các sợi collagen và elastin trở nên
dày đặc hơn, biểu hiện của protein
ngoại bào tăng lên, và sự hình thành
những vi mạch trong ADM tăng,
trong khi độ dày của ADM được cấy
ghép không giảm theo thời gian.
Những đặc điểm này cho phép sự
xâm nhập mô đầy đủ và cung cấp
tính toàn vẹn cấu trúc lâu
dài, khiến cho việc di lệch và lộ chất
liệu trở nên hiếm gặp.

Các chất liệu nội bì sử dụng
phổ biến nhất là AlloDerm (LifeCell
Corp, Branchburg, NJ, USA) và Me­
ga-Derm (L&C BIO, Seongnam-si,
Gyeonggi-do, Korea). Sự khác biệt
chính của MegaDerm là cấu trúc
liên kết ngang và chiếu xạ chùm
điện tử (chùm tia điện tử). Sự liên
kết chéo của cấu trúc collagen rất
quan trọng đối với độ bền và sức
căng lâu dài. Nó cho phép giảm tự
tiêu và cải thiện sự xâm nhập của
nguyên bào sợi vào ADM, cho phép
MegaDerm giữ được độ cứng và
hình dạng của nó. Chiếu xạ Gamma
được sử dụng như một quy trình
khử trùng cho AlloDerm, trong khi
chiếu xạ chùm tia điện tử được thực
hiện cho MegaDerm. Chiếu xạ chùm
tia điện tử, là một hình thức chiếu
xạ ion hóa tương tự như chiếu xạ
gamma, tạo ra liên kết ngang lớp hạ
bì ổn định hơn. Chiếu xạ chùm tia
điện tử (25 kGy) dẫn đến tăng sức
căng và độ đàn hồi của ADM.
Các loại ADM

Đầu 1990, có chiều loại ADM
đã được giới thiệu, ADM đã được
sử dụng như một sự thay thế mô
mềm trong phẫu thuật tái tạo, như
tạo hình vú, sửa chữa những khuyết
hổng ở thành bụng, xử lý bỏng và
kết hợp với ghép da xẻ đôi. Trong
nâng mũi, nó được sử dụng trong
nâng sống mũi và tạo đầu mũi. Đối
với sống mũi, rất hữu ích cho việc
75

e-bacsy.com
nâng mũi, điều chỉnh cho sự bất
thường của sống mũi,18 và dùng
bọc mảnh ghép tự thân hoặc cấy
ghép dị loại để giảm khả năng nhìn
thấy của chất liệu, đặc biệt là ở
những người da mỏng.

Theo đặc điểm có 3 loại ADM.
Kiểu cong (thường dùng để nâng
mũi) có hình thuyền dựa trên hình
dạng của sống mũi. Kích thước 1x5
cm và độ dày 3, 4 và 5 mm (Hình
1A). Loại khối thì phẫu thuật viên
có thể cắt gọt theo kích thước mong
muốn và được sử dụng cho nâng
mũi (Hình 1 B) hoặc nâng đầu mũi
(Hình 1C). Loại tấm được sử dụng
làm vật liệu bao bọc cho mảnh ghép
tự thân hoặc ghép dị loại (Hình 1
D).
Quy trình phẫu thuật

ADM có thể được đặt thông
qua mổ mũi hở hoặc phương pháp
nội soi. Trước khi nâng mũi, nên
đánh dấu đường giữa của mũi và
nơi đặt ADM lên mũi. Da trên sống
mũi được bóc tách nâng lên cẩn
thận, bóc tách giữ cho phần trên da
tới màng sụn của phần trên và dưới
của phần sụn cánh mũi ngoài. Màng
xương quanh xương chính mũi
được bóc tách dính với da từ phần
nối của sụn và xương chính mũi.
Điều quan trọng là phải giữ màng
xương này để ngăn chặn sự di lệch
và lộ rõ ADM sau phẫu thuật. Tiếp
tục bóc tách ra 2 bên đối xứng nhau
từ đường giữa mũi. Tạo khoang để
đặt ADM phải rộng hơn kích thước
của nó. Khi chọn loại ADM, chiều
dài và độ dày dự kiến của ADM để
nâng phải phù hợp theo chiều cao
mũi của từng người nên được đánh
giá trước khi phẫu thuật. Giữ nhẹ
nhàng ADM với kẹp phẫu tích và
hướng phần hình tam giác về phía
phần đầu mũi. Kiểm tra lại chiều dài
và độ dày của ADM có phù hợp so
với sống mũi sau nâng (Hình 2A).
Khi cần sửa chữa, dùng dao số 15
thực hiện dễ dàng cắt tỉa dễ dàng bổ
sung. Chèn ADM vào khoang đã bóc
tách và nhẹ nhàng đặt vào vị trí phù
hợp dưới cái nhìn trực tiếp (Hình
2 B). Trước khi khâu da, chiều cao
và hình dạng của sống mũi được
kiểm tra một lần nữa, tiếp theo là
đóng da (Hình 2C). Trong hầu hết
các trường hợp, không cần thiết cố
định ADM bằng chỉ khâu. Tuy nhiên,
có thể khâu ADM vào các cấu trúc
xung quanh, chẳng hạn như phần
trên của sụn cánh mũi, nếu cần
thiết. Cũng có thể cố định ADM với
da từ bên ngoài, giữ cố định trong 1
tuần.

Mặc dù ADM được sử dụng
đơn thuần trong việc nâng mũi, nó
cũng có thể được sử dụng kết hợp
với các cấy ghép dị loại khác vì độ
cứng thấp và tiềm ẩn nguy cơ tiêu
mảnh ghép. Ví dụ, ADM kết hợp với
mảnh ghép dị loại dùng cho mũi
hình củ hành cần độ dày lớn. Vì
ADM dễ dàng gắn kết với các mô
xung quanh, nó có thể giúp cố định
silicon chèn hoặ polytetrafluoroet­
ylen vào trong sống mũi mà không
76

e-bacsy.com
bị di lệch.
Ưu điểm

ADM là một sản phẩm có
sẵn và giá cả phải chăng. Bởi vì
kiểu cong được thiết kế cho hình
dạng của mũi có độ dày khác
nhau, độ dày mong muốn dễ dàng
điều chỉnh để tăng lên. Các kiểu
tấm dễ dàng để thiết kế thành một
hình dạng phù hợp theo nhu cầu
phẫu thuật. Vì ADM có độ đàn hồi
tốt và khả năng tăng thêm, việc cắt
tỉa hoặc thao tác được thực hiện
trong quá trình phẫu thuật. Nó tạo
nên một diện mạo tự nhiên cho
da mũi, ngay cả ở những người
da mỏng, nhờ vào sự mềm mại
và độ cứng thấp. Do ADM có màu
tương tự như da và không sáng
bóng, nên nó có thể được sử dụng
trên các mảnh ghép tự thân khác
hoặc ghép dị loại để bù lại những
nhược điểm của các mô cấy ghép
khác. Trong số những bệnh nhân
phẫu thuật sửa lại mũi, chất liệu
ghép được đặt trước đó có thể sờ
thấy hoặc nhìn thấy và Không đồng
đều ở mũi có thể xảy ra. ADM có thể
được sử dụng một cách hiệu quả để
Hình 1. Các loại MegaDerm. (A) Loại cong và (B) loại khối được sử dụng để tăng cường sống
mũi. (C) Loại khối được sử dụng để tạo đầu mũi. (D) Loại tấm dùng để bọc các mảnh ghép tự
thân hoặc cấy ghép dị loại (L&C Bio, Gyeonggi-do, Hàn Quốc.)
77

e-bacsy.com
Hình 2. Các kỹ thuật phẫu thuật nâng mũi bằng ADM thông qua mổ mũi hở. (A) Đặt ADM phía
trên sống mũi để kiểm tra sự phù hợp của chiều dài và độ cao của sống mũi. (B) Đưa ADM vào
trong mũi và nhẹ nhàng đặt vào một vị trí phù hợp. (C) Sau khi phủ vạt da, chiều cao và hình
dạng của sống mũi được kiểm tra lại một lần nữa, và đóng da.
điều chỉnh các loại sống mũi không
đều vì nó có độ dày khác nhau và
khả năng phục hồi cao.

Ưu điểm lớn nhất của ADM là
nó là một vật liệu tương thích sinh
học có nguồn gốc từ da người. Nó
vẫn giữ được cấu trúc và tính toàn
vẹn của lớp hạ bì, hỗ trợ kết hợp mô
và tái tạo vi mạch nhanh chóng sau
khi cấy ghép. Những giá trị này cho
phép mũi xuất hiện tự nhiên và sự
xâm nhập mô đầy đủ mà không bị di
lệch mảnh ghép. Nó cũng an toàn và
có nguy cơ nhiễm trùng thấp hoặc
phản ứng của cơ thể với chất liệu lạ
do quy trình sản xuất chuyên biệt
loại bỏ các mảnh vụn tế bào, kháng
nguyên và vi rút tiềm ẩn.

Sherris và Oriel đã báo cáo sự
an toàn và hiệu quả của AlloDerm ở
51 người. Trong nghiên cứu của họ,
không có trường hợp nhiễm trùng,
tụ dịch, tự tiêu hoặc bị thải loại.
Gryskiewicz báo cáo rằng AlloDerm
là tự nhiên và được tích hợp vào các
mô xung quanh mà không bị nhiễm
78

e-bacsy.com
Hình 3. Hình ảnh khuôn mặt của người nam 24 tuổi, đã phẫu thuật nâng mũi bằng MegaDerm.
Nâng mũi được thực hiện thông qua phương pháp nội soi. (A) Ảnh nghiên trước phẫu thuật.
(B) Ảnh nghiên sau 6 tháng phẫu thuật. Nâng mũi đúng cách đã được thực hiện sau phẫu thuật.
trùng hoặc phản ứng của cơ thể với
mảnh ghép.

Các tác giả trình bày đã sử
dụng MegaDerm trong phẫu thuật
nâng mũi cho 120 người. Sau phẫu
thuật, hầu hết các tác giả đều cho
thấy kết quả thuận lợi của việc nâng
mũi khi khám lại mũi bên ngoài và
nội soi (Hình 3,5). Không có biến
chứng nghiêm trọng, chẳng hạn
như nhiễm trùng, phản ứng thải
loại mảnh ghép, hoặc loại mảnh
ghép, đã được quan sát.

Hơn nữa, những thay đổi mô
học sau phẫu thuật của MegaDerm
đã được kiểm tra ở 4 người và loại
bỏ MegaDerm để điều chỉnh
thẩm mỹ phù hợp hơn, không phải
do biến chứng liên quan đến mảnh
ghép. Trong các trường hợp, mảnh
ghép được kết hợp nhẹ nhàng vào
các mô xung quanh mà không có
dấu hiệu nhiễm trùng. Độ cứng và
độ dày của mảnh ghép không thay
đổi đáng kể. Khi kiểm tra bằng kính
hiển vi, phần chính bao gồm các
sợi collagen và elastin, và cấu trúc
mạch máu mới được hình thành
đã được phát hiện ở rìa ngoài của
tổ chức collagen. Không có bằng
chứng về phản ứng của cơ thể với
mảnh ghép, các tế bào khổng lồ và
sự hình thành bao xơ dày (Hình 6).
79

e-bacsy.com
Hình 4. Hình ảnh khuôn mặt của người nữ 46 tuổi, đã sửa lại mũi với nâng mũi bằng MegaDerm.
Silicon đã được đặt cách đây 10 năm đã được đùn ra ở mũi. Gỡ bỏ Silicone và thay thế bằng
MegaDerm. Đoạn xương mũi và đầu mũi được ghép kéo dài thêm vách ngăn thông qua mổ mũi
hở. (A) Ảnh nghiên trước phẫu thuật. (B) Ảnh nghiên sau 6 tháng phẫu thuật. Nâng mũi đúng
cách đã được thực hiện sau phẫu thuật.
Hình 5. Hình ảnh khuôn mặt của người nam 43 tuổi, đã sửa lại mũi với nâng mũi bằng Mega­
Derm. Loại chỗ gồ ở sống mũi, và chỉnh xương mũi thông qua phương pháp nọi soi. (A) Ảnh
nghiên trước phẫu thuật. (B) Ảnh nghiên sau 6 tháng phẫu thuật. Nâng mũi đúng cách đã được
thực hiện sau phẫu thuật.
80

e-bacsy.com
Nhược điểm và cân nhắc

Sự tự tiêu mảnh ghép được
coi là vấn đề chính của AlloDerm.
Mặc dù không có tiêu hoàn toàn, tự
tiêu một phần của mảnh ghép đã
được chứng minh. Cho thấy 45%
tự tiêu một phần trong vòng 12
tháng đầu. Trong một nghiên cứu
trên 25 người được sửa lại mũi, tái
hấp thu 20% ->30% trên xương
sống mũi và 10% đến 15% đầu
mũi được báo cáo. Tái hấp thu phổ
biến hơn ở những người da mỏng
và những người bị bệnh mạch máu
từ trước, như giãn mạch hình sao ở
mũi. Ngoài ra, tự tiêu thường xảy ra
trong vòng 1 năm sau phẫu thuật;
do đó, cần ít nhất 1 năm theo dõi để
đánh giá sự an toàn của mảnh ghép.

Đối với MegaDerm, có một
trường hợp báo cáo về đầu mũi bị
nhiễm trùng đã phẫu thuật sống
nâng mũi và nâng đầu mũi bằng
MegaDerm.

Theo các tác giả kinh nghiệm
của Mega-Derm, sự di lệch mảnh
ghép xảy ra 2,5%. Hơn nữa, tự tiêu
một phần đã được quan sát thấy ở
2,5% bệnh nhân.
Đặc điểm FASCIA đã xử lý theo quy
trình của TUTOPLAST

Ghép fascia tự thân, bao
gồm cân thái dương và cân đùi (fas­
cia lata), đã được sử dụng trong
phẫu thuật nâng sống mũi và ghép
độn để phủ cấu trúc bên dưới (on­
lay). So với cân thái dương, cân đùi
Hình 6. Kiểm tra mô học của MegaDerm được ghép sau 1 năm phẫu thuật. Hematoxylin-eosin
nhuộm ở 200. (A) Cấu trúc chủ yếu bao gồm các sợi collagen dày đặc, với sự xâm nhập của
nguyên bào sợi (mũi tên xanh lá cây). (B) Các mạch mới hình thành (mũi tên màu xanh) đã được
xác định ở rìa của các mô collagen.
Có một vài tế bào lympho xâm nhập (mũi tên đỏ).
81

e-bacsy.com
có thể cung cấp một lượng mô dồi
dào độ dày đáng kể hơn cho độn
sống mũi. Tuy nhiên, lấy fascia lata
thì phải có vết mổ ở đùi. Fascia lata
tự giảm kích thước khi khô, và có
thể khó thao tác trong khi ướt. Do
đó, fascia tương đồng, chẳng hạn
như TPFL, đã được giới thiệu với
ưu điểm là tránh vết mổ ở đùi và
giảm thời gian mổ.

Các sản phẩm đại diện của
TPFL là Tuto-plast fascia lata (Tu­
toplast; Tutogen Medical GmbH,
Neunkirchen am Brand, Đức) và
Allosheet (CG Bio, Seongnam-si,
Gyeonggi-do, Korea). Họ trải qua
các quá trình khử trùng mô của Tu­
toplast, gồm các phương pháp kiềm
hóa, thẩm thấu và oxy hóa, khử
nước bằng dung môi, đóng gói vô
trùng kép và cuối cùng là chiếu xạ
bằng tia gamma (15->25 kGy). Các
giai đoạn xử lý được xác nhận là loại
bỏ các cấu trúc miễn dịch, kháng
nguyên- vi trùng, trong khi bảo tồn
tính toàn vẹn sinh hóa và cấu trúc
mô tự nhiên.

Sinh học bằng quy trình Tuto­
plast đã được áp dụng trong ngành
chấn thương chỉnh hình, phẫu thuật
bụng, phẫu thuật tạo hình, nhãn
khoa và tiết niệu.

Trong tạo hình mũi, TPFL đã
được sử dụng trong độn sống mũi,
đầu mũi và tái tạo xoang cạnh mũi
và sống mũi. Dùng TPFL trong nâng
mũi thì rất an toàn và hiệu quả, đặc
biệt là cung cấp một dáng mũi trơn
tru sau phẫu thuật với nguy
cơ nhiễm trùng thấp.
Quy trình phẫu thuật

Bắt đầu với rạch da, phẫu
thuật cắt bỏ lớp ngoài của sụn mũi
và bóc tách dưới màng xương mũi
được thực hiện rõ ràng. Đầu trên
của chất liệu nên được đặt ở ngang
giữa 2 góc mắt, và đầu dưới được
đặt ở đỉnh mũi hơi xuống dưới.
TPFL được ngâm trong dung dịch
nước muối trong ít nhất 5 phút
trước khi sử dụng (theo hướng
dẫn của nhà sản xuất) và sau đó cắt
thành nhiều dải dài có chiều rộng
1cm. Các dải thường được xếp lớp
(2->7 lớp trong tài liệu) và được
khâu bằng chỉ 5-0 polydioxanone,
theo sự mong muốn độn cần thiết
(Hình 7). Thật tốt hơn cho phần
cuối của đầu mũi bằng TPFL cho
dáng đầu mũi có độ cao từ sống đến
đâu mũi. Cắt vát cẩn thận để tránh
lộ phần gốc của sống mũi. Các TPFL
được xếp lớp, làm tròn và đưa vào
trong sống mũi. Khi cần nâng cao
thêm sống mũi, sụn vách ngăn hoặc
sụn tai có thể được đặt dưới TPFL.

Ngoài ra, sụn vách ngăn hoặc
xương có thể được kẹp giữa các lớp
TPFL và được giữ lại bằng chỉ khâu
tiêu cho dễ chèn thêm các mảnh
ghép và kỹ thuật có thể thực hiện
qua nọi soi.
Ưu điểm

TPFL rất dễ thao tác, chẳng
hạn như cắt thành hình dạng mong
muốn và tạo nên nhiều lớp.
82

e-bacsy.com
Có sẵn nhiều kích cỡ và thiết kế tùy
thuộc vào hình dạng mong muốn
của sống mũi. Hơn nữa, nó là một
mảnh ghép tương thích sinh học và
an toàn ít nguy cơ di lệch hoặc trồi
ra. Nhiễm trùng muộn là rất hiếm
so với ghép dị loại. Khi TPFL là cấy
ghép, có rất ít cơ hội nhiễm trùng.
Hơn nữa, dáng mềm của nó cho
phép phù hợp tốt với các mô xung
quanh, dẫn đến sống mũi mượt mà.

Trong một nghiên cứu trên
69 bệnh nhân trải qua phẫu thuật
nâng mũi bằng TPFL đơn thuần
hoặc kết hợp với các vật liệu khác,
không có biến chứng nghiêm trọng
nào, chẳng hạn như nhiễm trùng,
đùn mảnh ghép hoặc lộ mảnh ghép,
đã được quan sát trong thời gian
theo dõi trung bình 17 tháng. Sửa
lại mũi bằng TPFL, 88% người cho
thấy cải thiện thẩm mỹ thuận lợi mà
không có biến chứng lớn.

Các tác giả trình bày đã trải
qua 104 bệnh nhân được phẫu
thuật nâng mũi bằng TPFL. Thích
hợp cao ở vùng sống mũi và đầu mũi
đã đạt được trong cả nâng mũi lần
đầu và sửa lại (Hình 8 và 9). Không
có trường hợp nhiễm trùng, di lệch
mảnh ghép hoặc tự tiêu đáng kể.

Hơn nữa, những thay đổi mô
học sau phẫu thuật của TPFL đã ng­
hiên cứu ở 2 người đã loại bỏ TPFL
để điều chỉnh thẩm mỹ phù hợp
hơn, không phải do các biến chứng
Hình 7. Hình minh họa của TPFL 4 lớp sau khi khâu bằng chỉ 5-0 polydioxanone. (A) Nhìn
thẳng và (B) nhìn nghiên của TPFL. (Dong-Su Jang, Seoul, Illustrator y tế, Hàn Quốc.)
83

e-bacsy.com
liên quan đến mảnh ghép. Trong
cả hai trường hợp, các mảnh ghép
được kết hợp nhẹ nhàng vào các
mô xung quanh mà không có dấu
hiệu nhiễm trùng hoặc tụ dịch. Độ
dày của TPFL đã không giảm đáng
kể, duy trì hình dạng thích hợp.
Khi kiểm tra bằng kính hiển vi,
cấu trúc chủ yếu bao gồm các mô
sợi dày đặc với sự tăng sinh mạch
máu và tăng tế bào sợi non. Mảnh
ghép phù hợp tốt với các mô xung
quanh kèm theo xơ hóa ở khu vực
rìa. Không thấy hình thành bao sơ
dày (Hình 10).
Nhược điểm và cân nhắc

Nhược điểm chính của TPFL
là tự tiêu theo thời gian. Trong
một nghiên cứu về mô hình nâng
mũi trên thỏ, không có sự giảm độ
dày đáng kể ở cả TPFL và ghép fas­
cia lata tự thân trong 6 tháng. Tuy
nhiên, các bác sĩ phẫu thuật nên lưu
ý đến khả năng tự tiêu khi sử dụng
TPFL ở người. Tỷ lệ tự tiêu là khác
nhau ở mỗi người, 0,7% và 4,3%
được báo cáo trong các nghiên cứu
của Jang và đồng nghiệp. Theo báo
cáo của Altun và cộng sự, tự tiêu lớn
nhất và nhỏ hất là 21,4% và 7,1%, ở
những người sửa lại mũi. Các cơ chế
hấp thu TPFL bao gồm phản ứng
chống lại vật chủ, sự phát triển bên
trong của mô liên kết và giảm kích
cỡ do áp lực mô xung quanh.

Nhiễm trùng là một biến
chứng hiếm gặp. Một trường hợp
đã được báo cáo bởi Kang và các
đồng nghiệp, 38 tuổi nhưng dường
như là do nhiễm vi khuẩn trong quá
trình phẫu thuật chứ không phải do
vấn đề của chính TPFL.

Các tác giả đã báo cáo có 5
trường hợp (4,8%) gồ ghề ở mũi
sau 6 tháng phẫu thuật; tuy nhiên,
hiện tượng này tự khỏi giải quyết
mà không cần can thiệp phẫu thuật
trong 4 trường hợp (Hình 11). Xem
xét thời gian ngắn để giải quyết
tức thời, sự gồ ghề có thể trong quá
trình chữa lành tự nhiên ở vùng
mũi. Ngoài ra, có 4 trường hợp
(3,8%) đỏ đầu mũi; tất cả trong số
họ đã hồi phục sau khi điều trị bằng
laser.
Tóm lại

Nâng mũi là một quy trình
thiết yếu trong phẫu thuật tạo hình
mũi đặc biệt là đối với người châu
Á; do đó, điều quan trọng là tìm ra
vật liệu độn lý tưởng. Chất liệu ghép
tương đồng là an toàn và tương
thích sinh học với nguy cơ biến
chứng thấp, chẳng hạn như nhiễm
trùng và trồi mảnh ghép. ADM được
xử lý từ da người thông qua các
kỹ thuật xử lý chuyên biệt, bảo tồn
cấu trúc và tính toàn vẹn của lớp hạ
bì. ADM cung cấp một diện mạo
mũi tự nhiên và tính toàn vẹn
cấu trúc lâu dài mà không trồi ra.
Hầu hết những người độn mũi bằng
ADM đều cho kết quả thuận lợi
mà không có biến chứng nghiêm
trọng. TPFL có nguồn gốc từ fascia
lata đã qua các quá trình khử
84

e-bacsy.com
Hình 8. Hình ảnh khuôn mặt của người nam đã phẫu thuật nâng mũi bằng TPFL. (A) Ảnh ng­
hiên trước phẫu thuật. (B) Ảnh nghiên sau 6 tháng phẫu thuật. Nâng mũi đúng cách đã được
thực hiện sau phẫu thuật
trùng. TPFL mềm mại và dễ thao
tác, cung cấp một dáng mũi mềm
mại sau phẫu thuật với ít nguy cơ
nhiễm trùng hoặc di lệch thấp. Tích
hợp tốt với các mô xung quanh,
kèm theo kết quả thẩm mỹ thỏa
đáng mà không có biến chứng lớn.
Tự tiêu mảnh ghép được coi là vấn
đề chính trong cả ADM và TPFL.
Cần thận trọng đặc biệt ở những
bệnh nhân da mỏng và những
người bị bệnh mạch máu từ trước.
Được kết hợp với nhau, mảnh ghép
tương đồng, ADM và TPFL, là
những chất liệu ghép khả thi mang
đến sự nâng cao đầy đủ và sự hài
lòng của bệnh nhân với các biến
chứng tối thiểu trong cả phẫu
thuật nâng mũi mới và sửa lại.
85

e-bacsy.com
Hình 9. Hình ảnh khuôn mặt của người nam đã phẫu thuật sửa lại nâng mũi bằng TPFL. (A) Ảnh
nghiên trước phẫu thuật. (B) Ảnh nghiên sau 6 tháng phẫu thuật. Nâng mũi đúng cách đã được
thực hiện sau phẫu thuật.
Hình 10. Kiểm tra mô học của TPFL được cấy ghép sau 7 tháng phẫu thuật. Hematoxylin-eosin
nhuộm ở 100 (A) và 200 (B) cho thấy mô xơ dày đặc với sự hình thành mạch máu (mũi tên
đỏ) và thâm nhiễm nguyên bào sợi (mũi tên màu xanh).
86

e-bacsy.com
Hình 11. Sự bất thường của sống mũi sau khi nâng mũi lần đầu (A) và sửa lại (B) nâng mũi
bằng TPFL.
Tài liệu tham khảo
1. Romo T 3rd, Kwak ES. Nasal
grafts and implants in revision
rhinoplasty. Facial Plast Surg Clin
North Am 2006;14(4):373–87, vii.
2. Jang YJ, Moon BJ. State of the art in
augmentation rhinoplasty: implant
or graft? Curr Opin Otolaryngol
Head Neck Surg 2012;20(4):280
3. Brenner MJ, Hilger PA. Grafting
in rhinoplasty. Facial
Plast Surg Clin North Am
2009;17(1):91–113, vii.
4. Malone M, Pearlman S. Dorsal
augmentation in rhi- noplasty: a
survey and review. Facial Plast
Surg 2015;31(3):289–94.
5. Gryskiewicz JM. Dorsal aug­
mentation with Allo- Derm. Semin
Plast Surg 2008;22(2):90–103.
6. Sherris DA, Oriel BS. Human
acellular dermal matrix grafts for
rhinoplasty. Aesthet Surg J 2011;
31(7 Suppl):95S–100S.
7. Lee JH, Kim HG, Lee WJ. Charac­
terization and tis- sue incorpora­
tion of cross-linked human acel­
lular dermal matrix. Biomaterials
2015;44:195–205.
8. Carlson TL, Lee KW, Pierce LM.
Effect of cross- linked and non-
cross-linked acellular dermal
matrices on the expression of me­
diators involved in wound healing
and matrix remodeling. Plast Re-
constr Surg 2013;131(4):697–705.
87

e-bacsy.com
9. Cummings LC, Kaldahl WB, Al­
len EP. Histologic evaluation of
autogenous
connective
tissue
and acellular
dermal matrix
grafts in humans. J Periodontol
2005;76(2):178–86.
10. Sajjadian A, Naghshineh N, Ru­
binstein R. Current status of grafts
and implants in rhinoplasty: part
II. homologous grafts and allogen­
ic implants. Plast Re- constr Surg
2010;125(3):99e–109e.
11. Dunn RM. Cross-linking in bio­
materials: a primer for clinicians.
Plast Reconstr Surg 2012;130(5
Suppl 2):
18S–26S.
12. Cole PD, Stal D, Sharabi SE, et al.
A comparative, long-term assess­
ment of four soft tissue substitutes.
Aesthet Surg J 2011;31(6):674–81.
13. Seto A, Gatt CJ Jr, Dunn MG.
Radioprotection of tendon tissue
via crosslinking and free radical
scav- enging. Clin Orthop Relat Res
2008;466(8):1788–95.
14. Megaderm. L&C Bio. Product.
Available at:
product/megaderm/.
Accessed
September 1, 2017.
15. AlloDerm. Lifecell Corp. Prod­
uct. Available at: http://
cell.com/products/allodermtm.
Accessed September 1, 2017.
16. Gryskiewicz JM. Waste not,
want not: the use of Al- loDerm in
secondary rhinoplasty. Plast Re­
constr Surg 2005;116(7):1999–
2004.
17. Gryskiewicz JM, Rohrich RJ,
Reagan BJ, et al.
The use of AlloDerm for the cor­
rection of nasal contour deformi­
ties. Plast Reconstr Surg 2001;
107(2):561–70.
18. Jackson I, Yavuzer R. AlloDerm
for dorsal nasal ir- regularities. Plast
Reconstr Surg 2001;107(2):553–8.
19. Suh MK, Lee KH, Harijan A, et
al. Augmentation rhi- noplasty with
silicone implant covered with acel­
lular dermal matrix. J Craniofac
Surg 2017;28(2):445–8.
20. Gordon CR, Alghoul M, Gold­
berg JS, et al. Diced cartilage grafts
wrapped in AlloDerm for dorsal
nasal augmentation. J Craniofac
Surg 2011;22(4):1196–9.
21. Romo T, Sclafani AP, Sabini P.
Reconstruction of the major sad­
dle nose deformity using compos­
ite allo- implants. Facial Plast Surg
1998;14(02):151–7.
22. Lee KH. Infection in the nasal
tip caused by acellular dermal ma­
trix. Plast Reconstr Surg Glob Open
2015;3(12):e581.
23. Karaaltin MV, Orhan KS, Demi­
rel T. Fascia lata graft for nasal
dorsal contouring in rhinoplas­
ty. J Plast Re- constr Aesthet Surg
2009;62(10):1255–60.
24. Baker TM, Courtiss EH. Tem­
poralis fascia grafts in open sec­
ondary rhinoplasty. Plast Recon­
str Surg 1994;93(4):802–10.
25. Sclafani AP, McCormick SA,
88

e-bacsy.com
Cocker R. Biophysical and micro­
scopic analysis of homologous
dermal and fascial materials for
facial aesthetic and reconstructive
uses. Arch Facial Plast Surg 2002;
4(3):164–71.
26. Gubisch W, Constantinescu MA.
Refinements in ex- tracorporal sep­
toplasty. Plast Reconstr Surg 1999;
104(4):1131–9 [discussion: 1140].
27. lata Tpf. Tutogen Medical GmbH.
Product. Available at:
rtix.com/en_us/healthcare-profes­
sionals/ tissue-sterilization/tuto­
plast-tissue-sterilization-process.
Accessed September 1, 2017.
28. Ghoniem GM. Allograft sling
material: is it the state of the art?
Int Urogynecol J 2000;11(2):69–70.
29. Jang YJ, Wang JH, Sinha V, et
al. Tutoplast-pro- cessed fascia lata
for dorsal augmentation in rhino-
plasty. Otolaryngol Head Neck
Surg 2007;137(1):88–92.
30. Kim JH, Wang JH, Jang YJ. Exci­
sion of a nasal der- moid sinus cyst
via open rhinoplasty approach and
primary reconstruction using tu­
toplast-processed fascia lata. Clin
Exp Otorhinolaryngol 2010;3(1):
48–51.
31. Jang YJ, Kim JH. Use of tuto­
plast-processed fascia lata as an
onlay graft material for tip surgery
in rhino- plasty. Otolaryngol Head
Neck Surg 2011;144(4): 528–32.
32. Hyun SM, Min JY, Jang YJ. Re­
duction osteoplasty for treating
pneumosinus dilatans of the
for treating pneumosinus dilatans
of the maxillary sinus. J Laryngol
Otol 2013;127(2):207–10.
33. Kim YS, Park DY, Shin DH, et al.
Surgical outcomes of primary and
revision augmentation rhinoplasty
us- ing a processed fascia lata. Am
J Rhinol Allergy 2015;29(2):141–4.
34. Jang YJ, Song HM, Yoon YJ, et
al. Combined use of crushed carti­
lage and processed fascia lata for
dor- sal augmentation in rhino­
plasty for Asians. Laryngo- scope
2009;119(6):1088–92.
35. Altun H, Hanci D, Can Y. Mul­
tilayer tutoplast- processed fascia
lata use in revision rhinoplasty
for overresected dorsum. Eur J
Plast Surg 2015; 38(4):279–84.
36. Issing W, Anari S. Sandwich
technique in nasal dor- sal aug­
mentation. Eur Arch Otorhinolar­
yngol 2011; 268(1):83–6.
37. Yu MS, Park HS, Lee HJ, et al.
Histomorphological changes of Tu­
toplast-processed fascia lata grafts
in a rabbit rhinoplasty mod­
el. Otolaryngol Head Neck Surg
2012;147(2):239–44.
38. Kang IG, Jung JH, Cha HE,
et al. A case of infection of tuto­
plast-processed fascia lata in aug­
mentation rhinoplasty. J Rhinol
2010;17(1):60–2.
89

e-bacsy.com
MỤC TIÊU
• Chất làm đầy (chất độn, Filler) phải được tiêm vào lớp mỡ sâu, giữa màng
sụn hoặc màng xương và lớp cơ, nơi không có mạch máu lớn, để tránh tổn
thương mạch máu.
• Filler thường được tiêm theo thứ tự; gốc mũi, thân mũi, đầu mũi và cuối
cùng là đỉnh mũi.
• Bác sĩ phẫu thuật phải luôn luôn đánh dấu đường giữa trên sống mũi và
thực hiện thủ thuật mà không đi lệch khỏi đường giữa để giảm thiểu sự bất
cân xứng của mũi tiêm.
Chương 6
Nâng mũi bằng tiêm Filler
Hyoung Jin Moon, MD
Từ khóa
• Tạo hình mũi • Filler • Tiêm • Mũi • Tạo hình mũi không phẫu
thuật • Nâng mũi bằng filler
Đại Cương

Phẫu thuật tạo hình mũi là
một trong những phẫu thuật phổ
biến nhất trong phẫu thuật thẩm
mỹ. Thực hiện thường xuyên hơn ở
người châu Á do sống mũi thấp và
đầu mũi tẹt. Tuy nhiên, phẫu thuật
nâng mũi bằng phẫu thuật cấy ghép
và ghép tự thân đòi hỏi thời gian
phục hồi lâu hơn và có nhiều biến
chứng; do đó, nhiều người ngần
ngại khi phẫu thuật. Ngoài ra, người
ta cũng nhận ra rằng từng bước để
tiếp cận nâng mũi. Vì những lý do
này, nhiều bác sĩ và bệnh nhân thích
một kỹ thuật đơn giản và rẻ tiền
hơn với ít tác dụng phụ hơn và thời
gian nghỉ dưỡng ngắn hơn. Nâng
mũi bằng filler là kỹ thuật đáp ứng
nhu cầu này.

Filler được xác định, đưa ra
tất cả các chất liệu filler để tiêm.
Các filler nổi tiếng nhất gồm các
sản phẩm axit hyaluronic, collagen,
parafin và silicon lỏng. Filler thường
được phân loại bởi các thành phần
của chúng.

Filler cũng có thể được phân
loại theo thời gian tác dụng của
chúng. Filler có thời gian dưới 2
năm được gọi là filler tạm thời,
những filler có thời gian từ 2 đến 5
năm được gọi là filler bán vĩnh viễn
và những filler kéo dài không dưới
90

e-bacsy.com
5 năm sau khi tiêm được gọi là filler
vĩnh viễn.

Hầu hết các filler được cho là
an toàn tốt.

Tuy nhiên, tác dụng phụ ng­
hiêm trọng, chẳng hạn như hình
thành u hạt hoặc viêm, đã được báo
cáo; do đó, cần phải chọn filler lý
tưởng bằng cách hiểu các đặc tính
của từng sản phẩm. Filler lý tưởng
nên không có phản ứng mô; được
an toàn lâu dài, dễ tiêm; và không
xâm nhập vào tổ chức hoặc phản
ứng dị ứng.
Giải phẫu cho nâng mũi bằng
Filler

Nâng mũi bằng filler chỉ có
thể được thực hiện thành công nếu
giải phẫu mũi được hiểu thấu đáo.
Đó là một thủ thuật để tăng hình
dạng mũi bằng cách tiêm vật liệu
vào khoảng trống giữa da và xương
mũi bao gồm sụn và xương.

Khung rắn của mũi là cấu trúc
hỗ trợ duy trì hình dạng của filler
và đạt được kết quả thẩm mỹ. Do
đó, không thể mong đợi kết quả
khả quan sau thủ thuật nếu khung
mũi bị biến dạng hoặc yếu. Nâng
mũi bằng filler có thể nói là phản
ánh khả năng của từng bác sĩ phẫu
thuật, đặc điểm giải phẫu của mũi
người và sự nhận biết của bác sĩ
phẫu thuật về những thay đổi theo
từng người. Khi thực hiện nâng mũi
bằng filler, tất cả các khía cạnh phải
được xem xét, bao gồm cả độ dày và
chất lượng da và các mô mềm; và
kích thước, hình dạng và sức mạnh
của sụn và xương.
Mô mềm của mũi

Điều quan trọng là phải đánh
giá da mũi trước khi thực hiện thủ
thuật nâng mũi. Nhìn chung, người
châu Á có da dày hơn, nhiều tuyến
bã hơn và mô dưới da nhiều hơn so
với người da trắng.

Khó thực hiện filler hơn ở
những người da dày, nhờn vì dễ bị
phù nề nghiêm trọng hơn sau tiêm
và khó tạo ra hình dạng 3 chiều cho
mũi. Mặt khác, ở những người như
vậy, những bất thường tức thời hoặc
không đối xứng có thể được ngụy
trang dễ dàng hơn so với những
người có làn da mỏng.

Các mô mềm của sống mũi là
dày nhất ở gốc mũi, và mỏng nhất
là ở khớp gian mũi, đó là điểm giao
nhau của sụn và xương mũi.
Phần phủ bên ngoài giữa da và
xương hoặc sụn gồm 4 lớp: lớp mỡ
nông, lớp cân mạc nông (lớp SMAS:
superficial
musculo-aponeurotic
system), lớp mỡ sâu và lớp màng
sụn hay màng xương.

Các mạch máu chính của
mũi nằm trong lớp SMAS hoặc lớp
mỡ nông. Do đó, để giảm thiểu tổn
thương mạch máu, lớp lý tưởng và
an toàn để tiêm filler là lớp mỡ sâu
nằm giữa SMAS và màng sụn hoặc
màng xương (Hình 1).
91

e-bacsy.com
Hình 1. Phủ bên ngoài mũi gồm 4 lớp: lớp mỡ nông, lớp cân mạc nông (SMAS: superficial mus­
culo-aponeurotic system), lớp mỡ sâu và lớp màng sụn hay màng xương. Các mạch máu chính
của mũi bên ngoài nằm trong lớp mỡ nông (lớp SMAS). Do đó, để giảm thiểu chấn thương mạch
máu, lớp lý tưởng và an toàn cho tiêm filler là lớp mỡ sâu nằm giữa SMAS và màng sụn hoặc
màng xương. (Moon HJ. Filler trong phẫu thuật nâng mũi. Phẫu thuật Plast lâm sàng 2016; 43
(1): 307 Vang 17;.)

Đôi khi một số cơ mũi bị liệt
khi sử dụng botulinum để tăng
cường hiệu quả của việc nâng mũi
bằng filler. Ví dụ, cơ hạ vách mũi bắt
nguồn từ cơ vòng môi và kết thúc
ở lớp đầu trong của sụn cánh mũi
ngoài dưới. Cơ này làm hạ đầu mũi
khi cười hoặc làm biểu cảm trên
mặt, và nó thường bị liệt do tiêm
botulinum để ức chế chức năng.
Cung cấp máu vùng mũi

Biến chứng đáng sợ nhất của
tiêm filler là thuyên tắc mạch máu.
Để ngăn ngừa biến chứng này, bác sĩ
phẫu thuật phải biết các mạch máu
vùng mũi.

Cả động mạch cảnh trong và
động mạch cảnh ngoài đều cung cấp
máu cho mũi thông qua động mạch
mắt và động mạch mặt, tương ứng.
Động mạch nhãn cầu chủ yếu cung
cấp máu cho phần trên của mũi
92
Thượng bì
Bì
Lớp mỡ nông
Tổ chức cân cơ
Lớp mỡ sâu
Màng xương hay màng sụn
Xương hay sụn

e-bacsy.com
thông qua nhánh của động mạch
sàng trước và động mạch sống
mũi; động mạch mặt xuất phát từ
động mạch góc và động mạch môi
trên cung cấp phần dưới của mũi.
Mỗi nhánh này ra động mạch mũi
ngoài và động mạch trụ mũi. Chóp
mũi nhận được sự cung cấp máu từ
động mạch sống mũi nông và động
mạch mũi ngoài và động mạch trụ
mũi dưới.
Lựa chọn bệnh nhân

Để thực hiện nâng mũi bằng
filler hiệu quả, bác sĩ phẫu thuật
phải chọn những người phù hợp
với thủ thuật nâng mũi bằng chất
làm đầy. Những người thường có
xu hướng cho kết quả tốt là những
người có mũi gồ nhẹ, mũi lệch nhẹ,
đầu mũi cao với gốc mũi phẳng, mất
cân bằng nhẹ do phẫu thuật, v.v.
Những người có mũi gồ nặng, mũi
lệch nặng, mũi hếch và mũi to thì
không mong đợi sẽ có kết quả tốt
chỉ từ filler.

Người ta nên thận trọng khi
đưa ra quy trình này cho người đã
đặt mô cấy ghép, hoặc những người
có tiền sử tiêm parafin hoặc silicon
lỏng, vì có thể xảy ra bất thường về
da và tổn thương mạch máu.
Kỹ thuật tiêm

Nâng mũi bằng filler gồm 2
phần chính: tiêm vào sống mũi và
đầu mũi. Liên quan đến cấu trúc rắn
và vững chắc nâng đỡ cho sống mũi,
cụ thể là xương chính mũi và sụn
cánh mũi trên, do đó dễ dàng hơn
để tăng cường bằng cách tiêm filler.
Tuy nhiên, không dễ để tạo trái mũi
hoặc kéo dài đầu mũi, đặc biệt là
ở những người châu Á do cấu trúc
nâng đỡ yếu.

Sau khi so sánh và phân tích
hình dạng mũi lý tưởng và hình
dạng mũi của bệnh nhân, hãy quyết
định nâng phần nào và nâng bao
nhiêu.

Gây tê tại chỗ bằng thuốc tê
bôi khoảng 40 phút thường là đủ để
tê trước khi làm thủ thuật.

Đường giữa được đánh dấu
dọc theo mũi sau khi gây tê. Nó nên
được đánh dấu chính xác để ngăn
ngừa các biến chứng như không
đối xứng. Để tìm điểm bắt đầu tiêm
nên tiêm ở góc mũi trán là rất quan
trọng. Gốc mũi nên bắt đầu ngang
bờ trên sụn mi với góc nhìn nghiên
trên người châu Á nhưng nó thay
đổi tùy theo sở thích của từng bệnh
nhân, chiều cao của trán và chiều
dài của mũi. Phần sống mũi phải
thấp hơn 1->2 mm đoạn từ khớp
gian mũi đến đầu mũi cho cả người
châu Á và người châu Âu. Tuy nhiên,
một số người có thể thích sống mũi
thẳng.
93

e-bacsy.com

Mũi có thể được chia thành 4
phần: gốc mũi, khớp gian mũi, trên
đầu mũi và đầu mũi (Hình 2). Các
phương pháp tiêm khác nhau nên
được sử dụng vì mỗi phần có độ
dày mô dưới da khác nhau, cũng
như các đặc điểm và độ bền khác
nhau của các cấu trúc nâng đỡ. Sau
khi đánh dấu 4 phần, bất kỳ khiếm
khuyết nào cần tiêm filler ở hai bên
mũi nên đánh dấu.

Tiêm filler theo thứ tự thì

chia mũi thành 4 phần: gốc
mũi, khớp gian mũi, đầu mũi và cuối
cùng là trên đầu mũi (Hình 3). Tiêm
đầu mũi trước vùng trên đầu mũi vì
đầu mũi được nâng đỡ yếu, đặc biệt
ở người châu Á; do đó rất khó để dự
đoán số lượng độ nhô đầu mũi. Nếu
vùng trên đầu mũi được tiêm trước
đầu mũi và không thể đạt được độ
nhô đầu mũi đầy đủ, biến dạng Pol­
ly có thể xảy ra.

Có những bất lợi khi nâng đầu
mũi bằng tiêm filler, chẳng hạn như
Hình 2. Bác sĩ phẫu thuật đánh dấu đường giữa mũi trên sống mũi trước khi làm thủ thuật.
Đường giữa phải được đánh dấu chính xác để hạn chế các biến chứng như không đối xứng.
Bước tiếp theo là đánh dấu điểm của vị trí gốc mũi lý tưởng. Ở người châu Á, đây là nếp mí trên
sụn mi. Quy trình tiêm filler được thực hiện bằng cách chia mũi thành 4 phần: gốc mũi, khớp
gian mũi, trên đầu mũi và đầu mũi. Các phương pháp tiêm khác nhau nên được sử dụng vì mỗi
phần có độ dày mô dưới da khác nhau, cũng như các đặc điểm và độ bền khác nhau của các cấu
trúc nâng đỡ. (Từ Moon HJ. Sử dụng filler trong phẫu thuật nâng mũi. Phẫu thuật Plast lâm sàng
2016; 43 (1): 307 Vang.)
94
Gốc mũi
Khớp gian mũi
Trên đầu mũi
Đầu mũi

e-bacsy.com
tuổi thọ ngắn hoặc độ nhô hạn chế
so với phẫu thuật nâng mũi. Tuy
nhiên, đây là một lựa chọn tốt khi
bệnh nhân không muốn phẫu thuật
hoặc muốn làm một thủ thuật đơn
giản hơn và ít tốn thời gian nghỉ
dưỡng.

Tiêm sống mũi sẽ có hiệu quả
để nâng đầu mũi bằng cách tạo kho­
ang bên trong, góc cạnh mũi má là
góc tù, dùng khoảng 0,5 ml ở vùng
này.

Nếu tiêm filler vào trụ mũi,
thì lúc này filler có chức năng như
khung nâng đỡ đầu mũi, và có thể
điều chỉnh co rút trụ mũi. Thông
thường, dùng 0,2->0,3 ml filler.
Trong trụ mũi , mạch máu chủ yếu
là nằm giữa đầu trong sụn mũi và
lớp biểu bì, vì vậy tốt hơn là nên
tiêm filler giữa 2 đầu trong của sụn
cánh mũi (MC) để ngăn ngừa tổn
thương mạch máu. Khi tiêm filler
vào vùng sống mũi, dùng 2 ngón tay
để giữ vách ngăn màng và không để
filler chui xuống vách ngăn. Nếu fill­
er phình ra từ vách ngăn màng về
phía khoang mũi, người bệnh có thể
bị khó thở. Do đó, kiểm tra xem fill­
er có phình vào khoang mũi sau khi
làm thủ thuật hay không; nếu có, thì
vuốt ép filler chuyển nó đến giữa
mũi.
Tiêm đầu mũi bằng chất độn tạo
ra thể tích để định hình lại mũi.
Thể tích và vị trí tiêm phụ thuộc
vào ngoại hình mong muốn. Thông
thường, khoảng 0,2 cm3 là đủ và
tiêm vào dưới SMAS. Khi tiêm filler
vào chóp mũi, sẽ an toàn hơn khi
tiêm ở đường giữa để giảm thiểu
lệch đầu mũi và không đối xứng.

Co kéo cánh mũi có thể sửa
chữa thông qua tiêm filler. Tuy
nhiên, không nên dùng cho những
người bị sẹo từ lần phẫu thuật trước
do nguy cơ hoại tử da hoặc không
đều.

Tiêm filler để nâng mũi chủ
yếu sử dụng kỹ thuật xuyên qua da
trong đó filler được tiêm dưới dạng
kim hoặc ống thông sau khi hút ra.
Bác sĩ phẫu thuật có thể sử dụng
kim nhọn hoặc kim đầu tù;
Hình 3. Chất làm đầy thường được tiêm
theo thứ tự: gốc mũi, khớp gian mũi, đầu mũi
và vùng trên đầu mũi. (Chuyển thể từ Moon
HJ. Sử dụng chất làm đầy trong phẫu thuật
nâng mũi. Phẫu thuật Plast lâm sàng 2016;
43 (1): 307 Phản17.)
95

e-bacsy.com
tuy nhiên, kim đầu tù được khuyến
khích cho người mới bắt đầu vì ít
khả năng biến chứng như tiêm vào
mạch máu. Đôi khi, một mũi tiêm
duy nhất được sử dụng để sửa chữa
khiếm khuyết tại chỗ, sử dụng kim
nhọn dài 0,5 inch.

Điểm quan trọng nhất trong
việc tiêm filler để nâng mũi là thực
hiện đúng quy trình để filler nằm
ở giữa. Than phiền hay gặp nhất
sau thủ thuật nâng mũi bằng filler
là không đối xứng. Điều này cũng
đúng với thủ thuật nâng mũi bằng
filler. Như đã đề cập trước đó, bác
sĩ phẫu thuật phải luôn đánh dấu
đường giữa trên sống mũi và thực
hiện thủ thuật mà không đi lệch
khỏi đường giữa để giảm thiểu các
biến chứng như vậy.

Chúng tôi đề nghị bác sĩ
phẫu thuật sử dụng cả hai tay khi
thực hiện điều nâng mũi bằng chất
làm đầy. Trong khi sử dụng 1 tay
để tiêm, tay không tiêm phải định
hướng kim và chất làm đầy vào mô.
Điều này đảm bảo không có sự lan
rộng hoặc khuếch tán của chất liệu
vào mô và, nếu cần, chất làm đầy có
thể phải vuốt ép.

Sau khi tiêm, để tạo thành
một đường viền mịn trên sống mũi
bằng cách mát xa và vuốt ép. Bất kỳ
khu vực nào có chất độn quá mức
nên được ép về phía dưới và bất
kỳ khu vực nào còn thấp nên tiêm
thêm chất làm đầy. Tốt nhất là thực
hiện lại sau 2 tuần vì phù nhẹ có thể
xảy ra sau thủ thuật. Không cần
băng đặc biệt cũng không cần uống
thuốc kháng sinh.
Biến chứng

Nâng mũi bằng filler là rất an
toàn, nhưng đôi khi, các biến chứng
có thể xảy ra. Hầu hết các biến
chứng có thể được ngăn ngừa bằng
cách chọn các sản phẩm an toàn và
thực hiện quy trình một cách thích
hợp.

Các biến chứng chính của
tiêm filler là sưng, xuất huyết, bầm
tím, không đều màu da, không đều,
vón cục hoặc hình thành u hạt.
Nhiễm trùng có thể xảy ra, và các
biến chứng nghiêm trọng như hoại
tử da do tắt mạch máu là rất hiếm
nhưng cũng có thể.
Bầm tím

Bầm tím là một biến chứng
phổ biến của tiêm filler; nó được
gây ra do đầu kim làm tổn thương
mạch máu. Để giảm vết bầm tím,
việc xiên qua lớp cơ phải được giảm
thiểu trong quá trình tiêm filler, vị
trí tiêm phải được làm sạch bằng
tăm bông và quy trình nên được
thực hiện trong phòng sáng với ánh
sáng đầy đủ. Bệnh nhân cần được
thông báo không dùng thuốc làm
loãng máu như aspirin 1 tuần trước
khi làm thủ thuật. Chườm túi nước
đá vào vị trí tiêm ngay sau đó giúp
giảm thiểu vết bầm tím, và kim hoặc
cannulae đặc biệt có thể được sử
dụng để giảm thiểu chấn thương
96

e-bacsy.com
mạch máu. Nếu chảy máu xảy ra
kéo dài, vị trí tiêm được phủ bằng
gạc và giữa trong vài phút để đông
máu. Bệnh nhân cần được thông
báo rằng vết bầm chỉ là tạm thời
và không ảnh hưởng đến kết quả
điều trị cuối cùng. Cũng cần được
giải thích rằng vết bầm tím có
thể xuất hiện những ngày sau khi
tiêm nhưng sẽ từ từ mờ dần trong
khoảng 10 ngày.
Không đối xứng

Trong số các biến chứng phổ
biến nhất của nâng mũi bằng filler
là không đối xứng. Để ngăn chặn sự
bất đối xứng, đầu kim phải được đặt
chính xác ở đường giữa và hướng
mặt vát của kim về mặt phẳng giữa.
Khi tiêm filler vào người bị lệch
mũi, nên thận trọng theo dõi hình
dạng của mũi trong khi tiêm từ từ
một lượng nhỏ chất độn.
Lộ chất độn

Tiêm filler quá nông (gần bề
mặt da) có thể dẫn đến sự không
đồng đều của vị trí được tiêm hoặc
nhìn thấy filler. Để tránh điều này,
chất độn nên được tiêm vào lớp tổ
chức thích hợp theo đặc điểm của
nó.
Quá mẫn

Có thể có quá mẫn cảm với
các thành phần phụ của filler. Các
triệu chứng chính là đau và ban đỏ,
kèm theo ngứa và sốt. Trong hầu
hết các trường hợp, các triệu chứng
Hình 4. Các vùng tiêm filler để nâng đầu mũi là trụ mũi, vòm mũi, cánh mũi, sống mũi. Lượng
filler tiêm vào mỗi phần là khoảng 0,2 đến 0,5 ml. (Chuyển thể từ Moon HJ. Sử dụng fillertrong
phẫu thuật nâng mũi. Phẫu thuật Plast lâm sàng 2016; 43 (1): 307 Phản17; với sự cho phép.)
97
Bờ cánh mũi
Vùng vòm mũi
Góc nghiêng
Đầu giữa
Đầu ngoài
Khoảng giữa trụ mũi
Nền mũi

hacklink satın al mumu模拟器 雷电模拟器 向日葵 giftcardmall/mygift giftcardmall balance mygift giftcardmall matbet matbet giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Betgaranti Betgaranti Güncel Adres Betgaranti Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Fim İzle Fim İzle Giriş Fim İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Fim İzle Fim İzle Güncel Adres Fim İzle jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Giriş Casibom Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Jojobet Jojobet Giriş Jojobet Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Deneme Bonusu Film İzle Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Türkçe Dublaj Film İzle Film İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi perabet perabet giriş holiganbet holiganbet giriş Casibom Lesfillmercom Casibom Lesfillmercom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Gerbergirlcom Casibom Gerbergirlcom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Spcelectriccontrolcom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş marsbahis marsbahis giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş matbet matbet giriş matbet güncel giriş vaycasino vaycasino güncel giriş vaycasino giriş matbet matbet giriş pusulabet pusulabet giriş pusulabet pusulabet güncel giriş pusulabet giriş matbet matbet güncel giriş matbet giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Resmi Adres pusulabet pusulabet giriş pusulabet güncel giriş Fixbet Fixbet Güncel Giriş Salvobet Salvobet Giriş Salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Turk Porno Turk Porno Giriş Turk Porno casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi casibom casibom jojobet izmir escort izmir buca escort buca escort jojobet casibom holiganbet holiganbet giriş jojobet holiganbet holiganbet giriş jojobet jojobet jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş izmir escort izmir buca escort buca escort izmir escort bayan salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Giriş Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Deneme Bonusu Veren Giriş Deneme Bonusu Veren salvobet salvobet salvobet salvobet Casibom betgaranti betgaranti betgaranti matbet matbet giriş matbet matbet giriş Casibom Casibom Salvobet jojobet Salvobet Salvobet Salvobet Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Güncel Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis bahsegel Fixbet Fixbet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş 1xbet 1xbet Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Listesi Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler grandpashabet grandpashabet grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler vaycasino vaycasino giriş jojobet grandpashabet casibom Casibom Casibom Giriş casibom www.giftcards.com Marsbahis grandpashabet jojobet jojobet grandpashabet casibom jojobet Casibom Casibom Casibom Casibom Casibom Grandpashabet Grandpashabet Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Marsbahis Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres grandpashabet grandpashabet giriş Casibom Fixbet Fixbet Giriş Casibom Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Holiganbet Holiganbet Güncel Adres Nevşehir escort Kapadokya escort Nevşehir escort bayan nevşehir eskort escort nevşehir Casibom Casibom Giriş Adresi Kapadokya esc Casibom Casibom Resmi Adres Matbet Matbet Matbet Güncel Adres Pusulabet Pusulabet Giriş Adresi imajbet giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Trabzon escort escort trabzon Trabzon escort bayan Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler