e-bacsy.com
198
Hình 15. (A) Đính điểm giữa của xoắn tai và gấp lại. (B) Gập sụn tai lại đặt giữa thanh chống
ngoài và SEG.
e-PTFE có dạng tấm và dạng
khối. Các tấm được xếp chồng lên
nhau, trong khi khối phải được gọt
thêm để phù hợp với sống mũi.
Thông thường, mũi có gốc mũi cao
thì ghép tấm mỏng và mũi có gốc
mũi thấp thì cần cấy ghép dạng khối
dày hơn. Chiều dài và chiều rộng
phù hợp là rất quan trọng để tạo ra
mượt mà trơn tru của chất liệu với
mô xung quanh.
Mặt dưới của implant nên
được gọt dũa tốt để phù theo đường
viền của sống mũi, chú ý khu vực.
khớp gian mũi (Hình 18). Các
khoảng trống bên dưới mô cấy
ghép đặc biệt là vùng UC cần được
lấp đầy bằng sụn (Hình 19).
Tránh sử dụng các tấm e-PT
FE làm chất độn vì chúng có thể làm
mòn niêm mạc giữa UC và LC.
Đầu ngoài của implant phải
cố định vào vòm mũi để đầu mũi rủ
xuống, toàn bộ cấu trúc bao gồm cả
implant nhô ra như một đơn vị, do
đó tránh được lộ chất liệu vì tách ra
khỏi đầu mũi (Hình 20).
Sau khi nâng sống mũi và đầu
e-bacsy.com
199
Gấp sụn tại
Ghép mở rộng vách ngăn
Điểm nhô ra
Hình 16. (A) Gấp sụn tai lại và đính lên phần cuối đầu ngoài của SEG.
16 (B) Sụn tai gập lại tại vị trí cuối đầu ngoài của SEG.
e-bacsy.com
200
Sụn tai gập lại
Ghép mở rộng vách ngăn
Hình 17. (A) Sụn tai dài được gập lại và tạo khung nâng cho SEG nhỏ để tạo độ nhô và độ xoay
của đầu mũi tại điểm giữa chồi lên của sụn. (B) Chỗ khớp của sụn tai với SEG.
đầu mũi vào vị trí, thiết kế lại SSTE
và sờ nắn sống mũi để đạt được tất
cả các mốc thẩm mỹ mong muốn.
Tránh sờ thấy mảnh ghép bởi vì nó
có thể trở nên nhìn rõ từ bên ngoài
theo thời gian. Dùng mảnh ghép
hình chữ nhật để đạt được 2 bên
đầu mũi thật hơn vì phần đệm của
SSTE dày (Hình 21). Khi mũi có SSTE
mỏng, ghép sụn tai nghiền nhỏ cuối
cùng được đặt vào đầu mũi để trông
mịn màng hơn (Hình 22).
Khâu da ở trụ mũi bằng chỉ
tiêu và nylon 6-0. Đôi khi chèn 1
mảnh sụn tai có kích thước 1,5 mm
x 10 mm dưới dạng mảnh ghép viền
và để tằng độ vững của trụ mũi.
Tạo dạng phần mềm
Lấy bỏ mỡ đầu mũi: Để tinh chỉnh
thêm đầu mũi
Sau khi khâu da vùng trụ mũi, chú
ý đầu mũi và các điểm mốc thẩm
mỹ. Nếu đầu mũi vẫn còn to rộng,
dùng kẹp Tru-Cut (Karl Storz, CA,
USA) để kẹp bỏ mỡ vùng trên đầu
mũi qua vùng vết mổ chưa khâu ở 2
bên (Hình 23). Cẩn thận không cắt
mỡ ở vùng đầu mũi. Cơ chế bảo vệ
đầu mũi bỡi các tổ chức mỡ quanh
đầu mũi cho sụn đầu mũi để giúp
tăng độ mịn của đầu mũi và da đầu
e-bacsy.com
201
mũi khỏi bị lộ sụn theo thời gian.
Cánh mũi loe và tạo hình nền
mũi:
Luôn luôn thực hiện cuối cùng ,
nếu thấy cần thiết
Cánh mũi loe và tạo hình nền mũi
luôn luôn thực hiện cuối cùng sau
khi hoàn thành phẫu thuật nâng
mũi chính thức. Thông thường, độ
loe của cánh mũi sẽ cải thiện sau
khi hoàn thành nâng mũi cấu trúc
(Hình 24). Nếu cánh mũi vẫn còn
loe và/hoặc nền mũi còn rộng, thực
hiện cắt bỏ nêm đơn giản (Hình
25). Nếu có sự kết hợp của khuyết
tật, thì hiệu chỉnh là phân tích hai
chiều để giảm loe và thu hẹp nền
mũi (Hình 26).
Đôi khi, dùng chỉ khâu nylon
3-0 áp dụng như hình số 8.
Đảm bảo một phần của cơ mũi đã
khâu lại để giảm độ căng của khu
yết da. Dùng nylon 5-0 hoặc 6-0 mũi
đơn để đóng khuyết da.
Tổ chức phần mềm phụ cho
quy trình
Cắt bỏ hình bán nguyệt của tam
giác: Để định dạng lỗ mũi ngoài
theo ý muốn
Một số bệnh nhân bị xơ hóa ở
đầu mũi ngay cả sau khi nâng mũi
cấu trúc, đầu mũi vẫn còn to tròn
và hình dạng của lỗ mũi vẫn không
đẹp. Da dư vùng dưới đầu mũi và
hình dạng lỗ mũi ngoài được cắt bỏ
hình bán nguyệt lớp da và mỡ dưới
da (Hình 27). Khâu da bằng nylon
6-0 mũi rời.
Hình 18. Nâng sống mũi vừa phải. Mặt dưới sụn ở gốc mũi được gọt cong cho phù hợp với
xương và sụn bên dưới.
e-bacsy.com
202
Hình 19. Đôi khi có khoảng trống bên dưới mô cấy. Khoảng trống cần được lấp đầy bằng sụn
để tránh sự sụp xuống của implant gây ra thấp vùng trên đầu mũi.
Nâng hàm trên: tốt nhất cho móm
hàm trên
Hầu hết mũi người Đông
Nam Á có gai trước nhỏ do bị
móm hàm trên. Thông thường sau
khi nâng mũi cấu trúc bằng SEG,
mô mềm ở trước hàm trên bị dịch
chuyển về phía trước và lên trên để
lại một khoảng không ở vùng trước
hàm trên. Khoảng không này phải
được lấp đầy bằng các mảnh sụn
nhỏ để ngăn ngừa sự co rút và
co kéo các mô mềm dẫn đến móm
hàm trên. Thông thường, vách ngăn
và sụn tai thừa để nhét vào cho đầy
đặn. Tránh nhét quá nhiều mảnh
ghép vào vì nó có thể tạo phình và
xoay đầu mũi. Đôi khi e-PTFE được
sử dụng để ghép vào vùng này.
Nâng 2 bên mũi: Tốt nhất cho
vùng giữa mặt ít phát triển và
rãnh mũi má sâu.
Có những trường hợp sau
khi hoàn thành phẫu thuật nâng
mũi, phần giữa mặt bị thụt vào với
rãnh mũi má sâu. Chỉ cần nâng vùng
tam giác ở cạnh mũi thì sẽ chỉnh
được rãnh mũi má sâu. Chất liệu
bao gồm từ tổng hợp (silicon
hoặc ePTFE) đến sụn tự thân.
Rạch da vùng niêm mạc
miêng ở góc hàm trên. Dùng kéo
Hình 20. Implant cố định phía sau mảnh ghép
đầu mũi. Kỹ thuật này dẫn đến phức hợp đầu
mũi và implant như một đơn vị.
Khoảng chết
Sụn làm đầy
e-bacsy.com
203
Hình 21. (A) Trước phẫu thuật. (B) Một năm sau phẫu thuật. Nhô đầu mũi và sống mũi.
Hình. 22. (A) 10–12 mm x 4–5 mm mảnh ghép đầu mũi hình chữ nhật thì mềm khi dùng sụn
cắt nhỏ. (B) Khâu các mảnh ghép đầu mũi lại với nhau.
e-bacsy.com
204
Hình 23. (A) Nếu đầu mũi vẫn còn tròn to, dùng forcep đưa vào 2 bên vết mổ cánh mũi để loại
bỏ mỡ. (B) Loại bỏ mỡ là quy trình cuối cùng để tạo hình đầu mũi.
Hình 24. Thông thường độ loe của cánh mũi sẽ cải thiện sau khi tạo độ nhô đầu mũi.
e-bacsy.com
205
bóc tách cùn để tách trên màng
xương, nhấc lên nhẹ nhàng để tạo
ra một khoang ảo ngay bên dưới
chỗ tam giác. Tùy thuộc vào thể
tích cần thiết có hình tam giác hoặc
hình chữ nhật silicon hoặc e-PTFE
được tạo dạng và đưa vào không
gian dưới màng xương. Không cần
cố định.
Tài liệu tham khảo
1. Lee M, Callahan S, Cochran CS.
Auricular cartilage: harvest tech
nique and versatility in rhinoplasty.
Am J Otolaryngol 2011;32:547–52.
2. Jin HR. Aesthetic plastic surgery
of the East Asian face. New York:
Thieme; 2016. p. 108–21.
3. Han K, Kim J, Son D, et al. How to
harvest the maximal amount of sụn
tai cartilage grafts. J Plast Reconstr
Aesthet Surg 2008;61(12):1465–
71.
4. Gunter JP, Rohrich RJ, Adams
WP. Dallas rhino- plasty, vol. 1. St
Louis (MO): QMP; 2007. p. 401–9.
5. Ellenbogen R, Blome DW. Cánh
mũir rim raising. Plast Re- constr
Surg 1992;90(1):28–37.
Hình 25. Vẽ đường mổ da trong trường hợp
cách mũi loe.
Hình 26. Vẽ đường mổ da trong trường hợp
cánh mũi loe và nền mũi rộng.
Tóm lại
Kết quả nâng mũi lý tưởng thông
thường của mũi người Đông Nam Á
phải là mũi phù hợp với khuôn mặt
có chức năng tốt và tất cả các mốc
thẩm mỹ phải đạt được: sống mũi
tự nhiên, mất chỗ gãy trên đầu mũi,
làm mất da thừa dưới đầu mũi, trụ
mũi rõ ràng, liên quan trụ mũi-cánh
mũi tốt, Vùng trước hàm trên được
cải thiện, cải thiện lỗ mũi và cải
thiện cánh mũi loe (Hình 28 và 29).
e-bacsy.com
206
Hình 27. (A) Hình dạng lỗ mũi ngoài được cải thiện khi cắt bỏ hình elip bán nguyệt ở tam giác.
(B) Vẽ đường rạch da tại vùng tam giác để bảo tồn bờ cánh mũi. (C) Khâu da bằng nylon 6-0
mũi đơn. Lưu ý thay đổi ngay lập tức hình dạng lỗ mũi ngoài.
e-bacsy.com
207
Hình 28. (A) Phẫu thuật tạo hình mũi đặc trưng của người Đông Nam Á, 5 năm. (B) Nhìn ng
hiêng 1/4. (C) Nhìn nghiêng. (D) Nhìn từ dưới lên.
Hình 29. (A) Mũi ngắn và hếch 1 tuần sau phẫu thuật. (B) Nhìn nghiêng 1/4. (C) Nhìn nghiêng.
(D) Nhìn từ dưới lên
6. Bcánh mũidiang DE, Olveda MB,
Yap EC. The sail excision technique:
a modified cánh mũir lift proce
dure for south- east Asian noses.
Philippine Journal Otolaryngol
Head Neck Surgery 2010;25:31–7.
7. Yap E. Improving the hang
ing cánh mũi. Facial Plast Surg
2012;28(2):213–7.
8. Byrd HS, Andochick S, Copit
S, et al. Septal extension grafts:
a method of controlling tip projec
tion shape. Plast Reconstr Surg
1997; 100(4):999–1010.
9. Kim JH, Song JW, Park SW, et
al. Effective septal extension graft
for Asian rhinoplasty. Arch Plast
Surg 2014;41(1):3–11.
10. Porter JP, Tardy ME Jr, Cheng J.
The contoured auricular projection
graft for nasal tip projection. Arch
Facial Plast Surg 1999;1(4):312–5.
11. Kim HS, Park SS, Kim MH, et
al. Problems associ- ated with al
loplastic materials in rhinoplasty.
Yonsei Med J 2014;55(6):1617–23.
