PT-tao-hinh-mui-nguoi-chau-A-Full-dauxacnhan2

20/11/2025 • by Bs CKI Phẫu thuật tạo hình, tái tạo và thẩm mỹ Trương Hoài Anh • filler
Bìa sách Phẫu Thuật Tạo Hình Mũi Người Châu Á của Yong Ju Jang

Giới thiệu về tài liệu Phẫu Thuật Tạo Hình Mũi Người Châu Á

Cuốn sách Phẫu thuật tạo hình mũi người châu Á (Rhinoplasty for the Asian Nose) là một trong những tài liệu nền tảng và quan trọng nhất dành cho các bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ đang hành nghề tại khu vực Á Đông. Được chủ biên bởi Yong Ju Jang, MD, PhD – một chuyên gia hàng đầu về phẫu thuật mũi, cuốn sách đi sâu vào những đặc thù giải phẫu và kỹ thuật xử lý riêng biệt cho chiếc mũi người châu Á, vốn có nhiều điểm khác biệt so với mũi người da trắng (Caucasian).

Đây là bản biên dịch tiếng Việt chi tiết, giúp các bác sĩ dễ dàng tiếp cận các kiến thức cập nhật, từ các phương pháp nâng mũi cơ bản đến các kỹ thuật phức tạp như sửa mũi hỏng, mũi ngắn hay xử lý biến chứng.

Nội dung nổi bật và các chủ đề chính

Cuốn sách bao gồm 12 chương, bao quát toàn diện các khía cạnh của phẫu thuật mũi hiện đại:

  • Giải phẫu học đặc thù: Phân tích sâu về cấu trúc sụn yếu, da dày và đặc điểm mô mềm của mũi người châu Á (Chương 1).
  • Các phương pháp nâng sống mũi: So sánh và hướng dẫn kỹ thuật sử dụng Silicone (Chương 3), các vật liệu tự thân như trung bì mỡ, sụn sườn, sụn cắt nhỏ (Chương 4) và các mô tương đồng như ADM, cân cơ (Chương 5).
  • Kỹ thuật tạo hình đầu mũi: Hướng dẫn chi tiết về ghép mở rộng vách ngăn (SEG) – chìa khóa vàng trong nâng mũi châu Á (Chương 7), và các kỹ thuật ghép sụn đầu mũi đa lớp (Chương 8).
  • Xử lý các ca khó: Các chương chuyên sâu về sửa mũi gồ (Chương 9), thu gọn cánh mũi (Chương 10) và đặc biệt là kỹ thuật kéo dài mũi ngắn, mũi hếch (Chương 11).
  • Các phương pháp không phẫu thuật: Cập nhật về kỹ thuật nâng mũi bằng Filler an toàn và hiệu quả (Chương 6).

Tài liệu này không chỉ cung cấp lý thuyết mà còn đi kèm với các hình ảnh minh họa phẫu thuật thực tế, giúp bác sĩ hình dung rõ ràng các bước thực hiện để đạt được kết quả thẩm mỹ tối ưu và an toàn nhất cho bệnh nhân.

Trang: / 210
Trang 1 Trang 2 Trang 3
📖 Xem bản dịch / Nội dung văn bản

e-bacsy.com
Hình 6. Giảm gồ toàn bộ. (A) Giảm gồ phần sụn bằng dao số15 sau khi nhìn thấy toàn bộ sống
mũi. Các ULC đã được tách ra khỏi vách ngăn. (B) Giảm gồ xương bằng mài xương Rubin.
cách mài dần hoặc mũi khoan dưới
hình ảnh trực tiếp là tốt nhất (Vid­
eo 1). Cắt gồ xương bộc lộ phần phủ
qua sụn bên dưới và giảm độ chính
xác của sụn theo (Hình 9, Video 2).
Tác giả sử dụng thuật ngữ cắt gồ
bảo tồn, và được sử dụng ở hầu hết
các bệnh nhân châu Á có mũi nhỏ
gồ toàn bộ hoặc nhỏ gồ 1 phần. Sau
khi nâng sống mũi với ghép độn
thêm trên và hoặc dưới chỗ gồ kết
hợp với phẫu thuật tạo hình đầu
mũi sẽ góp phần vào việc thường
xuyên loại bỏ gồ bảo tồn.

Mặc dù phần sụn mũi trên có
thể nhìn thấy bên dưới xương mũi
ở khu vực khớp gian mũi, hiếm khi
mở vòm mà không cắt xương. Nâng
cao sống mũi có thể che khuất nền
mũi rộng. Cắt bỏ một ít chỗ gồ sụn
sẽ làm giảm nhu cầu ghép thêm và
hiếm khi xâm phạm đến niêm mạc
mũi, có thể làm giảm nguy cơ nhiễm
trùng khi sử dụng cấy ghép dị loại
để nâng sống mũi.

Khi chiều cao sống mũi mong
muốn vượt quá chiều cao của gồ, có
một sự lựa chọn là không xử lí gồ
và thực hiện nâng thêm trên nó. Tác
giả thích thực hiện giảm gồ để làm
mịn phần sống mũi trước khi nâng
mũi.

Số lượng cắt bỏ trong tình
huống này phụ thuộc vào chất liệu
được sử dụng để nâng sống mũi.
Khi dùng silicone, mặt dưới của
chỗ gồ được gọt nhiều hơn để ngụy
trang cho đều mũi. Đối với các chất
liệu ghép khác, chẳng hạn như sụn,
polytetrafluoroethylene
(ePTFE)
và fascia tương đồng, thì nên thực
hiện phẫu thuật cắt gồ hoàn chỉnh
bởi vì sẽ tốt hơn để thực hiện gia
tăng đồng đều, mà ít có khả năng bị
lồi lõm không đều.
Cuối cùng: Nâng mũi và và
tinh chỉnh đầu mũi
148

e-bacsy.com
Hình 7. (A và B) Ghép tự thân. Các ULC dư ra sau khi giảm gồ phần sụn được sử dụng làm
ghép tự thân.

Thực hiện nâng sống mũi để
đạt được sống mũi lý tưởng và ngụy
trang cho bất kỳ sự bất thường
còn lại nào. Đây là ở dạng nâng gốc
mũi hay nâng gốc mũi và sống mũi
(Hình 10). Tiếp theo là sự trơn tru
và không thấy khe hở ở những bệnh
nhân có da mỏng. Sờ nắn cẩn thận
với găng tay ướt rất quan trọng để
phát hiện những bất thường sau
phẫu thuật cắt gồ.

Cuối cùng là tinh chỉnh đầu
mũi để đạt được một mũi hài hòa.
Để có được sự cân bằng khuôn mặt
cân xứng cùng với chiếc mũi hài
hòa, nên xem xét phẫu thuật tạo
hình gò má ở những bệnh nhân có
cằm nhỏ.
Ca lâm sàng 1
Hình 8. Mảnh ghép. Một mảnh ghép dày được
đặt 1 bên (trái) trên vách ngăn mũi.

Một bệnh nhân nam 23 tuổi
bị mũi gồ. Phân tích mũi của anh
ta cho thấy gồ thật, gồ toàn bộ, gốc
mũi thấp, đầu mũi thiếu, kết hợp
độ lệch hình chữ C ngược và da dày
vừa phải (Hình 11).
149

e-bacsy.com
Kỹ thuật vận mổ gồm:

• Mổ hở và lật da mũi ra và
vách ngăn bao gồm tách ULC ra
khỏi vách ngăn.

• Tạo hình vách ngăn và lấy
sụn vách ngăn. Định vị lại mặt trước
sống mũi (ANS).

• Cắt bỏ gồ: cắt bỏ phần sụn
gồ với dao số 15 đồng thời làm giảm
phần gồ xương bằng Rubin xương
và cái dũa và cắt tỉa ULC bằng kéo.

• Mảnh ghép ở bên phải để
điều chỉnh độ lệch và kiểm soát độ
rộng của sống mũi.

• Điều chỉnh đầu mũi bằng
cách sử dụng thanh chống và ghép
độn bên trên.

• Cắt xương ở trong và ngoài
để điều chỉnh độ lệch.

• Độn phần gốc mũi với fascia
tương đồng.

• Điều chỉnh đầu cuối cùng
với ghép chóp và ghép phủ.

• Phần trên đầu mũi chỉ ghép
với sụn bị nghiền nát. Các hình ảnh
được chụp sau 6 tháng phẫu thuật
cho thấy hình ảnh cân bằng khi nhìn
nghiên và nghiên góc 1/4, với nâng
gốc mũi và đầu hơi xoay và nâng
lên. Nhìn mũi đối diện, với đường
sống mũi thẩm mỹ (BTE) lông mày
đều với chiều rộng phù hợp.
Ca lâm sàng 2

Một bệnh nhân nam 19 tuổi
phàn nàn về chỗ u trên sống mũi.
Đặc điểm của mũi anh ta gồm gồ
nhỏ với gốc mũi thấp, đầu hơi bị ép
xuống và các đường BTE không đều
có da dày vừa phải (Hình 12). Kỹ
thuật mổ bao gồm:

• Quy trình nội soi. Can thiệp
vào sụn nối với một vết rạch một
phần để tiếp cận với sống mũi

• Tạo hình vách ngăn và lấy
sụn vách ngăn.

• Tạo hình đầu mũi rạch hai
bên. Thanh chống trụ mũi và ghép
nhọn chóp mũi.

• Cắt gồ bảo tồn bằng cách
dùng cái dũa chỗ gồ xương và cắt
tỉa sụn ở khớp gian mũi bằng dao
15.

• Nâng gốc mũi bằng e-PTFE.
Hình ảnh 1 năm sau phẫu thuật cho
thấy hình ảnh cân bằng khi nhìn ng­
hiên và nghiên 1/4 và đường BTE
được cải thiện khi nhìn thẳng.
Biến chứng và xử lý
Biến dạng V đảo ngược

Nguyên nhân của một biến
dạng V đảo ngược là vòm giữa bị
sụp, không đóng được vòm xương
và tách rời sụn mũi trên từ xương
mũi (Hình 13). Mặc dù không phổ
biến gồ nhỏ ở người châu Á, bệnh
nhân có xương mũi ngắn hay gặp.
Xương mũi ngắn là sự chồng chéo
ngắn giữa vòm sụn và xương mũi và
kết nối này có thể bị phá vỡ trong
quá trình loại bỏ gồ. Các kỹ thuật để
ngăn chặn sự sụp đổ của vòm mũi
bao gồm các mảnh ghép rải ra, khâu
mảnh ghép và các mảnh ghép độn
ngụy trang.
150

e-bacsy.com
Hình 9. Cắt gồ bảo tồn trong mũi gồ nhỏ người châu Á. (A) Nhìn thấy gồ (B- E) Cắt gồ xương
bằng cách dùng đục xương nhỏ và cái dũa. (F) Cắt gồ xương cho thấy vòm sụn phủ qua ở vùng
khớp gian sụn được cắt bỏ.
Hình 10. Nâng gốc mũi và sống mũi. (A) Nâng gốc mũi với sụn nghiền nhỏ. (B) Nâng gốc mũi
và sống mũi bằng e-PTFE. (C) Nâng gốc mũi dưới màng xương. (D) Nâng gốc mũi và sống mũi
dưới màng sụn.
151

e-bacsy.com
Hình 11. Trường hợp 1. Hình ảnh trước (A, C, E) và sau phẫu thuật (B, D, F) của một bệnh nhân
nam 23 tuổi với gồ mũi thật, toàn bộ, gốc mũi thấp, đầu mũi hơi bị ép xuống kết hợp độ lệch
hình chữ C ngược. Một phẫu thuật cắt gồ từng phần đã được thực hiện cùng với nâng gốc mũi.
Lồi lõm

Nguyên nhân của sự lồi lõm
còn lại là do cắt bỏ gồ quá bảo tồn,
nâng không đủ hoặc teo cấy ghép ở
gốc mũi, và đầu mũi rủ xuống. Thất
bại trong việc ước tính số lượng gồ
phù hợp cùng với việc không thực
hiện một hoặc nhiều bước loại bỏ
gồ là một số nguyên nhân của gồ
còn tồn tại.
Sống mũi không đều

Sống mũi, đặc biệt là phần
khớp gian mũi nơi có da mỏng nhất,
dễ bị biểu hiện bất thường khi
theo dõi lâu dài. Bất thường trên
sống có thể nhìn thấy là một nguyên
nhân phổ biến cho phẫu thuật sửa
mũi lại. Da sống mũi dày của người
châu Á và nâng sống đồng thời với
loại bỏ gồ có thể làm giảm
152

e-bacsy.com
Hình. 12 . Trường hợp 2. Hình ảnh trước (A, C, E) và sau phẫu thuật (B, D, F) của một bệnh nhân
nam 19 tuổi với gồ nhỏ, toàn bộ, gốc mũi thấp, đầu mũi hơi bị ép xuống. Một phẫu thuật cắt gồ
bảo tồn đã được thực hiện cùng với nâng gốc mũi và đầu mũi.
những bất thường trên sống mũi.
Xác định sống mũi trơn mượt bằng
cách sờ nắn cẩn thận sau khi đã
cơ bản phủ hết da mũi là điều cần
thiết. Nâng liên tục của sống mũi
từ gốc mũi đến phần trên đầu mũi
cũng có thể làm giảm vấn đề này.
Khi thực hiện phẫu thuật nâng gốc
mũi, người ta nên cố gắng tránh sử
dụng các mảnh ghép sụn rắn vì
chúng dễ bị lộ. Tác giả thích vật
liệu ghép mô mềm, chẳng hạn như
fascia tự thân hoặc tương đồng, và
e-PTFE. Khi cần tăng cường thêm,
sụn nghiền nát được đưa vào bên
dưới mảnh ghép mô mềm.
Các vấn đề về chức năng (Sụp van
mũi trong)

Bảo tồn van mũi trong sau
153

e-bacsy.com
khi giảm gồ sống mũi thường được
nhấn mạnh trong các y văn phương
Tây. Giảm sống mũi sẽ thu hẹp van
mũi. Ngoài ra, phẫu thuật cắt bỏ
xương mũi và gãy sụp thành bên
mũi gây nên biến dạng vòm mũi sau
đó có thể thu hẹp thành bên dẫn
đến xẹp van bên trong, dẫn đến tắc
nghẽn mũi đáng kể. Các kỹ thuật
để bảo tồn hoặc tái tạo vòm mũi
và van bên trong để giảm gồ bao
gồm dùng phương pháp ghép trải
rộng cổ điển, kỹ thuật “pushdown”,
và vạt sụn trải ra hoặc vạt ghép tự
thân. Tuy nhiên, tắc nghẽn do sập
van bên trong rất hiếm gặp ở người
châu Á ngay cả sau khi thu hẹp các
thành bên vì da dày và mô mềm với
các van bên trong rộng. Một nghiên
cứu trước đây ở bệnh nhân mũi gồ
người châu Á đã cho thấy không có
tỷ lệ tắc nghẽn mũi sau phẫu thuật
ghép xương bên bất kể sử dụng các
mảnh ghép.
Tóm lược

Mặc dù các kỹ thuật phẫu
thuật là tương tự nhau, nhưng đặc
điểm giải phẫu của mũi gồ người
châu Á kết hợp với sự khác biệt về
tiêu chuẩn thẩm mỹ cho thấy rằng
nó được tiếp cận theo một cách độc
đáo. Giảm và nâng đi cùng với cách
xử lí mũi gồ người châu Á, cái chính
được phân phối lại để đạt được
sống mũi lý tưởng.
Tài liệu tham khảo
1. Won TB, Jin HR. Hump resection.
In: Jin HR editor. Aesthetic plastic
surgery of the east Asian face.
New York: Thieme; 2016. p. 60–71.
2. Toriumi DM, Swartout B. Asian
rhinoplasty. Facial Plast Surg Clin
North Am 2007;15:293–307.
3. Jang YJ, Alfanta EM. Rhinoplasty
in the Asian nose. Facial Plast Surg
Clin North Am 2014;22(3):357–77.
4. Jin HR, Won TB. Nasal hump
removal in Asians. Acta Otolaryn­
gol Suppl 2007;(558):95–101.
5. Won TB, Jin HR. Nuances with
the Asian tip. Facial Plast Surg
2012;28(2):187–93.
Hình 13. Biến dạng V đảo ngược. Một biến
dạng V đảo ngược được nhìn thấy ở một bệnh
nhân đã được phẫu thuật nâng mũi trước đó
3 năm.
154

e-bacsy.com
6. Jin HR, Won TB. Recent advances
in Asian rhino- plasty. Auris Nasus
Larynx 2011;38(2):157–64.
7. Kim CH, Jung DH, Park MN, et al.
Surgical anatomy of cartilaginous
structures of the Asian nose: clin­
ical implications in rhinoplasty.
Laryngoscope 2010; 120(5):914–
9.
8. Jang YJ, Kim JH. Classification of
convex nasal dorsum deformities
in Asian patients and treatment
outcomes. J Plast Reconstr Aes­
thet Surg 2011; 64(3):301–6.
9. Jin HR, Won TB. Nasal tip aug­
mentation in Asians using autoge­
nous cartilage. Otolaryngol Head
Neck Surg 2009;140:526–30.
10. Ishida J, Ishida LC, Ishida LH,
et al. Treatment of the nasal hump
with preservation of the cartilag­
inous framework. Plast Reconstr
Surg 1999;103(6):1729–33.
11. Rohrich RJ, Muzaffar AR, Janis
JE. Component dor- sal hump re­
duction: the importance of main­
taining dorsal aesthetic lines in
rhinoplasty. Plast Reconstr Surg
2004;114(5):1298–308.
12. Skoog T. A method of hump re­
duction in rhinoplasty: a technique
for preservation of the nasal roof.
Arch Otolaryngol 1966;83:283–7.
13. Hall JA, Peters MD, Hilger PA.
Modification of the Skoog dorsal
reduction for preservation of the
middle nasal vault. Arch Facial Plast
Surg 2004;6:105–10.
14. Sheen JH. Spreader graft: a
method of reconstruct- ing the roof
of the middle nasal vault following
rhino- plasty. Plast Reconstr Surg
1984;73:230–9.
15. Won TB, Jin HR. Revision rhi­
noplasty in Asians. Ann Plast Surg
2010;65(4):379.
16. Gruber RP, Park E, Newman J,
et al. The spreader flap in primary
rhinoplasty. Plast Reconstr Surg
2007;119(6):1903–10.
17. Suh MW, Jin HR, Kim JH. Com­
puted tomography versus nasal
endoscopy for the measurement
of the internal nasal valve an­
gle in Asians. Acta Otolar- yngol
2008;128(6):675–9.
155

e-bacsy.com
Chương 10
Thu gọn cánh mũi và liên quan cánh mũi-
trụ mũi
Ji Yun Choi, MD, PhD
Từ khóa
• Thu gọn nền mũi • Liên quan cánh mũi và trụ mũi
• Co kéo cánh mũi rộng nền mũi.
MỤC TIÊU
• Tạo ra nền mũi cân bằng về mặt thẩm mỹ là kỹ thuật rất quan trọng trong
phẫu thuật tạo hình mũi cho người châu Á có nền mũi rộng.
• Đánh giá đúng độ rộng của nền mũi, cần phân biệt rõ độ rộng nền mũi và
độ hếch của cánh mũi.
• Thu gọn lỗ mũi ngoài liên quan đến cắt bỏ hoàn toàn da và mô mềm bên
dưới tại lỗ mũi để làm hẹp hơn nền mũi.
• Thu gọn cánh mũi phía ngoài góc rãnh mũi má chỉ cải thiện được độ hếch
của cánh mũi mà không làm hẹp lỗ mũi ngoài.
• Mục đích là để đạt được kết quả tự nhiên và bảo tồn độ cong tự nhiên của
cánh mũi phía ngoài cũng như chức năng của mũi.
Đặt vấn đề

Nền mũi đóng một vai trò
quan trọng trong tổng thể vẻ bên
ngoài và sự cân bằng của mũi. Mặc
dù vậy, nó thường không được đánh
giá một cách độc lập trong các lần
khám mũi trước phẫu thuật, và do
đó, nó thường thể hiện sự không
hoàn hảo trong quá trình phẫu
thuật sửa lại mũi. Một số khiếm
khuyết này được nhận ra một cách
dễ dàng, trong khi một số khác thì
tinh tế và chỉ được khám chi tiết bởi
bác sĩ phẫu thuật. Một số là dị tật
chính đã không được giải quyết ban
đầu, trong khi những dị tật khác
phát triển như biến dạng thứ phát,
chẳng hạn như cánh mũi quá hếch
sau khi đã thu gọn đầu mũi.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra
rằng từ 5% đến 90% phẫu thuật
tạo hình mũi liên quan đến thao tác
của nền mũi. Đặc biệt, người châu
Á có nền mũi rộng, do đó, việc tạo
ra nền mũi cân bằng về thẩm mỹ là
điều quan trọng để bổ sung thêm
khi phẫu thuật tạo hình mũi ở bệnh
nhân châu Á.
156

e-bacsy.com
Giải phẫu học

Tác dụng của hệ thống xương-
cơ trên các đơn vị giải phẫu của nền
mũi và cánh mũi vẫn còn chưa rõ
ràng. Cơ giãn nở mũi có phần cơ
chính nằm ở thùy cánh mũi. Nguyên
ủy là từ sừng ngoài trên trụ ngoài
của sụn cánh mũi đến cài vào da
vùng cánh mũi. Khi cơ co sẽ làm nở
lỗ mũi ngoài.

Cơ mũi nằm trong mũi. Nó
hoạt động giống như cơ vòng để ép
lên sụn mũi và do đó, còn được gọi
là cơ ép mũi. Hơn nữa, nó làm giảm
đầu mũi và nâng cao các góc của
lỗ mũi, làm uốn cong và co lại vào
trong mũi tạo ra lỗ mũi hếch. Cơ bắt
nguồn từ phần xương hàm trên của
xương sọ và chèn vào xương mũi.

Mục đích chính của cơ nâng
môi trên cánh mũi là làm nở lỗ
mũi và nâng môi trên lên. Nó xuất
phát từ mỏm trán của xương hàm
trên chạy chếch xuống dưới và ra
ngoài rồi chia phần tận hết ở sụn
cánh mũi và môi trên. Cơ hạ vách
mũi cũng tham gia làm nở lỗ mũi.
Nó xuất phát từ hố răng của xương
hàm trên tới phần trước ở 2 bên
vách ngăn và phần sau cánh mũi. Cơ
này có tác dụng khác với các cơ mũi
là khi nó co thì sẽ làm cánh mũi và
mũi kéo xuống dưới, và do đó làm
co nhỏ lỗ mũi (Hình 1).

Cánh mũi co kéo 2 bên sống
mũi từ bên trên và đầu mũi từ phía
trước, khi cánh mũi nở ra thì nó
sẽ sâu hơn và được bao quanh bởi
rãnh mũi má, và được gọi là rãnh
mặt má. Rãnh này cũng chia ra
thành hình tam giác vùng môi trên
và má.

Tại điểm nhô ra nhất của mũi
chia ra tiền đình mũi và cánh mũi,
cả yếu tố dân tộc và sự phân bố mô
xơ-mỡ đều ảnh đến nền mũi, hình
dạng, kích thước và khả năng co
giãn của mũi.

Phía trong khoang mũi, quanh
tiền đình mũi, ở phía ngoài là cánh
mũi và phía trong là vách ngăn. Các
mô mềm phủ ngay bên trên ở phía
trong và phía ngoài sụn cánh mũi
thì gọi là trụ mũi.
Khám phân tích trước phẫu
thuật

Khám đánh giá nền mũi
trước phẫu thuật nên đánh giá kích
thước, hình dạng, và sự đối xứng
của lỗ mũi ngoài cũng như độ rộng
và chiều dài của trụ mũi, liên quan
giữa độ dài của trụ mũi và độ cao
của thùy mũi, độ dày và hình dạng
cánh mũi. Trước khi quyết định thu
hẹp nền mũi, các bác sĩ lâm sàng sẽ
khám cẩn thận đầu cuối vách ngăn
để đảm bảo không bị lệch, méo, biến
dạng để dẫn đến méo mó nền mũi
Thiếu đầu mũi, lỗ mũi 2 bên không
đều nhau và bị hếch lên . Các bác sĩ
lâm sàng nên khám đánh giá chính
xác vị trí đầu mũi, bởi vì sẽ liên quan
đến khi mũi nhô ra, xoay hoặc độ
rộng của đầu mũi ảnh hưởng trực
tiếp đến độ rộng của nền mũi và đô
hếch cánh mũi. Do đó, chiều
157

e-bacsy.com
Hình. 1. Hệ thống cơ xương mặt ngoài mũi.
rộng nền mũi chỉ nên được đánh giá
sau khi tất cả các sửa chữa mũi bắt
buộc được hoàn thành (Hình 2).

Nhìn từ dưới lên, mũi người
da trắng được coi là lí tưởng về mặt
thẩm mỹ, ví dụ có hình tam giác
đều. Nói chung, lỗ mũi và trụ mũi
chỉ bằng 2/3 hình tam giác, đầu mũi
chiếm 1/3 còn lại. Độ rộng của thùy
mũi = 75% nền mũi. Lý tưởng nhất
là lỗ mũi ngoài có hình quả lê, hình
elip, và đối xứng. Độ nghiên trung
bình so với trục tung của trụ
mũi từ 30-450. Độ rộng trụ mũi =
1/5 độ rộng nền mũi. Đặc điểm
chung của da bệnh nhân cũng như
độ dày của cánh mũi có thể đánh giá
tổng quan về mũi. Da cánh mũi quá
dày có thể ảnh hưởng tiêu cực đến
sự hài hòa về cấu trúc tổng thể của
mũi, độ dày của cánh mũi chỉ bằng
1/5 nền mũi. Độ rộng của nền mũi
có thể phân tích khi nhìn từ trước.
Nó gần bằng khoảng cách giữa 2
góc mắt. Lý tưởng nhất là độ rộng
của cánh mũi bằng 1/5 độ rộng của
158
Cơ vòng môi
Cơ ngang
mũi
Cơ nở lỗ
mũi
Cơ nâng
môi trên và
góc miệng
Cơ ngang
mũi
Cơ hạ vách
mũi

e-bacsy.com
toàn mặt, và bằng chiều rộng của
1 mắt. Theo Guyuron, nền mũi
rộng hơn 1mm so với khoảng cách
2 góc mắt. Hơn nữa, thu gọn nền
mũi là cần thiết khi nền mũi rộng
hơn khoảng cách 2 góc mắt là hơn
2mm3.

Farkas và các đồng nghiệp
báo cáo sự thay đổi trong lỗ mũi của
người Mỹ gốc Phi, người châu Á và
người Tây Ban Nha. Ở trong mũi, lý
tưởng là khoảng cách giữa 2 cánh
mũi bằng 2 góc mắt. Trong hầu
hết mũi châu người Á, tuy nhiên,
khoảng cách nên rộng hơn. Cụ thể,
Sim và đồng nghiệp đã xem xét các
tính năng trên khuôn mặt của 100
phụ nữ miền nam Trung Quốc và
so sánh chúng với những phụ nữ
da trắng ở bắc Mỹ. Họ thấy rằng
mặt của người miền nam Trung
Quốc thường có độ rộng mũi lớn
hơn khoảng cách 2 góc mắt. Ngoài
ra, cánh mũi thì hếch hơn, và lỗ
mũi nằm ngang hơn. Để đánh giá
chiều rộng của nền mũi đúng cách,
các nhà lâm sàng phải phân biệt độ
hếch của cánh mũi.
Phẫu thuật cánh mũi

Nhiều yếu tố khác nhau ảnh
hưởng đến độ hếch của cánh mũi
và độ rộng của nền mũi, bao gồm cả
chiều cao và độ hếch của cánh mũi,
và góc cánh mũi với má.

Giống như các bộ phận khác
của mũi, nền mũi quyết định một
phần tính chất thẩm mỹ và chức
năng của mũi. Hơn nữa, hướng của
lỗ mũi ngoài và hình dạng của nền
mũi khác nhau đáng kể giữa các
dân tộc. Về vấn đề này, sửa nền mũi
có thể cải thiện hình dạng và định
hướng lỗ mũi, giảm hếch mũi, cải
thiện độ rộng nền mũi, sửa mũi
hếch, cải thiện tính đối xứng và tạo
sự hài hòa tổng thể của khuôn mặt.
Cách để thu hẹp nền mũi là cắt bỏ
nền mũi, ngoài ra, các bác sĩ phẫu
thuật có thể cắt bỏ da và các tổ chức
bên dưới lỗ mũi. Bác sĩ phẫu thuật
có thể cắt bỏ phía ngoài của cánh
mũi. Như vậy, ngoài việc làm giảm
nền mũi còn làm giảm sự loe của
cánh mũi6. Giảm cánh mũi từ phía
ngoài nền mũi có thể cải thiện rãnh
mũi má làm cánh mũi ít loe hơn mà
không làm hẹp lỗ mũi. Do đó, bác sĩ
phẫu thuật có thể kết hợp 1 hoặc cả
hai kỹ thuật để điều chỉnh mức độ
giảm lỗ mũi hoặc nền mũi theo nhu
cầu của từng bệnh nhân.

Các bác sĩ lâm sàng nên để ý
khoảng cách giữa 2 góc mắt để thu
gọn cánh mũi. Về vấn đề này, đánh
dấu trước phẫu thuật và thước đo
là hữu ích trong việc đảm bảo cắt bỏ
cân bằng và song song với đường
vẽ.
Kỹ thuật mổ

Để đạt được sự đối xứng với
thu gọn nền mũi, bác sĩ phẫu thuật
phải xác định số lượng mô thừa nên
cắt bỏ cũng như loại mũi nào. Đế
đảm bảo sự thay đổi nền mũi thành
công, điều quan trọng nhất là các
bác sĩ phẫu thuật xác định đoạn nào
159

e-bacsy.com
của nền mũi là nên cắt bỏ cũng như
cắt bỏ theo kiểu nào.

Ở những người châu Á, phẫu
thuật nền mũi có thể phân chia làm
6 loại để phẫu thuật giảm nền mũi.
Loại 1 bao gồm cánh mũi dài, hếch
lên, nền mũi không rộng, có thể thu
gọn cánh mũi ngoài. Loại 2 bao gồm
nền mũi rộng hoặc lỗ mũi to, cánh
mũi không hếch, phẫu thuật giảm lỗ
mũi. Loại 3 là kết hợp của loại 1 và
2. Loại 4: da cánh mũi day và nên
phẫu thuật cắt bỏ da cánh mũi dày.
Loại 5: không sự kết hợp nào của
các loại 1, 2 hoặc 3 với loại 4, và loại
6 đề cập đến trường hợp cánh mũi
kéo xuống và đầu mũi hếch lên, sữa
lại bằng cắt bỏ tiền đình mũi (Bảng
1).

Đầu tiên, vị trí của lỗ mũi (thấp
nhất là cánh mũi ngoài) được mô tả
bằng cách đánh dấu. Chiều rộng của
nền mũi được đo bằng khoảng cách
từ đường giữa đến mép ngoài lỗ
mũi, và kiểm tra đối xứng bên cánh
mũi còn lại. Tiếp theo, để xác định
cánh mũi bị loe, so sánh độ rộng của
cánh mũi với khoảng cách giữa 2
góc mắt trong. Trong lỗ mũi, đường
tham chiếu (đường đầu tiên) được
vẽ bằng cách kéo dài đường dọc
theo đường mũi má.

Loại bệnh nhân 1: Xác định
số lượng cắt bỏ phụ thuộc vào độ
loe của cánh mũi, và đường thứ 2
được vẽ bên ngoài và song song với
đường tham chiếu. Đường thứ ba là
vẽ dọc theo rãnh mũi má nằm cuối
của đường tham chiếu đầu tiên.
Nếu đường thứ 3 dài thì số lượng
tổ chức cắt bỏ phải tăng lên sao cho
đảm bảo giảm được cánh mũi. Tuy
nhiên, rất dễ để lại sẹo nhìn thấy.
Cắt bỏ niêm mạc hình nêm trong
lỗ mũi bằng cách mở rộng đường
tham chiếu và đường thứ hai vào
trong để chúng có thể được thon
gọn hơn.

Loại bệnh nhân 2: Xác định
số lượng cắt bỏ phụ thuộc vào độ
rộng của nền mũi. Đường thứ 2
được vẽ bên trong và song song với
đường tham chiếu và thon gọn ra
bên ngoài tới giao nhau với đường
tham chiếu. Cắt bỏ nêm mạc hình
nêm trong lỗ mũi bằng cách kéo dài
đường tham chiếu và đường thứ
2 vào trong để thon gọn hơn. Loại
bệnh nhân 3: gồm loại 1+ loại 2.

Loại bệnh nhân 4: đường đầu
tiên vẽ dọc theo bờ trong của cánh
mũi. Sau khi xác định số lượng cắt bỏ
phụ thuộc vào độ dày của cánh mũi,
đường thứ 2 được vẽ bên ngoài và
song song với đường đầu tiên. Nơi
gawpjm nhau với đường đầu tiên
thì làm nhỏ lại. Đường thứ 3 vẽ dọc
theo rãnh mũi má bên dưới đường
thứ nhất và thứ 2. Phải cắt bỏ bờ da.

Loại bệnh nhân 5: loai 1, loại
2 hay loại 3 kết hợp với loại 4.

Loại bệnh nhân 6: cắt bỏ số
lượng da được xác định theo độ
hếch của cánh mũi và đường vẽ đầu
tiên dọc theo bờ cánh mũi. Đường
thứ hai được vẽ song song với
đường thứ nhất ở phía trên của da
tiền đình bên trong. Nó được làm
160

e-bacsy.com
thon để phù hợp với đường đầu
tiên. Đường thứ ba được vẽ trên da
tiền đình như một đường kéo dài
của rãnh mũi má bên dưới đường
thứ nhất và thứ hai.

Phải cầm máu hoàn toàn
trước khi đóng da. Đầu tiên, lỗ mũi
trong khâu bằng chỉ nilon 5-0. Khâu
bờ da bằng nylon 6-0. Khâu từng
bước, làm đối xứng 2 bên tránh
biến dạng và mất đối xứng. (Hình 3)

Phẫu thuật nền mũi phải
luôn luôn được thực hiện bảo tồn.
Đó là, phẫu thuật viên mới thường
được khuyên nên cắt bỏ ít da hơn
họ nghĩ, bởi vì hay gặp cắt bỏ quá
Hình. 2. Hình cho thấy đầu mũi nhô cao sau khi phẫu thuật thu gọn cánh mũi. (A) Trước phẫu
thuật thu gọn nền mũi . (B) Sau phẫu thuật thu gọn nền mũi.
Loại
Đặc điểm
Điều trị
Type 1
Cánh mũi hếch, nền mũi
bình thường
Thu gọn cánh mũi ngoài
Type 2
Cách mũi bình thường,
nền mũi rộng
Thu gọn lỗ mũi
Type 3
Cánh mũi hếch, nền mũi
rộng
Thu gọn cánh mũi ngoài và
lỗ mũi
Type 4
Da cánh mũi dày
Cắt bỏ cánh mũi dày
Type 5
Da cánh mũi dày và nền
mũi rộng, cánh mũi hếch
Thu gọn cánh mũi ngoài
hay thu gọn lỗ mũi ngoài
và cắt bỏ cánh mũi dày
cùng với nhau
Type 6
Mũi hểnh
Cắt tiền đình mũi
Bảng 1
Phân loại, đặc điểm và điều trị biến dạng nền mũi
161

e-bacsy.com
Hình 3. Các dạng khác nhau của phẫu thuật cánh mũi. (A) Nhìn thẳng của loại 1 và loại 2. (B)
Nhìn nghiên của loại 1 và loại 2. (C) Loại 1: thu gọn cánh mũi ngoài. (D) Loại 2: thu gọn lỗ mũi.
(E) Loại 4: cắt bỏ cánh mũi dày. (F) Loại 5: thu gọn cánh mũi ngoài hoặc/và thu gọn lỗ mũi ngoài
và cắt bỏ cánh mũi dày cùng với nhau. (G) Loại 6: cắt bỏ tiền đình mũi.
Hình. 4. Khâu bó xuyên qua độ rộng của nền mũi. Khi khâu căng, khoảng cách nền mũi giảm
xuống. (A)Trước mổ. (B) Sau mổ.
162

e-bacsy.com
Hình 5. (A) Bệnh nhân nữ 22 tuổi với rộng nền mũi (loại 2). (B) 1 tháng sau mổ: nền mũi thu
hẹp lại sau khi thu gọn nền mũi.
Hình. 6. (A) Bệnh nhân nam 45 tuổi, có nền mũi rộng và cánh mũi loe (loại 3). (B) Sau phẫu
thuật 1 tháng, thấy nền mũi thu hẹp lại sau khi cắt cánh mũi kết hợp với thu gọn lỗ mũi.
mức. Trong phẫu thuật nền mũi, để
tránh sẹo, các bác sĩ phẫu thuật nên
cắt bỏ ít mô mềm bên trong hoặc cơ
từ bờ cánh mũi hơn da bên ngoài.
Hơn nữa, khâu mô mềm có lợi trong
trường hợp cần thiết phải túm lại.
Một nền mũi rất rộng có thể yêu cầu
điều trị thay thế hoặc bổ sung. Thu
hẹp nền, hoặc khâu bó để làm giảm
độ rộng của nền mũi. Khi khâu căng
quá, khoảng cách nền mũi giảm
(Hình 4 .6). (Hình. 4–6).
Biến chứng

Bất cứ phẫu thuật giảm nền
mũi, các phẫu thuật viên phải xem
xét khả năng để lại sẹo và tình trạng
bất đối xứng để cải thiện ít kết quả.
Các yếu tố sau được xem xét khi
thiết kế cắt bỏ nền mũi: cánh mũi
loe, lỗ mũi rộng và độ dài của cánh
mũi ngoài liên quan đến độ nhô của
đầu mũi.

Nhìn chung, hầu hết bệnh
nhân đều hài lòng với sửa đổi nền
mũi. Một số bệnh nhân có biến
chứng, tuy nhiên, bao gồm sẹo, vết
163

e-bacsy.com
hõm da, không đối xứng và biến
dạng toàn mũi. Sự bất lực của các
bác sĩ lâm sàng để dự đoán kết quả
của thu gọn nền mũi là một trong
những thách thức lớn nhất.

Ngoài ra, thu gọn nền mũi
có thể dẫn đến biến dạng toát vết
thương, mặc dù điều này có thể
phòng ngừa thông qua đo, vẽ và
khâu chính xác. Biến dạng toát vết
thương thì nên cắt tỉa tỉ mỉ và khâu
lại đúng cách. Khi sửa nền mũi, điều
quan trọng là phải đảm bảo tính đối
xứng thông qua việc sử dùng thước
để đo cẩn thận, hiệu quả và đo kỹ
trước phẫu thuật. Điều đó nói rằng,
nếu bệnh nhân bị bất cân xứng lỗ
mũi từ trước, thì không thể giải
quyết điều này và để có được lỗ mũi
đối xứng hoàn hảo (Hình 7).

Cắt bỏ nền mũi mang lại kết
quả hữu ích. Tuy nhiên, một số bác
sĩ phẫu thuật có thể lo ngại rằng nó
có thể gây ra sẹo rõ hoặc cấu trúc/
căng chỉnh không tự nhiên
Liên quan cánh mũi-trụ mũi
Đại cương

Phân tích trước phẫu thuật
rất quan trọng cho những trường
hợp biến dạng cánh mũi, bởi vì
phương pháp phẫu thuật khác nhau
tùy thuộc vào trạng thái và mức độ
biến dạng, và việc lựa chọn phương
pháp thích hợp là không dễ. Do đó,
các bác sĩ phẫu thuật phải xác định
xem cánh mũi có bất đối xứng hay
biến dạng trước khi thực hiện phẫu
thuật, và bệnh nhân cần được thông
báo trước là biến dạng cánh mũi có
thể xấu đi sau phẫu thuật. Nếu khả
năng biến dạng cánh mũi sẽ xấu đi
thì không nên cắt bỏ sụn cánh mũi,
và tránh tổn thương mô mềm, cũng
như cắt bỏ nhiều tổ chức. Cuối cùng,
trụ ngoài-dưới của của sụn cánh
mũi phải được củng cố và phục hồi
nếu cần thiết. Nếu biến dạng cánh
mũi đã nghiêm trọng trước khi
phẫu thuật thì bác sĩ lâm sàng phải
giải thích cho bệnh nhân rằng quy
trình khắc phục sẽ khó khăn, cải
thiện ít và kết quả là khó khăn khó
dự đoán.
Hình 7. Sẹo nhìn thấy rõ, nằm song song với
rãnh mũi do đường mổ cắt cánh mũi nằm
trên rãnh mũi tự nhiên (loại1).

Sửa chữa biến dạng cánh mũi
có thể làm giảm nghẹt mũi do suy
yếu van mũi ngoài cũng như cải
thiện thẩm mỹ mũi.

Hơn nữa, điều cần thiết là bác
sĩ lâm sàng hiểu được mối liên quan
giữa cánh mũi và trụ mũi để khống
chế được biến dạng cánh mũi. Về
vấn đề này, Gunter và đồng nghiệp
164

e-bacsy.com
đã xác định khoảng cách lý tưởng
theo chiều dọc của lỗ mũi ngoài đến
cánh mũi hoặc trụ mũi là 1->2 mm.
Tăng hoặc giảm trong khoảng cách
này cho thấy sự biến dạng, có thể
co lại hoặc kéo lên quá mức. Nếu
khoảng cách dài hơn thì cánh mũi
có khía hay bị co kéo; nếu khoảng
cách ngắn hơn thì biến dạng là cánh
mũi kéo lên (Hình 8).
Điều trị co kéo cánh mũi

Cắt bỏ quá mức giới hạn đầu
của sụn cánh mũi ngoài có thể là
một biến chứng phổ biến của tạo
hình mũi người da trắng. Tuy nhiên,
ở người châu Á, co rút sẹo là nguyên
nhân phổ biến gây ra hiện tượng co
kéo cánh mũi, vì thường cấy ghép
vào chỗ thiếu mô mềm thích hợp để
cắt

Co kéo cánh mũi ít đến nhẹ
thì da cánh mũi da và tổ chức phần
mềm sẽ có tính đàn hồi. Ngược lại,
co kéo cánh mũi nặng như bị sẹo co
rút. Cánh mũi bị co kéo nặng chỉ có
thể được điều trị bằng cách xử lí da,
mô mềm và cả tổ chức cấu trúc mũi
bên dưới.

Các kỹ thuật khác nhau đã
được giới thiệu để điều chỉnh độ
co kéo của cánh mũi hoặc mức độ
co kéo. Xử lí bị co kéo từ tối thiểu
đến nhẹ thì nên điều trị bảo tồn,
giải phóng sẹo co kéo, ghép cánh
mũi, và ghép phức hợp đã đề xuất
và mang lại hiệu quả. Co kéo cánh
mũi vừa phải , ghép thêm trụ ngoài,
ghép xen kẽ tổ chức và ghép xen kẽ
sụn là rất hữu ích. Theo y văn, điều
trị co kéo cánh mũi nặng thì sử dụng
phương pháp đa tầng kết hợp với
nhiều kỹ thuật phẫu thuật, chẳng
hạn như chuyển mô, ghép sụn và
ghép da . Để xử lí co kéo cánh mũi
bên trong thì vạt xoay là phương
pháp hiệu quả nhất (Hình 9). Trong
trường co kéo nặng thì làm vạt đảo
tịnh tiến sẽ cho một giải pháp thay
thế hiệu quả. Vạt này dễ dàng thiết
kế, mổ 1 lần, lý tưởng và cung cấp
mạch máu tuyệt vời (Hình 10)
Điều trị cánh mũi kéo xuống

Phẫu thuật viên có thể dễ
dàng điều chỉnh cánh mũi bằng cách
cắt bỏ một phần hình elip của lớp
dưới cánh mũi cùng với lượng mô
dưới da thích hợp trong khi vẫn giữ
nguyên da bên ngoài. Vùng được
loại bỏ phải rộng hơn một chút so
với diện tích yêu cầu, tốt hơn là nên
tránh loại bỏ nhiều hơn 3 mm, vì
hình dạng sẽ không hấp dẫn sau khi
cắt bỏ quá mức. McKinney và Stal­
necker cho rằng bệnh nhân có làn
da mỏng, nâng cánh mũi lên bằng
cách cắt bỏ đầu trụ ngoài của sụn
cánh mũi, mà không cắt lớp lót.
165

e-bacsy.com
Hình 8. Liên quan bình thường của cánh mũi và trụ mũi. (Từ Gunter JP, Rohrich RJ, Friedman
RM. Classification and correction of alar-columellar discrepancies in rhinoplasty. Plast Recon­
str Surg 1996;97:643–8; with permission.)
Tóm lược

Phẫu thuật nền mũi có thể
lam giảm nền mũi, lô mũi ngoài,
giảm độ rộng hoặc giảm loe cánh
mũi. Mục tiêu của tác giả là làm kết
quả tự nhiên và bảo tồn độ cong tự
nhiên của cánh mũi và chức năng.
Bất kể là loại nào, quy trình hợp lý
để làm gọn cánh mũi là cần thiết.
Phẫu thuật bảo tồn nền mũi là hữu
ích trong trường hợp cánh mũi
loe; làm giảm kích thước lỗ mũi và
chuyển đổi trục lỗ mũi ngang thành
trục dọc hơn. Để khắc phục biến
dạng cánh mũi, điều cần thiết là các
bác sĩ phẫu thuật kiểm tra cẩn thận
và xem xét tình trạng của da. Nếu các
bác sĩ lâm sàng hiểu được cánh mũi
và tổ chức xung quanh, nâng đỡ sụn
bên dưới và chọn kỹ thuật phù hợp,
họ sẽ đạt được kết quả mong muốn
về mặt chức năng và thẩm mỹ.
166

e-bacsy.com
Hình 9. Vạt xoay cánh mũi. Tạo vạt xoay cánh mũi, xoay vạt da và đóng vết mổ.
(A) Thiết kế, (B) Nhấc vạt lên, (C) Ghép cấu trúc, và (D) Đóng vết thương. (Từ Jung DH, Kawk
ES, Kim HS. Correction of severe alar retraction with use of a cutaneous alar rotation flap. Plast
Reconstr Surg 2009;123:1088–95;)
Hình 10. Vạt đảo tịnh tiến ở sống mũi. Thiết kế vạt đảo hình tam giác ở sống mũi và khâu da
theo kiểu V-Y và ghép phức hợp sụn tai ở trong niêm mạc. (A) Thiết kế vạt đảo hình tam giác. (B)
Đóng da kiểu V-Y. (C) Ghép phức hợp sụn tai ở trong niêm mạc. từ Choi JY, Javidnia H, Sykes JM
167

e-bacsy.com
Tài liệu tham khảo
1.
Guyuron B, Behmand RA.
Alar base abnormalities. Classifica­
tion and correction. Clin Plast Surg
1996; 23(2):263–70.
2.
Willis AE 2nd, Costa LE 2nd.
Surgical management of the alar
base. Atlas Oral Maxillofac Surg Clin
North Am 1995;3(2):65–77.
3.
Bloom JD, Constantinides M.
Alar base modification. In: Becker
DG, Palma P, editors. Rhinoplasty
Archive. 2011.
4.
Kridel RW, Castellano RD. A
simplified approach to alar base
reduction: a review of 124 patients
over 20 years. Arch Facial Plast
Surg 2005;7(2):81–93.
5.
Larrabee WF Jr. Facial anal­
ysis for rhinoplasty. Oto- laryngol
Clin North Am 1987;20(4):653–74.
6.
Farkas
LG,
Hreczko
TA,
Deutsch CK. Objective assessment
of standard nostril types-a mor­
pho- metric study. Ann Plast Surg
1983;11(5):381–9.
7.
Crumley RL. Aesthetics and
surgery of the nasal base. Facial
Plast Surg 1988;5(2):135–42.
8.
Sim RS, Smith JD, Chan AS.
Comparison of the aesthetic facial
proportions of southern Chinese
and white women. Arch Facial Plast
Surg 2000;2: 113–20.
9.
McKinney PW, Mossie RD,
Bailey MH. Calibrated alar base ex­
cision: a 20-year experience. Aes­
thetic Plast Surg 1988;12:71–5.
10.
Silver WE, Sajjadian A. Nasal
base surgery. Otolar- yngol Clin
North Am 1999;32:653–68.
11.
Gunter JP, Rohrich RJ, Fried­
man RM. Classification and correc­
tion of alar-columellar discrepan­
cies in rhinoplasty. Plast Reconstr
Surg 1996;97:643–8.
12.
Jung DH, Kwak ES, Kim HS.
Correction of severe alar retrac­
tion with use of a cutaneous alar
rotation flap. Plast Reconstr Surg
2009;123:1088–95.
13.
Guyuron B. Alar rim de­
formities. Plast Reconstr Surg
2001;107:856–63.
14.
Tardy ME Jr, Toriumi D. Alar
retraction: composite graft correc­
tion. Facial Plast Surg 1989;6:101–
7.
15.
Gunter JP, Friedman RM. Lat­
eral crural strut graft: technique and
clinical applications in rhinoplasty.
Plast Reconstr Surg 1997;99:943–
55.
16.
Naficy S, Baker SR. Lengthen­
ing the short nose. Arch Otolaryn­
gol Head Neck Surg 1998;124(7):
809–13.
17.
Gruber RP, Kryger G, Chang
D. The intercartilagi- nous graft
for actual and potential alar re­
traction. Plast Reconstr Surg
2008;121:288e–96e.
18.
Choi JY, Javidnia H, Sykes JM.
New techniques for correction of
severe alar retraction using an is­
land pedicled advancement flap of
the nasal dorsum. J Plast Reconstr
168

e-bacsy.com
169
Chương 11
Sửa mũi ngắn
Dong Hak Jung, MD, PhD*, Sang Gyun Jin, MD, Sang Min Hyun, MD, PhD
Từ khóa
• Mũi ngắn • Người châu Á • Tạo hình mũi • Nâng mũi tạo hình
MỤC TIÊU
• Một đánh giá về phẫu thuật chỉnh sửa mũi ngắn ở người châu Á.
ĐẠI CƯƠNG

Nhiều người châu Á có chiếc
mũi ngắn mà đặc trưng là phần
sống mũi thấp và trụ mũi ngắn,
với đầu mũi nhô ra ít. Nâng mũi đã
được phổ biến để sửa các đặc điểm
này. Trước đây, nâng mũi đơn giản
là phương pháp phẫu thuật thường
được dùng để khắc phục những vấn
đề trên. Dùng implant là để nâng
mũi đơn giản vùng sống mũi và gốc
mũi, nhưng kỹ thuật này dẫn đến
không hài hòa với nền mũi, dẫn đến
mũi ngắn nhìn thấy bên trong lỗ
mũi và phần trên đầu mũi dài hơn
và trụ mũi ngắn hơn. Theo đó, cho
người châu Á, cần phải kéo dài và
nâng mũi cùng lúc để đạt được phẫu
thuật nâng mũi thành công. Nhiều
nghiên cứu đã công nhận và giới
thiệu tầm quan trọng của tạo hình
đầu mũi, và hiện tại hầu hết các bác
sĩ phẫu thuật thực hiện kéo dài mũi
và nâng mũi trong quá trình nâng
mũi.

Mũi được xác định bởi chiều
dài từ gốc mũi đến chóp mũi. Một
chiếc mũi lý tưởng có chiều dài bằng
1/3 toàn bộ chiều dài khuôn mặt,
trong khi tỷ lệ của Goode cho thấy
chiều dài mũi lý tưởng là tỷ lệ so với
độ nhô đầu mũi, tỷ lệ 5:3.Ngược lại,
tiêu chí chẩn đoán cho mũi ngắn có
thể bao gồm mũi có chiều dài ngắn
hơn mũi lý tưởng, nghĩa là chiều
dài nhỏ hơn một phần ba chiều dài
khuôn mặt. Tuy nhiên, thay vì chẩn
đoán chỉ đơn giản dựa trên chiều
dài, các đặc điểm khác cũng cần
được xem xét. Do đó, các đặc điểm
của mũi ngắn thực sự có thể được
định nghĩa như sau: nhìn thẳng
phía trước: thấy bên trong lỗ mũi,
đầu mũi xoay, môi trên dài ra và
giảm chiều cao mũi; nhìn nghiêng:
một gốc mũi thấp, tăng góc mũi má,
cánh mũi co ngắn lại và giảm chiều
dài cầu mũi.

Khi kéo dài mũi trong quá
trình tạo hình mũi, các yếu tố sau
phải được xem xét: độ mềm mại của

e-bacsy.com
170
da; sự hiện diện của sụn mũi trên,
sức mạnh của sụn mũi dưới và sụn
vách ngăn; chất liệu sụn tự thân để
dùng bổ sung; tình trạng niêm mạc
và da; và thay đổi xơ hóa. Đặc biệt,
kéo dài mũi đòi hỏi sụn vừa dài vừa
đủ khỏe; do đó, phải xác định sụn
nào có sẵn và cách sử dụng chúng
trước khi phẫu thuật. Tuy nhiên,
nếu mũi trở nên quá dài so với khu­
ôn mặt, thì bệnh nhân có thể trông
kém nữ tính và già hơn, vì vậy bác sĩ
phẫu thuật nên nhận thức đầy đủ về
việc nên nâng bao nhiêu từ góc độ
thẩm mỹ và để bệnh nhân đưa ra
quyết định cuối cùng.

Thực hành phẫu thuật chỉnh
sửa mũi ngắn ở người châu Á hiện
nay được xem xét.
Nguyên nhân mũi ngắn

Nguyên nhân của mũi ngắn có
thể được chia thành bẩm sinh hoặc
mắc phải (Hộp 1). Nguyên nhân
bẩm sinh là do dị tật bẩm sinh,
chẳng hạn như hội chứng Bind­
er hoặc khe hở môi- mũi, nhưng
tỷ lệ này thấp. Hầu hết bệnh nhân
có mũi ngắn gây ra bởi các vấn đề
khác, chẳng hạn như chậm phát
triển hoặc khiếm khuyết giải phẫu
và cố nâng mũi cao cho giống chiếc
mũi đẹp lí tưởng của người phương
Tây.

Hơn nữa, mũi ngắn có thể
được xác định bởi những phát hiện
chủ quan của con người, nghĩa là sự
thay đổi từ mũi bình thường và các
vấn đề thẩm mỹ, không phải là tiêu
chí khách quan. Tỷ lệ của mũi ngắn
cũng có thể thay đổi theo xu hướng
của từng thế hệ, chủng tộc, xã hội và
sở thích cá nhân. Đặc biệt, với việc
Tây phương hóa các nền văn hóa
phương Đông và giới thiệu các tiêu
chuẩn sắc đẹp phương Tây, số lượng
người châu Á có mũi ngắn bẩm sinh
tăng lên, và do đó, nhu cầu chỉnh
sửa mũi ngắn tiếp tục nhiều thêm.

Nguyên nhân mắc phải của
mũi ngắn bao gồm chấn thương,
nhiễm trùng, u, nguyên nhân do
phẫu thuật thất bại và lạm dụng
thuốc. Đặc biệt, sự gia tăng số ca
phẫu thuật nâng mũi trong đó dùng
implant đã dẫn đến mũi ngắn bệnh
lý, đó là mũi bị co lại, trong khi các
nguyên nhân khác kết hợp với loại
+ Bẩm sinh
• Hội chứng Binder
• Bệnh giang mai bẩm sinh
• Dị dạng sọ mặt
+ Mắc phải
• Chấn thương
• U vùng mũi
• Nhiễm trùng / viêm nhiễm
• Bệnh giang mai, bệnh
phong, bệnh u hạt Wegener
+ Phẫu thuật lỗi (sau phẫu
thuật)
+ Mũi bị co lại (phản ứng miễn
dịch của vật chủ, phẫu thuật lặp
lại và nhiễm trùng)
Hộp 1
Nguyên nhân của mũi ngắn

e-bacsy.com
171
bỏ mảnh ghép, dẫn đến phản ứng
miễn dịch của vật chủ, nhiễm trùng,
và phẫu thuật lặp đi lặp lại. Đối với
một mũi bị như vậy sẽ gây ra co
kéo, điều trị phẫu thuật là không
dễ dàng do nhiều vấn đề liên quan
đến tình trạng này, chẳng hạn như
tổn thương cấu trúc mũi do chấn
thương và không còn sụn do dùng
trong lần phẫu thuật trước và da
hoặc niêm mạc bị xơ cứng và không
mềm. Do đó, điều quan trọng là xác
định nguyên nhân của mũi ngắn
và chọn phương pháp điều trị phù
hợp.
Chỉnh sửa mũi ngắn
Lựa chọn chất liệu

Đầu tiên, chọn chất liệu phù
hợp để nâng mũi là điều cần thiết.
Không nên dùng implant trên chóp
mũi. Chóp mũi là một cấu trúc nổi
tự do, di chuyển liên tục khi nhai
thức ăn, mỉm cười hoặc làm nét
mặt. Khi một chất lạ, chẳng hạn
như implant, được dùng cho chóp
mũi, ma sát liên tục có thể dẫn đến
biến chứng như viêm. Do đó, tốt
hơn là dùng các mô tự thân, chẳng
hạn như sụn vách ngăn, sụn tai hoặc
sụn sườn.

Gần đây, việc dùng Med­
por (Stryker Corp, Kalamazoo, MI,
USA), một loại implant polyetylen
có mật độ xốp cao, đã tăng lên để
mở rộng đầu mũi, nhờ vào đặc tính
mỏng và mạnh. Điều này có thể gây
nên nhiễm trùng và trồi ra sau phẫu
thuật, và khi lấy bỏ implant thì nên
lấy bỏ thêm các tổ chức lân cận, do
sự xâm nhập mô vào lỗ nhỏ của chất
liệu, do đó gây ra tổn thương thêm
tổ chức (Hình 1).

Việc dùng sụn sườn đã chiếu
xạ cũng trở nên phổ biến hơn. Tuy
nhiên, sụn sườn tương đồng đã
chiếu xạ đã cung cấp chất liệu thay
thế lấy từ xác chết, dễ dàng cắt gọt,
có sẵn và tạo sự nâng đỡ cấu trúc
đầy đủ mà không có vấn đề về biến
chứng tại nơi cho.
Hình 1. (A) Những thay đổi viêm nặng được thể hiện trên sụn và cấu trúc mô mềm. (B) Medpor
và silicone được loại bỏ.

e-bacsy.com
172
Tuy nhiên, các báo cáo đã cho thấy
tỷ lệ teo đi và viêm; do đó, những
vấn đề này cần được xem xét đầy
đủ khi dùng chất liệu này. Khi sụn
sườn được chiếu xạ chỉ được dùng
cho mục đích kéo dài mũi, ngay cả
khi teo chất liệu sau phẫu thuật, thì
vẫn có sự bù trừ của các mô mềm,
chẳng hạn như da hoặc sụn, không
có vấn đề.

Đối với các trường hợp liên
quan đến co kéo, ảnh hưởng đến
cấu trúc phải được ghi nhớ. Bởi vì
chất liệu cuối cùng đã bị cạn kiệt và
cần một lượng hỗ trợ đáng kể thông
qua tái tạo cấu trúc trong nhiều
trường hợp, tốt nhất là lấy sụn
sườn tự thân trước phẫu thuật hoặc
bắt đầu phẫu thuật với chuẩn bị lấy
chất liệu. Ngoài ra, cần phải giải
thích khả năng dùng sụn sườn cho
bệnh nhân trước khi phẫu thuật.
Phương pháp phẫu thuật

Để kéo dài mũi ngắn đến độ
dài lý tưởng, các bước sau đây là
cần thiết: mở rộng da; mở rộng cấu
trúc hỗ trợ, bao gồm cả sụn; và mở
rộng niêm mạc xung quanh. Những
khía cạnh này cần được xem xét
dựa trên quyết định trước phẫu
thuật về việc mũi sẽ được kéo dài
bao nhiêu. Quyết định trước phẫu
thuật cũng giúp xác định kích thước
của sụn cần lấy và bao nhiêu phần
da và niêm mạc cần được mở rộng;
do đó, kết quả phẫu thuật thuận lợi
được dự kiến bởi vì giảm thiểu tác
dụng phụ do cắt bỏ quá mức.

Phẫu thuật được chia thành 2
loại: chỉnh sửa mũi ngắn bẩm sinh
và chỉnh sửa mũi bị co kéo sau phẫu
thuật hoặc chấn thương. Ở những
bệnh nhân chỉ có mũi ngắn, một
kết quả thuận lợi có thể được mong
đợi từ tạo hình mũi điển hình. Tuy
nhiên, bệnh nhân có mũi bị ngắn do
phẫu thuật hoặc chấn thương trước
đó, thường yêu cầu phẫu thuật phức
tạp và chính xác bằng cách dùng vạt
và / hoặc tạo hình vách ngăn.
Sửa mũi ngắn

Đối với những bệnh nhân
phẫu thuật tạo hình mũi lần đầu
không có tiền sử phẫu thuật, có thể
nâng mũi theo ý muốn của bệnh
nhân vì da mềm và chưa có tổn
thương tới cấu trúc mũi. Khi nâng
mũi, thuận lợi là dùng phương pháp
tiếp mổ hở để điều chỉnh chính xác
sự bất cân đối, nhưng phương pháp
nội soi cũng khả thi. Đầu tiên, lấy sụn
vách ngăn, nhưng nhiều người châu
Á có xu hướng có sụn vách ngăn
mỏng, yếu; do đó, điều quan trọng
là phải lấy sụn vách ngăn trong khi
duy trì sụn vách ngăn hình chữ L,
để lại 1,5 cm mỗi bên ở mặt sống và
đầu mũi. Như đã mô tả phần trước,
tuy nhiên, nếu không đủ sụn vách
ngăn do các vấn đề cấu trúc của mũi
nhỏ, lấy sụn vành tai với sụn vách
ngăn làm chất liệu bổ sung.

Mặc dù ghép phủ ở phần
nâng thêm ở đầu trong của đầu
mũi, nhưng hiệu quả không tốt như
mong đợi. Ghép phủ dùng sụn dày

e-bacsy.com
173
hoặc nhiều lớp sụn được nối với
nhau tạo áp lực đè ngược lên đầu
trong của sụn cánh mũi (LLC), có
thể bị co rút đầu mũi, chẳng hạn
như áp lực ngược lên đầu trong của
LLC, dẫn đến co ngắn mũi sau phẫu
thuật (Hình 2).

Khái niệm và phương pháp
cơ bản để kéo dài mũi ngắn liên
quan đến việc mở rộng niêm mạc,
sụn và da.
Mở rộng niêm mạc

Bởi vì bản thân sụn không
thể mở rộng, vì niêm mạc thực sự
được mở rộng, nên sụn mũi được
tách ra thành sụn bên trên (ULC) và
bên dưới LLC. Khi tách sụn, cần chú
ý đến thủng niêm mạc ở giữa niêm
mạc và sụn, có thể dẫn đến nhiễm
trùng sau mổ. Thực hiện phẫu
thuật tách ở phần đầu mũi làm tăng
lượng niêm mạc, cho phép kéo dài
mũi hơn.
Mở rộng sụn

Sau khi tách ULC và vách
ngăn, sụn được gắn vào góc vách
ngăn trước, đủ dài để mở rộng mũi.
Điều này được gọi là ghép mở rộng
(ESG), và nó có thể là phương pháp
quan trọng và hiệu quả nhất để mở
rộng mũi. Tách ULC và vách ngăn ra
và khâu với ESG. Thanh chống trụ
mũi được làm bằng sụn vách ngăn
hoặc sụn tai được ghép hai bên để
làm đầu trong. Khi dùng sụn tai thì
mảnh ghép có độ cong và yếu hơn
so với sụn vách ngăn, do đó, có thể
cần 2 mảnh ghép như vậy trên bệnh
nhân (Hình 3).

Tuy nhiên, nếu không đủ sụn,
việc dùng mảnh ghép chữ X được
xem xét. Ghép chữ X liên quan đến
gắn 2 sụn tương đối ngắn hình chữ
X trên vùng cuối vách ngăn để mở
rộng và hỗ trợ khung mũi, và nó
thường được dùng khi sụn mũi
ngắn, yếu hoặc cong nhiều. Sau khi
cố định ESG, ghép cải tiến mở rộng
phần đuôi vách ngăn được khâu
lên vách ngăn đối xứng hơn để tạo
độ nhô ra trước ESG ở đường giữa,
chúng được khâu lại với nhau (Hình
4 và 5).

Sau khi kết nối sụn với cấu
trúc nâng đỡ, LLC ở cả hai bên
được kéo và cố định vào vị trí mong
muốn bằng kim tiêm, và khâu cố
định bằng chỉ polydioxanone. Sau
đó, dùng mảnh ghép phủ để điều
chỉnh bổ sung vào hình dạng mũi
mong muốn. Ghép phủ được thực
hiện như một trong những bước
cuối cùng trong tạo hình đầu mũi.
Các tác giả ủng hộ
Hình 2. Mảnh ghép dày và /hoặc nhiều lớp có
thể đè ngược lên LLCs, là nguyên nhân thay
đổi độ dài mũi sau phẫu thuật.(trái) Trước
phẫu thuật. (phải) Sau phẫu thuật sau khi
kéo dài mũi bằng cách ghép phủ.

e-bacsy.com
174
Hình 3. (A) ESG được khâu trên phần cuối của vách ngăn để mở rộng mũi trong quá trình nâng
mũi. (B) Sau khi cố định ESG trên vách ngăn, LLC tách ra trước đó được đặt lại để kéo dài mũi.
(trái) ESG nằm ở một bên của vách ngăn để mở rộng mũi. (giữa) ESG đã được cố định chắc chắn
với vách ngăn và ULC. (phải) Các LLC riêng biệt được đặt lại đến cuối ESG. (C) Một bệnh nhân
trước và sau khi kéo dài mũi ngắn bằng sụn vách ngăn ESG. (trái) Nhìn thẳng: trước và sau khi
sửa mũi ngắn. (phải) Nhìn nghiên: trước và sau khi sửa mũi ngắn.
dùng sụn tai làm mảnh ghép phủ.
Đường viền tròn tự nhiên của sụn
tai là lý tưởng để tạo ra một mũi
trông tự nhiên. Khi dùng sụn sườn,
cần phải khắc các cạnh để tạo ra một
đường viền tròn trông tự nhiên.
Cuối cùng, mảnh ghép phủ có thể
dùng để kéo dài mũi thêm khi cần
thiết hoặc khi sửa chữa các vấn đề
của trụ mũi ngắn.
Mở rộng da

Mở rộng da không phải là vấn
đề lớn đối với bệnh nhân có mũi
ngắn bẩm sinh. Nếu khâu vết mổ
ở trụ mũi là khó khăn vì không đủ
lượng da, có thể bóc tách vạt rộng 2
bên nền mũi, và rạch thêm bên dưới
trụ mũi để mở rộng da hơn (Hình.
6).
Sửa mũi bị co ngắn

Mũi bị co rút nghiêm trọng
thường có da cứng, không đủ hoặc
không có sụn (ghép độn thêm)
và các cấu trúc nâng đỡ bị tổn
thương, chẳng hạn như vách ngăn.
Do đó, nên thảo luận kỹ với bệnh
nhân trước phẫu thuật và phẫu
thuật nên được thực hiện sau khi
chuẩn bị kỹ càng. Đối với mũi co
ngắn, sụn tự thân được ưu tiên.

Phẫu thuật được thực hiện
sau khi lấy sụn sườn trước, hoặc lấy

e-bacsy.com
175
sụn sườn trước, nếu cần thiết, sau
khi xác minh tình trạng của mũi.
Nếu việc mở rộng niêm mạc gặp
khó khăn do thay đổi mô xơ, thì có
thể thực hiện mở rộng bằng cách
ghép da hoặc ghép sau khi tách ULC
và LLC. Nếu lấy sụn sườn, có thể
dùng màng sụn (Hình 7).

Mở rộng mũi co ngắn đòi hỏi
một cấu trúc hỗ trợ mạnh mẽ hơn
nhiều so với mở rộng mũi ngắn đơn
giản, đòi hỏi ESG đủ mạnh. Nếu một
bệnh nhân không thể hoặc không
muốn dùng sụn sườn và không có đủ
sụn vách ngăn, hay sụn vành tai, có
thể cân nhắc dùng sụn sườn chiếu
xạ. Tuy nhiên các tác giả khuyên
bạn nên sử dụng sụn sườn tự
thân cho mũi bị rút ngắn. Bởi
vì nhiều bệnh nhân bị co rút có
xu hướng bị tổn thương sụn vách
ngăn, nên việc tái tạo vách ngăn
mũi là cần thiết để phẫu thuật
thành công, và sụn tự thân có
độ bền cao và có sẵn. Tái tạo vách
ngăn mũi làm nền tảng cho việc
Hình 4. Ghép chữ X là một phương pháp phẫu thuật hiệu quả để kéo dài mũi khi thiếu sụn. (A)
Sơ đồ cho thấy mảnh ghép X điển hình. (B) X-ghép bằng sụn vách ngăn được cố định trên vách
ngăn trong quá trình nâng mũi. Có nhiều loại sụn để dùng. (C) Bệnh nhân trước và sau khi kéo
dài mũi ngắn bằng kỹ thuật ghép sụn vách ngăn. (trái) Mặt trước của trước và sau khi sửa mũi
ngắn. (phải) Nhìn nghiên: trước và sau khi sửa mũi ngắn.

e-bacsy.com
176
Hình 5. (A) Ghép chữ X dùng sụn sườn cố định lên vách ngăn. Dùng sụn sườn ghép chữ X để
nâng mũi bị biến dạng. (B) Bệnh nhân trước và sau khi kéo dài mũi bị biến dạng bằng kỹ thuật
ghép chữ X. (trái) Nhìn thẳng: trước và sau khi sửa mũi bị biến dạng. (phải) Nhìn nghiên: trước
và sau khi sửa mũi bị biến dạng.
Hình 6. Phần mở rộng ở giữa của trụ mũi rất có ích để mở rộng da mũi. (trái) Chèn lưỡi
dao số 15. (phải) Phần trong của vết rạch được kéo dài bên dưới vết rạch xuyên qua trụ mũi
mở rộng mũi; do đó, mở rộng
mũi sẽ khó khăn nếu không tái
tạo vách ngăn. Tái tạo vách ngăn
mũi là phương pháp sử dụng sụn
sườn để tái tạo lại toàn bộ vách
ngăn mũi như một sụn duy nhất,
và các tác giả thích tái cấu trúc
hơn các phương pháp đơn thuần
khác (Hình 8).

Khi sử dụng sụn sườn, các
tác giả khuyến nghị kỹ thuật ghép
sụn sườn (LOCK) (Hình 9).
Kỹ thuật LOCK cho phép các bác
sĩ phẫu thuật duy trì độ dày phù
hợp theo hình dạng của ESG và
thanh chống đồng thời cung cấp
sự hỗ trợ vững chắc. Khi sử dụng
sụn sườn, sụn thường được cắt
thành các dải có độ dày hơn 2
mm để giảm khả năng cong vênh.
Sử dụng các mảnh ghép tương đối
dày này, các bác sĩ phẫu thuật hay
sử dụng kỹ thuật LOCK để cố định
ESG vào thanh chống trụ mũi.

e-bacsy.com
177
Hình 7. (A) Thực hiện mở rộng mũi sau khi tách từ ULC sang LLC và ghép phức hợp là
chất liệu ghép cần thiết để ổn định giữa ULC và LLC. (B) Trong khi tách, có thể bị thủng
niêm mạc nếu quan sát thấy sự thay đổi nghiêm trọng của các mô mềm và sau đó nó có
thể được cố định và ổn định bằng màng sụn. (Mũi tên) Ghép phức hợp để che khuyết
điểm giữa ULC và LLC.
Điều này cho phép cố định 2 sụn
an toàn và ổn định hơn để cải
thiện việc kéo dài đầu mũi và kéo
dài mũi. Ngoài ra, kỹ thuật LOCK
cho phép bác sĩ phẫu thuật kiểm
soát độ dày của ESG và thanh chống
trụ mũi. Khâu một dải sụn vào một
bên của vách ngăn dưới dạng ESG
đơn thuần. Một mảnh khác được
đặt ở vị trí là thanh chống trụ mũi.
Bề mặt tiếp xúc giữa ESG và thanh
chống trụ mũi được đánh dấu, và
một nửa độ dày mảnh ghép nhô ra
khỏi ESG và sau đó là thanh chống
trụ mũi. Những bề mặt cắt này đảm
bảo sự phù hợp chặt chẽ của cả hai
mảnh ghép. Sau đó, 2 mảnh ghép
được khâu lại với nhau.

Sau đó, cố định LLC, và dùng
mảnh ghép phủ để làm độn thêm
đầu mũi và sống mũi. Ghép phủ
được thực hiện cuối cùng trong tạo
hình đầu mũi. Tác giả ủng hộ dùng
sụn tai làm mảnh ghép phủ. Đường
viền tròn tự nhiên lý tưởng của sụn
tai để tạo ra đầu mũi trông tự nhiên.
Khi dùng sụn sườn, cần phải gọt bờ
sống mũi cong để tạo ra một đường
viền tròn trông tự nhiên. Cuối cùng,
mảnh ghép phủ có thể được dùng
để kéo dài thêm mũi khi cần thiết
hoặc khi sửa chữa các vấn đề của
trụ mũi co ngắn.

Trong nhiều trường hợp, bác
sĩ phẫu thuật gặp khó khăn khi khâu
da ở trụ mũi vì da quá cứng và ngắn

e-bacsy.com
178
Hình 8. (A) Tái tạo vách ngăn bằng cầu nối sụn sườn được thể hiện trong quá trình nâng mũi.
Không thấy có vách ngăn do phẫu thuật trước đó và do viêm. Lấy sụn sườn để chế tác tạo ra cầu
kèo và cố định với thanh chống trụ mũi trước. (trái) Tái tạo vách ngăn bằng phương pháp cầu
nối sụn sườn được thể hiện trong quá trình nâng mũi. (giữa) Lấy sụn sườn để chế tác tạo ra cầu
kèo và cố định với mảnh ghép và vách ngăn mở rộng. (phải) Mảnh ghép trải rộng được cố định
chắc chắn với thanh chống trụ mũi trước. (B) Một bệnh nhân mũi bị biến dạng trước và sau khi
tái tạo vách ngăn bằng kỹ thuật cầu nối sụn sườn. (trái) Nhìn thẳng: trước và sau khi sửa mũi
bị biến dạng. (phải) Nhìn nghiên: trước và sau khi sửa mũi bị biến dạng.
Như đã thảo luận trước, khâu da
sẽ đủ nếu chúng ta cắt ngang qua
vùng chân trụ mũi, trên nhân trung.
Nếu vẫn còn khó khâu da, thì dùng
vạt da ở dưới để đẩy lên là tốt nhất.
(Hình 10).

Vạt xoay cánh mũi có thể
được dùng để điều chỉnh cánh mũi
co ngắn, như mũi co ngắn (Hình
11). Vạt xoay cánh mũi đòi hỏi các
vết mổ dọc theo rãnh cánh mũi để
bảo tồn động mạch từ động mạch
mũi ngoài đến vùng chóp mũi. Ghép
thêm cánh mũi hoặc ghép phức hợp
có thể hỗ trợ nhiều hơn vạt xoay
cánh mũi để xử lí khi cánh mũi bị
co ngắn. Tuy nhiên, nếu khu vực trụ
mũi bị thiếu, có thể cần vạt dưới trụ
mũi (Hình 12). Trong trường hợp
thiếu nhiều, khi tạo hình mũi có thể
phải dùng vạt da trán hay vạt da
mũi-má.
Những bất lợi khi phẫu thuật

Sự bất lợi liên quan đến mở
rộng mũi có thể được chia thành

e-bacsy.com
179
Hình 9. (A) Hình minh họa: mô tả kỹ thuật LOCK dùng sụn sườn. Phần đầu của ESG và thanh
chống trụ mũi được cắt gọt để khớp với nhau và khâu lại với nhau bằng chỉ khâu polydioxanone.
Kỹ thuật này cho phép cả những tiến bộ về mặt thẩm mỹ và chức năng bằng cách giảm độ dày
của trụ mũi và ổn định hơn sau phẫu thuật. (trái) Mảnh ghép trải rộng được cố định ở một bên
của vách ngăn. (giữa) Phần đầu của ESG và thanh chống trụ mũi được chạm khắc để khớp với
nhau. (phải) ESG và mảnh ghép được khâu lại với nhau bằng chỉ khâu polydioxanone. (B) Một
bệnh nhân mũi bị biến dạng trước và sau khi tái tạo vách ngăn bằng kỹ thuật LOCK với sụn
sườn. (trái) Nhìn thẳng: của trước và sau khi sửa mũi bị biến dạng. (phải) Nhìn nghiên: trước
và sau khi sửa mũi bị biến dạng.
nhiều loại khác nhau, nhưng chúng
không khác nhiều so với các đặc
điểm liên quan tạo hình mũi. Chúng
có thể được xem xét từ quan điểm
thẩm mỹ và phẫu thuật, trong đó
chiều dài mũi dài hơn hoặc ngắn
hơn sau phẫu thuật có nghĩa là
kết quả thẩm mỹ không tốt mặc dù
phẫu thuật đã thành công.
Hơn nữa, vì việc kéo dài mũi đôi
khi có thể dẫn đến biến dạng mũi,
nên có biện pháp phòng ngừa phù
hợp (Hình 13).

Các sự bất lợi xảy ra từ
phẫu thuật khi can thiệp nhiều.
Đầu tiên, viêm có thể xảy ra, và
bởi vì bệnh nhân có mũi bị co ngắn
thường có tiền sử viêm mũi, cần có

e-bacsy.com
180
Hình 10. (A) Sau khi rạch bên trong của trụ mũi, đó là vạt quay trụ mũi, ghép phức hợp bên dưới
chỗ vạt xoay. (trái) Đường rạch bên trong trụ mũi. (giữa) vạt trụ mũi đã được xoay và khâu để
che khuyết da, và ghép ở vị trí cho vạt. (phải) Ghép phức hợp đã được khâu da để che đi khuyết
da ở vị trí cho vạt. (B) Bệnh nhân trước và sau khi làm vạt da trụ mũi và ghép da. (trái) Bệnh
nhân trước khi dùng vạt xoay trụ mũi và ghép da. (giữa) Hình ảnh khi phẫu thuật vạt xoay trụ
mũi và ghép phức hợp. (phải) Bệnh nhân sau vạt xoay trụ mũi và ghép phức hợp.
biện pháp phòng ngừa khi sử
dụng kháng sinh trước phẫu thuật
và sau phẫu thuật.

Hơn nữa, bởi vì phần mở rộng
dùng lực lớn, sự bất đối xứng hoặc
uốn cong có thể xảy ra. Cần chú ý
đặc biệt đến độ dốc của trụ mũi
có thể gây ra 2 lỗ mũi không đối
xứng. Sẹo có thể vẫn còn ở vị trí
vết mổ sau khi sử dụng vạt xoay
cánh mũi, có thể yêu cầu chỉnh
sửa bằng cách sử dụng Z-plasty
(Hình 14). Khi sử dụng sụn sườn,
sụn có thể cong do cong vênh, và
rất khó để dự đoán chính xác
và ngăn chặn sự cong này. Khi
căng da đầu mũi và giảm cung cấp
máu vùng chóp mũi và vị trí vết
rạch trụ mũi xảy ra, dẫn đến hoại
tử da có thể phát triển do tình
trạng cung cấp máu kém; do đó,
cần hết sức cẩn thận trong quá
trình phẫu thuật để đảm bảo không
căng da quá mức.

e-bacsy.com
181
Hình 11. (A) Vạt xoay cánh mũi được thiết kế và rạch dọc theo rãnh cánh mũi, giúp bảo tồn động
mạch trên chóp mũi. (trái) Thiết kế vạt xoay cánh mũi. (giữa) Vạt xoay cánh mũi được thiết kế
và rạch dọc theo rãnh cánh mũi, giúp bảo tồn động mạch vùng chóp mũi. (phải) Hình minh họa
sau khi dùng vạt xoay cánh mũi. (B) Hình ảnh phẫu thuật của vạt xoay hai bên. (C) Bệnh nhân
trước và sau khi xử lý vạt xoay cánh mũi 1 bên hoặc 2 bên. (bên trái) Nhìn thẳng: trước và sau
khi xử lý vạt xoay 2 bên. (giữa) Nhìn nghiên: trước và sau khi xử lý vạt xoay 2 bên. (phải) Nhìn
dưới lên:trước và sau khi xử lý vạt xoay 2 bên.

e-bacsy.com
182
Hình 12. (A) Khi quan sát thấy khuyết tật trụ mũi, vạt dưới mũi được xem xét. (trái) Đường rạch
hai bên trên vùng dưới mũi. (giữa) Phần da còn sót lại được chèn vào phần khuyết được tạo
bởi vạt dưới mũi và phần xa nhất được đóng lại là chính. (phải) Các cạnh da được đóng lại bằng
nylon 6-0. (B) Nhìn dưới lên: trước và sau khi dùng vạt dưới mũi. (C) Bệnh nhân trước và sau
vạt dưới mũi. (bên trái) Nhìn thẳng: trước và sau vạt dưới mũi. (giữa) Hình ảnh khi phẫu thuật
dùng vạt dưới mũi 2 bên. (phải) Trong khi mổ dùng vạt dưới mũi để tái tạo trụ mũi.

e-bacsy.com
183
Hình 13. Để kéo dài mũi có thể gây biến dạng mũi và xử lí bằng cắt bỏ da sống mũi với vạt xoay
cánh mũi. (A) Hình ảnh phẫu thuật của vạt xoay cánh mũi và cắt da sống mũi. (B) (trái) Nhìn
thẳng: trước và sau 4 tuần khi cắt bỏ da sống mũi và vạt xoay cánh mũi. (giữa) Nhìn nghiên:
trước và 4 tuần sau khi cắt bỏ da sống mũi và vạt xoay cánh mũi. (phải) Nhìn dưới lên: trước và
4 tuần sau khi cắt da sống mũi và vạt xoay cánh mũi.
Hình 14. Một vết sẹo sau vạt xoay cánh mũi được xử lý bằng cách dùng một hoặc nhiều Z-plasty.
(A) Hình ảnh trước phẫu thuật với lỗ mũi bị co rút nghiêm trọng ở cả hai bên. (B) (trái) thiết kế
vạt z-plasty đôi để điều chỉnh sẹo sau vạt xoay cánh mũi. (giữa) rạch đầy đủ độ dày da và bóc
tách 2 vạt z-plasty. (phải) hình ảnh phẫu thuật sau khi dùng 2 vạt z-plasty để điều chỉnh sẹo sau
vạt xoay cánh mũi. (C) Hình chiếu phía trước trước và sau khi gấp đôi z để điều chỉnh sẹo sau
vạt xoay cánh mũi.

e-bacsy.com
184
Tóm lại

Trong phẫu thuật nâng mũi,
thường được thực hiện nhất ở
người châu Á, cần phải mở rộng
mũi trong khi đồng thời kéo dài
mũi. Để mở rộng mũi, một sự hiểu
biết thấu đáo về chất liệu cần dùng
và phương pháp phẫu thuật là rất
cần thiết. Điều quan trọng là dùng
sụn tự thân khi mở rộng mũi, và
đặc biệt ở những bệnh nhân trải
qua phẫu thuật nâng mũi do co kéo,
nên dùng sụn sườn tự thân. Khi mở
rộng mũi, LLC và ULC được tách ra
để mở rộng niêm mạc và sụn được
mở rộng bằng ESG. Khi cần thiết,
các vùng nền mũi và trụ mũi có thể
phải rạch thêm.

Mở rộng mũi không thể đảm
bảo vẻ đẹp thẩm mỹ. Điều quan
trọng hơn là xác định cần mở rộng
bao nhiêu cho phù hợp từng khuôn
mặt của bệnh nhân. Quyết định cuối
cùng về việc nên mở rộng mũi bao
nhiêu thông qua thảo luận với bệnh
nhân sau khi xác định chiều dài mũi
từ hình thái và sự hài hòa với các
đặc điểm khuôn mặt.
Tài liệu tham khảo
1. Bergeron L, Chen PK. Asian rhi­
noplasty techniques. Semin Plast
Surg 2009;23:16–21.
2. Kim H, Han K. Asian rhinoplasty:
correction of the short nose with
a septal integration graft. Semin
Plast Surg 2015;29:269–77.
3. Lam SM, Kim YK. Augmentation
rhinoplasty of the Asian nose with
the “bird” silicone implant. Ann
Plast Surg 2003;51:249–56.
4. Guyuron B, Varghai A. Length­
ening the nose with a tongue-and-
groove technique. Plast Reconstr
Surg 2003;111:1533–9 [discus­
sion: 1540–1].
5. Katira K, Guyuron B. Contempo­
rary techniques for effective nasal
lengthening. Facial Plast Surg Clin
North Am 2015;23:81–91.
6. Ponsky DC, Harvey DJ, Khan SW,
et al. Nose elon- gation: a review
and description of the septal exten-
sion tongue-and-groove technique.
Aesthet Surg J 2010;30:335–46.
7. Kim J, Kim J, Uhm KI, et al. Sec­
ondary cleft nasal deformity cor­
rection using bioabsorbable mesh.
J Craniofac Surg 2016;27:1143–6.
Hình 15. Tùy thuộc vào tình trạng da và
nguồn cung cấp máu, hoại tử da vùng chóp
mũi có thể xảy ra. (trái) Ảnh trước phẫu
thuật. (phải) Hoại tử da ở chóp mũi sau khi
nâng mũi.

e-bacsy.com
185
16. Jung DH, Moon HJ, Choi SH, et
al. Secondary rhino- plasty of the
Asian nose: correction of the con-
tracted nose. Aesthet Plast Surg
2004;28:1–7.
17. Jung DH, Joshi A, Chang GU, et
al. Lapping of costal cartilage tech­
nique: a key step in stabiliz- ing
and reducing the bulk of cos­
tal cartilage used in rhinoplasty.
JAMA Facial Plast Surg
2015;17:153–5.
18. Jung DH, Lin RY, Jang HJ, et al.
Correction of polly- beak and dim­
pling deformities of the nasal tip
in the contracted, short nose by
the use of a supratip transposi­
tion flap. Arch Facial Plast Surg
2009;11: 311–9.
8. Suh MK, Ahn ES, Kim HR, et al.
A 2-year follow-up of irradiated
homologous costal cartilage used
as a septal extension graft for the
correction of con- tracted nose in
Asians. Ann Plast Surg 2013;71:
45–9.
9. Gentile P, Bottini DJ, Cervelli V.
Reconstruction of the nasal dor­
sum with Medpor implants. J Cra­
niofac Surg 2007;18:1506–8.
10. Peled ZM, Warren AG, John­
ston P, et al. The use of alloplastic
materials in rhinoplasty surgery: a
meta- analysis. Plast Reconstr Surg
2008;121:85e–92e.
11. Demirkan F, Arslan E, Unal S, et
al. Irradiated homol- ogous costal
cartilage: versatile grafting mate­
rial for rhinoplasty. Aesthetic Plast
Surg 2003;27:213–20.
12. Woo JS, Dung NP, Suh MK. A nov­
el technique for short nose correc­
tion: hybrid septal extension graft.
J Craniofac Surg 2016;27:e44–8.
13. Kridel RW, Ashoori F, Liu ES, et
al. Long-term use and follow-up of
irradiated homologous costal carti-
lage grafts in the nose. Arch Facial
Plast Surg 2009; 11:378–94.
14. Lefkovits G. Irradiated homol­
ogous costal cartilage for augmen­
tation rhinoplasty. Ann Plast Surg
1990; 25:317–27.
15. Jung DH, Loh I. The “X-graft” for
nasal tip surgery. Plast Reconstr
Surg 2011;128:79e–80e.

e-bacsy.com
186
MỤC TIÊU
mũi.
Eduardo C. Yap, MD, FPSO-HNS
Từ khóa
ĐẠI CƯƠNG

Người Đông nam Á bao gồm
một dân số chủ yếu là người gốc
Malay. Mũi thường nhỏ và da mũi
dày, mềm, thấp, cánh mũi rộng và
sa, đầu mũi to và co kéo vùng trước
hàm (Hình 1). Phương pháp phẫu
thuật nâng mũi cho các loại mũi
này khác với mũi thông thường.
Nói chung, những điều sau đây là
cần thiết: nâng sống mũi, độ xoay và
nhô đầu mũi, và cuối cùng là hiệu
chỉnh sa cánh mũi và loe cánh mũi/
nền mũi.

Sụn vách ngăn và sụn tai
thường được sử dụng; tuy nhiên,
sụn sườn có thể được sử dụng trong
các trường hợp mổ lại khi sụn vách
ngăn bị mất. Quy trình phẫu thuật
(không nhất thiết theo thứ tự) đòi
hỏi như sau: (1) cấu trúc nâng đỡ
đủ khỏe khi dùng sụn vách ngăn
ở giữa làm mảnh ghép mở rộng
(SEG), (2) khung viền sử dụng sụn
tai (ví dụ, ghép đầu mũi), và (3) mô
mềm để tạo đường viền của đầu và
cánh mũi.

Bởi vì mũi người Đông Nam
Á sở hữu những đặc điểm khác với
mũi các dân tộc khác, nên thời gian
phẫu thuật cũng khác nhau. Thông
thường, lấy sụn tai để ghép khung
đường viền. Sau đó, mũi được phân
tích xem có sa cánh mũi không bằng
• Mũi người Đông nam Á thường nhỏ và da mũi dày, mềm, thấp và rộng,
cánh mũi sa và đầu mũi to và co kéo vùng trước hàm.
• Mũi người Đông nam Á có những đặc điểm khác với mũi dân tộc khác;
thứ tự của phẫu thuật cũng khác nhau.
• Nói chung, những thay đổi sau đây là cần thiết: nâng sống mũi, đầu mũi
xoay và nhô ra, và cuối cùng là hiệu chỉnh sa cánh mũi và loe cánh mũi/nền
• Người Đông nam Á • Tạo hình mũi • Quy trình phẫu thuật
• Rạch hình cánh buồm • Rãnh tiền đình • Sa cánh mũi
Chương 12
Tạo hình mũi cho người Đông Nam Á

e-bacsy.com
187
cách khám độ nhô đầu mũi. Nếu có
sa cánh mũi, thì nên sửa tại thời
điểm này vì linh hoạt cánh mũi để
đánh dấu, rạch, cắt bỏ và đóng vết
khâu. Nó được điều chỉnh thông qua
việc cắt bỏ mô hình tam giác có
hình dạng như một cánh buồm bên
trong lỗ mũi. Sau khi nâng bờ cánh
mũi lên, bắt đầu nâng mũi thông qua
đường mổ mũi hở. Tách vách ngăn
ra 2 bên và lấy sụn vách ngăn trung
tâm và sử dụng làm mảnh ghép
hỗ trợ chủ yếu là SEG. Dùng sụn
tai để ghép đường viền mũi. Cắt bỏ
xương, nếu được chỉ định, thì thực
hiện luôn lúc này. Bởi vì khối lượng
cần thiết để nâng sống mũi, vật liệu
tổng hợp, chẳng hạn như silicone
và polytetrafluoroetylen (e-PTFE;
Gore Tex, W.L. Gore và Associates,
Newark DE) thường được sử
dụng. Da và mô mềm (SSTE) sau đó
được trải ra và phân tích xem có cần
ghép thêm không. Vết rạch qua trụ
mũi được đóng lại tại thời điểm này
và sự chú ý được chuyển trở lại vào
đầu mũi. Da và mô mềm (SSTE) sau
đó được trải ra và phân tích xem có
cần ghép thêm không. Vết rạch qua
trụ mũi được đóng lại tại thời điểm
này và sự chú ý được chuyển trở lại
vào đầu mũi.
Chi tiết kỹ thuật phẫu thuật
Thu hoạch sụn cánh mũi: Chủ yếu
ghép đường viền và ghép hỗ trợ
để ghép mở rộng vách ngăn

Do cấu trúc mũi nhỏ của
người Đông Nam Á, sụn vách ngăn
thường chỉ để làm khung nâng đỡ
vì thế hầu hết phải lấy sụn tai để
ghép đường viền (ví dụ, ghép đầu
mũi). Sụn tai đôi khi được sử dụng
làm hỗ trợ cho SEG bị yếu hoặc nhỏ.

Lấy sụn tai thành 1 khối gồm
phần ổ và hố ghe. Lấy cả màng sụn
để duy trì độ cứng. Gờ luân và gờ
đối luân nên bảo tồn. Lấy chỗ hõm
của vành tai để làm mặt trước tại
cuối vách ngăn. Nếu cần chất liệu
sụn lớn hơn nên tiếp cận mặt sau
của vách ngăn. Khi lấy sụn tai nên
giữ lại bình nhĩ khoảng 5mm và
băng cố định để khỏi bị biến dạng
tai. Sẹo lồi có thể xảy ra sau đó; do
đó, nếu phát hiện bệnh nhân có sẹo
Hình. 1. Mũi người Đông nam Á đặc trưng

e-bacsy.com
188
lồi, tránh vết mổ mặt sau. Sau khi
lấy sụn tai, ngâm trong dung dịch
muối bình thường. Khâu vết mổ
bằng mũi khâu đơn Nylon 5.0. Băng
ép 1 bên để tránh máu tụ.
Cắt hình cánh buồm để
sửa cánh mũi sa (Một phần
đường viền mô mềm): Cho
lợi thẩm mỹ hơn trong liên
quan cánh mũi-trụ mũi

Để đạt được cánh mũi đẹp
liên quan đến trụ mũi sẽ mang lại
sự hài hòa cho chóp mũi và toàn bộ
mũi. Ở mặt trước, cánh mũi-trụ mũi
sẽ mô phỏng một cánh buồm biển
trong đó vành cánh mũi được
định hướng tốt hơn (Hình 2). Nhìn
nghiêng, vòng cung cao nhất của
vành cánh mũi nên cắt ngang bằng
đường tưởng tượng của đầu mũi
và dưới đầu mũi. Cao hơn khoảng
1 đến 2 mm so với trụ mũi. Nhiều
người Đông Nam Á có một mức độ
nhất định sa cánh mũi. Gunter đã
phân loại của cánh mũi và trụ mũi,
và của người Đông Nam Á là từ
loại 4 đến loại 6 (Hình 3).

Hầu hết các bác sĩ phẫu thuật
tạo hình mũi thực hiện chỉnh sửa
cánh mũi sa ở phần cuối của phẫu
thuật. Đa số là thực hiện phương
pháp rạch ngoài, điều này dễ dàng
nhưng phụ thuộc vào kỹ năng và
kinh nghiệm (Hình 4).
Hình 2. Điểm cao nhất của vành cánh mũi nằm ngang mức với đầu mũi và dưới đầu mũi. (Từ
Gunter JP, Rohrich RJ, Friedman RM. Classification and correction of alar-columellar discrep­
ancies in rhinoplasty. Plast Reconstr Surg 1996;97:643–8.)

e-bacsy.com
189
Loại 1
Cánh mũi-trụ mũi bình thường
Loại 2
Co kéo cánh mũi
Loại 3
Co kéo cánh mũi với
trụ mũi xa xuống
Loại 4
Sa cánh mũi
Loại 5
Co kéo trụ mũi
Loại 6
Sa cánh mũi với
Co kéo trụ mũi
Hình 3. Phân loại Gunter về cánh mũi và trụ mũi, người Đông Nam Á từ loại 4 đến 6 về liên
quan cánh mũi-trụ mũi. (Từ Gunter JP, Rohrich RJ, Friedman RM. Classification and correction
of alar-columellar discrepancies in rhinoplasty. Plast Reconstr Surg 1996;97:643–8

Thông thường, nó sẽ bị cắt
bớt với vết sẹo khâu dọc theo vành
cánh mũi (Hình 5). Kỹ thuật cắt hình
cánh buồm ở bên trong được ưa
thích nhưng nó cần khả năng điều
chỉnh đầy đủ của cánh mũi và trụ
mũi để dự định, đánh dấu và phẫu
thuật, do đó nó được thực hiện như
thủ tục ban đầu (Hình 6).

Có những trường hợp cánh
mũi sa ít mà không thể nhìn thấy rõ
vì đầu bị huếch lên. Khi dùng tay
đẩy đầu mũi xuống và thả ra sẽ thấy
rõ hơn (Hình 7).

Sa cánh mũi được nâng lên
thông qua một số phương pháp,
thường là phương pháp rạch ngoài
hoặc bên trong. Cắt bỏ bên ngoài
được thực hiện bằng cách cắt toàn
bộ da ở vành cánh mũi và sau đó
khâu lại là chủ yếu. Phương pháp
này cho 1 cánh mũi mỏng, sẹo và

e-bacsy.com
190
lộ lông mũi tại vành cánh mũi;
nó không có điểm mốc là lấy bao
nhiêu nó phụ thuộc rất nhiều vào
kỹ năng và kinh nghiệm của bác sĩ
phẫu thuật.

Kỹ thuật mổ trong thì chính
xác hơn bởi vì có điểm mốc để thực
hiện. Liên quan đến cắt một mảnh
hình tam giác có hình cánh buồm.
Giống như bất kỳ tam giác nào, nó
có đỉnh, hai cạnh và đáy. Đỉnh của
tam giác là đỉnh của vành cánh
mũi trên mặt trước (Hình 8).

Đỉnh tam giác sẽ thấy khi ép
cánh mũi vào trụ mũi (Hình 9).
Cạnh phía ngoài là bờ trong của
vành cánh mũi. Cạnh trong là rãnh
tiền đình được đánh dấu bằng vết
lõm được phân định bởi lông mỏng
và lông dày. Khi ép cánh mũi vào sẽ
phát hiện 2 mặt phẳng khác nhau
của cơ nội tại của mũi (Hình 10).
Rãnh tiền đình là điểm mốc hằng
định; nó nằm sâu hơn trong cánh
mũi sa và bề ngoài nằm ở vị trí bình
thường. Nền là một đường nối giữa
đầu dưới. Nền mũi nằm trên từ 1
->1,5 mm lỗ mũi ngoài. Sau khi xác
định các mốc của cánh buồm, dùng
dao 15 để rạch da. Cắt bỏ da, cơ và
Hình 4. Rạch da bên ngoài thông qua và thông qua cắt bỏ cánh mũi sa để nâng cánh
mũi lên. Sẹo xuất hiện ở vết khâu.

e-bacsy.com
191
Hình 5. Nhìn thấy sẹo và lông mũi lộ ra dọc theo bờ cánh mũi khi phẫu thuật nâng
cánh mũi bằng cắt bên ngoài.
mỡ dưới da. Không bóc tách da.
Khuyết da được đóng lại bằng vạt
từ bờ cánh mũi (Hình 11). Đóng da
bắt đầu ở cả hai phía trong và ngoài,
do đó phía ngoài sẽ kéo vào và khâu
với cạnh trong tạo ra bờ cánh mũi
mới. Nylon hoặc chỉ tiêu polyglac­
tin (Vicryl) 6-0 khâu liên tục hoặc
khâu mũi đơn.

Có một số trường hợp thì bờ
vành cánh mũi thấp hơn nền trụ
mũi (loại 5 và 6 theo Gunter)
(Hình 12). Quy trình nâng cánh
mũi bao gồm thiết kế cánh buồm
mở rộng trong đó một hình tam
giác nhỏ được thiết kế để mở rộng
từ phía sau đến tiền đình mũi (Hình
13). Nâng tối đa tại vùng nền cánh
mũi.

e-bacsy.com
192
Hình 6. Thiết kế cánh buồm. Kỹ thuật cắt bên trong để điều chỉnh cánh sa. Cắt bỏ hết lớp da
của vùng tiền đình cùng với cơ và mỡ và sau đó da vành mũi được cuộn vào bên trong và
khâu da.
Khung cấu trúc: Nâng đỡ
cho đầu mũi

Mũi người Đông Nam Á có
sụn cánh mũi nhỏ và yếu (LC). Phải
có hệ thống nâng đỡ cho đầu mũi
nhô ra thích hợp. Thông thường thì
chọn mổ mũi hở vì sẽ thấy rõ cấu
trúc giải phẫu đễ tạo khung cấu trúc
cho đối xứng. Rạch hai bên bờ trụ
mũi bằng dao số 15 và da giữa trụ
mũi thì cắt theo hình chữ V ngược.
Đường cắt qua trụ mũi thấp hơn và
nằm trên chân của trụ mũi để phủ
vạt da qua đầu mũi sau khi đã tạo
độ nhô đầu mũi.

Bóc tách trên màng sụn cánh
mũi LC và sụn cánh mũi trên (UC)
và dưới màng xương mũi. Mở màng
vách ngăn và tiếp xúc đầu ngoài
vách ngăn. Lúc này, điều cần thiết
là hai cấu trúc hoàn toàn di động:
SSTE và LC.

Sau đó, tách vách ngăn ra hai
bên dưới màng sụn và dưới màng
xương để lộ toàn bộ vách ngăn. Lấy
khoảng 8-10 cm ở phần giữa của
sụn cho thanh chống trụ mũi. Lấy
bỏ vách ngăn xương. Có thể lấy vách
ngăn xương để làm khung nâng đỡ.
Bảo tồn UC; tuy nhiên, nó được cắt
ra khỏi vách ngăn để ghép mở rộng
nếu có bệnh lý (ví dụ, lệch, sập van
bên trong). Bất kỳ lệch vách ngăn
nào được ghi nhận ở phần sống
mũi và trụ mũi phải được sửa chữa
thông qua kỹ thuật khâu hoặc thực
hiện các mảnh ghép hỗ trợ.

SEG là mảnh ghép hỗ trợ
Đỉnh
Cạnh ngoài
Nền
Cạnh trong

e-bacsy.com
193
Hình 7. Dùng tay đẩy đầu mũi xuống rồi thả ra để mô phỏng đầu mũi mới.
Hình 8. Dùng tay đẩy đầu mũi xuống rồi thả ra tạo ra độ nhô đầu mũi và cánh mũi sa vốn có.
(Từ Yap EC. Nâng mũi thẩm mỹ cho người Đông Nam Á. Trong: Jin HR. Phẫu thuật thẩm mỹ
của khuôn mặt Đông Á. New York: Thieme; 2016. trang 110;.)
nền
Cạnh ngoài
Cạnh trong
Đỉnh
Đỉnh (Đỉnh rãnh)

e-bacsy.com
194
chính để tạo độ nhô và xoay đầu
mũi. SEG không có kích thước hoặc
thiết kế rõ ràng; tuy nhiên, tốt nhất
là nó được gắn chắc chắn ở điểm
nối của sống mũi và trụ mũi, phía
trên góc trước theo vectơ của vị
trí đầu mũi mới. UC đính vào vách
ngăn có thể được chia ra 2 mm
để phù hợp với SEG. Khâu 3-4 mũi
khâu PDS 5-0 để cố định SEG vào
thanh chống. Xương lá mía hoặc
sụn vách ngăn có thể được sử
dụng như là mảnh ghép mở rộng
và ghép nâng đỡ cho SEG đặc biệt
là khi bị lệch vách ngăn (Hình 14).
Khi sụn vách ngăn nhỏ và yếu. Lấy
sụn vành tai gấp lại và sử dụng để
hỗ trợ cho SEG. Nếu SEG có đủ
chiều dài nhưng yếu, dùng sụn
tai gấp lại và đặt bên dưới chỗ nối
giữa SEG và thanh chống trụ mũi
(Hình 15). Nếu SEG không đủ độ
dài nhưng chắc chắn đính tới thanh
chống trụ mũi, dùng sụn tai gấp lại
để cố định vào mặt trước ngoài của
SEG (Hình 16). Thỉnh thoảng một
sụn tai gấp lại được sử dụng như
mộng (chỗ chồi ra) Hình 17). Sụn
tai được cố định tại hai điểm, phía
trước ở bờ ngoài của SEG và phía
sau là ở thanh chống trụ mũi.

Khi SEG ổn định, vòm LC
được cố định ở đầu trước, chú ý
rằng không khâu căng quá khi kéo
LC đến vị trí đầu mũi mới. Tránh xô
lệch SEG hoặc lệch của đầu mũi. Cố
định bằng chỉ khâu PDS 5-0. Nếu
sụn cánh mũi dưới vẫn còn thấy
sự lồi lõm, việc cắt bỏ thêm ở phía
trong sao cho đảm bảo để lại 5 ->8
mm sụn cánh mũi dưới. Lúc này,
chú ý vales mũi trong và valves
Hình 9. Đỉnh của tam giác trong cắt bỏ cánh
buồm được xác định bằng cách ấn cánh mũi
vào trụ mũi.
Hình 10. Hai mặt phẳng khác nhau của cơ tại
chỗ bị ép lại. Mũi tên là rãnh tiền đình.

e-bacsy.com
195
Hình 11. Khuyết da được đóng lại bằng vạt da vành cánh mũi.
mũi ngoài để chắc chắn không bị
co lại hay đổ xuống. Niêm mạc của
vách ngăn khâu lại bằng chỉ tiêu 4-0
hoặc 5-0.

Cắt bỏ xương mũi ở trong và
ngoài được thực hiện tại thời điểm
này; tuy nhiên, tốt nhất là quyết
định cắt xương khi mũi được ghép
sống mũi bằng Implant. Đôi khi
không cần thiết phải cắt bỏ xương
khi dùng implant đúng cách.

e-bacsy.com
196
Hình 12. Nền cánh mũi thấp hơn nền trụ mũi. Thông thường loại biến dạng này là loại 5 và 6
theo phân loại Gunter về cánh mũi-trụ mũi.
Đường khung mũi: cho hình
dạng mũi

Đường khung mũi đòi hỏi
phải vẽ trước hình dạng của đầu
mũi và sau đó nâng sống mũi cho
phù hợp với đầu mũi mới. Mảnh
ghép được sử dụng thường là sụn
tai. Thiết kế lại SSTE để kiểm tra
sự cải thiện thẩm mỹ sau khi nâng
mũi. Bởi vì mũi người Đông Nam Á
thường ngắn và hếch lên, ban đầu,
chú ý tập trung tạo đầu mũi và vùng
dưới đầu mũi. Sau khi đạt được độ
dài hoặc độ xoay thích hợp, ghép
độn đầu mũi để tạo độ nhô đầu mũi.

Khi tạo đầu mũi ở vị trí mong
muốn, thiết kế mảnh ghép thêm
cho phù hợp với đầu mũi mới. Các
chất liệu tổng hợp, chẳng hạn như
silicon và e-PTFE, thường sử dụng
làm vật liệu nâng sống mũi vì khối
lượng phù hợp. Implant silicon sẽ
có bao xơ bao quanh và toàn bộ im­
pant có thể di động; nó có thể bị vôi
hóa, co kéo bao xơ và đùn ra theo
thời gian. Tuy nhiên, e-PTFE thì tạo
sự kết dính với các mô xung quanh
nhiều hơn và kết quả tự nhiên hơn.
Thỉnh thoảng thì cả silicon và Gore­
tex đều có biến chứng nhiễm trùng.

e-bacsy.com
197
Hình 13. Thiết kế vết mổ hình cánh buồm mở rộng trong hình tam giác nhỏ được đánh
dấu bằng phần kéo dài về phía sau trong tiền đình mũi. Nơi khuyết rộng nhất có hình elip với
đáy là nền cánh mũi, do đó đạt được lực nâng tối đa. Tránh cắt qua lỗ mũi.
Hình 14. Xương chính mũi giữ mảnh ghép kéo dài để giữ SEG ở giữa.

hacklink satın al mumu模拟器 雷电模拟器 向日葵 giftcardmall/mygift giftcardmall balance mygift giftcardmall matbet matbet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Betgaranti Betgaranti Güncel Adres Betgaranti Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Fim İzle Fim İzle Giriş Fim İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Fim İzle Fim İzle Güncel Adres Fim İzle jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Giriş Casibom Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Jojobet Jojobet Giriş Jojobet Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Deneme Bonusu Film İzle Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Türkçe Dublaj Film İzle Film İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi perabet perabet giriş holiganbet holiganbet giriş Casibom Lesfillmercom Casibom Lesfillmercom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Gerbergirlcom Casibom Gerbergirlcom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Spcelectriccontrolcom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş marsbahis marsbahis giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş matbet matbet giriş matbet güncel giriş vaycasino vaycasino güncel giriş vaycasino giriş matbet matbet giriş pusulabet pusulabet giriş pusulabet pusulabet güncel giriş pusulabet giriş matbet matbet güncel giriş matbet giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Resmi Adres pusulabet pusulabet giriş pusulabet güncel giriş Fixbet Fixbet Güncel Giriş Salvobet Salvobet Giriş Salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Turk Porno Turk Porno Giriş Turk Porno casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi casibom casibom jojobet izmir escort izmir buca escort buca escort jojobet casibom holiganbet holiganbet giriş jojobet holiganbet holiganbet giriş jojobet jojobet jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş izmir escort izmir buca escort buca escort izmir escort bayan salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Giriş Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Deneme Bonusu Veren Giriş Deneme Bonusu Veren salvobet salvobet salvobet salvobet Casibom betgaranti betgaranti betgaranti matbet matbet giriş matbet matbet giriş Casibom Casibom Salvobet jojobet Salvobet Salvobet Salvobet Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Güncel Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis bahsegel Fixbet Fixbet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş 1xbet 1xbet Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Listesi Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler grandpashabet grandpashabet grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler vaycasino vaycasino giriş jojobet grandpashabet casibom Casibom Casibom Giriş casibom www.giftcards.com Marsbahis grandpashabet jojobet jojobet grandpashabet casibom jojobet Casibom Casibom Casibom Casibom Casibom Grandpashabet Grandpashabet Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Marsbahis Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres grandpashabet grandpashabet giriş Casibom Fixbet Fixbet Giriş Casibom Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Holiganbet Holiganbet Güncel Adres Nevşehir escort Kapadokya escort Nevşehir escort bayan nevşehir eskort escort nevşehir Casibom Casibom Giriş Adresi Kapadokya esc Casibom Casibom Resmi Adres Matbet Matbet Matbet Güncel Adres Pusulabet Pusulabet Giriş Adresi imajbet giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Trabzon escort escort trabzon Trabzon escort bayan