I
Ts.Bs. Nguyễn Trọng Hào
THẨM MỸ NỘI KHOA
II
Thẩm mỹ nội khoa
III
Ts.Bs. Nguyễn Trọng Hào
BỆNH VIỆN DA LIỄU THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THẨM MỸ NỘI KHOA
CHỦ BIÊN: TS.BS. NGUYỄN TRỌNG HÀO
NHÀ XUẤT BẢN Y HỌC
IV
Thẩm mỹ nội khoa
BAN BIÊN SOẠN VÀ HIỆU ĐÍNH
PGS.TS. Nguyễn Tất Thắng
PGS.TS. Van Thế Trung
TS.BS. Nguyễn Trọng Hào
TS.BS. Châu Văn Trơ
TS.BS. Phạm Văn Bắc
TS.BS. Lê Thái Vân Thanh
BSCKII. Vũ Hồng Thái
BSCKII. Nguyễn Thanh Hùng
BSCKII. Phạm Đăng Trọng Tường
BSCKII. Nguyễn Thị Phan Thuý
CHỦ BIÊN: TS.BS. NGUYỄN TRỌNG HÀO
V
Ts.Bs. Nguyễn Trọng Hào
THAM GIA BIÊN SOẠN
PGS.TS. Văn Thế Trung
TS.BS. Nguyễn Trọng Hào
TS.BS. Cao Ngọc Bích
BS. Võ Thị Bạch Sương
TS.BS. Châu Văn Trở
TS.BS. Lê Thái Vân Thanh
BSCKII. Nguyễn Thanh Hùng
BSCKII. Phạm Đăng Trọng Tường
BSCKII. Nguyễn Kim Khoa
BSCKII. Trương Lê Anh Tuấn
BSCKII. Nguyễn Thị Bích Liên
BSCKII. Phạm Thúy Ngà
BSCKII. Trần Kim Phượng
BSCKII. Nguyễn Nhật Trường
BSCKII. Tran Thị Hoài Hương
ThS.BS. Hà Văn Phước
BSCKII. Trương Lê Đạo
BSCKII. Nguyễn Hữu Hà
BSCKII. Nguyễn Thị Diễm Thu
ThS.BS. Võ Nguyễn Thúy Anh
ThS.BS. Vũ Thị Phương Thảo
ThS.BS. Trần Nguyên Ánh Tú
BSCKI. Ngô Quốc Hưng
BSCKI. Đỗ Thị Thanh Tâm
BSCKI. Võ Thị Đoan Phượng
ThS.BS. Phạm Thị Uyển Nhi
VI
Thẩm mỹ nội khoa
LỜI GIỚI THIỆU
Trong những năm gần đây, chuyên ngành Da liễu Việt Nam không ngừng lớn mạnh và có
nhiều tiến bộ, đóng góp vào sự phát triển chung của y học. Người dân đã có ý thức hơn
trong việc phòng ngừa, chăm sóc sức khỏe làn da của mình. Chính vì vậy, nhiệm vụ của một
cán bộ y tế chuyên khoa da liễu không chỉ dừng lại ở việc điều trị bệnh lý mà còn chăm sóc
thẩm mỹ, cải thiện vẻ bề ngoài, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.
Nắm bắt xu hướng đó, Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí Minh đã đẩy mạnh phát triển
chuyên môn kỹ thuật, triển khai nhiều dịch vụ, thiết bị công nghệ cao, cũng như đào tạo
liên tục trong lĩnh vực chăm sóc da thẩm mỹ. Bộ sách “Thẩm mỹ nội khoa” là sản phẩm cho
thấy nỗ lực đáng ghi nhận của tập thể y bác sĩ bệnh viện, thể hiện rõ vai trò chỉ đạo chuyên
khoa cho 21 tỉnh/thành phía Nam và đóng góp vào sự phát triển của chuyên ngành Da liễu
trong tình hình mới.
Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu bộ sách “Thẩm mỹ nội khoa” và hy vọng bộ sách sẽ là tài
liệu tham khảo có giá trị cho quý độc giả trong thực hành lâm sàng của mình.
GS.TS. NGUYỄN TÁN BỈNH
Giám đốc Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh
VII
Ts.Bs. Nguyễn Trọng Hào
LỜI NÓI ĐẦU
Thay mặt ban biên tập
TS.BS. NGUYỄN TRỌNG HÀO
Giám đốc Bệnh viện Da Liễu Thành phố
Hồ Chí Minh
Mong muốn có một diện mạo tươi trẻ, khỏe đẹp hoặc ít nhất khắc phục được phần nào
những dấu hiệu tuổi tác là nhu cầu hoàn toàn chính đáng của mỗi người. Chính vì vậy, trong
những năm gần đây, lĩnh vực thẩm mỹ nội khoa hay còn gọi là “làm đẹp không phẫu thuật”
đã không ngừng phát triển. Từ đó, rất nhiều cán bộ y tế có nhu cầu tham khảo, đào tạo và
cập nhật về lĩnh vực hấp dẫn này.
Được Bộ Y tế phân công chỉ đạo chuyên khoa cho 21 tỉnh/thành phía Nam, Bệnh viện Da
Liễu Thành phố Hồ Chí Minh nhận thấy trách nhiệm.của mình trong việc chuẩn hóa, cập
nhật kiến thức và đào tạo liên tục chuyên ngành da liễu trong đó có thẩm mỹ nội khoa. Để
phục vụ cho những mục tiêu nói trên, bộ sách “Thẩm mỹ nội khoa” là kết quả của quá trình
lao động nghiêm túc, sự tích luỹ kinh nghiệm nhiều năm trong đào tạo và thực hành của
đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên Bệnh viện Da Liễu Thành phố Hồ Chí Minh.
Bộ sách không chỉ là giáo trình cho các khóa đào tạo liên tục của Bệnh viện Da Liễu Thành
phố Hồ Chí Minh và mà còn là nguồn tài liệu tham khảo quý báu cho đồng nghiệp đang
công tác trong chuyên ngành da liễu, thẩm mỹ.
Xin chân thành cám ơn Ban Giám đốc, các phòng chức năng thuộc Sở Y tế Thành phố Hồ
Chí Minh, Bộ môn Da Liễu Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh và Bộ môn Da Liễu
Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch đã luôn ủng hộ và giúp đỡ chúng tôi hoàn thành
bộ sách này.
Vì đây là lần xuất bản đầu tiên nên không thể tránh khỏi thiếu sót, rất mong quý đồng ng-
hiệp góp ý để những lần tái bản sau hoàn thiện hơn.
VIII
Thẩm mỹ nội khoa
IX
Ts.Bs. Nguyễn Trọng Hào
Mục lục
• Chương 1 : Đại cương. ..................................................................... 1
• Chương 2 : Chăm sóc da............................................................ 81
• Chương 3 :Một số tình trạng da liên quan
.........đến thẩm mỹ......................................................... 172
• Chương 4 :Laser, ánh sáng và các thiết bị
.........phát năng lượng khác.................................. 255
• Chương 5 :Thủ thuật thẩm mỹ
.........và phẫu thuật da.............................................. 389
X
Thẩm mỹ nội khoa
1
Thẩm mỹ nội khoa
Chương 1
Đại cương
2
Chương 1
Đại cương
• QUAN ĐIỂM VỀ SẮC ĐẸP (OVERVIEW OF THE BEAUTY)............................................... 3
• CẤU TRÚC DA (THE STRUCTURE OF SKIN) .......................................................................11
• ĐỊNH KHU GIẢI PHẪU HỌC PHẪU THUẬT VÙNG MẶT VÀ CỔ
.....(SURGICAL ANATOMY OF THE FACE AND NECK) ..........................................................15
• SỰ LÀNH VẾT THƯƠNG (THE WOUND HEALING).........................................................27
• DA KHÔ (DRY SKIN - XEROSIS)............................................................................................ 38
• CÁC HỆ THỐNG PHÂN LOẠI DA (CLASSIFICATIONS OF SKIN TYPE)...................... 44
• DA NHỜN (OILY SKIN)............................................................................................................ 52
• DA NHẠY CẢM (SENSITIVE SKIN)....................................................................................... 58
• DINH DƯỠNG VÀ DA (NUTRITION AND THE SKIN)..................................................... 68
Chương 1 : ĐẠI CƯƠNG
3
Thẩm mỹ nội khoa
QUAN ĐIỂM VỀ SẮC ĐẸP
(OVERVIEW OF THE BEAUTY)
1. ĐẠI CƯƠNG
Khái niệm về cái đẹp, nói chung và sắc
đẹp nói riêng là hết sức đa dạng và không
phải là bất biến. Nhận thức của mỗi người
về sắc đẹp cũng phụ thuộc vào nhiều yếu
tố: chủng tộc, vùng lãnh thổ địa lý, nền văn
hóa, điều kiện sống, trình độ học vấn, thời
đại đang sống, sự giao tiếp của cá nhân
với xã hội... Chính vì vậy mà sự đánh giá
sắc đẹp là vô cùng phức tạp. Tuy nhiên,
trong mức độ cộng đồng, quốc gia hay ở
tầm cỡ toàn cầu, chúng ta vẫn phải thống
nhất với nhau về các tiêu chuẩn cơ bản
của sắc đẹp, để cùng tìm ra những giá trị
tiêu biểu cho vẻ đẹp chung của con người.
Trong y khoa, đặc biệt là trong các
chuyên ngành có liên quan đến chỉnh sửa,
tái tạo về mặt thẩm mỹ, đánh giá nhân trắc
học đóng vai trò quan trọng vì không chỉ
tổng hợp các chỉ số về cấu trúc cơ thể,
mà qua đó còn phản ánh được khả năng
và giới hạn thể lực, lách thước và đặc điểm
CO2 thể học, đặc điểm tâm lý và hành vi...
của bệnh nhân. Từ đó giúp nhân viên y tế
và bệnh nhân đạt được sự thấu hiểu và
đồng thuận cao nhất.
2. TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ SẮC ĐẸP
Sắc đẹp của một người được đánh giá
dựa trên hai phương diện: những yếu tố
không đo được (đánh giá bằng sự cảm
nhận) và những yếu tố đo được (đánh giá
bằng sự cân đong đo đếm).
2.1. Những yếu tố không đo được
(Somatoscopie)
Là vẻ đẹp hình thể của con người chỉ có
thể được nhận biết bằng trực giác, bằng
sự trải nghiệm tinh tế của mỗi cá nhân.
Đây cũng là những yếu tố dễ gây tranh cãi
vì nó phụ thuộc hoàn toàn vào cảm nhận
riêng.
- Dáng người: Dáng người là ấn tượng
đầu tiên của một hình thể, rất quan
trọng khi đánh giá vẻ đẹp của con
người. Dáng người bao gồm nhiều tiêu
chí: cao - thấp, béo mập - gầy ốm, tay
chân thẳng hay cong và dài hay ngắn so
với cơ thể, sự cân đối, hài hòa giữa các
bộ phận của cơ thể...
- Tư thế đi, đứng, chuyển động của mỗi
người cũng thể hiện vẻ đẹp “không đong
đếm được”. Một người được coi là đẹp
khi có thể được mô tả: khi đứng thì cao
ráo, thon thả, khi đi thì uyển chuyển, nhẹ
nhàng, bước chân quý phái, kiêu sa,...
- Làn da: Da không chỉ là cơ quan che
phủ bảo vệ cơ thể mà còn có nhiều chức
năng khác. Da là tấm gương phản ánh
hoạt động sinh lý bên trong cơ thể, phản
chiếu tình trạng sức khỏe toàn thân.
Khi nói về cái đẹp của làn da, người ta
thường không chú trọng nhiều tới màu
da vì mỗi chủng tộc có màu da khác
nhau mà chú ý nhiều đến sức khỏe của
da. Nói chung, một làn da đẹp phải là làn
da tươi trẻ, căng mịn, hồng hào, không
có những biểu hiện lão hóa hay bệnh lý.
4
Chương 1
Đại cương
- Khuôn mặt: Theo quan niệm của người
Việt, một khuôn mặt phụ nữ đẹp là khu-
ôn mặt đầy nữ tính, thuần khiết, phúc
hậu, thùy mị, đoan trang.
- Nét duyên: Nét duyên của một người
bao hàm nhiều yếu tố như dáng người,
khuôn mặt, tiếng cười, giọng nói. Đó là
một tổng thể hài hòa của mỗi cá nhân,
tạo nên ấn tượng đẹp với mọi người
chung quanh.
2.2. Những yếu tố đo được
(Somatométric)
Đây là những chỉ số về mặt thể chất
của sắc đẹp, có thể xác định bằng những
chỉ số đo đạc cụ thể giúp cho việc nhận
định đánh giá sắc đẹp tổng thể một cách
khách quan.
2.2.1. Đánh giá theo tỉ lệ - Khái niệm
tỉ lệ vàng
Năm 2009, một tỉ lệ vàng mới đã được
công bố trong kết quả một nghiên cứu của
các tác giả Pamela Pallette và Stephen
Link, Đại học San Diego, California, Mỹ và
Kang Lee, Đại học Toronto (Canada). Dựa
trên cơ sở tỉ lệ vàng 1:1618, các tác giả
của nghiên cứu này đã tìm ra tỉ lệ vàng mới
dễ hiểu hơn, dễ áp dụng hơn và chính xác
hơn cho một khuôn mặt đẹp bằng hai chỉ
số:
Hình 1.1 Tỉ lệ vàng
[1]
Con số vàng (Golden Number) hay tỉ lệ
vàng (Golden ratio) là số Phi 01:1618. Ký
hiệu Phi là chữ viết tắt tên của nhà kiến
trúc Hy Lạp Phidias, người đã thiết kế đền
Parthenon, là nơi xuất phát tỉ lệ vàng .
5
Thẩm mỹ nội khoa
Hình 1.2. Tỉ lệ vàng mới
[2]
• Chiều dọc: 0:36 là tỉ lệ giữa khoảng cách
đường ngang đồng tử đến miệng AB và
khoảng cách từ chân tóc đến cằm CD
(AB/CD = 0,36)
• Chiều ngang: 46 là tỉ lệ khoảng cách
giữa hai đồng tử EF và chiều rộng của
mặt GH (EF/GH = 0,46)
• Chiều dài mặt bằng ba lần chiều dài
mũi
• Chiều rộng của mắt bằng khoảng cách
giữa hai mắt.
• Môi trên và môi dưới có chiều rộng
bằng nhau
• Hai cung mày đối xứng nhau qua trục
mũi.
• Khoảng cách hai mí mắt (mở) bằng
khoảng cách mí trên đến cung mày.
• Đầu trong cung mày nằm trên cùng trụ
thẳng với góc mắt trong.
• Chiều rộng của mặt qua hai má bằng
hai lần chiều dài mũi.
(Nguồn:
P.M.
Pallett,
Stephen
Link,
Vison Res. 2010)
A
H
G
C
D
E
F
B
Tỷ số dọc AB/CD=0.36
Tỷ số ngang EF/GH =0.46
2.2.2. Đánh giá bằng các chỉ số đo
Các chỉ số sau khi đã thu thập, sẽ được
đưa vào phân tích và đánh giá, từ đó phân
loại được mức độ tiệm cận với chuẩn của
sắc đẹp. Các chỉ số này càng gần với số
chuẩn, thi vẻ đẹp càng trở nên hoàn hảo.
Nhưng nếu chúng đứng riêng rẽ, chúng chỉ
là những số đo kích thước đơn thuần.
Vai trò của Thẩm mỹ (Phẫu thuật thẩm
mỹ hoặc Da liễu thẩm mỹ) là đưa các chỉ
số chưa chuẩn trên khuôn mặt hoặc cơ thể
về gần với tỉ lệ chuẩn, gần nhất có thể. Vì
thế, sự am hiểu về các chỉ số và khả năng
mỹ cảm về tỉ lệ của chúng trong không
gian là điều quan trọng đối với các chuyên
gia thẩm mỹ. Đây là nền tảng để các bác sĩ
đưa ra chỉ định thủ thuật đúng đắn; đồng
Thời cũng là cơ sở để kiểm chứng hiệu quả
của thủ thuật.
3. CÁCH ĐO TRONG NHÂN TRẮC
HỌC
3.1. Vùng mặt
Đối với vùng mặt, các chỉ số quyết định
khuôn mặt đẹp bao gồm:
- Sự cân đối của khuôn mặt (face
symmetry)
- Các tỉ lệ (face proportions), mà nổi
tiếng nhất là Golden ratio - tỉ lệ vàng.
6
Chương 1
Đại cương
Mặt nhìn thẳng
Mặt nhìn nghiêng
Hình 1.4. Các chỉ số khuôn mặt nhìn
nghiêng
• “ Đường nối gốc mũi và điểm góc mũi-
môi sẽ cho ta nhận thấy khuôn mặt nhô
ra trước nhiều (mặt dô) hay thụt về sau
nhiều (mặt lõm, gãy).
• ° Đường nối từ chóp mũi đến cằm.
Bình thường môi miệng phải nằm sau
đường này, nếu miệng ra trước nhiều là
vẩu, cằm dô, nếu ra sau nhiều là miệng
Hình 1.3. Các chỉ số khuôn mặt nhìn thẳng
• Theo chiều dọc khuôn mặt có ba phần
lớn bằng nhau: từ chân tóc đến điểm
giữa hai lông mày - đến chân mũi nơi
tiếp giáp với nhân trung - đến đỉnh cằm
• Chiều cao khuôn mặt bằng chiều dài
bàn tay
• Chiều cao của mỗi 1/3 mặt bằng chiều
dài ngón tay cái
• Chiều rộng của mắt bằng bề rộng giữa
hai chân cánh mũi
• Lấy chuẩn là đường giữa mặt đi dọc
sống mũi ta có thể so sánh sự cân đối
của các bộ phận trên khuôn mặt và sự
cân xứng hài hòa của toàn gương mặt.
(Nguồn: PMucks)
móm, cằm lẹm.
• Chiều ngang nối hai cánh
mũi
• thường chiều ngang mắt (ở
người
• châu Á có thể lớn hơn chiều
ngang
• mắt) và chiều ngang này
thường
• bằng 3/5 chiều dài sống mũi.
• Góc giữa sống mũi và trán là
yếu tố quan trọng cho vẻ đẹp
của mặt. Góc này được coi
là đẹp khi ở giới hạn 120°-
130°. Điểm gốc của sống
mũi thường ở giữa hai chân
mày ngang bờ trên của mắt.
• Khoảng cách từ điểm góc mũi môi đến
môi trên và đến đỉnh mũi thường bằng
nhau.
• Một góc quan trọng là góc tạo nên tại
điểm góc môi mũi với hai cạnh là từ góc
đó đến môi trên và từ góc đến chóp
mũi. Góc này lý tưởng là 100°-120°.
• (Nguồn: Sergey Leonidovich Panphilov.)
7
Thẩm mỹ nội khoa
3.2. Hình thể
Đối với cơ thể, các chỉ số quyết định
hình thể đẹp bao gồm:
- Tỉ lệ chiều cao/cân nặng
- Tỉ lệ giữa các phần trên cơ thể
- Vóc dáng.
Hình 1.5. Dạng cơ thể và các chỉ số lí tưởng
[3]
(Nguồn: Adolphe Armand Braun, Hieroglyphic or Greek
method of life drawing)
8
Chương 1
Đại cương
Chiều cao/Cân nặng
Chiều cao trung bình của người Việt
Nam: Nữ: 150 cm, Nam: 160 cm
Cân nặng hợp lý của người Việt Nam có
thể tính theo công thức:
Cân nặng = Chiều cao - 105
Thế nhưng, tỉ lệ chiều cao/cân nặng
mới là yếu tố quyết định vóc dáng của mỗi
người.
Chỉ số BMI (Body
Mass Index) mô tả
khối lượng cơ thể, là
một thông số quan
trọng giúp chúng ta
đánh giá một cơ thể
khỏe mạnh, không có
nguy cơ bệnh tật và có
vóc dáng lí tưởng.
Hình 6. Bảng điểm BMI
Cách đo và tỉ lệ giữa các số đo của cơ thể
Vòng ngực
9
Thẩm mỹ nội khoa
Vòng ngực tiêu chuẩn bằng 1/2 chiều
cao toàn thân.
Tuy nhiên, muốn đánh giá vẻ đẹp của
bộ ngực phụ nữ thì phải đo thêm vòng
ngực số 3, là vòng ngực đi qua nếp lằn
dưới vú.
Vú đứng và đẹp khi vòng ngực 2 lớn
hơn vòng ngực 3 khoảng 10 cm.
Vòng eo
Vòng eo được coi là đẹp khi nhỏ hơn
vòng ngực khoảng 20 cm và nhỏ hon vòng
mông khoảng 24 cm.
ở nam giới thì vòng bụng thường nhỏ
hơn vòng ngực 30 cm.
Vòng mông
Vòng mông tiêu chuẩn lớn hơn vòng
ngực khoảng 4 cm, lớn hơn vòng eo khoảng
24 cm. ở nam giới, vòng mông thường nhỏ
hơn vòng ngực khoảng 4 cm.
Mông được coi là đẹp cần phải có nhiều
yếu tố như phải nở nang tròn đầy cân đối,
săn chắc nhưng không thô cứng, mềm
mại nhưng không chảy xệ và cần phải cân
xứng với toàn bộ cơ thể.
Vòng đùi
Vòng đùi tiêu chuẩn của phụ nữ Việt
Nam khoảng 45-50 cm, thường bằng 1/3
chiều cao trừ đi 5 - 10 cm.
Một người có vòng đùi được coi là đẹp
khi có số đo tiêu chuẩn, đùi thon dài, căng
tròn, không nhão xệ và nhăn nứt da. Đùi
đẹp là yếu tố cơ bản tạo nên chân đẹp.
Chân đẹp phải có đủ các yếu tố:
- Hình dáng: Chân dài, có vòng đùi, vòng
bắp chân hợp lý. Hai chân phải thẳng
cân đối. Trong tư thế đứng thẳng chạm
hai mắt cá trong, hai chân phải luôn
chạm nhau ở dọc đùi, ở mặt trong đầu
gối và ở hai bắp chân.
Chân phải dài và độ dài có tỉ lệ cân
xứng với cơ thể. Độ dài đẹp của chân được
xác định bằng chỉ số Skelie. Ở người Việt
Nam, chỉ số Skelie trung bình từ #85-90.
Chỉ số #90 được coi là đẹp.
Độ dài thân người
Chúng ta đều biết tỉ lệ giữa thân người
và chân rất quan trọng. Ta rất dễ nhận ra
sự thiếu cân đối của người chân dài lưng
ngắn hoặc ngược lại. Ở người Việt Nam
trung bình là khoảng 50.
Tỉ lệ vòng eo/vòng mông lí tưởng
tương đương 0,618
Tỉ lệ 3 vòng ngực-eo-mông lí tưởng
với các số đo (cm) 90 - 60 - 90
10
Chương 1
Đại cương
Một số yếu tố khác
- Chiều dài tay: nếu chiều dài tay không
cân xứng với lưng và chân cũng sẽ tạo
sự bất cân xứng rất dễ nhận thấy.
- Chiều dài chân: với phụ nữ Việt Nam,
chân dài khoảng 90 cm được coi là
chuẩn đẹp. - Vòng bắp chân: thường
nhỏ hơn vòng đùi khoảng 20 cm.
- Vòng cánh tay: khoảng 1/2 vòng đùi.
- Vòng cổ: thường bằng vòng bắp chân
hoặc bằng 1/2 vòng eo bụng.
Không chỉ là số đo, việc đánh giá ý
nghĩa thẩm mỹ của các số đo nhan sắc
dựa vào mối tương quan của chúng theo
tỉ lệ chuẩn mới là yếu tố quan trọng để
đánh giá sắc đẹp.
4. KẾT LUẬN
Trên đây là những yếu tố cho phép
đánh giá thẩm mỹ ngoại hình của một
người. Tuy nhiên, đó chỉ là những tiêu chí
rút ra từ phép thống kê y học nên chỉ có
giá trị tương đối. Sắc đẹp là sự kết hợp
hài hòa giữa những gì có thể cân đong đo
đếm được của ngoại hình với vẻ đẹp của
trí tuệ và tâm hồn.
Hiện nay, trên thế giới có nhiều phương
pháp đo các chỉ số kích thước cơ thể. Mỗi
phương pháp đều có những ưu điểm và
nhược điểm riêng. Khi đánh giá kết quả đo
để đưa ra những kết luận về thẩm mỹ, mỗi
tác giả cũng có những tiêu chí, đôi khi tùy
thuộc vào chủng tộc và hệ thống văn hóa
của đối tượng được đo và cả của người
thực hiện.
Chuyên gia thẩm mỹ là những người
am hiểu về nhân trắc học, đồng thời phải
hiểu biết về sự tương quan giữa các chuẩn
mực của sắc đẹp đối với môi trường sống
và vị trí xã hội; để có thể tạo nên những
tác phẩm thẩm mỹ đẹp hài hòa theo thời
đại mà không đánh mất đi nét riêng, nét
duyên của mỗi người.
11
Thẩm mỹ nội khoa
CẤU TRÚC DA
(THE STRUCTURE OF SKIN)
1. ĐẠI CƯƠNG
Da là cơ quan nằm ở mặt ngoài cơ thể
và tiếp nối các niêm mạc của mắt, mũi,
miệng, hậu môn, cơ quan sinh dục. Da
chiếm khoảng 15% trọng lượng cơ thể,
diện tích da ở người lớn chiếm khoảng
10.000-15.000 cm2.
2. CẤU TRÚC DA
Cấu trúc da gồm có ba tầng:
- Tầng ngoài cùng là thượng bì có
nguồn gốc từ ngoại bì
- Tầng giữa là mô liên kết sợi vũng chắc
gọi là bì
- Tầng dưới cùng là hạ bì, một mô liên
kết mỡ
Nguồn gốc của tầng giữa và dưới là
trung mô.
2.1. Thượng bì (Epidermis)
Có cấu trúc tế bào không mạch máu,
mỏng nhất ở vùng mí mắt khoảng 0,1 mm
và dày ở lòng bàn tay và lòng bàn chân có
thể đến 1,5 mm. cấu tạo thượng bì gồm 5
lớp tế bào từ trong ra ngoài:
2.1.1. Lớp đáy (Stratum basalis)
Còn gọi là lớp sinh sản. Gồm có một
hàng tế bào đứng trên màng đáy thẳng
góc với mặt da. Tế bào hình trụ hay vuông,
ranh giới ít rõ ràng, nhân hình bầu dục khá
lớn, tế bào chất ưa Idem. Nằm xen kẽ giữa
hàng tế bào đáy là những tế bào sáng có
tua, đó là hắc tố bào (melanocyte). Trung
bình khoảng 10 tế bào đáy có một hắc tố
bào (khoảng 1.155 hắc tố bào/mm2 da).
Lớp tế bào đáy có nhiệm vụ sinh sản
những tế bào mới thay thế những tế bào
cũ đã bị phân hủy. Hắc tố bào có nhiệm vụ
sản xuất ra melanin.
2.1.2. Lớp gai (Stratum spinosum)
Đây là lớp dày nhất của thượng bì, có
từ 5-12 hàng tế bào, ở các hàng dưới thì tế
bào lớn hình đa giác có trục thẳng đứng,
càng lên trên tế bào càng nhỏ lại, có hình
thoi nằm song song với mặt da, tế bào
chất ưa toan.
Nối liền tế bào này với tế bào kia bằng
cầu nối liên bào làm cho lớp gai liên kết
chặt chẽ với nhau.
2.1.3. Lớp hạt (Stratum granulosum)
Có từ 2-4 lớp, tế bào dẹt hơn tế bào gai,
nằm song song với mặt da, nhân sáng hơn
và có hiện tượng đang hư biến. Lớp hạt là
lớp cuối cùng còn nhân và cầu nối. Lớp hạt
không có ở niêm mạc.
2.1.4. Lớp sáng (Stratum lucidum)
Nằm trên lớp hạt, có từ 2-3 hàng tế
bào. Tế bào hình dẹt kéo dài chứa albumin
có chất eleidin.
2.1.5. Lớp sừng (Stratum corneum)
Là lớp ngoài cùng của thượng bì, tiếp
xúc trực tiếp với môi trường, gồm những
tế bào dẹt không nhân ưa toan (acid), xếp
thành những phiến mỏng chồng lên nhau.
Như vậy thượng bì luôn ở tình trạng sinh
sản, những tế bào mới ở lớp cơ bản, già
cỗi, hư biến rồi bong ra ở lớp sừng.
12
Chương 1
Đại cương
2.2. Bì (Dermis)
Nằm giữa thượng bì và mô mỡ dưới da.
Thượng bì và bì được ngăn cách bởi một
màng đáy hình gợn sóng mỏng khoảng
0,5 pm. Phần bì nhô lên gọi là nhú bì, phần
thượng bì lõm xuống gọi là mào thượng
bì.
2.2.1. Mô bì
Có thể chia làm hai phần:
- Bì nhú còn gọi là bì nông, tương ứng
với những nhú bì gồm nhiều tế bào và ít
mô sợi.
- Bì lưới gồm có bì giữa hay lớp đệm và
bì sâu. Ở đây chủ yếu là mô sợi, còn tế
bào thì ít.
2.2.2. Thành phần cấu tạo
Bì cấu tạo gồm ba thành phần:
- Sợi: gồm có sợi keo, sợi đàn hồi, sợi
lưới chủ yếu là những sợi keo xếp thành
bó đan với nhau.
- Chất cơ bản: vô hình, nằm giữa các tế
bào sợi và những cấu trúc khác của bì.
- Tế bào:
+ Tế bào sợi hình thoi có nhân to hình
bầu dục, có tác dụng làm da lên sẹo.
+ Mô bào hình thoi hoặc hình sao, nhân
Hình 1.7. Cấu tạo lớp thượng bì
(1): lớp đáy; (2): lớp gai; (3): lớp hạt; (4):
lớp sáng; (5): lớp sừng
bé và đặc hon. Đóng vai trò bảo vệ cơ
thể.
+ Dưỡng bào (mastocyte).
2.2.3. Mạch máu
Gồm động mạch nhỏ, tĩnh mạch nhỏ và
mao mạch. Chúng xếp thành hai hệ thống.
Hệ thống nông ở phần bì nhú và hệ thống
sâu ở phần hạ bì. Hai hệ thống này thông
với nhau và từ đó tỏa đi các nơi. Ngoài ra,
ở các ngón tay có cấu trúc đặc biệt là các
động tĩnh mạch nhỏ thông với nhau không
qua mao mạch gọi là glomus. Mạch máu
có nhiều ở vùng mặt, môi, gan bàn tay, gan
bàn chân, da vùng sinh dục và quanh hậu
môn.
2.2.4. Mạch hạch huyết
Có hai hệ thống nông và sâu, nhưng
không thấy được với phương pháp nhuộm
thông thường.
2.2.5. Thần kinh
Có hai loại thần kinh:
- Thần kinh não tủy có vỏ myelin bao
bọc, có nhánh đi riêng biệt phụ trách
chức năng cảm giác.
- Thần kinh giao cảm không có myelin
chạy nhờ trong các bao mạch máu, điều
khiển mạch máu, cơ nang lông tuyến
mồ hôi.
13
Thẩm mỹ nội khoa
2.2.6. Các phần phụ của thượng bì
Gồm các tuyến mồ hôi, tuyến bã, lông,
tóc và móng có cùng nguồn gốc phôi thai
học với
thượng bì nhưng lại nằm ở lớp bì và bì
sâu.
2.2.6.1. Tuyến mồ hôi
Gồm hai loại:
- Tuyến mồ hôi nước (Eccrine glands)
Tuyến mồ hôi nước gặp nhiều ở lòng
bàn tay, lòng bàn chân và không có ở
môi, quy đầu, âm vật, mỗi nhỏ, có chừng
140 - 340 tuyến trên 1cm da. cấu tạo
gồm ba phần:
+ Phần tiết hình tròn khu trú ở bì giữa
hay bị sâu. Có hai lớp tế bào giữa là
những tế bào tiết, chung quanh có lớp
tế bào dẹt bao bọc.
+ Phần ống đi qua trung bì có cấu trúc
như phần tiết nhưng ít bài tiết.
+ Phần ống đi qua thượng bì có hình
xoắn ốc và tế bào có nhiễm hạt sừng.
- Tuyến mồ hôi nhờn (Apocrine glands)
Tuyến này nhiều nhất ở vùng nách, mi
mắt, ống tai ngoài, vú, chung quanh hậu
môn, vùng gần xương mu, âm hộ, bìu,
quanh rốn. Tuyển này khi tiết ra thì tế
bào tiết bị hủy một phần và đổ vào nang
lông đoạn trên tuyến bã. Tuyến mồ hôi
nhờn có cấu trúc lớn hơn tuyến mồ hôi
nước.
2.2.6.2. Tuyến bã (Sebaceous glands)
Có 400 - 900 tuyến bã trên cm, có nhiều
ở vùng trán, ngực, lưng. Thường đi đôi với
nang lông. Cấu trúc tuyến bã có nhiều thùy
nhỏ, các tế bào chứa đầy không bào mỡ,
nhân tế bào ở ngay trung tâm, chất bã
được tiết ra theo một ống dẫn thông với
nửa phần trên của nang lông.
2.2.6.3. Nang lông (Hair follicles)
Là phần lõm sâu xuống của thượng bì,
bên trong chứa sợi lông và tiếp cận với
tuyến bã. Nang lông ở rải rác khắp người
trừ lòng bàn tay và lòng bàn chân. Lông tác
phát triển theo chu kỳ tăng trưởng. Trung
bình trên tất cả mặt da có khoảng 30 - 150
triệu sợi, tốc độ mọc khoảng 0,1 - 0,5 mm/
ngày. Mỗi nang lông gồm ba phần:
- Miệng nang lông thông ra với mặt da.
- Cổ nang hẹp, có miệng tuyến bã thông
ra ngoài.
- Bao lông là phần dài nhất ăn sâu xuống
hạ bì.
2.2.6.4. Mỏng (Nail)
Là cấu trúc hóa sừng mọc ra trở thành
móng. Móng gồm có mầm sinh móng
nằm trong rãnh móng, một thân cố định
dính chắc vào giường móng và một bờ tự
do, chung quanh móng là các nếp bên và
nếp sâu.
2.3. Hạ bì (Hypodermis)
Là mô mỡ dưới da, nằm giữa trung bì và
cân hoặc màng xương. Mô mỡ được cấu
trúc bởi sợi keo, sợi đàn hồi, sợi lưới chia
thành nhiều ngăn, trong mô mỡ có chứa tế
bào mỡ hình tròn sáng, chứa đầy mỡ.
3. ÁP DỤNG THỰC TẾ
Nắm được cấu trúc cơ bản của da, biết
được cấu trúc của từng lớp thượng bì, mô
bì và hạ bì để có cơ sở hiểu được các tổn
thương bệnh lí ở da thường ở vị trí nào thí
dụ các bệnh lí bóng nước, mụn nước, các
tổn thương hồng ban nút và các bệnh lí
ngoài da khác như lao da và Hansen.
14
Chương 1
Đại cương
Hình 1.8. Cấu tạo da
(1): Nang lông; (2): Tuyến
bã; (3): Mô mỡ; (4): Tuyến
mồ hôi; (5): Mạch máu;
(6): Collagen
4. KẾT LUẬN
Da là cơ quan tiếp xúc trực tiếp với môi
trường bên ngoài cho nên phải có cấu trúc
phù hợp để thích ứng với các tác nhân vật
lí hóa học, sinh học, môi trường bên ngoài
nhằm bảo vệ cơ thể tốt hơn. Nghiên cứu
cấu trúc của da không những chúng ta có
thể giải thích phần nào sinh bệnh học của
da mà còn có cơ sở khoa học vững chắc để
đề ra c biện pháp hợp lí và phương hướng
đúng đắn trong việc điều trị các bệnh da.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lever (2009). “Histopathology of
skin tenth”, pp. 5-6.
2. Saurat (1999). “Dermatologie et mal-
adie sexuellement transmissibles”, pp.
4-19.
15
Thẩm mỹ nội khoa
ĐỊNH KHU GIẢI PHẪU HỌC PHẪU THUẬT
VÙNG MẶT VÀ CỔ
(SURGICAL ANATOMY OF THE FACE AND NECK)
1. ĐẠI CƯƠNG
Việc phẫu thuật vùng đầu mặt cổ cần
có kiến thức định khu giải phẫu vùng đầu,
mặt cổ trong khuôn khổ thiết lập một bảng
đánh giá thương tổn cũng như phẫu thuật
tạo hình, đường mổ nhỏ nhất, tránh sẹo lộ
rõ nhất.
Hình 1.9. Cấu trúc da (Nguồn: K.A. Arndt, Cutaneous medicine and surgery 1996)
16
Chương 1
Đại cương
Hình 1.10. Các cơ vùng mặt (Nguồn: R.G. Wheeland, Cutaneous surgery 1994)
2. GIẢI PHẪU MÔ TẢ VÀ ĐỊNH KHU
Trên bình diện chức năng, ta cần phải
phân biệt hai vấn đề trong cấu trúc vùng
mặt - cổ:
Khu vực sọ và vùng giữa mặt: có các cơ
bám da: cơ bám dính vào da làm cho vùng
da này có biểu cảm vùng mặt, vùng này
người ta có thể phân ra thành năm vùng:
vùng trán - thái dương, vùng hốc - mi mắt,
vùng mũi giữa, vùng miệng cằm.
Khu vực cổ - mặt bao gồm vùng
má và vùng cổ mà phần dưới da là hệ
cân cơ nông SMAS (système musculo-
aponévrotique superficiel).
2.1. Cấu trúc giải phẫu
2.1.1. Da
Da vùng mặt, ngoài vai trò trong cử
động cho vùng mặt, còn đảm nhận một
chức năng bảo vệ các cấu trúc khác mà
nó bao phủ. Da mặt cũng chịu nhiều tác
động khi có chấn thương, đặc biệt ở vùng
tự nhiên nhô ra của vùng mặt như là mũi,
cằm, má trán, đặc biệt vùng da này có cấu
trúc dày và đề kháng tốt.
Cấu trúc chung của da là hằng định bao
gồm một lớp nông thượng bì tựa trên một
mô nâng đỡ lớp bì mà qua đó có các mạch
máu và thần kinh bì. Vùng da mặt theo thời
gian mất đi tính chất đàn hồi và xuất hiện
thêm các nếp nhăn, cho các phẫu thuật
viên tìm cách giấu sẹo theo các nếp nhăn
này. Việc hiểu biết đường căng da hay
đường Langer nhằm giảm thiểu hậu quả
do phẫu thuật gây ra.
17
Thẩm mỹ nội khoa
2.1.2. Các cơ bán da
Là các cơ nhỏ dẹt, mỏng và không có
giới hạn rõ, phát triển ít nhiều tùy từng cá
nhân. Có ba tính chất chung: tất cả các cơ
đều có bám vào vùng da di động và bám
vào vùng cố định, hoặc vào xương, hoặc
vào dây chằng, sụn hay cân, tất cả các
cơ này đều thần kinh chi phối là thần kinh
mặt (VII), đa số cùng bám vào các lỗ tự
nhiên vùng mặt mà có tính chất là có cơ
hay dãn cơ. Người ta phân biệt theo hình
thái và tác động của cơ, các cơ vòng, các
cơ hình tia, sắp xếp chung quanh các lỗ tự
nhiên (ví dụ như cơ vòng mi, cơ vòng môi)
và các cơ dẹt tác động trên cánh mũi, cơ
trán chậm...
Thượng bì
Thượng bì
Bì
Bì
Cân
Khoảng dưới lớp cân
Màng ngoài xương
Xương
Mô mỡ
Mô mỡ
Vách sợi
Vách sợi
SMAS (lá nông)
SMAS (lá sâu)
Màng ngoài xương
Mặt ngoài
Mặt trong
Thượng bì
Thượng bì
Thượng bì
Thượng bì
Thượng bì
Mặt sau
Thượng bì
Thượng bì
Mô mỡ
Mô mỡ
Thượng bì
Bì
Bì
Bì
Bì
Bì
Mặt trước
Màng sụn
Màng sụn
Mô mỡ
Mô mỡ
Mạc mang tai
Mạc mang tai
Tuyến mang tai
Các nhánh thần kinh mặt
SMAS
Sụn
Cơ
Vách ổ mắt
Miếng đệm mỡ ổ mắt
Bì
Bì
Cơ
Cơ
Bì
Sụn
Lớp mô xơ mỡ
Xương trán
Cơ trán
Hình 1.11. Các lớp da của từng vùng trên mặt (Nguồn: J.K. Robinson, Atlas of
cutaneous surgery 1996)
2.1.3. Phân bố mạch máu vùng mặt
Hệ thống mạch máu và tĩnh mạch vùng
mặt rất phong phú và dựa vào đó có hệ
thống mạch máu thông nối nhau, điều này
giải thích cho việc ứng dụng các phương
thức phẫu thuật khác nhau trong phẫu
thuật tạo hình.
18
Chương 1
Đại cương
Hình 1.12. Động mạch chi phối cho gốc trong mắt và vùng trán
Hình 1.13. Mạch máu cung cấp cho vùng mặt
2.1.4. Động mạch mặt
Đảm nhận sự tưới máu cho 2/3 dưới
của vùng mặt. Động mạch đi từ vùng mặt
ngoài gốc hàm và đi theo rãnh má mũi cho
đến gốc trong mắt mà nơi đó chúng thông
nối với hệ cảnh trong qua động mạch gốc
của mắt, nhánh của động mạch mắt. Trên
đường chi phối vùng mặt, nó cho nhánh
môi và nhánh mũi, lập thành với đường
giữa một hệ thống thông nối với hệ thống
động mạch đổi bên.
19
Thẩm mỹ nội khoa
2.1.5. Động mạch thái dương nông
Được hình thành một trong hai nhánh
cuối của động mạch cảnh ngoài, đi theo
trước vùng dái tai, sau đó đi lên qua cung
động mạch gò má. Chia ra nhánh trước
hay nhánh thái dương - trán và nhánh sau
hay nhánh thái dương - đỉnh phần nhô cao
của cung mày, phần nhô cao của xoang
trán. Nếp nhăn trán theo tuổi già là nếp lằn
ngang liên quan đến sự co cơ trán, vùng
giữa trán nếp nhăn thẳng đứng do co cơ
corrugator.
2.1.6. Động mạch hàm
Tham gia vào sự tưới máu cho vùng
má bởi động mạch môi, xuất phát từ mặt
bên của cơ mút và động mạch dưới hốc
mắt xuất phát từ lỗ dưới hốc mắt.
2.1.7. Nhánh của động mạch mắt
Động mạch mắt, nhánh của động mạch
cảnh trong tham gia vào sự tưới máu vùng
mặt bởi các nhánh: động mạch trên hốc
mắt, động mạch trên ròng rọc, động mạch
dưới ròng rọc và động.
Hình 1.14. Mạch máu cung cấp vùng thái dương - hàm
2.1.8. Dẫn lưu tĩnh mạch
Có bốn hệ dẫn lưu tĩnh mạch, thông nối
với nhau:
- Hệ chẩm tai sau và thái dương nông
đổ vào tĩnh mạch cổ ngoài.
- Hệ tĩnh mạch dẫn về tĩnh mạch cổ
trong qua trung gian thân giáp lưỡi - mặt
của Farabeuf.
- Hệ môi dưới tận cùng trong tĩnh mạch
cổ trước.
20
Chương 1
Đại cương
2.1.9. Dẩn lưu bạch huyết vùng cổ
mặt
Nhóm hạch bao gồm hai hệ thống:
Hình 1.15. Dẫn lưu bạch huyết vùng cổ mặt
(Nguồn: J.K. Robinson , Atlas of cutaneous surgery 1996)
- Hệ vòng bạch huyết quanh cổ
- Hệ dẫn lưu vùng trước bên cổ dẫn lưu
vùng nền cổ
21
Thẩm mỹ nội khoa
Ống tuyến mang tai
Nhánh gò má của
thần kinh mặt
2.1.10. Phân bố thần kinh vùng mặt
2.1.10.1. Phân bổ vận động: thần kinh
mặt (VII)
- Thần kinh mặt ngoài sọ sẽ phân chia
trong đoạn trong tuyến mang tai và cho
các nhánh tận: nhánh thái dương - mặt
và nhánh cổ - mặt.
- Cả hai nhánh này sẽ tiếp tục phân
thành năm nhánh cho các cơ biểu cảm
vùng mặt.
- Nhánh cổ: đi chéo vào bờ sau của góc
hàm dưói và đi kèm cơ da cổ ở bình diện
sâu.
- Nhánh môi - cằm
- Nhánh miệng
- Nhánh gò má
- Nhánh thái dương - trán
Hình 1.16. Tương quan vùng mặt, thần kinh mặt tuyến mang tai
(Nguồn: J.K. Robinson , Atlas of cutaneous surgery 1996)
22
Chương 1
Đại cương
Hình 1.17. Vùng nguy hiểm khi bóc tách
(Nguồn: J.K. Robinson , Atlas of cutaneous surgery 1996)
Nhánh má
2.1. Phân bố thần kinh cảm giác
Thần kinh tam thoa đảm nhận phân bố
cảm giác cho vùng mặt bởi ba nhánh:
- Thần kinh mắt (V1) qua trung gian các
thần kinh trên hốc mắt và trên ròng rọc
chi phối vùng thái dương - trán, mi trên,
ụ trán và vùng thân mũi.
- Thần kinh hàm (V2) qua trung gian
của thần kinh dưới hốc mắt cho mi dưới,
cánh mũi, má và môi trên.
- Thần kinh hàm dưới (V3) qua trung
gian răng dưới, cho nhánh cằm xuất
phát ở kênh răng qua lỗ cằm, cho các
nhánh vùng má, cằm, môi dưới.
3. CÁC TIỂU ĐƠN VỊ THẨM MỸ VÙNG
MẶT
Việc phân chia các tiểu đơn vị thẩm
mỹ vùng mặt có vai trò quan trọng trong
việc lựa chọn kỹ thuật cần thiết trong phẫu
thuật thẩm mỹ vùng mặt và phẫu thuật tạo
hình vùng mặt nói chung.
23
Thẩm mỹ nội khoa
Hình 1.18. Các tiểu đơn vị của vùng mặt
1. Trán 2. Mũi 3. Vùng dưới hốc mắt 4. Vùng quanh môi 5. cằm và
gốc cổ-cằm 6. Vùng gò má 7. Vùng dưới xương gò má
24
Chương 1
Đại cương
3.1. Tiểu đơn vị thẩm mỹ vùng trán
Tiểu đơn vị vùng trán quy định bởi kích
thước hình chữ nhật của vùng trán rộng
cũng như phần lồi được quy định theo hình
dạng của hộp sọ, đường viền của chân tóc,
phần nhô cao của cung mày, phần nhô cao
của xoang trán. Nếp nhăn trán theo tuổi
già là nếp lằn ngang liên quan đến sự co
cơ trán, vùng giữa trán nếp nhăn thẳng
đứng do co cơ corrugator.
3.2. Tiểu đơn vị thẩm mỹ mũi
Tháp mũi biểu hiện của tiểu đơn vị
thẩm mỹ vùng mặt, phức tạp do cấu trúc
ba chiều cũng như không đồng nhất về cấu
trúc hình thái giải phẫu học. Phần thân mũi
được bao bởi một vùng da mỏng, gốc mũi
là vùng da dư thừa có thể chuyển vạt da để
che phủ vùng thiếu da xung quanh. Phần
đầu mũi được che phủ vùng da dày che
phủ phần sụn ở bên dưới, vùng trụ phần
đứng giữa mũi và cạnh bên mũi rất khó tạo
hình về mặt hình thái và chức năng, do vậy
các vạt da chuyên cần tránh co kéo.
3.3. Tiểu đơn vị thẩm mỹ dưới hốc
mắt
Vùng này có tích tụ mỡ của vùng má,
da dày, nhão, bên dưới là là lớp cơ bám
da và cơ gò má. Theo thời gian, tiều đơn
vị này bị sa xuống làm lộ vùng xương hốc
mắt ở phần trên, làm hõm rãnh má mũi.
3.4. Tiểu đơn vị thẩm mỹ vùng
quanh môi
Vùng này do các cơ vòng môi đảm
nhận, cử động và độ đàn hồi của vùng
da quanh miệng. Tính chất này cho phép
chuyển các vật da vùng môi lân cận mà
không có sức căng quá mức.
3.5. Tiểu đơn vị thẩm mỹ vùng cằm
và gốc cổ - cằm
Vùng này được đặc trưng bởi vùng nhô
ra của cằm, một gương mặt dài sẽ vùng
cằm rộng (tư thế thẳng) và gốc cổ - cằm
rộng (tư thế nghiêng). Việc sa cơ bám da
cổ kết hợp với sự co kéo làm làm cho gốc
cổ cằm bị chảy xệ vùng do tạo ra các dải
co kéo vùng cơ bám da cổ.
3.6, Tiểu đơn vị thẩm mỹ vùng gò
má
Vùng gò má mức độ nhô cao tùy chủng
tộc, nằm ở góc ngoài của vùng khe mi
mắt, theo thời gian vùng xương này cũng
bị thoái hóa không còn nhô cao liên quan
đến sự sa xuống của cơ vòng mi hình
thành cái túi gò má.
3.7. Tiểu đơn vị thẩm mỹ vùng dưới
xương gò má
Vùng này có một mặt phẳng dẹt,
tham gia ít vào động tác của gương mặt,
sa xuống của vùng này kéo theo sự sụp
của vùng gò má cũng như không làm cho
gương mặt có hình bầu dục.
25
Thẩm mỹ nội khoa
Hình 1.19. Tương quan giữa cơ mặt và nếp nhăn da
Lực căng phía trên
và bên hông kéo góc
miệng và cổ lên
26
Chương 1
Đại cương
4. KẾT LUẬN
Khái niệm tiểu đơn vị thẩm mỹ của
vùng mặt cho phép có một khái niệm động
và tiến triển dựa vào quá trình tiến triển
của tuổi già dựa vào cấu trúc xương và cử
động của vùng mặt.
Theo thời gian, các tiểu đơn vị này sẽ
biểu hiện rõ do tính chất teo cơ thoái hóa
và giới hạn của từng tiểu đơn vị qua đó các
phẫu thuật viên sẽ điều chỉnh phần da dư
thừa và giải quyết tình trạng kém đàn hồi
của da vùng mặt, nếu tôn trọng các đường
mổ ít sức căng da, các đường rạch da theo
các nếp lằn da thẳng góc với các trục có
của các cơ bám da.
Khái niệm này cho phép tạo hình vùng
da mặt tôn trọng các tiểu đơn vị thẩm mỹ
vùng mặt cho phép xác định tính chất tĩnh
gốc chụp động (phản chiếu ánh sáng)
cũng như tính chất động do tránh được co
kéo vùng cơ gây dính của một sẹo co rút.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Robinson
J.K.,
Hanks
C.W.,
Sengelmann D.R. & Siegel D.M. (2005).
“Skin structure & Surgical Anatomy:
Surgery of the skin Procedural Dermatolo-
gy”, Elsevier mosby.
2. Jean-Pierre B. (2003). “Chirurgie
cutanée réparatrice de la face et du cou”,
Masson.
27
Thẩm mỹ nội khoa
SỰ LÀNH VẾT THƯƠNG
(THE WOUND HEALING)
1. ĐẠI CƯƠNG
Theo sự tiến hóa, cơ thể con người
trở nên phức tạp hơn hết so với các loài
còn lại. Như vậy, con người cũng mất đi
khả năng tái tạo lại các vết thương trở lại
như ban đầu, mà chỉ có thể sửa chữa vết
thương một cách nhanh chóng nhằm đảm
bảo thực hiện chức năng của cơ quan đó.
Chúng ta chỉ có cơ chế lành thương cho
những vết thương cấp tính, còn những vết
thương mạn tính, cơ thể hầu như không
có một khả năng làm lành hiệu quả, vết
thương lành chủ yếu dựa vào việc kiểm
soát tốt các yếu tố máu nuôi, áp lực lên
vết thương và nhiễm trùng.
2. PHÂN LOẠI VẾT THƯƠNG
Có thể phân loại vết thương theo
nhiều cách theo nguyên nhân, vị trí, loại
tổn thương hay triệu chứng. Một số phân
loại riêng dùng cho các vết thương đặc
biệt như phân loại EPUAP (cho vết loét tì
đè), Rule of nices (vết bỏng), Wagner/San
Antonio (loét chân đái tháo đường).
2.1. Phân loại dựa vào độ sâu
Vết thương bề mặt (chỉ mất thượng bì).
Vết thương sâu bán phần (mất bì và
thượng bì).
Vết thương sâu toàn phần (liên quan
đến lớp bì và hạ bì).
Vết thương sâu (liên quan đến gần, cơ
xương...).
VT nông
Sâu bán phần
Sâu toàn phần
VT nông
Hình 1.20. Phân loại vết thương theo độ sâu
(Nguồn: Mayo foundation for medical education and research)
28
Chương 1
Đại cương
Hình 1.21. Các thành phần cơ bản của một vết thương
2.2. Phân loại theo nguồn gốc tác
nhân
2.2.1. Cơ học
- Vết thương do bào mòn bề mặt (vulnus
abrasum)
- Vết thương do vật nhọn đâm (v. punc-
tum)
- Vết thương do rạch Incised wound (v.
scissum)
- Vết thương do cắt (V. caesum)
- Vết thương do va chạm (v. contusum).
- Vết thương co xé rách (v. lacerum)
- Vết cắn (v. morsum)
- Vết thương do đạn bắn
(v. sclopetarium)
2.2.2. Hóa chất
- Acid
- Base
- Tia xạ
- Vết thương do nhiệt:
+ Phỏng nhiệt nóng
+ Phỏng lạnh
+ Do các tác nhân khác
29
Thẩm mỹ nội khoa
3. CÁC GIAI ĐOẠN LÀNH VẾT
THƯƠNG
Hình 1.22. Các giai đoạn lành vết thương
(Nguồn: R.A.F. Clark, The Molecular and Cellular Biology of Wound Repair 1996)
Hình 1.23. Các thành phần tham gia vào quá trình lành vết thương
Quá trình lành thương được chia làm ba
giai đoạn dựa vào hiện tượng sửa chữa tại
da. Các giai đoạn này phức tạp và chồng
lấp lên nhau.
3.1. Giai đoạn đông máu và viêm
Giai đoạn này xảy ra ngay lập tức khi
có vết thương. Mạch máu bị đứt bộc lộ các
yếu tổ của thành mạch, làm hình thành
cục máu đông, giúp cầm máu tại chỗ và
tạo môi trường phóng thích các cytokine
và yếu tố tăng trưởng.
Thành phần đầu tiên kích hoạt giai
đoạn này là tiểu cầu, trực tiếp tạo cục máu
đông từ vết thương theo con đường đông
máu nội sinh hoặc ngoại sinh. Tiểu cầu
còn phóng thích các các yếu tố hóa hướng
động, thu hút các tiểu cầu khác, bạch cầu
và nguyên bào sợi về vết thương. Những
tế bào này có vai trò làm sạch các mô
hoại tử và vi trùng cũng như sản xuất các
cytokine quan trọng, đặc biệt là CTGF
(connective tissue growth factor). Sau vài
ngày, đại thực bào dần thay thế bạch cầu
đa nhân trung tính.
30
Chương 1
Đại cương
Hình 1.24. Sự biểu mô hóa
Chồng lấp với giai đoạn này là quá trình
viêm, xảy ra trong vòng 24 - 48 giờ sau khi
có vết thương, bạch cầu đơn nhân thay
thế bạch cầu đa nhân trung tính và trở
thành bạch cầu trưởng thành. Bạch cầu
đơn nhân được thu hút đến vết thương bởi
các yếu tố hóa hướng động như kallikren,
fibrinopeptide, các yếu tố thoái hóa fibrin,
đặc hiệu hơn là các mảnh vỡ collagen,
fibronectin, elastin, TGF-B1. Các bạch cầu
đơn nhân trải qua quá trình biệt hóa thành
đại thực bào, đóng vai quan trọng trong
sự lành vết thương. Đại thực bào dọn dẹp
vi khuẩn và các mô hoại tử, nó còn phóng
thích ra các yếu tố tăng trưởng, bao gồm
PDGF (platelet-derived growth factor),
FGF (fibroblast growth factor), TGF-B, nhờ
đó kích thích sự di chuyển và tăng trưởng
của nguyên bào sợi, cũng như sản xuất và
điều hòa chất nền ngoại bào. Đại thực bào
được xem là tế bào chủ chốt trong quá
trình lành vết thương.
3.2. Giai đoạn tăng sinh và di chuyển
Giai đoạn này bao gồm nhiều quá trình
chồng lấp lên nhau, đó là tạo sợi, tích
tụ chất nền, tăng tạo mạch và tái biểu
bì hóa. Trong đó, quan trọng nhất là sự
biểu bì hóa, quá trình này không chỉ phụ
thuộc vào các tế bào keratinocyte, mà
còn là sự tương tác lẫn nhau giữa chất
nền sợi có sẵn, sự chiêu mộ các nguyên
bào sợi và tế bào biểu mô, sự hình thành
chất nền ngoại bào. MMPs (tissue matrix
metalloprotease) và các enzyme tPA và
uPA cần thiết cho sự di chuyển của các
tế bào xuyên qua chất nền cũng như giải
phóng các tế bào keratinocyte ở bờ vết
thương tách khỏi các cầu nối desmosome
và hemidesmosome. Ngoài ra, còn có các
intergrin đóng vai trò định hướng cho sự di
chuyển này. Một số các yếu tố tăng trưởng
polypeptide cần thiết cho sự hình thành
các mạch máu mới, bao gồm bFGF (basic
fibroblast growth factor), VEGF (vascular
endothelial growth factor).
31
Thẩm mỹ nội khoa
Nhiều bằng chứng cho rằng, giảm áp lực
oxy là một yếu tố sớm và quan trọng hoạt
hóa nguyên bào sợi. Sự nhân lên và tuổi thọ
của các nguyên bào sợi này tăng lên trong
môi trường thiếu oxy. Hơn nữa, sự tổng
hợp nhiều yếu tố tăng trưởng cũng tăng lên
khi thiếu oxy. Chất tăng tạo mạch được đại
thực bào tiết ra chỉ khi trong môi trường
thiếu oxy. Tác dụng ngược này được quan
sát thấy khi áp lực oxy vào khoảng 15 - 20
mmHg. Sự tách các tế bào keratinocyte
khỏi
các
cầu
nối
hemidesmosome
và desmosome cần có sự phối hợp của
các yếu tố MMPs, intergrin, các yếu tố
tăng trưởng và các protein cấu trúc, giúp
che lấp bề mặt vết thương.
Ngoài việc di cư, tế bào keratinocyte
còn tăng sinh ngay từ giờ thứ 1 của vết
thương, đặc biệt nhiều hơn khi bề mặt
vết thương lớn, hai mép cách xa nhau.
Vài tuần sau, quá trình sửa chữa trở nên
liền lạc hơn. Cytokine và các yếu tố tăng
trưởng (EGF, PDGF, TGF-8, FGFs, VEGF),
các thành phần chất nền và MMPs tiếp
tục đóng vai trò chủ đạo. | Khoảng từ
ngày 5-7, các nguyên bào sợi di chuyển
đến vết thương, sắp xếp lại các và III. Ban
đầu, collagen type III là chủ yếu, nhưng
sau đó được thay thế dần bằng collagen
type I. Tropocollagen là tiền chất của tất
cả các loại collagen và được chuyển đổi
trong tế bào ở hệ lưới nội mô. Sau đó được
tiết ra khoảng gian bào và được các men
trên màng tế bào phân tách ra thành các
collagen cuối cùng.
Vết thương được bao phủ bởi GAG và
các fibronectin được sản xuất từ fibro-
blast. GAG bao gồm heparan sulfate, hy-
aluronic acid, chondroitin sulfate, keratan
sulfate. Proteoglycan là một GAG liên kết
với lõi protein bằng liên kết cộng hóa trị và
được phân bố tới chất nền ngoại bào.
Sự tạo mạch được xuất phát từ những
mạch máu trước đó, cần chất nền ngoại
bào và sự thoái hóa màng đáy do sự di
chuyển, phân bào và trưởng thành của các
vtế bào nội mô. B-FGF và VEGF là những
chất điều hòa quá trình tân tạo mạch.
Giai đoạn này có thể kéo dài đến bốn
tuần.
3.3. Giai đoạn tái tạo
Bắt đầu từ ngày thứ 8 của vết thương.
Vết thương bắt đầu trải qua những thay đổi
hẳng định, gọi là giai đoạn tái tạo, có thể
kéo dài đến vài năm. Collagen thóai giáng
và tích tụ ở một trạng thái cân bằng, làm
số lượng collagen trong vết thương không
thay đổi. Sự tích tụ collagen ở vết thương
cao nhất ở tuần thứ 3. Sự co rút của vết
thương là một quá trình tiếp diễn do sự
tăng sinh của một nguyên bào sợi đặc biệt,
myofibroblast, tương tự như các tế bào cơ
trơn. Collagen type III dân được thay thế
bởi collagen type I. Vết thương lành thì hai
thường có tốt hơn so với vết thương lành
kì đầu. Sức căng của vết thương đạt cực
đại ở tuần thứ 12 và sẹo cuối cùng có sức
căng khoảng 80% so với ban đầu.
32
Chương 1
Đại cương
Bảng 1.1. Các giai đoạn lành thương
Thời gian
Giai đoạn
Tế bào chính
tham gia
Sự kiện
Vài giờ
Đông máu
Tạo thành nút chặn fi-
brin, giải phóng các yếu
tố tăng trưởng, cytokine,
giảm oxy mô
Tiểu cầu
Tích tụ tiểu cầu và giải
phóng fibrinogen và các
yếu tố trung gian viêm
khác
Vài ngày
Viêm
Chiêu mộ tế bào và hóa
hướng động,làm sạch vết
thương.
Bạch cầu da
Nhân trung tính
Mono bào
Đại thực bào
Xuyên mạch phá vỡ cầu
nối hemidesnosome giúp
tế bào di chuyển
Hàng tuần
Tăng sinh và di chuyển.
Tái tạo biểu mô bề mặt,
tăng sản sợi, tăng tạo
mạch, tích tụ chất nền
ngoại bào, co vết thương
Keratinocyce
Nguyên sợi bào
Tế bào nội mô
Sự tương tác giữa các
MMP, intergrin, tế bào,
cytokine tế bào di
chuyển và sản xuất chất
nền ngoại bào
Vài tuần -
nhiều tháng
Tái tạo. Sự tạo sẹo và sửa
chữa . Thoái hóa chất
nền ngoại bào, co rút vết
thương và tạo sức căng
lên sẹo
Myofibroblast
Sự chuyển các nguyên
bào sợi thành
myofibroblast
4. PHÂN LOẠI SỰ LÀNH VẾT
THƯƠNG
4.1. Lành nguyên phát
Hai mép vết thương được làm kín lại
ngay bằng cách khấu, mảnh ghép da...
Lành vết thương kỳ đầu xảy ra trong vòng
vài giờ sau khi khâu vết mổ. Kiểu lành này
có số tế bào | bị ảnh hưởng là tối thiểu.
4.2. Lành nguyên phát muộn (lành
thì 2)
Hay tự lành mà không có việc đóng kín
mép vết thương ngay từ đầu. Thường thì
kiểu lành này có liên quan với tình trạng
vết thương nhiễm bẩn nhiều. Sau vài ngày,
vết thương sạch hơn và đã tạo mô hạt,
có thể đóng vết thương bằng phẫu thuật.
Nếu vết thương không được dọn sạch, tình
trạng viêm mạn tính có thể xảy ra, dẫn đến
sẹo co rút.
33
Thẩm mỹ nội khoa
Hình 1.25. Lành nguyên phát và lành thì 2
(Nguồn: Kumar et al, Robbins Basic Pathology 8e)
Hình 1.26. Lành thì 3
4.3. Lành thứ phát (lành thì 3)
Vết thương không được đóng kín, có sự
nhiễm độc nặng, mất một lượng lớn tế bào
biểu bì, hai mép vết thương không thể nối
với nhau trực tiếp, quá trình viêm xảy ra
mạnh
mẽ hơn, sản xuất một lượng lớn mô hạt
để đóng vết thương, điều này cũng làm
cho vết thương bị co kéo rất nhiều và để
sẹo.
4.3. Loại biểu bì hóa
Dành cho những vết thương ở thượng
bì và bì nông. Không có hiện tượng co kéo
vết thương.
34
Chương 1
Đại cương
5. VẾT THƯƠNG MẠN TÍNH
Những quá trình lành thương của vết
thương cấp tính rất giới hạn ở các vết
thương mạn tính như vết loét ở người đái
tháo đường, vết loét tĩnh mạch hay vết
loét thiếu máu nuôi. Không có các giai
đoạn liên tục và rõ ràng như trong các vết
thương cấp tính.
Vết thương mạn tính thường do nhiều
yếu tố phối hợp như thiếu máu, nhiễm
trùng và áp lực. Vết thương mạn tính liên
quan đến thiếu máu điển hình là vết loét
trên bệnh nhân đái tháo đường Rối loạn
chức năng sinh lý của mạch máu làm giảm
máu nuôi, là một biểu hiện của bệnh mạch
máu nhỏ trên bệnh nhân đái tháo đường.
Vết thương do tăng áp lực có thể gặp
trên những bệnh nhân suy van tĩnh mạch.
Giả thuyết nhấn mạnh vào sự tích tụ sợi
fibril quanh mạch máu lớp bì và giảm hoạt
động tiêu sợi fibrin. Một giả thuyết khác
là vết thương mạn tính là hậu quả của sự
tổn thương tế bào nội mô vi mạch máu,
dẫn đến rò rỉ một lượng lớn fibrinogen và
fibrin quanh mạch máu lớp bì ra ngoại
bào. Các chất này làm cho các yếu tố
tăng trưởng và các thành phần quan trọng
khác không được phóng thích, ảnh hưởng
đến sự lành vết thương. Có nhiều chứng
cứ cho rằng các yếu tố tăng trưởng trong
vết thương mạn tính bị giữ lại và gắn kết
với các phân tử lớn rò rỉ ra ngoại bào như
albumin, fibrinogen, 0-2 macroglobulin. 0-2
macroglobulin được cho là phá hủy các
yếu tố tăng trưởng, bao gồm cả PDGF.
Cũng cần biết rằng mô xung quanh
của các vết thương mạn tính không
giống như vết thương cấp tính. Ví dụ
như trong vết loét tĩnh mạch, có sự
tạo mô sợi quá mức quanh vết loét,
chất này gọi là lipodermatosclerosis.
Một khi lipodermatosclerosis được tạo
thành, thì vết loét sẽ xuất hiện và một vết
loét có lipodermatosclerosis thì cũng rất
khó lành. Các nguyên bào sợi ở vết thương
giảm chức năng, không đáp ứng với các
cytokine và các yếu tố tăng trưởng.
35
Thẩm mỹ nội khoa
Hình 1.28. Cơ chế lành vết thương nguyên phát và thứ phát
(Nguồn: D. A. Levison, Muir's Textbook of Pathology 2008)
6. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG LÊN SỰ
LÀNH VẾT THƯƠNG
Tại chỗ
Toàn thân
Thiếu máu
Nhiễm trùng
Ngoại vật
Phù nề, tăng áp lực mô
Tuổi tác và giới tính
Nội tiết tố
Stress
Thiếu máu
Bệnh lý nội khoa.
Béo phì
Thuốc
Nghiện rượu và thuốc lá
Tình trạng suy giảm miễn dịch
Dinh dưỡng
36
Chương 1
Đại cương
Hình 1.29. Các yếu tố chính gây rối loạn lành vết thương
7. BIẾN CHỨNG CỦA LÀNH VẾT
THƯƠNG
7.1. Biến chứng sớm
- Tụ dịch huyết thanh: chứa huyết thanh,
bạch huyết hoặc máu. Vết thương hay
đổi kích thước, sưng đỏ, đau, bệnh nhân
sốt nhẹ. Xử trí: chọc hút, băng ép, dẫn
lưu.
- Huyết khối: do chảy máu, thời gian
dẫn lưu ngắn, sử dụng thuốc chống
đông. Làm tăng nguy cơ nhiễm trùng.
Vết thương sưng đỏ, đau, thay đổi kích
thước. Xử trí: chọc hút, phẫu thuật dẫn
lưu.
- Vỡ vết thương: lỗi do phẫu thuật làm
tăng áp lực ổ bụng, do nhiễm trùng vết
thương hoặc giảm protein máu. Xử trí:
khâu chữ U.
- Nhiễm trùng vết thương nông
+ Lan tỏa: nhiễm trùng ở dưới da, viêm
quầng. Xử trí: nghỉ ngơi, kháng sinh
+ Khu trú: áp xe ở bất kì vị trí nào. Xử trí:
kháng sinh, phẫu thuật dẫn lưu, chụp
X-quang
- Nhiễm trùng vết thương sâu
+ Lan tỏa, xử trí bằng phẫu thuật bộc lộ,
để hở vết thương, rửa nước hydrogen
peroxide và kháng sinh. Ví dụ: hoại tử
yếm khí
+ Khu trú: có thể ở mô hoặc khoang cơ
thể. Xử trí: phẫu thuật bộc lộ, dẫn lưu.
- Nhiễm trùng phối hợp: đây là bệnh
cảnh nặng, gồm hoại tử mô mà nhiễm
trùng kỵ khí. Xử trí: phẫu thuật cắt lọc và
điều trị kháng sinh đặc hiệu.
7.2. Biến chứng muộn
- Sẹo phì đại: phát triển ở vùng áp lực,
do các sợi non-hyalinic collagen fibres
và fibroblasts. Chỉ khu trú ở vị trí vết
thương. Lui bệnh tự nhiên sau 1 - 2 năm.
37
Thẩm mỹ nội khoa
- Sẹo phì đại: phát triển ở vùng áp lực,
do các sợi non-hyalinic collagen fibres
và fibroblasts. Chỉ khu trú ở vị trí vết
thương. Lui bệnh tự nhiên sau 1 - 2 năm.
- Sẹo lồi: thường gặp ở người châu Phi
và châu Á, Bờ vết thương rõ. Do tăng
sinh quá mức của sợi collagen ở mô
dưới da. Triệu chứng cơ năng thường là
ngứa và đau. Xử trí: chiếu xạ sau phẫu
thuật, tiêm corticosteroid, laser.
- Hoại tử
- Thâm nhiễm viêm
- Áp-xe
- Áp-xe có chứa dị vật.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Glat P.M., Longaker M.T. et al. (1997).
“Wound healing”. Grabb and Smith's Plas-
tic Surgery, chap 1.
2. Cho C.Y., Lo J.S. (1998). “Dressing
the par”t. Dermatol Clin, 16(1), pp. 25-47.
3. Habif T.P.. (1996). “Dermatologic sur-
gical procedures”. Clinic Dermatology: A
Color Guide to Diagnosis and Therapy 3rd
ed, pp. 809-810. 4. Lowell A. Goldsmith et
al. (2012). “Mechanism of Wound Repair,
Wound healing, and Wound Dress ing".
Fitzpatricks Dermatology in General Medi-
cine Sted, McGraw-Hill, pp. 2984-96.
38
Chương 1
Đại cương
DA KHÔ
(DRY SKIN - XEROSIS)
1. ĐẠI CƯƠNG
Da khô hay còn gọi là da vảy cá, có
thể là một tình trạng bẩm sinh hay mắc
phải. Da khô cũng là một triệu chứng rất
thường gặp của nhiều bệnh da như: viêm
da cơ địa, viêm da tiếp xúc kích ứng, vảy
nến... Tình trạng này có thể nhẹ, không gây
ảnh hưởng chất lượng cuộc sống nhưng
cũng có thể nặng nề với các biểu hiện như
tróc vảy, nứt nẻ, ngứa hoặc viêm. Đôi khi
da khô không ảnh hưởng gì đến sức khỏe
nhưng ảnh hưởng về mặt thẩm mỹ, làm
bệnh nhân mất tự tin. Mỗi năm trên khắp
thế giới, hàng tỉ đô la đã tiêu tốn vào việc
mua các sản phẩm dưỡng ẩm. Chính vì lí
do đó, đây là một vấn đề đáng quan tâm
mà các bác sĩ da liễu cần phải tìm hiểu
các nguyên nhân cũng như các phương
pháp cải thiện và chữa trị tình trạng này.
2. DA KHÔ LÀ GÌ?
Da khô được định nghĩa là tình trạng
khiếm khuyết hàng rào da do hiện tượng
mất nước của lớp tế bào sừng. Lớp tế bào
sừng “khỏe mạnh” là một hàng rào tự nhiên
ngăn ngừa sự mất nước của cơ thể cũng
như ngăn chặn sự xâm nhập của dị ứng
nguyên hay các tác nhân gây hại. Để da
mịn màng, nước trong lớp tế bào sừng phải
> 10%. Hiện tượng mất nước qua thượng bì
(transepidermal water loss - TEWL) xảy ra
khi có tổn thương hàng rào bảo vệ da, làm
tăng lượng nước thoát ra không khí và kh-
iến da bị khô. Nguyên nhân bị tổn thương
có thể do những chất tẩy rửa mạnh, ace-
ton, những chất tiếp xúc khác, không khí
ô nhiễm, ở trong máy lạnh thường xuyên
hoặc đơn giản do tắm quá nhiều lần trong
ngày hay thích tắm nước nóng. Khi da
khô, lớp ngoài của da sẽ cứng và nứt, làm
cho da dễ bị kích ứng, dễ bị viêm và ngứa
nhiều. Tình trạng này sẽ nặng hơn những
nơi có ít tuyến nhờn như cánh tay, chân
hay thân mình. Khi con người ngày càng
già đi, da càng khô và giảm nhờn hơn.
Ngoài ra, da khô xảy ra thường xuyên và
nặng nề hơn trong mùa thu và mùa đông
do độ ẩm thấp, thời tiết hanh khô và tắm
nước nóng nhiều.
Da khô dễ gây nên các bệnh lý da khác,
dễ đỏ hay ngứa. Da khô cũng làm da giảm
độ đàn hồi, bề mặt thô ráp, dễ tạo thành
nếp nhăn và đẩy nhanh quá trình lão hóa.
2.1. Triệu chứng lâm sàng
Dấu hiệu lâm sàng đầu tiên của da khô
đó là hiện tượng da mờ đi (do bề mặt da
bị thô không phản chiếu được ánh sáng
rõ như bề mặt da mềm mại), da có màu
trắng xám và những lằn ngang dọc hiện
rõ. Khi tình trạng nặng hơn, da bị mất nước
nhiều sẽ làm mất sự liên kết của các tế
bào sừng, lúc đó da sẽ tróc vảy nhiều hơn
và có những đường nứt xuất hiện.
2.2. Da khô hay da nhờn
Hầu hết bệnh nhân đều tự mô tả mình
là da khô hay da nhờn. Tuy nhiên, trong
thực tế, hai tình trạng này không hề đối
nghịch lẫn nhau. Da khô do thiếu độ ẩm
trong lớp tế bào sừng Da nhờn do sự tăng
tiết chất nhờn của tuyến bã. Hoàn toàn có
thể xảy ra trường hợp da nhờn ở vùng chữ
T (trán - mũi - cằm) nhưng lại khô ở các
vùng khác trên mặt. Ta gọi tình trạng này
là da hỗn hợp. Ngoài ra, một người có thể
bị da nhờn ở vùng mặt nhưng những vùng
khác trên cơ thể thì da lại khô do ít các
tuyến bã nhờn như tay hay chân.
39
Thẩm mỹ nội khoa
3. SINH BỆNH HỌC CỦA DA KHÔ
Da khô là kết quả của tình trạng giảm
nước trong lớp sừng dẫn đến tình trạng
bong vảy bất thường của các tế bào sừng.
Nhiều nghiên cứu cho thấy khi da khô thì
số lượng các desmosome và desmoglein
1 tăng cao trong lớp sừng. Nguyên nhân
khi nước trong lớp sừng bị thiếu, những
enzyme cần thiết cho sự thủy phân
desmosome sẽ không hoạt động và kết
quả sẽ làm cho da khô, bong vảy. Hàng
rào bảo vệ da là một cấu trúc gạch - vữa
trong đó gạch là các tế bào sừng, còn vữa
là các lipid bao xung quanh cách tế bào
sừng như một lớp áo bảo vệ. Hàng rào này
có những chức năng quan trọng như: ngăn
ngừa hiện tượng mất nước qua thượng bì,
bảo vệ da khỏi các tác nhân gây dị ứng,
kích ứng hay các tác nhân gây nhiễm
trùng.
4. HÀNG RÀO BẢO VỆ DA
4.1. Lớp vỏ sừng (Cornifiel cell
envelope)
Bản chất của lớp vỏ sừng không thấm
nước bao bọc bên ngoài các tế bào sừng
dày khoảng 10 nm là các protein như
loriorin, involucin, desmoplakin, periplakin.
Các pro được hình thành dưới tác động
của enzyme tranglutaminase 1 (TG-1).
Nếu khiếm khuyết các protein của lớp vỏ
sừng hoặc thiếu men TG-1 do các rối loạn
về gen sẽ dẫn đến da khô nghiêm trọng.
Bệnh da vảy cá hay hội chứng Vohwinkel
là những ví dụ cụ thể của tình trạng khiếm
khuyết hàng rào bảo vệ da do thiếu men
TG -1 và protein loricrin. 4.2. Mạng lưới
ngoại bào và hàng rào lipid của lớp sừng
Mạng lưới ngoại bào bao xung quanh
tế bào sừng là một thành phần giàu
lipid rất cần thiết cho việc duy trì hàng rào
bảo vệ da. Nó bao gồm các thành phần
lipid như ceramides (chiếm tỉ lệ 50%),
cholesterol (chiếm tỉ lệ 25%), khoảng 15%
acid béo và các thành phần khác như: các
enzyme tổng hợp lipid, các protease. Có
bốn loại enzyme liên quan đến việc tổng
hợp các thành phần lipid chính của da:
3-hydroxy-3-methylglutaryl
coenzyme
A (HMG-CoA) reductase, acetyl Co-A
carboxylase (ACC), fatty acid synthase và
palmitoy transferase. Nếu như có sự thay
đổi bất kì thành phần lipid nào hoặc rối
loạn hoạt động của các enzyme cũng sẽ
gây ra hiện tượng tổn thương chức năng
hàng rào bảo vệ da. Khi có sự tổn thương
này, lập tức các loại enzyme trên sẽ tăng
hoạt động để sản sinh ra lipid phục hồi
hàng rào bảo vệ da. Nên chú ý rằng, để
hàng rào da được nguyên vẹn, tỉ lệ giữa
các thành phần lipid phải được bảo đảm.
Enzyme
Sản phẩm tạo thành
HMG-CoA reductase
Acetyl Co-A carboxylase (ACC)
Fatty acid synthase
Palmitoy transferase
Cholesterol
Acid béo tự do
Acid béo tự do
Ceramides
40
Chương 1
Đại cương
Cholesterol
Các tế bào đáy có khả năng hấp thụ
cholesterol từ hệ tuần hoàn. Tuy nhiên, đa
số cholesterol được tổng hợp từ acetate
trong các tế bào như tế bào sừng.
Ceramides
Ceramides là một thành phần lipid
quan trọng của hàng rào bảo vệ da. Có ít
nhất 9 loại ceramide từ 1-9, ngoài ra còn
có hai loại ceramide nổi giữa các protein
là ceramide A và B.
Acid béo
Da chứa các thành phần acid béo và
acid béo tự do bao gồm triglyceride, gly-
cosylce ramide, ceramide và phospholip-
id. Một số acid béo thiết yếu như linoleic
acid chỉ có thể hấp thu được thông qua ăn
uống hoặc thuốc thoa.
5. VAI TRÒ CÁC THÀNH PHẦN KHÁC
TRONG DA KHÔ
5.1. Các yếu tố dưỡng ẩm tự nhiên
(Natural Moisturizing factor - NMF)
Việc giữ ẩm của lớp sừng có vai trò
quan trọng của NMF - một hỗn hợp các
sản phẩm có trọng lượng phân tử thấp
và hòa tan trong nước gọi là flaggrin. Ở
những lớp dưới của da, flaggrin đóng vai
trò giữ vững cấu trúc nhưng khi lên trên
cao, nó vỡ ra thành các aminoacid có
khả năng hút nước và giữ nước mạnh.
Histidine, glutamine và arginine là những
sản phẩm chuyển hóa của flaggrin trong
lớp sừng. Những thành phần khác của
NMF bao gồm: acid lactic, urea hay những
con như Na, K, Ca và chlor. Một điều thú
vị là các thành phần NMF thay đổi giữa
các mùa: ví dụ như các amino acid tăng
lên vào mùa đông còn các acid lactic, Na,
K, chlor lại giảm vào mùa hè. NMF và các
acid béo tự do cũng giúp duy trì độ pH
thấp trong lớp tế bào sừng. Độ pH này một
yếu tố điều hòa trung tâm trong việc duy
trì sự cân bằng giữa hai hiện tượng: hình
thành và thoái hóa (tróc vảy) của hàng
rào thượng bì, giúp cho da của chúng ta
luôn được thay mới. Khi có các tác nhân
ảnh hưởng đến hệ thống này như khiếm
khuyết gen hoặc điều kiện môi trường bất
lợi sẽ gây ra khô da. Ví dụ như đột biến
mất chức năng của các gen mã hóa thành
protein flaggrin cấu trúc hàng rào thượng
bì sẽ gây ra tình trạng da khô vĩnh viễn,
tăng nguy cơ bị viêm da cơ địa. Hoặc khi
chúng ta sử dụng các sản phẩm làm sạch
quá mạnh cũng sẽ làm giảm lipid da, giảm
NMF, tăng độ pH của lớp sừng. Khi độ pH
này tăng cao, cân bằng nội mô của hàng
rào thượng bì sẽ bị phá vỡ, làm giảm sự
hình thành, tăng cường thoái hóa và hiện
tượng này có thể kéo dài đến 48 giờ.
Những yếu tố khác làm giảm flaggrin
gồm có: tia UVB, cào gãi, sử dụng corticoste
roid kéo dài. 5.2. Kênh Aquaporins
Hàng rào lipid của lớp sừng không cho
nước thấm qua, do đó trên thượng bì có
những kênh protein giúp cho việc khuếch
tán nước ra lớp thượng bì gọi là kênh Aqua-
porins. Có 13 loại kênh Aquaporins được
đánh số từ 0 đến 12.
6. DA KHÔ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN
QUAN
6.1. Da khô và tuổi
Từ lúc sinh ra đến khoảng 4 tuần tuổi,
các chức năng của hàng rào bảo vệ da sẽ
từ từ hoàn thiện: lớp tế bào sừng dày hơn,
hiện tượng mất nước qua thượng bì giảm.
Sự phát triển về chức năng và cấu trúc này
sẽ đạt được sự hoàn chỉnh chủ yếu trong
1 năm đầu đời. Các nghiên cứu cũng cho
thấy sự khác biệt TEWL của làn da người
trẻ và người trưởng thành phụ thuộc vào
những vùng da khác nhau. Ví dụ, khi tuổi
tăng, TEWL sẽ tăng ở vùng cổ nhưng sẽ
giảm ở vùng trán và má.
