book-Quy-trinh-PRP-va-tiem-cay-mo-nang-cao-chuan_compressed

23/11/2025 • by Bs CKI Phẫu thuật tạo hình, tái tạo và thẩm mỹ Trương Hoài Anh • cấy mỡ
Bìa sách Quy trình PRP và tiêm cấy mỡ Nâng Cao của Mario Goisis

Giới thiệu về Y học tái tạo và Ghép mỡ tự thân

Trong kỷ nguyên hiện đại của thẩm mỹ nội khoa và phẫu thuật tạo hình, y học tái tạo đang đóng vai trò then chốt. Cuốn sách "Quy trình PRP và tiêm cấy mỡ Nâng Cao" (Outpatient Regenerative Medicine) của tác giả Mario Goisis là một tài liệu thực hành vô giá, đi sâu vào các kỹ thuật tiên tiến nhất để tối ưu hóa việc sử dụng mô mỡ tự thân và huyết tương giàu tiểu cầu (PRP).

Tác giả ví quy trình ghép mỡ như một chuỗi liên kết: từ thu hoạch, xử lý đến tiêm cấy. Chỉ cần một mắt xích yếu, toàn bộ kết quả thẩm mỹ sẽ bị ảnh hưởng. Cuốn sách này cung cấp các giao thức chuẩn hóa để đảm bảo tỷ lệ sống của tế bào mỡ và hiệu quả tái tạo tối đa.

Nội dung nổi bật của tài liệu

1. Kỹ thuật thu hoạch và xử lý mỡ tối ưu

Tài liệu phân tích sâu về tầm quan trọng của kích thước hạt mỡ và áp lực hút. Tác giả so sánh các phương pháp thu hoạch truyền thống (như Coleman) với các kỹ thuật mới sử dụng cannula nhỏ (Goisis cannula) để bảo tồn cấu trúc vi thể của mỡ và mật độ tế bào gốc (ADSCs).

  • Microfat: Kỹ thuật thu hoạch và xử lý khép kín, giảm thiểu tiếp xúc không khí, rửa sạch máu và dầu thừa để tăng độ tinh khiết.
  • Nanofat: Quy trình nhũ hóa cơ học để phá vỡ tế bào mỡ trưởng thành nhưng giữ lại nguồn tế bào gốc phong phú, ứng dụng tuyệt vời trong trẻ hóa da và điều trị sẹo.

2. Ứng dụng lâm sàng đa dạng

Cuốn sách hướng dẫn chi tiết kỹ thuật tiêm cho từng vùng giải phẫu cụ thể, bao gồm:

  • Vùng mặt: Trẻ hóa vùng thái dương, rãnh lệ, gò má, rãnh mũi má, môi và cằm. Đặc biệt chú trọng đến các "điểm an toàn" để tránh tổn thương mạch máu và thần kinh.
  • Vùng cơ thể: Nâng ngực, nâng mông, trẻ hóa bàn tay, bàn chân và vùng cổ.
  • Điều trị rụng tóc: Sử dụng PRP và Nanofat để kích thích nang tóc phát triển.
  • Thẩm mỹ vùng kín: Tăng cường môi lớn và trẻ hóa niêm mạc.

3. Kết hợp PRP và Chất bịt dạng sợi

Tài liệu cũng đề cập đến việc kết hợp PRP (Huyết tương giàu tiểu cầu) với mỡ tự thân để tăng cường sự sống của mảnh ghép thông qua các yếu tố tăng trưởng (PDGF, TGF, VEGF…). Ngoài ra, khái niệm về "Keo PRP" hay chất bịt dạng sợi sinh học cũng được giới thiệu như một phương pháp hỗ trợ cầm máu và lành thương trong phẫu thuật căng da mặt.

Giá trị thực tiễn

Đây là tài liệu tham khảo thiết yếu cho các bác sĩ phẫu thuật tạo hình và bác sĩ thẩm mỹ nội khoa muốn nâng cao tay nghề trong lĩnh vực cấy mỡ và PRP. Với các hình ảnh minh họa giải phẫu chi tiết và hướng dẫn từng bước (step-by-step), cuốn sách giúp các bác sĩ tự tin thực hiện các thủ thuật từ đơn giản đến phức tạp ngay tại phòng khám.

Trang: / 378
Trang 1 Trang 2 Trang 3
📖 Xem bản dịch / Nội dung văn bản

Mario Goisis
e-bacsy.com
I
QUY TRÌNH PRP
TIÊM CẤY MỠ
NÂNG CAO
VÀ
Y khoa tái tạo cho bệnh nhân
ngoại viện
Mario Goisis
e-bacsy.com

II
Quy trình PRP và tiêm cấy mỡ Nâng Cao
Biên tập viên
Mario Goisis
Phẫu thuật viên thẩm mỹ và hàm mặt
Bệnh viện phòng khám Go Easy
Milan Italy
Dành cho những bạn trợ lý trẻ của tôi, Pietro và Matteo

Mario Goisis
e-bacsy.com
III
Sự già hóa dân số dần dần và điều kiện sống được cải thiện ở nhiều khu vực địa lý
đã làm cho y học tái tạo ngày càng trở nên cần thiết hơn trong vài thập kỷ qua. Bên cạnh
các lĩnh vực ứng dụng truyền thống của chúng (ví dụ, tái tạo sau chấn thương hoặc tổn
thương), các phương pháp tái tạo ngày càng trở nên cần thiết hơn trong việc chống lão
hóa hoặc đơn giản là thẩm mỹ y khoa. Các ngành tận dụng các phương pháp tái tạo rất
nhiều bao gồm phẫu thuật thẩm mỹ, răng hàm mặt, tai mũi họng, chỉnh hình, da liễu, phụ
khoa và nhiều ngành khác. Sự gia tăng nhanh chóng của các chuyên gia, các cuộc họp
và các trung tâm đào tạo, cùng với các mối liên kết chặt chẽ với thế giới công nghiệp, có
nghĩa là trình độ khoa học của các phương pháp tái tạo đang dần đạt đến mức xuất sắc.
Các kỹ thuật tái tạo tiên tiến nhất xuất hiện từ các trung tâm nghiên cứu và được hỗ trợ bởi
vô số công nghệ tiên tiến hiện đang được sử dụng rộng rãi trong y học. Kỹ thuật tái tạo dựa
trên ba trụ cột chính: tế bào gốc, yếu tố tăng trưởng và các cấu trúc nâng đỡ. Việc phát
triển những thứ này, cũng có thể được sử dụng kết hợp, không hề đơn giản và đòi hỏi phải
tối ưu hóa bằng cách sử dụng các công nghệ phải hiệu quả và an toàn đồng thời cũng phải
đơn giản để thực hiện. Chỉ sự đơn giản của các thủ tục liên quan mới có thể thực sự đảm
bảo chúng được sử dụng rộng rãi bên ngoài các phòng mổ trong bệnh viện. Cuối cùng,
chúng ta phải nhớ rằng điều bắt buộc là tất cả những người thực hành phải có kiến thức
chính xác và đầy đủ về giải phẫu tổng thể và vi thể của các vùng cơ thể mà họ định điều
trị. Trên hết, khía cạnh này dường như là một trong những điều kiện tiên quyết cần thiết để
điều trị đúng cách và đạt được kết quả lâu dài. Tất cả những cân nhắc này khiến chúng ta
nhấn mạnh đến nhu cầu phát triển các khóa đào tạo thích hợp có khả năng đáp ứng nhu
cầu ngày càng tăng của một lĩnh vực công nghệ tiên tiến và phát triển nhanh chóng cũng
đang đóng góp rất lớn vào kiến thức về các cơ chế tái tạo của mô.
Andrea Sbarbati
Khoa Y học thần kinh, Y sinh học và vận động
Bộ môn giải phẫu và mô học
Đai học Verona
Verona, Italy
Lời nói đầu

IV
Quy trình PRP và tiêm cấy mỡ Nâng Cao
Phẫu thuật đã luôn sử dụng mô cấy ghép mỡ cho các mục đích tái tạo và thẩm mỹ. Bắt
đầu từ đầu những năm 1980, sự ra đời của các kỹ thuật tiêu chuẩn hóa, như Coleman’s, đã
dẫn đến việc đạt được những kết quả xuất sắc được báo cáo trong nhiều ấn phẩm khoa học.
Vì vậy, ngày nay, nhiều năm sau khi được giới thiệu lần đầu tiên, không nghi ngờ gì nữa, mô
mỡ có thể được coi là chất làm đầy an toàn nhất và là phương tiện tái tạo mô đã được khoa
học chứng thực nhất. Ngày nay, thách thức thực sự là đơn giản hóa và làm cho các kỹ thuật
thu hoạch và tiêm ngày càng hiệu quả hơn. Tương lai của phương pháp làm đầy bằng mô mỡ,
bằng kỹ thuật microfat và nanofat, có lẽ sẽ liên quan đến việc tích hợp và thay thế các kỹ thuật
tiêm bằng axit hyaluronic và chất làm đầy.
Francesco Nicoletti
Liên chuyên khoa Phẫu thuật y khoa và Chuyên
khoa răng hàm mặt, Đơn vị phẫu thuật thẩm mỹ
Università degli Studi della Campania “Luigi
Vanvitelli”
Naples, Italy

Mario Goisis
e-bacsy.com
V
Cuốn sách: “ Quy trình PRP và tiêm cấy mỡ Nâng cao “ được chuyển ngữ từ sách tiếng Anh
sang tiếng Việt từ cuốn “Outpatient Regenerative Medicine “ của tác giả “ Mario Goisis “ bởi
nhóm y học E-bacsy.com.
Với mục tiêu giới thiệu những cuốn sách thẩm mỹ nổi tiếng trên thế giới, vừa đảm bảo nội
hàm kiến thức chuyên môn cao vừa có giá trị áp dụng trên lâm sàng, chúng tôi đã nỗ lực hết
mình trong quá trình tìm kiếm, lựa chọn đầu sách, đồng thời chuyển ngũ bám sát nội dung
sách gốc với cách diễn đạt dễ hiểu nhất. Tuy vậy cũng không tránh khỏi sai sót trong quá trình
biên soạn. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ độc giả và quý đồng nghiệp để nhóm tiếp
tục hoàn thiện hơn trong những lần sau và trong những tác phẩm sắp tới.
Mọi ý kiến đóng xin gửi vào địa chỉ mail: ducta.bic@gmail.com
Fanpage:
Website : E-bacsy.com / Yhoc.pro
Chân thành cám ơn sự ủng hộ của quý đọc giả !

VI
Quy trình PRP và tiêm cấy mỡ Nâng Cao

Mario Goisis
e-bacsy.com
VII
Mục lục
Phần I . Các khía cạnh chung
• Chương 1 . Lời giới thiệu..................................................................................3
• Chương 2 . Thu hoạch mỡ................................................................................5
• Chương 3 . Thu hoạch mỡ theo từng bước...................................................15
• Chương 4 . Xử lý mỡ được thu hoạch...........................................................37
• Chương 5 . Xử lý Microfat theo từng bước...................................................49
• Chương 6 . Các kỹ thuật tiêm........................................................................59
• Chương 7 . Tiêm mỡ theo từng bước............................................................69
• Chương 8 . Sát thủ của mỡ và chuỗi.............................................................77
• Chương 9 . So sánh các kỹ thuật khác nhau của cấy ghép mỡ...................87
• Chương 10 . Mỡ và tế bào gốc......................................................................109
Phần II . Thẩm mỹ nội khoa theo từng bước
• Chương 11 . Hõm thái dương........................................................................139
• Chương 12 . Giải phẫu vùng chán.................................................................157
• Chương 13 . Vùng gò má...............................................................................163
• Chương 14 . Cải thiện rãnh lệ........................................................................185
• Chương 15 . Rãnh mũi môi............................................................................197
• Chương 16 . Thẩm mỹ mũi bằng Microfat...................................................209
• Chương 17 . Vùng má....................................................................................221
• Chương 18 . Vùng môi...................................................................................233
• Chương 19 . Vùng cằm..................................................................................247
• Chương 20 . Vùng cổ.....................................................................................257
• Chương 21 . Cánh tay....................................................................................271
• Chương 22 . Bàn tay......................................................................................277
• Chương 23 . Nâng cơ ngực bằng cách tiêm Microfat.................................285

VIII
Quy trình PRP và tiêm cấy mỡ Nâng Cao
• Chương 24 . Ngực..........................................................................................291
• Chương 25 . Nâng mông và tái định hình.....................................................305
• Chương 26 . Âm hộ .......................................................................................313
• Chương 27 . Bắp chân...................................................................................321
• Chương 28 . Bàn chân ..................................................................................329
• Chương 29 . Tóc và da đầu...........................................................................335
• Chương 30 . Kết hợp y khoa tái tạo và thẩm mỹ..........................................347
• Chương 31 . Kết hợp y học tái tạo và phẫu thuật : Chất bịt dạng sợi.........351
• Chương 32 . Quy định và ý nghĩa pháp lý trong
quy trình thẩm mỹ ngoại trú.....................................................365

Quy trình PRP và tiêm cấy mỡ Nâng Cao
1
e-bacsy.com
Phần I
Các khía cạnh chung
ebasy.com

2

3
e-bacsy.com
Chương
1
Lời giới thiệu
Mario Goisis
và
Sara Izzo

Chương 1
Giới thiệu
4
Pala di Brera nổi tiếng (còn được gọi là
Bàn thờ Montefeltro hoặc Bàn thờ Brera)
được sơn bằng cách sử dụng màu keo trên
gỗ, vào năm 1472–1474 bởi bậc thầy phục
hưng người Ý Piero della Francesca (Hình
1.1). Nó được đặt tại một trong những bảo
tàng Pinacoteca di Brera ở Milan, và được ủy
nhiệm bởi Federico III da Montefeltro, Công
tước Urbino, để kỷ niệm cuộc chinh phục một
số lâu đài của ông.
Federico là một “Condottiero” vĩ đại (lãnh
chúa hoặc thuyền trưởng) của thời kỳ Phục
hưng, và được cho thấy đang quỳ ở phía bên
tay phải của bức tranh. Piero đã vẽ chân
dung Công tước, một vị trí gợi nhớ đến tiền xu
và huy chương. Hình ảnh của anh ta là một
trong những hình ảnh nổi tiếng nhất trong
lịch sử, vì khoảng trống phía trên mũi.
Nguyên nhân là do trong một lần thi đấu,
Federico đã bị thương với một cây thương,
mất đi con mắt bên phải. Theo truyền thuyết,
anh ấy đã thốt lên, “Đừng bận tâm, tôi sẽ nhìn
rõ bằng một mắt hơn là bằng cả trăm!” Vì vậy,
anh quyết định cắt bỏ phần trên của mũi để
có thể nhìn rõ hơn bằng mắt trái. Đây có thể
là trường hợp phẫu thuật mũi đầu tiên mà
chúng tôi biết đến.
Ở trung tâm của bức tranh, được treo trên
một sợi dây chuyền từ trần của ngôi nhà, là
một quả trứng, biểu tượng của lời hứa về sự
bất tử và tái sinh.
Chúng tôi thích nghĩ về y học tái tạo như
chuỗi được mô tả trong Pala di Brera.
Trên thực tế, trong quá trình chuyển mỡ,
tiêm tế bào gốc và sản xuất PRP đều phải
thực hiện nhiều bước khác nhau. Ví dụ, trong
trường hợp ghép mỡ, chúng ta phải thu hoạch
mỡ, xử lý, và cuối cùng là tiêm vào nơi nhận.
Các bước này có thể được coi là bốn mắt xích
khác nhau của một chuỗi. Bởi vì một chuỗi
chỉ mạnh bằng liên kết yếu nhất của nó, bắt
buộc phải tạo ra một quy trình, tối ưu từ đầu
đến cuối.
Trên thực tế, nếu một mắt xích của chuỗi
yếu, thì tất cả các quy trình sẽ bị tổn hại.
Trong trường hợp chuỗi Piero’s, trứng có thể
rụng. Trong trường hợp cấy mỡ, tế bào mỡ
sẽ không tồn tại và không tự tái tạo tại vùng
nhận.
M. Goisis (*)
Khoa phẫu thuật thẩm mỹ, Đại học Campania “Luigi Vanvitelli”, Naples, Naples, Italy
Phẫu thuật viên thẩm mỹ và hàm mặt, Bệnh viện phòng khám Go Easy, Milan, Italy
S. Izzo
Khoa phẫu thuật thẩm mỹ, Đại học Campania “Luigi Vanvitelli”, Naples, Naples, Italy
© Springer Nature Switzerland AG 2019
M. Goisis (ed.), Outpatient Regenerative Medicine
Hình. 1.1 Bàn thờ Montefeltro hoặc Brera. (dưới
sự cho phép của bảo tàng Pinacoteca di Brera, Mi-
lan, Italy

5
e-bacsy.com
Chương
2
Thu hoạch mỡ
Andrea Sbarbati, Giamaica Conti,
Sara Izzo
và
Giovanni Francesco Nicoletti

Chương 2
Thu hoạch mỡ
6
2.1
Lời giới thiệu
Quy trình ghép chất béo có thể được chia
thành ba giai đoạn riêng biệt: thu hoạch chất
béo, xử lý chất béo và tiêm chất béo vào vị
trí nhận [1]. Khi nói về thu hoạch chất béo,
chúng ta đề cập đến quy trình phẫu thuật cho
phép chúng ta lấy mô mỡ thông qua việc sử
dụng các ống hút hoặc hiếm khi thông qua
phẫu thuật cắt bỏ mỡ. Các kỹ thuật xử lý bao
gồm ly tâm, lọc, Rolling Telfa và làm sạch
chất béo để loại bỏ chất gây mê, dầu, máu và
các thành phần khác trong mô mỡ được thu
hoạch. Kỹ thuật tiêm khác nhau nhiều, tùy
thuộc vào việc lựa chọn ống tiêm và cannula
hoặc kim tiêm khác nhau để tiêm chất béo
vào vùng nhận. Trong mỗi giai đoạn ghép mỡ,
có nhiều biến thể về kỹ thuật và nhiều cuộc
thảo luận ủng hộ cái này hơn là cái khác. Bắt
buộc phải xây dựng một quy trình tối ưu từ
đầu đến cuối.
2.2
Sự ảnh hưởng kích thước
của các hạt mỡ
Các hạt mỡ có thể được định nghĩa là
những hạt cầu nguyên vẹn của tế bào mỡ,
liên kết với nhau bằng mô trung mô. Cần lưu
ý rằng cấu trúc của từng hạt mỡ không xuất
hiện tự nhiên trong mô bản địa mà được tạo
ra, đúng hơn là trong quá trình thu hoạch.
Phẫu thuật cắt bỏ mô mỡ bằng phẫu thuật
En bloc tạo ra các hạt mỡ lớn nhất.
Trong trường hợp hút mỡ bằng cannula,
phạm vi của các hạt mỡ liên quan trực tiếp
đến đường kính của cannula và kích thước
của các cổng trên cannula, với kích thước lớn
hơn sẽ phân tách các hạt lớn hơn. Lý thuyết
cho rằng kích thước của các hạt mỡ có thể
có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại của
chất béo được mô tả trong nhiều nghiên cứu
khoa học.
Năm 1893, tại Đức, Gustav Neuber đã mô
tả sự chuyển đổi của các mẫu bệnh phẩm
lipoma từ cẳng tay để lấp đầy những khiếm
khuyết trên khuôn mặt do bệnh lao gây ra.
Anh ta bóc tách những mảnh mỡ thừa từ
bụng thành “cỡ hạt đậu hoặc quả hạnh nhân.”
Những mảnh vỡ này được báo cáo là còn
sống sót [2]. Năm 1937, Gurney đã xem xét
các ca cấy ghép mỡ trung bình là 1,7 mm3
trong thời gian 12 tháng và báo cáo rằng “các
mảnh ghép mỡ có thể tồn tại trong ít nhất
1 năm” [3]. Vào giữa những năm 1950, Peer,
trên tạp chí Phẫu thuật Tạo hình và Tái tạo
đã báo cáo rằng “mô ghép chất béo có kích
thước quả óc chó” dường như đã mất 45%
thể tích ban đầu sau 1 năm, có thể do chấn
thương trong quá trình ghép, cắt tỉa, hoặc
thiếu nguồn cung cấp máu [4].
Hút mỡ hiện đại bằng ống thông được
Fischer mô tả và Fischer mô tả lần đầu tiên
ở Ý vào năm 1974: kỹ thuật này đã mở rộng
thành công của kỹ thuật ghép mỡ một cách
đáng kể [5, 6]. Kato và cộng sự. gần đây đã
công bố một nghiên cứu tiên phong, nhấn
mạnh tầm quan trọng của kích thước các
hạt chất béo trong việc ghép. Các tác giả
đã chứng minh rằng trong một hạt mỡ, các
tế bào mỡ sống sót được đặt gần phần bên
ngoài của tiểu thùy chất béo hơn. Dựa trên
các phát hiện mô học, các hạt chất béo có
thể được chia thành ba phần khác nhau:
•
Phần sống sót: lớp gần nhất với bề mặt
của tiểu thùy. Trong phần này, tất cả các
tế bào mỡ đều tồn tại.
•
Phần tái sinh: lớp giữa, nơi tế bào mỡ
chết đi nhưng được thay thế bằng tế bào
gốc tăng sinh.
•
Phần hoại tử: nhân trung tâm của hạt
mỡ, có biểu hiện hoại tử, nang dầu, xơ
hóa.
Giới hạn của các vùng sống sót và tái
sinh xảy ra bình thường ở 100–300 μm và
600–1200 μm từ bề mặt, tương ứng (Hình
2.1).
A. Sbarbati (*) · G. Conti
Khoa y học thần kinh, y sinh và vận động, Phân
môn giải phẫu và mô học, Đại học Verona,
Verona, Italy
S. Izzo · G. F. Nicoletti
Khoa phẫu thuật thẩm mỹ,
Đại học Campania “Luigi Vanvitelli”, Naples, Italy

Quy trình PRP và tiêm cấy mỡ Nâng Cao
e-bacsy.com
7
Trước khi phục hồi nguồn cung cấp máu,
các phần tử chất béo chủ yếu tồn tại nhờ sự
khuếch tán của các chất dinh dưỡng. Khi
đường kính của các tiểu thùy ở vị trí trở nên
lớn hơn, lý tưởng nhất là vùng hoại tử trung
tâm sẽ mở rộng theo giới hạn của sự khuếch
tán (Hình 2.2). Do đó, người ta có thể phỏng
đoán rằng kích thước của các hạt chất béo
có thể ảnh hưởng đến lượng mỡ ghép sống
sót cuối cùng [7].
Hình 2.2 Đường kính tối đa của hạt chất béo theo
giới hạn khuếch tán được mô tả bởi Kato và cộng
sự. (Được xuất bản bởi dưới sự cho phép của ©
Mario Goisis 2018. Mọi quyền được bảo lưu))
Hình 2.1 Màu vàng: phần sống sót 100–300 μm là
lớp gần nhất với bề mặt nơi tất cả các tế bào mỡ
tồn tại. Màu trắng: phần tái sinh 600–1200 μm là
lớp giữa nơi các tế bào mỡ chết đi nhưng được
thay thế bằng các tế bào gốc đang tăng sinh. Màu
đen: phần hoại tử, nhân trung tâm của hạt mỡ bị
chi phối bởi các vết hoại tử, nang dầu và xơ hóa.
(Được xuất bản dưới sự cho phép của © Mario
Goisis 2018. Mọi quyền được bảo lưu)
Đường kính
tối đa của
hạt mỡ:
2,4 mm
0,13 ml
2.3
Đường kính cannula và
kích thước lỗ của cannula và
ảnh hưởng của chúng lên sự
tồn tại của mỡ và tế bào gốc
Shiffman và Mirrafati đã so sánh các
cannula có đường kính từ 2,5 đến 3,7 mm,
để xác định xem chúng có ảnh hưởng đến
khả năng tồn tại của tế bào không. Họ không
quan sát thấy bất kỳ khác biệt đáng kể nào
-[8]. Khi so sánh một cannula 2 mm với một
cannula có đường kính 4 mm, Leong và cộng
sự đánh giá trạng thái của chất béo được
thu hoạch. Nghiên cứu không khẳng định sự
khác biệt đáng kể trong chuyển hóa [9]. Theo
định nghĩa của Klein, một ống cannula nhỏ
có đường kính trong từ 2,0 mm trở xuống.
Trivisonno và cộng sự. đã nghiên cứu liệu
kích thước nhỏ của một cannula nhỏ có thể
làm giảm việc thu thập chất béo có tổ chức
tốt, chủ yếu bao gồm các tế bào mỡ trưởng
thành và cải thiện việc thu hoạch nhiều lớp
mô mỡ bề ngoài hơn, có liên quan đến tỷ lệ
ADSC cao hơn. Họ kết hợp (1) một cannula
có đầu tròn có chiều dài 170 mm, đường kính
3 mm và một cổng hút hình elip duy nhất ở
phía gần đầu xa của nó (đường kính cổng, 3 ×
9 mm) và (2 ) một cannula đầu tròn có chiều
dài 170 mm, đường kính 2 mm và 5 cổng tròn
được bố trí theo hình xoắn ốc dọc theo các
cạnh của trục xa (đường kính mỗi cổng, 1
mm).
Sử dụng cannula 3mm, họ đã phân lập
được 1.4 × 105 tế bào/mL, một số lượng
tương tự với mô tả của các tác giả khác [10].
Thu hoạch mỡ sử dụng cannula nhỏ liên
quan đến số lượng nhiều hơn của tế bào chất
và mạch máu, và đạt được tỉ lệ sống cao hơn.
Vấn đề chính được báo cáo bởi Trivisonno và
cộng sự có liên quan đến thời gian điều trị lâu
hơn cần thiết cho việc điều trị bằng cách sử
dụng cannula nhỏ so với thời gian cần thiết
khi sử dụng cannula tiêu chuẩn. Trên thực tế,
việc hút mỡ bằng cannula nhỏ mang lại thể
tích mô hút nhỏ hơn với mỗi lần hút và do đó,
tốn nhiều thời gian hơn (chậm hơn khoảng
hai lần so với hút bằng tay bằng cannula lớn
hơn) [11].

Chương 2
Thu hoạch mỡ
8
Alharbi và cộng sự. [12] đã so sánh việc
thu hoạch chất béo bằng cannula Coleman
(đường kính 3 mm, đầu tù một lỗ) và thu
hoạch chất béo bằng cách sử dụng cannula
có đầu tù 2 mm, nhiều lỗ. Họ đã sử dụng các
cannula khác nhau trên các khu vực đối diện
của cùng một bệnh nhân. Nghiên cứu đã xác
định rằng nồng độ yếu tố tăng trưởng, sự di
chuyển của tế bào từ các mảnh mô mỡ và tỷ
lệ kết dính ASCs tăng lên khi sử dụng cannula
nhỏ hơn.
Các tác giả kết luận rằng những kết quả
tốt hơn này là do kích thước nhỏ hơn và tỷ lệ
bề mặt / thể tích khác nhau của các mảnh
mô mỡ được thu hoạch bằng cannula nhỏ
hơn.
2.4
Phát minh mới về cannula
nhỏ
Goisis (Imcas 2015) đã mô tả một cannula
nhỏ mới được cấp bằng sáng chế. Cannula
này có đường kính nhỏ (2 mm) với một đầu
tù và sáu cổng được đặt dọc theo các cạnh
của trục (mỗi cổng có đường kính 1 mm).
Các cổng này được sắp xếp theo hình xoắn
ốc với góc độ thẳng hàng dọc theo trục của
cannula (Hình 2.3 và 2.4). Các cổng có dạng
hình chữ nhật, với một cạnh nhô lên được bố
trí song song với trục của cannula và một
cạnh lõm đặt trước cạnh nhô lên.
Ưu điểm chính của cannula được thiết kế
theo cách này liên quan đến thời gian điều trị
nhanh hơn so với các ống cannula nhỏ khác:
việc hút mỡ được thực hiện bằng chuyển
động quay (xem Hình 2.5, 2.6 và 2.7). Mép
lõm thúc đẩy sự xâm nhập của chất béo vào
lỗ. Gờ nhô lên tạo điều kiện thuận lợi cho việc
bóc tách các hạt chất béo. Bằng cách này,
hình dạng của nhiều cổng tạo ra một khối
lượng lớn mô hút với mỗi hành trình xoay. Do
đó, việc sử dụng cannula Goisis hiệu quả hơn
nhiều lần so với cannula Coleman (nhanh
hơn khoảng gấp đôi so với cannula 3 mm
Coleman).
Hình. 2.3 Thiết kế cannula (xuất bản dưới sự cho
phép của ©Mario Goisis 2018. Được bảo hộ độc
quyền)
Đường kính: 2.1mm

Quy trình PRP và tiêm cấy mỡ Nâng Cao
e-bacsy.com
9
Hình. 2.4 Lỗ hút được thiết kế xoắn ốc
Phân bổ xoắn ốc của các lỗ
Hình. 2.5 Sự đặc biệt của chuyển động xoay được
thực hiện để thu hoạch mỡ. Nó làm tăng hiệu quả
của thu hoạch mỡ, nhờ mép lõm của các cổng tạo
điều kiện cho chất béo đi vào cannula. Hơn nữa,
mép có gai nhô cao ở phía trước mép lõm làm
tăng khả năng bóc tách mô mỡ và hút tế bào mỡ
tốt hơn. (Được xuất bản dưới sự cho phép của ©
Mario Goisis 2018. Mọi quyền được bảo lưu)

Chương 2
Thu hoạch mỡ
10
Hình. 2.6 Cạnh lõm của các lỗ làm tăng sự xâm
nhập của chất béo vào cannula. (Được xuất bản
dưới sự cho phép của © Mario Goisis 2018. Mọi
quyền được bảo lưu
Hình. 2.7 Mép có gai nhô lên ở phía trước mép
lõm làm tăng khả năng bóc tách mô mỡ, với việc
hút tế bào mỡ tốt hơn. (Được xuất bản dưới sự cho
phép của © Mario Goisis 2018. Mọi quyền được
bảo lưu)
Kiểm tra mô học được thực hiện trên 547
mẫu đã chứng minh rằng các tế bào mỡ được
thu hoạch bằng cannula Goisis có liên quan
đến số lượng cao hơn các thành phần mô
đệm và mạch máu, khi so sánh với chất béo
được thu hoạch bằng cách sử dụng Coleman
truyền thống (Hình 2.8, 2.9, 2.10 và 2.11 ).
Chất lượng của dịch hút tốt hơn, do đó tự cho
phép bản thân quy trình dùng cannula nhỏ
lọc dịch của nơi lấy mỡ. Cannula nhỏ làm
giảm tỷ lệ chấn thương, khó chịu và các bất
thường trên da của bệnh nhân và giảm thiểu
nguy cơ tổn thương mạch máu do có nhiều
cổng với kích thước giảm. Bởi vì việc đưa vào
yêu cầu ít lực hơn và chính xác hơn, cannula
nhỏ có khả năng kiểm soát thủ công vượt
trội, cải thiện loại bỏ chất béo bề mặt (giảm
nguy cơ chấn thương do tổn thương cho các
mô sâu hơn) và ít sẹo hơn do yêu cầu các
vết rạch siêu nhỏ. Nghiên cứu được trình bày
bởi Goisis và cộng sự. Imcas 2019 (Goisis
và cộng sự, So sánh các giao thức, IMCAS
2019), vai trò của Goisis cannula là khả năng
tồn tại của tế bào gốc đã được thảo luận.
Cạnh lõm
Cạnh có gai cao
Mỡ vào
Bóc tách mỡ
Hình. 2.8 Kiểm tra mô học của chất béo được
thu hoạch bởi một Goisis cannula. Các tế bào mỡ
được bảo quản tốt. (Được xuất bản dưới sự cho
phép của © Mario Goisis 2018. Mọi quyền được
bảo lưu)

Quy trình PRP và tiêm cấy mỡ Nâng Cao
e-bacsy.com
11
Hình. 2.10 Kiểm tra mô học của các tế bào mỡ
được thu hoạch bằng cách sử dụng cannula Goi-
sis. (Được xuất bản dưới sự cho phép của © Mario
Goisis 2018. Mọi quyền được bảo lưu)
Hình. 2.9 Kiểm tra mô học của chất béo được thu
hoạch bằng cách sử dụng một cannula một lỗ. Các
tế bào mỡ ít được bảo quản tốt. (Được xuất bản
dưới sự cho phép của © Mario Goisis 2018. Mọi
quyền được bảo lưu)
Hình. 2.11 (a, b) Chất béo
được
thu
hoạch
bằng
cannula Goisis có liên quan
đến số lượng các thành
phần mô đệm và mạch máu
cao hơn khi so sánh với chất
béo được thu hoạch bằng
cannula một lỗ. (Được xuất
bản dưới sự cho phép của
© Mario Goisis 2018. Mọi
quyền được bảo lưu)

Chương 2
Thu hoạch mỡ
12
Bảng 2.1 Số lượng tế bào gốc của 2 mẫu khác nhau được đo ở 72 giờ, 7 ngày và 14 ngày sau
khi bắt màu. Cột màu xanh là mỡ thu hoạch với Coleman canula, màu cam là microfat thu
hoạch với goisis cannula
Coleman
Goisis
14 NGÀY SAU KHI NHUỘM
72H SAU KHI NHUỘM
7 NGÀY SAU KHI NHUỘM
Số lượng tế bào gốc của 2 mẫu khác nhau
được đo tại 72 giờ, 7 ngày và 14 ngày sau
khi thu thập. Mẫu đầu tiên được thu hoạch
bằng Goisis Cannula, với giá trị cao tế bào
gốc. Mẫu thứ hai được thu hoạch với cannula
Coleman với hàm lượng tế bào gốc thấp hơn
(Bảng 2.1).
Cannula thông thường
Hình. 2.11 (tiếp theo)

Quy trình PRP và tiêm cấy mỡ Nâng Cao
e-bacsy.com
13
2.5
Tác dụng của áp lực âm lên
sự tồn tại của mỡ và tế bào gốc
Shiffman và Mirrafati đã so sánh áp suất
hút để xác định ảnh hưởng của chúng đối với
sự tồn tại của tế bào. Kết quả đáng kể là tổn
thương tế bào lớn hơn tương ứng với áp suất
hút vượt quá 700 mmHg [8].
Trong nghiên cứu của Cheriyan và cộng
sự, khả năng tồn tại của mỡ cao hơn 47% sau
khi hút ở áp suất thấp (-250 mmHg) so với khi
hút ở áp suất âm cao (-760 mmHg). Ngoài ra,
thời gian sống sót của tế bào ở 7 ngày cao
hơn đáng kể khi hút áp suất thấp [13]. Nhận
định này đã được khẳng định bởi Nguyen và
cộng sự. người đã chứng minh rằng chỉ 10%
tế bào sống sót sau khi hút mỡ ở 760 mmHg
[14].
Mojallal và cộng sự. đã đánh giá tác động
của áp lực lên việc thu hoạch tế bào phần
mạch máu đệm (SVF). Năm kỹ thuật thu
hoạch khác nhau đã được thử nghiệm: bơm
hút ở −350, bơm hút ở −700 mmHg, và hút
mỡ trợ lực ở −350 và −700 mmHg. Thu hoạch
tế bào với áp suất −350 mmHg, có hỗ trợ
hoặc không, lớn hơn mức nhận được ở −700
mmHg. Kết luận là -700 mmHg làm giảm số
lượng tế bào SVF được thu hoạch [15].
Tham khảo thêm
1. Gause T, Kling R, Sivak W, Marra K,
Rubin J, Kokai L. Particle size in fat graft reten-
tion: a review on the impact of harvesting tech-
niques in surgical lipofilling outcomes. Adipocyte.
2014;3(4):273–9.
2. Neuber G. Fettransplantation. Chir Kongr
Verhandl Dsch Gesellch Chir. 1893;22:66.
3. Gurney CE. Experimental study of the
behavior of free fat trans- plants. Surgery.
1937;3:679–92.
4. Peer A. The neglected free fat graft. Plast
Reconstr Surg. 1956;18:233–50.
5. Fournier P. Liposculpture: the syringe
technique.
Paris:
Arnette
Blackwell;
1991.
p. 265–6.
6. Illouz YG. The fat cell “graft”: a new
technique to fill depressions. Plast Reconstr
Surg. 1986;78:122–3.
7. Kato H, Mineda K, Eto H, Doi K, Kuno
S, Kinoshita K, Kanayama K, Yoshimura K.
Degeneration, regeneration, and cicatrization after
fat grafting: dynamic total tissue remodeling
during the first 3 months. Plast Reconstr Surg.
2014;133:303e–13e.
8. Shiffman MA, Mirrafati S. Fat transfer
techniques: the effect of harvest and transfer
methods on adipocyte viability and review of the
literature. Dermatol Surg. 2001;27:819–26.
9. Leong DT, Hutmacher DW, Chew FT,
Lim T-C. Viability and adip- ogenic potential of
human adipose tissue processed cell population
obtained from pump-assisted and syringe-assist-
ed liposuction. J Dermatol Sci. 2005;37:169–76.
10. Harris LJ, Zhang P, Abdollahi H, et al.
Availability of adipose- derived stem cells in
patients undergoing vascular surgical proce- du-
res. J Surg Res. 2010;163:e105–12.
11. Farr ST, Trivisonno A. Differential fat
harvesting. Plast Aesthet Res. 2014;1:103–7.
12. Alharbi Z, Opländer C, Almakadi S.
Conventional vs. micro-fat harvesting: how fat
harvesting technique affects tissue-engineering
approaches using adipose tissue-derived stem/
stromal cells. J Plast Reconstr Aesthet Surg.
2013;66:1271–8.
13. Cheriyan T, Kao HK, Qiao X, Guo L. Plast
Reconstr Surg. 2014;133(6):1365–8.
14. Nguyen P, Desouches C, Gay A, Hautier A,
Magalon
G. Development of micro-injection as an
innovative autologous fat graft technique: the
use of adipose tissue as dermal filler. J Plast
Reconstr Aesthet Surg. 2012;65:1692–9.
15. Mojallal A, Auxenfans C, Lequeux C, Braye
F, Damour
O. Influence of negative pressure when
harvesting adipose tissue on cell yield of the
stromal-vascular fraction. Biomed Mater Eng.
2008;18(4-5):193–7.

Chương 2
Thu hoạch mỡ
14

15
e-bacsy.com
Chương
3
Thu hoạch mỡ theo
từng bước
Mario Goisis
và
Sara Izzo

Chương 3
Thu hoạch mỡ theo từng bước
16
3.1
Chuẩn bị Microfat: Thu
hoạch ở vùng chậu – hông
Trước khi cung cấp mô tả từng bước về
quy trình, điều hữu ích là nhớ lại một số yếu tố
cơ bản về cấu tạo của hông. Bộ xương chậu
được hình thành, ở phía trước, bởi xương
cùng và xương cụt và bởi một cặp xương
hông ở bên trái và bên phải. Hai xương hông
kết nối các chi dưới với cột sống, trong khi
các chi dưới nối với nhau ở phía trước và gắn
với xương cùng ở phía sau.
Mỗi xương hông bao gồm ba phần: xương
chậu, ụ ngồi và mu. Tên của xương chậu bắt
nguồn từ từ tiếng Latinh ile hoặc ilis, có nghĩa
là “háng” hoặc “sườn”. Xương chậu là xương
lớn nhất trong số các xương cùng cụt (Hình
3.1 và 3.2).
Mào xương chậu là đường viền trên của
cánh xương chậu (Hình 3.3, các điểm màu
xanh lá cây). Có thể sờ thấy dọc theo toàn
bộ chiều dài của nó, đỉnh nằm giữa gai chậu
trước trên (ASIS) (Hình 3.3, điểm màu đỏ) và
gai chậu trên sau (PSIS) (Hình 3.4). Gai chậu
trước trên (ASIS) là phần nhô ra bằng xương
của xương chậu và là điểm mốc quan trọng
của giải phẫu bề mặt. Nó đề cập đến điểm
cực trước của mào chậu, nơi cung cấp mỏ
neo cho dây chằng bẹn và cơ may (Hình 3.5,
3.6, 3.7, 3.8, 3.9 và 3.10).
3.2
Hút Microfat áp lực thấp:
Vật liệu và phương pháp
Thu hoạch microfat có thể được thực
hiện trong một phòng mổ / cơ sở y tế nhỏ.
Cần có máy đo oxy, đo SpO2 và xe đẩy / hộp.
Một quy trình tiêu chuẩn của hộp microfat
được sử dụng (Được phép của Microfat.com)
(Hình 3.11). Hộp bao gồm một số yếu tố sử
dụng một lần: một hệ thống dốc với hệ thống
khép kín để rửa và lọc, 4 ống tiêm 60 cc, 2
ống tiêm 10 cc, một ống tiêm 1 cc, một kim
30 G, một ống tiêm 16G, một kim 21G và một
cannula đầu tù 22G 4 cm.
Hộp microfat này có thể được sử dụng
cùng với một số phần tử có thể hấp tiệt trùng,
đặc biệt là khay microfat (Hình 3.12, được
xuất bản dưới sự cho phép của © Mario Goisis
2018. Mọi quyền được bảo lưu) và cannula
Goisis 10 cm có thể hấp tiệt trùng (Microfat
hoặc Tulip). Khay Goisis bao gồm một giá
đỡ bằng nhựa cho hệ thống dốc và hai khay
cho Klein và các dung dịch muối. Cannula
hấp tiệt trùng cũng được sản xuất trong một
phiên bản sử dụng một lần.
Hình. 3.1 xương chậu là xương lớn nhất trong số
các xương cùng cụt (sao chép từ Grey’s Anatomy,
ấn bản lần thứ 20, năm 1918). (Được xuất bản
dưới sự cho phép của © Mario Goisis 2018. Mọi
quyền được bảo lưu)
M. Goisis (*)
Phẫu thuật viên thẩm mỹ và hàm mặt, Bệnh viện Go Easy, Milan, Italy
S. Izzo
Khoa phẫu thuật thẩm mỹ, Đại học Campania “Luigi Vanvitelli”, Piazza Miraglia, Milan, 80138, Italy

Quy trình PRP và tiêm cấy mỡ Nâng Cao
e-bacsy.com
17
Hình. 3.2 Xương chậu là xương
lớn nhất trong số các xương cùng
cụt (sao chép từ Grey’s Anatomy,
ấn bản lần thứ 20, năm 1918).
(Được xuất bản dưới sự cho
phép của © Mario Goisis 2018.
Mọi quyền được bảo lưu)
Hình 3.3 Mào chậu là đường viền trên của cánh
xương chậu (các điểm màu xanh lục). Có thể sờ
thấy nó dọc theo toàn bộ chiều dài của nó. Mào
nằm giữa gai chậu trước trên (ASIS) (Hình 3.3,
điểm màu đỏ) và gai chậu trên sau (PSIS) (Hình
3.4). (Được xuất bản dưới sự cho phép của ©
Mario Goisis 2018. Mọi quyền được bảo lưu)

Chương 3
Thu hoạch mỡ theo từng bước
18
Hình. 3.4 Mào chậu là đường viền phía trên của
cánh xương chậu (các điểm màu xanh lục). Có
thể sờ thấy nó dọc theo toàn bộ chiều dài của nó.
Mào nằm giữa gai chậu trước trên (ASIS) (Hình 3.3,
điểm màu đỏ) và gai chậu trên sau (PSIS) (Hình
3.4). (Được xuất bản dưới sự cho phép của ©
Mario Goisis 2018. Mọi quyền được bảo lưu)
Hình. 3.5 Giải phẫu bóc tách khu vực thu hoạch.
Mặt phẳng dưới da được bộc lộ. (Được xuất bản
dưới sự cho phép của © Mario Goisis 2018. Mọi
quyền được bảo lưu)
Hình. 3.6 Hình ảnh siêu âm của khu vực thu
hoạch. Điểm đỏ xuất hiện tương ứng với gai chậu
trước trên. Việc sử dụng siêu âm ở những bệnh
nhân gầy có thể được hỗ trợ bằng cách đo độ dày
của mô mỡ ở vị trí chọc hút được xem xét để thu
hoạch và tìm kiếm vị trí tối ưu để chuẩn bị cho
thủ thuật. Hỗ trợ siêu âm có thể được xem xét cho
đường cong học tập ban đầu hoặc ở những bệnh
nhân gầy. (Được xuất bản dưới sự cho phép của ©
Mario Goisis 2018. Mọi quyền được bảo lưu)
Hình. 3.7 Đánh dấu vùng thu
hoạch: điểm vào được đánh
dấu tương ứng với gai chậu
trước trên (ASIS). Mỡ bên sườn
bị véo lên và đánh dấu. (Được
xuất bản dưới sự cho phép của
© Mario Goisis 2018. Mọi quyền
được bảo lưu)

Quy trình PRP và tiêm cấy mỡ Nâng Cao
e-bacsy.com
19
Các nguồn cung cấp cần thiết khác
là dung dịch chlorhexidine-alcohol (2%
chlorhexidine gluconate và 70% isopropyl
cồn), màn hoặc khăn trải vô trùng, túi nước
đá, miếng gạc vuông 2 cm x 2 cm vô trùng,
và một miếng che băng kín.
Khi ban đầu thực hiện quá trình hút mỡ,
hướng dẫn của siêu âm có thể rất hữu ích,
Hình. 3.8 Đánh dấu khu vực thu hoạch: điểm vào
được đánh dấu dựa theo gai chậu trước trên (ASIS).
Mỡ bên sườn bị véo lên và đánh dấu. (Được xuất
bản với sự cho phép của © Mario Goisis 2018. Mọi
quyền được bảo lưu)
Hình. 3.9 Xác định vị trí lớp mỡ trên sườn trước khi
thu hoạch. (Được xuất bản dưới sự cho phép của
© Mario Goisis 2018. Mọi quyền được bảo lưu)
Hình. 3.10 Nhìn từ phía sau các khu vực có thể
thu hoạch chất béo. (Được xuất bản dưới sự cho
phép của © Mario Goisis 2018. Mọi quyền được
bảo lưu)
Hình. 3.11 Dụng cụ thu hoạch bằng Hộp Microfat.
(Được xuất bản dưới sự cho phép của © Mario
Goisis 2018. Mọi quyền được bảo lưu)
nhưng một khi mức độ thành thạo của một
người được cải thiện, nó không phải lúc nào
cũng cần thiết. Tuy nhiên, nó nên được đưa
vào quy trình khi phẫu thuật trên bệnh nhân
gầy. Siêu âm là một công cụ hữu ích để xác
định độ dày của mô đệm và vị trí tối ưu để thu
hoạch. Khi sử dụng siêu âm, cần có bao cao
su đầu dò vô trùng.

Chương 3
Thu hoạch mỡ theo từng bước
20
Hình. 3.12 Khay Microfat. (Được xuất bản bởi sự
cho phép của © Mario Goisis 2018. Mọi quyền
được bảo lưu)
Hình. 3.13 Thuốc men. (Được xuất bản dưới sự
cho phép của © Mario Goisis 2018. Mọi quyền
được bảo lưu)
Thuốc bao gồm:
•
100 cc dung dịch saline lạnh
•
120 cc dung dịch Klein lạnh
1 lít dung dịch Klein dung dịch bao gồm
800 mg lidocain, 1 mg epinephrine, 40 MEq
natri bicarbonate và 1000 cc dung dịch muối.
Việc sử dụng thuốc tê với epinephrine sẽ làm
giảm chảy máu cục bộ và giúp tăng tốc độ
hồi phục (Hình 3.13).
3.3
Chuẩn bị dung dịch Klein
Hai chai dung dịch muối 500 cc, bốn lọ
200 mg lidocain, hai lọ 0,5 mg epinephrine và
hai lọ natri bicarbonate 20 MEq (Hình 3,14,
3,15 , 3,16 và 3,17).
Hỗ trợ: Một trợ lý nên có mặt để chuyển
các vật dụng vào khu vực thủ thuật một cách
vô trùng trong giai đoạn đầu tiên của quy
trình, tuy nhiên, quy trình hoàn chỉnh có thể
được thực hiện bởi một bác sĩ duy nhất: nên
sử dụng cẩn thận.
3.3.1 Kỹ thuật hút mỡ áp lực âm
Những bước đầu tiên sẽ khá khó khăn và
việc hút mỡ sẽ bị hạn chế. Dịch hút sẽ có vẻ
trong suốt, thường có một thành phần lớn là
thuốc gây tê cục bộ.
Các bước sau sẽ dễ dàng hơn và hoạt
động trơn tru hơn, do các mô được di chuyển.
Chọc hút sẽ có màu vàng, tốt nhất là với một
lượng máu hạn chế.
Mục tiêu thông thường là 15–25 mL mô
mỡ. Nếu muốn một khối lượng lớn hơn, việc
sử dụng vị trí thứ hai có thể được tiếp tục
(Hình.3.18, 3.19, 3.20, 3.21, 3.22, 3.23, 3.24,
3.25, 3.26, 3.27, 3.28, 3.29, 3.30, 3.31, 3.32,
3.33, 3.34, 3.35, 3.36, 3.37, 3.38, 3.39, 3.40,
3.41, 3.42, 3.43, 3.44, 3.45, 3.46, 3.47, 3.48,
3.49, 3.50, 3.51, 3.52, 3.53, 3.54, 3.55, 3.56,
3.57, 3.58, 3.59, 3.60, 3.61, 3.62, 3.63, 3.64,
3.65, 3.66, 3.67, và 3.68).
Hình. 3.14 Chuẩn bị 500 mg dung dịch Klein từng
bước. Các yếu tố có trong 500 cc dung dịch Klein:
một chai 500 cc dung dịch muối, hai lọ lidocaine
200 mg, một lọ epinephrine 0,5 mg, một lọ natri
bicarbonate 20 MEq. (Được xuất bản dưới sự cho
phép của © Mario Goisis 2018. Mọi quyền được
bảo lưu)

Quy trình PRP và tiêm cấy mỡ Nâng Cao
e-bacsy.com
21
Hình. 3.15 Thành phần của hai chai 200 mg
lidocain được trộn với 500 cc dung dịch muối.
(Được xuất bản dưới sự cho phép của © Mario
Goisis 2018. Mọi quyền được bảo lưu)
Hình. 3.17 Cuối cùng, thành phần của chai
epinephrine 0,5 mg được thêm vào. (Được xuất
bản dưới sự cho phép của © Mario Goisis 2018.
Mọi quyền được bảo lưu)
Hình. 3.16 Các thành phần của chai natri
bicarbonate 20-MEq được thêm vào. (Được xuất
bản dưới sự cho phép của © Mario Goisis 2018.
Mọi quyền được bảo lưu)
Hình. 3.18 Nếu bệnh nhân không quá gầy, những
vị trí dễ dàng hút mỡ nhất là những vị trí phía trên
vùng hạ sườn. Tư thế nằm 1 bên được ưu tiên
(Hình 3.14). (Được xuất bản dưới sự cho phép của
© Mario Goisis 2018. Mọi quyền được bảo lưu)

Chương 3
Thu hoạch mỡ theo từng bước
22
Hình. 3.19 Khi vị trí đã được chọn, nó phải được
đánh dấu, và khu vực đó sau đó được làm sạch,
bằng dung dịch cồn-chlorhexidine, và phủ lớp
drape lên. (Được xuất bản dưới sự cho phép của
© Mario Goisis 2018. Mọi quyền được bảo lưu)
Hình. 3.21 Ống tiêm được kết nối với ống dẫn
được đánh dấu “A” trong ảnh. (Được xuất bản
dưới sự cho phép của © Mario Goisis 2018. Mọi
quyền được bảo lưu)
Hình. 3.20 Ống tiêm đầu tiên chứa đầy 60 cc dung
dịch Klein. (Được xuất bản dưới sự cho phép của ©
Mario Goisis 2018. Mọi quyền được bảo lưu)
Hình. 3.22 Ống tiêm thứ hai chứa đầy 60 cc dung
dịch Klein. (Được xuất bản dưới sự cho phép của ©
Mario Goisis 2018. Mọi quyền được bảo lưu)

Quy trình PRP và tiêm cấy mỡ Nâng Cao
e-bacsy.com
23
Hình. 3.23 Ống tiêm được kết nối với ống được
đánh dấu “D”. (Được xuất bản dưới sự cho phép
của © Mario Goisis 2018. Mọi quyền được bảo
lưu)
Hình. 3.25 Ống tiêm chứa đầy dung dịch muối
được nối với vị trí B (xem mũi tên màu đen). (Được
xuất bản dưới sự cho phép của © Mario Goisis
2018. Mọi quyền được bảo lưu)
Hình. 3.24 Ống tiêm thứ ba chứa đầy 60 cc dung
dịch muối. (Được xuất bản dưới sự cho phép của
© Mario Goisis 2018. Mọi quyền được bảo lưu)
Hình. 3.26 Một ống tiêm 60 cc rỗng được nối với
vị trí C (xem mũi tên màu đen). (Được xuất bản
dưới sự cho phép của © Mario Goisis 2018. Mọi
quyền được bảo lưu)

Chương 3
Thu hoạch mỡ theo từng bước
24
Hình. 3.27 Một ống tiêm 10 cc rỗng được nối với
vị trí E (xem mũi tên màu đen). (Được xuất bản
dưới sự cho phép của © Mario Goisis 2018. Mọi
quyền được bảo lưu)
Hình. 3.28 Thuốc tê cục bộ được truyền trực tiếp
từ ống tiêm A và D sang ống tiêm 10 cc E. Đặc biệt,
khi khóa vòi ở vị trí “a” bằng cách kéo pít-tông, ống
tiêm E chứa đầy không khí và dung dịch thuốc mê.
(Được xuất bản dưới sự cho phép của © Mario
Goisis 2018. Mọi quyền được bảo lưu)
Hình. 3.29 Bằng cách di chuyển khóa vòi đến vị trí
“b”, không khí được đẩy ra khỏi ống tiêm. (Được
xuất bản với sự cho phép của © Mario Goisis 2018.
Mọi quyền được bảo lưu)
Hình. 3.30 Một kim 30G được kết nối với ống tiêm
E. (Được xuất bản dưới sự cho phép của © Mario
Goisis 2018. Mọi quyền được bảo lưu)

Quy trình PRP và tiêm cấy mỡ Nâng Cao
e-bacsy.com
25
Hình. 3.31 1cc dung dịch Klein được tiêm vào
điểm vào. Khóa vòi ở vị trí “b”, kết nối ống tiêm
với kim. (Được xuất bản dưới sự cho phép của ©
Mario Goisis 2018. Mọi quyền được bảo lưu)
Hình. 3.33 Toàn bộ thành phần của ống tiêm
được tiêm vào điểm vào. (Được xuất bản dưới sự
cho phép của © Mario Goisis 2018. Mọi quyền
được bảo lưu)
Hình. 3.32 Kim 30G được thay bằng kim 16G.
(Được xuất bản dưới sự cho phép của © Mario
Goisis 2018. Mọi quyền được bảo lưu)
Hình. 3.34 Toàn bộ thành phần của ống tiêm
được tiêm vào điểm vào. (Được xuất bản dưới sự
cho phép của © Mario Goisis 2018. Mọi quyền
được bảo lưu)

Chương 3
Thu hoạch mỡ theo từng bước
26
Hình. 3.35 Vòi kết nối với ống tiêm rỗng được
chuyển đến vị trí “a.” Khi khóa vòi ở vị trí “a”, bằng
cách kéo pít-tông, ống tiêm E chứa đầy dung dịch
Klein. Trên thực tế, nó được hút trực tiếp từ ống
tiêm A và D. (Được xuất bản dưới sự cho phép của
© Mario Goisis 2018. Mọi quyền được bảo lưu)
Hình. 3.36 Với khóa ở vị trí “b”, 10 cc dung dịch
Klein được bơm vào. (Được xuất bản dưới sự cho
phép của © Mario Goisis 2018. Mọi quyền được
bảo lưu)
Hình. 3.38 tiêm rẽ quạt cannula Goisis vào vùng
lấy mỡ. (Được xuất bản dưới sự cho phép của ©
Mario Goisis 2018. Mọi quyền được bảo lưu)
Hình. 3.37 tiêm rẽ quạt cannula Goisis vào vùng
lấy mỡ. (Được xuất bản dưới sự cho phép của ©
Mario Goisis 2018. Mọi quyền được bảo lưu)

Quy trình PRP và tiêm cấy mỡ Nâng Cao
e-bacsy.com
27
Hình. 3.40 Cannula được đưa vào khu vực này,
và thực hiện một vài đường ngang chậm để phân
phối dung dịch Klein. (Được xuất bản với sự cho
phép của © Mario Goisis 2018. Mọi quyền được
bảo lưu)
Hình. 3.42 Hình ảnh siêu âm cho thấy mối quan
hệ giữa cannula và cấu trúc giải phẫu của khu vực.
Cannula được đưa vào mô dưới da, ở độ sâu 1 cm
tính từ lớp biểu bì. (Được xuất bản dưới sự cho
phép của © Mario Goisis 2018. Mọi quyền được
bảo lưu)
Hình. 3.39 Tiêm rẽ quạt cannula Goisis vào vùng
lấy mỡ. (Được xuất bản dưới sự cho phép của ©
Mario Goisis 2018. Mọi quyền được bảo lưu)
Hình. 3.41 Hình ảnh siêu âm cho thấy mối quan
hệ giữa cannula và cấu trúc giải phẫu của khu vực.
Cannula được đưa vào mô dưới da, ở độ sâu 1 cm
tính từ lớp biểu bì. (Được xuất bản dưới sự cho
phép của © Mario Goisis 2018. Mọi quyền được
bảo lưu)

Chương 3
Thu hoạch mỡ theo từng bước
28
Hình. 3.43 120 cc dung dịch Klein còn lại được
tiêm vào các điểm nhỏ 5 cc (vòng tròn màu xanh).
Quá trình tiêm thuốc tê mất 3-5 phút. (Được xuất
bản dưới sự cho phép của © Mario Goisis 2018.
Mọi quyền được bảo lưu)
Hình. 3.45 Dung dịch Klein được tiêm bắt đầu phá
vỡ / di động các mô mỡ. Khu vực xâm nhập được
chỉ định bằng các mũi tên màu xanh lam. (Được
xuất bản với sự cho phép của © Mario Goisis 2018.
Mọi quyền được bảo lưu)
Hình. 3.44 120 cc dung dịch Klein còn lại được
tiêm vào các điểm nhỏ 5 cc (vòng tròn màu xanh).
Quá trình tiêm thuốc tê mất 3-5 phút. (Được xuất
bản dưới sự cho phép của © Mario Goisis 2018.
Mọi quyền được bảo lưu)
Hình. 3.46 Dung dịch Klein được tiêm bắt đầu phá
vỡ / di động các mô mỡ. Khu vực xâm nhập được
chỉ định bằng các mũi tên màu xanh lam. (Được
xuất bản dưới sự cho phép của © Mario Goisis
2018. Mọi quyền được bảo lưu)

Quy trình PRP và tiêm cấy mỡ Nâng Cao
e-bacsy.com
29
Hình. 3.47 Sự thẩm thấu của dung dịch Klein tự
động chấm dứt khi các ống tiêm A và D hết. Trên
thực tế, khi tất cả thành phần của các ống tiêm
này đã được tiêm vào, không thể đổ đầy ống tiêm
E bằng khóa ở vị trí “a”. (Được xuất bản dưới sự
cho phép của © Mario Goisis 2018. Mọi quyền
được bảo lưu)
Hình. 3.48 Khóa vòi được chuyển đến vị trí “b” và
việc thu hoạch chất béo có thể bắt đầu. Bắt buộc
là các lỗ hút của cannula phải nằm trong da suốt
thời gian. Khi pittông của ống tiêm được kéo lại,
một áp suất âm được tạo ra và ống tiêm bắt đầu
chứa chất béo. Sau đó, bác sĩ có thể dễ dàng di
chuyển cannula ra trước và sau bên trong vùng
được tiêm thuốc. Véo mô để nâng nó lên thường
làm cho quá trình đơn giản hơn. Ngoài ra, việc véo
mô có thể làm giảm đau do thủ thuật bằng cách
kích thích các cơ quan thụ cảm. (Được xuất bản
dưới sự cho phép của © Mario Goisis 2018. Mọi
quyền được bảo lưu)
Hình. 3.49 Một chuyển động xoay được áp dụng
cho cannula bằng cách xoay cổ tay. (Được xuất
bản dưới sự cho phép của © Mario Goisis 2018.
Mọi quyền được bảo lưu)

Chương 3
Thu hoạch mỡ theo từng bước
30
Hình. 3.50 thiết kế của A
Goisis cannula.Với chuyển
động xoay nó có thể tăng
thu hoạch mỡ. Đặc biệt, mép
lõm của các lỗ làm tăng sự
xâm nhập của chất béo vào
cannula và mép có gai tạo
điều kiện cho việc bóc tách
nó. (Được xuất bản dưới sự
cho phép của © Mario Goisis
2018. Mọi quyền được bảo
lưu)
Hình. 3.51 Thiết kế của ống
Goisis. Chuyển động xoay
tròn giúp tăng lượng chất
béo được thu hoạch. Đặc
biệt, mép lõm của các lỗ làm
tăng sự xâm nhập của chất
béo vào cannula và mép có
gai tạo điều kiện cho việc bóc
tách nó. (Được xuất bản dưới
sự cho phép của © Mario
Goisis 2018. Mọi quyền được
bảo lưu)
Hình. 3.52 Thiết kế Goisis
cannula. Chuyển động xoay
giúp tăng lượng mỡ thu
hoạch. Đặc biệt, mép lõm của
các lỗ làm tăng sự xâm nhập
của chất béo vào cannula và
mép có gai tạo điều kiện cho
việc bóc tách nó. (Được xuất
bản dưới sự cho phép của
© Mario Goisis 2018. Mọi
quyền được bảo lưu)
Mép lõm
Mép gai nhô cao
Bóc tách mỡ

Quy trình PRP và tiêm cấy mỡ Nâng Cao
e-bacsy.com
31
Hình. 3.53 Hình ảnh siêu âm vị trí của cannula
(màu xanh lam). Điều quan trọng là không được
hút một thể tích quá lớn gần với da, vì điều này
có thể làm da bị lõm xuống. Độ sâu chính xác của
ống cannula là ít nhất 1 cm tính từ lớp hạ bì. Nó
cũng là bắt buộc để giảm thiểu chấn thương cho
cơ bên dưới, bằng cách tránh tác động vào mặt
phẳng cơ. (Được xuất bản dưới sự cho phép của ©
Mario Goisis 2018. Mọi quyền được bảo lưu)
Hình. 3.55 Nếu một trong các lỗ hút bị rút ra khỏi
da, không khí sẽ đi vào ống tiêm và mất lực hút.
(Được xuất bản theo sứ mệnh của © Mario Goisis
2018. Mọi quyền được bảo lưu)
Hình. 3.54 Hình ảnh siêu âm vị trí của cannula
(màu xanh lam). Điều quan trọng là không được
hút một thể tích quá lớn gần với da, vì điều này
có thể làm da bị lõm xuống. Độ sâu chính xác của
ống cannula là ít nhất 1 cm tính từ lớp hạ bì. Nó
cũng là bắt buộc để giảm thiểu chấn thương cho
cơ bên dưới, bằng cách tránh đi vào mặt phẳng
cơ. (Được xuất bản với sự cho phép của © Mario
Goisis 2018. Mọi quyền được bảo lưu)
Hình. 3.56 Sau đó, cần phải lấy ống thông ra, để
lại ống tiêm, giữ một miếng gạc vô trùng trên các
lỗ của cannula, hút hết không khí thừa ra khỏi ống
tiêm, và lặp lại các bước ban đầu. (Được xuất bản
dưới sự cho phép của © Mario Goisis 2018. Mọi
quyền được bảo lưu)

Chương 3
Thu hoạch mỡ theo từng bước
32
Hình. 3.57 Sau đó, cần
phải lấy ống thông ra,
để lại ống tiêm, giữ một
miếng gạc vô trùng trên
các lỗ của cannula, hút
hết không khí thừa ra
khỏi ống tiêm, và lặp lại
các bước ban đầu. (Được
xuất bản dưới sự cho
phép của © Mario Goisis
2018. Mọi quyền được
bảo lưu)
Hình. 3.58 Sau đó, cần phải lấy ống thông ra, để
lại ống tiêm, giữ một miếng gạc vô trùng trên các
lỗ của cannula, hút hết không khí thừa ra khỏi ống
tiêm, và lặp lại các bước ban đầu. (Được xuất bản
dưới sự cho phép của © Mario Goisis 2018. Mọi
quyền được bảo lưu)
Hình. 3.59 Khi ống tiêm E được đổ đầy hoàn toàn,
di chuyển khóa vòi sang vị trí “a”. (Được xuất bản
dưới sự cho phép của © Mario Goisis 2018. Mọi
quyền được bảo lưu)

Quy trình PRP và tiêm cấy mỡ Nâng Cao
e-bacsy.com
33
Hình. 3.60 Chất béo trộn với máu và thuốc tê được
đẩy và chuyển trực tiếp từ ống tiêm E sang ống
tiêm A. (Được xuất bản dưới sự cho phép của ©
Mario Goisis 2018. Mọi quyền được bảo lưu)
Hình. 3.62 Chất béo trộn với máu và thuốc tê được
đẩy và chuyển trực tiếp từ ống tiêm E sang ống
tiêm A. (Được xuất bản dưới sự cho phép của ©
Mario Goisis 2018. Mọi quyền được bảo lưu)
Hình. 3.61 Chất béo trộn với máu và thuốc tê được
đẩy và chuyển trực tiếp từ ống tiêm E sang ống
tiêm A. (Được xuất bản dưới sự cho phép của ©
Mario Goisis 2018. Mọi quyền được bảo lưu)
Hình. 3.63 Lặp lại quy trình 4–6 lần để thu được
lượng chất béo vừa đủ. (Được xuất bản dưới sự
cho phép của © Mario Goisis 2018. Mọi quyền
được bảo lưu)

Chương 3
Thu hoạch mỡ theo từng bước
34
Với việc sử dụng rộng rãi các cannula nhỏ,
hiện nay có rất ít trường hợp biến chứng được
báo cáo. Bệnh nhân có thể không dung nạp
với việc bổ sung epinephrine, điều này có thể
làm tăng lo lắng. Chảy máu, bầm tím và đau
sau thủ thuật ở khu vực thu hoạch thường
được báo cáo. Quy trình microfat thu được
lượng dịch hút tương đối thấp, và do đó hiện
tượng lõm da là không phổ biến.
Băng keo trong (ví dụ: Tegaderm hoặc
tương tự) được gỡ bỏ vào ngày sau khi điều
trị. Nước đá được chườm lên vị trí lấy mỡ
trong 20 phút mỗi giờ trong 6 giờ, để giảm
thiểu chảy máu và đau đớn cũng như tăng
tốc độ hồi phục. Cần chú ý quan sát kỹ và
thời gian chườm đá, vì da đã được gây tê. Sau
10–15 phút quan sát, cần có các dấu hiệu
sinh tồn, nếu bệnh nhân ổn định thì được
xuất viện. Khu vực này phải được giữ sạch
sẽ và khô ráo trong 24 giờ. Không được phép
ngâm mình trong bồn nước nóng, hồ bơi hoặc
bồn tắm trong 3 ngày. Các hướng dẫn bằng
văn bản giúp tuân thủ vì bệnh nhân có thể
tham khảo các hướng dẫn đó. Khu vực này
có thể bị đau trong vài ngày đến một tuần,
nhưng cảm giác đau nhức không được tăng
lên. Nếu vùng lấy mỡ bị đau nhức, ban đỏ, đổ
mồ hôi hoặc sốt sẽ khiến bệnh nhân quay trở
lại, do đó có thể kiểm tra khu vực lấy mỡ để
tìm nhiễm trùng. Nên khuyến khích bù nước
bằng cách uống nhiều nước trong 24 giờ sau
khi làm thủ thuật. Nên tránh các hoạt động
mạnh hoặc khuân vác nặng trong 5–6 giờ.
Điều trị bằng kháng sinh (azithromycin 500
mg trong 3 ngày) và thuốc giảm đau (axit
acetilsalicilic) thường được kê đơn.
Hình. 3.64 Khi kết thúc quy trình, ống tiêm E chứa đầy 10 cc dung dịch muối.
(Được xuất bản dưới sự cho phép của © Mario Goisis 2018. Mọi quyền được
bảo lưu)

Quy trình PRP và tiêm cấy mỡ Nâng Cao
e-bacsy.com
35
Hình. 3.65 Dung dịch muối được chuyển vào hệ
thống để rửa ống. (Được xuất bản dưới sự cho
phép của © Mario Goisis 2018. Mọi quyền được
bảo lưu)
Hình. 3.67 Một miếng gạc hình vuông kích thước 2
x 2 cm, không có gel kháng sinh và băng kín (ví dụ:
Tegaderm) được áp dụng. (Được xuất bản theo sứ
mệnh của © Mario Goisis 2018. Mọi quyền được
bảo lưu)
Hình. 3.66 Khi ống thông được rút ra, lực nén được
áp dụng vào vị trí hút mỡ và khu vực này được
làm sạch. (Được xuất bản dưới sự cho phép của ©
Mario Goisis 2018. Mọi quyền được bảo lưu)
Hình. 3.68 Một miếng gạc hình vuông kích thước 2
x 2 cm, không có gel kháng sinh và băng kín (ví dụ:
Tegaderm) được áp dụng. (Được xuất bản theo sứ
mệnh của © Mario Goisis 2018. Mọi quyền được
bảo lưu)

Chương 3
Thu hoạch mỡ theo từng bước
36

37
e-basy.com
Chương
4
Xử lý mỡ được thu hoạch
Mario Goisis, Sara Izzo, Andrea
Sbarbati, Giamaica Conti
và
Giovanni Francesco Nicoletti

Chương 4
Xử lý mỡ được thu hoạch
38
4.1
Các nguyên nhân đằng sau
việc xử lý mỡ đã thu hoạch
Vì nó là trường hợp của các thủ tục ngoại
trú, có những phương pháp khác nhau để xử
lý chất béo. Các phương pháp này tạo ra các
kết quả khác nhau, đặc biệt là các kết quả
liên quan đến bốn khía cạnh quan trọng nhất
của độ bền lâu dài của mảnh ghép.
Yếu tố đầu tiên liên quan đến độ bền của
mảnh ghép là sự không có chất gây ô nhiễm
trong mô được chuyển. Mục đích của tất cả
các phương pháp này là loại bỏ các thành
phần không thể sống được, gây viêm và độc
hại từ mỡ được hút ra, bao gồm các tế bào
máu, thuốc tê, các mảnh tế bào mỡ bị vỡ bao
gồm các giọt dầu và các mảnh vụn tế bào.
Tiếp xúc trực tiếp với không khí cũng có tác
động tiêu cực đến tế bào mỡ, vì nó kích thích
các phản ứng tiền viêm và tổn thương oxy
hóa. Tất cả các yếu tố này đều có tác động
tiêu cực đến khả năng sử dụng của mảnh
ghép. Hơn nữa, nước trộn với chất béo tạo
ra một thể tích giả sẽ biến mất ngay sau khi
ghép.
•
Mục đích đầu tiên của phương pháp sơ
chế và xử lý mảnh ghép là loại bỏ tất cả
các chất gây ô nhiễm và nước trong khi
tránh tiếp xúc với không khí.
Yếu tố thứ hai liên quan đến độ bền lâu
dài, rõ ràng là bị thay đổi bởi tính toàn vẹn
của chất béo được truyền. Yếu tố này lần đầu
tiên được Peer nhấn mạnh trong một bài báo
rất quan trọng của ông, xuất bản năm 1955
và được gọi là “lý thuyết sinh tồn của tế bào”.
Theo lý thuyết này, mảnh ghép với số lượng
lớn nhất các tế bào mỡ không bị phá hủy sẽ
có cơ hội bền lâu dài nhất..
•
Mục đích thứ hai của phương pháp
chuẩn bị mảnh ghép là bảo tồn tính toàn
vẹn của tế bào mỡ.
Cuối cùng, trong những năm gần đây,
nhiều nghiên cứu tập trung vào yếu tố thứ
ba, nồng độ của tế bào gốc mô mỡ (ASC).
Yếu tố này được gọi là “lý thuyết thay thế vật
chủ”: nó quy định rằng hầu hết các tế bào mỡ
được ghép sẽ chết sau khi tiêm và chất nền
ngoại bào còn lại đóng vai trò như một giá
đỡ cho các tế bào thay thế, chúng tái tạo mô.
Các ASC đóng một vai trò quan trọng trong
quá trình tái tạo này. Do đó, việc bảo tồn số
lượng tế bào gốc mô mỡ (ASC) cao nhất có
thể được chứng minh cải thiện khả năng giữ
chất béo, cùng với tiềm năng phát triển của
tế bào gốc trung mô có nguồn gốc từ mô mỡ
được coi là một yếu tố đóng góp chính.
•
Mục đích thứ ba của phương pháp chuẩn
bị mảnh ghép là bảo tồn và tập trung số
lượng tế bào gốc mỡ cao nhất.
Cuối cùng, yếu tố thứ tư cũng đóng một
vai trò ưu việt trong việc lựa chọn phương
pháp xử lý mảnh ghép: hiệu quả của nó. Hiệu
quả của một phương pháp có thể được đánh
giá dựa trên mức độ tốn thời gian, hiệu quả
chi phí và lượng chất béo bị mất đi trong quá
trình chuẩn bị. Yếu tố cuối cùng này rất quan
trọng trong các trường hợp điều trị xâm lấn
nhỏ ở mặt, cổ và tay. Trong những trường
hợp này, bệnh nhân thường trải qua một đợt
thu hoạch chất béo nhỏ, với mục đích tiêm
15-20 cc chất béo này vào vị trí đã chọn. Có
một số phương pháp hiệu quả thấp yêu cầu
thu hoạch từ 100 cc chất béo trở lên để thu
được 20 cc chất béo đã qua xử lý. 80 cc còn
lại bị mất trong quá trình xử lý. Cần lưu ý một
điều rằng trong khi ở một số bệnh nhân, việc
thu hoạch 100 cc rất đơn giản, ở những bệnh
nhân gầy khác, có mỡ thừa, phẫu thuật này
thì khó hơn và có thể đòi hỏi thời gian thu
hoạch từ các khu vực lấy mỡ khác nhau.
M. Goisis (*)
Phẫu thuật viên thẩm mỹ và hàm mặt, Bệnh viện Go Easy, Milan, Italy
S. Izzo · G. F. Nicoletti
Khoa phẫu thuật thẩm mỹ, Đại học Campania “Luigi Vanvitelli”, Naples, Italy
A. Sbarbati · G. Conti
Khoa y học thần kinh, y sinh và vận động, Phân môn giải phẫu và mô học, Đại học Verona,
Verona, Italy

Quy trình PRP và tiêm cấy mỡ Nâng Cao
e-bacsy.com
39
•
Mục tiêu thứ tư của phương pháp chuẩn
bị mảnh ghép là hiệu quả về chi phí thủ
tục và về tỷ lệ phần trăm chất béo bị lãng
phí trong quá trình chuẩn bị.
4.2
Các quy trình xử lý mỡ
Hiện có rất nhiều phương pháp được sử
dụng để xử lý chất béo thu được. Thường
được sử dụng nhất là chiết xuất đơn giản,
cuộn gạc bông, ly tâm, rửa, đồng thời rửa và
lọc mô.
4.2.1 Quy trình xử lý mỡ Telfa-Rolling
Quy trình Telfa rolling bao gồm việc đổ
dịch hút từ ống tiêm lên các mảnh băng lớn
(3 × 8-in.) không dính Telfa (do Covidien,
Mansfield, MA) (Hình 4.1). Sau đó, chất béo
được cuộn và nhào nhẹ trong 5 phút dọc
theo miếng gạc bằng cách sử dụng một cán
dao mổ vô trùng (Hình 4.2). Chất béo sau
đó được nạp bằng thìa nhỏ vào ống tiêm
10 ml và được chuyển bằng bộ chuyển đổi
khóa Luer vào ống tiêm 1 ml để tiêm. Do kích
thước của các hạt chất béo lớn, nên thường
phải bơm chất béo đã thu hoạch và xử lý
bằng một ống tiêm lớn hơn (đường kính 1,5
mm trở lên) (Hình 4.3).
4.2.2 Quy trình xử lý mỡ Puregraft
•
Bước 1: Chuẩn bị

Giai đoạn đầu sẽ được dành để
sắp xếp, mở ra và sắp xếp các thành phần
của hộp trong khu vô trùng, trong khi bộ
manifold được kết nối như sau: Đầu tiên (1), bộ
lọc được kết nối với một ống, đặt trong khay
nhỏ . Khay được làm đầy với gây tê tại chỗ.
Sau đó (2) ống được kết nối với một ống tiêm
VacLok © 20 cc. Sau đó, ống tiêm 60 cc rỗng
(3) được đổ đầy dung dịch muối (4). Bơm tiêm
60 cc rỗng (xem 5) và ống được nối với bơm
tiêm 10cc (xem 6). Khi đó, manifold (xem 7)
cần được kết nối với ống tiêm PRP, trong khi
manifold (xem 8) sẽ được kết nối với một ống
tiêm 60 cc rỗng.
•
Bước 2: Gây tê

Thuốc gây tê cục bộ được truyền trực
tiếp từ khay vào ống tiêm, và khi hệ thống
Hình. 4.2 Mỡ được cán và nhào nhẹ nhàng trong
5 phút dọc theo miếng gạc bằng cách sử dụng dao
mổ vô trùng.
Hình. 4.3 Kích thước cuối cùng của các hạt chất
béo. (Được xuất bản dưới sự cho phép của ©
Mario Goisis 2018. Mọi quyền được bảo lưu
đóng hoàn toàn, nguy cơ nhiễm trùng được
giảm bớt. Đặc biệt, khi khóa vòi ở vị trí “a”, khi
kéo pít-tông, ống tiêm chứa đầy dung dịch
thuốc tê. Bằng cách di chuyển khóa vòi đến
vị trí “b”, dung dịch gây tê được tiêm nhanh
chóng. Bằng cách này, tất cả sự xâm nhập
của thuốc tê mất 5 phút để hoàn thành.
Hình. 4.1 Hút dịch được đổ từ ống tiêm vào các
miếng băng Telfa không kết dính lớn (3 × 8-in.).

Chương 4
Xử lý mỡ được thu hoạch
40
•
Bước 3: Thu hoạch mỡ

Để thu hoạch chất béo, ống tiêm
VacLok © được chuyển từ vị trí “trượt bình
thường” sang vị trí “khóa để giữ chân không”.
Đặc biệt, để khóa ống tiêm, pít tông phải được
di chuyển hoàn toàn về phía trước hoặc hoàn
toàn về phía sau và pít tông quay để các vây
khóa khớp với chốt chặn. Bằng cách này, ống
tiêm VacLok cho phép người ta khóa pít-tông
ở nhiều vị trí trong một máy hút áp suất âm.
Áp suất âm được duy trì và ống tiêm dần dần
được làm đầy chất béo. Khóa vòi ở vị trí “b”
(xem Hình 4.4, 4.5, 4.6, 4.7, 4.8 và 4.9 bên
dưới).
Hình. 4.6 Chất béo được rửa hai lần bằng dung
dịch Ringer’s với tỷ lệ một thể tích chất rửa với hai
thể tích mô. (Được xuất bản dưới sự cho phép của
© Mario Goisis 2018. Mọi quyền được bảo lưu)
Hình. 4.7 Thời gian xả nước cần thiết sau mỗi lần
rửa là khoảng 3 phút. (Được xuất bản dưới sự cho
phép của © Mario Goisis 2018. Mọi quyền được
bảo lưu)
Hình. 4.4 Chất béo được thu thập bằng một ống
tiêm 20 cc kết nối với bộ Microfat (Được phép của
Microfat.com). (Được xuất bản dưới sự cho phép
của © Mario Goisis 2018. Mọi quyền được bảo
lưu)
Hình. 4.5 Mỡ trộn với máu và thuốc tê được
chuyển vào hệ thống Puregraft. (Được xuất bản
dưới sự cho phép của © Mario Goisis 2018. Mọi
quyền được bảo lưu)
Hình. 4.8 Máu và thuốc tê cục bộ được tách ra
khỏi mỡ. (Được xuất bản dưới sự cho phép của ©
Mario Goisis 2018. Mọi quyền được bảo lưu)

Quy trình PRP và tiêm cấy mỡ Nâng Cao
e-bacsy.com
41
•
Bước 4: Chuyển chất béo vào hệ thống

Khi ống tiêm đã được lấp đầy hoàn
toàn, cần chuyển khóa vòi về vị trí “a”. Chất
béo, trộn với máu và thuốc tê, sau đó được
tống ra ngoài và chuyển trực tiếp từ ống tiêm
vào hệ thống.
•
Bước 5: Tiêm thâm nhập

Khóa vòi được di chuyển đến vị trí “b”
và khi đó pít tông của ống tiêm 3 có thể được
ấn xuống. Vì màng lọc ở vị trí 1 nên hầu hết
các tế bào máu và dịch gây tê đều được dẫn
vào khay (xem mũi tên đỏ). Ngược lại, các tế
bào mỡ được chuyển đến ống tiêm số 5 (xem
mũi tên vàng). Quy trình hoàn toàn tự động
tránh các chuyển động rườm rà của chốt
chặn hoặc van.
•
Bước 6: Rửa

Khi kéo pít-tông của ống tiêm 5, nó sẽ
tự động hút dung dịch muối từ ống tiêm 4.
Sau đó, cần đợi 60 giây trước khi đẩy pít-tông
xuống để đẩy hết dung dịch ra khỏi phần
dưới của ống tiêm 5. Do bóc tách gây ra bởi
trọng lực, máu, nước và chất gây tê cục bộ
sẽ lắng đọng ở phần dưới của ống tiêm. Van
một chiều tự động hướng các phần tử này
đến ống tiêm 3 và đến bộ lọc. Sau 60 giây,
quá trình tách chất béo ra khỏi nước hoàn tất
và quy trình này có thể được lặp lại để rửa kỹ:
màu sắc của chất béo chuyển từ cam sang
vàng.
Hình. 4.9 Chất béo được tiêm bằng hệ thống khép
kín, bao gồm cả hộp liên quan. (Được xuất bản
dưới sự cho phép của © Mario Goisis 2018. Mọi
quyền được bảo lưu)
•
Bước 7: Tiêm thâm nhập lần thứ 2.

Quy trình bây giờ yêu cầu tháo ống
tiêm 3. Khi pít tông của ống tiêm 5 được đẩy
xuống, nước dư sẽ được ép ra và vào bộ lọc
1 (xem mũi tên màu trắng). Ngược lại, các tế
bào chất béo được tự động chuyển sang ống
tiêm 8 (xem mũi tên màu vàng).
•
Bước 8: trộn mỡ với PRP

Trộn chất béo với PRP rất đơn giản khi
sử dụng hệ thống van; ngay sau khi kéo pít-
tông của ống tiêm 8 trở lại, ống tiêm sẽ lấp
đầy PRP có trong ống tiêm 7.
•
Bước 9: tiêm mỡ với PRP

Để tiêm chất béo đã qua xử lý, phải rút
ống tiêm 3 ra; khóa vòi của ống tiêm 6 cần
được chuyển từ vị trí “b” sang vị trí “a”, cho
phép tự động chuyển chất béo cộng với PRP
từ ống tiêm 8 sang ống tiêm 6.
•
Bước 10: Đổ chất thải

Sau khi đậy nắp, drape vô trùng được
bọc lại, và hộp được vứt bỏ một cách an toàn
và đặt trong thùng rác y tế.
4.3 Các sự cân nhắc về quy
trình xử lý mỡ
Các phương pháp khác nhau chắc chắn
dẫn đến các kết quả khác nhau, đặc biệt là
liên quan đến ba yếu tố quan trọng nhất liên
quan đến độ bền lâu dài của mảnh ghép. Năm
2012, Gir và cộng sự đã xuất bản một bài
tổng quan, nhằm đánh giá các phương pháp
xử lý chất béo khác nhau, và trong 4 năm
qua, nhiều nghiên cứu lâm sàng và thực ng-
hiệm khác đã cố gắng khảo sát một phương
pháp đơn lẻ hiệu quả nhất để xử lý chất béo
cho một mảnh ghép tự thân lý tưởng.
Condé-Green và cộng sự so sánh quá
trình gạn, ly tâm, rửa và tăng tế bào mô đệm
mạch máu của các mẫu đã rửa trên một mô
hình động vật khỏe mạnh. Họ đã chứng minh
rằng các mảnh ghép đã được gạn lọc có khả
năng sống kém nhất và biểu hiện những biến
đổi nang nghiêm trọng ở 11 tuần sau khi
ghép, so với các mảnh ghép ly tâm và rửa
sạch. Trong nghiên cứu của họ, ly tâm bằng

Chương 4
Xử lý mỡ được thu hoạch
42
kỹ thuật Coleman (1200 g trong 3 phút) cho
thấy tỷ lệ vôi hóa và xơ hóa cao hơn so với
những chế phẩm được chuẩn bị bằng cách
rửa.
Cuối cùng Condé-Green đã chứng minh
bằng thực nghiệm rằng rửa chất béo tốt
hơn so với gạn lọc và ly tâm về hình dạng
mô học và khả năng tồn tại lâu dài. Bài báo
này xác nhận các quan sát lâm sàng được
Condé-Green công bố trước đây với Pitanguy
và cộng sự.
Các tác giả đã so sánh hiệu quả lâm sàng
của ba kỹ thuật xử lý chất béo (gạn, rửa và ly
tâm) ở 20 bệnh nhân. Hút mỡ tiêu chuẩn với
một cannula đầu tù ba lỗ với đường kính 3
mm và chiều dài 20 cm đã được thực hiện,
tạo ra áp lực âm nhẹ chắc chắn bằng cách
sử dụng một ống tiêm Luerlock 10 ml. Mô
mỡ hút được chia thành ba mẫu, mỗi mẫu
được xử lý bằng cách gạn, rửa hoặc ly tâm.
Sau khi xử lý, ba lớp cơ bản được quan sát
thấy trong tất cả các mẫu: lớp trên, bao gồm
một chất lỏng nhờn; lớp trung tâm, bao gồm
một mô màu vàng chắc hơn; và lớp dưới, bao
gồm chủ yếu là máu, dịch thấm hoặc chất
lỏng rửa. Gần đây, các hạt nhỏ, có thể được
nhận ra ở dưới cùng của mẫu ly tâm.
Gạn lọc là phương pháp duy nhất duy trì
tính toàn vẹn và số lượng tế bào mỡ, trong khi
ly tâm phá hủy phần lớn. Việc rửa cũng làm
giảm số lượng tế bào có nhân nguyên vẹn,
nhưng kết quả tốt hơn so với việc thu được
bằng cách ly tâm. Tuy nhiên, rửa và ly tâm
làm giảm hơn 50% số lượng tế bào máu so
với mẫu đã gạn lọc.
Lớp giữa hoặc trung tâm của mẫu ly tâm
cho thấy số lượng tế bào gốc trưởng thành
(hoặc ASC) ít nhất, không có hiện tượng giãn
nở trong ống nghiệm sau 10 ngày nuôi cấy.
Tuy nhiên, các hạt nhỏ cho thấy số lượng
ASC lớn nhất, tập trung ở đáy ống tiêm do
lực ly tâm. Kết luận của Pitanguy và cộng sự
là lớp giữa của mẫu ly tâm là một mô đặc
bao gồm chủ yếu là các tế bào mỡ bị phá
hủy, không thể sống được, với rất ít ASC.
Mặt khác, lớp giữa của mỡ đã rửa sạch chứa
nhiều tế bào gốc trung mô (MSC) hơn đáng
kể so với lớp được gạn lọc và lớp giữa mẫu ly
tâm. Do đó, các tế bào mỡ hút ra đã rửa sạch
đại diện cho lựa chọn ghép tốt hơn: chúng
chủ yếu bao gồm các tế bào mỡ nguyên vẹn
được loại bỏ hầu hết các tế bào máu ngoại
vi, với một số lượng lớn các tế bào nội mô và
ADC so với các mẫu đã được gạn lọc, chứa
một lượng lớn máu và rất ít ADC. Kết luận
này một phần đã được xác nhận bởi Kolle và
cộng sự vào năm 2013 trong thử nghiệm mù
ba, có đối chứng với giả dược của họ, được
công bố trên Lancet. Họ so sánh khả năng
sống sót của các mô ghép mỡ không được
làm giàu được xử lý bằng kỹ thuật Coleman
với chất béo được làm giàu bằng tế bào gốc
có nguồn gốc từ mô mỡ tự thân (ASC). Chất
béo được xử lý bằng kỹ thuật Coleman giữ
lại ít hơn 17% thể tích ban đầu của bolus, so
với 80% thu được trong trường hợp chất béo
được làm giàu.
Hoareau và cộng sự nhận thấy rằng ly
tâm tiêu chuẩn (900g trong 3 phút) dẫn đến
tỷ lệ tế bào mỡ chết cao. Trong một mô hình
chuột, họ đã chứng minh một tỷ lệ cao đáng
kể các nang dầu trong số các mảnh ghép đã
được gạn lọc và ly tâm tiêu chuẩn. Plaff và
cộng sự đã kiểm tra số lượng tế bào gốc có
nguồn gốc từ mỡ trong các mẫu hút mỡ được
xử lý bằng phương pháp Rolling Telfa so với
ly tâm trong 3 phút ở tốc độ 1500 vòng/phút.
Họ đánh giá rằng mảnh ghép Telfa dẫn đến
số lượng ASC và tế bào quan trọng cao hơn
nhiều.
Salinas cộng sự so sánh lăn tấm gạc với
ly tâm. Tất cả các mẫu được rửa sạch bằng
nước muối thông thường trước khi được
cuộn trên gạc Telfa hoặc ly tâm. Họ chứng
minh rằng các kỹ thuật ly tâm tiêu chuẩn
(1200 g trong 3 phút) tương đương với việc
lăn gạc khi loại bỏ nước khỏi mỡ hút ra và duy
trì ADC. Ở những con chuột bach, tỷ lệ duy trì
là tương đương đối với các mảnh ghép ly tâm
và được cuộn bằng gạc.
Zhu et al. so sánh một mẫu đối chứng
(không chuẩn bị), với quá trình xử lý bằng
cách tách trọng lực, bằng cách ly tâm (như
mô tả của Coleman), và bằng cách rửa và
lọc mô đồng thời. Xem 6, 12. Mẫu cuối cùng
được xử lý bằng hệ thống Puregraft. Chất béo
được rửa hai lần bằng dung dịch Ringer’s với
tỷ lệ một thể tích dung dịch rửa với hai thể

hacklink satın al mumu模拟器 雷电模拟器 向日葵 giftcardmall/mygift giftcardmall balance mygift giftcardmall Salvobet Salvobet Giriş Salvobet Salvobet Giriş matbet matbet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Betgaranti Betgaranti Güncel Adres Betgaranti Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Fim İzle Fim İzle Giriş Fim İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Fim İzle Fim İzle Güncel Adres Fim İzle jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Giriş Casibom Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Jojobet Jojobet Giriş Jojobet Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Deneme Bonusu Film İzle Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Türkçe Dublaj Film İzle Film İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi perabet perabet giriş holiganbet holiganbet giriş Casibom Lesfillmercom Casibom Lesfillmercom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Gerbergirlcom Casibom Gerbergirlcom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Spcelectriccontrolcom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş marsbahis marsbahis giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş matbet matbet giriş matbet güncel giriş vaycasino vaycasino güncel giriş vaycasino giriş matbet matbet giriş pusulabet pusulabet giriş pusulabet pusulabet güncel giriş pusulabet giriş matbet matbet güncel giriş matbet giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Resmi Adres pusulabet pusulabet giriş pusulabet güncel giriş Fixbet Fixbet Güncel Giriş Salvobet Salvobet Giriş Salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Turk Porno Turk Porno Giriş Turk Porno casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi casibom casibom jojobet izmir escort izmir buca escort buca escort jojobet casibom holiganbet holiganbet giriş jojobet holiganbet holiganbet giriş jojobet jojobet jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş izmir escort izmir buca escort buca escort izmir escort bayan salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Giriş Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Deneme Bonusu Veren Giriş Deneme Bonusu Veren salvobet salvobet salvobet salvobet Casibom betgaranti betgaranti betgaranti matbet matbet giriş matbet matbet giriş Casibom Casibom Salvobet jojobet Salvobet Salvobet Salvobet Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Güncel Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis bahsegel Fixbet Fixbet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş 1xbet 1xbet Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Listesi Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler grandpashabet grandpashabet grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler vaycasino vaycasino giriş jojobet grandpashabet casibom Casibom Casibom Giriş casibom www.giftcards.com Marsbahis grandpashabet jojobet jojobet jojobet grandpashabet casibom jojobet Casibom Casibom Casibom Casibom Casibom Grandpashabet Grandpashabet Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Marsbahis Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Didim Escort Akbük Escort Altınkum Escort Didim Altınkum Escort grandpashabet grandpashabet giriş Casibom Fixbet Fixbet Giriş Casibom İzmir Escort İzmir eskort İzmir Escort Bayan Vip escort Adana Escort