Chương 13: Chỉnh sửa tỷ lệ trụ mũi và cánh mũi
43
E-bacsy.com
book
Đặt chất liệu nhân tạo
Dùng chất liệu nhân tạo thích hợp cho thiểu sản vùng tiền hàm hoặc trước
sống mũi (ANS). Thông qua đường mổ trong miệng dài 4 ->5 mm phía trên nướu
lợi. Thông qua đường mổ này, tiếp xúc ANS. Đưa chất liệu nhân tạo vào khoang túi
và cố định vào ANS hoặc mô mềm của vách ngăn bằng chỉ khâu tiêu dần.
Kích thước lý tưởng của chất liệu nhân tạo là 3 ->4 mm × 10 ->12 mm, với
độ dày nhỏ hơn 6 mm. Ở những bệnh nhân có da và mô mềm mỏng, nên tránh cấy
ghép dày vì có thể nhìn thấy chất liệu nhân tạo qua da. Không nên sử dụng chất liệu
nhân tạo ở những bệnh nhân bị ANS không đối xứng hoặc lệch ANS hoặc vách ngăn
đuôi.
Sau phẫu thuật này, phần sau trụ mũi sẽ nhô về phía đuôi, với tăng góc trụ
mũi-môi trên và đầu mũi xoay về phía đầu.
Ghép thanh chống trụ mũi
Thanh chống trụ mũi để tạo độ nhô đầu mũi nhưng cũng có hiệu quả cao
trong tạo độ nhô trụ mũi. Mảnh ghép đặc biệt hiệu quả đối với mũi có đầu rủ xuống
và góc trụ mũi nhọn (Hình 13.47).
Đối với phép tạo độ nhô trụ mũi, thực hiện ghép thanh chống có hiệu quả
hơn khi kết hợp với phía gần của chân trụ mũi. được Thực hiện ghép thanh chống
trụ mũi phải đủ dài để có thể tiếp xúc với ANS. Sau khi đóng đường rạch ở trụ mũi,
có thể ổn định vách ngăn màng bằng cách khâu vòng để ngăn ngừa co rút về sau.
Chương 13: Chỉnh sửa tỷ lệ trụ mũi và cánh mũi
44
E-bacsy.com
book
a
b
c
d
e
f
Hình. 13.47 Ghép thanh
chống trụ mũi để chỉnh sửa
trụ mũi co ngắn và đầu
mũi thấp. (a–c) Bệnh nhân
có sống mũi thấp, đầu mũi
thấp, trụ mũi co ngắn và góc
trụ mũi-môi trên nhọn. Bệnh
nhân đã nâng sống mũi (sil-
icone), tạo hình đầu mũi, và
tạo độ nhô trụ mũi với ghép
thanh chống trụ mũi (sụn
vách ngăn). (d–f) Ảnh sau
mổ cho thấy sống mũi cao
rõ hơn, đầu mũi, và trụ mũi
nhô ra
Chương 13: Chỉnh sửa tỷ lệ trụ mũi và cánh mũi
45
E-bacsy.com
book
Ghép thanh chống trụ mũi cải tiến
Để tăng hiệu quả của ghép thanh chống trụ mũi, có thể áp dụng sửa đổi sau
đây cho ghép thanh chống trụ mũi.
Ghép đè lên đuôi vách ngăn với ghép thanh chống trụ mũi
Đối với một trụ mũi co ngắn với vách ngăn đuôi ngắn và lõm xuống, có thể cố
định ghép sụn vào vách ngăn dưới dạng ghép đè lên 2 bên, với mảnh ghép trụ mũi
đã đặt trước đó (Hình 13.48). Vị trí cho sụn để ghép đè lên là sụn vách ngăn hay sụn
tai. Đó là thuận lợi để lại mô mềm nằm giữa mảnh ghép và thanh chống. Giữa mảnh
ghép đè và thanh chống trụ mũi, vách ngăn màng sẽ khâu lại chắc chắn bằng chỉ
khâu vòng, để ổn định độ nhô trụ mũi và giảm thiểu độ lệch của mảnh ghép thanh
chống lên hai bên của mảnh ghép đè.
Kỹ thuật này không có hiệu ứng tạo độ nhô trụ mũi nhiều nhưng sẽ sẽ tạo cho
đầu mũi di động hơn nhiều so với ghép mở rộng vách ngăn (Hình 13.49).
a
b
c
d
Hình. 13.48 Mảnh ghép đè lên vách ngăn và thanh chống trụ mũi. (a) Mảnh ghép đè
lên 2 bên tại phần sau của đuôi vách ngăn. (b–d) Thanh chống trụ mũi ở phía trước
của mảnh ghép đè.
Chương 13: Chỉnh sửa tỷ lệ trụ mũi và cánh mũi
46
E-bacsy.com
book
a
d
Hình. 13.49 Chỉnh sửa trụ mũi co ngắn bằng dùng mảnh ghép đè lên đuôi vách ngăn
và thanh chống trụ mũi. (a, b) Ảnh trước mổ. (c, d) Ảnh sau mổ
Chương 13: Chỉnh sửa tỷ lệ trụ mũi và cánh mũi
47
E-bacsy.com
book
Ghép thanh chống trụ mũi hình chữ L
Lấy sụn vách ngăn để làm thành thanh chống trụ mũi hình chữ L. Khi cố định
vào đuôi vách ngăn, chi dài của mảnh ghép đặt phía đuôi đến trụ trong. Mảnh ghép
này đồng thời tạo độ nhô đầu mũi và trụ mũi (Hình 13.50).
Hình. 13.50 Mảnh ghép thanh chống
trụ mũi hình chữ L để tạo độ nhô trụ
mũi
a
b
Chương 13: Chỉnh sửa tỷ lệ trụ mũi và cánh mũi
48
E-bacsy.com
book
Ghép thanh chống trụ mũi hình Rein đảo ngược
Trong kỹ thuật này, các mảnh ghép đè nhỏ sẽ đặt ở cả hai bên của vách ngăn
sau, và sau đó mảnh ghép thanh chống trụ mũi đặt giữa hai đầu cuối đuôi của mảnh
ghép đè (Hình 13.51).
Hình. 13.51 Ghép thanh
chống trụ mũi hình
Rein đảo ngược
Chương 13: Chỉnh sửa tỷ lệ trụ mũi và cánh mũi
49
E-bacsy.com
book
Mảnh ghép mở rộng vách ngăn
Ghép mở rộng vách ngăn được dùng để giải quyết những trụ mũi bị co ngắn
nghiêm trọng với vách ngăn đuôi ngắn và / hoặc thiếu.
Chỉ định ghép mở rộng vách ngăn cho trụ mũi co ngắn như sau:
1. Đối với mức độ co ngắn trụ mũi rất nặng
2. Trụ trong yếu với da dày
3. Sẹo co kéo nặng từ lần phẫu thuật tạo hình mũi trước đó
Mảnh ghép mở rộng vách ngăn đã mô tả trong Chương. 9. Sụn sử dụng phổ
biến nhất là sụn vách ngăn, nhưng mảnh ghép cũng có thể sử dụng sụn sườn. Nên
thực hiện phần đuôi của mảnh ghép để đạt được ANS càng nhiều càng tốt, để tạo độ
nhô đầy đủ của nền trụ mũi (Hình 13.52).
Chương 13: Chỉnh sửa tỷ lệ trụ mũi và cánh mũi
50
E-bacsy.com
book
a
b
c
d
e
f
Hình. 13.52 Tạo độ nhô
trụ mũi bằng dùng
Ghép mở rộng vách
ngăn. (a–c) Bệnh nhân
này có trụ mũi co ngắn
và đã đổi chất liệu ghép
và ghép mở rộng vách
ngăn (sụn vách ngăn)
để tạo độ nhô đầu mũi
và trụ mũi. (d–f) Ảnh
sau mổ cho thấy đầu
mũi nhô ra trụ mũi nhô
ra tự nhiên hơn
Chương 13: Chỉnh sửa tỷ lệ trụ mũi và cánh mũi
51
E-bacsy.com
book
Chỉnh sửa chân trụ mũi
Chỉnh sửa góc 2 bên của chân trụ mũi (nghĩa là như chân trụ mũi) có thể thu
hẹp nền trụ mũi rộng, di chuyển nền trụ mũi (dưới mũi) về phía đuôi, và tạo độ nhô
và xoay đầu mũi (Hình 13.53).
Để tránh vùng dưới mũi quá phồng lên, có thể cắt bỏ các mô mềm giữa 2
chân trụ trong. Ngoài ra, bóc tách phần ngoài của chân trụ mũi. Chỉnh sửa chân trụ
mũi là để tăng sự ổn định của 2 trụ trong.
Hình. 13.53 Chân trụ mũi
(Trang không có chữ)
Chương 14: Chỉnh sửa lỗ mũi và nền cánh mũi
53
E-bacsy.com
book
14
Chỉnh sửa lỗ mũi
và nền cánh mũi
Phác thảo lý tưởng của bờ cánh mũi và trụ mũi sẽ giống với một con hải cẩu
đang bay (Hình 14.1). Từ nhìn từ nền mũi, hình dạng lý tưởng của lỗ mũi là hình
bầu dục. Phác thảo của nền mũi phải giống như một hình tam giác đều từ thùy mũi
đến lỗ mũi, có tỷ lệ là 1: 2 (Hình 14.2).
Chiều rộng của nền cánh mũi phải bằng 1/5 chiều rộng khuôn mặt (Hình
14.3) và rộng hơn khoảng hoặc 2 mm so với khoảng cách giữa 2 góc mắt trong.
Hình 14.1 Bờ cánh mũi lí tưởng và trụ
mũi khi nhìn nghiêng thì trông như con
hải cẩu
Chương 14: Chỉnh sửa lỗ mũi và nền cánh mũi
54
E-bacsy.com
book
Hình 14.2 Hình dạng lỗ mũi
lí tưởng khi nhìn từ nền mũi
Hình 14.3 Chiều rộng lí tưởng của
nền cánh mũi
Chương 14: Chỉnh sửa lỗ mũi và nền cánh mũi
55
E-bacsy.com
book
Thu gọn nền cánh mũi
So với người châu Âu, nền cánh mũi ở người Hàn Quốc thường rộng hơn.
Trong số những người châu Á, lỗ mũi và cánh mũi rộng hơn đối với bệnh nhân Đông
Nam Á so với bệnh nhân Đông Á. Vì lý do này, giảm nền cánh mũi hay gặp hơn ở
những bệnh nhân từ các nước Đông Nam Á. Do sự khác biệt về giải phẫu mũi giữa
bệnh nhân châu Âu và người châu Á, phẫu thuật nền cánh mũi không thể được thực
hiện theo các tiêu chí được phát triển từ các nước phương Tây, và bất kỳ phẫu thuật
nền cánh mũi nào cũng phải phục vụ bản sắc dân tộc của bệnh nhân nhất định trong
khi đạt được mối quan hệ hài hòa giữa mũi và mặt. Trong số những người châu Á,
khoảng cách giữa 2 góc mắt trong rộng là tương đối hay gặp. Như vậy, khoảng cách
giữa 2 góc mắt trong không thể đo khoảng cách tham chiếu chính xác. Ngoài ra,
giảm nền cánh mũi có thể dẫn đến 2 bên mặt sẽ trông rộng hơn ở một bệnh nhân có
khuôn mặt rộng. Thay vì các tiêu chí tuyệt đối, nên thực hiện giảm nền cánh mũi để
đạt được sự hài hòa với phần còn lại của khuôn mặt.
Nguyên nhân và phân loại nền cánh mũi rộng
Hầu hết các trường hợp nền cánh mũi rộng là bẩm sinh. Các nguyên nhân
không bẩm sinh hay gặp của nền cánh mũi rộng và đầu mũi hếch là những trường
hợp phẫu thuật hàm bao gồm di chuyển hàm trên.
Có một số đặc điểm giải phẫu bệnh lý dẫn đến nền cánh mũi rộng (Hình 14.4):
1. Cánh mũi dài ra phía ngoài theo chiều ngang, có hoặc không có cánh mũi loe *
2. Lỗ mũi rộng
3. Nền cánh mũi dày
4. Nền trụ mũi rộng
* Cánh mũi loe được định nghĩa là phần ngoài của cánh mũi nhô lên vượt ra ngoài
rãnh cánh mũi-mặt.
Trong hầu hết các trường hợp, một nền cánh mũi rộng là sự kết hợp của các
yếu tố này (Hình 14.5), điều này cho thấy kỹ thuật mổ đã được ứng dụng.
Chương 14: Chỉnh sửa lỗ mũi và nền cánh mũi
56
E-bacsy.com
book
a
b
c
d
e
Hình 14.4 Đặc điểm giải phẫu học của nền cánh mũi rộng. (a) Bình thường. (b)
Thành ngoài cánh mũi dài với cánh mũi loe. (c) Lỗ mũi rộng. (d) Thành cánh mũi dày.
(e) Trụ mũi rộng
Chương 14: Chỉnh sửa lỗ mũi và nền cánh mũi
57
E-bacsy.com
book
Hình 14.5 Nền cánh mũi rộng kết hợp
với trần lỗ mũi rộng, cánh mũi loe, nền
cánh mũi dày.
Kỹ thuật mổ
Kỹ thuật phẫu thuật được sử dụng để giải quyết thu gọn nền cánh mũi đã xác
định bởi yếu tố nguyên nhân đã đề cập ở trên.
1. Thành ngoài cánh mũi dài theo chiều ngang có / hoặc không có cánh mũi
loe: Đây là một loại nền cánh mũi rộng thường hay gặp ở người châu Á. Chỉnh sửa
bằng cách cắt bỏ bờ ngoài của nền cánh mũi (Đường mổ Weir). Loại này thường gặp
là cánh mũi dày, sẽ yêu phải làm mỏng cánh mũi thêm nữa.
2. Giải quyết sàn lỗ mũi rộng bằng cách bớt sàn lỗ mũi.
3. Sự kết hợp của thành ngoài cnahs mũi dài (có / hoặc không có cánh mũi
loe) và sàn lỗ mũi rộng là loại hay gặp nhất của nền cánh mũi rộng, được đề cập đến
đường mổ Weir và cắt bỏ sàn lỗ mũi.
4. Nền cánh mũi dày có thể gặp đơn thuần nhưng cũng có thể gặp với nền
cánh mũi bên ngoài dài hoặc cánh mũi sa trễ. Để chỉnh sửa, thực hiện cắt bỏ hình
elip ở phần dày của phía đuôi của bờ cánh mũi.
5. Nền trụ mũi rộng giải quyết bằng cách cắt bỏ mô mềm giữa 2 chân trụ mũi
với khâu 2 chân trụ mũi lại.
Cắt bỏ phía ngoài của nền cánh mũi (Đường mổ Weir)
Thực hiện cắt bỏ đường mổ Weir cho cánh mũi loe, và cắt bỏ phía ngoài nền
cánh mũi có dạng hình nêm (Hình 14.6).
Đường mổ tốt nhất là nằm trước từ 1 ->1,5 mm so với rãnh cánh mũi-mặt,
tạo điều kiện thuận lợi để khâu vết thương. Nó tránh làm mất đi rãnh cánh mũi-
mặt, với chất lượng sẹo cũng sẽ đẹp hơn. Tuy nhiên, cuối phần đầu của vết mổ phải
càng gần với rãnh cánh mũi-mặt càng tốt để khó nhìn thấy hơn.
Rạch da xuống đến cơ nhưng không vào niêm mạc. Chiều rộng của mảnh bở
hay gặp nhất là 2->4 mm (Hình 14.7). Khi cắt bỏ quá nhiều thường dẫn đến làm mất
đi sự tự nhiên của rãnh cánh mũi-mặt (Hình 14.8).
Người đọc nên hiểu rằng kỹ thuật này sẽ làm giảm độ loe của cánh mũi mà
không giảm thực sự về chiều rộng của nền cánh mũi. Để giảm chiều rộng nền cánh
mũi, phải cắt bỏ lỗ mũi ngoài như mô tả dưới đây.
Hầu hết các trường hợp, kết quả sẹo là ít nhìn thấy. Tuy nhiên, vết sẹo có thể
để lại vết khâu hoặc vết sẹo nhấp nhô do da dầu có lỗ chân lông lớn. Dùng laser CO2
để mài mòn có thể có hiệu quả trong những trường hợp này. Khi vết sẹo lõm xuống
thì phải cần chỉnh sửa.
Chương 14: Chỉnh sửa lỗ mũi và nền cánh mũi
58
E-bacsy.com
book
Hình 14.5 Nền cánh mũi rộng kết hợp
với trần lỗ mũi rộng, cánh mũi loe, nền
cánh mũi dày.
Hình 14.6 Cắt hình nêm ở bờ ngoài
của nền cánh mũi
Chương 14: Chỉnh sửa lỗ mũi và nền cánh mũi
59
E-bacsy.com
book
a
b
c
d
e
f
g
Hình 14.7 Cắt hình nêm ở bờ ngoài nền cánh mũi. (a, b) Thiết kế hình nêm ở bờ ngoài
nền cánh mũi. (c) Ngay sau khi cắt và khâu vết thương. (d, e) Bệnh nhân này với nền
cánh mũi rộng và cánh mũi loe đã phẫu thuật tạp độ nhô đầu mũi và cắt hình nêm ở
bờ ngoài nền cánh mũi. (f, g) Ảnh bệnh nhân sau mổ.
Chương 14: Chỉnh sửa lỗ mũi và nền cánh mũi
60
E-bacsy.com
book
Hình 14.8 Rãnh cánh mũi- mặt tự
nhiên đã mất do cắt bỏ quá nhiều
Chương 14: Chỉnh sửa lỗ mũi và nền cánh mũi
61
E-bacsy.com
book
Cắt bỏ nền lỗ mũi
Kỹ thuật này làm giảm chiều rộng nền cánh mũi bằng cách cắt bỏ lỗ mũi
ngoài và sàn lỗ mũi ngoài (Hình 14.9). Tuy nhiên, điều này không giải quyết được
cánh mũi loe.
Khu vực cắt bỏ được đánh dấu dọc theo lỗ mũi ngoài. Các đường mổ phải
nằm ở phần nằm ngang của lỗ mũi, bảo tồn góc ngoài của lỗ mũi và để ngăn ngừa
biến dạng rãnh của lỗ mũi hoặc biến dạng chữ Q (Hình 14.10). Hơn nữa, nên thiết
kế cắt bỏ hình tam giác ở bên trong sàn lỗ mũi. Số lượng cắt bỏ theo kế hoạch đã
định trước và thực hiện đối xứng 2 bên bằng cách sử dụng thước cặp để đo. Để
tránh hình thành tai chó, nên mở rộng vết mổ vào rãnh cánh mũi-mặt. Phần mở
rộng này sẽ trở nên dài hơn đối với lượng cắt bỏ lỗ mũi lớn hơn.
Thực hiện mổ bằng lưỡi dao số 15 và cắt bỏ sàn lỗ mũi thừa. Cắt và bóc tách
vạt ngoài ra và nhâc lên, giải phóng các cơ cánh mũi. Khâu 2 mũi bên trong để kéo
các vạt ngoài gần nhau hơn. Điều này làm giảm sức căng ở các cạnh da, thu lại mô
dưới da và nâng vết mổ lên để ngăn ngừa vết mổ lõm xuống. Nó cũng giảm thiểu
nguy cơ biến dạng rãnh ở ngã ba của cánh mũi và lỗ mũi. Khâu đường mổ ở rãnh
cánh mũi-mặt bằng chỉ khâu dưới da và chỉ khâu da với nylon 6-0. Chỉ khâu sàn lỗ
mũi thực hiện bằng chỉ khâu Vicryl 6-0; đặc biệt thận trọng để vết mổ không bị lõm
xuống. Điều này rất quan trọng trong việc ngăn chặn sự lõm xuống của vết mổ ở khu
vực này và biến dạng chữ Q.
Hình 14.9 Cắt nền lỗ mũi
Hình 14.10 Biến dạng chữ Q bên trái
của lỗ mũi sau khi thu gọn nền cánh
mũi
Chương 14: Chỉnh sửa lỗ mũi và nền cánh mũi
62
E-bacsy.com
book
Kỹ thuật kết hợp: Cắt hình nêm của nền cánh mũi ngoài và cắt bỏ nền lỗ mũi
Thường hay gặp là cả cánh mũi loe và sàn lỗ mũi rộng sẽ yêu cầu cắt bỏ hình
nêm ở nền cánh mũi ngoài và thu gọn nền lỗ mũi (Hình 14.11). Kỹ thuật này kết hợp
cắt bỏ hình nêm cánh mũi ngoài làm giảm độ loe của cánh mũi, với cắt bỏ nền lỗ mũi
bên trong ở gần cánh mũi, do đó làm giảm chiều rộng của nền mũi (Hình 14.12).
Sử dụng 2 mũi khâu sâu bên trong để đẩy 2 vạt da lại với nhau, làm giảm sức
căng trên các cạnh da. Vết rạch da tại rãnh cánh mũi-mặt sẽ khâu lại bằng chỉ khâu
dưới da và chỉ khâu da. Khâu sàn lỗ mũi bằng phương pháp được mô tả ở trên, để
tránh lõm vết mổ.
Ở hầu hết các bệnh nhân Đông Nam Á, việc thu gọn nền cánh mũi sẽ đòi hỏi
sự kết hợp các kỹ thuật cụ thể này (Hình 14.13 và 14.14).
Hình 14.11 Cắt hình nêm ở bờ
ngoài nền cánh mũi và cắt nền lỗ
mũi.
Chương 14: Chỉnh sửa lỗ mũi và nền cánh mũi
63
E-bacsy.com
book
a
b
c
d
e
f
g
h
i
j
k
Hình 14.12 Cắt hình nêm ở phía ngoài nền cánh mũi với cắt nền lỗ mũi. (a, b) Thiết
kế trước mổ. (c) Cắt phía ngoài nền cánh mũi và nền lỗ mũi. (d) Khâu kéo 2 vạt cánh
mũi lại với nhau. (e) Cắt tỉa vạt. (f) Khâu vết mổ dưới da bằng chỉ 6-0 Vicryl và khâu
da bằng chỉ 6-0 nylon. (g) Vết thương ở sàn lỗ mũi sẽ khâu lộn ra để phòng vết sẹo bị
lõm xuống. (h, i) Ảnh trước mổ. (j, k) Ảnh sau mổ
Chương 14: Chỉnh sửa lỗ mũi và nền cánh mũi
64
E-bacsy.com
book
a
c
b
d
Hình 14.13 Thu gọn nền cánh mũi và nền lỗ mũi. (a, b) Bệnh nhân này có nền cánh
mũi rộng và đã cắt phía ngoài nền cánh mũi và cắt nền lỗ mũi, thêm vào đó là độn
sống mũi bằng implant và tạo hình đầu mũi (Khâu liên vòm, khâu ngang trụ ngoài,
ghép độn tai). (c, d) Ảnh sau mổ
Chương 14: Chỉnh sửa lỗ mũi và nền cánh mũi
65
E-bacsy.com
book
a
b
c
d
Hình 14.14 Thu gọn nền cánh mũi và nền lỗ mũi. (a, b) Bệnh nhân này có nền cánh
mũi rộng và co ngắn cánh mũi, đã cắt hình nêm ở nền ngoài cánh mũi và cắt nền lỗ
mũi và ghép bờ cánh mũi, độn sống mũi (silicone implant), tạo hình đầu mũi (làm
ngắn phần đuôi vách ngăn, ghé thanh chống trụ mũi, và ghép độn sụn vách ngăn). (c,
d) Ảnh sau mổ cho thấy đã giảm độ rộng nền cánh mũi và cải thiện co ngắn cánh mũi
Chương 14: Chỉnh sửa lỗ mũi và nền cánh mũi
66
E-bacsy.com
book
Làm mỏng nền cánh mũi dày
Để chỉnh sửa cánh mũi dày, thực hiện một vết mổ hình elip ở phần dày của
phía đuôi của nền cánh mũi (Hình 14.15). Cắt bỏ da và mô dưới da trong thành lỗ
mũi. Thực hiện cắt bỏ tổ chức dưới da rộng và sâu để có kết quả tốt hơn. Dùng tấm
silicon áp dụng ở bên ngoài và bên trong để ép không gian chết ở giữa vết mổ.
Quy trình này thường thực hiện cùng với thu gọn nền lỗ mũi hoặc thu gọn
nền cánh mũi ngoài (Hình 14.16).
Hình 14.15 Thiết kế phẫu thuật
làm mỏng nền cánh mũi và thu gọn
cánh mũi ngoài
Chương 14: Chỉnh sửa lỗ mũi và nền cánh mũi
67
E-bacsy.com
book
a
b
c
d
e
Hình 14.16 Nền cánh mũi dày thường gặp đi kèm với lỗ mũi hình tam giác ngược.
Bệnh nhân có nền cánh mũi dày, làm mỏng nền cánh mũi. Bệnh nhân này có nền cánh
mũi dày, cánh mũi loe, và lỗ mũi hình tam giác ngược (A) Thu gọn nền cánh mũi
ngoài, làm mỏng nền cánh mũi (B, C, D), và tạo hình đầu mũi với thanh chống trụ mũi.
Ảnh sau moorcho thấy hình dạng lỗ mũi và nền cánh mũi (E)
Chương 14: Chỉnh sửa lỗ mũi và nền cánh mũi
68
E-bacsy.com
book
Khâu 2 cánh mũi
Kỹ thuật khâu này sử dụng chỉ khâu không tiêu thụ để giảm chiều rộng cánh
mũi mà không cần cắt bỏ mô (Hình 14.17). Đó là một kỹ thuật đơn giản không để
lại sẹo. Tuy nhiên, nhược điểm lớn của kỹ thuật này là tỷ lệ tái phát cao.
Hình 14.17 Khâu cánh mũi
Chương 14: Chỉnh sửa lỗ mũi và nền cánh mũi
69
E-bacsy.com
book
Bóc tách và chuyển cánh mũi vào trong (trung gian hóa cánh mũi)
Thông thường, nền cánh mũi phần đuôi rộng hơn so với phần đầu (Hình
14.18). Do đó, trục cánh mũi định hướng xuống dưới và ra ngoài. Nếu trục cánh
mũi định hướng thẳng đứng (Hình 14.19) cần cắt bỏ cánh mũi, thì lúc này trục cánh
mũi có khả năng định hướng xuống dưới và vào trong hơn, được gọi là biến dạng
pin bowling. Để tránh sự biến dạng này, nên thu hẹp cả hai vùng đầu và đuôi. Điều
này thực hiện bằng cách bóc tách cánh mũi với chuyển cánh mũi vào trong (Hình
14.20).
Báo cáo của Santana và cộng sự, kỹ thuật này rất hữu ích cho việc giảm nền
cánh mũi ở những chiếc mũi có trục cánh mũi định hướng theo chiều dọc và làm
giảm cả bên ngoài ở phần đầu và đuôi của cánh mũi. Kỹ thuật tách cánh mũi ra khỏi
xương hàm trên. Giải phóng cánh mũi và di chuyển chúng vào phía trong và khâu
vào bên mặt trong cánh mũi.
Hình 14.18 Các loại trục cánh mũi. (a) Trục cánh mũi bình thường là xuống dưới
và ra ngoài. (b) Trục cánh mũi thẳng đứng. (c) Trục cánh mũi xuống dưới vào trong
(biến dạng bowling pin)
a
b
c
Chương 14: Chỉnh sửa lỗ mũi và nền cánh mũi
70
E-bacsy.com
book
Hình 14.19 Bệnh nhân có trục cánh mũi định
hướng thẳng đứng
Hình 14.20 Giải phóng cánh mũi với trung gian hóa. Giải phóng cánh mũi bao gồm
phần màng xương trước xương hàm trên và dây chẳng tháp (trên, trái), phần sau
màng xương tới bờ xương tháp mũi (vòm mũi) (trên, bên phải), và tổ chức bờ ngang
xương tháp mũi (dưới, bên trái). Dùng kim có chỉ 3-0 polydioxanone khâu nhấc phần
da của 1 bên vết mổ, chuyển sang bên khác, nhấc da lên, và quay lại vị trí ban đầu nơi
mối chỉ buột lại (dưới, phải) (mô tả bỡi Freeman MB, Hsu C, Elyassnia D, Reddy V. Na-
sal base reduction: a treatment algorithm including ala release with medialization.
Plast Reconstr Surg. Feb 2009;123(2):716-725)
Chương 14: Chỉnh sửa lỗ mũi và nền cánh mũi
71
E-bacsy.com
book
Joseph đã nâng màng xương lên và cài vào đường rạch da tại ngã ba cánh
mũi-lỗ mũi ngoài. Giải phóng cánh mũi từ màng xương của trước xương hàm trên
(bao gồm dây chằng tháp), sau màng xương đến bờ xương tháp mũi và các tổ chức
nằm ngang bờ xương. Giải phóng các mô mềm ra khỏi phần trước xương hàm trên
khoảng 2->3 cm so với bờ xương tháp. Nâng và đẩy cánh mũi vào trong để tất cả các
mô sợi sẽ bị đứt dọc theo mặt trước của phần thẳng đứng của bờ xương tháp. Điều
này sẽ cho phép cánh mũi di động tự do.
Khâu chỉ giữa 2 cánh mũi bằng nylon 2-0, để duy trì di động vào trong của
toàn bộ nền cánh mũi.
Tùy thuộc vào mũi, kỹ thuật này có thể thực hiện độc lập hoặc kết hợp với các
kỹ thuật khác.
Thu gọn nền cánh mũi cũng có thể làm biến dạng pin bowling bẩm sinh (Hình
14.21). Ở một bệnh nhân bị biến dạng này, thì không nên tiến hành cắt bỏ nền cánh
mũi cho dù bệnh nhân muốn thực hiện kỹ thuật. Bóc tách cánh mũi và khâu lạ 2
cánh mũi (giữa phần đầu của nền cánh mũi) đã đề cập ở trên là giải pháp thích hợp
hơn.
Hình 14.21 Biến dạng bowling
pin
Chương 14: Chỉnh sửa lỗ mũi và nền cánh mũi
72
E-bacsy.com
book
Hiệu quả của tạo độ nhô đầu mũi ở nền cánh mũi rộng
Độ nhô đầu mũi có thể làm giảm chiều rộng nền cánh mũi hoặc tạo cảm giác
về giảm chiều rộng cánh mũi (Hình 14.22). Nếu một bệnh nhân yêu cầu cả tạo độ
nhô đầu mũi và thu gọn nền cánh mũi, thì thực hiện tạo độ nhô đầu mũi trước sau
đó mới thu gọn nền cánh mũi.
Hình 14.22 Hiệu quả của tạo độ nhô đầu trên nền cánh mũi rộng. (a–c) Bệnh nhân
này có nền cánh mũi rộng và đầu mũi rủ xuống, đã phẫu thuật tạo độ nhô đầu mũi với
thanh chống trụ mũi bằng sụn vách ngăn. (c–e) 5 tuần sau phẫu thuật, nền cánh mũi
cô ta ít rông hơn, như thể là cô ta đã thu gọn nền cánh mũi
a
b
c
d
e
f
Chương 14: Chỉnh sửa lỗ mũi và nền cánh mũi
73
E-bacsy.com
book
Tác dụng của thu gọn nền cánh mũi trên đầu mũi và bờ cánh mũi
Khi giảm số lượng lớn nền cánh mũi có thể làm giảm nhẹ chiều cao đầu mũi.
Giảm nền cánh mũi có thể cải thiện một ít co ngắn cánh mũi (Hình 14.23). Thu gọn
sàn lỗ mũi sẽ làm trung gian hóa đoạn trụ ngoài, sẽ làm cho bờ cánh mũi di chuyển
về phía đuôi.
a
b
c
d
e
f
Hình 14.23 Hiệu quả của thu gọn nền cánh mũi trên bờ cánh mũi. (a–d) Bệnh nhân
này đã thu gọn nền cánh mũi. (e, f) 5 tháng sau phẫu thuật, cánh mũi co ngắn đã cải
thiện.
Chương 14: Chỉnh sửa lỗ mũi và nền cánh mũi
74
E-bacsy.com
book
Chỉnh sửa nền cánh mũi hẹp
Nền cánh mũi hẹp có thể là nguyên nhân bẩm sinh, chấn thương, nhiễm
trùng, cắt bỏ quá mức nền cánh mũi / lỗ mũi trong quá trình phẫu thuật tạo hình
mũi trước đó và tạo độ nhô đầu mũi quá nhiều bằng kỹ thuật treo sụn cánh lớn,
chẳng hạn như ghép thanh chống trụ mũi hay ghép mở rộng vách ngăn .
Nếu nền cánh mũi hẹp do tạo hình độ nhô đầu mũi quá mức trước đó, việc
hạ thấp đầu mũi có thể dễ dàng khôi phục về chiều rộng bình thường của nền cánh
mũi.
Các nguyên nhân khác của nền cánh mũi hẹp có thể chỉnh sửa bằng cách
mảnh ghép phức hợp hoặc với vạt đảo nền cánh mũi. Constantian đã thiết kế vạt
đảo như một hình lưỡi liềm bên cạnh nền cánh mũi. Nâng vat da với tổ chức dưới
da và các mạch máu xuyên có thể điều chỉnh lỗ mũi hẹp và định vị lại nền cánh mũi.
Chỉnh sửa nền cánh sai lệch phía đầu
Nếu nền cánh mũi rộng với sai lệch phía đầu, di chuyển nền cánh mũi về phía
đuôi và trung gian hóa. Tuy nhiên, nếu nền cánh mũi không rộng nhưng có sai lệch
nằm về phía đầu, thực hiện việc hạ thấp nền cánh mũi bằng cách cắt bỏ hình lưỡi
liềm của da môi trên nằm bên dưới nền cánh mũi, khi khâu vết mổ sẽ kéo nền cánh
mũi một cánh rõ ràng (Hình 14.24) .
Hình 14.24 Chỉnh sửa nền cánh mũi
sai lệch phía đầu
Chương 14: Chỉnh sửa lỗ mũi và nền cánh mũi
75
E-bacsy.com
book
Chỉnh sửa nền cánh mũi sai lệch phía đuôi
Nền cánh mũi sai lệch phía đuôi được điều chỉnh sau khi cắt bỏ hình elip
phần trên của rãnh cánh mũi-mặt (Hình 14.25).
Hình 14.25 Chỉnh sửa nền cánh
mũi sai lệch về phía đuôi
Chương 14: Chỉnh sửa lỗ mũi và nền cánh mũi
76
E-bacsy.com
book
Chỉnh sửa hình dạng lỗ mũi xấu
Nhìn từ giữa mặt, lỗ mũi phải có hình tam giác đều, và chiều cao của thùy
dưới đỉnh bằng 1/3 phần ba khoảng cách từ nền cánh mũi đến đỉnh mũi (Hình
14.2). Sự hài hòa này giữa lỗ mũi và thùy dưới đỉnh là điều cần thiết cho thẩm mỹ
của đỉnh mũi.
Lỗ mũi ngắn
Một lỗ mũi ngắn không tương xứng liên quan đến chiều dài thùy mũi sẽ trông
mất cân bằng và không hài hòa khi nhìn từ nền mũi.
Bệnh lý của lỗ mũi ngắn nằm dọc với trụ mũi ngắn và sụn cánh lớn nhỏ (Hình
14.26). Đối với trường hợp có lỗ mũi ngắn và đầu mũi thấp, ghép độn hay ghép chèn
lên đầu mũi sẽ là nguyên nhân gây ra sự khác biệt giữa chiều dài lỗ mũi và chiều cao
đầu mũi. Trong trường hợp như vậy, nên kéo dài thêm lỗ mũi ngắn ngoài việc điều
chỉnh chiều cao của đầu mũi.
Các kỹ thuật sau đây làm tăng chiều dài lỗ mũi:
1. Trung gian hóa trụ ngoài.
2. Khâu chân trụ mũi.
3. Ghép bờ cánh mũi.
4. Khâu treo toàn bộ sụn cánh lớn: ghép thanh chống trụ mũi loại cố định,
ghép thanh chống trụ mũi hình chữ L, hoặc ghép mở rộng vách ngăn.
5. Cắt bỏ một phần lớp độn hình tam giác thừa: Điều này mang lại hiệu quả
kéo dài lỗ mũi rất tốt.
Những trường hợp có lớp độn hình tam giác thừa, đỉnh lỗ mũi nằm xa bờ
vòm mũi. Loại bỏ một phần mô dư thừa này có thể làm tăng chiều cao lỗ mũi. Trước
đây, vết mổ vào tam giác cho là gây ra vết sẹo lõm và các kỹ thuật liên quan đến tam
giác mềm đã gây nhiều tranh cãi. Tuy nhiên, Guyuron đã báo cáo rằng việc cắt bỏ
một phần lớp độn tam giác mềm và khâu 2 bờ cánh mũi gần lại nhau sẽ nâng vòm
đỉnh lỗ mũi và kéo dài lỗ mũi (Hình 14.27).
Thực hiện cắt bỏ lớp đệm tam giác dư thừa là bước cuối cùng sau khi tất cả
các kỹ thuật khác đã thực hiện xong (ví dụ, khâu giữa vòm, khâu liên vòm, trung
gian trụ ngoài, hoặc ghép thanh chống trụ mũi). Dùng kéo iris để cắt bỏ lớp tổ chức
độn tam giác hình lưỡi liềm được, và sau đó bờ cánh mũi sẽ khâu gần lại với nhau.
Cắt bỏ Số lượng hạn chế vì cắt bỏ quá nhiều có thể dẫn đến lỗ mũi bị hếch, trong khi
cắt bỏ bảo tồn cho phép cắt bỏ thêm.
Trường hợp mũi có nền cánh mũi rộng và lỗ mũi ngắn, phải thực hiện đồng
thời thu gọn nền cánh mũi với kỹ thuật kéo dài lỗ mũi để đạt được kết quả thẩm mỹ
(Hình 14.28).
Chương 14: Chỉnh sửa lỗ mũi và nền cánh mũi
77
E-bacsy.com
book
Hình 14.26 Lỗ mũi ngắn với sụn cánh
lớn nhỏ, trụ mũi ngắn, thừa tổ chức độn
tam giác
Hình 14.27 Cắt 1 phần tổ chức phần
mềm vùng tam giác
a
b
Hình 14.28 Lỗ mũi ngắn với nền cánh mũi rộng đã chỉnh sửa bằng cách kéo dài lỗ
mũi cũng như thu gọn nền cánh mũi
Chương 14: Chỉnh sửa lỗ mũi và nền cánh mũi
78
E-bacsy.com
book
Lỗ mũi nhỏ
Lỗ mũi nhỏ nguyên phát không chỉ hay gặp thường phàn nàn thẩm mỹ mà
còn có thể là một nguyên nhân cho vấn đề chức năng đường thở. Lỗ mũi nhỏ là
nguyên nhân do sụn cánh lớn nhỏ, bờ cánh mũi dày và / hoặc chân trụ mũi nhô
ra phía ngoài quá nhiều. Vấn đề được xác định bằng cách kéo dài chiều cao lỗ mũi
(ghép thanh chống trụ mũi hoặc ghép mở rộng vách ngăn), làm mỏng bờ cánh mũi
và / hoặc khâu ngang 2 trụ mũi .
Lỗ mũi có hình tam giác ngược
Hình dạng lỗ mũi bất thường bẩm sinh này hiếm khi xảy ra ở người châu Á. Ví
dụ điển hình nhất là lỗ mũi hình tam giác ngược, thường đi kèm với nền cánh mũi
dày và cánh mũi co ngắn (Hình 14.29).
Chỉnh sửa biến dạng này bao gồm tăng chiều cao lỗ mũi và hạ thấp bờ cánh
mũi. Chiều cao lỗ mũi sẽ tăng lên bằng cách sử dụng kết hợp các kỹ thuật đã đề cập
ở trên để điều chỉnh lỗ mũi ngắn. Ghép bờ cánh mũi có thể sử dụng để hạ thấp bờ
cánh mũi (Hình 14.30).
Hình 14.29 Lỗ mũi hình tam giác
ngược
Chương 14: Chỉnh sửa lỗ mũi và nền cánh mũi
79
E-bacsy.com
book
a
b
c
d
Hình 14.30 Chỉnh sửa lỗ mũi hình tam giác ngược. (a, b) Bệnh nhân này có lỗ mũi
ngắn và đồng thời có lỗ mũi hình tam giác ngược, đã phẫu thuật ghép mở rộng vách
ngăn và ghép bờ cánh mũi bằng sụn vách ngăn. (c, d) 5 tháng sau, lỗ mũi cho là có
hình tam giác ngay thẳng hơn với lỗ mũi ít trống hơn
Chương 15: Chỉnh sửa mũi lệch và tạo hình mũi chức năng
80
E-bacsy.com
book
15
Chỉnh sửa mũi lệch
và tạo hình mũi chức năng
Mũi lệch là sự lệch của mũi so với đường giữa thẳng đứng của khuôn mặt và
còn được gọi là mũi vẹo. Ngoài vấn đề thẩm mỹ, nó có thể dẫn đến các vấn đề chức
năng bao gồm tắc nghẽn mũi.
Để chỉnh sửa mũi lệch thành công, người phẫu thuật viên phải hiểu cấu trúc
giải phẫu và sinh lý của mũi. Anh ấy / cô ấy phải có một đánh giá chính xác bệnh
nhân trước phẫu thuật và có kinh nghiệm trong các kỹ thuật tạo hình mũi. Bởi vì
điều này, chỉnh sửa mũi lệch là một trong những lĩnh vực khó khăn hơn trong lĩnh
vực phẫu thuật tạo hình mũi.
Nguyên nhân gây lệch mũi
Chấn thương
Vị trí phổ biến nhất của gãy xương mặt là xương mũi. Hầu hết các trường hợp
mũi lệch là do chấn thương xương mũi.
Biến dạng mũi thường bị lệch là rõ ràng sau khi gãy xương mũi do chấn
thương, gãy vách ngăn hoặc trật khớp từ mào xương hàm trên. Tuy nhiên, trong
những trường hợp hiếm gặp, lệch mũi có thể không dễ thấy ngay sau khi bị chấn
thương vùng mặt. Nhưng chấn thương mô, sự phát triển của xơ hóa và sẹo co rút
làm tăng số lượng lệch trong quá trình vài tháng hoặc vài năm sau đó. Điều này đặc
biệt là trường hợp bệnh nhân có tiền sử tác động chấn thương đến phần phát triển
vách ngăn ngay từ khi còn nhỏ.
Ngoài ra, gãy hẹp xương gãy mũi có thể gây lệch dần theo thời gian. Điều này
là do giảm độ hẹp dần không chắc chắn giảm hoàn toàn và vì sự tái tạo thứ phát của
xương mũi và mô mềm.
Bệnh lí
Các vấn đề bẩm sinh và phát triển trong xương sọ và xương mặt có thể dẫn
đến mũi lệch. Ngoài ra, mũi lệch có thể gây ra bởi các nguyên nhân ít gặp hơn phá
hủy vách ngăn và mũi bên trong, chẳng hạn như bệnh u hạt Wegener, bệnh tự miễn
(ví dụ, sarcoidosis) và các bệnh truyền nhiễm (ví dụ, bệnh giang mai và HIV).
Nguyên nhân mắc phải
Phẫu thuật tạo hình mũi không thành công là nguyên nhân phổ biến khiến
mũi bị lệch. Thực hiện cắt xương không chính xác có thể dẫn đến sự bất cân xứng
của xương mũi. Điều này đặc biệt là trường hợp với phẫu thuật cắt xương không
hoàn toàn, trong đó phần phát triển xương còn sót lại cho phép xương mũi trở lại
hình dạng ban đầu. Nếu việc tái tạo xương như vậy xảy ra khác nhau đường giữa,
xương mũi kết quả sẽ không đối xứng, với tổng thể mũi trở nên lệch.
Ngay cả với phẫu thuật cắt xương chính xác, lệch vách ngăn cao hoặc phì đại xương
xoăn có thể đẩy một đoạn xương 1 bên ra ngoài và về sau gây bất đối xứng ban đầu
và dẫn đến lệch mũi một lần nữa.
Chương 15: Chỉnh sửa mũi lệch và tạo hình mũi chức năng
81
E-bacsy.com
book
Cân nhắc sinh lý bệnh và phân loại mũi lệch
Lệch mũi có thể xảy ra ở bất kỳ phần nào của cấu trúc mũi: xương mũi, sụn
mũi bên và sụn cánh lớn và vách ngăn (Hình 15.1). Trong hầu hết các trường hợp,
lệch xảy ra trong tất cả các cấu trúc này. Ngoài ra, hầu hết các mũi lệch đều đi kèm
với sự bất đối xứng của đầu mũi và lỗ mũi (Hình 15.2).
Mũi lệch có thể được phân loại theo hình dạng lệch khi nhìn thẳng mặt.
I: Lệch 1 bên (Hình 15.3)
Xương mũi và sụn mũi bên (ULC) bị lệch về cùng một phía.
II: Lệch hình chữ C (biến dạng lõm sống mũi) (Hình 15.4)
Xương mũi và ULC bị lệch theo hướng đối nhau. Lệch hình chữ C được chia
tiếp theo lệch ULC. IIa: Tất cả các ULC bị dịch chuyển sang bên đối diện với lệch
xương mũi. IIb: Phần đầu của ULC nằm ở cùng một phía của lệch xương mũi, trong
khi phần đuôi nằm ở phía đối diện.
III: Lệch hình chữ S (Hình 15.5)
Xương mũi và sụn mũi bên bị di chuyển từ đường giữa theo hình chữ S.
a
b
Hình 15.1 Mũi lệch. Mũi lệch có thể xảy ra bất cứ phần nào của cấu trúc mũi: xương
mũi, sụn mũi bên, sụn cánh lớn, và vách ngăn
Chương 15: Chỉnh sửa mũi lệch và tạo hình mũi chức năng
82
E-bacsy.com
book
a
b
Hình 15.2 Mũi lệch toàn bộ đi kèm với đầu mũi và lỗ mũi không đối xứng
a
b
Hình 15.3 Lệch 1 bên
Chương 15: Chỉnh sửa mũi lệch và tạo hình mũi chức năng
83
E-bacsy.com
book
a
b
c
Hình 15.4 Lệch hình chữ C
a
b
c
Hình 15.5 Lệch hình chữ C
Chương 15: Chỉnh sửa mũi lệch và tạo hình mũi chức năng
84
E-bacsy.com
book
IV: Chỉ lệch sụn (Hình 15.6)
Trong loại lệch này, xương tháp mũi không bị lệch chỉ bị lệch ULC.
Không phải tất cả các trường hợp mũi lệch đều có thể được mô tả chính xác
bằng cách phân loại này. Trong số các loại lệch, lệch loại C là phổ biến nhất. Ngoài
các loại đã phân loại, không đối xứng đầu mũi do lệch phần đuôi vách ngăn có thể
làm cho toàn bộ mũi có vẻ bị lệch.
Khi nhìn thẳng từ phía trước, hướng/hình dạng của lệch xương mũi không
phải lúc nào cũng trùng khớp với lệch của vách ngăn. Tuy nhiên, hướng lệch luôn
giống nhau đối với sụn mũi bên và vách ngăn sống mũi. Lệch trụ mũi trùng với lệch
phần đuôi vách ngăn và điều này xác định sự bất đối xứng trong lỗ mũi.
Một số tác giả đã đề xuất các phân loại khác nhau cho lệch vách ngăn. Tuy
nhiên, không phải mọi lệch vách ngăn đều có thể được phân loại thành một loại
duy nhất và phân loại cụ thể của lệch vách ngăn chỉ có thể làm phức tạp quá trình
ra quyết định cho kế hoạch phẫu thuật. Do đó, tác giả tin rằng lệch vách ngăn phải
được phân loại theo cách đơn giản sẽ mô tả dưới đây (Hình 15.7).
I: Sụn hoặc xương không cong: Loại này được xác định bởi một phần nhô ra ở sụn
hoặc vách xương, là nguyên nhân gây tắc nghẽn mũi (Hình 15.7a).
II: Lệch vách ngăn 1 bên không cong: Toàn bộ vách ngăn bị trật khỏi mỏm xương
hàm trên (Hình 15.7b).
III: Lệch giữa vách ngăn (Hình 15.7c)
IV: Lệch phần đuôi vách ngăn (Hình 15.7d)
IVa: Lệch phần đuôi vách ngăn không có trật khớp (Hình 15.7d), có thể như là hình
chữ C hoặc S.
IVb: Lệch phần đuôi vách ngăn với trật khớp từ ANS (Hình 15.7e)
Hình 15.6 Chỉnh lệch sụn
Chương 15: Chỉnh sửa mũi lệch và tạo hình mũi chức năng
85
E-bacsy.com
book
a
b
c
d
e
f
Hình 15.7 Phân loại lệch vách ngăn. (a) Sụn hay xương không cong. (b) Lệch vách
ngăn 1 bên không cong. (c) Lệch giữa vách ngăn. (d) Lệch phần đuôi vách ngăn không
trật khớp (hình chữ C và chữ S). (e) Lệch phần đuôi vách ngăn có trật khớp từ ANS.
(f) Lệch vách ngăn sống mũi có hay không cong mũi
Chương 15: Chỉnh sửa mũi lệch và tạo hình mũi chức năng
86
E-bacsy.com
book
V: Lệch vách ngăn có hoặc không bị cong (Hình 15.7f): trước-sau hình chữ C hoặc
hình chữ S, đầu –đuôi hình chữ C- hoặc
hình chữ S
Lệch vách ngăn có thể đi kèm với lệch ANS.
Chỉnh sửa lệch vách ngăn rất quan trọng không chỉ để khôi phục tính đối
xứng với mũi bên ngoài mà còn cần thiết để cải thiện chức năng.
Lệch vách ngăn có thể thay đổi dòng khí động học, có thể dẫn đến các triệu
chứng chức năng khác nhau. Triệu chứng phổ biến nhất là tắc nghẽn mũi. Hầu hết
các trường hợp tắc nghẽn mũi trong lệch mũi là do lệch vách ngăn. Các nguyên nhân
khác bao gồm phì đại xương xoăn, sụp van trong và sụp van ngoài. Các lệch trước và
sau phần đuôi vách ngăn có xu hướng ảnh hưởng đến luồng khí mũi đáng kể hơn so
với các lệch trong vách ngăn sau hoặc vách ngăn xương. Các khu vực trước và sau
của phần đuôi vách ngăn đại diện cho các khu vực có sức kháng lại cao nhất, và đây
là lý do tại sao các lệch nhỏ ở vùng trước vách ngăn có nhiều triệu chứng hơn các
lệch ở phía sau vách ngăn.
Các triệu chứng khác của lệch vách ngăn là ngáy, nhức đầu, chảy nước mũi,
hắt hơi, giảm âm và chảy máu cam.
Trong lệch mũi, vách ngăn là cấu trúc giải phẫu quan trọng nhất trong vấn
đề chức năng, nhưng không thể bỏ qua xương xoăn. Ba xương xoăn gắn vào thành
ngoài của khoang mũi nằm dọc theo đường dẫn khí mũi (Hình 1.58). Trong số này,
xương xoăn dươi là lớn nhất và bao gồm có xương và niêm mạc. Niêm mạc xương
xoăn thay đổi giữa phồng ra và co lại thông qua hệ thống thần kinh tự trị. Hơn 2/3
dân số có chu kỳ mũi trong đó tắc nghẽn xen kẽ giữa hai khoang mũi.
Xương xoăn dưới có chức năng điều chỉnh độ ẩm và nhiệt độ của không khí
khi hít vào. Viêm mũi dị ứng thường đi kèm với phì đại xương xoăn dưới.
Với sự hiện diện của lệch vách ngăn, xương xoăn dưới của khoang mũi đối
diện là phì đại, được gọi là phì đại bù (Hình 15.8). Trong lệch mũi, lệch vách ngăn và
phì đại xương xoăn đều góp phần vào sự tắc nghẽn mũi. Chỉnh sửa lệch vách ngăn
sẽ yêu cầu giảm đồng thời xương xoăn bị phì đại. Nếu không, việc di chuyển vách
ngăn sẽ khiến vách ngăn và xương xoăn bị phì đại sẽ gần nhau hơn, sẽ trở thành một
nguồn gây tắc nghẽn mới.
Các cấu trúc khác không thể bỏ qua trong thảo luận về tắc nghẽn mũi là van
mũi trong và van mũi ngoài. Van mũi trong được xác định bởi góc giữa vách ngăn
mũi và bờ đuôi của sụn mũi bên. Góc này là 10->15 °, đại diện cho vùng cắt ngang
hẹp nhất qua khoang mũi và đóng góp gần một nửa tổng sức cản đường thở. Lệch
vách ngăn cao và sự sụp xuống sụn mũi bên có thể góp phần làm giảm góc van mũi
trong và tắc nghẽn mũi.
Sụp van mũi ngoài không phải là điển hình của mũi lệch và được gây ra bởi
liệt mặt, chấn thương và phẫu thuật phẫu thuật tạo hình mũi thất bại (ví dụ: cắt bỏ
quá nhiều phần trụ ngoài của sụn cánh lớn, biến dạng bị chèn ép từ quá trình hoạt
động của sụn không phù hợp).
Chương 15: Chỉnh sửa mũi lệch và tạo hình mũi chức năng
87
E-bacsy.com
book
Hình 15.8 Lệch
vách ngăn với phì
đại xương xương
Chương 15: Chỉnh sửa mũi lệch và tạo hình mũi chức năng
88
E-bacsy.com
book
Đánh giá trước phẫu thuật
Khám tiền sử và thực thể
Một bệnh nhân bị lệch mũi phải đánh giá về tiền sử chấn thương mặt và phẫu
thuật vách ngăn hoặc xoang. Tiền sử chấn thương kỹ lưỡng là thông tin về tuổi lúc
bị chấn thương, cơ chế chấn thương và hình dạng khuôn mặt trước khi bị chấn
thương.
Đánh giá chức năng mũi về các triệu chứng tắc nghẽn. Đối với bệnh nhân bị
tắc nghẽn mũi, phân biệt nguyên nhân giữa các bất thường về giải phẫu (ví dụ, lệch
vách ngăn) hoặc bệnh viêm mũi (ví dụ, viêm mũi dị ứng và nhiễm trùng xoang).
Tình trạng lệch mũi hiện tại, điều quan trọng là kiểm tra sự bất cân xứng tổng thể
của khuôn mặt. Hình ảnh lâm sàng có thể hữu ích trong đánh giá khách quan về mũi
lệch và khuôn mặt không đối xứng. Nên đánh giá mỗi bức ảnh ở vị trí cằm, vị trí của
góc miệng trái và phải, vị trí của bờ viền môi, đường giữa của răng cửa trên và dưới,
và mặt phẳng tắc nghẽn.
Bệnh nhân cũng phải đánh giá có liệt một bên mặt không.
Không chỉ kiểm tra hình dạng của mũi mà còn sờ nắn để đánh giá sự đối xứng
của xương mũi và sụn, cũng như lệch chóp mũi. Nên phân biệt lệch giữa lệch thực
thể và lép 1 bên của xương mũi và sụn mũi bên.
Nhìn từ nền mũi sẽ cho phép đánh giá sự đối xứng của lỗ mũi và trật khớp
hoặc lệch ở phần đuôi sụn vách ngăn. Sử dụng dụng cụ như mỏ vịt mũi hoặc nội
soi, để kiểm tra lệch vách ngăn mũi bên trong, vách ngăn, phì đại xương xoăn, polyp
hoặc khối u. Điều này đặc biệt quan trọng ở những bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật
vách ngăn trước đó, trong đó phải đánh giá vách ngăn có thủng và dính hay không.
Không dễ dàng để đánh giá bằng cách kiểm tra đơn giản về sự không phù hợp của
van mũi trong và van mũi ngoài. Thay vào đó, nên đánh giá các vấn đề chức năng
theo cảm giác là bắt buộc. Nếu có sự nghi ngờ về chức năng van mũi thì đánh giá
bằng cách sử dụng test Cottle hoặc test Cottle cải tiến (Hình 1.69 và 1.70).
Kiểm tra X quang
Cả phim X-quang và CT đơn giản đều hữu ích trong việc đánh giá mũi lệch.
Chụp CT có thể cho thấy bất kỳ lệch vách ngăn nào và teo hay phì đại xương xoăn.
Phồng lên của sụn tai và của sụn vách ngăn thì không thể kiểm tra trực tiếp và yêu
cầu phải sử dụng hình ảnh CT.
Chương 15: Chỉnh sửa mũi lệch và tạo hình mũi chức năng
89
E-bacsy.com
book
Kế hoạch trước phẫu thuật và giải thích cho bệnh nhân
Lập kế hoạch và tư vấn trước phẫu thuật được xác định thông qua kiểm tra
và đánh giá thực thể. Bác sĩ phẫu thuật phải xác định liệu kỳ vọng của bệnh nhân
có thực tế hay không. Chỉnh sửa mũi lệch có thể đạt được mũi thẳng hoàn toàn với
sự cố gắng hoàn hảo. Với sự bất cân xứng tổng thể của khuôn mặt, việc điều chỉnh
lệch có thể không mang lại kết quả mong muốn của bệnh nhân. Nếu cần thiết, bệnh
nhân có thể yêu cầu phẫu thuật xương mặt hoặc tiêm mỡ vào mặt, và bệnh nhân
phải được biết về sự bất cân xứng tiềm ẩn trên khuôn mặt của chính mình. Bệnh
nhân cũng phải hiểu khả năng chỉnh sửa không đầy đủ và tái phát lệch mũi về sau.
Đối với phẫu thuật cắt bỏ chức năng, bác sĩ phẫu thuật phải giải thích rằng khoảng
20% bệnh nhân sẽ tiếp tục bị tắc nghẽn mũi sau phẫu thuật.
Kỹ thuật mổ mũi lệch
Mục đích của chỉnh sửa mũi lệch là cải thiện thẩm mỹ và chức năng.
Để cải thiện thẩm mỹ, tất cả các cấu trúc lệch (xương mũi, sụn mũi bên và sụn cánh
lớn) nên được chuyển từ vị trí lệch không đối xứng sang hướng đối xứng thẳng.
Để cải thiện chức năng, sự bất cân xứng ở trong mũi phải nên chỉnh sửa (lệch vách
ngăn và phì đại xương xoăn). Chỉnh sửa mũi lệch không phải là vấn đề tái định vị
xương mũi thông qua phẫu thuật cắt xương. Thay vào đó, mũi lệch cũng phải được
làm thẳng sụn mũi bên và vách ngăn để có kết quả tối ưu.
Không đối xứng ở sống mũi là gồ vách ngăn. Lệch giữa vòm (lệch sụn mũi
bên) có liên quan đến lệch vách ngăn. Sự lệch của đỉnh mũi / trụ mũi và sự bất đối
xứng của lỗ mũi thường liên quan nhất đến lệch vách ngăn. Vì tất cả những lý do
này, việc điều chỉnh lệch vách ngăn là yếu tố chính của chỉnh sửa mũi lệch.
Ngoài lệch vách ngăn, tắc nghẽn mũi còn do xương mũi bị lệch và lệch sụn mũi bên –
sụn cánh lớn. Do mối quan hệ này giữa các yếu tố bên trong và bên ngoài, điều chỉnh
thẩm mỹ và điều chỉnh chức năng không thể tách rời rõ ràng.
Chỉnh sửa mũi lệch bao gồm năm kỹ thuật sau đây:
1. Chỉnh sửa xương mũi lệch bằng phẫu thuật cắt xương
2. Chỉnh sửa lệch vách ngăn
3. Chỉnh sửa lệch sụn mũi bên bằng các thao tác trên vách ngăn mũi
4. Chỉnh sửa lệch đầu mũi và trụ mũi bằng các thao tác với sụn cánh lớn cũng như
sống mũi và vách ngăn đuôi
5. Thao tác trên xương xoăn dưới
Sử dụng tham chiếu đường giữa để chỉnh sửa mũi lệch không nên sử dụng
điểm giữa 2 lông mày mà thay vào đó nên sử dụng điểm giữa khóe mắt trong, để
tránh các vấn đề phát sinh do lông mày không đối xứng.
Chương 15: Chỉnh sửa mũi lệch và tạo hình mũi chức năng
90
E-bacsy.com
book
Quy trình và bóc tách
Phương pháp nội soi là khả thi cho các trường hợp sau:
1. Lệch nhẹ có thể chỉnh sửa bằng kỹ thuật ngụy trang.
2. Lệch nhẹ với sụn sống mũi thẳng và đầu mũi chỉ có thể c giải quyết bằng phẫu
thuật cắt xương mũi hoặc cắt bỏ niêm mạc (SMR) của sụn vách ngăn.
3. Có thể phẫu thuật cắt thành xương mũi bên trong và bên ngoài bằng phương
pháp nội soi, nhưng ghép mảnh ghép bắt cầu và khâu chỉ là rất khó đặt ở bệnh nhân
châu Á có lỗ mũi nhỏ. Phẫu thuật mổ mũi hở sẽ khuyến nghị nếu các kỹ thuật khâu
tạo hình là cần thiết cho sụn mũi bên.
Để điều chỉnh lệch vách ngăn, đường rạch qua trụ mũi sẽ cung cấp khả năng
tiếp cận bên trong mũi tốt nhất.
Phương pháp phẫu thuật tạo hình mũi hở là cần thiết cho sự lệch nghiêm
trọng cũng liên quan đến sụn sống mũi hoặc đầu mũi bị lệch nặng. Trong những
trường hợp như vậy, những lợi ích thu được từ phẫu thuật mũi hở sẽ vượt xa vết
sẹo ở trụ mũi. Mổ mũi hở thực hiện theo cách sau.
Đường mổ
Đường mổ ngang qua trụ mũi và chạy lên dọc theo bờ cánh mũi.
Bóc tách
Thực hiện bóc tách trên màng sụn và dưới màng xương. Để bóc tách tốt,
người phẫu thuật viên phải hiểu thấu đáo các đặc điểm giải phẫu của vách ngăn.
Như đã đề cập trong Chương 1, vách ngăn bao gồm sụn tứ giác, xương lá mía của
xương sàng, vòm mũi và mỏm xương hàm trên (Hình 15.9). Sụn hình tứ giác nối từ
đầu đến cuối với tấm vuông góc và vome, và được bao phủ bởi màng nhầy ở cả hai
bên. Sụn tứ giác nối tiếp với đỉnh của xương lá mía và xương vòm mũi, và được bao
phủ bỡi niêm sụn cả 2 bên. Sụ tứ giác kết nối với đỉnh xương hàm trên tại tongue-
and-groove. Tại khớp, một phần của niêm mạc sụn sẽ liên tục với niêm mạc đỉnh
của xương hàm trên, và một phần khác đi qua khớp nối và tiếp giáp với sụn tứ giác
bên đối diện (Hình 1.53). Đặc điểm chéo này của các sợi và khớp nối tongue-and-
groove sẽ gây nên bóc tách khó khăn ở khu vực này.
Đối với chỉnh sửa mũi lệch, kỹ thuật xâm nhập vào giữa 2 trụ để để lộ vách
ngăn. Nâng vạt niêm mạc-sụn lên từ 2 phía. Vạt dễ dàng nâng lên từ phía lõm của
vách ngăn. Nâng vạt lên của mặt lõm trước tiên sẽ làm giảm vết rách niêm mạc, tiếp
theo sẽ bóc tách với mặt lồi. Đối với mỗi bên, độ cao của niêm mạc sẽ bắt đầu ở phần
đuôi của vách ngăn và tiến lên theo hướng đầu. Tại khu vực bắt đầu, phải thực hiện
việc bóc tách cẩn đầu vì màng sụn bị dính rất chắc. Tiếp tục bóc tách vạt dọc theo
sống mũi về phía đầu. Tách sụn mũi bên ra khỏi vách ngăn. Tiếp tục bóc tách về phía
đầu sau về phía sống mũi và giữa vách ngăn, nơi niêm mạc dính chặt hơn vào sụn
mũi. Tiếp tục bóc tách ra trước trước về phía đỉnh xương hàm trên để giảm tối đa
thời gian bóc tách và xé rách niêm mạc mũi (Hình 4.14).
Khi có sự lệch xương, bóc tách vạt phải vượt qua chỗ lệch xương.
Chương 15: Chỉnh sửa mũi lệch và tạo hình mũi chức năng
91
E-bacsy.com
book
Xương lá mía của
xương sàng
xoang sàng
Xương mũi
Sụn mũi bên
sụn vách ngăn
ANS
Đỉnh mũi của xương
palatine
Xương vòm
họng
Đỉnh xương hàm trên
Hình 15.9 Thành phần vách ngăn
Chương 15: Chỉnh sửa mũi lệch và tạo hình mũi chức năng
92
E-bacsy.com
book
Chỉnh sửa lệch xương mũi
Kỹ thuật ngụy trang
Lệch xương mũi thường là hai bên nhưng đôi khi có thể 1 bên. Trong trường
hợp không có suy giảm chức năng, kỹ thuật ngụy trang có thể phù hợp để chỉnh sửa
1 bên và đồng thời cũng chỉnh sửa lệch nhẹ 2 bên.
Giải quyết những khác biệt ở xương mũi bằng cách đặt mảnh ghép sụn độn
(sụn vách ngăn hoặc sụn tai) ở bên cạnh phần lõm của xương mũi (Hình 15.10). Bờ
mảnh ghép được làm thon mỏng đến vát cạnh và được nghiền nát để giảm thiểu khả
năng nhìn thấy bất thường của mảnh ghép. Mảnh ghép độn cần được chèn bên dưới
màng xương để giảm thiểu khả năng nhìn thấy và di động của mảnh ghép. Thay cho
sụn, mảnh ghép có thể lấy từ fascia thái dương hoặc trung bì da, mặc dù ít khả quan
hơn do mảnh ghép teo đi theo thời gian.
Sự lồi lõm trong xương mũi bên đối diện sẽ cần phải dùng cái đục xương.
a
b
c
Hình 15.10 Kỹ thuật ngụy trang để chỉnh sửa mũi lệch ít. (a) Bên lồi của xương mũi
sẽ làm phẳng bằng đục xương, và mảnh ghép độn sụn sẽ làm đầy bên phần bị lõm của
xương mũi. (b) Bệnh nhân này có mũi lệch ít, phần lồi sống mũi nằm bên trái, phần
lõm nằm bên phải. (c) Ảnh sau mổ làm đầy xương mũi và ghép độn sụn cho thấy đủ
ngụy trang được mũi lệch
