peel hóa chất

20/11/2025 • by Bs CKI Phẫu thuật tạo hình, tái tạo và thẩm mỹ Trương Hoài Anh • botox
Ảnh bìa sách PEEL HÓA CHẤT VÀ CÁC THỦ THUẬT TRONG THẨM MỸ DA của Maria Claudia Almeida Issa và Bhertha Tamura

Giới thiệu về “PEEL HÓA CHẤT VÀ CÁC THỦ THUẬT TRONG THẨM MỸ DA”

Cuốn sách “PEEL HÓA CHẤT VÀ CÁC THỦ THUẬT TRONG THẨM MỸ DA” là một tập trong series Clinical Approach and Procedures in Cosmetic Dermatology, được biên soạn bởi các chuyên gia hàng đầu Maria Claudia Almeida Issa và Bhertha Tamura.

Cuốn sách được giới thiệu là một tài liệu có giá trị vô cùng to lớn cho những ai muốn đào sâu kiến thức trong lĩnh vực Da liễu Thẩm mỹ, đặc biệt là các thủ thuật vật lý và hóa học. Với tuổi thọ ngày càng tăng, nhu cầu làm đẹp và duy trì sự trẻ trung đang trở nên phổ biến, và các liệu pháp thẩm mỹ da liễu đang ngày càng thay thế hoặc trì hoãn nhu cầu phẫu thuật tạo hình.

Tóm tắt Nội dung

Tập sách này tập trung vào tính ứng dụng và lợi ích của Các Thủ Thuật Vật Lý và Hóa Học trong thẩm mỹ da liễu. Nội dung cốt lõi bao gồm việc thảo luận chi tiết về:

  • Các loại Lột da Hóa chất (Peelings): Bao gồm peel nông (superficial), peel trung bình (medium) và peel sâu (deep). Đây là một công cụ quan trọng và hiệu quả về chi phí trong điều trị lão hóa da do ánh nắng (photoaging).
  • Các thủ thuật khác: Liệu pháp lạnh (Cryotherapy) và Điện phẫu thuật (Electrosurgery), thường được sử dụng để loại bỏ các tổn thương không thẩm mỹ, góp phần trẻ hóa da.

Ngoài ra, cuốn sách còn đề cập đến các tiến bộ lớn trong lĩnh vực thẩm mỹ da liễu như Botulinum Exotoxin (Botox), Chất làm đầy mô mềm (Fillers), Laser da và các quy trình dựa trên nguồn sáng, cung cấp kiến thức toàn diện về chỉ định, chống chỉ định, biến chứng và cách xử lý biến chứng của các thủ thuật này.

Đối tượng Độc giả

Cuốn sách được chuẩn bị như một “bách khoa toàn thư” hoàn chỉnh và là hướng dẫn trong thẩm mỹ da liễu, cực kỳ hữu ích cho cả những người đã làm việc trong lĩnh vực này và những người mới bắt đầu.

Trang: / 272
Trang 1 Trang 2 Trang 3
📖 Xem bản dịch / Nội dung văn bản

239
Ứng dụng Cryotherapy trong thẩm mỹ

U hạt sinh mủ
Vĩnh viễn

Giảm sắc tố

Mất sắc tố

Co kéo

Làm sâu cánh mũi hoặc cánh tai

Rụng tóc

Biến dạng móng

Sẹo teo

Sẹo lồi

Đau thần kinh

Tổn thương gân

Lộn mí

U niêm dịch ở môi

Phát ban mủ trợt ở da đầu

Khởi phát bạch biến
KẾT LUẬN

Cryotherapy được xem là một
lựa chọn điều trị linh hoạt cho những
tổn thương lành tính và ác tính, tiến
hành nhanh gọn, chi phí thấp và
giảm tỉ lệ bệnh hơn so với phẫu thuật
thông thường. Phương pháp này có
thể được dung nạp ở đối tượng bệnh
nhân người lớn tuổi, phụ nữ có thai.
Ngoài ra phương pháp này còn cho
kết quả có tính thẩm mỹ và có thể tiến
hành ở phòng mổ hoặc phòng khám.
Cryotherapy được sử dụng dể điều trị
rất nhiều bệnh về da khác nhau. Mục
đích của phương pháp là làm đóng
băng mô bằng nhiệt độ âm, từ đó gây
tổn thương mô bệnh, vết thương sau
đó sẽ lành lại. Có vài kĩ thuật để tiến
hành cryotherapy và việc lựa chọn kĩ
thuật nào tùy thuộc vào tổn thương
và người tiến hành thủ thuật. Những
bác sĩ chưa có kinh nghiên nên tránh
làm thủ thuật vì có thể gây tổn thương
nhiều hơn nếu làm không đúng cách
(Usatine 2015).
GHI NHỚ

1. Cryotherapy là một phương
pháp hữu ích với bệnh da có nhiều tổn
thương.

2. Có thể phối hợp với các thủ
thuật khác như lột da hóa chất và la­
ser.

3. Có thể dùng cryotherapy như
phương pháp gây tê bề mặc cho các
thủ thuật được lựa chọn.

4. Lột da lạnh (cryopeeling)
có thể áp dụng để điều trị vùng tổn
thương ung thư hóa rộng.

5. Mang lại kết quả điều trị tốt
và có tính thẩm mỹ đối với bệnh dày
sừng ánh sáng.
THAM KHẢO

Abdel-Meguid AM, Weshahy AH,
Sayed DS, Refaiy AE, Awad SM. Intrale­
sional vs. contact cryosurgery in treat­
ment of keloids: a clinical and immuno­
histochem- ical study. Int J Dermatol.
2015;54(4):468–75.

Afsar FS, Erkan CD, Karaca S.
Clinical practice trends in cryosur­
gery: a retrospective study of cutane­
ous lesions. Postepy Dermatol Alergol.
2015;32(2):88–93.

Chiarello
SE.
Cryopeeling
(extensive cryosurgery) for treat­
ment of actinic keratoses: an update
and compari- son. Dermatol Surg.
2000;26(8):728–32.

Choudhary S, Koley S, Salodkar
A. A modified surgical technique for
steatocystoma multiplex. J Cutan Aes­
thet Surg. 2010;3(1):25–8.

240
Ứng dụng Cryotherapy trong thẩm mỹ

Pasquali
P,
Sebastian
GJ,
Zouboulis CC. Cryosurgery. In: Robin­
son JK, Hanke WC, Siegel DM, Fratila A,
editors. Surgery of the skin-procedural
dermato- logy. 2nd ed. Edinburgh:
Mosby-Elsevier; 2010. p. 153–65.

Pasqualli P. Cryosurgery. In:
Nouri K, editor. Dermatologic surgery
step by step. West Sussex: Wiley-Black­
well; 2013. p. 51–7.

Petres J, Rampel R, Robins B.
Cryosurgery. In: Petres J, Rampel R,
Robins B, editors. Dermatologic sur­
gery. Berlin: Springer; 1996. p. 101–5.
Playsangam T, Dee-Ananlap S, Swan­
prakorn P. Treatment of idiopathic gut­
tate hypomelanosis with liquid.

Farhangian
ME,
Snyder
A,
Huang KE, Doerfler L, Huang WW,
Feldman SR. Cutaneous cryosurgery in
the United States. J Dermatolog Treat.
2015;24:1–4. [Epub ahead of print].

Gonçalves JC. Fractional cryo­
surgery for skin cancer.

Dermatol
Surg.
2009;35(11):1788–96.

Gurel MS, Aral BB. Effectiveness
of erbium: YAG laser and cryosurgery
in seborrheic keratoses: randomized,
prospective
intraindividual
com­
parison study. J Der- matolog Treat.
2015;26(5):477–80.

Kuflik EG, Kuflik JH. Cryosurgery.
In: Bolognia JL, Lorizo JL, Schaffer JV,
editors. Dermatology. 3rd ed. Edin­
burgh: Elsevier; 2012. p. 2283–9.
Kumarashinghe SPW. Cryotherapy in
idiopathic guttate hypomelanosis. J
Dermatol. 2004;31:437–9.

Lawrence CM, Tefler NR. Der­
matological surgery- cryosurgery. In:
Burns T, Breathnach S, Cox N, Griffiths
C, editors. Rook’s textbook of derma­
tol- ogy, vol. 1., 8th ed. Hoboken: Wiley
Blackwell; 2010. p. 77-39–42.

Van Leeuwen MC, van der Wal
MB, Bulstra AE, Galindo- Garre F, Mo­
lier J, van Zuijlen PP, van Leeuwen PA,
Niessen FB. Intralesional cryotherapy
for treatment of keloid scars: a pro­
spective study. Plast Reconstr Surg.
2015;135(2):580–9.

Panagiotopoulos A, Chasapi V,
Nikolaou V, Stavropoulos PG, Kafouros
K, Petridis A, Katsambas A. Assessment
of cryotherapy for the treatment of ver­
rucous epidermal naevi . Acta Derm Ve­
nereol. 2009;89(3):292–4.

241
Ứng dụng điện phẫu thuật trong các thủ thuật thẩm mỹ
Chương 18
Ứng dụng điện phẫu thuật trong các thủ thuật thẩm
mỹ
Sarita Martins, Emerson Lima, Mariana Lima, và Marcio Martins Lobo Jardim
TÓM TẮT

Phẫu thuật điện là một thuật
ngũ dùng để mô tả những phương
pháp trong đó điện được dùng để phẫu
thuật. Ứng dụng lâm sàng của phẫu
thuật điện là dùng để rạch vết thương,
cắt, đốt hoặc cầm máu. Chương này
sẽ đưa ra những giải thích chi tiết về
nguyên lí cơ bản của phẫu thuật điện
như kĩ thuật, tác dụng phụ, và những
biến chứng của nó như bỏng, nguy cơ
phơi nhiễm, làm hỏng máy tạo nhịp
tim, tạo khói phẫu thuật.
NỘI DUNG
• Giới thiệu
• Cơ chế hoạt động
• Lịch sử
• Phương thức phẫu thuật điện
• Ứng dụng lâm sàng của phẫu thuật
điện
• Sấy điện
• Đông điện
• Đốt bằng tia điện
• Cắt điện
• Phẫu thuật bằng điện một chiều
• Dao đốt điện
• Điện cực mổ
• Thủ thuật phẫu thuật điện
• Ứng dụng lâm sàng
U vàng (hình 4)
Mụn thịt (hình 5)
U nang nước (hình 6)
Dày sừng tuyến bã (hình 7)
U hạt sinh mủ (hình 8)
U mềm treo (skin tags) (hình 9)
Bệnh mũi sư tử (rhinophyma) (hình
10)
Nevus sùi
U tuyến mồ hôi
Sẹo trứng cá, nếp nhăn, xệ da (hình
11)
Nguy cơ
Bỏng
Tạo kênh
Nguy cơ cháy
Plume
Máy tại nhịp tim
• Vô trùng
• Ưu điểm
• Nhược điểm
• Chăm sóc sau phẫu thuật
• Tác dụng không mong muốn
• Biến chứng
• Ghi nhớ
• Tham khảo

242 Ứng dụng điện phẫu thuật trong các thủ thuật thẩm mỹ
GIỚI THIỆU

Phẫu thuật điện là thuật ngữ
dùng để mô tả những phương pháp
mà có sử dụng dòng điện trong phẫu
thuật (Bezerra và Jardim 2013; Bezer­
ra 2013; Fewkes 1992). Trong thủ
thuật này, năng lượng sinh ra từ dòng
điện được dùng để phá hủy hoặc cắt
bỏ mô cơ thể. Những dòng điện này
có thể được tạo ra từ bộ phóng điện,
ống vô tuyến, hoặc dụng cụ phẫu thuật
điện dùng pin (Popkin 1987).

Những bác sĩ da liễu đã sử dụng
phẫu thuật điện trong hơn 80 năm.
Tuy nhiên, mặc dù nhiều bác sĩ đã sử
dụng phương pháp này, nhiều người
vẫn ít công nhận những lợi ích của nó.
Ưu điểm của phương pháp này là tốn
ít thời gian, phù hợp sử dụng trong
phòng khám và trên thực hành lâm
sàng da liễu, đòi hỏi ít dụng cụ, và khả
năng dung nạp của bệnh nhân cao. Khi
sử dụng phương pháp này ở những
bệnh nhân có chỉ định hợp lí, thì có thể
mang lại kết quả có tính thẩm mỹ trong
khoảng từ chấp nhận được đến rất tốt
đối với cả tổn thương lành tính lẫn ác
tính. Trải qua nhiều năm, những thiết
bị được sử dụng trong điều trị điện
ngày càng trở nên phức tạp (Popkin
1987; Chiarello 2003).
CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG

Để sử dụng thiết bị phẫu thuật
điện, bác sĩ nên hiểu về cách thức hoạt
động của thiết bị đó. mạch điện của
tất cả những thiết bị điện thường có
chung một vài đặc điểm thiết kế cần
thiết để tạo ra được dòng điện đầu ra
(output) phù hợp với phẫu thuật điện.
Đầu tiên, dòng điện dân dụng sẽ đi qua
một máy biến áp và thay đổi hiệu điện
thế (tính bằng volt) thành mức hiệu
điện thế phù hợp với mạch điện của
thiết bị. Cuối cùng, dòng điện sẽ được
truyền đến điện cực điều trị (Chiarello
2013). Dòng điện được áp dụng điều
trị có thể là một đầu ra hoặc hai đầu
ra. Trong phẫu thuật điện một đầu ra,
một điện cực phân tán lớn (tấm nối
đất) nối với thiết bị được kê dưới bệnh
nhân và thiết bị kết nối với bệnh nhân
bằng một kim điện cực điều trị. Do đó
bệnh nhân trở thành 1 phần của mạch
điện. Đối với phẫu thuật điện một đầu
ra, bệnh nhân không phải là một phần
của mạch điện, và không cần phải kết
nối thiết bị với mặt đất (Blankenship
1979).

Tất cả máy mổ điện được cấu
tạo gồm một tay cầm kết nối với điện
cực hoạt động, một tấm điện cực phân
tán (tấm nối đất), và một máy biến áp.
Sóng vô tuyến được tạo ra đi qua điện
cực vào tổn thương, và trở lại máy mổ
điện thông qua tấm nối đất (Fewkes)
LỊCH SỬ

Trong nhiều thế kỉ trước các
bác sĩ đã sử dụng nhiệt để phá hủy
mô. Đốt nhiệt đã từng được sử dụng
bởi người Ai cập và người Hi Lạp cổ
để điều trị khối u và áp xe, cũng như
để cầm máu (Fewkes 1992). Tuy
nhiên, việc sử dụng điện để sản sinh
ra nhiệt để phá hủy đã chưa xuất hiện
cho đến giữa thế kỉ XIX khi mà dòng
điện vật lí đã được phát triển và đưa
vào ứng dụng. Claude Paquelin phát
triển phương pháp đốt điện vào năm
1975; phương pháp mới này giống với
phương pháp đốt nhiệt cổ xưa (trong
phương pháp mới này, một đầu dẫn

243
Ứng dụng điện phẫu thuật trong các thủ thuật thẩm mỹ
nhiệt tiếp xúc trực tiếp để truyền nhiệt
và đốt mô nhưng không có dòng điện
chạy qua) chỉ khác là nhiệt tạo ra từ
dòng điện mà thôi (Fewkes 1992; Seb­
ben 1988). Tuy nhiên, sự bắt đầu thực
sự của phẫu thuật điện là khi phát hiện
và phát triển dòng điện xoay chiều cao
tần. Vào năm 1891, Jacques Arsene
d’Arsonval đã phát triển mạch điện
cần thiết để tạo ra dòng điện cao tầng.
Ông nhận thấy rằng dòng điện cao tần
trên 10,000 vòng/giây (10,000 hertz)
có thể đi qua cơ thể mà không gây đau
đớn, co cơ hay gây hại gì cho cơ thể
con người (Bezerra và Jardim 2013;
Bezerra 2013; Fewkes 1992; Chiarello
2003; Matzle 2006; Pollack 2000; Seb­
ben 2000).

Vào năm 1893, Oudin đã thiết
kế ra một mạch cộng hưởng có sự
cân bằng giữa điện trở điện dung và
điện trở điện cảm; đều này cho phép
dòng điện lớn tối đa đi qua với điện
trở mạch tối thiểu. Oudin đã sử dụng
máy tạo khoảng cộng hưởng (resonat­
ed gap generator) để phá hủy nhiều
tổn thương da khác nhau. Năm 1908,
Walker de Keating- Hart đã thấy rằng
dòng điện cao tầng có thể phát ra từ
điện cực vào mô theo một vết dài như
tia sét (tia điện). Ông đã dùng tia điện
này để phá hủy ung thư da, từ đó phát
triển phương pháp đốt bằng tia điện.
Năm 1911, William Clark đã sử dụng
dòng điện có điện thế cao và cường
độ thấp để phá hủy mô đơn cực. Một
dòng điện được áp trực tiếp vào mô để
làm khô tại vùng dòng điện tiếp xúc.
Clack gọi phương pháp này là sấy điện
(Fewkes 1992; Sebben 1988; Matzle
2006; Pollack 2000). Vào năm 1908,
Doyen được cho là người đầu tiên
phát triển phương pháp đưa dòng
điện có hiệu điện thế thấp hơn, và
năng lượng cao hơn vào bệnh nhân
bằng cách đặt một tấm điện cực phía
dưới bệnh nhân. Năm 1926, William
Bovie, một nhà vật lí đã phối hợp với
Harvey Cushing là một bác sĩ phẫu
thuật để phát triển thiết bị phẫu thuật
điện tần số cao; thiết bị này cho dòng
điện ra có nhiều điện thế khác nhau
cũng như các mức độ suy giảm sóng
khác nhau. Công cụ này cũng có thể
làm đông mạch máu với nhiều kích
thước khác nhau (có hoặc không có
cắt mô) và là mẫu đầu tiên của thiết
bị mổ điện hiện đại. Sự kiện lớn tiếp
theo của sự phát triện điện phẫu thuật
là vào năm 1923 khi mà Dr. George A.
Wyeth báo cáo rằng một bác sĩ phẫu
thuật u đã dùng điện phẫu thuật để
cắt mô (Matzle 2006; Pollack 2000).
Vào năm 1932, tập đoàn Birtcher đã
thương mại thiết bị spark gap-based
HyfrecatorTM, thiết bị này sau đó đã
trở nên rất phổ biến cho các phương
pháp điều trị đông máu điện, sấy điện,
đốt bằng tia điện bằng một đầu ra hay
hai đầu ra được đặt ở các phòng khám.

Có 4 dạng sóng khác nhau trong
điện phẫu thuật:

• Được lọc toàn bộ (sóng không
suy giảm), ví dụ: cắt (cắt điện): phù
hợp để cắt và cầm máu tối thiểu.

• Hoàn toàn được chỉnh lưu
(sóng suy giảm nhẹ), ví dụ: cắt và cầm
máu (cắt điện và đông điện): phù hợp
để cắt và đông máu mô đồng thời.

• Được chỉnh lưu một phần
(sóng suy giảm vừa), ví dụ: đông máu:
phù hợp để cầm máu động mạch đang

244 Ứng dụng điện phẫu thuật trong các thủ thuật thẩm mỹ
chảy.

• Sóng spark gap (sóng suy giảm
nhiều), ví dụ, làm khô: phù hợp để sấy
khô (Chiarello 2003).
ỨNG DỤNG LÂM SÀNG CỦA PHẪU
THUẬT ĐIỆN (BẢNG 1)

Ứng dụng lâm sàng cụ thể của
các phương pháp phẫu thuật điện phụ
thuộc vào sự ưa thích và kinh nghiệm
của phẫu thuật viên; điện phẫu thuật
có thể được sử dụng trong kĩ thuật
rạch mô và được ứng dụng trong cắt
bỏ toàn bộ bề dày của bớt, kĩ thuật cạo
nhằm loại bỏ những tổn thương nông,
và trong cắt bỏ tổn thương mạch máu
như u máu và u hạt sinh mủ (Pollack
1991).
Bảng 1

Tổn thương lành tính: bớt, tăng
sản tuyến bã, bệnh mũi sư tử, u mềm
treo (skin tags), u mạch, u xơ mạch,
u xơ bì, sẩn xơ, u gai sừng, dày sừng
tuyến bã, u tuyến mồ hôi, hồ tĩnh mạch,
mụn cóc.

Tổn thương tiền ung thư: dày
sừng ánh sáng.

Tổn thương ác tính: ung thư
tế bào đáy (tổn thương nguyên phát,
kích thước nhỏ, nông, giới hạn rõ và ở
vùng ít nguy cơ).

Tổn thương thẩm mỹ: nếp nhăn
và xệ da.
SẤY ĐIỆN

Sấy điện là phương pháp phố
biến được sử dụng hầu hết bởi các
bác sĩ da liễu và là phương pháp trong
đó một điện cực tần số cao một đầu
ra được đặt tiếp xúc với mô và bắn ra
một tia điện nhỏ, tia điện này được
hấp thụ vào mô và gây ra tổn thương
nhiệt kèm ít carbon hóa hơn so với đốt
điện (Fewkes 1992; Chiarello 2003;
Sebben 1988).

Sấy điện được sử dụng đối với
những tổn thương nông như những
tổn thương chỉ liên quan đến thượng
bì. Điện cực điều trị tiếp xúc với mô
để gây mất nước và kết tủa protein.
Trong phẫu thuật điện phá hủy mô
bằng sấy điện, nếu sử dụng dòng điện
có cường độ tối thiểu thì hầu hết các
tổn thương nằm ở lớp thượng bì và do
đó ít có nguy cơ để lại sẹo. Tuy nhiên
nếu sử dụng ở cường độ mạnh thì có
thể gây kết tủa những mô ở sâu và có
khả năng để lại sẹo cao. Nhìn chung,
đôi khi phải phối hợp sấy điện với đốt
điện vì điện cực điều trị không phải
lúc nò cũng hoàn toàn tiếp xúc với mô.

Nếu điện cực được giữ cách mô
một khoảng nhỏ, tia điện được hình
thành giữa điện cực và mô- kĩ thuật
này được gọi là đốt điện và chỉ gây
phá hủy rất nông trên bề mặt vì quá
trình than hóa bề mặt giúp cách điện
cho lớp mô phía dưới (Chiarello 2003;
Bougthon 1987). Đây là phương pháp
được lựa chọn khi chỉ muốn phá hủy
các tổn thương ở bề mặt nông của
da như dày sừng ánh sáng, dày sừng
tuyến bã, u mạch nhện, u mạch cher­
ry, u mạch dày sừng, u mềm treo (skin
tags), u tuyến mồ hôi, mụn cóc phẳng,
sùi mào gà, hoặc bớt thượng bì nhỏ.
Đồng thời phương pháp này cũng có
thể giúp cầm máu với những mạch
máu nhỏ. Kỹ thuật chuẩn dùng để điều
trị các bệnh lí dày sừng bằng phương
pháp này là di chuyển điện cực chậm
trên bề mặt của tổn thương (đối với
tổn thương nhỏ) hoặc chèn trực tiếp

245
Ứng dụng điện phẫu thuật trong các thủ thuật thẩm mỹ
vào trong tổn thương (đối với những
tổn thương lớn) với dòng điện có
cường độ thấp . Sau một vài giây, tổn
thương sẽ nổi bong bóng do thượng bì
bị tách ra khỏi lớp bì, sau đó lớp này
được loại bỏ một cách dễ dàng bằng
curette hoặc đơn giản bằng cách lấy
gạc chùi đi. Điểm cuối lâm sàng trong
điều trị các tổn thương thượng bì là
xuất hiện các chấm xuất huyết, sau đó
có thể cầm máu bằng chèn ép, đông
điện, hoặc bôi chất cầm máu tại chỗ
như aluminum chloride. Nếu máu
chảy nhiều hơn chứng tỏ có thể lớp bì
đã bị tổn thương, và nguy cơ để lại sẹo
sẽ cao hơn. Với những tổn thương nhỏ
và rất nông khi điều trị với đốt điện
chỉ gây tổn thương tối thiểu những mô
xung quanh (Chiarello 2003).
Đông điện

Đông điện điện là quá trình
trong đó sử dụng một điện cực mổ tần
số cao có 2 đầu ra đặt lên hoặc đặt gần
mô từ đó dòng điện sẽ được truyền
qua mô và gây đông nhiệt mô (Fewkes
1992).

Phương pháp này được dùng
để phá hủy các mô nằm ở sâu và kích
thước lớn và để cầm máu phẫu thuật
(kẹp điểm máu chảy hoặc mạch máu).
Một dòng điện suy giảm trung bình
được gắn vào một dụng cụ 2 đầu ra
(vd: cả điện cực tập trung và phân tán
đều được sử dụng). Dòng điện nay có
cường độ cao hơn và hiệu điện thế
thấp hơn dùng cho mục đích cuối cùng
để sấy điện (Chiarello 2003; Sebben
1988). Điện cực được đặt trực tiếp
lên mô được điều trị di chuyển chậm
ngang qua tổn thương, tổn thương sau
đó sẽ bị đốt thành than. Sau đó sử
dụng curette để cạo lớp mô bị than
hóa đi.

Đông điện được sử dụng chủ
yếu để cầm máu các mạch máu lớn.
Phương pháp này được chỉ định để
điều trị mụn cóc, giãn mạch nông, lông
lạc chỗ, u hạt sinh mủ, móng quặp, u
tuyến mồ hôi, u vàng, u mạch nhỏ,
u nang nhầy, u mạch ruby, tăng sản
tuyến bã, dày sừng tuyến bã, epitheli­
oma nang lông, và ung thư tế bào đáy
nguyên phát nhỏ chưa có biến chứng
ở những vùng đặc biệt. Để điều trị ung
thư, nên lặp lại thủ thuật thêm 2 lần
để loại bỏ bất kì những khối u nhỏ lan
rộng nào. Sau khi đông điện, sử dụng
một curette nhỏ để cạo bỏ những gốc
nhỏ của khối u. Sau điều trị thường sẽ
để lại sẹo do đó phải thảo luận trước
với bệnh nhân về vấn đề này (Popkin
1987; Chiarello 2003).

Phẫu thuật viên nên lưu ý việc
sử dụng đông điện để cầm máu phẫu
thuật nên áp dụng đối với điện phẫu
thuật khô vì dòng điện sẽ được truyền
qua máu vào vùng mô rộng hơn và
hiệu quả cầm máu sẽ bị giảm và ngăn
chặn do dòng điện bị phân tán. Nên
tránh hết sức việc sử dụng dòng điện
ra cường độ mạnh vì gây đông và car­
bon hóa vùng mô lớn, làm mục mô
và biến chứng chảy máu sau đó. Một
thiết bị thay thế khác trong đông điện
là forceps 2 đầu ra; cả 2 cực của for­
ceps 2 đầu ra là những điện cực hoạt
động luân phiên. Mô được kẹp giữa 2
điện cực hoặt động sẽ nhận được dòng
điện cao, có sức tập trung. Một cách sử
dụng khác là dùng clamp hoặc forceps
để giữ mạch máu sau đó dùng điện cực
tiếp xúc trực tiếp với 2 dụng cụ này.

246 Ứng dụng điện phẫu thuật trong các thủ thuật thẩm mỹ

Kĩ thuật này không hữu ích
nhiều trong trường hợp các thiết bị
có một đầu ra do dòng điện chậm và
phân tán quá nhiều không đủ để tạo
ra lượng nhiệt cần thiết để cầm mạch
máu. Tuy nhiên, do khả năng xâm nhập
và phá hủy sâu, đông điện có thể để lại
những tổn thương không mong muốn
và hoại tử mô sâu cạnh tổn thương, do
đó sẽ ảnh hưởng đến quá trình lành
vết thương và chức năng của dây thần
kinh (Pollack 1991).
Đốt điện

Đốt điện là một thủ thuật trong
đó một điện cực phẫu thuật điện tần số
cao một đầu ra được giữ ở vị trí cách
bề mặt mô một khoảng 3-4 mm, sau
đó phóng ra một tia điện qua khoảng
không vào mô gây tổn thương và than
hóa mô.

Sự khác nhau giữa đốt điện và
sấy điện chủ yếu là vị trí đặt điện cực.
Lợi ích của đốt điện là cung cấp đủ
năng lượng để cầm máu nhưng không
gây tổn thương mô nhiều như khi tiếp
xúc trực tiếp với mô trong sấy điện và
để lại ít sẹo hơn so với phương pháp
sấy điện. Máy phát điện cường độ cao
được sử dụng để đông điện không tạo
ra đủ điện thế để tải một dòng điện
trong đốt điện Một vài đơn vị được
thêm vào một cuộn thứ cấp vào mạch
điện để tăng hiệu điện thế đến mức
đủ cao để phóng ra được dòng điện
qua khoảng không. Những tổn thương
da khi được điều trị bằng kĩ thật này
có thời gian lành nhanh hơn vì tổn
thương nhiệt ít hơn. Một lỗi thường
gặp khi dùng đốt điện là bật máy mổ
điện ở chế độ quá mạnh đến nỗi tạo ra
một tia điện thấy rõ qua khoảng
không. Nếu dòng điện quá lớn thì có
thể gây tổn thương mô quá mức và
than hóa mô. Đốt điện không có lợi
nếu ở chế độ năng lượng cao. Chỉ định
cơ bản để sử dụng dòng điện là tăng
sắc tố ánh sáng, dày sừng ánh sáng,
dày sừng tuyến bã, và peel (Pollack
1991).

Cắt điện

Cắt điện là một thủ thuật sử
dụng một điện cực 2 đầu ra có dòng
điện mạnh, tần số cao để truyền dòng
điện qua mô và cắt chúng; phương
pháp này được ứng dụng dể rạch, chia
và tách mô (Fewkes 1992). Trong cắt
điện một điện cực 2 đầu ra mang dòng
điện giảm dần nhẹ được áp vào mô.
Dòng điện có hiệu điện thế thấp và
cường độ mạnh sẽ làm lan tỏa nhiệt ra
xung quanh, làm tổn thương mô và do
đó có thêm lợi ích cầm máu ngoài tác
dụng cắt mô. Có thể chỉ cắt đơn thuần
mà không cầm máu với dòng điện
ống không giảm dần vì dòng điện này
không lan tỏa nhiệt ra xung qua và bốc
hơi mô mà không giúp cầm máu (Chi­
arello 2003). Cắt điện có thể được sử
dụng để cắt mô một cách nhanh chóng
và không cần dùng lực, hoặc cắt mà
không gây chảy máu (Chiarello 2003;
Sebben 1988,1998) gần như không
cần phải có lực tay khi mổ với phương
pháp cắt đện. Mật độ năng lượng tối
đa có thể đạt được với dòng điện tối
thiểu; giá trị mật độ năng lương tăng
khi giảm bán kính cong của điện cực
Có thể sử dụng phương pháp cắt điện
với nhiều loại điện cực khác nhau,
dạng phổ biến nhất là một vòng dây
thép nhỏ . Điện cực hình lưỡi hỏi

247
Ứng dụng điện phẫu thuật trong các thủ thuật thẩm mỹ
năng lượng cao hơn và diện tích bề
mắt lớn hơn của lưỡi dao điện khi tiếp
xúc với mô để cắt. Điện cực dạng vòng
dây thép cũng gây tổn thương nhiệt
lớn hơn so với điện cực dây thép thẳng
vì nó đòi hỏi năng lượng điện cao hơn
để tạo ra được mật độ năng lượng cắt
(Fewkers 1992; Sebben 1998; Sebben
và Davis 1988). Sự khác biệt giữa cắt
bằng dao điện và dao mổ có thể thấy
được ngay khi lần đầu sử dụng dao
điện. Ở một chế độ cài đặt năng lượng
cần thiết, dao điện đi vào mô một cách
dễ dàng như “dao nóng cắt bơ” vậy.
Tuy nhiên, cần phải làm ẩm mô trước
với gạc ẩm. Nếu có tia điện xuất hiện
trong khi cắt mô nghĩa là năng lượng
được cài đặt quá cao; nếu dao điện
“không bén” nghĩa là năng lượng được
cài đặt quá thấp (Chiarello 2003).

Lợi ích chủ yếu của cắt điện so
với dao mổ bình thường là khả năng
cầm máu ngay khi cắt. Tuy nhiên, với
những mạch máu lớn (đường kinh >1
mm) thì cần đòi hỏi thêm đông điện
tại điểm chảy máu (Chiarello 2003) và
dao điện gây tổn thương mô lớn hơn
và thời gian lành chậm hơn. Vết cắt bởi
dao điện có thể được khâu lại như ban
đầu nhưng cần thời gian dài hơn để
đạt lại được sức căng ban đầu của nó.
Mức năng lượng quá cao hoặc tốc độ
cắt quá chậm có thể gây cầm máu quá
mức, gây tổn thương rộng hơn và làm
vết thương chậm lành hơn. Nên cắt với
tốc độ điều đặn, nhanh nhẹn. Tốc độ
tốt nhất là khi có thể tạo ra một đường
cắt sạch, không hoặc ít có sự than hóa-
mặc dù ở mức than hóa có thể giúp
cầm máu tốt hơn nhưng lại làm vùng
tổn thương do nhiệt lớn hơn. Tốc độ di
chuyển nên ở mức cắt mô vừa phải
không làm chín hoặc hóa than mô; tốc
độ di chuyển dao điện tốt nhất là từ
5-10 mm mỗi giây (Fewkes 1992; Seb­
ben 1988, 1998). Vì một lượng nhỏ
mô bị đốt thành than dính vào dao
điện và gây cản trở khả năng cắt và
cầm máu nên cần phải làm sạch dao
điện thường xuyên trong quá trình
mổ. Nếu mô bị than hóa quá nhiều thì
có thể do năng lượng được chỉnh quá
cao hoặc tốc độ cắt quá chậm (Fewkes
1992).

Phẫu thuật điện là rất hữu ích
để có thể tạo những đường cắt không
chảy máu ở vùng đầu và những tổn
thương lớn, hữu ích trong kĩ thuật cạo
và rạch, trong điều trị bệnh mũi sư tử,
viêm tuyến mồ hôi mũ, một vài loại
bớt, trong cắt các khối u lành tính và
ác tính, sinh thiết da, phẫu thuật thẩm
mỹ mí mắt, cắt bỏ bớt da đầu, vạt da
đầu, nâng da đầu (Fewkes 1992; Pop­
kin 1987; Chiarello 2003; Sebben
1988,1998; Weber 2000).
PHẪU THUẬT BẰNG ĐIỆN MỘT CHIỀU

Một vài bác sĩ da liễu có những
thiết bị có thể tạo ra được dòng điện
một chiều, phương pháp phẫu thuật
bằng dòng điện một chiều này ít khi
được áp dụng trong thực hành hàng
ngày. Cách này thường được áp dụng
trong điện phân, trong thủ thuật này
một dòng điện một chiều tần số thấp
đi qua mô được đặt nằm giữa 2 điện
cực, từ đó gây tổn thương mô thông
qua các phản ứng hóa học xảy ra ở đầu
mỗi điện cực (Fewkes 1992; Sebben
1988; Sampaio và Piazza 2009). Điện
phân thường dùng để phá hủy nang
lông (nhổ lông hoặc triệt lông hoàn
toàn). Phương pháp này tương đối

248 Ứng dụng điện phẫu thuật trong các thủ thuật thẩm mỹ
hiệu quả, ít đau và ít nguy cơ hình
thành sẹo, nhưng lại tốn thời gian. Với
sự xuất hiện của các thiết bị laser như
hiện nay thì phương pháp này ít được
chỉ định hơn và chỉ sử dụng khi muốn
cắt bỏ nang lông (Shaw 1988).
DAO ĐỐT ĐIỆN

Dao đốt điện sử dụng một điện
cực tỏa nhiệt nhưng không truyền
dòng điện sang mô. Tuy nhiên, đây
là một kĩ thuật cũ và hiện không còn
được sử dụng (Sampaio và Piazza
2009). Phương pháp sấy điện có thể
đạt được kết quả tương tự như dao đốt
điện nhưng dao đốt điện lại gây tổn
thương mô nhiều hơn và vết thương
chậm lành hơn. Những thiết bị dùng
dòng điện tần số cao đã thay thế hầu
hết dao điện (Blankenship 1979; Seb­
ben 1988).
ĐIỆN CỰC MỔ (HÌNH 1)

Có nhiều loại điện cực mổ với
kiểu dáng, hình dạng, kích thước khác
nhau trên thị trường và được bán ở
dạng đã khử trùng hoặc chưa. Việc lựa
chọn điện cực mổ tùy thuộc vào dạng
sóng và chẩn đoán thương tổn. Đáp
ứng của mô với điện cực mổ cũng rất
khác nhau tùy thuộc vào loại điện cực
mổ được sử dụng. Điện cực mổ càng
lớn thì nhiệt quanh điện cực được tạo
ra càng nhiều và năng lượng cần thiết
phải được điều chỉnh càng cao. Với
điện cực nhỏ hơn, thì nhiệt tạo ra xung
quanh sẽ thấp hơn và cần điều chỉnh
mức năng lượng thấp hơn (Sebben
1988; Taheri 2013).
Phân loại điện cực mổ
Điện cực kim nhỏ
Điện cực vòng thép với các kích cỡ
khác nhau
Điện cực dạng quả cầu.
Điện cực kim đốt-sấy
Điện cực dây thép
Điện cực dạng lưỡi dao
Hình 1: Các loại điện cực

249
Ứng dụng điện phẫu thuật trong các thủ thuật thẩm mỹ
Điện cực vòng kim cương
Điện cực e líp
Điện cực tam giác
Kim nhổ lông
Forcep song cực
Điện cực cắt chất nền

Điện cực có thể cứng hoặc có
thể uốn cong. Điện cực sẽ trở nên kém
hiệu quả nếu các mảnh mô bị than hóa
bám trên bề mặt vì sẽ làm giảm sự
dẫn truyền dòng điện phẫu thuật vào
mô nên đòi hỏi phải cài đặt mức năng
lượng cao hơn. Do đó, cần phải giữ cho
mũi điện cực sạch sẽ trong suốt quá
trình tiến hành phẫu thuật.

Những yếu tố làm giảm tổn
thương nhiệt đối với vùng mô xung
quanh:
Đường kính điện cực nhỏ hơn
Rút ngắn thời gian tiếp xúc giữa điện
cực và tổn thương
Mật độ năng lượng thấp hơn
Dùng dòng điện có tần số cao hơn
Cắt dạng sóng
THỦ THUẬT PHẪU THUẬT ĐIỆN

Hiện nay có rất nhiều thiết bị
phẫu thuật điện và mỗi loại cung cấp
rất nhiều dạng sóng khác nhau- bất
kì máy nào trong những loại máy này
đều có thể được sử dụng. Chúng tôi sử
dụng thiết bị tần số vô tuyến Wave­
tronic 500 Digital (hình 2) (Loktal
Medical Electronics, Brazil).

Vì phẫu thuật điện hầu như sẽ
gây đau, nên cần phải gây tê cho bệnh
nhân khi phẫu thuật. Có thể gây tê
bằng kem bôi (2.5% lidocaine + 2.5%
kem prilocaine), tiêm tê tại chỗ, hoặc
gây tê troncular (2% lidocaine có hoặc
không thêm vào epinephrine). Tuy
nhiên, chúng tôi không khuyến cáo bôi
tê vì bệnh nhân cần phải rất thỏa mái
và yên lặng trong quá trình tiến hành
thủ thuật. Trước khi gây tê, tổn thương
và phần da quanh tổn thương phải
được làm sạch bằng povidone-iodine
hoặc dung dịch chlorhexidine (không
bao giờ được sử dụng dung môi cồn
do nguy cơ gây cháy). Phẫu thuật điện
nên được tiến hành khi bệnh nhân ở
tư thế ngồi hoặc nằm thỏa mái trên
bàn mổ, bộc lộ tổn thương và đủ ánh
sáng (Weber 2000). Nên giữ cho điện
cực sạch và không bị dính mô từ vết
thương.

Cần phải chăm sóc vết thương
sau mổ theo đúng chuẩn phối hợp với
đắp gạc để gây bán bít tắt. Cần lưu ý
với bệnh nhân nguy cơ chảy máu kéo
dài và khẳng định lại với bệnh nhân
là chảy máu có thể được kiểm soát từ
10-30 phút nếu đè ép lên liên tục lên
vết thương. Cần phải giải thích cho
bệnh nhân rằng có thể vết thương sẽ
để lại sẹo, nhưng thường là sẹo rất
nhỏ. Tính thẩm mỹ của phương pháp
này thường rất tốt (Fewkes 1992).

Gần đây, hãng Loktal Medical
Electronics đã phát triển thiết bị HF
Megapulse Fraxx (hình 3), thiết bị này
có công nghệ mới giúp kiểm soát hiệu
quả nhiệt của sóng vô tuyến thông qua
hệ thống năng lượng phân đoạn điện
phức tạp, thiết bị này được sử dụng
với Wavetronic 5000 Digital cho phép
đạt được độ chính xác và tinh lọc như
laser CO2 vi điểm. Kiểm soát phân bố
giúp đảm bảo tất cả các vi điểm không
được tiếp năng lượng đồng thời, theo
cách liên tiếp ngẫu nhiên giới hạn
trước, và bắn liên tục thông qua những
ống kim 8 mm. Hai kim gần nhau

250 Ứng dụng điện phẫu thuật trong các thủ thuật thẩm mỹ
không bắn liên tục, tránh gây thêm tác
dụng nhiệt phụ: thiết bị cho phép lựa
chọn thời gian hoạt động và thời gian
nghỉ giữa các kim. Với 60% năng lượng
thời gian hoạt động 60ms, thời gian
nghỉ 60 ms, và một sóng cắt, chúng tôi
có thể đạt được kết quả tương tự laser
CO2 xâm lấn vi điểm với tác dụng phụ
do nhiệt tối thiểu và không có có tác
dụng đốt tập trung đối với lớp bì lưới
trên (Casabona 2014).

Kĩ thuật áp dụng: đối với những
người có phân loại da tối màu, chúng
ta nên sử dụng chất ức chế sắc tố và
tránh ánh sáng mặt trời. Nếu bệnh
nhân có tiền sử nhiễm herpes ở mặt
thì dự phòng bằng famciclovir 125
mg, mỗi 12 giờ trong 5 ngày trước thủ
thuật. Điều quan trọng nhất cần phải
lưu ý là quá trình gây tê cho bệnh nhân
vì phương pháp đốt nhiệt gây đau ở
một vài bệnh nhân do đó phải làm dịu
Hình 2: Thiết bị tần số vô tuyến được sản xuất ở Brazil (Wavetronic 500 Digital; Loktal
Medical Electronics)
Hình 3: Thiết bị HF Megapulse Fraxx (Wavetronic 500 Digital) là một công nghệ mới
giúp kiểm soát tác dụng nhiệt của tần số vô tuyến thông qua hệ thống năng lượng
phân đoạn điện phức tạp.

251
Ứng dụng điện phẫu thuật trong các thủ thuật thẩm mỹ
cơn đau đến khi bệnh nhân cảm thấy
thỏa mái . Dùng thuốc giảm đau đường
uống có thể hữu ích như ketorolac
trometamol 10mg ngậm dưới lưỡi
trong 10 phút trước khi tiến hành thủ
thuật hoặc những phương pháp tại
chỗ như đắp gặc lạnh, đĩa lạnh…, tiêm
lidocaine 2% có chứa epinephrine
hoặc tiêm dung dịch phối hợp gồm
30ml saline + 10 ml lidocaine 2% + 0.4
ml epinephrine + 1 ml sodium bicar­
bonate 8.4%.

Một khía cạnh chủ chốt khác là
giữ ẩm vùng điều trị bằng dung dịch
saline nhưng tránh gây quá ẩm ướt.
Mục đích là làm tăng khả năng dẫn
truyền điện và giúp nhiệt xâm nhập
sâu và đồng nhất hơn.

Để tránh bỏ sót vùng da không
được điều trị giữa các xung bắn cần
phải “khớp nối” các xung, xung sau
nên bắn ở vị trí cách bờ bên bút của
xung trước đó một vài mm. Độ sâu phụ
thuộc chủ yếu vào thời gian hoạt động
của dòng điện. Mật độ xung (số pass)
bắn liên tục sẽ quyết định đến hiệu
quả nhiệt

Chú ý: có thể xuất hiện các điểm
loét rất nhỏ ở vùng da mỏng (mí mắt)
nếu đầu thiết bị bắn nhiều hơn 3 lần.

Sau phẫu thuật, nếu xuất hiện
hồng ban và phù nề không thấy rõ
(thường kéo dài trung bình 3 ngày)
có thể đắp gạc thấm dung dịch saline
lạnh, nước ấm, hoặc dùng thuốc mỡ
giúp phục hồi hàng rào da.

Thói quen khá phổ biến là cào
gãi hoặc các thao tác sau phẫu thuật
có thể kéo dài thời gian phục hồi và để
lại di chứng trên bề mặt (nên đưa bản
hướng dẫn cụ thể cho bệnh nhân).

Về biến chứng, tăng sắc tố sau
viêm xuất hiện khá phổ biến đối với
những người có phân loại da tối màu
và đa số biến chứng này chỉ mang
tính tạm thời. Thiết bị HF Megapulse
Fraxx đã được sử dụng để điều trị vết
rạn da, sẹo trứng cá, tái tạo bề mặt da,
và làm săn chắc da không xâm lấn để
cải thiện tình trạng xệ da và giảm nếp
nhăn (Casabona 2014).

Casabone (2014) đã chứng
minh tác dụng nhiệt của sóng vô tuyến
xâm lấn vi điểm ở trên 20 phụ nữ bị
sụp mí mắt. Phẫu thuật được tiến hành
sau khi tiêm tê tại chỗ với 3 lần (pass)
mỗi đợt điều trị. Trước khi da được
làm ẩm với dung dịch saline vô khu­
ẩn, thiết bị được sử dụng là Wavetron­
ic 5000 nối với HF Megapulse Fraxx.
Đây là mạch điện cung cấp năng lượng
phân đoạn nối với một bút chứa 64
vi kim với độ dày 0.2 mm và 0.8 mm
được chia thành 8 cột, mỗi cột chứa
8 kim. Các thông số thiết bị gồm năng
lượng 60% và chế độ cắt. Bút bắn tiếp
xúc vuông góc với da, vùng trùng lấp
là 2 mm. Hệ thống megapulse cho
phép đo được thời gian da tiếp xúc
với nhiệt từ 8 cây kim bằng đơn vi ms,
trong trường hợp này được đặt tên là
sequence 2; thông số này được thực
hiện bằng cách chọn nút P sau đó chọn
nút E trên thiết bị. Năng lượng phóng
ra là ngẫu nhiên ở các cột theo một
chuỗi được cài đặt sẵn cho phép làm
lạnh giữa các đợt bắn và kết quả là ít
gây tổn thương nhiệt hơn (Casabona
2014).

Lima gần đây đã phát triển các
điện cực kim 2 và 8 làm bằng tungsten
(wolfram) với đường kính 200/1000
mm, cân nặng và độ dài giống nhau

252 Ứng dụng điện phẫu thuật trong các thủ thuật thẩm mỹ
được sắp xếp song song để đạt được
cùng một độ sâu là 1.5 mm. Những cây
kim này tác động lên thượng bì và lớp
bì, kích thích sự co rút và tái tạo col­
lagen mới. Kỹ thuật này đã được sử
dụng trong điều trị rất nhiều bệnh lí
về da khác nhau bao gồm nếp nhăn, to
lỗ chân lông, sẹo teo và sẹo phì đại, săn
chắc da, trẻ hóa da, vết rạn da, nám má,
hoặc những rối loạn sắc tố khác (Lima
và Martins 2010).
ỨNG DỤNG LÂM SÀNG

Chế độ cài đặt điều trị có thể rất
khác nhau tùy thuộc vào sự đề kháng
của mô, kích thước điện cực, độ ẩm
mô, và đơn vị dòng điện được sử dụng.
Nên phải nhớ rằng sử dụng dòng điện
không đủ sẽ gây ra sự kết dính mô và
làm giảm hiệu quả của thủ thuật.
Ban vàng (hình 4)
Lựa chọn dòng điện: hỗn hợp
Cài đặt năng lượng: 35
Điện cực: kim đầu cắt
Kĩ thuật: đâm nhiều mũi cho đến khi
mô màu vàng bị phá hủy + cạo bỏ
Mụn thịt (hình 5)
Lựa chọn dòng điện: hỗn hợp
Cài đặt năng lượng: 30
Điện cực: kim đầu cắt
Kĩ thuật: đâm một mũi
U nang nước (hình 6)
Lựa chọn dòng điện: hỗn hợp
Cài đặt năng lượng: 30
Điện cực: kim đầu cắt
Kĩ thuật: đâm nhiều mũi
Dày sừng tuyến bã (hình 7)
Lựa chọn dòng điện: đông điện
Cài đặt năng lượng: 50
Điện cực: đầu tròn
Kĩ thuật: chạm nhẹ lên tổn thương và
cạo bỏ.
Hình 4: ban vàng (thông số: lựa chọn dòng điện- hỗn hợp; cài đặt năng lượng-35; điện
cực- kim đầu cắt; kỹ thuật- đâm nhiều mũi cho đến khi mô màu vàng bị phá hủy + cạo
bỏ)

253
Ứng dụng điện phẫu thuật trong các thủ thuật thẩm mỹ
Hình 5: mụn thịt (thông số: lựa chọn dòng điện- hỗn hợp; cài đặt năng lượng-30; điện
cực- kim đầu cắt; kỹ thuật- đâm một mũi)
Hình 6: u nang nước (thông số: lựa chọn dòng điện- hỗn hợp; cài đặt năng lượng-30;
điện cực- kim đầu cắt; kỹ thuật- đâm nhiều mũi)
Hình 7: dày sừng tuyến bã (thông số: lựa chọn dòng điện- đông điện; cài đặt năng
lượng-50; điện cực- đầu tròn; kỹ thuật- chạm nhẹ và cạo bỏ)

254 Ứng dụng điện phẫu thuật trong các thủ thuật thẩm mỹ
U hạt sinh mủ (hình 8)
Lựa chọn dòng điện: đông điện
Cài đặt năng lượng: 60
Điện cực: đầu tròn
Kĩ thuật: đè mạnh lên tổn thương
U mềm treo (hình 9)
Lựa chọn dòng điện: hỗn hợp
Cài đặt năng lượng: 35
Điện cực: kim đầu cắt
Kĩ thuật: cắt cuống
Bệnh mũi sư tử (hình 10)
Lựa chọn dòng điện: hỗn hợp
Cài đặt năng lượng: 35
Điện cực: vòng thép
Kĩ thuật: cạo
Nevus sùi
Lựa chọn dòng điện: hỗn hợp
Cài đặt năng lượng: 30
Điện cực: vòng thép
Kĩ thuật: cạo
U tuyến mồ hôi
Lựa chọn dòng điện: hỗn hợp
Cài đặt năng lượng: 30
Điện cực: kim đầu cắt
Kĩ thuật: đâm nhiều mũi
Sẹo mụn, nếp nhăn và sệ da (hình 11)
Lựa chọn dòng điện: cắt
Số chuỗi HF Megapulse Fraxx: 2
Hoạt động 60ms; trì hoãn 60 ms
Cài đặt năng lượng: 60
Điện cực: đầu HF Megapulse Fraxx
Kĩ thuật: 2 pass lặp lại
Hình 8: u hạt sinh mủ (thông số: lựa chọn dòng điện- đông điện; cài đặt năng lượng-60;
điện cực- đầu tròn; kỹ thuật- đè mạnh)

255
Ứng dụng điện phẫu thuật trong các thủ thuật thẩm mỹ
Hình 9: u mềm treo (thông số: lựa chọn dòng điện- hỗn hợp; cài đặt năng lượng-35;
điện cực- kim đầu cắt; kỹ thuật- cắt cuống)
Hình 10: Bệnh mũi sư tử (thông số: lựa chọn dòng điện- hỗn hợp; cài đặt năng lượng-35;
điện cực- vòng thép; kỹ thuật- cạo)
Hình 11: nếp nhăn (thông số: lựa chọn dòng điện- cắt; Số chuỗi HF Megapulse Fraxx-2;
Hoạt động 60ms, trì hoãn 60 ms; cài đặt năng lượng-60; điện cực- đầu HF Megapulse
Fraxx; kỹ thuật-hai pass lặp lại)

256 Ứng dụng điện phẫu thuật trong các thủ thuật thẩm mỹ
NHỮNG NGUY CƠ

Hầu như bệnh nhân sẽ không
gặp phải nguy cơ gì nếu sử dụng phẫu
thuật điện một cách đúng đắn. Tuy
nhiên cần phải nắm những nguy cơ có
thể xảy trong quá trình làm thủ thuật
để hạn chế chúng xảy ra. Vì đây là
những nguy cơ tiềm ẩn phải được các
phẫu thuật viên và nhân viên phòng
mổ hết sức lưu ý.
Bỏng

Bỏng có thể do bác sĩ vô tình
để điện cực chạm vào da của bệnh
nhân hoặc của chính bác sĩ, tuy nhiên
nguyên nhân tổn thương bỏng thường
gặp là do thiếu sự tiếp xúc giữa bệnh
nhân và tấm điện cực phân tán. Thỉnh
thoảng còn do bệnh nhân hoặc bác sĩ
chạm vào những vật kim loại chạm đất
như kim loại trên bàn điều trị từ đó
gây bỏng hoặc shock (Fewkes 1992;
Sebben 1988; Hainer 2002; Pollack
2011).
Tạo rãnh

Biến chứng tạo rảnh thường
là vấn đề hiếm gặp với chế độ cài đặt
năng lượng thấp khi được sử dụng
để làm thủ thuật tại các phòng khám.
Biến chứng này luôn có thể tránh được
bằng cách sử dụng forceps song cực
hoặc thiết bị mổ điện (Fewkes 1992;
Pollack 2011).
Nguy cơ cháy

Đều quan trọng cần lưu ý là
phải kiểm tra xem trong phòng mổ có
sự hiện diện của các loại khí hoặc dung
dịch dễ bắt lửa hoặc dễ nổ không. Sẽ
có nguy cơ cháy hoặc nổ nếu tiến hành
phẫu thuật điện khi có sự hiện diện
của alcohol, oxygen, hoặc khí trong
ruột bệnh nhân (methane). Đặc biệt
cần phải lưu ý vùng da đầu, vị trí này
thường ít để ý trong trường hợp alco­
hol còn lưu lại và cần phải chăm sóc ở
vùng quanh hậu môn. Do đó, nên sử
dụng các dung dịch sát khuẩn không
gây cháy như povidone-iodine hoặc
chlorhexidine.
Khói

Khói tạo ra từ phẫu thuật điện
có khả năng gây đột biến gen cũng
giống như khói thuốc lá vậy. Tuy
nhiên, mối lo ngại lớn hơn là sự hiện
diện của những phân tử bị nhiễm khu­
ẩn trên điện cực hoặc ở trong khói
khi tiến hành phẫu thuật điện. Virus
HBV đã được chứng minh là có hiện
diện trên mũi điện cực sau khi sấy
điện. Đo đó tuyệt đối không sử dụng
điện cực không vô trùng cho những
bệnh nhân tiếp theo. Sấy điện đã được
chứng minh là có thể làm bắn ra các
giọt máu có kích thước vài cm quanh
vùng sấy điện. Nếu hít phải những
giọt máu đó có thể sẽ bị nhiễm bệnh.
Các phân tử virus herpes được chứng
minh là có thể được phân tán khi dùng
những thiết bị này. Việc lan truyền vi
khuẩn trong quá trình sấy điện cũng
đã được chứng minh trong các phòng
thí nghiệm. Người ta đã điều tra và tìm
thấy sự có mặt của virus HPV trong
khói khi tiến hành phẫu thuật điện và
laser CO2 Một vấn đề nghiêm trọng
trong những nghiên cứu về HPV này
là những virus khác như HIV và virus
gây viêm gan có thể xuất hiện nguyên
vẹn trong khói phẫu thuật và được

257
Ứng dụng điện phẫu thuật trong các thủ thuật thẩm mỹ
hít bởi bác sĩ và các nhân viên khác
trong phòng mổ. Không có bằng chứng
lâm sàng hoặc trong phòng thí nghiệm
nào chứng minh điều này và cần phải
nghiên cứu thêm; tuy nhiên, bác sĩ cần
phải được mang khẩu trang đặc biệt và
phải sử dụng hệ thống hút khói trong
phòng mổ (Fewkes 1992; Chiarello
2003; Sebben 1988; Sampaio và Piaz­
za 2009; Pollack 2011).
Máy tạo nhịp

Hầu hết các máy tạo nhịp đều
được cài đặt ở chế độ hoạt động khi
cần, đòi hỏi phải có mạch cảm nhận và
mạch phát ra. Bất kì mạch nào trong
những mạch này bị ngăn cản bởi dòng
điện tần số cao sẽ gây ra tác dụng
không mong muốn lên chức năng của
máy tạo nhịp. Mặc dù trên thực tế hầu
hết máy tạo nhịp hiện đại bình thường
có khả năng tự bảo vệ tốt và có thể lọc
để tránh sự can thiệp của các dòng
điện từ bên ngoài, nhưng vẫn nên
tránh phẫu thuật với dòng điện tần số
cao ở những người đang mang máy
tạo nhịp (Fewkes 1992; Sebben 1988,
1998; Pollack 2011). Tuy nhiên, mặc
dù có những báo cáo rời rạc về sự mất
chức năng của máy tạo nhịp sau khi
phẫu thuật điện, thì tỉ lệ này rất là thấp
đặc biệt là đối với dòng máy tạo nhịp
mới và máy khử rung loại cấy được.
Do đó, phẫu thuật điện không nên sử
dụng ở bất kì người nào đang mang
máy tạo nhịp mà không thông qua sự
tư vấn của các bác sĩ chuyên khoa để
đảm bảo máy tạo nhịp được bảo vệ và
không bị ảnh hưởng bởi sự can thiệp
của dòng điện tần số cao. Bác sĩ phẫu
thuật nên dự phòng một cách hợp lí
gồm nối đất phù hợp và tránh dòng
điện cường độ cao, đặc biệt trong thủ
thuật cắt. Nên sử dụng forceps song
cực có độ bung ngắn và hiệu điện thế
thấp và tránh phẫu thuật điện ở vùng
lân cận máy tạo nhịp hoặc máy khử
rung loại cấy được (Hainer 2002).
Tuy nhiên, sấy điện giới hạn đối với
những tổn thương nhỏ có thể không
ảnh hưởng đến những bệnh nhân
khỏe mạnh đang mang máy tạo nhịp.
Dao mổ điện có thể chấp nhận được vì
không có dòng điện đi qua bệnh nhân.
SỰ KHỬ TRÙNG

Điện cực nên được khử trùng
bằng nồi hấp để hạn chế sự nhiễm
khuẩn chéo vì việc lây nhiễm vi khuẩn
và nhiễm virus qua điện cực đã được
chứng minh (Matzle 2006; Pollack
2000; Sampaio và Piazza 2009; Hainer
2002; Bennett và Kraffert 1990). Nếu
sử dụng một đầu típ điện cực không
được khử trùng thì sẽ có khả năng lây
nhiễm chéo và đưa đến nhiễm trùng
sau đó giữa các bệnh nhân hoặc từ
bệnh nhân sang bác sĩ (Bennett và
Kraffert 1990). Điện cực dùng một
lần có thể được sử dụng hoặc sử dụng
những kim tiêm dưới da dùng một lần
nối vào như là điện cực. Một khả năng
gây nhiễm bệnh quan trọng khác trong
phòng khám là từ việc cầm nắm bút và
dây điện. Mặc dù điện cực có thể thay
đổi, nhưng tay cầm có thể sẽ trở thành
đối tượng bị nhiễm khuẩn. Do đó nên
sử dụng vỏ bọc ni lông dùng một lần
để bao quanh tay cầm bút điện (Ben­
nett và Kraffert 1990).

258 Ứng dụng điện phẫu thuật trong các thủ thuật thẩm mỹ
ƯU ĐIỂM
• Thủ thuật đơn giản
• Lành vết thương nhanh
• Không chảy máu hoặc chảy máu rất ít
• Sẹo nhỏ và thẩm mỹ
• Thời gian phẫu thuật ngắn
• Có thể làm giải phẫu bệnh của mẫu
bệnh phẩm sau mổ
• Biến chứng và nguy cơ phẫu thuật ít
hơn
• Tiết kiệm chi phí
• Có thể tiến hành ở đối với bệnh nhân
ngoại viện
NHƯỢC ĐIỂM
• Gây tổn thương mô rộng hơn
• Gây hoại tử mô bên trong tổn thương
• Trì hoãn lành vết thương
• Không thể sử dụng ở người mang
máy tạo nhịp không có khả năng tự
bảo vệ
• Khói và mùi khó chịu
CHĂM SÓC SAU PHẪU THUẬT

Sau phẫu thuật, bệnh nhân nên
giữ vết thương khô và sạch. Quá trình
lành vết thương cần ít nhất một vài
tuần và có thể lâu hơn tùy thuộc vào
kích thước vết thương và các yếu tố
khác. Cần lưu ý là mô bị hoại tử bên
dưới lớp mài sau phẫu thuật có thể trở
nên nung mủ và nhiễm trùng nếu bác
sĩ phẫu thuật không có kinh nghiệm .
Mài lớn, lỏng lẻo và ẩm ướt tốt nhất
nên được loại bỏ, tuy nhiên không
nên đụng đến những mảnh mài khô và
dính vào tổn thương. Vết thương khô
là điều kiện thuận lợi giúp vết thương
nhanh lành và băng che vết thương chỉ
nhằm mục đích bảo vệ hoặc mục đích
thẩm mỹ. Vết thương có thể được rửa
hàng ngày và sau đó bôi mỡ kháng
sinh để giúp tạo ra môi trường ẩm
thuận lợi cho mô mới phát triển. Vết
thương có thể được băng bằng băng
dính thông thường (Pollack 1991).
TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN

Nguy cơ lớn nhất của phẫu
thuật điện thường liên quan đến kĩ
thuật điều trị và thường là do phá hủy
mô quá mức. Kết quả là, chậm lành
vết thương và mô hoại tử có thể đưa
đến sẹo phì đại và không đẹp. Bác sĩ
phẫu thuật phải hết sức cẩn thận để
tránh không gây tổn thương đến vùng
mô lân cận trong quá trình tiến hành.
Cầm máu có thể gây tổn thương ng­
hiêm trọng đến các mạch máu và
thần kinh lớn và lúc đó có thể kéo dài
sự xuất huyết do tổn thương không
mong muốn các thành mạch máu. Có
thể xuất hiện chảy máu muộn kèm
gây bung những mảnh mài sau phẫu
thuật, và bệnh nhân nên được hướng
dẫn trước là nên ấn vào vết thương để
giúp cầm máu sau phẫu thuật (Blan­
kenship 1979).
BIẾN CHỨNG

Các biến chứng bao gồm giảm
sắc tố rải rác, teo da vùng điều trị, sẹo
phì đại (đặc biệt là ở vùng lưng và
ngực), và lộn mí (ví dụ: sau phẫu thuật
điện ở vùng mí mắt). Sử dụng dòng
điện trong sấy điện và đông điện quá
mức có thể đưa đến phá hủy mô quá
mức ra ngoài vùng được điều trị (Seb­
ben 1988; Sebben và Davis 1988).

Phá hủy tổn thương sâu có thể
gây co kéo môi trên và cánh mũi, sụp
đỉnh mũi, sứt vành tai (Blankenship

259
Ứng dụng điện phẫu thuật trong các thủ thuật thẩm mỹ
1979). Khi tiến hành phẫu thuật điện
ở vùng nằm gần mắt, nên sử dụng một
tấm bảo vệ đặc biệt để bảo vệ giác mạc
(Sebben và Davis 1988).
GHI NHỚ

• Luôn phải lên kế hoạch trước
khi bắt đầu phẫu thuật.

• Ưu tiên lựa chọn tiêm tê hơn
là bôi tê.

• Luôn làm ẩm vết thương trước
khi phẫu thuật.

• Kích hoạt điện cực trước khi
tiếp xúc với mô.

• Nếu sử dụng dòng điện không
đủ mức sẽ gây kết dính mô.

• Cần loại bỏ các mảnh mô bám
ở điện cực thường xuyên.

• Chờ đến nhiệt ở mô giảm mới
tiếp xúc điện cực lại.

• Bác sĩ và các nhân viên trong
phòng mổ phải luôn mang khẩu trang.
THAM KHẢO

Bezerra
SMC,
Jardim
MML
(2013). Electrosurgery. In: Tosti A, Hex­
sel D, editors. Update in cosmetic der­
ma- tology. New York: Springer. Chap­
ter 11.

Bezerra SMCB, Lima EA, Jardim
MML. Eletrocirurgia. In: Kadunc B, Pal­
ermo E, Addor F, Metsavaht L, Rabello L,
Matos R, et al., editors. Tratado de Ciru­
rgia Dermatologica, Cosmiatria e Laser
da SociedadeB- rasileira de Dermatolo­
gia. Elsevier R de JC (2013);47. Bennett
RG, KraffertCA. Bacterial transference
during electrodesiccation and elec­
trocoagulation. Arch Der- matol.1990
Jun;126(6):751–5.

nlm nih.gov/ pubmed/2346319.
Accessed 27 Nov 2016.

Blankenship ML. Physical mo­
dalities: electrosurgery, elec- trocau­
tery and electrolysis. Int J Dermatol.
1979;18(6): 443–52.

Bougthon RS, Spencer SK, Ha­
nover. Electrosurgical fun- damentals.
J Am Acad Dermatol. 1987;16:862–7.
Casabona G, Presti C, Manzini M, Mach­
ado Filho CD. Radiofrequenciaabla­
tivafracionada: um estudo-piloto com
20 casos para rejuvenescimento da
pálpebra inferior. Surgic Cosmet Der­
matol. 2014;6(1):1–8.

Chiarello SE. Radiovaporiza­
tion: radiofrequency cutting current to
vaporize and sculpt skin lesions. Der­
matol Surg. 2003;29:755–8.

Fewkes JL, Cheney ML, Pollack
SV (1992) Electrosur- gery. In: Illus­
trated atlas of cutaneous surgery. Phi­
la- delphia: J. B Lippincott. Chapter 9.
Goodman MM. Principles of electrosur­
gery. In: Wheeland RG, editor. Cutane­
ous surgery. Philadelphia:

W.B. Saunders Company; 1994.
p. 206–19.

Hainer BL. Electrosurgery for
cutaneous lesions. Am Fam Physician.
2002;66(7):1259–66.

Lima EA, Martins S. Pequeno­
sprocedimentosemcon- sultório. In:
Santos OLR. Rotinas de diagnóstico e
tratamento da SociedadeBrasileira de
Dermatologia, chapter 61. AC Farma­
ceutica. 2010; pp. 378–384.

Matzle TJ, Christenson LJ, Aata­
nashova N, et al. Pace- makers and
implantable cardiac defibrillators in
derma- tologic surgery. Dermatol Surg.
2006;32:1155–62.

260 Ứng dụng điện phẫu thuật trong các thủ thuật thẩm mỹ

Pollack SV. Electrosurgery of the
skin. New York: Chur- chill Livingstone;
1991.

Pollack SV. The history of elec­
trosurgery. Dermatol Surg.
2000;26:904–8.

Pollack SV. In: Bolognia JL, Joriz­
zo JL, Rapini RP. Dermatologia 2a. Ed.
Rio de Janeiro: Elsevier; 2011.

Popkin GL. Electrosurgery. In:
Epstein E, Epstein Jr E, editors. Skin
surgery. Philadelphia: W.B. Saunders;
1987. pp 164–183.

Sampaio SAP, Piazza CD. Eletro­
cirurgiaconvencional e Eletroncirurg­
ia. In: Gadelha ar, Costa IMC. Cirurgia-
DermatológicaemConsultório.
São
Paulo: Ed. Atheneu; 2009. pp. 339–347.

Sebben JE. Electrosurgery prin­
ciples: cutting current and cutaneous
surgery – part I. Dermatol Surg Oncol.
1988;14(2):147–50.

Sebben JE. Electrosurgery. In:
Ratz JL, editor. Textbook of dermato­
logic surgery. Berlin: Lippincott-Raven
Pub- lishers; 1998. p. 457–73.

Sebben JE. Electrosurgery prin­
ciples: cutting current and cutaneous
surgery – part II. Dermatol Surg. 2000;
26(2):142–5.

Sebben JE, Davis. The status of
electrosurgery in dermatologic prac­
tice. J Am Acad Dermatol. 1988;19:
542–9.

Shaw DH, Kalkwarf KL, Krejci RF,
et al. Self-sterilization of the electro­
surgery electrode. J Am Acad Dermatol.
1988;19(3):542–9.

Taheri A, Mansoori P, Sandoval
LF, Feldman SR, Pearce D, Williford P.
Electrosurgery: part I. Basics and
principles.
J
Am
Acad
Dermatol
2014;70(4):591. e1-14.

Weber PJ, Moody BR, Foster JA.
Electrosurgical suspen- sion appara­
tus. Dermatol Surg. 2000;26:142–5.

hacklink satın al mumu模拟器 雷电模拟器 向日葵 giftcardmall/mygift giftcardmall balance mygift giftcardmall matbet matbet giriş Fim İzle Fim İzle Giriş Fim İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Fim İzle Fim İzle Güncel Adres Fim İzle jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Giriş Casibom Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Jojobet Jojobet Giriş Jojobet Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Deneme Bonusu Film İzle Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Türkçe Dublaj Film İzle Film İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi perabet perabet giriş holiganbet holiganbet giriş Casibom Lesfillmercom Casibom Lesfillmercom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Gerbergirlcom Casibom Gerbergirlcom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Spcelectriccontrolcom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş marsbahis marsbahis giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş matbet matbet giriş matbet güncel giriş vaycasino vaycasino güncel giriş vaycasino giriş matbet matbet giriş pusulabet pusulabet giriş pusulabet pusulabet güncel giriş pusulabet giriş matbet matbet güncel giriş matbet giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Resmi Adres pusulabet pusulabet giriş pusulabet güncel giriş Fixbet Fixbet Güncel Giriş Salvobet Salvobet Giriş Salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Turk Porno Turk Porno Giriş Turk Porno casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi casibom casibom jojobet izmir escort izmir buca escort buca escort jojobet casibom holiganbet holiganbet giriş jojobet holiganbet holiganbet giriş jojobet jojobet jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş izmir escort izmir buca escort buca escort izmir escort bayan salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Giriş Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Deneme Bonusu Veren Giriş Deneme Bonusu Veren salvobet salvobet salvobet salvobet Casibom betgaranti betgaranti betgaranti matbet matbet giriş matbet matbet giriş Casibom Casibom Salvobet jojobet Salvobet Salvobet Salvobet Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Güncel Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis bahsegel Fixbet Fixbet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş 1xbet 1xbet Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Listesi Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler grandpashabet grandpashabet grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler vaycasino vaycasino giriş Casibom Casibom Giriş www.giftcards.com Marsbahis Casibom Casibom Casibom Casibom Casibom Grandpashabet Grandpashabet Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Marsbahis Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Casibom Fixbet Fixbet Giriş Casibom Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Holiganbet Holiganbet Güncel Adres Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Resmi Adres Matbet Matbet Matbet Güncel Adres Pusulabet Pusulabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Trabzon escort escort trabzon Trabzon escort bayan Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler grandpashabet casibom grandpashabet casibom güncel giriş casibom grandpashabet güncel giriş holiganbet grandpashabet casibom giriş grandpashabet grandpashabet casibom casibom giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler