peel hóa chất

20/11/2025 • by Bs CKI Phẫu thuật tạo hình, tái tạo và thẩm mỹ Trương Hoài Anh • botox
Ảnh bìa sách PEEL HÓA CHẤT VÀ CÁC THỦ THUẬT TRONG THẨM MỸ DA của Maria Claudia Almeida Issa và Bhertha Tamura

Giới thiệu về “PEEL HÓA CHẤT VÀ CÁC THỦ THUẬT TRONG THẨM MỸ DA”

Cuốn sách “PEEL HÓA CHẤT VÀ CÁC THỦ THUẬT TRONG THẨM MỸ DA” là một tập trong series Clinical Approach and Procedures in Cosmetic Dermatology, được biên soạn bởi các chuyên gia hàng đầu Maria Claudia Almeida Issa và Bhertha Tamura.

Cuốn sách được giới thiệu là một tài liệu có giá trị vô cùng to lớn cho những ai muốn đào sâu kiến thức trong lĩnh vực Da liễu Thẩm mỹ, đặc biệt là các thủ thuật vật lý và hóa học. Với tuổi thọ ngày càng tăng, nhu cầu làm đẹp và duy trì sự trẻ trung đang trở nên phổ biến, và các liệu pháp thẩm mỹ da liễu đang ngày càng thay thế hoặc trì hoãn nhu cầu phẫu thuật tạo hình.

Tóm tắt Nội dung

Tập sách này tập trung vào tính ứng dụng và lợi ích của Các Thủ Thuật Vật Lý và Hóa Học trong thẩm mỹ da liễu. Nội dung cốt lõi bao gồm việc thảo luận chi tiết về:

  • Các loại Lột da Hóa chất (Peelings): Bao gồm peel nông (superficial), peel trung bình (medium) và peel sâu (deep). Đây là một công cụ quan trọng và hiệu quả về chi phí trong điều trị lão hóa da do ánh nắng (photoaging).
  • Các thủ thuật khác: Liệu pháp lạnh (Cryotherapy) và Điện phẫu thuật (Electrosurgery), thường được sử dụng để loại bỏ các tổn thương không thẩm mỹ, góp phần trẻ hóa da.

Ngoài ra, cuốn sách còn đề cập đến các tiến bộ lớn trong lĩnh vực thẩm mỹ da liễu như Botulinum Exotoxin (Botox), Chất làm đầy mô mềm (Fillers), Laser da và các quy trình dựa trên nguồn sáng, cung cấp kiến thức toàn diện về chỉ định, chống chỉ định, biến chứng và cách xử lý biến chứng của các thủ thuật này.

Đối tượng Độc giả

Cuốn sách được chuẩn bị như một “bách khoa toàn thư” hoàn chỉnh và là hướng dẫn trong thẩm mỹ da liễu, cực kỳ hữu ích cho cả những người đã làm việc trong lĩnh vực này và những người mới bắt đầu.

Trang: / 272
Trang 1 Trang 2 Trang 3
📖 Xem bản dịch / Nội dung văn bản

PEEL HÓA CHẤT
VÀ
CÁC THỦ THUẬT
TRONG THẨM MỸ DA
Tác giả:
Maria Claudia Almeida Issa
Bhertha Tamura
Biên dịch:
Bs. Phạm Tăng Tùng

Foreword

When I received the invitation from Maria Claudia Issa, M.D., Ph.D., and
Bhertha Tamura, M.D., Ph.D., to write one of the chapters of this marvelous
book, I was very happy. Later, upon receiving the mission to write the prologue
of this book, whose editors, with numerous publications in the international
scientific field of cosmetic dermatology, dignify the Brazilian dermatology, left
me extremely honored. In this book, some of the leading medical doctors and
research scientists from Brazil and from all over the world present their
professional experience in the cosmetic dermatology area.

Cosmetic dermatology is constantly evolving. Procedures for rejuvenating
the skin are actively sought by people, nowadays. As dermatology grows as a
specialty, an increasing proportion of dermatologists will become proficient in
the delivery of different procedures. Even those who do not perform cosmetic
procedures must be well versed in the details to be able to guide their patients.
Numerous major advances in the field of the cosmetic dermatology area,
including botulinum exotoxin, soft tissue augmentation, chemical peels, cutane­
ous

lasers, light source–based procedures, and the state of the art of dermato­
logicand cosmetic prescriptions, have been developed and enhanced by
dermatologists and plastic surgeons.

Cryotherapy and electrosurgery are routinely used to remove unaesthetic
lesions, contributing with skin rejuvenation. Peelings are still a very important
tool in the armamentarium of the dermatology. Very interesting results in the
treatment of photoaging can be obtained with relatively low cost. However,
accuracy in its management as well as the knowledge of possible complications
and their management are of extreme importance. In this volume, the
different types of peelings are thoroughly scattered as well as innovations in
this well-established area.

The series Clinical Approach and Procedures in Cosmetic Dermatology
offers a wonderful and embracing text. It was a pleasure to contribute in this
unique book with so many well-renowned authors.
This work project is a text certainly of inestimable value for those who wish
to deepen their knowledge in the field of cosmetic dermatology.

Hoping that you will enjoy learning a lot from this book!

Monica Manela Azulay

Preface

Nowadays, life expectation had increased and for a better quality of life,
people are looking for beauty, aesthetics, and health. Dermatologists and plastic
surgeons who work with cosmetic dermatology can help patients to maintain
a healthy and youthful skin. Topical and oral treatments associated with fullface
procedures using peelings, lasers, fillers, and toxins are increasingly being
used, successfully substituting or postponing the need for plastic surgeries.
This series of book is very special among other ones already published as it
encompasses all subjects related to this area of dermatology. All authors are
experts in the field of cosmetic dermatology. Literature review and its correla­
tion with authors’ experience is a differential feature of this work.
This work had been divided into four volumes due to the breadth of the
subjects, which cover skin anatomy and histopathology, physiology, patient’s
approaches, common cosmetic dermatosis, topical and oral treatments, and
cosmetic procedures.

In Chemical and Physical Procedures, Prof. Maria Issa, Prof. Bhertha
Tamura, and collaborators provide the applicability and benefits of physical
and chemical procedures in cosmetic dermatology. Here, the use of superficial,
medium, and deep peelings; cryotherapy; and electrosurgery are discussed in
detail. These procedures are commonly used to treat unaesthetic lesions, which
cannot be treated with topical or oral approaches, offering a rejuvenated
appearance. Indications, contraindications, complications, and its management
are also reported.

The Clinical Approach and Procedures in Cosmetic Dermatology was
prepared to be a guide in cosmetic dermatology. It can be considered a
complete encyclopedia in the field of cosmetic dermatology and, for this
reason, it is extremely useful for those who already work with cosmetic
dermatology as well as for beginners in this field. This is a new reference
work project, and we are delighted to have you on board.
Maria Claudia Almeida Issa
Bhertha Tamura

Cuốn sách: “ Peel hóa chất và các thủ thuật trong thẩm mỹ da”
được chuyển ngữ từ tiếng Anh sang tiếng Việt từ cuốn “Chemi­
cal and physical Procedures” của nhóm tác giả Maria Claudia
Almeida Issa Bhertha Tamura cùng cộng sự - bởi Bs Phạm Tăng
Tùng cùng sự hỗ trợ nhóm E-bacsy.
Đây là cuốn sách thứ hai nằm trong nhóm dự án “Thư viện sách
thẩm mỹ Tiếng Việt” của nhóm. Bản quyền cuốn sách thuộc về
nhà xuất bản Springer và bản quyền dịch thuộc về bác sỹ Phạm
Tăng Tùng cùng nhóm E-bacsy.
Với mục tiêu giới thiệu những cuốn sách thẩm mỹ nổi tiếng trên
thế giới, vừa đảm bảo nội hàm kiến thức chuyên môn cao vừa có
giá trị áp dụng trên lâm sàng, chúng tôi đã nỗ lực hết mình trong
quá trình tìm kiếm, lựa chọn đầu sách, đồng thời chuyển ngũ
bám sát nội dung sách gốc với cách diễn đạt dễ hiểu nhất. Tuy
vậy cũng không tránh khỏi sai sót trong quá trình biên soạn. Rất
mong nhận được ý kiến đóng góp từ độc giả và quý đồng nghiệp
để nhóm tiếp tục hoàn thiện hơn trong những lần sau và trong
những tác phẩm sắp tới.
Mọi ý kiến đóng xin gửi vào địa chỉ mail:
tunyduoc1218@gmail.com
Fanpage:
Website: E-bacsy.com
Chân thành cám ơn sự ủng hộ của quý đồng nghiệp
Thay mặt nhóm dịch E-bacsy.
Bs Phạm Tăng Tùng

(Trang không có chữ)

Phụ lục
Phần I: Peel Nông, Peel Trung Bình và Peel Sâu
Chương 1: Peel Retinoic Acid

• Giới thiệu

• Lịch sử của lột da bằng retinoic acid

• Cơ chế hoạt động

• Chỉ định

• Chống chỉ định

• Phân loại lột da hóa học lớp nông

• Chuẩn bị bệnh nhân, các sử dụng và liều lượng

• Sau lột da

• Tác dụng phụ và cách xử lí

• Ghi nhớ
Chương 2: Peel Glycolic Acid

• Giới thiệu

• Glycolic acid peel

• Độ mạnh và liều lượng của peel

• Chỉ định

• Chống chỉ định

• Cơ chế hoạt động

• Đánh giá tiền peel

• Vật liệu, dụng cụ cần thiết

• Thực hành peel

• Chuẩn bị da

• Thủ thuật làm sạch

• Bôi acid

• Trung hòa

• Chăm sóc sau peel

• Biến chứng

• Liệu pháp phối hợp

• Peel bằng GA và TCA

• Dung dịch Jessner và peel GA

• Ưu điểm và nhược điểm của peel bằng Glycolic acid

• Ghi nhớ

Chương 3: Peel Salicylic Acid

• Giới thiệu

• Peel bằng salicylic acid (SA)

• Định nghĩa

• Chỉ định và chống chỉ định

• Công thức peel SA

• Tiền thủ thuật

• Thủ thuật

• Sau thủ thuật

• Biến chứng và xử lí

• Kết luận

• Ghi nhớ
Chương 4: Peel Pyruvic Acid

• Giới thiệu

• Chỉ định và hạn chế

• Lựa chọn bệnh nhân và chuẩn bị da

• Phương pháp bôi

• Lựa chọn độ mạnh dung dịch pyruvic acid

• Điều trị phối hợp

• Quá trình lành và chăm sóc sau peel

• Ghi nhớ
Chương 5: Peel Dung Dịch Jessner

• Giới thiệu

• Công thức peel và cơ chế tác động

• Lựa chọn bệnh nhân

• Chuẩn bị trước thủ thuật

• Tiến hành thủ thuật

• Chăm sóc da sau thủ thuật

• Biến chứng và tác dụng phụ

• Ghi nhớ
Chương 6: Phối Hợp Các Loại Peel Nông

• Giới thiệu

• Chỉ định và hạn chế

• Phối hợp với các loại peel và hóa chất khác.

• Phối hợp với Q-switched Nd-YAG laser

• Phối hợp với IPL

• Sạm da ánh sáng, tàn nhan và tăng sắc tố sau viêm

• Mụn

• Phối hợp với laser vi điểm xâm lấn.

• Ghi nhớ

Chương 7: Peel Trichloroacetic Acid

• Giới thiệu

• Chỉ định

• Chống chỉ định

• Peel bằng trichloroacetic

• Peel trung bình bằng trichloroacetic

• Chăm sóc sau peel

• Lợi ích của peel trung bình của TCA

• Biến chứng peel trung bình

• Những biến chứng khác

• Ghi nhớ
Chương 8: Phối hợp Peel TCA

• Giới thiệu

• Peel TCA

• Lão hóa ánh sáng

• Peel nông và rất nông bằng TCA

• Peel trung bình bằng TCA

• Phối hợp TCA

• Peel hóa chất và dày sừng ánh sáng

• Kết luận

• Ghi nhớ
Chương 9: Peel Sâu Bằng Dung Dịch Phenol

• Giới thiệu

• Lịch sử

• Peel phenol-dầu Croton: độc tính

• Phương pháp peel sâu

• Chất trung hòa phenol

• Chỉ định

• Chống chỉ định

• Chuẩn bị trước peel

• Kĩ thuật (peel phenol toàn bộ mặt)

• Tiến triển

• Phối hợp peel sâu và phẫu thuật thẩm mỹ

• Biến chứng

• Mô học

• Ghi nhớ
Chương 10: Peel Phối Hợp Phenol-Dầu Croton

• Giới thiệu

• Chỉ định và hạn chế

• Lựa chọn bệnh nhân và chuẩn bị da

• Quá trình lành vết thương và chăm sóc sau peel

• Độ mạnh và chuẩn bị công thư phenol-dầu croton

• Phối hợp với các loại peel hóa chất khác

• Phối hợp với tiêm botox A

• Phối hợp với filler

• Phối hợp với laser

• Ghi nhớ
Chương 11: Peel Hóa Chất Vùng Da Ngoài Mặt

• Giới thiệu

• Các hóa chất peel chính và chỉ định

• Chăm sóc đặt biệt sau thủ thuật

• Biến chứng

• Kết luận

• Ghi nhớ
PHẦN II: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT BIỆT TRONG PEEL HÓA CHẤT
Chương 12: Peel Hóa Chất Cho Người Có Da Tối Màu

• Giới thiệu

• Lịch sử và khái niệm

• Các loại peel

• Chỉ định và mẹo thực hành

• Lựa chọn bệnh nhân

• Trước khi peel

• Thủ thuật peel

• Sau peel

• Tác dụng phụ

• Ghi nhớ
Chương 13: Những Đổi Mới Trong Peel Nông

• Giới thiệu

• Lịch sử

• Khái niệm cơ bản

• Chỉ định và chống chỉ định

• Lựa chọn bệnh nhân

• Chuẩn bị trước peel

• Chăm sóc đặc biệt

• Hóa chất peel

• Peel phối hợp

• Các loại peel phối hợp khác

• Tác dụng phụ và cách xử lí

• Ghi nhớ
Chương 14: Xử Lí Biến Chứng Trong Peel Hóa Chất

• Giới thiệu

• Những biến chứng có thể xảy ra đối với tất cả loại peel

• Biến chứng riêng đối với từng loại peel

• Kết luận

• Ghi nhớ

• Tham khảo
Chương 15: Kinh Nghiệm Cá Nhân Của Tác Giả Trong Peel Hóa Chất

• Giới thiệu

• Những vấn đề cơ bản của peel hóa chất


Hóa học


Hóa chất peel


Nồng độ


PH và nhiệt độ


Dung môi


Da


Chất bã


Phân loại da


Quá trình bôi


Dụng cụ bôi


Bôi vùng rìa


Loại bỏ acid sau peel


Chuẩn bị phòng peel


Tính an toàn

• Chỉ định của peel hóa chất

• Học về peel hóa chất

• Ghi nhớ
PHẦN III: CÁC THỦ THUẬT VẬT LÝ TRONG THẨM MỸ DA
Chương 16: Kích Thích Tăng Sinh Collagen Bằng Lăn Kim Vi Điểm

• Giới thiệu

• Nguyên lí của PCIM

• Đặc điểm của PCIM

• Thủ thuật: quy trình thực hiện và xử lí

• Kết luận

• Ghi nhớ
Chương 17: Ứng Dụng Cryotherapy Trong Thẩm Mỹ

• Giới thiệu

• Nguyên lí cơ bản

• Kĩ thuật và dụng cụ

• Chuẩn bị trước thủ thuật/ lựa chọn bệnh nhân

• Chống chỉ định

• Chỉ định của cryotherapy

• Chăm sóc sau thủ thuật và theo dõi

• Tác dụng phụ và biến chứng

• Kết luận

• Ghi nhớ
Chương 18: Ứng Dụng Điện Phẫu Thuật Trong Các Thủ Thuật Thẩm Mỹ

• Giới thiệu

• Cơ chế hoạt động

• Lịch sử

• Phương thức phẫu thuật điện

• Ứng dụng lâm sàng của phẫu thuật điện

• Sấy điện

• Đông điện

• Đốt bằng tia điện

• Cắt điện

• Phẫu thuật bằng điện một chiều

• Dao đốt điện

• Điện cực mổ

• Thủ thuật phẫu thuật điện

• Ứng dụng lâm sàng

• Nguy cơ

• Vô trùng

• Ưu điểm

• Nhược điểm

• Chăm sóc sau phẫu thuật

• Tác dụng không mong muốn

• Biến chứng

• Ghi nhớ

Phần I
Peel Nông, Peel Trung Bình
và Peel Sâu

Peel bằng Retinoic Acid 1
Chương 1
Peel bằng Retinoic Acid
Heloisa Hofmeister
Tóm tắt

Lột da hóa học (chemical peel)
có thể được định nghĩa là phương
pháp tạo ra “vết thương có kiểm soát”
trên da được thực hiện bởi bác sĩ da
liễu cho nhiều mục đích khác nhau.
Lột da hóa học được chia thành lột da
lớp nông, trung bình và sâu tùy vào
mức độ ăn sâu của dung dịch hóa chất.
Peel lớp sâu nhất sẽ cho hiệu quả tốt
nhất, nhưng cũng có thể để lại những
biến chứng nặng nhất. peel nông là
một thủ thuật có lợi giúp cải thiện vẻ
bề ngoài của da cho kết quả nhanh và
ít hoặc không cần thời gian hồi phục.
Phương pháp này phù hợp với mọi
loại da. Retinoic acid là hoạt chất được
dùng trong điều trị mụn từ những
năm 1960 và trong điều trị lão hóa da
từ những năm 1980. Da lão hóa đặc
trưng bởi sự xuất hiện các nếp nhăn,
đốm tăng sắc tố, to lỗ chân lông, chảy
sệ, da trở nên tối sạm và những thay
đổi khác. Trong những thập niên trở
lại đây, retinoic acid đã được sử dụng
ở nồng độ cao trong peel nông như là
một phương pháp hiệu quả và an toàn
cho các bác sĩ da. Chương này sẽ giới
thiệu đến bạn các giai đoạn và hướng
dẫn kĩ thuật peel từng bước một dựa
trên y văn và kinh nghiệm thực hành
cá nhân hơn 30 năm của tôi.
Nội dung
• Giới thiệu
• Lịch sử của lột da bằng retinoic acid
• Cơ chế hoạt động
• Chỉ định
• Chống chỉ định
• Phân loại lột da hóa học lớp nông
• Chuẩn bị bệnh nhân, các sử dụng và
liều lượng
• Sau lột da
• Tác dụng phụ và cách xử lí
• Ghi nhớ
• Tham khảo
Giới thiệu

Trong những thập kỉ gần đây,
người ta đã phát triển nhiều phương
pháp điều trị đối với da lão hóa. Những
quan niệm mới và hiểu biết nhiều hơn
về quá trình lão hóa đã tạo ra những
thay đổi lớn trong nhưng phương
pháp điều trị mà các bác sĩ da áp dụng
cho bệnh nhân của họ. Với những công

Peel bằng Retinoic Acid
2
nghệ mới của laser và ánh sáng, sóng
cao tần RF, sóng siêu âm, công nghệ
trẻ hóa và làm thon gọn 3D, botox,
căng da mặt bằng chỉ và các phương
pháp tăng sinh collagen là những
công cụ luôn được đổi mới và sáng
tạo. Tuy nhiên có một thủ thuật hầu
như vẫn giữ nguyên kể từ lúc nó được
ứng dụng đó là lột da. Trong những
năm gần đây, số lượng các ca lột da
ngày càng tăng. Theo báo cáo thống
kê phẫu thuật thẩm mỹ của Hội Phẫu
Thuật Thẩm Mỹ Hoa Kỳ (2014), có
1,2 triệu ca lột da hóa chất được thực
hiện trong năm 2014 ở Mỹ, tăng 7% so
với năm 2013. Phương pháp này ngày
càng trở nên phổ biến. Phương pháp
này có thể thúc đẩy sự đổi mới của các
lớp tế bào và làm tăng sinh collagen.
Peel lớp nông bề mặt có thể giúp da
sạch và sáng chỉ trong vài ngày. Đây là
một thủ thuật tương đối đơn giản và
tiết kiệm đối với các bác sĩ da. Kết quả
tốt nhất đạt được khi lột da nhiều lần
trong một khoảng thời gian ngắn.
Lịch sử của lột da bằng retinoic acid

Retinoic hay retinoin đã được
sử dụng để điều trị mụn trong nhiều
năm trước đây nhờ vào khả năng tiêu
cồi mụn của nó. Chất này được sử
dụng trong điều trị comedones ánh
sáng (Kligman.1971), naevus com­
edonicus (Decherol. 1972), và cho
acne aestivalis (mụn mùa hè) (Mills
và Kligman 1975). Vào năm 1983,
Cordero đã đăng bài báo đầu tiên sau
khi quan sát thấy sự cải thiện đáng
kể của những nếp nhăn quanh mắt ở
bệnh nhân được điều trị comedones
ánh sáng (Cordero 1983) với retinoic
acid. Liều được ông sử dụng tại thời
điểm đó là 0.005-0.01% với kết quả
thu được tốt và tăng dần mà nhiều
năm sau đó được biết đến rộng rãi.
Vào năm 1986, Kligman đưa ra những
bằng chứng mô học chứng minh cho
hiệu quả trẻ hóa da của retinoic acid
trong một bài báo trên tạp chí Journal
of the American Academy of Derma­
tology (Kligman. 1986). Retinoic acid
đã trở thành hoạt chất tốt nhất và được
sử dụng phổ biến nhất cho điều trị tổn
thương do ánh sáng mặt trời, và vẫn là
chất đứng đầu hiện nay cho mục đích
này. Vào những năm 1990, nó được
sử dụng như là một chất lột da khi
phối hợp với trichloroacetic acid 35%
trong lột da trung bình giúp tạo một
lớp frosting (lớp da bị bạc trắng do tác
động của acid) đồng nhất hơn và làm
giảm thời gian phục hồi sau peel (Bro­
dy. 2000). Theo thời gian, lột da bằng
retinoic acid ngày càng được sử dụng
cho nhiều chỉ định khác nhau.
Cơ chế hoạt động

“Cơ chế hoạt động của lột
da, ngay cả khi chỉ tác động lên lớp
thượng bì, là khả năng kích thích sự
tái sinh thông qua những con đường
chưa được biết đến xảy ra trong lớp
bì” (Fisher 2010)
Chúng ta đều biết được rằng cơ chế
hoạt động của retinoic acid thông qua
bào mòn lớp sừng, đảo ngược các tế
bào bất điển hình ở lớp thượng bì,
kích thích sự tích lũy collagen ở lớp bì,
tăng tích lũy glycosaminoglycans, và
tăng sinh mạch máu (Yokomizo. 2013)

Retinoic acid có khả năng giúp
tăng sinh collagen và thúc đẩy đổi mới
tế bào trong quá trình thay thế của các

Peel bằng Retinoic Acid 3
tế bào keratin. Nó còn là chất tiêu cồi
mụn, và giảm sắc tố thông qua việc ức
chế tyrosinosis và TIRP-1. Ngoài ra
còn có những cơ chế khác liên quan tới
hoạt hóa các phân tử receptor nhân tế
bào của retinoic acid (RARα, RARβ, và
RARγ) (Baldwin. 2010).
Chỉ định

Lột da bằng retinoic acid có
thể giúp cải thiện da bị tổn thương do
ánh nắng, làm mịn da, dày sừng ánh
sáng, melanosis ánh sáng, tàn nhang,
da đốm Civatte, vết rạn da, mụn, dày
sừng nang lông, và rám má.
Chống chỉ định

Lột da bằng retinoic acid tránh
dùng trong trường hợp mang thai,
tiền sử mẫn cảm với retinoic acid, giãn
mạch và trứng cá đỏ (rosacea).
Phân loại lột da nông

Lột da nông sẽ làm bong những
lớp thượng bì phía trên mà không đi
vượt quá lớp đáy (basal layer) thượng
bì.

Lột da nông có thể chia thành
“rất nông” chỉ loại bỏ lớp sừng (độ
sâu= 0.06mm), và “nông” gây bong
tróc từ lớp hạt đến lớp đáy (độ sâu =
0.45 mm) (Yokomino. 2013). Độ sâu
của peel nông (hoặc bất kì loại peel
nào) phụ thuộc vào loại da, chuẩn bị
da trước điều trị, nồng độ retinoic
acid, dung môi, và kĩ thuật bôi retinoic
acid lên da. Độ sâu của peel sẽ quyết
đinh quá trình lành sau peel với hoặc
không có downtime (thời gian hồi
phục), đỏ da ít, và bong da nhẹ hoặc
nếu peel đến lớp đáy thì có thể cần ít
downtime, sạm da vùng điều trị và
bong da nhiều hơn. Phải tư vấn phản
ứng sau peel và thời gian phục hồi cho
bệnh nhân cũng như lấy phiếu đồng ý
trước khi làm thủ thuật.
Chuẩn bị bệnh nhân, hướng dẫn sử
dụng và liều lượng

Đối tượng bệnh nhân lí tưởng
là những người trước đây được điều
trị hàng ngày bằng retinoic acid theo
hướng dẫn của bác sĩ da. Mục đích của
pha tiền điều trị là để chuẩn bị da cho
quá trình peel và để theo giỏi trong
pha tái tạo. Để đạt được điều này,
tretinoin thường được bôi trước đó 1
tháng vì tác động của nó lên da sẽ giúp
quá trình peel thấm tốt hơn, từ đó cho
kết quả tốt hơn. Hơn nữa, việc chuẩn
bị bệnh nhân với tretinoin còn giúp
thúc đẩy quá trình lành sau thủ thuật.
Để phòng ngừa tăng sắc tố sau viêm,
cần bôi chống nắng hàng ngày để ức
chế quá trình tăng sinh melamin lớp
thượng bì (Fischer. 2010).

Đối với người có màu da tối,
phân loại Fitzpatrick 3 trở lên, thường
có xu hướng tăng sắc tố sau peel.
Những người này phải được điều trị
với hydroquinone hoặc những hoạt
chất được chấp nhận khác ít nhất 3
tuần trước khi làm thủ thuật. Những
chất này có thể được sử dụng vào ban
ngày, thậm chí là ở bãi biễn, bể bơi
cùng với một loại chống nắng phù
hợp. Hydroquinone hiếm khi gây ra dị
ứng, những cũng thường xuyên gây ra
viêm da kích ứng nếu bệnh nhân bôi
một lớp quá dày. Do đó, nó phải được
sử dụng với lượng tối thiểu “gần như
không” như tôi thường khuyên bệnh
nhân của mình. Với nám má, chất này
có thể dùng đến 3 lần trong một ngày.

Peel bằng Retinoic Acid
4
Kết quả đạt được rất ấn tượng và
chúng tôi cho rằng hydroquinone
là tiêu chuẩn vàng đối với nám má!
Điều trị với hydroquinone để chuẩn
bị da trước peel khiến thủ thuật này
trở nên an toàn hơn. Tuy nhiên, phải
đảm bảo mua những sản phẩm này từ
một nhà thuốc mà bạn tin tưởng. Một
công thức sai của hydroquinone như
monobenzylether có thể gây ra thảm
họa như mất sắc tố vĩnh viễn, thậm
chí lan ra ngoài vùng điều trị. Cần phải
hướng dẫn bệnh nhân đến một địa chỉ
nhà thuốc uy tín.

Bệnh nhân cần phải được hiểu
về những gì sẽ xảy ra trong và sau thủ
thuật cũng như tầm quan trọng của
dùng chống nắng hàng ngày.

Dù là peel nông, cũng cần phải
dự phòng nhiễm herpes. Lấy kĩ bệnh
sử của bệnh nhân và nếu bệnh nhân
có tiền sử nhiễm herpes thì cần điều
trị kháng virus với valacyclovir 500mg
12/12h trong 5 ngày trước khi peel.

Trong quá trình peel, cần giữ im
phòng thủ thuật im lặng, nên mở nhạc
thư giãn và tạo môi trường thân thiện,
nhiệt độ mát mẻ. Bệnh nhân phải được
đội mũ dùng một lần, và mang áo quần
thỏa mái, bác sĩ phải đi găng tay. Cần
tạo ra sự thỏa mái cho bệnh nhân.

Nồng độ retinoic acid sử dụng
trong peel từ 3% đến 12%. Nồng độ
thường dùng và an toàn nhất là 5%.
Một nghiên cứu được xuất bản năm
2011 cho thấy không có sự khác biệt
trong kết quả điều trị nám má giữa
hai nồng độ 5% và 10% (Magalhães.
2010). Dung dịch có thể được bào chế
với gel, lotion, hoặc cream của propil­
enoglycol. Dung môi phổ biến nhất là
propilenogycol và màu của dung dịch
là màu vàng nhạt. Dung dịch lột da
retinoic acid có thể được pha chế bởi
dược sĩ với các tông màu da để tạo
ra retinoic acid có màu vàng đậm tự
nhiên. Retinoic acid có thể được bôi
nhẹ nhàng bằng bút lông mềm dùng
một lần và có thể bôi lên toàn bộ vùng
da cần điều trị. Trong quá trình bôi
dung dịch thì bệnh nhân sẽ không cảm
thấy đau, tuy nhiên một số bệnh nhân
có da nhạy cảm có thể cảm thấy hơi
châm chích. Bệnh nhân phải giữ dung
dịch ở trên mặt ít nhất 6h và sau đó
rửa sạch. Trong ngày tiếp theo, bệnh
nhân có thể bị đỏ da từ nhẹ đến nặng
tùy vào độ sâu của peel nông.

Độ sâu của peel phụ thuộc vào
độ dày của thượng bì, mật độ nang
lông, mức độ tổn thương ánh sáng,
giới tính (da của nam dầu hơn, cản
trở sự thâm nhập), kiểu da, mức độ
kết dính của hàng rào thượng bì, và sự
chuẩn bị trước đó của da (Yokomino.
2013).

Tẩy nhờn của da là then chốt để
kiểm soát độ sâu và sự đồng nhất của
bất kì loại peel nào, và nó cũng không
có sự khác biệt đối với peel da bằng
retinoic acid. Có thể tẩy nhờn cho da
bằng cách chà mạnh với gạc thấm
dung dịch Hoffman và chất này sẽ gây
đỏ da tức thì sau khi peel. Với da dày
hơn thì đây là một phương pháp tốt để
peel. Cách này sẽ gây bong da nhiều
hơn sau thủ thuật, và làm da nhìn tối
hơn ngay trước khi bắt đầu peel. Bệnh
nhân cần phải nhận thức được những
nguy cơ cụ thể có thể xảy ra sau điều
trị như làm xấu đi tình trạng giãn mạch
và trứng cá đỏ (rosacea). Cũng có thể
tẩy nhờn ở da bằng gạc thấm alcohol
mà không cần phải chà, retinoic acid

Peel bằng Retinoic Acid 5
sau đó được bôi như cách được mô tả
ở trên.

Trong điều trị vết rạn da, chà
gạc là rất quan trọng để hoặt tính của
retinoic acid đi sâu hơn vào da. Đối với
chỉ định này và với da tổn thương ánh
sáng, peel có thể được thực hiện sau
vi mài da (microdermabrasion) hoặc
laser vi điểm (fractional laser) để làm
tăng hiệu quả. Đối với rạn da, vùng
dược điều trị có thể được phủ bởi một
lớp film PVC để làm tăng hiệu quả của
peel.
Sau lột da

Bệnh nhân giữ lớp bôi retinoic
acid ít nhất 6h, sau đó được hướng dẫn
để rửa sạch dung dịch retinoic acid với
nước và xà phòng nhẹ. Trong tuần tiếp
theo, sử dụng chống nắng hàng ngày
là bắt buộc. SSau mỗi lần peel nông,
cần dùng dưỡng ẩm để tăng hiệu quả
điều trị.
Tác dụng không mong muốn và cách
xử lí

Lột da bằng retinoic acid có thể
gây đỏ da nặng, đặc biệt trong trường
hợp da mỏng và da được tẩy nhờn.
Trong trường hợp này, có thể cho
bệnh nhân dùng corticosteroid nhẹ
bôi trong vài ngày để làm giảm triệu
chứng. Đỏ da kéo dài hiếm gặp và nếu
xảy ra, sử dụng corticosteroid halogen
hóa dưới sự giám sát nghiêm ngặt của
bác sĩ da vì quá trình viêm có thể dẫn
đến tăng sắc tố sau viêm.
Ghi nhớ

1. Lột da bằng retinoic acid là
phương pháp được đánh giá cao và
được sử dụng thường xuyên bởi các
bác sĩ da.

2. Nếu chưa có kinh nghiệm
trong làm thủ thuật này, cần phải lưu
ý.

3. Luôn chụp ảnh trước và sau
thủ thuật; yêu cầu bệnh nhân đến
phòng khám để kiểm tra hàng ngày
cho đến khi cảm thấy ổn.

4. Đây là phương pháp tương
đối đơn giản và an toàn, nếu bệnh
nhân được hướng dẫn cẩn thận và tạo
được mối quan hệ tốt giữa bệnh nhân-
bác sĩ, họ sẽ cảm thấy hài lòng và thỏa
mãn hơn.
Tài liệu tham khảo

• 2014 Plastic Surgery Statis­
tics. org/
Documents/news-resources/sta­
tistics/2014-statistics/
plastic-sur­
gery-statsitics-full-report.pdf.
Ac­
cessed 05 Apr 2016.

• Baldwin HE, Nighland M, Ken­
dall C, Mays DA, Grossman R, New­
burger J. 40 years of topical treti­
noin use in review. Br J Dermatol.
2010;163(6):1157–65.

• Brody HJ, et al. A history of
chemical peeling. Dermatol Surg.
2000;26:405–9.

• Cordero Jr A. La vitamina a
acida em la piel senil. Actualizaciones
Terapéuticas
Dermatológicas.
1983;6:49–54.

• Decherol JW, Mills O, Leyden
JJ. Naevus comedonicus – treatment
with retinoic acid. Br J Dermatol.
1972; 86(5):528–9.

• Fischer TC, Perosino E, Poli F,
Viera MS, Dreno B, Cosmetic Derma­
tology European Expert Group. Chem­
ical peels in aesthetic dermatology: an

Peel bằng Retinoic Acid
6
update 2009. J Eur Acad Dermatol Ve­
nereol. 2010;24(3): 281–92.

• Kligman AM. Photoaging:man­
ifestations, prevention and treatment.
Dermatol Clin. 1986;4(3):517–28.
Kligman AM, Plewig G, Mills Jr OH.
Topically applied tretinoin for senile
(solar) comedones. Arch Dermatol.
1971;104(4):420–1.

• Kligman AM, Grove GL, Hi­
rose R, Leyden JJ. Topical tretinoin for
photoaged skin. J Am Acad Dermatol.
1986;4:836–59.

• Magalhães GM, Borges MF,
Querioz ARC, Capp AA, Pedrosa SV,
Diniz MS. Double-blind randomized
study of 5% and 10% retinoic acid
peels in the treatment of melasma:
clinical evaluation and impact on the
quality of life. Surg Cosmet Dermatol.
2011;3(1):17–22.


• Mills OH, Kligman AM. Acne
aestivalis. Arch Dermatol.
1975;111(7):891–2.

• Yokomizo VMF, Benemond
TMH, Chisaki C, Benemond PH. Chem­
ical peels: review and practical ap­
plications. Surg Cosmet Dermatol.
2013;5(1):58–68.

7
Lột da bằng Glycolic Acid
Chương 2
Lột da bằng Glycolic Acid
Denise Steiner and Mirella G. Pascini
Tóm tắt

Lột da (peel) là một trong
những thủ thuật lâu đời và phổ biến
nhất trong ngành da liễu thẩm mỹ
trên thế giới. Lột da hóa học được chia
thành lột da nông, trung bình và sâu
tùy vào mức độ xâm nhập của dung
dịch lột da. Peel bằng glycolic acid
(GA) được sử dụng nhiều nhất trong
các loại peel bằng alpha hydroxyl
acid (AHA) để peel rất nông, nông và
thậm chí là peel ở độ sâu trung bình,
bệnh nhân có thể dung nạp tốt tất cả
những hình thức peel này mà không
gây ra ngộ độc hệ thống. Peel bằng
GA đã được sử dụng như là một liệu
pháp kết hợp trong một loạt các vấn
đề về da nhờ vào hiệu quả chống viêm,
tiêu sừng và chống oxi hóa của nó. Độ
sâu khi peel bằng GA phụ thuộc vào
nồng độ của acid được sử dụng, thời
gian bôi, và bệnh của da. Mụn trứng cá
(viêm và không viêm), sẹo mụn, nám
má, lão hóa da ánh sáng, và tăng sắc tố
sau viêm đều có thể điều trị bằng peel
GA, nhưng chỉ định hay gặp nhất là trẻ
hóa da. Cũng giống như peel bằng các
AHA khác, GA cần được trung hòa khi
kết thúc quá trình peel, cũng như cần
peel lặp lại một vài lần để đạt được kết
quả thẩm mỹ như mong muốn. Peel
GA hầu như không cần thời gian phục
hồi (downtime) trên lâm sàng và kết
quả mang lại rất khác nhau giữa các
bệnh nhân, tuy nhiên nếu chọn bệnh
nhân phù hợp và dùng đúng kĩ thuật
thì peel bằng GA có thể cải thiện da
đáng kể. Ngoài ra, peel GA có thể được
sử dụng đơn lẻ hay phối hợp với các kĩ
thuật khác như tiêm botox, tiêm filler
để thúc đẩy quá trình chống lão hóa da
trên mặt.
Nội dung
• Giới thiệu
• Glycolic acid peel
• Độ mạnh và liều lượng của peel
• Chỉ định
• Chống chỉ định
• Cơ chế hoạt động
• Đánh giá tiền peel
• Vật liệu, dụng cụ cần thiết
• Thực hành peel
• Chuẩn bị da

8
Lột da bằng Glycolic Acid
• Thủ thuật làm sạch
• Bôi acid
• Trung hòa
• Chăm sóc sau peel
• Biến chứng
Liệu pháp phối hợp
• Peel bằng GA và TCA
• Dung dịch Jessner và peel GA
• Ưu điểm và nhược điểm của peel
bằng Glycolic acid
• Ghi nhớ
• Tham khảo chéo
• Tham khảo
Giới thiệu

Lột da bằng hóa chất thực hiện
bằng cách bôi hóa chất lên da nhằm
phá hủy có kiểm soát một phần hay
toàn bộ lớp thượng bị, kèm theo hoặc
không kèm theo sự phá hủy lớp bì,
đưa đến sự bong tróc và loại bỏ những
tổn thương bề mặt từ đó thúc đẩy quá
trình tái tạo mô thượng bì và mô bì
mới (Khunger 2008). Lột da hóa học
được chia thành lột da rất nông, nông,
trung bình và sâu tùy thuộc vào mức
độ thấm vào của dung dịch peel.

Trong peel rất nông, sự hoại tử
chỉ diễn ra ở lớp sừng thượng bì. Peel
nông sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ lớp
thượng bì phía trên lớp đáy. Peel trung
bình đặc trưng bởi sự hoại tử đến lớp
bì lưới trên. Theo Rubin, người đã đưa
ra phân loại da tổn thương do ánh
sáng dựa thên độ sâu mô học của tổn
thương, thì peel phải đạt đến được độ
sâu nhất nơi tồn tại những vấn đề của
da mới đạt được kết quả tốt nhất, điều
này có nghĩa là việc lựa chọn bệnh
nhân và tổn thương phù hợp để điều
trị là yếu tố quyết định để đạt được kết
quả mong muốn (Ditre 2006; Fabbro­
cini. 2009). Peel hóa chất có thể được
sử dụng để điều trị mụn, sẹo mụn, rối
loạn sắc tố, và các dấu hiệu lão hóa da
ánh sáng như: nếp nhăn, dày sừng ánh
sáng, và đốm nâu.

Peel hóa chất đã đứng vững qua
thử thách của thời gian, và ngày nay có
rất nhiều chế phẩm peel sẵn có trên thị
trường. Rất nhiều hóa chất khác nhau
đã được sử dụng như là chất peel, trong
đó được sử dụng nhiều nhất là alpha
hydroxyl acid như glycolic acid hoặc
beta hydroxyl acid như salicylic acid
(Fabbrocini. 2009). Trong chương này
chúng ta sẽ tập trung tiếp cận cách sử
dụng glycolic acid để peel, chất này có
tác dụng tiêu sừng, tăng sinh các lớp
tế bào và kích thích tế bào sợi (fibro­
blast) (Fabbrocini. 2012). Trước khi
đi sâu vào GA, chúng ta sẽ được giới
thiệu ngắn gọn về alpha hydroxyl acid
(AHA).

AHA được phát triển bởi Van
Scott và Yu từ năm thập niên 1980
thời điểm mà peel nông được áp dụng
nhiều hơn cho các trường hợp tăng
sừng. Kết quả là người ta đã phát triển
peel bằng glycolic acid (Fischer 2010).
AHAs là một nhóm các acid hữu cơ
có chung gốc hydroxyl ở vị trí alpha.
Những chất này được tìm thấy trong
thực phẩm tự nhiên như trái cây, mía,
và sữa chua. AHAs gồm có glycolic acid
(nguồn gốc từ mía), lactic acid (từ sữa
chua), citric acid (từ chanh và cam),
malic acid (từ táo), và tartaric acid (từ
nho).

Nguồn gốc tự nhiên của glycolic
acid là từ mía, tuy nhiên glycolic acid
dùng trong tự nhiên được tạo ra trong
phòng thí nghiệm từ các phản ứng hóa

9
Lột da bằng Glycolic Acid
học. AHA đơn giản và được sử dụng
nhiều nhất là glycolic acid (GA), chất
này có cấu trúc 2 phân tử carbon có
đặc tính ưa nước mạnh giúp nó xâm
nhập tốt hơn vào da tốt hơn.

GA dùng để peel thường có
nồng độ 30%-70% để có thể làm tiêu
lớp thượng bì và gây bong vảy. AHAs là
những acid yếu giúp trẻ hóa da thông
qua tác dụng chuyển hóa và ăn da của
nó, những acid này cần được trung
hòa bằng dung dịch base như sodium
bicarbonate, sodium hydroxide, hoặc
nước để ngưng tác dụng của chúng khi
kết thúc peel (Murad 1995).

Trong phần này chúng ta sẽ xem
xét đến độ mạnh và liều lượng của GA
khi peel, và sau đó là tiếp cận với cơ
chế hoạt động của nó. Từ đó chúng ta
sẽ bàn luận đến chỉ định của GA, lựa
chọn bệnh nhân phù hợp và cơ chế
hoạt động. Tiếp theo đó là đánh giá
tiền peel, an toàn trong thực hành peel
và chăm sóc sau peel cũng sẽ được
thảo luận. Ngoài ra những biến chứng
của thủ thuật cũng như sự phối hợp
các thủ thuật khác cũng được nhắc
đến.
PEEL BẰNG GLYCOLIC ACID
Độ mạnh và nồng độ

GA là một chất lột da có nhiều
tác dụng và có thể dùng ở nhiều độ
mạnh khác nhau tùy theo nồng độ và
thời gian tiếp xúc. Khoảng nồng độ gly­
colic acid trong peel từ 20% đến 70%,
và pH từ 1 đến 3. Chúng xuất hiện trên
thị trường ở các dạng dung dịch free
acid, dung dịch trung tính một phần
(pH cao hơn) hay dung dịch đệm. Khi
sử dụng dạng dung dịch đệm thì thời
gian tiếp xúc cần thiết với hóa
chất peel sẽ lâu hơn. Sự hấp thu gly­
colic acid ở da người tùy thuộc vào
pH, độ mạnh và thời gian (Fabbrocini.
2012). GA có nhiều dạng khác nhau từ
dung dịch cho đến gel, trong đó dạng
gel được ưa thích hơn do nó thấm vào
chậm hơn và dễ kiểm soát hơn. Dung
dịch acid tự do có pH thấp hơn dung
dịch trung tính một phần cho phép lột
da sâu hơn. Tương tự như vậy, nguy cơ
acid thấm không đều vào da cao hơn
với dung dịch có pH rất thấp, dẫn đến
gây ra vùng lột da sâu hơn.

Giá trị pH và nguy cơ acid xâm
nhập vào lớp bì có mối quan hệ thuận
nghịch, nghĩa là nồng độ pH càng thấp
thì nguy cơ xâm nhập vào lớp bì càng
cao và peel càng sâu (có thể gây sẹo).
Ngược lại, pH càng cao, thì dung dịch
càng trung tính, càng ít acid tự do
(hoạt tính sinh học thấp) và khả năng
thấm vào da càng thấp. Dung dịch có
pH thấp hơn sẽ gây bỏng, châm chích,
và đỏ da nhiều hơn, tuy nhiên bệnh
nhân ít dung nạp hơn so với dung
dịch có pH cao hơn (Kede và Guedes.
2012).

Cần phải nhớ rằng độ sâu của
peel nên được điều chỉnh theo độ sâu
bệnh học của bệnh được điều trị; ví dụ,
peel nông có thể cải thiện tính trạng
mụn, nếp nhăn nhỏ, nám má nông,
tuy nhiên sẽ không thể giúp cải thiện
nếp nhăn sâu, nám má sâu, hay tăng
sắc tố sau viêm. Khuyến cáo nên bắt
đầu peel với nồng độ acid thấp (20-
30%) sau đó tăng dần nồng độ và thời
gian tiếp xúc trong những lần peel tiếp
theo (Landau 2007). Trung hòa acid là
một bước quan trọng của thủ thuật và
nên được tiến hành ngay lập tức với
sodium bicarbonate hoặc nước sôi để

10 Lột da bằng Glycolic Acid
tốt với peel bằng GA. Cân nhắc điều
trị nám má với peel bằng GA, vì sau
peel sự phân bổ của melanin đồng
đều hơn, và đào thải sự tích tụ mela­
nin, do đó GA rất hữu ích trong điều trị
nám má thượng bì. Tuy nhiên, nhiều
nghên cứu so sánh hiệu quả của của
các loại peel đối với nám má cho kết
quả trộn lẫn, và việc sử dụng các chất
peel không gây viêm như salicylic acid
được ưa thích hơn cho những vấn đề
trên vì khả năng gây tăng sắc tố sau
viêm thấp hơn (Monheit và Chastain.
2012).

Glycolic acid có thể được dùng
phối hợp với 5-fluorouracil để điều trị
các bệnh tiền ung thư da như dày sừng
ánh sáng và viêm môi ánh sáng, hỗn
hợp này được gọi là fluorouracil-hy­
droxy pulse peel (Jackson 2014).
nguội ngay khi đạt được điểm cuối
lâm sàng. Nếu GA không được trung
và được giữ lại trên da trong thời gian
quá dài, nó có thể gây ra tổn thương
ở lớp bì (Monheit và Chastain. 2012).
Chỉ định

GA có thể được sử dụng để điều
trị tăng sắc tố sau viêm, đốm nâu, nám
má thượng bì (nông) (hình. 1), tăng
tiết bã nhờn, và những nếp nhăn nhỏ
(hình. 2) (Monheit và Kayal 2003).
Mụn (hình. 3) ở các độ nặng khác
nhau là một trong những chỉ định tốt
của peel GA. Ở những bệnh nhân này,
peel GA được sử dụng rộng rãi hơn so
với dung dịch Jessner vì peel GA có
hiệu quả điều trị tương đương nhưng
ít gây bong tróc da hơn (Fabbrocini.
2012; Kim. 1999). Số lần peel và tần
suất phụ thuộc vào mức độ đáp ứng
lâm sàng, bệnh nhân thường dung nạp
Hình 1: Trước và sau khi peel GA (6 lần, mỗi lần cách nhau 4 tuần) cho bệnh nhân nám
má với kết quả thành công

11
Lột da bằng Glycolic Acid
Hình 2: Ảnh trước và sau khi lột da bằng glycolic acid (6 lần, mỗi lần cách nhau 4 tuần)
điều trị trẻ hóa da cho kết quả thành công (cải thiện kết cấu, nếp nhăn nhỏ, và sắc tố
da)
Hình 3: Ảnh trước sau lột da bằng GA (6 lần, mỗi lần cách nhau 4 tuần) trong
điều trị sẹo mụn.

12 Lột da bằng Glycolic Acid

Peel GA nông phù hợp với bệnh
nhất ở tất cả các phân loại da; tuy
nhiên peel GA trung bình nên tránh áp
dụng đối với bệnh nhân có phân loại
Fitzpatrick loại IV và V vì nguy cơ gây
tăng và giảm sắc tố sau peel.
Chống chỉ định

Peel bằng GA chống chỉ định
với các trường hợp cụ thể như đang
bệnh nhân đang mang thai và cho con
bú, nhiễm herpes simplex ở trạng thái
hoạt động, viêm da tiếp xúc và dị ứng
với glycolate. Ngoài ra, peel bằng GA
sẽ làm tăng tính nhạy cảm của da với
tia cực tím (UV) (Fabbrocini. 2012;
Fischer. 2010).
Cơ chế hoạt động

GA đánh vào lớp sừng, gây tổn
thương và giảm kết dính tế bào để
gây bong da (Fartasch. 1997). Peel
GA nông cũng làm tăng hoạt tính của
enzyme thượng bì gây phân giải và
bong tróc thượng bì (Fischer. 2010).
Thượng bì trở nên mỏng hơn, các tế
bào tăng sinh giúp tái sinh và tái cấu
trúc thượng bì giúp cải thiện kết cấu
và bề mặt da. Sự kích thích thượng bì
cũng làm tăng tổng hợp các cytokines
giúp hoạt hóa tế bào sợi sản xuất col­
lagen típ I và IV và sợi elastin, giúp
cải thiện tình trạng lão hóa da do ánh
sáng. Peel sâu hơn sẽ giúp collagen và
glycosaminoglycans tích tụ nhiều hơn
(Murad. 1995).

Trong điều trị mụn, peel GA có
hiệu quả trong điều trị các tổn thương
không viêm và các tổn thương viêm đã
vỡ nhờ vào khả năng diệt khuẩn đối
với Propionibacterium acnes và hoạt
tính chống oxi hóa. Ngoài ra peel
bằng GA còn làm tăng khả năng thấm
của các thuốc bôi trị mụn, do đó còn
được dùng để bổ trợ cho điều trị mụn.
Tuy nhiên, phương pháp này ít có
hiệu quả đối với sẹo lõm hay lồi (At­
zori.1999). Bằng cách ly giải thượng
bì, phân tán melanin lớp đáy và hyal­
uronic acid lớp bì, thượng bì, phương
pháp này còn giúp sữa chữa những
thay đổi sừng hóa trong các trường
hợp trên, ngoài khả năng làm tăng sự
biểu hiện gen collagen thông qua tăng
tiết IL-6 (Bernstein. 2001).

Cần phải nhớ rằng việc peel
nhiều lần và thường xuyên là cần thiết
để có được kết quả khả quan nhất,
trung bình 15 ngày làm một lần trong
khoảng 4-6 tháng cho đến khi đạt
được kết quả mong đợi.
Đánh giá tiền peel

Cần thăm hỏi kĩ bệnh nhân
về mức độ phơi nắng, lịch sử nhiễm
herpes simplex, có tiền sử điều trị
isotretinoin trong vòng 6 tháng qua
hay không (đối với peel GA trung
bình), và da có xu hướng tăng sắc tố
sau viêm không. Bệnh nhân có kiểu
đa tối màu thường có xu hướng tăng
sắc tố sau viêm. Ngoài ra, cần phải xác
nhận lại với bệnh nhân toàn bộ tiền sử
bệnh và những thuốc họ đang điều trị.

Trong tất cả các trường hợp
peel, phải lấy phiếu đồng ý thực hiện
thủ thuật, chụp ảnh trước và sau thủ
thuật với máy ảnh chất lượng cao.

Cần phải viết ra những thông
tin về loại peel mà bệnh nhân được
làm, hiệu quả có thể đạt được và cách
chăm sóc sau peel.

Bác sĩ cũng nên giải thích cho
bệnh nhân vì sao cần phải peel nhiều

13
Lột da bằng Glycolic Acid
lần để đạt được kết quả như mong đợi
đồng thời phải đánh giá được kỳ vọng
và cảm xúc của họ. Ngoài ra, bệnh
nhân cũng cần được thông tin về thời
gian hồi phục, tầm quan trọng của
liệu pháp duy trì sau peel, những biến
chứng và tác dụng phụ có thể xảy ra
(Khunger 2008).
Dụng cụ
• Găng tay
• Mũ trùm đầu dùng một lần
• Cồn để làm sạch da
• Acetone để tẩy nhờn da
• Tăm bông, hoặc miếng gạc
• Đồng hồ
• Dung dịch trung hòa
Thực hành peel

Trong thực hành peel cần tuân
theo những bước sau: chuẩn bị da, rửa
mặt, bôi chất lột da, và trung hòa.
Chuẩn bị da

Bệnh nhân bắt buộc phải duy
trì chế độ chăm sóc da nghiêm ngặt
ngay trước và sau thủ thuật nhằm thu
được hiệu quả tối đa. Bác sĩ nên cung
cấp sự hướng dẫn, nguồn gốc và ví dụ
cụ thể để giúp hình thành chế độ chăm
sóc da này.

Bệnh nhân nên được điều trị
với các sản phẩm retinoic acid, AHAs,
hay làm trắng 2-4 tuần trước khi peel
và ngưng 3-5 ngày trước khi tiến
hành thủ thuật. Do đó, bệnh nhân có
thể thực hiện ở nhà bằng cách bôi các
chất lột da nhẹ như tretinoin 0.025%,
adapalene 0.1%, glycolic acid 6-12%,
kojic acid, hoặc azelaic acid (Khunger
2008).

Việc sử dụng tretinoin trước
peel hóa chất làm tăng hiệu quả của
thủ thuật này. Bằng cách làm mỏng
lớp sừng, sử dụng tretinoin trước đó
sẽ làm tăng độ sâu khi peel. Tretinoin
cũng giúp làm giảm thời gian hồi phục
sau khi làm láng bề mặt da.

Dùng hydroquinone (2-4%) có
hữu ích đối với bệnh nhân có phân
loại da típ III trở lên vì nó ức chế en­
zyme tyrosine và giảm sản xuất mel­
anin thượng bì trong thời gian trước
phẫu thuật và thời gian lành vết
thương. Nên dùng chất này, thậm chí
khi không có tiền sử bất thường về sắc
tố (Monheit và Chastain 2012).

Sự lựa chọn sản phẩm để điều
trị tiền peel phụ thuộc vào nhu cầu
của mỗi bệnh nhân và nguy cơ biến
chứng của các sản phẩm đó. Sản phẩm
được sử dụng để điều trị trước đó có
thể tiếp tục được sử dụng duy trì sau
đó.
Quy trình rửa sạch da

Rửa sạch da trước khi peel hóa
chất là cực kì quan trọng để hóa chất
peel có thể thấm đồng điều và do đó có
thể đạt được kết quả đồng nhất. Đầu
tiên, phải yêu cầu bệnh nhân rửa mặt
với xà phòng và nước. Sau đó, bề mặt
da phải được làm sạch nhẹ nhàng để
loại bỏ những dấu vết còn lại của đồ
trang điểm hoặc dầu. Isopropylic alco­
hol được sử dụng để làm sạch da và
acetone để dùng để tẩy nhờn da.
Bôi chất lột da

Bệnh nhân cần phải ngồi ở tư
thế thỏa mái, mang mủ trùm đầu và
luôn nhắm mắt trong suốt quá trình
làm thủ thuật. Acid có thể được bôi

14 Lột da bằng Glycolic Acid
bằng miếng gạc, cọ hình quạt, ngón
tay mang găng, hoặc tăm bông, tùy
thuộc vào dạng pha chế (dung dịch
hay gel). Nhìn chung, dạng gel có thời
gian thấm lâu hơn và dễ kiểm soát hơn
(Fabbrocini. 2009).

Đầu tiên, tốt hơn nên bắt đầu
bôi glycolic acid ở vùng tráng và sau
đó là những vùng còn lại của mặt vì
vùng trán ít nhạy cảm hơn và có thể
chịu được thời gian tiếp xúc lâu hơn
với acid so với những vùng khác trên
khuôn mặt. Những vùng da rất nhạy
cảm như góc mũi và môi nên được bảo
vệ bằng Vaseline. Cách bôi khi peel
cần thiết phải được đào tạo vì toàn bộ
da cần tiếp xúc với acid trong khoảng
thời gian giống nhau và nguy cơ acid
xâm nhập quá sâu vào da nêu người
làm chưa quen với thủ thuật này là
rất cao (Ditre. 2006). Độ sâu của chất
lột da khi thấm vào có thể quan sát và
kiểm soát thông qua sự thay đổi màu
sắc của da.

• Đỏ da đồng nhất, lan rộng cho
thấy acid thấm vào lớp thượng bì.

• Hình thành lớp frost trắng
biểu thị sự hoại tử đông của lớp bì
nhú.

• Hình thành lớp frost trắng
xám biểu thị sự hoại tử đông ở lớp bì
lưới.

• Không có điểm cuối lâm sàng
cụ thể đối với peel mà điểm cuối lâm
sàng được quyết định dựa trên độ sâu
của các vấn đề ở da. Thông thường, đỏ
da đồng nhất có thể thấy sau 3-5 phút,
thời điểm này nên tiến hành trung hòa
acid. Nếu thấy xuất hiện frost ở bất kì
vùng nào trước thời gian cài đặt sẵn,
hay điểm cuối lâm sàng thì, nên tiến
hành
trung hòa vùng đó ngay. Điều này đặc
biệt quan trọng đối với vùng có lớp
sừng mỏng như rảnh cánh mũi, rãnh
mũi má, nơi mà acid được hấp thụ
nhanh hơn so với những vùng khác
và có thể cần trung hòa trước những
vùng mặt khác (Sharad 2013).
Trung hòa

Peel bằng GA cần phải được
trung hòa để ngưng tác dụng của nó.
Chất trung hòa trong peel bằng AHA
là các dung dịch base như muối am­
monium, sodium bicarbonate, sodium
hydroxide, hoặc nước. Trong đó được
sử dụng nhiều nhất là dung dịch so­
dium bicarbonate 10-15%, quá trình
trung hòa bằng sodium bicarbonate
sinh ra CO2 do đó bọt khí sẽ xuất hiện
trên bề mặt da, đây là dấu hiệu đảm
bảo để bác sĩ biết rằng họ đã trung hòa
acid (Rubin1992). Sau đó bệnh nhân
nên rửa mặt với thể tích nước lạnh
lớn.

Thất bại trong việc trung hòa
ở thời điểm thích hợp sẽ dẫn đến vết
thương ở lớp bì và tạo sẹo. Do đó, chất
trung hòa nên để ngay bên cạnh trong
quá trình làm thủ thuật.

Độ mạnh của peel bằng GA được
quyết định bởi nồng độ dung dịch và
thời gian tiếp xúc; do đó, thời điểm
trung hòa có thể xác định được. Ví dụ,
với dung dịch GA 30-50% thì bôi trong
vòng 1-2 phút (peel rất nông), GA 50-
70% thì bôi trong vòng 2-5 phút (peel
nông). Đối với peel trung bình thì dùng
GA 70%, bôi từ 3-15 phút (Fabbrocini.
2009).

Điều cần thiết cần phải nhắc lại
là quan trọng hơn cả việc theo dõi sát
sao thời gian peel là việc quan sát

15
Lột da bằng Glycolic Acid
bệnh nhân một cách cẩn thận, quan
sát những phản ứng trên da bệnh
nhân và tìm kiếm vùng bị frost để
trung hòa trước những vùng này. Đặc
biệt đối với peel bằng GA, acid thấm
vào da không đều là chuyện thường
gặp, do đó người làm thủ thuật cần
phải hết sức lưu ý đến đều này trong
quá trình làm. Tương tự, vùng da mà
acid thấm càng sâu thì bệnh nhân sẽ
càng cảm thấy đau. Đa số bệnh nhân
sẽ có các triệu chứng như châm chích,
ngứa, hay tê; những triệu chứng này
sẽ nhanh chóng mất đi khi acid được
trung hòa.
Chăm sóc sau peel

Mục đích của chăm sóc sau peel
là để phòng ngừa, giảm thiểu nguy
cơ xảy ra biến chứng và đảm bảo sự
hồi phục ngay của da. Bệnh nhân cần
được yêu cầu ngưng sử dụng những
sản phẩm chăm sóc da bình thường
của họ trong vài ngày đến khi da hoàn
toàn hồi phục, và chỉ bôi những sản
phẩm được bác sĩ kê đơn.

Có thể bôi kem corticoid nhẹ
trong 2-3 ngày nếu có tình trạng viêm
để giải quyết vấn đề này. Mặc dù nhiễm
trùng rất hiếm khi xảy ra, nên bôi kem
mỡ trong trường hợp có mài để đảm
bảo không phát triển thành nhiễm
trùng. Đối với những người da nhạy
cảm cao thì chỉ cần dùng dưỡng ẩm là
đủ.

Trong thời gian đầu sau thủ
thuật nên tạm hoãn chăm sóc da hàng
ngày, và những sản phẩm dùng để duy
trì (AHA, retinoic acid, kem làm trắng
da, dưỡng ẩm) nên bắt đầu càng sớm
càng tốt khi bề mặt và cảm giác của da
trở về bình thường.
Bệnh nhân nên được tư vấn về việc
tránh phơi nắng trong ít nhất 6 tuần
sau peel và sử dụng chống nắng phổ
rộng vì da mới rất mềm yếu và dễ bị
tổn thương.
Biến chứng

GA là một chất lột da được chấp
nhận rộng rãi và nó tương đối an toàn,
tuy nhiên tác dụng phụ và biến chứng
vẫn có thể xảy ra. Những biến chứng
của peel hóa chất có thể dự phòng
bằng cách lựa chọn bệnh nhân phù
hợp, tư vấn bệnh nhân, chăm sóc tiền
peel đầy đủ, và chăm sóc tốt trong và
sau peel. Tuân thủ quy trình chăm sóc
sau peel là cần thiết để đảm bảo thành
công và để tránh biến chứng khi peel.

Biến chứng sớm là những phản
ứng không mong muốn như đỏ da, lột
da và cảm giác bị kéo da mặt trong vài
phút đến vài giờ sau peel. Những phản
ứng này có thể xảy ra và tùy thuộc vào
độ sau của peel.

Biến chứng muộn thường xảy
ra sau vài ngày đến vài tuần, gồm có:
sẹo, nhiễm trùng, tăng sắc tố sau viêm,
đỏ da kéo dài, và nhiễm herpes.

Herpes môi: khuyến cáo sử
dụng liệu pháp kháng virus đối với
những trường hợp peel trung bình
bằng GA dù bệnh nhân có hay không
có tiền sử nhiễm herpes simplex trước
đó. Nên sử dụng kháng virus 2 ngày
trước thủ thuật và tiếp tục trong 7-10
ngày cho đến khi biểu mô hoàn toàn
hồi phục. Phác đồ khuyến cáo điều trị,
acyclovir 400mg dùng 3 lần mỗi ngày;
valacyclovir 500mg dùng 2 lần mỗi
ngày; hoặc famciclovir 250mg dùng 2
lần mỗi ngày. Đối với bệnh nhân peel
nông bằng GA thì không cần phải

16 Lột da bằng Glycolic Acid
điều trị dự phòng nhiễm herpes, bởi
vì không đủ gây ra tổn thương để tái
hoạt virus. Tuy nhiên, cũng nên cân
nhắc dự phòng herpes nếu bệnh nhân
có tiền sử nhiễm herpes lặp lại.

Đỏ da kéo dài: trong một vài
trường hợp, đỏ da có thể tồn tại nhiều
tuần sau peel ở các mức độ khác nhau.
Những hoạt động thường ngày như
tập thể dục có thể làm tăng dòng máu
đến vùng này và làm nặng thêm tình
trạng đỏ da đó. Có thể dùng kem corti­
coid nhẹ để làm dịu triệu chứng song
song với sử dụng chống nắng (Tung
and Rubin 2010).

Tăng sắc tố sau viêm: đây
thường không phải là vẫn đề của peel
nông và rất nông bằng GA nhưng là
vấn đề quan trọng đối với bệnh nhân
có phân loại da Firtzpatrick típ III hoặc
cao hơn và đối với tất cả bệnh nhân
được peel trung bình. Sử dụng hydro­
quinone (2-4%) có thể giúp giảm nguy
cơ ở những bệnh nhân có xu hướng
bị tăng sắc tố sau viêm vì chất này ức
chế enzyme tyrosinase. Để tăng lợi
ích, bệnh nhân nên sử dụng trong giai
đoạn trước và sau thủ thuật (Monheit
và Chastain 2012).

Nhiễn trùng: đây là biến chứng
hiếm gặp nhưng có thể xảy ra khi peel
trung bình bằng GA do bị mất hàng
rào bảo vệ da và tổn thương mô sau
đó do chăm sóc vết thương không
đúng cách. Chậm lành vết thương và
đỏ da kéo dài là những dấu hiệu sớm
của nhiễm trùng. Trong trường hợp
nhiễm virus, nhiễm khuẩn hoặc nhiễm
nấm, cần nuôi cấy vùng tổn thương và
điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm
ngay để hạn chế tạo sẹo.

Tạo sẹo: tạo sẹo là biến chứng
rất hiếm, tuy nhiên peel bằng Ga có
thể gây tổn thương lớp bì khi áp dụng
kĩ thuật bôi không đúng hoặc sử dụng
dung dịch nồng độ quá cao. Để tránh
những biến chứng này, người làm thủ
thuật cần phải luôn theo dõi da bệnh
nhân trong quá trình làm và trung hòa
acid nhanh khi có dấu hiệu frost trên
da, đây là dấu hiệu tổn thương lớp bì.
LIỆU PHÁP PHỐI HỢP

Nguyên tắc kết hợp peel là sử
dụng phối hợp 2 loại hóa chất để đạt
độ sâu peel giống với khi dùng đơn lẻ
một hóa chất peel nhằm tăng độ an
toàn và nguy cơ để lại sẹo. Cách này sẽ
giúp làm tăng khả năng xâm nhập của
cả hai chất và làm giảm độc tính so với
khi peel chỉ một loại hóa chất để đạt
độ sâu đó.
Peel bằng GA và TCA

Dr. Coleman là người khởi
sướng sử dụng phối hợp GA và trichlo­
roacetic acid (TCA). Vì GA giúp loại bỏ
lớp sừng thượng bì, nó giúp TCA thấm
đồng điều hơn để đạt độ peel trung
bình (Coleman và Futrell. 1994). Dựa
vào cơ sở đó, dùng phối hợp gel gly­
colic acid 70% (ưu thế hơn dung dịch)
với TCA 35% để điều trị những vùng
da ngoài mặt như đốm nâu, dày sừng
ánh sáng ở cổ, và da ở vùng đầu hói,
cánh tay, bàn tay (Tung and Rubin
2010).

Thực hành peel: sau khi tẩy
nhờn, bôi một lớp GA 70% và trung
hòa trong 2 phút, sau đó bôi TCA 35%.
Cách này sẽ giúp peel đạt được độ sâu
hơn so với chỉ dùng TCA một mình.
Peel bằng GA và TCA được thực hiện
như là một thủ thuật đơn để loại bỏ

17
Lột da bằng Glycolic Acid
tình trạng nếp nhăn nhẹ, dày sừng ánh
sáng, hoặc rối loạn sắc tố. Thủ thuật
này có thể được lặp lại mỗi 6 tháng
hoặc 1 năm tùy thuộc vào tình trạng
tổn thương ánh sáng trên da (Fabbro­
cini. 2012; Kadunc. 2012).
Peel bằng dung dịch Jessner và GA

Sự phối hợp giữa dung dịch
Jessner và GA (Monheit peel) cho kết
quả peel đồng nhất hơn, vì dung dịch
Jessner có tác dụng tiêu sừng, cho
phép GA thấm vào da một cách đồng
đều (Monheit 1989). Tuy nhiên, nếu
sử dụng dung dịch Jessner sau khi
peel bằng GA có thể làm tăng nguy cơ
để lại sẹo vì điểm cuối lâm sàng của
peel bằng GA khó quan sát nhất là ở
bệnh nhân có da ngăm. Peel phối hợp
này có thể dùng để điều trị dày sừng
ánh sáng, nếp nhăn và tổn thương da
ánh sáng.

Thực hành peel: sau khi rửa
sạch mặt và tẩy nhờn, bôi 2 hoặc 3 lớp
dung dịch Jessner lên da bằng gạc cho
đến khi thấy đỏ da nhẹ. Sau đó bôi GA
70%, GA sẽ thấm nhanh và sâu hơn so
với khi bôi một mình.
Ghi nhớ
• Peel thành công phụ thuộc chính vào
hiểu biết của người bác sĩ về tính chất
hóa học và sinh học của quá trình peel,
nguyên tắc an toàn và hiệu quả, cũng
như chỉ định và tác dụng phụ của hóa
chất peel.
• Peel bằng GA luôn cần phải được
trung hòa, và hóa chất trung hòa phải
được để ngay bên cạnh khi peel.
• Peel bằng GA có thể gây tổn thương
lớp bị và tăng sắc tố sau viêm.
• Peel bằng GA cần lặp lại một vài lần
để đạt được hiệu quả tốt nhất.
• Hiệu quả trên mỗi bệnh nhân là rất
khác nhau.
• Lựa chọn bệnh nhân tối ưu cho peel
bằng GA là những người có tổn thương
da và rối loạn sắc tố ở mức độ trung
bình, sẵn sàng thực hiện nhiều liều
trình peel và không chịu được khoảng
thời gian hồi phục.
Ưu điểm
Nhược điểm
Đỏ da rất nhẹ
Cảm giác nóng và đỏ da trong khi
bôi
Lột da nhẹ
Khó peel đồng đều
Giai đoạn sau thủ thuật ngắn
Bắt buộc phải trung hòa
Có lợi đối với tổn thương da do ánh
sáng
Loét hoại tử nếu thời gian bôi quá
lâu và/hoặc PH da bị giảm
ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA PEEL DA BẰNG GA

18 Lột da bằng Glycolic Acid
Tài liệu tham khảo
• Atzori L, Brundu MA, Orru A, Biggio
P. Glycolic acid peeling in the treat­
ment of acne. J Eur Acad Dermatol Ve­
nereol. 1999;12:119–22.
Bernstein EF, Lee J, Brown DB, Yu R,
Van Scott
• D.Glycolic acid treatment increases
type I collagen mRNA and hyaluronic
acid content of human skin. Dermatol
Surg. 2001;27(5):429–33.
• Coleman III WP, Futrell JM. The gly­
colic acid tri- chloroacetic acid peel. J
Dermatol Surg Oncol. 1994;20(1):76–
80.
• Ditre CM. Alpha hydroxy acid peels.
In: Rubin MG, Tung R, editors. Proce­
dures in cosmetic dermatology series;
chemical peels. St Louis: Elsevier;
2006. p. 27–35.
• Fabbrocini G, De Padova MP, Tos­
ti A. Chemical peels: what’s new and
what isn’t new but still works well.
Facial Plast Surg. 2009;25(5):329–36.
doi:10.1055/s- 0029-1243082. Epub
2009 Dec 18.
• Fabbrocini G, Padova MP, Tosti A. Gly­
colic acid. In: Tosti A, Grimes PE, Pa­
dova MP, editors. Color atlas of chem­
ical peels. London: Springer; 2012. p.
9–16.
• Fartasch M, Teal J, Menon GK. Mode
of action of glycolic acid on human
stratum
corneum:
ultrastructural
and functional evaluation of the epi­
dermal barrier. Arch Dermatol Res.
1997;289:404–9.
• Fischer TC, Perosino E, Poli F, Viera
MS, Dreno
B.Cosmetic Dermatology European
Expert Group Chemical Peels in aes­
thetic dermatology: an update.
J
Eur
Acad
Dermatol
Venereol.
2010;24:281–92.
• Jackson A. Chemical peels. Facial
Plas Surg. 2014; 30(1):26–31.
• Kadunc BV. Peelings químicos:
médios e combinados. In: Kadunc B,
Palermo E, Addor F, editors. Tratado
de cirurgia dermatológica, cosmiatria
e laser: da sociedade brasileira de
dermatologia. Rio de Janeiro: Elsevi­
er; 2012. p. 311–8.
• Kede MPV, Guedes LS. Peelings
químicos: superficiais. In: Kadunc B,
Palermo E, Addor F, editors. Tratado
de cirurgia dermatológica, cosmiatria
e laser: da sociedade brasileira de
dermatologia. Rio de Janeiro: Elsevi­
er; 2012. p. 311–8.
• Khunger N. Standard guidelines of
care for chemical peels. Indian J Der­
matol Venereol Leprol. 2008;74(Sup­
pl S1):5–12.
• Kim SW, Moon SE, Kim JA, Eun HC.
Glycolic acid versus Jessner’s solu­
tion: which is better for facial acne
patients? A randomized prospective
clinical trial of split-face model thera­
py. Dermatol Surg. 1999;25(4):270–3.
• Landau M. Chemical peels. Clin Der­
matol. 2007;26:200–8. l therapy. Der­
matol Surg 25(4): 270.
• Monheit GD. The Jessner’s? TCA peel:
a medium-depth chemical peel. J Der­
matol Surg Oncol. 1989;15:945–50.
• Monheit GD, Chastain MA. Chemical
and mechanical skin resurfacing. In:
Bolognia JL, Jorizzo JL, Schaffer JV, ed­
itors. Dermatology, 3rd ed. Philadel­
phia: Elsevier Mosby; 2012. p. 2496–8.

19
Lột da bằng Glycolic Acid
• Monheit GD, Kayal JD. Chemical peel­
ing. In: Nouri K, Leal-Khouri S, editors.
Techniques in dermatologic surgery.
St Louis: Elsevier; 2003. p. 233–44.
• Murad H, Shamban AT, Premo PS. The
use of glycolic acid as a peeling agent.
Dermatol Clin. 1995;13:285–307.
• Rubin MG. Manual of chemical peels.
Philadelphia: JB Lippincott; 1992. p.
14.
• Sharad J. Glycolic acid peel – a cur­
rent review. Clin Cosmet Investig Der­
matol. 2013;6:281–8.
• Tung R, Rubin MG. Procedures in
cosmetic dermatology series: chemi­
cal peels. 2nd ed. Philadelphia: Saun­
ders; 2010.
• Denise Steiner Residency in Derma­
tology at Hos- pital das clínicas- Uni­
versity of São Paulo, Doctorated in
Dermatology at UNICAMP, presi- dent
of the Brazilian Society of Dermatolo­
gy 2013–2014
• Mirella Pascini Residency in Internal
Medicine and Dermatology at Irman­
dade Santa Casa de Misericórdia de
São Paulo, member of the Brazil- ian
Society of Dermatology

20 Lột da bằng Salicylic Acid
Chương 3
Lột da bằng Salicylic Acid
Maria Paulina Villarejo Kede and Luiza Soares Guedes
Tóm tắt

Lột da hóa học là thủ thuật bôi
một hoặc nhiều chất lột da, nhằm gây
ra sự phá hủy một vài lớp thượng bì
hoặc lớp bì, tiếp theo đó kích thích sự
tái sinh của da. Mỗi một bệnh nhân
nên được đánh giá cẩn thận để quyết
định dùng loại hóa chất phù hợp để
cho kết quả tốt nhất với ít biến chứng
nhất. Lựa chọn loại hóa chất peel cho
từng bệnh nhân dựa vào chỉ định của
loại hóa chất lột da, lối sống của bệnh
nhân, độ sâu của tổn thương cần được
điều trị, và phân loại da của họ. Salicyl­
ic acid (SA) là một loại β-hydroxy acid
có tác dụng tiêu sừng ở nồng độ 3-5%
và giúp các hóa chất khác thấm tốt
hơn vào da. Với nồng độ dưới 3%, SA
có tác dụng gây tăng sừng. SA thường
được dùng với dung dịch alcohol nồng
độ 20% hoặc 30% và tỉ lệ biến chứng
thấp. Bong da nhẹ xuất hiện từ 3-5
ngày sau peel và kéo dài trong khoảng
10 ngày. SA sử dụng hiệu quả trong
điều trị lão hóa da ánh sáng giai đoạn
sớm, nám má, mụn trứng cá viêm và
không viêm, sẹo mụn nông và những
vấn đề ở bệnh nhân da sạm màu.
Nội dung
• Giới thiệu
• Peel bằng salicylic acid (SA)
• Định nghĩa
• Chỉ định và chống chỉ định
• Công thức peel SA
• Tiền thủ thuật
• Thủ thuật
• Sau thủ thuật
• Biến chứng và xử lí
• Kết luận
• Ghi nhớ
• Tham khảo
Giới thiệu

Lột da hóa học là thủ thuật bôi
một hoặc nhiều chất lột da, gây ra sự
phá hủy một vài lớp thượng bì hoặc
lớp bì, tiếp theo đó kích thích sự tái
sinh của da (Fischer.2010)

Nếu sử dụng đúng kĩ thuật peel
da hóa chất thì có thể kiểm soát và lập
trình được các tổn thương da, từ đó
giúp trẻ hóa da (Butler. 2001). Peel da
hóa chất lần đầu được thực hiện vào

21
Lột da bằng Salicylic Acid
năm 1941 khi mà Eller và Wolf sử
dụng kĩ thuật này trong điều trị sẹo
mụn. Sự quan tâm của người Mỹ đối
với thủ thuật này đã tăng lên nhanh
chóng. Aryes (1960), Baker và Gordon
(1961) đã bắt đầu một thời kì mới của
peel da gọi là ‘peel da hóa chất hiện
đại’. Vào năm 1986, Brody và Hailey đã
sử dụng phối hợp 2 loại hóa chất peel
nông để thực hiện một thủ thuật peel
trung bình. Monheit đã đề xuất một kĩ
thuật khác về sự kết hợp giữa 2 loại
peel khác nhau vào năm 1989 (Brody
2000).
Peel bằng salicylic acid (SA)
Định nghĩa

Hydroxy acid (HA) được mô
tả đầu tiên bởi Van Scott và Yu khi họ
phát hiện thấy HA với nhóm hydroxyl
ở vị trí α hoặc β khi bôi lên da có thể
giúp cải thiện tình trạng tăng sừng. Họ
nhận thấy rằng quá trình keratin hóa
đã bị ảnh hưởng và lớp sừng thượng
bì đã bị làm mỏng (Van Scott và Yu.
1984). Việc sử dụng HA vào thẩm mỹ
bắt đầu từ nhiều năm sau đó, khi người
ta quan sát thấy chất này có thể giúp
cải thiện những đặc điểm lâm sàng
và cấu trúc của da bị tổn thương ánh
sáng (Tung 2000; Van Scott 1996).

HA được phân loại như là một
organic carboxylic acid vì chúng chứa
các phân tử carbon và hydrogen. Trong
da học, có 4 nhóm HA được phân loại
theo vị trí nhóm hydroxyl của phân tử
đó là: α-HA, β-HA, poly-HA, và bionic.

Salicylic acid (HA) là một loại
β-HA bởi vì nó có nhóm hydroxyl gắn
ở vị trí β của phân tử carboxylic. Khác
biệt hóa lí chủ yếu giữa SA và α-HA là
SA không tan trong nước trong khi
α-HA có thể tan trong nước (Guedes
2012).

Ở nồng đọ dưới 3%, SA làm
tăng sừng, giúp điều hòa quá trình
keratin hóa, từ đó giúp cải thiện lớp
thượng bì bị tổn thương bởi ánh sáng
mặt trời và tăng phân tán các hạt chứa
melamin. Khi dùng ở nồng độ 3-5%,
SA có tác dụng tiêu sừng và thúc đẩy
khả năng thấm của các hóa chất khác.
SA sử dụng để peel có nồng độ từ 10-
30%.

SA có tác dụng sát khuẩn và có
khả năng thấm cao vào da dầu và tuyến
bã nhờn, đều này giúp SA có tác dụng
tốt trong điều trị mụn trứng cá. Ngoài
ra, tỉ lệ biến chứng của loại acid này
cũng rất thấp. Dung môi trong công
thức này dễ bay hơi và bay hơi nhanh
giúp nhăn chặn sự xâm nhập sâu hơn
của acid.
Chỉ định và chống chỉ định

SA có thể được chỉ định trong
điều trị lão hóa da ánh sáng giai đoạn
đầu, rám má, mụn trứng cá viêm hoặc
không viêm, sẹo mụn nông, và các vấn
đề ở những người có kiểu da ngăm.

SA cũng được dùng phối hợp
với các loại hóa chất peel khác như tri­
chloroacetic acid và retinoic acid. Đều
quan trọng cần phải lưu ý là khi peel
phối hợp, nếu chúng ta sử dụng SA
trước thì khả năng xâm nhập của chất
peel thứ 2 sẽ nhanh hơn và sâu hơn vì
peel SA có tác dụng làm tiêu sừng, do
đó làm tăng nguy cơ biến chứng.

SA có thể được sử dụng ở bất kì
vùng da nào trên cơ thể. Nhờ vậy, SA
trở thành công cụ rất hữu dụng trong
điều trị mụn trứng cá ở lưng và vùng
chữ ‘V’ ở cổ. Tuy nhiên, nên tránh việc

22 Lột da bằng Salicylic Acid
sử dụng SA trên vùng da quá rộng vì
sẽ có nguy cơ bị ngộc độc salicylic,
mặc dù biến chứng này không thường
xảy ra khi dùng SA dạng dung dịch.
Ngoài ra, cũng không nên sử dụng cho
những bệnh nhân dị ứng với SA.
Công thức peel SA

Trong thực hành lâm sàng,
chúng tôi sử dụng dung dịch alcohol
của salicylic acid được mô tả trong
một bài báo của Yokomizo (2013).
Chúng tôi sử dụng SA ở nồng độ 20%
hoặc 30% với ethanol. Acrylate co­
polymer hoạt động bằng cách hình
thành một màng film trên da, cho
phép SA lưu lại trên da và còn ethanol
sẽ bị bay hơi. SA cũng được sản xuất ở
dạng kem (Kede 2015): SA (dạng bột)
USP (United States Pharmacopeia) 40
hoặc 50%, sodium methyl salicylate
16 drops, và solid petrolatum 112g.

Gần đây, một loại công thức mới
được tạo ra từ SA bằng cách thêm vào
một chuỗi lipid có tên là lipo HA đã
được sử dụng. Sản phẩm này ưu dầu
hơn so với SA, do đó làm cho cơ chế
của nó đặc hiệu hơn, và hiệu quả tiêu
sừng cao hơn.

Một dung môi mới là polyeth­
ylene glycol cũng đã được đánh giá.
Chất này làm dịu các triệu chứng như
nóng, châm chích, và đỏ da gây ra bởi
SA. Dung môi mới này có ái lực cao với
acid, khi bôi nó tiếp tục gắn với acid và
từ từ nhả ra lượng acid nhỏ hơn trên
bề mặt thượng bì. Đều này giúp giải
thích nguyên nhân làm dịu cảm giác
bỏng rát của chất này.
Trước thủ thuật

Nên chuẩn bị da 1 tháng trước
khi peel bằng SA. Chuẩn bị da trước
với retinoids hoặc HA là rất quan
trọng vì quá trình chuẩn bị này sẽ giúp
làm tăng khả năng thấm khi peel, và
thúc đẩy sự phân tán của các hạt mela­
nin. Ngoài ra, sử dụng chống nắng phổ
rộng với cả UVA và UVB, và ferric oxit
(oxit sắt) một cách thường xuyên luôn
được khuyến cáo.

Dự phòng nhiễm herpes được
chỉ định nếu bệnh nhân có tiền sử
nhiễm HSV.
Tiến hành thủ thuật
-
Tẩy trang với miếng cotton và
lotion tẩy trang không chứa xà phòng.
-
Rửa sạch mặt với gạc và cồn để
loại bỏ lớp dầu trên mặt và làm tăng
thấm.
-
Bôi một đến hai lớp SA bằng
cách dùng gạc (hình 1). Một miếng
gạc cotton được sử dụng để bôi SA chỉ
trên một vùng tổn thương duy nhất
(như tổn thương mụn viêm).
-
Sau một vài giây, bệnh nhân sẽ
cảm thấy nóng rát nhẹ, cảm giác này
sẽ kéo dài 3-4 phút. Trong thời gian
này, đỏ da nhẹ và đồng nhất có thể
xuất hiện ở những bệnh nhân người
da trắng.
-
Khi SA khô đi sẽ tạo một lớp
màu trắng, đây không phải là lớp frost
(lớp da nổi trắng do protein bị đông
bởi acid) thực sự mà là sự lắng đọng
của các tinh thể SA. Lớp trắng này thấy
nhiều hơn trên bề mặt các tổn thương
viêm (hình 2a, b).
-
SA sau đó được trung hòa giống
như khi peel bằng α-HA. Mặc dù đã
được trung hòa, sau 5 phút, cần dùng
một tấm gạc thấm nước để lau sạch
vùng da được peel. Có thể dùng nước

23
Lột da bằng Salicylic Acid
-
Thủ thuật này có thể được lặp
lại mỗi 2-4 tuần. Để đạt được kết quả
lâm sàng tốt cần thực hiện 3-6 lần.
Hình 1: Dùng gạc để bôi salicylic acid
Hình 2. Lớp trắng ở trên da do lắng đọng tinh thể salicylic acid xuất hiện vài
phút sau khi bôi: (a) sau khi bôi một lớp SA; (b) sau khi bôi 3 lớp SA.

24 Lột da bằng Salicylic Acid
lạnh đề làm dịu cảm giác bỏng rát.
Sau thủ thuật

Sau thủ thuật, bong da nhẹ xảy
ra sau 3-5 ngày và kéo dày 7-10 ngày
(hình 3).

Trong giai đoạn này, cần bôi
chất dưỡng ẩm cho da khô, phải sử
dụng kem chống nắng và không được
bôi bất kì một loại thuốc điều trị nào
khác như retinoic acid hay glycol­
ic acid cho đến khi da hoàn toàn hồi
phục. Cần phải lưu ý rằng việc kê đúng
loại hoạt chất hỗ trợ làm lành là rất
quan trọng, chẳng hạn như không nên
kê thuốc bôi dầu cho bệnh nhân peel
SA để điều trị da mụn. Trong trường
hợp mụn trứng cá, chúng tôi khuyến
cáo chỉ bôi chống nắng không chứa
dầu (oil-free). Các thuốc điều trị mụn
nên bắt đầu sử dụng lại sớm ngay khi
da hồi phục.
Biến chứng và cách xử lí

SA thường xâm nhập nông trên
bề mặt và an toàn cho hầu hết các loại
da. Tuy nhiên, cần phải chăm sóc đối
với những loại da có phân loại cao (III,
IV, V) hoặc da không được chuẩn bị
trước peel do có nguy cơ tăng sắc tố
sau viêm. Do đó, chúng tôi luôn khu­
yên bệnh nhân tránh tiếp xúc với ánh
sáng mặt trời ít nhất 1 tháng trước khi
peel và 1 tháng sau khi peel.

Có thể bôi steroids trong thời
gian ngắn (3-5 ngày) nếu xảy ra phản
ứng viêm nặng ngay sau khi làm thủ
thuật do phản ứng kích ứng và dị ứng
với SA.

Nếu bị tăng sắc tố có thể kê chất
làm trắng và chống nắng phù hợp với
loại da của bệnh nhân.

Mặc dù cũng có nguy cơ ngộ độc
salicylic acid, tuy nhiên nó rất hiếm khi
xảy ra khi dùng ở dạng dung dịch. Ngộ
độc xảy ra khi nồng dộ salicylic acid
trong máy tăng từ 200 đến 400μg/ml
(Guedes 2012). Triệu chứng ngộ độc
salicylic acid như sau:

- Ngộ độc nhẹ: khó thở, ù tai,
kém nghe, chóng mặt, buồn nôn, nôn
và đau bụng.

- Ngộ độc nặng: rối loạn hệ
thống thần kinh trung ương, rối loạn
tâm thần (giả ngộ độc rượu)
Kết luận

Peel bằng SA an toàn và hữu ích
trong điều trị mụn, nám má, và da bị
lão hóa ánh sáng. SA có thể dược dùng
để điều trị vùng mặt và những vùng
ngoài mặt.

Peel SA tương đối dễ chịu với
chỉ bong da mỏng. Có thể thực hiện
3-6 lần cách nhau mỗi 2-4 tuần một
Hình 3. Bong da nhẹ sau 4 ngày

25
Lột da bằng Salicylic Acid
lần. SA cũng có thể được dùng phối
hợp với các chất peel nông khác trong
cùng một thủ thuật để làm tăng khả
năng xâm nhập của chất peel thứ hai
đó, từ đó giúp làm tăng hiệu quả lâm
sàng.

Trong điều trị mụn, peel SA giúp
làm giảm tổn thương viêm (hình 4, 5)
cũng như cải thiện tình trạng tăng sắc
tố sau viêm và cấu trúc da.
Hình 4. Trước và sau một lần peel. Cải thiện lâm sàng sau 10 ngày.
Hình 5. Hình ảnh cận cảnh của cùng bệnh nhân trước và sau một lần peel. Lâm sàng
cải thiện sau 10 ngày.

26 Lột da bằng Salicylic Acid
Ghi nhớ

• Peel da hóa chất dễ thực hiện
và rất hữu ích trong điều trị các vấn đề
da khác nhau.

• Peel da SA an toàn và tác dụng
tốt đối với các trường hợp mụn, nám
má, và lão hóa da do ánh sáng.

• Khi điều trị mụn, SA giúp làm
giảm tổn thương viêm cũng như giúp
cải thiện tình trạng tăng sắc tố sau
viêm và cấu trúc da.

• SA có thể được sử dụng để
điều trị ở cả vùng mặt và vùng ngoài
mặt.

• SA có thể được dùng phối hợp
với các chất peel nông khác để làm
tăng khả năng xâm nhập của chất peel
thứ 2 và làm tăng hiệu quả lâm sàng.

• Peel SA tương đối dễ chịu với
bong lớp da mỏng.

• Bệnh nhân cần phải nắm được
những hạn chế của phương pháp này
và có kỳ vọng đúng với thực tế.
Tài liệu tham khảo

• Ayres S. Dermal changes fol­
lowing application of chemical cau­
terants to aging skin. Arch Dematol.
1960;82:578.

• Baker TJ, Gordon HL. The ab­
lation of rhytides by chem- ical means:
a preliminary report. J Fla Med Assoc.
1961;48:541

• Brody HJ. Peeling químico e
resurfacing. 2a ed. Rio de Janeiro: Re­
ichmann & ffonso; 2000.

• Brody HJ, Hailey CW. Medi­
um depth chemical peeling of the
skin: a variation of superficial che­
mosurgery. J Dematol Surg Oncol.
1986;12:1268.

• Butler PE, Gonzalez S, Ran­
dolph MA, Kim J, Kollias N, Yaremchuk
MJ. Quantitative and qualitative ef­
fects of chemical peeling on photoag­
ed skin: an experimental study. Plast
Reconstr Surg. 2001;107(1):222–8.

• Eller JJ, Wolf S. Skin peeling and
scarification. JAMA. 1941;116:934–8.

• Fischer TC, Perosino E, Poli F,
Viera MS, Dreno B. Chem- ical peels
in aesthetic dermatology: an update
2009. J Eur Acad Dermatol Venereol.
2010;24(3):281–92.

• Guedes LS. Hidroxiácidos. In:
Costa A, editor. Tratado internacion­
al de cosmecêuticos. Rio de Janeiro:
Guanabara Koogan; 2012. p. 365–73.

• Kede MP. Peelings químicos
superficiais e médios. In: MPV K, Sa­
batovich O, editors. Dermatologia Es­
tética. 3a ed. São Paulo: Ed. Atheneu;
2015. p. 601–34.

• Monheit G. The Jessner’s þ TCA
peel: a medium depth chemical peel. J
Dematol Surg Oncol. 1989;15:945.

• Tung RC, Bergfeld WF, Vidi­
mos AT, Remzi BK. Alpha- hydroxy ac­
id-based cosmetic procedures. Guide­
lines for patient management. Am J
Clin Dermatol. 2000;1 (2):81–8.

• Van Scott EJ, Yu RJ. Hyperke­
ratinization, corneocyte cohesion, and
alpha hydroxy acids. J Am Acad Der­
matol. 1984;11:867–79.

• Van Scott EJ, Ditre CM, Yu RJ.
Alpha-hydroxyacids in the treatment
of signs of photoaging. Clin Dermatol.
1996;14(2):217–26.

• Yokomizo VMF, Benemond
TMH, Chisaki C, Benemond PH. Peel­
ings químicos: revisão e aplicação
prática. Surg Cosmet Dermatol.

27
Peel bằng Pyruvic Acid
Chương 4
Peel bằng Pyruvic Acid
Carlos Gustavo Wambier
Tóm tắt

Peel pyruvic acid có thể được
phân loại như là một loại peel bán
trung bình, giữa peel nông và peel
trung bình. Độ xâm nhập vào da
phụ thuộc vào nồng độ của pyruvic
acid, sự chà sát, dung môi, số lớp
bôi, và thời gian tiếp xúc. Pyruvic
acid có thể được cho thêm dầu cây ba
đậu để đạt được peel sâu; tuy nhiên,
phương thức này cần phải được ng­
hiên cứu thêm để có thể được áp dụng
trên lâm sàng. Chương này sẽ mô tả
cách để đưa ra chỉ định cho các loại
peel da bằng pyruvic acid khác nhau.
Những hạn chế đặc biệt, chống chỉ
định, chuẩn bị trước peel và hoạt chất
sử dụng sau peel cũng được mô tả.
Nội dung
• Giới thiệu
• Chỉ định và hạn chế
• Lựa chọn bệnh nhân và chuẩn bị da
• Phương pháp bôi
• Lựa chọn độ mạnh dung dịch pyru-
vic acid
• Điều trị phối hợp
• Quá trình lành và chăm sóc sau peel
• Ghi nhớ
• Tham khảo
Giới thiệu

Với rất nhiều phương pháp
điều trị tái tạo bề mặt da (resurfac-
ing) như LASER, sóng cao tầng, micro-
dermabrasion, và các loại peel hóa học
cổ điển như trichloracetic acid (TCA),
salicylic acid, retinoic acid, lactic acid,
glycolic acid, carbolic acid, và những
công thức phối hợp của những loại
acid này thì cho dù với một bác sĩ kinh
nghiệm họ cũng sẽ rất do dự khi
thử một phương pháp khác, với một
loại hóa chất ít phổ biến hơn, trừ khi
loại hóa chất đó có một vài những ưu
điểm mà tất cả những loại hóa chất
peel kể trên không có được.

Mặc dù peel da bằng pyruvic
acid có được nhiều sự quan tâm trong
thập kỉ vừa qua, thì phương pháp này
vẫn là một trường hợp “peel ngoại lệ”.
Loại alpha-keto-acid kích thước nhỏ
này có pKa thấp và xâm nhập nhanh
và sâu qua da, do đó có thể được xem
như là một chất peel tiềm năng.
Mặc dù, pyruvic acid được xem như là
chất peel nông hoặc trung bình, tôi
vẫn thích thuật ngữ “peel bán trung
bình”, bởi vì nó có thể đạt được kết
quả tốt hơn so với peel nông thông
thường nhưng lại nhẹ hơn so với peel
ở độ sâu trung bình. Tuy nhiên, ở nồng

28 Peel bằng Pyruvic Acid
độ cao và trong dung dịch cồn nó
có thể đạt được hiệu quả peel sâu
(Coleman và Brody 1997). Vảy da có
thể thấy rõ vì phương pháp peel này
gây phù lớp bì, giữ nước cùng với
tiêu sừng nhẹ, kháng khuẩn, kháng
viêm và ổn định tuyến bã, thêm vào
đó chất này còn có khả năng kích
thích sản xất mới col- lagen và elas­
tin. Nhờ sở hữu đặc tính sinh hóa có
thể tác động lên quá trình chuyển hóa
năng lượng trong ty thể ở tất cả sinh
vật hiếu khí, pyruvate được chuyển
hóa thành acetyl coenzyme A trước
khi bị oxi hóa hoàn toàn bởi CO2.
Khi nồng độ O2 không đủ, pyru- vate
được chuyển hóa thành lactate. Do
đó, khả năng chuyển hóa năng lượng
sinh hóa cơ bản của nó có thể ảnh
hưởng đến chuyển hóa bên trong tế
bào, và tác dụng của nó có thể không
chỉ phụ thuộc tổn thương được gây ra
bởi hóa chất.

Pyruvic acid rất là không ổn
định, do đó sản phẩm cần được
giữ kín khí trong tủ lạnh (2-80C).
Loại acid này rất dễ bay hơi, có
mùi rượu khét mạnh. Hơi acid có thể
gây khó chịu đường thở và mắt, do đó
bắt buộc phải đặt quạt khi tiến hành
thủ thuật peel và bệnh nhân nên tránh
mở mắt trong quá trình làm thủ thuật.
Nếu không có sẵn tủ lạnh trong phòng
khám, thì rất khó có thể giữ ổn định
chất nầy.
Chỉ định và hạn chế

Chỉ định chính đối với peel
bằng acid pyruvic là: mụn (độ I-IV)
(Cotel- lessa 2004; Marczyk 2014),
da dầu (Marczyk 2014), viêm nang
lông, tổn thương da ánh sáng nhẹ và
nếp nhăn nông (Glogau I-II) sẹo nông
bề mặt và đốm nâu (Be- rardesca
2006). Acid này còn có thể mang lại
lợi ích cho các bệnh nám má ở bệnh
nhân có phân loại da I-III, đặc biệt là
ở những người có kèm theo sẹo mụn
hay thay đổi sắt tố da gây ra bởi hy­
droquinone như đốm trắng da, hoặc
tăng sắc tố nhẹ sau viêm.

Hạn chế của chất này là xâm
nhập lớp nông bề mặt da, nên không
có tác dụng đối với những vấn đề sâu
hơn của da như nếp nhăn sâu, sẹo
mụn sâu, và tăng sắc tố lớp bì. Việc
cho thêm dầu cây ba đậu (croton) để
làm tăng tác dụng kích thích collagen
chỉ đang được là thí nghiệm, cần có
công thức và protocol điều trị tốt hơn.
Đối với những trường hợp thượng
bì dày hơn, nó thường không có hiệu
quả. Do đó, nếu phối hợp điều trị với
TCA sẽ cho kết quả tốt hơn trong điều
trị dày sừng ánh sáng.
Lựa chọn bệnh nhân và chuẩn bị da

Sàng lọc bệnh nhân là điều bắt
buộc khi peel da bằng pyruvic acid.
Cảnh báo: acid pyruvic xâm nhập
rất nhanh và nguy hiểm trên da vốn bị
tổn thương hàng rào da như trong
viêm da mạn tính, kích ứng với ret­
inoid, viêm da dầu, viêm da cơ địa, và
viêm da quanh miệng. Nếu frost (lớp
da bị nổi tuyết do protein bị đông
vón bởi acid) xảy ra trong quá trình
peel da bằng pyruvic acid thì vùng
bị tổn thương chắc chắn sẽ bị tăng sắc
tố sau viêm nặng.

Bệnh nhân có phân loại da I-III
khỏe mạnh là lựa chọn lý tưởng cho
thủ thuật này. Khả năng thấm thường
đồng đều thậm chí đối

29
Peel bằng Pyruvic Acid
với da không được chuẩn bị trước.
Trong một vài trường hợp da quá dầu
và nhiều nhân mụn, bệnh nhân nên sử
dụng các chất có khả năng tiêu sừng
nhẹ như gly- colic acid 10%, pyru­
vic acid 8%, aze- laic acid 15%, hay
adapalene 0.1% ít nhất một tháng
trước khi peel lần thứ nhất, sau đó có
thể duy trì sau các lần peel. Vì những
chất này thường gây kích ứng da
trong tuần đầu sử dụng, do đó bệnh
nhân nên sử dụng trước một tháng
để da có thời gian thích nghi với
chúng. Nên ngưng những sản phẩm
bôi trên từ 48-72h trước khi peel
để tránh kích ứng quá mức vùng dễ bị
tổn thương như vùng quanh miệng
hay quanh ổ mắt vì có thể gây ra
tăng sắc tố sau viêm. Bệnh nhân
cần phải lưu ý nguy cơ tăng sắc tố sau
viêm này và biến chứng này có thể tồn
tại tạm thời trong vòng 6 tháng.
Phương pháp bôi

Cần phải tẩy nhờn để hạn chế
khả năng xâm nhập của acid vì pyruvic
acid thấm tốt đối với da dầu. Tẩy nhờn
có thể được tiến hành nhẹ nhàng bằng
miếng cotton mềm tẩm ethanol 70%
(hình 1).

Nếu bất kì vùng da nào bị đỏ và
đau khi tẩy nhờn bằng alcohol thì nên
hoãn thủ thuật lại hoặc nếu vùng
da chính cần điều trị vẫn ổn và an
toàn để peel thì có thể tiến hành peel
ở tại vùng đó và tránh những vùng
da bị kích ứng để không gây tăng sắc
tố sau viêm.

Cần dùng miếng cotton mềm
(hình 2), bàn chải mềm, hoặc miếng
gạc xốp được gấp 4x4 để bôi acid.
Dùng miếng cotton mên bôi sẽ tạo ra
một lớp dung dịch mỏng và không làm
tăng sự xâm nhập của acid do không
chà xát vào da. Bàn chải mềm như bàn
chải lông chồn hoặc bàn chải lông cừu
thì rất mềm mại nhưng khi bôi lên da
lại tạo ra một lớp dung dịch dày hơn.
Có sự khác nhau này vì lông ít thấm
dung dịch, trong khi miếng cotton
giống như miếng xốp, nó thấm tốt hơn.
Hình 1: tẩy nhờn nhẹ bằng miếng cotton
tẩm ethanol 70%
Hình 2: Tiến hành peel với pyruvic acid
40% trong dung dịch cân bằng nước-eth­
anol. Peel lần đầu với thỏi cotton để tạo
một lớp mỏng trên da, không chà xát. Đăt
quạt cạnh bệnh nhân để tránh gây kích
ứng đường thở do acid bay hơi. Mắt bệnh
nhân nhắm trong suốt quá trình làm thủ
thuật để hạn chế kích ứng vùng mắt do
acid bay hơi.

30 Peel bằng Pyruvic Acid
Khi dùng miếng gạc xốp có thể làm
tăng độ xâm nhập bằng cách chà từ
nhẹ đến mạnh vào da. Thay vì chà
mạnh để tạo peel sâu thì nên cân nhắc
chuyển qua dùng một loại chất peel
sâu khác như phenol 30-35% với dầu
croton 0.4%, chất này sẽ xâm nhập tốt
hơn vào lớp bì.

Pyruvic acid cần phải được
trung hòa hoặc rửa sạch khi da bắt
đầu đỏ, thường da sẽ đỏ sau 3-5 phút.
Do đó, dung dịch cần phải được bôi
nhanh, toàn bộ mặt hoặc được bôi theo
mỗi đơn vị thẩm mỹ và trung hòa từng
đơn vị một, cách này có thể giúp kiểm
soát sự xâm nhập đồng nhất vì ở vùng
quanh miệng, quanh ổ mắt, và vùng
cằm acid xâm nhập nhanh hơn so với
vùng trán. Do đó nếu áp dụng kĩ thuật
bôi toàn bộ mặt thì tôi thường bắt đầu
bôi vùng trán và vùng mũi trước. Sau
đó, dung dịch peel sẽ được bôi tiếp ở
vùng má 2 bên, vùng má giữa, vùng
quanh mũi, vùng quanh miệng, và sau
đó là vùng quanh mắt/cổ.

Để đảm bảo an toàn, peel này
cần phải được trung hòa đặc hiệu
bằng dung dịch sodium bicarbonate
10% hoặc rửa mặt trong chậu đầy
nước. Trung hòa acid sẽ giúp hạn chế
tổn thương bề mặt da. Bắt đầu trung
hòa ở vùng da đỏ nhất, thường là vùng
quanh ổ mắt và quanh miệng. Tuy
nhiên đối với những bệnh nhân có sự
chuẩn bị trước peel tốt, vùng trán có
thể đỏ khi vừa bôi xong và phải tiến
hành trung hòa đầu tiên (do vùng trán
thường phải được bôi đầu tiên). Trong
một vài trường hợp, để có hiệu quả tốt
hơn có thể không cần trung hòa.

Nên trung hòa toàn bộ da mặt,
do đó dung dịch bicarbonate 10%
nên được chuẩn bị sẵn trong một cốc
nước bằng nhựa (loại dùng một lần),
sau đó ngâm khăn cotton vào cốc này
trước khi bôi lên từng vùng để trung
hòa acid (hình 3). Có thể dùng bicar­
bonate dạng phung sương hoặc dùng
với miếng bông hoặc khăn cotton. Nếu
dùng khăn thấm nước để trung hòa
dung dịch thì nên dùng nhiều khăn
thấm nước hơn để trung hòa nhiều
lần. Sau khi đã hoàn toàn
Hình 3: Trung hòa bằng sodium bicabon­
ate 10% với khăn cotton lớn và mềm.
Hình 4: rửa mặt với chậu nước đẻ loại bỏ
pyruvic acid. Lưu ý rằng phương pháp
này không trung hòa mà làm loãng dung
dịch acid.

31
Peel bằng Pyruvic Acid
loại bỏ dung dịch acid trên mặt, nên
khuyên bệnh nhân rửa mặt trong chậu
nước để đảm bảo loại bỏ tối đa acid
trên da mặt (hình 4).
Lựa chọn độ mạnh của dung dịch
pyruvic acid

Trước khi lựa chọn nồng độ
dung dịch pyruvic acid, bắt buộc phải
có hiểu biết về dung môi của acid. Mặc
dù dung dịch ethanol có thể giúp peel
mạnh hơn, nhưng dung dịch dạng
nước lại ổn định hơn, ít bị bay hơi. Tuy
nhiên pyruvic trong nước sẽ tạo thành
một lượng lactic acid. Lactic acid giúp
giữ nước cho da và giảm sắc tố da.
Do đó, tác giả khuyến cáo sử pyruvic
acid trong dung dịch có sự “cân bằng”
nước-alcohol (40-60% ethanol).

Nên luôn bắt đầu bằng pyruvic
acid 40%, đây là nồng độ an toàn và
có hiệu quả. Chỉ nên tăng nồng độ lên
50% nếu bệnh nhân không có than
phiền gì trong lần peel thứ nhất và
mong muốn có kết quả tốt hơn.

Hình 5,6,7, và 8 cho thấy kết
quả sau peel bằng pyruvic acid cho các
trường hợp mụn trứng cá, sẹo mụn và
da dầu.
ĐIỀU TRỊ PHỐI HỢP
Retinoic acid

Để đạt được hiệu quả tốt hơn
với da nhiều dầu, một vài bệnh nhân
có thể được chỉ định peel pyruvic acid
phối hợp với retinoic acid 5% giống
như khi phối hợp retinoic acid trong
peel bằng salicylic acid và Jessner peel
vậy. Dung dịch hoặc kem retinoic acid
được bôi lên vùng da điều trị từ 2-6h,
sau đó rửa sạch bằng xà phòng trẻ em
ở nhà.

Khi dùng phối hợp với retino­
ic acid sẽ làm giảm kích thước tuyến
bã nhờn tốt hơn. Tuy nhiên peel bằng
retinoic acid thường gây kích ứng và
khô da trong 3 ngày đầu tiên. Hình 9,
10, 11, và 12 cho thấy kết quả khi phối
hợp pyruvic acid và retinoic acid.
Q-Switched 1064 nm LASER Toning

Để tăng tác dụng lên tăng sắc tố
sau viêm (PIH) và những thay đổi sắc
tố khác, pyruvic acid có thể được bôi
ngay sau khi đi laser toning. Đối với
chỉ định này, không nên dùng pyruvic
acid có nồng độ quá 40% vì làm tăng
nguy cơ xâm nhập vào sâu của acid.
Một vài bệnh nhân với tình trạng
Hình 5: kết quả
10 ngày sau một
liệu
trình
peel
bằng pyruvic acid
40%.
Sự
giảm
sẩn mụn và giảm
lỗ chân lông cho
thấy được hiệu
quả giảm viêm của
phương pháp.

32 Peel bằng Pyruvic Acid
Hình 6: Loạt hình ảnh bệnh nhân sau peel pyruvic acid mỗi tuần. Lần thứ nhất được
thực hiện với dung dịch pyruvic acid 40%, lần thứ hai với 50%.
Hình 7: Loạt hình ảnh bệnh nhân sau peel pyruvic acid mỗi tuần. Lần thứ nhất được
thực hiện với dung dịch pyruvic acid 40%, lần thứ hai với 50%.
Hình 8: Kết
quả sau một
lần peel
bằng pyru­
vic acid 40%
cho bệnh
nhân bị mụn
viêm.
Hình 9: kết quả
sau peel 1 lần
với pyruvic 40%,
phối
hợp
với
peel bằng 5%
retinoic acid.

33
Peel bằng Pyruvic Acid
mụn đang tiến triển có thể cải thiện tốt
nhờ sự phối hợp của Q-switched+py­
ruvic acid+ retinoic acid từ sau 2-5 lần
điều trị, với khoảng cách giữa mỗi lần
là 14 ngày. Hình 10, 11, 12, 13, và 14
cho thấy kết quả khi phối hợp pyruvic
acid với laser toning.
TCA

Trong điều trị đa dày sừng ánh
sáng với peel, pyruvic 50% có thể bôi
sau khi bôi TCA 35-40% trước đó 5
phút. Sự phối hợp này giúp peel sâu
hơn trong trường hợp dày sừng so với
chỉ đơn thuần sử dụng TCA. Pyruvic
acid có thể được trung hòa (hình 15
và 16) hoặc không trung hòa để làm
tăng tổn thương hóa học lên da (hình
17).
Dầu cây ba đậu (croton oil)

Đối với các bệnh lí ở lớp bì, vấn
đề chính là khả năng tan của croton oil
trong dung dịch nước-alcohol của py­
ruvic acid 50%. Tác giả đã thử
dung dịch phối hợp này trên những
vùng điều trị như sẹo hoặc nếp nhăn
sâu của một vài bệnh mà không có sự
cải thiện đáng kể sau 3 tháng theo dõi
và không có lợi ích thêm vào nào so với
chỉ dùng pyruvic acid 50% và chà xát.
Tuy nhiên, tác giả thấy rằng croton oil
không trộn được với dung dịch pyru­
vic acid trong dung dịch nước-alcohol.
Có thể dùng dung dịch ethanol 100%
hoặc thêm chất surfactant sẽ làm tăng
khả năng hòa tan, tuy nhiên chỉ được
báo cáo trên các thí nghiệm lâm sàng.

Luận án tiến sĩ của Dr. Bogdana
Kadunc năm 1998 mô tả hiệu quả trên
da lợn của pyruvic acid 60-100%. Thí
nghiệm này chứng minh rằng pyru­
vic acid có thể được sử dụng để peel
nông, trung bình hoặc sâu. Khi trộn tỉ
lệ 1 giọt croton oil với mỗi 5ml pyru­
vic acid, với dung môi là alcohol tuyệt
đối (ethanol). Kết quả chô thấy có sự
tăng độ sâu peel khi peel mà không
trung hòa, khi tăng nồng độ của py­
ruvic acid, và khi thêm croton oil và
methyl salycilate.
Hình 10: Kết quả sau 3 lần sử dụng liệu pháp phối hợp Q-switched 1064nm LASER
toning với peel pyruvic acid 40% và peel retinoic acid 5%.

34 Peel bằng Pyruvic Acid
Methyl salicylate ở nồng độ 10% giúp
làm tăng thêm tổn thương hóa học so
với croton oil khi trộn ở tỉ lệ 1 giọt mỗi
5ml (0.8%). Một vài sự kết hợp như
pyruvic acid 80-100% với croton ol
0.8% và metyl salycilate 10% không
trung hòa và gây bít tắt, cũng như py-
ruvic acid 100% đơn lẻ bôi có chà xát
(friction) bằng bàn chải cứng cho một
độ sâu peel giống nhau (ngang lớp bì
lưới), nhưng trong trường hợp dùng
bàn chải cứng thì viêm và hoại tử
nhiều hơn. Trung hòa trong 5 hay
15 phút không có sự khác biệt khi
dùng dung dịch nồng độ cao (Kadunc
1998).
Lành vết thương và chăm sóc sau
peel

Da sẽ trở nên đỏ trong khoảng
Hình 11: Da trước khi thực hiện 3 lần liệu
pháp phối hợp Q-switched 1064 LASER
toning với peel pyruvic acid 40% và peel
retinoic acid 5%.
4-6 h sau peel. Trong khoảng thời gian
này, một vài bệnh nhân có thể sẽ có
cảm giác châm chích, bỏng rát ở quanh
các lỗ tự nhiên trên mặt. Thường
thì da sẽ không bị khô hay bong vảy
như các loại peel nông khác, trừ khi
bệnh nhân được peel phối hợp với
một loại acid thứ hai khác như retino­
ic acid.

Đối với chăm sóc sau peel,
trong 3 ngày đầu tiên, hạn chế rửa
mặt và tắm không quá 2 lần một ngày
với lotion rửa mặt nhẹ, dầu gội em bé.
Trong khoảng thời gian quan trọng
này, bệnh nhân khuyến cáo sử dụng
cream hoặc gel dưỡng ẩm không sinh
còi mụn (non-comedogenic) trong
tuần đầu tiên, trước khi sử dụng
các loại kem duy trì đã được kê đơn.

Nếu peel mạnh hơn như peel
pyruvic acid phối hợp với TCA,
bệnh nhân có thể dùng dầu dưỡng
ẩm như Vaselin trong thời gian lành
vết thương.

Nếu thấy frost trong quá trình
peel pyruvic acid đơn độc, cần chăm
sóc cẩn thận các vùng da dễ tổn thương
bằng cách dùng gel steroid mạnh như
clobetasol 0.05% gel và chống nắng có
chỉ số SPF cao. Dù được chăm sóc cẩn
thận, vẫn có thể bị tăng sắc tố sau viêm
(PIH) sau 14 ngày (hình 18). Ngược
lại với PIH gây ra bởi retinoic acid hay
Jessner peel ,những mảng tăng sắc tố
sau viêm (PIH) này rất khó kiểm soát.
PIH có thể được điều trị với công thức
Kligman, chống nắng, tranexamic acid
uống, và laser Q-switched 1064nm
(hình 19).

35
Peel bằng Pyruvic Acid
Hình 12: Kết quả sau khi thực hiện
3 lần liệu pháp phối hợp Q-switched
1064 LASER toning với peel pyruvic
acid 40% và peel retinoic acid 5%.
Hình 13: Giảm sắc tố da sau khi thực hiện 1 lần liệu pháp phối hợp Q-switched 1064
LASER toning với peel pyruvic acid 40%.
Hình 14: Giảm sắc tố da và kích thước lỗ chân lông sau khi thực hiện 1 lần liệu pháp
phối hợp Q-switched 1064 LASER toning với peel pyruvic acid 40%.

36 Peel bằng Pyruvic Acid
Hình 15: Kết quả sau 2 lần sau peel pyruvic 50% + peel điểm bằng TCA 40% cho các
đốm sắc tố ở tay
Hình 16: Kết quả sau 1 lần peel pyruvic acid 50% toàn bộ mặt sau khi peel bằng TCA
35% trên mảng tăng sắc tố.
Hình 17: Điều trị
dày sừng ánh sáng
nặng trên da đầy
bằng 3 lần phối
hợp peel pyruvic
50% sau khi peel
TCA 35%.

37
Peel bằng Pyruvic Acid
Hình 18: Frost trong quá trình peel pyruvic acid ở vùng dễ tổn thương gây đỏ da nặng
kéo dài, tiếp theo đó là tăng sắc tố sau viêm ở vùng kích thích do dùng kem dưỡng
trắng (trái). PIH giảm xuống mức độ nhẹ sau 4 tháng điều trị với Q-switched 1064nm
laser peel và công thức Kligman (phải)
Hình 19: sau peel
pyruvic acid một lần
(trái). PIH giảm sau
4 tháng điều trị với
Q-switched 1064nm
laser peel và công
thức Kligman (phải)
Ghi nhớ

• Peel bằng pyruvic acid rất là
đa dạng

• Tác dụng chống viêm và diệt
khuẩn tạo nên sự khác biệt lớn của
acid này.

• Có thể hạn chế nguy cơ bị PIH
bằng cách chuẩn bị và lựa chọn bệnh
nhân phù hợp.

• Phối hợp điều trị có thể đạt
hiệu quả tốt hơn.
Tài liệu tham khảo

• Berardesca E, Cameli N, Pri­
mavera G, Carrera M. Clinical and in­
strumental evaluation of skin improve
ment after treatment with a new 50%
pyruvic acid peel. Dermatol Surg.
2006;32(4):526–31.

• Coleman WP, Brody HJ. Ad­
vances in chemical peeling. Dermatol
Clin. 1997;15(1):19–26.

• Cotellessa C, Manunta T, Gh­
ersetich I, Brazzini B, Peris K. The use
of pyruvic acid in the treatment of
acne. J Eur Acad Dermatol Venereol.
2004;18(3):275–8.

• Ghersetich I, Brazzini B, Peris
K, Cotellessa C, Manunta T, Lotti T. Py­
ruvic acid peels for the treat- ment
of photoaging. Dermatol Surg. 2004;
30(1):32–6. discussion 36

38 Peel bằng Pyruvic Acid

• Kadunc BV. Pyruvic acid: stan­
dardization technique for the use in
chemical peelings by means of experi­
mental study. University of Sao Paulo;
1998.

• Marczyk B, Mucha P, Budzisz
E, Rotsztejn H. Comparative study of
the effect of 50% pyruvic and 30%
salicylic peels on the skin lipid film in
patients with acne vulgaris. J Cos­
met Dermatol. 2014;13(1):15–21.

hacklink satın al mumu模拟器 雷电模拟器 向日葵 giftcardmall/mygift giftcardmall balance mygift giftcardmall matbet matbet giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Betgaranti Betgaranti Güncel Adres Betgaranti Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Fim İzle Fim İzle Giriş Fim İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Fim İzle Fim İzle Güncel Adres Fim İzle jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Giriş Casibom Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Jojobet Jojobet Giriş Jojobet Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Deneme Bonusu Film İzle Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Türkçe Dublaj Film İzle Film İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi perabet perabet giriş holiganbet holiganbet giriş Casibom Lesfillmercom Casibom Lesfillmercom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Gerbergirlcom Casibom Gerbergirlcom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Spcelectriccontrolcom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş marsbahis marsbahis giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş matbet matbet giriş matbet güncel giriş vaycasino vaycasino güncel giriş vaycasino giriş matbet matbet giriş pusulabet pusulabet giriş pusulabet pusulabet güncel giriş pusulabet giriş matbet matbet güncel giriş matbet giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Resmi Adres pusulabet pusulabet giriş pusulabet güncel giriş Fixbet Fixbet Güncel Giriş Salvobet Salvobet Giriş Salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Turk Porno Turk Porno Giriş Turk Porno casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi casibom casibom jojobet izmir escort izmir buca escort buca escort jojobet casibom holiganbet holiganbet giriş jojobet holiganbet holiganbet giriş jojobet jojobet jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş izmir escort izmir buca escort buca escort izmir escort bayan salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Giriş Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Deneme Bonusu Veren Giriş Deneme Bonusu Veren salvobet salvobet salvobet salvobet Casibom betgaranti betgaranti betgaranti matbet matbet giriş matbet matbet giriş Casibom Casibom Salvobet jojobet Salvobet Salvobet Salvobet Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Güncel Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis bahsegel Fixbet Fixbet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş 1xbet 1xbet Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Listesi Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler grandpashabet grandpashabet grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler vaycasino vaycasino giriş jojobet grandpashabet casibom Casibom Casibom Giriş casibom www.giftcards.com Marsbahis grandpashabet jojobet jojobet grandpashabet casibom jojobet Casibom Casibom Casibom Casibom Casibom Grandpashabet Grandpashabet Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Marsbahis Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres grandpashabet grandpashabet giriş Casibom Fixbet Fixbet Giriş Casibom Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Holiganbet Holiganbet Güncel Adres Nevşehir escort Kapadokya escort Nevşehir escort bayan nevşehir eskort escort nevşehir Casibom Casibom Giriş Adresi Kapadokya esc Casibom Casibom Resmi Adres Matbet Matbet Matbet Güncel Adres Pusulabet Pusulabet Giriş Adresi imajbet giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Trabzon escort escort trabzon Trabzon escort bayan Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler