139
Phối hợp Peel Phenol- Dầu Croton
• Monheit GD. Medium-depth
chemical peels. Dermatol Clin julho de.
2001;19(3):413–25. vii
• Orra S, Waltzman JT, Mlynek
K, Duraes EFR, Kundu N, Zins JE. Peri
orbital phenol-croton oil chemical peel
in conjunction with blepharoplasty: an
evolving tech- nique for periorbital fa
cial rejuvenation. Plast Reconstr Surg.
2015;136(4 Suppl):99–100.
• Parada MB, Yarak S, Gouvêa
LG, Hassun KM, Talarico S, Bagatin E.
“Blepharopeeling” in the upper eyelids:
a nonincisional procedure in periorbit
al rejuvenation – a pilot study. Derma
tol Surg. 2008;34(10):1435–8.
• Sklar LR, Burnett CT, Waibel
JS, Moy RL, Ozog DM. Laser assisted
drug delivery: a review of an evolv-
ing technology. Lasers Surg Med.
2014;46(4):249–62.
• Stuzin JM, Baker TJ, Gordon HL.
Chemical peel: a change in the routine.
Ann Plast Surg. 1989;23(2):166–9.
140 Peel hóa chất ở vùng da ngoài mặt
Chương 11
Peel hóa chất ở vùng da ngoài mặt
Marcelo Cabral Molinaro và Paulo S. Torreao
TÓM TẮT
Peel da mặt được sử dụng rộng
rãi trong thực hành da liễu không chỉ
cho mục đích thẩm mỹ mà còn cho
mục đích điều trị bệnh. Kĩ thuật peel
da vùng thân (peel body) dựa trên cơ
sở kiến thức của peel da vùng mặt và
áp dụng lên các vùng da khác của cơ
thể trong khi vẫn tôn trọng những đặc
tính khác biệt giữa của vùng da khác
trên cơ thể với vùng da mặt.
Sử dụng đúng hóa chất và kĩ thuật là
yếu tố tiên quyết giúp mang lại hiệu
quả và tính an toàn trong peel da
hóa chất ở vùng thân mình. Để đạt
được kết quả điều trị tốt nhất, người
ta thường chỉ dùng loại peel nông và
peel rất nông lớp sừng để điều trị ở
vùng da ở thân mình. Khi peel nên tiến
hành peel nhiều liệu trình và peel dần
dần theo đúng chỉ định.
Những nguyên tắc này sẽ giúp tránh
xuất hiện đỏ da kéo dài, tăng sắc tố sau
viêm, chậm lành vết thương và thậm
chí là hoại tử da (hoại tử da sẽ để lại
sẹo xấu).
NỘI DUNG
Giới thiệu
• Tính chất riêng biệt của những vùng
da ngoài da mặt
Chăm sóc ban đầu trước khi peel da ở
vùng thân mình.
Các hóa chất peel chính và chỉ định
• Salicylic acid
• Dung dịch Jessner
• Resorcin
• Tretinoin
• 5-Fluorouracil
• Glycolic acid
• Trichloroacetic acid
• Thioglycolic acid
Chăm sóc đặt biệt sau thủ thuật
Biến chứng
Kết luận
Ghi nhớ
Tham khảo
GIỚI THIỆU
Mặc dù nhu cầu sử dụng các
công nghệ mới ngày càng tăng, việc
sử dụng các hóa chất để peel da mặt
và cơ thể vẫn đóng một vai trò quan
trọng trong ngành da liễu do tính hiệu
quả, an toàn, tính thực tiễn và giá
thành thấp của phương pháp này. Tuy
nhiên, hầu hết những tài liệu khoa học
chủ yếu nhấn mạnh vào phương pháp
peel da ở vùng da mặt và peel hóa chất
đối với các vùng da ngoài da mặt chỉ
được khuyến cáo sử dụng trong một
số bệnh lí cụ thể cũng như để hỗ trợ
các phương pháp điều trị khác.
141
Peel hóa chất ở vùng da ngoài mặt
Chương này sẽ hệ thống những thông
tin hiện có về kĩ thuật, chăm sóc và
hướng dẫn cho phương pháp peel da
vùng ngoài mặt này.
Tính chất riêng biệt của những vùng
da ngoài da mặt
Vùng da ngoài mặt có một vài
đặc tính cần lưu ý như sau.
a) Diện tích bề mặt da rộng:
đây là yếu tố chính đóng vai trò trong
việc ngộ độc hệ thống do hấp thụ hóa
chất qua da. Do đó khuyến cáo trước
khi điều trị phải phân chia thành từng
mảng nhỏ theo độ dài, và tính an toàn
của hóa chất peel. Một vài hóa chất mà
tác dụng của nó phụ thuộc vào thời
gian tiếp xúc và cần phải trung hòa.
Do đó khi peel ở vùng da lớn cần phải
chuẩn bị bề mặt điều trị để không ảnh
hưởng đến quá trình trung hòa.
b) Mức độ bong da và hình thành
mài nhỏ: vài ngày sau khi peel da vùng
thân, chúng ta có thể thấy hiện tưởng
bong vảy ở nhiều mức độ khác nhau
tùy thuộc độ sâu của điều trị. Quá trình
bong vày này kéo dài hơn so với peel
ở da mặt. Đặc điểm này đặc biết có giá
trị đối với peel nông da vùng thân khi
toàn bộ thượng bị được điều trị.
c) Thời gian hồi phục: thời gian
hồi phục dài hơn khi peel trên da vùng
thân do các đặc điểm sau:
• Số lượng đơn vị nang lông
tuyến bã: quá trình lành vết thương
sau peel hóa chất diễn ra thông qua sự
tăng sinh thượng bị lân cận và sự di
cư của các tế bào gốc hiện diện trong
các đơn vị nang lông tuyến bã. Vì vùng
da ngoài mặt có ít các thành phần phụ
(bao gồm đơn vị nang lông tuyến bã)
hơn so với da mặt (ít hơn thậm chí đến
30 lần ở vùng cổ, và 40 lần ở mặt lưng
bàn tay và cánh tay), do đó cần phải
lưu ý đến độ sâu của peel để tránh
hoại tử sâu vào da (Kede 2009).
• Độ dày lớp thượng bì: da càng
mỏng, thì hóa chất peel thấm vào càng
nhanh. Đều này đặc biệt đúng với đối
tượng bệnh nhân là người lớn tuổi vì
da sẽ mỏng dần theo độ tuổi. Cần phải
lưu ý là luôn chọn đúng loại hóa chất
peel để sử dụng.
• Cung cấp máu: lượng máu
cung cấp giảm như ở vùng chi dưới sẽ
dễ đưa đến biến chứng chậm lành vết
thương. Khi điều trị ở những vùng này
nên chỉ định peel nông hoặc peel rất
nông để giảm tối đa khả năng xảy ra
biến chứng.
Lựa chọn đúng loại hóa chất
peel và áp dụng đúng kĩ thuật là các
yếu tố quyết định đến sự an toàn và
hiệu quả khi peel da ở các vùng khác
của cơ thể. Để thu được hiệu quả điều
trị tốt nhất đối với những vùng da
ngoài mặt, thì peel rất nông ở lớp sừng
thượng bị và peel nông ở lớp thượng
bì là những lựa chọn phù hợp nhất.
Peel body nên thực hiện theo nhiều
liệu trình và tiến hành dần dần theo
đúng chỉ định (Landau 2008).
Những nguyên tắc này sẽ giúp
tránh xuất hiện đỏ da kéo dài, tăng sắc
tố sau viêm, chậm lành vết thương và
thậm chí là hoại tử da (hoại tử da sẽ để
lại sẹo xấu).
Chăm sóc ban đầu trước khi peel da
ở vùng thân mình
• Những bệnh nhân có tiền sử
bệnh không tốt, đặc biệt liên quan đến
các phản ứng không mong muốn trong
những lần điều trị trước như dị
142 Peel hóa chất ở vùng da ngoài mặt
ứng, sẹo lồi, bệnh da mạn tính (viêm
da dầu và viêm da cơ địa), sử dụng
thuốc uống như isotretinoin thì cần
phải được chú ý. Ngoài ra cũng cần
phải hết sức cẩn thận với những bệnh
nhân có tiền sử tăng sắc tố sau viêm,
đặc biệt là những người có phân loại
da Fitzpatrick từ IV, V, VI.
• Thủ thuật này có chống chỉ
định tương đối ở những người có điều
trị liệu pháp phóng xạ trên vùng da của
cơ thể, do khả năng các cấu trúc phụ
của da đã bị phá hủy dẫn tới làm đình
trệ quá trình tái tạo thượng bì. Trong
những trường hợp này, cần phải kiểm
tra sự tồn tại của những sợi lông mảnh
để đảm bảo các thành phần phụ của
da vẫn toàn vẹn. Nếu tiến hành peel ở
bệnh nhân có dùng isotretinoin trong
vòng 6 tháng trở lại, thì thời gian lành
vết thương sẽ dài hơn và có thể để lại
sẹo.
• Nên tránh tiếp xúc nhiều với
ánh sáng mặt trời trong những ngày
sau khi làm thủ thuật để hạn chế nguy
cơ kích hoạt các tế bào melanocyte,
tránh tình trạng tăng sắc tố sau viêm.
• Chuẩn bị da trước thủ thuật
không thực sự cần thiết trong các peel
rất nông, nhưng có thể thực hiện với
mục đích ngăn ngừa rối loạn sắc tố.
Việc chuẩn bị da nên bắt đầu trước
khi làm thủ thuật ít nhất 14 ngày. Nên
sử dụng các chất khử sắc tố như hy
droquinone và kojic acid phối hợp
với retinoids hoặc alpha hydroxyl
acid. Những chất này sẽ giúp làm vết
thương nhanh lành, hạn chế tăng sắc
tố, đặc biệt là những người có phân
loại da theo Fitzpatrick IV, V, và VI.
Những loại thuốc kể trên nên ngưng
từ 3-5 ngày trước thủ thuật để hạn chế
ảnh hưởng đến chất peel tránh hóa
chất peel xâm nhập xâu hơn ngoài sự
mong đợi vào da.
• Để điều trị những tổn thương
thượng bì có mức độ dày sừng cao hơn
như dày sừng tuyến bã hoặc dày sừng
ánh sáng, nên sử dụng đốt điện và áp
lạnh nitrogen lỏng như là những điều
trị hỗ trợ trước thủ thuật để mang lại
kết qua lâm sàng tố hơn.
• Cuối cùng là không nên cạo
lông ở những vùng da được điều trị
ít nhất 5 ngày sau thủ thuật để tránh
gây tổn thương thượng bì, viêm da
tiếp xúc dị ứng hoặc viêm da kích ứng
nguyên phát. Những vấn đề này sẽ đưa
đến mất sự toàn vẹn của da.
• Tại thời điểm tiến hành thủ
thuật: Điều quan trọng cần lưu ý là lựa
chọn đúng loại chất rửa mặt: lotion
rửa mặt nhẹ, alcohol-ether hoặc ace
tone tinh khiết. Sự lựa chọn này quết
định đến khả năng xâm nhập nhiều
hơn hay ít hơn của hóa chất peel, đặc
biệt đối với những chất có khả năng
thấm vào thượng bì cao hơn như TCA.
CÁC HÓA CHẤT PEEL CHÍNH VÀ CHỈ
DỊNH
Salicylic acid
Salicylic acid là một loại beta
hydroxy acid được sử dụng ở nồng độ
20% và 30% trong dung môi ethanol
như là một hóa chất peel nông. Acid
này có tác dụng tiêu còi mụn, li sừng,
và kháng viêm và được sử dụng trong
điều trị mụn trứng cá, dày sừng nang
lông, và tăng sắc tố sau viêm. Ngoài ra
hiệu quả điều trị của nó còn được thấy
trong điều trị lão hóa da ánh sáng nhẹ,
cấu trúc da không đều, và những nếp
nhăn nhỏ (Peterson và
143
Peel hóa chất ở vùng da ngoài mặt
Goldman 2011). Phác đồ điều trị có
thể từ ba đến sáu liệu trình với khoảng
cách thời gian từ 15-30 ngày tùy thuộc
vào chỉ định lâm sàng và mức độ tổn
thương. Thường thì sau khi bôi sal
icylic acid 1-3 phút sẽ xuất hiện lớp
tinh thể trắng, đây là dấu hiệu để đánh
giá sự đồng nhất khi bôi (hình 1a, b).
Sau đó bệnh nhân sẽ có cảm
giác bỏng rát trong vài phút và thấy
tê nhẹ ở vùng điều trị. Có thể thấy các
điểm frosting (level 1) ở những sang
thương mụn viêm. Acid này không
cần phải tiến hành trung hòa. Lớp kết
tủa trắng quá mức được loại bỏ sau
5-10 phút với nước và lotion rửa mặt.
Trong 3-5 ngày sau đó có thể xuất hiện
vảy trắng rất mỏng.
Các triệu chứng ngộ độc salicyl
ic mặc dù hiếm có nhưng có thể xảy ra
từ nhẹ (thở nhanh, ù tai, không nghe
được, chóng mặt, buồn nôn, nôn và
đau bụng) cho đến nặng (những thay
đổi ở hệ thần kinh trung ương như
trong ngộ độc rượu). Do đó, chỉ nên
dùng salicylic trên một vùng bề mặt
nhỏ như cổ và vùng trước xương ức
(Brubacher và Hoffmann 1996). Gầm
đây có xuất hiện một công thức mới
chứa salicylic acid 30% trong dung
môi polyethylene glycol (PEG), dung
dịch này đã được sử dụng và mang lại
hiệu quả lâm sàng tốt ở những tình
nguyện viên có tình trạng da bị già
hóa, kết quả cho thấy có sự cải thiện
cấu trúc da, làm biến mất nhân mụn
và mụn viêm ở những bệnh nhân có
mụn trứng cá. Nhờ đặc tính ít bay hơi,
PEG có ái lực cao hơn với salicylic acid
và do đó chỉ nhả salicylic acid ra theo
lượng nhỏ ở lớp bề mặt của thượng bì.
Ái lực cao này giúp acid ít bị hấp
thu hơn và do đó ít gây ngộ độc hệ
thống cũng như giảm cảm giác bỏng
rát khi bôi (Dainichi 2008). Mặt khác,
công thức salicylic acid trong dung
môi phenol có tính ưa lipid cao hơn
nên có ái lực cao với các đơn vị nang
lông tuyến bã hơn nên sẽ làm khô da
tốt hơn cho những bệnh nhân bị mụn
trứng cá trên vùng thân (Peterson và
Goldman 2011).
Dung dịch Jessner
Dung dịch Jessner chứa 14%
salicylic acid, 14% lactic acid, và 14%
resorcin trong ethanol. Dung dịch có
hoạt tính li sừng, kháng viêm, và làm
sáng da. Tùy thuộc vào số lớp dung
dịch được bôi lên bệnh mặt và thể
tích được sử dụng, peel da bằng dung
dịch Jessner có thể được phân loại từ
peel rất nông đến peel trung bình. Khả
năng thấm vào da của dung dịch được
quyết định một phần nhờ hoạt tính li
thượng bì của lactic acid (mặc dù ở
nồng độ thấp) và phụ thuộc vào nồng
độ pH của dung dịch.
Dung dịch này được sử dụng để
điều trị hỗ trợ đối với tình trạng mụn
trứng cá viêm ở vùng tăng sắc tố trên
thân (trước và sau), đặc biệt ở người
có phân loại da tối màu. Trong những
trường hợp này, thường nên sử dụng
gạc để bôi và tạo một áp lực lên da đặc
biệt là vùng da có lớp sừng dày và có
nhiều cấu trúc tuyến bã nhờn. Peel
dung dịch Jessner còn được chỉ định
để điều trị trẻ hóa da vùng cổ, nhưng
với số lớp bôi ít hơn (Peterson và
Goldman 2011; Brody 1997; hình 2a-
c).
Peel dung dịch Jessner ở bệnh
nhân thường được dung nạp tốt,
144 Peel hóa chất ở vùng da ngoài mặt
chỉ gây cảm giác châm chính nhẹ đến
vừa và kéo dài trong khoảng từ 3 dến
10 phút. Sau khi bôi sẽ xuất hiện một
lớp trắng nhẹ trên da do sự kết tủa của
salicylic acid, sau đó da sẽ trở nên đỏ
với nhiều mức độ khác nhau và xuất
hiện vùng frosting nhẹ (level 0-1).
Khuyến cáo nên đợi 3-4 phút rồi mới
bôi lớp dung dịch mới để có thể đánh
giá được mức độ peel đã được tiến
hành. Phương pháp peel này không
cần phải trung hòa acid. Salicylic acid
lắng đọng có thể rửa bằng nước hoặc
lotion rửa mặt. Sau đó xuất hiện sự
bong tróc các mảng trắng đến nâu từ
3-5 ngày. Nên sử dụng dung dịch Jess
ner từ 3 đến 6 liệu trình, với khoảng
cách thời gian giữa các liệu trình là 2
tuần hoặc 1 tháng.
Peel Jessner được đánh giá là
rất an toàn: phản ứng dị ứng (được
quyết định bởi mức độ nhạy cảm với
thành phần resorcin) có tỉ lệ thấp và ít
gây ngộ độc do nồng độ thấp của
resorcin và salicylic acid trong công
thức. Để tăng thêm tính an toàn, nên
tiến hành peel luân phiên giữa các
vùng được điều trị và giữa các thủ
thuật. Cách này cũng có thể áp dụng
cho tất cả các loại peel mà hóa chất
peel có thể hấp thu vào hệ thống mạch
máu (bảng 1).
Resorcin
Resorcin là một chất an mòn
thuộc nhóm phenol, tan cả trong nước
và alcohol, được sử dụng trong dung
dịch tẩy rửa hoặc hồ dán ở nồng độ từ
10% đến 50%. Trong peel nông body
đặc biệt là peel trị mụn ở vùng lưng
trước và sau, thì sử dụng resorcin ở
nồng độ thấp hơn từ 20% đến 30%
sẽ hợp lí hơn. Nó có thể sử dụng phối
hợp với sulfur, cả 2 chất đều ở nồng độ
24% trong dung dịch nước cất (Kede
2009). Peel loại này cũng được chỉ
định điều trị rối loạn sắc tố, nếp nhăn
nhỏ, và tăng sắc tố sau viêm. Cân nhắc
Hình 1: (a, b) Peel salicylic acid 30% trong dung môi ethanol trong điều trị mụn trứng
cá viêm. Hình (b) cho thấy lớp kết tủa trắng của acid salicylic.
145
Peel hóa chất ở vùng da ngoài mặt
Hình 2: (a-c) Peel dung dịch Jessner (3 lớp) trong điều trị lão hóa ánh sáng mức độ vừa.
(a) trước khi làm thủ thuật, (b) sau liệu trình đầu tiên (ngày thứ 14), và (c) sau 2 liệu
trình (ngày thứ 400.
Điều trị luân phiên- peel body
Khoảng thời gian
Vùng điều trị
Loại peel
Khoảng thời gian/
số liệu trình
Tuần đầu
Ngực và cổ
Dung dịch Jessner,
glycolic acid
Hàng tháng hoặc
mỗi 2 tháng/ 3-6
Tuần thứ 2
Vùng lưng bàn tay
và cẳng tay
TCA, dung dịch
Jessner
Tuần thứ 3
Vai và cánh tay
Salicylic acid
Tuần thứ 4
Đùi và cẳng chân
Thioglycolic acid
Bảng 1: điều trị luân phiên trong peel body
146 Peel hóa chất ở vùng da ngoài mặt
việc bôi thử trước khi peel vì nó có thể
gây viêm da tiếp xúc (Kede 2009). Đối
với peel resorcin ở nồng độ cao hơn
và trên vùng có diện tích lớn cần phải
chăm sóc đặc biệt.
Tretinoin
Tretinoin còn được gọi là reti
noic acid là một loại thuốc thuộc nhóm
retinoids được sử dụng để peel nông bề
mặt. Công thức peel này được pha chế
trong một dung dịch màu vàng có tên
là propylene glycol; acid được sử dụng
ở nồng độ từ 5% đến 12%. Để tăng
hiệu quả thẩm mỹ có thể thêm thuốc
nhuộm vào trong công thức. Loại peel
này được sử dụng rộng rãi trong thẩm
mỹ da nhờ có nhiều tác dụng phối hợp
như: khả năng làm mỏng và săn chắc
lớp sừng thượng bì, khôi phục những
tế bào không điển hình của thượng
bì, kích thích tân sinh collagen ở lớp
bì, tăng lắng đọng glycosaminoglycan,
kích thích tái tổ chức các sợi collagen
đã bị tổn thương do tiếp xúc với ánh
sáng mặt trời, và loại bỏ và phân tán
những túi chứa melanin trong các tế
bào sừng (keratinocyte) (Kede 2009).
Tretinoin được sử dụng chủ yếu để
điều trị lão hóa da và những thay đổi
da do ánh sáng mặt trời (ví dụ: đốm
da Civatte) (Landau 2008), trong điều
trị các tình trạng như viêm nang lông
sau cạo râu, mụn, vết côn trùng cắn,
và nám má không ở vùng mặt, và tổn
thương do chấn thương đặc biệt là ở
vùng thân và chi. Trong điều trị mụn,
có thể phối hợp thêm với việc sử dụng
loại retinoin dùng ở nhà để làm tăng
việc loại bỏ mụn cũng như ngăn hình
thành dày sừng nang lông.
Peel retinoin thường được sử
dụng sau thủ thuật vi mài da (micro
dermabrasion) với tinh thể aluminum
oxide (trong thủ thuật này lớp thượng
bị được loại bỏ theo cơ chế vật lý).
Phương pháp phối hợp này làm tăng
hiệu quả điều trị do tăng khả năng
thấm vào sâu hơn của acid (Hexsel
2005). Chỉ định điều trị với peel này
có thể được mở rộng để điều trị những
vết rạn da cũ (có màu trắng ngọc trai)
cũng như những vết rạn mới (có màu
hồng). Với chỉ định này thì nồng độ
retinoic acid nên dùng là 10% bôi
và giữ trong khoảng thời gian từ 4-6
h, sau đó rửa với nước (Kede 2009).
Peel này được khuyến khích sử dụng
sau những thủ thuật như đông điện
hoặc cryotherapy (áp lạnh bằng nitro
gen lỏng) trong điều trị các bệnh tăng
sinh thượng bì như dày sừng tuyến bã,
dày sừng ánh sáng, mụn thịt, tăng sản
tuyến bã, và bệnh sẩn đen (papulosis
nigricans). Các nghiên cứu cho thấy
rằng sự phối hợp này giúp vết thương
nhanh lành hơn (Hung 1989), làm
đồng nhất hóa tone màu của da và cải
thiện chất lượng của da sau đó.
Peel tretinoin thường không đau
và dễ thực hiện. Acid được bôi bằng
tay đeo gang. Thời gian trung bình là
khoảng 3-4 ngày da sẽ bong vảy khô và
tùy thuộc vào nồng độ và thời gian tiếp
xúc với acid. Khoảng cách giữa các liệu
trình có thể là mỗi hai tuần hoặc mỗi
tháng. Đây là thủ thuật hoàn toàn không
đau vì tretinoin không có pH acid đủ để
gây đông vón protein ở da. Vì retinoic
acid nhạy cảm ánh sáng do đó nên bôi
vào buổi chiều tối trong ngày và giữ acid
trên mặt trong ít nhất 4-6 tiếng (Landau
2008).
147
Peel hóa chất ở vùng da ngoài mặt
Để đạt kết quả điều trị tốt nhất,
có thể tăng dần thời gian tiếp xúc với
acid trong mỗi liệu trình từ 4-12h (tối
đa). Không khuyến cáo sử dụng loại
peel này ở phụ nữ đang có thai và đang
trong thời gian cho con bú (hình 3a-c).
Fluorouracil
5 fluorouracil (5-FU) lầ một
base pyrimidine được florite hóa
thuộc nhóm kháng chuyển hóa hoạt
động như một chất ổn định tế bào
trong điều trị những bệnh ung thư và
tiền ung thư da.
Phương pháp peel với chất này
còn được gọi là fluorouracil-pulsed
peel và là sự phối hợp của 2 loại chất
peel khác nhau, thường là phối hợp
thêm với dung dịch Jessner hoặc gly
colic acid. Bước đầu tiên là bắt đầu
peel với dung dịch Jessner hoặc gly
colic acid 70% ở dạng gel lỏng. Nếu
bắt đầu với dung dịch Jesner thì nên
bôi một hoặc hai lớp đến khi đạt được
đỏ da bước đầu (level 0) hoặc có sự
kể tủa của salicylic, sau đó không cần
phải trung hòa. Nếu là sử dụng glycolic
acid thì phải trung hòa với nước hoặc
sodium bicarbonate. Bước tiếp theo
bôi dung dịch 5-FU 5% trong propyl
ene glycol hoặc dạng kem lên bề mặt
da (không quá 500 cm2, khoảng 23 x
23 cm) và lưu lại trên da từ 6-12h.
Thủ thuật này được thực hiện
hàng tuần hoặc mỗi 2 tuần, với tổng
8 liệu trình nếu điều trị dày sừng
ánh sáng đa điểm. Trong một nghiên
cứu được thực hiện bởi Katz (1995),
phối hợp 5-fluorouracil với peel dung
dịch Jessner giúp làm giảm 86% tổn
thương được nghiên cứu; trong một
nghiên cứu khác , Marrero (1998) đã
thu được kết quả tốt nhất là giảm được
92% tổn thương khi phối hợp với gly
colic acid 70%.
Glycolic acid
Glycolic acid (GA) có nguồn gốc
tự nhiên trong mía, được chiết xuất
trong phòng nghiên cứu để sử dụng
như là hóa chất peel. Đây là loại acid
có kích thước phân tử nhỏ nhất trong
các acid thuộc nhóm alpha hydroxy
acid. Do đó, so với những loại acid cùng
nhóm khác, glycolic acid có khả năng
xâm nhập vào da dễ dàng hơn. GA có thể
được sử dụng để peel nông hoặc peel
rất nông tùy thuộc vào nồng độ được sử
dụng, độ pH của công thức và thời gian
tiếp xúc với bề mặt da (Clark và Scerri
2008; Fischer 2010). Ở nồng độ 70%,
pH thấp hơn 1.0 GA có thể có hoạt tính
peel trung bình tùy thuộc vào thời gian
tiếp xúc với bề mặt da. Nồng độ GA càng
cao, pH càng thấp, và thời gian tiếp xúc
với da càng lâu thì peel sẽ càng sâu. Đều
này có được do đặc tính sinh khả dụng
cao hơn của hóa chất trong những điều
kiện trên (Kede 2009).
Peel này được chỉ định như là
điều trị hỗ trợ đối với tình trạng lão
hóa ánh sáng ở vùng ngoài mặt, mụn
viêm, sẹo mụn teo, và trong những rối
loạn sắc tố như melasma và tăng sắc tố
sau viêm (Clark và Scerri 2008; Take
naka 2012; Callender 2011). Ngoài ra
cũng có thể đạt được kết quả lâm sàng
tốt khi điều trị viêm nang lông và viêm
giả nang lông ở vùng bẹn và mông. Tác
dụng của GA có được là do nó có hoạt
tính làm săn chắc lớp sừng, làm dày
thượng bì, và tăng lắng đọng collagen
và mucin ở lớp bì.
148 Peel hóa chất ở vùng da ngoài mặt
Hình 3: (a-c) Peel tretinoin 5% trong dung môi propylene glycol trong điều trị
tăng sắc tố sau viêm do chấn thương. (a) Trước thủ thuật, (b) ngay sau khi làm
thủ thuật, và (c) sau liệu trình đầu tiên (ngày thứ 14).
GA được bán trên thị trường ở
dạng acid tự do, trung hòa một phần.
Các sản phẩm của các công ty khác
nhau sẽ có pH khác nhau trong khoảng
từ 1.0 đến 3.0. Một vài công thức có
độ pH thấp hơn trong khoảng 0.6. Độ
pH càng thấp thì lượng acid tự do càng
nhiều, cho phép acid xâm nhập vào
da càng sâu và quá trình hình thành
frosting (lớp phủ trắng như tuyết)
càng nhanh và rộng. Lớp frosting này
cho thấy được vùng da có sự li giải các
tế bào thượng bì, có màu sắc từ trắng
cho đến trắng xám tùy thuộc vào khả
năng xâm nhập vào da của GA (Clark
và Scerri 2008). Ở vùng da có lớp sừng
dày, có thể lựa chọn công thức có độ
pH thấp hơn (0.6-1.0) để làm tăng khả
năng xâm nhập của acid mà không ảnh
hưởng đến tính an toàn của thủ thuật.
Tất cả các loại peel với alpha hydroxyl
acid đòi hỏi phải trung hòa khi đã đạt
được độ sâu mong muốn. Có thể trung
hòa bằng cách sử dụng các dung dịch
kiềm hoặc nước. Nên sử dụng dung
dịch sodium bicarbonate 10% ở dạng
gel lỏng để trung hòa vì với đặc tính
của một dung dịch kiềm nó sẽ gây sủi
bọt tại vị trí được trung hòa khi tiếp
xúc với pH acid của dung dịch peel, đều
này giúp kiểm soát peel tốt hơn để đạt
được độ sâu như chúng ta mong muốn.
Nếu peel sau khi làm sạch da
hoàn toàn thì nên bôi một lớp mỏng GA.
Sau đó nên trung hòa ngay với sodium
bicarbonate khi vùng da peel bắt đầu
xuất hiện frosting. Nên sử dụng bông
tăm để bôi nhằm tránh dung dịch acid
xâm nhập quá sâu vào da. Sau đó khi
thấy có sự xuất hiện đỏ da rõ và đồng
nhất (level 0 -1) thì tiến hành trung
hòa toàn bộ vùng da được điều trị. Đỏ
da xuất hiện cho thấy acid đã xâm nhập
qua lớp sừng và bắt đầu xâm nhập vào
lớp hạt (Clark và Scerri 2008; Fischer
2010). Nên bắt đầu liệu trình peel với
GA 50% và sau đó tăng lên 70% cho
liệu trình tiếp theo. Khả năng dung nạp
149
Peel hóa chất ở vùng da ngoài mặt
Hình 4: (a-e) Peel glycolic acid 70% (pH = 0.6) ở dạng gel để điều trị tăng sắc tố sau
viêm. (a) trước khi bôi; (b) ngay sau khi bôi gel trong suốt; (c) xuất hiện sủi bọt sau khi
gel được trung hòa bằng sodium bicarbonate; (d) ngay sau khi bôi; (e) sau liệu trình
thứ 2 (ngày thứ 60)
của bệnh nhân là rất tốt khi peel GA
ở nồng độ cao, bệnh nhân đầu tiên sẽ
cảm thấy ấm và sau đó hơi châm chích
và cuối cùng là rát nhẹ (hình 4a-d).
Mặc dù phụ thuộc vào thời gian,
nhưng sẽ rất không khôn ngoan nếu
để điều này xảy ra, thay vào đó cần
phải đạt được đỏ da càng đồng nhất
càng tốt khi peel. Đặt biệt phải hết
sức lưu ý khi peel ở vùng cổ do lớp
sừng thượng bì vùng này mỏng hơn
do đó acid sẽ xâm nhập vào da một
cách nhanh chóng. Ở những vùng này,
frosting và sự li giải thượng bì thường
xảy ra Đặt biệt phải hết sức lưu ý khi
peel ở vùng cổ do lớp sừng thượng bì
vùng này mỏng hơn do đó acid sẽ xâm
nhập vào da một cách nhanh chóng. Ở
những vùng này, frosting và sự li giải
thượng bì thường xảy ra nhanh và
nhiều hơn, do đó phải giữ sẵn dung
dịch trung hòa trên tay để nhanh
chóng trung hòa acid. Đặc biệt phải
lưu tâm đến những vùng nếp nhăn do
những vùng này được bôi lượng acid
lớn hơn và thường gây ra những vết
hoại tử nhỏ. Kế hoạch điều trị với mục
đích này thường phải làm trên 6 liệu
trình với khoảng cách giữa các liệu trị
là 2 tuần hoặc 4 tuần (Clark và Scerri
2008). GA là một loại peel không độc,
do đó không gây ngộ độc hệ thống.
150 Peel hóa chất ở vùng da ngoài mặt
hóa chất sẽ phối hợp với nhau. Trong
phương pháp này thì hóa chất peel đầu
tiên được sử dụng thường là một chất
ly sừng như dung dịch Jessner hoặc
glycolic acid 70%, sau đó tiến hành bôi
ngay dung dịch TCA 35% pha trong
nước cất. phương pháp phối hợp peel
trung bình này đã trở nên rất phổ biến
đặc biệt đối với những điều trị ở vùng
mặt do phương pháp này dễ thực hiện
hơn, kiểm soát tốt hơn mức độ xâm
nhập của hóa chất vào da, và đạt được
mức độ frosting đồng nhất hơn so với
chỉ sử dụng TCA đơn thuần ở nồng độ
cao (Monheit 1995; Coleman và Fu
trell 1994). Một vài chuyên gia đã áp
dụng phương pháp phối hợp peel này
vào trong điều trị ở các vùng da body
với kết quả đạt được khá tốt đặc biệt
là những tổn thương lão hóa da mức
độ trung bình. Tuy nhiên, để tránh tác
dụng không mong muốn, những bác sĩ
chưa có kinh nghiệm không nên thực
hiện loại peel này.
Trong peel nông phối hợp,
người ta sử dụng TCA có nồng độ thấp
hơn từ 15% đến 25% được pha trong
nước cất để peel sau khi bôi dung dịch
Jessner từ một đến hai lớp trước đó.
Phương pháp này cho kết quả điều trị
tốt đối với các tình trạng tổn thương
da do ánh sáng mức độ nhẹ, rối loạn
sắc tố, và các đốm nâu trong bệnh poi
kiloderma of Civatte (Tung and Rubin
2011). Acid TCA trong peel nông có
thể xâm nhập đến lớp thượng bì da
và đạt được mức độ 1 của hiện tượng
frosting (đỏ da kèm các dải nhỏ màu
trắng) ). Đối với các rối loạn sắc tố
nằm sâu và đốm nâu kéo dài, sau khi
peel nông phối hợp có thể peel bằng
acid TCA nồng độ cao hơn từ 35% đến
Tuy nhiên, nên sử dụng các sản phẩm
của cùng một nhà sản xuất để tránh sự
khác biệt về dung môi và độ pH.
Trichloroacetic acid
Trichloroacetic acid (TCA) là
một chất ổn định, không đắt và không
cần phải trung hòa cũng như không có
độc tính hệ thống. Phương pháp peel
này có thể dễ dàng được kiểm soát vì
độ sâu khi peel được quyết định bởi
các thông số lâm sàng liên quan tới
mức độ đỏ da, khu vực xuất hiện frost
ing và sự biến đổi sức căng da như đã
được đề cập trong một chương trước
đó. Lớp frosting hay lớp màu trắng
được tạo ra do khả năng tấn công của
TCA, dẫn đến làm biến tính protein
và hoại tử các tế bào da. TCA là một
loại peel linh động có hiệu quả trong
trẻ hóa da vùng cơ thể và tăng sắc tố
thượng bì. TCA có thể có nhiều dạng
điều chế như được mô tả bên dưới:
Trong dung môi nước cất
TCA trong dung môi nước cất
được sử dụng ở nồng độ 10-15% khi
peel rất nông các vùng da body; 20-25
% để peel nông và trên 30% để peel
trung bình, ở nồng độ 45% hoặc 50%
acid này có thể xâm nhập đến lớp bì
lưới trên. Ở nồng độ cao như thế này
kết quả sẽ khó dự đoán hơn và nguy
cơ biến chứng cao khi peel ở cả vùng
da mặt và vùng da ngoài mặt (Landau
2008).
Xuất phát từ mối lo ngại về sự
xâm nhập quá mức cần thiết của peel,
người ta đã phát triển phương pháp
peel phối hợp trong đó sử dụng hai
hoặc nhiều loại hóa chất peel trong
cùng một liệu trình. Hiệu quả của mỗi
151
Peel hóa chất ở vùng da ngoài mặt
các hiện tượng da chuyển sang màu
trắng và phù nề của toàn bộ vùng da
được peel (đây là những yếu tố cần
thiết để đánh giá mức độ xâm nhập
của acid). Ở dạng gel này thì TCA sẽ
được bôi đồng nhất hơn.
Quy trình chuẩn bị da trước
peel giống với hướng dẫn trong bài
peel TCA, lưu ý là phải ngưng những
chất có hoạt tính ly sừng trước khi
tiến hành thủ thuật. Acid TCA ở loại
peel này được sử dụng ở nồng độ thấp
hơn từ 10% đến 20%, phụ thuộc vào
độ dày lớp thượng bì cùng vùng cơ thể
được peel và mức độ xâm nhập của
hóa chất peel muốn đạt được. Phương
pháp peel này được chỉ định để điều
trị lão hóa da mức độ nhẹ và trung
bình phân bố chủ yếu ở vùng trước
xương ức, cổ, cẳng tay, và mu bàn tay.
Peel được tiến hành bằng cách
sử dụng tay mang găng để bôi một lớp
gel mỏng duy nhất (độ dày từ 0.1-0.2
mm) lên vùng được điều trị (Zanini
2007). Nhờ khả năng gây bít tắt của
dạng gel, acid xâm nhập nhanh hơn và
đồng nhất hơn mà không cần phải bôi
nhiều lớp như khi peel acid pha với
nước cất (Zanini 2007).
Độ sâu peel thu được khi peel
TCA ở dạng gel có thể từ level 0 (đỏ
da đồng nhất) khi peel rất nông lớp
thượng bì (loại bỏ toàn bộ lớp sừng
thượng bì) đến level 1 (xuất hiện frost
ing từng dải và lốm đốm trên nền đỏ
da) khi peel ở mức độ sâu hơn nhằm
phá hủy một phần lớp thượng bì hoặc
sâu hơn . Khi peel ở da trên vùng cơ
thể, nên xem sự xuất hiện của các dải
frosting là thông số đánh giá tối đa
mức độ xâm nhập của acid. Khác với
peel TCA ở dạng pha với nước cất,
50% tùy khu vực của cơ thể. Chỉ nên
peel tiêu điểm và khu trú để điều trị
riêng biệt các tổn thương với nhau.
Cook và Cook (200) đã mô tả
phương pháp phối hợp peel trung bình
không dùng cho da vùng da mặt, trong
đó peel glycolic acid được sử dụng đầu
tiên ở dạng gel 70%, sau đó bôi TCA
40% pha trong nước cất. Dung môi gel
đối với glycolic acid là cần thiết bởi vì
nó hoạt động như là một rào cản để
làm tăng khả năng xâm nhập của TCA.
Sau khi đạt được mức độ frosting như
mong muốn, thì tiến hành trung hòa
với dung dịch sodium bicarbonate
10% để kết thúc quá trình peel.
Ở dạng hồ bột
TCA cũng có thể được sử dụng
ở dạng hồ bột với nồng độ từ 10-20%.
Hồ bột được bôi bằng cách sử dụng
que đè lưỡi. Sau khi bôi xong, cần loại
bỏ bớt một phần hồ bột tạo một “cửa
sổ” để có thể quan sát đánh giá mức độ
xâm nhập của acid do dạng hồ bột đục
không thể đánh giá được. Mặc dù “cửa
sổ” này không thể đại diện cho toàn bộ
vùng da được peel nhưng là một cách
chính xác để đánh giá điểm cuối lâm
sàng và giúp trung hòa acid đúng lúc.
Quá trình trung hòa được tiến hành
bằng cách sử dụng dung dịch alcohol
để loại bỏ lớp hồ bột TCA. Đây là lựa
chọn an toàn và hiệu quả để tiến hành
điều trị ở vùng bàn tay và cảng tay.
Ở dạng gel
Đây là dạng có nồng độ acid
phù hợp nhất khi peel ở vùng body.
Peel này sử dụng TCA ở dạng gel trong
suốt, độ đàn hồi cao, dễ sử dụng, ít gây
tai nạn lúc peel, và cho phép quan sát
152 Peel hóa chất ở vùng da ngoài mặt
chúng ta sẽ phải loại bỏ ngay càng sớm
càng tốt acid khi đạt được điểm cuối
lâm sàng cần thiết. Quá trình loại bỏ
acid có thể được thực hiện bằng cách
sử dụng gạc ẩm có thấm cồn hoặc đơn
giản hơn là sử dụng nước để tránh
acid xâm nhập sâu quá mức vào da
(hình 5a-d).
Điều trị theo phương pháp này
có thể hoàn tất với 2 đến 3 liệu trình
peel, khoảng cách giữa các lần peel là
45-60 ngày. Peel nồng độ thấp nhiều
đợt liên tiếp giúp đạt được kết quả
điều trị tốt, ổn định và có thể dự đoán
được trong khi khi vẫn đảm bảo tính
an toàn với nguy cơ bị rối loạn sắc tố
và hình thành sẹo thấp hơn. Thời gian
phục hồi sau thủ thuật tương tự như
khi peel TCA pha trong dung dịch nước
cất hoặc ở dạng hồ bột, trong thời gian
này da bong vảy mỏng màu nâu. Cần
lưu ý là sự xuất hiện giãn mạch gây ra
Hình 5: (a-d) Peel trichloroacetic acid 20% trong điều trị lão hóa da do ánh sáng. (a)
trước thủ thuật, (b) trong quá trình làm thủ thuật (frosting level 1), (c) vảy và mài nâu
(ngày thứ 6), và (d) sau liệu trình thứ nhất (ngày thứ 40).
153
Peel hóa chất ở vùng da ngoài mặt
bởi TCA trên vùng có diện tích lớn của
cơ thể có thể gây hạ huyết áp, nhịp
nhanh và ngất.
Thioglycolic acid
Thioglycolic acid là một đại
diện của nhóm thioglycolate, đây là
những hợp chất đã được sử dụng từ
lâu trong ngành công nghiệp làm đẹp
để sản xuất thuốc tẩy lông, duỗi tóc và
nhuộm tóc (Costa 2010). Acid này còn
được gọi là mercaptoacetic acid, trong
thành phân của nó có chứa sulfur và
có khả năng tan nhiều trong nước và
alcohol, và là loại acid dễ bị oxi hóa.
Acid này có mùi rất mạnh và đặc biệt.
Ái tính của acid này với sắt thương
tự như ái tính của nó với apoferritin:
nhóm thiol trong thành phần cấu trúc
của nó cho phép chelate hóa sắt trong
phân tử hemosiderin (Costa 2010).
Phương pháp peel này được sử dụng
cho những bệnh nhân có phân loại da
từ típ I đến IV để điều trị các rối loạn
sắc tố có nguồn gốc do melanin hoặc
hemosiderin như tăng sắc tố vùng
quanh ổ mắt (Costa 2010) và viêm da
ochre (Yokomizo 2013).
Ở dạng gel, acid có nồng độ từ
5% đến 12%. Khi peel body để điều
trị viêm da ochre ở chi dưới chúng tôi
khuyến cáo sử dụng liệu trình điều trị
nhiều đợt, mỗi đợt cách nhau 2 hoặc
4 tuần, với nồng độ acid từ 10% đến
12%. Sau khi làm sạch vùng da, tiến
hành bôi một lớp gel mỏng (0.1-0.2
mm) bằng tay mang găng. Hiệu quả
của peel thioglycolic acid trực tiếp
phụ thuộc vào thời gian bôi. Nên tiến
hành rửa sạch với nước ngay khi xuất
hiện đỏ da hoặc frosting ở level 0. Khi
peel bệnh nhân có thể cảm thấy khó
chịu kèm với xuất hiện đỏ da rời rạc
tại thời điểm bôi. Trong khoảng 3 ngày
sau peel, có thể sẽ xuất hiện từ đỏ da
nhẹ cho đến bong vảy mỏng màu nâu
ở một số điểm, tùy thuộc vào thời gian
tiếp xúc với acid. Cần phải đặc biệt lưu
ý nguy cơ acid xâm nhập sâu quá mức
khi peel ở vùng chi dưới vì vùng này
da khó lành hơn vùng khác.
CHĂM SÓC ĐẶC BIỆT SAU THỦ THUẬT
Chúng tôi chia quy trình chăm
sóc đặt biệt sau thủ thuật thành 2 giai
đoạn: chăm sóc ngay khi kết thúc thủ
thuật và chăm sóc những ngày sau thủ
thuật.
Chăm sóc ngay kết thúc thủ
thuật: peel rất nông vùng body thường
không gây đau, nhưng có thể cảm thấy
ngứa hoắc hơi nóng rát, những cảm
giác này sẽ biến mất trong vài phút.
Trong peel nông toàn bộ lớp thượng
bì sẽ bị hoại tử, đặc biệt là khi peel
bằng TCA, đầu tiên bệnh nhân sẽ cảm
thấy nóng, sau đó là cảm giác rát bỏng
vừa phải. Có thể đắp gạc lạnh hoặc
máy làm mát để giảm cảm giác này
cho bệnh nhân.
Chăm sóc những ngày sau thủ
thuật: cách làm trong trường hợp này
rất giống trong trường hợp peel da ở
vùng mặt. Nên giữ sạch vùng da đã
được điều trị với xà phòng hoặc lotion
rửa đối với da nhạy cảm và nên luôn
dưỡng ẩm cho da trong 5-7 ngày với
các sản phẩm dưỡng ẩm đặc hoặc lỏng
như Vaselin, các loại gel hoặc kem
dưỡng ẩm để thay thế cho hàng rào da
vốn đã bị tổn thương do peel hóa chất.
Quá trình làm ẩm sẽ giúp làm dịu cảm
giác đau và bỏng rát sau thủ thuật. Đối
với những vùng da tiết nhiều dầu, thì
154 Peel hóa chất ở vùng da ngoài mặt
nên sử dụng các sản phẩm ít chứa dầu
trong thành phần. Quy trình chăm sóc
này sẽ giúp ngăn ngừa bùng phát tổn
thương dạng mụn trứng cá sau thủ
thuật.
Hai ngày sau điều trị có thể
bắt đầu sử dụng chống nắng phổ
rộng (chống cả tia UVA và UVB), ưu
tiên sử dụng các sản phẩm có chứa
những thành phần chống nắng vật
lý trong thành phần của nó. Việc sử
dụng chống nắng ngay sau khi làm
thủ thuật có thể gây cảm giác bỏng
rát; do đó sử dụng chống nắng không
có thành phần hóa học nên được chỉ
định để tránh gây kích ứng da. Nên
tránh phơi nắng trong những ngay sau
khi làm thủ thuật, dù đã có sử dụng
chống nắng phù hợp thì tốt nhất vẫn
nên tránh ánh nắng. Nếu peel ở vùng
cẳng tay và bàn tay, chúng tôi khuyến
cáo nên ngưng những hóa chất có liên
quan đến những hoạt động nội tại như
xà phòng và chất tẩy rửa có tính chất
mài mòn da, cho tới khi quá trình tái
tạo thượng bì hoàn tất.
Những sản phẩm điều trị thoa
tại chỗ ở nhà nên bắt đầu sử dụng
ngay khi quá trình viêm sau thủ thuật
biến mất. Cần lưu ý là phải mặc quần
áo rộng rãi, thỏa mái để hạn chế ma
sát vào vùng được điều trị.
BIẾN CHỨNG
Nhiễm khuẩn và nấm hiếm khi
xảy ra đối với thủ thuật peel rất nông
hoặc peel nông body bởi vì thủ thuật
này chỉ phá hủy lớp thượng bì mà thôi.
Nếu peel để lại những tổn thương sâu
không mong muốn thì vùng da đó cần
phải được rửa bằng dung dịch acetic
acid 0.25% từ 2 đến 4 lần mỗi ngày,
sau đó rửa lại bằng nước sạch. Cách
này giúp vết thương giảm đóng mài
và giảm nguy cơ bị nhiễm trùng. Tuy
nhiên nếu bị nhiễm trùng, thì ngay lập
tức sử dụng kháng sinh và tiến hành
lấy bệnh phẩm nuôi cấy làm kháng
sinh đồ. Nếu đều trị kịp thời có thể sẽ
làm giảm được những biến chứng có
thể xảy ra sau này.
Nếu bệnh nhân có tiền sử tái
nhiễm herpes ở vùng da được điều trị
hoặc vùng lân cận thì nên tiến hành
điều trị dự phòng herpes với acyclo
vir 200mg, 5 lần mỗi ngày, hoặc vala
cyclovir 500mg, 2 lần mỗi ngày. Liệu
trình điều trị bắt đầu 2 ngày trước thủ
thuật và tiếp tục thêm 5 ngày sau khi
peel hoặc có thể duy trì cho đến khi
quá trình tái tạo thượng bì diễn ra
hoàn tất (Tung và Rubin 2011; Anitha
2010).
Nếu có vùng da chậm lành vết
thương với biểu hiện lâm sàng là đỏ
da kéo dài hoặc xuất hiện những vết
loét nhỏ thì nên sử dụng corticoste
roid bôi vừa đến mạnh, có thể sử dụng
thêm kháng sinh bôi nếu cần thiết.
Cách tiếp cận này giúp giảm thiểu tối
đa nguy cơ xuất hiện các biến chứng
tăng và giảm sắc tố hoặc hình thành
sẹo trong tương lai.
KẾT LUẬN
Khi mà peel trung bình ở vùng
mặt được xem là một thủ thuật đơn
giản thì việc thực hiện thủ thuật này
ở vùng da khác trên cơ thể không phải
là một là lựa chọn tốt do tỉ lệ biến
chứng cao như chậm lành vết thương
và thậm chí là sẹo xấu. Do đó khuyến
cáo chỉ nên peel nông ở vùng da ngoài
vùng mặt và kết quả lâm sàng có thể
155
Peel hóa chất ở vùng da ngoài mặt
thấy được sau một vài liệu trình điều
trị.
Nên peel da body phối hợp với
chăm sóc tại nhà để có thể đạt được
kết quả điều trị tốt nhất. Để hạn chế
biến chứng và rút ngắn thời gian hồi
phục của bệnh nhân, có thể phối hợp
peel hóa chất với những công nghệ
khác như đông điện hoặc cryotherapy
(áp lạnh nitơ lỏng) khi điều trị những
tổn thương dày.
Trong những kĩ thuật hiện có,
thì peel hóa chất body là một phương
pháp điều trị hiệu quả, chi phí thấp
và cho kết quả lâm sàng rõ rệt. Do đó
với các bác sĩ những người mà chỉ áp
dụng điều trị hạn chế các công nghệ
như laser và IPL thì nên xem peel da
như là một sự lựa chọn thay thế (bảng
2).
GHI NHỚ
• Peel hóa chất cho vùng da
ngoài mặt không chỉ được khuyến cáo
đối với một số bệnh cụ thể mà còn để
hỗ trợ cho các điều trị khác.
• Một vài hóa chất được chỉ
định để peel body như salicylic acid,
dung dịch Jessner, retinoic acid, gly
colic acid, TCA, và thioglyolic acid.
• Thời gian lành vết thương
khi peel body dài hơn so với peel da ở
vùng mặt.
• Khi mà peel trung bình ở
vùng mặt được xem là một thủ thuật
đơn giản thì việc thực hiện thủ thuật
này ở vùng da khác trên cơ thể không
phải là một là lựa chọn tốt do tỉ lệ biến
chứng cao như chậm lành vết thương
và thậm chí là sẹo xấu.
• Khuyến cáo chỉ nên peel nông
ở vùng da ngoài vùng mặt và kết quả
lâm sàng có thể thấy được sau một vài
Bảng 2: Hóa chất peel body và chỉ định chính.
Hóa chất peel body
Chỉ định
Salicylic acid
Mụn trứng cá, dày sừng nang lông, nám má
Dung dịch Jessner
Tăng sắc tố sau viêm, nám má, da bị tổn thương do
ánh sáng
Resorcin
Tăng sắc tố sau viêm
Tretinoin
Da bị tổn thương ánh sáng
5-Fluouracil
Dày sừng ánh sáng
Glycolic acid
Lão hóa da ánh sáng, mụn viêm, sẹo mụn, và rối loạn
sắc tố
Trichoroacetic acid
Tổn thương ánh sáng nhẹ, rối loạn sắc tố, poikiloder
ma of Civatte
Thioglycolic acid
Tăng sắc tố do hemosiderin, viêm da ochre
156 Peel hóa chất ở vùng da ngoài mặt
liệu trình điều trị.
• Có thể phối hợp peel hóa chất
với những công nghệ khác như đông
điện hoặc cryotherapy (áp lạnh nitơ
lỏng) khi điều trị những tổn thương
dày.
• Peel hóa chất body là một
phương pháp điều trị hiệu quả, chi phí
thấp và cho kết quả lâm sàng rõ rệt.
• Nên tránh tiếp xúc nhiều với
ánh sáng mặt trời trong những ngày
trước và sau thủ thuật để hạn chế tối
đa nguy cơ hoạt hóa các tế bào sắc tố
và làm tăng sắc tố sau thủ thuật.
THAM KHẢO
Anitha B. Prevention of compli
cation in chemical peeling.
J
Cut
Aesthet
Surg.
2010;3(3):186–7.
Brody HJ. Superficial peeeling.
In: Brody HJ, editor. Chemical peel
ing and resurfacing. 2nd ed. St Louis:
Mosby Year Book; 1997. p. 73–108.
Brubacher JR, Hoffmann RS.
Salicylism from topical salicylates: re
view of the literature. J Clin Toxicol.
1996;34(4):431–6.
Callender VD, St Surin-Lord S,
Davis EC, et al. Post- inflammatory hy
perpigmentation. Etiologic and thera-
peutic considerations. Am J Clin Der
matol. 2011; 12(2):87–99.
Clark E, Scerri L. Superficial
and médium-depth chemical peels.
Clin Dermatol. 2008;26:209–18.
Coleman WP, Futrell JM. The gly
colic acid tri- chloroacetic acid peel. J
Dermatol Surg Oncol. 1994;20(1):76–
80.
Cook K, Cook JR. Chemical peel
of nonfacial skin using glycolic acid
gel augmented with TCA and neutral
ized based on visual staging. Dermatol
Surg. 2000;26:11.
Costa IMC, Gomes CM. Peelings
médios/Peles clara e negra/Áreas
extrafaciais. In: Mateus A, Palermo E,
edi- tors. Cosmiatria e laser: prática
no consultório médico. 1ath ed. São
Paulo: AC Farmacêutica; 2012. p. 167–
74. Costa A, Basile AVD, Medeiros VLS,
Moisés TA, Ota FS, Palandi JAC. Peel
ing de gel de ácido tioglicólico 10%:
opção segura e eficiente na pigmen
tação
infraorbicular
constitucion
al.
Surg Cosmet
Dermatol.
2010; 2(1):29–33.
Dainichi T, Ueda S, Imayama S,
Furue M. Excellent clin- ical results
with a new preparation for chemical
peeling in acne: 30% salicylic acid in
polyethylene glycol vehi- cle. Derma
tol Surg. 2008;34:891–9.
Fischer TC, Perosino E, Poli
F, Viera MS, et al. Chemical peels in
aesthetic dermatology: an update
2009. J Eur Acad Dermatol Venereol.
2010;24:281–92.
Hexsel D, Mazzuco R, Dal’forno
T, Zechmeister.
D.
Microdermabrasion
fol
lowed by a 5% retinoid acid chemical
peel vs. a 5% retinoid acid chemical
peel for the treatment of photoaging
– a pilot study. J Cosmet Dermatol.
2005;4(2):111–6.
Hung VC, Lee JY, Zitelli JA, Heb
da PA. Topical tretinoin and epithe
lial wound healing. Arch Dermatol.
1989;1255:65–9.
157
Peel hóa chất ở vùng da ngoài mặt
Katz BE. The fluor-hydroxy
pulse peel: a pilot evaluation of a new
superficial chemical peel. Cosmet Der
matol. 1995;8:24–30.
Kede MPV. Dermatologia estéti
ca. São Paulo: Ed Atheneu; 2009.
Landau
M.
Chemical
peels. Clin
Dermatol. 2008;26:200–
8.
Marrero GM, Katz BE. The new
fluor-hydroxy pulse peel. A combina
tion of 5-fluoruracil and glycolic acid.
Dermatol Surg. 1998;24:973–8.
Monheit GD. The Jessner’s – tri
chloroacetic acid peel. An enhanced
medium – depth chemical peel. Der
matol Clin. 1995;13:277–83.
Peterson JD, Goldman MP. Reju
venation of the aging chest. A review
and our experience. Dermatol Surg.
2011;37:555–71.
Takenaka Y, Hayashi N, Takeda
M, et al. Glycolic acid chemical peeling
improves inflammatory acne erup-
tions through its inhibitory and bac
tericidal effects on Propionibacterium
acnes. J Dermatol. 2012;39:350–4.
Tung CR, Rubin MG. Procedures in
cosmetic dermatology series: body
peeling. In: Chemical peels, vol. 12.
2nded. Philadelphia: Elsevier; 2011.
p. 117–22.
Yokomizo
VMF,
Benemond
TMH, Chisaki C, Benemond PH. Peel
ings químicos: revisão e aplicação
prática.
Surg
Cosmet
Dermatol.
2013;5(1):58–68.
Zanini M. Trichloroacetic acid –
a new method for an old acid. Med Cut
Iber Lat Am. 2007;35(1):14–7.
PHẦN II
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT BIỆT
TRONG PEEL HÓA CHẤT
159
Peel hóa chất cho người có da tối màu
Chương 12
Peel Hóa Chất Cho Người Có Da Tối Màu
Katleen Conceicao, Andre Ricardo Adriano, và Tiago Silveira Lima
TÓM TẮT
Những bệnh nhân có da tối
màu thường dễ xuất hiện biến chứng
sau các thủ thuật điều trị da như la
ser và peel hóa chất vì loại da này có
khả năng đáp ứng viêm cao hơn đối
với những kích thích vật lí và hóa học.
Trong những phản ứng không mong
muốn này, nổi bật nhất là các biến
chứng tăng sắc tố, giảm sắc tốt, sẹo lồi
và sẹo phì đại. Nhu cầu làm đẹp của
những bệnh nhân thuộc phân loại da
kiểu này đang ngày càng tăng; do đó
các bác sĩ da nên cập nhật kiến thức
của họ trong lĩnh vực này. Đối với peel
hóa chất, đều quan trọng là phải đánh
giá những chất hóa học peel tốt nhất
và chống chỉ định của nó, chăm sóc
trước và sau thủ thuật, và những chỉ
định phù hợp nhất đối với màu da tối.
Trong khi ở người da trắng, peel hóa
chất chủ yếu được chỉ định để điều
trị lão hóa da ánh sáng, thì những
người sinh ra ở châu Phi peel hóa chất
thường được chỉ định điều trị nám má,
tăng sắc tố sau viêm, trứng cá và giả
viêm nang râu. Nhìn chung, peel nông
và peel rất nông là những loại peel
dung nạp tốt với người da đen; peel
trung bình có thể tiến hành một cách
thận trọng và peel sâu thì nên tránh
vì nguy cơ mất sắc tố và sẹo rất cao.
Trong số các loại peel hóa chất, những
loại peel an toàn và hiệu quả với người
da đen gồm peel glycolic acid, salicylic
acid, retinoic acid, và dung dịch Jess
ner. Peel vật lí cũng có thể tiến hành
một cách riêng biệt hoặc phối hợp với
peel hóa chất.
NỘI DUNG
Giới thiệu
Lịch sử và khái niệm
Các loại peel
Salicylic acid
Glycolic acid
Trichloroacetic acid
Retinoic acid
Dung dịch Jessner
Peel điểm (spot peel)
Chỉ định và mẹo thực hành
Trứng cá và viêm nang lông râu giả
Nám má
Tăng sắc tố sau viêm
Lựa chọn bệnh nhân
Trước khi peel
Thủ thuật peel
Sau peel
Tác dụng phụ
Ghi nhớ
Tham khảo
160
Peel hóa chất cho người có da tối màu
GIỚI THIỆU
Các bác sĩ da liễu cần thiết phải
biết được những điểm khác nhau ở
bệnh nhân da đen và da trắng liên
quan đến sinh lí học của da, giải phẫu
cơ thể, quan điểm về cái đẹp, nét riêng
biệt về văn hóa và mong muốn của
bệnh nhân. Nhìn chung, tất cả bệnh
nhân đều mong muốn có làn da trơn
lán, tươi tốt, đồng đều, không có nếp
nhăn và đồng nhất về màu sắc.
Dân số người da đen trên thế
giới tăng lên hàng ngày. Ở Mỹ, ước tính
sẽ có gần 50% dân số là người da đen
vào năm 2050 (đồng thuận Mỹ 2000),
và số lượng người da đen đến từ châu
Phi ở anh gấp đôi giữa năm 2001 và
2011. Mặc dù phần lớn dân số thế giới
là người có phân loại da tối màu nhưng
đại đa số những nghiên cứu khoa học
về peel hóa chất liên quan đến người
da trắng (Salam 2013).
Nhu cầu sử dụng các thủ thuật
thẩm mỹ ngày càng tăng dần cùng với
sự ra đời của những công nghệ mới,
những phương pháp điều trị an toàn
và hiệu quả hơn, và những kĩ thuật ít
xâm lấn hơn. Trong số các thủ thuật
không xâm lấn thì peel hóa chất là
phương pháp điều trị ít tốn thời gian,
hiệu quả và giá thành thấp. Phương
pháp này rất hiệu quả trong điều trị
mụn trứng cá, vết rạn da, nếp nhăn,
sẹo và điều trị trẻ hóa da. Nhu cầu peel
hóa chất ở những bệnh nhân có da tối
màu cao vì họ có tỉ lệ cao những bệnh
có thể được điều trị và cho kết quả tốt
với peel hóa chất. Tuy nhiên, cần phải
sử dụng loại hóa chất, nồng độ và kĩ
thuật phù hợp để điều trị những bệnh
đó vì da tối màu có nguy cơ cao xuất
hiện những biến chứng tạm thời hoặc
vĩnh viễn như giảm sắc tố, tăng sắc tố
và tạo sẹo.
Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng
bệnh nhân có da tối màu (có phân loại
da từ IV đến VI theo Fitzpatrick) xuất
hiện tổn thương ánh sáng (nếp nhăn)
muộn hơn 10-20 năm và ít nghiêm
trọng hơn so với người da trắng (Rob
erts 2004). Măc khác, họ lại có nhiều
rối loạn sắc tố hơn do bức xạ mặt trời.
Do đó, ở người da trắng, peel chủ yếu
dùng để điều trị nếp nhăn, còn những
người sinh ra ở châu Phi thường tìm
đến peel để điều trị nám má, tăng sắc
tố sau viên, trứng cá, và viêm lỗ chân
râu giả (Roberts 2004).
LỊCH SỬ VÀ KHÁI NIỆM
Một trong những sự kiện lịch
sử đầu tiên về dùng peel hóa chất liên
quan đến Cleopatra, một nữ hoàng nổi
tiếng của Ai cập cổ đại thường tắm
với sữa chua để điều trị da. Dù chưa
có kiến thức tại thời điểm đó, thì việc
điều trị này có thể liên quan đến lac
tic acid (alpha- hydroxiacid) có trong
sữa. Cũng có một trường hợp được
báo cáo rằng một phụ nữ châu Phi
khác đã từng sử dụng muối, đá bọt, và
nước tiểu để peel da (Roberts 2004).
Peel da được định nghĩa là việc
gây tổn thương vật lí hoặc hóa học có
kiếm soát lên các lớp bề mặt của da để
kích thích tái sinh mô mới. Peel hóa
chất là phương pháp điều trị rẻ, dễ tiếp
cận, và có hiệu quả cao đối với da đen.
Nhìn chung, peel nông và rất nông có
thể dung nạp tốt ở người da đen; peel
trung bình có thể tiến hành một cách
thận trọng và peel sâu thì nên tránh vì
nguy cơ mất sắc tố và sẹo rất cao
161
Peel hóa chất cho người có da tối màu
(Salem 2013; Davis và Callender
2011).
Có nhiều nghiên cứu về peel
hóa chất ở người da đen đã báo cáo
về việc sử dụng glycolic acid cho kết
quả tốt và an toàn. Ngoài ra cũng có
những báo cáo cho kết quả tốt khi khi
sử dụng TCA 10-20%, và dung dịch
Jessner + TCA 15%, với dung dịch
lactic acid và dung dịch salicylic acid
20-30% (Al-Waiz và Al-Sharqi 2002;
Sarkar 2012; Khunger 2004). Grimes
(1999) đã tiến hành một nghiên cứu
về sử dụng peel salicylic acid 20-30%
cho những bệnh nhân có da đen. Ng
hiên cứu đưa ra đánh giá điều trị có
hiệu quả tốt đối với nám má, nhưng
khoảng 16% bệnh nhân xuất hiện tác
dụng không mong muốn tạm thời và
được giải quyết trong 7-14 ngày.
Sarkar và cộng sự (2012) đã đề xuất
kết hợp mandelic acid với salicylic
acid trong cùng một công thức peel
cho da tối màu vì họ cho rằng sự phối
hợp này làm tăng hiệu quả điều trị và
làm giảm tác dụng phụ. Những tác giả
này cũng ủng hộ sử dụng peel da bằng
phytic acid. Không phụ thuộc vào loại
peel được dùng để điều trị nám má
ở người da tối màu, tỉ lệ tái phát ở
những người này là rất cao; do đó cần
phải peel nhiều đợt và sử dụng chất
làm trắng thường xuyên.
Những loại peel hiệu quả trong
y văn sử dụng cho người có da tối màu
được mô tả trong bảng 1 (Salam 2013;
Roberts 2004; Been và Mangat 2014;
Rullan và Karam 2010).
Bảng 1: hóa chất peel được sử dụng ở người da đen
Hóa chất peel nông (từ lớp thượng bì đến lớp bì nhú trên)
Dung dịch glycolic acid 30-50% hoặc gel glycolic 70%
Dung dịch Jessner
Salicylic acid 20-30% trong ethanol
Tretinoin 1-7%
Trichloroacetic acid 10-35%
Hóa chất peel trung bình (thượng bì đến lớp bì lưới trên)
Dung dịch glycolic acid 70%
Dung dịch Jessner + Trichloroacetic 35%
Phenol 88% (không gây bít tắt)
Trichloroacetic acid 35-50%
Trichloroacetic acid 25-35% + gel glycolic 70%
Peel sâu không nên sử dụng ở bệnh nhân có phân loại da Fitzpatrick từ IV-VI
162
Peel hóa chất cho người có da tối màu
CÁC LOẠI PEEL
Salicylic acid
Salicylic acid là một loại be
ta-hydroxy acid tan trong dầu, chất
này có thể lột được các lớp nông bề
mặt da nhờ tác dụng ly sừng và tiêu
nhân mụn. Acid này cũng có thể được
sử dụng phối hợp với các loại peel
khác nhằm làm tăng khả năng thấm
của chất peel thứ 2 đó. Thường thì
chúng ta sử dụng dung dịch salicylic
acid 20-30% trong dung môi nước-
cồn (hydroalcohol). Peel salicylic acid
chỉ định tốt trong điều trị trứng cá đối
với cả tổn thương có viêm và không
viêm, cũng như các tổn thương tăng
sắc tố sau viêm. Ngoài ra còn được
chỉ định trong các loại tăng sắc tố sau
viêm khác như nám má và dày sừng
sắc tố. Quá trình peel sẽ gây cảm giác
bỏng rát nhưng ở mức bệnh nhân chấp
nhận được. Điểm cuối lâm sàng trong
peel salicylic acid là sự xuất hiện đỏ da
đồng nhất và lớp kết tủa trắng trên bề
mặt. Trong peel này không cần phải
trung hòa acid sau peel mà chỉ cần đắp
khăn lạnh để làm bệnh nhân cảm thấy
dễ chịu hơn. Trong quá trình thủ thuật
bệnh nhân có thể ho và hắt hơi (Salam
2013; Roberts 2004; Grimes 1999).
Glycolic acid
Đây là một loại alpha-hydrox
iacid và giống như những hợp chất
khác trong cùng nhóm như lactic, cit
ric, mandelic, malic và tartaric acid
thì peel glycolic acid có khả năng gây
li giải thượng bì trong vòng vài phút
sau khi bôi, từ đó kích thích lột da và
giảm melamin thượng bì. Điểm cuối
lâm sàng trong peel này đạt được khi
xuất hiện đỏ da đồng nhất (thấy rõ
hơn ở bệnh nhân da trắng), hoặc khi
có điểm frost (kết tủa màu trắng của
protein bề mặt do ly giải thượng bì)
đầu tiên. Đo đó, thời điểm trung hòa
acid tốt nhất là 2-3 phút sau khi bôi
acid. Nên trung hòa acid với dung
dịch sodium bicarbonate 1% hoặc với
dung dịch saline, hoặc với nước. Tác
dụng của peel da bằng glycolic acid
phụ thuộc vào thời gian peel. Nồng
độ acid được dùng từ 10% đến 70%
(Roberts 2004).
Peel glycolic acid được chỉ định
trong điều trị mụn nhờ chứa các thành
phần chống viêm và tác dụng diệt vi
khuẩn P. acnes. Sau khi peel glycolic
acid da sẽ giảm tổn thương mụn (nhân
mụn, sẩn, mụn mủ) cũng như giảm sắc
tố da. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng
peel glycolic acid ở nồng độ 70% có
thể đẩy nhân mụn và mụn mủ ra trong
vòng vài phút (Salam 2013). Loại peel
này ít có hiệu quả trong điều trị nám
nông và nám hỗn hợp và tăng sắc tố
sau viêm. Khi peel glycolic acid một
số nhỏ bệnh nhân có nguy cơ cao hơn
bị kích ứng, giảm sắc tố và tăng sắc tố
sau peel. Để giảm kích ứng da, nên sử
dụng glycolic ở dạng gel hơn là dạng
dung dịch và sử dụng chất đệm có pH
cao hơn. pH của acid khi chưa đệm từ
0.08 đến 2.75. pH thấp hơn 2 làm tăng
chỉ số hoại tử và tăng phá hủy tế bào
sừng. Và ngưỡng pH này làm tăng tỉ lệ
biến chứng mà không làm tăng hiệu
quả điều trị. Do đó, chúng tôi khuyến
cáo sử dụng những sản phẩm đệm
hoặc ít nhất là đệm một phần (Roberts
2004).
163
Peel hóa chất cho người có da tối màu
Trichloroacetic acid
Loại acid này làm biến tính
protein, gây hoại tử đông và giết chết
tế bào. Mức độ hoại tử phụ thuộc
vào nồng độ và số lớp acid được bôi.
Chúng ta gần như không thể trung hòa
acid này vì protein bị biến tính được
quan sát thấy chỉ trong vài giây. Trên
lâm sàng sự biến tính của protein
được biểu hiện bởi sự xuất hiện của
các vùng màu trắng được gọi là “frost
ing”. Tùy thuộc vào độ sâu của peel, mà
những vùng màu trắng-sám với các
mức độ khác nhau xuất hiện trên nền
da đỏ. Đối với da tối màu thì không
mong muốn có sự xuất hiện của lớp
frost do đó khuyến cáo dùng trichloro
acetic acid có nồng độ dưới 25%. Peel
với trichloroacetic acid rất đau và có
cảm giác bỏng rát nặng (Salam 2013;
Roberts 2004).
Al-Waiz và Al-Sharqi (2002) đã
tiến hành một nghiên cứu trong đó
người ta peel dung dịch Jessner ngay
lập tức sau khi peel bằng TCA 35% để
điều trị sẹo trứng cá ở 15 bệnh nhân
da tối màu. Nghiên cứu cho thấy có sự
cải thiện rõ rệt (loại bỏ được hơn 75%
tổn thương) ở 1 bệnh nhân, cải thiện
ở mức độ trung bình (loại bỏ được 51-
75% tổn thương) ở 8 bệnh nhân và cải
thiện mức độ nhẹ (26-50%) ở 4 bệnh
nhân, cải thiện rất ít (1-25%) ở 1 bệnh
nhân và có 1 bệnh nhân không đáp
ứng. Chín bệnh nhân (73,4%) xuất
hiện tăng sắc tố sau viêm thoáng qua.
Hai trong số họ xuất hiện đỏ da sau đó
và kéo dài hơn 1 tháng. Tất cả bệnh
nhân phục hồi hoàn toàn sau 3 tháng
làm thủ thuật. Vì hiệu quả tương đối
thấp và nguy cơ lại khá cao nên chúng
tôi khuyến cáo không nên peel
trichloroacetic ở bệnh nhân da tối
màu.
Retinoic acid
Vitamin A có tác dụng kích
thích sản sinh collagen. Nồng độ ret
inoic acid trong peel từ 1% đến 9%.
Acid này được bôi như đắp mặt nạ da
và giữ trên da mặt từ 4 đến 8h. Sau
khoảng thời gian này thì nên dùng
sữa rửa mặt để loại bỏ acid trên mặt
(Salam 2013). Sau 3-4 ngày vảy bắt
đầu tróc và kéo dài trong 2 đến 3 ngày.
Cách này hiệu quả trong điều trị mụn,
rối loạn sắc tố và giúp trẻ hóa da. Peel
này rất an toàn đối với người có phân
loại da tối màu và không gây khó chịu
trong quá trình tiến hành thủ thuật.
Dung dịch retinoic acid có màu vàng
canary, nhưng thường được trộn với
dung môi có màu để tạo thành dung
Hình 1: peel retinoic acid trong dung môi
màu
164
Peel hóa chất cho người có da tối màu
dịch có tính thẩm mỹ cho phép bệnh
nhân ra khỏi phòng khám ngay khi
xong thủ thuật (hình 1).
Dung dịch Jessner
Dung dịch Jessner chứa lactic
acid, salicylic acid, và resorcinol. Dung
dịch này có tác dụng tốt khi peel nông
hoặc phối hợp với các loại peel khác.
Ưu điểm lớn nhất của loại peel này là
tác dụng đồng vận của 3 thành phần
có khả năng li sừng. Dung dịch này có
hoạt tính làm trắng nhờ vào resorci
nol, và nhờ trong thành phần có chứa
phenol (Roberts 2004). Tuy nhiên,
cần phải chăm sóc cẩn thận và lưu ý
khi sử dụng loại peel này ở bệnh nhân
có phân loại da V và VI vì resorcinol có
thể làm mất sắc tố ở những bệnh nhân
này. Điểm cuối lâm sàng trong peel
dung dịch Jessner là xuất hiện đỏ da
đồng nhất kèm với đốm trắng (tương
tự như peel salicylic acid) nhưng chưa
tới mức xuất hiện frosting. Không cần
phải trung hòa khi peel dung dịch này.
Khi peel bệnh nhân sẽ có cảm giác
bỏng rát, nếu phản ứng quá mức xảy
ra thì nên ngưng peel ngay (hình 2).
Peel điểm
Trong một vài trường hợp
chúng ta có thể peel tập trung tại một
vị trí. Trong trường hợp này chúng ta
chỉ bôi hóa chất lên một vùng nhỏ tại
chỗ và giữ cho những vùng da xung
quanh không bị tổn thương. Đây là
phương pháp rất hữu ích trong điều trị
các chấn thương tại chỗ, như tăng sắc
tố, đốm nâu ánh sáng, dày sừng tuyến
bã, mụn viêm, hoặc sẹo mụn (Burns
1997). Hóa chất peel được sử dụng
nhiều nhất cho mục đích này là sali
cylic acid (20-30%), dung dịch Jessner
và TCA (20-30%). Ta cũng có thể phối
hợp 2 loại hóa chất khác nhau, trong
đó một hóa chất để peel điểm và một
loại hóa chất khác để peel phần còn
lại của khuôn mặt. Ngoài ra chúng ta
cũng có thể sử dụng một loại hóa chất
với nhiều nồng độ khác nhau, sử dụng
nồng độ cao hơn ở vị trí peel điểm và
nồng độ thấp hơn trên phần còn lại
của khuôn mặt (Salam 2013; Roberts
2004; Al-Waiz và Al-Sharqi 2002).
Chun và cộng sự (2004) đã báo
cáo những trường hợp thành công khi
điều trị peel TCA (10-65%) cho những
tổn thương sắc tố (đốm nâu ánh sáng,
nám má, tàn nhang) ở những bệnh
nhân có phân loại da từ IV-VI. Điều trị
dày sừng tuyến bã và đốn nâu cho kết
quả tốt nhất, và điều trị nám má có tỉ
lệ tái phát cao hơn. Hóa chất được bôi
bằng cách dùng tăm đặt một áp lực
vào tổn thương. Rất ngạc nhiên, không
Hình 2: peel điểm bằng dung dịch Jessner
165
Peel hóa chất cho người có da tối màu
có tác dụng phụ nặng được báo cáo
khi sử dụng ở nồng độ cao hơn.
CHỈ ĐỊNH VÀ MẸO THỰC HÀNH
Mụn trứng cá và viêm giả nang lông
vùng râu
Peel điều trị mụn và viêm giả
nang lông vùng râu được chỉ định dựa
vào khả năng ly sừng, kháng viêm và
làm sáng da của những thành phần
của chất peel. Peel hóa chất trong điều
trị trứng cá là lựa chọn tốt vì phương
pháp này không chỉ giúp giải quyết
những mụn viêm mà còn giải quyết
luôn tình trạng tăng sắc tố sau viêm.
Nếu không có tổn thương viêm,
có thể tiến hành peel kim cương hoặc
tinh thể vật lí trước khi peel hóa học.
Chúng ta có thể phối sử dụng phối hợp
(peel vật lí + hóa học) với salicylic acid
20% hoặc dung dịch Jessner.
Một lựa chọn điều trị khác là
bôi salicylic acid ở nồng độ cao hơn
(30%) lên từng mụn viêm.
Thêm một phương án nữa là
peel dung dịch retinoic acid dưới 7%
và lưu lại trên da từ 4-6 tiếng.
Peel alpha-hydroxyacid được
báo cáo là một lựa chọn điều trị tốt;
tuy nhiên cần phải tiến hành trung
hòa sau peel do đó, người lựa chọn
phương pháp này nên là những bác sĩ
đã có kinh nghiệm tốt.
Nám má
Nám má là một trong những
bệnh phổ biến đối với bệnh nhân ở
châu Phi. Tỉ lệ bệnh này lớn nhất là ở
những người có phân loại da IV đến
VI theo phân loại của Fitzpatrick, chủ
yếu là người châu Phi, người Mỹ gốc
Phi, Tây Ban Nha và người châu Á.
Dung dịch Jessner được chỉ
định dùng riêng lẻ hoặc phối hợp với
các loại peel khác.
Chúng tôi có nhiều kinh nghiệm
trong phương phương pháp peel gọi
là Cimel, và ưa chuộng sử dụng công
thức Cimel điều chỉnh gồm chứa 3%
hydroquinone, 3% kojic acid, 3% ret
inoic acid, 3% lactic acid, 9% salicylic
acid, 3% ascorbic acid, và 1% trong
thành phần gel kem đệm.
Một lựa chọn khác là peel đệm
glycolic acid (70%) riêng lẻ hoặc phối
hợp với retinoic acid 3-7%.
Tăng sắc tố sau viêm
Chúng tôi có nhiều kinh nghiệm
điều trị vấn đề này bằng cách sử dụng
peel nông phối hợp giữa salicylic acid
với retinoic acid.
Khuyến khích sử dụng những
chất làm trắng và chống nắng hằng
ngày ở nhà.
Bảng 2 và 3 đưa ra mức độ bằng
chứng và độ mạnh của khuyến cáo đối
với rất nhiều chất peel khác nhau đối
với da màu dựa vào những y văn hiện
nay (Roberts 2004; Sarkar 2012; Rul
lan và Karam 2010).
166
Peel hóa chất cho người có da tối màu
Bảng 2: Mức độ bằng chứng và độ mạnh khuyến cáo đối với các hóa chất peel
khác nhau cho người da màu.
Peel glycolic acid II-I A
Dung dịch Jessner II-iii B
Peel lactic acid II-iii B
Peel phytic acid III C
Peel pyruvic acid III C
Peel salicylic acid II-iii B
Peel trichloroacetic acid II-iii B
Bảng 3: Mức độ chứng cứ trong phân loại các thử nghiệm lâm sàng của Lực lượng
phòng ngừa dịch vụ đặc biệt Hoa Kỳ (USPSTF)
Mức độ chứng cứ
I chứng cứ thu được từ ít nhất một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng được
thiết kế một cách hợp lí
II-i chứng cứ thu được từ một thử nghiệm lâm sàng có đối chứng được thiết
kế rất tốt nhưng không ngẫu nhiên
II-ii chứng cứ thu được từ một nghiên cứu cohort hoặc nghiên cứu phân tích
trường hợp có đối chứng, loại nghiên cứu đa trung tâm.
II-iii chứng cứ thu được từ quan sát chuối thời gian có hay không có sự can
thiệp; kết quả khác biệt trong thử nghiệm không đối chứng cũng có thể được
phân loại ở mức độ này.
III ý kiến của những tác giả có uy tín dựa vào kinh nghiệm lâm sàng, nghiên
cứu mô tả hoặc báo cáo của các hội đồng chuyên da.
IV không đủ chứng cứ do lỗi phương pháp nghiên cứu (ví dụ: kích thước đơn
giản, hoặc độ dài theo dõi khoog đủ hoặc mâu thuẫn bằng chứng)
Độ mạnh khuyến cáo
A có chứng cứ mạnh ủng hộ việc sử dụng thủ thuật
B có chứng cứ trung bình ủng hộ việc sử dụng thủ thuật
C có chứng cứ yếu ủng hộ việc sử dụng thủ thuật
D có chứng cứ trung bình phản đối việc sử dụng thủ thuật
E có chứng cứ mạnh phản đối việc sử dụng thủ thuật.
167
Peel hóa chất cho người có da tối màu
LỰA CHỌN BỆNH NHÂN
Bệnh nhân cần phải hợp tác
và cần hiểu toàn bộ những bước tiến
hành thủ thuật bao gồm chăm sóc
trước và sau thủ thuật. Toàn bộ lợi ích
và tác dụng phụ, cũng như hạn chế của
thủ thuật nên được giải thích kĩ cho
bệnh nhân để tránh những kì vọng
không thực tế từ bệnh nhân (Roberts
2004; Rullan và Karam 2010).
Bác sĩ nên lưu ý hoặc không chỉ
định peel hóa chất ở những bệnh nhân
có da tối màu, những người có tiền sử
gia đình có sẹo phì đại hoặc sẹo lồi.
Peel hóa chất không phải là chỉ định
tốt đối với những bệnh như viêm da
tiếp xúc, viêm da tiết bã, trứng cá đỏ,
da nhạy cảm, bạch biến, và vảy nến.
Những người hút thuốc có thời gian
hồi phục da chậm. Chống chỉ định ở
những bệnh nhân đã xạ trị, có phẫu
thuật và sử dụng retinoid uống gần
đây vì ảnh hưởng đến quá trình biến
chuyển collagen. Peel được tiến hành
6-12 tháng sau khi ngưng dùng reti
noid đường uống để tránh ảnh hưởng
đến quá trình lành vết thương của da.
Cần hỏi kĩ bệnh nhân xem họ có đang
dùng thuốc nhạy cảm ánh sáng (cy
clins, amiodarone, thiazides, thuốc
chống trầm cảm 3 vòng, NSAIDs)
không vì có thể làm tăng sắc tố sau
thủ thuật (Salam 2013; Roberts 2004;
Rullan và Karam 2010).
TRƯỚC KHI PEEL
Bệnh nhân nên được khuyên
sử dụng chống nắng và chất làm trắng
như hydroquinone, retinoic acid, gly
colic acid, hoặc bộ ba phối hợp hydro
quinone+retinoic acid+ corticosteroid
(công thức Kligman) với mục đích
chuẩn bị da trước peel trong ít nhất
2 tuần trước thủ thuật. Những sản
phẩm này có thể ngưng 3 ngày trước
thủ thuật. Không nên tẩy da chết và
triệt lông trong vòng 7 ngày trước thủ
thuật. Việc tuân thủ những lời khuyên
trên sẽ làm giảm biến chứng đặc biệt
là rối loạn sắc tố sau viêm. Nếu bệnh
nhân có lịch sử tái phát bệnh herpes
thì nên dự phòng cho bệnh nhân với
thuốc kháng virus, như valacyclovir
500mg- 12/12 h trong 5 ngày, bắt
đầu từ 2 ngày trước khi điều trị. Bệnh
nhân cần kí xác nhận vào phiếu đồng
ý, trong phiếu phải ghi rõ lợi ích và
những nguy cơ của thủ thuật. Chụp
ảnh trước và sau điều trị là công cụ
hữu ích để đánh giá kết quả, tránh
những phàn nàn có thể về thủ thuật.
THỦ THUẬT PEEL
Nên lựa chọn peel theo chỉ định.
Tuy nhiên, vì nhiều loại peel nông có
thể mang lại hiệu quả lâm sàng tương
tự nhau, bác sĩ nên lựa chọn loại peel
mà họ có nhiều kinh nghiệm sử dụng
hơn để tránh tác dụng phụ. Chúng tôi
khuyến cáo sử dụng tất cả những loại
peel đã được đề cập đến trước đó,
ngoại trừ trichloroacetic acid, và phải
nhớ rằng không khuyến cáo sử dụng
peel sâu đối với người có phân loại da
mức V và VI.
Đầu tiên, da phải được rửa sạch
để tẩy trang, loại bỏ kem chống nắng,
mỹ phẩm và tẩy nhờn da nhằm chuẩn
bị cho quá trình bôi hóa chất. Bệnh
nhân nên rửa mặt với xà phòng hoặc
sửa rữa mặt không chứa xà phòng và
nước, sau đó tẩy toàn bộ những phần
cặn còn lại bằng gạc thấm cồn,
168
Peel hóa chất cho người có da tối màu
acetone hoặc Hoffman lỏng, di chuyển
gạc liên tục, mạnh cho đến khi da sạch
và hết nhờn. Tùy thuộc và số lần chùi
và lực tay, bước này cũng có thể giúp
loại bỏ lớp tế bào rất nông của lớp
sừng. Điều này giúp hóa chất peel có
thể thấm đồng nhất vào da.
Để tránh gây viêm vùng quanh
mắt, mũi hoặc môi, nên bôi petrola
tum hoặc các loại kem khác ở vùng này
trước thủ thuật, chủ yếu là trong peel
salicylic acid. Trong quá trình peel nên
trùm tóc bằng mủ trùm tóc.
Có thể chuẩn bị hóa chất peel
trong các loại dung môi khác nhau và
được bôi theo cách tùy thuộc vào sở
thích của người bác sĩ như bôi bằng
tay đeo găng, tăm bông, vật làm bằng
gỗ (như tăm và que đè lưỡi). Với dung
môi đặc có thể bôi bằng găng. Hầu hết
các công thức được chuẩn bị trong
dung môi là nước hoặc dạng cồn-nước,
do đó tăm bông và gạc thường được
sử dụng để bôi hơn. Khi peel, nên chia
mặt thành các vùng giải phẫu và bắt
đầu bôi ở vùng trán, đến vùng má và
mũi, cuối cùng là vùng cằm.
Như chúng ta đã biết, độ sâu
của peel và mức độ đáp ứng viêm phụ
thuộc vào nồng độ của hóa chất; thể
tích bôi (số lượt bôi); áp lực đè lên
da khi rửa mặt và khi peel; và khoảng
thời gian da tiếp xúc với hóa chất peel,
chủ yếu trong trường hợp cần trung
hòa để ngưng tác dụng của hóa chất.
Thủ thuật peel càng mạnh càng gây
viêm nhiều và có thể khiến da chậm
phục hồi từ đó gây nguy hiểm đối với
những bệnh nhân có da tối màu. Tùy
theo mức độ dung nạp của bệnh nhân,
những lần peel tiếp theo có thể mạnh
hơn và có thể test trước trên một
vùng da nhỏ ở vị trí che khuất (vùng
sau dái tai). Một điều cần lưu ý là nên
tăng khoảng cách thời gian giữa các
lần peel đối với những người da đen
để hạn chế biến chứng. Cần đặc biệt
lưu ý đối với những vùng ngoài mặt
là những nơi có ít đơn vị nang lông-
tuyến bã, tỉ lệ phục hồi thấp và nguy
cơ tác dụng phụ cao (Roberts 2004).
SAU PEEL
Bệnh nhân nên dùng kem
dưỡng ẩm, làm dịu da, thúc đẩy lành
vết thương ngay và trong 1 vài giờ sau
khi tiến hành thủ thuật, và rửa nước
ấm vài lần mỗi ngày. Đối với da dầu
dễ bị mụn thì nên sử dụng dưỡng ẩm
không có chất sinh còi mụn, không
chứa dầu (oil-free and noncomedo
genic). Bôi corticosteroid ở những
vùng da viêm hoặc đỏ kéo dài để giảm
nguy cơ rối loạn sắc tố sau viêm. Dùng
chống nắng là bắt buộc. Nhìn chung,
bệnh nhân có thể trở lại với những
chăm sóc da hàng ngày sau 7 ngày từ
ngày điều trị. Cũng ở thời gian này, bác
sĩ da nên đánh giá lại bệnh nhân và
cho bệnh nhân sử dụng các chất làm
trắng.
TÁC DỤNG PHỤ
Kể cả peel nông cũng có thể
để lại sẹo hoặc giảm sắc tố ở những
bệnh nhân có da dễ tổn thương. Đỏ da
và tăng sắc tố là những tác dụng phụ
phổ biến nhất và thỉnh thoảng gây khó
khăn trong điều trị chúng. Ngay khi
phát hiện đỏ da kéo dài nên sử dụng
corticoid mạnh càng sớm càng tốt
(Salam 2013).
Phản ứng dị ứng nếu xảy ra cũng có
169
Peel hóa chất cho người có da tối màu
• Peel bằng salicylic acid và
dung dịch Jessner không chỉ là chỉ
định tốt để điều trị tổn thương trứng
cá viêm mà còn trong điều trị tăng sắc
tố sau viêm.
• Những lựa chọn điều trị khác
cho mụn trứng cá gồm retinoic acid và
glycolic acid.
• Bác sĩ cần phải hết sức lưu ý
khi peel glycolic acid ở bệnh nhân da
tối màu vì peel chất này cần phải tiến
hành trung hòa để ngưng tác dụng của
acid.
• Peel điểm có thể được sử dụng
đối với những tổn thương khu trú.
Phối hợp peel phổ biến nhất cho mục
đích này là salicylic acid (20-30%),
dung dịch Jessner và TCA (20-30%).
• Peel dung dịch Jessner có thể
được chỉ định riêng lẻ hoặc phối hợp
để điều trị nám má.
• Một lựa chọn khác để điều trị
nám má được gọi là Cimel (kiểm tra
thành phần trong mục CHỈ ĐỊNH và
TIPS).
• Peel salicylic acid + peel reti
noic acid là lựa chọn tốt để peel tăng
sắc tố sau viêm ở bệnh nhân da tối
màu. Cần phải hết sức cẩn thận khi
peel trung bình và không nên peel sâu
ở bệnh nhân có da tối màu.
• Để đạt được kết quả tốt và
tránh biến chứng, bệnh nhân có thể
điều trị hàng ngày ở nhà bằng những
chất làm trắng và chống nắng (hóa học
hoặc vật lí) trước khi tiến hành điều
trị peel.
thể được điều trị bằng corticosteroid
bôi.
Mụn và phát ban dạng mụn
cũng có thể được điều trị bằng các
thuốc điều trị thông thường (có thể
làm giảm tình trạng mụn bằng cách
lấy còi mụn trước khi tiến hành peel).
Nhiễm nấm và vi khuẩn rất
hiếm khi xảy ra và có thể dự phòng
bằng cách chăm sóc và giữ vệ sinh; với
herpes có thể được điều trị dự phòng
bằng thuốc kháng virus ở những bệnh
nhân đã được lựa chọn.
GHI NHỚ
• Bác sĩ da liễu cần thiết phải
biết những đặc tính riêng biệt của da
đen, giải phẫu ở những bệnh nhân này,
ngoài ra còn phải nắm về tiêu chuẩn
của cái đẹp, văn hóa riêng biệt và
mong muốn của bệnh nhân.
• Trong khi peel hóa chất ở hầu
hết người da trắng là để điều trị lão
hóa da ánh sáng, nếp nhăn nhỏ thì ở
người da đen peel đa số dùng để giải
quyết những vấn đề về nám, tăng sắc
tố sau viêm, mụn trứng cá, và viêm giả
nang lông ở vùng râu.
• Điều quan trọng là cần phải
hiệu chỉnh những kĩ thuật peel hóa
chất đối với những người có phân loại
da cao hơn, vì da đen có nguy cơ cao bị
tác dụng phụ của peel như giảm sắc tố,
tăng sắc tố và sẹo.
• Những loại peel hiệu quả đối
với da tối mà là peel glycolic acid, sal
icylic acid, retinoic acid và dung địch
Jessner. Những kĩ thuật thuật hiệu quả
là peel điểm và peel phối hợp.
• Peel hóa chất là lựa chọn mang
lại hiệu quả tốt khi điều trị trứng cá ở
bệnh nhân da tối màu.
170
Peel hóa chất cho người có da tối màu
THAM KHẢO
Al-Waiz MM, Al-Sharqi AI. Me
dium-depth chemical peels in the
treatment of acne scars in dark-
skinned individuals. Dermatol Surg.
2002;28(5):383–7.
Been MJ, Mangat DS. Laser and
face peel procedures in non-Cauca
sians. Facial Plast Surg Clin North
Am. 2014;22(3):447–52.
Burns RL, Prevost-Blank PL,
Lawry MA, Lawry TB, Faria DT, Fiv
enson DP. Glycolic acid peels for post
inflam- matory hyperpigmentation in
black patients. A compar- ative study.
Dermatol Surg. 1997;23(3):171–4; dis
cussion 175.
Chun EY, Lee JB, Lee KH. Focal
trichloroacetic acid peel method for be
nign pigmented lesions in dark-skinned
patients. Dermatol Surg. 2004;30(4 Pt
1):512–6; dis- cussion 516.
Davis EC, Callender VD. Aesthet
ic dermatology for aging ethnic skin.
Dermatol Surg. 2011;37(7):901–17.
Grimes PE. The safety and effica
cy of salicylic acid chem- ical peels in
darker racial-ethnic groups. Dermatol
Surg. 1999;25(1):18–22.
Khunger N, Sarkar R, Jain RK.
Tretinoin peels versus glycolic acid
peels in the treatment of Melasma in
dark- skinned patients. Dermatol Surg.
2004; 30(5):756–60.
Roberts WE. Chemical peeling in
ethnic/dark skin.
DermatoTher. 2004;17(2):196–
205.
Rullan P, Karam AM. Chemical
peels for darker skin types.
Facial Plast Surg Clin North Am.
2010;18(1):111–31.
Salam A, Dadzie OE, Galadari
H. Chemical peeling in ethnic skin: an
update. Br J Dermatol. 2013;169 Suppl
3:82–90.
Sarkar R, Bansal S, Garg VK.
Chemical peels for melasma in dark-
skinned patients. J Cutan Aesthet Surg.
2012; 5(4):247–53.
171
Những đổi mới trong Peel nông
Chương 13
Những đổi mới trong Peel nông
Heloisa Hofmeister
TÓM TẮT
Peel da là một trong những
phương pháp làm đẹp phổ biến và lâu
đời nhất và thường được sử dụng bởi
các bác sĩ da liễu. Peel hóa chất nông
bề mặt hay còn gọi là peel nhẹ được
thực hiện bằng cách bôi một hoặc
nhiều hóa chất lên da nhằm mục đích
gây bong da nhẹ. Peel nông là phương
pháp an toàn và phù hợp với da mặt,
và một vài hóa chất trong đó có thể sử
dụng cho những vùng khác nữa của
cơ thể. Trong những năm gần đây, một
vài loại peel nông mới đã được phát
triển. Người ta thường phối hợp al
pha hydroxyl acid hoặc retinoic acid
với một chất làm trắng. Trong chương
này, chúng tôi sẽ bàn luận về phân loại
peel, chỉ định, thủ thuật, tác dụng phụ
và cách xử lí.
NỘI DUNG
• Giới thiệu
• Lịch sử
• Khái niệm cơ bản
• Chỉ định và chống chỉ định
• Lựa chọn bệnh nhân
• Chuẩn bị trước peel
• Chăm sóc đặc biệt
• Hóa chất peel
Dung dịch Jessner
Tretinoin
TCA
AHAs
Glycolic acid
Lactic acid
Phytic acid
Alpha-keto acid
Beta-hydroxy acid
Beta-lipohydroxy acid
Thioglycolic acid
• Peel phối hợp
Fluor-hydroxy peel
Salicylic-mandelic acid
• Các loại peel phối hợp khác
• Tác dụng phụ và cách xử lí
• Ghi nhớ
• Tham khảo
GIỚI THIỆU
Peel da là một trong những
phương pháp làm đẹp phổ biến và lâu
đời nhất, thường được sử dụng rộng
rãi bởi các bác sĩ da liễu. Peel nông bề
mặt là phương pháp an toàn và tương
đối rẻ tiền để tái tạo và trẻ hóa da.
Trong số nhiều hóa chất dùng trong
peel nông, alpha hydroxyl acid và gần
đây là lipohydroxy acid, cùng với be
ta-hydroxy acid và những phối hợp
172
Những đổi mới trong Peel nông
của chúng đã được sử dụng để peel
thượng bì và thậm chí là peel lớp bì
trên. Và chúng ta cũng biết được rằng
peel nhiều đợt peel nông có thể tác
động đến lớp sâu hơn và thực sự có
tác dụng trẻ hóa da trên lâm sàng.
Peel hóa chất nông hay còn
được gọi là peel nhẹ được định nghĩa
là phương pháp bôi một hoặc nhiều
hóa chất lên da nhằm gây bong da.
Trong loại peel này mức độ xâm nhập
dừng lại ở lớp tế bào hạt thượng bì
và lớp bì nhú nông và do đó peel loại
này có thể nông trên bề mặt hoặc sâu
hơn một ít vào lớp thượng bì. Rõ ràng
rằng một số loại peel nông có tác dụng
cộng dồn, nghĩa là nhiều lần peel nông
có thể cho kết quả tương tự như peel
trung bình. Bằng cách tiến hành peel
nông nhiều lần có thể tạo ra sự kích
thích lớp bì nông để sản sinh collagen
mới. Bên cạnh tính an toàn, peel nông
còn phù hợp để điều trị da mặt, và vài
chất trong số đó còn có thể dùng để
peel những vùng khác của cơ thể.
LỊCH SỬ
Khi còn là một sinh viên y khoa,
tôi đã đến trường đại học São Paulo ở
Ribeirao Preto để làm việc lấy kinh
nghiệm trong ngành da liễu với giáo sư
Luiz Marino Bechelli và tôi đã nói với
ông rằng tôi muốn học “một chuyên
ngành mới trong ngành da liễu, thẩm
mỹ” và ông đã trả lời rằng “không có
gì mới cả. Khi mà Cleopatra tắm với
sữa, cô ấy đã tận dụng lợi ích của acid
lactic”.
Những người Ai Cập cổ đại đã
sử dụng dầu động vật, muối, ngọc
thạch, và sữa chua để làm đẹp da. Việc
sử dụng chất ăn mòn sớm nhất để peel
da được mô tả trong y văn của người
Ai Cập được viết trên giấy cói Ebers
vào năm 1550 sau công nguyên (Fish
er 2010). Khi sử dụng sữa chua để làm
căng bóng da, tác dụng này có được là
nhờ thành phần lactic acid, đây là một
loại alpha hydroxy acid. Sau này người
Hy Lạp và Roma đã sử dụng thuốc đắp
có chứa mù tạc, sulfur, và hơi ăn mòn
của đá vôi. Đá bọt, hương trầm, nhựa
cây mật nhi lạp và nhựa thông đã được
sử dụng để làm sáng da và loại bỏ tàn
nhang, nếp nhăn. Người Thổ Nhĩ Kỳ
đã sử dụng lửa làm cháy nhẹ da nhằm
gây lột da nhẹ. Phụ nữ Ấn độ đã trộn
nước tiểu với đá bọt để bôi lên da. Ở
Châu Âu, người Hungary đã truyền lại
những công thức làm đẹp đặt biệt qua
nhiều thế hệ (Brody 2000). Các bác
sĩ da liễu bắt đầu quan tâm đến peel
da vào thể kỉ thứ XIX. Vào năm 1874
ở Vienna (thủ đô Austria), bác sĩ da
liễu Ferdinand von Hebra đã sử dụng
kĩ thuật này để điều trị nám, bệnh Ad
dison và tàn nhang. Vào năm 1882 ở
Hamburg, Paul G. Unna đã mô tả tác
dụng của salicylic acid, resorcinol,
trichloroacetic acid (TCA), và phenol
trên da. Những mô tả đầu tiên này
sau này cũng được nhiều tác giả mô tả
tương tự (Fischer 2010).
Trong thế kỉ XIX, thủ thuật peel
đã có nhiều phát triển to lớn với sự
đóng góp giá trị của nhiều bác sĩ da
liễu như F.C. Combes, Thomas Bak
er, Max Jessner, Sorel Resnik, Harold
Brody, Gary Monheit, và R.F. Bloom, và
nhiều bác sĩ khác nữa.
Peel retinoic acid đã được bắt
đầu sử dụng vào đầu những năm 1990
và được sử dụng rộng rãi đặc biệt là ở
173
Những đổi mới trong Peel nông
Brazil như là một chất peel da chủ yếu.
Retinoic acid giúp tân tạo collagen và
làm phân tán tế bào sắc tố do đó rất
được quan tâm trong điều trị chống
lão hóa ánh sáng (Reinoso 1993).
Trong suốt thập niên 1990, có
rất nhiều sản phẩm độc quyền và được
cấp bằng sáng chế trên thị trường các
hóa chất peel da từ các công ty dược
lớn nhỏ. Sự đa dạng này gồm có các
ester đặc biệt và các dạng phối hợp
của AHAs được đặt tên đầy cuốn hút
và được đưa ra thị trường không chỉ
ở dạng hóa chất peel mà còn ở dạng
chống nắng, chất làm trắng mà cho
đến ngày nay vẫn được sử dụng (Bro
dy 2000).
Chúng tôi đã công bố bài báo
khoa học đầu tiên của người Brazil về
glycolic acid ở Brazil vào năm 1996
trong tạp chí the Journal of the Bra
zilian Society of Dermatology. Một
nghiên cứu cho kết quả lâm sàng tốt
khi sử dụng glycolic acid để cải thiện
tình trạng lão hóa da từ quan điểm của
bệnh nhân hoặc bác sĩ, với kết quả có
sự tăng số lượng collagen type I sau 6
tháng thử nghiệm lâm sàng với glycol
ic acid 10% ở nhà và glycolic acid 70%
peel tối thiểu hàng tháng ở bệnh viện
(Hofmeister 1996).
Vào cuối thế kỉ XIX, peel flu
or-hydroxy đã được sử dụng. Phương
pháp này phối hợp 5-fluorouracil với
hoặc glycolic acid hoặc dung dịch Jess
ner để điều trị dày sừng ánh sáng.
Sự phối hợp các loại hóa chất
peel với nhau đã trở thành xu hướng
đối với peel nông trong những năm
gần đây.
NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN
Peel da được xem là một thủ
thuật y khoa bằng cách bôi một loại
hóa chất lên bề mặt da nhằm kích
thích sự tăng sinh và thay thế trong
lớp thượng bì và lớp bì.
“Peel là một hành động kích
thích” (Vingeron JLH, 24th EADV Con
gress, Copenhagen, 2015)
Với peel hóa chất, bạn có thể
lựa chọn mức độ từ cải tiến cơ bản
đến nâng cao. Phương pháp này là sự
trợ giúp không thể thay thế được đối
với da lão hóa. Lợi ích khi peel da gồm
có:
• Một diện mạo trẻ hóa
• Một nước da sáng, hồng hào
• Giảm các đốm tăng sắc tố
• Giảm nếp nhăn cho đến khi láng mịn
• Tăng độ đàn hồi đến khi da mặt được
nâng
Để peel một cách an toàn, bác
sĩ phải nắm được cơ chế tác dụng của
hóa chất peel, hiểu được mối liên hệ
giữa lâm sàng-mô học (mô học giúp
xác định chính xác độ sâu mà hóa chất
tác động), và lựa chọn một loại peel an
toàn, hiệu quả với chỉ số tái sinh cao.
Một loại peel lí tưởng là loại
peel gây phá hủy tối thiểu nhưng tạo
ra được sự tái tạo collagen nhiều nhất
có thể.
Một vài tác giả phân biệt giữa
peel rất nông (loại bỏ lớp tế bào sừng-
độ sâu 0.06 mm) và peel nông (làm
bong lớp thượng bì ở lớp tế bào hạt
cho đến lớp tế bào đáy- độ sâu 0.45
mm). Độ sâu peel phụ thuộc vào một
vài yếu tố như: hóa chất được sử dụng,
nồng độ hóa chất, pH của dung dịch,
quá trình chuẩn bị da trước khi peel,
174
Những đổi mới trong Peel nông
và thời gian bôi (Fischer 2010).
Peel nông truyền thống có thể
làm thay đổi cấu trúc da và giảm sắc
tố. Peel nông được sử dụng để làm
sáng da, đồng nhất tone màu da, loại
bỏ nếp nhăn nhỏ và làm giảm kích
thước lỗ chân lông. Phương pháp này
có thể được sử dụng độc lập hoặc phối
hợp với các loại thủ thuật khác như
microdermabrasion (mài da) hoặc la
servi điểm không xâm lấn.
Peel nông với bất kì hóa chất
nào cũng có tác dụng kích thích cơ chế
tái tạo của các lớp bì sâu. Sự phá hủy
lớp bề mặt đưa đến sự kích thích quá
trình phân bào ở lớp thượng bì bằng
những cơ chế trong quá trình lành vết
thương: hóa chất trung gian như cyto
kine và stress proteins (HSP). Ngoài ra
peel cũng làm tăng tính thấm của các
phân tử khác.
Peel nông hầu như có rất ít
hoăc hầu như không cần có thời gian
hồi phục.
CHỈ ĐỊNH VÀ CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Chỉ định
Lão hóa da ánh sáng: da thô
ráp, tẩm nhuận màu vàng, nếp nhăn
nhỏ, dày sừng, và đốm nâu ánh sáng.
Rối loạn sắc tố: nám má và tăng sắc tố
sau viêm.
Rối loạn sắc tố: nám má và tăng
sắc tố sau viêm.
Mụn: tổn thương mụn viêm và
sẹo nông bề mặt/tăng sắc tố.
Chống chỉ định
Đang có thai hoặc cho con bú,
đang nhiễm herpes, da nhạy cảm, và
những bệnh nhân có mong muốn
không đúng với thực tế.
LỰA CHỌN BỆNH NHÂN
Cũng giống như các thủ thuật
y khoa khác, việc lựa chọn đúng bệnh
nhân là rất quan trọng. Các bác sĩ da
liễu cần phải cân nhắc dựa trên màu
da, phân loại da, và mức độ lão hóa da
do ánh sáng. Nhưng trên hết, họ phải
hiểu được những mong muốn của
bệnh nhân. Đây chính là chìa khóa của
thành công.
Mong muốn của bệnh nhân
phải đúng với thực tế. Sử dụng acid
càng mạnh thì peel càng sâu và kết
quả càng tốt và tất nhiên nguy cơ biến
chứng càng cao. Nói cách khác, peel
càng nông càng an toàn và hiệu quả
càng thấp. Và bệnh nhân họ phải nhận
thức được những đều này.
Peel nông có thể được thực hiện
trên da mặt và một vài chất có thể peel
ở những vùng da khác, và có thể peel
ở bất kì loại da nào.
CHUẨN BỊ TRƯỚC PEEL
Điều trị da trước khi peel là rất
quan trọng với nhiều lí do. Chuẩn bị
da để hóa chất peel thấm sâu hơn, và
thậm chí giúp ngăn biến chứng tăng
sắc tố sau viên, làm tăng hiệu quả của
peel.
Từ 2-4 tuần trước khi tiến hành
thủ thuật, bệnh nhân nên sử dụng rửa
mặt 2 lần mỗi ngày và việc lựa chọn
loại rửa mặt tùy thuộc vào mức độ dầu
trên da bệnh nhân. Nếu mục đích là
điều trị chống lão hóa, thì mỗi tối bệnh
nhân phải được kê tretinoin 0.025-
0.1% hoặc AHA 8-10%. Vào buổi sáng,
bệnh nhân nên sử dụng AHA 8-10%
kèm hydroquinone 3-5% hoặc không,
tùy thuộc vào mức độ tăng sắc tố trên
da. Đối với tất cả bệnh nhân, cần kê
175
Những đổi mới trong Peel nông
resorcinol và hoạt tính ly thượng bì
của lactic acid (Yokomizo 2013).
Được biết đến như là “combes
peeling”, dung dịch này được sử dụng
để điều trị nám má, nhân mụn trứng
cá, sẹo trứng cá, lão hóa da, và tăng sắc
tố sau viêm (PIH) trên mặt, cổ và thân.
Có thể phối hợp với TCA hoặc với 5-FU
để peel sâu hơn hoặc phục vụ cho các
mục đích khác. Dung dịch này rất hữu
ích và hiệu quả đối với điều trị những
vùng ngoài mặt trên cơ thể.
Dung dịch Jessner được bôi một
đến ba lớp bằng gạc cho đến khi xuất
hiện lớp frost (nếu peel ở trên mặt)
hoặc đỏ da (nếu peel trên thân). Thủ
thuật có thể dược lặp lại hàng tuần
hoặc mỗi hai tuần.
Dung dịch Jessner hiệu chỉnh
là sự phối hợp của citric acid 8%, SA
17%, và lactic acid 17% trong dung
môi cồn tuyệt đối 60 ml với pH là 1.7
(Safoury 2009).
Tretinoin
All-trans retinoic acid là một
dạng tương tự vitamin A được tổng
hợp và được sử dụng để điều trị tại
chỗ trong nhiều bệnh lí về da. Khun
ger đã so sánh peel retinoin 1% lên
một bên khuôn mặt với peel glycol
ic acid truyền thống lên nửa kia của
khuôn mặt mỗi tuần trong 12 tuần ở
bệnh nhân nám má có phân loại da
III-V. Cả hai nhóm được đánh giá theo
thang điểm MASI hiệu chỉnh (Khunger
2004).
Ở Brazil, tretinoin được bôi với
nồng độ cao hơn. Retinoin 5-10% được
bôi như đắp mặt nạ trong khoảng thời
gian 4-8h. Đều này cho phép da bong
cho bệnh nhân chống nắng và giải
thích cho họ tầm quan trọng của việc
sử dụng chống nắng hàng ngày trước
và sau quá trình peel. Chống nắng phải
được sử dụng sớm vào buổi sáng, sau
các bước chăm sóc cơ bản hàng ngày,
và bôi lại thêm một đến hai lần trong
ngày tùy thuộc vào bức xạ và sự phơi
bày ánh sáng mặt trời.
CHĂM SÓC ĐẶT BIỆT
Luôn phải chụp ảnh.
Bệnh nhân phải ngồi một góc
450 ở tư thế thỏa mái.
Tránh để da đỏ hoặc kích thích.
Lưu ý đến da trong quá trình peel.
Điểm cuối lâm sàng thường là đỏ da
và/hoặc frosting (lớp trắng do protein
bề mặt biến tính). Luôn luôn có tăm
bông và dung dịch salin bên cạnh để
bảo vệ mắt khi cần thiết.
Như là một nguyên tắc chung,
điểm cuối lâm sàng của peel rất nông
là đỏ da, của peel nông là frosting
không trên nền đỏ da.
Nhiều loại peel nông cần phải
tiến hành trung hòa, do đó phải luôn
để sẵn bên cạnh các dung dịch trung
hòa.
HÓA CHẤT PEEL
Dung dịch Jessner
Được phát triển bởi Max Jess
ner, dung dịch này là sự kết hợp của
resorcinol 14%, salicylic acid 14%,
lactic acid 14% và dung môi etha
nol 95%. Salicylic acid nhạy cảm ánh
sáng, và lactic acid hấp thu nước trong
không khí; do đó, dung dịch này nhạy
cảm với không khí và ánh sáng. Cơ chế
tác dụng của dung dịch dựa vào khả
năng ly sừng của salicylic acid và
176
Những đổi mới trong Peel nông
kéo dài trong 3-4 ngày và giúp giảm
các rối loạn sắc tố và mụn trứng cá
(Salam 2013).
Chất này cũng có tác dụng
chống lão hóa và vết rạn da.
Giống như tất cả các loại peel
nông, cần phải peel một vài lần để đạt
kết quả tốt hơn.
TCA
Trichloroacetic acid đã được sử
dụng như là một chất peel trong thời
gian dài và vẫn là một loại peel hiệu
quả và an toàn nhất khi peel trung
bình, đặc biệt là khi phối hợp với dung
dịch Jessner. Độ sâu của peel TCA
phụ thuộc vào nông độ của TCA và sự
chuẩn bị da trước khi peel, đặc biệt là
quá trình tẩy nhờn. Ở nồng độ dưới
20%, peel TCA được xem là peel nông
theo y văn (Fischer 2010). Độ sâu của
peel không chỉ phụ thuộc và nồng độ
TCA mà còn phụ thuộc chủ yếu vào kĩ
thuật bôi. Nếu da được tẩy nhờn hoàn
hảo, thì peel 20% có thể đạt được độ
sâu tốt hơn so với mong đợi.
Kỹ thuật chéo (tái tạo hóa học
sẹo trứng cá) sử dụng TCA 90-100%
để peel từng nốt sẹo bằng cách sử
dụng cây kim được bọc bởi bông gòn
như là một tăm bông để ấn mạnh
xuống toàn bộ vùng lõm của sẹo cho
đến khi xuất hiện nhiều điểm trắng
đông vón tại mỗi sẹo mụn. Cách này
thường phối hợp với một loại peel
nông hoặc peel trung bình hoặc với
laser. Phương pháp này giúp làm dày
lớp bì cũng như làm tăng sản xuất col
lagen tại chỗ. Hiệu quả của phương
pháp peel này đã được chứng minh,
thậm chí là đối với những bệnh nhân
khó như bệnh nhân có phân loại da từ
IV đến VI.
AHAs
Alpha hydroxyl acid là một
nhóm các acid tự nhiên có chứa nhóm
hydroxyl ở vị trí alpha. AHAs thường
được chiết xuất từ trái cây và mía;
chúng là những chất chuyển hóa trong
chu trình carbon và những quá trình
chuyển hóa khác. AHAs gồm có glycol
ic, lactic, malic, citric, tartaric, và man
delic acid; những acid này khác nhau
về trọng lượng phân tử và số lượng
gốc carbon trong chuỗi. Glycolic acid
có nguồn gốc từ mía và có 2 nguyên tử
carbon trong cấu trúc phân tử của nó.
Lactic acid, có nguồn gốc từ mía chứa
3 nguyên tử carbon trong cấu trúc
phân tử của nó. Tartaric acid có nguồn
gốc từ nho có 4 nguyên tử carbon và
citric acid có nguồn gốc từ trái cây có 6
nguyên tử carbon trong cấu trúc phân
tử của nó. Mandelic acid được chiết
xuất từ quả hạnh. Pyruvic acid là một
loại keto acid chuyển hóa qua lại sang
dạng hydroxyl của nó là lactic acid.
Tất cả AHAs đều có một đặc tính
chung khi ở nồng độ thấp từ 5-15%.
Chúng làm giảm mức độ kết dính của
tế bào sừng, đặc biệt ở phần dưới của
lớp sừng.
Ở nồng độ cao hơn (50-70%),
AHAs làm giảm độ kết dính giữa các tế
bào keratinocyte và có thể gây ly giải
thượng bì hoàn toàn và tác động lên
lớp bì nhú và bì lưới để kích thích sản
xuất collagen mới.
Glycolic acid
Chất AHA dùng để peel đầu tiên
là glycolic acid. Chất này là một phân
tử nhỏ có thể thấm tốt vào lớp bì và
177
Những đổi mới trong Peel nông
kích thích lớp này mà không gây bong
da Glycolic acid hoạt động bằng cách
làm mỏng lớp thượng bì, kích thích ly
giải lớp bì, phân tán melanin ở lớp đáy
và tăng biểu hiện gen sản xuất colla
gen (Bernstein 2001).
Trong loại peel này, độ pH của
dung dịch là rất quan trọng. Thông
thường, nồng độ pH được sử dụng rất
thấp và giới hạn giữa sự hiệu quả và
bỏng da là rất mỏng manh. Glycolic
acid hiện đang được bán ở dạng dung
dịch acid tự do, trung hòa một phần
(pH cao hơn) được đệm hoặc ester
hóa).
Glycolic acid được sử dụng ở
nhiều nồng độ khác nhau từ 25% đến
75% và pH từ 1 đến 3; mức độ dung
nạp của bệnh nhân thường tốt. Nồng
độ acid càng cao thì pH càng thấp, peel
càng sâu (Fischer 2010).
Bôi glycolic acid được tiến hành
sau khi tẩy nhờn da với sự giúp đỡ của
bông tăm, bàn chải dùng một lần, hoặc
miếng gạc (Landau 2008). Trong thực
hành lâm sàng của mình tôi thường
thích sử dụng bàn chải hơn.
Da được phủ bởi một lớp mỏng
dung dịch acid và phải được trung hòa
khi thấy da bắt đầu đỏ, thường sau 2-4
phút. Bác sĩ thực hiện phải quan sát
kĩ; nếu acid xâm nhập sâu hơn mong
muốn với sự xuất hiện của lớp frost
thì phải ngưng tác dụng của acid ngay
để tránh làm bỏng da. Glycolic acid có
thể được trung hòa bằng sodium bi
carbonate 1% hoặc nước. Để đạt kết
quả tốt hơn cần phải tiến hành peel
một vài lần. Khoảng thời gian giữa các
lần peel có thể là từ 2 đến vài tuần. Khi
peel những lần sau có thể tăng nồng
độ dung dịch từ từ tùy vào mức độ
dung nạp của bệnh nhân và kết quả
thu được sau đợt peel trước đó.
Glycolic acid có tác dụng tiêu
sừng, chống viêm và chống oxy hóa.
Lactic acid
Lactic acid là một loại AHA và
cơ chế tác dụng của nó tương tự với
glycolic acid. Chất này là giảm kết dính
của các tế bào ở lớp thượng bì, tăng
bong vảy, phân tán melamin, và làm
tăng sự tổng hợp collagen và glycos
aminoglycans. Ngoài ra, nó còn được
mô tả là có hoạt tính ức chế tyrosinase
và đã được sử dụng để điều trị nám
má. Nồng độ thường dùng là 85%, pH
3.5 trong dung môi cồn-nước (Shar
quie 2005, 2012).
Nghiên cứu sơ bộ đầu tiên về
lactic acid đã được thực hiện bởi Shar
quie và các cộng sự, ông là người đã
phát hiện ra rằng loại acid này có hiệu
quả và an toàn khi peel ở người có da
tối màu. Họ đã nghiên cứu trên 20 bệnh
nhân, những bệnh nhân này được bôi
acid lactic tinh khiết 92% trong tối da
6 đợt peel và trong 12 bệnh nhân đã
hoàn thành liệu trình có thể quan sát
được sự giảm rõ rệt thang điểm MASI
(56%). Hơn nữa, lactic acid đã được
đem ra so sánh với dung dịch Jessner
trong một nghiên cứu 2 nửa mặt và kết
quả tốt được thấy rõ giống nhau ở cả 2
bên khuôn mặt sau 6 tháng điều trị và
không có tái phát. Những nghiên cứu
này ủng hộ cho việc cần có thêm nhiều
thử nghiệm về sử dụng lactic acid như
là một chất peel đối với người có da
tối màu (Sharkie 2005).
Một nghiên cứu gần đây cho
thấy bệnh nhân có những đốm đen
quanh mắt được điều trị với peel
178
Những đổi mới trong Peel nông
lactic acid 15% phối hợp với TCA
3,75% (cả hai acid đều có nồng độ
thấp) và đã thu được kết quả tốt,
những đốm đen đã được cải thiện và
trông sáng hơn.
Phytic acid
Phytic acid là một loại AHA
có hiệu quả ở pH thấp và không cần
phải trung hòa. Chất này có tác dụng
điều trị nhanh và liên tục. Phytic acid
không gây cảm giác bỏng, không cần
phải trung hòa, và sau khi bôi lớp acid
được giữ nguyên trong ngày tiếp theo.
Cần phải peel 5 hoặc 6 liệu trình. Có
thể lặp lại liệu trình mỗi tuần hoặc
mỗi 2 tuần để làm tăng tác dụng. Đây
là chất peel an toàn và hiệu quả trong
điều trị nám má ở người có phân loại
da tối màu (Yokomizo 2013).
Alpha-keto acid
Pyruvic acid
Một thành viên trong nhóm al
pha-keto acid mà thu hút được nhiều
sự chú ý trong những năm gần đây là
pyruvic acid. Đều này là do khả năng
li sừng, diệt khuẩn và giảm tiết bã
nhờn cũng như khả năng kích thích
sự hình thành của các sợi collagen và
elastin mới. Ngoài có hiệu quả trong
điều trị mụn, tổn thương ánh sấng,
và sẹo nông bề mặt, pyruvic acid còn
cho thấy có hiệu quả đối với các rối
loạn sắc tố ở bệnh nhân có làn da sáng
(Griffin 1989).
Tuy nhiên cảm giác bỏng rát
nặng khi peel pyruvic acid đã làm giới
hạn mức độ sử dụng của loại hóa chất
này trong điều trị nhiều loại bệnh khác
nhau. Gần đây một nghiên cứu được
tiền hành bởi Berardesca, người đã
sử dụng một công thức không gây đỏ
da mới của pyruvic acid và đã đánh giá
hiệu quả và khả năng dung nạp của nó
khi điều trị tổn thương ánh sáng, sẹo
nông bề mặt và nám má. Kết quả cho
thấy công thức mới mang lại kết quả
rõ rệt trên cả 3 đối tượng bệnh nhân
mà không gây ra cảm giác bỏng rát
trong và sau quá trình peel (Berardes
ca 2006).
Vì tất cả các nghiên cứu về py
ruvic acid đều được tiến hành trên
những bệnh nhân có phân loại da theo
Fitzpatrick típ II đến IV, do đó cần phải
trả lời câu hỏi liệu acid này có thể dùng
ở những bệnh nhân có phân loại da tối
màu hay không (Sarkar 2012).
Ở nồng độ từ 50% đến 80%
trong dung môi ethanol thì pyruvic
acid có thể xâm nhập vào da trong 1
đến 2 phút, và mặc dù nó không gây
ngộ độc toàn thân nhưng có thể gây
bỏng và để lại sẹo. Mức độ xâm nhập
của loại acid này rất là khó đoán, và
đỏ da do điều trị có thể kéo dài từ 15
ngày cho đến 2 tháng. Pyruvic acid có
thể sử dụng để điều trị lão hóa da ánh
sáng, mụn trứng cá và sẹo nông như
tất cả các AHA. Acid này có thể phân
hủy theo thời gian và hình thành CO2
và acetaldehyde; những chất khí này
khi ngửi phải có thể gây ăn mòn và
kích ứng đường hô hấp trên. Có thể dự
phòng bằng cách sử dụng quạt trong
quá trình bôi acid (Yokomizo 2013).
Beta-hydroxy acid
Salicylic acid (SA) (ortho-hy
droxybenzoic acid) được sử dụng ở
nồng độ 20-30% khi peel nông, đặc
biệt trong điều trị mụn trứng cá. Đây
là một chất ưa dầu và gây bong lớp ưa
179
Những đổi mới trong Peel nông
dầu phía trên lớp sừng thượng bì nhờ
tác dụng li sừng của nó. Salicylic acid
được ưu tiên lựa chọn điều trị nhân
mụn trứng cá vì nó ưa mỡ và tập trung
nồng độ vào các đơn vị tuyến bã nang
lông. Acid này được bôi sau khi đã tẩy
nhờn da mặt. Ngay sau khi bôi bệnh
nhân sẽ cảm thấy rát bỏng và châm
chích, sau đó xuất hiện lớp tinh thể SA
trắng trên bề mặt chỗ bôi dung dịch.
Cảm giác bỏng rát sẽ dịu đi trong một
vài phút và ngay sau khi dung môi của
acid bị bay hơi. Sau bôi tiến hành rửa
mặt với nước. Da bắt đầu bong tróc 2
ngày sau peel và có thể kéo dài từ 5
đến 7 ngày.
Peel SA có thể tiến hành mỗi
tuần và trong khoảng 6-8 tuần. Ngoài
ra SA còn được dùng để điều trị tăng
sắc tố sau viêm, lão hóa ánh sáng, và
nám má nông.
SA có thể được chuẩn bị trong
ethyl alcohol 95% và trong trường
hợp này nó có thể gây châm chích,
bỏng rát, đỏ và frost, sau đó xảy ra
hiện tượng đóng mài và tăng sắc tố ở
vùng điều trị. Khả năng hấp thụ SA cao
và nếu bôi trên diện tích lớn có thể gây
ngộ độc salicylate.
Ngoài ra cũng có thể dùng SA
trong dung môi polyethylene glycol
(SA-PEG) với ưu điểm ít hấp thu acid
vào hệ thống hơn nhưng vẫn cho kết
quả tương đương (Dainichi 2008).
Và SA cũng có thể sử dụng ở
nồng độ cao hơn dạng mỡ (40-50%)
để bôi chi trên (Yokomizo 2013).
Beta-lipohydroxy acid
Đây là loại peel sử dụng dẫn
xuất ưa dầu của SA có tên là lipohy
droxy acid (LHA). Chất này được sử
dụng ở nồng độ 5% và 10%. Phân tử
LHA hoặt động trên bề mặt corneo
cyte/corneosome và tách rời hoàn
toàn các corneosome. Các conerosome
(cầu nối giữa các tế bào corneocyte)
được tách rời khỏi các corenocyte (tế
bào lớp sừng thượng bì) bên cạnh mà
không bị đứt gãy cho thấy LHA có thể
tác động lên các glycoprotein xuyên
màng. Hoạt tính này xảy ra ở bề mặt
compactum/disjunction (2 phân lớp
của lớp sừng thượng bì) và không ảnh
hưởng đến sợi keratin hoặc màng tế
bào corneocyte. LHA còn kích thích
đổi mới tế bào thượng bì và chất nền
ngoại bào với tác dụng tương tự như
tác dụng của retinoic acid. Trái ngược
với nhiều chất peel khác, LHA có pH
tương đương với da bình thường (5.5)
và không cần phải trung hòa (Fischer
2010).
Thioglycolic acid
Còn được gọi là mercaptoacetic
acid, thioglycolic acid là một hợp chất
chứa fulfur có trọng lượng phân tử
là 92.12 (nằm giữa trichloroacetic và
glycolic acid với trọng lượng phân tử
lần lượt là 163.4 và 76.05). Acid này
tan dễ trong cả nước và cồn và dễ bị
oxi hóa. Trong điều trị bệnh nhiễm sắc
tố do hemosiderin, thioglycolic acid
dược sử dụng với nồng độ từ 5% đến
12%. Ái tính của nó với sắt cũng giống
như ái lực với apoferritin, nó có khả
năng chelate hóa nguyên tử sắt trong
hemosiderin nhờ có sự hiện diện của
nhóm thiolic. Một thử nghiệm đánh giá
sự cải thiện trên lâm sàng của những
bệnh nhân tăng sắc tố quanh ổ mắt với
5 liệu trình peel bằng thioglycolic acid
10% đã chứng minh rằng điều trị
180
Những đổi mới trong Peel nông
bằng acid này an toàn, hiệu quả và tiết
kiệm (Costa 2010).
Để điều trị viêm da ochre (đặc
trưng bởi các đốm vàng nâu dính
chùm lại với nhau, thường ở một phần
ba đầu xa chi dưới), nồng độ thiogly
colic acid thường dùng nhất là từ 5%
đến 20%, tăng dần sau mỗi liệu trình
cách nhau 3 tuần cho đến khi đạt được
kết quả mong muốn. Acid này có thể
được trung hòa bằng nước hoặc nước
ấm sau 10 phút đối với liệu trình peel
đầu tiên, sau đó khoảng thời gian này
tăng dần cho những liệu trình sâu cho
đến 30-40 phút. Sau khi tiến hành thủ
thuật nên bôi kem làm mềm. Thiogly
colic acid có mùi sulfur mạnh và rất
khó chịu.
PHỐI HỢP PEEL
Trong những năm gần đây, có
nhiều loại peel nông mới đã được phát
triển. Người ta thường phối hợp alpha
hydroxyl acid hoặc retinoic acid với
những chất giảm sắc tố khác. Chúng
tôi sử dụng một loại peel phối hợp có
tên là peel “Cimel” gồm chứa: retinoic
acid (3-5%) + alpha hydroxy acid (lac
tic acid 9%) hoặc beta hydroxyl acid
(salicylic acid 2-3%) + chất giảm sắc
tố (hydroquinone 3-4% + kojic acid
2%). Dung dịch này được bôi lên da
mặt và cơ thể bằng cách sử dụng găng
tay (hình 1a, 1b, 1c). Chúng tôi đã thu
được kết quả rất tốt khi điều trị mụn
và tăng sắc tố với loại peel này, thậm
chí là ở người có da tối màu. Có thể
quan sát được sự cải thiện về cấu trúc
da trong hình 2,3.
Flour-Hydroxy peel
5-Fluorouracil (5-FU) là chất
có tác dụng rất hiệu quả trong điều trị
dày sừng ánh sáng (AK). Chất này ức
chế tổng hợp DNA và RNA đồng thời
phá hủy sự tăng sinh quá mức của
AKs. Tuy nhiên, 5-FU có thể gây đỏ
da nặng, kích ứng tại chỗ, phù nề, và
cảm giác khó chịu trong suốt quá trình
điều trị và thời gian sau điều trị, từ 4
đến 8 tuần.
Glycolic acid phối hợp với 5-flu
orouracil là một sự phối hợp đặc biệt
có hiệu quả trong điều trị dày sừng
ánh sáng. Trong phương pháp này,
acid glycolic 70% (pulse dose: liều cao
trong thời gian ngắn để tăng hiệu quả
và giảm tác dụng phụ) được bôi ngay
sau khi bôi 5-FU, liệu trình được thực
hiện hàng tuần trong 8 tuần. Cách này
phối hợp được tác dụng điều trị và ly
sừng của glycolic acid với hiệu quả của
5-FU, và đây là điều trị tiêu chuẩn đối
với dày sừng ánh sáng (Marrero và
Katz 1998).
Salicylic- Mandelic acid
Đây là phương pháp phối hợp
SA 20%, là một loại beta-hydroxy acid
với mandelic acid 10% là một loại al
pha hydroxyl acid. SA là một acid ưa
lipid, có khả năng xâm nhập vào các
tổn thương mụn hoạt động nhanh,
trong khi mandelic acid là loại acid có
trọng lượng phân tử lớn nhất nên xâm
nhập vào thượng bì rất chậm và đồng
nhất (là chất peel lí tưởng đối với da
nhạy cảm). Cách phối hợp này đặc biệt
hữu ích khi peel ở đối tượng người da
tối màu vì nó có thể ngăn sự xuất hiện
của PIH (tăng sắc tố sau viêm). Chỉ
181
Những đổi mới trong Peel nông
Hình 1: (a) peel Cimel. (b) bôi dung dịch peel Cimel (màu vàng) với găng tay. (c) Kết
tủa acid trên đầu những tổn thương viêm
Hình 2: trước và sau
một liệu trình peel
Cimel: Chất lượng
da và tình trạng sắc
tố được cải thiện.
Hình 3: trước và sau 1
liệu trình peel Cimel: sang
thương mụn và sắc tố được
cải thiện
182
Những đổi mới trong Peel nông
định chính của phương pháp này là
mụn trứng cá, sẹo sau mụn, rối loạn
sắc tố như nám má (Garg 2008).
Mandelic acid phù hợp với da nhạy
cảm hơn so với các AHA khác. Vì trọng
lượng phân tử lớn nên nó xâm nhập
rất chậm và do đó không gây bỏng rát
hoặc châm chích. Khi peel da sẽ cảm
thấy mềm. Acid này còn có khả năng
tăng sinh collagen và sợi elastin và
GAGs ở lớp bì nhú. Bên cạnh đó, nó
còn có hoạt tính kháng khuẩn và điều
hòa tiết bã nhờn. Dạng sử dụng tốt
nhất cho acid này là dạng gel và mask
(mặt nạ).
Đây là cách peel không chỉ
an toàn hơn so với peel glycolic acid
trong điều trị nám má mà bệnh nhân
có thể dung nạp tốt hơn và phù hợp
với những người Ấn Độ (Sarkar 2016).
NHỮNG PHỐI HỢP PEEL KHÁC
Có rất nhiều cách phối hợp các
acid peel với nhau. Công thức cuối
cùng sẽ phụ thuộc vào hiểu biết về
dược học của bác sĩ thực hiện, chỉ định
của chất peel và phụ thuộc vào bệnh
nhân. Một vài hóa chất peel có thể
được dùng phối hợp được liệt kê như
sau:
Hóa chất peel:
Glycolic acid 0.2-30%
Lactic acid 5-25%
Citric acid 5-30%
Phytic acid 2.5%
Mandelic acid 20-40%
Salicylic acid 2-30%
Thioglycolic acid 5-10%
Pyruvic acid 25-40%
Phối hợp với chất giảm sắc tố như:
Kojic acid 5-7%
Alpha-arbutin 2%
Azelaic acid 10-20%
Hydroquinone 2-5%
TÁC DỤNG PHỤ VÀ CÁCH SỬ LÝ
Nếu được thực hiện đúng cách
thì peel nông rất an toàn và tác dụng
phụ cũng như biến chứng hiếm khi
xảy ra.
Đỏ da là tác dụng phụ thường
gặp và có thể kéo dài trong một vài
ngày.
Có sự lột da nhẹ sau peel, đây là
dấu hiệu tốt và bệnh nhân nên được
biết về đều này.
Tăng sắc tố hiếm khi xảy ra và có
thể do peel sâu quá mức. Biến chứng
này có thể được xử lí bằng cách sử
dụng các chất ức chế sắc tố và chống
nắng.
GHI NHỚ
• Peel nông là phương pháp rất
quan trọng trong thực hành da liễu.
Phương pháp này an toàn, tiết kiệm và
cho hiệu quả nhanh. Peel nông có thể
giúp da trở nên sáng hơn và đẹp hơn
chỉ trong vài ngày.
• Đều quan trọng là phải biết
cách sử dụng các loại peel khác nhau.
• Phối hợp các hóa chất peel
(alpha hydroxyl acid, retinoic acid và
chất ức chế sắc tố) là xu hướng đang
phát triển hiện nay.
• Kiến thức da liễu cơ bản là cần
thiết đối với tất cả các loại peel, kể cả
peel nông. Bác sĩ tiến hành phải lưu ý
đến phân loại da của bệnh nhân, màu
sắc, độ dày, độ săn chắc, mức độ da
đầu và sự mỏng manh của da.
183
Những đổi mới trong Peel nông
• Không nên tiến hành peel da,
thậm chí đối với peel nông ở những
bệnh nhân trừ khi da của họ đã được
chuẩn bị ít nhất 4-5 tuần với các điều
trị da liễu.
THAM KHẢO
Berardesca E, et al. Clinical and
instrumental evaluation of skin im
provement after treatment with a new
50% pyruvic acid peel. Dermatol Surg.
2006;32:526–31.
Bernstein EF, et al. Glycolic acid
treatment increases type
1 collagen mRNA and hyaluron
ic acid content of human skin. Derma
tol Surg. 2001;27:429–33.
Brody HJ, et al. A history of chem
ical peeling. Dermatol Surg. 2000;26:5.
Costa A, et al. 10% thioglycolic
acid gel peels: a safe and efficient op
tion in the treatment of constitutional
infraorbital hyperpigmentation. Surg
Cosmet Dermatol. 2010;2(1):29–33.
Dainichi T, et al. Excellent clini
cal results with a new preparation for
chemical peeling in acne: 30% salicilic
acid in polyethylene glycol vehicle. Der
matol Surg. 2008;34:891–9.
Fischer TC, et al. Chemical peels
in aesthetic dermatology: an update
2009. JEADV. 2010;24:281–92.
Garg VK, et al. Glycolic acid
peels versus salicylic- mandelic acid
peels in active acne vulgaris and post-
acne scarring and hyperpigmentation:
a comparative study. Dermatol Surg.
2008;35:59–65.
Griffin TD, et al. The use of pyru
vic acid as a chemical peeling agent. J
Dermatol Surg Oncol. 1989;15:13.
Hofmeister HA, et al. Glycolic
acid in photoaging. An Bras Dermatol.
1996;71(1):7–11.
Khunger N, et al. Tretinoin peels
versus glycolic acid peels in the treat
ment of Melasma in dark-skinned pa
tients. Dermatol Surg. 2004;30:756–
60.
Landau M. chemical peel. Clin
Dermatol 2008;26:200-8
Marrero GM, Katz BE. The new
flúor-hydroxy pulse peel. A combina
tion of 5-FU and glycolic acid. Derma
tol Surg. 1998;24(9):973–8.
Reinoso YD, et al. Extrinsic skin
aging. Treatment with tretinoin. An
Bras Dermatol. 1993;68(1):3–6.
Safoury OS, et al. A study com
paring chemical peeling using modified
Jessner solution and 15% TCA versus
15% TCA in the treatment of melasma.
Indian J Dermatol. 2009;54(1):41–5.
Salam A, et al. Chemical peeling
in ethnic skin: an update.
Br J Dermatol. 2013;169:82–90.
Sarkar R, et al. Chemical peels
for melasma in dark skinned patients. J
Cutan Aesthet Surg. 2012;5(4):247–53.
Sarkar R, et al. Comparative
evaluation of efficacy and tolerabil
ity of glycolic acid, salicylic mandel
ic acid and phytic acid combination
peels in melasma. Dermatol Surg.
2016;42(3):384–91.
Sharquie KE, et al. Lactic acid
as a new therapeutic peeling agent
in melasma. Dermatol Surg. 2005;31
(2):149–54.
184
Những đổi mới trong Peel nông
Sharquie KE, et al. Lactic acid
as a new therapeutic peeling agent in
the treatment of Lifa disease (frictional
dermal melanosis). Indian J Dermatol.
2012;57(6):444–8.
Vavouli C, et al. Chemical peel
ing with trichloroacetic acid and lactic
acid for infraorbital dark circles. J Cos
met Dermatol. 2013;12:204–9.
Vigneron, JL. The wonderful
world of the peelings. 24th EADV Con
gress. Copenhagen, October 2015.
Yokomizo VMF, et al. Chemi
cal peels: review and practical ap
plications. Surg Cosmet Dermatol.
2013;5(1):58–68.
Vigneron, JL. The wonderful
world of the peelings. 24th EADV Con
gress. Copenhagen, October 2015.
Yokomizo VMF, et al. Chemi
cal peels: review and practical ap
plications. Surg Cosmet Dermatol.
2013;5(1):58–68.
185
Xử lý biến chứng của Peel hóa chất
TÓM TẮT
Peel hóa chất là thủ thuật trong
đó hóa chất peel được bôi lên da nhằm
làm bong da có kiểm soát kèm theo
quá trình tân tạo collagen diễn ra sau
đó, đặc tính này được xem là phương
tiện để áp dụng để điều trị mụn, rối
loặn sắc tố và lão hóa ánh sáng (Ni
kalji, J Cutan Aesthet Surg 5(4):254-
260,2012). Kết quả điều trị và biến
chứng tùy thuộc vào độ sâu của tổn
thương, peel càng sâu càng có hiệu
quả đồng thời nguy cơ bị biến chứng
càng cao.
Biến chứng thường xảy ra hơn
đối với những bệnh nhân có da tối
màu, nhiều hơn đối với một số loại
chất peel, và do phơi bày với ánh sáng
mặt trời (Nikalji, J Cutan Aesthet Surg
5(4):254-260,2012). Các biến chứng
có rất nhiều loại khác nhau từ kích
ứng da nhẹ, không đều màu da cho
đến hình thành sẹo lâu dài. Trường
hợp biến chứng đe dọa đến tính mạng
là rất hiếm khi xảy ra. Hiểu biết về
những biến chứng có thể xảy ra rất
quan trọng để giúp chúng ta có thể dự
phòng, hạn chế để xảy ra biến chứng
(Gadelha và Costa, Dermatologia
cirurgia dermatologica, 2nd edn. Ath
eneu, São Paulo, 2009).
Phù nề, đau, đỏ da kéo dài, ngứa,
phản ứng dị ứng, viêm nang lông/mụn
trứng cá, nhiễm trùng, tái nhiễm her
pes, giảm sắc tố và tăng sắc tố, đường
giới hạn giữa 2 vùng da khác màu, và
sẹo là những biến chứng sẽ được bàn
luận trong chương này.
Bước đầu tiên để tránh biến
chứng xảy ra là nhận diện được những
bệnh nhân có nguy cơ gặp biến chứng,
từ đó có thể dự đoán và ngăn ngừa
biến chứng có thể xảy ra, và nếu có
xảy ra biến chứng thì phải điều trị sớm
nhất có thể.
NỘI DUNG
• Giới thiệu
• Những biến chứng có thể xảy ra
đối với tất cả loại peel
• Biến chứng riêng đối với từng loại
peel
• Kết luận
• Ghi nhớ
• Tham khảo
Chương 14
Xử lý biến chứng của Peel hóa chất
Lzelda Maria Carvalho Costa, Patrick Silva Damasceno, và Keila Gabrielle Pati
Gomes
186
Xử lý biến chứng của Peel hóa chất
GIỚI THIỆU
Peel hóa chất là một thủ thuật
sử dụng hóa chất có nồng độ xác định
bôi lên da để gây phá hủy có kiểm soát
các lớp tế bào của da kèm theo sau đó
là quá trình tân tạo và tổ chức lại, nhờ
đó sẽ giúp cải thiện cấu trúc của da và
những bất thường ở bề mặt da (Anitha
2010). Phương pháp này được sử dụng
những năm gần đây để phục hồi da
cho những bệnh nhân ngoại viện cũng
như để điều trị các bệnh lí da (Schur
er và Wiest 2006). Một thủ thuật peel
phải cân nhắc nhiều yếu tố khác nhau
dựa trên hiểu biết rõ cấu trúc mục tiêu
và tình trạng da của bệnh nhân, như
phân loại hóa học của chất peel, nồng
độ, tần suất peel, và áp lực peel (Fisch
er 2010).
Peel hóa học được phân thành
peel nông, trung bình và sâu tùy thuộc
vào độ sâu mà hóa chất có thể xâm
nhập xuống được (Landau 2008).
Trong peel nông, hóa chất chỉ xâm
nhập vào lớp thượng bì và được sử
dụng để cải thiện điều trị với nhiều
loại bệnh bao gồm mụn trứng cá, nám
má, rối loạn sắc tố và tổn thương ánh
sáng. Với peel trung bình, hóa chất có
thể xâm nhập đến lớp bì nhú và được
sử dụng cho các rối loạn sắc tố, dày
sừng ánh sáng đa điểm và sẹo nông.
Còn trong peel sâu, hóa chất xâm nhập
đến lớp bì lưới và có thể được sử dụng
đối với lão hóa ánh sáng nặng, nếp
nhăn sâu và sẹo. (Rendon 2010).
Kết quả đạt được và biến chứng
tỉ lệ với mức độ peel. Mặc dù peel sâu
có thể mang lại kết quả tốt hơn nhưng
peel trung bình có thể cho phép thu
được kết quả rất tốt với ít nguy cơ hơn
so với peel sâu (Camacho 2005). Trước
khi bắt đầu thực hiện phương pháp
này trong thực hành chuyên khoa của
mình, bạn phải hiểu rằng cũng giống
như những thủ thuật y khoa khác peel
hóa học cũng có rất nhiều tác dụng
phụ tiềm ẩn.
Biến chứng khi peel hóa học
có thể xảy ra dù được tiến hành một
cách có kiểm soát. Các bác sĩ chuyên
khoa da phải hiểu rõ các loại peel và
đưa ra phác đồ chăm sóc sau thủ thuật
dựa trên phân loại da của bệnh nhân
(Brody 2001). Biến chứng thường xảy
ra nhiều đối vơi bệnh nhân có phân
loại da tối màu, xảy ra nhiều đối với
một số loại hóa chất hơn và khi phơi
bày ánh sáng (Nikalji 2012). Trường
hợp biến chứng đe dọa đến tính mạng
là rất hiếm khi xảy ra. Hiểu biết về
những biến chứng có thể xảy ra rất
quan trọng để giúp chúng ta có thể dự
phòng, hạn chế để xảy ra biến chứng.
Bước đầu tiên để tránh biến
chứng xảy ra là nhận diện được những
bệnh nhân có nguy cơ gặp biến chứng,
từ đó có thể dự đoán và ngăn ngừa
biến chứng có thể xảy ra, và nếu có
xảy ra biến chứng thì phải điều trị sớm
nhất có thể. Những bệnh nhân có nguy
cơ cao là những người có phân loại da
tối màu với nguy cơ bị tăng sắc tố sau
viêm; người có da dễ tổn thương hoặc
tiền sử bị viêm da cơ địa; tiền sử nhạy
cảm ánh sáng hoặc tăng sắc tố sau
viên; da khô; làm việc ngoài trời; đang
sử dụng thuốc nhạy cảm với ánh sáng;
tiền sử sẹo lồi, chậm lành vết thương
(hình 1) hoặc nhiễm herpes; người
gần đây có sử dụng isotretinoin; người
có kỳ vọng phi thực tế; bệnh nhân
187
Xử lý biến chứng của Peel hóa chất
không hợp tác và hay om sòm, và
những người có rối loạn tâm thần
(Anitha 2010).
Việc lựa chọn kĩ thuật peel phù
hợp dựa vào việc khám cẩn thận da
tổn thương của bệnh nhân và kĩ thuật
được lựa chọn để điều trị phải mang
lại lợi ích cao hơn so với nguy cơ. Quy
trình điều trị cuối cùng nên được cá
nhân hóa tùy theo nhu cầu của bệnh
nhân (Mataraso và Glogau 1991). Mặc
dù trên thực tế các biến chứng có thể
xảy ra nhưng thủ thuật peel da vẫn
đóng vai trò quang trọng trong điều
trị các bệnh lí cụ thể của da mà các
phương pháp phẫu thuật tiêu chẩn
không thể xử lí tốt được (Litton và
Trinidad 1981).
Để tránh những tình huống xấu
xảy ra trong tương lai, cần lấy phiếu
đồng thuận của bệnh nhân và chụp
ảnh bệnh nhân dưới ánh sáng thích
hợp ở tất cả bệnh nhân (Anitha 2010).
Bên cạnh đó, cần nhắc nhở bệnh nhân
không nên xếp những sự kiện quan
trọng của họ trong ít nhất 5 ngày sau
peel nông (Khunger 2009), 20 ngày
sau peel trung bình, và 30 ngày sau
peel sâu. Các biến chứng quan trọng
được mô tả trong bảng 1.
Hình 1: chậm lành vết
thương. Cần thời gian
trên 6 tuần để tái tạo
thượng bì sau khi peel
TCA 25% ở vùng sau
đùi (vùng có ít cấu trúc
nang lông)
Đỏ da kéo dài
Giãn mạch
Tổn thương ổ mắt
Nhiễm trùng
Phù nề
Tái nhiễm herpes
Đau và bỏng rát
Mụn thịt (milia)
Ngứa
Đường ranh giới giữa 2 vùng da khác màu
Viêm nang lông/ mụn
Thay đổi cấu trúc da
Phản ứng dị ứng
Giảm sắc tố
Nổi mụn nước
Tăng sắc tố
Bầm máu
Sẹo
Bảng 1: biến chứng phổ biến của tất cả các loại peel
188
Xử lý biến chứng của Peel hóa chất
NHỮNG BIẾN CHỨNG CÓ THỂ XUẤT
HIỆN Ở TẤT CẢ CÁC LOẠI PEEL
Đỏ da kéo dài
Đỏ da là dấu hiệu bình thường
sau tất cả các loại peel, nhưng đỏ da
kéo dài là hậu quả của sự giãn mạch,
điều này cho thấy đã có sự tăng sản mô
sợi do bị kích thích trong một khoảng
thời gian dài. Do đó có thể làm cho da
trở nên dày và tạo sẹo (Nikalji 2012).
Một vài nguyên nhân gây ra tình
trạng đỏ da kéo dài được biết là bệnh
nhân có sử dụng retinoin bôi ngay
trước và sau khi làm thủ thuật, uống
isotretinoin trước khi làm thủ thuật,
uống thức uống có cồn (Spira 1974),
viêm da tiếp xúc, nhạy cảm tiếp xúc, và
một vài bệnh da trước đó (trứng cá đỏ,
viêm da cơ địa, lupus ban đỏ).
Peel trung bình và peel sâu có
xu hướng dễ bị đỏ da kéo dài hơn. Đỏ
da thường biến mất sau 3-5 ngày khi
peel nông, 15-30 ngày khi peel trung
bình và 60-90 ngày sau peel sâu (Mon
heit 2004).
Đỏ da kéo dài phải được xử
lí càng sớm càng tốt ngay khi mà nó
được chẩn đoán với steroid bôi mạnh
trong 1-2 tuần, sử dụng mủ và chống
nắng, và chất làm mềm liên tục. Thỉnh
thoảng, có thể dùng phấn phủ màu da
để che da đỏ trong thời gian điều trị.
Tiêm steroid vào sang thương, uống
hoặc tiêm bắp steroid cũng có thể
được sử dụng trong những trường
hợp không đáp ứng. Đỏ da kéo dài có
xu hướng đáp ứng tốt với các máy IPL
hoặc PDL (Tung và Rubin 2011).
Điều chỉnh kì vọng của bệnh
nhân trước khi tiến hành thủ thuật à
bắt buộc vì bệnh nhân sẽ đánh giá tốt
nếu được thông tin về kết quả
và những vấn đề có thể xảy ra trong
khoảng thời gian sau peel (Levy và
Emer 2012).
Tổn thương mắt
Nếu vô tình để dính bất kì hóa
chất nào vào mắt thì có thể ngay lập
tức gây tổn thương giác mạc, do đó các
bác sĩ phải hết sức cẩn thận khi peel
ở vùng quanh mắt. Một khi lỡ bị dính
hóa chất vào mắt thì ngay lập tức rửa
mắt với dung dịch saline để tránh gây
tổn thương giác mạc. Nếu bị dính vào
mắt khi peel phenol thì nên rửa mắt
bằng sử dụng dầu khoáng thay vì sa
line (Nikalji 2012).
Một cách tiếp cận để giúp hạn
chế biến chứng này là có sẵn tăm bông
để nhanh chóng loại bỏ những giọt
nước mắt nằm cạnh mí và một bơm
tiêm chứa đầy saline để sẵn trong
trường hợp bị dính acid vào mắt (Tung
và Rubin 2011).
Đã có những trường hợp bị
bị lộn mí mắt do sẹo được báo cáo ở
những bệnh nhân được peel phenol,
và lộn mí mắt dưới cũng đã được báo
cáo đã xảy ra ở những bệnh nhân peel
sâu kèm với phẫu thuật thẩm mỹ ở
vùng mí mắt (Dailey 1998). Những
yếu tố nguy cơ là bệnh nhân lớn tuổi
da không còn săn chắc, bệnh nhân
có tiền sử phẫu thuật thẩm mĩ vùng
mí mắt trước đó, và bệnh nhân có da
mỏng (Nikalji 2012). Trong hầu hết
trường hợp, biến chứng này có thể tự
giới hạn (tự lành) và không cần điều
trị đặc hiệu nào, chỉ cần chăm sóc bảo
tồn (massage vùng da dưới mí, vỗ nhẹ
mí mắt đặc biệt vào buổi tối và bảo
vệ nhãn cầu với nước mắt nhân tạo
(Mendelsohn 2002).
