GIÁO TRÌNH NHẤN MÍ BẰNG CHỈ
NHẤN MÍ LUỒN CHỈ
LƯU HÀNH NỘI BỘ - VUI LÒNG KHÔNG SAO CHÉP
(Trang không có chữ)
MỤC LỤC
Bài 1 : Giới thiệu chung về nhấn mí ưu và nhược điểm
Bài 2 : Tìm hiểu về cấu tạo của mắt
Bài 3 : Giới thiệu công dụng về các dụng cụ sử dụng trong quá trình nhấn mí
Bài 4 : Kỹ thuật đo đạc và tỉ lệ tiêu chuẩn của mí
Bài 5 : Những lưu ý trước và sau khi nhấn
Bài 6 : Hướng dẫn kỹ thuật tiêm tê và thử tê
Bài 7 : Hướng dẫn kỹ thuật luồn chỉ và thắt chỉ
Bài 8 : Thực hành quy trình nhấn mí tiêu chuẩn và các bước nhấn mí
Bài 9 : Cách chăm sóc sau khi nhấn mí
BÀI MỞ ĐẦU
Giói thiệu về nhấn mí luồn chỉ
Hiện nay, luồn chỉ mí mắt là một trong những phương pháp nhấn mí đẹp tự
nhiên và an toàn nhất được nhiều chị em ưa chuộng trong lĩnh vực thẩm mỹ mắt
đẹp tự nhiên. Nhưng không phải ai cũng biết đến phươmg pháp này. Vậy luồn
chỉ mí mắt là gì ? Hãy cùng chúng tôi khám phá trong bài viết này nhé.
Luồn chỉ mí mắt là gì ?
Luồn chỉ mí mắt hay còn gọi là nhấn mí hoăc bấm mí là phương pháp tạo hình
mắt 2 mí bằng việc tạo nếp gấp mí sau đó cố định lại bằng chỉ thẩm mỹ. Nếu
bạn là fan của những idol hay diễn viên Hàn, chắc không ít lần bạn đã tự hỏi tại
sao mí mắt của họ đẹp đến vậy cho dù người Hàn Quốc có nét đặc trưng là đôi
mắt híp một mí. Bí mật nằm ngay trong chính công nghệ luồn chỉ mí mắt để tạo
mắt 2 mí này.
Luồn chỉ mí mắt hay còn gọi là giáp nhấn mí mắt được rất nhiều chị em ưa
chuộm
Với kỹ thuật đơn giản nhưng đòi hỏi kỹ thuật tay nghề cao, nắm chắc cấu trúc
giải phẫu mắt mới có thể thực hiện được Nhấn mí luồn chỉ được tạo thành
không thông qua phẫu thuật mà chúng ta sẽ thực hiện luồn chỉ phẫu thuật để làm
cố định nếp mí thông qua 2 cách chính sau đây :
Cách 1 : Luồn chỉ sát sụn mi
Trước hết chúng ta sẽ xác định những điểm để có thể luồn chỉ tại mi mắt trên.
Thông thường là 3-5 điểm. Từ các điểm đã được xác định, sẽ luồn chỉ sinh học
xuống sát sụn của mi mắt trên sau đó cố định lại sao cho sát lớp da dưới mi để
tạo thành nếp mí mới. Tuy nhiên phương pháp này chỉ có thể tồn tại được 2-3
năm sau đó sẽ mờ dần đi và trở lại trạng thái bình thường.
1
Luồn chỉ mí mắt giúp tạo mắt 2 mí to tròn rỗ ràng
Cách 2 : Luồn chỉ xuyên sụn mi
Luồn chi mí mắt xuyên sụn mi là phương pháp tiên tiến nhất hiện nay, sau đó
cố định chắc chắn với lớp da dưới mi để tạo thành nếp mí sâu và rõ ràng. Với
cách này, mắt 2 mí có thể tồn tại được vĩnh viễn.
Luồn chỉ mí mắt có ưu điểm gì ?
việc sở hữu đôi mắt 2 mí không còn là nỗi lo lắng của bạn mỗi khi trang điểm
với những ưu điểm vượt trội dưới đây :
•
Giúp bạn sở hữu mắt 2 mí đẹp tự nhiên, phù hợp với khuôn mặt
•
Không để lại sẹo, không lộ dấu vết thẩm mỹ
•
Thời gian nhanh chóng (15-20 phút), an toàn
•
Không đau, không cần phẫu thuật
•
Không cần ăn kiêng, sau khi thực hiện có thể sinh hoạt bình thường
•
Không cần cắt chỉ
2
bộ lệ.
CẤU TẠO VÀ CẤU TRÚC CỦA MẮT MÍ MẮT
Cơ quan thị giác có nhiệm vụ thu nhận những kích thích ánh sáng dưới dạng
những hình ảnh và màu sắc, để truyền về vỏ não, cho ta nhận biết được thế giới
bên ngoài. Cơ quan thị giác bao gồm có mắt và các cơ quan mắt phụ. Mắt bao
gồm nhãn cầu và thần kinh thị giác. Nhãn cầu nằm trong một hốc xương gọi là ổ
mắt. Cơ quan phụ gồm cơ nhãn cầu, mạc ổ mắt, lông mày, mi mắt, kết mạc và
3
1. Ố MẮT (ORBITA)
Gồm 2 hốc xương chứa nhãn cầu, các cơ nhãn cầu, thần kinh, mạch máu, mỡ và
bộ lệ. Ố mắt có hình tháp 4 mặt, nền quay ra trước, đỉnh quay ra sau. Trục của 2
hố mắt không song song với nhau mà tạo thành một góc mở ra trước.
Ổ mắt do các phần xương trán, xương sàng, xương bướm, xương hàm trên,
xương gò má, xương lệ, xương khẩu cái tạo nên.
1.1 Thành ngoài
Do xương gò má, cánh lớn xương bướm và một phần xương trán. Ở sau dưới
thành ngoài có khe ổ mắt dưới thông với hố thái dương và hố khẩu cái. Ở sau
trên có khe ổ mắt trên thông với tầng sọ giữa cua nên sọ.
1.2.
Thành dưới
Thành dưới còn gọi là sàn ổ mắt, được tạo nên bởi xương hàm trên, xương gò
má và xương khẩu cái. Thành này có rãnh dưới ổ mắt để mạch và thần kinh dưới
Ổ mắt đi qua
1. Lỗ trên ổ mắt
2. Xương trán
3. Cánh lớn xương bướm
4. Lỗ thị giác
5. Khe ổ mắt trên
6. Xương sàng (xương giấy)
7. Khe ổ mắt dưới
8. Xương gò má
9. Xương hàm trên
10. Lỗ dưới ổ mắt.
1.3. Thành trong
Được tạo nên bởi mảnh ổ mắt của xương sàng. Phía trước mảnh ổ mắt là xương
lệ và một phần mỏm trán của xương hàm trên. Trên xương lệ có mào lệ sau; trên
mỏm trán của của xương hàm trên có mào lệ trước. Giữa 2 mào lệ là hố của túi
lệ, hố này chạy xuống dưới tạo thành ống lệ tỵ.
1.4.
Thành trên
Còn gọi là trần hố mắt, do xương trán và 1 phần cánh nhỏ xương bướm tạo
thành. Thành trên ngăn cách hốc mắt với hố sọ trước. Góc trước ngoài của thành
trên có hố tuyến lệ, góc trước trong nơi tiếp giáp với thành trong có rãnh ròng
rọc và gai ròng rọc, để ròng rọc của cơ chéo trên bám.
4
5
và động mạch mắt đi qua.
2.
NHÃN CẦU (BULBUS OCULI)
Nhãn cầu nằm trong mô mỡ của ổ mắt và ngăn cách với mô mỡ một bao mạc.
Nhãn cầu chiếm 1/3 trước của ổ mắt.
2.1.
Hình thể và kích thước
Nhãn cầu là một hình cầu, ở trước hơi lồi có giác mạc che phủ.
Đường kính trước sau 24 mm, đường kính ngang 23 mm. Nếu nhãn cầu dài quá
sinh ra cận thị (myope) và nếu ngắn qua sinh ra viễn thị (presbype).
Nhãn cầu có 2 cực: cực trước là điểm trung tâm của giác mạc, cực sau là điểm
trung tâm sau của củng mạc. Đường thẳng nối 2 cực của nhãn cầu gọi là trục
thị giác. Hai trục thị giác của 2 mắt gần như song song với nhau. Khoảng cách giữa
2 đồng tử của 2 mắt khoảng 60 mm. Đường vòng quanh nhãn cầu, cách đều 2
cực và vuông góc với trục thị giác, gọi là đường xích đạo.
Nhãn cầu nặng 7 - 8g.
2.2.
Cấu tạo
Nhãn cầu được cấu tạo bởi một bao vỏ gồm có 3 lớp màng từ ngoài vào trong:
màng thớ, màng cơ mạch và màng thần kinh. Bên trong lòng nhãn cầu có các môi
trường trong suốt.
2.2.1.
Các màng nhãn cầu
Lần lượt từ nông vào sâu:
* Màng thớ (lớp áo xơ)
Màng này có 2 phần: củng mạc ở phía sau, giác mạc ở phía trước.
- Củng mạc: là phần sau, có màu trắng đục của lớp xơ, chiếm 5/6 sau nhãn cầu Phần
trước gọi là lòng trắng mắt có kết mạc che phủ phía trước, có thể nhìn thấy
1.5.
Nền
Quay ra trước, được cấu tạo bởi xương trán xương gò má và xương hàm
trên. Phía trên có lỗ trên ổ mắt để mạch và thần kinh trên ổ mắt đi qua.
1.6.
Đỉnh ổ mắt
Đỉnh ở phía sau, có một lỗ rộng hình tam giác gọi là khe bướm hay khe ổ mắt trên,
thông với đầu trước hố sọ giữa. Phía trong khe có lỗ thị giác cho dây thần kinh số II
mạch máu nằm dưới kết mạc. Củng mạc dày nhất ờ phía sau, gần chỗ thoát ra
của thần kinh thị giác (lmm), mỏng nhất (0,4mm) ở khoảng sau rãnh củng mạc
6mm, nơi các cơ vận nhãn bám vào.
Mặt ngoài củng mạc liên tiếp với giác mạc ở trước, với vỏ ngoài của dây thần
kinh thị giác ở phía sau và có các lỗ để cho các nhánh động mạch tĩnh mạch thần
kinh đi qua, và có các chỗ để cho các cơ vận động của nhãn cầu bám. Mặt trong
củng mạc, sát với màng mạch mạc và cách chúng một lớp tổ chức tế bào có
nhiều hạt mầu gọi là tấm fusca, có những mạch máu thần kinh chạy qua.
- Giác mạc: cũng là một phần của màng thớ (chiếm 1/6) nhưng đã biệt hoá trở
thành trong suốt có tác dụng cho ánh sáng đi qua, có đường kính 12mm.
Chỗ tiếp nối giữa giác mạc và củng mạc có một màng thớ sít lại gọi là dây
chằng lược hay là hệ lược, trong hệ này có những khoang Fontano thông với
buồng trước nhãn cầu. Giữa giác mạc và củng mạc có một ống chạy vòng tròn
theo chu vi giác mạc gọi là ống Schlemm thuộc hệ tĩnh mạch ở củng mạc, nó
tiếp nhận thuỷ dịch ở buồng trước nhãn cầu để đổ vào tĩnh mạch mi trước có tác
dụng thông tuỷ dịch với các tĩnh mạch bên ngoài.
* Màng cơ mạch (lớp áo mạch)
Là màng nuôi dưỡng nhãn cầu gồm có 3 phần: mong mắt hay lòng đen, thể mi
và mạch mạc.
6
1. Điểm vàng
2. Cơ thẳng trên
3. Củng mạc
4. Kết mạc
5. Ống Schlemm
6. Hậu phòng
7. Tiền phòng
8. Nhân mắt
9. Giác mạc
10. Mống mắt
11. Thể mi
12. Màng thần kinh
Hình 5.2. Nhãn cầu (cắt đứng dọc)
13. Màng cơ mạch
14. Điểm mù
7
8
- Mống mắt hay lòng đen (iris): giống như một màn chắn sáng, nằm thăng
đứng ngay phía trước nhân mắt. Giữa lòng đen có 1 lỗ nhỏ gọi là con ngươi
hay đồng tử. Con ngươi có thể to hay bé là tuỳ theo mức nhìn xa hay gần, lúc tối
hay sáng. Hiện tượng đó gọi là sự điều tiết của mắt (hoạt động này do các sợi cơ
trơn co dãn đồng tử, nằm ngay trong bề dầy của lòng đen và do hệ thần kinh
thực vật đảm nhiệm).
Về màu sắc của lòng đen có thể thay đổi tuỳ theo giống người (người âu màu
xanh, người á màu đen hay màu nâu...) nhưng thường cùng với màu tóc.
Lòng đen có 2 vòng đồng tâm. Vòng hay bờ ngoài liên tiếp với thể mi (bờ thể mi),
liên tiếp với thể mi và giác mạc bởi dây chằng lược rộng khám, vòng trong là vòng
mống mắt nhỏ rộng 2mm.
Mặt trước lòng đen, cách con ngươi l,5mm liên quan với buồng trước của
nhãn cầu và có nhiều tia mạch đi từ con ngươi đến bờ ngoài, khi con ngươi co thì
mạch thẳng, khi con ngươi dãn thì mạch ngoằn nghèo. Mặt sau lòng đen lõm, liên
quan đến buồng sau của nhãn cầu và mặt trước của nhân mắt.
Chu vi lòng đen dính vào củng mạc và giác mạc bởi dây chằng lược Hueck (bởi sự
kết hợp giữa lòng đen và thể mi và nơi các mạch máu ở thể mi tạo thành).
- Thể mi hay vùng mi (corpus ciliare): là phần dày lên của màng mạch, vùng nằm
giữa mạch mạc và lòng đen, là một vòng khuyên dẹt rộng 5-6mm.
Trên thiết đồ cắt dọc qua thể mi đó là một hình tam giác có đỉnh dính vào vòng thắt,
mặt sau hay nền trông vào trục nhãn cầu và liên quan với thuỷ tinh dịch; mặt
trước giáp với giác mạc; mặt trong có lòng đen bám và có dây treo tinh cầu (dây
chằng Zinn).
Thể mi gồm có 2 phần: trước là vành mi, sau là tụ mạch mi.
+ Vành mi là một vùng rộng 4mm, trong vùng mi có cơ trơn màu trắng xám có 9/10
sợi trước sau gọi là cơ Brucke, còn lại là số sợi vòng gọi là cơ Rouget. Cả 2 cơ này
có tác dụng điều tiết đồng tử thông qua dây chằng
1. Củng mạc
2. TM mi trước
3. Kết mạc
4. Cơ mi
5. Tụ mạch mi
6. Ống Schlemm
Hình 5.3. Thể mi
9
7. Vòng Zinn
8. Giác mạc
9. Hậu phòng
10. Mống mắt
11. Nhân mắt 12. Tiền phòng
- Mạch mạc hay màng mạch (choroidea) chiếm 2/3 sau nhãn cầu là một màng có
10
+ Mỏm mi (tụ mạch mi) gồm những cuộn mạch ở sau cơ mi và có từ 70-80 cuộn hợp
thành một vành gọi là vành mi, ơ sau vành mi là vòng mi do các mạch máu nối liền các
mạch ở mạch mạc với tụ mạch mi.
nhiều lớp mạch máu, có nhiều tế bào chứa sắc tố đen làm tạo thành buồng tối của
nhãn cầu có tác dụng thuận lợi cho sự nhìn. Mặt ngoài mạch mạc liên quan với củng
mạc nhung không dính vào củng mạc mà cách chúng bởi một tấm fusca. Mặt trong
nhẵn, đen, liên quan với võng mạc và cũng không dính vào võng mạc. Bờ
trước của mạch mạc là một vòng tròn gọi là vòng thắt, chỗ màng mạch và thể mi
nối liền nhau ở cách giác mạc 6 múi. * Màng thần kỉnh (lớp ảo trong} hay võng mạc Là
màng trong cùng của nhãn cầu. Chia làm 3 phần: võng mạc thị giác, võng mạc thể
mi và võng mạc mống mắt. - Võng mạc thị giác là phần võng mạc phủ phần sau
nhãn cầu, chứa đựng các tế bào thần kinh cảm thụ ánh sáng. Giới hạn trước của
phần này ở gần mỏm mi trở nên mỏng hơn gọi là miệng thắt của võng mạc. Là màng
thụ cảm chính của mắt. Mặt ngoài liên quan với màng mạch (không dính vào
mạch mạc). Mặt trong liên quan với dịch thuỷ tinh, có 2 điểm là điểm mù V
1. Nhánh quặt ngược màng mạch
2. Động mạch tia
1. Nhánh quặt ngược màng mạch
2. Động mạch tia
11
3. Vòng ĐM nhỏ của mống mắt
5. Miệng thắt
7. Đồng tử
9. Củng mạc
11. ĐM mi dài
13. Thần kinh thị giác
4. Vòng ĐM lớn cua mống mắt
6. Mống mắt
8. ĐM mi trước
10. Tĩnh mạch xoắn
12. ĐM mi ngắn
Hình 5.4. Động mạch của nhãn cầu
+ Điểm mù hay (ra thần kinh thị là một vòng tròn có đường kính l,5mm hơi trũng ở
dưới cực sau nhãn cầu trăm và ở phía trong cực sau 3mm là nơi có các sợi dây
thần kinh thị giác thoát ra. Đãi có một lõm ở giữa, là nơi có động mạch trung tâm
võng mạc đi vào 4- Điểm sáng hay là điểm vàng là một hõm dài 3mm, cao l,5mm
và ở đúng cực sau của nhãn cầu, là nơi hình ảnh in rõ nhất. - Võng mạc thể mi: là
phần võng mạc phủ mặt trong thể mi, gồm 1 lớp tế bào thượng bì không sắc tố ở
trong và một lớp có sắc tạo ngoài. - Võng mạc mống mắt: là phần võng mạc phủ
mặt sau mống mắt cho đến bờ con ngươi; cả 2 lớp tế bào đều chứa sắc tố.
12
2.2.2.
Mạch thần kinh chung cho các màng
* Động mạch: gồm có các động mạch mi trước, mi sau, động mạch mi ngắn, mi
dài và động mạch trung tâm võng mạc. Tất cả đều là những nhánh của động
mạch mắt (thuộc động mạch cảnh trong).
* Thần kỉnh: chi phối cảm giác là do nhánh mắt của dây V, chi phối co giãn
đồng tử do hệ thần kinh thực vật đảm nhiệm. Các sợi phó giao cảm thì làm co
13
đồng tứ là dây nhìn gần, còn các sợi giao cám thì làm giãn đồng tử là dây nhìn
xa.
2.2.3.
Các môi trường trong suốt gồm có
Các môi trường trong suốt gồm có:
- Nhân mắt hay thuỷ tỉnh cầu (lens): là một thấu kính lồi 2 mặt, đặc tính là trong
suốt, đặc rắn và có thể thay đổi hình dạng tuỳ theo tia sáng đi qua. Ở người có
tuổi thì nhân mắt càng rắn đặc, có xu hướng đục gọi là bệnh đục nhân mắt.
14
1. Dịch thuỷ tinh
2. Giác mạc
3. Thuỷ dịch (ở tiền phòng)
4. Nhân mắt (thuỷ tinh thể)
5. ống thấu quang (ống Cloquet)
6. Thuỷ dịch (ở hậu phòng)
Hình 5.5. Các môi trường trong suốt của mắt
Mặt sau tinh cầu lồi hơn mặt trước có thể tăng, giảm tuỳ theo sự điều tiết của mắt.
Đường kính của tinh cầu khoảng 9-10 mm, dầy độ 4-5 lạm, nặng 0,2g.
Tinh cầu được bọc trong một màng mỏng, có khả năng chun giãn gọi là màng nhân
mắt hay mạc tinh cầu.
Tinh cầu được giữ tại chỗ bởi các sợi trong suốt đi từ mặt trong thể mi tới mạc
tinh cầu gọi là dây treo tinh cầu hay là dây chằng Zinn. Ở giữa các thớ sợi của dây
chằng này có một ống sợi là ống Hanover và một số ống nhỏ thuộc ống bạch huyết
để thông các khe ở phía trước với buồng sau của nhãn cầu.
Tinh cầu hay nhân mắt không có mạch máu không có thần kinh đi tới, chất nuôi
dưỡng cho nhân mắt đi từ các tụ mạch chảy vào các khe ở giữa các thớ của dây
chằng Zinn tội nhân mắt, đồng thời chất tiết ra từ màng nhân mắt chảy và ống
Hanover và các ống petit để đổ vào buồng sau nhãn cầu.
- Thuỷ dịch (humor aquosus): là một chất dịch nằm ở trong khoang giữa nhân
mắt với giác mạc, trong khoang này có lòng đen chia làm 2 buồng là buồng
trước và buồng sau nhãn cầu, hai buồng này thông với nhau ở lỗ con ngươi.
Chất dịch ở đây là do các mạch máu ở lòng đen và các ống petit và ở thể thuỷ tinh
tiết ra tụ lại ở buồng sau rồi qua lỗ con ngươi chạy ra buồng trước rồi chảy
vào ống Schlemm thoát ra hệ tĩnh mạch bên ngoài. Nói tóm lại chất dịch này
được luân chuyển luôn luôn.
- Dịch thuỷ tỉnh hay thuỷ tỉnh dịch (corqus vitreum): là một khối dịch trong suốt
như lòng trắng trứng nằm ở trong khoang giữa nhân mắt và võng mạc và được
bọc trong một màng gọi là màng thấu quang. Màng này rất dày ở chỗ giáp với
võng mạc và mỏng ở vòng Zinn, ở mặt sau trong nhân mắt và màng này liên tiếp
với thành ống Cloquet ở giữa.
Dịch thuỷ tinh ở trẻ em rắn đặc hơn người lớn, ở giữa khối dịch này chia ra từng
múi.ống Cloquet hay ống stilling đi từ điểm mù tới cực sau của nhân mắt, ống
bị thắt ở giữa, bè ở hai đầu. Khi ở bào thai có động mạch thấu quang đi tới nuôi
dưỡng nhân mắt, ở người lớn thì ống này bé dần lại trong lòng ống chỉ có tổ
chức hạch huyết.
2.3.
Các cơ vận nhãn
Có 7 cơ vận động nhãn cầu và mi mắt. Những cơ này liên quan mật thiết với
một màng mỏng bọc nhãn cầu, màng này gọi là vỏ Tếnon (vagina bulbi).
2.3.1.
Cơ nâng mi trên
Là một cơ dài, dẹt, ở sau bám vào mặt dưới cánh nhỏ xương bướm trên và trước
lỗ thị giác rồi chạy dọc dưới trần ổ mắt và tận hết ở mi trên bởi một dải cân
rộng. Dải cân này chia làm 2 lá: lá nông bám vào mặt trước sụn mi trên, lá sâu
toả ra hình tia tận hết ở da mi trên. Khi cơ co kéo mi lên trên và ra sau.
2.3.2.
Các cơ thẳng mắt
Có 4 cơ thẳng mắt (trên, dưới, trong, ngoài) đều là những cơ dài dẹt, nó dài 4cm.
Bốn cơ này ở sau (ứng với đỉnh O mắt) cùng bám vào một gân chung gọi là gân
Zinn, gân Zinn bám quanh ống thị giác và phần trong khe ổ mắt trên rồi chia ra
làm 4 dải đi theo 4 thành ổ mắt.
Ở giữa dải trên và dải trong giới hạn một lỗ để cho dây thần kinh thị giác (thần
kinh II) và động mạch mắt đi qua.
ở giữa dải trên và dải ngoài giới hạn nên vòng Zinn liên quan với chỗ phình ra
của khe bướm, có dây III, IV, Vi và nhánh mắt dây V chui qua vòng Zinn vào 0
mắt..
15
Bốn cơ thẳng chạy từ sau ra trước, dọc theo các thành cua ô mắt, tới bám vào
nửa trước cùa nhãn cầu (chỗ gần giác mạc). Bốn cơ thẳng hợp thành một hình
nón quây xung quanh 1 khối mỡ, trụ hình nón là dây thần kinh thị giác,
về tác dụng thì cơ thẳng ngoài đưa mắt ra ngoài và do dây thần kinh so VI chi
phối, còn cơ thẳng trên, cơ thẳng dưới, thẳng trong đưa mắt lên trên xuống dưới
vào trong đều do dây thần kinh số III chi phối.
2.3.3.
Cơ chéo to hay cơ chéo trên (m. obliquus superior)
Ở sau bám từ thân xương bướm phía trên và trong ống thị giác, thân cơ đi thẳng
ra trước chạy dọc theo bờ trên trong của ổ mắt, chui qua vòng khuyết ở hố ròng
rọc của ổ mắt, rồi quặt lại đi ra phía ngoài xuống dưới và sau tới bám vào phía
trên ngoài và sau của nhãn cầu. Khi cơ co thì đưa mắt vào trong, xuống dưới và
do dây thần kinh số IV chi phối.
16
1. Cơ nâng mi trên
3. Cơ thẳng trên
5. Cơ thẳng ngoài
7. Cơ thẳng dưới
2. Cơ chéo lớn
4. Cơ thẳng trong
6. Cơ chéo bé
Hình 5.6. Các cơ vận nhãn
17
2.3.4.
Cơ chéo bé hay cơ chéo dưới (m. obtiquus inferior)
Là một dải cơ bám từ một hố ổ mặt ổ mắt xương hàm trên phía trên ngoài rãnh
lệ tỵ, chạy ra ngoài ra sau ở thành dưới của ổ mắt tới bám vào phía dưới ngoài,
phần sau của nhãn cầu, khi cơ co thì đưa mắt ra ngoài và lên trên.
Do dây thần kinh số III chi phối.
2.4.
Các mạc ổ mắt
2.4.1.
Màng ngoài thuật
Là màng ngoài xương lót các thành ổ mắt, phía sau liên tiếp với màng não cứng
ở ống thị giác và khe ổ mắt trên.
2.4.2.
Vách thuật
Là một lá màng bám từ quanh bờ lỗ vào ổ mắt, toả xuống 2 mi. Trong mí trên
vách hoà hợp với lá cân nông của cơ nâng mi trên; trong mí dưới, vách tận hết ở
mặt trước sụn mi. Vách bị chọc thủng bởi:
- Các mạch và thần kinh ở mắt xiên qua để ra mặt và da đầu.
- Cân cơ nâng mi trên và phần mi của tuyến lệ.
2.4.3.
Bao nhãn cầu
Là một màng mỏng bọc quanh nhãn cầu từ thần kinh thị giác tới rãnh cùng giác
mạc, ngăn cách nhãn cầu với mô xung quanh
Mặt trong bao nhẵn, ngăn cách với mặt ngoài củng mạc bởi khoang trên củng
mạc. Trong khoang có các dải sợi ngang và mô liên kết.
Phía sau bao có nhiều lỗ thủng để mạch và thần kinh mi đi qua và bao liên tiếp
với bao của thần kinh thị giác. Phía trước bao dính liền và tận hết trong củng mạc
ngay phía sau chỗ tiếp nối giữa củng mạc và giác mạc. Chung quanh bao bọc các
cơ nhãn cầu tạo nên các bao mạc cơ. Bao mạc cơ của cơ thẳng ngoài chế ra một
dải dính vào thành ngoài ổ mắt, tạo nên dải cơ thẳng ngoài, các mạc cơ thẳng
liên tiếp với nhau bởi màng gian cơ.
3. LÔNG MÀY (SUPERCILIUM)
Là những lông ngắn mọc dày trên lồi da hình cung nằm ngang phía trên lỗ vào ổ
mắt. Dưới da cung mày có các sợi của các cơ vòng mắt, cơ cau mày và bụng
trán của cơ chạm trán.
18
4. MI MẮT (PALPEBRAE)
Là 2 nếp da cơ màng di động, nằm phía trước ổ mắt, để bảo vệ nhãn cầu. Có 2
mí: mí trên và mí dưới. Mí trên di động nhiều hơn mí dưới, khoang giữa
2 bờ tự do của 2 mí gọi là khe mí. Hai đầu của khe mí giới hạn 2 góc mắt: góc
mắt trong và góc mắt ngoài. Tại góc mắt nơi 2 mí dính nhau gọi là mép mí.
Như vậy có 2 mép mí là mép mí trong và ngoài.
Góc mắt trong có một khoang hình tam giác gọi là hồ lệ. Trong hồ lệ có một cục
lệ. Trên và dưới cục lệ có nhú lệ đỉnh nhú lệ có điểm lệ. Mỗi mi có 2 mặt là mặt
trước và mặt sau:
- Mặt ngoài có da che phủ liên tiếp với da mặt.
- Mặt trong có kết mạc bao phủ gồm có:
* Cấu tạo mi mắt có 7 lớp từ nông vào sâu:
+ Da mỏng, mịn.
+ Lớp tổ chức tế bào nhão.
+ Lớp cơ vòng mi thuộc cơ bám da đầu mặt.
+ Lớp tổ chức tế bào sau cơ, có động mạch mi đi qua.
+ Lóp sợi đàn hồi gồm có 2 phần: sụn mi là hai mảnh sụn dầy và rắn nằm trong
bề dày mi mắt; sụn mi trên hình bán nguyệt cao 1 chỉ, sụn mi dưới hình chữ nhật
cao 0,5cm. Cả hai mi nối liền nhau ở hai đầu và đuôi mắt bởi hai dải dây chằng
mi trong và mi ngoài. Ở trong sụn mi có tuyến meibomius, dịch tiết ra ở các lỗ
bờ mi và thuộc loại tuyến bì sinh ra dử mắt.
+ Lớp cơ trơn có cơ mi trên và cơ mi dưới, cả 2 cơ đều đi tới lớp tổ chức sợi đàn
hồi.
+ Lóp kết mạc là một màng mỏng nhẵn và trong suốt che phủ mặt
sau mi rồi quặt lên nhãn cầu che phủ củng giác mạc. Kết mạc chia ra làm 3
phần: Kết mạc mi che phủ mặt sau của sụn mi và cơ mi.
Kết mạc túi bịt là phần kết mạc quặt từ mi sang nhãn cầu. Kết mạc nhãn cầu là
phần kết mạc phủ ở nhãn cầu.
Cơ vòng mi là cơ bám da ở xung quanh khe mi, khi cơ co thì làm nheo mắt và
đẩy nước mắt vào túi lệ.
19
Cơ Homer là một cơ bé dẹt đi từ mào lệ tới ông lệ trên và dưới khi cơ co làm ép
ống lệ vào túi lệ làm cho nước mắt chảy dễ dàng
1. Cơ chạm trán
3. Kết mạc
5. Sụn mi
7. Cung ĐM mi dưới
9. Lỗ tiết tuyến sụn
2. Cơ nâng mi trên
4. Cơ vòng mi
6. Tuyến sụn
8. Lông mi
Hình 5.7. Cấu tạo mi mắt
20
5.
LỚP KẾT MẠC
Kết mạc là một màng niêm mạc mỏng lót mặt trong 2 mi mắt, rồi lật ra sau phủ
mặt trước nhãn cầu. Toàn bộ kết mạc tạo nên một cái túi gọi là túi kết mạc mà
khe mí là đường vào túi. Kết mạc gồm: kết mạc mí là phần kết mạc phủ mặt
trong mí mắt. Kết mạc mí liên tiếp với da phủ mặt ngoài mí mắt. Kết mạc nhãn
cầu là phần kết mạc trong suốt phủ mặt trước nhãn cầu.
6.
HỆ THỐNG LỆ
Gồm có tuyến lệ và đường dẫn lệ.
6.1.
Tuyến lệ (glandula lacrimalis)
Là 1 tuyến giống như tuyến nước bọt, nằm ở phía ngoài trần ổ mắt, có 2 phần:
phần ổ mắt và phần mi mắt. Tuyến lệ có 10-12 ống ngoại tiết mở vào vòm kết
mạc trên.
6.1.1.
Phần thuật {pars orbitalis)
Nằm trong một bao và ở trên là trần ổ mắt, ở dưới là một chế cân của cơ kéo mi
trên và cơ thẳng trên, ở trước là một vách ổ mắt, ở sau là một màng mỏng do tổ
chức tế bào mỡ do O mắt tạo nên. Phần ổ mắt hình bầu dục dài 2cm, rộng lcm,
dầy 0,5cm có từ 3-5 ống tiết nước mắt thoát ra.
6.1.2.
Phần mi mắt (pars palpebralis)
Nhỏ hơn (bằng 1/3 phần 0 mắt) nằm trong mi trên và có từ 7 - 8 ống tiết thông
với túi bịt kết mạc.
6.2.
Đường dẫn lệ
Là đường dẫn nước mắt đổ vào mũi có tác dụng bảo vệ mắt, cản bụi và làm ẩm
không khí đi vào phối. Đường lệ gồm có 5 phần.
6.2.1.
Điểm lệ
Có 2 điểm lệ ở hai đầu mi trên và mi dưới. Ở đây có 2 chỗ lồi lên gọi là củ lệ,
giữa củ lệ có lỗ của ống dẫn lệ.
6.2.2.
Tiểu quản lệ hay ống lệ (canaliculus lacrìmalìs)
Có 2 ống trên và dưới, mỗi ống lệ dài lcm và chia làm 2 đoạn:
-
Đoạn thẳng hình phễu, đầu phễu cách điểm lệ nam là chỗ hẹp nhất của ống lệ.
-
Đoạn ngang dài từ 6-7 mm nằm ngang ở sau dây chằng mi trong, ở giữa các cơ
vòng mi và cơ Homer.
21
6.2.3.
Ống nối
2. Tuyến lệ (phần trần hố mắt)
3. Tuyến lệ (phần mi mắt)
Hình 5.8. Hệ thống lệ
22
1. Cục lệ
4. Điểm lệ
5. ống nối
6. Túi lệ
7. Xương xoăn giữa
8. Ống lệ tỵ
9. Xương xoăn dưới
Hai ống lệ trên và dưới chập lại với nhau thành một ống gọi là ống nối, dài 1-2
mm và thông với túi lệ.
MẠCH MÁU
hốc
23
6.2.4.
Túi lệ (saccus lacrimalis}
Là một ống trên hơi dẹt, ở đầu trên thì bịt, đầu dưới thông với ống lệ tỵ, dài từ
12-14 mm hơi chếch xuống dưới và ra sau nằm áp trong rãnh lệ tỵ dính vào lớp cất
mạc của xương sàng và xương lệ.
6.2.5.
Ông lệ ty (ductus nasolacrimatis)
Đi từ túi lệ đến ngách mũi dưới dài khoảng 18mm. Ống lệ tỵ nằm trong một ống
xương được tạo nên ở ngoài bởi ngành lên của xương hàm trên, ở phía trong bởi
xương lệ mỏm lệ của xương xoăn dưới và dính chặt vào xương bởi các tổ chức liên
kết, lỗ dưới của ống lệ tỵ, chỗ đổ vào ngách mũi dưới có một lớp niêm mạc hình
van, tác dụng không cho nước mắt trào ngược lại đường lệ.
1. ĐỘNG MẠCH
1.1 ĐỘNG MẠCH NUÔI DƯỠNG HỐC MẮT
Động mạch mắt xuất phát từ động mạch cảnh trong ngay khi động mạch này xuyên
qua trần màng cứng của xoang hang để rời khỏi xoang này.
Tại gốc động mạch mắt, nằm trong mấu giường trước và phía dưới thần kinh thị động
mạch hướng ra trước xuyên qua kênh thị và cùng nằm trong màng cứng
của thần kinh thị. Vào hốc mắt nằm trong chóp cơ, động mạch từ phía dưới ra
cạnh ngoài rồi đi lên bắt chéo qua thần kinh thị để đến thành trong của hốc mắt
đi cùng với thần kinh mũi mi.
Tiếp tục ra trước đi giữa cơ trực trong và cơ chéo lớn ỉ ới mấu hàm của xương
trán thì chia làm 2 nhánh tận cùng :
(1) nhánh mũi xuyên qua màng ngăn hốc mắt bên trên dây chằng mí trong,
cung cấp máu cho da vùng gốc mũi và túi lệ. Có những tiếp nối giữa nhánh mũi và
động mạch gốc ( nhánh của động mạch mặt)
(2) nhánh trên ròng rọc ( hay trán) xuyên qua màng ngăn hốc mắt cùng với
thần kinh cùng tên đi hướng lên trên khoảng lcm cách đường giữa bờ trên xương
mắt đến nuôi da, cơ, và màng xương của nứa trán phía trong.
Động mạch phát ra những nhánh sau đây: ( hình57)
H57: động mạch mắt và các nhánh phân bố
1.1.1- Động mạch trung tâm võng mạc (H58): đi vào võng mạc tạo nên hệ
tuần hoàn tận cùng không tiếp nối với nhau giống như ở não bộ. Ở gai thị, động
mạch còn cho nhánh nối với vòng cung động mạch Zinn- Haller. Động mạch
trung tâm võng mạc chủ yếu nuôi dưởng lớp tế bào hạch và lớp sợi thần .nh.
H58: Mạch máu nuôi dưởng thần kinh thị và gai thị giác
24
1.1.2.
- Động mạch mi sau rời động mạch mắt đoạn nằm dưới thần kinh thị,
gồm
2 nhóm:
1.1.2.1.
- Động mạch mi ngắn sau: khoảng 10-20 nhánh đi ra trước bao quanh
thần kinh thị, vào nhãn cầu tạo nên mạng mạch mạc của màng bồ đào sau.
Những động mạch mi nhắn sau còn kết nối với nhau tạo nên vòng Zinn- Haller
bao quanh đầu thần kinh thị, nuôi dưởng thần kinh thị, gai thị, và võng mạc kế
cận. (H58,H59)
1.1.2.2.
- Động mạch mi dài sau : gồm 2 nhánh lần lượt đi vào nhãn cầu, một
phía trong một phía ngoài thần kinh thị, tiếp tục ra trước giữa lớp cũng mạc và
hắc mạc ở kinh tuyến ngang của nhãn cầu. Đến cơ thể mi, nó chia làm 2 nhánh ,
một vào cơ và một tiếp nối với động mạch mi trước tạo nên cung động mạch
mống mắt lớn.
25
Từ cung này phát ra nhánh vào mống mắt tạo cung động mạch mống mắt nhỏ và
nhánh ngoặt ngược tiếp nối với động mạch mi ngắn sau (hình 60)
H60: Cung động mạch trong thể mi
1.1.3.
- Động mạch lệ :xuất phát từ động mạch mắt đoạn nằm cạnh ngoài thần
kinh thị, đi ra trước dọc theo cạnh trên của cơ trực ngoài cùng với thần kinh lệ
tới tuyến lệ, rồi xuyên qua tuyến lệ cung cấp máu cho kết mạc và mí góc ngoài.
Động mạch này phát ra những nhánh sau
(ỉ) nhánh màng não ngoặt ngược đi trở ra sau qua khe bướm hoặc qua một lổ
nhỏ của cánh lớn xương bướm để tiếp nối với động mạch não giữa ( một nhánh
của động mạch hàm và là nhánh xuất phát từ động mạch cảnh ngoài) . Sự tiếp
nối này tạo nên sự thông thương giữa động mạch cảnh trong và cảnh ngoài
(2)
nhánh thái dương và gò má lần lượt tiếp nối với nhánh thái dương sâu trước
và nhánh mặt xuyên ngang thuộc động mạch cảnh ngoài
(3)
nhánh mí ngoài tạo nên những cung động mạch ở mí mắt bằng cách tiếp nối
với những nhánh mí trong của dộng mạch mắt.
1.1.4.- Nhánh động mạch: đến cơ gồm 2 nhánh chính ngoài và trong. Nhánh
ngoài đến các cơ trực ngoài, trực trên, cơ nâng mi và chéo trên. Nhánh trong đến
các cơ trực trong ,trực dưới, và chéo bé. Những nhánh cơ cho ra động mạch mi
trước, mỗi cơ cho ra hai dộng mạch mi trước, ngoại trừ cơ trực ngoài chỉ có một.
Động mạch mi trước ra trước, trong lớp thượng cũng mạc, cho nhánh đến cũng
26
mạc, rìa cũng giác mạc, kết mạc và nhánh xuyên qua cũng mạc vào cơ mi thế
góp phần tạo cung động mạch mống mắt lớn .
1.1.5.
- Động mạch trên hốc: rời động mạch mắt đoạn nằm trên thần kinh thị, ra
trước nằm trên cơ nâng mi, dưới trần hốc mắt. Gặp thần kinh cùng tên ở khoảng
1/3 sau và giữa của hốc mắt, cùng chui qua lổ trên hốc, nằm sâu dưới cơ trán,
đến da đầu tiếp nối với các động mạch thái dương sâu và động mạch trên ròng
rọc.
1.1.6.
- Động mạch sàng trước và sàng sau: lần lượt chui qua kênh sàng trước
và kênh sàng sau để đến hốc mũi.
1.1.7- Nhánh mí trong dưới và trên: xuất hiện ở trước hốc mắt, xuyên qua
phía trên và dưới dây chằng mí trong , lần lượt đến mí trên và dưới nằm trog mặt
phẳng giữa cơ vòng cung mí và sụn mí. Ở đây chúng tiếp nối với những động
mạch mí ngoài tương ứng của động mạch lệ để thành lập cung động mạch mí
ngoại biên và cung bờ mí ( H62, H63) .
H62: Sự nối kết của các nhánh động mạch mí (thuộc động mạch cảnh
trong) và động mạch hàm (thuộc động mạch cảnh ngoài)
27
BÀI 3 : GIỚI THIỆU CÔNG DỤNG VỀ CÁC DỤNG
CỤ SỬ DỤNG TRONG QUÁ TRÌNH NHẤN MÍ
trọn bộ đồ dùng sử dụng trong nhấn mí
1 : kéo cắt chỉ
Sử dụng : dùng để cắt chỉ nhấn mí
Độ bén cao
2 : thước đo kích thước mí
Sử dụng : dùng để đo độ dài của mí căn
chỉnh độ mí phù hợp với mắt từng người
28
3 : kẹp mang kim
Chỉ nhấn mí
4 : bút bi
5 : giao tem ( banh rạch )
6 : kẹp phân tích :
Sứ dụng : để gắp giữ đầu kim đưa chỉ theo
đường nhấn suốt quá trình làm
Chỉ chuyên dụng sử dụng trong nhấn mí
Gồm 2 loại: tự tiêu và không tiêu
Để tạo nếp mí có độ bền cao chúng ta nên
Sử dụng chỉ không tiêu là phù hợp nhất
Sử dụng để vẽ định hình đường mí giúp quá
trình làm được thuận lợi đúng theo nếp mí đã vẽ
Sử dụng : để rạch một đường trên mí làm điểm
để giấu chỉ vào trong da
Dùng để gắp giữ sợi chỉ ( hoặc đầu kim )
Đe không bị tụt mất vào trong da, kéo chỉ và
đẩy chỉ nhét chỉ vào trong d
29
Dùng để nhấn giữ đường mí phù hợp với mắt
từng khách cho khách xem
Sử dụng : tiêm tê vào phần mí mắt chuẩn bị nhấn
10 : Povidon iod 10% ■+• bông gòn
Khử khuẩn và sát khuẩn các vết thương ô nhiễm
và da, niêm mạc trước khi phẫu thuật
•
Lau rửa, sát khuẩn dụng cụ y tế trước khi tiệt
khuẩn.
•
Bôi dung dịch nguyên chất lên vùng da để khử
khuẩn.
• Bôi lên vùng tổn thương (Her-pes simplex, zona,
nhiễm khuẩn.
vết thương,..) để tránh
9 : tê nước :
7: kim tiêm
Sử dụng để tiêm tê dùng trong quá trình làm
30
Thuốc chống dị ứng CLORPHENIRAMIN chứa 4mg
Thận trọng
-
Tác dụng an thần
của Thuốc chống dị ứng
CLORPHENIRAMIN tăng lên khi uống rượu và
khi dùng đồng thời với các thuốc an thần khác.
-
Thận trọng khi dùng cho người có bệnh phổi
mạn tính, thở ngắn hoặc khó thở vì có nguy cơ
biến chứng đường hô hấp, suy giảm hô hấp và ngừng thở.
- Nguy cơ gây sâu răng ở những người bệnh điều trị Thuốc chống dị ứng
CLORPHENIRAMIN trong thời gian dài.
- Thận trọng khi dùng cho người cao tuổi.
Phụ nữ có thai và đang cho con bú
-
Phụ nữ có thai: Chỉ dùng Thuốc chống dị ứng CLORPHENIRAMIN khi
thật cần thiết. Không nên dùng thuốc trong 3 tháng cuối thai kỳ.
-
Phụ nữ đang cho con bú: Nên cân nhắc hoặc không cho con bú hoặc không
dùng thuốc, tùy theo mức độ cần thiết của thuốc đối với người mẹ.
Lái xe và vận hành máy móc
Thuốc chống dị ứng CLORPHENIRAMIN có tác dụng an thần, nên cần tránh
dùng cho người đang lái xe hoặc điều khiển máy móc.
Thuốc : Dextazyne 0,5mg
tác dụng chính là chống viem, chốnh dị ứng, ức chế miện
dịch
sử dụng sau nhấn mí
31
BÀI 4 : KỸ THUẬT ĐO VÀ TỈ LỆ TIÊU CHUẨN CỦA MÍ
Sử Dụng : Thước đo mắt. bút mí, cây nhấn tạo nếp
Tiến hành :
Cho khách nằm với tư thế thỏa mái
nhất
Sử dụng thước đo độ mí căn chỉnh
đến số 8m Văn nút định hình thước
ở bên cạnh để định hình độ cao
thực hiện đo đặt 1 điểm nhọn của thước
sát chân mi mắt một điểm còn lại ở trên
mí mắt ta sác định được điểm mí
sử dụng bút bi vạch để giữ cho chuẩn
nếp mí
- cho khách ngồi dậy trước giương
- Sử dụng cây nhấn định hình mí mắt
đặt cây vao điểm vùa vẽ nhấn nhẹ xuống .
cho khách thấy được độ mí phù hợp vừa
đẹp
- Khi khách đã ưng ý thì tiên hành nhấn
32
TỈ LỆ TIÊU CHUẨN CỦA MỘT ĐÔI MẮT ĐẸP
Sở dĩ mắt bồ câu luôn được đem ra để làm tiêu chuẩn cao nhất cho vẻ đẹp của đôi
mắt là bởi vì, đặc điểm của đôi mắt bồ câu thường tròn, to, có nếp mí với đường
viền mí mảnh nhưng rõ ràng, đẹp tinh tế, đường viền mí dưới mờ, nhãn cầu bên
trong mắt to tròn vừa vặn tiếp xúc với 2 bờ mắt, lòng trắng của mắt có màu vàng
nhạt chứ không trắng đục như nhiều người vẫn tưởng.
► Tỷ lệ vàng 1:1:1: Tỷ lệ vàng thường được đề cập đến như là tỷ lệ đẹp nhất,
cân đối và hoàn hảo nhất. Một đôi mắt hấp dẫn là đôi mắt đặt được tỷ lệ vàng.
Khi nhìn vào mắt của những người nổi tiếng bạn sẽ thấy đôi mắt rất đẹp và hài
hòa với tỷ lệ vàng 1:1:1 giữa hai mắt.
Tỷ lệ 1:1:1 là tỷ lệ mà khi nhìn vào chính diện khuôn mặt, chiều dài của hai mắt
và chiều dài giữa hai mắt có tỷ lệ bằng nhau. Theo số đông, đôi mắt hấp dẫn và
33
cuốn hút nhất là đôi mắt có tý lệ vàng 1:1:1 .Một khuôn mặt đẹp là khuôn mặt
hài hòa các bộ phận trên mặt và cũng dễ dàng trớ nên đẹp hơn khi mắt có tý lệ
vàng 1:1:1 .► 39% vs 42% Nếu tỷ lệ 1:1:1 đề cập đến chiều dài của mắt, thì
39% đề cập đến chiều rộng của mắt trên khuôn mặt, so với tỷ lệ 42% thì tỷ lệ
39% được xem là chuẩn hơn.
Chiều rộng của mắt có tỷ lệ 39% so với tổng chiều rộng của khuôn mặt được
xem là lý tưởng nhất.
Nếp mí mới cần tạo sẽ có độ rộng khoảng 4-5 mm để đảm bảo vừa rõ ràng, sắc
nét vừa hài hòa cân đối với khuôn mắt, gương mặt
34
BAI 5 : NHỮNG LƯU Ý TRƯỚC VÀ SAU KHI NHẤN MÍ
Lưu ý trước khi thẩm mỹ mắt
- Tư vấn khách hàng trước khi làm
- tránh chu kỳ kinh nguyệt, tránh dùng aspirin, vitamin E và một số thuốc thảo
dược.
- - Thăm khám vấ tư vẩn trước khi thực hiện kỹ thuật nhẩn mí mắt: Tất
nhiên, những khâu chuẩn bị đầu tiên là vô cùng cần thiết
- xác định được tình trạng mắt, mí mắt của khach trước khi thực hiện để đưa
ra được những giải pháp hợp lý nhất cho một phương pháp làm đẹp.
- - Vô khuẩn : Tiến hành vô khuẩn vùng mí mắt, xung quanh khu vực thực
hiện tiểu phẫu để quá trình nhan mi hạn chế được nhiễm trùng, đảm bảo yếu
tố an toàn tuyệt đối.
- - Đo vẽ đường viền mi mới: sẽ sử dụng thước đo chuyên dụng để do vẽ
cung đường viền mí mới, giúp cho thao tác kỹ thuật chính xác đến từng
milimet và đạt được yếu tố thẩm mỹ tối đa.
- - Gây tê: Mặc dù kỹ thuật nhấn mí mắt được thực hiện khá đơn giản,
nhưng chúng ta sẽ phải thử tê cho khách tại vung cánh tay trước để tránh bị
phản ứng phụ của tê đối với từng người
Lưu ý sau khi thẩm mỹ mắt
+ Chườm lạnh để giảm sưng trong vài ngày đầu
Các chuyên gia khuyến cáo mỗi lần chườm nên thực hiện trong khoảng 15 phút
và cứ cách mỗi nửa tiếng đồng hồ có thể chườm 1 lần và chườm liên tục trong
khoảng 3 ngày.
+ Ăn uống kiêng cử những món sau
-
Bạn nên ăn các loại hoa quả có chứa nhiều Vitamin A để tốt cho mắt như cà rốt,
rau củ xanh, chất đạm.. .Đồng thời, lưu ý tránh những món gây sẹo - làm mủ vết
thương như rau muống, thịt bò, nếp, hải sản...
-
Nên uống nhiều nước để giúp quá trình trao đổi chất thuận lợi, làm đẩy nhanh
quá trình hồi phục vết thương. Tránh uống chất cồn hoặc nước có ga, không nên
uống nước dừa vì nó làm giảm khả năng cầm máu.
35
+ Các loại thực phẩm cần kiêng:
Những loại thực phẩm cay, nóng, kiêng các loại đồ ăn có thể khiến tình trạng
viêm sưng phát triển nghiêm trọng hơn (thịt gà, thịt bò, rau muống, các loại đồ
uống có gas, cồn...)
Chăm sóc sau bấm mí: Chế độ nghỉ ngơi
Cách chăm sóc mắt sau bấm mí_ mắt tiếp theo mà bạn cần lưu tâm chính là chế
độ nghỉ ngơi, bạn nên:
+ Vệ sinh mắt thường xuyên để tránh tình trạng nhiễm trùng, vi khuẩn xấu xâm
nhập vào vùng mắt
+ Không nên làm việc quá lâu với màn hình máy tính, xem tivi, chơi diện thoại
di động... vì điều này sẽ khiến mắt rơi vào tinh trạng căng thẳng
+ Bạn không nên gãi hoặc dùng tay dụi mắt trực tiếp
+ Xây dựng chế độ nghỉ ngơi khoa học, không thức khuya, ảnh hưởng đến quá
trình hồi phục của mắt. Tốt nhất, bạn nên ngủ trước l0h đêm.
+ Nên ngủ trưa khoảng 1 tiếng
Chăm sóc sau bấm mí: uống thuốc
Việc chăm sóc sau nhẩn mí cần thiết tiếp theo là uống thuốc:
+ cho khách uống thuốc giảm đau theo chỉ dẫn :
+ atropin sulfat 0,25mg ngày 2 viên chia sáng tối 2v/llân
+ clorpheniramin 4 ngày 2 viên chia sáng tối 2v /1 lần
+ dextazyne 0,5
ngay 6 viên chia sấng tối 3v/l lần
Uống điều độ 3 đến 4 ngày liên tục .
36
BÀI 6 : HƯỚNG DẢN KỸ THUẬT TIÊM TÊ VÀ THỦ TÊ
Kỹ thuật tiêm tê :
KỸ THUẬT GÂY TÊ TẠI CHỖ
1. GIỚI THIỆU VỀ VÔ CẢM:
Vô cảm là yêu cầu đầu tiên trong phẫu thuật và các thủ thuật y khoa, với mục
đích làm cho bệnh nhân mất cảm giác một cách tạm thời.
-
Vô cảm toàn thể: Bệnh nhân được gây mê.
-
Vô cảm vùng: Bệnh nhân được gây tê.
Gây tê tại chỗ là một hình thức vô cảm vùng, bằng việc sử dụng thuốc tê ức chế
chuyên biệt và tạm thời luồng xung động thần kinh từ ngoại biên lên trung ương
làm tạm thời mất cảm giác, đặc biệt là cảm giác đau.
*
Các cách gây tê:
-
Gây tê bề mặt: da, niêm mạc...
-
Gây tê tiêm ngấm: dưới da, cân mạc...
-
Gây tê dẫn truyền: gây tê tủy sống.
-
Gây tê phong bế hạch, thần kinh giao cảm.
*
Việc phân loại thuốc tê, thời gian tiềm phục, thời gian tác dụng của mỗi loại
thuốc tê
Gây tê mí mắt chúng ta thực hiện kỹ thuật gây tê bề mặt
Cơ CHẾ TÁC DỤNG CỦA DUNG DỊCH TÊ TRONG TÊ TIÊM NGẤM:
Tình trạng vô cảm của tê tiêm ngấm có tính cách chớp nhoáng và sâu rộng do sự
kết họp hai yếu tố:
1/ Sự ngấm rộng và mau lẹ của dung dịch tê được bom vào với một áp lực cao
và một khối lượng lớn, do đó mà trực tiếp tẩm đều khắp các chi nhánh thần kinh.
2/ Sức căng của tổ chức bởi khối lượng dung dịch tê cao và dưới áp lực lớn bóp
nghẹt các mạc đoạn thần kinh trong phạm vi vùng mổ, do đó mà đạt kết quả mất
cảm giác tức khắc.
37
3.
những nguyên tắc lộ thuật cơ bản trong gây tê tại chồ:
3.1 Chuẩn bị :
-
Giải thích rõ cho bệnh nhân hiểu việc mình sắp làm, động viên sự hợp tác của
khách hàng
-
Chọn hỗn hợp, dung dịch tê thích hợp thể trạng khách hàng, tính chất cuộc mổ.
-
Thử phản ứng thuốc tê bằng kỹ thuật tếst thuốc tê trong da (thường ở 1/3 trên
trong da cẳng tay)
Nội dung kỹ thuật:
-
Đi từng lớp từ nông tới sâu, từ hẹp đến rộng, mũi kim sau dựa vào vùng tê của
mũi kim trước tạo ra, vừa gây tê vừa mổ phối hợp.
-Tận dụng các cân mạc, dùng một áp lực và khối lượng thuốc tê cao để gây sức
ép
CHUẨN BỊ PHƯƠNG TIỆN DỤNG CỤ:
Thuốc tê:
-
Lidocain 2 (Xyclocain).
-
Dung dịch thuốc tê Bupivacain 0,5 - 1.
-
Dung dịch thuốc tê Lidocain 0,25 .
Dụng cụ:
-
Bông vô khuẩn.
-
Khăn lỗ.
-
Bông tẩm Alcool lode 700.
-
Thuốc tê: Lidocain 2%
-
Ống tiêm 5 ml.
-
Kim rút thuốc
-
Kẹp bông
CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH GÂY TÊ TRONG VÀ DƯỚI DA:
Bước 1: Giải thích và động viên khách hàng hợp tác. Bom tiêm thuốc tê
Bước 2: Thử phản ứng thuốc tê, chờ 15 phút để đánh giá tếst.
Bước 3: Chuẩn bị dụng cụ, rửa tay thường qui, mang gant,..
Bước 4: sát trùng vùng da chuẩn bị thử
38
Bưóc 5: Lấy thuốc tê vào bơm tiêm, tránh bọt khí.
Bước 6: Định vị chỗ tiêm và hướng tiêm gây tê, cố gắng hạn chế số lần đâm
kim, nhưng đảm bảo thuốc tê phải bao quanh vùng định làm
Bước 7: Tiêm trong da một nốt phồng da cam cách mép vết thương hoặc vùng
phẫu thuật 1-1,5 cm, qua nốt này cho kim vào dưới da, hướng mũi kim theo
chiều đã định, vừa bơm thuốc vừa đâm kim tới, sao cho thuốc tê đi trước mũi
kim theo sau đến hết cả kim,
CÁC ĐƯỜNG TIÊM
2.1.
Tiêm trong da ( Intradermal = ID )
Tiêm vào lớp thượng bì có tác dụng tiêm ngừa, thử phản ứng thuốc hoặc để điều
trị.
-
Kim : cỡ số 26 - 27 G, dài khoảng : 0,6 - 1, 3 cm.
-
Tiêm 1 góc khoảng 15 độ so với bề mặt của da.
-
Vị trí tiêm: thường ở 2 bên bả vai ( cơ Delta ) hoặc 1/3 trên mặt trong cẳng tay.
-
Kỹ thuật tiêm:
+ Xác định vị trí tiêm.
+ Mang găng tay sạch.
+ Sát khuẩn vùng tiêm rộng từ trong ra ngoài khoảng 5cm, theo hình xoắn
óc.
+ Sát khuẩn tay lại.
+ Đuổi hết bọt khí.
+ Căng da, để mặt vát kim lên trên, đâm kim 1 góc 15 độ so với bề mặt
của da.
+ Bom 1/1 Oml thuốc ( nổi phồng not da cam ).
+ Rút kim nhanh theo hướng đâm kim vào.
+ Khoanh tròn nơi tiêm nếu thử phản ứng thuốc sau 15 phút xem lại ).
+ Tháo găng tay.
+ Dặn khách hàng không được chạm nơi vùng tiêm.
39
Hoàn thành quy trình thử tê không có hiện tượng gì say ra như mẩn đỏ ngứa
chúng ta có thê tiến hành tiêm tê lên vùng phẫu thuật cho khách hàng .
BÀI 7 HƯỚNG DẪN KỸ THUẬT LUỒN MŨI CHỈ - CẮT CHỈ
-
NẮM rõ nguyên tắc khâu da và kỹ thuật khâu da cơ bản
-
Thực hiên đúng thao tác cầm kẹp phân tích
-
Thực hiện đúng thao tác cầm kẹp mang kim
1. Chỉ dụng cụ và cách sử dụng .
-
Chỉ ( chỉ được sử dụng trong nhấn mí có 2 loại )
-
Chỉ tự tiêu và chỉ không tiêu
- Mỗi loại mang lại một kết quả khác nhau thường để độ bền cao ta dùng chỉ
không tiêu sẽ giữ đc nếp mí lâu hcm chỉ tự tiêu
-
Đường kính chỉ sử dụng trong nhấn mí 0,6 và 0,7
- Kim sử dụng trong nhấn mí là kim tam giác vì kim này có độ xuyên cắt
tốt vì da là mô rất dai
2. Kẹp phân tích có mấu .
Có 2 cách dùng kẹp phân tích có mấu
-
Cầm giống kiểu cầm viết.
-
Cầm theo kiếu cầm "bút lông" của cụ đồ.
3. Kẹp mang kim:
Có 2 cách cầm kẹp mang kim:
- Cầm theo cách cầm kéo hoặc kẹp cầm máu:
Thao tác này được thực hiện khi khâu ở nông,
mô không quá dai, quá dày và không cần sử
dụng hết độ sấp ngửa của bàn tay.
Cầm trong lòng bàn tay: Vòng thứ nhất của kẹp mang kim tựa vào mô cái, đầu
ngón cái tựa lên cành trên kẹp; ngón trỏ tựa lên một cành của kẹp hoặc giao
40
điêm giữa 2 cành đê điều chỉnh cho động tác chính xác; ba ngón còn lại nâng
cành thứ hai của kẹp.
Cách cầm này sử dụng khi khâu những mô quá dai hoặc quá dày (ví dụ cân cơ),
khi sử dụng cách cầm này biên độ xoay kẹp cũng nhiều hơn
Kim khâu được kẹp ở 1/3 sau thân kim và chỉ được kẹp ở đầu kẹp mang kim.
Khi khâu da có thể áp dụng nhiều loại mũi khâu khác nhau như mũi khâu rời,
mũi khâu liên tục, mũi khâu đệm...Tùy thuộc nhiều yếu tố như tính thẩm mỹ, vị
trí (mặt, chi, bụng, lưng...), lớp mỡ dưới da nhiều hay ít mà khoảng cách giữa
các mũi khâu có thể từ lmm đến lcm miễn sao giữa hai mũi khâu không có
khoảng hở. Khâu gần với chỉ nhỏ thì tốt và chắc hơn so với khâu xa với chỉ to.
Khi khâu, mũi kim hợp với mặt da một góc 600 , chiều lấy mô cũng theo chiều
cong của kim và phải lấy hết bề dày mô dưới da.
Kỹ thuật khâu :
cành thứ hai của kẹp.
Cầm trong lòng bàn tay: Vòng thứ nhất của kẹp
mang kim tựa vào mô cái, đầu ngón cái tựa lên
cành trên kẹp; ngón trỏ tựa lên một cành của
kẹp hoặc giao điểm giữa 2 cành để điều chỉnh
cho động tác chính xác; ba ngón còn lại nâng
41
Vẽ xác định đường mí mắt cần nhấn
- Vạch ra 5 điểm như hình
Sử dụng dao rạch rạch một đường khoảng 0,5cm tại điểm đỉnh ( điểm cao
nhất cua mí mắt
Sử dụng kẹp mang kim theo hướng dẫn trên
Đâm kim vào phân vùa rạch ở điểm đỉnh xuyên
qua da kim đi tiếp trong bì song song với thượng
bì khoảng 1/3 kim
Sau đó kim đâm xuống đến khii xuyên qua mô
dưới da
Kế tiếp kim đâm lên ở mặt phang da nông qua bì
và thượng bì đến điểm vạch thức 2 từ điểm đỉnh
qua
42
Tay trái cầm kẹp phân tích gắp giữ đầu kim
vừa đâm xuyên qua da từ dưới lên tay phải nhả
kìm giữ kim ra
Kéo rút đường kim sao cho để lại khoảng 5cm sợi
chỉ ở phía đầu ( điểm đỉnh vùa đặt kim vào
Tiếp theo đâm kim tiêp vào điểm vừa xuyên lên
sao cho đúng vào điểm đó không để sợi chỉ bị lộ
ra ngoài
móc tiếp đường tiếp theo từ điểm 2 đến điểm 3
điểm cuối mí mắt của V1 mắt .kéo rut sợi chỉ cho vừa
đến điểm cuối của mí mắt vạch thứ 3 từ đỉnh sang
bây giờ chúng ta quay ngược sợi chỉ lại và móc
ngược lại sao cho đầu mũi kim khi đâm lên vào
đúng điểm cạch thứ 2 vùa nay đã móc lên kéo rut
sợi chỉ
43
tiếp tục mũi tiếp lại móc từ điểm thứ 2 móc về
điểm đầu tiên ( điểm rAch phần phân chia mí
thành 2 phần) kéo rut sợi chỉ sao cho vùa kịch ko
được rút quá chặt
tiếp tục đâm kim tiếp Vi mí còn lại như phần bên
kia cho đến điểm cuối cùng và vòng ngược chỉ lại nhấn móc vào đúng từng điểm
đã vạch ra ở phần đầu sao cho 2 đầu sợi chỉ tiếp giao nhau ở điểm rạch đầu tiên .
kéo hết sợi chỉ sao cho không bị quá chặt cung không quá lỏng
-Buộc chỉ:
Các nguyên tắc căn bản của buộc chỉ trong phẫu thuật:
o Nút chỉ phải dẹt và chắc chắn, các nơ chỉ không bị lỏng.
o Nút chỉ càng nhỏ và hai đầu chỉ càng ngắn càng tốt để giảm thiểu nguy cơ
phản ứng của cơ thể đối với vật lạ.
o Khi buộc chỉ, nên tránh gây ra sự cọ xát giữa hai nhánh chỉ buộc để không làm
tổn thương sợi chỉ.
o Không dùng dụng cụ phẫu thuật để kẹp sợi chỉ (trừ việc kẹp ở đầu chỉ khi
buộc chỉ bằng dụng cụ). Động tác này có thể làm tổn thương sợi chỉ.
o Không làm căng sợi chỉ quá mức khi buộc. Động tác này có thể làm đứt sợi
chỉ hay đứt mô.
o Không buộc chỉ quá chặt. Động tác này có thể gây thiếu máu, dẫn đến hoại tử
mô.
o Sau khi đã buộc nơ thứ nhất, giữ cho một nhánh chỉ căng. Động tác này sẽ
tránh được lỏng nơ.
o Nơ buộc cuối cùng nên càng nằm theo chiều ngang càng tốt.
Hình 17- Các nút chỉ buộc chính trong ngoại khoa: nút vuông (hình trên trái) và
nút “của nhà ngoại khoa” Các nút chỉ có the được buộc bằng một tay, hai tay
hay bằng dụng cụ
44
Các nút thắt bằng tay .
Kỹ thuật cắt giấu chỉ.
Sau khi thắt nút thật chặn để khi căt chỉ không bị tung ra .
Ta sử dung keo cắt chỉ cắt sát nút thắt 0,3ml sao cho không quá sát để nút thắt
không bị bung ra .
Hoàn thành quy trình khâu luồn chỉ để có tay nghề vung chắc khi lên khách
hàng và bảo đảm cho sản phầm mình làm ra đạt kết quả cao chúng ta nên thực
hành tập nhấn trên da giả mà loại da phù hợp để tập nhất là da lợn
45
Da lợn có cấu trúc gần tương tự với da người chúng ta nên sư dụng một miếng
da lơn dày khoảng 1 cm
Sau đó cạo sạch phần lông ở phía trên và dung dung dịch nước rủa bát rủa thật
sạch miếng da sau đó sử dụng một bát nước sôi cho miếng da vào ngâm trong
bát nước khoảng 10 đến 15 phút
Viêc ngâm trong nước nóng giúp cho da mềm hơn để dễ sử dụng trong khi thực
hành sau đó cho ra dùng khăn khô hoạc giấy khô lau thật sạch và thực hiện quá
trình luyện tâp nhu trên mí khách
Chúc các bạn thành công
46
BÀI 8 : THỰC HÀNH QUY TRINH NHẤN MÍ TIÊU CHUẨN
VÀ CÁC BƯỚC NHẤN MÍ
THỜI GIAN: thực hiện nhấn mí 30 đến 45p
Dụng cụ sử dụng trong nhấn mí:
-
Chỉ nhấn mí 0,6 0,7
-
Kìm mang kim
-
Kìm phân tích
-
Cây nhấn
-
Thước đo mí
-
Thuốc tê
-
Kim tiêm
-
Bông
-
Dung dịch khu trùng
-
Bút bi
-
Dao rạch
-
Găng tay , khẩu trang
-
Các loại thuốc để cho khách sử dụng sau quá trình nhấn mí
47
