peel hóa chất

20/11/2025 • by Bs CKI Phẫu thuật tạo hình, tái tạo và thẩm mỹ Trương Hoài Anh • botox
Ảnh bìa sách PEEL HÓA CHẤT VÀ CÁC THỦ THUẬT TRONG THẨM MỸ DA của Maria Claudia Almeida Issa và Bhertha Tamura

Giới thiệu về “PEEL HÓA CHẤT VÀ CÁC THỦ THUẬT TRONG THẨM MỸ DA”

Cuốn sách “PEEL HÓA CHẤT VÀ CÁC THỦ THUẬT TRONG THẨM MỸ DA” là một tập trong series Clinical Approach and Procedures in Cosmetic Dermatology, được biên soạn bởi các chuyên gia hàng đầu Maria Claudia Almeida Issa và Bhertha Tamura.

Cuốn sách được giới thiệu là một tài liệu có giá trị vô cùng to lớn cho những ai muốn đào sâu kiến thức trong lĩnh vực Da liễu Thẩm mỹ, đặc biệt là các thủ thuật vật lý và hóa học. Với tuổi thọ ngày càng tăng, nhu cầu làm đẹp và duy trì sự trẻ trung đang trở nên phổ biến, và các liệu pháp thẩm mỹ da liễu đang ngày càng thay thế hoặc trì hoãn nhu cầu phẫu thuật tạo hình.

Tóm tắt Nội dung

Tập sách này tập trung vào tính ứng dụng và lợi ích của Các Thủ Thuật Vật Lý và Hóa Học trong thẩm mỹ da liễu. Nội dung cốt lõi bao gồm việc thảo luận chi tiết về:

  • Các loại Lột da Hóa chất (Peelings): Bao gồm peel nông (superficial), peel trung bình (medium) và peel sâu (deep). Đây là một công cụ quan trọng và hiệu quả về chi phí trong điều trị lão hóa da do ánh nắng (photoaging).
  • Các thủ thuật khác: Liệu pháp lạnh (Cryotherapy) và Điện phẫu thuật (Electrosurgery), thường được sử dụng để loại bỏ các tổn thương không thẩm mỹ, góp phần trẻ hóa da.

Ngoài ra, cuốn sách còn đề cập đến các tiến bộ lớn trong lĩnh vực thẩm mỹ da liễu như Botulinum Exotoxin (Botox), Chất làm đầy mô mềm (Fillers), Laser da và các quy trình dựa trên nguồn sáng, cung cấp kiến thức toàn diện về chỉ định, chống chỉ định, biến chứng và cách xử lý biến chứng của các thủ thuật này.

Đối tượng Độc giả

Cuốn sách được chuẩn bị như một “bách khoa toàn thư” hoàn chỉnh và là hướng dẫn trong thẩm mỹ da liễu, cực kỳ hữu ích cho cả những người đã làm việc trong lĩnh vực này và những người mới bắt đầu.

Trang: / 272
Trang 1 Trang 2 Trang 3
📖 Xem bản dịch / Nội dung văn bản

39
Jessner Peel
Chương 5
Jane Marcy Neffa Pinto, Lilian Mathias Delorenze, Wellington
Vasques, và Maria Claudia Almeida Issa
Jessner Peel
Tóm tắt

Jessner peel là một loại peel hóa
chất nông, gây phá hủy một phần hoặc
toàn bộ lớp thượng bì nhờ vào hoạt
động tiêu sừng. Dung dịch Jessner gồm
14% resorcinol, 14% salicylic acid và
14% lactic acid trộn với đủ 100ml
ethyl alcohol. Dung dịch này chủ yếu
được khuyến cáo sử dụng trong điều
trị tổn thương do ánh sáng (nếp nhăn
nhỏ, dày sừng ánh sáng, đốm nâu), các
rối loạn sắc tố (nám má, tăng sắc tố
sau viêm), và mụn trứng cá. Dung dịch
Jessner có thể sử dụng đối với tất cả
loại da theo phân loại của Fitzpatrick,
không cần giảm đau, bong da ở mức
độ chấp nhận được. Peel quá mức và
biến chứng thường hiếm xảy ra.
Nội Dung
• Giới thiệu
• Công thức peel và cơ chế tác động
• Lựa chọn bệnh nhân
• Chuẩn bị trước thủ thuật
• Tiến hành thủ thuật
• Chăm sóc da sau thủ thuật
• Biến chứng và tác dụng phụ
• Ghi nhớ
• Thuật ngữ
• Tham khảo
Giới thiệu

Dung dịch Jessner là một loại
dung dịch peel nông nhờ tác dụng
tiêu sừng (Jackson 2014; Salam 2013;
Sharquie 2006) được phát triển
bởi Max Jessner (Jacobs và Roenigk
2010). Loại peel này đã được sử dụng
hơn 100 năm trong điều trị các bệnh
lí da ở thượng bì (Jackson 2014; Bae
2013). Dung dịch peel này rất dễ sử
dụng và có thể dùng một mình hoặc
phối hợp với các loại peel khác (Salam
2013; Bae 2013).
Công thức Peel và cơ chế hoạt động

Dung dịch được tạo ra bởi Max
Jessner chứa 14% salicylic acid, 14%
lactic acid, và 14% resorcinol trong
95% ethanol (Jackson 2014; Salam
2013; Jacob và Roenigk 2010; Bae
2013; Bourelly và Lotsikas-Baggili
2005; Fischer 2010). Salicylic acid có
tính nhạy cảm ánh sáng, và lactic acid
hấp thụ nước trong không khí, do đó,
dung dịch này nhạy cảm với ánh sáng

40 Jessner Peel
và không khí (Jacob và Roenigk 2010;
Yokomizo 2013).

Cơ chế hoạt động chính của
dung dịch này dựa trên hoạt tính tiêu
sừng của salicylic acid và resorcinol
và hoạt tính phân giải thượng bì của
lactic acid (Jacob và Roenigk 2010;
Yokomizo 2013). Các chất tiêu sừng
trong dung dịch Jessner làm mất đi
sự kết dính giữa các tế bào sừng trong
lớp sừng và gây ra sự phù tế bào
và khoảng kẽ trong lớp thượng bì
phía trên sau khi bôi liên tục dung
dịch này. Điểm cuối lâm sàng trong
peel của Jessner là đỏ da và streaky
frost (lớp trắng như tuyết theo đường
dọc), dung dịnh có tính tự trung hòa
và có thể bôi nhiều lần trong một đợt
để gây tổn thương sâu hơn (Jackson
2014; Bourelly và Lotsikas-Baggili
2005).

Khả năng xâm nhập phụ thuộc
vào số lớp dung dịch được bôi, có thể
dùng dung dịch này để peel ở dộ sâu
trung bình. Peel này có thể gây cảm
giác bỏng rát, cảm giác này có thể
(hoặc không) được làm dịu bằng nước
và dung dịch này có thể dùng trên mặt
hoặc trên cơ thể (cổ, lưng), tuy nhiên
mỗi lần chỉ nên tiến hành thủ thuật
trên một vùng để tránh nguy cơ bị ngộ
độc salicylic acid (Jacobs và Roenigk
2010; Bae 2013; Yokomizo 2013).

Ngộ độc salicylic acid là một
biến chứng hiếm trong peel da bằng
salicylic acid, biến chứng này chỉ
xảy ra khi bôi một vùng da quá rộng.
Dấu hiệu ngộ độc trên lâm sàng gồm
chóng mặt, ù tai, và ngộ độc hệ thần
kinh trung ương (Laudau 2008).
Lựa chọn bệnh nhân

Dung dịch Jessner được sử dụng
như là một chất để peel nông và có thể
sử dụng trong nhiều trường hợp như
mụn trứng cá, tăng sắc tố sau viêm,
nám má nhẹ, cải thiện cấu trúc da,
và lão hóa da ánh sáng (Salam 2013;
Jacobs và Roenigk 2010; Bourelly và
Lotsikas-Baggili 2005; Zakopoulou và
Kontochristopoulos 2006). Tuy nhiên,
một vài tác giả khuyến cáo không nên
chỉ sử dụng dung dịch Jessner đơn lẻ
trong điều trị những rối loạn sắc tố,
mụn trứng cá hoặc sẹo (Salam 2013).

Mặc dù peel nông có thể áp
dụng cho tất cả phân loại da theo
Fitzpatrick (I đến IV) (Zakopoulou và
Kontochristopoulos 2006), nhưng cần
phải cẩn thận khi dùng dung dịch Jess­
ner trong điều trị bệnh nhân có phân
loại da sạm màu hơn (IV đến VI) vì
nguy cơ biến chứng cao như tăng sắc
tố sau viêm (PIH) và giảm sắc tố (Jack­
son 2014; Salem 2013).

Khi lấy tiền sử bệnh nhân cần
tập trung khai thác những rối loạn da
như các loại viêm da, vảy nến (nguy cơ
xảy ra hiện tượng Koebner sau peel),
hoặc nhiễm virus HSV (Jackson 2014;
Salam 2013; Yokomizo 2013; Landau
2008; Langsdon và Shires 2012). Với
bệnh nhân có tiền sử nhiễm HSV, cần
điều trị dự phòng bắt đầu từ 2 ngày
trước khi peel và tiếp tục 7-14 ngày
sau thủ thuật. Những bệnh nhân bị
suy giảm miễn dịch như bệnh nhân
HIV không nên làm thủ thuật thường
xuyên vì nguy cơ nhiễm khuẩn sau
peel cao (Salam 2013).

Bệnh nhân có tiền sử phơi
nhiễm phóng xạ, ức chế miễn dịch,
bệnh tự miễn và bệnh collagen

41
Jessner Peel
mạch máu có thể làm chậm quá trình
lành sau peel (Salam 2013; Langsdon
và Shire 2012).

Ngoài ra cần hỏi về tiền sử dùng
thuốc. Khuyến cáo bệnh nhân chờ từ
6-12 tháng sau khi ngưng liệu pháp
isotretinoin trước khi tiến hành peel vì
isotretinoin có thể làm giảm khả năng
lành của da (Salam 2013; Langsdon
và Shires 2012). Nên ngưng retinoids
bôi 1 tuần trước khi peel. Cũng cần
xác định rõ nếu bệnh nhân có sử dụng
các thuốc làm tăng tính nhạy cảm ánh
sáng (ví dụ: minocycline, amiodarone,
thiazides, tricyclic antidepressants)
và các điều trị hệ thống làm tăng nguy
cơ tăng sắc tố sau viêm như thuốc
tránh thai đường uống, điều trị hor­
mone, tiền sử hút thuốc, sẹo lồi/phì
đại trước đây, và các thủ thuật thẩm
mỹ đã làm (Salam 2013).

Với những bệnh nhân khai rằng
họ có da nhạy cảm, cần phải thực hiện
test dị ứng (patch-test) với chất peel
trên một vùng da nhỏ, kín đáo trước
khi đưa ra quyết định peel hóa chất
toàn bộ mặt (Langsdon và Shires
2012; Cortez 2014).

Hỏi nghề nghiệp của bệnh nhân
cũng rất quan trọng, đặt biết đối với
những công việc ngoài trời (Salam
2013).

Cũng như đối với tất cả các thủ
thuật thẩm mỹ khác, bác sĩ nên hiểu
những mong muốn bệnh nhân và trao
đổi về những kỳ vọng thực tế của thủ
thuật. Bệnh nhân cũng phải hiểu được
vai trò hết sức quan trọng của họ trong
việc chăm sóc da trước và sau khi peel.
Như thông lệ, cần máy ảnh chất lượng
tốt để ghi lại hình ảnh bệnh trước và
sau thủ thuật (Langsdon và Shires
2012).

Chống chỉ định của Jessner peel
là: phụ nữ có thai, bệnh nhân điều
trị isotretinoin trong vòng 6 tháng
gần đây và đang nhiễm HSV (Fischer
2010).
Chuẩn bị cho thủ thuật

Trong lần “tư vấn đầu tiên” và
sau khi bệnh nhân được lựa chọn để
áp dụng Jessner peel cần phải thảo
luận với bệnh nhân về quy trình peel,
chăm sóc sau peel, các biện pháp thay
thế, nguy cơ, biến chứng, hạn chế và
những điều trị thêm có thể. Không hứa
trước với bệnh nhân rằng thủ thuật sẽ
mang lại kết quả hoàn hảo (Langsdon
and Shires 2012).

Chụp ảnh toàn bộ mặt và những
vùng đặt biệt quan tâm (Salam 2013;
Langsdon and Shires 2012).

Cần phải quyết định thời gian
peel để lên kế hoạch điều trị trước thủ
thuật. Thời gian điều trị bắt đầu từ 2-4
tuần trước thủ thuật, và ngưng trước
khi làm thủ thuật 3 ngày (Salam 2013).
Mục đích là để làm tăng hiệu quả của
peel da. Mục đích chính của giai đoạn
này là làm mỏng lớp sừng, tăng độ
xâm nhập đồng điều của chất peel,
nhanh lành vết thương và giảm nguy
cơ bị PIH và/hoặc sẹo. Điều trị trước
thủ thuật với tretinoin 0.05% cream ít
nhất 2 tuần có thể thúc đẩy quá trình
lành của da. Những chất khác có thể
được sử dụng trong điều trị trước thủ
thuật gồm có hydroquinone, salicylic
acid, glycolic acid, kojic acid, retinol,
azelaic acid, topical steroids, và chống
nắng (Jackson 2014).

Bệnh nhân nên được biết về
những nguy cơ có thể xảy ra như khô

42 Jessner Peel
da, kích ứng và đỏ da. Chống nắng sẽ
giúp làm giảm nguy cơ bị tăng sắc tố
sau viêm. Do đó, giáo dục bệnh nhân
là yếu tố cần thiết để làm giảm nguy cơ
xuất hiện biến chứng (Salem 2013).
Tiến hành thủ thuật

Bước đầu tiên luôn có trong
mỗi protocol peel đó là bước làm sạch
trước khi bôi hóa chất peel (hình 1).
Khả năng thấm đồng đều của chất peel
là rất quan trọng, từ đó sẽ cho kết quả
đồng nhất. Kỹ thuật bôi hóa chất rất
đơn giản. Đầu tiên da được lau sạch
toàn bộ và cẩn thận với alcohol hoặc
cetone để loại bỏ lớp mỡ và dầu cũng
như loại bỏ những mạnh vụn tế bào
chết lớp sừng. Da sau đó được rửa
sạch và làm khô (Monheit và Chastain
2001).

Bước tiếp theo sử dụng gạc, cot­
ton, dụng cụ bôi để bôi hóa chất peel
(hình 2). Bôi tiếp một lớp mới sau 3-4
phút. Rửa với nước để loại bỏ toàn bộ
tinh thể salicylic acid (Jacobs và Roe­
nigk 2010; Yokomizo 2013). Khi tăng
số lớp hóa chất, sẽ làm tăng lượng hóa
chất bôi lên da và do đó sẽ làm tăng
độ xâm nhập vào da (Bourelly và Lot­
sikas-Baggili 2005).
Độ sâu:

- Độ I: một lớp. gây đỏ da nhẹ
và tạo một lớp tuyết trên bề mặc giống
như bột, có thể dễ dàng loại bỏ.

- Độ II: hai đến ba lớp. Đỏ da
nhiều hơn, xuất hiện các đốm frost ở
các vùng da mỏng. Cảm giác bỏng rát
từ nhẹ đến trung bình (hình 3).

- Độ III: ba đến bốn lớp. Gây
đỏ da nặng, xuất hiện frost, cảm giác
bỏng rát trung bình (Jacobs và Roe­
nigk 2010; Yokomizo 2013) (hình 4)
Chăm sóc da sau thủ thuật

Nên ghi lại những hướng dẫn
chăm sóc sau peel ra giấy cho bệnh
nhân. Nên bôi chất làm mềm nhẹ
(emollients) ngay sau khi peel và tránh
làm ướt vùng da mặt trong 24h, sau
đó có thể rửa mặt như bình thường.
Hình 1: Những vật dụng cần thiết cho thủ
thuật gồm lotion rửa mặt, alcohol 70%
(hoặc aceton), cotton, gạc và dung dịch
peel.
Hình 2: Bắt đầu peel ở vùng trán, sau đó
đến vùng má, sống mũi, cằm và quanh
miệng.

43
Jessner Peel
Nếu bệnh nhân có đỏ da nặng, có thể
cho steroid uống hoặc bôi. Đều quan
trọng là khuyên bệnh nhân sử dụng
chống nắng phổ rộng (broad-spec­
trum) và tránh ánh sáng mặt trời
(Salam 2013) (hình 6).
Biến chứng và tác dụng phụ

Có thể làm giảm nguy cơ biến
chứng bằng cách lựa chọn kĩ bệnh
nhân, lựa chọn peel (thể tích, peel
phối hợp, và kĩ thuật bôi), giáo dục
bệnh nhân, chuẩn bị tiền peel, trong
peel và chăm sóc sau peel tốt (Salam
2013).

Các biến chứng sau peel gồm
có: chậm lành da, nhiễm khuẩn hoặc
HSV, đỏ da kéo dài, viêm da tiếp xúc,
sẹo bất thường, bất thường cấu trúc
da, PIH, và giảm sắc tố (Jackson 2014;
Salam 2013). Nhận diện và xử lí sớm
là bước quan trọng để giải quyết các
biến chứng. Tăng sắc tố sau peel có
thể được điều trị bằng retinoids bôi và
chất làm trắng da như hydroquinone
(Jackson 2014).
Ghi nhớ

• Dung dịch Jessner là một loại
chất peel nông với hoạt tính tiêu sừng,
thành phần gồm salicylic 14%, lactic
acid 14% và resorcinol 14% trong
ethanol 95%.

• Dung dịch này khuyến cáo sử
dụng để điều trị lão hóa da ánh sáng,
nám má nhẹ, tăng sắc tố sau viêm,
mụn trứng cá và cải thiện cấu trúc da.

• Các biến chứng sau peel gồm
chậm lành da, nhiễm khuẩn và HSV, đỏ
da kéo dài, viêm da tiếp xúc, sẹo bất
thường, bất thường cấu trúc da, PIH,
và giảm sắc tố.

• Chống chỉ định của Jessner
peel: phụ nữ có thai, bệnh nhân điều
trị isotretinoin trong vòng 6 tháng gần
đây, bệnh nhân đang nhiễm HSV.
Hình 3: Peel ở độ II: đỏ da và các điểm
frost
Hình 4: peel ở độ III: đỏ da thấy rõ hơn.

44 Jessner Peel
Hình 5: Hình ảnh trước (a) và sau (b) Jessner peel (2 lần peel) để cải thiện cấu trúc
da và lão hóa do ánh sáng ở một phụ nữ có phân độ Fitzpatrick III.
Hình 6: Nhìn kĩ hơn có sự cải thiện đáng kể các nếp nhăn vùng quanh ổ mắt sau 2 lần
peel với dung dịch Jessner.

45
Jessner Peel
Thuật ngữ

Viêm da tiếp xúc: là hiện tượng
viêm xảy ra khi bề mặt da tiếp xúc với
một chất có nguồn gốc bên ngoài cơ
thể. Có 2 loại viêm da tiếp xúc là viêm
da tiếp xúc kích ứng và viêm da tiếp
xúc dị ứng.

Phân loại da Fitzpatrick: là hệ
thống phân loại da bằng số la mã dựa
vào màu sắc da của con người. Phân
loại này được đưa ra bởi Thomas B.
Fitzpatrick, và được xem như là một
phân loại phản ánh sự đáp ứng của da
với tia UV.

Jessner peel: là một loại peel
nông, gây phá hủy một phần hoặc toàn
bộ lớp thượng bì nhờ vào hoạt động
tiêu sừng. Dung dịch Jessner gồm 14%
resorcinol, 14% salicylic acid và 14%
lactic acid trộn với đủ 100ml ethyl al­
cohol.

Ngộ độc salicylic acid: đây là
biến chứng hiếm của peel da bằng sal­
icylic acid khi peel trên một vùng da
quá rộng. Các biểu hiện lâm sàng gồm
chóng mặt, ù tai, ngộ độc hệ thần kinh
trung ương.
Tài liệu tham khảo

• Bae BG, Park CO, Shin H, Lee
SH, Lee YS, Lee SJ, Chung KY, Lee KH,
Lee JH. Salicylic acid peels versus
Jessner’s solution for acne vulgaris:
a comparative study. Dermatol Surg.
2013;39(2):248–53.

• Bourelly PE, Lotsikas-Baggi­
li AJ. Chemexfoliation and superficial
skin resurfacing. In: Burgess CM, ed­
itor. Cosmetic dermatology. Berlin:
Springer; 2005. p. 53–83.

• Cortez EA, Fedok FG, Mangat
DS. Chemical peels: panel discussion.
Facial Plast Surg Clin North Am. 2014;
22(1):1–23.

• Fischer TC, Perosino E, Poli F,
Viera MS, Dreno B, Cos- metic Derma­
tology European Expert Group. Chem­
ical peels in aesthetic dermatology: an
update 2009. J Eur Acad Dermatol Ve­
nereol. 2010;24(3):281–92.

• Jackson A. Chemical peels. Fa­
cial Plast Surg. 2014;30:26–34.

• Jacobs A, Roenigk R. Superfi­
cial chemical peels. In: Draelos ZD, ed­
itor. Cosmetic dermatology – products
& proce- dures. Oxford: Wiley-Black­
well; 2010. p. 377–83.

• Landau M. Chemical peels.
Clin Dermatol. 2008; 26(2):200–8.

• Langsdon PR, Shires CB.
Chemical face peeling. Facial Plast
Surg. 2012;28:116–25.

• Monheit GD, Chastain MA.
Chemical peels. Facial Plast Surg Clin
North Am. 2001;9:239–55.
Salam A, Dadzie OE, Galadari H. Chem­
ical peeling in ethnic skin: an update.
Br J Dermatol. 2013;169 Suppl 3:82–
90.

• Sharquie KE, Al-Tikreety MM,
Al-Mashhadani SA. Lactic acid chemi­
cal peel as a new therapeutic modality
in melasma in comparison to Jessner’s
solution chemical peel. Dermatol Surg.
2006;32:1429–36.

• Yokomizo VMF, Benemond
TMH, Chisaki C, Benemond PH. Chem­
ical peels: review and a practical ap­
plica- tions. Surg Cosmet Dermatol.
2013;5(1):58–68.

• Zakopoulou N, Kontochris­
topoulos G. Superficial chemi- cal
peels. J Cosmet Dermatol. 2006;5:246–
53.

46
Phối hợp các loại Peel hóa chất nông
Chương 6
Phối hợp các loại Peel hóa chất nông
Joao Carlos, Lopes và Carlos Gustavo Wambier
Tóm tắt

Sự kết hợp của các loại peel da
nông có thể giúp đạt kết quả tốt hơn
bằng cách tạo ra kết quả nhanh nhờ
tăng tốc độ tái tạo của lớp thượng bì.
Để giúp da đồng nhất về tone màu, thì
kết hợp điều trị với laser Q-switched
frequency-doubled Nd-YAG (532 nm)
và Q-switched Nd-YAG (1064 nm) có
thể sẽ là một lựa chọn mang lại hiệu
quả. Trong trường hợp bệnh trứng
cá đỏ (rosacea), có thể phối hợp peel
nông với máy IPL (intensive pulsed
light). Ngoài ra peel nông có thể kết
hợp với liệu pháp ni –tơ lỏng và kem
5-fluorouracil để cải thiện tình trạng
dày sừng ánh sáng. Bất kì một loại peel
nông hay trung bình nào cũng có thể
được thực hiện sau ablative fraction­
ated laser (laser vi điểm xâm lấn) để
đặt kết quả đồng nhất hơn cũng như
tăng hiệu quả sau cùng. Chương này
sẽ mô tả cách để chúng ta phối hợp
tốt hơn các loại peel khác nhau và cập
nhật những thay thế đối với các công
thức cổ điển cũng như cách phối hợp
peel da.
Nội Dung
• Giới thiệu
• Chỉ định và hạn chế
• Phối hợp với các loại peel và hóa
chất khác.
• Phối hợp với Q-switched Nd-YAG
laser
• Phối hợp với IPL
• Sạm da ánh sáng, tàn nhan và tăng
sắc tố sau viêm
• Mụn
• Phối hợp với laser vi điểm xâm lấn.
• Ghi nhớ
• Tham khảo
Giới thiệu

Mục đích của peel nông là làm
tăng tốc độ tối đa quá trình tái tạo
và thay thế lớp thượng bì mà bình
thường cần một thời gian dài để đạt
được. Chỉ định tốt nhất cho peel nông
đó là các trường hợp tăng sắc tố sau
viêm (PIH), hoặc sẹo đỏ nông do mụn.
Nếu không có những tổn thương mụn
mới, thì những tổn thương trên có thể
tự lành với tốc độ của nó trong 6-12
tháng. Nhưng với peel nông, thì thời

47
Phối hợp các loại Peel hóa chất nông
gian lành là từ 1-2 tháng. Mặt khác,
khi bệnh nhân sử dụng các sản phẩm
bôi như retinoids, hoặc azelaic acid thì
thời gian lành sẽ nằm trong khoảng
giữa của thời gian lành tự nhiên và sau
khi peel hóa học.

Những chỉ định tốt khác của
peel nông gồm có mụn trứng cá, da
dầu, nám má, da không đều màu, và
tăng sắc tố. Khi phối hợp peel nông
với các phương pháp điều trị khác để
cải thiện cùng một tình trạng da thì
có thể làm tăng hiệu quả điều trị theo
phương thức hợp lực. Mục tiêu của
chương này là cung cấp cho người đọc
cách sử dụng phối hợp các peel nông
để làm tăng hiệu quả tối đa nhưng vẫn
đạt được sự an toàn cần thiết.
Chỉ định và hạn chế

Chỉ định chính của việc phối
hợp các thủ thuật peel nông là làm
tăng độ mạnh/ khả năng xâm nhập và
tốc độ lành thông qua sự tăng sinh và
thay thế các lớp thượng bì. Chỉ định
làm tăng tốc độ phục hồi của da là chỉ
định chính trong việc phối hợp peel
nông với các điều trị khác. Một vài loại
peel nông không làm tăng tốc độ tăng
sinh và thay thế các lớp thượng bì, do
đó cần một khoảng thời gian như bình
thường để làm bong da các vùng điều
trị. Công nghệ IPL và frequency-dou­
bled quality- Switched nd YAG laser,
532 nm khi điều trị thường làm sạm
da bề mặt tạm thời do hình thành lớp
vảy màu nâu ở những vị trí của nám
da và tàn nhang.

Hạn chế chính của việc phối hợp
peel nông là bệnh nhân không chịu
được những kích ứng và đau rát tạm
thời. Hầu như không có bệnh nhân dị
ứng với hóa chất peel.
Phối hợp với các loại Peel và hóa
chất khác

Sử dụng peel nông trước peel
trung bình với trichloroacetic acid
35-40% sẽ làm tăng khả năng xâm
nhập, làm tăng đồng bộ hiệu quả peel
(Cook và Cook 2000; Monheit 2001).
Có thể làm điều tương tự với các loại
peel nông khác như peel salicylic acid
30% trước khi peel retinoic acid 5%.
Trong hình 1, khi phối hợp peel, với
nhiều lần điều trị, giúp kiểm soát mụn
và giảm sẹo mụn sớm hơn so với chỉ
peel nông. Retinoic 5% dễ phối hợp vì
nó không gây ra các phản ứng tức thời
do có độ PH sinh lí và cơ chế hoạt động
thông qua nuclear receptor (thụ thể
nhân tế bào) của retinoic acid và điều
hòa tổng hợp protein (Cuce 2001; Iva­
nov 2006). Phản ứng của retinoic acid
xảy ra vài ngày sau đó, và biểu hiện lâm
sàng rõ nhất sau 48h và kéo dài từ 48-
72 h sau đó. Do đó, có thể bôi retinoic
acid ngay sau khi loại bỏ hóa chất dư
hay trung hòa acid của peel nông như
TCA 10%, salicylic acid 30% trong
dung môi hydroalcoholic (SA-HA)
hoặc polyethylene glycol (SA-PEG),
dung dịch Jessner, dung dịch Jessner
điều chỉnh, và glycolic acid. Có thể làm
tăng hiệu quả của tretinoin 5% bằng
cách sử dụng kem chống nắng, kem
màu phủ da, vì chúng sẽ giúp bảo vệ
tretinoin (rất nhạy cảm với ánh sáng)
chống lại tia sáng nhìn thấy và tia UV.

Để cải thiện nhân mụn (come­
done), trứng cá, và giãn lỗ chân lông,
chúng tôi ưa chuộng sử dụng SA-PEG
hơn (Dainichi 2008a, b), bôi lên mặt
5-10 phút sau đó lau sạch bằng vải tơ

48
Phối hợp các loại Peel hóa chất nông
Hình 1: Phối hợp các loại peel nông trong điều trị sẹo trứng cá nông kèm theo tình trạng
tăng sắc tố sau viêm và đỏ da. Các liệu trình được tiến hành cách nhau mỗi 2 tuần. Ảnh
bên trái: sau một liệu trình điều trị với salicylic acid 30% trong dung môi hydroalcohol­
ic, theo sau bởi quá trình loại bỏ lớp frost giả và mặt nạ retinoic acid 5% trong 4h. Bên
phải: hình ảnh sau liệu trình điều trị thứ 2.
ướt mềm, sau đó làm mặt nạ tretinoin
5% (dung dịch hoặc kem). Sự kết hợp
này đặc biệt hiệu quả vì SA-PEG không
bay hơi và có thể thấm sâu vào lỗ chân
lông. Sau khi bôi tretinoin dạng all-
trans retinoic acid (ATRA), hỗn hợp
peel lắng trong lỗ chân lông cùng với
lớp mặt nạ tretinoin sẽ tạo ra hiệu quả
ngay bên trong lỗ chân lông đối với cả
2 hóa chất.

Khi gặp bệnh nhân bị dày sừng
ánh sáng (AK) ở mặt, mức độ lan rộng
và có thể sờ được, để điều trị toàn bộ
diện tích có nguy cơ ung thư hóa có
thể sử dụng nhiều phương pháp như
liệu pháp quang động (PDT), peel da
nông hoặc sâu, hoặc dermabrasion.
Nhưng những phương pháp này đòi
hỏi bệnh nhân phải lên kế hoạch và
chuẩn bị cho thời gian hồi phục sau
điều trị. Những thủ thuật ít đau hơn
và không cần thời gian hồi phục gồm
liệu pháp quang động ánh sáng ban
ngày và peel nông, kèm chấm ni-tơ
lỏng lên vùng AK dày hoặc làm mặt
nạ Efudex, kem 5-fluorouracil (5-FU).
Lựa chọn peel nông trong trường hợp
này có thể là SA-HA 30%, dung dịch
Jessner, glycolic acid 70%, pyruvic
acid 40-50%. Có thể lặp lại những thủ
thuật này mỗi 7-14 ngày cho đến khi
AK không còn sờ được, thường thì sau
5 liệu trình. Quy trình thực hiện phối
hợp có thể tiến hành như sau: peel py­
ruvic acid trong 5 phút, trung hòa với
dung dịch sodium bicarbonate 10%
thấm trong vải rayon mềm, và chà bằng
gạc xốp trên vùng bị AK hoặc áp dụng
thủ thuật nạo (curettage), bôi Metvix
vào ban ngày trong 2h, hoặc phơi dưới
đèn LED đỏ 37J/cm2 (khoảng 7 phút),
áp nito lỏng ở vùng AK dày, và làm mặt
nạ 5-FU 5% trong 4-6h.

49
Phối hợp các loại Peel hóa chất nông
PHỐI HỢP VỚI LASER Q-SWITCHED
ND-YAG

Để tối đa hóa khả năng làm
trắng da của laser Q-switched 1064
nm tần số thấp (laser toning), thì các
loại peel nông như peel dung dịch
Jessner điều chỉnh (hình 2), gồm acid
lactic 17%, salicylic acid 17%, và 8%
citric acid trong dung môi ethanol
(Rohrich và Herbig 2009), hay peel
retinoic acid 5% (hình 3 và 4) cũng có
thể được áp dụng (Cuce 2001; Cuce và
Bertino 2002).

Mặc dù các bệnh sạm da và nám
má có thể chỉ cần điều trị với kem điều
trị làm trắng và chống nắng, việc phối
hợp với uống tranexamic acid và/hoặc
một vài liệu trình laser Q-switched
Nd-YAG tần số thấp (Shin 2013) có thể
giúp làm tăng hiệu quả. Đối với một
vài bệnh nhân, thậm chí với những
người rất tuân thủ điều trị ở nhà thì
dùng chống nắng và laser đôi khi chỉ
giúp cải thiện nhẹ tình trạng bệnh.
Trong những trường hợp này, phối
hợp thêm với peel nông có thể giúp
mang lại hiệu quả (hình 2,3,4 và 5).

Điều trị laser switched Nd-YAG
532 nm tại chỗ hoặc toàn bộ mặt có thể
gây ra các đốm nâu ở vị trí được điều
trị sạm da. Sự bong tự nhiên của các
lớp vảy nâu dày thường mất khoảng
10 ngày. Điều trị ở mặt thường cần
khoảng 7-11 ngày để hồi phục thượng
bị hoàn toàn, viêm thường nhanh cải
thiện hơn và ít khả năng tăng sắc tố
sau viêm hơn. Tuy nhiên, ở những vị
trí như bàn tay và chân có thể phải cần
trên 6 tuần thì đốm nâu mới biến mất,
thỉnh thoảng để lại tăng sắc tố nhẹ. Do
đó các loại peel nông có thể được tiến
hành ngay sau khi điều trị laser để rút
ngắn thời gian lành vết thương, cũng
như có thể tiến hành sau khi hồi phục
để cải thiện tình trạng tăng sắc tố sau
viêm (PIH). Phối hợp điều trị laser
Hình 2: Phối hợp laser Q-switched Nd-YAG 1064 nm theo sau bởi 2 lớp dung dịch
Jessner điều chỉnh trong điều trị nám má khó trị kèm tăng sắc tố sau viêm do mụn. Các
liệu trình được thực hiện mỗi 2 tuần. Trái: trước điều trị, Phải: sau 6 liệu trình điều trị

50
Phối hợp các loại Peel hóa chất nông
Hình 3: Điều trị nevi, da nhiều dầu và rám má ở mặt và cổ (hình ảnh mặt phải bệnh
nhân). Điều trị hàng tháng với laser Q-switched Nd-YAG 1064nm, theo sau bởi peel
retinoic acid 5%. Trái: trước. Phải: sau 4 liệu trình.
Hình 4: Điều trị nevi, da nhiều dầu và rám má ở mặt và cổ (hình ảnh mặt phải bệnh
nhân). Điều trị hàng tháng với laser Q-switched Nd-YAG 1064nm, theo sau bởi peel
retinoic acid 5%. Trái: trước. Phải: sau 4 liệu trình.

51
Phối hợp các loại Peel hóa chất nông
Hình 5: Điều trị nám má và tang nhan hàng tháng với laser switched Nd-YAG 1064nm
và 532 nm tiêu điểm, sau đó peel bằng mặt nạ retinoic acid 5% trong 3h. Trái: trước.
Phải: sau 2 liệu trình.
Hình 6: Điều trị sạm da hàng tháng với laser switched Nd-YAG 1064nm và 532 nm tiêu
điểm, sau đó peel bằng mặt nạ retinoic acid 5% trong 3h. Trái: trước. Phải: sau 3 liệu
trình.

52
Phối hợp các loại Peel hóa chất nông
Hình 7: Điều trị sạm da mặt hàng tháng với laser switched Nd-YAG 1064nm và 532
nm tiêu điểm, sau đó peel bằng mặt nạ retinoic acid 5% trong 3h. Trái: hình ảnh mũi
phóng to. Phải: hình ảnh mũi phóng to, sau 3 liệu trình.
switched Nd-YAG 532 nm với retinoic
acid peel 5% giúp làm giảm thời gian
hồi phục và cho kết quả khả quan hơn
(hình 6 và 7).
Phối hợp với IPL

Intensive pulsed light (IPL) là
một thiết bị sử dụng đèn phát ra một
tia sáng đa sắc, không kết dính và
không chuẩn trực, với bước sóng từ
400- 1200nm. Sự lựa chọn bước sóng
trong điều trị tùy thuộc vào phần đích
ở da (melanin, hồng cầu và nước) và
cả porphyrins được tổng hợp bởi vi
khuẩn như của vi khuẩn Propionibac­
terium acnes (Babilas 2010; DiBerna­
do và Ponzer 2016; Degitz 2010; Choi
2010).

IPL được sử dụng phối hợp với
các loại peel nông trong điều trị các
thay đổi sắc tố và mụn trứng cá ở trên
mặt.
Sạm da do nắng, tàn nhang và tăng
sắc tố sau viêm

Trong các bệnh lí này, sử dụng
IPL với bước sóng được hấp thụ bởi
melanin (giữa 520 và 540nm, với xung
ngắn 10-15 ms). Với tăng sắc tố sau
viêm, chúng ta có thể sử dụng xung
dài và năng lượng thấp, với số lần điều
trị nhiều hơn.

Mất khoảng 5-10 phút mới
có thể thấy được phản ứng thay đổi
trên da ở vùng được điều trị. Chúng
ta sẽ quan sát thấy vùng tổn thương
bị sạm hơn ở vùng da có nhiều mela­
nin, kèm theo hiện tượng phù và đỏ da
xung quanh xen kẻ với những vùng da
không bị tổn thương (vùng da không
thuộc tiêu điểm điều trị).

53
Phối hợp các loại Peel hóa chất nông

Sau đó bôi tretinoin 5% (dạng
all-trans retinoic acid (ATRA)). Không
sử dụng cồn và những chất kích ứng
khác vì chúng có thể gây bỏng. Hướng
dẫn bệnh nhân loại bỏ acid thừa một
cách nhẹ nhàng sau 4-6h bôi. Có thể
tẩy bằng nước tẩy trang micellar
(nước chứa các tinh thể dầu). Ở những
bệnh nhân bị đỏ da nặng và/hoặc có
cảm giác bỏng ngay sau khi thực hiện
IPL, thì nên bôi kèm corticosteroid
nhẹ hoặc vừa. Ngoài ra cũng khuyến
cáo nên sử dụng corticosteroid ngắn
ngày sau IPL trong điều trị PIH trong
1 tuần ở nhà. Không nên điều trị PIH
quá mạnh để tránh làm nặng thêm
tình trạng tăng sắc tố.

Các thương tổn tế bào melanin
được điều trị với IPL sẽ trở nên tối
hơn, bong vảy và đóng mài. Tretinoin
sẽ làm tăng sự tăng sinh và thay thế
các lớp thượng bì và làm tăng sự phân
tán và loại bỏ melanin.

Sử dụng ATRA 5% sẽ thúc đẩy
quá trình tự bong vảy trên toàn bộ
mặt, làm tăng hiệu quả IPL. Những
sản phẩm có hoặc không chứa treti­
noin khác có thể được sử dụng, chúng
có thể tương hợp tốt ở dạng các công
thức phối hợp (vitamin C, ferulic acid,
…), hoặc thậm chí là các dạng retinoids
khác đang có mặt trên thị trường.

Khuyến cáo không nên điều trị
IPL ở những người có da típ IV đến VI
vì nguy cơ rối loạn sắc tố kéo dài hoặc
vĩnh viễn cao.
Trứng cá

Các tổn thương mụn, comedo­
ne, sẩn và mụn mủ được điều trị với
IPL ở bước sóng 400nm. Bước sóng
này được hấp thụ bởi porhyrins, chất
được tổng hợp bởi Propionibacterium
acnes, từ đó gây ra một dạng phản ứng
oxy hóa có tác dụng giết chết vi khuẩn
(Degitz 2010; Choi 2010).

IPL bước sóng 400nm hiệu quả
trong điều trị mụn, đặc biệt đối với
những tổn thương viêm. Về mô học
có sự giảm mật độ xâm nhập các tế
bào viêm và giảm kích thước tuyến bã
nhờn (Barakat 2017).

Liệu trình điều trị mụn với IPL
nên là hàng tuần. Khi phối hợp với peel
cùng lúc, thì khoảng cách giữa các liệu
trình có thể 1 hoặc 2 tuần tùy thuộc
vào đáp ứng peel của da. Thường chỉ
định trong trường hợp mụn trứng cá
nhẹ và trung bình. Phối hợp peel nông
truyền thống SA-HA 30% ngay sau khi
dùng IPL làm tăng tốc độ cải thiện tình
trạng comedone, và tổn thương viêm.

Salicylic acid là một loại beta
hydroxyl acid và ưa dầu, chất này có
thể loại bỏ những phân tử lipids nằm
giữa các tế bào và gắn chặt với lớp vỏ
sừng bao quanh các tế bào thượng bì
ở lớp bề mặt của lớp sừng. Do đó có
thể làm giảm sự kết dính giữa các tế
bào sừng và gây bong vảy. Tương tự,
chất này còn có tác dụng ly giải nhân
mụn, và làm khô, do đó sẽ làm thu nhỏ
các comedone và các tổn thương viêm
(Lee và Kim 2003).

Sau khi peel SA 30%, một lớp
frost giả được hình thành và loại bỏ
một cách nhẹ nhàng.

Kết quả điều trị sẽ tốt hơn nếu
sau khi peel SA, chúng ta dùng thêm
retinoic acid 5% và yêu cầu bệnh
nhân giữ trong 4-6h tại nhà. Khoảng
cách giữa các liệu trình là 2 tuần hoặc
nhiều hơn. Việc phối hợp thêm peel

54
Phối hợp các loại Peel hóa chất nông
sẽ giúp cải thiện nhiều hơn các tổn
thương mụn, đặc biệt là comedone,
thúc đẩy peel da tự thân, cũng như có
tác dụng đối với tăng sắc tố sau viêm
(Ahn và Kim 2006).

Sử dụng salicylic acid trong
dung môi polyethylenglycol được
chứng minh là không gây ra cảm giác
bỏng, đỏ da, bong da và đóng mài
(Dainichi 2008b) và không gây phản
ứng viêm trên mô học (phản ứng viêm
làm tăng nguy cơ bị tăng sắc tố sau
viêm). Trong trường hợp này thường
không có frost giả và nên được loại bỏ
sau 5 phút tiếp xúc với da.
Phối hợp với Laser vi điểm xâm lấn

Laser vi điểm xâm lấn hiện tại
có các loại sau: CO2 (10600 nm), Erb:
YAG (2940 nm), và Erb: YSGG (2970
nm). Erb: YAG (2940 nm) được hấp
thu nhiều hơn bởi mô nước, khả
năng xâm nhập thấp hơn và ít gây tổn
thương nhiệt sau bắn. CO2 (10600
nm) ít hấp thu bởi nước hơn và gây
tổn thương nhiệt cao hơn. YSGG
(2970 nm) có tính trung gian giữa 2
loại trên. Laser xâm lấn giúp tái tạo
collagen bằng cách kích thích tạo ra
những sợi collagen mới trong lớp bì
lưới và bì nhú trong vòng 3 tháng sau
khi sử dụng laser.

Laser xâm lấn kích thích các
vùng điều trị vi điểm (MTZ) bằng cách
tác động đến nước ở trong lớp bì và
lớp thượng bì của da vùng lành xung
quanh mỗi MTZ, điều này sẽ giúp da
lành nhanh hơn (Laubach 2006; Ro­
bati và Asadi 2017). Ngoài ra theo
những y văn hiện có, các điểm điều
trị sẽ tạo thành những kênh giúp vận
chuyển các chất bôi bên ngoài vào da
(Lee 2013; Sklar 2014). Hai loại laser
được nghiên cứu nhiều nhất là CO2 và
Er: YAG.

Ngoài một vài bài báo trong y
văn chứng minh cho những hiệu quả
ở trên, có những thử nghiệm dựa vào
kết quả mô học cho thấy có sự lấp
đầy nhanh chóng bởi fibrin trong các
kênh của vùng điều trị vi điểm (MTZ).
Đầu tiên fibrin được hình thành trong
phần da bì của kênh và phát triển dần
lên phần trên bề mặt. Trong 5 phút,
có trên 25% độ sâu các kênh được lấp
đầy bởi fibrin. Quá trình này tiếp tục
diễn ra theo thời gian và khoảng 90
phút sau, trên 90% độ sâu của kênh
được bít tắc (Kositratna 2016).

Hóa chất peel phù hợp nhất sau
khi điều trị bằng laser xâm lấn là ret­
inoin 5%. Retinoic acid kích thích tân
sinh collagen và gây bong da đồng nhất
ở các vùng giữa các MTZ. Nên dùng ở
dạng kem, không chứa alcohol. Do đó,
chúng ta sẽ giúp da đồng nhất hơn về
màu sắc và cấu trúc sau khi thực hiện
phối hợp điều trị. Chúng ta thường có
thói quen phối hợp IPL+ CO2/erbium
+ ATRA trong cùng một lần điều trị với
kết quả khả quan. Retinoic acid có khả
năng thấm tốt vào da, dù hàng rào da
vẫn lành lặn. Nhờ sự có mặt của vùng
MTZ, retinoic acid sẽ xâm nhập đến
những lớp sâu hơn nhanh hơn, do đó
làm tăng tác dụng của nó.

Phối hợp dung dịch Jessner và
Trichloroacetic 35% trước khi điều
trị với laser vi điểm xâm lấn như CO2,
cho phép tạo ra sự bong đồng nhất
toàn bộ lớp thượng bì, bên cạnh tác
dụng nhiệt của MTZ. Sự phối hợp này
có hiệu quả trong điều trị loại bỏ sạm
da, dày sừng ánh sáng

55
Phối hợp các loại Peel hóa chất nông
và dày sừng tuyến bã, tái tạo mới lớp
thượng bì và tân sinh collagen. Do đó
giúp trẻ hóa da rõ (hình 8,9,10, và 11).
Chỉ có những bác sĩ có kinh nghiệm
mới có thể phối hợp laser xâm lấn với
peel hóa chất.
Hình 8: Dung dịch Jessner + Trichloroacetic 35% + Laser CO2- Ảnh trước điều trị
Ghi nhớ

• Peel nông được sử dụng rất đa
dạng trong phối hợp điều trị với các
loại peel khác và các công nghệ trong
điều trị.

• Phối hợp với các loại peel
nông cho phép làm tăng hiệu quả điều
trị sạm da bằng laser Q-switched 532
nm hoặc IPL.

• Sau khi da được gây tổn
thương bằng laser hoặc IPL, hóa chất
peel nông tốt nhất nên được sử dụng
là tretinoin, bởi vì nó không tác dụng
ngay lập tức.

• Trước khi dùng laser xâm lấn,
bất kì peel nông hay trung bình nào
cũng có thể được sử dụng để mang lại
kết quả đồng nhất hơn. Tuy nhiên, sự
phối hợp này nên được thực hiện bởi
bác sĩ có kinh nghiệm.
Hình 9: Dung dịch Jessner + Trichloro­
acetic 35% (được chứng minh bằng hình
ảnh frosting) trước khi thực hiện Laser
CO2

56
Phối hợp các loại Peel hóa chất nông
Hình 10: Dung dịch Jessner + Trichloroacetic 35% + Laser CO2 – Ngày thứ 4- 15 sau
điều trị.
Hình 11: Dung dịch Jessner + Trichloroacetic 35% + Laser CO2 – Ngày thứ 15 sau điều
trị.
Tài liệu tham khảo

• Ahn HH, Kim IH. Whitening ef­
fect of salicylic acid peels in Asian pa­
tients. Dermatol Surg. 2006;32:372–5.

• Barakat MT, Moftah NH, El
Khayyat MA, Abdelhakim ZA. Signifi­
cant reduction of inflammation and
seba- ceous glands size in acne vul
garis lesions after intense pulsed
light
treatment.
Dermatol
Ther.
2017;30(1):1–5. Babilas P, Schremi
S, Szeimies RM, et al. Intense pulsed
light (IPL): a review. Lasers Surg Med.
2010;42(2):93–104.

57
Phối hợp các loại Peel hóa chất nông

• Choi YS, Suh HS, Yoon MY, et
al. Intense pulsed light vs. pulsed-dye
laser in the treatment of facial acne: a
randomized split-face trial. J Eur Acad
Dermatol Venereol. 2010;24:773–80.

• Cook KK, Cook WR. Chemical
peel of nonfacial skin using glycol­
ic acid gel augmented with TCA and
neu- tralized based on visual staging.
Dermatol Surg. 2000;26(11):994–9.

• Cucé LC, Bertino M. Re: re­
garding tretinoin peeling. Dermatol
Surg. 2002;28(11):1097.

• Cucé LC, Bertino MCM, Scat­
tone L, Birkenhauer MC. Tretinoin peel­
ing. Dermatol Surg. 2001;27(1):12–4.

• Dainichi T, Ueda S, Furue M,
Hashimoto T. By the grace of peeling:
the brace function of the stratum cor­
neum in the protection from photo-in­
duced keratinocyte carci- nogenesis.
Arch Dermatol Res. 2008a;300(Sup­
pl): S31–8.

• Dainichi T, Ueda S, Imayama
S, Furue M. Excellent clin- ical results
with a new preparation for chemical
peeling in acne: 30% salicylic acid in
polyethylene glycol vehi- cle. Derma­
tol Surg. 2008b;34(7):891–9.

• Degitz K. Phototherapy, pho­
todynamic therapy and lasers in the
treatment of acne. J Dtsch Dermatol
Ges. 2010;7:1048–54.

• DiBernardo BE, Pozner JN.
Intensed pulsed light therapy for
skin rejuvenation. Clin Plast Surg.
2016;43(3): 535–40.

• Ivanov II, McKenzie BS, Zhou
L, Tadokoro CE, Lepelley A, Lafaille JJ,
et al. The orphan nuclear recep- tor
RORgammat directs the differentia­
tion program of
proinflammatory IL-17+ T helper
cells. Cell. 2006; 126(6):1121–33.

• Kositratna G, Evers M, Sajja­
di A, Manstein D. Rapid fibrin plug
formation within cutaneous ablative
fractional CO2 laser lesions. Lasers
Surg Med. 2016;48:125–32.

• Laubach HJ, Tannous Z, An­
derson RR, Manstein D. Skin respons­
es to fractional photothermolysis. La­
sers Surg Med. 2006;38(2):142–9.
Lee HS, Kim IH. Salicylic acid peels
for the treatment of acne vulgar­
is in Asian patients. Dermatol Surg.
2003;29:1196–9.

• Lee W, Shen S, et al. Skin per­
meation of small-molecule drugs,
macromolecules, and nanoparticles
mediated by a fractional carbon di­
oxide laser: the role of hair folli- cles.
Pharm Res. 2013;30:792–802.

• Monheit GD. Medium-depth
chemical
peels.
Dermatol
Clin.
2001;19(3):413–25, vii.

• Robati RM, Asadi E. Effica­
cy and safety of fractional CO2 laser
versus fractional Er:YAG laser in the
treat- ment of facial skin wrinkles. La­
sers Med Sci. 2017;32(2):283–289.

• Rohrich RJ, Herbig KS. The role
of modified Jessner’s solution with
35% trichloroacetic acid peel. Plast
Reconstr Surg. 2009;124(3):965–6.

• Shin JU, Park J, Oh SH, Lee JH.
Oral tranexamic acid enhances the
efficacy of low-fluence 1064-Nm qual­
ity-switched neodymium-doped yttri­
um aluminum garnet laser treatment
for melasma in Koreans: a ran- dom­
ized, prospective trial. Dermatol Surg.
2013; 39(3 PART 1):435–42.

58 Trichloroacetic Acid Peel
Chương 7
Trichloroacetic Acid Peel
Patrick Silva Damasceno, Izelda Maria Carvalho Costa,
và Keila Gabrielle Pati Gomes
Tóm tắt

Peel hóa chất được định nghĩa
là bôi một loại hóa chất lên da để gây
phá hủy da ở độ sâu có kiểm soát nhằm
thúc đẩy sự tăng sinh và làm bong tổn
thương ở trên bề mặt, sau đó giúp tái
tạo mô thượng bì và mô bì mới làm cải
thiện các đặc tính bề mặt của da.

Peel hóa chất đã được sử dụng
để cải thiện sức khỏe và diện mạo
của da trong hàng nghìn năm. Năm
1882, bác sĩ da người Đức tên là Unna
đã báo cáo việc sử dụng các hóa chất
trong peel da như trichloroacetic acid
(TCA), phenol, resorcinol, và salicylic
acid.

Việc mọi người trong xã hội
ngày càng muốn có hình ảnh đẹp và
ngoài hình thẩm mỹ đã tạo ra một nhu
cầu rất lớn đối với các sản phẩm chăm
sóc da, với sự hỗ trợ chuyên nghiệp
từ các bác sĩ da và các chuyên da khác
cũng như các thủ thuật can thiệp.

Cần lưu ý là sử dụng một liều
trình peel trung bình phối hợp giữa
dung dịch Jessner và TCA 35% có thể
cải thiện lão hóa da ánh sáng độ trung
bình tốt hơn so với một liều trình điều
trị với các công nghệ mới.

Chương này sẽ bàn luân về
phân loại peel hóa chất, chỉ định,
chống chỉ định, chuẩn bị da, thủ thuật
peel trung bình, và một vài biến chứng
với trichloroacetic acid khi peel trung
bình.
Nội dung
• Giới thiệu
• Chỉ định
• Chống chỉ định
• Peel bằng trichloroacetic
• Peel trung bình bằng trichloroacetic
• Chuẩn bị cho peel trung bình bằng
trichloroacetic
• Dung dịch Jessner và TCA 35% (công
thức Monheit)
• Glycolic Acid 70% và TCA 35% (công
thức Coleman) CO2 đặc và TCA 35%
(công thức Brody)
• Chăm sóc sau peel
• Lợi ích của peel trung bình của TCA
• Biến chứng peel trung bình
• Các vấn đề về sắc tố
• Đỏ da kéo dài
• Nhiễn trùng
• Sẹo
• Những biến chứng khác
• Ghi nhớ
• Tài liệu tham khảo

59
Trichloroacetic Acid Peel
Giới thiệu

Peel hóa chất đã được sử dụng
để cải thiện sức khỏe và diện mạo
của làn da trong hàng nghìn năm nay.
Lần ghi nhận đầu tiên về khả năng cải
thiện làn da của peel hóa chất được
báo cáo ở Hy Lạp cổ đại khi mà Cleop­
atra sử dụng sữa chua (có chứa lactic
acid) để giúp bề mặt da trơn láng hơn.
Sau đó, trong thời kì cách mạng Pháp,
những người phụ nữ trong cung điện
đã sử dụng rượu cũ (có chứa tartar­
ic acid) để làm đẹp da (Brody 2000;
Savant 2005). Tuy nhiên, chỉ đến năm
1882, bác sĩ da người Đức tên là Unna
mới báo cáo việc sử dụng các hóa chất
trong peel da như trichloroacetic acid
(TCA), phenol, resorcinol, và salicylic
acid. Giữa thế kỉ XX, các bác sĩ đã học
cách để sử dụng hóa chất như phe­
nol và trichloroacetic để trẻ hóa da
và giảm sẹo mụn. Vào cuối thập niên
1980, họ đã tìm ra một loại hóa chất
mới với thời gian phục hồi nhanh, đó
là alpha-hydroxy acid (Lupi và Cunha
2011; Gadelha và Costa 2009).

Việc mọi người trong xã hội
ngày càng muốn có hình ảnh đẹp và
ngoài hình thẩm mỹ đã tạo ra một nhu
cầu rất lớn đối với các sản phẩm chăm
sóc da, với sự hỗ trợ chuyên nghiệp
từ các bác sĩ da và các chuyên da khác
cũng như các thủ thuật can thiệp. Các
phương pháp tái tạo bề mặt da caccs
bác sĩ da đang thực hành đã được mô
tả hơn 100 năm trước, và lợi ích của
những phương pháp này càng được
mở rộng trong vài thập kỉ gần đây. Việc
sử dụng hóa chất peel hầu như không
thay dổi theo thời gian cũng như khi
có sự xuất hiện của các kĩ thuật mới
như các kĩ thuật vật lí (dermabrasion
tự động hoặc bằng tay) và tái tạo da
bằng laser nhờ vào tính an toàn và hiệu
quã đã được ghi nhận của nó (so với
các phương pháp mới). Peel hóa chất
ít phức tạp, giá thành rẻ, và có hiệu quả
tốt (Brody 2000; Small 2009). Cần lưu
ý là sử dụng một liều trình peel trung
bình phối hợp giữa dung dịch Jessner
và TCA 35% có thể cải thiện lão hóa
da ánh sáng độ trung bình tốt hơn so
với một liều trình điều trị với các công
nghệ mới (Lipu và Cunha 2011; Gadel­
ha và Costa 2009).

Peel hóa chất được định ng­
hĩa là bôi một loại hóa chất lên da để
gây phá hủy da ở độ sâu có kiểm soát
nhằm thúc đẩy sự tăng sinh và làm
bong tổn thương ở trên bề mặt, sau
đó giúp tái tạo mô thượng bì và mô bì
mới làm cải thiện các đặc tính bề mặt
của da. Peel hóa chất được phân loại
dựa vào khả năng xâm nhập của hóa
chất. Trichloroacetic acid (TCA) có
thể được sử dụng trong peel rất nông,
peel nông và trung bình tùy nồng độ
được dùng (bảng 1) (Khunger 2008;
Bolognia 2012; Tung và Rubin 2011).

60 Trichloroacetic Acid Peel
Bảng 1: Phân loại peel dựa vào độ sâu tác dụng
Phân loại
Phân loại
Ví dụ
Peel rất nông
Phân hủy ngang lớp
sừng
TCA 10%,
Glycolic Acid (GA) 30–
50%,
Salicylic acid 20–30%,
Dung dịch Jessner (1–3
coats),
Tretinoin 1–5%
Peel nông
Phân hủy toàn bộ lớp
thượng bì đến lớp tế bào
đáy.
TCA 10–30%,
GA 50–70%,
Dung dịch Jessner (4–7
coats)
Peel trung bình
Hoại tử đến lớp bì lưới
trên.
TCA 35–50%,
GA 70% + TCA 35%,
88% phenol un-occlud­
ed,
Dung dịch Jessner + TCA
35%,
CO2 đặc +TCA 35%
Peel sâu
Hoại tử đến lớp bì lưới
giữa.
Baker-Gordon phenol
peel
Chỉ định

Tư vấn tiền thủ thuật là rất
cần thiết để nhận biết được những
đối tượng bệnh nhân lí tưởng để can
thiệp cũng như những đối tượng bệnh
nhân có nguy cơ nên tránh can thiệp
thủ thuật hoặc làm thủ thuật với sự
cẩn thận cao. Chỉ định hiện nay đối
với peel nông gồm có các tổn thương
thượng bì, các rối loạn sắc tố, mụn và
thẩm mỹ (bảng 2) (Monhei và Kayal
2003; Khunger 2008; Rendon 2010;
Patel 2014; Hesion và Graber 2015).
Peel nông cũng có thể được sử dụng
phối hợp để làm tăng hiệu quả của các
thủ thuật tái tạo bề mặt sâu hơn.
Lão hóa da ánh sáng là bệnh lí được
thực hiện peel trung bình phổ biến
nhất. Thang điểm Glogau sẽ rất hữu
ích trong việc đưa ra lựa chọn độ sâu
khi peel (bảng 3) (Glogau 1996). Bệnh
nhân có phân loại da típ I có thể điều
trị với peel hóa chất nông, hoặc micro­
dermabrasion phối hợp với các liệu
pháp thẩm mỹ khác (ví dụ: glycolic
acid, retinoid bôi, công thức có hoạt
tính thẩm mỹ khác) vì những bệnh
nhân này thường trẻ với mức độ lão

61
Trichloroacetic Acid Peel
hóa ánh sáng từ nhẹ đến trung bình.
Với những người ở típ II thì tốt hơn nên
điều trị với peel hóa chất trung bình
phối hợp với các liệu pháp thẩm mỹ
lâu dài như alpha-hydroxy acid (AHA)
và/ hoặc retinoid. Bệnh nhân ở phân
loại mức III thường cần phải điều trị
y khoa lâu dài với peel trung bình (có
hoặc không kèm theo dermabrasion),
peel sâu, dermabrasion, laser tái tạo
bề mặt hoặc phối hợp các phương
pháp này với nhau. Đối với bệnh
nhân típ IV sẽ được chỉ định dùng các
phương pháp như đối với bệnh nhân
típ III, tuy nhiên các phương pháp
phẫu thuật như thẩm mỹ mí mắt, cắt
da nhăn, sửa sẹo, và những thủ thuật
khác có thể được dùng để đạt hiệu quả
như mong đợi (Bolognia 2012, Tung
và Rubin 2011; Khunger 2008; Mon­
heit 2004).

Có một vài dữ liệu liên quan
đến trong quá trình thảo luận về các
chỉ định. Đầu và cổ là những vùng
quan trọng nhất vì giá trị thẩm mỹ của
những vùng này và phải hết sức lưu ý
khi điều trị vùng cổ vì vùng này có khả
năng để lại biến chứng cao khi điều trị.
Vùng có nhiều đơn vị nang lông-tuyến
bã hơn sẽ có khả năng tái tạo thượng
bì tốt hơn (Bolognia 2012). Và cũng
cần phải lưu ý khi chỉ định thủ thuật
đối với bàn tay và cánh tay vì điều trị
những vùng này cho kết quả không
đáng kể và khó dự đoán (Gadelha và
Costa 2009). Tổn thương có nguồn gốc
ở lớp thượng bì (dày sừng ánh sáng,
đốm nâu) sẽ đáp ứng tốt hơn với peel
hóa chất so với những tổn thương ở
lớp bì (Tosti 2006).

Chỉ định còn phụ thuộc vào khả
năng dung nạp điều trị và kỳ vọng
đối với bệnh lí trên da của họ. Một vài
bệnh nhân không muốn cải thiện bề
mặt da dù họ có những vấn đề nghiêm
trọng, trong khi đó những người khác
lại mong muốn có sự cải thiện rõ rệt
ở vùng tổn thương nhẹ. Việc đưa ra
điều trị sẽ phụ thuộc vào mức độ nặng
của tình trạng bệnh và kỳ vọng của
bệnh nhân (Gadelha và Costa 2009).
Kỳ vọng của bệnh nhân nên được làm
giảm dần dựa vào số liệu về kết quả
có thể đạt được và cái đang khiến
bệnh nhân quá kì vọng vào phương
pháp điều trị. Tiếp cận bệnh nhân một
cách thành thật, thảo luận về kết quả
hợp có thể đạt được, nguy cơ, lợi ích
và phương pháp thay thế (Gadelha và
Costa 2009; bolognia 2012).
Chống chỉ định

Tiền sử bị AIDS, viêm gan, bệnh
ức chế miễn dịch hệ thống, hoặc sử
dụng thuốc ức chế miễn dịch cần phải
được xác minh, bởi vì những bệnh
nhân này có tỉ lệ nhiễm trùng thứ phát
cao hơn rất nhiều sau thủ thuật. Tương
tự, tiền sử sẹo bất thường, sẹo lồi cũng
phải lưu ý vì những bệnh nhân này có
thể cho kết quả không như mong đợi.
Phân loại da của Fitzpatrick cũng cần
phải được xem xét vì da loại IV, V, VI
thường xuất hiện tăng sắc tố sau viêm
sau điều trị (bảng 4) (Rullan và Karam
2010; Monheit 1995). Bệnh nhân
đang sử dụng thuốc tránh thai hoặc
minocycline cần phải cẩn thận vì có
khả năng bị tăng sắt tố sau viêm cao.
Luôn phải hỏi bệnh nhân về tiền sử
phẫu thuật trên mặt, các thủ thuật tái
tạo bề mặt da trước đó, hoặc sử dụng
isotretinoin trong vòng 6 tháng trước
vì những vấn đề này sẽ làm tăng

62 Trichloroacetic Acid Peel
Bảng 2: chỉ định có thể thực hiện peel trung bình
nguy cơ biến chứng (Dingman 1994;
Rubenstein 1986). Khai thác tiền sử
hóa trị của bệnh nhân là rất quan
trọng vì hóa trị làm phá hủy các đơn
vị nang lông-tuyến bã, mà chúng là
yếu tố cần thiết để tái tạo lại thượng bì
(Wolfe 1982).

Đối với bệnh nhân mắc một vài
bệnh về da cần được chăm sóc đặc
biệt. Bệnh bạch biến và vảy nến có thể
nặng thêm do phản ứng đồng dạng.
Trong bệnh trứng cá đỏ (rosacea),
sự bất ổn định vận mạch có thể làm
nặng lên phản ứng viêm sau thủ thuật
(Gadelha và Costa 2009). Các bệnh tự
miễn mô liên kết như lupus da và xơ
cứng bì có thể được hoạt hóa do tổn
thương hóa chất peel. Chống chỉ định
đối với peel trung bình có thể được
phân loại thành tuyệt đối và tương đối
(bảng 5).
Tổn thương thượng bì
Dày sừng tuyến bã
Dày sừng ánh sáng
Mụn cóc
Mụn thịt
Tăng sản tuyến bã
Dermatoses papulose nigra
Rối loạn sắc tố
Nám má
Tăng sắc tố sau viêm
Tàn nhang
Đốm nâu
Sạm da mặt
Bệnh liên quan đến mụn trứng cá
Sẹo mụn nông đến nhẹ
Tăng sắc tố sau mụn
Nhân mụn
Trứng cá excoriee
Trứng cá thường mức độ nhẹ - trung bình nặng
Thẩm mỹ
Lão hóa ánh sáng
Nếp nhăn nhỏ
Lỗ chân lông giãn to
Sẹo bề mặt

63
Trichloroacetic Acid Peel
Bảng 3: Phân loại lão hóa da ánh sáng của Glogau
Loại Da Màu sắc
Phản ứng khi phơi nắng mùa hè lần đầu
I
Trắng
Luôn bị bỏng , không bao giờ rám nắng
II
Trắng
Thường bị bỏng, ít khi bị rám nắng
III
Trắng
Thỉnh thoảng bỏng nhẹ, rám nắng trung bình
IV
Nâu vừa
Hiếm khi bỏng, dễ rám nắng
V
Nâu đậm Rất hiếm khi bỏng, rất dễ rám nắng
VI
Đen
Không bỏng, rất dễ rám nắng
Bảng 4: phân loại da theo Fitzpatrick
Típ I: không có nếp nhăn
Lão hóa ánh sáng sớm: rối loạn sắc tố nhẹ, nếp nhăn tối thiểu, không có dày
sừng.
Tuổi bệnh nhân: 20 -30 tuổi
Trang điểm: tối thiểu hoặc không
Típ II: nếp nhăn động
Lão hóa ánh sáng nhẹ đến trung bình: xuất hiện đốm nâu thấy được, bắt đầu
xuất hiện các đường song song khi cười, dày sừng sờ được nhưng không thấy
được.
Độ tuổi; 30- 40 tuổi
Trang điểm: thường xuyên trang điểm
Típ III: nếp nhăn tĩnh
Lão hóa ánh sáng nặng: rối loạn sắc tố rõ, giãn mạch, dày sừng thấy được, nếp
nhăn dù không sử dụng các cơ mặt.
Độ tuổi: trên 50 tuối
Típ IV: Nếp nhăn toàn bộ
Lão hóa ánh sáng rất nặng: da màu vàng-sám, nếp nhăn toàn bộ da và không
còn vùng da bình thường.
Độ tuổi: 60-70 tuổi
Trang điểm: không thể trang điểm

64 Trichloroacetic Acid Peel
Bảng 5: chống chỉ định đối với peel trung bình và peel sâu.
Tuyệt đối
Vết thương hở
Đang bị nhiễm trùng (vi khuẩn vi rút, hoặc nấm)
Uống isotretinoin trong vòng 6 tháng gần đây
Mang thai
Tiền sử uống thuốc có khả năng làm tăng nhạy cảm ánh sáng
Bệnh nhân có kỳ vọng không thực tế
Bệnh nhân không chịu hợp tác (bệnh nhân không quan tâm đến việc phơi
nắng hoặc bôi thuốc)
Mối quan hệ bệnh nhân-bác sĩ không tốt
Tương đối
Phẫu thuật ở mặt trong vòng 6 tháng gần đây
Tiền sử có sẹo bất thường hoặc chậm lành vết thương
Tiền sử tăng sắc tố
Tiền sử điều trị phóng xạ
Có phân loại da theo Fitzpatrick là IV, V, VI
Đang mắc các bệnh như viêm da dầu, trứng cá đỏ, viêm da cơ địa, bạch biến,
viêm da tiếp xúc, và vảy nến.

Bên cạnh những chống chỉ định,
Cần thiết phải xem xét sự hiện diện
của tình trạng viêm (tăng tiết bã nhờn,
viêm da do retinoid…) mức độ mờ của
da vì da càng viêm và càng mờ thì độ
sâu khi peel da có thể tăng lên, đưa
đến những biến chứng không mong
muốn. Cần phải nhớ rằng điều trị giãn
mạch không phải là một chỉ định tốt
của peel hóa chất bởi vì có thể mang
lại đáp ứng không như mong muốn.
Bệnh nhân phải hoàn toàn hiểu được
những giới hạn của peel da và phải kí
vào phiếu đồng thuận trước khi tiến
hành thủ thuật. Nếu như mối quan hệ
giữa bác sĩ-bệnh nhân có thể bị tổn
thương thì không nên tiến hành
thủ thuật.
Peel bằng trichloroacetic

Trichloroacetic acid (hình 1) có
thể được sử dụng linh hoạt vì nó có thể
được sử đụng để peel rất nông, peel
nông và peel trung bình tùy thuộc vào
nồng độ TCA được sử dụng (bảng 1),
sự chuẩn bị da trước thủ thuật đầy đủ,
số lần bôi và kĩ thuật bôi. TCA thường
được sử dụng nhất để peel trung bình,
đặc biệt là để điều trị rối loạn sắc tố và
nếp nhăn mặt sớm (Lee 2002).

TCA là một chất ăn mòn da thu
được thông qua chưng cất sản phẩn từ
hơi nitric acid trên chloral acid. Acid
này được tìm thấy trong môi trường

65
Trichloroacetic Acid Peel
như là một chất diệt cỏ, một chất
chuyển hóa chính của quá trình tẩy
rửa khô và như là một chất peel da.
Chất này hầu như không có độc tính,
thậm chí khi bôi với nồng độ đặc trên
da. TCA có pKa thấp nhất và mạnh hơn
bất kì acid khác nào được sử dụng
trong peel da. Vì nó có khả năng thâm
nhập vào nhiều lớp da khác nhau,
acid peel này có tính “trung hòa”, hình
thành lớp đông vón protein da.

TCA nên được cất giữ trong
phòng khô, lạnh và thông thoáng.
Vật đựng TCA nên cứng, không dễ
vỡ, thường thì TCA thích hợp cất giữ
trong lọ thủy tinh đục màu (Tung và
Rubin 2011).
Peel trung bình bằng Trichloroace­
tic acid

Peel trung bình là thủ thuật gây
ra hoại tử lớp thượng bì và lớp bì nhú
với xuất hiện phù đồng nhất, và thỉnh
thoảng hoại tử đến lớp bì lưới trên
(0.45 nm) với sự xâm nhập rải rác của
các tế bào limpho trong vài ngày đầu
trên mô học. Vì khả năng xâm nhập
sâu hơn, nên thời gian phục hồi trong
peel trung bình cũng dài hơn so với
peel bề mặt, thường thì cần 7-14 ngày.
Trong khoảng thời gian 3 tháng sau
thủ thuật, có sự tăng sản xuất
Hình 1: cấu trúc phân tử của TCA

Tác dụng của TCA tùy thuộc vào
nồng độ và lượng acid được bôi. TCA
nồng độ cao làm dung dịch trở nên
acid hơn và xâm nhập sâu hơn. Bôi
nhiều lớp hơn và áp lực bôi lớn hơn
trong quá trình thủ thuật cũng giúp
nó xâm nhập sâu hơn. Lưu ý rằng tùy
thuộc vào vùng da, có những vùng da
cần phải bôi nhiều lớp (cùng nồng độ)
hơn để đạt được mức độ frost (đông
vón protein trên bề mặt da, màu trắng)
(hình 2). Như là một đặc tính riêng
biệt của TCA, những thay đổi trên da
sau khi bôi (từ các đốm sáng cho đến
lớp frost trắng) thể hiện được mức độ
đông vón của protetin
Hình 2: phản ứng da với TCA khi bôi. Cần
bôi nhiều lớp acid ở vùng tối hơn (ở cũng
nồng độ) để đạt được mức độ frost đồng
nhất.

66 Trichloroacetic Acid Peel
collagen cùng với sự mở rộng của lớp
bì nhú và phát triển các băng sợi dày
trong lớp bì giữa. Hiệu quả của TCA có
được nhờ vào khả năng làm tăng thể
tích collagen, glycosaminoglycans và
elastin (Handog 2012). Chính những
sự thay đổi này có liên quan đến sự
cải liện lâm sàng liên tục trên da trong
khoảng thời gian 3 tháng sau điều trị.

Trong nhiều năm, TCA nồng độ
40-50% là “tiêu chuẩn vàng” đối với
peel trung bình. Tuy nhiên, cũng cần
lưu ý rằng chất này có khả năng gây
biến chứng cao như rối loạn sức tố
và sẹo bất thường (hình 3) (Velasco
2004). Từ những thực tế trên, người
ta đã phát triển peel trung bình theo
hướng sử dụng phối hợp các hóa chất
peel: đầu tiên sử dụng hóa chất bề mặt
để gây tổn thương thượng bì và sau đó
bôi TCA 35%. Với 2 bước này, kết quả
cuối cùng sẽ được kiễm soát hơn và
thủ thuật sẽ được tiến hành thuận lợi
hơn với xâm nhập của TCA vào lớp bì
nhú (Salam 2013).

Ngày nay, liệu trình phối hợp
thường được sử dụng nhất là: dung
dịch Jessner và TCA 35% (công thức
phối hợp Monheit), glycolic acid 70%
và TCA 35% (công thức phối hợp Cole­
man), và CO2 rắn với TCA 35% (công
thức phối hợp Brody). Tất cả những
công thức phối hợp này có hiệu quả
cao hơn so với khi dùng TCA đơn lẻ,
nhưng an toàn hơn. Điều quan trọng
cần phải lưu ý là peel bề mặt nhiều lần
không mang lại hiệu quả ngang bằng
so với chỉ một lần peel trung bình. Peel
trung bình bằng TCA mang lại kết quả
rất khác nhau tùy thuộc vào loại bệnh
lí (bảng 6) (Fischer 2010). Trong điều
trị dày sừng ánh sáng, peel dung dịch
Jessner phối hợp TCA 35% có hiệu
quả tương đương với kem bôi hóa trị
5-fluorouracil với tỉ lệ bệnh nhân thấp
hơn và giúp cải thiện tình trạng lão
hóa da do ánh sáng (Lawrence 1995).
Chuẩn bị cho peel trung bình

Dựa vào những thông tin đã
được trình bày và sau khi đưa ra chỉ
định đúng đắn, một vài vấn để phải
được lưu tâm để đảm bảo có được kết
quả như mong đơi và hạn chế tối đa
những biến chứng có thể xảy ra. Cần
dành thời gian để giải đáp toàn bộ
thắc mắc của bệnh nhân về thủ thuật.
Không bao giờ quên chụp ảnh vùng da
của bệnh nhân trước khi tiến hành thủ
thuật để so sánh sau này.

Trong trường hợp bệnh nhân
đến điều trị thẩm mỹ, thì một vài bệnh
nhân vừa có thể là chỉ định của peel
Hình 3: Sẹo sau 6 tháng làm thủ thuật
với TCA 50%

67
Trichloroacetic Acid Peel
hóa chất, cũng như có chỉ định tiêm
botox. Trong trường hợp này, khuyến
cáo nên tiêm botox trước khi peel hóa
chất. Tiêm botox có thể tăng cường
hiệu quả của peel trung bình bằng
cách làm bất động các cơ gây ra những
nếp nhăn động trong quá trình tái tạo
collagen sau thủ thuật. Một điều quan
trọng là khuyên bệnh nhân không hút
thuốc vì thuốc lá có thể hạn chế hiệu
quả của thủ thuật và làm chậm lành
vết thương. Bệnh nhân phải được yêu
cầu sử dụng chống nắng phổ rộng,
chống lại được cả tia UVA và UVB (ưu
tiên những sản phẩm có chứa tita­
nium dioxide và zinc oxide). Đối với
bệnh nhân có phân loại da theo
Fitzpatrick típ III-VI (bảng 5) thì việc
bôi hydroqunone 4-8% 2 lần mỗi ngày
sau thủ thuật và sau khi lành có thể
mang lại lợi ích, thậm chí vẫn có ích
khi họ không có tiền sử rối loạn sắc tố.
Hydroquinone ức chế enzyme tyrosi­
nase, do đó làm giảm tổng hợp mela­
nin thượng bì mà quá trình này có thể
xảy ra sau khi peel.

Nếu bệnh nhân có tiền sử nhiễm
herpes, thì cần phải lưu ý vì peel hóa
chất có thể gây khởi phát một đợt her­
pes mới, đặc biệt ở vùng quanh miệng
và quanh ổ mắt. Do đó, khuyến cáo
nên dự phòng bằng acyclovir 400 mg
3 lần mỗi ngày, hoặc famciclovir 250
mg 2 lần mỗi ngày hoặc
Bảng 6: Hiệu quả điều trị của TCA
Đáp ứng tối
Dày sừng ánh sáng
Nám má nông
Tăng sắc tố nông
Tàn nhang
Đốm nâu
Sẹo lún (kỹ thuật CROSS)
Đáp ứng thay đổi
Dày sừng tuyến bã
Dày sừng phì đại
Nám má hỗn hợp
Tăng sắc tố hỗn hợp
Đáp ứng kém
Dày sừng tuyến bã nặng
Nám má sâu
Tăng sắc tố sâu

68 Trichloroacetic Acid Peel
valacyclovir 500 mg 2 lần mỗi ngày
bắt đầu từ ngày làm thủ thuật và kéo
dài trong khoảng 10-14 ngày (Gadelha
và costa 2009; Bolognia 2012).

Sử dụng tretinoin bôi mỗi tối
trước khi làm thủ thuật có thể làm tăng
tốc độ tái tạo thượng bì vì retinoids có
vai trò kích thích tăng sinh các tế bào
thượng bì. Tretinoin làm tăng độ sâu
khi peel hóa chất bằng cách làm mỏng
lớp sừng. Một loại retinoid, điển hình
như kem bôi tretinoin 0.02-0.1% nên
được kê cho bệnh nhân càng sớm càng
tốt. Hiệu quả của retinoid thấy được
chỉ sau 14 ngày sử dụng mỗi tối. Cần
lưu ý tình trạng viêm da do retinoid,
nếu bệnh nhân có viêm da do reti­
noids thì nên trì hoãn thủ thuật peel
để tránh gây ra tình trạng đỏ da kéo
dài sau thủ thuật. Sau khi tiến hành
thủ thuật, cần đợi đến lúc quá trình
tái tạo thượng bì hoàn tất mới được
sử dụng retinoid trở lại. Các chất tẩy
tế bào chết như glycolic acid hoặc lac­
tic acid có khả năng làm giảm kết dính
giữa các tế bào sừng và kích thích tăng
sinh thượng bì bằng cách làm mất kết
dính lớp sừng (Lupi và Cunha 2011;
Gadelha và Costa 2009; Khunger
2008).
Dung dịch Jessner và TCA 35% (công
thức phối hợp Monheit)

Công thức peel trung bình phối
hợp phổ biến nhất là dung dịch Jessner
+ TCA 35%. Sử dụng dung dịch Jess­
ner (14g resorcinol, 14g salicylic acid,
14g lactic acid 85%, thêm ethanol vào
để tạo ra tổng thể tích là 100ml) có
hoạt tính ly sừng để thay đổi hàng rào
thượng bì trước khi bôi TCA sẽ giúp
đạt kết quả đồng nhất và sẽ giúp đạt
kết quả đồng nhất và hấp thu nhanh
hơn (hình 4,5, và 6) (Tung và Rubin)

Trong quá trình chuẩn bị để
peel phối hợp, bệnh nhân nên nằm ở
tư thế đầu nâng 300, lau mạnh vùng
điều trị bằng acetone hoặc bôi alcohol
trong 2 phút. Lưu ý những vùng tiết bã
như vùng trán giữa 2 cung mày, chân
tóc, thái dương, mũi và môi trên. Cách
này sẽ giúp hóa chất peel thấm tốt hơn
và kết quả đồng nhất hơn khi làm thủ
thuật. Căn dặn bệnh nhân phải nhắm
trong suốt quá trình làm thủ thuật
(nếu peel da mặt). Trong trường hợp
dày sừng ánh sáng phì đại, có thể tiến
hành nạo bằng curette trước khi làm
thủ thuật để hóa chất peel được hấp
thu tốt hơn.

Dung dịch Jessner có thể được
bôi bằng miếng gạc được gấp lại bốn
lần hoặc bằng cục bông cotton lớn. Bôi
một đến hai lớp dung dịch Jessner, lúc
này da sẽ đỏ lên và hình thành những
đốm frost trắng, tuy nhiên những đốm
trắng này nhẹ hơn so với TCA (bôi
sau). Nên bắt đầu bôi ở vùng trán, sau
đó đến vùng 2 bên má, mũi, và cằm.
Sau khi bôi dung dịch Jessner, nên đợi
khoảng 2 phút trước khi bôi TCA. Một
vài tác giả có thể bôi thuốc tê (vd: EM­
LA-lidocain 2.5% và prilocain 2.5%)
lên vùng da điều trị trước khi bôi TCA
để làm tăng khả năng dụng nạp của
bệnh nhân với thủ thuật. Bước tiếp
theo là bôi TCA 35% theo cách tương
tự được mô tả với dung dịch Jessner,
lưu ý là không ngâm gạc vào trong
dung dịch TCA. Vùng mí mắt nên để
bôi cuối cùng và bôi cách bờ mí mắt từ
3-4 mm. Khi bôi mí mắt nên dùng cục
bông cotton để bôi. Có thể cần phải lau
khô nước mắt trong suốt quá trình

69
Trichloroacetic Acid Peel
Hình 4: bệnh nhân
1, trước và 6 tháng
sau khi peel dung
dịch Jessner+TCA
35%
Hình 5: bệnh
nhân 2, trước và
3 tháng sau khi
peel dung dịch
Jessner+TCA 35%
Hình 6: bệnh
nhân 3, trước và 6
tháng sau khi peel
dung dịch Jess­
ner+TCA 35%

70 Trichloroacetic Acid Peel
làm thủ thuật để bảo vệ mắt khỏi bị tổn
thương do hiện tượng mao dẫn. Hơn
nữa, nước mắt chảy xuống mặt sẽ pha
loãng hóa chất và tạo ra một đường ở
trên da mà tại đó hóa chất chỉ có tác
dụng peel nông hơn là peel trung bình
(do hóa chất bị pha loãng). Ngoài ra,
khi nước mắt chảy xuống vùng cổ sẽ
mang acid đến vùng này và làm cho
bệnh nhân đau từ nhẹ đến trung bình.

Sau khi bôi, các điểm frost trắng
cạnh nhau bắt đầu xuất hiện trong 30s
và to ra trong vòng 2-3 phút. Tại thời
điểm này, nên đánh giá mức độ frost
(bảng 7) và nên nhớ là mức độ frost
mong muốn đạt được trong peel trung
bình là ở độ II và III. Cần nhớ vùng
nào có khả năng để lại sẹo cao như
vùng cung gò má, vùng xương ở hàm
và cằm, thì đối với những vùng này
không nên để hình thành lớp frost quá
độ II. Vài phút sau đó, lớp frost xuất
hiện rõ và gây khó chịu do tạo ra cảm
giác bỏng, có thể dùng quạt để làm
dịu cảm giác này. Nên cẩn thận khi bôi
lại lần 2, cần dự trữ cho những vùng
peel chưa hoàn toàn. Nếu cần thiết, có
thể đợi 3-4 phút để xem đã đạt được
mức độ frost cần thiết chưa để tránh
bôi thêm lớp hóa chất nữa sẽ làm tăng
độ sâu peel và gây ra những đáp ứng
không mong muốn.

Đắp gặc thấm saline 0.9 % lạnh
sẽ giúp bệnh nhân dễ chịu hơn sau thủ
thuật. Lớp frost trắng lúc này sẽ được
thay thế bằng đỏ da. Có thể xuất hiện
phù sau thủ thuật. Quá trình tái tạo
collagen diễn ra trong 3-4 tháng sau
thủ thuật. Thủ thuật cho kết quả tốt,
thậm chí là chỉ sau liệu trình đầu tiên,
và do đó không phải lúc nào cũng cần
lặp lại thủ thuật peel
(Lupi và Cunha 2011; Gadelha và Cos­
ta 2009).
Glycolic acid 70% và TCA 35 % (Công
thức phối hợp Coleman)

Đây cũng là cách thức peel trung
bình có thể đạt được độ sâu tương tự
như trong công thức phối hợp dung
dịch Jessner với TCA 35%. Nghiên cứu
mô học được tiến hành bởi Coleman
đã cho thấy rằng tổn thương hóa học
có thể xảy ra ở lớp bì giữa kèm theo
sự lắng đọng của collagen và mô sợi
ở “vùng Grenz” xảy ra 60-90 ngày
sau thủ thuật. “vùng Grenz” cũng
được nhìn thấy trong công thức phối
hợp dung dịch Jessner + TCA 35% và
tương đối hẹp hơn đối với công thức
phối hợp CO2+ TCA 35%. Công thức
phối hợp Coleman được dùng khá là
phổ biến ở Mỹ để peel trung bình.

Sau khi bệnh nhân nằm ở tư thế
đầu nâng 300, mắt nhắm, tiến hành
lau da bệnh nhân bằng xà phòng và
nước, không cần phải tẩy nhờn. Bôi
glycolic acid 70% bằng miếng gạc
gấp nhỏ, hoặc bằng cục bông, và đợi
2 phút. Không cần dùng dung dịch bi­
carbonate để trung hòa glycolic acid.
Sau 2 phút, rửa vùng da dưới vòi nước
lạnh. Sau đó vài phút, bôi TCA 35%
theo cách được mô tả đối với trường
hợp bôi công thức phối hợp dung dịch
Jessner + TCA 35% như ở phần trước.
CO2 rắn và TCA 35% (Công thức phối
hợp Brody)

Brody công bố phương pháp
peel nông bằng nước đá CO2 + TCA
35% vào năm 1986. CO2 rắn có khả
năng gây tổn thương lớp thượng bì

71
Trichloroacetic Acid Peel
mà không để lại nguy cơ gây đóng băng
lớp bì sâu hơn, cũng như nguy cơ giảm
sắc tố và sẹo. Trước thủ thuật, chuẩn
chỉ da bằng cách dùng alcohol hoặc
acetone trong khoảng 2 phút. Sau đó,
tiến hành bôi CO2 ở vùng điều trị với
áp lực đè khác nhau tùy vào độ sâu
theo kế hoạch điều trị (vd: nếp nhăn
sâu hơn ở quanh miệng, dày sừng ánh
sáng nặng, sẹo trứng cá thì phải gây
tổn thương mạnh hơn). Áp lức thấp là
áp lực đè khoảng 3-5 s, áp lực trung
bình là 5-8 s, và áp lực cao từ 8-15s.
Tiếp đến là bôi TCA 35% và lau khô
da. Bác sĩ Brody điều trị những vùng
da nhạy cảm nhất trước (vùng mí mắt,
mũi, má, và quanh miệng, sau đó đến
vùng trán). Sau khi peel TCA 35%, túi
đá lạnh được gói lại trong khăn giấy sẽ
được sử dụng trong 5 phút, sau đó bôi
dưỡng ẩm. Khó khăn trong thủ thuật
này là kết quả rất khác nhau phụ thuộc
vào kĩ thuật làm cũng như khó khăn
để duy trì và dự trữ CO2 rắn.
Chăm sóc sau peel

Đắp gặc lạnh thấm salin 20 phút
vài lần mỗi ngày cũng như bôi petrola­
tum là rất có lợi cho bệnh nhân.
Không cần phải trung hòa TCA. Gạc
lạnh có thể đắp ngay sau thủ thuật để
làm giảm khó chịu cho bệnh nhân. Quá
trình bong vảy và tái tạo thượng bì sẽ
hoàn tất trong vòng 7-10 ngày; tuy
nhiên ở một vài bệnh nhân đỏ da có
thể kéo dài từ 2-4 tuần. Phù da có thể
kéo dài vài ngày và đỉnh phù là khoảng
48 tiếng sau thủ thuật. Bệnh nhân
nên được cảnh bảo rằng những sang
thương tăng sắc tố có sẵn có thể trở
nên tối màu hơn sau thủ thuật trong
vày ngày đầu. Sau thủ thuật peel nông,
bệnh nhân cần phải ngưng toàn bộ
các thuốc và mỹ phẩm đang dùng (đặc
biệt là retinoids) cho để khi hoàn toàn
tái tạo lớp thượng bì. Bảo vệ da kĩ khỏi
ánh sáng mặt trời. Cần đặc biệt lưu ý
với bệnh nhân là không được cào gãi
ở nhà, phải cố gắng cưỡng lại việc gỡ,
lột, gãi lên vùng da điều trị. Khuyến
cáo không nên tiến hành peel trung
bình khác trong vòng 6 tháng sau thủ
thuật, cho đến khi da lành hoàn toàn
(Lupi và Cunha 2011; Gadelha và Cos­
ta 2009).
Bảng 7. Mức độ frost
Mức độ frost Loại peel
Đáp ứng lâm sàng
I
Nông
Đốm trắng
Đỏ da nhẹ
II
Trung
bình
Phủ lớp trắng
Nền da đỏ
III
Trung
bình/ sâu
Trắng đặc, đục
Không có nền da đỏ

72 Trichloroacetic Acid Peel
Lợi ích khi peel trung bình với TCA

•Cho kết quả tốt hơn so với peel
nông.

• TCA là loại dung dịch không
đắt, dễ chuẩn bị, ổn định và có thời
hạn sử dụng dài.

• Peel TCA không gây ngộ độc
hệ thống.

• Phối hợp peel nông với TCA
35% giúp dễ dự đoán kết quả điều trị
và an toàn hơn.

• Khi peel TCA, ngoài lợi ích về
khía cạnh thẩm mỹ trong việc giúp
cải thiện tình trạng lão hóa da do ánh
sáng, thì peel TCA còn giúp giảm tỉ lệ
ung thư không phải tế bào sắc tố trong
tương lai.
Biến chứng peel trung bình (xem bài
xử lí biến chứng khi peel da)

Biến chứng trong peel hóa chất
bao gồm đỏ da và ngứa kéo dài, rối
loạn sắc tố như tăng sắc tố sau viêm,
chậm lành vết thương, nhiễm trùng,
thay đổi cấu trúc da, nổi mụn hoặc
mụn thịt, bầm tím vầ sẹo (Levy và
Emer 2012).
Rối loạn sắc tố

Tăng sắc tố thường xảy ra ở
những người có phân loại da từ IV-VI
(bảng 4). Tăng sắc tố có thể xuất hiện
trong 5 ngày đầu tiên hoặc cho đến 2
tháng sau thủ thuật. Cách giải quyết
những biến chứng này là bôi kem
chống nắng, hydroquinone, kojic acid,
và azelaic acid. Trong trường hợp khó
trị, có thể tiến hành peel lần nữa (TCA
10%, dung dịch Jessner hoặc Glycolic
acid 50% là những lựa chọn tốt nhất).
Tăng sắc tố rất thường gặp nhưng
nhìn chung chỉ là tạm thời và đáp ứng
tốt với những điều trị hiện hiện nay.
Giảm sắc tố thường xảy ra khi hóa chất
ăn sâu vào da hơn dự định và rất khó
điều trị.
Đỏ da kéo dài

Ban đỏ sau peel da thường biến
mất sau một vài tuần. Đỏ da kéo dài
được đặt trưng bởi da tiếp tục đỏ ở
thời điểm mà đáng lẽ da đã trở về bình
thường đối với hầu hết mọi người sau
khi peel. Thường thì đỏ da biến mất
sau 3-5 ngày đối với peel nông, 15-30
ngày đối với peel trung bình và 60-
90 ngày đối với peel sâu. Nếu đỏ da
kéo dài hơn những khoảng thời gian
được đề cập ở trên là bất thường và
là một dấu hiệu cảnh báo. Đó có thể
là đấu hiệu của một vết sẹo vì đỏ da
kéo dài có thể là một chỉ điểm hoặc có
liên quan đến hình thành sẹo phì đại
trong tương lai. Nguyên nhân thường
do bệnh nhân đang mắc các bệnh như
trứng cá đỏ (rosacea), viêm da cơ
địa hoặc lupus, viêm da tiếp xúc với
hóa chất peel hoặc chất sử dụng sau
khi peel và cũng có thể do sử dụng
isotretinoin đường uống gần đây. Điều
trị nên được thực hiện với corticoste­
roids bôi.
Nhiễm trùng

Nhiễm khuẩn, virus, hoặc nấm
có thể sẽ xuất hiện và nên được điều
trị theo đúng nguyên nhân. Nhiễm
khuẩn thường hiếm khi xảy ra khi peel
TCA và phenol vì đây là những chất
diệt khuẩn. Nguy cơ gây nhiễm trùng
cao nhất đó là bôi màng sinh học tổng
hợp hoặc bôi dầu gây bít tắt kéo dài và
vệ sinh vết thương kém. Trong trường
hợp nhiễm trùng nên lấy miếng gạc để

73
Trichloroacetic Acid Peel
đem đi cấy và làm kháng sinh đồ nếu
có thể. Lưu ý với những bệnh nhân có
ức chế miễn dịch và đái tháo đường vì
những đối tượng này rất dễ bị nhiễm
candida. Có thể thấy mủ nông trong
trường hợp nhiễm candida. Ngoài ra
cũng cần kiểm tra xem gần đây bệnh
nhân có sử dụng kháng sinh hoặc ste­
roid bôi kéo dài không, vì đây cũng
có thể là nguyên nhân dẫn đến nhiễm
nấm. Nhiễm herpes đặc trưng do sự
tái hoạt hóa virus herpes xuất hiện ở
trên mặt và vùng quanh miệng một
cách đột ngột với một nhóm các mụn
nước, vỡ để lại một đám vết trợt, và
thường có cảm giác đau (Brody 2001).
Sẹo

Sẹo có thể xuất hiện ở bệnh
nhân có tiền sử sẹo lồi, những người
làm peel trung bình khi đang sử dụng
isotretinoin uống trong 6 tháng đầu
tiên. Ngoài ra cũng có thể để lại sẹo
trong các trường hợp nhiễm trùng thứ
phát, chấn thương, hoặc bệnh nhân
lấy tay lột vảy trong thời gian sau
peel. Nguy cơ bị sẹo phì đại sau peel
trung bình là rất hiếm. Nếu xảy ra, thì
thường thấy ở vùng xương hàm dưới
và vùng quanh miệng. TCA là chất
ăn mòn mạnh hơn phenol do đó khả
năng để lại sẹo cao hơn (Nikalji 2012).
Nên điều trị càng sớm càng tốt những
trường hợp này với corticosteroids
bôi mạnh hoặc tiêm corticosteroid
vào tổn thương.
Những biến chứng khác

Ngứa, chậm lành vết thương,
bầm tím, nổi ban dạng mụn, và phản
ứng dị ứng với các sản phẩm được sử
dụng là những biến chứng khác khi
peel. Với các hóa chất như TCA hoặc
glycolic acid thì chưa có báo cáo về
phản ứng dị ứng với những chất này;
tuy nhiên TCA cố thể gây ra mày đay
vật lí (Tung và Rubin 2011).
Ghi nhớ

• Cần nhớ rằng, kết quả đạt
được sau một liệu trình peel trung
bình đối với tổn thương da ánh sáng là
kết quả khó có thể đạt được bởi bất kì
một liệu trình điều trị bằng công nghệ
mới nào.

• Không bao giờ quên chụp ảnh
vùng da cần điều trị của bệnh nhân
trước khi tiến hành thủ thuật peel để
dùng làm tư liệu so sánh sau khi peel.

• Công thức phối hợp peel trung
bình phổ biến nhất là dung dịch Jess­
ner + TCA 35%.

• Đắp gặc thấm saline 0.9%
lạnh có thể làm bệnh nhân cảm thấy
thỏa mái và dễ chịu hơn sau thủ thuật.
Quá trình bong vảy và tái tạo thượng
bì hoàn thành trong khoảng 7-10
ngày. Phù có thể kéo dài vài ngày và
đỉnh phù là 48h.

• Quá trình tái tạo collagen xảy
ra trong 3-4 tháng sau thủ thuật.
Tài khoản tham khảo

• Bolognia JL, Jorizzo JL, Schaf­
fer JV. Dermatology 3rd ed. Philadel­
phia: Elsevier Saunders; 2012. Chap­
ter 154

• Brody HJ. Complications of
chemical resurfacing. Dermatol Clin.
2001;3:427–37.

• Brody HJ, Monheit GD, Resnik
SS, Alt TH. A history of chemical peel­
ing. Dermatol Surg. 2000;26:405–9.

• Dingman DL, Hartog J, Siemi­
onow M. Simultaneous deep-plane

74 Trichloroacetic Acid Peel
face lift and trichloroacetic acid peel.
Plast Reconstr Surg. 1994;93:86–93. ;
discussion 4–5.

• Fischer TC, Perosino E, Poli F,
Viera MS, Dreno B, Cos- metic Derma­
tology European Expert Group. Chem­
ical peels in aesthetic dermatology: an
update 2009. J Eur Acad Dermatol Ve­
nereol. 2010;24(3):281–92.

• Gadelha AR, Costa IMC. Ciru­
rgia dermatológica em consultório.
2nd ed. São Paulo: Atheneu; 2009;
71–75.

• Glogau RG. Aesthetic and ana­
tomic analysis of the aging skin. Semin
Cutan Med Surg. 1996;15(3):134–8.

• Handog EB, Datuin MS,
Singzon IA. Chemical peels for acne
and acne scars in asians: evidence
based review. J Cutan Aesthet Surg.
2012;5(4):239–46.

• Hession MT, Graber EM. Atro­
phic acne scarring. A review of treat­
ment options. J Clin Aesthet Dermatol.
2015; 8(1):50–8.

• Khunger N. Standard guide­
lines of care for chemical peels. Indian
J Dermatol Venereol Leprol. 2008;74
Suppl S1:5–12.

• Landau
M.
Chemical
peels. Clin
Dermatol. 2008;26:200–
8.

• Lawrence N, Cox SE, Cockerell
CJ, et al. A comparison of the efficacy
and safety of Jessner’s solution and
35% trichloroacetic acid versus 5%
fluoracil in the treatment of wide­
spread facial actinic keratosis. Arch
Dermatol. 1995;131:176–81.

• Lee JB, Chung WG, Kwahck H,
Lee KH. Focal treatment of acne scars
with trichloroacetic acid:

chemical
reconstruction
of
skin scars method. Dermatol Surg.
2002;28:1017–21.

• Levy LL, Emer JJ. Compli­
cations of minimally invasive cos­
metic procedures: prevention and
management. J Cutan Aesthet Surg.
2012;5(2):121–32.

• Lupi O, Cunha PR. Rotinas de
diagóstico e tratamento da Sociedade
Brasileira de Dermatologia. 2a edição.
Rio de Janeiro: Editora GEN; 2011.

• Monheit GD. Chemical peeling
for pigmentary dyschromias. Cosmet
Dermatol. 1995;8:10–5.

• Monheit GF. Chemical peels.
Skin Ther Lett. 2004; 9(2):6–11.

• Monheit GD, Kayal JD. Chem­
ical peeling. In: Nouri K, Leal-Khouri,
editors. Techniques of dermatologic
surgery. Elsevier; 2003. p. 233–44.
Nikalji N, Godse K, Sakhiya J, Patil S,
Nadkarni

• N. Complications of medium
depth and deep chemical peels. J Cutan
Aesthet Surg. 2012;5(4):254–60.

• Patel L, McGrouther D,
Chakrabarty K. Evaluating evi- dence
for
atrophic
scarring
treatment
modalities. J Roy Soc Med Open.
2014;5(9):1–13.

• Rendon MI, Berson DS, Co­
hen JL, Roberts WE, Starker I, Wang
B. Evidence and considerations in the
applica- tion of chemical peels in skin
disorders and aesthetic resurfacing. J
Clin Aesthet Dermatol. 2010;3(7):32–
43. Rubenstein R, Roenigk HH, Steg­
man SJ, Hanke CW. Atypical keloids
after dermabrasion of patients taking
isotretinoin. J
Am
Acad Der­
matol. 1986;15:280–5.

75
Trichloroacetic Acid Peel

• Rullan P, Karam AM. Chemical
peels for darker skin types. Facial Plast
Surg Clin North Am. 2010;18(1):111–
31.

• Salam A, Dadzie OE, Galadari
H. Chemical peeling in ethnic skin: an
update. Br J Dermatol. 2013;169 Sup­
pl 3:82–90. Savant SS. Superficial and
medium depth chemical peel- ing. In:
Savant SS, editor. Text book of derma­
tosurgery and cosmetology. 2nd ed.
Mumbai: ASCAD-Mumbai,
India; 2005. p. 177–95.

• Small R. Aesthetic procedures
in office practice. Am Fam Physician.
2009;80(11):1231–7. 1238.
Tosti A, Grimes PE, de Padova MP. Col­
or Atlas of chem- ical peeling. Spring­
er; 2006.


• Tung RC, Rubin MG. Proce­
dures in cosmetic dermatology series:
chemical peels. 2nd.ed. 2011.

• Velasco MVR, Ribeiro ME,
Bendin V, Okubo FR, Steiner
D. Facial skin rejuvenation by chemi­
cal peeling: focus on phenol peeling.
An Bras Dermatol, Rio de Janeiro.
2004;79(1):91–9.

• Wolfe SA. Chemical face peel­
ing following therapeutic irradiation.
Plast Reconstr Surg. 1982;69:859–62.

76 Phối hợp Peel TCA
Chương 8
Phối hợp Peel TCA
Bogdana Victoria Kadunc
TÓM TẮT

Peel hóa chất là một trong
những thủ thuật thẩm mỹ phổ biến
nhất trên thế giới trong chuyên ngành
da, bắt đầu từ nhiều thế kỉ trước. Chỉ
định tốt nhất cho peel hóa chất là các
trường hợp mụn trứng cá, trứng cá
đỏ, rối loạn sắc tố, lão hóa da vùng
mặt và vùng ngoài mặt, và những vấn
đề khác về da. Kết quả thành công có
thể đạt được phụ thuộc vào lựa chọn
đối tượng bệnh nhân cận thận cũng
như sử dụng loại hóa chất phù hợp.
Trichoroacetic acid được xem là một
trong những hóa chất peel tốt nhất
nhờ vào tính linh hoạt, hoạt tính peel
chính xác trên da và không gây ngộ
độc hệ thống của nó. TCA có thể được
sử dụng như một chất ăn mòn trong
một vài loại peel và các thủ thuật khác.
Dựa vào những y văn hiện tại, chúng
tôi đã tổng hợp lại lịch sử về thủ thuật
này và những kiến thức đương đại với
peel TCA gồm chỉ định, chống chỉ định,
tình trạng da, các tiến hành thủ thuật,
kết quả và biến chứng. Ngoài ra chúng
tôi cũng đề cập đến sự phối hợp TCA
với các chất peel và các thủ thuật khác.
NỘI DUNG
• Giới thiệu
• Peel TCA
TCA: tổng quan
TCA: đặc tính
Peel TCA: chuẩn bị trước peel
Peel TCA: kĩ thuật peel
• Lão hóa ánh sáng
• Peel nông và rất nông bằng TCA
• Peel trung bình bằng TCA
• Phối hợp TCA
• Peel hóa chất và dày sừng ánh
sáng
• Kết luận
• Ghi nhớ
• Tham khảo
GIỚI THIỆU

Peel hóa chất đã được sử dụng
rất nhiều trong các thủ thuật da kể từ
rất lâu. Sử dụng các hóa chất để giúp
cải thiện chất lượng và vẻ bề ngoài của
da đã được mô ta trong Ebers Paryrus
của người hy lạp vào năm 1560. Năm
1882, trong quyển sách có tên Thera­
peutique gensneerale de la peau, được
viết bởi Unna, thì chuyên ngành da
được đề cập như là một chuyên ngành

77
Phối hợp Peel TCA
sử dụng các hóa chất peel cho mục
đích thẩm mỹ (Collins 1987).

Từ những kinh nghiệm lâu đời
của người dân, những thủ thuật này
đã dần trở thành các kĩ thuật có tính
học thuật với những tiêu chuẩn đạo
đức được đưa sau khi những chất này
được nghiên cứu về độc tính, mô học
và thử nghiệm.

Peel hóa chất thường được chỉ
định trong các trường hợp trứng cá
thường, rối loạn sắc tố da, trứng cá
đỏ, và lão hóa da ánh sáng ở các mức
độ khác nhau. Chỉ định điều trị của
những trường hợp này phải luôn dựa
trên tiêu chuẩn bệnh sinh và liên quan
giải phẫu bệnh học.

Tùy vào độ sâu hóa chất có thể
xâm nhập vào da, peel hóa chất được
chia thành peel rất nông, peel nông,
trung bình và sâu. Peel rất nông chỉ
xâm nhập vào lớp sừng và lớp hạt;
peel nông chỉ ảnh hưởng đến lớp giữa
bì-thượng bì và lớp bì nhú, sâu khoảng
0.45 mm, peel trung bình đạt đến lớp
bì lưới trên, sâu khoảng 0.6 mm; và
peel sâu xâm nhập đến lớp bì lưới
giữa và có thể đạt 0.8mm, lớp này là
giới hạn tối đa có thể peel mà không
để lại sẹo (Rubin 1995).

Resorcinol, salicylic acid, tri­
chloroacetic acid (TCa), và phenol là
những hóa chất được sử dụng phổ
biến nhất trong peel hóa chất, và gần
đây còn có các chất alpha hydroxyac­
ids, pyruvic acid (alphaketo acid), và
retinoic acid. Mỗi chất trong số các
chất kể trên có cơ chế hoạt động khác
nhau: cơ chế ly sừng, đông sừng (ker­
atocoagulation), và ly giải thượng bì.

TCA rất nổi bật nhờ vào tính an
toàn và linh hoạt của nó. Ở các nồng
độ (giữa 15% và 45%), thể tích và
mức áp lực bôi khác nhau, TCA có thể
dùng để peel rất nông, nông và trung
bình (Collins 1989). TCA có thể dùng
một mình hoặc phối hợp với các loại
hóa chất và thủ thuật khác.

Có báo cáo cho rằng TCA 50%
nếu được gây bít bằng băng dán, có
thể tạo ra peel sâu. Tuy nhiên, ở nồng
độ cao hơn 45%, nó có thể gây hoại
tử những lớp sâu của da, đưa đến gây
rối loạn sắc tố và sẹo phì đại (Resnik
1984; Ayres 1960; Resnik 1976; Stag­
none 1987). Đo đó, TCA 35% thường
được sử dụng trong peel trung bình
phối hợp vì khi phối hợp các loại hóa
chất peel với nhau sẽ làm giảm nguy
cơ của mỗi hóa chất so với khi sử dụng
chúng đơn lẻ.
PEEL TCA
TCA: tổng quan

Nghiên cứu lớn đầu tiên về ứng
dụng TCA (xem chương Peel Trichlo­
roacetic acid, vol.2) trên da người
được công bố bởi Monash vào năm
1945. Ông ấy đã bôi tại chỗ TCA để
điều trị ban vàng mí mắt (xanthelas­
ma palpebrarum), mụn cóc phẳng,
và u mềm lây. Ông ta còn điều trị vảy
phấn hồng, chàm mạn tính, và tổn
thương da do lupus ban đỏ bằng TCA.
Peel TCA được bôi toàn bộ mặt trong
trường hợp nám má và sẹo sau mụn
trứng cá. Ông đã sử dụng TCA trong
dung dịch nước với nồng độ 15% và
50% vì ông quan sát thấy rằng nếu sử
dụng với nồng độ cao hơn thì dễ dấn
dến hình thành sẹo lồi.

Giữa năm 1960 và 1962, Ayres
(1960, 1962), một bác sĩ da từ Los An­
geles, đã công bố 2 bài báo về TCA.

78 Phối hợp Peel TCA
Ông ấy báo cáo rằng TCA ở nồng độ
tối đa có tác dụng rất mạnh và có khả
năng ăn mòn mạnh hơn so với phenol,
nhưng có thể dùng TCA một cách an
toàn ở nồng độ từ 25% đến 50%. Ông
cũng đã kiểm tra nồng độ acid ở trong
nước tiểu của bệnh nhân và kết luận
rằng không có sự hấp thu hệ thống
đối với TCA. Trong nghiên cứu mô học
của mình, ông đã đề ra tầm quan trọng
của việc đánh giá mức độ hoại tử và
phục hồi mô gây ra bởi hóa chất trên
da. Mức độ hoại tử trong pha cấp và
mức tái tạo lớp collagen mới ở lớp bì
được đo 3 tuần sau khi peel, và thấy
rằng chúng có cùng mức độ.

Năm 1976, một nghiên cứu của
Resnik (1976) về đánh giá các loại peel
hóa chất: peel rất nông, sử dụng TCA
20%; peel trung bình, sử dụng TCA
35%; và peel sâu, sử dụng TCA 50%
hoặc 70%. Thì ông thấy rằng peel sâu
với TCA được xem là liệu pháp thay
thế an toàn hơn so với dùng phenol,
vì phenol gây ngộ độc hệ thống nên
thường chống chỉ định trong trường
hợp này. Tuy nhiên, những báo cáo
về sẹo lồi và sẹo teo gây ra bởi TCA ở
nồng độ cao hơn 45% ngày càng nhiều
(Lober 1987).

Một nghiên cứu mô học trên
da lợn kết luận rằng mức độ xâp nhập
vào da của TCA phụ thuộc vào nồng độ
được sử dụng, TCA 35-50% xâm nhập
0,3/0,4 mm và TCA 80% xâm nhập
0,8/0,9 mm. Họ kết luận rằng sử dụng
TCA ở nồng độ 50% hoặc cao hơn có
thể để lại sẹo do gây hoại tử lớp sâu
của da (Roenigk và Broadland 1993).

Do đó, kể từ năm 1980, mục
đích của các chuyên gia là peel TCA ở
nồng độ thấp hơn để đạt kết quả
tương đương phenol với nguy cơ thấp
hơn.

Để giải quyết vấn đề này, nhiều
nghiên cứu đã được thực hiện về sự
phối hợp peel trong đó người ta tiến
hành peel với một hóa chất khác trước
khi điều trị với TCA 35%. Năm 1986,
Brody và Hailey (1986) đã mô tả công
thức phối hợp này lần đầu tiên, ông đề
xuất peel nông với CO2 rắn sau đó bôi
ngay TCA 35%. Theo tác giả, với cách
phối hợp này, vừa có hiệu quả làm đổi
mới thượng bì vừa kích thích tốt lớp
bì và giảm nguy cơ để lại sẹo.

Với mục đích tương tự, Monheit
(1989) đã mô tả một công thức phối
hợp vào năm 1989: ông đã phối hợp
dung dịch Jessner, chứa 14% resorci­
nol, salicylic acid, và lactic acid trong
ethanol (Còn được gọi là công thức
Combes), với TCA 35%, và đã báo cáo
quá trình ly sừng và đông vón protein
của mỗi hóa chất. Năm 1994, Coleman
cũng đã công bố một kĩ thuật peel
nông phối hợp glycolic acid 70% với
TCA 35% (Coleman và Futrell 1994).
TCA: đặc tính

Trichloroacetic acid (C2HC­
l3O2) là hóa chất sử đụng để peel da
đầu tiên. Cơ chế tác động của chất này
là làm hoại tử lớp bì bằng cách làm
đông vón protein nằm giữa các tế bào.
Nó chứa các tinh thể trắng tan chảy có
khả năng hút ẩm cao, tan được trong
nước, alcohol, và ether. TCA có khả
năng ăn mòn rất mạnh và mạnh hơn
so với phenol khi ở nồng độ tối đa.

Dung dịch alcohol của TCA
không thấm tốt vào da, và do đó nước
là dung môi lí tưởng cho TCA. Một vài
phương pháp khác nhau có thể được

79
Phối hợp Peel TCA
sử dụng để tạo ra dung dịch từ các
tinh thể.

Ví dụ: để tạo ra TCA 30%, có 2
phương pháp sau: phương pháp của
người châu âu, cân nặng/cân nặng
(30 g tinh thể TCA + 70 g nước), và
phương pháp điều chế dược chuẩn
(Mỹ), cân nặng/thể tích (30g TCA tinh
thể + lượng nước thêm vào để được
tổng là 100ml dung dịch).

Nhiều nghiên cứu đã cho thấy
rằng phương pháp cân nặng/thể tích
nên được áp dụng, và các bác sĩ nên
xác nhận với các dược sĩ là mong
muốn điều chế theo phương pháp nào
để họ có thể so sánh và sản xuất lại
(Brindestine và Dolezal 1994).

Để giữ TCA ổn định, nồng độ
ban đầu vẫn được duy trì sau 23 tuần
được giữ trong chai thủy tinh hổ phách
ở nhiệt độ thường.

Theo một vài nghiên cứu, không
có hiện tượng nhiễm độc hệ thống khi
sử dụng TCA trên da (Ayres 1960;
Resnik 1976; Stagnone 1987).

Mức độ hấp thu của TCA liên
quan trực tiếp đến sự xuất hiện và
mức độ của đỏ da và frost sau khi bôi.
Những dấu hiệu này rất quan trọng và
có đáp ứng mô học gần như chính xác
(Johnson 1996). Nhờ vào lợi ích này,
việc sử dụng TCA trở nên dễ dàng và
an toàn.

Những đặc điểm có thể thấy
được liên quan đến tác dụng của TCA
trên da được phân loại như sau: độ
0, không có đỏ da và frost; độ 1, frost
nhẹ không đồng đều và đỏ da nhẹ; độ
2, frost từng điểm và đỏ da thấy rõ; độ
3, frost liên tục và đặc, không còn thấy
đỏ da. Lớp frost càng đồng nhất, càng
đặc, hình thành càng nhanh thì TCA
thấm vào càng sâu (Rubin 1995).
Peel hóa chất: chuẩn bị trước peel

Một bất lợi khi sử dụng TCA là
nó không được hấp thụ đồng điều vào
da. Có thể thấy lớp frost hình thành
khi peel luôn không đồng nhất và tạo
ra nhiều mức độ peel khác khau. Do
đó, điều trị da với tretinoin trước khi
peel là rất quan trọng bởi vì cách này
sẽ giúp TCA được hấp thụ nhanh hơn
và đồng nhất hơn và kết quả sẽ dễ dự
đoán hơn.

Sử dụng tretinoin trước thủ
thuật peel còn làm rút ngắn thời gian
hồi phục vì chất này có khả năng kích
thích làm tăng sinh và thay thế các
lớp tế bào thượng bì và làm tăng dòng
máu đến mô (Hevia 1991). Nên sử
dụng các biện pháp chống nắng đúng
chuẩn khi sử đụng tretinoin cũng như
đối với những bệnh nhân thực hiện
peel hóa chất.

Khi chuẩn bị bệnh nhân để
peel, cần phải dự phòng tái hoạt virus
herpes, đây là một trong những biến
chứng thường được báo cáo. Khuyến
cáo nên sử dụng kháng virus – acyclo­
vir (800 mg 8/8h), valacyclovir, hoặc
famciclovir – để dự phòng, cho bệnh
nhân uống bắt đầu từ 2 ngày trước
thủ thuật và kéo đài từ khoảng 3 ngày
cho đến 2 tuần tùy thuộc vào độ sâu
khi peel. Peel càng sâu, đặc biệt là ở
vùng quanh miệng thì chăm sóc càng
cẩn thận, cho dù bệnh nhân trước đây
chưa có đợt bùng phát herpes (Per­
kins và Sklarew 1996).
Peel hóa chất: kĩ thuật bôi

Những dụng cụ cần thiết để

80 Phối hợp Peel TCA
peel rất đơn giản và không tốn kém,
gồm có hóa chất peel, vật dụng peel,
gạc, hóa chất trung hòa và xi lanh chứa
saline để sử dụng trong trường hợp
các hóa chất dính vào mắt. Hệ thống
làm lạnh bằng không khí hiện đại là
hệ thống làm lành được sử dụng phổ
biến với các thủ thuật laser, và hiện
nay được dùng để thay thế máy thông
khí để kiểm soát đau trong quá trình
peel.

Trước khi bắt đầu thủ thuật, cần
kiểm tra và đánh giá cẩn thận vùng da
sẽ được peel về các bệnh lí da và quá
trình chuẩn bị da trước đó.

Độ sâu khi peel bằng hóa chất
là kết quả cộng gộp của nhiều yếu tố
bao gồm độ dày và mức độ dầu của đa
được điều trị, tính toàn vẹn của hàng
rào da, sự hiện diện và mật độ của các
thành phần phụ của da, mức độ tẩy
nhờn trước khi bôi, nồng độ hóa chất,
sự chà sát, gây bít tắt, và thể tích hóa
chất được sử dụng. Yếu tố sau cùng là
yếu tố quan trọng nhất. Tất cả những
chi tiết này phải được cân nhắc đồng
thời khi tiến hành peel, để có thể đạt
được kết quả như mong muốn mà có
thể hạn chế được nguy cơ để lại sẹo và
những biến chứng khác.

Bôi tê hoặc tiêm tê thường
không phổ biến trong peel nông và
peel trung bình. Tuy nhiên có thể
block nhánh thần kinh mặt ở đường
giữa đồng tử trong peel trung bình,
đặc biệt ở những bệnh nhân nhạy cảm.
An thần và giảm đau toàn thân có thể
được sử dụng trước khi tiến hành thủ
thuật để hỗ trợ giảm đau.

Lau sạch vùng da điều trị bằng
xà phòng trung tính và nước, đồng
thời tẩy nhờn với ethyl alcohol, ether
hoặc acetone. Đây là bước rất cần thiết
cho bề mặt không đồng nhất của da, để
điều khiển mức độ xâm nhập của hóa
chất, và loại bỏ bã nhờn, mảnh vụn tế
bào hoặc một số thành phần nhất định
khác của lớp sừng. Cần phân loại bước
này dựa vào mức độ dung nạp và nhạy
cảm của da, hóa chất được sử dụng, và
độ sâu muốn peel.

Bước tiếp theo là bôi hóa chất
an mòn. Hình thức bôi-bằng gạc hay
bông cotton có thể được lựa chọn bởi
các chuyên da. Đầu tiên bôi ở vùng
trán, nơi mà da ít nhạy cảm, dễ đồng
nhất hơn và cho kết quả dễ dự đoán
hơn so với những vùng còn lại của da
mặt. Sau đó bôi vùng 2 bên gò má, môi
trên, cằm, mũi và cuối cùng là vùng mí
mắt. Vật dụng bôi phải được dùng mới
ở mỗi vùng, và hạn chế hóa chất peel
xâm nhập quá sâu bằng cách tránh bôi
quá nhiều hóa chất.

Trong peel trung bình phối hợp
TCA 35% và dung dịch Jessner, TCA 35
% được bôi ngay sau khi chỉ bôi 1 lần
dung dịch Jessner. Cần phải quan sát
mức độ tương tác động học được đề
cập ở trên, cho đến khi hình thành lớp
trắng đặc và đồng nhất. Không cần rửa
hoặc trung hòa da sau thủ thuật.

Cảm giác đau khi bôi TCA sẽ
giảm khi xuất hiện lớp frost và có thể
kéo dài vài phút. Do đó, tốc độ bôi có
thể thay đổi tùy theo mức độ không
thỏa mái của bệnh nhân.

Ở vùng da môi trên, TCA có thể
xâm nhập 2 hoặc 3 mm vào vùng niêm
mạc đỏ của môi để điều trị các nếp
nhăn tại chỗ. Vùng xương hàm phải
cách quá 1 cm và luôn được đặc biệt
lưu tâm vì vùng này nằm gần vùng mà
có tỉ lệ các thành phần phụ của da thấp

81
Phối hợp Peel TCA
và cơ di động nhiều và thường để lại
sẹo lồi hay sẹo phì đại. Vùng trước và
sau của dái tai cũng cần được lưu tâm
đặc biệt. Đối với vùng mí mắt, vì vùng
này có nhiều nếp nhăn siêu nhỏ nên sẽ
là vùng peel cuối cùng và da vùng này
phải được kéo căng để bôi thêm hóa
chất, phải cách bờ lông mi tối thiểu 2
mm. Cùng lúc đó, phải lau nước mắt
cho bệnh nhân để tránh hóa chất đi
vào khoang mắt theo cơ chế mao dẫn.

Vùng cổ cũng nên được điều trị
để tránh xuất hiện sự lệch tông màu
da giữa vùng cổ và mặt, tuy nhiên
vùng này chỉ được peel nông mà thôi.
Lão hóa da ánh sáng

Peel hóa chất là một chỉ định rất
chính xác trong trường hợp lão hóa da
ánh sáng. Lão hóa da ánh sáng được
đặc trưng bởi các dấu hiệu lâm sàng
như bề mặt da thô ráp và không đồng
đều, rối loạn sắc tố, hình thành các
khối u lành và ác tính, giãn mạch da
do sự giãn ra của các mạch máu nhỏ,
nếp nhắn nhỏ do sự hỗ trợ của mô liên
kết giảm và mất sự đàn hồi mô. Theo
Rubin, mức dộ lão hóa da độ 1, 2, hay
3 dựa vào vị trí lớp da bị thay đổi (Ru­
bin 1995). Do đó, bề mặt da thô ráp
và không đồng đều và rối loạn sắc tố
thượng bì có thể được điều trị bằng
peel nông. Sạm da do ánh sáng và dày
sừng ánh sáng đòi hỏi phải tiến hành
peel trung bình để giải quyết, trong
khi sự giảm đàn hồi da ho ánh sáng và
rối loạn sắc tốt ở sâu trong da cần phải
peel sâu để điều trị.
Peel TCA nông và rất nông

Peel nông bằng TCA 10% hoặc
15% có tác dụng ưu thế lên lớp thượng
bì, do đó rất hữu hiệu trong kiểm soát
mụn trứng cá và trứng cá đỏ (rosa­
cea). Peel nông TCA là chỉ định hàng
đầu để điêu trị những bệnh nhân
đang mang thai (xem chương “tiếp
cận thẩm mỹ ở phụ nữ có thai”) do nó
không được hấp thu qua da nên không
gây độc hệ thống. Peel nông cũng có
thể được dùng để điều trị hỗ trợ trong
nám má và sạm da, vì TCA ở nồng độ
này có tác dụng peel nông bề mặt nên
sẽ hỗ trợ hấp thu đối với các chất bôi
làm trắng, và giảm nguy cơ tăng sắc tố
sau viêm (xem chương “tiếp cận điều
trị thẩm mỹ nám má”, vol 1; chương
“Q-Swiched Lasers trong điều trị Me­
lasma, Thâm quanh mắt, và trẻ hóa
da”, vol 3; Rivas và Pandya 2013; Sac­
chidannand 2015).

Peel nông với TCA 15% hoặc
20% cũng là liệu pháp hiệu quả để
điều trị lão hóa da mặt nhẹ, độ 1 theo
Rubin.

Vài ngày sau khi peel nông, da
sẽ trở nên khô, nhưng không có dấu
hiệu viêm và nên duy trì sử dụng lo­
tion rửa mặt nhẹ, kem chống nắng vật
lí và dưỡng ẩm nhẹ.

Peel nông và rất nông bằng TCA
cho da mặt được chỉ định theo một
chuỗi liệu trình từ 3 đến 5 lần peel,
khoảng cách giữa các lần peel là một
vài tuần, thời gian này là đủ để da mặt
phục hồi lại hàng rào da.

Peel TCA 15% và 20% cũng là
một lựa chọn tốt để peel các vùng da
ngoài da mặt, vì nó không hấp thu qua
da dù bôi với một diện tích lớn, do đó
không gây độc tính hệ thống. TCA có
thể được bôi cho đến khi xuất hiện đỏ
da hoặc xuất hiện các điểm frost (độ
2), và phải luôn nhớ rằng hoạt tính của

82 Phối hợp Peel TCA
TCA chậm do đó kiểm tra da đã đỏ hay
frost chưa trong vòng 5 phút mới bôi
lớp tiếp theo. Đối với da ngoài da mặt,
khoảng thời gian giữa các lần peel nên
là 1 tháng.

Chống chỉ định đối với peel TCA
nông và rất nông là rất hiếm, gồm có
các trường hợp sau: đang nhiễm vi­
rus herpes, tổn thương viêm da cơ địa
hoặc các bệnh khác ở vùng cần điều
trị.
Peel trung bình bằng TCA

Lão hóa da ánh sáng độ 2 và
3 với sự xuất hiện của đốm nâu, nếp
nhăn do ánh sáng, và giảm đàn hồi
nhiều là những chỉ định hợp lí đối với
peel trung bình bằng TCA 35% phối
hợp với peel trước đó bằng CO2 đặc,
dung dịch Jessner hoặc glycolic acid.
Dung dịch Jessner, theo mô tả bởi
Monhei, được sử dụng phổ biến nhất
để phối hợp peel trung bình với TCA
(Monheit 1989). Peel trung bình phối
hợp còn có thể được chỉ định trong
các bệnh u mềm lây ở bệnh nhân bị
suy giảm miễn dịch và để dự phòng
các tổn thương ác tính của bệnh khô
da nhiễm sắc tố (Nelson 1995; Garett
1992).

Chống chỉ định của peel trung
bình gồm: bệnh nhân đang nhiễm vi­
rus herpes hoặc mới nhiễm trong thời
gian gần đây, viêm da phóng xạ mạn
tính, và sẹo rộng (do bị giảm hoặc
không có các thành phần phụ của da,
sẽ rất khó khăn trong quá trình tái tạo
thượng bì). Cảm xúc không ổn định
cũng là chống chỉ định của peel trung
bình vì có thể bệnh nhân sẽ gặp phải
khó khăn với khoảng thời gian khó
chịu sau khi peel.
Vì độ sâu mà peel trung bình có thể
đạt được đến lớp bì nhú hoặc lớp trên
bì lưới, do đó làm peel trung bình trên
mặt phải hết sức tránh những vùng da
không đủ các thành phần phụ (nang
lông, tuyến bã...) để đảm bảo quá trình
tái tạo thượng bì.

Thời gian phục hồi sau peel
trung bình là từ 7-10 ngày. Trong thời
gian này có thể da sẽ bị đỏ, phù, và
đóng mài dày. Bệnh nhân không cần
phải nghỉ làm ở nhà, những những
hoạt động đòi hỏi phải tiếp xúc với
công chúng thì nên được tránh.

Có thể cho bệnh nhân sử dụng
thuốc kháng viêm (không có hoạt tính
hormone) hệ thống trong 5 ngày.

Cần phải theo dõi để phát hiện
các trường hợp tái hoạt herpes mặc dù
đã dự phòng tái hoạt virus herpes, nó
vẫn có thể xuất hiện sau đó vài tuần,
ngoài ra phải theo dõi nhiễm trùng có
thể xảy ra.

Nên rửa mặt bằng lotion rửa
mặt không gây kích ứng, và dưỡng
ẩm với nước ấm trong 5 phút từ 4-6
lần mỗi ngày. Sau khi rửa mặt, nên bôi
trơn bề mặt da với dung dịch petrola­
tum hoặc những chất dưỡng ẩm không
gây kích ứng khác. Những bước chăm
sóc da này nên được bắt đầu từ 4-6 h
sau khi làm thủ thuật. Nên rửa sạch và
bôi dưỡng ẩm lên lớp mài đóng trên
da cho đến khi nó bong tự nhiên. Bệnh
nhân phải được căn dặn là không nên
gỡ lớp mài mà phải để nó tự bong ra,
vì có thể sẽ làm chậm quá trình phục
hồi của da và nguy cơ để lại sẹo.

Sau khi toàn bộ lớp mài bong
ra, bệnh nhân có thể quay về với hoạt
động thường ngày và bắt đầu sử dụng
kem chống nắng vật lí. Chăm sóc da

83
Phối hợp Peel TCA
thường quy trở lại từ 2 tuần sau thủ
thuật.

Tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh
sáng trong vòng 60 ngày sau khi peel,
tuy nhiên, ánh sáng mặt trời lại có thể
giúp da phục hồi tốt hơn.

Những biến chứng của peel
trung bình gồm tăng sắc tố sau viêm
có thể xuất hiện ở da có phân loại II-IV
và có thể được điều trị bằng phối hợp
chuẩn các chất tretinoin, hydroqui­
none và corticosteroids bôi độ mạnh
trung bình.

Sẹo giảm sắc tố sau cùng có thể
xuất hiện ở những vùng peel quá tay,
những vùng này thường đóng mài dày,
và thời gian tái tạo thượng bì kéo dài
trên 10 ngày. Giảm sắc tố thường xảy
ra sau đỏ da kéo dài và sẹo lồi có thể
được điều trị bằng cách ủ kem bôi cor­
ticosteroid mạnh hoặc tiêm vào tổn
thương.

Peel trung bình có thể được lặp
lại nếu cần thiết, với khoảng cách thời
gian tối thiểu là 60 ngày. Hiệu quả lâm
sàng có thể kéo dài từ 18-24 tháng.
PHỐI HỢP PEEL TCA

Trong peel da bằng hóa chất,
thuật ngữ phối hợp có thể có vài ng­
hĩa: (Collins 1987) bôi 2 hóa chất ăn
mòn, một chất bôi trên chất kia ở cùng
một vị trí, ví dụ như peel Jessner với
TCA 35% (Rubin 1995), hay chem­
abrasion được định nghĩa là bôi hóa
chất ăn mòn sau khi tiến hành derm­
abrasion ở cùng một vị trí, và (Collins
1989) sử dụng kĩ thuật bôi khác nhau
với các đơn vị thẩm mỹ của da mặt.

Theo Gonzales-Ulhoa, da mặt
có thể được chia thành 11 đơn vị thẩm
mỹ- vùng trán, mí mắt, tai, vùng gò
má-má, mũi, môi, cằm và cổ- mỗi vùng
có các đặc tính da về màu sắc, cấu trúc
và độ dày khác nhau, đây là những yếu
tố quyết định đáp ứng của da khi peel
hóa chất. Trong peel hóa chất, sự phân
vùng này là rất quan trọng vì mỗi vùng
có mức độ hấp thụ khác nhau và do đó
độ sâu peel mong muốn cũng khác
nhau ở mỗi đơn vị thẩm mỹ (Gonza­
lez-Ulhoa 1954).

Bằng cách tôn trọng các vùng
thẩm mỹ trên mặt, và lưu ý những
thay đổi màu sắc có thể có, thì có ta có
thể thực hiện thủ thuật với các độ sâu
khác nhau theo chỉ định chính xác với
mỗi đơn vị thẩm mỹ.

Peel trung bình có thể phối hợp
với các thủ thuật xâm lấn sâu khác ở
vùng lão hóa da ánh sáng nặng, ví dụ
như vụng quanh miệng. Trong những
trường hợp này, dung dịch Baker
(xem chương “peel sâu bằng dung
dịch phenol” và “phối hợp peel dầu
Croton-Phenol”), dung dịch này chứa
phenol và dầu croton, có kèm hoặc
không kèm với được gây bít tắt bằng
băng dính, dùng để peel sâu đến lớp bì
lưới giữa (Vasconcelos 2013).

Một cách khác để điều trị nếp
nhăn sâu ở vùng môi là chemabrasion
(phối hợp peel hóa chất với derm­
abrasion). Các bước gồm tiến hành
peel TCA sau khi gây tê vùng điều trị,
tiếp theo là thực hiện dermabrasion
truyền thống với motor và diamond
fraise (dụng cụ làm dermabrasion
hình thoi) (Meski 2009) hoặc dụng
cụ làm dermabrasion bằng tay làm từ
cát. Peel TCA sẽ hỗ trợ tốt cho derm­
abrasion vì nó làm đông vón protein
bề mặt, giúp đạt kết quả tốt hơn so với
dùng đơn lẻ các thủ thuật.

84 Phối hợp Peel TCA
Peel hóa chất và dày sừng ánh sáng

Khả năng ung thư hóa của các
vùng dày sừng ánh sáng nhiều vị trí
và rải rác đã làm thay đổi quan điểm
điều trị với dày sừng ánh sáng. Dày
sừng ánh sáng được đặc trưng bởi sự
xen kẻ giữa vùng da bình thường với
vùng dày sừng bờ không rõ, nằm kề
nhau và lan rông, với số lượng nhiều
và có nhiều điểm tiền ung thư (Ultrich
2007; Goldenberg 2017).

5-Fluorouraccil là pyrimidine
được flo hóa có tác dụng chống chuyển
hóa và ổn định tế bào. Nó ức chế en­
zyme thymidylate-synthetase, đây là
enzyme cần cho quá trình tổng hợp
DNA và tăng sinh tế bào (Lawrence
1995). Sử dụng kem bôi 5-FU 5% 2
lần mỗi ngày trong 7 ngày trước khi
peel trung bình toàn bộ mặt với TCA
35%-45% có thể là liệu pháp thay thế
ở những bệnh nhân này, vì 5-FU có
thể làm những tổn thương có thể thấy
được có ranh giới trở nên rõ hơn.

Đến ngày thứ 8, cạo dày sừng
ánh sáng bằng curette được thực hiện,
sau đó bôi lượng nhỏ phenol 88% ở
vùng được cạo. Tiêm tê có thể được
áp dụng nếu cần thiết. Phenol có tác
dụng ăn mòn đồng nhất và ngay lập
tức. TCA 35% hoặc 45% sau đó được
bôi toàn bộ mặt (hình 1,2,3 và 4).

Phương pháp điều trị này cũng
có thể được thực hiện trên da đầu
bệnh nhân bị đa dày sừng ánh sáng
(xem chương “Liệu pháp quang động”,
vol 1; chương “liệu pháp quang động
đối với da tổn thương ánh sáng” trong
vol.3)
Hình 1: ảnh bệnh nhân ban đầu
Hình 2: Đa dày sừng ánh sáng xuất
hiện rõ sau 7 ngày bôi kem 5-FU 5%.

85
Phối hợp Peel TCA
Kết luận

Mặc dù những tiến bộ gần đây
trong laser và các công nghệ được sử
dụng trong các thủ thuật da liễu, thì
peel hóa chất vẫn được các bác sĩ da
liễu sử dụng rộng rãi với chi phí thấp
và kết quả tốt (Fischer 2010; Jacson
2014). Peel hóa chất có thể phối hợp
với các thủ thuật khác để đạt kết quả
cao hơn và giảm thiểu nguy cơ biến
chứng.
Ghi nhớ

1. Chỉ định của peel hóa chất
phải luôn dựa vào tiêu chuẩn sinh
bệnh học và liên quan giải phẫu bệnh
học.

2. Khả năng xâm nhập của các
hóa chất peel là kết quả của sự phối
hợp nhiều yếu tố khác nhau như độ
dày của da, mật độ những thành phần
phụ của da, và mức độ dầu của da,
tính toàn vẹn của hàng rào bảo vệ da,
nồng độ, thể tích thuốc, chà sát và gây
bít tắt. Tất cả những yếu tố trên phải
được cân nhắc đồng thời khi tiến hành
peel da.

3. TCA rất nổi trội nhờ tính an
toàn và linh hoạt của nó. TCA có thể
được sử dụng đơn lẻ để peel nông và
rất nông, hoặc sử dụng phối hợp với
các hóa chất khác để peel trung bình,
và phối hợp đồng thời với các thủ
thuật khác mà không gây ngộ độc hệ
thống dù được bôi trên một diện tích
rộng.

4. TCA chỉ được sử dụng trên da
mặt ở nồng độ dưới 45%. Nó là một
chất ăn mòn mạnh và mạnh hơn so với
phenol ở nồng độ tối đa. Hoạt tính của
nó chậm do đó nên chờ vài phút để
xuất hiện đỏ da và frost trước khi bôi
Hình 3: Hình ảnh bệnh nhân 30 ngày
sau khi cạo bỏ dày sừng ánh sáng và
kết hợp bôi phenol 88% tại chỗ và bôi
TCA 35% toàn bộ mặt sau đó.
Hình 4: 10 tháng sau

86 Phối hợp Peel TCA
lớp mới.

5. Sử dụng 5-FU 5% 2 lần mỗi
ngày trong 7 ngày trước khi peel trung
bình bằng TCA 35%-45% có thể là liệu
pháp thay thế trong điều trị đa dày
sừng ánh sáng, kể cả những vùng ung
thư hóa.
Tài liệu tham khảo

• Ayres S. Dermal changes fol­
lowing application of chem- ical cau­
terants to aging skin. Arch Dermatol.
1960; 82:146.

• Ayres S. Superficial chemo­
surgery in treating aging skin.

• Arch Dermatol. 1962;85:125–
33.

• Brindestine JB, Dolezal JF.
Standardizing chemical peel solution
formulations to avoid mishaps. Great
flutu- ations in actual concentrations
of trichloroacetic acid. J Dermatol
Surg Oncol. 1994;20:813–6.

• Brody HJ, Hailey CW. Medi­
um-depth chemical peeling of the
skin: a variation of superficial che­
mosurgery. J Dermatol Surg Oncol.
1986;12:268–75.

• Coleman WP, Futrell J. The gly­
colic acid trichloroacetic acid peel. J
Dermatol Surg Oncol. 1994;20:76–80.

• Collins PS. The chemical peel.
Clin Dermatol. 1987;5: 57–74.

• Collins PS. Trichloroacetic
acid peels revisted. J Dermatol Surg
Oncol. 1989;15:933–40.

• Duffy DM. Alpha-hydroxi
acids/trichloroacetic acids – risk
benefit strategies. Dermatol Surg.
1998;24:181–9.

• Fischer TC, Perosino E, Poli F,
Viera MS, Dreno B. Chem- ical peels
in aesthetic dermatology: na update
2009. J Eur Acad Dermatol Venereol.
2010;24:281–92.

• Garrett SJ, Robinson JK, Roe­
nigk HH Jr. Trichloroacetic acid peel
of molluscum contagiosum in immu­
nocom- promised patients. J Dermatol
Surg Oncol. 1992; 18:855–8.

• Goldenberg G. Treatment con­
siderations in actinic kerato- sis. J Eur
Acad Dermatol Venereol. 2017;31:2–
16.

• Gonzalez-Ulhoa M, Castillo A,
Stevens E, et al. Prelimi- nary study of
the total restoration of the facial skin.
Plast Reconstr Surg. 1954;13:151–61.

• Hevia O, Nemeth AJ, Taylor
JR. Tretinoin accelerates healing after
tricloroacetic peels. Arch Dermatol.
1991;127:40–8.

• Jackson A. Chemical peels. Fa­
cial Plast Surg. 2014; 30:26–34.

• Johnson JB, Ichinose H, Obagi
ZE, Laub DR. Obagi’s modified trichlo­
roacetic acid (TCA) controlled- vari­
able-depth peel: a study of clinical
signs correlating with histological
findings. Ann Plast Surg. 1996;36:
225–37.

• Lawrence N, Cox SE, Cock­
erell CJ, Freeman RG. A com- parison
of the efficacy and safety of Jessner’s
solution and 35% trichloroacetic acid
vs 5% fluorouracil in the treatment of
widespread facial actinic keratoses.
Arch Dermatol. 1995;131:176–81.

• Lober CW. Chemexfoliation –
indications and cautions.
J Am Acad Dermatol. 1987;17:109–12.

87
Phối hợp Peel TCA

• Maldonado RR. Satured phe­
nol as a local anesthetic for man­
ual dermabrasion. Dermatol Surg.
1997;23: 187–90.

• Meski APG. Chemabrasion for
the treatment of perioral wrinkles:
clinical analysis and epidermal Lang­
erhans cells qualifi cátion. Surg Cos­
met Dermatol. 2009;1: 74–9.

• Monash S. The uses of dilluted
trichloroacetic acid in dermatology.
Urol Cutan Rev. 1945;49:934.

• Monheit GD. The Jessner’s +
TCA peel: a médium depth chemical
peel. J Dermatol Surg Oncol. 1989;15:
953–63.

• Nelson BR, Fader DJ, Gillard
M, Baker SR, Johnson TM. The role of
dermabrasion and chemical peels in
the treatment of patients with xero­
derma pigmentosum. J Am Acad Der­
matol. 1995;32:472–8.

• Perkins SW, Sklarew EC. Pre­
vention of facial herpetic infections
after chemical peel and dermabra­
sion: new treatment strategies in the
prophylaxis of patients undergoing
procedures in the perioral área. Plast
Reconstr Surg. 1996;98:427–33.

• Resnik SS. Chemical peeling
with trichloroacetic acid. J Dermatol
Surg Oncol. 1984;10:549–50.

• Resnik SS, Lewis LA, Cohen B.
Trichloroacetic acid peel- ing. Cutis.
1976;17:127–9.

• Rivas S, Pandya AG. Treatment
of melasma with topical agents, peels
and lasers: na evidence-based review.
Am J Clin Dermatol. 2013;14:359–76.

• Roenigk RK, Broadland DG.
Facial chemical peel with trichloro­
acetic acid, Chapter 47. In: Roenigk
RK, Roenigk HHJ, editors. Surgical
dermatology. Philadel- phia: Mosby;
1993.

• Rubin MG. Manual of chemical
peels – superficial and médium-depth.
Philadelphia: Lippincot; 1995.

• Sacchidanand S, Shetty AB,
Leelavathy B. Efficacy of 15% trichlo­
roacetic acid and 50% glycolic acid
peel in the treatment of frictional mel­
anosis: a comparative study. J Cutan
Aesthet Surg. 2015;8:37–41.

• Stagnone GJ, Orgel MG, Stag­
none JJ. Cardiovascular effects of topi­
cal 50% trichloroacetic acid and Bak­
er’s phenol solution. J Dermatol Surg
Oncol. 1987;13: 999–1002.

• Ultrich M. Actinic Keratoses:
non-invasive diagnosis for field cance­
risation. Br J Dermatol. 2007;156:13–
7.

• Vasconcelos BN, Figueira GM,
Fonseca JCM, Mendonça LM, Fonse­
ca CR. A splitface comparative study
between two phenolbased peelings
(BakerGordon and Hetter formulas)
in the treatment of facial rhytids. Surg
Cosmet Dermatol. 2013;5:40–4.

88
Peel sâu bằng dung dịch Phenol
Chương 9
Peel sâu bằng dung dịch Phenol
Chinobu Chisaki, Gabriela Horn, và Leandro Fonseca Noriega
Tóm tắt

Lão hóa da là một quá trình
khiến nhiều người phải lo lắng và tìm
kiếm sự giúp đỡ từ y tế để làm giảm
các dấu hiệu lão hóa. Có rất nhiều kĩ
thuật chống lão hóa hiện nay và đang
ngày càng phát triển nhanh, tuy nhiên
không có nhiều phương pháp có thể
tạo ra được sự khác biệt đáng kể như
peel phenol. Chỉ định của peel phenol
là lão hóa da ánh sáng nặng, tuy nhiên
bất lợi của phương pháp này là đau
trong và sau thủ thuật, thời gian phục
hồi dài và nguy cơ ngộ độc tim. Do đó,
lựa chọn bệnh nhân là rất quan trọng
và khi thực hiện peel nên có sự hỗ trợ
của dụng cụ trợ giúp và nhân viên,
máy theo dõi tim, và gây tê.
Nội dung
• Giới thiệu
• Lịch sử
• Peel phenol-dầu Croton: độc tính

Phenol

Dầu Croton
• Phương pháp peel sâu

Phương pháp gây bít tắt

Peel theo công thức Baker
• Chất trung hòa phenol
• Chỉ định
• Chống chỉ định
• Chuẩn bị trước peel
• Kĩ thuật (peel phenol toàn bộ mặt)

Chăm sóc và an toàn chung

Chăm sóc tại chỗ và và xác định
ranh giới peel

An thần và giảm đau

Bôi hóa chất
• Tiến triển
• Phối hợp peel sâu và phẫu thuật
thẩm mỹ
• Biến chứng

Rối loạn sắc tố

Đỏ da kéo dài và đỏ bừng mặt

Sẹo

Nhiễm trùng

Biến chứng hệ thống

Những biến chứng khác
• Mô học
• Ghi nhớ
• Tham khảo
Giới thiệu

Peel hóa chất là dùng hóa chất
peel để bôi lên da nhằm gây tổn thương
các lớp của da một cách có kiểm soát
nhằm điều trị bệnh hoặc vì mục đích
thẩm mỹ. Đầu tiên, lớp da mới được
hình thành có nguồn gốc từ phần sâu
hơn của phần phụ da. Phải hết sức lưu

hacklink satın al mumu模拟器 雷电模拟器 向日葵 giftcardmall/mygift giftcardmall balance mygift giftcardmall matbet matbet giriş Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Betgaranti Betgaranti Güncel Adres Betgaranti Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Fim İzle Fim İzle Giriş Fim İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Fim İzle Fim İzle Güncel Adres Fim İzle jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Giriş Casibom Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Jojobet Jojobet Giriş Jojobet Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Deneme Bonusu Film İzle Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Türkçe Dublaj Film İzle Film İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi perabet perabet giriş holiganbet holiganbet giriş Casibom Lesfillmercom Casibom Lesfillmercom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Gerbergirlcom Casibom Gerbergirlcom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Spcelectriccontrolcom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş marsbahis marsbahis giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş matbet matbet giriş matbet güncel giriş vaycasino vaycasino güncel giriş vaycasino giriş matbet matbet giriş pusulabet pusulabet giriş pusulabet pusulabet güncel giriş pusulabet giriş matbet matbet güncel giriş matbet giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Resmi Adres pusulabet pusulabet giriş pusulabet güncel giriş Fixbet Fixbet Güncel Giriş Salvobet Salvobet Giriş Salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Turk Porno Turk Porno Giriş Turk Porno casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi casibom casibom jojobet izmir escort izmir buca escort buca escort jojobet casibom holiganbet holiganbet giriş jojobet holiganbet holiganbet giriş jojobet jojobet jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş izmir escort izmir buca escort buca escort izmir escort bayan salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Giriş Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Deneme Bonusu Veren Giriş Deneme Bonusu Veren salvobet salvobet salvobet salvobet Casibom betgaranti betgaranti betgaranti matbet matbet giriş matbet matbet giriş Casibom Casibom Salvobet jojobet Salvobet Salvobet Salvobet Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Güncel Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis bahsegel Fixbet Fixbet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş 1xbet 1xbet Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Listesi Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler grandpashabet grandpashabet grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler vaycasino vaycasino giriş Casibom Casibom Giriş www.giftcards.com Marsbahis Casibom Casibom Casibom Casibom Casibom Grandpashabet Grandpashabet Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Marsbahis Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Casibom Fixbet Fixbet Giriş Casibom Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Holiganbet Holiganbet Güncel Adres Nevşehir escort Kapadokya escort Nevşehir escort bayan nevşehir eskort escort nevşehir Casibom Casibom Giriş Adresi Kapadokya esc Casibom Casibom Resmi Adres Matbet Matbet Matbet Güncel Adres Pusulabet Pusulabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Trabzon escort escort trabzon Trabzon escort bayan Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler grandpashabet casibom grandpashabet casibom güncel giriş casibom grandpashabet güncel giriş holiganbet grandpashabet casibom giriş grandpashabet grandpashabet casibom casibom giriş