Dược-mỹ-phẩm-và-ứng-dụng-trong-thẩm-mỹ-1

19/11/2025 • by Bs CKI Phẫu thuật tạo hình, tái tạo và thẩm mỹ Trương Hoài Anh • laser
Ảnh bìa cuốn sách Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ của Patricia K. Farris

Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ

Dược mỹ phẩm là sự kết hợp giữa mỹ phẩm và dược phẩm, đem lại lợi ích điều trị vượt trội so với mỹ phẩm thông thường, là một trong những phân khúc phát triển nhanh nhất của thị trường chăm sóc cá nhân. Cuốn sách này cung cấp kiến thức chuyên sâu về cách các loại dược mỹ phẩm được phát triển, thử nghiệm, cơ chế hoạt động của các thành phần chính, và ứng dụng của chúng trong thực hành lâm sàng.

Tóm tắt nội dung chính

Cuốn sách được chia thành ba phần chính:

  • Phần I: Phát triển, Công thức và Đánh giá Dược mỹ phẩm: Tập trung vào cách thức phát triển, thử nghiệm, quy định pháp lý và quy trình đánh giá tính an toàn, hiệu quả của dược mỹ phẩm. Chương nổi bật bao gồm định nghĩa, thị trường dược mỹ phẩm, quá trình phát triển sản phẩm, và các phương thức tăng cường độ thâm nhập vào da như nhũ tương, liposome, và công nghệ nano.
  • Phần II: Thành phần Dược mỹ phẩm: Đi sâu vào cơ chế hoạt động và lợi ích lâm sàng của các thành phần hoạt tính quan trọng. Các chương tiêu biểu bao gồm:
    • Axit Hydroxy Alpha, Poly và Bionic: Phân loại, cơ chế tẩy tế bào chết, tăng sinh collagen, và ứng dụng trong điều trị nếp nhăn, tăng sắc tố, và tình trạng tăng sừng.
    • Vitamin A Retinoids: Cơ chế hoạt động ở cấp độ phân tử, tác dụng lâm sàng của Retinol, Retinaldehyde, và Tretinoin trong điều trị lão hóa da do ánh sáng.
    • Vitamin C (L-ascorbic acid) và Chất chống oxy hóa: Vai trò chống oxy hóa, bảo vệ quang học, kích thích tổng hợp collagen, và làm sáng da.
    • Niacinamide (Vitamin B3): Lợi ích lâm sàng đa dạng như giảm tiết bã nhờn, thu nhỏ lỗ chân lông, cải thiện nếp nhăn, giảm tăng sắc tố, và củng cố hàng rào bảo vệ da.
    • Peptides có Hoạt tính sinh học và Yếu tố Tăng trưởng (GFs): Cơ chế truyền tín hiệu để kích thích tăng sinh collagen, phục hồi vết thương, và ứng dụng trong trẻ hóa da.
  • Phần III: Ứng dụng Lâm sàng Dược mỹ phẩm: Trình bày các ứng dụng thực tế trong điều trị các bệnh lý da phổ biến và hỗ trợ các thủ thuật thẩm mỹ. Các chương chi tiết về điều trị mụn trứng cá, tăng sắc tố, trứng cá đỏ, sần vỏ cam, rụng tóc, ngăn ngừa và điều trị sẹo. Đồng thời, thảo luận về việc kết hợp dược mỹ phẩm để tăng hiệu quả của các thủ thuật thẩm mỹ như peel da và laser.

Cuốn sách là một nguồn tài nguyên chuyên môn đáng tin cậy, giúp các bác sĩ lâm sàng, nhà nghiên cứu và các chuyên gia thẩm mỹ cập nhật kiến thức về thị trường dược mỹ phẩm đang phát triển nhanh chóng và đưa ra các chế độ chăm sóc da dựa trên bằng chứng khoa học cho bệnh nhân.

Trang: / 284
Trang 1 Trang 2 Trang 3
📖 Xem bản dịch / Nội dung văn bản

199
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
thư, thì có thể dẫn đến biểu hiện lâm sàng
của bệnh.

Kích thích tế bào gốc của da
trải qua quá trình phân chia
tăng sinh (đối xứng)
Tế bào của lớp biểu bì và lớp hạ bì cỏ đời
sống ngắn ngủi. Khi chúng chết đi hoặc bong
tróc, chúng được thay thế bằng các tế bào
mới biệt hóa từ tế bào gốc. Tế bào gốc có
thể phân chia theo hai cách: (1) phân chia
đối xứng, tăng sinh; hoặc (2) với sự phân chia
không đối xứng, biệt hóa. Sự phân chia đối
xứng, tăng sirih tạo ra hai tế bào gốc hoặc hai
tế’ bào khuếch đại tạm thời, mỗi tế’ bào trải
qua nhiều lần phân chia đối xứng hơn và sau
đó biệt hóa sau nguyên phân để tạo thành
các tế bào đích chức, năng như nguyên bào
sợi, tế bào hắc tố và tế bào sừng. Ngược lại,
sự phân chia không đối xứng, biệt hóa tạo ra
một tế’ bào gốc để thay thế chính nó và một
tế bào khuếch đại tạm thời để phân chia và
biệt hóa thêm. Nếu tế bào gốc tái tạo thường
xuyên hơn, thì mật độ tế bào trong da sẽ tăng
lên. Nếu mỗi tế bào con đã biệt hóa hoạt
động bình thường, thì lượng các sản phẩm
từ tế bào cũng sẽ tăng lên (ví dụ: collagen,
elastin, chất nền).
Theo thời gian, số lượng tế bào gốc trong
da vẫn tương đối ổn định và chức năng của
chúng hầu như được bảo tồn. Với tuổi tác
ngày càng cao, tế bào gốc tái tạo ít thường
xuyên hơn. Có lẽ, tín hiệu hoặc phản ứng với
tín hiệu thất bại trong việc duy trì các hoạt
động tăng sinh và biệt hóa bình thường. Việc
bổ sung các yếu tố tăng trưởng hoặc thúc
đẩy các con đường tín hiệu có thể làm trẻ
hóa làn da bằng cách khôi phục sự tăng sinh
và biệt hóa một cách bình thường.
Dược mỹ phẩm được thiết kế để thúc
đẩy sự nhân lên của các tế bào da phải đối
mặt với nhiều rào cản tiềm ẩn. Thứ nhất,
sinh sôi nảy nở quá nhiều là không tốt. Hoạt
động tăng sinh quá mức có thể tạo ra quá
nhiều mô hoặc thậm chí là khối u da. Thứ hai,
sự phân chia tăng sinh của tế bào gốc cuối
cùng dẫn đến việc làm cạn kiệt chúng, vì tế
bào gốc đang phân chia không được đổi mới
hoặc bảo tồn. Thứ ba, các con đường điều
hòa bình thường của cơ thể có thể vô hiệu
hóa bất kỳ chiến lược nào đang cố gắng để
tăng số lượng tế bào gốc.
Các yếu tố tăng trưởng phải ở đúng nơi
vào đúng thời điểm và vượt qua các cơ chế
“không an toàn” được các tế bào sử dụng để
ngăn chặn sự phân chia tế bào bất thường.
Quyết định của một tế bào rời khỏi giai đoạn
nghỉ ngơi và tham gia vào chu kỳ sao chép
tế bào là một quyết định quan trọng. Sự tăng
sinh quá nhiều gây ra quá nhiều mô hoặc quá
nhiều tế bào. Sự tăng sinh quá ít sẽ không tạo
ra các hiệu ứng cần thiết. Để quyết định tái
tạo, tế bào gốc của da đánh giá môi trường
của nó có thể là không gian, phân cực tế
bào, môi trường cytokine, chất dinh dưỡng
sẵn có, áp lực oxy và có lẽ hàng trăm yếu tố
khác. Dược mỹ phẩm cung cấp một tín hiệu
để bắt đầu sao chép tế bào có thể làm như
vậy, nhưng thay vào đó, nó có thể không làm
gì cả. Các tín hiệu khác ủng hộ sự nghỉ ngơi
(không tăng sinh, không phân hóa) có thể
vượt qua tác dụng của dược mỹ phẩm đang
cố gắng thúc đẩy sự phân chia tế bào.

Làm cho các tế bào khuếch
đại tạm thời của da trải qua
quá trình phân chia tăng
sinh
Các yếu tố tăng trưởng như yếu tố tăng
trưởng biểu bì (EGF), yếu tố tăng trưởng biến
đổi p (TGF P) và yếu tố tăng trưởng thần
kinh (NGF) đã được bào chế thành dược mỹ
phẩm, và đã được công bố là thành công
trong việc kích thích tế bào gốc hoặc tế bào
khuếch đại tạm thời. Dữ liệu thực tế từ việc
sử dụng in vivo hầu hết đều thiếu. Hầu hết
các yếu tố tăng trưởng đều có kích thước
lớn và không xâm nhập vào da. Việc kết hợp

200
Dược mỹ phẩm tế bào gốc
Chương 19 _
các yếu tố tăng trưởng vào liposome hoặc
microphere có thể khắc phục được vấn để
này. Hầu hết các yếu tố tăng trưởng cũng
nhạy cảm với nhiệt độ và không ổn định. Tuy
nhiên, một loại dược mỹ phẩm kết hợp một
phân tử nhỏ với các tác động của yếu tố tăng
trưởng có thể là một sản phẩm thành công
để đảo ngược hoặc giảm thiểu những thay
đổi liên quan đến lão hóa.

Kích thích các tế bào gốc
trong da trải qua quá trình
phân chia biệt hóa (không
đối xứng)
Tên “yếu tố’ tế bào gốc” (còn gọi là SCF)
được dành riêng cho một phân tử cụ thể còn
được gọi là “kit-ligand” hoặc “steel factor”.
Phân tử liên kết với thụ thể C-Kit (CD117).
Được tạo ra bởi nguyên bào sợi và tế bào nội
mô, phân tử khá lớn này (MW 18 KDa) đóng
một vai trò trong quá trình tạo máu và duy trì
tế bào gốc. Kích thước lớn của nó có thể hạn
chế sự hấp thụ. Nguyên bào hắc tố biểu hiện
thụ thể C-Kit. Yếu tố tế bào gốc có thể giúp
định vị các tế bào hắc tố trong các mô, nó
cũng giúp chi phối sự tăng sinh và tồn tại của
tế bào hắc tố.
Một số dược mỹ phẩm có chứa các
thành phần của tế bào gốc (“các phân tử
được giải phóng từ tế bào gốc”) một mình
hoặc thêm các yếu tố tăng trưởng. Những
tác nhân này bao gồm nhau thai lỏng, trứng
người chưa thụ tinh, phôi thai bò, dẫn xuất
dây rốn, cytokine, interleukin, chất chống
oxy hóa, chaperones phân tử và micro RNA.
Bằng chứng về hiệu quả khi bôi tại chỗ trong
các loại kem là rất ít. Bản thân các tế bào gốc
(không phải sản phẩm của tế bào gốc) tạo
ra các tế bào khuếch đại tạm thời và các tế
bào da đặc hiệu, biệt hóa hơn của chúng. Sản
phẩm của tế bào gốc dường như không liên
quan đến quá trình tăng sinh hoặc biệt hóa tế
bào gốc. Ngay cả khi chúng có thể xâm nhập
vào da, các yếu tố giải phóng từ tế bào gốc
có thể không sở hữu yếu tố tăng trưởng hoặc
hoạt động tăng sinh tế bào gốc. Các phân tử
được giải phóng từ tế bào gốc được cho là
hoạt động như thể chúng là các sản phẩm
được tiết ra với các hoạt động tự tiết và nội
tiết được thiết kế’ để “nuôi dưỡng ngách tế
bào gốc”.
Kể từ khi tế bào gốc thực vật sửa chữa
các mô bị hư hỏng, việc ứng dụng của chiết
xuất tế bào gốc thực vật được khẳng định có
thể thúc đẩy quá trình sửa chữa làn da lão
hóa của con người. Được gọi là “tế bào mô
phân sinh” ở những thực vật như táo, dưa tây,
cà chua, hoa hồng hoặc gạo, những hóa chất
này có đặc tính chống oxy hóa.
Tế bào có nguồn gốc từ cây argan (Argania
spinosa) biệt hóa ngược trong nuôi cấy. Dịch
treo đồng thể của các tế bào này tăng cường
sự biểu hiện của Sox2 (một chỉ dấu tế bào
gốc) trong các tế bào da có nguồn gốc từ
các nang lông bị cắt lọc so với nhóm chứng.
Hơn nữa, việc đi qua các tế bào được ủ với
chiết xuất từ cây argan đã làm tăng số lượng
môi trường thứ cấp được hình thành bởi tế
bào Sox2 + ở da trong môi trường nuôi cấy,
cho thấy rằng các chất chiết xuất này “kích
thích sức sống của tế bào gốc ở da”. Một thử
nghiệm lâm sàng về nhũ tương chiết xuất ở
dạng kem đã làm tăng khả năng hồi âm của
lớp bì nông so với giả dược (ngụ ý tăng mật
độ) và giảm độ sâu của nếp chân chim.
Một chiến lược hiệu quả có thể nhắm
đến các kết quả nhiều hơn trong các con
đường tín hiệu. Các tín hiệu thúc đẩy sự nhân
lên của tế bào gốc thường đi theo con đường
truyền tín hiệu Wnt (phát âm là “wint”). Khi tế
bào giám sát môi trường của nó, các protein
Wnt liên kết với các thụ thể trên màng tế bào.
Nếu chỉ có một tia nhỏ tín hiệu đến, thì tế bào
sẽ ở trạng thái nghỉ ngơi, không tăng sinh,
không biệt hóa và duy trì “tính gốc” của nó.
Tăng lượng tín hiệu hỗ trợ quá trình phân chia
tế bào gốc biệt hóa. Tế bào gốc phân chia
để tạo ra một tế bào gốc (do đó duy trì chính
nó và đa năng để sử dụng trong tương lai)
và một tế bào biệt hóa, ít tiềm năng hơn (“tế
bào khuếch đại tạm thời”). Sinh vật sử dụng

201
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
các tế bào khuếch đại nhất thời để tạo ra các
tế bào biệt hóa chức năng theo dòng như tế
bào sừng và nguyên bào sợi. Khi các tế bào
khuếch đại tạm thời tương đối cạn kiệt, cần
phải có một quá trình phân chia không đối
xứng khác của các tế bào gốc (Hình 19.1).
Số lượng tế bào gốc trong da nói chung
không suy giảm theo tuổi tác. Chúng ít có khả
năng trải qua quá trình phân chia không đối
xứng để biệt hóa thành các tế bào cấu thành
của da, chẳng hạn như nguyên bào sợi và tế
bào sừng. Asymmtate ™ là một thành phần
mỹ phẩm hỗ trợ quá trình phân chia biệt hóa
bình thường của tế bào gốc. Asymmtate thúc
đẩy các tín hiệu nhỏ giọt xuống con đường
Wnt để liên kết (thông qua (3-catenin) với
protein coactivator được gọi là p300 hơn là
protein coactivator tương tự về cấu trúc được
gọi là CBP. Điểu này cho phép tế bào gốc trải
qua quá trình phân chia biệt hóa (không đối
xứng). Asymmtate khuyến khích các tế bào
gốc tạo ra số lượng tế bào da bình thường
tăng lên và tăng lượng sản phẩm của tế bào
da bình thường. Sự mong muốn của chiến
lược này là rõ ràng; asymmtate giúp các tế
bào gốc của da hoạt động như ở độ tuổi trẻ
hơn. Thành phần hoạt động để giúp khôi phục
lại sự bình thường. Asymmtate có vẻ an toàn
để sử dụng tại chỗ. Hơn nữa, thành phần này
không khuyến khích sự phân chia đối xứng
tăng sinh, giúp giảm bớt lo lắng về sự tăng
sinh quá mức hoặc hình thành các khối u da.

Kết luận
Tế bào gốc cuối cùng tạo ra tế bào da và
các thành phần cấu tạo của chúng. Với quá
trình lão hóa, việc truyền tín hiệu không đầy
đủ hoặc không đúng cách khiến các tế bào
gốc ít có khả năng trải qua quá trình phân
chia biệt hóa, bất đối xứng cần thiết để duy
trì số lượng tế bào biệt hóa bình thường. Các
tế bào gốc già có vẻ ít phản ứng hơn với các
tín hiệu đi xuống con đường Wnt. Dược mỹ
phẩm có tác dụng thúc đẩy và hỗ trợ quá
trình phân chia tế bào gốc bình thường sẽ
ngăn chặn và đảo ngược những thay đổi liên
quan đến sự xuất hiện của da lão hóa.

Các tế bào khuếch đại tạm thời
Hình 19.1 Trong quá trình phân chia không đối xứng (biệt hóa), một tế bào gốc đang tái tạo
phân chia thành hai loại tế bào. Nó tự đổi mới để tạo ra một tế bào gốc mới, và nó tự biệt hóa
để tạo ra một tế bào khuếch đại tạm thời. Tế bào khuếch đại tạm thời sẽ trải qua quá trình
phân chia đối xứng để tạo ra vô số tế bào biệt hóa của một dòng cụ thể, ví dụ, nguyên bào sợi.
Nguồn: Dahl MV. 2012. Sao chép lại với sự cho phép của John Wiley & Sons Ltd.

202
Dược mỹ phẩm tế bào gốc
Chương 19 _
Further reading
Dahl MV. Stem cells and the skin. J
Cosmetic Dermatol 2012; 11: 297-306. Fen-
ske NA, Lober cw. Structural and functional
changes of normal aging skin. J Am Acad
Dermatol 1986; 15: 571-585.
Giangreco A, Qin M, Pintar JE, Watt FM.
Epidermal stem cells are retained in vivo
throughout skin aging. Aging Cell 2008; 7:
250-259.
Kahn M. Symmetric division versus
asymmetric division: A tale of two coactiva-
tors.
Future Med Chem 2011; 3: 1745-1763.,
Kohl E, Steinbauer J, Landthaler M,
Szeimies RM. Skin aging. J Eur Acad Derm
Venerol 2011; 25: 873-884.
Montano I. Dermal stem cells are the tar-
get of the latest treatments for deep-seated
skin rejuvenation, info@mibellebiochemistry.
com, Pera
MF, Tam PPL. Extrinsic regulation of pluripo-
tent stem cells. Nature 2010; 465: . 713-720.
. 1
Sethi J, Videl-Puig A, Wnt signaling and
the control of cellular metabolism. Biochem
J 2010;427:1-17.
Wu Y, Zhao RCH, Tredget EE. Concise
review: Bone marrow-derived stem/progen-
itor cells in cutaneous repair and regenera-
tion, stem Cells 2010; 28: 905-915. Zouboulis
cc, Adjaye J, Akamatsu H, et al. Human skin
stem cells and the aging process.
Exp Gerontology 2008, 43: 986-991.

203
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
20
NHỮNG ỨNG DỤNG
TỪ SINH VẬT BIỂN
DƯỢC MỸ PHẨM
TRONG NGÀNH

C
h
ư
ơ
n
g
Sung-H\van Eom1 and Se-Kwon
Kim
‘Marine Bioprocess Research Center,
Pukyong National University, Busan,
Republic of Korea 2Marine Biochemistry
Laboratory, Pukyong National University,
Busan, Republic of Korea

204
Những ứng dụng từ sinh vật biển trong ngành dược mỹ phẩm
Chương 20 _
Giới thiệu
Các loại mỹ phẩm thường được chỉ định
sử dụng trong việc cải thiện vẻ đẹp và duy trì
vẻ đẹp của làn da. Trong thời gian gần đây,
các loại mỹ phẩm với nguyên liệu tự nhiên
hoặc hoạt chất có nguồn gốc sinh học được
sáng chế ra để tăng cường thể trạng và vẻ
đẹp của làn da khi sử dụng điều trị các vấn
đề da liễu.
Các phẩm vật tự nhiên của biển đều là
một nguồn tích trữ dồi dào các hoạt chất
có ích khác nhau có thể dùng để thiết kế
hoặc phát triển những sản phẩm trị liệu rất
hữu dụng. Bên cạnh đó, có nhiều loại hợp
chất thủy sinh từ biển đã được phát hiện là
những hoạt chất tiềm năng cho ngành dược
mỹ phẩm bởi vì khả năng chống oxy hóa,
kháng viêm, chống dị ứng, chống lão hóa,
chống nhăn, ức chế tyrosinase, ức chế MMP
và chống tia cực tím (UV). Các hợp chất này
đang được nghiên cứu cho các ứng dụng trị
liệu như thực phẩm chức năng và dược mỹ
phẩm với các tiêu chí đánh giá lâm sàng kỹ
càng vê’ hiệu quả cũng như độ an toàn.
Trong các hợp chất thủy sinh từ biển,
polyphenols, carotenoids, và axit amin gốc
mycosporine thường được biết đến nhiều
nhất là những hoạt chất có nguồn gốc thực
vật rất hiệu quả. Những hiệu ứng sinh học tốt
như thế này đều đã được ứng dụng rộng rãi
trong ngành dược mỹ phẩm. Vì thế, chương
này sẽ tập trung chủ đề vào những đề tài
nghiên cứu hiện nay về ứng dụng trong
ngành dược mỹ phẩm của những hợp chất
thủy sinh từ biển và những tiềm năng điều trị
của chúng. Hy vọng rằng chương này sẽ cải
thiện sự quan tâm đến các sản phẩm dược
mỹ phẩm có nguồn gốc từ biển với nhiều ứng
dụng tiềm năng như thực phẩm chức năng
hay dinh dưỡng.

Các hợp chất thủy sinh có
nguồn gốc từ sinh vật biển
Phlorotannins
Tảo biển trước giờ là một nguồn cung
cấp quan trọng của các chất chuyển hóa có
hoạt tính dược lý. Không những thế, chúng
còn phân bố rộng rãi và đầy khắp các nơi
dọc theo các vùng ven biển của nhiều quốc
gia. Bên cạnh đó, chúng còn là nguồn cung
cấp các chất chuyển hóa thứ cấp hữu dụng
như thạch rau câu, chất phụ gia carrageenan,
hoặc chất khử nước algin với nhiều tính chất
dược lý thú vị. Trong các loài tảo biển thì tảo
nâu đã được công bố có chứa hàm lượng
phlorotannin cao được xem như là chất
phenolic từ biển. Cấu trúc Phlorotannins là
một dãy polymer kết nối bao gồm nhiều đơn
vị phloroglucinol (1,3,5 - tryhydroxybenzene)
được hình thành theo con đường acetate
- malonate trong tảo biển. Hơn nữa, những
phlorotannins này là những thành phần ưa
nước với đủ loại các kích cỡ phân tử khác
nhau (126 Da-650 kDa).
Vả lại, vài hoạt chất phlorotannins trích
ly từ tảo nâu như Ecklonia cava, E. kurome,
E. stolonifera, Eisenia aborea, E. bicyclis,
Ishige okamurae, and Pelvetia siliquosa đều
có nhiều tác dụng sinh dược lý rất tốt, cho
thấy khả năng chống oxy hóa, kháng viêm,
kháng vi-rút, chống khối u, chống tiểu đường,
và chống ung thư rất tốt. Eckol, dieckol, và
phloroglucinol từ E. cava cũng chứng tỏ
tiềm năng trong hiệu quả chống bệnh tăng
huyết áp. Thêm vào đó, E. cava có chứa
các phlorotannin khác như 6,6-bieckol,
8,8-bieckol, 8,4-dieckol, dioxynodehydroeckol,
fucodiphlorethol G, phlorofiicofuroeckol-A,
triphlorethol A. Ngoài ra thì E. kurome và
E. bicyclis cũng được chứng minh có chứa
các hợp chất phlorotannin như eckol,
phlorofucofuroeckol A và dieckol, và hoạt
chất 8,8- bieckol đã được cô lập. Phlorotannin
trong E. Arborea có khả năng chống dị ứng rất
mạnh và cấu trúc của chúng cũng được phân
tích đầy đủ như eckol, 6,6- bieckol, 6,8-bieckol,
8,8-bieckol, phlorofucofuroeckol-A,........
phlorofucofuroeckol-B. Ngoài ra thì
6,6-bieckol, diphlorethohydroxycarmalol, và

205
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
phloroglucinol cũng được phân tách và cô lập
từ tảo nâu Ishige Okamurae. Tổng quát chung,
phlorotannins có thể sử dụng là thành phần
hoạt chất chính trong các sản phẩm của
ngành dược mỹ phẩm và dược phẩm.
Carotenoids
Carotenoids là những sắc tố phổ biến
nhất trong tự nhiên và được tổng hợp từ cây
cỏ, rong tảo, nấm và vi sinh vật. Những đặc
tính này phụ thuộc vào những phân tử cường
độ ánh sáng cao như là vàng, cam và đỏ của
nhiều loại trái cây, hoa quả, chim, cá và giáp
xác. Carotenoids được biết đến như là món
ăn giải khát nhanh và có vai trò bảo vệ chống
lại việc hình thành các nhóm oxy phản ứng
và vô hiệu hóa việc hình thành các gốc oxy tự
do. Cụ thể hơn, fucoxanthin và astaxanthin là
những thành phần chính của các carotenoid
có nguồn gốc từ biển mà đã được công nhận
có tác dụng chống oxy hóa rất mạnh (Hình
20.1)
Hình 20.1 Cấu trúc hóa học của fuxanthin (a) và astaxanthin (b).
Axit Amin Gốc Mycosporine
Trong tự nhiên, sinh vật biển có nhiều cơ
chế phòng vệ quang học để bảo vệ cơ thể
chúng khỏi các tia cực tím nguy hiểm (Bước
sóng tia UV: 280-400 nm) bằng cách tổng
hợp nhiều chất hấp thụ tia cực tím như các
axit amin gốc mycosporine (MAAs). Các axit
amin gốc mycosporine (MAAs) là những hợp
chất có kích thước nhỏ (<400 kDa), không
màu và tan trong nước với cyclohexanone
chromophore liên hợp với nửa nhánh nitơ
của axit amin hoặc imino alcohol. MAAs có
khả năng hấp thụ cao bước sóng từ 310nm
đến 360nm, và chúng được cho là có chức
năng bảo vệ với tư cách là chất hấp thụ UV
cho sinh vật biển. Hơn thế nữa, các hợp chất
hấp thụ uv như MAAs có khả năng kháng lại
các tác nhân hủy hoại sinh học như nhiệt độ,
tia uv và pH. Vì những tình chất này, MAAs là
những hoạt chất đáng quan tâm trong chế
tạo kem chống nắng trong mỹ phẩm và dược
phẩm.

206
Những ứng dụng từ sinh vật biển trong ngành dược mỹ phẩm
Chương 20 _
Các tiềm năng ứng dụng
dược mỹ phẩm của sinh vật
biển
Hoạt tính ức chế Tyrosinase (thuộc
tính là sáng da) của Phlorotannins
Enzyme
Tyrosinase
(polyphenols
oxydase, EC 1.14.18.1) là một yếu tố thẩm
mỹ quan trọng ảnh hưởng đến mức độ
hình thành sắc tố melanin và oxi hóa của
polyphenols. Cho nên, các chất ngăn enzyme
tyrosinase có vai trò quan trọng trong công
nghiệp dược phẩm vì khả năng làm sáng da và
giảm sắc tố của chúng. Tyrosinase nấm (EC
1.14.18.1) là một loại oxydase chứa đồng, xúc
tác cả quá trình hydroxyl hóa tyrosine thành
dihydroxy-L-phenylalanine (L-DOPA) và quá
trình oxy hóa L-DOPA thành dopaquinone
sau đó thành o-quinone. Chất o-quinone
này có thể được chuyển hóa thành sắc tố
melanin nâu trong quá trình nâu hóa. Phản ứng
enzyme nâu hóa này có thể ngăn ngừa bằng
cách khóa chất trung gian o-dopaquinone.
Một số tác nhân tác động lên tyrosinase,
kojic acid, arbutin, catechins, hydroquinone
(HQ) and azelaic acid được sử dụng dụng phổ
biến như là chất làm sáng da và tạo thẩm mỹ
da. Một số chất bảo quản và phụ gia sử dụng
trong công nghiệp thẩm mỹ được đánh giá là
độc hại gây nguy hiểm cho các tế bào và cơ
thể, là chất gây biến dị gen và hình thành khối
u khi sử dụng lâu dài. Cho nên, rất nhiều công
trình nghiên cứu đã được đầu tư kỹ lưỡng để
tìm ra những thành phần tự nhiên mới và các
nghiên cứu này đã thể hiện rằng phlorotannins
có trong tảo nâu là một chất chống tyrosinase
tiềm năng trong nghiệp thẩm mỹ và dược
phẩm.
Các chất phlorotannins được phân
lập và đặc trưng (1-7) từ tảo nâu với hoạt
tính ức chế tyrosinase được thể hiện trong
hình 20.2, như phloroglucinol (1), eckol (2),
phlorofucofuroeckol-A (3), 6,6-bieckol (4),
dieckol (5), dioxynodehydroeckol (6), và
7-phloroeckol (7). Bên cạnh đó, triphloroethol
A, 8,8-bieckol và 8,4-dieckol cũng đã được
báo cáo. Những phlorotannin được phân lập
này đều đã được chứng minh là có vai trò ức
chế tyrosinase như một tác dụng làm sáng
và khử sắc tố da (Bảng 20.1). Trong năm
2012, Kang và cộng sự đã phát hiện dieckol
phân tách từ E. cava có hoạt tính ức chế
tyrosinase rất tốt. Dieckol đã cho thấy hoạt
tính ức chế tyrosinase rất tốt bằng cách kết
nối và giảm bớt sự tương tác phối tử-thụ thể.
Các phân tích động học cũng cho thấy dieckol
là hoạt chất đối kháng không cạnh tranh.
Trong các giả lập mô hình phân tử, các gốc
liên kết của dieckol (HIS208, Met215, and
Gly46) có thể tương tác với các điểm hoạt
động của tyrosinase như là yếu tố chính trong
hoạt động liên kết thụ thể-phối tử. Năm 2004,
Kim và cộng sự đã nghiên cứu các hoạt động
ức chế của phlorotannin từ Ecklonia cava.
Từ dung dịch hòa tan trong ethyl acetate
(EtOAc) của E. cava người ta đã phân
lập được phloroglucinol (1), eckol (2),
phlorofucofuroeckol-A (3), 6,6-bieckol (4), và
dieckol (5). Khả năng ức chế được diễn giải ở
nồng độ cần thiết để có thể ức chế được 50%
tyrosinase (IC50). Kết quả đo hoạt tính ức
chế tyrosinase cho thấy giá trị IC50 lần lượt
là 20.00 ± 0.46, 7.60 ± 0.90, và 8.70 ± 0.23[ig/
mL cho 2, 4, và 5 theo thứ tự (Bảng 20.1). Họ
nhận thấy hoạt động ức chế có thể so sánh
với arbutin (có chỉ số IC50 là 65.00 ± 0.61pg/
mL) và kojic acid (có chỉ số IC50 là 1.10 ±
0.53|ig/mL).
Hơn thế nữa, chiết xuất gốc methanol
của E. stolonifera cũng có hoạt tính ức chế
tyrosinase (có chỉ số IC50 là 354.00pg/mL).
Từ phần EtOAc, năm hợp chất có thể được
phân lập. Trong số đó, dieckol (5) thể hiện
hoạt tính ức chế tyrosinase rất mạnh với chỉ
số IC50 là 2.16pg/mL. Các hợp chất khác
như phloroglucinol (1), dioxynodehydroeckol
(6), eckol (2), and phlorofucofuroeckol-A
(3) có những chỉ số IC50 theo tương ứng
là 92.80, 126.00, 33.20, và 177.00pg/
mL. Chúng được so sánh với arbutin và
kojic acid (có chỉ số IC50 tương ứng là
112.00 và 6.32pg/mL). Phân tích động học

207
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Hình 20.2 Cấu trúc của phlorotannin từ tảo nâu (phloroglucinol (1), eckol (2), fucofuroeck-
ol-A (3), dioxinodehydroeckol (4), 8,8’-bieckol (5), 7-phloroeckol (6), phlorofucofuroeckol-A ( 7),
dieckol (8)).

208
Những ứng dụng từ sinh vật biển trong ngành dược mỹ phẩm
Chương 20 _
Nguồn
Cơ chế tác động
Tham khảo
Bảng 20.1 Các hợp chất pholorotannin có tác dụng ức chế tyrosinase
Tác dụng ức chế được biểu thị bằng nồng độ ức chế 50%
Không có sẵn
Không phát hiện
Ghi chú :

209
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
bằng biểu đồ Lineweaver-Burk cho thấy
phloroglucinol (1) và dioxynodehydroeckol
(6) là chất ức chế cạnh tranh L-tyrosine của
tyrosinase nấm. Ngoài ra, eckol (2), dieckol (5) và
phlorofucofuroeckol-A (3) hoạt động như
chất ức chế không cạnh tranh. Yoon và
cộng sự đã khảo sát khả năng hoạt động
ức chế tyrosinase của phloroglucinol (l),
dioxynodehydroeckol (6), và 7-phloroeckol (7)
được phân lập từ E. cava. .Hoạt chất 7-
phloroeckol (7) thể hiện hoạt tính ức chế
tyrosinase đầy hứa hẹn với giá trị IC50
là 0,85 Ịig / mL và ức chế cạnh tranh. Một
số thành phần khác được phát hiện như
phloroglucinol
(1),
dioxynodehydroeckol
(6) cũng cho chỉ số IC50 theo thứ tự là
300.00pg/mL và 222.94pg/mL so với arbutin
(có chỉ số IC50 là 243.16pg/mL) và kojic
acid (có chỉ số IC50 là 40.28|ig/ mL). Năm
2010, Heo et al. đã phân lập thành công
diphlorethohydroxycarmalol từ tảo Ishige
okamurae để tạo chất ức chế tyrosinase.
Diphlorethohydroxycarmalol biểu hiện hoạt
tính ức chế tyrosinase với chỉ số IC50 là
142.20 iiM, so với arbutin (có chỉ số IC50 là
342.82pg/mL). Mặc dù các kiến thức hiện
nay về cấu trúc và phương thức hoạt động
của những hoạt chất phlorotannins còn
hạn chế, hoạt động sinh lý có thể phụ thuộc
vào mức độ trùng hợp của các dẫn xuất
phlorotannin. Do đó, hoạt tính ức chế
tyrosinase của phlorotannin có thể liên
quan đến mức độ trùng hợp phloroglucinol.
Ngoài ra, dựa trên kết quả đáng kể của hoạt
động ức chế tyrosinase so với các dẫn xuất
catechin ở thực vật trên cạn, người ta đã báo
cáo rằng các giá trị IC50 của gallocatechin,
epi-gallocatechin gallate, methyl gallate, và
quercitrin từ Distylium racemosum cho thấy
4,80,30,2 và 37,3 |ig / mL. Hoạt động ức chế
tyrosinase của phlorotannin được phân lập
từ tảo nâu ăn được tương đương với hoạt tính
của catechin có nguồn gốc từ thực vật trên
cạn.
Do đó, người ta cho rằng phlorotannin
từ tảo nâu sẽ rất hữu ích trong công nghiệp
thực phẩm và dược phẩm với vai trò là chất
làm sáng da. Ngoài ra, tảo nâu bao gồm các
hợp chất tăng cường sức khỏe khác nhau
như fucoxanthin, polysaccharides sulphated,
sterol, axit béo không bão hòa đa và các loại
xơ sợi hòa tan.

Tác dụng chống oxy hóa
của fucoxanthins và
astaxanthins
Fucoxanthin là một trong các chất
carotene tìm thấy trong các loài vi sinh vật
dưới biển, tảo cát, tảo nâu và giáp xác, mà đặc
điểm nổi bật là sự hiện diện của liên kết allene
và các nhóm chức oxy như hydroxyl, carbonyl,
epoxy và bán carboxyl. Theo các nghiên
cứu của Nomura và cộng sự, fucoxanthin
từ Phaeodactylum tricornutum được chứng
mình là có hoạt tính loại bỏ gốc tự do tốt hơn
các carotene đã nghiên cứu trước đây như
(3-carotene, (3-cryptoxanthin, zeaxanthin,
licopen và lutein. Hơn thế nữa, Nishida và
cộng sự cũng đã phát hiện ra các carotenoid
có khả năng khử các đơn tử oxy tốt hơn a-
tocopherol và L-ascorbic acid. Trong nghiên
cứu gần đây, Heo và cộng sự (2008) báo
cáo rằng fucoxanthin có thể ức chế hiệu quả
ROS nội bào, tổn thương DNA và quá trình
apoptosis gây ra bởi H2O2, và coi như giảm
đáng kể ROS nội bào sinh ra do tiếp xúc
với bức xạ UV-B trong nguyên bào nuôi của
người, như một chất bảo vệ da đầy hứa hẹn.
Astaxanthin cũng có các hoạt tính chống
oxy hóa cao hơn (3-carotene và a tocopherol
là những ứng dụng lâm sàng tiềm năng.
Astaxanthin bao gồm hai nhóm oxy hóa bổ
sung trên mỗi cấu trúc vòng. Gần đây, người
ta đã chứng minh rằng astaxanthin có thể
ngăn chặn sự biến đổi DNA do tia UVA gây
ra trong nguyên bào sợi, tế bào hắc tố ở
người và tế bào ruột của con người. Ngoài ra,
astaxanthin có hiệu quả hơn a-tocopherol
trong việc ức chế quá trình peroxy hóa lipid
bắt đẩu từ gốc tự do trong các microsome
gan chuột. Astaxanthin mạnh gấp 100 lần

210
Những ứng dụng từ sinh vật biển trong ngành dược mỹ phẩm
Chương 20 _
so với a-tocopherol trong việc bảo vệ ty thể
chuột chống lại quá trình peroxy hóa lipid.
Nói chung, các carotenoid có nguồn
gốc từ biển như fucoxanthin và astax anthin
dường như là những ứng cử viên hiệu quả và
an toàn cho các ứng dụng công nghiệp như
mỹ phẩm.
Tác dụng bảo vệ quang học của amino
acid gốc mycosporine Tác dụng bảo vệ của
MAA chống lại bức xạ uv đã được chứng minh
trên các dòng tế bào khác nhau và da người.
Ba hợp chất hấp thụ tia uv như shinorine,
porphyra-334, và mycosporine-glycine từ
Patinopecten yessoensis (Sò điệp Nhật Bản)
có thể hoạt động như một chất bảo vệ tia uv
trên các tế bào nguyên bào sợi ở người. Hơn
nữa, việc điều trị MAA dẫn đến hiệu quả bảo
vệ phụ thuộc vào nồng độ của bức xạ UV-A
trên nguyên bào sợi 3T3 của chuột. Tương tự,
Helioguard-365 được phân lập từ Porphyra
cordis (Tảo đen) có tác dụng bảo vệ DNA đối
với nguyên bào sợi (IMR-90) và tế bào sừng
của người (HaCaT) tiếp xúc với tia UV-A. Kem
có chứa MAA từ p. umbilicalis (Tảo đen) bảo
vệ da một cách hiệu quả chống lại lão hóa
ánh sáng do tia uv gây ra. Việc sử dụng MAA
hàng ngày dường như duy trì sự mịn màng
và tươi sáng của làn da một cách hiệu quả
và ngăn ngừa lão hóa da sớm. Trong trường
hợp Collemin A được phân lập từ Collema
cristatum, tác dụng bảo vệ lão hóa ánh sáng
của nó đã được nghiên cứu trên dòng tế bào
sừng ở người (HaCaT) và da người. Người ta
thấy rằng Collemin A ngăn chặn mạnh mẽ sự
phá hủy tế bào do tia UV-B gây ra và ngăn
chặn phần nào sự hình thành pyrimidine
dimer. Một số MAA được biết là bảo vệ tế bào
chống lại bức xạ tia cực tím bằng cách loại
bỏ các nhóm oxy phản ứng như oxy nguyên
tử, anion superoxide, gốc hydroperoxyl và
gốc hydroxyl. Hoạt động.chống oxy hóa của
mycosporine-glycine chiết xuất từ Palythoa
tuberculosa được đánh giá bằng cách đo
khả năng khóa gốc peroxyl của nó. Suh và
cộng sự cho thấy rằng mycosporine-glycine
ngăn chặn các tác động bất lợi khác nhau
của nhạy cảm ánh sáng tuýp II trong các
hệ thống sinh học, chẳng hạn như bất hoạt
sự vận chuyển điện tử của ty thể, quá trình
peroxy hóa lipid của microsome, và sự tán
huyết của hồng cầu. Với những kết quả này,
MAA có thể đã đóng một vai trò quan trọng
trong việc bảo vệ các sinh vật biển chống lại
tác hại của ánh sáng mặt trời bằng cách loại
bỏ các nhóm oxy phản ứng. Hơn nữa, các
tác dụng bảo vệ quang học của MAA từ các
sinh vật biển có khả năng cao chống lại các
vùng UV-B và UV-A của quang phổ mặt trời.
Do đó, các hợp chất này được công nhận là
một phương pháp ngăn ngừa và điều trị sản
sinh các gốc tự do và tác hại của tia uv trên
da ngươi.

Kết luận
Trong chương này, khi mà các hợp chất
chiết xuất từ sinh vật biết là một tiềm năng
hứa hẹn cho các hoạt tính làm sáng da,
chống oxy hóa, chống bức xạ UV, và ít độc
tính, thì chúng có thể dùng để phát triển các
tác nhân hữu hiệu cho ngành dược mỹ phẩm
và dược phẩm. Thời gian gần đây, người tiêu
dùng ngày càng ý thức được mối liên hệ giữa
sức khỏe và an toàn đã làm tăng thêm nhu
cầu cho các loại mỹ phẩm chức năng và tăng
cường sức khỏe có nguồn gốc tốt. Cho nên,
các sinh vật biển đã thu hút nhiều sự chú ý
cho các nhà nghiên cứu như là các chất thay
thế đầy tiềm năng và hiệu quả trong nền công
nghiệp dược mỹ phẩm.

Further reading
Heo SJ, Ko SC, Kang SM, et al. Cyto-
protective effect of fucoxanthin isolated
from brown algae Sargassum siliquastrum
against H2O2-induced cell damage. Euro-
pean Food Research and Technology 2008;
228: 145-151.
Heo SJ, Ko SC, Kang SM, et al. Inhibi-
tory effect of diphlorethohydroxycarmalol
on melanogenesis and its protective effect

211
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
against UV-B radiation-induced cell damage.
Food and Chemical Toxicology 2010; 48:
1355-1361.
Kang HS, Kim HR, Byun DS, et al. Ty-
rosinase inhibitors isolated from the edible
brown alga Ecklonia stolonifera. Archives of-
Pharmacol Research 2004; 27: 1226-1232.
Kang SM, Heo SJ, Kim KN, et al. Molecular
docking studies of a phlorotannin, dieckol
isolated from Ecklonia cava with tyrosinase
inhibitory activity. Bioorganic and Medicinal
Chemistry 2012; 20: 311-316.
Kim JA, Lee JM, Shin DB, et al. The antioxi-
dant activity and tyrosinase inhibitory activity
of phloro-tannins in Ecklonia cava. Food Sci-
ence and Biotechnology 2004; 13: 476-480.
Ko RK, Kim GO, Hyun CG, et al. Compounds
with tyrosinase inhibition, elastase inhibition
and DPPH radical scavenging activities from
the branches of Distylium racemosum Sieb.
et Zucc. Phytotherapy Research 2011; 25:
1451-1456. Nishida Y, Yamashita E, Miki w.
Quenching activities of common hydrophil-
ic and lipophilic antioxidants against singlet
oxygen using chemiluminescence detection
system. Carotenoid Science 2007; II: 16-20.
Nomura T, Kikuchi M, Kubodera A, et
al. Protondonative antioxidant activity of fu-
cox anthin with l,l-diphenyl-2-picrylhydrazyl
(DPPH). Biochemistry and Molecular Biology
International 1997; 42: 361-370.
Suh HW, Lee HW, Jung J. Mycosporine
glycine protects biological systems against
pho todynamic damage by quenching singlet
oxygen with a high efficiency. Photochemis-
try and Photobiology 2003; 78: 109-113.
Yoon NY, Eom TK, Kim MM, et al. Inhibito-
ry effect of phlorotannins isolated from Eck-
lonia cava on mushroom tyrosinase activity
and melanin formation in mouse B16F10
melanoma cells. Journal ofAgricultural and-
Food Chemistry 2009; 57:4124-4129.

212
Những ứng dụng từ sinh vật biển trong ngành dược mỹ phẩm
Chương 20 _

213
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
PHẦN III
Ứng dụng
Lâm sàng
DƯỢC MỸ PHẨM

214
Dược mỹ phẩm trong điều trị mụn trứng cá Vulgaris
Chương 21 _

215
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
21
DƯỢC MỸ PHẨM
TRONG ĐIỀU TRỊ
VULGARIS
MỤN TRỨNG CÁ

C
h
ư
ơ
n
g
Joshua A. Zeichner
Mount Sinai Medical Center, New York,
NY, USA

216
Dược mỹ phẩm trong điều trị mụn trứng cá Vulgaris
Chương 21 _
Giới thiệu
Mụn trứng cá ảnh hưởng đến khoảng
85% người dân Mỹ vào một thời điểm nào đó
trong cuộc đời của họ, tương đương với 40-
50 triệu người. Liệu pháp kết hợp thuốc theo
toa là nền tảng của việc điều trị mụn trứng
cá. Các sản phẩm được kê toa bao gồm
retinoids tại chỗ và uống, thuốc kháng sinh
tại chỗ và uống, benzoyl peroxide (BPO) tại
chỗ và dapsone tại chỗ. Các sản phẩm không
kê toa (OTC) thường được bệnh nhân sử
dụng đơn độc hoặc kết hợp với thuốc kê đơn.
Nhiều sản phẩm OTC được phân loại thành
dược mỹ phẩm, với mục đích mang lại lợi ích
y tế nhưng không được coi là thuốc. Một số
dược mỹ phẩm đã được đánh giá trong điều
trị mụn trứng cá, bao gồm khoáng chất, thực
vật, chất chống oxy hóa và axit hydroxy.

Mô tả lâm sàng: mụn trứng
cá
Mụn trứng cá là một bệnh của nang lông
tuyến bã thường xảy ra ở thanh thiếu niên,
nhưng có thể tiếp tục đến tuổi trưởng thành
ở một số bệnh nhân, về mặt lâm sàng, bệnh
nhân xuất hiện các nhân mụn, sẩn, mụn mủ,
các nốt với mức độ nặng nhẹ khác nhau trên
mặt và thân mình. Cơ chế bệnh sinh của mụn
trứng cá là đa yếu tố, bao gồm sự kết hợp
của tăng sinh thượng bì nang lông, phát triển
vi khuẩn Propionibacterium acnes (P. acnes),
tăng tiết bã nhờn và viêm. Điều trị sớm, có
phương pháp điều trị hiệu quả có vai trò quan
trọng làm giảm nguy cơ tạo sẹo vĩnh viễn.
Liệu pháp phối hợp sử dụng các loại
thuốc có cơ chế tác dụng khác nhau giúp
giải quyết cùng lúc nhiều yếu tố gây bệnh.
Retinoids tại chỗ làm bình thường hóa sự
bong tróc bất thường của nang lông và ức
chế sự phát triển của các nhân mụn. Hơn
nữa, retinoid tại chỗ có khả năng chống viêm
thông qua tác động của chúng lên các thụ
thể toll-like, cytokine và nitric oxide.
Retinoids dạng uống được sử dụng trong
các trường hợp nghiêm trọng và có thêm lợi
ích trong việc giảm sản xuất bã nhờn. Thuốc
kháng sinh tại chỗ chủ yếu chống viêm bằng
cách giảm p. acnes trên da và ảnh hưởng của
chúng lên phản ứng tiền viêm. BPO có đặc
tính kháng viêm, kháng khuẩn và tiêu sừng.
Nó thường được sử dụng kết hợp với thuốc
kháng sinh tại chỗ để ngăn chặn sự phát
triển của vi khuẩn kháng thuốc.

Vai trò của dược mỹ phẩm
trong điều trị mụn trứng cá
Thành phần thiên nhiên có thể được định
nghĩa là các sản phẩm không phải do nhân
tạo, được tìm thấy trong tự nhiên hoặc chiết
xuất từ thực vật hoặc động vật. Các phương
thuốc tự nhiên đã được sử dụng trong nhiều
thế kỷ để điều trị các bệnh về da khác nhau,
và nhiều thành phần tự nhiên hiện đang được
đưa vào các sản phẩm dược mỹ phẩm chính
thống. Hiệu quả của nhiều thành phần này
đã được đánh giá trong các thử nghiệm lâm
sàng, và cơ chế hoạt động của chúng đang
được nghiên cứu. Bệnh nhân hướng tới các
phương pháp điều trị thay thế này vì một số
lý do, bao gồm sự tò mò, mong muốn có một
phương pháp điều trị “tự nhiên” hơn, không
hài lòng với các liệu pháp thông thường hoặc
muốn kết hợp một phương pháp điều trị tự
nhiên với các loại thuốc truyền thống của họ.
Hơn nữa, vì những sản phẩm này được bán
không cần kê đơn, bệnh nhân có khả năng
tiếp cận những sản phẩm này nhiều hơn so
với những loại thuốc được bác sĩ kê đơn. Dưới
đây tóm tắt danh sách các đại diện dược mỹ
phẩm đã được nghiên cứu để điều trị mụn
trứng cá (Bảng 21.1).

217
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Axit ascorbic
Axit ascorbic (vitamin C) là một loại
vitamin tan trong nước thu được từ trái cây
họ cam quýt, cà chua và bông cải xanh. Nó
là một đồng yếu tố quan trọng cần thiết để
sản xuất collagen khỏe mạnh. Thêm vào đó,
vitamin c có đặc tính chống oxy hóa, hủy các
gốc tự do gây hại cho DNA. Vitamin c được
cho là một phương pháp điều trị mụn tiềm
năng bằng cách giải quyết các yếu tố gây
bệnh liên quan đến sự phát triển của mụn.
Vì là một chất chống oxy hóa, vitamin c
có thể ngăn chặn quá trình oxy hóa bã nhờn
(Tác nhân gây viêm và sừng hóa nang lông).
Vitamin c đã được chứng minh có khả năng
ngăn chặn tia UVA gây oxy hóa bã nhờn lên
đến 40%. Hơn nữa, thử nghiệm in vitro đã thể
hiện tác dụng kháng khuẩn mạnh mẽ chống
lại p. acnes.
Một số thử nghiệm lâm sàng đã chứng
minh hiệu quả của vitamin c trong điều trị
mụn trứng cá. Tuy nhiên, bản thân vitamin
c không ổn định và dễ bị biến chất trong
nhiều công thức mỹ phẩm. Sodium ascorbyl
phosphate (SAP) là một tiền chất vitamin c
ổn định đã được kết hợp trong một số công
thức bôi ngoài da. Trong một nghiên cứu,
đơn trị liệu với lotion SAP 5% trong 12 tuần
cho thấy sự cải thiện có ý nghĩa thống kê
trong việc điều trị mụn trứng cá trên khuôn
mặt. Một thử nghiệm lâm sàng mù đôi ngẫu
nhiên khác cho thấy hiệu quả của SAP 5%
Bảng 21.1 Thành phần dược mỹ phẩm hữu ích để điều trị mụn trứng cá
Vitamin C
Dầu cây trà
Niacinamide
Chiết xuất trà xanh
Resveratrol
Axit salicylic
Axit alpha hydroxy
tại chỗ để điều trị mụn trứng cá dưới dạng
đơn trị liệu và kết hợp với kem bôi retinol 0,2%
sau cả 4 và 8 tuần. Một nghiên cứu thứ ba
trên 60 bệnh nhân mụn trứng cá cho thấy sự
cải thiện tương tự với một loại lotion khác có
chứa SAP. Vitamin c là một lựa chọn không
dùng kháng sinh, có thể là một liệu pháp đơn
trị hiệu quả hoặc một phần của phác đồ kết
hợp trị mụn.
Kẽm
Kẽm là một nguyên tố vi lượng cùng
tham gia vào con đường phát triển tế bào và
cân bằng nội môi. Nó cũng có đặc tính chống
oxy hóa và kháng viêm, vì các enzym như
superoxide dismutase cần phụ thuộc vào
đồng và kẽm để hoạt động bình thường. Hai
yếu tố chính được nêu có thể giải thích tác
dụng tích cực của kẽm trong việc điều trị
mụn trứng cá. Đầu tiên, kẽm đã được chứng
minh đóng một vai trò trong việc giảm sản
xuất bã nhờn, và thứ hai, nó có khả năng kìm
khuẩn chống lại p. acnes. Kẽm đã được báo
cáo trong các nghiên cứu là có hiệu quả nhiều
khi điều trị mụn trứng cá viêm mức độ nặng
so với mức độ nhẹ đến trung bình. Mặc dù
cơ chế hoạt động trên lý thuyết, dữ liệu lâm
sàng về hiệu quả của nó còn khiêm tốn và
cần phải nghiên cứu thêm để đánh giá công
thức, đường dùng và liều lượng kẽm tối ưu.
Cả hai cách bổ sung kẽm qua đường
uống và bôi tại chỗ đểu được đánh giá trong
việc điều trị mụn trứng cá. Kẽm nguyên tố

218
Dược mỹ phẩm trong điều trị mụn trứng cá Vulgaris
Chương 21 _
hoặc kẽm gluconat là những hình thức bổ
sung kẽm đường uống được ưa chuộng, vì
chúng có khả năng dung nạp cao hơn kẽm
sulfat. Liều chuẩn hóa có hiệu quả vẫn chưa
được xác định rõ ràng. Sử dụng kẽm gluconat
200mg mỗi ngày và 400-600mg kẽm sulfat
hàng ngày đã được đánh giá, và ghi nhận có
liên quan đến buồn nôn, nôn và tiêu chảy, để
giảm bớt tình trạng này có thể uống kẽm trực
tiếp sau khi ăn. Ngoài ra, việc bổ sung kẽm
liều cao, thường xuyên (ví dụ: dùng thường
xuyên hơn 100 mg / ngày) đã được báo cáo
là sung đồng làm giảm nồng độ đồng, điều
này có thể khắc phục được bằng cách bổ
Trong các nghiên cứu đối đầu với thuốc
kháng sinh tetracycline uống, bổ sung kẽm
qua đường uống thật sự giúp điều trị mụn
trứng cá. Tuy nhiên, kháng sinh uống tốt
hơn kẽm. Trong một nghiên cứu, 332 bệnh
nhân bị mụn trứng cá được chọn ngẫu nhiên
để dùng 30mg kẽm nguyên tố hoặc lOOmg
minocycline mỗi ngày. Ở tuần thứ 12, 31,2%
bệnh nhân ở nhóm kẽm và 63,4% bệnh nhân
ở nhóm minocycline đạt được điểm kết thúc
thành công với nghiên cứu.
Một số chế phẩm kẽm tại chỗ khác
nhau đã được đánh giá trong các thử
nghiệm lâm sàng đối với mụn trứng cá. Kết hợp
erythromycin 4% / kẽm acetat 1,2% gel cho
kết quả vượt trội hơn sau 12 tuần. Do không
có các nhóm đơn trị liệu để so sánh, các kết
luận chắc chắn về hiệu quả của kẽm so với
erythromycin hiện không rõ ràng. Một nghiên
cứu thứ hai so sánh dung dịch kẽm sulfat 5%
với lotion trà 2%. Việc sử dụng sản phẩm hai
lần mỗi ngày trong 8 tuần cho thấy sự cải
thiện đáng kể có ý nghĩa thống kê ở nhóm
trà và xu hướng cải thiện nhưng không có ý
nghĩa thống kê ở nhóm kẽm.
Niacinamide
Niacinamide (còn được gọi là ...........
nicotinamide) là một loại vitamin tan trong
nước có nguồn gốc từ Niacin (vitamin B3).
Nicotinamide đóng một vai trò quan trọng
trong chức năng tế bào, vì nó là tiền chất của
nicotinamide adenine dinucleotide (NAD),
một coenzyme cần thiết để sản xuất năng
lượng.
Niacinamide tại chỗ đã được đưa vào
nhiều sản phẩm mỹ phẩm OTC vì đặc tính
làm dịu và kháng viêm của nó. Niacinamide
được sử dụng để điều trị mụn trứng cá vì tác
dụng ức chế các chemokine gây viêm. p.
acnes trên da kích hoạt interleukin-8 (IL-8)
thông qua kích thích thụ thể toll-like 2. Thử
nghiệm in vitro, nicotinamide đã được chứng
minh là làm giảm đáng kể việc sản xuất IL-8
phụ thuộc vào liều lượng. Ngoài ra, người ta
cho rằng niacinamide có tác dụng chống
viêm thông qua việc điều chỉnh các con
đường NF-kappaB và MAPK.
Nicotinamide 4% gel đã được đánh giá
trong một nghiên cứu đối đầu với clindamycin
1% gel. Sau khi áp dụng hai lần mỗi ngày
trong 8 tuần, cả hai nhóm điều trị để làm
giảm độ nặng của mụn trứng cá và không có
ý nghĩa thống kê giữa các nhóm (p = 0,19).
Dù cần thực hiện nhiều thử nghiệm lâm sàng
hơn để đánh giá hiệu quả của niacinamide,
nó có thể là một liệu pháp kháng viêm thay
thế mà không có nguy cơ tạo vi khuẩn kháng
thuốc như thuốc kháng sinh mang lại.
Tinh dầu tràm trà
Dầu trà (còn được gọi là dầu tràm) được
sản xuất từ lá của cây Melaleuca alternifolia.
Ở ức, nó được sử dụng theo truyền thống để
điều trị nhiễm trùng, vì nó có đặc tính khử
trùng. Các thử nghiệm lâm sàng cũng đã
chứng minh hiệu quả trong việc điều trị mụn
trứng cá. Trong một thử nghiệm lâm sàng
ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng, 60 bệnh
nhân được chọn ngẫu nhiên theo tỷ lệ1: 1 để
nhận một gel dầu trà hoặc gel chứng. Sau
thời gian nghiên cứu 45 ngày, nhóm sử dụng
tinh dầu trà cho thấy sự cải thiện có ý nghĩa
thống kê so với nhóm chứng.
Trong một thử nghiệm lâm sàng mù đơn,
124 người tham gia được chọn ngẫu nhiên
để nhận tinh dầu trà 5% hoặc lotion benzoyl
peroxide 5%. Cả dầu trà và benzoyl peroxide
đều làm giảm đáng kể các thương tổn mụn

219
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
viêm và không viêm. Dầu trà cho thấy tác
dụng bắt đầu chậm hơn, nhưng bệnh nhân
gặp ít tác dụng phụ trên da hơn so với benzoyl
peroxide.
Trà xanh
Trà xanh có nguồn gốc từ cây Cammelia
sinensis và chứa các hợp chất polyphenolic
mạnh được gọi là catechin có đặc tính chống
oxy hóa và kháng viêm. Vì lý do này, chiết
xuất trà xanh thường được sử dụng trong
nhiều sản phẩm thoa không cần kê toa (OTC)
với tác dụng chống oxy hóa.
Một số thử nghiệm lâm sàng đã được
thực hiện để đánh giá trà xanh trong điều trị
mụn trứng cá. Hai mươi bệnh nhân bị mụn
trứng cá nhẹ đến trung bình đã được ghi tên
vào nghiên cứu open-label này, họ tự thoa
lotion trà xanh 2% hai lần mỗi ngày trong 6
tuần. Các nhà nghiên cứu nhận thấy tổng số
thương tổn giảm có ý nghĩa thống kê (58,33%,
p <0,0001) và chỉ số độ nặng trung bình (p
<0,0001). Như đã đề cập trước đây, lotion trà
2% được so sánh với dung dịch kẽm sulfat
5% ở bệnh nhân mụn trứng cá. Lotion trà cho
thấy sự cải thiện đáng kể về mặt thống kê,
mà dung dịch kẽm thì không.
Resveratrol
Resveratrol là một hợp chất tự nhiên
được sản xuất bởi một số loài thực vật, chẳng
hạn như nho. Nó được tìm thấy ở nồng độ cao
trong rượu vang đỏ và ít hơn trong rượu vang
trắng. Resveratrol có đặc tính chống oxy hóa,
kháng viêm và được cho là có tác dụng bảo
vệ tim mạch. Nó cũng đã được chứng minh
làm giảm sự tăng sinh tế bào sừng và ngăn
chặn tình trạng viêm, hai yếu tố gây bệnh
chính trong sự phát triển của mụn trứng cá.
Hơn nữa, resveratrol in vitro đã được chứng
minh là có khả năng ức chế sự phát triển của
p. acnes.
Một thử nghiệm lâm sàng sử dụng hydrogel
có chứa resveratrol đã cải thiện mức độ
nghiêm trọng của mụn trứng cá. Trong một
nghiên cứu mù đơn, 20 bệnh nhân bị mụn
trứng cá đã bôi gel có hoạt tính ở một bên
mặt và tác dược bên mặt còn lại, một lần mỗi
ngày trong 60 ngày. Vào cuối nghiên cứu, bên
được điều trị bằng resveratrol đã chứng minh
mức giảm 53,75% trên thang điểm phân loại
mụn trứng cá so với 6,10% ở bên được điều
trị bằng tác dược. Hơn nữa, “sinh thiết” nang
lông với cyanoacrylate được thực hiện trước
và sau điều trị. Đây là một kỹ thuật đơn giản,
không xâm lấn, loại bỏ các tế bào chết khỏi
bề mặt da và cho phép đánh giá lớp sừng. Từ
sinh thiết cyanoacrylate, các nhà nghiên cứu
đã tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
về việc giảm diện tích trung bình của nhân
mụn khi dùng resveratrol so với các bên mặt
được điều trị bằng tá dược.
Axit salicylic
Axit salicylic là một axit beta hydroxy, về
mặt hóa học tương tự như axit amino salicylic,
thành phần mang hoạt tính trong aspirin.
Nó được tìm thấy trong tự nhiên và ban đầu
được chiết xuất từ vỏ của cây liễu trắng. Axit
salicylic đã được sử dụng trong nhiều thập kỷ
để điều trị mụn trứng cá và thường được tìm
thấy trong các sản phẩm OTC, bao gồm cả
sữa rửa mặt và thuốc bôi. Vốn là một chất tẩy
tế bào chết hóa học, làm phá vỡ liên kết giữa
các tế bào sừng của lớp sừng, dẫn đến bong
tróc các tế bào chết. Hơn nữa, axit salicylic
có thể có tác dụng kháng viêm trên da. Là
một phân tử ưa mỡ, nó dễ dàng thâm nhập
vào môi trường dầu của đơn vị nang lông
tuyến bã, rất lý tưởng để điều trị mụn trứng
cá. Nó còn giúp ngăn ngừa hình thành nhân
mụn, nhưng thường ít hiệu quả hơn so với
retinoid tại chỗ. Vì vậy, axit salicylic thường
được sử dụng khi bệnh nhân không thể dung
nạp được với retinoid tại chỗ.
Axit salicylic thường được sử dụng như
một liệu pháp hỗ trợ với các loại thuốc được
kê toa dùng tại chỗ. Nồng độ tối đa của axit
salicylic được cho phép trong các sản phẩm
OTC ở Mỹ là 2%, mặc dù nồng độ cao hơn có
thể được sử dụng khi được kê toa hoặc dưới
dạng hóa chất peel da dùng tại phòng khám.
Liệu pháp kết hợp benzoyl peroxide với axit

220
Dược mỹ phẩm trong điều trị mụn trứng cá Vulgaris
Chương 21 _
salicylic đã được chứng minh là mang lại kết
quả vượt trội trong việc giảm mụn trứng cá
ở thời điểm sớm (tuần 2-4) so với benzoyl
peroxide đơn trị, kháng sinh bôi tại chỗ hoặc
benzoyl peroxide kết hợp với kháng sinh tại
chỗ.
Axit alpha hydroxy
Axit alpha hydroxy là axit yếu được
tìm thấy trong trái cây, đường sữa và thực
vật. Axit glycolic là một ví dụ về axit alpha
hydroxy có nguồn gốc tự nhiên từ đường mía
và thường được kết hợp vào các sản phẩm
OTC để trị mụn và chống lão hóa. Axit alpha
hydroxy làm suy yếu sự liên kết giữa các tế
bào sừng. Do đó chúng làm giảm quá trình
sừng hóa da bằng cách tăng quá trình bong
tróc tế bào sừng. Bên cạnh việc làm mỏng
lớp sừng, axit alpha hydroxy đã được chứng
minh là phân tán sắc tố melanin ở lớp đáy và
tăng tổng hợp collagen ở da. Bằng cách tạo
ra một vết thương có kiểm soát và cho phép
tái tạo biểu mô, axit glycolic đã được chứng
minh là làm giảm được tình trạng tăng sắc tố
quá mức.
Thuốc không cần kê toa, axit alpha
hydroxy với nồng độ lên đến 10%và được bào
chế thành nhiều loại gồm thuốc bôi, rửa và
peel. Chúng có ở nồng độ cao hơn dưới dạng
sản phẩm peel da trong phòng khám của bác
sĩ. Trong khi axit salicylic theo truyền thống
được sử dụng phổ biến hơn để điều trị mụn
trứng cá vì tính ưa mỡ của nó, một thử nghiệm
lâm sàng so sánh glycolic với thuốc peel axit
salicylic cho thấy kết quả tương đương trong
việc điều trị mụn trứng cá. Trong nghiên cứu
ngẫu nhiên mù đôi, 20 bệnh nhân sử dụng
30% axit glycolic cho một bên mặt và 30%
axit salicylic cho bên mặt còn lại. Bệnh nhân
được peel da mỗi hai tuần trong 6 lần điều trị.
Đến lần peel da thứ hai, cả hai hóa chất đều
có hiệu quả cao (p <0,05), nhưng không có sự
khác biệt đáng kể giữa chúng. Ngoài ra, đơn
trị liệu axit glycolic, kết hợp sản phẩm thoa
của axit glycolic với retinaldehyde đã được
chứng minh là làm tăng tác dụng của benzoyl
peroxide và kháng sinh tại chỗ.
Kết luận
Bệnh nhân bị mụn thường sử dụng các
dược mỹ phẩm OTC để điều trị mụn trứng
cá của họ. Để cải thiện hiệu quả, điều quan
trọng là người tiêu dùng phải sử dụng đúng
sản phẩm OTC. Bệnh nhân thường xuyên tìm
đến bác sĩ da liễu để được giới thiệu về sản
phẩm và thành phần. Trong một số trường
hợp, bệnh nhân thậm chí có thể thích các
sản phẩm OTC hơn các sản phẩm kê đơn và
tìm kiếm hướng dẫn về các liệu pháp thay
thế hơn là thuốc kê đơn. Vitamin c, kẽm, dầu
trà, niacinamide, trà xanh, resveratrol, axit
salicylic, axit glycolic được tìm thấy trong
nhiều chế phẩm OTC và tất cả đều có dữ liệu
để hỗ trợ việc sử dụng chúng trong điều trị
mụn trứng cá, dưới dạng đơn trị liệu hoặc hỗ
trợ cho thuốc kê đơn.

Further reading
Bassett IB, Pannowitz DL, Barnetson RS.
A comparative study of teatree oil versus
benzoyl peroxide in the treatment of acne.
Med JAust 1990; 153: 455-458. Bowe WP,
Shalita AR. Effective over-the-counter acne
treatments. Semin Cutan Med Surg 2008; 27:
17Ọ-176. -,b
Dreno B, Moyse D, Alirezai M, et al. Multi-
centerrandomized comparative double-blind
controlled clinical trials of the safety and ef-
ficacy of zinc gluconate versus minocycline
hydrochloride in the treatment of inflam-
matory acne vulgaris. Dermatology 2001;
203(2): 135-140.
Elsaie ML, Abdelhamid MF, Elsaaiee LT,
Enam HM. The efficacy of topical 2% green
tea lotion in mild-to-moderate acne vulgaris.
JDrugs Dermatol 2009; 8(4): 358-364. Fab-
brocini G, Staibano s, De Rosa G, et al. Resver-
atrol-containing gel for the tteatment of acne
vulgaris: A single-blind, vehicle-controlled,
pilot study. Am J Clin Dermatol 2011;12(2):
133-141.
Fowler JF, Woolery-Lloyd H, Waldorf H,

221
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Saini R. Innovations in natural ingredients
and their use in skin care. JDrugs Dermatol
2010; 9(6 Suppl.): S72-81.
Kessler E, Flanagan K, Chia c, et al. Com-
parison of alpha- and beta-hydroxy acid
chemical peels in the treatment of mild to
moderately severe facial acne vulgaris. Der-
matol Surg 2008; 34( 1):,45-50. ,
Shalita AR, Smith JG, Parish LC, et al.
Topical nicotinamide compared with clinda-
mycin gel in the treatment of acne vulgaris.
Int J Dermatol 1995; 34(6): 434-437. Wool-
ery-Lloyd H, Baumann L, Ikeno H. Sodium
L-ascorbyl-2-phosphate 5% lotion for the
treatment of acne vulgaris: A randomized,
double-blind, controlled trial. J Cosmet Der-
matol 2010; 9(1): 22-27.

222
Dược mỹ phẩm trong điều trị mụn trứng cá Vulgaris
Chương 21 _

223
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
22
DƯỢC MỸ PHẨM
LÀM SÁNG DA

C
h
ư
ơ
n
g
Marta I. Rendon1, Yvette Vazquez,
and Suzanne Micciantuono
l-the Rendon Center for Dermatology
and Aesthetic Medicine; University of Miami,
Boca Raton, FL, USA / Wellington Regional
Medical Center, Boca Raton, FL, USA

224
Dược mỹ phẩm làm sáng da
Chương 22 _
Giới thiệu
Có nhiều lựa chọn điều trị cho các rối loạn
tăng sắc tố và các tổn thương sắc tố. Dược
mỹ phẩm nằm trong số những lựa chọn này,
đã được chứng minh là an toàn và hiệu quả.
Đến nay, hydroquinone dường như là chất
bôi ngoài da hiệu dụng nhất. Tuy nhiên, liệu
pháp kết hợp thậm chí còn hiệu quả hơn, vì
các chất được sử dụng đồng thời có thể giải
quyết từng bước khác nhau trong quá trình
sản xuất melanin để ngăn ngừa tăng sắc tố.
Các rối loạn tăng sắc tố - tổn thương sắc
tố, chẳng hạn như nám da, tăng sắc tố sau
viêm, và đồi mồi có thể gây ra áp lực tinh thần
đáng kể cho bệnh nhân và có thể ảnh hưởng
sâu sắc đến chất lượng cuộc sống của họ. Vì
màu sắc, cấu trúc da đồng đều là điều đáng
mong đợi ở nhiều nền văn hóa, rối loạn tăng
sắc tố có thể gây ra cho bệnh nhân các vấn
đề tâm lý, chẳng hạn như thiếu tự tin và hạn
chế giao tiếp trong xã hội.
Các nguyên nhân khác nhau (Bảng
22.1), bao gồm do di truyền, tiếp xúc với bức
xạ tia cực tím thời gian dài, nội tiết tố và tình
trạng viêm có thể góp phần vào sự phát triển
hoặc làm trầm trọng thêm chứng tăng sắc
tố. Tăng sắc tố da cũng có thể là hậu quả của
một số loại thuốc, bao gồm cả mỹ phẩm làm
da nhạy cảm với ánh sáng hoặc liệu pháp
thay thế hormone. Ngoài ra, tăng sắc tố có
thể xảy ra do phản ứng sau viêm đối với bất
kỳ tổn thương da nào, bao gồm cả tổn thương
vật lí như chấn thương hoặc sau điều trị thủ
thuật như peel da bằng hóa chất hoặc các
quy trình tái tạo bể mặt khác.
Một số tình trạng nhất định, chẳng hạn
như nám da và tăng sắc tố sau viêm, trước
đây ảnh hưởng đến một số chủng tộc, thường
gặp nhất là người Mỹ gốc Phi, người gốc Tây
Ban Nha và người châu Á. Ngược lại, các loại
da sáng hơn thường bị ảnh hưởng bởi các
dạng tăng sắc tố khác, chẳng hạn như tàn
nhang. Do đó, sự khác biệt vê’ chủng tộc phải
được xem xét cẩn thận khi điều trị cho bệnh
nhân mắc các chứng rối loạn này.
Có vô kể chất làm sáng da theo toa và
không theo toa có sẵn trên thị trường. Nhiều
nghiên cứu ủng hộ việc sử dụng các chất bôi
tại chỗ riêng lẻ và kết hợp với nhau, để điều
trị chứng tăng sắc tố. Những hoạt chất này
bao gồm hydroquinone, tretinoin, mequinol
và axit azalaic.

Con đường sản xuất melanin
Để hiểu được cách thức hoạt động của
các chất làm sáng da, trước tiên người ta
phải hiểu rõ về quá trình sản xuất melanin
(Bảng 22.2). Quá trình này bắt đầu với en-
zyme tyrosinase, chuyển đổi axit amin tyro-
sine thành dihydroxyphenylalanine (DOPA),
và sau đó chuyên DOPA thành dopaquinone.
Dopaquinone sau đó được chuyển đổi thành
dopachrome, và sau đó thành dihydroxyin-
dole hoặc dihydroxyindole-2-carboxylic acid
(DHICA). Với sự hiện diện của dopachrome
tautomerase và DHICA oxidase, dopaqui-
none trở thành eumelanin sắc tố nâu đen.
Khi có cysteine hoặc glutathione, dopamine
được chuyển đổi thành sắc tố màu vàng-đỏ
pheomelanin. Sự giảm sắc tố có thể xảy ra
khi một chất làm sáng da tác dụng lên các
bước quan trọng của quá trình sản xuất sắc
tố này.

Các tác nhân làm sáng da
Hoạt chất được sử dụng rộng rãi và hiệu
quả nhất để điều trị tăng sắc tố là hợp chất
phenolic, hydroquinone (HQ). HQ có bán tại
quầy thuốc ở Hoa Kỳ với nồng độ lên đến 2%
và theo toa với nồng độ lên đến 4%. Nồng
độ HQ cao hơn hiện có trong các sản phẩm
kết hợp nhiều chất. Các nghiên cứu cho thấy
rằng thường cần khoảng 6-12 tuần điều trị
đều đặn để thấy được kết quả lâm sàng được
cải thiện trong một số rối loạn tăng sắc tố,
chẳng hạn như nám da và tăng sắc tố da sau
viêm.

225
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Ngoại sinh
Các bệnh liên quan
Những bệnh lý hay
tình trạng khác
Tia tử ngoại (nám má, đồi mồi)
Nám má
Bệnh Addison
Tác nhân gây nhạy cảm ánh sáng
(tinh dầu cam, fiirocoumarin)
Tăng sắc tố sau viêm
Bênh gan
Erythromelanosis
follicularis
Nhiễm sắt
Thuốc (estrogen, tetracycline,
amiodarone, phenytoin, sulfon-
amides)
Linea fiisca (Pellagra)
Utuyến yên
Poikiloderma of Civatte
Riehl’s melanosis
Thai kỳ
Bảng 22.1 Các nguyên nhân tăng sắc tố
Bảng 22.2 Con đường sản xuất melanin.
Trước tổng hợp
melanin
Trong quá trình tổng hợp
melanin
Sau tổng hợp melanin
Tretinoin
(phiên mã tyrosinase)
Hydroquinone
(ức chế tyrosinase)
Axit linoleic
(thoái giáng tyrosinase)
4-hỵdroxyanisole
(ức chế tyrosinase)
axit a-linoleic
(thoái giáng t yrosinase)
Arbutin
(ức chế tyrosinase)
Lecithin và neoglycoprotein
(ức chế chuyển melanosome)
Aloesin
(ức chế tyrosinase)
Chiết xuất sữa đậu nành
(ức chế chuyển melanosome)
Azelaic acid
(ức chế tyrosinase)
Niacinamide
(ức chế chuyển melanosome)
Kojic acid
(ức chế tyrosinase)
Axit glycolic
(tăng tốc độ tái tạo da)
Ascorbic acid
(giảm sản xuất và dọn dẹp các
nhóm oxy phản ứng)
Axit retinoic
(tăng tốc độ tái tạo da)
Axit ascorbic palmitate
(giảm sản xuất và dọn dẹp các
nhóm oxy phản ứng)

226
Dược mỹ phẩm làm sáng da
Chương 22 _
Các tác dụng phụ thường gặp nhất liên
quan đến HQ là viêm da tiếp xúc và kích ứng
da, có thể được điều trị bằng steroid bôi tại
chỗ. Những bệnh nhân có loại da tối màu
có nguy cơ cao nhất bị biến đổi sắc tố vĩnh
viễn (exogenous ochronosis) do sử dụng HQ.
Sự tích tụ của axit homogentisic trong lớp bì
biểu hiện dưới dạng tăng sắc tố. Ochronosis
không phổ biến ở Hoa Kỳ, nhưng nó thường
được được báo cáo ở châu Phi và châu Á,
ngay cả khi HQ được sử dụng ở nồng độ thấp
hơn.
Sử dụng HQ kết hợp với các hoạt chất
sáng da có nguồn gốc tự nhiên khác, chẳng
hạn như axit glycolic, vitamin c, hoặc aloesin,
có thể giúp giảm tác dụng phụ và cải thiện
hiệu quả điều trị. Sự kết hợp được sử dụng
phổ biến nhất là HQ kết hợp với retinoids và
steroid.
Chương này sẽ xem xét nhiều thành phần
dược thẩm mỹ đã được sử dụng trong điều trị
chứng tăng sắc tố và cơ chế hoạt động của
chúng (Bảng 22.3).
Bảng 22.3 Các thành phần giảm sắc tố
Aloesin
Arbutin
Azelaic acid
Glabridin (licorice extract)
Glycolic acid
Hydroquinone
Kojic acid
Lignin peroxidase
Melatonin
Mequinol
Niacinamide
Oligopeptide combination
Phenylethyl resorcinol
Paper mulberry
Retinoic acid
Soy-derived extracts
Vitamin C

227
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com

Các thành phần dược mỹ
phẩm giúp sáng da
Aloesin là một dẫn xuất tự nhiên của lô
hội. Các đặc tính của nó được cho là có thể
ức chế hoạt động của tyrosinase. Aloesin
hoạt động như một chất ức chế cạnh tranh
cua qua trinh oxy hoa dopa và là chất ức chế
không cạnh tranh của tyrosine hydroxylase.
Chất này cũng đã được chứng minh là có đặc
tính chống oxy hóa và chống viêm mạnh mẽ.
Arbutin
(hydroquinone-b-D-glucopyra-
noside) là một glucoside làm sáng da được
tìm thấy trong quả gấu ngựa, lê và các loại
thảo mộc tự nhiên khác. Nó cũng là một chất
ức chế nhẹ hoạt động của tyrosinase trong
melanosome.
Axit azelaic là một axit dicarboxylic tự
nhiên có nguồn gốc từ nấm men Pityrosporum
ovale. Nó ức chế tổng hợp DNA, cũng như
hoạt động của tyrosinase. Axit azelaic có
tác dụng mạnh nhất đối với các tế bào hắc
tố hoạt động mạnh và cũng đã được kiểm
chứng là có hiệu quả trong điều trị nám da,
bệnh trứng cá đỏ và dày sừng ánh sáng.
Glabridin là thành phần chính trong chiết
xuất rễ cam thảo. Nó ức chế hoạt động của
tyrosinase và sắc tố do tia UVB gây ra, đồng
thời cũng có đặc tính chống viêm bằng cách
ức chế sự hình thành gốc tự do. Trong một
nghiên cứu, glabridin đã được chứng minh là
có tác dụng làm sáng da lớn hơn và tác dụng
nhanh hơn so với HQ. Nó có sẵn ở nồng độ 10-
40%, nhưng khi kết hợp với betamethasone
và axit retinoic, glabridin vẫn có hiệu quả ở
nồng độ thấp tới 0,4%.
Axit glycolic là một axit a-hydroxy có
nguồn gốc từ mía. Nó có thể được sử dụng
ở nồng độ thấp hơn để đẩy nhanh quá trình
bong tróc các tế bào sừng chứa sắc tố. Tuy
nhiên, ở nồng độ cao hơn, nó gây ra ly thượng
bì (epidermolysis). Khi được sử dụng cho
chứng tăng sắc tố sau viêm, peel da bằng
axit glycolic nên được khởi đầu ở nồng độ
thấp. Một nghiên cứu so sánh peel da bằng
axit glycolic 70% với bằng tretinoin 1% cho
thấy kết quả giảm sắc tố tương tự, nhưng
bệnh nhân bị kích ứng nhiều hơn khi peel với
axit glycolic. Mặc dù sự gia tăng kích ứng này
không gây tăng sắc tố sau viêm trong nghiên
cứu này, nhưng nó chắc chắn có thể gây ra
tình trạng này ở các loại da tối màu. Peel da
bằng axit glycolic cũng có thể được dùng kết
hợp với các liệu pháp điều trị tại chỗ ở những
bệnh nhân bị nám da, tăng sắc tố sau điều trị,
mụn trứng cá, và lão hoá da.
Axit kojic là một chất cải thiện sắc tố
da có nguồn gốc từ một loài nấm. Nó hoạt
động bằng cách ức chế hoạt động của tyros-
inase. Axit Kojic có thể được sử dụng cùng
với HQ và axit glycolic để điều trị chứng tăng
sắc tố da. Sử dụng các chất này cùng nhau
có thể làm giảm một trong những dụng phụ
phổ biến do axit Kojic là viêm da tiếp xúc kích
ứng. Hiện axit kojic đã bị cấm ở Nhật Bản do
có nguy cơ gây kích ứng.
Lignin peroxidase là một sản phẩm
tương đối mới có nguồn gốc từ nấm cây, Pha-
nerochaete chrysosporium. Lignin phá vỡ
melanin, nhưng nó không ngăn chặn sự hình
thành sắc tố. Vì vậy, nó nên được sử dụng
kết hợp với một sản phẩm làm sáng da khác,
chẳng hạn như HQ. Tuy nhiên, một nghiên
cứu mù đôi, ngẫu nhiên cho thấy rằng lignin
peroxidase có hiệu quả hơn trong việc điều trị
chứng tăng sắc tố so với giả dược và hydro-
quinone 2%. Hiệu quả sáng da được quan sát
thấy trong vòng tám ngày sử dụng.
Các hệ thống kết hợp các chất làm sáng
da mới hơn có chứa nhiều thành phần gần
đây đã được đưa ra thị trường. Sự kết hợp này
bao gồm 0,01% oligopeptide, 20% axit glycol-
ic và kem chống nắng dưỡng ẩm. Nó ức chế
hiệu quả sự hình thành hắc tố bằng cách giảm
hoạt động của tyrosinase, mà không gây độc
tế bào đối với tế bào hắc tố của con người. Tổ
hợp này đã được sử dụng để điều trị các rối
loạn tăng sắc tố như nám da và tăng sắc tố
da sau điều trị, và bệnh nhân đánh giá mức
độ hài lòng cao về tổ hợp này. Một nghiên
cứu cho thấy rằng sử dụng nồng độ 0,01%

228
Dược mỹ phẩm làm sáng da
Chương 22 _
mỗi ngày giúp cải thiện 50% tình trạng tăng
sắc tố trong vòng 16 tuần sử dụng.
Một tổ hợp làm sáng da khác được
giới thiệu gần đây bao gồm phenylethyl
resorcinol (một chất ức chế tyrosinase),
leucine (một tiền chất của quá trình sản
xuất melanin), undecylenoyl phenylalanine
(một hợp chất giúp giảm thiểu sự hình
thành melanin do ánh nắng mặt trời) và
natri glycerophosphate. Khi bệnh nhân sử
dụng tổ hợp làm sáng da này hai lần mỗi
ngày trong 12 tuần kết hợp với kem chống
nắng, nó làm giảm sự xuất hiện các đốm
nâu trên mặt lên đến 43%.
Đối với những sản phẩm mới hơn này,
điều quan trọng cần lưu ý là các nghiên cứu
được công bố cho đến nay với số lượng rất
ít và có các cỡ mẫu nhỏ. Các nghiên cứu
sâu hơn với kích thước mẫu lớn hơn cần có
để đưa ra được kết luận chính xác về hiệu
quả của các sản phẩm này và vai trò tiềm
năng của chúng trong việc điều trị.
Melatonin là một loại hormone do
tuyến tùng tiết ra để phản ứng với ánh sáng
mặt trời. Nó đã được chứng minh là có
thể ức chế các quá trình điều khiển AMP
theo chu kỳ trong tế bào hắc tố. Nồng độ
melatonin cần thiết để làm sáng da hiệu
quả trong dược mỹ phẩm vẫn chưa được
xác định chính xác. Tuy nhiên, nó được bán
trên ngoài thị trường như một chất chống
oxy hóa.
Mequinol (4-hydroxyanisol) được chấp
thuận ở nồng độ 2-20% để điều trị đồi mồi.
Mặc dù cơ chế hoạt động chính xác của nó
chưa được xác định, nhưng mequinol dường
như có thể ức chế cạnh tranh các chất nền
tyrosinase. Mequinol thường được sử dụng
kết hợp với tretinoin nhiều nhất vì sự kết
hợp này có hoạt tính ức chế sắc tố vượt trội
hơn so với dùng riêng mỗi chất. Dung dịch
chứa 2% mequinol và 0,01% tretinoin đã
được chứng minh là có hiệu quả vượt trội
so với 3% HQ trong việc điều trị đồi mồi ở
216 bệnh nhân sau 16 tuần với liều sử dụng
hai lần mỗi ngày. Sản phẩm kết hợp này
cũng có thể tăng cường hiệu quả hoạt động
của laser điều trị sắc tố, có thể làm giảm số
lần điều trị cần thiết và ngăn ngừa tái phát.
Niacinamide là một dạng của vitamin B3
thường được tìm thấy trong dược mỹ phẩm.
Nó làm giảm sự mất nước qua biểu bì, cải
thiện chức năng rào cản bảo vệ da và có thể
được sử dụng để xử lý tổn thương do ánh
sáng mặt trời. Niacinamide cũng đã được
chứng minh là có khả năng ức chế chuyển
các melanosome đến các tế bào sừng, làm
cho nó trở thành một chất ức chế sắc tố
hiệu quả cho mọi loại da. Nhiều sản phẩm
có chứa niacinamide có sẵn trên thị trường
không cần kê đơn và bác sĩ có thể điều chế
các công thức với nồng độ lên đến 5%. Mặc
dù niacinamide đã được chứng minh là ít gây
kích ứng hơn HQ từ một nghiên cứu so sánh
4% niacinamide với 4% HQ trong điều trị nám,
nhưng nó đòi hỏi thời gian điều trị lâu hơn để
thấy kết quả rõ ràng và hiệu quả cải thiện sắc
tố cũng không hơn HQ.
Chiết xuất cây dâu giấy/ cây dướng
(Paper mulberry) là một chất làm sáng da
phổ biến được sử dụng ở Châu u và Nam
Mỹ có nguồn gốc từ rễ của cây Broussonetia
papyrifera. Trong một nghiên cứu, hoạt động
ức chế tyrosinase của nó không khó để được
so sánh với hoạt động của HQ và axit kojic.
Dâu giấy ít hoặc không gây kích ứng da, do đó
thích hợp để sử dụng cho những người có làn
da tối màu và những người không thể dung
nạp HQ. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có
thử nghiệm lâm sàng nào chứng minh công
dụng của thành phần này.
Vitamin A (retinol) và tretinoin có thể
được sử dụng để điều trị nám da, chứng tăng
sắc tố da sau viêm và tàn nhang. Trong các
nghiên cứu trên động vật, retinol đã được
chứng minh có khả năng ức chế cảm ứng
tyrosinase. Retinoids cũng có thể cản trở
việc chuyển sắc tố đến các tế’ bào sừng và
đẩy nhanh quá trình điều trị sắc tố bằng cách
làm cho lớp biểu bì bong tróc nhanh hơn.
Retinoids đã được chứng minh là có hiệu quả
trị liệu cả khi dùng riêng và kết hợp với các sản
phẩm khác. Một sản phẩm kê đơn có chứa

229
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
0,15% retinol kết hợp với 4% hydroquinone
và kem chống nắng đã được chứng minh là
có hiệu quả để điều trị các chứng rối loạn và
tổn thương tăng sắc tố. Khi được sử dụng
cùng nhau, corticosteroid, hydroquinone
và axit retinoic có tác dụng cộng hưởng nâng
cao hiệu quả. Các nghiên cứu đã chứng minh
rằng sử dụng kết hợp với nồng độ retinoids
và steroid khác nhau có thể trị cải thiện nám
lên đến 79% (Hình 22.1). Nồng độ của các
thành phần phụ thuộc vào độ nhạy cảm, màu
da, khả năng dung nạp của bệnh nhân cùng
nhiều yếu tố khác. Do những thành công
từng đạt được, liệu pháp kết hợp này đã là
một phương pháp điều trị quan trọng và được
sử dụng phổ biến kể từ khi Kligman và Willis
giới thiệu nó vào năm 1975.
Các chất chiết xuất từ đậu nành đã được
sử dụng trong việc điều trị chứng tăng sắc
tố dạng đốm và đồi mồi. Sữa đậu nành chưa
tiệt trùng có chứa chất ức chế Bowman-Birk
và trypsin trong đậu nành, hai chất ức chế
serine protease can thiệp vào con đường thụ
thể kích hoạt protease 2. Những chất ức chế
này làm giảm việc chuyển melanin một cách
hiệu quả và gây ra giảm sắc tố. Đậu nành còn
có thêm một lợi thế nữa là bảo vệ da khỏi bị
tổn thương do ánh sáng bởi khả năng chống
oxy hóa mạnh mẽ của nó.
Hình 22.1 Nám da. (a) Trước (b) Sau 6 tháng điều trị với sự kết hợp của 0,1%
tretinoin và 4% HQ.
Vitamin c can thiệp vào quá trình sản
xuất sắc tố ở các bước oxy hóa khác nhau
trong quá trình sản xuất melanin. Nó tương
tác với các ion đồng tại vị trí hoạt động của
tyrosinase và làm giảm sản xuất dopaquinone.
Dẫn xuất ổn định được gọi là magie L-ascorbic
acid 2-phosphate (MAP) đã được chứng
minh là có hoạt tính làm sáng da. Các công
thức vitamin c dùng ngoài da có thể bảo vệ da
chống lại độc tính quang học do UVB và cải
thiện các rối loạn tăng sắc tố, chẳng hạn như
nám da và tăng sắc tố da sau viêm. Vitamin c
bôi ngoài da nhìn chung không gây kích ứng,
và do đó rất hữu ích cho nhóm chủng tộc có
da tối màu, những người dễ bị tăng sắc tố da
sau viêm.

Kết luận
Rối loạn tăng sắc tố là tình trạng da liễu
thường gặp. Mặc dù có nhiều liệu pháp lựa
chọn, nhưng việc giải quyết chứng tăng sắc
tố vẫn tiếp tục là một thách thức trong điều
trị. Theo thói quen, HQ hiện được sử dụng
rộng rãi và hiệu quả nhất để điều trị chứng
tăng sắc tố. Mối quan tâm gần đây đến các
thành phần tự nhiên đã thúc đẩy các nhà
nghiên cứu thử nghiệm các hoạt chất khác,
trong khi các sản phẩm này dù được chứng

230
Dược mỹ phẩm làm sáng da
Chương 22 _
minh là ít gây kích ứng hơn, nhưng chúng
không có được hiệu quả vượt trội so với HQ.
Theo kinh nghiệm cũng như các dữ liệu ng-
hiên cứu đã có, liệu pháp kết hợp (đặc biệt
khi có chứa HQ) hiệu quả hơn so với đơn trị
liệu bằng bất kỳ chất đơn lẻ nào mà chúng
ta có hiện nay. Việc sử dụng các sản phẩm
cùng với việc chăm sóc da thích hợp cho các
tình trạng này, chẳng hạn như làm sạch nhẹ
nhàng và dưỡng ẩm thích hợp, có thể mang
lại một phương thức điều trị an toàn và hiệu
quả cho nhiều bệnh nhân. Và dĩ nhiên, chống
nắng luôn là điều quan trọng hàng đầu không
chỉ đối với tình trạng sức khỏe chung của
da, mà còn trong việc điều trị và ngăn ngừa
chứng tăng sắc tố.

Further reading
Draelos ZD. Skin lightening preparations
and the hydroquinone controversy. Dermatol
Ther 2007; 20(5): 308-313.
Faghihi G, Shahingohar A, Siadat AH.
Comparison between 1 % tretinoin peeling
versus 70% glycolic acid peeling in the treat-
ment of female patients with melasma. J
Drugs Dermatol 2011; 10: 1439-1442.
Gold MH, Biron J. Efficacy of a novel hy-
droquinone-free skin-brightening cream in
patients with melasma. J Cosmet Dermatol
2011; 10: 189-196.
Hantash BM, Jimenez F. A split-face,
double-blind, randomized and placebo-con-
trolled pilot evaluation of a novel oligopeptide
for the treatment of recalcitrant melasma. J
Drugs Dermatol. 2009; 8: 732-735.
Mauricio T, Karmon Y, Khaiat A. A ran-
domized and placebo-controlled study to
compare the skin-lightening efficacy and
safety of lignin peroxidase cream vs. 2% hy-
droquinone cream. J Cosmet Dermatol 2011;
10: 253-259.
Navarrete-Solis J, Castanedo-Cazares
JP, Torres-Alvarez B, et al. A double-blind,
ran domized clinical trial of niacinamide 4%
versus hydroquinone 4% in the treatment of
melasma. Dermatol Res Pract 2011; 2011:
379173.
Rendon MI. skin lightening agents. In:
Grimes PE (ed.) Aesthetics and Cosmetic
Surgery for Darker Skin Types. Philadelphia,
PA: Lippincott, Williams & Wilkins, 2008, 73-
81.

231
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
23
DƯỢC MỸ PHẨM
TRONG ĐIỀU TRỊ
DA SẦN VỎ CAM

C
h
ư
ơ
n
g
Doris Hexsel and Camile L. Hexsel
Tontiffcia Universidade Católica do Rio
Grande do Sul (PUC-RS), Porto Alegre, RS,
Brazil ^Brazilian Center for Studies in Derma-
tology, Porto Alegre, RS, Brazil / The Meth-
odist Hospital, Houston, TX, USA

232
Dược mỹ phẩm trong điều trị da sần vỏ cam
Chương 23 _
Giới thiệu
Da sần vỏ cam là kết quả của những thay
đổi trong da và mô dưới da dẫn đến những
vùng lồi lõm bất thường trên bề mặt da. Hình
thái lâm sàng biểu hiện khác nhau giữa các
bệnh nhân bao gồm dạng vỏ cam, dạng phô
mai tươi hoặc dạng nệm của bề mặt da.
Sần vỏ cam thường xảy ra trên mông và đùi,
nhưng nó cũng có thể ảnh hưởng đến các
vùng khác như bụng, cánh tay và lưng.

Mô tả lâm sàng của bệnh
(sinh bệnh học và thách
thức trong điều trị)
Các tổn thương lõm xuống là do sự hiện
diện của vách ngăn dạng sợi kéo bề mặt da
lõm xuống. Một nghiên cứu gần đây đã chứng
minh rằng có sự gia tăng độ dày vách ngăn
xơ dưới da ở những vùng lõm của da sần vỏ
cam. Mặt khác, các khu vực được nâng lên
lại là kết quả của chất béo nhô lên trên bề’
mặt da.
Giải phẫu mô dưới da (vách ngăn dạng
sợi và thùy mỡ) ở nam giới khác với nữ giới,
làm sáng tỏ lý do tại sao tình trạng này chủ
yếu gặp ở nữ giới. Ở nữ, vách ngăn dạng sợi
được định hướng theo chiều dọc từ lớp bì đến
cân mạc sâu. Khi có sự tích tụ chất béo giữa
các vách ngăn này và lớp mỡ mở rộng, sẽ
có sự hình thành các “túi”, và do đó chất béo
được tập trung hình thành tại lớp bì theo cách
rất giống với chăn bông hoặc nệm, dẫn đến
biểu hiện nhăn nheo trên bề mặt da. Ngoài
ra, phụ nữ có “túi” mỡ hình chữ nhật và to hơn
so với nam giới. Ở nam giới, mô liên kết được
định hướng theo kiểu đan chéo, có tác dụng
giữ lớp mỡ và ngăn cản sự nhô lên của mô
mỡ lên bề mặt da.
Các yếu tố khác có liên quan đến bệnh
sinh của sần vỏ cam, chẳng hạn như các nội
tiết tố, yếu tố hóa sinh hóa, phản ứng viêm và
lưu lượng tuần hoàn. Hơn nữa, sần vỏ cam
còn trở nên trầm trọng hơn do lắng đọng chất
béo cục bộ, béo phì, và tình trạng da lỏng lẻo
hoặc mềm nhão tiến triển xảy ra khi lão hóa.
Do đó, sần vỏ cam là một tình trạng rất
khó điều trị, bởi các cấu trúc giải phẫu sâu
liên quan đến cơ chế bệnh sinh và bản chất
đa yếu tố của nó. Hơn nữa, có sự khác biệt
lớn về hình thái lâm sàng giữa các nghiên
cứu khác nhau. Điều trị nên được cá nhân
hóa tùy thuộc trên các biểu hiện lâm sàng,
và nó thường đòi hỏi sự kết hợp của nhiều
phương thức, bao gồm các liệu trình và thiết
bị nhắm mục tiêu vào vách ngăn, mô mỡ tích
tụ, chảy xệ, lưu thông tuần hoàn và dẫn lưu
bạch huyết. Mặc dù sự kết hợp các phương
pháp điều trị này thường không dẫn đến biến
mất hoàn toàn tình trạng trên, nhưng vẫn có
cải thiện.
Chương này mô tả các loại dược mỹ
phẩm có thể có hiệu quả về mặt lý thuyết khi
bôi tại chỗ cho các vùng bị sần vỏ cam, dựa
trên cơ chế hoạt động của chúng, giúp phục
hồi lớp bì, mô dưới da hoặc tác động đến mô
mỡ bằng cách làm giảm quá trình tạo mỡ
hoặc phân giải lipid, hay hoạt động như chất
chống oxy hóa, hoặc tăng cường lưu thông
tuần hoàn.

Vai trò của dược mỹ phẩm
trong điều trị tình trạng này
Phương pháp điều trị sần vỏ cam dù đã
giảm cân, điều chỉnh chế độ ăn uống và tập
luyện còn bị hạn chế. Mặc dù thực tế là nhiều
thành phần dược mỹ phẩm để điều trị dùng
tại chỗ được bán trên thị trường trên toàn thế
giới, nhưng rất ít bằng chứng khoa học hiện
có để chứng thực hiệu quả của hầu hết các
sản phẩm đó. Hơn nữa, các sản phẩm phải
trải qua các biện pháp kiểm soát chất lượng
thích hợp và được pha chế ở nồng độ thích
hợp để đạt được hiệu quả lâm sàng, có thể
tiếp cận lớp bì và mô dưới da để thực hiện
những tác dụng mong muốn. Hơn nữa, một
số hình thái nhất định của sần vỏ cam sẽ
không bị tác động bởi dược mỹ phẩm, chẳng
hạn như tổn thương do xơ vách ngăn dưới da

233
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
kéo da đi xuống. Do đó, vai trò của dược mỹ
phẩm trong việc điều trị sần vỏ cam chủ yếu
là sử dụng chúng kết hợp với các biện pháp
khác chẳng hạn như giảm cân, cắt đáy sẹo
và kết hợp các thiết bị nhắm mục tiêu vào mô
mỡ và mô liên kết.
Vì sần vỏ cam là một tình trạng ảnh
hưởng đến hình thái của da đối với chất béo
và cân mạc, hiệu quả lâm sàng của nhiều loại
dược mỹ phẩm bị hạn chế do chúng không
có khả năng xuyên qua hàng rào và đến các
lớp sâu hơn của da. Vì lý do này, các dược mỹ
phẩm bôi tại chỗ phải bao gồm phương tiện
thích hợp để tăng cường khả năng thâm nhập
qua da. Các chất hoạt hóa hóa học hoặc hoạt
động bề mặt gây ra những thay đổi trong cấu
trúc của lớp lipid kép và tỉ lệ thấm qua da của
thuốc. Các phương pháp vật lý như xoa bóp,
điện thẩm và điện di cũng rất hữu ích đối với
các phân tử ion, các hoạt chất có trọng lượng
phân tử lớn và các chất quan trọng có khả
năng hấp thu thấp. Hệ thống thẩm thấu qua
da, chẳng hạn như miếng dán thẩm thấu qua
da, có khả năng làm cho việc phân phối 1
lượng thuốc chính xác để đạt hiệu quả tại vị
trí cần tác động dễ dàng hơn. Hệ thống nhũ
tương đa hạt liên quan đến việc tạo ra hệ nhũ
tương hai pha có dạng khối cầu nhiều phiến
đồng tâm của dầu và nước. Bằng các hệ
thống phân phối qua da này, các thành phần
hoạt tính có thể được giải phóng từ từ qua
các lớp khi thoa lên da.
Vì sần da cam ảnh hưởng đến các vùng
da rộng lớn, nên cần biết nồng độ và sự thâm
nhập của các thành phần hoạt tính vì lý do an
toàn cho người bệnh.

Các thành phần và hoạt chất
dược mỹ phẩm thích hợp để
điều trị tình trạng này
Các thành phần có thể tác động
đến cấu trúc của lớp bì
Biểu hiện lâm sàng của sần vỏ cam có
thể được cải thiện bằng cách tăng độ dày
của lớp bì, việc này có thể là giảm hiện tượng
thoát vị mỡ vào lớp mô bề mặt.
• Retinoids tại chỗ đã được sử dụng để
điều trị sần vỏ cam. Nó giúp tăng lắng
đọng collagen ở lớp bì, thúc đẩy sự tổng
hợp của glycosaminoglycans, cải thiện
chất lượng của sợi elastin, tăng độ đàn
hồi của da, cải thiện tuần hoàn và giảm
kích thước tế bào mỡ. Một nghiên cứu đối
chứng với giả dược của Kligman đã khảo
sát về vấn đề này sử dụng retinol 0,3%
trên đùi trong sáu tháng ở 19 bệnh nhân,
và nó chứng minh cải thiện tình trạng sần
da cam ở khu vực được điều trị trên 63,1%
bệnh nhân so với bên không được điều trị,
bằng phương pháp đánh giá da liễu lâm
sàng và phép đo vận tốc Dopier laser.
• Thêm vào đó, vitamin C giúp ổn định
collagen và kích thích sự lắng đọng
collagen. Do đặc tính này có khả năng
giúp tăng cường sức khỏe lớp bì, nó có
thể được sử dụng trong các loại kem trị
da sần vỏ cam nhưng chưa được kiểm
chứng trong các thử nghiệm lâm sàng.
• Chiết xuất Centella asiatica (từ rau má),
có nguồn gốc từ cây thủy sinh trồng ở Ấn
Độ và Đông Nam Á, kích thích hoạt động
nguyên bào sợi và collagen tổng hợp
trong chất nền ngoại bào, và làm giảm
kích thước của tế bào mỡ. Nó cũng kích
thích dẫn lưu bạch huyết, và có hoạt tính
chống viêm. Nó có thể được sử dụng với
nồng độ từ 2-5%.
• Bladderwrack (Tảo bẹ) (Fucus vesiculosus)
là một loại tảo biển nâu được ghi nhận
tạo ra sự thu nhỏ của mô liên kết dưới da
thông qua việc tăng biểu hiện của integ-
rin (1 loại liên kết tế bào). Nó cũng kích
thích tăng lưu thông mạch máu.
Các tác nhân có thể tác động đến
chất béo cục bộ
Các tác nhân làm giảm quá trình tạo lipid
và thúc đẩy quá trình phân giải lipid có thể
làm giảm kích thước và khối lượng tế bào mỡ,

234
Dược mỹ phẩm trong điều trị da sần vỏ cam
Chương 23 _
làm giảm sức căng bề mặt xung quanh mô
liên kết nên có thể giảm biểu hiện lâm sàng
của da sần vỏ cam.
Chất béo của tế bào mỡ đến từ các
lipoprotein trong huyết tương. Suốt trong
quá trình phân giải lipid, chất béo được thủy
phân và loại bỏ trở lại huyết tương dưới dạng
axit béo tự do và glicerol. Các enzym khác
nhau chẳng hạn như insulin, adenosine
monophosphat vòng (cAMP) và đặc biệt là
lipase triglycerid đều tham gia vào tiến trình
này.
Hơn nữa, chất béo của tế bào mỡ bộc lộ
các thụ thể thúc đẩy quá trình dự trữ chất béo
và tạo lipid, chẳng hạn như neuropeptide Y
và peptide YY. Mặt khác, các thụ thể bề mặt,
chẳng hạn như pl và P2, cũng thúc đẩy quá
trình phân giải lipid và loại bỏ chất béo.
• Phosphatidylcholine (chiết xuất lecithin
từ đậu nành) gây ra sự phân giải
lipid thông qua hoạt hóa các thụ thể
b-adrenoreceptor, và nó gây ra viêm mô
mỡ thùy và vách ngăn hỗn hợp, kết quả dẫn
đến teo và hoại tử mỡ. Trong một nghiên
cứu mù đôi có đối chứng ngẫu nhiên, chín
nữ tình nguyện viên khỏe mạnh với sần
vỏ cam ở đùi độ II - III được điều trị bằng
gel chống sần vỏ cam chuyên dụng có
phosphatidylcholine. Hai lần mỗi tuần,
mỗi bên đùi được điều trị bằng điốt phát
sáng (LED) ở bước sóng 660 nm và 950
nm trong 24 buổi. Tám trong số chín
người được điều trị đã hạ mức độ sần
vỏ cam thấp hơn qua khám lâm sàng,
chụp ảnh kỹ thuật số và pinch test. Siêu
âm kỹ thuật số ở mặt phẳng chuyển tiếp
da-mỡ dưới da cho thấy sự giảm đáng kể
về mặt thống kê của độ dấy hạ bì được
xác nhận bởi ba lần sinh thiết. Trong chín
người thuộc nhóm chứng và được điều
trị bằng đèn LED và một đùi được điều
trị tích cực, những thay đổi lâm sàng tối
thiểu đã được quan sát thấy. Ở giai đoạn
đánh giá ở tháng 18 cho tám đùi đáp ứng,
năm đùi quay trở lại phân độ sần vỏ cam
ban đầu, cho thấy nhu cầu cần thiết để
điều trị duy trì.
• Methylxanthines,
chẳng
hạn
như
caffeine, aminophylline, theophylline và
theobromine là những chất chủ vận p làm
giảm quá trình tạo lipid và thúc đẩy quá
trình phân giải lipid. Chúng là những hoạt
chất được sử dụng thường xuyên nhất
trong các sản phẩm chống sần vỏ cam.
• Caffeine, được chiết xuất từ hạt cà phê
của cây Coffea arabica (L), thường được
sử dụng với nồng độ 1-2%. Nó thâm nhập
và hấp thụ tốt qua da. Caffeine tác dụng
trên các tế bào mỡ, thúc đẩy sự phân
giải lipid và kích hoạt enzyme triglyceride
lipase phân hủy triglyceride thành axit
béo tự do và glycerol. Nó cũng có tác
dụng kích thích vi tuần hoàn trên da. Lupi
và cộng sự công bố một nghiên cứu lâm
sàng có kiểm soát (N = 134) sử dụng
dung dịch 7% caffeine, cho thấy chu vi
đùi giảm trung bình 2,1 cm ở > 80% bệnh
nhân được điều trị. Không có phương
pháp ước lượng hiệu quả cụ thể để đánh
giá tác dụng trên sần VỎ cam. Có báo cáo
về phản ứng dị ứng với các sản phẩm bôi
ngoài da có chứa caffeine cũng như các
báo cáo về trường hợp viêm da ở công
nhân xử lý hạt cà phê. Lesser và cộng sự
cũng đã chứng minh giảm độ dày của
mô mỡ trong một nghiên cứu mù đôi,
đơn trung tâm, có đối chứng với giả dược
(N = 41).
• Aminophylline cũng có tác dụng phân
giải mỡ. Collis và cộng sự đánh giá hiệu
quả của gel aminophylline tại chỗ kết hợp
với 10% glycolic axit và kết luận rằng nó
không thể cài thiện sần vỏ cam trong thử
nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng trên 52
phụ nữ. Không có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê nào trong các phép đo giữa các
vị trí bị ảnh hưởng trong các nhóm.
• Các tác nhân khác đã được chứng minh là
có hoạt tính phân giải lipid bao gồm chất
chủ vận B-adrenergic như isoprotenerol,
adrenaline, và chất đối vận a-adrenergic
như phentolamine, dihydroergotamỉne, yo-
himbine và piperoxan. Greenway và Bray
trong một nghiên cứu mù đôi, có đối chứng

235
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
với giả dược, cho thấy sự giảm có ý nghĩa
thống kê ở các phép đo nhân trắc vùng
giữa đùi với việc sử dụng isoprotenerol
tại chỗ, aminophylline và yohimbine. Mức
giảm là lớn nhất khi kết hợp tất cả các loại
thuốc sử dụng. Và trong số các tác nhân
được sử dụng riêng biệt, aminophylline
đã cho kết quả tốt nhất.
• Coenzyme A và axit amin L-carnitine mô
phỏng sự huy động và phá hủy các axit
béo tự do, ngăn chặn các phản hồi ngược
âm tính (negative feedback) về phấn giải
lipid và kích thích hoạt động của lipase tế
bào mỡ. Chúng cũng làm tăng tác dụng
phân giải chất béo của methylxanthine.
• Axit Petroselinic và axit linolenic liên hợp
cải thiện sự biệt hóa của biểu bì, giảm
viêm, tăng các thành phần chất nền ngoại
bào và làm săn chắc da. Hơn nữa, các
nghiên cứu trong ống nghiệm đã chỉ ra
rằng axit linolenic liên hợp có thể ngăn
chặn sự tích tụ lipid trong tế bào mỡ và
một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có
đối chứng cho thấy cải thiện lâm sàng về
sần vỏ cam ở 75% bệnh nhân, cũng như
giảm trung bình 2,2 cm chu vi đùi khi sử
dụng uống với liều 800 mg kết hợp với
một viên thuốc chống sần vỏ cam dạng
thảo dược. Chỉ riêng viên thuốc chống
sần vỏ cam thảo dược đã có tác dụng tối
thiểu đối với chứng cellulite.

Chất chống oxy hóa
Các tác nhân chống oxy hóa có thể bảo
vệ màng tế bào mỡ dưới da và lớp bì khỏi sự
peroxy hóa lipid màng gây độc từ các gốc tự
do. Ví dụ như vitamin c, vitamin E, chiết xuất
trà xanh và flavonoid, trong sô’ nhiều loại
khác.
Tác nhân có thể kích thích lưu
thông tuần hoàn tại chỗ và dẫn lưu
bạch huyết
Mô mỡ có rất nhiều mạch máu, dẫn đến
giả thuyết rằng tình trạng sần vỏ cam có thể
trở nên trầm trọng hơn ở các khu vực dẫn lưu
tuần hoàn và bạch huyết kém dẫn đến giảm
thoát dịch, có thể do chấn thương hoặc viêm
nhiễm. Hơn nữa, sự suy giảm tuần hoàn vi
mạch có thể dẫn đến tăng phù vi mô ở lớp
mỡ dưới da. Do đó, có nhiều phương pháp
điều trị cho sần vỏ cam với mục tiêu cải thiện
lưu thông mạch máu và dẫn lưu bạch huyết.
• Ginko biloba chứa flavonoid, biflavones và
terpen làm giảm độ nhớt của máu, ức chế
yếu tố kích hoạt tiểu cầu, cải thiện trương
lực mạch máu, và do đó dẫn đến cải thiện
vi tuần hoàn. Flavonoid cũng hoạt động
như chất chống oxy hóa. Nồng độ đề nghị
là 1-3%. Trong y văn đã báo cáo về các
trường hợp quá mẫn với các sản phẩm
chứa ginkgo.
• Nho đỏ (Vitis vinifera) có đặc tính chống
oxy hóa, kích thích lưu thông hệ bạch
huyết, ức chế elastase và collagenase.
Nó được sử dụng với nồng độ từ 2-7%. Đã
có báo cáo về viêm da tay ở những công
nhân ép quả để lấy nước.
• Quả và lá đu đủ (Đu đủ Carica) và dứa
(Ananas sativus) có đặc tính chống viêm.
Đề nghị nồng độ là 2-5%. Viêm da hiếm
khi xảy ra.
• Atisô hoặc chophytol (Cynara scolymyus)
kích thích tuần hoàn, có tác dụng lợi tiểu
và chống phù nề.
• Pentoxyphylline cải thiện vi tuần hoàn
bằng cách ức chế kết tập tiểu cầu và ảnh
hưởng đến nồng độ của fibrinogen huyết
tương.
• Tinh chất chiết xuất từ thường xuân đất
(Glechoma hederacea) được sử dụng với
nồng độ 2-5%. Nó chứa coumarin, làm
giảm phù bạch huyết và giảm tính thấm
mao mạch.
• Thường xuân dây (Hedera helix) cải thiện
tính thấm của mao mạch, dẫn lưu bạch
huyết, tĩnh mạch và có tác dụng chống
viêm, chống phù nề, giảm đau. Phản ứng
dị ứng đã được báo cáo.

236
Dược mỹ phẩm trong điều trị da sần vỏ cam
Chương 23 _
• Butcher’s broom-cây đậu chổi (Ruscus
aculeatus) là một chất làm co tĩnh mạch
làm giảm tính thấm thành mạch và phù
nề, cải thiện dẫn lưu bạch huyết. Nó cũng
kích hoạt tuần hoàn da, cho phép quá
trình oxy hóa và chuyển hóa tế bào tốt
hơn. Nó thường được sử dụng với nồng
độ 1-3%.
• Sillicon điều chỉnh tính thấm mao mạch,
cải thiện dẫn lưu tĩnh mạch và bạch huyết.
• Hạt dẻ ngựa hoặc Ấn Độ (Aesculus
hippocastanum) có đặc tính co mạch
ngoại biên nhẹ, giảm tính thấm của mao
mạch và giảm hoạt động của enzym
lysosomatic lên đến 30% 7
Các sản phẩm kết hợp
Nhiều sản phẩm là sự kết hợp của nhiều
thành phần hoạt tính với mục tiêu tăng hiệu
quả bằng cách kết hợp các cơ chế hoạt động
khác nhau. Tuy nhiên, số lượng các nghiên
cứu khoa học được công bố trong các tài liệu
đánh giá các sản phẩm như vậy còn hạn chế.
Bertin và cộng sự đã thực hiện một
nghiên cứu mù đôi có đối chứng với giả dược
đánh giá một sản phẩm chống sần vỏ cam
kết hợp retinol, caffeine, Asiatic centella,
L-carnitine, esculoside (để cải thiện vi tuần
hoàn tại chỗ) và ruscogenine (ức chế hoạt
động của elastase). Sản phẩm kết hợp có
hiệu quả hơn giả dược trong việc giảm sự
biểu hiện của sần vỏ cam.
Một nghiên cứu ngẫu nhiên mù đôi có
đối chứng với giả dược của Rao và Gold man
đã đánh giá hiệu quả của một loại kem chống
sần vỏ cam kết hợp có chứa caffeine, chiết
xuất trà xanh, chiết xuất hạt tiêu đen, chiết
xuất cam quýt, chiết xuất rễ gừng, chiết xuất
vỏ quế và ớt chuông có hay không có báng
bịt (N = 17). Có một sự cải thiện lâm sàng
tổng thể về sần vỏ cam qua đánh giá bằng
hình ảnh ở 65% chân được điều trị có băng bịt
và 59% ở chân được điều trị không băng bịt.
Một nghiên cứu đa trung tâm, ngẫu nhiên, có
đối chứng với giả dược của Rao và cộng sự
đã thử nghiệm cùng một loại kem chống sần
vỏ cam kết hợp kèm báng bịt và cho thấy sự
cải thiện lâm sàng trên ảnh chụp ở 68% đối
tượng.
Mặt khác, một nghiên cứu của Lis-Balchin
cho thấy hiệu quả không tốt ở sản phẩm kết
hợp Cellasene, có chứa ginkgo biloba, cỏ ba
lá ngọt, rong biển, dầu hạt nho, lecithin và dầu
hoa anh thảo trong một nghiên cứu lâm sàng
có kiểm soát giả dược. Có sự gia tăng sần vỏ
cam, có thể là do tăng cân ở cả hai nhóm.

Tác dụng phụ
Nhiều sản phẩm dược mỹ phẩm được sử
dụng để điều trị cellulite có thể gây ra phản
ứng dị ứng và viêm da tiếp xúc. Sainio và
cộng sự đã khảo sát 32 sản phẩm chống sần
vỏ cam, chủ yếu là thực vật và chất làm mềm
da, mỗi sản phẩm chứa trung bình 22 thành
phần, kết quả rằng 25% các chất đã được
chứng minh là gây dị ứng.

Kết luận
Nhiều sản phẩm dược mỹ phẩm dành
để điều trị tình trạng sán vỏ cam có sẵn trên
thị trường. Có thể nhận thấy sán vỏ cam liên
quan trực tiếp đến cấu trúc dưới da, nên dược
mỹ phẩm có thể được sử dụng cho những
bệnh nhân có biểu hiện sần vỏ cam nhẹ giống
như một phương thức điều trị hỗ trợ cho các
phương pháp điều trị khác.

237
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
24
DƯỢC MỸ PHẨM
TRỊ RỤNG TÓC
CHĂM SÓC DA
VÀ

C
h
ư
ơ
n
g
Nicole E. Rogers
Tulane University School ofMedicine,
New Orleans, LA, J USA

238
Dược mỹ phẩm trị rụng tóc và chăm sóc da
Chương 24 _
Giới thiệu
Đối với cả nam và nữ, tóc là một chỉ dấu
mạnh mẽ cho sức khỏe và khả năng sinh
sản. Có đêh 40% phụ nữ và 50% nam giới
từng bị thưa tóc trong suốt cuộc đời của họ.
Nguyên nhân phổ biến nhất của rụng tóc là
rụng tóc androgen di truyền, còn được gọi
là rụng tóc kiểu nam hoặc nữ (Hình 24.1 và
24.2). Ngành công nghiệp dược mỹ phẩm đã
bùng nổ theo đúng nghĩa đen trong những
năm gần đây, khi các nhà sản xuất kết hợp
nhiều chiết xuất thực vật khác nhau vào các
sản phẩm chăm sóc tóc và chống rụng tóc.
Trong chương này, chúng tôi sẽ tập trung vào
các thành phần hoạt tính với dữ liệu khoa học
cho thấy vai trò của chúng trong việc mọc
tóc hoặc chăm sóc tóc.
Hiện tại, chỉ có hai loại thuốc trị rụng tóc
được FDA chứng nhận và một thiết bị y tế
được FDA 510 K phê duyệt. Chúng gồm mi-
noxidil bôi tại chỗ, được bán dưới tên thương
mại Rogaine® (dành cho nam và nữ), finas-
teride uống (tên thương mại Propecia®, chỉ
dành cho nam giới) và Hairmax Lasercomb,
là một thiết bị cầm tay phát ra chùm tia laser
công suất thấp 655 nm (dành cho nam và
nữ). Trong chương này, chúng ta sẽ xem xét
dữ liệu có sẵn về các thành phần có nguồn
gốc thực vật khác để xem chúng có tiềm
năng như thế nào để kết hợp sâu hơn vào các
sản phẩm tóc. Bảng 24.1 cung cấp tóm tắt
về một số cơ chế tác động của các sản phẩm
thực vật đối với sự phát triển của tóc.

Hình 24.1 Ví dụ lâm sàng về rụng tóc kiểu phụ nữ.

239
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Bảng 24.1 Tóm tắt các cơ chế dựa trên thực vật cho sự phát triển của tóc.
Hình 24.2 Hình ảnh soi da của rụng tóc kiểu phụ nữ.
Ức chế 5a-reductase 7
Ức chế TNF-p2
Điều hòa tăng IGF-14
Ức chế protein kinase c3
Polyphenol: hạt nho, chiết
xuất táo, lúa mạch và mâm
xôi
Các chất chống oxy hóa như polyphenol
(bao gồm cả flavonoid) được biết đến với khả
năng loại bỏ các gốc tự do và do đó làm giảm
sự oxy hóa do bức xạ tia cực tím và ô nhiễm
môi trường. Các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã
chứng minh tác dụng thúc đẩy tăng trưởng
của proanthocyanidins từ hạt nho (giống
Chardonnay). Các tác dụng đã được tìm
thấy cả trong vitro và in vivo, trong đó chiết
xuất proanthocyanidin 3% có hiệu quả như
midoxidil 1% trong việc chuyển đổi nang
lông chuột từ giai đoạn telogen sang giai
đoạn anagen. Procyanidin B-2 (một dimer
epicatechin) thể hiện hoạt động thúc đẩy
tăng trưởng in vitro lớn nhất đối với các tế
bào biểu mô tóc.
Năm 2001, thử nghiệm lâm sàng đầu
tiên đã thử nghiệm việc bôi thuốc chứa 1%
procyanidin B-2 cho sự phát triển của tóc ở
người. Trong thử nghiệm mù đôi này, nghiên
cứu đối chứng với giả dược bao gồm 29 đối
tượng nam mắc chứng rụng tóc do nội tiết tố
nam (19 đối tượng được điều trị, 10 đối tượng

240
Dược mỹ phẩm trị rụng tóc và chăm sóc da
Chương 24 _
với giả dược), 78,9% nhóm điều trị cho thấy
đường kính tóc trung bình tăng lên, trong khi
chỉ 30% nhóm chứng cho thấy có sự gia tăng.
Trong một thử nghiệm lâm sàng mù đôi thứ
hai, các oligome procyanidine 0,7% từ táo
(Malus pumila) đã được thoa cho da đầu của
những người đàn ông bị rụng tóc nội tiết tố.
Sau 6 và 12 tháng, nhóm điều trị (N = 21) có
mật độ tóc tăng đáng kể so với nhóm giả
dược (N = 22). Một số sản phẩm thương mại
có chứa procyanidins chiết xuất từ táo (Hình
24.3).
Các nghiên cứu về procyanidin đã cung
cấp các hiểu biết tốt hơn về các cơ chế liên
quan đến việc điều hòa sự phát triển của tóc.
Các yếu tố tăng trưởng TGF-[3, FGF-5, TNF-a,
IL-la và IL-ip được biết là những yếu tố ảnh
hưởng tiêu cực đến sự phát triển của tóc.
Dựa trên bằng chứng này, procyanidin B-3,
được phân lập từ vỏ hạt lúa mạch (Hordeum
Hình 24.3 Táo là một nguồn chiết xuất procyanidin quan trọng
vulgare L. var distichon Alefeld), có tác động
chống lại tác dụng ức chế của TGF-|31 đối với
sự phát triển của tóc. Procyanidin B-2 cũng
được chứng minh là làm giảm biểu hiện của
protein kinase c, một chất ức chế sự phát
triển của tóc.
Quả mâm xôi cũng có thể có vai trò
trong điều trị rụng tóc. Dựa trên nghiên cứu
trước đây cho thấy capsaicin có thể thúc đẩy
sự phát triển của tóc, các nhà nghiên cứu đã
thử nghiệm raspberry ketone (RK), một hợp
chất thơm có cấu trúc tương tự có trong quả
mâm xôi đỏ (Rubus idaeus) cho các tác dụng
tương tự (Hình 24.4). Khi thoa lên da đầu,
0,01% RK thúc đẩy sự phát triển của tóc ở
50% người bị chứng rụng tóc từng vùng (N =
10) sau 5 tháng. Hiệu ứng này dường như xảy
ra do kích hoạt thần kinh cảm giác, dẫn đến
tăng nồng độ của yếu tố tăng trưởng giống
insulin I (IGF-I) ở da.

241
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Hình 24.4 Chiết xuất quả mâm xôi có thể là một nguồn để điều trị rụng tóc.
Isoflavones và đậu nành
Isoflavones là các hợp chất hữu cơ có độ
hoạt động sinh học tương tự như estrogen,
do đó có tên gọi khác là phytoestrogen.
Trong một nghiên cứu, isoflavones trong chế
độ ăn làm tăng cả số lượng nang lông và sự
biểu hiện IGF-I trong nang lông của chuột
C57BL / 6 hoang dã, trong khi tác dụng này
không thấy ở chuột đối chứng. Trong một
nghiên cứu khác, cả isoflavone (75 mg / ngày)
và capsaicin (6 mg / ngày) đã được sử dụng
cho 31 người tình nguyện. Tóc mọc nhiều
hơn đáng kể ở nhóm điều trị (20/31, 64,5%)
so với nhóm dùng giả dược (2/17, 11,8%).
Một dẫn xuất peptide đậu nành đường
uống được gọi là soymetide-4 đã được chứng
minh là có thể ngăn ngừa chứng rụng tóc do
hóa trị ở chuột. Trong một nghiên cứu khác,
đậu nành trong chế độ ăn uống đã được sử
dụng cho chuột C3H / HeJ bị rụng tóc từng
mảng, và được phát hiện nó có tác dụng bảo
vệ các nang lông phụ thuộc vào liều, với tỷ
lệ rụng tóc thấp hơn được quan sát thấy ở
nhóm 5% và 20%, so với 1% ở nhóm ăn kiêng
đậu nành. Tuy nhiên, vẫn còn một số tranh
cãi vì một nghiên cứu trước cho rằng chất ức
chế protease có nguồn gốc từ sữa đậu nành
thực sự có thể làm giảm sự phát triển của tóc
không mong muốn.

Nhân sâm, bạch quả và họ
hàng của chúng
Nhân sâm đã được nghiên cứu rộng rãi
về vai trò của nó trong việc điều trị chứng
rụng tóc ở nam và nữ. Các thành phần hoạt
tính được cho là saponin, với 26 thành phần
đã được phân lập và xác định. Hồng sâm đã
được chứng minh là có hiệu quả vượt trội hơn
bạch sâm trong việc thúc đẩy sự phát triển
của lông ở các nang lông của chuột được
nuôi cấy. Một phần cơ chế hoạt động của nó
có thể là do sự ức chế enzym 5A-reductase.
Hiện tại, chỉ có một thử nghiệm lâm sàng
trên người cho thấy rằng việc uống chiết xuất
hồng sâm Hàn Quốc (3000 mg / ngày) trong
24 tuần đã làm tăng hiệu quả mật độ và độ
dày của tóc ở bệnh nhân rụng tóc androgen.
Điều thú vị là Ginkgo biloba cũng đã được
chứng minh là có thể mọc lại lông khi được

242
Dược mỹ phẩm trị rụng tóc và chăm sóc da
Chương 24 _
thoa dưới dạng chiết xuất etanolic 70% trên
chuột.

Chất ức chế enzym
5-alpha-reductase từ thực
vật
Finasteride hiện là chất ức chế 5-alpha
reductase (5-AR) hiệu quả nhất hiện nay. Tuy
nhiên, tác dụng phụ của nó đã thúc đẩy nhiều
nhà nghiên cứu tìm các giải pháp thay thế fin-
asteride nguồn gốc thực vật. Một số trong số
này được liệt kê trong Bảng 24.2.
Cây cọ lùn (Serenoa repens) đã được đề
xuất như một chất thay thế cho finasteride
trong điều trị các triệu chứng tiết niệu của phì
đại tuyến tiền liệt lành tính ở nam. Các thành
phần hoạt tính của nó, chiết xuất liposterolic
và (3- sitosterol, có đặc tính ức chế 5-AR. Tuy
nhiên, dữ liệu duy nhất mà chúng tôi kiểm tra
được vai trò của nó trong việc điều trị rụng
tóc là một thử nghiệm nhỏ từ năm 1999,
trong đó 6/10 nam giới được điều trị bằng
chiết xuất cây cọ lùn uống đã cải thiện được
một cách chủ quan sau 5 tháng. Mặc dù đây
là một thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi, có đối
chứng với giả dược, nhưng không có phương
pháp khách quan nào được sử dụng để đánh
giá đường kính hoặc mật độ nang tóc.
Trà xanh được xác định là một chất ức
chế 5-AR vào năm 1995, và nó được đề xuất
như một phương pháp điều trị chứng rụng
tóc androgen vào năm 2002. Các nhà nghiên
cứu đã quan sát thấy rằng khả năng ức chế
5-AR của nó tăng lên khi este gallate trong
EGCG được thay thế bằng axit béo chuỗi
dài, chẳng hạn như lauric (10 chuỗi carbon),
myristic (12 chuỗi carbon) và axit stearic (16
chuỗi carbon) Chất ức chế mạnh nhất của
5- AR được hình thành với việc bổ sung axit
palmitic (chuỗi 14 carbon).
Một loài thực vật khác được nghiên
cứu
về
khả
năng
ức
chế
5-AR
là
Sophoraflavescens (hoàng cầm râu). Loại
cây này đã được sử dụng rộng rãi trong y học
Trung Quốc để điều trị bệnh ung thư và chống
viêm. Khi nó được bôi cho lưng của chuột
C57BL / 6, chu trình anagen được bắt đầu
sớm hơn so với các nhóm đối chứng, nhưng
nó không ảnh hưởng đến các tế bào nhú bì
trong nuôi cấy. Nó đặc biệt tạo ra nồng độ
mRNA của các yếu tố tăng trưởng như IGF-1
và yếu tố tăng trưởng tế bào sừng (KGF), ức
chế đáng kể nồng độ 5-AR so với dpi chứng.

Tinh Dầu
Các nhà khoa học ở Hàn Quốc đã chứng
minh tác dụng kích thích mọc tóc của tinh
dầu Zizyphusjujuba (táo Tàu). Chất này có
nguồn gốc từ một loại cây có gai, đã được
sử dụng làm thuốc giảm đau cũng như ngừa
mang thai và bệnh tiểu đường. Các nhà
nghiên cứu đã áp dụng nồng độ 0,1%, 1% và
10% của tinh dầu lên lưng của những con
chuột BALB /c được cạo lông và quan sát sự
phát triển của chúng trong 21 ngày. Họ phát
hiện ra rằng những con chuột được điều trị
bằng dung dịch 1% và 10% có lông dài hơn
đáng kể (9,96 và 10,02 mm) so với nhóm đối
chứng (8,94 mm).
Ở Ấn Độ, hạt của cây gỗ tếch (Tectona
grandis) đã được các bộ lạc cổ đại sử dụng
để ngăn ngừa rụng tóc. Hoạt tính thúc đẩy
mọc tóc của chúng gần đây đã được chứng
minh là ngang bằng và hiệu quả hơn một
chút so với dung dịch minoxidil 2%. Các nhà
nghiên cứu ở Ấn Độ đã thử nghiệm chiết xuất
ete dầu 5% và 10% trên da đã cạo sạch lông
của chuột bạch tạng. Họ phát hiện ra rằng
các nhóm điều trị có số lượng nang đi vào
giai đoạn anagen (64% và 51%) nhiều hơn
so với các nang được điều trị bằng minoxidil
(49%).

Vitamin c
Vitamin c từ lâu đã được biết đến với tác
dụng chống oxy hóa, nhưng việc sử dụng nó
trong mỹ phẩm ngày càng trở nên khó khăn

243
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Saw Palmetto ,
Tiêu đen
Chiết xuất trà xanh
Japanese False Nettle
Safflower (Cây rum)
Linh chi (nấm)
Vỏ cây thanh mai đỏ
Hạt cây tuyết tùng
Japanese climbing
Puereria flower
Cây hương thảo
Hồng sâm
Rễ cây thảo phơi khô
American dwarfpalm
(Cây cọ lùn)
Thực vật
Tên latinh
Thành phần hoạt tính
Bảng 24.2 Sơ lược về các chất ức chế 5-alpha reductase có nguồn gốc từ thực vật.
Note: *Thú vị là hai lignans này cũng chứng minh kích thích sinh hắc tố, một đặc tính
có thể được áp dụng trong điều trị tóc bạc
hơn do thiếu tính ổn định. Do đó, các nhà
nghiên cứu đã nghiên cứu việc sử dụng một
dẫn xuất vitamin c ổn định hơn, L-ascorbic
acid 2-phosphate, để kích thích mọc tóc. Họ
phát hiện ra rằng nó gây ra sự chuyển đổi
telogen thành anagen sớm hơn ở chuột
C57BL / 6 so với nhóm chứng, và thúc đẩy
sự dài ra của các sợi tóc trong các mẫu cấy
được xử lý. Nghiên cứu này và một nghiên
cứu tiếp theo đểu phát hiện ra sự biểu hiện
mRNA của yếu tố tăng trưởng giống insulin
(IGF-1) trong các dòng tế bào được điều trị,
đặc biệt qua trung gian phosphatidylinositol
3-kinase (PI3K). Nó cũng có thể hoạt động
bằng cách làm giảm biểu hiện dickkopf-l do
DHT gây ra trong các tế bào nhú bì. Cho đến
nay, chưa có thử nghiệm lâm sàng nào sử
dụng hợp chất này ở người.

244
Dược mỹ phẩm trị rụng tóc và chăm sóc da
Chương 24 _
Amino acids và các dẫn xuất
của chúng
Taurine là một axit B-amino tự nhiên
được tạo ra bởi quá trình chuyển hóa
methionine và cysteine. Sự sản xuất nó ở
động vật hữu nhũ bị hạn chế, vì vậy lượng
ăn vào là rất quan trọng. Khi các nang tóc
của con người được xử lý bằng taurine trong
ống nghiệm, tóc dài hơn đáng kể ở các nhóm
được điều trị so với nhóm chứng. Khi các
nang tóc tiếp xúc với TGF-01, sự phát triển
của chúng bị ảnh hưởng, nhưng taurine cho
thấy có tác dụng bảo vệ.
L-carnitine là một axit amin cần thiết cho
việc vận chuyển các axit béo đến ty thể để
sản xuất năng lượng và quá trình oxy hóa p
tiếp theo. Nó đã được chứng minh là làm tăng
độ dài của sợi tóc trong ống nghiệm cũng
như kéo dài quá trình anagen bằng cách đẩy
mạnh quá trình tăng sinh và giảm quá trình
chết theo chu trình ở các nang tóc trên da
đầu người. L carnitine-L-tartrate cũng được
chứng minh là thúc đẩy sự phát triển của tóc
ở người khi được bôi tại chỗ trong một nghiên
cứu quan sát tiền cứu, ngẫu nhiên, có đối
chứng với giả dược trên người tình nguyện
(N = 26, giả dược = 25).

Sản phẩm nhuộm tóc
Kể từ thời Ai Cập cổ đại của Cleopatra, phụ
nữ đã sử dụng các chất chiết xuất từ thực vật
và thuốc nhuộm thực vật khác nhau để làm
đen và nhuộm tóc. Một trong những loại phổ
biến nhất trong số này là cây lá móng (henna),
một loại cây có lá tạo ra một hợp chất màu
đỏ tía gọi là lawsone. Nó chủ yếu tập trung ở
lá và có rất nhiều protein. Khi lawsone được
hòa tan trong một chất lỏng có tính axit như
nước chanh, nó có thể được thoa lên tóc và
sẽ liên kết với các protein sau vài giờ. Việc sử
dụng rộng rãi cây lá móng phần nào bị hạn
chế bởi khó chiết xuất và nguy cơ viêm da
tiếp xúc. Hầu hết các loại thuốc nhuộm tóc
hiện đại đều chứa các thành phần được sản
xuất như para-phenylene diamine.
Gần đây, các nhà nghiên cứu đã nghiên
cứu các hợp chất thực vật khác để tạo ra các
nguồn tạo màu tóc có thể nhuộm tóc. Thông
thường, quá trình nhuộm tóc bao gồm việc
sử dụng các tiền chất thuốc nhuộm (thường
là p diamines và p- aminophenol) tiếp theo là
chất oxy hóa (thường là H2O2). Điều này được
thực hiện ở độ pH kiềm vì giúp tóc phồng lên,
lớp biểu bì nâng lên và thuốc nhuộm sẽ dễ
dàng thâm nhập vào sợi tóc hơn. Tuy nhiên,
độ pH kiềm này có thể gây ra các phản ứng
phụ có hại cho nang tóc.
Do đó, nhiều nhà nghiên cứu khác nhau
đã nghiên cứu việc sử dụng laccase, một loại
enzyme được tạo ra bởi các loại nấm, thực
vật, vi khuẩn và côn trùng như một chất oxy
hóa thay thế. Một nhóm đã sử dụng enzyme
laccase từ Trametes versicolor (còn được
gọi là đuôi gà tây vì nó giống với đuôi của
gà tây hoang dã) để oxy hóa các hợp chất
phenolic có nguồn gốc thực vật tự nhiên. Nhóm
thứ hai sử dụng laccase từ nấm Nhật Bản,
Flammulina velutipes. Cả hai nhóm đều có
kết quả xuất sắc đạt được màu tối ưu và bền
dù có gội đầu ngay sau đó.

Sản phẩm chăm sóc và bảo
vệ tóc
Peptides
Tóc của người châu Phi có thể cực kỳ
khó tạo kiểu do nó được mọc xoăn chặt vào
nhau. Do đó, nhiều người sử dụng phương
pháp duỗi tóc hoặc ép tóc bằng máy ép
phẳng lặp lại, để dễ làm mượt tóc hơn và
khiến nó dễ tạo kiểu hơn. Tuy nhiên, điều này
có thể làm giảm độ chắc khỏe của tóc, kh-
iến tóc trở nên giòn và dễ gãy hơn. Bề mặt
tóc có xu hướng tích điện âm và càng trở nên
tích điện âm hơn khi tóc bị hư tổn. Do đó, các
peptide mang điện tích dương được sử dụng
để bao bọc và sửa chữa lớp biểu bì bị tổn
thương. Có bằng chứng cho thấy vị trí của

245
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
điện tích dương (ở đầu c, nhỏ hơn đầu N) cho
phép thành phần peptit thâm nhập tốt hơn.
Một nhóm đã phát triển một peptide
dựa trên keratin, chứa 13 axit amin và bắt
chước một đoạn của protein keratin II biểu
bi ở người, được mã hóa bởi gen KRT85. Khi
bôi cho tóc đen, nó cải thiện cả tính chất cơ
học và nhiệt. Điều này đã chứng thực kết quả
trước đó cho thấy peptide keratin cũng có
thể phục hồi các đặc tính của tóc hư tổn, tẩy
nhuộm quá nhiều.

Cây cassia (họ quế)
Các nghiên cứu gần đây đã chứng minh
rằng chiết xuất từ cây Cassia tora và Cassia
obtusifolia có thể cung cấp một giải pháp
thay thế cho các polyme cation thường được
sử dụng trong quá trình điều hòa. Nội nhũ của
cây Cassia chứa một galactomannan bậc
bốn, mang điện tích dương liên kết với các
chất hoạt động bề mặt anion để tạo thành
một phức hợp không tan trong nước gọi là
coacervate. Phức hợp này giúp giảm ma sát
khi chải tóc ướt và do đó giảm gãy rụng. Các
nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng khả năng
sử dụng chiết xuất thực vật này đã làm giảm
lượng polymer hóa học cần thiết. Đây là một
lợi thế vì polyme hóa học có thể ảnh hưởng
tiêu cực đến sự tạo bọt và tính ổn định.

Dưa lưới
Dưa lưới cũng có tác dụng làm mềm
mượt và bảo vệ sợi tóc (Hình 24.5). Nó
chứa một số oligosaccharide như fructose,
glucose, inositol và trehalose... Một nghiên
cứu nửa đầu cho thấy rằng những bệnh nhân
được điều trị với chiết xuất 1% từ cây dưa lưới
đã tăng độ mềm mượt so với nhóm chứng.
Ngoài ra, kính hiển vi điện tử cho thấy lớp
biểu bì của tóc được xử lý mịn hơn và ít bị sứt
mẻ hơn. Dưa lưới đã có sẵn trong một số loại
dầu gội và dầu xả.

Cây bạch đàn
Nồng độ đa dạng của các loại lotion
dưỡng da đầu với bạch đàn đã được áp dụng
trong các nghiên cứu trong thời gian hơn
2,5-5 tháng, và được thấy là tăng cả độ đàn
hồi và độ bóng của tóc. Hơn 70% những người
tham gia nghiên cứu cảm giác rằng những
sợi tóc được xử lý có đặc tính vật lý được cải
thiện. Lời giải thích có thể là sự tăng rõ ràng
phần beta sheet trong bao tóc, vốn được cho
là giúp tăng cường độ chắc khỏe cho tóc. Khi
Hình 24.5 Trái dưa lưới có thể cải thiện chất lượng tóc.

246
Dược mỹ phẩm trị rụng tóc và chăm sóc da
Chương 24 _
kiểm tra mô học, không có sự thay đổi đáng
chú ý về đường kính (độ dày) giữa loại tóc
được xử lý và không được xử lý. Cây bạch đàn
hiện có sẵn trong các công thức thương mại
“đánh thức chân tóc”.

Kết luận
Rụng tóc androgen kiểu nam và nữ có
thể gây phiền lòng cho cả bệnh nhân và các
bác sĩ điều trị cho họ. Hiện tại, chúng ta chỉ
có hai loại thuốc được FDA chấp thuận để
điều trị rụng tóc. Thị trường mỹ phẩm dành
cho các sản phẩm trị rụng tóc sẽ rất thú vị khi
nhiều sản phẩm có nguồn gốc thực vật được
giới thiệu và có nhiều lựa chọn thay thế khả
thi hơn cho bệnh nhân.
Further reading
Collin c, Gautier B, Gaillard 0, et al. Pro-
tective effects oftaurine on human hair fol-
licle grown in vitro. IntjCosm Sci 2006; 28:
289-298.
Foitzik K, Roting E, Pertile p, et al. L-Carni-
tine tartrate promotes human hair growth in
vitro. JInves Dermatol 2006; 126: s27 (P146).
Hiipakka RA, Zhang HZ, Dai w, et al.
Structure-activity relationships for inhibition
of human 5a-reductases by polyphenols.
Biochem Pharmacol 2002; 63: 1165-1176.

247
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
25
DƯỢC MỸ PHẨM
ĐỂ ĐIỀU TRỊ
NGĂN NGỪA SẸO
VÀ

C
h
ư
ơ
n
g
Ellen Marmur and Katherine Nolan
Icahn School of Medicine at Mount
Sinai, New York, NY, USA

248
Dược mỹ phẩm để điều trị và ngăn ngừa sẹo
Chương 25 _
Giới thiệu
Sẹo da là một trong những mối quan tâm
phổ biến nhất của bệnh nhân khi đến gặp
bác sĩ da liễu. Hàng năm, hơn 100 triệu bệnh
nhân ở các nước phát triển bị sẹo là hậu quả
của 25 triệu ca phẫu thuật do chấn thương
và 55 triệu ca phẫu thuật tự ý. Ngoài ra, có
khoảng 4 triệu vết sẹo do bỏng, 70% trong
số đó xảy ra ở trẻ em và 11 triệu vết sẹo lồi.
Những người bị sẹo da có thể phải đối mặt
với những hậu quả đáng kể về thể chất và
tâm lý xã hội. Chúng tôi sẽ mô tả nhiều hoạt
chất được sử dụng phổ biến nhất trong điều
trị sẹo cũng như một số biện pháp tự nhiên
đang-ngày càng trở nên phổ biến.

Cơ chế bệnh sinh
Quá trình lành vết thương bình thường
bao gồm ba giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên
là giai đoạn viêm, sau đó là giai đoạn tăng
sinh hoặc tạo hạt, và cuối cùng là giai đoạn
trưởng thành hoặc tái tạo. Nhiều phân tử
tín hiệu, gồm các yếu tố tăng trưởng, ma
trận
metalloproteinase,
protein
kinase
kích hoạt phân bào và chất ức chế mô của
metalloproteinase, điều chỉnh quá trình chữa
lành vết thương phức tạp này. Những bất
thường trong quá trình phức tạp này dẫn đến
sự phát triển của sẹo phì đại và sẹo lồi.
Thông thường trong giai đoạn tái tạo,
quá trình tổng hợp và suy thoái collagen xảy
ra đồng thời làm cho vết thương mềm đi,
phẳng lại và các yếu tố mô liên kết thường
giảm sau tuần thứ ba. Tuy nhiên, ở sẹo lồi, sự
tổng hợp collagen cao gấp 20 lần so với da
bình thường và gấp 3 lần so với sẹo phì đại.
Hơn nữa, tỷ lệ collagen loại I trên loại III cũng
cao trong sẹo phì đại và sẹo lồi.

Các yếu tố nguy cơ
Có một số yếu tố nguy cơ đã biết đối
với sự phát triển của sẹo phì đại và sẹo lồi.
Yếu tố nguy cơ quan trọng nhất là khuynh
hướng di truyền. Ví dụ, sẹo lồi có nguy cơ
xuất hiện cao gấp 15 lần ở những người da
sẫm màu. Ngoài ra, độ căng của vết thương
cũng có liên quan chặt chẽ đến sự phát triển
của sẹo phì đại và sẹo lồi. Vì lý do này, các
vết thương vắt qua vùng khớp có nhiều khả
năng hình thành sẹo phì đại do lực căng liên
tục làm gián đoạn quá trình lành thương bình
thường. Sẹo lồi và sẹo phì đại cũng ít có khả
năng xuất hiện ở một số khu vực nhất định
như đẩu chì và niêm mạc. Cuối cùng, sự hình
thành các vết sẹo bất thường dường như là
cỏ liên quan đến nội tiết tố, đặc biệt là ở phụ
nữ. Sẹo lồi có xu hướng phát triển phổ biến
hơn trong và sau tuổi dậy thì trong khi thời kỳ
mãn kinh dường như gây ra sự suy thoái của
những vết sẹo này. Tương tự, phụ nữ cho biết
sẹo lồi thường dễ xuất hiện và to ra khi mang
thai.

Các thành phần dược mỹ
phẩm được sử dụng phổ
biến trong ngăn ngừa và
điều trị sẹo
Bảng 25.1 cho thấy những thành phần
dược mỹ phẩm và hiệu quả của chúng trong
điều trị sẹo.
Chiết xuất hành tây
Chiết xuất hành tây hoặc Allium cepa là
một thành phần thường được sử dụng trong
các phương pháp điều trị sẹo, cũng là hoạt
chất chính trong nhiều loại thuốc trị sẹo
không kê đơn. Các sản phẩm này được bệnh
nhân ưa chuộng do tính sẵn có, giá thành rẻ
và danh tiếng là sản phẩm tự nhiên. Chiết
xuất hành tây từng được coi là một phương
thức điều trị mới đầy hứa hẹn do tác dụng
in vitro của chúng cho thấy chiết xuất hành
tây đẩy nhanh quá trình chữa lành vết thương
thông qua tác dụng của chúng đối với tế bào
mast và nguyên bào sợi. Trong những nghiên
cứu này, chiết xuất hành tây hoạt động như

hacklink satın al mumu模拟器 雷电模拟器 向日葵 giftcardmall/mygift giftcardmall balance mygift giftcardmall matbet matbet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Betgaranti Betgaranti Güncel Adres Betgaranti Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Fim İzle Fim İzle Giriş Fim İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Fim İzle Fim İzle Güncel Adres Fim İzle jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Giriş Casibom Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Jojobet Jojobet Giriş Jojobet Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Deneme Bonusu Film İzle Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Türkçe Dublaj Film İzle Film İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi perabet perabet giriş holiganbet holiganbet giriş Casibom Lesfillmercom Casibom Lesfillmercom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Gerbergirlcom Casibom Gerbergirlcom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Spcelectriccontrolcom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş marsbahis marsbahis giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş matbet matbet giriş matbet güncel giriş vaycasino vaycasino güncel giriş vaycasino giriş matbet matbet giriş pusulabet pusulabet giriş pusulabet pusulabet güncel giriş pusulabet giriş matbet matbet güncel giriş matbet giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Resmi Adres pusulabet pusulabet giriş pusulabet güncel giriş Fixbet Fixbet Güncel Giriş Salvobet Salvobet Giriş Salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Turk Porno Turk Porno Giriş Turk Porno casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi casibom casibom jojobet izmir escort izmir buca escort buca escort jojobet casibom holiganbet holiganbet giriş jojobet holiganbet holiganbet giriş jojobet jojobet jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş izmir escort izmir buca escort buca escort izmir escort bayan salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Giriş Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Deneme Bonusu Veren Giriş Deneme Bonusu Veren salvobet salvobet salvobet salvobet Casibom betgaranti betgaranti betgaranti matbet matbet giriş matbet matbet giriş Casibom Casibom Salvobet jojobet Salvobet Salvobet Salvobet Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Güncel Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis bahsegel Fixbet Fixbet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş 1xbet 1xbet Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Listesi Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler grandpashabet grandpashabet grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler vaycasino vaycasino giriş jojobet grandpashabet casibom Casibom Casibom Giriş casibom www.giftcards.com Marsbahis grandpashabet jojobet jojobet jojobet grandpashabet casibom jojobet Casibom Casibom Casibom Casibom Casibom Grandpashabet Grandpashabet Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Marsbahis Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres grandpashabet grandpashabet giriş Casibom Fixbet Fixbet Giriş Casibom İzmir Escort İzmir eskort İzmir Escort Bayan Vip escort Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Holiganbet Holiganbet Güncel Adres Nevşehir escort Kapadokya escort Nevşehir escort bayan nevşehir eskort escort nevşehir Casibom Casibom Giriş Adresi Kapadokya esc Casibom Casibom Resmi Adres Matbet Matbet Matbet Güncel Adres Pusulabet Pusulabet Giriş Adresi