249
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Hoạt chất
Bằng chứng
Chiết xuất hành tây
Các nghiên cứu trong ống nghiệm cho thấy chiết xuất hành tây đẩy
nhanh quá trình chữa lành vết thương thông qua tác dụng kháng
viêm của chúng. Ngoài ra, chúng làm giảm biểu hiện của nguyên
bào sợi trong ống nghiệm. Hai nghiên cứu lâm sàng nhỏ cho thấy sự
cải thiện về diện mạo tổng thể của sẹo phì đại.
Vitamin A
Việc bôi axit retinoic hàng ngày cũng đã được chứng minh là làm
giảm kích thước và ngứa liên quan đến sẹo phì đại và sẹo lồi. Một
nghiên cứu ngẫu nhiên lớn, mù đôi cho thấy axit retinoic 0,05%làm
giảm đáng kể kích thước vết sẹo.
Vitamin E
Các nghiên cứu lâm sàng lớn không cho thấy sự cải thiện về biểu
hiện của các vết sẹo. Tuy nhiên, một số nghiên cứu nhỏ hơn gần đầy
đã cho thấy kết quả tích cực hơn đối với việc sử dụng vitamin E trong
việc ngăn ngừa và điều trị sẹo sau phẫu thuật.
Imiquimod
Các nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi đã cho thấy hiệu quả của kem
imiquimod 5% trong việc ngăn ngừa sẹo phì đại. Imiquimod được
phát hiện là có thể cải thiện đáng kể biểu hiện của sẹo, đặc biệt là
màu sắc và độ cao.
Silicone
Các nghiên cứu ủng hộ hiệu quả của cả miếng dán silicone và gel
trong : việc ngăn ngừa và điều trị sẹo. Tuy nhiên, miếng dán silicone
đã được chứng minh là hiệu quả hơn đáng kể so với gel silicon.
Thuốc mỡ kháng
sinh
Polymyxin B sulfat-bacitracin kẽm-neomycin suliat giúp giảm thiểu
sẹo liên quan đến vết thương loại mài mòn. Đặc biệt, việc sử dụng
thuốc mỡ kháng sinh này có tác dụng rõ rệt nhất trong việc giảm các
thay đổi tăng sắc tố.
Bờ xoài
Một nghiên cứu về kem có thành phần là bơ xoài, olein và vitamin
E trên mô hình chuột cho thấy rằng loại kem này cho phép liền vết
thương tốt hơn và giảm sẹo đáng kể.
Mật ong
Các thử nghiệm lâm sàng liên quan đến bệnh nhân bị bỏng nông
cho thấy tác dụng kháng viêm của mật ong. Các nghiên cứu cũng đã
chứng minh khả năng giữ ẩm của mật ong trong vết thương.
Nha đam
Các chất chiết xuất của nó đã cho thấy hoạt tính đáng kể trong việc
phục hồi các vết loét do tì đè, tổn thương do bức xạ và các loại vết
thương khác. Ngoài ra, nha dam có thể giúp tăng sinh các nguyên
bào sợi ở người và tăng các tín hiệu nội bào.
Bảng 25.1 Các hoạt chất dược mỹ phẩm và tác dụng của chúng.
250
Dược mỹ phẩm để điều trị và ngăn ngừa sẹo
Chương 25 _
một chất chống viêm và điều chỉnh giảm sản
xuất collagen. Quercetin và chiết xuất hành
tây cũng điều chỉnh tăng sự biểu hiện ma trận
metalloproteinase-1. Thật không may, dữ liệu
in vitro đầy hứa hẹn này đã không được nhân
rộng tốt trong môi trường lâm sàng. Một số
nghiên cứu lâm sàng không chứng minh được
bất kỳ lợi ích bổ sung nào của chiết xuất hành
tây so với petrolatum thông thường ở những
bệnh nhân có sẹo sau phẫu thuật. Gần đây
nhất, hai nghiên cứu cho thấy rằng một loại
gel có chứa hành tây, khi được sử dụng kết
hợp với corticosteroid tiêm trong tổn thương
hoặc đơn lẻ, đã cải thiện biểu hiện tổng thể
của các vết sẹo phì đại. Tuy nhiên, những
nghiên cứu này là nhỏ và không ngẫu nhiên
hoặc mù đôi. Nhìn chung, cần phải thực hiện
nhiều nghiên cứu lâm sàng hơn để làm sáng
tỏ đầy đủ tính hiệu quả của chiết xuất hành
tây trong điều trị sẹo.
Vitamin A dạng thoa
Vitamin A và các retinoid tổng hợp là
những thành phần phổ biến trong các loại
dược mỹ phẩm có sẵn rộng rãi. Các nghiên
cứu cho thấy rằng vitamin A tại chỗ giúp cải
thiện biểu hiện của sẹo, đặc biệt là những vết
sẹo phì đại hoặc sẹo lồi. Axit retinoic tại chỗ có
tác dụng làm phẳng, làm mềm và giảm hiện
tượng tăng sắc tố ở các vết sẹo. Một nghiên
cứu mù đôi, ngẫu nhiên lớn vào năm 1986
bởi Daly và cộng sự cho thấy rằng kem axit
retinoic 0,05% có thể làm giảm đáng kể kích
thước của các vết sẹo. Một nghiên cứu nhỏ
hơn nhưng gần đây hơn của Mizutani và cộng
sự cho thấy thuốc mỡ 0,25% tocoretinate,
một dẫn xuất vitamin A, có thể làm giảm đáng
kể kích thước, ban đỏ, độ cứng và ngứa liên
quan đến các vết sẹo phì đại trưởng thành.
Tác giả này cho rằng axit retinoic 0,1% hoạt
động vừa phải trong việc giảm đau do sẹo
trên da đầu sau phẫu thuật hoặc đối với đau
thần kinh sau herpes (zoster). Trong khi các
nghiên cứu dường như ủng hộ hiệu quả của
vitamin A trong việc điều trị sẹo, những bất
lợi bao gồm khả năng hấp thụ toàn thân, gây
dị tật thai ở phụ nữ mang thai, cũng như các
tác dụng phụ kích ứng da và nhạy cảm với
ánh sáng.
Vitamin E dạng thoa
Vitamin E, còn được gọi là tocopherol, là
một thành phần phổ biến khác được tìm thấy
trong các sản phẩm điều trị sẹo không kê
đơn. Vitamin E là một chất chống oxy hóa tan
trong lipid có thể thâm nhập vào lớp bì lưới, nơi
về mặt lý thuyết nó làm giảm sự hình thành
các gốc oxy (yếu tố cản trở khả năng chữa
lành vết thương, làm tổn thương màng tế bào,
lipid và DNA). Ngoài ra, vitamin E làm thay
đổi quá trình sản xuất glycosaminoglycan
và collagen, đồng thời ức chế quá trình peroxy
hóa lipid và do đó vitamin E có thể ổn định
màng tế bào.
Trong khi các báo cáo nhỏ lẻ cho thấy
Vitamin E làm tăng tốc độ chữa lành vết
thương và cải thiện biểu hiện của các vết sẹo,
thì các nghiên cứu lâm sàng đã không ủng hộ
những tuyên bố này. Trong một nghiên cứu
trên những bệnh nhân bỏng đã trải qua phẫu
thuật tái tạo, vitamin E không cho thấy sự
cải thiện về vẻ ngoài, độ mềm dẻo và độ dày
của sẹo. Trên thực tế, việc sử dụng vitamin E
có liên quan đến tỷ lệ phản ứng tại chỗ cao
hơn, góp phần làm cho sẹo xấu đi. Tuy nhiên,
nhiều nghiên cứu gần đây đã cho thấy kết
quả tích cực hơn đối với việc sử dụng vitamin
E trong việc phòng ngừa và điều trị sẹo phẫu
thuật cũng như các vết loét đầu chi liên quan
đến bệnh xơ cứng bì hệ thống. Có vẻ như cần
phải nghiên cứu thêm trước khi vitamin E có
thể được khuyến nghị như một phương pháp
điều trị hiệu quả cho các vết sẹo.
Imiquimod
Imiquimod tại chỗ, một chất điều hòa
giảm đáp ứng miễn dịch, có nhiều chỉ định sử
dụng trong da liễu. Liệu pháp da liễu phổ biến
này được sử dụng để điều trị dày sừng ánh
sáng, ung thư tế bào vảy và tế bào đáy, mụn
cóc sinh dục và u mềm lây. Kem Imiquimod
5% đã được chứng minh trong một nghiên
cứu để ngăn ngừa sự tái phát của sẹo lồi
251
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
sau khi phẫu thuật. Gần đây nhất, Prado và
cộng sự đã tiên hành một nghiên cứu ngẫu
nhiên, mù đôi vê’ kem imiquimod 5% trong
việc ngăn ngừa sẹo phì đại sau phẫu thuật
vú. Kem Imiquimod 5% được phát hiện là có
thể cải thiện đáng kể biểu hiện của sẹo, đặc
biệt là màu sắc và độ cao, khi được đánh giá
ở thời điểm 24 tuần sau phẫu thuật. Điều
đáng quan tâm là không có sẹo lồi và sẹo
phì đại trong nhóm điều trị. Các tác dụng phụ
gặp ở nhóm imiquimod bao gồm xuất huyết
điểm, đau cục bộ và ban đỏ. Nhìn chung, kem
imiquimod 5% dường như là một phương
pháp điều trị hiệu quả để ngăn ngừa sẹo phì
đại và sẹo lồi.
Silicone dạng mỡ, gel và miếng dán
Kể từ khi được giới thiệu cách đây 30
năm, thuốc bôi và miếng dán silicone là một
số phương pháp điều trị được sử dụng phổ
biến nhất để ngăn ngừa và giảm sẹo phì đại.
Mặc dù cơ chế của miếng dán gel silicone
vẫn chưa được hiểu rõ hoàn toàn, nhưng
người ta cho rằng silicone giúp tạo ra một
môi trường đủ ẩm, khóa ẩm làm giảm hoạt
động của mao mạch, giúp giảm sẹo phì đại
do nguyên bào sợi. Hiệu quả của miếng dán
gel silicone trong việc giảm ban đỏ, ngứa, độ
cứng và kích thước của các vết sẹo đã được
ghi nhận rõ. Cũng đã có nhiều nghiên cứu ủng
hộ hiệu quả của gel silicone trong việc điều trị
sẹo. Tuy nhiên, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng
gel silicon có thể không hiệu quả bằng miếng
dán silicone. Sawada và cộng sự cho thấy
rằng chỉ riêng việc sử dụng kem silicone đã
cho thấy sự cải thiện 22% đối với sẹo trong
khi kem silicone được sử dụng cùng với một
loại băng bịt kín cho sự cải thiện 82%. Nhìn
chung, các nghiên cứu ủng hộ hiệu quả của
cả miếng dán silicone và gel trong việc ngăn
ngừa và điều trị sẹo. Những quan sát mang
tính giai thoại cho thấy hiệu quả tắc nghẽn
trong giảm sẹo là tạm thời.
Mỡ kháng sinh và petrolatum
Đối với vết thương sạch, vô trùng,
petrolatum tương đương với thuốc mỡ kháng
sinh để chữa lành vết thương. Nếu tình trạng
nhiễm trùng là một vấn đề đáng lo ngại,
chẳng hạn như vết thương do bị rách hoặc
mài mòn bởi bề mặt không sạch, thì quá
trình lành vết thương sẽ bị tổn hại và nguy
cơ hình thành sẹo tăng lên. Trên thực tế,
một nghiên cứu ngẫu nhiên của Berger và
cộng sự cho thấy polymyxin B sulfat/ kẽm
bacitracin/ neomycin sulfat giúp giảm thiểu
sẹo liên quan đến vết thương loại mài mòn.
Nghiên cứu này cho thấy thuốc mỡ kháng
sinh ba thành phần vượt trội hơn so với băng
gạc đơn thuần trong việc giảm thiểu sẹo. Đặc
biệt, việc sử dụng thuốc mỡ kháng sinh này
có tác dụng rõ rệt nhất trong việc giảm nguy
cơ các thay đổi sắc tô. Cơ chế hoạt động có
thể chỉ đơn giản là tá dược, petrolatum, tối ưu
hóa quá trình chữa lành vết thương và tránh
hình thành sẹo, trong khi đó gạc là tác nhân
làm khô và có thể không cho phép chữa lành
vết thương tối ưu. Một nghiên cứu khác cho
thấy rằng những vết bóng nước được điều
trị bằng thuốc mỡ kháng sinh bộ ba có thể
chữa lành nhanh hơn đáng kể so với những
vết thương được điều trị bằng bất kỳ chất khử
trùng nào hay những vết thương không được
điều trị. Những nghiên cứu này dường như
ủng hộ việc sử dụng thuốc mỡ kháng sinh bộ
ba giúp giảm sẹo thông qua việc loại bỏ khả
năng nhiem khuan vet thương. Những loại
thuốc mỡ này thường được sử dụng trong
các chế phẩm không kê đơn nhưng đôi khi
có thể liên quan đến kích ứng và viêm da tiếp
xúc ở những người nhạy cảm.
Các liệu pháp thiên nhiên
Bơ xoài
Các loại lipid xa lạ từ cây hạt mỡ, xoài,
cây kokum và những loại khác ngày càng trở
nên phổ biến được sử dụng như một chất
làm mềm. Theo đó, một loại kem bôi chân có
chứa bơ xoài và phần olein của nó bổ sung
vitamin E đã được thử nghiệm trên những
người tình nguyện mắc nhiều loại bệnh ở
252
Dược mỹ phẩm để điều trị và ngăn ngừa sẹo
Chương 25 _
chân, gồm cả da nứt nẻ. Kem bơ xoài chữa
lành da nứt nẻ ở tất cả những người tham
gia mà không gây kích ứng hoặc nhạy cảm
khi tiếp xúc. Hơn nữa, cùng một loại kem thử
nghiệm cho thấy phản ứng chữa lành đáng
kể trong các mô hình vết thương do rạch và
cắt lọc ở động vật. Các nghiên cứu sâu hơn
về đặc tính chữa lành vết thương của chất
làm mềm có nguồn gốc thực vật được cho
phép và rất đáng mong đợi.
Mật ong
Mật ong được cho là một trong những
phương pháp điều trị vết thương cổ xưa nhất.
Mật ong được biết là có hoạt tính kháng
khuẩn và kháng viêm. Các nghiên cứu cũng
đã chứng minh khả năng giữ ẩm của mật
ong trong vết thương. Cuối cùng, mật ong có
hoạt tính tạo mạch và hỗ trợ hình thành mô
hạt và tái tạo biểu mô.
Nha đam
Lô hội (Aloe barbadensis) đã được sử
dụng từ thời cổ đại cho các bệnh da liễu khác
nhau và đặc biệt được sử dụng để điều trị vết
thương và vết bỏng. Một số nghiên cứu ủng
hộ vai trò quan trọng của lô hội trong việc
chữa lành vết thương. Các chất chiết xuất đã
cho thấy tác dụng đáng kể trong việc chữa
lành vết loét do tì đè, tổn thương do bức xạ và
các loại vết thương khác. Ngoài ra, lô hội làm
tăng sự phát triển của nguyên bào sợi người
và tăng tín hiệu nội bào. Vai trò của lô hội
trong điều trị bỏng được cho là có liên quan
đến khả năng giảm mất mô do thiếu máu
cục bộ bằng cách giảm thromboxane A2,
prostaglandin 2a và thromboxane B2, những
chất gây co mạch và kết tập tiểu cầu.
Kết luận
Nhìn chung, có rất nhiều phương pháp
điều trị sẵn có để điều trị sẹo. Ngoài các
phương pháp điều trị tại chỗ được mô tả, các
liệu pháp khác như corticosteroid tiêm nội
tổn thương, liệu pháp laser, phẫu thuật lạnh
cũng được sử dụng để ngăn ngừa và điều trị
sẹo. Trong số các phương pháp điều trị được
mô tả, miếng dán Silicon và imiquimod có
nhiều bằng chứng lâm sàng nhất để chứng
minh hiệu quả của chúng, đặc biệt là đối với
sẹo phì đại và sẹo lồi. Cả vitamin A và thuốc
mỡ kháng sinh cũng đã được chứng minh là
có hiệu quả, nhưng tác dụng của chúng
kém hơn và có thể không thích hợp để
sử dụng như một liệu pháp đơn trị cho sẹo
phì đại và sẹo lồi. Trong khi chiết xuất hành
tây và vitamin E là những thành phần phổ
biến trong các phương pháp điều trị sẹo phổ
biến, thì cần có thêm bằng chứng lâm sàng
để hỗ trợ hiệu quả của chúng. Vitamin E có
liên quan đến tình trạng viêm da tiếp xúc và
làm xấu đi sự xuất hiện của sẹo, do đó cần
thận trọng khi sử dụng. Các biện pháp tự
nhiên phổ biến như lô hội, mật ong và bơ xoài
cho thấy nhiều hứa hẹn và có ít tác dụng phụ,
nhưng cần có nhiều nghiên cứu lớn hơn, có
kiểm soát để xác định khả năng của chúng.
253
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
26
CHỐNG NẮNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP
RÁM NẮNG
NHUỘM DA
C
h
ư
ơ
n
g
Darrell S.Rigel
New York University School of Medicine,
New York, NY, USA
254
Chống nắng và phương pháp nhuộm da rám nắng
Chương 26 _
Giới thiệu
Tầm quan trọng của việc bảo vệ tránh
tiếp xúc VỚI năng lượng tia cực tím (UVR)
một cách hiệu quả không cần phải bàn cãi.
UVR đóng một vai trò quan trọng gây tăng
nguy cơ phát triển ung thư da và tăng tốc
độ biểu hiện những thay đổi của lão hóa ánh
sáng. Theo nghiên cứu, cứ 5 người Mỹ thì
có 1 người bị một loại ung thư da trong đời,
với hơn 2.000.000 ca ung thư vào năm 2012
tại Mỹ. Tỷ lệ mắc ung thư tế bào sắc tố tăng
nhanh hơn bất kỳ bệnh ung thư nào khác ở
Hoa Kỳ. Năm 1935, nguy cơ mắc ung thư sắc
tố xâm lấn trong cả cuộc đời ở một người Mỹ
là 1/1500. Năm 2012, nguy cơ này là 1/52
đối với ung thư xâm lấn và 1/27 nếu tính luôn
ung thư tại chỗ. Việc điều trị được xem là một
gánh nặng kinh tế đối với quốc gia này. Do
đó, việc phát triển và thực hiện cơ chế bảo vệ
da khỏi tia uv gây ung thư hiệu quả rất quan
trọng.
Tia uv (UVR) gần đây đã được xem là
nhóm nguy cơ gây ung thư cao nhất bởi Cơ
quan Nghiên cứu ung thư Quốc tế (IARC).
UVR có liên quan với nhiều bệnh ung thư trên
toàn thế giới hơn bất kỳ chất gây ung thư
nào khác. Mặc dù ung thư da có thể phòng
ngừa được bằng cách tránh nắng, nhưng tỷ lệ
người tiếp xúc với nắng mà không dùng các
biện pháp chống nắng còn cao. Do nhận thấy
tỷ lệ mắc ung thư da tăng nhanh nên nhu
cầu sử dụng các biện pháp chống UVR và sử
dụng các giải pháp thay thế an toàn hơn để
có được vẻ ngoài “rám nắng” ngày càng được
chú trọng.
Khả năng sinh ung thư của
khoảng quang phổ trong tia
UV
Hầu hết các tổn thương da do tiếp xúc
với các tia có bước sóng nằm trong dãy tia
cực tím (UVR). Tia cực tím ngắn nhất trong
số các tia cực tím, tia cực tím c (UVC, 100-
280 nm), không xuyên qua được tầng ôzôn
của Trái đất và do đó hầu như không gây tổn
hại gì cho da. Tia cực tím B (UVB, 290-320
nm) là nguyên nhân chính gây những tổn
thương thay đổi trên da do tiếp xúc với ánh
nắng mặt trời. Những thay đổi sinh hóa đó
bao gồm biến đổi DNA, RNA, tổng hợp pro-
tein, gây cảm ứng sản xuất chất cyclobutyl
pyrimidine dimer, và nhiều loại cytokine.
Trước đây, tia UVA được cho là ít có vai
trò hơn trong tác nhân gây bệnh ung thư da
và tổn thương do ánh nắng mặt trời. Nhưng
bởi vì UVA có bước sóng dài (320-400 nm)
nên dễ thâm nhập sâu hơn vào da. UVA gây
ra một phản ứng sẫm màu da gần như ngay
lập tức và tăng sản xuất melanin. Các biện
pháp chống nắng trước đây tập trung chủ
yếu vào việc ngăn ngừa tiếp xúc với tia UVB.
Tuy nhiên, UVA hiện nay được biết là góp
phần gây ra ung thư da bằng cách trực tiếp
tạo ra đột biến DNA cũng như làm nặng thêm
tổn thương gây ra bởi UVB. Tia UVA khi tiếp
xúc với da đã làm giảm sản xuất protein ức
chế khối u là p53. Hậu quả này có thể được
hạn chế bằng cách sử dụng kem chống nắng
có chứa thành phần chống UVA, được chứng
minh thông qua việc giảm sự lắng đọng p53
khi bạn chống UV tốt hơn.
Kem chống nắng
Kem chống nắng hoạt động chủ yếu
thông qua hai Cơ chế: (1) tán xạ và phản xạ
tia UV; và (2) hấp thụ tia UV. Nhiều loại kem
chống nắng hiện nay có chứa các thành phần
hoạt động thông qua cả hai cơ chế chống tia
cực tím.
Chỉ số quan trọng nhất để xác định hiệu
quả kem chống nắng là chỉ số chống nắng
(SPF). Chỉ số SPF đo lường khả năng ngăn
ngừa xuất hiện hồng ban khi da tiếp xúc với
tia UV (chủ yếu là ỤVB) của một loại kem
chống nắng. Chỉ số SPF (SPF value) được
xác định là tỉ số giữa năng lượng uv tối thiểu
để làm xuất hiện hồng ban trên da được bôi
chống nắng và da bình thường không được
255
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
bảo vệ của cùng một người. Ví dụ: một người
sử dụng kem chống nắng SPF 4, thì thời gian
xuất hiện hồng ban sẽ lâu hơn gấp 4 lần so
với người bình thường khi cùng tiếp xúc với
tia. FDA của Hòa Kỳ đã yêu cầu một chất
được xem là chống nắng phải có giá trị SPF
tối thiểu bằng 2. Hầu hết các sản phẩm kem
chống nắng trên thị trường có chỉ số SPF
vượt quá mức bảo vệ tối thiểu.
Bất chấp những nỗ lực của FDA trong
việc giáo dục người tiêu dùng và quản lí hãng
sản xuất, việc ghi nhãn kem chống nắng có
những hạn chế của nó. Tên gọi thường phức
tạp, lẫn lộn có thể gây hiểu nhầm cho người
tiêu dùng. Ngược lại, độ ổn định quang học
của kem chống nắng lại không được ghi hoặc
dán nhãn rõ và thay đổi tùy theo thành phần
hóa học. Giá trị SPF chủ yếu đo lường khả
năng bảo vệ khỏi tia UVB chứ không phản
ánh khả năng chống lại tia UVA. Ngoài ra, chỉ
số SPF cũng có thể khác nhau đối với một
chất chống nắng nhất định tùy thuộc vào
nguồn sáng.
Vào thời điểm viết chương này, FDA đang
chuẩn bị cho áp dụng các quy định ghi nhãn
kem chống nắng mới được thiết kế để nâng
cao hiểu biết về vấn đề chống nắng. Thuật
ngữ “phổ rộng” sẽ chỉ có thể được sử dụng
khi có cả SPF 15 hoặc cao hơn và có khả
năng chống được tia UVA. Thuật ngữ “Chống
thấm nước” sẽ bị cấm và chỉ có thuật ngữ
“kháng nước” (40 hoặc 80 phút) sẽ được
cho phép. Các thuật ngữ khó hiểu như “khóa
nắng (sunblock)” và “bảo vệ cả ngày” cũng sẽ
bị cấm. Giới hạn SPF được đề xuất trên 50+
đã bị hoãn lại trong khi chờ kết quả của một
số nghiên cứu đang diễn ra.
Những hoạt chất chống
nắng và cơ chế tác động
Kem chống nắng bắt đầu được sử dụng
vào đầu thế kỷ 20. Salicylate là chất đầu tiên
được sử dụng trong các chế phẩm chống
nắng, với kem chống nắng đầu tiên được báo
cáo có chứa benzyl salicylate và benzyl cin-
namate. Trong những năm 1940, axit p-Ami-
nobenzoic (PABA) đã được tìm thấy và được
kết hợp vào các công thức chống nắng. Kể từ
khi ra mắt, các công thức khác nhau và dẫn
xuất của PABA đã được đưa vào thị trường
kem chống nắng.
Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược
phẩm (FDA) chấp thuận việc sử dụng 19
hóa chất với tư cách là chất chống nắng đã
xác định. Vì không có tác nhân duy nhất nào
hiệu quả cung cấp sự bảo vệ đầy đủ khỏi cả
bức xạ UVA và UVB, gần như tất cả các sản
phẩm kem chống nắng có sẵn trên thị trường
đều chứa các tác nhân từ cả hai nhóm trên.
Hai hoặc nhiều hoạt chất chống nắng có thể
được kết hợp với nhau trong cùng một sản
phẩm duy nhất khi được sử ở nồng độ đã
được FDA phê duyệt cho từng tác nhân. Mỗi
thành phần hoạt động riêng lẻ phải đóng góp
chỉ số SPF tối thiểu là 2 cho sản phẩm, và sản
phẩm hoàn thiện phải có SPF tối thiểu không
ít hơn 2 lần tổng số lượng hoạt chất chống
nắng trong sản phẩm.
Các tác nhân chống nắng được phân
loại dựa trên cơ chế bảo vệ của chúng. Kem
chống nắng hữu cơ (“kem chống nắng hóa
học”) hấp thụ bức xạ tia cực tím trong khi
kem chống nắng vô cơ (“chống nắng vật lý”)
hoạt động như vật chất dạng hạt phản xạ và
tán xạ ánh sáng và UVR.
Kem chống nắng hữu cơ
Kem chống nắng hữu cơ bảo vệ da bằng
cách hấp thụ năng lượng UV và biến nó thành
nhiệt năng. Các hợp chất này hấp thụ tia cực
tím và chuyển đổi năng lượng thành bức xạ
có bước sóng dài hơn. Các hóa chất chống
nắng này được kích thích lên trạng thái năng
lượng cao hơn trạng thái bình thường. Khi các
phân tử bị kích thích này trở lại trạng thái bình
thường, năng lượng sẽ được tạo ra nhưng
sẽ thấp hơn năng lượng ban đầu bị hấp thụ.
Năng lượng này được phát ra dưới dạng bước
sóng dài hơn, thường là ánh sáng đỏ rất yếu
hoặc bức xạ hồng ngoại nhẹ.
256
Chống nắng và phương pháp nhuộm da rám nắng
Chương 26 _
Các chất chống nắng nói chung là các
hợp chất chứa vòng benzyl thơm kết hợp
với một nhóm cacbonyl. Các hợp chất được
phân loại thành hai nhóm lớn: chất hấp thụ
UVB (290-320 nm) và chất hấp thụ UVA (320-
400 nm). Các tác nhân chống nắng có thể
được phân loại dựa trên tính chất hóa học
của chúng và mỗi loại có phổ hấp thụ riêng
(Bảng 26.1).
Axit p-Aminobenzoic (PABA) là một loại
kem chống nắng được sử dụng rộng rãi trong
những năm 1950 và 1960. Một số thuộc
tính liên quan đến các hạn chế của PABA có
thể do cấu trúc hóa học của nó: các nhóm
amino và axit cacboxylic theo định hướng
para trên nhân benzen. Tính phân cực cao
của PABA làm cho chất này rất dễ tan trong
nước, nhưng việc tăng liên kết hydro giữa
các phân tử cũng làm PABA dễ bị kết tinh.
Điều này dẫn đến một số khó khăn trong việc
sản xuất dung môi duy trì trạng thái lỏng của
PABA. Nhóm amin và nhóm cacboxyl cũng
làm phân tử PABA nhạy cảm với sự thay đổi
pH, và do đó ảnh hưởng một phần đến độ ổn
định hóa học trên hiệu quả hấp thụ tia uv. Sự
thiếu ổn định của phân tử cũng dẫn đến sự
thay đổi màu sắc của sản phẩm khi tiếp xúc
với không khí.
Glycerol PABA sau đó được phát triển để
bảo vệ nhóm axit cacboxylic trước sự thay
Bảng 26.1 Các hoạt động chống nắng và bảo vệ khả năng của họ đối với các bước sóng
Hoạt chất chống nắng
Khoảng
bảo vệ (nm)
Đỉnh bảo vệ
tối ưu (nm)
257
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
đổi pH và do đó ổn định hơn một chút so
với công thức PABA ban đầu. Các chế phẩm
khác cũng được tạo ra để cố gắng bảo vệ cả
nhóm cacboxyl và nhóm amino. Padimate o
(N, N-dimethyl PABA octyl este) đã giải quyết
nhiều hạn chế của cấu trúc ban đầu và trở
thành chất chống nắng được sử dụng rộng
rãi. Cả 2 nhóm amino và cacboxyl đều được
bảo vệ, làm cho Padimate o ít nhạy cảm hơn
với sự thay đổi pH. Cấu trúc hóa học mới này
cũng dẫn đến việc giảm liên hydro liên phân
tử, dẫn đến duy trì được trạng thái lỏng của
PABA
PABA ban đầu không được ưa chuộng
phần lớn vì làm hoen màu và gây viêm da
tiếp xúc dị ứng. Người ta ghi nhận nhiều
trường hợp dị ứng khi tiếp xúc trực tiếp hay
tăng nhạy cảm ánh sáng khi sử dụng PABA
so với các chất chống nắng khác. Các dẫn
xuất của PABA cũng được báo cáo làm cho
da nhạy cảm dễ kích ứng hơn. Test nhạy cảm
cho thấy phản ứng mạnh với benzocain, gợi
ý rằng các báo cáo dị ứng với glycerol PABA
trên thực tế có thể do lẫn tạp chất trong quá
trình sản xuất. Các dẫn xuất PABA khác như
Padimate A và Padimate o cũng đã được báo
cáo là gây ra tình trạng nhạy cảm hoặc nhạy
cảm tiếp xúc ánh sáng. Padimate A cũng
được tìm thấy gây quang độc tính (phototox-
icity) và không còn được sử dụng ở Hoa Kỳ.
Salicylates là chất hấp thụ hóa học uv
đầu tiên được sử dụng trong chế phẩm chống
nắng. Ngược lại với cách sắp xếp dạng para
của các nhóm cacboxyl và amin, các nhóm
này của salicylates được phân bố orthro
(các nhóm cacboxyl và amin nằm trên các
nguyên tử cacbon lân cận trên vòng benzen).
Sự sắp xếp không gian này cho phép liên kết
hydro bên trong chính phân tử đó, dẫn đến
sự hấp thụ uv ở bước sóng khoảng 300 nm.
Kiểu liên kết hydro nội phân tử này giúp tăng
độ ổn định của phân tử, ít tương tác với các
hợp chất khác và được ghi nhận là có độ an
toàn cao. Nhóm chất chống nắng salicylate
bao gồm octyl salicylatee và homomenthyl
salicylate.
Cinnamates là chất chống nắng hiệu quả
với đỉnh hấp thụ ở khoảng bước sóng 305
nm. Chúng là thành phần hóa học trong cây
nhựa thơm của Peru, lá cây coca, andehyte
cinnamic và dầu cinnamic. Cấu trúc hóa học
của cinnamates làm cho phân tử không hòa
tan trong nước, đòi hỏi phải thường xuyên
bôi lại khi dùng sản phẩm có chứa chất này.
Viêm da tiếp xúc với cinnamates và sự nhạy
cảm chéo với các chất có cấu trúc tương tự
đã được báo cáo.
Dẫn xuất Benzophenone và anthrani-
lates có hiệu quả trong việc hấp thụ bức xạ
tia UVA. Mặc dù phạm vi bảo vệ chủ yếu đối
với benzophenone nằm trong phạm vi UVA,
chất này cũng có tác dụng chống lại tia UVB
với vai trò thứ cấp. Các benzophenone được
sử dụng phổ biến nhất là oxybenzone và
dioxybenzone. Mặc dù các thành phần này
ít gây dị ứng hơn nhiều so với PABA, nhưng
chúng vẫn có nguy cơ gây viêm da tiếp xúc
dị ứng và dị ứng tiếp xúc ánh sáng. Anthra-
nilate, chẳng hạn như methylanthranilate,
chống tia uv ở phổ rộng, nhưng mức độ
thấp. Chúng thường được thêm vào kem
chống nắng để tăng cường khả năng bảo vệ.
Camphor là một chất được sử dụng rộng rãi
trong Châu u, nhưng không được chấp thuận
sử dụng ở Hoa Kỳ. Nó có khả năng hấp thụ tia
UVB tương đối tốt.
Dibenzoylmenthanes
là
một
nhóm
các tác nhân chống nắng và đặc biệt hiệu
quả trong việc bảo vệ chống lại bức xạ
UVA. Tert-butyl methoxy dibenzoylmethane
(Avobenzone, Parsol 1789) được chấp thuận
để sử dụng ở Hoa Kỳ, trong khi isopropyl
dibenzoylmethane (Eusolex 8020) đã được
sử dụng rộng rãi ở Châu u. Chất isopropyl
dibenzoylmethane được báo cáo có liên
quan với tỷ lệ viêm da tiếp xúc khá cao và
vẫn chưa được chấp thuận sử dụng ở Mỹ.
Trong một nghiên cứu trên 19 bệnh nhân với
photopatch dương tính thử nghiệm đối với
kem chống nắng, 8 bệnh nhân cho thấy phản
ứng mạnh với butyl methoxy dibenzoylmetan.
Tert-butyl
methoxydibenzoylmethane
đã được báo cáo là không ổn định với ánh
sáng sau khi cho thử nghiệm tiếp xúc với một
258
Chống nắng và phương pháp nhuộm da rám nắng
Chương 26 _
lượng nhỏ tia UVA. Một số công thức đã được
phát triển để tăng cường tính ổn định của
hoạt chất này, bao gồm việc sử dụng chất
octocrylene và diethylhexyl 2,6-naphthalate
(DEHN).
Kem chống nắng vô cơ
Kem chống nắng vô cơ (kem chống nắng
vật lý) là những hoạt chất dạng hạt giúp phân
tán và phản xạ năng lượng uv trở về môi
trường. Với số lượng đủ lớn, chúng sẽ đóng
vai trò là như là hàng rào vật lý đối với tia cực
tím và ánh sáng khả kiến. Các hoạt chất này
được ứng dụng phổ biến trong những năm
gần đây do chúng khá lành tính. Các hoạt
chất này cũng khá ổn định với ánh sáng và
được chứng minh là không gây ra nhiễm
độc ánh sáng hoặc viêm da tiếp xúc dị ứng.
Chúng cũng cực kỳ hiệu quả trong việc bảo
vệ chống lại cả tia UVA và UVB. Kem chống
nắng dạng hạt phổ biến nhất chứa các tác
nhân là titanium dioxide và Kẽm oxide.
Các công thức ban đầu của kem chống
nắng vật lý không được chấp nhận rộng rãi
bởi chúng phải được sản xuất với nồng độ
cao dẫn đến một lớp màng mờ đục trên da để
đạt được mục đích bảo vệ. Điều này làm cho
việc bôi kem chống nắng vật lý không được
ưa chuộng vì tính thẩm mỹ kém. Các công
thức mới sau này cung cấp các công thức “vi
lượng hóa” làm giảm độ đục để có tính thẩm
mỹ hơn nhưng vẫn không giảm hiệu quả bảo
vệ. So sánh giữa oxit kẽm và oxit titan cho
thấy rằng oxit kẽm vượt trội trong việc bảo vệ
tia UVA ở bước sóng 340-380 nm và ít bị bết
khi bôi lên da.
Lợi ích của việc chống nắng
Chương trình phòng ngừa nguyên phát
bệnh ung thư da tập trung vào việc giảm
tiếp xúc với tia cực tím dường như có hiệu
quả tích cực trong việc giảm tỷ lệ mắc bệnh.
Những người có tiền sử ung thư tế bào đáy
giảm nguy cơ bị tái lại hơn nếu họ tự bảo vệ
mình khỏi tiếp xúc với tia cực tím. Giảm tiếp
xúc với ánh nắng mặt trời bằng cách sử dụng
kem chống nắng hàng ngày có thể làm giảm
nguy cơ ung thư thế bào gai.
Phân tích tổng hợp 11 nghiên cứu về
nguy cơ ung thư hắc tố bào và việc sử dụng
kem chống nắng chỉ cho thấy kem chống
nắng có vai trò bảo vệ tương đối ít. Tuy nhiên,
khi chỉ đánh giá các nghiên cứu gần đây có sử
dụng kem chống nắng SPF cao, dường như
kem chống nắng có tác dụng bảo vệ thật sự.
Nghiên cứu cũng gợi ý rằng những người bôi
kem chống nắng nhưng không có tác dụng
bảo vệ có thể do họ có những khiếm khuyết
liên quan đến di truyền. Một nghiên cứu tiền
cứu thực hiện vào năm 2011 của Green và
cộng sự cho thấy nguy cơ ung thư tế bào
hắc tố giảm đáng kể ở những người thường
xuyên sử dụng kem chống nắng hàng ngày
so với những người chỉ thỉnh thoảng hoặc ít
sử dụng kem chống nắng.
Biện pháp làm rám da không
cần phơi nắng
Một giải pháp an toàn cho những người
mong muốn làn da của họ có vẻ ngoài “rám
nắng” là khuyến khích sử dụng các sản phẩm
làm rám nắng mà không tiếp xúc ánh nắng
mặt trời thực sự. Các sản phẩm này sử dụng
một chất được gọi là dihydroxyacetone
(DHA), một loại đường không màu có nguồn
gốc từ thực vật tương tác với các tế bào bào
sừng bề mặt trong lớp thượng bì để làm rám
màu da. DHA có cấu trúc đường 3 cacbon
tạo thành thành phần hoạt tính trong các
chế phẩm làm da rám nắng không cần tiếp
xúc mặt trời được Cục Quản lý Thực phẩm
và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê duyệt với
vai trò một chất tạo màu cho mỹ phẩm vào
năm 1973. DHA có xu hướng phản ứng với
các axit amin cơ bản phong phú trong lớp
sừng để tạo thành các hợp chất màu nâu
đen gọi là melanoidin. Sự tương tác này, còn
được gọi là phản ứng Maillard hoặc phản
ứng tạo màu nâu, là hiện tượng phổ biến giữa
carbohydrate với amin và cũng là nguyên
259
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Bảng 26.2 Các nghiên cứu đánh giá tác động của kem chống nắng đối với
ung thư tế bào hắc tố
Note: NS, Không rõ tăng hay giảm ung thư hắc tố bào.
Khoảng thời gian
được nghiên cứu
Kết quả
1974-75
Tăng ung thư hắc tố bào
1974-80
NS
1977-79
NS
1978-83
Tăng ung thư hắc tố bào ở một nhóm người dùng 1979-80 Giảm ung
thư hắc tố bào
1980-82
NS
1981-85
NS
1981-86
Giảm ung thư hắc tố bào
1988-90
Tăng ung thư hắc tố bào
1989-93
Giảm ung thư hắc tố bào
1991-92
Tăng ung thư hắc tố bào
1994-97
Giảm ung thư hắc tố bào
1994-98
NS
1995-97
Tăng ung thư hắc tố bào ở một nhóm người dùng 1996-2008 Giảm
ung thư hắc tố bào (một số nghiên cứu vẫn đang còn thực hiện)
nhân gây ra màu nâu ở thực phẩm chứa
đường khi bảo quản lâu. Khi bôi tại chỗ, DHA
hoạt động ở lớp sừng, bằng chứng là nó
không có khả năng gây sạm da ở những vùng
không có lớp sừng (ví dụ: niêm mạc) và làm
rám màu sâu hơn ở những vùng có lớp sừng
dày (ví dụ: lòng bàn tay, lòng bàn chân , khuỷu
tay, đầu gối, mắt cá chân và các tổn thương
tăng sừng). Các chế phẩm nhuộm màu da
thường chứa DHA có nồng độ khoảng 3-5%.
Những người sử dụng các sản phẩm mà
không kèm thêm hệ thống lọc UV nào khác
nên biết rằng DHA và các sản phẩm phụ
melanoidin của nó chỉ có khả năng chống tia
cực tím tối thiểu: Riêng DHA cung cấp chỉ số
SPF 3 hoặc 4. Phản ứng tạo màu nâu sẽ rõ
ràng trong vòng 1 giờ, tối đa từ 8 đến 24 giờ
và biến mất dần trong vòng 5 đến 7 ngày.
Tỷ lệ sử dụng các sản phẩm này được
ghi nhận ở trẻ vị thành niên Mỹ là 10,8%.
Những người dùng ở tuổi này có nhiều khả
năng là nữ, mong muốn có được một làn da
rám nắng, có cha mẹ đã sử dụng các sản
phẩm này và có sự tin tưởng về tính hiệu
quả của các sản phẩm này. Sử dụng các sản
phẩm này có liên quan độc lập làm tăng tỷ lệ
bị bỏng nắng. Nhưng tỷ lệ này sẽ không tăng
nếu họ sử dụng kèm với kem chống nắng
thường xuyên.
Không có nhiều dữ liệu về tính an toàn
cũng như tác dụng phụ của phương pháp làm
rám da này. Do đó, độ an toàn của phương
pháp thoa DHA vẫn còn là một dấu hỏi cần
phải thực hiện các nghiên cứu sâu hơn để xác
minh tính an toàn thực sự. Tuy nhiên, một số
nghiên cứu đã cho thấy DHA giúp làm giảm
260
Chống nắng và phương pháp nhuộm da rám nắng
Chương 26 _
sạm da do UVR. Một thử nghiệm ngẫu nhiên
trên các sinh viên đại học trong một tháng
sau khi sử dụng sản phẩm và đánh giá tình
trạng da bằng ảnh chụp đánh giá UV. Kết quả
cho thấy sự gia tăng đáng kể về nhận thức
và sử dụng kem chống nắng. Họ cũng có xu
hướng ít tắm nắng hơn và chú ý bảo vệ chống
nắng nhiều hơn so với nhóm chứng. Điều này
cho thấy việc sử dụng sản phẩm làm rám
nắng hầu như không có bất kì tác hại nào.
Gần 3/4 (73%) số người cho biết họ đã giảm
sử dụng tia uv làm rám da ở nhà kể từ khi
bắt đầu sử dụng các sản phẩm chứa DHA
này, trong khi chỉ có 7% cho biết họ dùng tia
UV làm rám da nhiều hơn. Những dữ liệu này
cho thấy việc sử dụng các sản phẩm làm rám
da này có thể là một cách hiệu quả để ngăn
ngừa ung thư da.
Triển vọng tương lai
Dựa trên những kiến thức hiện nay, một
loạt chế độ bảo vệ quang học tổng thể bao
gồm quần áo bảo vệ, tránh phơi nắng giữa
trưa và sử dụng thường xuyên kem chống
nắng phổ rộng có SPF cao sẽ giúp bảo vệ
đáng kể và làm giảm tỷ lệ mắc ung thư tế
bào hắc tố. Đây cũng là khuyến cáo hiện tại
của Viện Da liễu Hoa Kỳ (AAD), Tổ chức ung
thư Da và các tổ chức quốc tế lớn khác. Các
phương pháp làm rám da không dùng ánh
nắng mặt trời là một sự thay thế hợp lý nhưng
cần phải thực hiện nhiều nghiên cứu hơn để
đảm bảo an toàn. Hy vọng rằng chúng ta sẽ
có câu trả lời chắc chắn hơn cho các câu hỏi
liên quan đến việc tối ưu hóa hiệu quả của
kem chống nắng và các phương pháp bảo vệ
khác.
Further reading
Cokkinides VE, Bandi p, Weinstock MA,
Ward E. Use of sunless tanning products
among US adolescents aged 11 to 18 years.
Arch Dermatol 2010; 146(9): 987-992. Drae-
los ZD, et al. (eds.) Cosmetic Formulation of
Skin Care Products (Cosmetic Science and
Technology Series Vol. 30). New York: Taylor
and Francis, 2006.
Draelos ZD. Self-tanning lotions: Are they
a healthy way to achieve a tan? Am J Clin
Psychol 2002; 3(5): 317-318.
Huncharek M, Kupelnick B. Use of top-
ical sunscreens and the risk of malignant
melanoma: A meta-analysis of 9067 patients
from 11 case-control studies. Am J Public
Health 2002; 92(7): 1173-1177.
Palm MD, O’Donoghue MN. Update on
photoprotection.
Dermatologic
Therapy
2007; 20(5): 360-376.
Pagoto SL, Schneider KL, Oleski J, Boden-
los JS, Ma Y. The sunless study: A beach ran-
domized trial of a skin cancer prevention in-
tervention promoting sunless tanning. Arch
Dermatol 2010; 146(9): 979-984.
Shaath, NA. Evolution of modern sun-
screen chemicals. In: Lowe NJ, Shaath NA,
Pathak
MA (eds.) Sunscreens: Development,
Evaluation, and Regulatory Aspects. New
York: Marcel Dekker, 1997.
Sheehan DJ, Lesher JL., Jr The effect of
sunless tanning on behavior in the sun: A pi-
lot study. South Med J 2005; 98(12): 1192-
1195.
Vainio H, Miller AB, Bianchini F. An inter-
national evaluation of the cancer-preventive
potential of sunscreens. Int J Cancer 2000;
88(5): 838-842.
Westerdahl J, Ingvar c, Masback A, Ols-
son H. Sunscreen use and malignant mela-
noma. Int J Cancer 2000; 87(1): 145-150.
261
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
27
DƯỢC MỸ PHẨM
CHO CHỨNG
VÀ MẶT ĐỎ
TRỨNG CÁ ĐỎ
C
h
ư
ơ
n
g
Doris Day
New York University Medical Center,
New York, NY, USA
262
Dược mỹ phẩm cho chứng trứng cá đỏ và đỏ mặt
Chương 27 _
Giới thiệu
Trứng cá đỏ (Rosacea) là 1 tình trạng
viêm mạn tính phổ biến, ảnh hưởng tới hơn
14 triệu người Mỹ. Chứng đỏ mặt biểu hiện
như cơn đỏ bừng mặt thoáng qua hoặc hồng
ban dai dẳng, là triệu chứng sớm phổ biến
của trứng cả đỏ. Các đặc điểm đặc trưng của
tổn thương mạn tính trên da bao gồm sẩn,
mụn mủ và giãn mạch, thường ở vùng trung
tâm khuôn mặt. Về cá nhân, chứng đỏ mặt
làm bệnh nhân tự ti và ảnh hưởng đến sự tự
tin, chất lượng cuộc sống.
Các chế độ chăm sóc da được cân nhắc
kỹ lưỡng đã được sử dụng như phương pháp
điều trị hỗ trợ cho các hoạt chất đặc trị chứng
trứng cá đỏ, giúp cải thiện các triệu chứng
của tình trạng này. Các phương pháp chăm
sóc da thẩm mỹ theo truyền thống thường
được sử dụng rất hiệu quả cho tình trạng ít
nghiêm trọng (phổ biến nhất) của trứng cá
đỏ: trứng cá đỏ có đỏ da giãn mạch, biểu hiện
bởi đỏ da lan tỏa, đỏ da từng đợt, cùng với,
trong nhiều trường hợp, là sự hiện diện của
các mạch máu nông bên dưới da, cũng như
các vấn đề phổ biến về suy giảm chức năng
hàng rào và các tình trạng như khô da, tróc
vảy và tăng mẫn cảm cũng không hiếm gặp.
Những tiến bộ gần đây trong sự hiểu biết về
sinh lý bệnh của nhóm tình trạng da này đã
thúc đẩy nghiên cứu đáng kể trong việc xác
định các tác nhân hiệu quả mới tác động
thông qua nhiều con đường.
Các con đường sinh hóa
Sinh lý bệnh của bệnh trứng cá đỏ
gồm các con đường liên quan đến mạch
máu và phản ứng viêm đang là trọng tâm
của nghiên cứu để tìm ra phương pháp
điều trị thích hợp. Ban đỏ là kết quả của
việc tăng lưu lượng máu trong vi mạch
dưới da phản ứng với các tín hiệu viêm.
Prostaglandin E2 (PGE2) đóng một vai trò
quan trọng trong tuần hoàn máu qua da
bằng cách tạo ra sự giãn mạch để đáp ứng
với các kích thích bên ngoài như tiếp xúc với
hóa chất, tổn thương vật lý và tiếp xúc với
tia cực tím. Tăng biểu hiện của yếu tố tăng
trưởng nội mô mạch máu (VEGF) được quan
sát thấy trên da của bệnh nhân mắc bệnh ro-
sacea, có thể dẫn đến giãn mạch. Tiếp xúc
với tia cực tím làm tăng biểu hiện VEGF và
các nhóm oxy phản ứng (ROS, các gốc tự
do) làm phản ứng viêm trầm trọng thêm, cả
hai đều có thể dẫn đến bùng phát các đợt
bệnh rosacea. Các vi sinh vật như Demodex
folliculorum và Helicobacter pylori được cho
là có tác dụng kích thích phản ứng miễn dịch.
Nhiều yếu tố khởi phát được nêu ở trên liên
quan đến các con đường liên quan đến sự gia
tăng biểu hiện của Thụ thể Toll-like 2 (TLR2),
một thành phần chính của hệ thống miễn
dịch bẩm sinh. Biểu hiện TLR2 bị thay đổi ở
da rosacea, làm tăng tính nhạy cảm của da
với các kích thích miễn dịch bẩm sinh.
Chăm sóc da cơ bản để
kiểm soát trứng cá đỏ
Các khía cạnh căn nguyên bên trong
phản ứng viêm và hàng rào da tổn thương
của bệnh rosacea thường dẫn đến việc bệnh
nhân có làn da nhạy cảm, có xu hướng kích
ứng, bỏng rát, châm chích và ngứa nhiều
hơn. Do đó, chất làm sạch hay sản phẩm
chăm sóc da thích hợp nhất cho bệnh nhân
rosacea sẽ có công thức ít gây kích ứng và
tốt nhất là được thiết kế cho da nhạy cảm.
Chúng thường là các chế phẩm trong công
thức không chứa lipid hoặc có hàm lượng
cao chất hoạt động bề mặt không ion hoặc
lưỡng tính với độ pH có tính axit gần với độ
pH tự nhiên của da. Thường xuyên sử dụng
chất dưỡng ẩm da mặt sẽ cung cấp một môi
trường bảo vệ cho da, giúp thúc đẩy quá trình
tự phục hồi của da, gồm phục hồi chức năng
hàng rào, cấu trúc, thành phần lipid của lớp
sừng và hoạt động của enzym giúp quá trình
bong vảy bình thường. Một số nghiên cứu
được công bố đã chứng minh tác dụng hữu
ích của các loại kem dưỡng ẩm được lựa chọn
263
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
chuyên biệt trong liệu pháp điều trị bệnh ro-
sacea. Bệnh Rosacea được cho là trầm trọng
hơn khi tiếp xúc với ánh sáng, vì vậy việc sử
dụng thường xuyên sản phẩm chống nắng
phổ rộng một cách hiệu quả (SPF 15 trở lên)
là cần thiết cho bệnh nhân rosacea.
Vai trò của dược mỹ phẩm
trong kiểm soát trứng cá đỏ
Trong những năm gần đây, khi sự phát
triển của các sản phẩm dược mỹ phẩm
để chăm sóc da ngày càng tăng nhanh,
tác động của các sản phẩm này với vai trò
là phương pháp điều trị hỗ trợ trong bệnh
rosacea cũng đã mở rộng ngoài việc giảm
các triệu chứng mà còn có tác động lớn hơn
đến các thuộc tính cơ học liên quan đến tình
trạng bệnh. Các sản phẩm chăm sóc da tại
chỗ có chứa các thành phần giúp cải thiện
chức năng hàng rào hoặc có đặc tính kháng
viêm hoặc chống oxy hóa, đặc biệt là những
sản phẩm có nguồn gốc thực vật, đang được
chứng minh là có ích trong việc điều trị bệnh
rosacea.
Sự kết hợp các hoạt chất điều chỉnh đặc
tính của mạch máu mao mạch với các hoạt
chất giúp kiểm soát viêm là bước đầu tiên
để tạo ra một sản phẩm dược mỹ phẩm hiệu
quả. Giảm tác nhân gây bệnh và loại bỏ tác
động của các tác nhân thúc đẩy tiềm ẩn tiếp
tục củng cố hiệu quả của sản phẩm. Các chế
độ điều trị điển hình bao gồm sản phẩm điều
trị có một hoặc nhiều tác nhân kháng viêm
và chống oxy hóa, kem dưỡng ẩm cải thiện
chức năng hàng rào, kem chống nắng cung
cấp khả năng bảo vệ khỏi ánh nắng mặt trời
và lớp nền trang điểm với tone xanh lá cây
để che lấp các nốt mẩn đỏ trên khuôn mặt.
Các chế độ điều trị dược mỹ phẩm cũng có
thể được kết hợp kèm theo các phương pháp
điều trị chuyên biệt cho bệnh rosacea để cải
thiện kết quả điều trị.
Những tiến bộ trong hoạt
chất mỹ phẩm
Nhiều loại hoạt chất mỹ phẩm hiện
có tác động đến kết quả điều trị dựa trên
các con đường sinh hóa đã biết của bệnh
rosacea. Niacinamide và các dẫn xuất của
nó, chiết xuất cam thảo và các dẫn xuất
benzaldehyde được chọn lọc đã hỗ trợ 1 cách
hiệu quả lên kết quả lâm sàng ở bệnh nhân
rosacea từ các nghiên cứu được kiểm soát
và công bố. Một số thành phần khác chẳng
hạn như cúc thơm (feverfew), chiết xuất cam
thảo, trà xanh và lô hội đã công bố dữ liệu
lâm sàng về các tình trạng da khác. Bảng
27.1 liệt kê các thành phần được lựa chọn
phân loại theo cơ chế tác dụng được đề xuất
của chúng.
Các hoạt chất bảo vệ và phục hồi
hàng rào da
Điều trị tại chỗ với niacinamide đã được
chứng minh là cải thiện chức năng hàng rào
lớp sừng và cũng cải thiện tình trạng đốm
đỏ ở những bệnh nhân bị lão hóa ánh sáng
(không bị bệnh rosacea). Việc cải thiện chức
năng hàng rào làm giảm cả tác động tiềm
tàng của các tác nhân tại chỗ thúc đẩy các
đợt bùng phát và tính nhạy cảm của da với
những tác động xấu bên ngoài có thể gây
kích ứng. Trong một nghiên cứu, việc điều trị
bệnh nhân mắc bệnh rosacea loại 1 hoặc 2,
tương ứng với bệnh rosacea đỏ da giãn mạch
và bệnh trứng cá đỏ sẩn viêm mụn mủ, bằng
kem dưỡng ẩm có chứa niacinamide trong 4
tuần đã cải thiện chức năng hàng rào (mất
nước qua biểu bì) và cũng làm giảm các dấu
hiệu và triệu chứng của bệnh rosacea dựa
trên kết luận của cả hai điều tra viên và đánh
giá từ các đối tượng nghiên cứu.
Hydroxypropyl chitosan, một chất hình
thành màng hàng rào bảo vệ, mang lại những
lợi ích đối với bệnh rosacea như một phần
của phương pháp điều trị kết hợp. Keo yến
mạch có một lịch sử lâu đời được sử dụng
hữu ích trong da liễu nhờ khả năng bảo vệ
264
Dược mỹ phẩm cho chứng trứng cá đỏ và đỏ mặt
Chương 27 _
da vật lý của nó cũng như sự hiện diện của
avenanthramides có thể ức chế hoạt động
của yếu tố hạt nhân kappa-b (NF-Kb) và
phóng thích các tác nhân tiền viêm.
Các hoạt chất chống viêm
Nghiên cứu đã chứng minh rằng hệ
thống miễn dịch bẩm sinh ở da mặt dễ bị
rosacea tăng phản ứng với tín hiệu của các
con đường viêm. Viêm da có thể được kiểm
soát qua các con đường liên quan đến nhau
đã được xác định kể cả các enzym như
cyclooxygenase
(COX),
lipooxygenase
(LOX), metalloproteinase (MMP), elastase và
hyaluronidase, các yếu tố phiên mã hạt nhân,
chẳng hạn như API và NF-Kb, các chất điều
hòa thần kinh, chẳng hạn như chất p và giảm
TLR-2. Các chất kháng viêm, gồm nhiều sản
phẩm tự nhiên, tạo thành nhóm các hoạt chất
dược mỹ phẩm phong phú nhất cho bệnh
rosacea. Ví dụ, một loại kem dưỡng ẩm có
chứa licochalcone A được phân lập từ rễ cam
thảo đã được tìm thấy trong một nghiên cứu
lâm sàng kéo dài 8 tuần để cải thiện ban đỏ
ở một nhóm bệnh nhân có cả những người
bị bệnh rosacea. Một chiết xuất tinh khiết từ
cây cúc thơm đã được chứng minh là có tác
dụng chống lại mẩn đỏ trên khuôn mặt do
tiếp xúc với tia cực tím hoặc cạo râu. Một
chiết xuất từ cây Quassia amara (cây thằn
Bảng 27.1 Các thành phần dược mỹ phẩm được sử dụng trong điều trị bệnh
rosacea tại chỗ.
Thành phần
Lợi ích của hoạt chất
Niacinamide
Keo yến mạch
Hydroxypropyl chitosan
Bảo vệ/ cải thiện chức năng hàng rào
Licochalcone A
Cúc thơm
Quassia amara (Thằn lằn/gỗ đắng)
Kháng viêm
Vitamin C
Quả cà phê
Ginko biloba
Trà polyphenols
Chống oxy hóa
lằn/ gỗ đắng), được sử dụng trong y học vi
lượng đồng căn, đã cho thấy lợi ích trong việc
điều trị rosacea tại chỗ.
Các dây thần kinh cảm giác liên kết chặt
chẽ với các mạch máu và các tế bào miễn
dịch được gia tăng trong rosacea (hình thái
hồng ban) với sự điều hòa tăng của các gen
điều hòa mạch và phản ứng viêm qua trung
gian thần kinh. Palmitoyl tripeptide-8 đã được
chứng minh là làm giảm việc tăng tính thấm
mao mạch qua trung gian chất-P.
Các chất chống oxi hóa
Sự hình thành và giải phóng ROS trong
da có thể xuất hiện trong rosacea do hậu quả
của quá trình viêm và cũng có thể trầm trọng
hơn khi tiếp xúc với tia uv với một hàng rào
đang bị tổn thương. Do đó, việc giảm ROS
thông qua việc sử dụng các chất chống oxy
hóa tại chỗ có thể hữu ích trong việc điều
trị bệnh rosacea. Ví dụ, một chế phẩm 5%
vitamin c tại chỗ đã được thử nghiệm trong
một nghiên cứu nhỏ ở bệnh nhân rosacea và
cho thấy có tác dụng cải thiện ban đỏ. Các
tác nhân tự nhiên có bằng chứng tác dụng
bao gồm các chiết xuất từ trà khác nhau
(xanh, đỏ, trắng, đen), chiết xuất cà phê và
caffeine, lô hội, nghệ, hoa cúc (bisabolol) và
nấm.
265
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Các hoạt chất kiểm soát đường
kính, tính thấm và sự phát triển của
mạch máu
Các loại thuốc chủ vận a1-adrenergic
tại chỗ như oxymetazoline đã được sử dụng
thành công để kiểm soát tức thì tình trạng
mẩn đỏ trên khuôn mặt bằng cách tạo ra sự
co mạch. Brimonidine tại chỗ đang được phát
triển như một phương pháp điều trị kê toa cho
bệnh rosacea và dường như đầy hứa hẹn với
việc giúp cải thiện hiệu quả lâm sàng sớm.
Đối với việc sử dụng dược mỹ phẩm, caffeine
tại chỗ có thể tạo ra tác dụng co mạch nhưng
nó cũng có thể gây kích ứng cho làn da bệnh
nhân rosacea. Sự kết hợp của glycoside của
axit caffeic và axit gallic đã cho thấy một số
lợi ích trong việc giảm ban đỏ.
Hầu hết trong các con đường gây viêm
đểu dẫn đến sự gia tăng PGE2, một chất
trung gian chính của quá trình giãn mao
mạch. Do đó, các chất bôi tại chỗ được thiết
kế đặc biệt để giảm PGE2 có thể giúp bình
thường hóa đường kính mao mạch mà lại
không làm co mạch. 4-Ethoxybenzaldehyde
Hình 27.1 Những thay đổi trong ban đỏ được đánh giá bằng cách theo dõi phần đỏ của ánh
sáng phản hổi lại bằng cách sử dụng máy phân tích hình ảnh Visia - lúc ban đầu - sau 4 tuần
điều trị bằng kem có chứa 4-ethoxybenzaldehyde và niacinamide (Redness Relief CalmPlex,
SkinMedica Inc, Carlsbad, CA). Source: Courtesy of Dr. Mona Foad, Cincinnati, OH, USA.
đã được chứng minh là làm giảm chứng đỏ
mặt ở những bệnh nhân rosacea (Hình 27.1),
rất có thể là do sự ức chế PGE2.
Ức chế các yếu tố tăng trưởng tân tạo
mạch máu như yếu tố tăng trưởng nguyên
bào sợi (FGF) và các yếu tố tăng trưởng nội
mô mạch máu (VEGF) bằng dobesilate đã
được chứng minh là có tác dụng cải thiện
lâm sàng đối với ban đỏ và giãn mạch. Chiết
xuất có hoạt tính của các chất tự nhiên như
keo ong (propolis), một vật liệu giống như
nhựa cây thu được từ cây lá kim được tìm
thấy trong các sản phẩm từ ong và kỷ tử đã
được chứng minh là có tác dụng chống tân
tạo mạch máu.
Các peptide chống nhiễm khuẩn và
hệ thống miễn dịch bẩm sinh
Trong hệ thống miễn dịch bẩm sinh ở da,
việc sản xuất các peptide kháng khuẩn (AMP)
là cơ chế chính bảo vệ chống lại nhiễm trùng.
AMP hiện nay được biết là có hai chức năng
riêng biệt: (1) chúng có hoạt tính kháng khuẩn
trực tiếp; và (2) chúng bắt đầu phản ứng tế
266
Dược mỹ phẩm cho chứng trứng cá đỏ và đỏ mặt
Chương 27 _
bào vật chủ dẫn đến giải phóng cytokine, dẫn
đến viêm và tăng sinh mạch. Những người
bị bệnh trứng cá đỏ biểu hiện nồng độ cao
bất thường của cathelicidin và các AMP
khác do TLR-2 bị thay đổi. Các dẫn xuất của
isoprenylcysteine và peptide từ hạt diêm
mạch (quinoa) đã cho thấy sự giảm biểu hiện
TLR-2 trong các nghiên cứu tiền lâm sàng.
Kết luận
Các chế độ chăm sóc da được kê toa một
cách cẩn thận gồm các loại dược mỹ phẩm
đã được chứng minh lâm sàng ngày càng
được sử dụng thành công cho bệnh rosacea.
Nâng cao hiểu biết về sinh lý bệnh của bệnh
rosacea cho phép chúng ta tạo ra các hoạt
chất dược mỹ phẩm mới cung cấp lợi ích cho
các con đường sinh hóa của bệnh. Các chất
kháng viêm và chống oxy hóa được thiết kế
để giảm bớt phản ứng viêm do một số’ kích
thước khác nhau đại diện cho một chính
nhóm của các hoạt chất dược phẩm được sử
dụng cho bệnh rosacea. Các tác nhân giúp
củng cố hàng rào lớp sừng tạo thành một
nhóm hoạt chất quan trọng khác. Các hoạt
chất làm giảm tính thấm thành mạch, giúp
giảm viêm và ban đỏ. Với sự hiểu biết được
cải thiện về vai trò của hệ thống miễn dịch
bẩm sinh trong căn nguyên của bệnh rosa-
cea, người ta hy vọng rằng các hoạt chất mới
hơn sẽ hướng vào cách da phản ứng với các
kích thích gây viêm, giúp kiểm tra tốt hơn các
triệu chứng của bệnh rosacea và ban đỏ liên
quan.
Further reading
Ahn MR, Kunimasa K, Kumazawa s, et
al. Correlation between antiangiogenic activ-
ity and antioxidant activity of various com-
ponents from propolis. Mol Nutr Food Res
2009; 53: 643-651.
Berardesca E, loriZzo M, Abril E, Gug-
lielmini G, Caserini M, Palmieri R, Piérard GE.
Clinical and instrumental assessment of the
effects of a new product based on hydroxy-
propyl chitosan and potassium azeloyl digly-
cinate in the management of rosacea. J Cos-
met Dermatol 2012; 11: 37-41.
267
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
28
DƯỢC MỸ PHẨM
GIÚP TĂNG HIỆU QUẢ
THỦ THUẬT THẨM MỸ
CỦA CÁC
C
h
ư
ơ
n
g
Mary Lupo and Leah Jacob
Tulane University School of Medicine,
New Orleans, LA, USA
268
Dược mỹ phẩm giúp tăng cường hiệu quả của các thủ thuật thẩm mỹ
Chương 28 _
Giới thiệu
Các thủ thuật thẩm mỹ xâm lấn tối thiểu
được sử dụng để điều trị rất nhiều tình trạng
da liễu, bao gồm tăng sắc tố, da không đều
màu, mất thể tích (volume loss) và lão hóa
ánh sáng. Việc kết hợp các công thức dược
mỹ phẩm một cách hiệu quả vào trong chế
độ chăm sóc da trước và sau khi làm thủ
thuật có thể giúp cải thiện tổng thể kết quả
thẩm mỹ. Ngoài việc hiệp đồng tăng cường
tác dụng trẻ hóa da, sử dụng kết hợp các
hoạt chất dược mỹ phẩm bôi tại chỗ với các
liệu trình thẩm mỹ có thể đẩy nhanh quá trình
lành thương sau làm thủ thuật, giảm thiểu
các biến chứng không mong muốn và kéo
dài hiệu quả điều trị. Chương này chúng ta sẽ
cùng tìm hiểu một số phác đồ kết hợp thường
được sử dụng nhất, tập trung vào những tác
nhân có bằng chứng khoa học hỗ trợ mạnh
mẽ cho việc sử dụng chúng an toàn và hiệu
quả.
Đặt vấn đề
Hầu như tất cả các thủ thuật thẩm mỹ
nên đi kèm với chế độ chăm sóc da vào mỗi
buổi sáng và buổi tối hàng ngày để tối ưu hóa
sức khỏe cho làn da. Các quy trình điều trị
buổi sáng nên tập trung vào việc bảo vệ khỏi
các tác nhân môi trường gây sự lão hóa ánh
sáng và ung thư, khuyến khích sử dụng kem
chống nắng phổ rộng kết hợp với các chất
chống oxy hóa. Việc bổ sung các chất chống
oxy hóa, đặc biệt là vitamin c, đã được chứng
minh giúp tăng cường tác dụng bảo vệ của
kem chống nắng. Chăm sóc da buổi tối nên
tập trung vào việc sửa chữa hàng rào bảo
vệ của da và tái tạo collagen; Retinoids, các
peptide , các yếu tố tăng trưởng bôi tại chỗ
và chất dưỡng ẩm đều có thể được sử dụng
cho mục đích này. Đối với những bệnh nhân
bị rối loạn sắc tố và những người có loại da
sẫm màu thì nên bổ sung chất làm sáng da
hàng ngày để tăng cường hiệu quả của các
thủ thuật điều trị tăng sắc tố và ngăn ngừa
tăng sắc tố sau viêm.
Buổi thăm khám đầu tiên là thời điểm
hoàn hảo để giới thiệu cho bệnh nhân một
chế độ chăm sóc da tại chỗ nhắm vào các
nhu cầu cụ thể của họ. Thông thường, ban
đầu bệnh nhân do dự khi thực hiện các thủ
thuật thẩm mỹ xâm lấn do chi phí cao và thời
gian nghỉ dưỡng dài. Việc bắt đầu điều trị trẻ
hóa với các thuốc bôi ngoài da có thể là bước
khởi đầu nhẹ nhàng, giá cả phải chăng hơn,
giúp quá trình chuyển đổi sang liệu trình xâm
lấn dễ dàng và hiệu quả hơn. Cùng với thời
gian, bệnh nhân sẽ cảm thấy thoải mái hơn
và sẵn sàng chấp nhận các thủ thuật điều
trị để tăng cường cho phác đồ chỉ có thuốc
bôi ngoài da hiện tại. Ngoài việc thúc đẩy
sức khỏe tổng thể của làn da, việc thiết lập
một thói quen chăm sóc da hàng ngày sẽ
giúp bệnh nhân chuẩn bị cho việc chăm sóc
da sau các thủ thuật tái tạo bề mặt sau này.
Những bệnh nhân không bằng lòng tham dự
tích cực vào việc thiết lập thói quen chăm
sóc da hàng ngày có thể không phải là ứng
cử viên tối ưu cho các thủ thuật điều trị xâm
lấn và tốt nhất nên được điều trị bằng các
phương pháp ít xâm lấn hơn.
Hiệu quả điều trị bằng thủ
thuật được nâng lên nhờ tác
dụng hiệp đồng
Việc bổ sung các hoạt chất dược mỹ
phẩm bôi tại chỗ chọn lọc thích hợp với thủ
thuật thẩm mỹ sẽ làm tăng tác dụng hiệp
đồng nâng cao hiệu quả điều trị so với điều trị
đơn độc, dẫn đến hiệu quả cải thiện lâm sàng
diễn ra nhanh hơn và rõ ràng hơn. Sự kết hợp
hiệp đồng của các hoạt chất bôi ngoài da
khác nhau với các thủ thuật như peel da bằng
hóa chất, tái tạo bề mặt bằng laser bóc tách,
các kỹ thuật không bóc tách và tiêm chích sẽ
được thảo luận dưới đây.
Peel da bằng hóa chất
Peel da bằng hóa chất tiếp tục là một
269
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
trong những thủ thuật phổ biến nhất được
thực hiện trong các phòng khám thẩm mỹ.
Trong khi các phương pháp peel da sâu hơn
phần lớn đã được thay thế bằng phương pháp
điều trị với laser bóc tách, thì phương pháp
peel da từ nông đến trung bình vẫn thường
được sử dụng để điều trị nếp nhăn mịn, làm
đều màu, cấu trúc da và điều trị các rối loạn
sắc tố. Các hoạt chất bôi bổ sung có thể tăng
cường hiệu quả của liệu trình peel tại phòng
khám bao gồm axit hydroxy alpha và beta,
retinoids và các chế phẩm làm sáng da.
Axit alpha và beta hydroxy có lợi khi được
sử dụng với vai trò như một tác nhân chuẩn
bị trước khi thực hiện peel da bằng hóa chất.
Chất dưỡng ẩm có chứa axit hydroxy alpha và
axit beta hydroxy có thể được sử dụng trong
hai đến ba tuần trước khi thực hiện thủ thuật
peel da từ nông đến trung bình. Sử dụng các
hoạt chất có tác dụng tẩy tế bào chết bề mặt
này giúp làm mỏng lớp sừng, tạo ra bể mặt
da đồng đều hơn, và do đó giúp quá trình
peel da được trải đều trên bề mặt da hơn. Lớp
sừng mỏng hơn cũng tạo điều kiện cho hoạt
chất peel da thấm tốt hơn, giúp nâng cao
kết quả điều trị. Chất dưỡng ẩm có chứa axit
salicylic được cho là sản phẩm chuẩn bị da
trước peel tuyệt vời, do khả năng tẩy tế bào
chết tốt hơn ở những vùng da nhiều bã nhờn
như mũi. Retinoids cũng là hoạt chất chuẩn
bị trước thủ thuật peel xuất sắc, với một số
nghiên cứu đánh giá hiệu quả của retinoid
khi được sử dụng trước thủ thuật peel cho
thấy thời gian lành da sau thủ thuật nhanh
hơn ở những vùng da được chuẩn bị trước
thủ thuật. Tuy nhiên, cần thận trọng vì việc
sử dụng retinoid có thể làm tăng khả năng bị
kích ứng quá mức; ngừng sử dụng retinoids
trong một tuần sau khi peel da có thể giúp
giảm thiểu tác dụng phụ này.
Khi peel da bằng hóa chất được sử dụng
để điều trị các chứng tăng sắc tố, sự kết hợp
với các chất làm sáng da bôi tại chỗ đã được
chứng minh giúp tăng cường hiệu quả so với
chỉ điều trị đơn độc thông qua một số ng-
hiên cứu được thiết kế rất tốt. Việc tẩy tế bào
chết bề mặt đạt được với liệu pháp peel da
hóa học làm tăng khả năng thâm nhập của
các hoạt chất làm sáng da, cho phép tiếp
cận các tế bào sừng chứa sắc tố sâu hơn để
tăng cường hiệu quả làm sáng da. Mặc dù
hydroquinone là chất làm sáng được sử dụng
phổ biến nhất, một số thành phần dược mỹ
phẩm khác có đặc tính làm sáng da như axit
kojic, axit ascorbic và chiết xuất cam thảo...
cũng có thể được sử dụng. Việc bổ sung các
hoạt chất này vào cùng với hydroquinone và
thủ thuật peel da nông có thể tăng cường độ
sáng da tổng thể; điều này đã được chứng
minh trong một nghiên cứu với kết quả cho
thấy hiệu quả giảm sắc tố nhiều hơn khi bệnh
nhân nám má sử dụng axit kojic kết hợp với
axit glycolic và hydroquinone. Một nghiên
cứu khác đã chứng minh hiệu quả điều trị
nám da được cải thiện và kéo dài hơn khi bổ
sung vitamin c kết hợp với peel da bằng axit
trichloroacetic so với chỉ điều trị peel da đơn
độc.
Laser bóc tách tái tạo bề mặt và các
kỹ thuật điều trị không bóc tách
Tái tạo bề mặt bằng laser bóc tách vẫn
là phương pháp điều trị cho hiệu quả cao
nhất và ấn tượng nhất cho da lão hóa ánh
sáng nặng. Trẻ hóa bằng phương pháp này
là kết quả của quá trình dùng nhiệt để bào
mòn toàn bộ bề dày lớp thượng bì và bì, theo
sau bởi sự tăng sản xuất collagen ở lớp bì do
cytokine và tái biểu mô hóa. Khi lớp biểu bì
bị tổn thương sau khi điều trị, chăm sóc sau
thủ thuật với các hoạt chất giữ ẩm làm mềm
da cho đến khi quá trình tái biểu mô hoàn tất
là điều rất cần thiết. Hàng rào thượng bì bị
tổn thương có thể giúp một số hoạt chất thoa
có kích thước lớn phân phối qua da điểu mà
bình thường rất khó đạt được với lớp biểu bì
nguyên vẹn. Nhiều kỹ thuật không bóc tách
khác được sử dụng để trẻ hóa da ở làn da lão
hóa ánh sáng được tóm tắt trong bảng 28.1.
Vì lớp biểu bì không bị ảnh hưởng bởi các
phương pháp điều trị không bóc tách này, nên
việc chăm sóc vết thương sẽ đơn giản hơn và
thời gian nghỉ dưỡng sẽ ngắn hơn so với điều
trị bằng laser bóc tách. Tuy nhiên, hiệu quả
270
Dược mỹ phẩm giúp tăng cường hiệu quả của các thủ thuật thẩm mỹ
Chương 28 _
cải thiện lâm sàng sẽ không ấn tượng như với
các liệu trình tái tạo bề mặt bóc tách. Kết hợp
các phương pháp điều trị không bóc tách này
với các hoạt chất dược mỹ phẩm bôi tại chỗ
cho phép nâng cao hiệu quả điều trị trẻ hóa
tổng thể hơn so với khi chỉ áp dụng một trong
hai liệu pháp (Hình 28.1 và 28.2).
Retinoids tại chỗ có thể được sử dụng
trước khi làm thủ thuật bằng laser bóc tách
và không bóc tách. Một số nghiên cứu đã
xác nhận rằng điều trị trước bằng retinoids
sẽ giúp lành thương nhanh hơn và tái tạo
biểu mô nhanh hơn đáng kể sau khi điều trị
bằng laser bóc tách. Nghiên cứu cũng chứng
minh retinoid dùng trước liệu trình làm tăng
độ dày của lớp bì và giúp đỏ da sau điều trị
bằng laser bóc tách thuyên giảm nhanh hơn.
Các lợi ích khác được đề xuất đối với việc sử
dụng retinoid trước điều trị bao gồm giảm
nguy cơ phát triển hạt kê sau thủ thuật, giảm
tỷ lệ tăng sắc tố sau thủ thuật và cho phép
tia laser được xuyên thấu tốt hơn do lớp sừng
mỏng hơn. Việc sử dụng trước thủ thuật có
thể bắt đầu bất kỳ thời điểm nào từ vài tháng
đến vài tuần trước khi tiến hành thủ thuật;
hầu hết các bác sĩ áp dụng một phác đồ điều
trị trước khoảng 2-4 tuần. Sau khi tái tạo bề
mặt da, nên ngừng sử dụng retinoid trong vài
tuần để cho phép da tái tạo biểu mô tốt hơn.
Bảng 28.1 Các kỹ thuật điều trị không bóc tách thường dùng.
Laser hồng ngoại (IR)
Ánh sáng xung cường độ cao
Tần số vô tuyến (RF)
Siêu âm (Ultrasound)
Điốt phát sáng
Liệu pháp quang động (PDT)
KTP/PDL
Nd:YAG 1320nm
Er: YAG xung dài
Kết hợp các chất chống oxy hóa bôi tại
chỗ vào chăm sóc da trước và sau thủ thuật
có thể giúp giảm thiểu tình trạng viêm và
hồng ban sau thủ thuật. Sử dụng các công
thức bôi ngoài da có chứa vitamin C trước
thủ thuật đã được chứng minh là làm giảm
ban đỏ sau thủ thuật, một biểu hiện thường
thấy sau khi tái tạo bề mặt bằng laser bóc
tách. Một nghiên cứu đã so sánh một bên
mặt sử dụng vitamin C bôi tại chỗ 2 tuần
trước điều trị so với một bên mặt điều trị với
giả dược 21 bệnh nhân điều trị laser CO2.
Kết quả cho thấy hồng ban giảm đáng kể ở
da mặt được điều trị bằng axit L-ascorbic
10% bôi tại chỗ so với da mặt được điều trị
bằng giả dược. Các nhà nghiên cứu đưa ra
giả thuyết rằng việc giảm ban đỏ khi thoa
vitamin C tại chỗ là do tác dụng chống viêm
của nó. Các tác dụng chống viêm này có thể
được tăng cường nhờ vào chính liệu trình
laser, vì sự hấp thu tại chỗ của axit ascorbic
đã được chứng minh là được tăng cường nhờ
laser bóc tách và các thiết bị siêu mài mòn.
Một nghiên cứu khác đã chứng minh những
cải thiện nhiều hơn về độ ẩm da, kết cấu và
kích thước lỗ chân lông sau khi bổ sung chất
chống oxy hóa polyphenolic vào chế độ điều
trị bằng ánh sáng xung cường độ cao (IPL)
so với chỉ điều trị IPL đơn độc. Cách thức và
thời điểm bắt đầu các công thức chống oxy
271
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Hình 28.1 Bệnh nhân nữ 40 tuổi bị trứng cá đỏ và những tổn thương tăng
sắc tố do ánh sáng.
Hình 28.2 Sau khi điều trị kết hợp IPL và retinoids. Hồng ban và các tổn
thương rối loạn sắc tố được cải thiện
272
Dược mỹ phẩm giúp tăng cường hiệu quả của các thủ thuật thẩm mỹ
Chương 28 _
hóa tại chỗ vẫn chưa được xác định rõ; nhiều
bác sĩ da liễu sẽ trì hoãn việc sử dụng thuốc
sau thủ thuật cho đến khi quá trình tái tạo
biểu mô hoàn tất vì để giảm nguy cơ bỏng
da do bôi thuốc. Một gợi ý là bắt đầu với việc
thoa. dung dịch vitamin C cách ngày khoảng
14 ngày sau khi làm thủ thuật tái tạo bề mặt
và từ từ chuyển sang sử dụng hàng ngày vào
tuần thứ ba hoặc thứ tự sau thủ thuật để hỗ
trợ giảm ban đỏ.
Yếu tố tăng trưởng là các protein điều
hòa hoạt động như các chất truyền tín hiệu
giữa và trong tế bào. Các yếu tố tăng trưởng
bôi tại chỗ đã cho thấy giúp đẩy nhanh quá
trình lành vết thương và cải thiện biểu hiện
của làn da lão hóa ánh sáng, do khả năng
giúp tổng hợp collagen, fibronectin và các
glycosaminoglycans. Có một số báo cáo nhỏ
về lợi ích của các yếu tố tăng trưởng bội tại
chỗ được sử dụng kết hợp với laser tái tạo
bề mặt, bao gồm quá trình tái biểu mô hóa
nhanh hơn và ít xuất hiện hồng ban sau điều
trị hơn. Sau quy trình tái tạo bề mặt bằng
laser bóc tách, việc hàng rào biểu mô bị tổn
thương có thể cho phép các thành phần hoạt
tính cao thâm nhập nhiều hơn. Điều này khó
xảy ra lúc bình thường vì kích thước và điện
tích protein lớn của chúng phần nào ngăn cản
sự xâm nhập của chúng qua hàng rào biểu bì.
Ngoài ra, vì các tế bào sừng đã được chứng
minh có biểu hiện các thụ thể đối với các yếu
tố tăng trưởng, việc bôi thuốc tại chỗ sau các
liệu trình tái tạo bề mặt không bóc tách cũng
có ích, thông qua sự liên lạc giữa thượng bì và
lớp bì qua trung gian yếu tố tăng trưởng. Tuy
nhiên, cần có nhiều nghiên cứu lớn hơn để
đánh giá chính xác hiệu quả cũng như những
bất lợi từ việc áp dụng các yếu tố tăng trưởng
bôi tại chỗ kết hợp với điều trị laser tái tạo
bề mặt, dù rằng những hoạt chất dược mỹ
phẩm này tiêu biểu cho một lĩnh vực điều trị
đầy hứa hẹn và thú vị trong tương lai.
Tiêm hoạt chất điều trị
Tiêm độc tố botulinum và trẻ hóa da bằng
tiêm chất làm đầy có hiệu quả cao trong việc
điều trị các nếp nhăn động và mất thể tích
mô dưới da gây ra bởi quá trình lão hóa. Nếp
nhăn và mất thể tích thường đi kèm với những
thay đổi cấu trúc bề mặt và biến đổi sắc tố do
môi trường gây ra, dẫn đến vẻ ngoài già nua.
Kết hợp tiêm độc tố botulinum và tiêm chất
làm đầy với các quy trình tái tạo bề mặt da có
thể cho hiệu quả thẩm mỹ tối đa (Hình 28.3
và 28.4). Hơn nữa, sử dụng hàng ngày các
hoạt chất bôi kích thích collagen tại chỗ như
retinoids, peptides và các yếu tố tăng trưởng
có thể giúp nâng cao hiệu quả giảm nếp
nhăn tổng thể. Việc bổ sung các chất chống
oxy hóa cũng có những lợi ích tương tự. Vì
quá trình oxy hóa được xem là nguyên nhân
gây thương tổn cho mô liên kết lớp bì, góp
phần hình thành nếp nhăn và mất thể tích.
Do đó, việc bổ sung các hoạt chất bôi tại chỗ
có chứa chất chống oxy hóa sẽ làm giảm độ
nặng và ngăn ngừa hình thành nếp nhăn mới.
Có vô số sản phẩm chứa đựng sự kết hợp
các chất chống oxy hóa khác nhau và tùy
thuộc vào bác sĩ lựa chọn các công thức ổn
định có nhiều bằng chứng lâm sàng ủng hộ.
Giảm thiểu các biến chứng
sau thủ thuật
Mỗi thủ thuật trong thẩm mỹ đều có các
biến chứng tiềm tàng và tác dụng phụ của
riêng từng loại thủ thuật. Bầm tím và tăng
sắc tố là hai biểu hiện thường được các bác
sĩ và bệnh nhân quan tâm, vì các hoạt chất
bôi có thể được sử dụng để giảm thiểu xuất
hiện những tác dụng không mong muốn này
và có thể giúp điều trị chúng nhanh chóng.
Bầm
Tiêm chất làm đầy, botulinum toxin và
điều trị laser mạch máu thường gây tác dụng
phụ bầm tím sau điều trị có thể làm bệnh nhân
khó chịu và chậm phục hồi. Mặc dù chưa
đủ chứng cứ nhưng dược mỹ phẩm chứa
hoạt chất chiết xuất từ cây kim sa (arnica)
và vitamin K có thể có ích trong việc giảm
thiểu độ nặng của vết bầm và đẩy nhanh quá
trình hồi phục.
273
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Hình 28.4 Kết quả sau khi điều trị bằng laser tái tạo bề mặt fractional CO2 và
phục hồi thể tích bằng tiêm chất làm đầy Sculptra®.
Hình 28.3 Bệnh nhân nữ 55 tuổi với tình trạng mất thể tích do lão hóa và những
tổn thương do môi trường gây ra.
274
Dược mỹ phẩm giúp tăng cường hiệu quả của các thủ thuật thẩm mỹ
Chương 28 _
Hầu hết các nghiên cứu về hiệu quả tác
động của hoạt chất chiết xuất từ cây kim sa
đối với vết bầm tím là không rõ ràng, tuy nhiên,
điều này có thể là do nồng độ của hoạt chất
này tương đối thấp trong các sản phẩm được
thử nghiệm. Một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù
đôi, có đối chứng đã chứng minh khả năng
điều trị hiệu quả thuốc mỡ arnica 20% trên
các vết bầm do laser so với điều trị bằng giả
dược. Các công thức bôi ngoài da có chứa
vitamin K cũng được chứng minh giúp điều
trị nhanh hơn những vết bầm sau thủ thuật
ở cẳng tay và vết bầm do lão hóa ánh sáng.
Một số nghiên cứu đã chứng minh vitamin K
bôi tại chỗ giúp điều trị nhanh hơn và giảm
độ nặng của ban xuất huyết do điều trị laser
mạch máu trước đó vài ngày. Tóm lại, việc
sử dụng vitamin K bôi tại chỗ sau khi điều trị
bằng laser mạch máu có thể có lợi trong điều
trị vết bầm sau laser.
Tăng sắc tố sau viêm
Một trong những tác dụng phụ thường
gặp nhất sau các thủ thuật tái tạo bề mặt
là tăng sắc tố sau viêm. Viêm sau thủ thuật
gây ra sự giải phóng các hóa chất trung
gian làm kích thích các tế bào sắc tố, như là
cytokine/ chemokine, dẫn đến việc tăng sản
xuất và tăng phân phối melain vào khắp các
tế bào sừng ở thượng bì. Những bệnh nhân
có loại da sẫm màu (Fitzpatrick IV - VI) dễ
bị tác dụng phụ này hơn, nhưng những bệnh
nhân có tuýp da sáng hơn cũng có nguy cơ
mắc bệnh. Nguy cơ tăng lên khi tổn thương
lan rộng đến lớp nhú bì ở các thủ thuật như
peel da bằng hóa chất ở mức trung bình - sâu
và laser tái tạo bề mặt.
Sử dụng các hoạt chất làm sáng da trước
khi thực hiện thủ thuật có thể làm giảm nguy
cơ tăng sắc tố sau viêm. Hydroquinone được
sử dụng phổ biến nhất. Ngoài ra, các chế
phẩm có chứa axit kojic, axit ascorbic, chiết
xuất cam thảo hoặc axit azelaic cũng có thể
có lợi. Tất cả các hoạt chất này này đểu hoạt
động bằng cách ức chế tyrosinase, đây là
enzym chính giúp tổng hợp melanin. Ngoài
ra, hydroquinone còn là chất độc tế bào đối
với tế bào hắc tố. Những người ủng hộ chế
độ chăm sóc trước thủ thuật này cho rằng
chất làm sáng có thể làm giảm hàm lượng
melanin của tế bào sắc tố và ngăn chặn xuất
melanin mới, do đó làm giảm nguy cơ tăng
sắc tố sau viêm. Các hoạt chất làm sáng da
có thể được bôi 1-2 lần/ ngày trong ba đến
bốn tuần trước khi làm thủ thuật; một số bác
sĩ sẽ giới hạn việc điều trị trước thủ thuật
này chỉ dành cho những bệnh nhân có loại
da III hoặc cao hơn vì những bệnh nhân này
có nguy cơ cao bị tăng sắc tố sau viêm. Nêu
tăng sắc tố sau viêm xuất hiện, có thể sử
dụng kết hợp các hoạt chất trắng da bôi, hoạt
chất peel nhẹ, và kem chống nắng để giúp tối
ứu hiệu quả điều trị.
Kết luận
Ngoài tác động hiệp đồng giúp trẻ hóa
da tổng thể và cải thiện kết quả thẩm mỹ,
việc kết hợp dược mỹ phẩm vào chăm sóc
da có thể giảm thiểu các tác dụng phụ và
biến chứng không mong muốn, lành thương
nhanh sau thủ thuật và tăng sự hài lòng của
bệnh nhân. Lựa chọn một kế hoạch điều trị
tổng thể kết hợp các chất bôi ngoài da với
các thủ thuật thẩm mỹ đảm bảo mang lại kết
quả tốt nhất cho bệnh nhân. Tuy nhiên, việc
khuyến khích bệnh nhân thực hiện chế độ
chăm sóc da hàng ngày mới thực sự là điều
quan trọng nhất trong việc tăng cường sức
khỏe tổng thể cho làn da của họ.
Further reading
Alster TS, West TB. Effect of topical vita-
min c on postoperative carbon dioxide laser
resurfacing erythema. Dermatol Surg 1998;
24(3): 331-334.
Brightman LA, Brauer JA, Anolik R, et al.
Ablative and fractional ablative lasers. Der-
matol Clin 2009; 27: 479-489.
Elson ML. Topical phytonadione (vitamin
KI) in the treatment of actinic and traumatic
275
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
purpura. Cosmet Dermatol 1995; 8: 25-27.
Freedman BM. Topical antioxidant ap-
plication augments the effects of intense
pulsed light therapy. J Cosmet Dermatol
2009; 8(4): 254-259.
Goldman MP. The use of hydroquinone
with facial laser resurfacing. J Cutan Laser
Ther 2000; 2(2): 73-77.
Hevia o, Nemeth AJ, Taylor JR. Tretinoin
accelerates healing after trichloroacetic acid
chemical peel. Arch Dermatol 1991; 127(5):
678-682.
Lee WR, Shen sc, Kuo-Hsien w, Hu CH,
Fang JY. Lasers and microdermabrasion en-
hance and control topical delivery of vitamin
c. J Invest Dermatol 2003;121(5): 1118-1125.
Leu s, Havey J, White LE, Martin N, Yoo
ss, Rademaker AW, et al. Accelerated reso
lution of laser-induced bruising with topical
20% arnica: A rater-blinded randomized con-
trolled trial. Br JDermatol 163(3): 557-563.
Lim JT. Treatment of melasma using
kojic acid in a gel containing hydroquinone
and glycolic acid. Dermatol Surg 1999; 25(4):
282-284.
Soliman MM, Ramadan SA, Bassiouny
DA, Abdelmalek M. Combined trichloroacetic
acid peel and topical ascorbic acid versus tri-
chloroacetic acid peel alone in the treatment
of melasma: A comparative study. J Cosmet
Dermatol 2007; 6(2): 89-94.
276
Dược mỹ phẩm giúp tăng cường hiệu quả của các thủ thuật thẩm mỹ
Chương 28 _
277
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
29
TƯƠNG LAI
CỦA
DƯỢC MỸ PHẨM
C
h
ư
ơ
n
g
Patricia K. Farris
Tulane University School of Medicine,
New Orleans, LA, USA
278
Tương lai của dược mỹ phẩm
Chương 29 _
Giới thiệu
Ngày nay, người tiêu dùng đang tìm
kiếm phương pháp chăm sóc da theo hướng
khoa học để có thể cải thiện da, ngăn ngừa
lão hóa, bảo vệ làn da khỏi tác hại của môi
trường và cung cấp cho họ các lựa chọn điều
trị với vô số vấn đề về da. Họ muốn các sản
phẩm có nguồn gốc tự nhiên, không gây kích
ứng, không chất bảo quản, thân thiện với môi
trường và được kiểm nghiệm đầy đủ. Đây là
một yêu cầu cao đối với các nhà sản xuất,
bên phải cân bằng giữa độ an toàn, tính ổn
định và hiệu quả của sản phẩm trong khi
đồng thời đáp ứng các nhu cầu của người
tiêu dùng. Tương lai của ngành dược mỹ
phẩm dựa vào sự đổi mới sáng tạo. Việc xác
định các khía cạnh nhỏ nhất của sản phẩm,
các hoạt chất mới và hệ thống phân phối sản
phẩm hiệu quả hơn chắc chắn sẽ tạo chỗ
đứng cho rất nhiều sản phẩm dược mỹ phẩm
mới với các ứng dụng lâm sàng rộng rãi hơn
trong tương lai.
Mặc cho những nỗ lực cao nhất của
ngành, thì người tiêu dùng vẫn sẽ có những
hoài nghi về dược mỹ phẩm. Họ bối rối với
các thành phần và không tin tưởng trước
những công dụng mà nhà sản xuất công bố
về sản phẩm, dẫn đến họ tự hỏi liệu những
sản phẩm này có thực sự đáng tiền hay
không. Khi mua sắm dược mỹ phẩm, người
tiêu dùng còn hoang mang bởi nhãn mác trên
bao bì không rõ ràng, thiếu thông tin cụ thể
bao gồm nồng độ của các thành phần hoạt
chất chính. Nhiều điều trong số những lo ngại
đó có thể được giải quyết nếu các quy định
nghiêm ngặt hơn được đưa ra đối với các sản
phẩm dược mỹ phẩm. Ngoài ra còn có những
thách thức đáng kể phải được giải quyết đề
các loại dược mỹ phẩm được hợp thức hóa
trong mắt các bác sĩ. Nhiều bác sĩ da liễu cho
rằng họ không tin vào hiệu lực của các loại
dược mỹ phẩm vì chúng thiếu sự kiểm tra
nghiêm ngặt mang tính khoa học như được
áp dụng cho dược phẩm. Đây là một phản
ánh hợp lý mà chỉ có thể được giải quyết nếu
các nhà sản xuất kiểm tra sản phẩm một cách
khách quan để chứng minh cho các tuyên bố
của họ. Điều đảng khích lệ là một số dược
mỹ phẩm mới hơn đã được thử nghiệm trong
các nghiên cứu được thiết kế mù đôi, có đối
chứng để xác định về hiệu quả của chúng. Đê’
hỗ trợ các bác sĩ thành viên thu thập thông
tin đáng tin cậy vê’ dược mỹ phẩm, Học viện
Da liễu Hoa Kỳ (AAD) đã thành lập Nhóm làm
việc về Thuốc bổ sung và Thay thế Nhóm
này bao gồm các bác sĩ da liễu và thành viên
của các cơ quan quản lý điều tiết quy định về
dược mỹ phẩm. Thông qua nhóm này, chúng
tôi hy vọng sẽ cung cấp cho các thành viên
AAD khả năng tiếp cận dễ dàng với dữ liệu an
toàn và có giá trị vê các sản phẩm dược mỹ
phẩm và các phương pháp điều trị thay thế
khác.
Những thách thức cho tương
lai
Công thức sản phẩm: Các thành
phần hoạt tính và hệ thống phân
phối
Việc xác định và phát triển các thành
phần hoạt tính mới chính là điều cần thiết
để mở rộng thị trường dược mỹ phẩm.
Nghiên cứu về cơ chế bệnh sinh của lão hóa
da đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo
ra các hoạt chất mới. Những nghiên cứu này,
đa số trong đó được tiến hành bởi các nhà
sản xuất, được sử dụng để xác định các mục
tiêu trong quá trình lão hóa nơi các thành
phần dược mỹ phẩm mới cỏ thê’ tác động.
Sử dụng phân tích mảng gen, các nhà hóa
mỹ phẩm giờ đây có thể sàng lọc các hoạt
chất tiềm năng và nhanh chóng xác định các
ứng dụng tiềm năng và lợi ích sinh học của
chúng. Nhiều hoạt chất mới hơn có nhiều tác
dụng sinh học cùng lúc như làm sáng màu
da, tăng cường sản xuất collagen và giảm
tình trạng viêm. Những thành phần này, được
gọi là hoạt chất đa tác dụng, được săn lùng
vì chúng cải thiện vẻ ngoài của da bằng cách
tiếp cận đa cơ chế. Các thành phần tự nhiên
279
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
và tổng hợp có thể được sử dụng trong lĩnh
vực này, đang được tiến hành nghiên cứu và
phát triển để xác định các hợp chất mới có
nhiều cơ chế hoạt động.
Do người tiêu dùng tiếp tục quan tâm
đến các hoạt chất được chiết xuất từ tự
nhiên, nên chúng ta chắc chắn sẽ thấy nhiều
sản phẩm chăm sóc da được chào hàng với
các thành phần có nguồn gốc từ thực vật
hơn. Giờ đây thực vật có thể được trồng và
chăm bón theo cách để tối ưu hóa thu được
các thành phần mong muốn. Tế bào gốc
thực vật có thể được sử dụng để tạo ra các
hợp chất có hoạt tính sinh học và hứa hẹn
là nguồn cung cấp các thành phần tự nhiên.
Dược mỹ phẩm có nguồn gốc từ biển là
nhóm sản phẩm từ tự nhiên mới nổi tiêu biểu
cho một giới hạn mới thú vị cho các nhà sản
xuất dược mỹ phẩm. Tảo là một nguồn tài
nguyên đặc biệt phong phú, chứa nhiều hợp
chất có hoạt tính sinh học. Chất chống oxy
hóa có nguồn gốc từ biển, polysaccharides,
collagen, peptides và chitin có hoạt tính sinh
học là những thành phần chức năng đầy hứa
hẹn cho ngành dược mỹ phẩm. Các thành
phần tổng hợp mới cũng sẽ đóng một vai trò
trong bức tranh thị trường đang phát triển
này. Một trong những nhóm dược mỹ phẩm
phát triển nhanh nhất bao gồm các loại chứa
peptide có hoạt tính sinh học có tác dụng đa
dạng. Các thành phần tổng hợp này sao y
tương tự như các peptide có trong da người
và mang lại những lợi ích độc đáo. Và cuối
cùng, các sản phẩm chăm sóc da tự thân sẽ
là sản phẩm tối ưu cho những ai muốn chăm
sóc da một cách tự nhiên. Các loại dược mỹ
phẩm này sử dụng các tế bào gốc của chính
người dùng để tạo ra các yếu tố tăng trưởng
và các hợp chất làm trẻ hóa da khác. Chúng
ta chắc chắn sẽ thấy được nhiều nghiên cứu
và sự phát triển hơn trong lĩnh vực sinh học
da đầy hứa hẹn này.
Da là một hàng rào bảo vệ vững chắc đối
với sự xâm nhập của các thành phần dùng
ngoài da. Trước đây, điều này được coi làm
hạn chế tính hiệu quả của dược mỹ phẩm và
cho đến giờ vẫn là mối quan tâm chính của
ngành công nghiệp này.
Hệ thống phân phối là cần thiết để
ổn định thành phần, tác dụng đúng nơi và
giảm thiểu tác dụng phụ gồm cả kích ứng.
Việc tạo ra công thức gặp khó khăn bởi kích
thước phân tử, điện tích và liệu thành phần
hoạt tính có bản chất tự nhiên là ưa béo hay
ưa nước. Mối quan tâm này được giải quyết
bằng hệ thống phân phối sản phẩm mới hơn
bằng cách tạo được các kênh nước trong lớp
sừng, cho phép thẩm thấu cả các phân tử
ưa nước và ưa béo. Ngoài ra, vì hầu hết các
loại dược mỹ phẩm ngày nay đều chứa kết
hợp đồng thời các thành phần hoạt chất, nên
cách các hoạt chất liên kết với nhau về độ ổn
định và khả năng xâm nhập vào da là thách
thức thêm với các nhà hóa mỹ phẩm. Thực
tế, các công nghệ bao nang mới sẽ được sử
dụng để ổn định và phân phối độc đáo của
các thành phần hoạt chất cho da theo thời
gian, làm tăng hiệu quả của sản phẩm cũng
như cải thiện khả năng dung nạp. Theo quan
điểm của những tiến bộ vượt trội về hệ thống
phân phối các thành phần hoạt tính, hiệu quả
của dược mỹ phẩm hiện có thể được cho
là do hoạt chất và hệ thống phân phối hoạt
chất đó. Sau cùng, độ an toàn của hệ thống
phân phối như hạt nano tiếp tục là một dấu
chấm hỏi còn đang tồn tại. Chỉ thông qua các
nghiên cứu về mức độ an toàn dài hạn, chúng
ta mới có thể trấn an người tiêu dùng rằng
các kết cấu sản phẩm này có an toàn hay
không để tiếp tục sử dụng trong các sản
phẩm chăm sóc cá nhân.
Trong tương lai, các công ty mỹ phẩm
cũng xác định nhu cầu và lợi ích của việc sử
dụng các thiết bị tại nhà nhằm tăng cường độ
thẩm thấu các thành phần chăm sóc da. Các
thiết bị dùng điện tại nhà, bao gồm cả những
thiết bị phát điện dòng galvanic, đã được các
công ty mỹ phẩm kết hợp tiếp thị trên thị
trường cùng với dược mỹ phẩm. Phi kim đã
thu hút được sự quan tâm và hiện đang được
các công ty dược mỹ phẩm lớn phân phối để
tăng độ thẩm thấu của sản phẩm. Laser, liệu
pháp ánh sáng và các công nghệ dựa trên
thiết bị khác hiện đang được các nhà sản
280
Tương lai của dược mỹ phẩm
Chương 29 _
xuất mỹ phẩm đánh giá cao để sử dụng như
chất tăng cường độ thâm nhập sản phẩm.
Những thiết bị này sẽ đi kèm việc tiếp thị
dược mỹ phẩm để cung cấp cho người tiêu
dùng những công nghệ tiên tiến mà trước
đây chỉ có ở các cơ sở y tế hoặc spa.
Thực hành lâu bền
Khái niệm về tính lâu dài đang ảnh hưởng
đến tất cả các mặt hàng tiêu dùng bao gồm
các sản phẩm sức khỏe và sắc đẹp. Mục tiêu
của sản xuất lâu dài là đảm bảo rằng mọi thứ
sau khi được đưa vào quy trình sẽ được trả lại
môi trường một cách tích cực. Đối với trường
hợp tính lâu dài của dược mỹ phẩm được áp
dụng cho cả công thức và bao bì. Thực hành
nông nghiệp tốt (GAP) là điều cần thiết cho
sự lâu dài ấy. Việc trồng các loại cây lâu năm
để sử dụng như một nguồn tài nguyên thực
vật cho mỹ phẩm đòi hỏi phải có kiến thức,
kỹ năng và sự cam kết. Nhìn chung, nông ng-
hiệp phương Tây có lợi thế hơn so với nông
nghiệp ở các nơi khác trên thế giới vì ngày
càng có nhiều quy định bởi luật pháp, dẫn
đến các hoạt động nông nghiệp lâu dài hơn.
Ngoài việc trồng trọt, việc chế biến thực vật
cũng phải được thực hiện một cách lâu bền.
Dung môi được sử dụng trong quá trình chiết
xuất cũng có thể để xót lại ảnh hưởng với môi
trường và đã bị một số nhà sản xuất loại bỏ.
Và cuối cùng, mối bận tâm ngày càng lớn về
tác động của nhựa có nguồn gốc từ các sản
phẩm chăm sóc cá nhân và hàng hóa đóng
gói khác đối với môi trường của chúng ta.
Thiết kế bao bì, lựa chọn vật liệu, tái chế và
tái sử dụng các thành phần bao bì sẽ đóng
vai trò quan trọng khi bao bì sử dụng lâu dài
được sử dụng cho ngành chăm sóc da.
Ngoài dược mỹ phẩm: Dược thực
phẩm (Nutraceutical)
Mỹ phẩm dinh dưỡng (Nutricosmetics)
là một lĩnh vực y học chống lão hóa mới nổi
và ngày càng được các bác sĩ da liễu quan
tâm. Khoa học liên kết giữa dinh dưỡng, lão
hóa da và sức khỏe làn da đã làm tăng nhu
cầu về thực phẩm bổ sung có thể được sử
dụng như một phần trong chương trình toàn
diện để cải thiện ngoại hình. Quan niệm về vẻ
đẹp từ bên trong không chỉ chiếm lĩnh ở các
quốc gia như Nhật Bản, Trung Quốc, mà vẫn
đang mở rộng ra ở Mỹ và Châu u. Người tiêu
dùng ở Nhật Bản và các nước châu Á khác đã
chấp nhận quan điểm rằng sức khỏe làn da và
ngoại hình phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng
tốt. Doanh thu từ mỹ phẩm dinh dưỡng bao
gồm thực phẩm chức năng và chất làm đẹp
bổ sung được công bố là 1,3 tỷ đô la ở Nhật
Bản vào năm 2010 so với 60 triệu đô la ở Mỹ.
Thị trường toàn cầu dự kiến đạt 4,24 tỷ đô
la vào năm 2017, theo tập đoàn đa quốc gia
Global Industry Analysts. Thực phẩm và đồ
uống làm đẹp là một trong những loại thực
phẩm bổ sung dinh dưỡng phổ biến nhất ở
Nhật Bản. Những sản phẩm này chứa các
thành phần như chất chống oxy hóa, rong
biển, collagen, và có một số nghiên cứu công
nhận lợi ích của chúng cho làn da. Việc công
nhận các sản phẩm này ít nhất một phần là
do Nhật Bản có quy trình phê duyệt một số
sản phẩm dựa trên việc các sản phẩm thực
phẩm đó là loại thực phẩm để sử dụng cho
sức khỏe cụ thể (Foods for Specific Health
Use -FOSHU). Để một sản phẩm được duyệt
là FOSHU, các nhà sản xuất phải hoàn thành
quy trình đăng ký cung cấp tài liệu khoa học
chứng minh cơ sở y khoa hoặc dinh dưỡng
cho tác dụng sức khỏe của sản phẩm. Thông
tin này bao gồm liều lượng, độ an toàn, thông
tin về thành phần và mọi giấy tờ liên quan. Sau
khi được chấp thuận thông qua, những yêu
cầu cụ thể về sức khỏe đó xem như đã được
phê duyệt. Ở Mỹ, hầu hết các loại mỹ phẩm
dinh dưỡng được FDA phân loại là thực phẩm
chức năng mà phần lớn cho đến gần đây vẫn
chưa được kiểm soát. Năm 2011, FDA đã
khởi xướng các yêu cầu như một phần của
Đạo luật Hiện đại hóa An toàn Thực phẩm
(FSMA), theo đó các nhà sản xuất phải thông
báo cho cơ quan khi sử dụng một thành phần
dinh dưỡng mới (new dietary ingredient-NDI).
Thông báo phải bao gồm thông tin làm cơ sở
để các nhà sản xuất kết luận rằng một loại
thực phẩm bổ sung có chứa thành phần mới
281
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
này sẽ an toàn trong điều kiện sử dụng đã
được khuyến nghị hoặc đã đề xuất trên nhãn
bao bì. Loại yêu cầu này tạo ra sự minh bạch
khi đưa các thành phần mới vào thị trường
và sẽ mang lại cho người tiêu dùng mức độ
hiểu biết cao hơn đối với các sản phẩm dinh
dưỡng. Mỹ phẩm dinh dưỡng vẫn dẫn đầu
trong danh mục sắc đẹp và sức khỏe với tiềm
năng phát triển vượt bậc ở Mỹ, Châu u và
trên toàn thế giới.
Kết luận
Dược mỹ phẩm tiếp tục là một phân khúc
đang phát triển của thị trường chăm sóc cá
nhân. Mặc dù nhu cầu ngày càng lớn nhưng
sự cạnh tranh cũng ngày càng gia tăng.
Những thách thức đang phải đối mặt của các
nhà sản xuất trên toàn thế giới gồm việc tìm
ra các thành phần mới, hệ thống phân phối
sản phẩm tốt hơn và làm cho sản phẩm trở
nên thân thiện hơn với môi trường. Những xu
hướng mới bao gồm việc sử dụng thực phẩm
chức năng, thực phẩm bổ sung dinh dưỡng
và các thiết bị tại nhà cùng với mỹ phẩm với
tư cách một cách tiếp cận toàn diện để duy
trì sức khỏe tổng thể.
Further reading
Anuciato TP, et al. Carotenoids and poly-
phenols in nutricosmetics, nutraceuticals
and cosmeceuticals. J Cosm Derm 2012; 11:
51-54.
Cosgrove MC, Franco OH, Granger SP, et
al. Dietary nutrient intakes and skin-aging ap-
pearance among middle-aged women. Am J
Clin Nutr 20Ó7; 86: 1225-1231. Draelos ZD.
Cosmeceuticals: Un-defined, unclassified
and un-regulated. Clin Dermatol 2009;27:431-
434.
Dreno B. New assessment methods ap-
plied to a patented lacto-lycopene, soy isofla-
vones and vitamin c in the correction of skin
aging. Nouv Dermatol 2003; 22: 1-6. Izumi T,
Saito M, Obata A, et al. Oral intake of soy iso-
flavone aglycone improves the aged skin in
adult women. JNutr Sci Vitaminol 2007; 53:
57-62.
Nino M, Calabro G, Santoianni p. Topi-
cal delivery of active principles: The field of
dermatological research. Dermatol Online J
2Ó10; 16(1 ):6.
Piccardi N, Manissier p. Nutrition and
nutritional supplementation: Impact on skin
health and beauty. Dermato-Endo 2001; 5:
271-274.
Thornfeld CR. Cosmeceuticals: Separat-
ing fact from voodoo science. SkinMed 2005;
4(4): 214-220. . . ‘i .
Yamakoshi J, Sano A, Taokutake s, et al.
Oral intake of proanthrocyandin-rich extract
from grape seeds improves chloasma. Phy-
totherapy Research 2004; 18: 895-899.
282
Tương lai của dược mỹ phẩm
Chương 29 _
