Dược-mỹ-phẩm-và-ứng-dụng-trong-thẩm-mỹ-1

19/11/2025 • by Bs CKI Phẫu thuật tạo hình, tái tạo và thẩm mỹ Trương Hoài Anh • laser
Ảnh bìa cuốn sách Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ của Patricia K. Farris

Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ

Dược mỹ phẩm là sự kết hợp giữa mỹ phẩm và dược phẩm, đem lại lợi ích điều trị vượt trội so với mỹ phẩm thông thường, là một trong những phân khúc phát triển nhanh nhất của thị trường chăm sóc cá nhân. Cuốn sách này cung cấp kiến thức chuyên sâu về cách các loại dược mỹ phẩm được phát triển, thử nghiệm, cơ chế hoạt động của các thành phần chính, và ứng dụng của chúng trong thực hành lâm sàng.

Tóm tắt nội dung chính

Cuốn sách được chia thành ba phần chính:

  • Phần I: Phát triển, Công thức và Đánh giá Dược mỹ phẩm: Tập trung vào cách thức phát triển, thử nghiệm, quy định pháp lý và quy trình đánh giá tính an toàn, hiệu quả của dược mỹ phẩm. Chương nổi bật bao gồm định nghĩa, thị trường dược mỹ phẩm, quá trình phát triển sản phẩm, và các phương thức tăng cường độ thâm nhập vào da như nhũ tương, liposome, và công nghệ nano.
  • Phần II: Thành phần Dược mỹ phẩm: Đi sâu vào cơ chế hoạt động và lợi ích lâm sàng của các thành phần hoạt tính quan trọng. Các chương tiêu biểu bao gồm:
    • Axit Hydroxy Alpha, Poly và Bionic: Phân loại, cơ chế tẩy tế bào chết, tăng sinh collagen, và ứng dụng trong điều trị nếp nhăn, tăng sắc tố, và tình trạng tăng sừng.
    • Vitamin A Retinoids: Cơ chế hoạt động ở cấp độ phân tử, tác dụng lâm sàng của Retinol, Retinaldehyde, và Tretinoin trong điều trị lão hóa da do ánh sáng.
    • Vitamin C (L-ascorbic acid) và Chất chống oxy hóa: Vai trò chống oxy hóa, bảo vệ quang học, kích thích tổng hợp collagen, và làm sáng da.
    • Niacinamide (Vitamin B3): Lợi ích lâm sàng đa dạng như giảm tiết bã nhờn, thu nhỏ lỗ chân lông, cải thiện nếp nhăn, giảm tăng sắc tố, và củng cố hàng rào bảo vệ da.
    • Peptides có Hoạt tính sinh học và Yếu tố Tăng trưởng (GFs): Cơ chế truyền tín hiệu để kích thích tăng sinh collagen, phục hồi vết thương, và ứng dụng trong trẻ hóa da.
  • Phần III: Ứng dụng Lâm sàng Dược mỹ phẩm: Trình bày các ứng dụng thực tế trong điều trị các bệnh lý da phổ biến và hỗ trợ các thủ thuật thẩm mỹ. Các chương chi tiết về điều trị mụn trứng cá, tăng sắc tố, trứng cá đỏ, sần vỏ cam, rụng tóc, ngăn ngừa và điều trị sẹo. Đồng thời, thảo luận về việc kết hợp dược mỹ phẩm để tăng hiệu quả của các thủ thuật thẩm mỹ như peel da và laser.

Cuốn sách là một nguồn tài nguyên chuyên môn đáng tin cậy, giúp các bác sĩ lâm sàng, nhà nghiên cứu và các chuyên gia thẩm mỹ cập nhật kiến thức về thị trường dược mỹ phẩm đang phát triển nhanh chóng và đưa ra các chế độ chăm sóc da dựa trên bằng chứng khoa học cho bệnh nhân.

Trang: / 284
Trang 1 Trang 2 Trang 3
📖 Xem bản dịch / Nội dung văn bản

49
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
5
DƯỢC PHẨM
VÀ
DƯỢC MỸ PHẨM NANO

C
h
ư
ơ
n
g
Adnan Nasir
University of North Carolina at Chapel
Hill, Chapel Hill, NC, USA

50
Dược phẩm và dược mỹ phẩm nano
Chương 5 _
Giới thiệu
Công nghệ nano là ngành nghiên cứu vật
liệu có kích thước 1-100 nm. Các lĩnh vực liên
quan đến công nghệ nano bao gồm y sinh,
quang học, điện tử, hóa học, kỹ thuật, thực
phẩm và mỹ phẩm. Y học nano và nano trong
da liễu học được chi phối bởi hệ thống phân
phối thuốc phân tử nano. | Các hạt nano có
trong tự nhiên bao gồm virus, protein vận
chuyển lipid, endosome và những thể vùi
vi khuẩn. Vật liệu nano tổng hợp (hạt nano,
ống nano cacbon, dây nano, fullerene, chấm
lượng tử) có thể có những đặc điểm và hình
thái (hóa học, vật lý, sinh học, điện tích) khác
so với hầu hết các bản sao của chúng. Các
hạt nano có khả năng vượt qua các hàng rào
sinh học, tích tụ có chọn lọc tại các vị trí có
khối u hoặc viêm nhiễm, đồng thời tăng khả
năng hòa tan thuốc và các thành phần hoạt
tính khác. Những điều này tiềm ẩn những lợi
ích cũng như rủi ro cho các nhà sản xuất,
người vận chuyển và người tiêu dùng. Các
tiêu chuẩn đã được phát triển ở Mỹ, Châu u
và Nhật Bản để đánh giá những mối nguy
hiểm này và cho phép đưa ra các quy trình xử
lý và tiêu hủy phù hợp để giảm thiểu độc tính
và sự tiếp xúc với môi trường nhằm thúc đẩy
nghiên cứu và thương mại hóa công nghệ
nano.
Công nghệ nano trong da
liễu
Da liễu cần có phương pháp điều trị mới.
Trong vài năm qua cơ quan Quản lý dược
phẩm và thực phẩm của Mỹ đã phê duyệt rất
ít các liệu pháp điều trị mới cho bệnh da liễu.
Tương lai của da liễu đòi hỏi phải tạo ra nhiều
phương pháp điều trị mới, mang lại mục đích
mới cho các phương pháp điều trị hiện có
với chỉ định mới hoặc nâng cao phương thức
điều trị. Với công nghệ nano, tất cả điều này
là có thể.
Các hạt nano được sử dụng trong mỹ
phẩm bao gồm nhũ tương nano, tinh thể
nano, micelles, viên nang nano cao phân tử,
niosome, liposome, chất mang lipid cấu trúc
nano, hạt nano lipid rắn, dendrimer, fullerene
và ống nano carbon. Các hạt nano dùng trong
lọc tia cực tím bao gồm hạt nano khoáng
chất có chứa kẽm, sắt hoặc titan. Các hạt
nano carbon bao gồm ống nano carbon và
fulleren đang được khám phá về các đặc tính
chống oxy hóa mạnh của chúng.
Chất mang nano
Một trong những điểm nổi bật của công
nghệ nano là sự phát triển của các chất mang
nano. Mục đích của chất mang nano là đóng
gói, vận chuyển một cách an toàn và chắc
chắn một phần của vật chủ (có thể là một
mô, tế bào, hoặc là cấu trúc dưới tế bào) đến
một nơi khác một cách có kiểm soát. Vật liệu
nhang nano tồn tại sẵn trong tự nhiên. Chúng
bao gồm virus bảo vệ, vận chuyển DNA và
RNA của virus; hạt nano lipoprotein dùng để
đóng gói và vận chuyển lipid kỵ nước trong
môi trường nước của huyết tương; exosome
là những túi có kích thước nano chứa các mi-
croRNA điều hòa là trung gian giao tiếp giữa
tế bào – tế bào. Vật mang nano lý tưởng phải
an toàn, ổn định và có khả năng vận chuyển
một hay nhiều chất hoạt động. Ví dụ về chất
mang nano tổng hợp bao gồm liposome, nio-
some, ethosome và các hạt nano đa chức
năng (Hình 5.1, 5.2 và 5.3). Bằng kỹ thuật kích
thước, hình ảnh và các đặc tính hóa lý của
các hạt nano, có thể đưa các thành phần hoạt
tính đến các vị trí mong muốn trong thượng
bì hoặc trung bì với độc tính tối thiểu. Độ sâu
và tốc độ thẩm thấu của thuốc có thể được
tăng cường bởi công nghệ phần phối nano.
Sửa đổi và chức năng hỏa
hạt nano
Kỹ thuật của các hạt nano để thiết kế các

51
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
thông số kỹ thuật (chẳng hạn như khả năng
khếch tán mong muốn, tính ổn định, tính sinh
khả dụng, mô đích, động học) dựa vào chức
năng hóa cẩn thận. Điều này đạt được thông
qua nhiều phương tiện.
Hinh 5.1 Phân tử nano: hạt rắn (trái), lõi hoạt tính (giữa), vỏ hoạt tính (phải)

52
Dược phẩm và dược mỹ phẩm nano
Chương 5 _
Hình 5.3 Elastic liposome xâm nhập vào các khoảng liên bào của tế bào sừng
Ví dụ như, liên kết cộng hóa trị amide,
este hoặc kết nối avidin-biotin, liên kết điện
tích, van der Waals, khả năng trộn lẫn chọn
lọc hoặc trùng phân phân lớp. Các hạt cần
được thiết kế để kiểm soát tính ổn định cũng
như đặc tính tích hợp của chúng. Các lớp
phủ như polyethylen glycol bảo vệ các hạt
nano khỏi quá trình thanh thải của hệ lưới
nội mô. Điện tích của hạt có thể ảnh hưởng
đến độ thẩm thấu. Ví dụ như, liposome tích
điện dương có thể đi sâu vào nang lông hơn
liposome tích điện âm. Màng tế bào tích điện
âm, và các hạt nano mang điện tích dương
thì đễ dàng thẩm thấu hơn so với các hạt tích
điện âm.

Phân tử nano trong da liễu
Bảo vệ quang học
Nhiều nghiên cứu đoàn hệ lớn và kéo dài
đã xác định vai trò quan trọng của việc ngừa
ung thư tế bào hắc tố và ung thư da tế bào
không hắc tố bằng cách chống nắng. Các
phương pháp bảo vệ quang học truyền thống
bao gồm chất ngăn chặn vật lý, chất chống
oxy hóa và chất tăng cường sửa chữa DNA.
Các hạt nano chứa kẽm và titan dioxide có
tác dụng tán xạ, hấp thụ và phản xạ tia cực
tím. Ban đầu có mối lo ngại về tính an toàn
của các hạt nano này, tuy nhiên các nghiên
cứu gần đây chỉ ra rằng những hạt nano này
không xâm nhập vào lớp thượng bì nguyên
vẹn hay là bị hấp thụ vào cơ thể. Kem chống
nắng vật lý vô cơ được phủ bằng silicone
hoặc dimethicone làm giảm khả năng tạo ra
các phản ứng oxy hóa..
Kem chống nắng nano phân bổ đều hơn
trên da và ít tạo khoảng trống hơn có thể
nâng cao hiệu quả bảo vệ quang học. Các
hạt nano cũng được hấp thụ chặt chẽ hơn
vào da và lưu lại trên bề mặt da lâu hơn do đó
số lần cần bôi lặp lại ít hơn. Kem chống nắng
chứa endonuclease giúp tăng cường sửa
chữa DNA có thể có lợi cho những bệnh nhân
bị suy giảm miễn dịch hoặc những người có
bệnh da di truyền ảnh hưởng đến việc sửa
chữa DNA.

53
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Kem chống nắng hiệu quả hơn khi ở dạng
phân tử nano. Kem chống nắng ưa dầu như
là 2-OH-methoxy-benzophenone (OMB) có
thể được đóng gói thành các hạt nano lipid
rắn và các hạt nano chitosan cao phân tử.
Các phân tử nano phần tán đều trên mặt da.
Việc đóng gói đặc hơn và hấp thụ đồng đều
hơin này cho phép giảm một nửa nồng độ
OMB trong các chế phẩm phân tử nano so
với dạng nhũ tương tiêu chuẩn. Việc sử dụng
ít các chất hấp thụ ánh sáng giúp tiết kiệm
chi phí sản xuất cũng như sự giảm tiếp xúc
của chúng với môi trường và người dùng. Khi
kết hợp vật mang lipid cấu trúc nano với TiO2,
OMB tạo ra một sản phẩm có chỉ số SPF cao
hơn so với việc chỉ dùng một trong hai chất.
Trẻ hóa da
Việc sử dụng retinoid để chống lão hóa
da đã được chứng minh. Retinoid liên kết với
các thụ thể nhân để tạo ra một chuỗi phản
ứng dẫn đến việc sửa chữa tổn thương da do
tia cực tím gây ra, làm mới thượng bì và tăng
sinh collagen ở lớp bì. Retinol dạng bối có thể
gây khô da và kích ứng da. Các hạt nano rắn
chứa retinol tập trung chủ yếu vào phía trên
của lớp sừng. Nó cũng giải phóng retinol từ
từ trong 6 giờ. Các đặc tính này có thể cải
thiện khả năng dung nạp và hiệu quả của
retinol. Các hạt nano lipid rắn có chứa
tretinoin và isotretinoin chỉ khu trú trong lớp
thượng bì, không có sự hấp thụ toàn thân và
giải phóng từ từ nên ít gây kích ứng hơn.
Botulinum toxin thường được tiêm vào
cơ xương đặc biệt là mặt ở các nếp nhăn. Đau
và bầm tím liên quan đến liệu pháp này có
thể được giải quyết bằng thuốc thoa tại chỗ.
Phân phối thuốc qua da được tăng cường với
các hạt nano. Các chế phẩm nano thoa của
botulinum toxin đã được nghiên cứu trên mô
hình động vật và trong các thử nghiệm thí
điểm trên người cho thấy hiệu quả làm liệt
cơ xương cũng như các nếp nhăn động. Các
tác dụng phụ như sụp mi, nhìn đôi do tự dùng
thuốc đã làm hạn chế khả năng cung cấp
thuốc tại phòng khám.
Hương liệu
Nước hoa thường chứa các hợp chất dễ
phân tán và bay hơi. Tính ứng dụng của nước
hoa được quyết định bởi mùi hương và đặc
tính tỏa hương. Việc tỏa hương nhiều sẽ dẫn
đến việc một lúc tỏa ra rất nhiều nước hoa
và sau đó thì không còn nữa. Tuy nhiên, nếu
hương liệu được liên kết quá chặt với chất
mang của chúng thì nó sẽ ổn định nhưng
giải phóng rất ít nên mất đi công dụng. Khi
hương liệu được kết hợp vào các hạt nano
lipid rắn sẽ giúp cho nước hoa và xà phòng
tỏa ra mùi hương liên tục, kéo dài. Việc sử
dụng mùi hương để xua đuổi côn trùng
cũng được khám phá. Tinh dầu chanh và N,
N-diethyl-meta-toluamide (DEET) trong các
chế phẩm liposomal đã cho thấy động học
tỏa hương bền vững.
Rám nắng
Nitric oxide có liên quan đến một số hoạt
động quan trọng của da bao gồm ngăn ngừa
mầm bệnh, lành thương và viêm (ví dụ như
bệnh vẩy nến). Vai trò của nitric oxide trong
việc nhuộm màu da bằng mỹ phẩm và bảo
vệ quang học đã được công nhận. Nó là một
chất dễ bay hơi và không ổn định. Các hợp
chất mang nano giải phóng và ổn định nitric
oxide đã phát triển để chữa lành vết thương.
Sự cải tiến trong mỹ phẩm bôi ngoài da có
thể hữu ích cho việc tạo ra một thế hệ kem
chống nắng và chất làm rám nắng mới.
Nanofiber (sợi nano)
Sợi nano là những sợi có đường kính
<1 um. Điều này cho phép tỷ lệ diện tích bề
mặt trên khối lượng rất lớn, theo thứ tự 100
m2/gm. Sợi nano có thể được sản xuất
bằng nhiều kỹ thuật khác nhau. Chất nền có
thể là tự nhiên (chitosan, collagen, gelatin,
casein, hyaluronic acid, protein to tằm, chitin,
fibrinogen) hoặc polyme tổng hợp. Có thể
kiểm soát một số thông số để tổng hợp sợi
bao gồm polyme, dung dịch polyme (trọng
lượng phân tử, độ dẫn điện, độ nhớt, sức
căng bề mặt) và cài đặt xử lý (cường độ dòng

54
Dược phẩm và dược mỹ phẩm nano
Chương 5 _
điện, hiệu điện thế, tốc độ dòng chảy, thiết kế
mao quản). Chúng cho phép chế tạo chính
xác nhiều loại sợi với hình thái, cấu trúc phân
tử và tính chất cơ học khác nhau. Các sợi
nano electrospun đã được sử dụng cho các
microgel, chế tạo mô, chữa lành thương, và
phân phối thuốc (erythromycin, methylene
blue, itraconazol, tetracylin, thuốc chữa lành
thương). Mỹ phẩm nano chứa vàng, vitamin
A và E đang được sử dụng để làm mặt nạ.
Rụng tóc
Bởi vì các phân tử nano tập trung chủ
yếu ở nang lông, do đó khám phá về việc sử
dụng chúng trong điều trị các bệnh lý về tóc
đang được mở rộng. Sự bao bọc của các chất
nuôi dưỡng nang tóc trong các phân tử nano
đã làm tăng tính thẩm của chúng so với các
chất ở dạng nước. Phân tử nano Hinokitiol
vượt trội hơn so với dung dịch nước trong
việc chuyển tóc từ giai đoạn telogen sang
giai đoạn angagen. Các hạt nano minoxil
được làm từ việc đồng trùng hợp khối của
poly ( caprolactone) và polyethylen glycol
đã tăng khả năng xâm nhập vào nang tóc.
Finasteride đã được kết hợp vào trong
liposonie để phân phối thuốc tại chỗ. Các
chất kháng adrogen như RU 58841 đã được
kết hợp vào các hạt nano lipid rắn, đã chứng
minh tăng khả năng thẩm thấu và xâm nhập
của thuốc. Các chế phẩm liposomal của
cyclosporin A kích thích lông mọc lại ở các
mô hình chuột bị rụng lông từng vùng. Các
siRNA nhỏ được đóng gói trong các vi cầu
cation rất hữu ích trong việc điều trị chứng
rụng lông từng vùng ở mô hình chuột.
Rậm lông
Các
thuốc
anti-androgen
như
là
aldosterone và cyproteroine acetate được
dùng để điều trị chứng rậm lông. Thuốc thoa
cyproterone dưới dạng phân tử nano đã được
phát triển và có lợi trong việc điều trị chứng
rậm lông. Nhóm thuốc Anti trypanosomal
như là eflornithine được dùng để kiểm soát
chứng rậm lông. Việc điều chế thuốc dưới
dạng hợp chất nano làm tăng hiệu quả điều
trị và đồng thời giảm độc tính của thuốc.
Nhuộm tóc
Chitosan là một polyelectrolyte tích điện
dương. Nó ổn định hệ thống phospholipid
lưỡng cực và có thể tạo thành phân tử nano,
màng xốp, hydrogel và
màng. Nó có ở trong biển là một chất
tương thích sinh học, phân hủy sinh học và
bám dính niêm mạc. Thuốc nhuộm tóc có
chứa chitosan ít gây ra tác dụng phụ hơn so
với thuốc nhuộm truyền thống.
Mụn trứng cá
Tuyến bã nhờn là một phần của đơn vị
nang lông tuyến bã. Các hạt nano PLGA chứa
adapalen đã được chứng minh là có hiệu
quả hơn trong điều trị mụn trứng cá và trứng
cá đỏ. Các nghiên cứu về thuốc nhuộm đã
chỉ ra rằng phân tử nano PLA xâm nhập vào
các nàng tóc và giải phóng thuốc nhuộm
vào trong các tuyến bã nhờn. Nhóm thuốc
retinoid thường gây kích ứng da, không ổn
định và có thể hấp thụ vào tuần hoàn sẽ dung
nạp tốt hơn dưới dạng phân tử nano. Benzoyl
peroxide
dạng hạt nano cho thấy khả năng dung
nạp và hiệu quả cao hơn so với các dạng
khác. Nhóm thuốc anti-androgen dưới dạng
hạt nano cũng chứng minh hiệu quả tác
động tại tuyến bã nhờn. Các hạt nano lipid
rắn chứa cyproteroine acetate nằm khu trú
chủ yếu tại tuyến bã kết quả là giảm sản xuất
bã nhờn và mụn trứng cá.
Dưới dạng bào chế này thuốc không lan
đến lớp bì xung quang dẫn đến việc giảm hấp
thụ và giảm tác dụng phụ toàn thân.
Microneedle - lăn kim vi điểm
Kim vi điểm được chế tạo để đưa những
chất có kích thước rất nhỏ vào da. Kim vi
điểm có thể có bọc hay không, và có thể đặc
hay là có lõi rỗng. Kim có thể được gắn lên
một bản hoặc là con lăn. Hiện nay, kim được
thiết kế chính xác về chiều dài, đường kính

55
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
kim và lõi. Kim vi điểm được sản xuất bằng
nhiều kỹ thuật khác nhau, một số là dựa vào
ngành công nghiệp bán dẫn. Bằng cách kiểm
soát kích thước và bề mặt kim, có thể sử
dụng chúng làm thiết bị phân phối thuốc, mỹ
phẩm một cách hiệu quả về chi phí và không
đau. Phân phối trực tiếp giúp tăng cường hiệu
quả của retinoid, hydroquinone và hyaluronic
acid đồng thời giảm thời gian sử dụng thuốc
tê lidocain. Quá trình lành thương sau sử
dụng lăn kim vi điểm có thể dẫn đến sự tích
tụ collagen tương đương với biện pháp ánh
sáng cường độ cao (IPL). Lăn kim vi điểm kết
hợp với rf vi điểm đã được chứng minh là làm
giảm sẹo do mụn trứng cá. Lăn kim vi điểm
có thể kết hợp với các liệu pháp khác để trẻ
hóa da vùng mặt đa phương thức.

Quy định và an toàn
Số lượng các chế phẩm phân tử nano
cho da đã bùng nổ trong thập kỷ qua từ vài
chục vào năm 2005, lên hơn một nghìn vào
năm 2012. Sự phát triển công nghệ nano
trong thị trường thẩm mỹ và dược phẩm da
liễu đã dẫn đến sự giao thoa trong hai lĩnh
vực này. Sự phân biệt giữa mỹ phẩm và thuốc
liên quan đến mục đích sử dụng. Nếu một
sản phẩm được quảng cáo và dán nhãn là
ảnh hưởng lên cấu trúc hoặc chứng năng của
da thì sản phẩm đó được gọi là thuốc. Tuy
nhiên, nếu nó đưa ra sự thay đổi ngoại hình
chung chung thì được coi như là một loại mỹ
phẩm. Sự xác nhận này là quan trọng, cho
dù sản phẩm có tác động lên cấu trúc hoặc
chức năng của da hay không. Ngày càng có
nhiều dược mỹ phẩm nano phát triển và khả
năng tác động của nó thông qua việc thay
đổi cấu trúc và chức năng của da ngày càng
tăng sẽ dẫn đến việc ngày càng có nhiều sản
phẩm được gọi là thuốc. Quy trình quản lý đối
với thuốc thì dài hơn và tốn kém hơn nhiều
so với quản lý mỹ phẩm. FDA đang làm việc
để phát triển các quy định nhằm giải quyết
các chồng chéo tiềm ẩn và có thể tạo ra một
danh mục phê duyệt riêng biệt cho các sản
phẩm mỹ phẩm và dược mỹ phẩm nano.
Vượt qua được rào cản trên là một trong
những mục tiêu chính của dược phẩm và
dược mỹ phẩm nano. Tuy nhiên, sự xâm
nhập của các hạt có hại không phải là một
mục tiêu mong muốn. Các đặc điểm cơ bản
của các hạt nano cần xem xét bao gồm hình
dạng, kích thước, phạm vi kích thước, chất
hoạt động bề mặt, màng bọc, tích điện, tỷ
lệ bề mặt, mật độ lỗ, độ xốp, khả năng hòa
tan trong nước, tính tích hợp, kích thước và
pha của tinh thể (ví dụ như rutile và tinh thể
anastate titanium dioxide khác nhau về phản
ứng sinh học của chúng), khả năng oxy hóa
khử, khả năng tạo các gốc tự do, khả năng
hòa tan trong nước và trong dầu.
Hiểu rõ về các đặc tính này có thể thiết
kế được cơ chế dự phòng an toàn để giảm
thiểu độc tính ví dụ như phủ siliocat và
mangan lên các hạt nano chống nắng để
ngăn chặn sự hình thành các loại phản ứng
oxy hóa và chế tạo chất liệu nano để giảm
thiểu sự xâm nhập của sản phẩm. Các
nghiên cứu về độc tính cần được thực hiện
trên nuôi cấy mô cũng như trên mô hình động
vật, đánh giá sự định vị của các hạt nano
(cho dù trên bề mặt da, hay là thâm nhập
sâu hơn), sự hấp thu vào tuần hoàn, tích lũy
sinh học, sự tồn tại và sự đào thải của các hạt
nano. Chỉ những hạt nano ít độc tính với khả
năng tương thích sinh học, phân hủy sinh học
và hiệu quả mới được xem xét sử dụng cho
người tiêu dùng.

Kết luận
Công nghệ nano là ngành khoa học về
thiết kế chính xác đến kích thước nano. Các
đặc tính độc đáo của vật chất có kích thước
này cho phép tạo ra một loại thuốc da liễu
hoàn toàn mới được gọi là dược mỹ phẩm
nano và dược phẩm nano. Việc sử dụng chất
mang nano để ổn định thành thần hoạt tính
và phân phối đúng mục tiêu, các vật liệu nano
đang được sử dụng để phục hồi sức khỏe làn
da và mang lại sức sống cho làn da cũng như
giảm thiểu các bệnh về da. Bởi vì sự chồng

56
Dược phẩm và dược mỹ phẩm nano
Chương 5 _
lấp giữa mỹ phẩm và thuốc trong lĩnh vực
công nghệ nano, do chính sách quản lý phê
duyệt hiện hành rất khác nhau của cả hai nên
các khuôn khổ quy định mới nhằm thúc đẩy
việc giới thiệu vật liệu nano trong y học cũng
như xã hội một cách an toàn, chi phí hợp lý
cần được phát triển. Công nghệ nano báo
trước một kỷ nguyên đổi mới và phát triển
trong lĩnh vực da liễu.

Further reading
Badran MM, Kuntsche J, Fahr A. Skin
penetration enhancement by a microneedle
device (Dermaroller) in vitro: Dependency
on needle size and applied formulation.
Eur J Pharm Sci 2009; 36(4-5): 511-523.
Bikowski J. Del Rosso JQ. Benzoyl peroxide
microsphere cream as monotherapy and
combination treatment of acne. J Drugs
Dermatol 2008; 7(6): 590-595. Cafardi JA,
Elmets CA. T4 endonuclease V: Review and
application to dermatology.
Expert Opin Biol Ther 2008; 8(6): 829-
838.
Nanopharmaceuticals and Nanocosme-
ceuticals
53
Clementoni MT, B-Roscher M, Munavalli,
GS. Photodynamic photorejuvenation of the
face with a combination of microneedling,
red light, and broadband pulsed light. Lasers
Surg
Med
2010;
42(2):
150-159.
Collins A, Nasir A. Topical botulinum toxin.
J Clin Aesthet Dermatol 2010; 3(3): 35-39.
Friedman A, et al. Susceptibility of Gram-
positive and negative bacteria to novel
nitric oxide-releasing nanoparticle technology.
Virulence 2011; 2(3): 217-221. Gittard S, et
al. Deposition of antimicrobial coatings on
microstereolithography-fabricated
microneedles. JOM, Journal of the
Minerals, Metals and Materials Society 2011;
63(6):
59-68. Gordon LG, et al. Regular
sunscreen use is a cost-effective approach
to skin cancer
prevention in subtropical settings. J
Invest Dermatol 2009; 129(12): 2766-2771.
Green AC, et al. Reduced melanoma after
regular sunscreen use: Randomized trial
follow-up. J Clin Oncol 2011; 29(3): 257-
263. Jenning V, Gohla SH. Encapsulation of
retinoids in solid lipid nanoparticles (SLN).
J Microencapsul 2001; 18(2): 149-158.
Kroubi M, Karembe H, Betbeder D. Drug
delivery systems in the treatment of African
trypanosomiasis infections. Expert Opin
Drug Deliv 2011; 8(6): 735-747. Kumar R, et
al. Development of liposomal systems of
finasteride for topical applications:
Design, characterization, and in vitro
evaluation. Pharm Dev Techmol 2007; 12(6):
591-601. Lademann J, et al. Influence of
nonhomogeneous distribution of topically
applied UV filters on sun protection factors.
J Biomed Opt 2004; 9(6): 1358-1362. Lee
HY, Jeong YI, Choi KC. Hair dye-incorporated
poly-gamma-glutamic acid/glycol chitosan
nanoparticles
based
on
ion-complex
formation. Int J Nanomedicine 2011; 6:
2879-2888. Munster U, et al. RU 58841-myri-
state--prodrug
development
for
topical
treatment of acne and androgenetic alopecia.
Pharmazie 2005; 60(1): 8-12. Nakamura M,
et al. Controlled delivery of T-box21 small
interfering RNA ameliorates autoimmune
alopecia (Alopecia Areata) in a C3H/HeJ
mouse model. Am J Pathol 2008; 172(3):
650-658. Pardeike J, Hommoss A, Muller
RH. Lipid nanoparticles (SLN, NLC) in
cosmetic
and
pharmaceutical
dermal
products. Int J Pharm 2009; 366(1-2): 170-
184. Pardeike J, et al. Nanostructured lipid
carriers as delivery system for the phopholi-
pase A2 inhibitors PX-18 and PX-13 for dermal
application. Pharmazie 2011; 66(5): 357–361.
Puglia C, et al. Evaluation of percutaneous
absorption of the repellent diethyltoluamide
and the sunscreen ethylhexyl p-methoxycin-

57
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
namate-loaded solid lipid nanoparticles:
An in-vitro study. J Pharm Pharmacol
2009; 61(8): 1013-1019. Rancan F, et al.
Stability of polylactic acid particles and
release of fluorochromes upon
topical application on human skin
explants. Eur J Pharm Biopharm 2012;
80(1): 76-84. Rastogi R, Anand S, Koul V.
Electroporation of polymeric nanoparticles: An
alternative
technique for transdermal delivery of
insulin. Drug Dev Ind Pharm 2010; 36(11):
1303-1311. Rolland A, et al. Site-specific
drug delivery to pilosebaceous structures
using polymeric
microspheres. Pharm Res 1993; 10(12):
1738-1744. Romero-Graillet C, et al. Nitric
oxide
produced
by
ultraviolet-irradiated
keratinocytes
stimulates melanogenesis. J Clin Invest
1997; 99(4): 635-642. Shim J, et al. Transdermal
delivery of mixnoxidil with block copolymer
nanoparticles.
J Control Release 2004; 97(3): 477-484.
Siqueira NM, et al. Innovative sunscreen
formulation based on benzophenone-3-
loaded
chitosan-coated
polymeric
nanocapsules. Skin Pharmacol Physiol 2011;
24(3): 166-174.
54
Development, Formulation and Evaluation
of Cosmeceuticals
Stecova J, et al. Cyproterone acetate
loading to lipid nanoparticles for topical acne
treatment: Particle characterisation and skin
uptake. Pharm Res 2007; 24(5): 991-1000.
Taepaiboon P. Rungsardthong U, Supaphol
P. Vitamin-loaded electrospun cellulose
acetate nanofiber mats as transdermal and
dermal therapeutic agents of vitamin A acid
and vitamin E. Eur J Pharm Biopharm 2007;
67(2): 387-397. Thery, C., Exosomes: Secreted
vesicles and intercellular communications.
F1000 Biol Rep 2011; 3: 15. Van Reeth, I.,
Beyond skin feel: Innovative methods for
developing complex sensory profiles with
silicones. J Cosmet Dermatol 2006; 5(1): 61-
67. Verma DD, et al. Treatment of alopecia
areata in the DEBR model using Cyclosporin
A lipid vesicles. Eur J Dermatol 2004; 14(5):
332-338. Villaverde A, et al. Packaging
protein
drugs
as
bacterial
inclusion
bodies for therapeutic applications. Microb
Cell Face 2012; 11(1): 76.

58
Dược phẩm và dược mỹ phẩm nano
Chương 5 _

59
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
6
CHỨC NĂNG
CỦA HÀNG RÀO DA ,
THÀNH PHẦN
VÀ CHỨC NĂNG
CỦA CHẤT DƯỠNG ẨM

C
h
ư
ơ
n
g
Dee Anna Glaser and Adam
R. Mattox
Saint Louis University School of
Medicine, St Louis, MO, USA

60
Chức năng của hàng rào da, thành phần và chức năng của chất dưỡng ẩm
Chương 6 _
Chức năng hàng rào da
Dưỡng ẩm là chức năng sinh lý bình
thường rất quan trọng đối với da. Độ ẩm da
được duy trì và điều hòa một phần nhờ chức
năng hàng rào của lớp sừng (SC). SC là lớp
ngoài cùng của da, có hoạt tính sinh học
và tự điều hòa. Lớp bao bọc bên ngoài của
thượng bì này có tính không đồng nhất, cho
phép thấm chọn lọc giúp chống lại sự mất
nước hay dưỡng ẩm quá mức. Nó phải duy
trì đủ lượng nước để hoạt động trong các
môi trường khác nhau. Tình trạng bệnh lý và
điều kiện môi trường khắc nghiệt có thể làm
tổn hại đến chức năng của hàng rào và dẫn
đến da quá khô. Kem dưỡng ẩm là các sản
phẩm thoa tại chỗ với các công thức khác
nhau được thiết kế để hỗ trợ SC trong nhiệm
vụ điều hòa độ ẩm của da. Các công thức
đặc biệt có thể chứa các chất phụ gia để hỗ
trợ tế bào SC chống lại vi khuẩn, sự oxy hóa
và bảo vệ khỏi tia UV để sửa chữa và duy trì
hàng rào nội mô.

Cấu trúc và chức năng của
lớp sừng
Một cách hình dung đơn giản và phổ
biến nhất để mô tả giải phẫu của lớp sừng là
mô hình gạch-vữa. Các tế bào lớp sừng biệt
hóa ở giai đoạn cuối cùng đại diện cho những
viên gạch, trong khi lớp lipid gian bào đại
diện cho vữa. Mặc dù đây là một khái niệm
dễ hiểu, nhưng hình ảnh của một bức tường
gạch cứng, không thấm nước và không phục
hồi trái ngược hoàn toàn với chức năng của
SC. SC có tính dẻo, bán thấm, dễ thích nghi
và có khả năng tự hồi phục.
Không còn hoạt động trao đổi chất, các
tế bào sừng đã biết hóa đến giai đoạn cuối
cùng thành tế bào lớp sừng. Trên hầu hết các
vị trí của cơ thể, SC có từ 12-16 lớp tế bào
dẹt. Mỗi lớp có độ dày xấp xỉ 1 um. Trong
lớp vỏ protein, mỗi tế bào lớp sừng bao gồm
một mạng lưới macrofibrillar keratin tổ chức
cao, không hòa tan. Chất nền protein này
có thể liên kết với một lượng nước đáng kể,
gây phồng tế bào và thay đổi hình thái. Hơn
nữa, sự sắp xếp vật lý của nhiều lớp tế bào
lớp sừng tạo ra một con đường quanh co cho
các phân tử nước đi qua trong quá trình bay
hơi. Chức năng hàng rào được cải thiện khi
chiều dài khuếch tán tăng lên.
Các tế bào sừng biệt hóa ở giai đoạn
cuối cùng chứa một lượng lớn chất cấp ẩm
tự nhiên hỗ trợ giữ nước có chọn lọc rất hiệu
quả, được gọi là Natural Moisturizing Factor
(NMF) - yếu tố dưỡng ẩm tự nhiên. NMF
bao gồm các amino acid tự do và các dẫn
xuất của chúng như pyrrolidone acid; lactate
và ure có nguồn gốc từ quá trình phân giải
protein của filaggrin. Quá trình phân giải
filaggrin được hoạt hóa bởi sự trưởng thành
và mất nước của tế bào lớp sừng, đây là một
cơ chế cân bằng nội mô hữu ích. Bằng cách
duy trì nước tự do một cách linh hoạt trong
lớp SC, NMF đã tối ưu hóa hoạt động của các
enzyme chịu trách nhiệm tổng hợp nỏ. Lượng
filaggrin được tạo ra tăng lên để đáp ứng với
các tín hiệu sinh hóa gây ra do sự tổn hại của
hàng rào bảo vệ từ chấn thương và các yếu tố
có hại từ môi trường.
Mặc dù phần lớn nước trong SC có từ
lớp thượng bì và lớp bì, nhưng trong điều kiện
thích hợp NMF có thể hấp thụ nước từ khí
quyển. Các tế bào lớp sừng ở lớp giữa của SC
có chứa nồng độ NMF có hoạt tính sinh hóa
cao nhất. Chúng giữ lại nhiều nước nhất, và
trông có vẻ phồng lên trên kính hiển vi.
Các yếu tố ngoại sinh có thể làm giảm
nồng độ NMF trong lớp sừng. NMF có thể bị
rửa trôi bởi các chất tẩy rửa thông thường.
Có một sự suy giảm đáng kể nồng độ NMF
theo tuổi. Sự suy giảm tổng hợp filaggrin
là nguyên nhân thường gặp đồng thời hiện
tượng này có thể trầm trọng hơn do suy giảm
chức năng hàng rào da theo tuổi. Lợi ích của
kem chống nắng trong kem dưỡng ẩm được
minh họa qua việc ánh sáng cực tím làm gián
đoạn sự tạo ra NMF từ quá trình phân giải
filaggrin.
Các tiểu thể lamellar trong tế bào đáy

61
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
chứa các tiền chất sinh học của lipid gian bào.
Trong quá trình trưởng thành và di chuyển
đi lên của các tế bào sừng thì lipid gian
bào như ceramide (chiếm 50% khối lượng),
cholesterol (25% khối lượng) và acid béo tự
do (10-20% khối lượng) được sản xuất và thải
ra không gian ngoại bào. Lớp lipid kép liên
bào, còn được gọi là màng lipid liền bào là
cấu trúc hoạt động chủ yếu như màng bán
thấm của SC. Theo thực nghiệm, sự khô da
xảy ra do lượng lipid bị mất đi do sự chiết
xuất dung môi, cho thấy sự đóng góp không
thể thiểu của lipid vào chức năng hàng rào
bảo vệ. Tính thấm và hiệu quả của hàng rào
bảo vệ được xác định bởi tỷ lệ lipid của SC
hiện diện trong lớp lipid kép liên bào. Kem
dưỡng ẩm được tạo ra để bắt chước sinh lý
bình thường và vận dụng sự cân bằng của
lipid gian bào nhằm tăng sự phục hồi của
hàng rào bảo vệ da.
Ngoài các lực kết dính của lớp lipid kép
gian bào, các tế bào lớp sừng còn được liên
kết với nhau bằng các cấu trúc protein liên bào
trực tiếp gọi là corneodesmosome, một mô
hình tương tác chất ức chế protease-protease
được kiểm soát phù hợp đã được đề xuất.
Tuy nhiên, cách thức phối hợp sự hoạt hóa
enzyme vẫn chưa được biết. Cuối cùng, độ
pH, hàm lượng nước và các đặc tính vật lý
của lớp lipid gian bào được cho là có tác
động lớn đến hoạt động của các enzyme.

Sự bong tróc
Da tróc vẩy là là một phản ứng trên da
phản ánh sự bong tróc bất thường. Khô da có
thể là nguyên nhân chính gây ra tình trạng bất
thường này. Tế bào lớp sừng thường bong ra
khỏi bề mặt da thành từng mảng rất nhỏ nên
khó có thể nhìn thấy. Nếu như quá trình bong
tróc diễn ra bất thường thì sẽ hình thành các
mảng bong tróc lớn hơn có thể nhìn thấy dưới
dạng vẩy với kết cấu thổ.
Để duy trì tính toàn vẹn của mố, quy
trình phức tạp của quá trình tẩy da chết bình
thường nên được điều chỉnh cần thận. Các
corneodesmosome (CD) đã được đề cập ở
trên cung cấp lực liên kết chính giữa các tế
bào sừng phải được phá hủy để sự giải phóng
xảy ra. Các protease thủy phân từ nhóm
Kallikrein chịu trách nhiệm phân cắt các liên
kết CD gian bào. Nước không chỉ là cơ chất
để thủy phân mà còn điều hòa hoạt động của
các enzyme. Sự phân hủy các demosome
giảm đáng kể ở điều kiện độ ẩm thấp dẫn đến
sự ức chế bong tróc và hình thành vảy. Duy
trì độ ẩm của SC bằng kem dưỡng ẩm có thể
giúp tối ưu hóa chức năng của các enzyme.
Để tăng hiệu quả, kem dưỡng ẩm có thể chứa
một thành phần đặc biệt như glycerin để thúc
đẩy phân tách của tế bào sừng.

Các điều kiện ngoại sinh ảnh
hưởng đến chức năng hàng
rào da
Là sinh vật sống trên cạn, da người phải
thích nghi với nhiều điều kiện môi trường khác
nhau. Độ ẩm tương đối là yếu tố môi trường
quan trọng nhất ảnh hưởng đến chức năng
hàng rào bảo vệ và độ ẩm da. Độ ẩm thấp
được cho là nguyên nhân hoặc làm nặng hơn
các rối loạn về da do giảm khả năng tạo ra
NMF. May mắn, các cơ chế bù trừ như sự
xuất bào của các tiểu thể lamellar, sự dày lên
của SC và tăng hàm lượng lipid liên bào làm
giảm sự mất nước qua thượng bì (TEWL) và
ảnh hưởng của độ ẩm thấp. Cơ chế bù trừ
thường có hiệu quả đáng kể, bằng chứng là
thời gian ở trong môi trường khô ráo sẽ dẫn
đến khả năng phục hồi hàng rào da nhanh
hơn so với môi trường ẩm ướt.
Nhiệt độ cũng ảnh hưởng nhiều đến
chức năng của hàng rào da. Hàng rào da sẽ
được phục hồi nhanh hơn khi nhiệt độ bề mặt
da được duy trì trong khoảng 36-40°C. Bên
ngoài phạm vi này, tỷ lệ hồi phục da sẽ kéo
dài. Mặc dù có cơ chế bù trừ mạnh, da sẽ cần
được điều trị trong điều kiện môi trường kéo
dài và khắc nghiệt. Hơn nữa, cơ chế bù trừ
giảm dần theo tuổi và sự hiện diện của các
bệnh lý.

62
Chức năng của hàng rào da, thành phần và chức năng của chất dưỡng ẩm
Chương 6 _
Ngoài ảnh hưởng của nhiệt độ, việc tắm
quá nhiều với xà phòng dẫn đến sự cạn kiệt
NMF và lớp lipid của SC cần thiết để duy trì
hàng rào của da. Nếu như không có công thức
phù hợp, các chất tẩy rửa hoặc kem dưỡng
ẩm như thành phẩn cấp ẩm sẽ dẫn đến tổn
thương hàng rào bảo vệ da. Các chất phụ da
khác, bao gồm chất bảo quản và hương liệu
có thể đóng vai trò là chất gây kích ứng và dị
ứng, gây ra đợt viêm da cấp.

Nước và ảnh hưởng của nó
đến lớp thượng bì
Ngoài việc ảnh hưởng đến hoạt động
của các enzyme được mô tả ở trên, nước còn
chịu trách nhiệm về nhiều đặc tính vật lý của
làn da khỏe mạnh. Nước là một trong những
thành phần quan trọng nhất để tạo độ dẻo
dai cho các lớp bề mặt của da và cho phép
chúng có thể biến dạng, tạo độ mềm mại. Tế
bào sống của lớp thượng bì có hàm lượng
nước cao đáng kể (lớn hơn hoặc bằng 70%).
Hàm lượng nước giảm mạnh khi ra ngoài
đường nối corneo-epidermal (Nghĩa là đi vào
lớp sừng) với mức bình thường là 15-30%.
Trong lớp sừng, nước liên kết với đầu ra nước
của lipid gian bào, NMF và chất nền keratin
nội bào của tế bào lớp sừng.
Lượng nước trong lớp thượng bì được
duy trì bởi glycerol nội sinh và sự phân bố của
aquaporin. Glycerol nội sinh có nguồn gốc từ
các tuyến bã nhờn và tuần hoàn hệ thống
có chức năng như chất giữ ẩm tự nhiên.
Aquaporin là các kênh liên kết màng làm
Hinh 61 Cấu trúc của da. Source: Draelos, Z. The Journal of Clinical and Aesthetic
Dermatology 2012;5(7): 55, © Matrix Medical Communications, with permission.

63
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
tăng tính thấm của màng tế bào đối với các
phân tử nhỏ không tích điện như glycerol.
Aquaporin 3 (AQP3) là dạng aquaporin nhiều
nhất trong lớp thượng bì. AQP3 cho phép
khuếch tán thẩm thấu hai chiều của glycerol
vào tế bào, kéo theo nước cùng với nó. Điều
này giải thích tác dụng kéo dài của glycerol
đối với quá trình hydrat hóa da được gọi là
hiệu ứng hồ chứa. Sự phân bố của AQP3
tương tự như sự phân bố nước trong thượng
bì vì nó hiện diện ở lớp đáy nhiều hơn so với
lớp hạt (Hình 6.1). Sự biểu hiện của các kênh
AQP3 cũng giảm do tiếp xúc với ánh nắng
mặt trời thời gian dài và trong quá trình lão
hóa da, giải thích tình trạng khô da ở người
lớn tuổi và ở người bị lão hóa do ánh sáng.
Các nghiên cứu đang được thực hiện để xác
định các hợp chất có thể làm tăng mức AQP3
và cải thiện độ ẩm của da.
Những điều cơ bản về dưỡng
ẩm
Đối với người tiêu dùng, thuật ngữ kem
dưỡng ẩm có thể gây hiểu lầm. Người ta có
thể cho rằng thuật ngữ này ngụ ý rằng sản
phẩm đang thực sự đưa độ ẩm trở lại trong
da. Tuy nhiên, kem dưỡng ẩm chứa rất ít
nước ngoại sinh đưa vào da cũng như không
kết hợp được với lipid gian bào. Kem dưỡng
ẩm chỉ đơn giản là cố gắng làm chậm tốc độ
mất nước qua lớp thượng bì (transepidermal
water loss - TEWL) và tạo môi trường tối ưu
cho da phụ hồi hàng rào SC. Như đã đề cập
ở trên, lượng nước trong lớp SC thông thường
khoảng 15-30%. Bốn bước để dưỡng ẩm đã
được mô tả là: (1) sửa chữa hàng rào da,
(2) giảm bay hơi độ ẩm trên da, (3) bắt đầu
khuếch tán độ ẩm thượng bì - bi, (4) tổng hợp
lipid gian bào. Kem dưỡng ẩm được bào chế
để thực hiện một hay nhiều bước này.
Nhũ tương
Hầu hết các sản phẩm dưỡng ẩm có
bán trên thị trường là dạng nhũ tương. Loại
nhũ tương chăm sóc da phổ biến nhất là nhũ
tương đầu trong nước (O/W). Đây là loại nhũ
tương bao gồm những giọt dầu nhỏ được
phân tán mịn trong nước. Nhũ tương đầu
trong nước có thể được sử dụng để cung
cấp nhiều thành phần hoạt tính khác nhau
bao gồm chất chống oxy hóa, petide và chiết
xuất thực vật. Nhu tương nước trong dầu
(W/O) bao gồm các giọt nước được phân
tán trong chất mang dầu và được sử dụng
chủ yếu trong sản xuất các sản phẩm kem
chống nắng. Nhũ tương nước trong silicone
(W/Si) bao gồm các giọt nước phân tán trong
silicone và được sử dụng trong các mỹ phẩm
có màu, sản phẩm chăm sóc da và kem
chống nắng.
Kem và lotion có thể được phân biệt
bằng tính chất vật lý và thành phần hóa học
của chúng. Kem đặc và bít hơn so với lotion.
Chúng chứa ít nước hơn lotion và có pha dầu
cao được tạo thành từ các chất béo nặng
hơn như sáp. Kem ưu tiên sử dụng vào ban
đêm và được dùng để điều trị các vùng đặc
biệt như quanh mắt và cổ. Lotion chứa hàm
lượng nước nhiều hơn và lượng dầu ít hơn so
với kem. Lotion ít gây bí tắc, thấm vào da dễ
dàng và có thể rót được. Những đặc tính này
làm cho lotion trở thành sự lựa chọn tuyệt vời
cho các sản phẩm dưỡng da toàn thân.

64
Chức năng của hàng rào da, thành phần và chức năng của chất dưỡng ẩm
Chương 6 _
Thành phần của chất dưỡng
ẩm
Nước
Ngoại trừ các sản phẩm nền dầu, thành
phần chủ yếu của kem dưỡng ẩm là nước
(65-95% trọng lượng). Dù da khô thiếu nước,
nhưng nước trong kem dưỡng ẩm không trực
tiếp góp phần tạo lại độ ẩm cho da. Ngay cả
việc bôi nhiều lần thì chỉ một lượng nhỏ nước
được hấp thu vào lớp sừng. Nước đóng vai
trò là chất pha loãng để tạo ra một chất có
kết cấu mỏng và pha liên tục có chứa chất
keo hoặc nhũ tương. Sau khi bôi, nước bay
hơi để lại lipid và các thành phần hoạt tính.
Chất khóa ẩm
Các chất khóa ẩm ngăn ngừa sự mất
nước từ lớp sừng bằng cách tạo ra một hàng
rào kỵ nước trên da. Petrolatum là chất giữ
ẩm được sử dụng phổ biến và hiệu quả nhất
giúp giảm TEWL tới 99%. Petrolatum thấm
vào lớp SC giúp phục hồi chức năng của hàng
rào da bằng cách kích thích tổng hợp lớp lipid
gian bào. Nhược điểm chính của petrolatum
là tạo sự nhờn bóng gây không thẩm mỹ.
Dimethicone, một polymer silicone, là
chất thay thế ít nhờn hơn cho petrolatum
và là thành phần cơ bản của tất cả các loại
kem dưỡng ẩm “không chứa dầu”. Nó là một
thành phần không gây dị ứng, không sinh
nhân mụn có thể được thêm vào công thức
để giảm nồng độ petrolatum, Lanolin là một
chất khóa ẩm hiệu quả mặt dù nó ít được sử
dụng do mùi, chi phí cao và khả năng gây dị
ứng. Dầu khoáng, parafin wax, cetyl alcohol
và stearyl alcohol là những chất khóa ẩm
được tìm thấy trong các sản phẩm dưỡng ẩm
bán sẵn trên thị trường.
Chất hút/cấp ẩm
Trong lớp sừng, chất hút ẩm thu hút và
liên kết với nước có nguồn gốc từ các lớp
dưới của da bao gồm cả lớp bì và lớp biểu bì
sống. Nếu độ ẩm môi trường vượt quá 70%,
Khóa ẩm
Hút cấp ẩm
Làm mềm
• Petrolatum
• Mineral oil
• Paraffin
• Dimethicone, cyclome-
thicone
• Vegetable and animal fats
• Lanolin
• Propylene glycol
• Stearyl stearate
• Beeswax
• Vegetable waxes
• Lecithin
• Cholesterol
• Glycerin
• Honey
• Hyaluronic acd
• Panthenol
• Urea
• Sorbital
• Sodium pyrrolidine
carboxylic acid
• Sodium lactate
• Glycolic acid
• Lactic acid
• Tartaric acid
• Propylene glycol
• Dimethicone
• Cyclomethicone
• Isopropyl myristate
• Sunflower oil
• Jojoba oil
• Palm oil
• Castor oil
• Hexyldecanol
• Oleyl alcohol
• Octyldodecanol
• Cetyl alcohol
• Stearyl alcohol
Bảng 6.1. Thành phần dưỡng ẩm chính

65
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
các phân tử hút ẩm này có thể hút một lượng
nhỏ nước từ bên ngoài. Chất hút ẩm được sử
dụng một mình làm tăng TEWL. Do đó, để
tăng khả năng giữ ẩm, chất hút ẩm phải được
kết hợp với chất khóa ẩm. Chất hút ẩm được
cho là làm giảm bớt sự khô da bằng cách gây
phồng tế bào sừng, giảm các khoảng gian
bào và làm mờ các nếp nhăn.
Glycerin là một chất hút ẩm hiệu quả cao,
có thể bối tại chỗ để tăng cường độ ẩm cho
da. Như đã đề cập ở trên, glycerin tạo điều
kiện phân giải desimosome và tăng cường
độ ẩm cho da bằng cách tạo ra hiệu ứng hồ
chứa. Glycerol dùng tại chỗ (nhưng không
phải lipid tuyến bã) đã được chứng minh là
có tác dụng điều chỉnh quá trình hydrat hóa,
là nhân tố căn bản cho các loại kem dưỡng
ẩm chứa glycerol.
Các chất hút ẩm khác thường được
sử dụng bao gồm hyaluronic acid (HA),
panthenol, sodium pyrrolidone carboxylic
acid (PCA), propylene glycol, sodium lactate,
sorbital và ure. Các alpha hydroxy acid bao
gồm lactic, glycolic và tartaric acid vừa có
chức năng hút ẩm và tẩy tế bào chết.
Chất làm mềm
Chất làm mềm góp phần tạo tính thẩm
mỹ của kem dưỡng bằng cách tăng cường
đổ mượt và mịn của da. Chất làm mềm lấp
đầy các khe nhỏ giữa các tế bào lớp sừng
bong tróc là những loại hợp chất có nguồn
gốc từ rượu hoặc este. Các acid béo chuỗi
dài như stearic, linoleic, linolenic, oleic và
lauric là những chất làm mềm tuyệt vời được
tìm thấy trong các loại dầu như dầu jojoba,
thầu dầu, cọ và dầu hướng dương. Chất làm
mềm có gốc rượu bao gồm cetyl, stearyl,
octydodecanol, hexyldecanol và oleyl alcohol
có đặc tính làm mịn da tuyệt vời, không gây
khô da thường được kết hợp với alcohol có tác
dụng se khít như isopropyl. Sự lựa chọn chất
làm mềm có thể bị hạn chế bởi các tương tác
hóa học giữa các thành phần. Ví dụ như, chất
làm mềm monoester bị thủy phân trong môi
trường pH thấp làm cho chúng không thích
hợp với các chất như hydroxy acid.
Chất nhũ hóa
Tùy thuộc vào công thức, nhũ tương có
thể được tùy chỉnh để có các đặc điểm vật lý
đa dạng. Do đó, hầu hết các loại chất dưỡng
ẩm có dạng nhũ tương nước trong dầu hoặc
dầu trong nước. Các chất phụ gia được gọi
là chất nhũ hóa dùng để giữ pha nước và
pha không phân cực của hỗn hợp lại với
nhau. Xà phòng ở nồng độ dưới 0.5% là một
trong những chất nhũ hóa phổ biến. Ở nồng
độ thấp này, xà phòng không tiếp xúc trực
tiếp với da, nó được giữ tại mặt phân cách
dầu-nước trong sản phẩm. Chất hoạt động
bề mặt là một loại chất nhũ hóa chính khác.
Chất bảo quản
Việc sản xuất và phân phối chất dưỡng
ẩm thường đòi hỏi khoảng cách và thời gian
đáng kể. Vì lý do này, đòi hỏi sản phẩm phải
cần chất bảo quản. Các nhà sản xuất dự
định sẽ cung cấp cho người tiêu dùng một
sản phẩm được bảo quản bằng vi sinh và
duy trì nguy cơ bị ảnh hưởng bởi độc hại thấp
nhất. Chất bảo quản trong kem dưỡng ẩm
ảnh hưởng đến những bệnh nhân có làn da
nhạy cảm, đặc biệt nếu có viêm da dị ứng
tiếp xúc. Patch test có thể cần thiết để xác
định các yếu tố góp phần gây dị ứng và để
hướng dẫn bệnh nhân tránh các tác nhân gây
dị ứng. Paraben và các hợp chất giải phóng
formaldehyde là những chất bảo quản thông
dụng và cũng là những chất gây viêm da dị
ứng tiếp xúc tương đối phổ biến.
Hương liệu
Một chất phụ gia khác cũng có tác dụng
có hại tiềm tàng là chất tạo mùi. Phức hợp
hương liệu chứa hàng chục thành phần riêng
biệt, bao gồm nhiều nhóm nhỏ được gọi là
nhóm hương liệu chìa khóa. Hương liệu được
thêm vào chất dưỡng ẩm để che đi mùi khó
chịu thường thấy của lipid nên mặc dù ngày
nay các sản phẩm không chứa hương liệu rất
phổ biến. Một mùi hương dễ chịu có thể tăng
cường sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân.
Một lần nữa, sự nhạy cảm với chất gây dị ứng

66
Chức năng của hàng rào da, thành phần và chức năng của chất dưỡng ẩm
Chương 6 _
tiếp xúc của bệnh nhân ảnh hưởng khi đưa ra
kiến nghị. May mắn, các loại chất dưỡng ẩm
nhẹ nhàng, không chứa hương thơm ngày
càng thịnh hành và đơn giản hóa quy trình.

Lựa chọn loại chất dưỡng
ẩm
Dưỡng ẩm da mặt Hơn cả các sản phẩm
dưỡng thể, chất dưỡng ẩm da mặt phải mang
đến cho người tiêu dùng vẻ ngoài thẩm mỹ
cao. Chất dưỡng da mặt chủ yếu được sử
dụng ở dạng lotion hoặc dạng kem. Các sản
phẩm dành cho da mặt phải an toàn, không
gây châm chích, bỏng hoặc ngứa. Các công
thức có dư lượng thấp cho phép bôi thêm các
sản phẩm mỹ phẩm sau khi dưỡng ẩm.
Các chất dưỡng da mặt chỉ có xu hướng
tác động đến nếp nhăn theo cơ chế trực tiếp
và thoáng qua. Hiệu ứng căng mọng đạt được
bằng cách gia tăng lượng nước của vùng da
quanh mắt. Chất dưỡng ẩm có thể làm đầy
các nếp nhăn nhỏ bằng cách làm mịn nhẹ bề
mặt. Chất dưỡng ẩm có màu làm đều màu
da vùng mặt bằng cách tô màu lên các vùng
tăng hoặc giảm sắc tố. Chất dưỡng ẩm chứa
chất chống nắng phổ rộng có hiệu quả ngăn
chặn tác động của ánh sáng lên quá trình lão
hóa da.
Da dầu
Những bệnh nhân có làn da dầu thường
gặp rắc rối về ngoại hình của họ, họ luôn
cảm giác khó chịu và cảm giác không sạch
sẽ. Nguồn gốc dầu của bề mặt da phụ thuộc
vào vùng của cơ thể và mật độ tuyến bã nhờn
hiện có. Ví dụ, vùng trán dầu chủ yếu được
tạo ra từ tuyến bã nhờn với sự đóng góp nhỏ
của lipid gian bào từ tế bào sừng (3-6%). Tuy
nhiên, trên lòng bàn tay phần lớn dầu nội sinh
là từ lớp thượng bì. Tuyến bã nhờn dường
như không trực tiếp góp phần vào chức năng
hàng rào da của lớp sừng. Làm sạch quá
mức để loại bỏ bã nhờn dư thừa sẽ loại bỏ
lipid ở thượng bì, dẫn đến tổn thương hàng
rào da và làm da khô quá mức. Có vẻ như
hàm lượng bã nhờn và nước trên da là những
đặc tính riêng biệt.
Có nhiều sản phẩm dưỡng ẩm được thiết
kế cho da dầu cũng tuyên bố giúp kiểm soát
dầu. Điều này thường được thực hiện bằng
cách bổ sung các chất hấp thụ dầu như bột
talc, tinh bột, và các polymer tổng hợp khác.
Da lão hóa
Các đặc điểm riêng biệt của sự lão hóa
da nội sinh và ngoại sinh góp phần vào một
sự thay đổi toàn diện. Da lão hóa nội sinh có
xu hướng ảnh hưởng nhiều đến chức năng
dưỡng ẩm và hàng rào bảo vệ da. Theo thời
gian, các tế bào sừng mất khả năng biệt hóa
và hình thành lớp sừng với sự bong tróc sinh
lý bình thường. Tốc độ hình thành lipid thượng
bì đóng góp vào chức năng hàng rào bảo vệ
da bị cũng chậm lại. Những yếu tố này kết
hợp với sự teo của các tuyến mồ hôi dẫn đến
tình trạng khô da ở người lớn tuổi. Mặc dù
không thể làm gì để đảo ngược tác động lão
hóa theo thời gian, các chủ đề được đề cập
trong chương này liên quan đến chất dưỡng
ẩm và chất tẩy tế bào chết đóng một vai trò
quan trọng trong việc tối ưu hóa chức năng
sinh lý còn lại của làn da bị lão hóa.

Kết luận
Chức năng hàng rào bảo vệ và độ ẩm da
rất cần thiết cho sức khỏe và vẻ ngoài của làn
da. Việc sử dụng chất dưỡng ẩm là một phần
quan trọng trong chế độ chăm sóc da hằng
ngày và việc lựa chọn sản phẩm thích hợp
nên dựa vào tình trạng da hiện có, tuổi tác và
sở thích cá nhân. Sự hiểu biết về cách da duy
trì độ ẩm cũng như chức năng của hàng rào
bảo vệ da đã phát triển rất nhiều trong thập
kỷ qua cho phép chúng ta tạo ra nhiều sản
phẩm dưỡng ẩm hiệu quả hơn.

67
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com

Further reading
Del Rosso JQ, Levin J: Clinical relevance
of maintaining the structural and functional
integrity of the stratum corneum: why is it
important to you? J Drugs Dermatol 2011;
10(10 Suppl):55-12. Del Rosso JQ, Levin J.
The clinical relevance of maintaining the
functional integrity of the stratum corneum
in both healthy and disease-affected skin. J
Clin Aesthet Dermatol 2011; 4(9): 22-42.
Cutaneous Barrier Function, Moisturizer
Effects and Formulation
Draelos z. Aquaporins: An introduction
to a key factor in the mechanism of skin
hydration. J Clin Aesth Derm 2012; 5(7): 53–
56. Lynde C. Moisturizers for the treatment
of inflammatory skin conditions. J Drugs
Dermatol 2008; 7(11): 1038-1043. Harding
CR. The stratum corneum: Structure and
function in health and disease. Dermatol
Ther 2004; 17 Suppl. 1: 6-15. Lee B,
Warshaw
E.
Lanolin
allergy:
History,
epidemiology, responsible allergens, and
management. Dermatitis 2008; 19(2): 63-72.
Levin J. Miller R. A guide to the ingredients
and potential benefits of over-the-counter
cleansers and moisturizers for rosacea
patients. J Clin Aesthet Dermatol 2011; 4(8):
31-49. Man MM, Feingold KR, Thornfeldt CR,
Elias PM. Optimization of physiological lipid
mixtures for barrier repair. J Invest Dermatol
1996; 106(5): 1096-1101. Rawlings AV,
Harding
CR.
Moisturization
and
skin
barrier function. Dermatol Ther 2004; 17
Suppl 1:43-48. Rawlings A, Harding C,
Watkinson A, Banks J, Ackerman C, Sabin
R. The effect of glycerol and humidity on
desmosome
degradation
in
stratum
corneum. Arch Dermatol
Res
1995;
287(5):
457-464.
Verdier-Sevrain S, Bonte F. Skin hydration: A
review on its molecular mechanisms.
J Cosmet Dermatol 2007; 6(2): 75-82.

68
Chức năng của hàng rào da, thành phần và chức năng của chất dưỡng ẩm
Chương 6 _

69
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
PHẦN II
Thành phần
DƯỢC MỸ PHẨM

70
Ứng dụng dược mỹ phẩm và lợi ích của Axit hidroxy alpha, Poly và Bionic
Chương 7 _

71
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
7
ỨNG DỤNG
DƯỢC MỸ PHẨM
VÀ LỢI ÍCH CỦA
AXIT HYDROXY ALPHA,
POLY VÀ BIONIC

C
h
ư
ơ
n
g
Barbara A. Green
SNeoStrata Company, Inc., Princeton,
NJ, USA

72
Ứng dụng dược mỹ phẩm và lợi ích của Axit hidroxy alpha, Poly và Bionic
Chương 7 _
Giới thiệu
Van Scott và Yu đã khám phá ra lợi ích
của một nhóm hợp chất mà họ đặt tên là
alpha-hydroxyacids (AHAs) gần bốn thập
kỷ trước giữa những năm 1970) khi nghiên
cứu một phương pháp điều trị rối loạn dạng
vảy cá. Ban đầu, AHA được phát hiện có tác
động sâu sắc đến quá trình sừng hóa và tẩy
tế bào chết ở lớp sừng. Nghiên cứu sau đó
đã chứng minh rằng AHA cũng có thể cung
cấp tác dụng chống lão hóa đáng kể thông
qua việc củng cố chất nền lớp bì. Cùng với
việc phát hiện ra retinoids tại chỗ, thế hệ sản
phẩm chăm sóc da chống lão hóa đã ra đời.
Cho đến ngày nay, AHA vẫn là thành phần
chăm sóc da quan trọng. Khám phá các hợp
chất hydroxyacid thế hệ tiếp theo như acid
polyhydroxy (PHA) hay bionic acid (BA) đã
cho phép bổ sung các lợi ích cho da và ứng
dụng trong điều trị.

Phân loại hydroxyacid: AHA,
PHA, BA
Alpha-hydroxyacids (AHA)
AHA là các acid cacboxylic hữu cơ có
một nhóm hydroxyl gắn vào vị trí alpha
của nhóm cacboxyl trên phân tử béo hoặc
alicyclic; nhóm hydroxyl trung tính về mặt hóa
học và nhóm cacboxyl là nhóm thế có tính
acid trên phân tử. Nhiều loại AHA có trong
thực phẩm và trái cây, do đó, AHA được đặt
tên là acid trái cây. Các AHA được sử dụng
phổ biến nhất bao gồm acid glycolic và acid
lactic, Acid citric, một chất chống oxy hóa
thuộc nhóm AHA được tìm thấy trong trái
cây họ cam quýt, là một hydroxyacid đặc
biệt vì nó chứa một nhóm hydroxyl đơn liên
kết với ba nhóm chức acid cacboxylic ở cả
vị trí alpha và beta, làm cho nó trở thành
hydroxyacid alpha - beta. Acid citric được tìm
thấy tự nhiên trong da, nơi nó đóng một vai
trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa
của con người được gọi là chu trình Kreb’s
(acid citric), để tạo ra năng lượng cho cơ
thể con người. Một số AHA có chứa nhóm
phenyl như một chuỗi thay thế làm thay đổi
khả năng hòa tan của phần tử AHA, làm tăng
tính ưa béo hơn so với các AHA tan trong nước
thông thường. Những loại AHA này có thể
được sử dụng cho da dầu và da bị mụn trứng
cá. Ví dụ bao gồm acid mandelic (acid phenyl
glycolic) và acid bezilic (acid diphenyl glycolic)
(Bảng 7.1).
Acid polyhydroxy (PHA)
Acid polyhydroxy là AHA thế hệ thứ hai.
Chúng thường là các acid đường với kích
thước khá và có cấu trúc tương tự như AHA,
tuy nhiên, chúng chứa hai hoặc nhiều nhóm
hydroxyl trong phân tử. Để là polyhydroxy
AHA, một trong các nhóm hydroxyl phải được
định vị alpha thành nhóm acid cacboxylic.
Nhiều PHA được thấy trong tự nhiên, là chất
chuyển hóa nội sinh của cơ thể con người.
Ví dụ, acid gluconic và gluconolactone là
những chất chuyển hóa quan trọng trong con
đường pentose phosphate. Gluconolactone,
một PHA được sử dụng trong các công thức
mỹ phẩm, cung cấp các hiệu ứng tương tự
như acid glycolic, nhưng cung cấp thêm lợi
ích của sự dịu nhẹ, chống oxy hóa / thải độc
(chelation) và tăng khả năng dưỡng ẩm. Các
nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh khả
năng tương thích với da nhạy cảm, bao gồm
bệnh trứng cá đỏ và viêm da cơ địa, một
phần có thể là do tác dụng dịu nhẹ vốn có và
dưỡng ẩm, cũng như khả năng tăng cường
chức năng hàng rào bảo vệ da. Việc sử dụng
gluconolactone (kem 8%, pH 3,8) lặp lại, hai
lần mỗi ngày trong khoảng thời gian một
tháng có thể làm tăng đáng kể chức năng
hàng rào bảo vệ da, giúp da chống chịu tốt
hơn với tác động của hóa chất.
Công dụng “diều hòa da” của PHA
khiến chúng trở thành sự lựa chọn mỹ phẩm
lý tưởng cho làn da nhạy cảm về mặt lâm
sàng và được sử dụng như chăm sóc bổ trợ
kết hợp với các loại thuốc có khả năng gây
kích ứng. Sử dụng đồng thời các sản phẩm
chứa gluconolactone với acid azelaic để điều

73
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
trị bệnh trứng cá đỏ giúp cải thiện đáng kể
kết quả điều trị so với chỉ dùng thuốc, bao
gồm ban đỏ và biểu hiện giãn mạch, với khả
năng dung nạp thuốc được cải thiện. Nghiên
cứu đã chứng minh tác dụng trị mụn của
gluconolactone so với benzoyl peroxide trong
điều trị mụn trứng cá. Các nghiên cứu khác
đã chứng minh rằng PHA, gluconolactone,
cung cấp bổ sung tác dụng tẩy tế bào chết
và làm giảm khả năng kích ứng của benzoyl
peroxide trong điều trị mụn trứng cá. PHA
cũng được chứng minh là tương thích với liệu
pháp retinoid thoa tại chỗ trong điều trị mụn
trứng cá.
Bionic acid (BA)
Bionic acid là AHA thế hệ thứ ba. Cấu
trúc phân tử gồm hai thành phần: một acid
polyhydroxy gắn với một phân tử đường. Ví
dụ, acid lactobionic bao gồm acid gluconic
(PHA) gắn với galactose thông qua liên kết
giống ete, và acid maltobionic bao gồm acid
gluconic gắn với phần tử glucose. Những
phân tử lớn hơn phân tử AHA truyền thống;
tuy nhiên, ở khoảng 358 dalton, chúng đủ nhỏ
để thâm nhập vào da. BA là các acid yếu có
Bảng 7.1 Sự phát triển của các alpha-hydroxyacid.
Thế
hệ
đầu
Thế
hệ
thứ
hai
Thế
hệ
thứ
ba
Alpha-hydroxy-
acids (AHA)

Poly-hydroxya-
cids
(PHAS)
Bionic acid
(BAS)
Glycolic acid,
lactic acid, citric
acid, mandelic
acid

Gluconolactone
Lactobionicacid,
maltobionicacid
Chống lão hóa trên tất cả
các lớp của da, tẩy tế bào
chết và tái tạo tế bào vượt
trội, kích thích sinh tổng
hợp lớp bì (GAGs, Colla-
gen)


Tác dụng chống lão hóa
không gây kích ứng; xây
dựng hàng rào chức năng
của da; duy trì độ đàn hồi
tự nhiên của da, loại bỏ
gốc tự do, tẩy da chết nhẹ
nhàng

Giữ ẩm cao, bảo vệ thông
qua tác dụng ức chế MMP
và chống oxy hóa; giảm
sản xuất sắc tố; giúp xây
dựng và củng cố chất nền
sâu của da làm da đầy
đặn và săn chắc.
Loại da bình thường
(không nhạy cảm), tẩy da
dày sừng, peel da


Da nhạy cảm; tăng cường
hàng rào; dễ bị trứng cá
đỏ, dễ bị mụn trứng cá


Tất cả loại da, dưỡng ẩm
và tẩy tế bào chết nhẹ
nhàng (chàm), dưỡng da
sau thủ thuật.
Thế
hệ
Phân loại
Hydroxyacid
Thành phần
Lợi ích đối với da
Công dụng chăm sóc da

74
Ứng dụng dược mỹ phẩm và lợi ích của Axit hidroxy alpha, Poly và Bionic
Chương 7 _
bong vảy rõ rệt và giúp da có kết cấu bình
thường chỉ sau vài ngày. AHA cũng có thể
được sử dụng để làm bong vảy các mảng vảy
nến. Một nghiên cứu về hiệu quả bong vảy tối
ưu của kem chứa hỗn hợp 20% AHA / PHA
sau một tuần sử dụng hai lần mỗi ngày, và
kết quả vượt trội về mặt thống kê so với việc
sử dụng acid salicylic 6% theo toa (Hình 7.1).
AHA có thể được ưu tiên dùng làm chất giúp
bong vảy tốt hơn acid salicylic do khả năng
làm tăng các thành phần chất nền lớp bì và
chống lại sự mỏng da do corticosteroid gây
ra. Trong khi, acid salicylic đã được chứng
minh là gây mỏng da.
Việc sử dụng AHA cho da khô thường
không gây ra tác dụng tẩy da chết rõ ràng.
Tình trạng da khô có thể tạm thời thuyên
giảm nhờ cung cấp nước bên ngoài, chất cấp
ẩm và khóa ẩm thoa, thông qua quá trình
hydrat hóa, cho phép các enzym của da hoạt
động bình thường và thúc đẩy bình thường
hóa quá trình bong vảy. Tuy nhiên, tình trạng
da khô sẽ kéo dài nếu lớp sừng và hàng
rào bảo vệ da không được hình thành đúng
cách. AHA đã được chứng minh là làm tăng
ceramides trong lớp sừng, do đó tăng cường
chức năng hàng rào bảo vệ da. PHA và BA là
các hợp chất cấp ẩm mạnh đã được chứng
minh là làm tăng chức năng hàng rào bảo vệ
da và có thể được sử dụng để điều trị bệnh
chàm một phần thông qua quá trình acid hóa
nhẹ nhàng lớp sừng.
Tẩy da chết có thể được đánh giá bằng
cách sử dụng mô hình luân chuyển tế bào
dansyl clorua, đo lường trực quan sự biến
mất của các tế bào da cằn cỗi theo thời gian.
Acid glycolic được coi là tiêu chuẩn vàng
trong mô hình này. Khi PHA, gluconolactone
và BAs, acid maltobionic và acid lactobionic,
được thử nghiệm bằng cách sử dụng acid
glycolic làm chất kiểm soát, chúng cho thấy
khả năng làm tăng đáng kể quá trình tẩy da
chết / thay đổi tế bào so với không được điều
trị. Tuy nhiên, mức độ của tác dụng không
mạnh như những gì đã được quan sát thấy
với acid glycolic, làm cho các chất tẩy tế bào
chết PHA và BA được xem là nhẹ hơn. Tác
giá trị pKa tương tự như các phân tử AHA nhỏ
hơn. Ví dụ: Ka của acid lactobionic là 3,8, và
cũng là mùa của acid glycolic.
Một trong những điểm khác biệt đáng
chú ý của BA là bản chất ưa nước của chúng
do có nhiều nhóm hydroxyl trong phân tử. BA
dễ dàng hút - giữ nước, và có thể tạo thành gel
khi dung dịch nước bay hơi ở nhiệt độ phòng.
BA cũng có đặc tính chống oxy hóa và thải
độc tố/ kim loại nặng. Ví dụ, acid lactobionic
là một chất chelator (phức chất/ thải độc tố
kim loại) chống oxy hóa được sử dụng trong
các dung dịch bảo quản nội tạng cấy ghép, nơi
nó ức chế sản xuất gốc hydroxyl thông qua
sự tạo phức với sắt (thúc đẩy quá trình oxy
hóa có trong máu). Ngoài ra, acid lactobionic
có chức năng như một chất ức chế các
enzym metalloproteinase (MMPs), như được
mô tả thêm bên dưới.
Lợi ích khác biệt của PHA và BA là sự dịu
nhẹ trên da. Khi so sánh với acid glycolic và
acid lactic, PHAN và BAs không gây châm
chích và cảm giác nóng. Chúng cũng không
gây kích ứng. Ví dụ, một loại kem 12% PHA
/ BA ở độ pH 3,8 đạt điểm tương đương với
nước muối thông thường trong một miếng
dán kín, kiểm nghiệm khả năng kích ứng tích
lũy trong 14 ngày. Vì lý do này, PHA và BA lý
tưởng để sử dụng trên da nhạy cảm và sau
thủ thuật.

Lợi ích của hydroxyacids
theo tình trạng da
Tình trạng tăng sừng
Nhóm hợp chất AHA có tác dụng ngăn
chặn quá trình tăng sừng bằng cách điều
chỉnh sự gắn kết của tế bào sừng ở đáy của
lớp sừng, dẫn đến hiệu ứng bong vảy đặc biệt
khi so sánh với tác dụng không đặc hiệu của
các tác nhân tiêu sừng truyền thống. Hiệu
quả rõ ràng trên da dày sừng nặng, chẳng
hạn như bệnh “vảy cá phiến mỏng”, được bội
AHAs nồng độ cao tại chỗ có thể dẫn đến

75
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
dụng tẩy da chết nhẹ của PHA và BA kết
hợp với tăng cường chức năng hàng rào, khả
năng dưỡng ẩm và sự dịu nhẹ khiến chúng
trở thành chất dưỡng ẩm lý tưởng cho các
tình trạng da khô và nhạy cảm như bệnh vảy
cá hay bệnh chàm.
Nếp nhăn, mất độ săn chắc
AHA thường được coi là chất tẩy tế bào
chết, tuy nhiên, lợi ích của AHA còn vượt xa tác
đụng đó. Ví dụ, AHA đã được chứng minh là
làm tăng sinh tổng hợp glycosaminoglycans
và collagen ở lớp bì, đồng thời cải thiện chất
lượng của các sợi đàn hồi. Đáng chú ý, acid
glycolic đã được chứng minh là làm tăng sự
phát triển của nguyên bào sợi và kích thích
trực tiếp nguyên bào sợi sản xuất collagen
in vivo và in vitro. Ngoài ra, kích thích gián
tiếp tổng hợp collagen xảy ra sau khi tế bào
nguyên bào sợi tiếp xúc với các yếu tố được
sản xuất bởi tế bào sừng biểu bì khi phản
ứng với acid glycolic. Điều này cho thấy một
hiệu ứng tín hiệu xảy ra giữa lớp biểu bì và
lớp bì để phản ứng với acid glycolic, dẫn đến
tái tạo chất nền lớp bì. Acid citric cũng làm
tăng đáng kể glycosaminoglycans bao gồm
Hình 7.1 Tác dụng giảm biểu hiện bong vảy ở bệnh nhân vảy nến của kem AHA /
PHA 20% sau khi bôi hai lần mỗi ngày trong 2 tuần. Có sự cải thiện đáng kể về mặt
thống kê, sự cải thiện theo phân loại lâm sàng được quan sát thấy sau 1 tuần sử dụng.
Ảnh được chụp lúc ban đầu (a) và sau 2 tuần (b).
a
b
acid hyaluronic và proteoglycan, chondroitin
sulfate lớp bì in vivo. Acid maltobionic và acid
lactobionic (BAS) cũng đã được chứng minh
là làm tăng tổng hợp acid hyaluronic trong cơ
thể. Kích thích những thay đổi tế bào này dẫn
đến hiệu ứng tăng thể tích giúp cải thiện các
triệu chứng lão hóa, bao gồm cả sự xuất hiện
của nếp nhăn mịn, rãnh nhăn và chùn nhão.
Các nghiên cứu lâm sàng với AHA, PHA
và BA cho thấy những cải thiện rõ ràng ở
vùng da có nếp nhăn, được đánh giá bởi các
biện pháp khách quan khác nhau bao gồm:
phân tích hình ảnh các bản sao silicone, đo
độ dày da bằng thước đo kỹ thuật số và đánh
giá mật độ da qua siêu âm. Việc sử dụng liên
tục các hợp chất này dẫn đến độ dày của da
tăng lên đáng kể so với bên không được điều
trị và nhóm chứng. Trong vòng 12 tuần, có
thể quan sát thấy hiệu ứng làm đầy đáng kể

76
Ứng dụng dược mỹ phẩm và lợi ích của Axit hidroxy alpha, Poly và Bionic
Chương 7 _
minh chứng cho hiệu quả chống nếp
nhăn của các hợp chất này (Hình 7.2).
Tăng sắc tố
Tăng sắc tố da là một mối lo ngại đi
kèm lão hóa toàn diện ảnh hướng đến nhiều
chủng tộc và sắc tộc. Tình trạng này biểu
hiện dưới dạng các tổn thương tăng sắc tố
thường kèm dày sừng như: đồi mồi, dày sừng
tiết bã và dày sừng ánh sáng. Các dạng tăng
sắc tố khác, chẳng hạn như nám da, có thể
lan rộng hơn và bản chất thường không phải
là tăng sừng. Gần như tất cả các dạng tăng
sắc tố đều liên quan đến việc tiếp xúc với ánh
nắng mặt trời với tư cách là một yếu tố gây
bệnh mặc dù một số sắc tố bị kích thích bởi
các dạng khác nhau của phản ứng viêm (ví
dụ như tăng sắc tố sau viêm). | Về mặt mổ
học, AHA đã được chứng minh là làm giảm
sự kết tụ của sắc tố trong lớp biểu bì. Những
phát hiện này đã được hỗ trợ trong các
nghiên cứu lâm sàng với kết luận rằng các
công thức chứa AHA thúc đẩy làn da đều
màu hơn. BAS, acid maltobionic và acid
lactobionic, làm bgiảm sản xuất melanin dù
có mặt của hormone kích thích tế bào sắc
tố (aMSH) trong mô hình in vitro sử dụng tế
Hình 7.2 Giảm sự xuất hiện của vết chân chim sau 16 tuần sử dụng chế độ chăm sóc
bao gồm: kem dưỡng mắt chứa 3% gluconolactone cộng với 3% axit maltobionic, pH
4.0 với các thành phân hữu ích khác gồm peptide, axit hyaluronic và vitamin chống
oxy hóa. Tiêu chuẩn hóa chụp ảnh ánh sáng với thiết bị định vị khuôn mặt, hình ảnh
chỉ cắt ghép và không chỉnh sửa.
Trước
Sau 16 tuắn.
bảo melanoma B16. Ngoài ra, PHA và BA là
những tác nhân tạo phức kim loại rất hiệu
quả, điều này có thể giải thích một phần hiệu
ứng buổi tối của chúng trên da. Việc tạo phức
với đồng được biết là can thiệp vào việc sản
xuất enzyme tyrosinase chứa đồng, một
loại enzyme thiết yếu trong việc sản xuất
melanin.
AHA, PHA và BA có thể được kết hợp với
hydroquinone hoặc mỹ phẩm làm sáng da để
cung cấp các hiệu ứng bổ sung cho sắc tố
vào buổi tối cũng như loại bỏ các tổn thương
dày sừng. Hơn nữa, các đặc tính chống oxy
hóa của PHAN và BA cũng giúp ổn định
hydroquinone.
Tác dụng chống oxy hóa
PHA, gluconolactone và BA, acid
maltobionic và acid lactobionic, thể hiện đặc
tính chống oxy hóa. Gluconolactone đã được
chứng minh là có thể ức chế quá trình hoạt
hóa gốc tự do của gen gây hủy elastin trong
mô hình in vitro gặp trong lão hóa ánh sáng.
Mô hình này đã được xác nhận bằng cách sử

77
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
dụng các chất chống oxy hóa nổi tiếng khác
như Vitamin C, Vitamin E, và gluconolactone
cho thấy tác dụng chống oxy hóa tương
đương. Các kết quả được cho là do sự tạo
phức với kim loại xúc tiến quá trình oxy hóa
và loại bỏ các gốc tự do. Ngoài ra, trong khi
acid glycolic có thể làm tăng tổn thương tế
bào khi tiếp xúc với tia UVB vùng da không
được bảo vệ, thì việc bôi gluconolactone tại
chỗ không gây ra hiện tượng trên, điều này có
thể do tác dụng chống oxy hóa của nó. Như
đã mô tả trên, gluconolactone cũng có thể
được pha chế với các loại thuốc oxy hóa, ví
dụ, benzoyl peroxide, để giúp giảm khả năng
kích ứng và ban đỏ.
Hình 7.3 Axit lactobionic làm giảm hoạt động của MMP theo cách đáp
ứng với liều lượng. Ghi chủ: Coll (MMP), Clostridum collagenase IV (enzym
MMP phân hủy collagen, kiểm soát âm tỉnh); LBA, axit lactobiotic; Phell,
phellantrolie (một chất ức chế MMP mạnh; kiểm soát tich Cực).
Các BA làm giảm quá trình peroxy hóa
lipid do tia cực tím gây ra trong mố hình được
sử dụng để đánh giá khả năng chống oxy
hóa, Quá trình peroxy hóa lipid do tia cực tím
gây ra là quá trình oxy hóa phân hủy các acid
béo không bão hòa đa, chẳng hạn như các
acid béo được tìm thấy trong màng tế bào,
bởi các gốc tự do được tạo ra trong quá trình
tiếp xúc với tia UV. Các chất ức chế peroxy
hóa lipid dọn dẹp các gốc hydroxyl, giúp duy
trì màng tế bào và ty thể khỏe mạnh.

78
Ứng dụng dược mỹ phẩm và lợi ích của Axit hidroxy alpha, Poly và Bionic
Chương 7 _
Ức chế MMP
Các enzym ma trận metalloproteinase
(MMPs) là các enzym endopeptidase phụ
thuộc vào kẽm làm phân hủy collagen trong
da như một phần của quá trình tự nhiên của
quá trình luân chuyển collagen tự nhiên của
cơ thể. Ở tuổi trẻ, quá trình dị hóa được cân
bằng với tân tạo collagen, dẫn đến một nền da
khỏe mạnh và biểu hiện của làn da trẻ trung.
Với tuổi tác và tiếp xúc với ánh nắng mặt trời,
có sự thay đổi trong sự cân bằng thiên về sự
dị hóa collagen, dẫn đến tình trạng rối loạn
chức năng collagen và hình thành các nếp
nhăn, giãn da và mất độ săn chắc của làn da.
Các BA, acid lactobionic và acid maltobionic,
hoạt động như chất ức chế MMP, có thể giúp
duy trì các đặc tính trẻ trung của làn da (Hình
7.3).
Peel AHA
Peel da AHA là liệu trình tại chỗ, sử dụng
acid alpha-hydroxy nồng độ cao (được thực
hiện dưới sự điều trị của bác sĩ) hay trung
bình (có thể được thực hiện bởi các chuyên
gia thẩm mỹ tại các spa, thẩm mỹ viện); và
thấp (có thể được bệnh nhân sử dụng tại nhà)
(Hình 7.4). Với nồng độ dành cho bác sĩ, peel
da AHA thường được bào chế ở độ pH thấp
để cung cấp nhanh chóng một lượng acid tự
do cao vào da. Nồng độ của peel có thể đạt
hoặc vượt quá 70% acid, với độ pH nhỏ hơn
1,0 khi chưa được trung hòa. Mặt khác, peel
ở spa / thẩm mỹ viện thường không vượt quá
30% và được điều chỉnh ở độ pH tối thiểu là
3.0. Độ pH của peel tại nhà được điều chỉnh
ở giá trị cao hơn để đảm bảo sử dụng an
toàn. Sử dụng dung dịch trung hòa chứa natri
bicacbonat sẽ chấm dứt hoạt động của quá
trình peel AHA, kết quả trung hòa tạo ra bọt
khí carbon dioxide có thể quan sát được và
đảm bảo hoàn thành quy trình một cách an
toàn (Hình 7.4 và 7.5)
Hình 7.4 Giảm sắc tố sau khi sử dụng phương pháp peel da
tại nhà với AHA 20% (10% axit xitric + 10% axit glycolic pH
3,6) mỗi tuần một lần trong 8 tuần với các sản phẩm chăm
sóc tại nhà PHA
Trước
Sau 8 tuần dùng Peel tại nhà

79
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Hình 7.5 Giảm mụn trứng cá và tăng sắc tố sau viêm với liệu
trình peel da bằng ba loại: axit tự do, axit glycolic: một loại 35%
(pH 1,3), và loại 50% (pH 1,2) với các sản phẩm chăm sóc tại
nhà hỗ trợ AHA/ PHA. Không có thuốc bổ sung được sử dụng.
Trước
Sau peel ba loại glycolic acid
Peel AHA do bác sĩ sử dụng được xếp
vào loại peel nóng bởi Học viện Da liễu Hoa
Kỳ (AAD), có nghĩa là chúng chủ yếu tác động
đến lớp biểu bì. Chúng đã được đặt tên là
“thời gian ăn trưa” do thời gian thực hiện thủ
thuật ngắn và thời gian phục hồi tối thiểu, ít
có tác dụng phụ tiềm ẩn khi được thực hiện
cẩn thận và nông. Ở nồng độ cao và độ pH
thấp, có thể xảy ra hiện tượng peel sâu hơn,
dẫn đến tăng khả năng gặp các tác dụng
phụ. Da màu có xu hướng phát triển chứng
tăng sắc tố sau viêm, do đó nên thận trọng
ở nhóm đối tượng này, có thể tốt hơn là sử
dụng các loại peel AHA có nồng độ thấp hơn
để ngăn ngừa viêm.
Các hoạt chất peel AHA phổ biến nhất là
acid glycolic, lactic, mandelic và citric. Acid
glycolic và acid lactic, là những AHA nhỏ
nhất, được biết là có thể tham nhập vào da
nhanh chóng ở dạng acid tự do (không trung
hòa) của chúng. Acid Mandelic, còn được
gọi là acid phenyl glycolic, là một dạng acid
glycolic ưa béo hơn và thường được sử dụng
cho da nhờn; cũng có lợi ích điều trị đối với
chứng tăng sắc tố. Acid citric thâm nhập
tốt và cung cấp lợi ích chống oxy hóa. Acid
glycolic, lactic và citric dễ gây châm chích
hơn acid mandelic. Tất cả đều đã được chứng
minh là những hoạt chất có lợi khi sử dụng
trong thủ thuật peel cho làn da của bạn. Các
lợi ích chính bao gồm làm mịn các nếp nhăn,
đều màu da và hỗ trợ điều trị mụn trứng cá
và trứng cá đỏ (Hình 7.5). Nhiều tình trạng
trong số này được cải thiện một cách tối ưu
khi peel da được kết hợp với thuốc và / hoặc
các thủ thuật khác có cơ chế hoạt động bổ
sung.

80
Ứng dụng dược mỹ phẩm và lợi ích của Axit hidroxy alpha, Poly và Bionic
Chương 7 _
Xây dựng công thức với
AHAs
Có nhiều yếu tố cần xem xét khi xây dựng
một sản phẩm AHA / PHA / BA hiệu quả.
Nồng độ và độ pH là hai yếu tố quan trọng vì
chúng ảnh hưởng đến lượng acid được phân
phối cho da. Theo nguyên tắc chung, các sản
phẩm AHA được pha chế ở độ pH phù hợp
với pKa của acid sẽ có khoảng 50% nồng độ
AHA hiện diện dưới dạng acid tự do. Điều này
rất quan trọng vì dạng acid tự do của một loại
acid là đơn chất và có thể thâm nhập vào da
dễ dàng hơn so với dạng muối ion hóa, dẫn
đến trung hòa. Ví dụ, một công thức chứa
10% acid glycolic (pKa 3,8), được điều chỉnh
đến pH 3,8, sẽ có khoảng 5% acid glycolic
khả dụng để tham nhập nhanh ở dạng acid
tự do. 5% còn lại sẽ được chuyển thành dạng
muối trung hòa, có sinh khả dụng ít hơn đáng
kể đối với da. Vì pH là thang đo logarit, sự
thay đổi độ pH một đơn vị sẽ ảnh hưởng đến
nồng độ acid tự do theo hệ số mười.
Công nghệ sản xuất có sẵn để giúp làm
chậm sự thâm nhập của các phân tử acid tự
do của AHA với mục tiêu giảm châm chích
và khả năng kích ứng. Một trong những công
nghệ như vậy sử dụng các acid amin lưỡng
tính như một phần của quá trình điều chỉnh
độ pH. Các thành phần như arginine, lysine
hoặc glycine, có thể hoạt động như bazơ và
sẽ làm tăng độ pH của công thức. Các thành
phần này cũng có thể tạo liên kết tạm thời
với các phân tử AHA tự do còn lại trong công
thức để mang lại hiệu ứng phóng thích chậm.
Các nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng
công nghệ lưỡng tính có thể làm giảm đáng
kể khả năng kích ứng và châm chích của
AHA, đồng thời duy trì độ pH hiệu quả và do
đó mang lại lợi ích cho da.

Kết luận
Các hydroxyacid cung cấp nhiều lựa
chọn trong công thức và tùy chọn để đáp ứng
nhu cầu của các nhóm bệnh nhân khác nhau,
bao gồm cả những người có làn da nhạy cảm
về mặt lâm sàng, da khô, bệnh vẩy nến và
lão hóa ánh sáng. AHA thế hệ đầu tiên như
acid glycolic cung cấp tác dụng chống lão
hóa và tẩy tế bào chết đáng kể do tác động
kích thích của chúng đối với sự bong tróc lớp
sừng và sinh tổng hợp lớp bì, cũng như lợi ích
trên sắc tố vào buổi tối. AHA tiếp tục được sử
dụng cho đến ngày nay do những lợi ích lâm
sàng được ghi nhận đầy đủ và tính an toàn đã
được chứng minh. Các acid polyhydroxy thế
hệ thứ hai (PHA) và bionic acid thế hệ thứ ba
(BA) cung cấp các tác dụng chống lão hóa
tương tự như AHA, nhưng có thêm các lợi ích
bao gồm tăng cường dưỡng ẩm và làm dịu
da. Ngoài ra, các hợp chất này cung cấp các
lợi ích bảo vệ bằng cách hoạt động như chất
chống oxy hóa và chất ức chế MMP, có thể
làm tăng tác dụng chống lão hóa của chúng
cùng tác dụng bảo vệ và duy trì các chức
năng tự nhiên của da. AHA, PHA và BA là các
hợp chất chống lão hóa có khả năng thích
ứng cao, có thể tiếp tục được sử dụng trong
nhiều năm tới vì chúng có hiệu quả trong việc
cung cấp nhiều lợi ích cho da từ các công
thức bôi ngoài.

81
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Further reading
Berardesca E. Distante F, Vignoli GP, et
al. Alpha hydroxyacids modulate stratum
corneum barrier function. Brit J of Dermatol
1997; 137: 934-938. Bernstein EF, Brown DB,
Schwartz MD, et al. The polyhydroxy acid glu-
conolactone protects against ultraviolet radi-
ation in an in vitro model of cutaneous photo-
aging. Dermatol Surg 2004; 30: 1-8. Bernstein
EF, Underhill CB, Lakkakorpi J, et al. Citric
acid increases viable epidermal thickness
and glycosaminoglycan content of sun-dam-
aged skin. Dermatol Surg 1997; 23: 689-694.
Ditre CM, Griffin TD, Murphy GF, et al. Effects
of a-hydroxy acids on photoaged skin:
A pilot clinical, histologic, and ultrastruc-
tural study. J Am Acad Dermatol 1996; 34:
187-195. Draelos ZD, Green BA, Edison BL.
An evaluation of a polyhydroxy acid skin care
regimen in combination with azelaic acid
15% gel in rosacea patients. J Cosmet Der-
matol 2006; 5:23-29. Hachem JP, Roelandt T,
Schurer N, et al. Acute acidification of stra-
tum corneum membrane domains using
polyhydroxyl acids improves lipid process-
ing and inhibits degradation of corneodes-
mosomes. J Invest Dermatol 2010; 130(2):
500-510. Kim SJ, Park JH, Kim DH, et al.
Increased in vivo collagen synthesis and in
vitro cell proliferative effect of glycolic acid.
Dermatol Surg 1998; 24: 1054-1058. Okano
Y, Abe Y, Masaki H, Santhanam U. Ichihashi
M, Funasaka Y. Biological effects of glycolic
acid on dermal matrix metabolism mediated
by dermal fibroblasts and epidermal keratino-
cytes. Exp Dermatol 2003; 12 (Suppl. 2): 57-
63. Van Scott EJ, Yu RJ. Control of keratini-
zation with a-hydroxy acids and related com
pounds. Arch Dermatol 1974; 110: 586-590.
Yu, RJ, Van Scott, EJ. a-hydroxyacids, poly-
hydroxy acids, aldobionic acids and their top-
ical actions. In: Baran, R, Maibach, HI (eds.)
Textbook of Cosmetic Dermatology, 3rd edn.
New York: Taylor & Francis, 2005: 77-93.

82
Ứng dụng dược mỹ phẩm và lợi ích của Axit hidroxy alpha, Poly và Bionic
Chương 7 _

83
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
8
VITAMIN A RETINOIDS
VÀ ĐIỀU TRỊ
LÃO HÓA DA

C
h
ư
ơ
n
g
Dana L. Sachs and John J. Voorhees
University of Michigan Medical Center,
Ann Arbor, MI, USA

84
Vitamin A Retinoids và điều trị lão hóa da
Chương 8 _
Giới thiệu
Retinoids là loại thuốc có nguồn gốc từ
Vitamin A đã được sử dụng để ngăn ngừa và
điều trị da lão hóa trong nhiều thập kỷ. Người
ta quan sát thấy những biểu hiện của lão
hóa được cải thiện ở những bệnh nhân điều
trị mụn có sử dụng retinoids. Quan sát này
đã dẫn đến một lượng lớn các nghiên cứu và
tài liệu về việc áp dụng retinoids bôi tại chỗ
cho làn da lão hóa. Ở Hoa Kỳ, retinoids có thể
xuất hiện trong thành phần của các dược mỹ
phẩm hoặc trong các loại thuốc bôi theo toa
bác sĩ. Retinoids tự nhiên và tổng hợp được
kê đơn với nhiều hoạt độ và dạng khác nhau
bao gồm axit retinoic tự nhiên (tretinoin) và
retinoids tổng hợp adapalene, bexarotene,
tazarotene và alitretinoin. Các retinoids tự
nhiên như retinol, retinaldehyde và retinyl
ester thường thấy trong các dược mỹ phẩm
trên thị trường.
Trong chương này, chúng ta sẽ bàn sâu
chi tiết về các retinoid tự nhiên: đầu tiên là mô
tả danh pháp của các hợp chất khác nhau
này và mối quan hệ của các hợp chất này với
các hợp chất khác. Thứ hai là thảo luận về
các con đường dẫn truyền tín hiệu ở da lão
hóa và da lão hóa do ánh sáng. Thứ ba, thảo
luận về các cơ chế sinh hóa mà retinoids tác
động đến các con đường lão hóa này. Cuối
cùng, thảo luận về bằng chứng khoa học liên
quan đến retinoids tự nhiên về hiệu quả của
chúng trên da lão hóa

Xác định thành phần hoạt
động
Thuật ngữ “retinoid” liên quan đến một
nhóm thuốc gắn vào và kích hoạt các thụ
thể axit retinoic (RARS), kích hoạt phiên mã
của các gen đáp ứng axit retinoic dẫn đến
các phản ứng sinh học cụ thể. Retinoids trở
nên hoạt động ở khả năng liên kết với các thụ
thể trong nhân và hoạt động như các yếu tố
phiên mã. Ở da, các gen đích của retinoid là
các gen mã hóa các protein liên kết axit ret-
inoic tế bào (CRABP) II, protein liên kết reti-
nol tế bào (CRBP), axit retinoic 4-hydroxylase
(CYP26) và keratin 6. RAR liên kết dị hóa với
các thụ thể retinoid X (RXR).
Hình 8.1 Cấu trúc của retinoid tự nhiên. (a) Retinol all-trans được oxy hóa liên tiếp thành axit
retinoic all-trans theo quy trình hai bước. Bước đầu tiên của phản ứng là bước thuận nghịch
trong đó retinaldehyde all-trans có thể được chuyển đổi ngược trở lại thành all-trains retinol.
Bước thứ hai trong đó retinaldehyde all-trans bị oxy hóa thành axit retinoic all-trans là không thể
đảo ngược. (b) Tất cả các retinol chuyển hóa chuyển hóa thành retinyl este. Một số ví dụ bao
gồm retinyl linoleate, retinyl laurate, retinyl palmitate và retinyl oleate.

85
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Điều này rất quan trọng để kích hoạt các
yếu tố đáp ứng với axit retinoic trong da dẫn
đến biểu hiện các tác dụng của retinoids.
Có nhiều dạng đồng dạng khác nhau của cả
RAR và RXR; tuy nhiên, RAR-y/ RXR-a là quan
trọng nhất trong việc truyền tín hiệu ở da.
Retinoids có thể được phân loại là tự
nhiên hoặc tổng hợp (Hình 8.1). Retinoids tự
nhiên bao gồm all-trans-retinol, all-trans-reti-
naldehyde và axit all-trans retinoic. All-trans
retinol còn được gọi là retinol hoặc Vitamin A:
all-trans retinaldehyde được gọi là retinal: và
axit all-trans-retinoic được gọi là axit retinoic
và tretinoin. Để cho rõ ràng hơn, all-trans-reti-
nol, all-trans-retinaldehyde và all trans-retino-
ic acid sẽ được gọi tương ứng là retinol, reti-
naldehyde và axit retinoic, trong suốt chương
này. Vì retinoids tổng hợp thường không được
sử dụng trong các chế phẩm thẩm mỹ, chúng
sẽ không được thảo luận trong chương này.

Đặc điểm sinh học của da
lão hóa
Để hiểu được tác động của retinoids tại
chỗ đối với da bị lão hóa, thì điều kiện tiên
quyết là phải hiểu rõ về cơ chế sinh học của
lão hóa da, tập trung vào những thay đổi
trong các lớp da. Lão hóa tự nhiên hoặc lão
hóa da nội sinh được quan sát một cách tối
ưu trên các vùng ít phơi bày với ánh sáng mặt
trời như bên trong cánh tay hoặc mông và có
các dấu hiệu đặc trưng như màu sắc đồng
nhất, da khô và nếp nhăn mịn. Lão hoá da do
ánh sáng hoặc lão hóa da ngoại sinh được
nhìn thấy trên các vùng tiếp xúc với ánh nắng
mặt trời như mặt, bàn tay và cánh tay và biểu
hiện bằng các nếp nhăn mịn và thô, rối loạn
sắc tố, hồng ban và các tổn thương tiện ung.
Mặc dù lão hóa da được quan sát rõ ở cả lớp
thượng bì và lớp bì, nhưng những thay đổi
được nhìn thấy ở lớp bì có vai trò quan trọng
hơn gây các biểu hiện chung của làn da bị lão
hóa.
Các nhóm oxy phản ứng (ROS) là tác
nhân thúc đẩy các dòng tín hiệu phức tạp
trong lão hóa, dẫn đến cả sự phân hủy
collagen và giảm tổng hợp collagen mới.
Tia cực tím (UV) đóng một vai trò quan
trọng trong quá trình lão hoá da do ánh
sáng. Một lượng cực nhỏ của tia UV gây tổn
thương da qua trung gian ROS (đặc biệt là
dạng H2O2). Mặc dù ROS có thể gây ra tổn
thương tế bào trực tiếp lên thành, màng tế
bào, ty thể và DNA, nhưng H2O2 và các gốc
oxy tự do khác cũng đóng một vai trò quan
trọng trong các con đường tín hiệu tế bào
liên quan đến sự hình thành collagen mới
và phân hủy collagen trưởng thành. Thông
qua tín hiệu ROS, TGF-B (một cytokine thúc
đẩy sản xuất collagen) bị khóa và sự hình
thành collagen mới bị giảm. Cũng được
điều chỉnh bởi tín hiệu ROS là con đường
thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGF-R)
truyền tín hiệu sang protein kích hoạt (AP-1),
yếu tố phiên mã chịu trách nhiệm sản xuất
collagenase (một matrix metalloproteinase
(MMP), đóng vai trò quan trọng trong quá
trình phân hủy collagen). Sự tăng lên của
collagenase dẫn đến gia tăng sự phân mảnh
collagen, do đó làm giảm sức căng cơ học
của nguyên bào sợi. Mất sức căng cơ học
dẫn vòng xoắn lẩn quẩn làm tăng sản xuất
collagenase, dẫn đến phân mảnh collagen
nhiều hơn nữa và cuối cùng là sự mất
collagen vĩnh viễn. Kết quả cuối cùng của
quá trình này là biểu hiện lâm sàng dưới dạng
lão hoá da do ánh sáng. Collagen phân mảnh
tích tụ trong lớp trung bì, nhưng nó tương tác
kém với các integrin (là polypeptide giúp liên
kết) và các thụ thể collagen. Mỗi thương tổn
mà tia cực tím gây ra sẽ dẫn đến các “vết sẹo
nhỏ”, tích tụ dần mà cuối cùng kết hợp lại với
nhau để biểu hiện thành “vết sẹo lớn” hoặc
nếp nhăn.
Trong trường hợp lão hóa tự nhiên, càng
lớn tuổi càng tạo ra nhiều các nhóm oxy
phản ứng. Tương tự lão hóa ánh sáng, với tín
hiệu ROS truyền tín hiệu đến TGF-B dẫn đến
giảm sự hình thành collagen mới. Tuy nhiên
trái ngược với lão hóa ánh sáng, sự phân hủy
collagen qua trung gian AP-1 bởi MMPS được

86
Vitamin A Retinoids và điều trị lão hóa da
Chương 8 _
báo | hiệu thông qua con đường JNK thay vì
qua con đường EGF-R.
Cơ chế hoạt động
Axit retinoic là retinoid tác động lên
các mô. Trong bước đầu tiên của quá trình
chuyển hóa retinoid, retinol (một retinoid
không hoạt động về mặt chức năng) bị oxy
hóa thành retinaldehyde bởi enzyme retinol
dehydrogenase. Phản ứng này giới hạn tốc
độ cho sự hình thành axit retinoic. Ngoài ra,
retinaldehyde có thể được thủy phân trở lại
thành retinol. Trong bước thứ hai, retinaldehyde
được oxy hóa thành retinoic acid bởi retinol
dehydrogenase. Retinol và retinaldehyde
đóng vai trò là phối tử cho CRBP, Axit retinoic
và các chất chuyển hóa của nó là phối tử cho
CRABP-II. Tỷ lệ của phối tử và các protein liên
kết bị lệch nhiều theo hướng của protein sao
cho các thụ thể không bao giờ bị bão hòa
bởi phối tử. Hoạt động của enzym p450, axit
retinoic 4-hydroxylase, còn được gọi là CYP
26, xúc tác quá trình chuyển đổi axit retinoic
thành axit 4-hydroxyretinoic (4-OH RA), chất
chuyển hóa chính của axit retinoic.
Retinyl este là chất chuyển hóa chủ yếu
của retinol và rất quan trọng trong việc lưu
trữ retinol trong da. Hai enzym xúc tác quá
trình chuyển đổi retinol thành retinyl este:
lecithin retinol acyltransferase (LRAT) và
Acyl CoA: retinol acytransferase (ARAT). Các
chất nền cho LRAT đều là phức hợp retinol
và retinol-CRBP trong khi ARAT chỉ có một
chất nền là retinol. LRAT là enzym chủ yếu
điều chỉnh quá trình ester hóa retinol trong
da và nó được điều chỉnh bởi axit retinoic.
Sự điều hòa axit retinoic của LRAT cung
cấp một cơ chế mà RA được tự động điều
chỉnh bằng cách kiểm soát mức độ retinol có
sẵn để chuyển đổi thành axit retinoic. Trong
các tế bào màng đáy, retinol được cung cấp
cho da qua các mao mạch ở da được ester
hóa thành retinyl ester bởi LRAT. Các este
retinyl này có thể được thủy phân trở lại thành
retinol trong tế bào màng đáy khi các tế
bào biệt hóa và di chuyển đến lớp sừng.
Retinol bôi tại chỗ hoặc ngoại sinh có thể được
ester hóa thành retinyl ester bằng ARAT trong
tế bào sừng phía trên màng đáy cũng như
LRAT. Vòng điều chỉnh trong đó axit retinoic
điều chỉnh quá trình sinh tổng hợp của chính
nó từ retinol thông qua việc điều chỉnh quá
trình ester hóa đã được nghiên cứu kỹ lưỡng.
Cơ chế này giúp đảm bảo bệnh nhân không
bị ngộ độc nếu bệnh nhân vì lo lắng mà lỡ bôi
quá nhiều.
Retinol được este hóa với các axit béo
khác nhau như axit palmitic, axit stearic
và axit oleic để tạo thành retinyl palmitate,
retinyl stearat và retinyl oleate, tương ứng
(Hình 8.2). Sự thủy phân của retinyl este sẽ
tạo lại retinol. Trong da, khoảng 99% retinoid
là retinol và retinyl ester trong khi dưới 1%
retinoid trên da là retinaldehyde và axit
retinoic. Bối retinol lên da chủ yếu tạo ra
các retinyl este trong màng tế bào da. Rất ít
retinol bị oxy hóa thành axit retinoic, do đó
ngăn ngừa tác dụng phụ do dư thừa axit
retionic. Việc bôi axit retinoic lên da tạo ra
một lượng dư thừa lớn axit retinoic gắn vào
RARS, lượng dư thừa này có thể tạo ra một số
tác dụng phụ gây kích ứng sau khi thoa RA.
Khi Axit retinoic xâm nhập vào nhân
của tế bào sừng, nó liên kết với RAR tạo
thành chất dị hóa với RXR. Phức hợp RAR
/ RXR kích hoạt các yếu tố đáp ứng axit
retinoic khác nhau (RARES) điều chỉnh quá
trình phiên mã của các gen mục tiểu và chịu
trách nhiệm cho các tác dụng của retinoid
trong các mô khác nhau (Hình 8.3).

87
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Hình 8.2 Cơ chế hoạt động của retinoids trên da. Retinol (ROL) liên kết với protein liên kết
retinol tế bào (CRBP) và trải qua các phản ứng oxy hóa tuần tự để tạo thành axit retinoic (RA),
hoặc nó được ester hóa bởi lecithin: retinol acyltransferase (LRAT) thành retinyl ester (RE). RA
liên kết với protein liên kết axit retinoic II (CRABP II) của tế bào, và phức hợp protein-phối tử
này đi vào nhân. Trong nhân, axit retinoic liên kết với thụ thể axit retinoic-Y (RAR-Y), thụ thể này
dị hóa với thụ thể retinoid X-a (RXR-a) để kích hoạt các yếu tố đáp ứng axit retinoic (RARE).
Kích hoạt RARE dẫn đến phiên mã mRNA và mã hóa tiếp theo của các protein đóng vai trò
trong các con đường dẫn truyền tín hiệu dẫn đến cải thiện biểu hiện lâm sàng của da lão hóa
được điều trị bằng retinoid. Trong tế bào chết, RA cũng được thủy phân bởi axit retinoic CYP
26 thành 4-hydroxyl (4-OH-RA), chất chuyển hóa chính của RA chỉ sở hữu một phần nhỏ hoạt
tính sinh học của RA.
Hình 8.3 Vị trí hoạt động của retinoids trong con đường dẫn truyền tín hiệu ở da lão hóa. Cho
dù do tác hại của tia cực tím hay thời gian, các nhóm oxy phản ứng được tạo ra dẫn đến sự gia
tăng collagenase. Collagenase là ma trận metalloproteinase chính chịu trách nhiệm dẫn đến sự
suy thoái và phân mảnh của collagen ở da. Sự phân mảnh collagen dẫn đến giảm sức căng cơ
học của nguyên bào sợi, do đó dẫn đến giảm hoạt động tín hiệu TGF-B dẫn đến sự phong tỏa sự
hình thành procollagen mới. Sự phong tỏa TGF-B cũng dẫn đến sự gia tăng collagenase, do đó
duy trì chu kỳ phân mảnh collagen. Retinoids, axit retinoic cụ thể và retinol, cải thiện sự xuất hiện
của da lão hóa bằng cách tăng TGF-B dẫn đến tăng tổng hợp procollagen và giảm collagenase.

88
Vitamin A Retinoids và điều trị lão hóa da
Chương 8 _
Ở da, axit retinoic được biết là hoạt động
thông qua con đường TGF- B và đã được
chứng minh cụ thể là ức chế sự phân hủy
collagen qua trung gian metalloproteinase và
bảo vệ chống lại sự giảm procollagen do tia
cực tím gây ra.

Tác dụng lâm sàng
Retinol
Retinol có sẵn trong các chế phẩm
thẩm mỹ không kê đơn nhưng việc ghi nhãn
thường khó xác định nồng độ chính xác của
hợp chất. Nói chung, các chế phẩm dược
mỹ phẩm dường như có nồng độ retinol
dao động từ 0,1% đến 1%, nhưng thông tin
này thường mơ hồ và không rõ ràng. So với
axit retinoic, retinol ít gây kích ứng ở nồng
độ thấp. Thực tế, cùng với những gì đã biết
về quá trình chuyển hóa của nó thành axit
retinoic, và sự sẵn có dễ dàng dường như
khiển retinol trở thành loại retinoid lý tưởng.
Mặc dù có rất nhiều thử nghiệm lâm sàng
về các nồng độ khác nhau của retinol chứng
minh có sự cải thiện về lâm sàng, nhưng vẫn
còn thiếu các nghiên cứu chứng minh có
mối liên quan giữa việc tăng sinh collagen
cùng với cải thiện lâm sàng. Trên thực tế, vẫn
chưa rõ liệu retinol ở liều lượng bán trên thị
trường có giúp tăng sinh collagen hay không.
Các vấn đề khác cũng được cân nhắc là sự
phân hủy thuốc và việc giải phóng thuốc từ
tá dược.
Trong một nghiên cứu in vivo về retinol,
tretinoin và tá dược bối trên da người, kết quả
cho thấy retinol 1,6% tăng đáng kể độ dày
của thượng bì so với tretinoin 0,025% nhưng
không làm xuất hiện ban đỏ như tretinoin.
Các nghiên cứu khác đã chứng minh rằng
retinol ức chế các enzym phân hủy collagen
gây ra bởi tia UV và kích thích sản xuất
collagen ở da bị lão hóa do ánh sáng. Retinol
liều thấp 0,1% cho thấy cải thiện hình ảnh lâm
sàng của các nếp nhăn, tone da ở vùng ngoài
quanh hốc mắt , và hầu như không có kích
ứng.
Trong một nghiên cứu trên bệnh nhân bị
lão hóa nội sinh, retinol 0,04% được áp dụng
cho vùng da cánh tay ít tiếp xúc với ánh nắng
đã được chứng minh là làm tăng đáng kể
glycosaminoglycan và procollagen I so với
tá dược, chỉ ghi nhận kích ứng nhẹ ở các đối
tượng này. Sự cải thiện sau liệu pháp retinol
được thấy ở làn da lão hóa nội sinh là đáng
chú ý vì mức độ tổn thương collagen ít hơn
nhiều so với làn da lão hóa do ánh nắng.
Nồng độ retinol lớn hơn 1% là nồng độ
mong muốn trong mỹ phẩm để đạt được
kết quả như các nghiên cứu trong phòng thí
nghiệm, nhưng thông tin này hiếm khi có
trên nhãn. Ngoài ra, liều lượng “thân thiện
với người tiêu dùng” (có thể là nồng độ
retinol đặc biệt thấp) thường được các công
ty sử dụng để giảm thiểu kích ứng retinoid,
tuy nhiên kích ứng mới là dấu hiệu sinh học
thực sự về hiệu quả. Cho đến khi các nghiên
cứu được thực hiện xác định rằng chế độ
dùng thuốc và nồng độ không gây kích ứng
nhưng vẫn giúp tăng sinh collagen, thì hiện
tại vẫn chưa rõ liệu retinol có hiệu quả lâm
sàng với liều lượng đang được bán trên thị
trường hay không.
Retinaldehyde (retinal)
Có rất ít nghiên cứu khảo sát tác động
của retinal đối với lão hóa da do ánh sáng.
Một tìm kiếm trên internet về các loại dược
mỹ phẩm có chứa retinal làm thành phần
chính đã cho ra một sản phẩm được sản
xuất bởi Avene / Pierre Fabre (Ystheal chứa
retinaldehyde 0,05%).
Trong một nghiên cứu về da mặt của
người bị lão hóa ánh sáng, retinal 0,05% được
so sánh với axit retinoic 0,05% và tá dược.
Đánh giá hiệu quả được thực hiện ở thời
điểm ban đầu, 18 tuần và 44 tuần ở vùng vết
chân chim và phép đo cấu trúc quang học
được sử dụng để nghiên cứu các nếp nhăn,
độ nhám cũng như khả năng dung nạp của
người bệnh. Vào tuần thứ 18, có sự giảm có
ý nghĩa thống kê về nếp nhăn và độ nhám

89
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
ở cả hai nhóm sử dụng retinaldehyde và axit
retinoic, nhưng không có cải thiện nào được
ghi nhận ở nhóm tá dược. Retinal được dung
nạp tốt hơn trong suốt thời gian nghiên cứu
so với axit retinoic do retinoic acid gây nóng
rát dẫn đến người tham gia nghiên cứu kém
tuân thủ hơn. Nghiên cứu cố ý thiết kế tránh
sự sai lệch của việc tiếp xúc với ánh nắng
mặt trời bằng cách cho tất cả các đối tượng
bắt đầu sử dụng cùng một lúc, tuần 18 đánh
giá được thực hiện vào mùa hè và tuần 44
đánh giá được thực hiện vào mùa đông.
Retinoic acid (tretinoin)
Axit retinoic được coi là retinoid áp chót
và là loại retinoid bôi ngoài da được nghiên
cứu rộng rãi nhất về khả năng cải thiện làn
da lão hóa. Tính an toàn của nó được đánh
giá tốt. Axit retinoic gắn vào và kích hoạt thụ
thể RAR-y. Axit retinoic có nguồn gốc từ quá
trình oxy hóa tuần tự của retinol và retinalde-
hyde như đã thảo luận trước đó. Tại Hoa Kỳ,
axit retinoic được bán theo đơn và có sẵn ở
dạng kem, gel, gel microsphere và các công
thức làm mềm da với nhiều tên biệt dược
khác nhau . Mặc dù có nhiều nồng độ trên thị
trường như 0,025%, 0,05% và 0,1%, nồng độ
tối ưu của axit retinoic cần thiết để cải thiện
làn da lão hóa vẫn chưa được xác định. Tuy
nhiên, điều rõ ràng là nồng độ axit retinoic
cao hơn có liên quan đến việc tăng kích ứng
nhiều hơn. Mặc dù vậy, điều quan trọng cần
lưu ý là các tác động kích ứng không có nghĩa
là có tác dụng cải thiện làn da lão hóa.
Axit retinoic cải thiện một số đặc điểm
của da bị lão hóa do ánh sáng như: độ nhám
bề mặt, rối loạn sắc tố và các nếp nhăn mịn.
Trong tuần đầu tiên điều trị, sự mịn da thông
qua xúc giác được ghi nhận, tương ứng với
những thay đổi mô học về giảm bề dày lớp
sừng và xốp thượng bì. Tuy nhiên nếp nhăn
không thấy sự thay đổi cho đến sau hai đến
bốn tháng điều trị. Với việc tiếp tục điều trị
bằng axit retinoic, lớp thượng bì sẽ trở lại
trạng thái giống như trước khi bôi thuốc và do
đó cải thiện nếp nhăn được cho là nhờ những
thay đổi của lớp bì thay vì lớp thượng bì. Kết
quả lâm sàng và mô học đã chứng minh sự
cải thiện đáng kể của làn da bị lão hóa ánh
sáng sau bốn tháng trong một nghiên cứu có
nhóm chứng với cỡ mẫu là 30 người. Sự hình
thành collagen tuýp I đã được xác định là ít
hơn đáng kể ở các vị trí bị tổn thương do ánh
nắng mặt trời so với các vị trí được bảo vệ.
Sau khi điều trị bằng axit retinoic trên da bị
lão hóa ánh sáng, sự gia tăng 80% collagen
loại I ngoại bào so với chỉ tăng 14% trong da
được điều trị bằng tá dược. Khi bôi kem reti-
noic acid 0,05% lên da mặt trong thời gian tối
thiểu sáu tháng, dải collagen trong nhú bì dày
lên rõ rệt.
Retinyl esters
Như đã thảo luận trước đó, retinyl este
là dạng lưu trữ chính của retinol ở biểu
bì. Khi trữ lượng retinol tự nhiên thấp, các
retinyl este được thủy phân thành retinol.
Thành phần của retinyl ester trong da người
đã được nghiên cứu và được phát hiện có
chứa retinyl linoleate, retinyl laurate, retinyl
palmitate và retinyl oleate, Retinyl linoleate
chiếm phần lớn các retinyl ester ở thời điểm
lên đến 96 giờ sau khi sử dụng retinol. Các
retinyl este khác (oleate, palmitate, laurate và
stearat), mỗi loại chỉ chiếm ít hơn 10%.
Lợi ích lâm sàng của retinyl ester vẫn
chưa được nghiên cứu ở mức độ lớn. Mặc
dù chúng có mặt rộng rãi trong các phương
pháp điều trị chống lão hóa không cần kê
đơn, nhưng vẫn có rất ít dữ liệu hỗ trợ việc
sử dụng chúng thay vì retinol. Chúng thường
được tìm thấy trong danh sách thành phần
cùng với retinol nhưng với các chức năng tự
điều hòa tuyệt vời của retinol, không rõ liệu
những hợp chất này có bất kỳ giá trị phụ thực
sự nào trong liệu pháp chống lão hóa hay
không. Bảng 8.1 chưa đầy đủ nhưng minh
họa sự đa dạng của các sản phẩm bôi ngoài
da chứa retinoid có sẵn trên khắp thế giới.
Ví dụ về các loại thuốc và dược mỹ phẩm
có chứa retinoid tự nhiên được liệt kê. Điểm
mạnh được liệt kê cho tất cả các loại thuốc
chứa axit retinoic. Độ mạnh và liều lượng cho
các retinol este, retinaldehyde và retinyl hiếm

90
Vitamin A Retinoids và điều trị lão hóa da
Chương 8 _
Bảng 8.1
Lựa chọn các loại retinoid bôi ngoài da có bán trên thị trường.

91
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
thấy được nhắc đến. Bản chất tự động điều
chỉnh của retinoid tự nhiên cho thấy rằng
thực sự không cần phải xem xét các retinyl
este đắt tiền khi sản xuất các dược mỹ phẩm
vì retinol sẽ được hình thành khi cần thiết.
Ngoài ra, sự thâm nhập của retinol qua lớp
sừng được biết là tốt hơn nhiều so với retinyl
este hoặc thậm chí axit retinoic.

Chỉ định và chống chỉ định
Axit retinoic đã được FDA chấp thuận
để điều trị các nếp nhăn mịn, tăng sắc tố
dạng đốm và giảm thô ráp trên da mặt. Axit
retinoic được phân loại C cho thai kỳ, nghĩa
là không có thử nghiệm lâm sàng đầy đủ
hoặc được kiểm soát tốt chứng minh an toàn
ở phụ nữ mang thai. Tuy nhiên, axit retinoic
đường uống là một chất gây quái thai được
biết đến vì vậy hầu hết các bác sĩ đều ủng hộ
việc ngừng điều trị bằng axit retinoic tại chỗ
trong khi mang thai.
Các retinoid tự nhiên khác như retinol,
retinaldehyde và retinyl este được sử dụng
trong vô số các dược mỹ phẩm để điều trị da
lão hóa do ánh sáng và bởi vì các hợp chất
này không được coi là thuốc nên không có dữ
liệu về chỉ định và chống chỉ định.
Nói chung, retinoids tại chỗ được sử
dụng hàng đêm để điều trị da lão hóa. Hiệu
quả lâm sàng có thể được đánh giá dựa trên
xuất hiện hiện tượng kích ứng; tuy nhiên, mức
độ kích ứng bao nhiêu để cho tác dụng sinh
học thì vẫn chưa được xác định vào thời điểm
này. Do đó, không rõ liệu liều một lần hàng
tuần (hoặc thậm chí ít hơn) có thể so sánh
với việc dùng hàng đêm về hiệu quả lâm sàng
hay không. Tuy nhiên, đã có nhiều chứng cứ
khá rõ ràng rằng nếu tần suất sử dụng càng
nhiều thì càng dễ gây kích ứng.

Tác dụng phụ
Nhạy cảm với ánh sáng
Retinoids tại chỗ đã được coi là có độc
tính quang học (phototoxins), nhưng điều này
có thể bị phóng đại quá mức. Trên thực tế,
retinoid là chất không bền với ánh sáng, đó là
lý do tại sao chúng được đóng gói trong các
vật liệu chống tia UV xâm nhập. Do các liên
kết đôi trong cấu trúc của chúng, retinoids
dễ bị phản ứng quang hóa và do đó được coi
là chất nhạy cảm ánh sáng. Tuy nhiên, hiện
tượng nhạy quang không ngụ ý rằng những
tác nhân này gây ra độc tính quang học hoặc
dị ứng quang học. Điều thú vị là việc FDA ghi
nhãn retinoids tiếp tục cảnh báo bệnh nhân
về những nguy cơ này. Các nghiên cứu đã
chứng minh rằng tretinoin là không phải là
chất có độc tính quang học và cũng không
phải là chất gây dị ứng quang học.
Trong bốn thử nghiệm riêng biệt để điều
tra độc tính và nhạy cảm với ánh sáng của
gel retinoic 0,05% (Atralin), kết quả không
quan sát thấy hồng ban xuất hiện nhiều hơn
đáng kể khi so sánh với nhóm chứng sử dụng
tá dược
Với da được cho sử dụng tretinoin trước và
sau đó cho chiếu tia cực tím, kết quả cho thấy
không có bất kỳ ảnh hưởng nào đến liều lượng
gây hồng ban tối thiểu (minimal erythema
dose). Điều này chứng tỏ rằng tretinoin không
có hoạt tính gây độc quang học và cũng
không có đặc tính chống nắng. Điều thú vị là
retinoids đã được bào chế thành một số loại
kem chống nắng do tính chất nhạy cảm ánh
sáng của chúng.
Viêm da / kích ứng do retinoid
Viêm da retinoid là kết quả khi bối
retinoid tại chỗ kích hoạt các cấu trúc dị
dimer RAR / RXR trong các tế bào sừng trên
màng đáy. Các dị dimer này kích hoạt các
yếu tố phiên mã không xác định, kích hoạt
hai phối tử EGF-R chính là EGF liên kết với
heparin (HB-EGF) và amphiregulin. Sự liên
kết của HB-EGF và amphiregulin với EGF-R
dẫn đến sự tăng sinh thượng bì và bong tróc
lớp sừng. Kết quả là, có sự phá vỡ hàng rào
lớp sừng, dẫn đến giải phóng cytokine gây ra
hồng bạn trên da. Như vậy, bong vảy và hồng

92
Vitamin A Retinoids và điều trị lão hóa da
Chương 8 _
bạn là các biểu hiện lâm sàng của viêm da
do retinoid. Hiện tượng này có thể dự đoán
được, có thể bị tái lại và được xem như là một
dấu hiệu cho thấy tính hiệu quả và khả năng
thâm nhập của retinoid. Tuy nhiên, đây là tác
dụng phụ mà bệnh nhân thường xuyên than
phiền nhất làm họ tuân thủ kém khi sử dụng
nhóm thuốc này.
Các công thức mới sử dụng chất làm
mềm da và công nghệ tạo hạt siêu nhỏ giúp
giảm thiểu những tác dụng phụ do retinoid.
Nhiều liều lượng dùng thuốc khác nhau được
sử dụng nhưng không có bằng chứng rõ
ràng về hiệu quả của chúng. Liều lượng axit
retinoic chỉ một hoặc hai lần mỗi tuần có thể
là một cách hiệu quả để giúp bệnh nhân làm
quen dần với axit retinoic. Sau đó, có thể tăng
thêm 1 lần/ tuần sau mỗi tháng cũng có thể
là một cách hiệu quả để tăng dần khả năng
dung nạp của bệnh nhân đối với axit retinoic.
Tuy nhiên, cũng có một số bệnh nhân không
dung nạp nhiều hơn một hoặc hai lần dùng
thuốc hàng tuần. Điều thú vị là có quá ít dữ
liệu về liều lượng phù hợp của axit retinoic và
retinol để đạt được sự gia tăng tối đa trong
procollagen. Thực tế, dùng một lần/ tuần
(hoặc có thể ít thường xuyên hơn) là đủ để
tăng sản xuất procollagen. Hiện nay, đã có
rất nhiều nghiên cứu giúp chúng ta có thể dự
đoán và hiểu rõ hơn về retinoid, nhưng người
ta vẫn chưa xác định được rằng viêm da do
retinoid có phải là dấu hiệu cho thấy sự hiệu
quả của retinoid hay không. Rất có thể viêm
da không phải là tiền đề cho những hoạt
động sinh học của retionid. Xác định những
Hình 8.4 Viêm da retinoid. Viêm da retinoid là một trong những rào cản lớn đối với
việc sử dụng retinoid tại chỗ. Nó được đặc trưng bởi ban đỏ và bong vảy trong vòng
vài ngày đến vài tuần sau khi bắt đầu điều trị và thường dẫn đến việc ngừng điều trị.
Ở cấp độ phân tử, cấu trúc dị dinner RAR-RXR được kích hoạt trong tế bào sừng trên
màng đáy, dẫn đến tăng biểu hiện HB EGF và amphiregulin. Hai phối tử này là phối tử
EGF-R chính trong da người. Kích hoạt EGF-R dẫn đến tăng sinh các tế bào sừng lớp
đáy và dẫn đến bong vảy lớp sừng. Tác dụng phụ không mong muốn này có thể được
giảm thiểu một phần nhờ các công thức thuốc mới hơn và một số tác nhân nhất định
như genistein.

93
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
phương pháp sử dụng retinoid như thế nào
để không gây kích ứng là một lĩnh vực có
tiềm năng phát triển lớn trong ngành dược
mỹ phẩm.
Genistein là isoflavone chính trong chiết
xuất đậu nành và đã được chứng minh là
có khả năng ức chế sự tăng sản thượng bì.
Daidzein và glycetin là hai isoflavone đậu
nành khác, cũng được chứng minh là có tác
dụng ức chế sự tăng sản thượng bì nhưng ở
mức độ thấp hơn so với genistein. Thật thú
vị, chiết xuất đậu nành đã được phát hiện
có khả năng kích thích cả sự tăng sinh và
tổng hợp procollagen loại I. Cùng với nhau,
những dữ liệu này tạo nên một tiền để tốt
cho việc sử dụng chiết xuất đậu nành (cụ thể
là genistein) để giảm bớt tác dụng làm tăng
sản thượng bì của retinoic acid. Ngoài việc
làm giảm bong vảy và hồng ban, sự gia tăng
Procollagen loại 1 tạo ra tác dụng gần như
tương tự đối với tác dụng chống lão hóa của
axit retinoic. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc sử
dụng genistein kết hợp với axit retinoic chưa
được nghiên cứu chặt chẽ trong các thử
nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, có đối chứng.
Cũng sẽ rất thú vị nếu có nghiên cứu về thời
gian sử dụng genistein kết hợp với việc sử
dụng retinoid. Việc sử dụng genistein trước
hoặc sau retinoid sẽ là một phương thức điều
trị cần được xem xét trong một nghiên cứu
cụ thể.
Một công bố gần đây đã nghiên cứu tác
dụng của cây Alstonia Scholaris (Hoa sữa)
được tìm thấy ở Đông Nam Á với tác dụng
chống viêm. Trong các nghiên cứu in vitro,
Alstonia Scholaris đã được chứng minh là có
tác dụng chống viêm chủ yếu được cho là do
có chứa các thành phần như echitamine và
loganin. Cụ thể, Alstonia Scholaris đã điều
chỉnh giảm sản xuất MCP-1 và IL-8 từ tế
bào sừng, do đó làm giảm các triệu chứng
của viêm da retinoid trong một thử nghiệm
gần đây. Ngoài ra, Alstonia Scholaris tăng
cường khả năng ức chế biểu hiện MMP-1 của
retinoid, cho thấy rằng nó có thể tăng cường
tác dụng chống lão hóa của retinoid. Nghiên
cứu sâu hơn về các tác nhân có thể làm giảm
viêm da retinoid và tăng cường biểu hiện
procollagen như genistein và Alstonia
Scholaris là một điều thú vị khi càng ngày
càng có nhiều loại mỹ phẩm mới được phát
triển và thử nghiệm.

Kết luận
Retinoids tại chỗ là nền tảng chính của
liệu pháp chống lão hóa và việc sử dụng
chúng được hỗ trợ bởi nhiều nghiên cứu in
vivo trên da người. Axit retinoic là nhân tố
chính trong lĩnh vực này vì nó là hợp chất
tương tác trực tiếp với các thụ thể retinoid
trong nhân tế bào, dẫn đến phiên mã các
protein tác động đến quá trình lão hóa. Việc
bối retinoids tự nhiên cho da lão hóa có thể
dẫn đến lượng axit retinoic liên kết với các
thụ thể retinoid được đầy đủ, do đặc tính sinh
học được điều chỉnh tốt của các hợp chất này.
Các nghiên cứu chi tiết hơn về retinyl este và
retinaldehyde với hỗ trợ lâm sàng và dữ liệu
sinh hóa trong da người in vivo sẽ rất thú vị.
Các nghiên cứu về liều dùng thuốc thích hợp
để giảm thiểu viêm da kích ứng do retinoid có
thể sẽ giúp bệnh nhân tuân thủ điều trị hơn.
Việc xác định và nghiên cứu thêm các hợp
chất như genistein kết hợp với retinoids để
giảm kích ứng là rất được mong đợi.

94
Vitamin A Retinoids và điều trị lão hóa da
Chương 8 _
Further reading
Chien AL, Voorhees JJ, Kang S. Topical
retinoids. In: Goldsmith LA, Katz SI, Gilchrest
B, Paller AS, Leffell DJ, Wolff K (eds.) Fitz-
patrick’s Dermatology in General Medicine.
New York: McGraw-Hill Medical, 2012, pp.
2665-2273. Duell EA, Kang S, Voorhees JJ.
Unoccluded retinol penetrates human skin in
vivo more effectively than unoccluded retinyl
palmitate or retinoic acid. J Invest Dermatol
1997; 109(3): 301-305. Ellis CN, Weiss JS,
Hamilton TA, Headington JT, Zelickson AS,
Voorhees JJ. Sustained improvement with
prolonged topical tretinoin (retinoic acid) for
photoaged skin. J Am
Acad Dermatol 1990; 23(4 Pt 1): 629-
637. Fisher GJ, Kang S, Varani J, Bata-Csor-
go Z, Wan Y, Datta S, et al. Mechanisms of
photoaging and chronological skin aging.
Arch Dermatol 2002; 138(11): 1462-1470.
Kang S, Chung JH, Lee JH, Fisher GJ, Wan
YS, Duell EA, et al. Topical N-acetyl cyste-
ine and genistein prevent ultraviolet-light-in-
duced signaling that leads to photoaging in
human skin in vivo. J Invest Dermatol 2003;
120(5): 835-841. Kang S, Duell EA, Fisher GJ,
Datta SC, Wang ZQ, Reddy AP, et al. Applica-
tion of retinol to human skin in vivo induces
epidermal hyperplasia and cellular retinoid
binding proteins characteristic of retinoic
acid but without measurable retinoic acid
levels or irritation. J Invest Dermatol 1995;
105(4): 549-556. Kurlandsky SB, Duell EA,
Kang S, Voorhees JJ, Fisher GJ. Auto-regu-
lation of retinoic acid biosynthesis through
regulation of retinol esterification in human
keratinocytes.
J Biol Chem 1996; 271(26): 15346-
15352. Napoli JL. Retinoic acid biosynthesis
and metabolism. FASEB J 1996; 10(9): 993-
1001. Varani J, Fisher GJ, Kang S, Voorhees
JJ. Molecular mechanisms of intrinsic skin
aging and retinoid-induced repair and rever-
sal. J Investig Dermatol Symp Proc 1998;
3(1): 57-60. Weiss JS, Ellis CN, Headington
JT, Voorhees JJ. Topical tretinoin in the treat-
ment of aging skin. J Am Acad Dermatol
1988; 19(1 Pt 2): 169-175

95
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
9
VITAMIN C
TRONG
DƯỢC MỸ PHẨM

C
h
ư
ơ
n
g
Marianne N. O’Donoghue’ and Patri-
cia K. Farris
Rush University Medical Center, Chicago,
IL, USA 2Tulane University School of Medi-
cine, New Orleans, LA, USA

96
Vitamin C trong dược mỹ phẩm
Chương 9 _
Giới thiệu
Dược mỹ phẩm, theo định nghĩa của bác
sĩ y khoa Albert Klignan, là các sản phẩm
chăm sóc da đem lại nhiều hiệu quả tích cực
trong điều trị các tình trạng da. Các sản phẩm
này đã tạo ra một cuộc cách mạng trong
lĩnh vực chăm sóc da. Tất cả là nhờ vào khả
năng điều trị da mà không cần các thủ thuật
xâm lấn. Vitamin C (L-ascorbic acid) là một
vitamin tan trong nước, có khả năng chống
oxy hóa tự nhiên. Bên cạnh đó, với đường
uống toàn thân, nó cũng được sử dụng để
ngăn ngừa bệnh scurvy - một hội chứng do
thiếu hụt Vitamin C, đặc trưng bởi những thay
đổi trong xương, màng nhầy và da. Mặc dù
hầu hết các loại động : thực vật đều có khả
năng tự tổng hợp Vitamin C, nhưng con người
chúng ta lại phải dựa vào các loại thực phẩm
bổ sung. Sở dĩ bởi cơ thể chúng ta không
có enzyme L-gulono-gamma-lactone (một
enzyme cần thiết cho quá trình tổng hợp
Vitamin C). Vitamin C có nhiều trong các loại
trái cây họ cam quýt và các loại rau có màu
xanh đậm. Nó được hấp thụ tốt bởi ruột trong
liều lượng sinh lý. Một điều thú vị là, việc bổ
sung vitamin C bằng đường uống với liều
lượng cao không làm tăng lượng hấp thụ và
cũng không làm tăng nồng độ trong da. Vì
vậy, việc bôi Vitamin C được đánh giá là đem
lại hiệu quả tốt nhất cho da.

Vitamin C: Các dẫn xuất và
độ ổn định
Dược mỹ phẩm chứa Vitamin C là một
trong những loại mỹ phẩm đầu tiên gia nhập
thị trường. Hầu hết các sản phẩm truyền
thống đều chứa dạng hoạt động của Vitamin
C, L-ascorbic Acid (AA). Mặc dù những sản
phẩm này được rất nhiều người tiêu dùng đón
nhận, tuy nhiên chúng cũng tồn tại những
khuyết điểm nhất định. Khi tiếp xúc với không
khí, L-ascorbic acid bị oxy hóa nhanh chóng
và chuyển hóa thành Dehydroasscorbic
acid, làm sản phẩm chuyển dần sang màu
vàng. Các công thức mới đã tạo ra các dạng
Ascorbic acid biến đổi về
mặt hóa học thông qua việc este hóa
nhóm hydroxyl. Các dẫn xuất như vậy bao
gồm:
Magnesium
ascorbyl
phosphate
(MAP), Sodium ascorbyl phosphate (SAP)
Ascorbyl - 6 - palmitate , và Ascorbyl
tetraisopalmitate (ATIP). Các dẫn xuất này
được đánh giá là ổn định hơn L-ascorbic acid
(AA), và cũng bởi lý do này nó được các nhà
hóa mỹ phẩm ưu chuộng sử dụng.
Pinnell và các cộng sự của mình đã
chứng minh rằng L-ascorbic acid hoàn toàn
có thể bào chế để đảm bảo được cả tính
ổn định lẫn khả năng thẩm thấu trên da.
Trong các nghiên cứu của họ, việc sử dụng
L-ascorbic acid hàng ngày ở nồng độ 15%,
pH 3.2 cho hiện tượng bão hòa trên da gấp
20 lần sau ba ngày. Sau khi bão hòa các vùng
da, AA vẫn còn trong các mô với thời gian bán
hủy là 4 ngày. Ngược lại, 1M Dehydroascorbic
acid, 13% MAP và 10% Ascorbyl-6-palmitate
thất bại trong việc làm tăng nồng độ ascorbic
acid khi thử nghiệm trên da heo. Hiện nay có
rất nhiều công thức ổn định và vận chuyển
L-ascorbic acid vào da bằng cách sử dụng các
hệ vận chuyển ví dụ như: nanosuspensions
(phân phối nano) hay microemulsions (vi nhũ
hóa).

Vitamin C: Một chất chống
oxy hóa quan trọng
Da sử dụng các chất chống oxy hóa để
tự vệ khỏi các gốc tự do gây hại. Các loại oxy
phản ứng (ROS) này được tạo ra phần lớn là
do tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, nhưng một
phần cũng tích tụ bởi quá trình lão hóa tự
nhiên hoặc nội sinh. ROS có tác động gây tổn
hại đến proteins, DNA và màng tế bào. Đồng
thời ảnh hưởng đến chức năng hoạt động
của tế bào thông qua các yếu tố phiên mã.
Trong da, yếu tố phiên mã kích hoạt protein 1
(AP-1) được điều chỉnh tăng lên bởi ROS, kích
hoạt sản xuất các metalloproteinase phân
hủy chất nền ngoại bào và giảm sản xuất

97
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
pro-collagen. Thêm vào đó, ROS còn điều
chỉnh yếu tố hạt nhân phiên mã kappa beta
(NF-kB), dẫn đến quá trình tổng hợp nhiều
loại cytokine gây viêm bao gồm yếu tố hoại
tử khối u-a, interleukini (IL-1), IL-6 và IL- số
8. Thông qua các thụ thể bề mặt tế bào, các
chất trung gian gây viêm này tiếp tục kích
hoạt AP-I và góp phần vào quá trình gây lão
hóa da. ROS cũng được biết đến là làm tăng
mRNA elastin trong các nguyên bào sợi ở da.
Điều này có thể giải thích cho những thay đổi
về độ đàn hồi của da tổn thương do ánh sáng.
Da được trang bị một bộ các chất chống
oxy hóa tự nhiên giúp trung hòa các gốc
tự do. Vitamin C là chất chống oxy hóa dồi
dào nhất trong da người và có trong ngăn
chứa nước của tế bào. Vitamin C hoạt động
kết hợp với các chất chống oxy hóa khác
bao gồm Vitamin E, Ubiquinone (coenzyme
Q10), Alpha lipoic acid, Glutathione. Da cũng
được trang bị một bộ chất chống oxy hóa
enzyme bao gồm men Superoxide Dismustase,
Glutathione
Peroxidase,
Glucose-6-phos-
phate Dehydrogenase và Catalase. Hai nhóm
chất chống oxy hóa này kết hợp với nhau có
chức năng giúp kiểm soát các gốc tự do và
bảo vệ tế bào da khỏi tổn thương.
Vitamin C giúp trung hòa các gốc tự do
bằng cách cung cấp một electron, tạo ra các
gốc tự do ascorbate ổn định hơn. Sau đó, cung
cấp một electron thứ hai, kết quả là tạo thành
dehydroascorbic
acid.
Dehydroascorbic
acid có thể bị phân hủy bởi dehydroascorbic
acid reductase, hoặc chuyển hóa ngược trở
lại thành L ascorbic acid. L-ascorbic acid là
một chất chống oxy hóa hiệu quả có khả
năng trung hòa các gốc hydroxyl, superoxide
anion, singlet oxygen và peroxynitrite. Trong
các nghiên cứu in vitro so sánh AA với các
dẫn xuất của nó, AA được phát hiện là chất
chống oxy hóa hiệu quả nhất trong môi
trường nước, sau đó là MAP và ATIP. Mặt
khác, ATIP là một chất chống oxy hóa hiệu
quả hơn MAP khi được thử nghiệm trong hệ
thống lipid.
Một điều thú vị là tia UV không những tạo
ra ROS mà nó còn đồng thời làm suy giảm
khả năng vô hiệu hóa chúng của da. Các
nghiên cứu chỉ ra rằng, phơi nhiễm tia UV làm
cạn kiệt chất oxy hóa của da theo phương
thức phụ thuộc liều. Ubiquinol (coenzyme
Q10) và vitamin E là những chất nhạy cảm
ánh sáng nhất, trong khi L-ascorbic acid có
phần bền vững hơn. Điều này rất quan trọng
vì vitamin C giúp tái tạo ubiquinol và vitamin
E sau khi chúng bị oxy hóa, và glutathione
giúp tái tạo lại vitamin C.

Vitamin C và khả năng bảo
vệ quang học
Kem chống nắng là nền tảng để bảo vệ
da khỏi phơi nhiễm tia UV. Ngày nay, việc sử
dụng các chất chống oxy hóa kết hợp cùng
kem chống nắng đang được rất ưa chuộng.
Các nghiên cứu chỉ ra rằng kem chống nắng
có tác dụng rất ít trong việc ngăn ngừa các
stress oxy hóa mặc dù chúng đem lại hiệu
quả giảm ban đỏ do phơi nhiễm tia UV và sự
hình thành thymine dimer. Các nghiên cứu
đã chứng minh rằng sau khi phơi nhiễm tia
UVA, kem chống nắng chỉ có thể ngăn chặn
được 55% các gốc tự do. Các công thức bào
chế mỹ phẩm tiên tiến ngày nay thường có
thêm các chất chống oxy hóa để tăng cường
khả năng trung hòa các gốc tự do cho kem
chống nắng. Trong đó, L-ascorbic được biết
đến như một chất có tác dụng bảo vệ quang
học dù nó không hoạt động như một chất
chống nắng và cũng không hấp thụ ánh sáng
trên 295nm.
Trong các nghiên cứu về khả năng bảo
vệ quang học của Vitamin C, L-ascorbic
(dung dịch 10%) được sử dụng 2 lần mỗi
ngày, trong suốt 3 ngày trên một miếng da
heo trước khi tiếp xúc với tia cực tím. Việc
tiền điều trị da với L-ascorbic acid làm giảm
40% hiện tượng tế bào bị cháy nắng và giảm
52% hiện tượng ban đỏ do phơi nhiễm tia
UVB. Bên cạnh đó, dung dịch L-ascorbic acid
10% đã được chứng minh đem lại hiệu quả
giảm ức chế miễn dịch do tia UVB gây ra ;
tăng khả năng dung nạp của hệ thống khi

98
Vitamin C trong dược mỹ phẩm
Chương 9 _
gặp các dị ứng nguyên trên mô hình động
vật. Các nghiên cứu trên da người cũng chỉ
ra tác dụng bảo vệ quang học của Vitamin
C. Dung dịch L-ascorbic acid 10% được sử
dụng trên những người tình nguyện mỗi ngày
trong suốt 5 ngày trước khi họ tiếp xúc với tia
UVB. Kết quả cho thấy liều ban đỏ tối thiểu
(MED) giảm nhiều , trong khi sử dụng dung
dịch nồng độ 5% không có tác dụng.
Các nghiên cứu đã chứng minh rằng có
thể đạt được hiệu quả bảo vệ quang học hiệp
đồng bằng cách kết hợp nhiều chất chống
oxy hóa dạng thoa với nhau. Thí nghiệm hỗn
hợp 15% L-ascorbic acid và 1% a-tocopher-
ol (Vitamin E ) được sử dụng mỗi ngày trong
suốt 4 ngày trên miếng da heo, trước khi nó
được mang đi chiếu xạ với thiết bị mô phỏng
năng lượng mặt trời (295nm). Kết quả là khả
năng bảo vệ da cao hơn hẳn so với việc sử
dụng các hoạt chất này một cách đơn lẻ. Sự
kết hợp Vitamin C và E làm giảm hiện tượng
hình thành tế bào cháy nắng, ban đỏ và hình
thành thymine dimer. Sự kết hợp này làm
tăng khả năng bảo vệ da gấp 4 lần so với việc
sử dụng các hoạt chất này đơn lẻ. Gần đây,
một công thức ổn định có chứa Vitamin C, E
và Ferulic Acid đã được đem ra thử nghiệm
về tác dụng bảo vệ quang học. Ferulic Acid là
một chất chống oxy hóa mạnh có nguồn gốc
từ thực vật. Chất này có khả năng ổn định
và tăng khả năng bền vững cho công thức
Vitamin C và E. Trong một nghiên cứu so
sánh, 0.5% Ferulic Acid , 15% L ascorbic Acid
và 1% Vitamin E giúp tăng khả năng bảo vệ
quang học gấp 8 lần so với mức tăng 4 lần
khi kết hợp Vitamin C và E. Công thức này
giúp làm giảm hiện tượng ban đỏ, tế bào
cháy nắng và sự hình thành dimer thymine
, cũng như ức chế quá trình apoptosis của
tế bào. Các nghiên cứu bổ sung đã chứng
minh, Ferulic Acid đem lại hiệu quả làm ổn
định Vitamin C và E, tăng cường khả năng
bảo vệ da, chống cháy nắng và sự hình thành
dimer thymine. Trong khi, 1% idebenone, 1%
Ubiquinone and 1% kinetin không đem lại
hiệu quả. Cuối cùng , sự phối kết hợp dung
dịch chống oxy hóa chứa Vitamin C, Ferulic
Acid và Phloretin đã được thử nghiệm trên 10
tình nguyện viên có loại da Fitzpatrick II và III
, nhằm đánh giá về khả năng bảo vệ quang
học. Các tình nguyện viên đã được điều trị
trước bằng các sản phẩm chứa phức hợp
chống oxy hóa này bốn ngày trước khi tiếp
xúc với ánh sáng giá năng lượng mặt trời.
Điều này được đánh giá là đem lại khả năng
bảo vệ quang học, bao gồm : ngăn ngừa hình
thành tế bào cháy nắng , thymine dimer, biểu
lộ ma trận metalloproteinases-9 và P53. Do
đó, có thể kết luận rằng các phức hợp chứa
Vitamin C cùng các các chất oxy hóa khác,
có thể đem lại hiệu quả giảm thiểu các tác
hại cấp tính và mãn tính của tia UV.
Điều quan trọng cần lưu ý là các chất
chống oxy hóa cần phải được bối trước khi
tiếp xúc với cực tím để đảm bảo hiệu quả bảo
vệ quang học. Trong một nghiên cứu mù đôi
đối chứng với giả dược trên người , các chất
chống oxy hóa không phát huy tác dụng khi
được bôi trên da sau khi phơi nhiễm tia UV.
Trong nghiên cứu này, Melatonin, Vitamin C
và E đã được sử dụng trong 30, 60 và 120
phút sau khi chiếu tia UV và tất cả đều không
đem lại hiệu quả.

Vitamin C, tăng sinh
collagen và giảm các nếp
nhăn
Ngoài vai trò là một chất chống oxy hóa
cho da, Vitamin C còn có các chức năng thiết
yếu khác. Nó đóng vai trò là đồng yếu tố cho
cả hydroxylase prolyl và lysyl. Đây là các
enzyme cần thiết cho quá trình tổng hợp
collagen và các dạng hydroxyl hóa của
proline và lysine tạo điều kiện bài tiết
procollagen từ các nguyên bào sợi. Các
nghiên cứu cũng đã chứng minh rằng
Vitamin C cũng rất quan trọng đối với việc
bảo tồn collagen ở lớp bì. Nó tăng tính ổn
định và giảm hiện tượng nhạy nhiệt của
collagen. Các nghiên cứu in vitro cho thấy
rằng Ascorbic Acid có thể làm tăng khả năng

hacklink satın al mumu模拟器 雷电模拟器 向日葵 giftcardmall/mygift giftcardmall balance mygift giftcardmall matbet matbet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Betgaranti Betgaranti Güncel Adres Betgaranti Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Fim İzle Fim İzle Giriş Fim İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Fim İzle Fim İzle Güncel Adres Fim İzle jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Giriş Casibom Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Jojobet Jojobet Giriş Jojobet Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Deneme Bonusu Film İzle Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Türkçe Dublaj Film İzle Film İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi perabet perabet giriş holiganbet holiganbet giriş Casibom Lesfillmercom Casibom Lesfillmercom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Gerbergirlcom Casibom Gerbergirlcom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Spcelectriccontrolcom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş marsbahis marsbahis giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş matbet matbet giriş matbet güncel giriş vaycasino vaycasino güncel giriş vaycasino giriş matbet matbet giriş pusulabet pusulabet giriş pusulabet pusulabet güncel giriş pusulabet giriş matbet matbet güncel giriş matbet giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Resmi Adres pusulabet pusulabet giriş pusulabet güncel giriş Fixbet Fixbet Güncel Giriş Salvobet Salvobet Giriş Salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Turk Porno Turk Porno Giriş Turk Porno casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi casibom casibom jojobet izmir escort izmir buca escort buca escort jojobet casibom holiganbet holiganbet giriş jojobet holiganbet holiganbet giriş jojobet jojobet jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş izmir escort izmir buca escort buca escort izmir escort bayan salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Giriş Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Deneme Bonusu Veren Giriş Deneme Bonusu Veren salvobet salvobet salvobet salvobet Casibom betgaranti betgaranti betgaranti matbet matbet giriş matbet matbet giriş Casibom Casibom Salvobet jojobet Salvobet Salvobet Salvobet Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Güncel Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis bahsegel Fixbet Fixbet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş 1xbet 1xbet Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Listesi Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler grandpashabet grandpashabet grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler vaycasino vaycasino giriş jojobet grandpashabet casibom Casibom Casibom Giriş casibom www.giftcards.com Marsbahis grandpashabet jojobet jojobet jojobet grandpashabet casibom jojobet Casibom Casibom Casibom Casibom Casibom Grandpashabet Grandpashabet Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Marsbahis Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres grandpashabet grandpashabet giriş Casibom Fixbet Fixbet Giriş Casibom İzmir Escort İzmir eskort İzmir Escort Bayan Vip escort Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Holiganbet Holiganbet Güncel Adres Nevşehir escort Kapadokya escort Nevşehir escort bayan nevşehir eskort escort nevşehir Casibom Casibom Giriş Adresi Kapadokya esc Casibom Casibom Resmi Adres Matbet Matbet Matbet Güncel Adres Pusulabet Pusulabet Giriş Adresi