Dược-mỹ-phẩm-và-ứng-dụng-trong-thẩm-mỹ-1

19/11/2025 • by Bs CKI Phẫu thuật tạo hình, tái tạo và thẩm mỹ Trương Hoài Anh • laser
Ảnh bìa cuốn sách Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ của Patricia K. Farris

Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ

Dược mỹ phẩm là sự kết hợp giữa mỹ phẩm và dược phẩm, đem lại lợi ích điều trị vượt trội so với mỹ phẩm thông thường, là một trong những phân khúc phát triển nhanh nhất của thị trường chăm sóc cá nhân. Cuốn sách này cung cấp kiến thức chuyên sâu về cách các loại dược mỹ phẩm được phát triển, thử nghiệm, cơ chế hoạt động của các thành phần chính, và ứng dụng của chúng trong thực hành lâm sàng.

Tóm tắt nội dung chính

Cuốn sách được chia thành ba phần chính:

  • Phần I: Phát triển, Công thức và Đánh giá Dược mỹ phẩm: Tập trung vào cách thức phát triển, thử nghiệm, quy định pháp lý và quy trình đánh giá tính an toàn, hiệu quả của dược mỹ phẩm. Chương nổi bật bao gồm định nghĩa, thị trường dược mỹ phẩm, quá trình phát triển sản phẩm, và các phương thức tăng cường độ thâm nhập vào da như nhũ tương, liposome, và công nghệ nano.
  • Phần II: Thành phần Dược mỹ phẩm: Đi sâu vào cơ chế hoạt động và lợi ích lâm sàng của các thành phần hoạt tính quan trọng. Các chương tiêu biểu bao gồm:
    • Axit Hydroxy Alpha, Poly và Bionic: Phân loại, cơ chế tẩy tế bào chết, tăng sinh collagen, và ứng dụng trong điều trị nếp nhăn, tăng sắc tố, và tình trạng tăng sừng.
    • Vitamin A Retinoids: Cơ chế hoạt động ở cấp độ phân tử, tác dụng lâm sàng của Retinol, Retinaldehyde, và Tretinoin trong điều trị lão hóa da do ánh sáng.
    • Vitamin C (L-ascorbic acid) và Chất chống oxy hóa: Vai trò chống oxy hóa, bảo vệ quang học, kích thích tổng hợp collagen, và làm sáng da.
    • Niacinamide (Vitamin B3): Lợi ích lâm sàng đa dạng như giảm tiết bã nhờn, thu nhỏ lỗ chân lông, cải thiện nếp nhăn, giảm tăng sắc tố, và củng cố hàng rào bảo vệ da.
    • Peptides có Hoạt tính sinh học và Yếu tố Tăng trưởng (GFs): Cơ chế truyền tín hiệu để kích thích tăng sinh collagen, phục hồi vết thương, và ứng dụng trong trẻ hóa da.
  • Phần III: Ứng dụng Lâm sàng Dược mỹ phẩm: Trình bày các ứng dụng thực tế trong điều trị các bệnh lý da phổ biến và hỗ trợ các thủ thuật thẩm mỹ. Các chương chi tiết về điều trị mụn trứng cá, tăng sắc tố, trứng cá đỏ, sần vỏ cam, rụng tóc, ngăn ngừa và điều trị sẹo. Đồng thời, thảo luận về việc kết hợp dược mỹ phẩm để tăng hiệu quả của các thủ thuật thẩm mỹ như peel da và laser.

Cuốn sách là một nguồn tài nguyên chuyên môn đáng tin cậy, giúp các bác sĩ lâm sàng, nhà nghiên cứu và các chuyên gia thẩm mỹ cập nhật kiến thức về thị trường dược mỹ phẩm đang phát triển nhanh chóng và đưa ra các chế độ chăm sóc da dựa trên bằng chứng khoa học cho bệnh nhân.

Trang: / 284
Trang 1 Trang 2 Trang 3
📖 Xem bản dịch / Nội dung văn bản

149
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
nền ngoại bào (ECM) bởi đầu tận cacboxyl
tiền peptide của collagen loại I. Sự tổng hợp
collagen cảm ứng các hoạt động của những
đoạn nhỏ này nằm trong trình tự pentapeptide
bao gồm KTTKS (đã mô tả trên). Dựa trên
những quan sát này, người ta cho rằng tồn tại
một vòng điều hòa trong đó việc giải phóng
các peptide từ ECM xung quanh kích thích
hoạt động của nguyên bào sợi. Giả thuyết lý
luận này đã được mở rộng để xác định các
trình tự peptide với tiềm năng điều hòa sự
sinh tổng hợp ECM với giả thuyết rằng trình
tự lặp lại trong các thành phần ECM, chẳng
hạn như collagen, có thể có tiềm năng cao
trong vai trò truyền tín hiệu tại thời điểm phá
vỡ collagen. Trình tự protein của collagen
được ấn định nhờ vào sự xuất hiện lặp lại của
trình tự tetrapeptide.
Thẩm định in vitro ở cấp độ dịch
mã và phiên mã
Tầm soát 15 chuỗi tetrapeptide kép được
thực hiện bằng cách cho các nguyên bào
sợi của da người ủ với 50 ppm tetrapeptide
trong 24 và 48 giờ, chất nổi thu được phía
trên được đánh giá về tổng lượng collagen
hòa tan. Tetrapeptide-21 (GEKG), một trình
tự được tìm thấy nhiều trong collagen I đến V,
được chứng minh là có thể cảm ứng sản xuất
collagen tại cả hai thời điểm. Khi được kiểm
tra lại bằng cách sử dụng các nguyên bào sợi
sơ cấp của da người tiếp xúc với với 1 ppm
và 10 ppm peptide trong 24 giờ, tetrapeptide
làm tăng tổng hợp collagen lần lượt là 80% và
170% (p <0,01).
Quá trình điều hòa tăng collagen đã được
xác nhận ở cấp độ mRNA, điều này đã được
phân tích bằng RT-PCR. Thành phần collagen
COL1A1 chính của da được tăng lên gấp 2,8
lần bởi Tetrapeptide-21 ở 1 ppm. Ngoài ra, ở
1 ppm, có sự tăng 24 lần fibronectin và tăng
5,7 lần hyaluronic acid synthase (HAS1).
Khái niệm bằng chứng in vivo
Hinh 14.1 Mời tình nguyện viên là người khỏe mạnh (sáu nữ và bốn nam, 40-65 tuổi, tuổi trung
bình 48,2; với 45,0 đối với phụ nữ và 54,0 đối với nam giới) đã được ghi danh sau khi có sự
đồng ý bằng văn bản vào một nghiên cứu mù đôi, có đối chứng với tá dược. Sau khi điều trị
bằng tá dược GEKG hoặc 07W 50 ppm (= giả dược 1) trong 60 ngày trên da mông, sinh thiết
được thực hiện để đánh giá hóa mô miễn dịch của procollagen I (đỏ), axit hyaluronic (đỏ) và
fibronectin (xanh).

150
Peptides có hoạt tính sinh học
Chương 14 _
Để xác định xem những hiệu ứng điều
biến này có thể được tái tạo trong in vivo,
Tetrapeptide-21 được dùng tại chỗ cho da
của 10 người tình nguyện viên khỏe mạnh
trong một nghiên cứu mù đôi, ngẫu nhiên,
có đối chứng với giả dược một lần một ngày
trong thời gian 8 tuần, chỉ sử dụng tá dược
hoặc cùng lượng tá dược tương tự nhưng
chứa 50 ppm peptide.
RNA được trích từ mẫu sinh thiết của các
vùng da điều trị, chủ yếu là da mông, phiên
mã ngược và biểu hiện gen được phân tích
bằng RT-PCR. Biểu hiện của COL1A1 đã tăng
lên đáng kể ở cả hai phương pháp điều trị sau
8 tuần, với kết quả sự gia tăng gấp 2 lần đối
với các vùng được điều trị bằng giả dược và
tăng 3,1 lần đối với tá dược chứa tetrapeptide
so với da không được điều trị. Sự khác biệt
kết quả giữa hai nhóm điều trị là có ý nghĩa (p
= 0,02, kiểm định Wilcoxon).
Các phần hóa mô miễn dịch được
nhuộm bằng kháng thể đơn dòng cho
collagen I, acid hyaluronic và fibronectin (Hình
14.1). Tất cả cho thấy sự tăng sinh tế bào rõ
ràng. | Độ đàn hồi của da được đo lường và
tính theo độ căng đàn hồi (R1) tại thời điểm
bắt đầu và kết thúc tám tuần nghiên cứu.
Tetrapeptide-21 cải thiện in vivo R1 đến 34,1%
(p = 0,002 phép kiểm T bắt cặp so với giá trị
nền). Trong một nghiên cứu thứ hai, tuyển
60 tình nguyện viên, hiệu quả sinh lý da của
Tetrapeptide-21 được xác định dựa trên khía
cạnh độ căng đàn hồi (R1), thể tích da và độ
thô ráp của da sau 8 tuần sử dụng hai lần mỗi
ngày ở 10 ppm hoặc 100 ppm. Độ đàn hồi
của da ở mặt trong cẳng tay tăng lên 41,3%
đối với 10ppm Tetrapeptide-21 trong tám
tuần. Để đánh giá hiệu quả chống lão hóa
của tetrapeptide, chụp ảnh da của đối tượng
trước và sau thời gian điều trị tám tuần bằng
VisioscanTM. Kết quả quan sát thấy có sự
giảm thể tích da lần lượt 8% và 12,2% khi sử
dụng 10 ppm và 100 ppm Tetrapeptide-21.
Độ mịn da được cải thiện 19% sau khi điều trị
với 10 ppm và tiếp tục tăng lên 41,9% bởi 100
ppm peptide. Khi nghiên cứu này được lặp lại
bằng cách sử dụng Tetrapeptide-21 10 ppm
(hai lần mỗi ngày cho 8 tuần) ở vùng quanh
mắt, quan sát thấy sự cải thiện thẩm mỹ các
nếp nhăn quang mắt (Hình 14.2). Ngoài ra,
kết quả này có liên quan đến sự cải thiện có ý
nghĩa thống kê (p <0,01) ở độ thô ráp của da
được xác định bởi hệ thống Primos Pico.

Kết Luận
Ưu điểm của công nghệ peptide
với ứng dụng trong da liễu
Peptide từ nhiều nguồn khác nhau trong
cơ thể tạo ra một loạt các tác động bên
trong và trên da. Bởi vì thực tế này, việc sử
dụng chúng như một liệu pháp điều trị tại
chỗ và các thành phần dược mỹ phẩm chăm
sóc da tạo ra ý nghĩa rất lớn như việc các
peptide bôi lên da được cơ thể xử lý theo cách
tương tự như các peptide của cơ thể vật chủ.
Do đó, chúng không gây tính miễn dịch, chủ
yếu dựa trên các chuỗi ngắn tự nhiên và được
tổng hợp từ các acid amin có trong tự nhiên.
Ngoài ra, chúng không có hoạt tính hóa học
vì hoạt tính của chúng có bản chất sinh học
(tín hiệu và gắn kết) trong cả lý thuyết và thực
tế, nên đều rất ít khả năng gây kích ứng hoặc
tác dụng phụ.
Quan trọng là, tổng hợp peptide mang
lại cơ hội và khả năng tạo ra các thành phần
chăm sóc da “thiết kế riêng” mà trước đây
chưa từng có. Thông qua việc tổng hợp,
sàng lọc các kết hợp hầu như vô tận của các
trình tự axit amin và tối ưu hóa cấu trúc hóa
học của các thành phần peptide tiềm năng,
peptide đã mở ra một thế giới với các khả
năng cho tương lai của cả thuốc và dược mỹ
phẩm.
Nhược điểm của công nghệ
peptide với ứng dụng trong da liễu
Những bất lợi đáng kể nhất đối với việc
sử dụng peptide trong điều trị da nằm ở việc
vận chuyển và tiếp cận mục tiêu. Để vận
chuyển một phân tử trên 500 mw qua các lớp

151
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Nếp nhăn mịn
Nếp nhăn trung
bình
Nếp nhăn sâu
Bắt đầu
Sau 8 tuần
Hình 14.2 Trong một nghiên cứu về nếp nhăn trên khuôn mặt
(N = 30), tác động của GEKG lên nếp nhăn trên khuôn mặt
so với tá dược 0/W đã được đánh giá. Hình ảnh cải thiện lâm
sàng điển hình về nếp nhăn quanh mắt được đưa ra trước và
sau khi điều trị hai lần mỗi ngày trong 8 tuần.

152
Peptides có hoạt tính sinh học
Chương 14 _
bên ngoài của da là vô cùng khó khăn, bằng
chứng là lĩnh vực phân phối thuốc qua da đã
sử dụng nhiều cách để giải quyết vấn đề này.
Không có sự hỗ trợ từ các chất tăng cường
thâm nhập chẳng hạn như dòng điện và
phương pháp tiêm hoặc hệ thống vận chuyển
như là các liposome hoặc các hạt nano được
nhắm trúng địch, có vẻ không khả thi khi một
peptide trên 500 m sẽ đến được lớp bì hay
thậm chí là thượng bì. Điều này trước hết là
do bản chất vật lý của da và cũng do sự hiện
diện của các protease.
Tổng hợp peptide, mặc dù không phải là
một quá trình phức tạp hoặc khó khăn, nhưng
có thể tốn kém. Sản xuất bằng phương pháp
tổng hợp (hóa học pha rắn hoặc pha dung
dịch) sử dụng các axit amin có nguồn gốc từ
thực vật là quy trình tiêu chuẩn được sử dụng
cho cả peptide trong trị liệu và thành phần.
Việc sản xuất peptide tái tổ hợp đã được ng-
hiên cứu trong nhiều năm và mặc dù nó tốn
kém hơn, sản phẩm cuối cùng có vẻ không
tinh khiết như các sản phẩm tổng hợp có sẵn.

Tương Lai
Để khai thác triệt để công nghệ này, một
cách tiếp cận hợp lý nên được thực hiện với
việc thiết kế, phát triển và thẩm định các
peptide có hoạt tính sinh học. Điều này cân
nhắc đến cơ chế hoạt động được giả định và
vị trí nơi hoạt động đó diễn ra. Các đích nằm
trên bề mặt của da có thể dễ dàng tiếp cận
và đem lại tính ứng dụng khả thi cho peptide.
Ví dụ, một peptide hiện đang được bán trên
thị trường, Oligopeptide-10, được thiết kế để
liên kết với acid lipoteichoic (độc tố trên bề
mặt vi khuẩn Gram dương) góp phần gây
viêm ở mụn trứng cá và trứng cá đỏ. Sự gắn
kết của chất độc này có thể xảy ra rất gần bề
mặt da và do đó không yêu cầu thẩm nhập
qua da. Một ví dụ khác là Tetrapeptide-14
có khả năng làm giảm lượng IL8 trong tế
bào sừng, do đó làm giảm biểu hiện MVP-1
trong nguyên bào sợi. Trong trường hợp này,
peptide không cần tiếp cận nguyên bào sợi
nhưng hoạt động thông qua tín hiệu. Những
chiến lược này tránh được nhược điểm chính
của peptide. Khi mục tiêu peptide nằm trong
các lớp dưới của da, thì các dữ liệu ủng hộ
việc áp dụng peptide trong da liễu hoặc các
sản phẩm chăm sóc da phải toàn diện, như
miêu tả trên.
Tiềm năng thực sự của công nghệ
peptide đã được chứng thực trong da liễu có
thể kết hợp với các hoạt chất hoạt động có
nguồn gốc từ các thành phần truyền thống
và liệu pháp OTC. Peptide được biến đổi để
mang lại một hoạt tính cụ thể cho một mục
tiêu cụ thể thông qua một quy trình gắn kết
đặc hiệu. Để một sản phẩm có công thức
mang lại hiệu quả vượt trội, hoạt động này
cần được bổ sung bởi các công nghệ khác
được thiết kế để giải quyết điểm mấu chốt
trên lâm sàng một cách rộng rãi và toàn diện
nhất, có thể trong cùng một sản phẩm hoặc
trong các sản phẩm đi kèm. Phân tích sâu
các hoạt động của thành phần, ví dụ: dữ liệu
microarray, có thể cung cấp một công cụ
tuyệt vời để phân tích khả năng tương thích.
Trong cơ thể, và đặc biệt là ở da, các
peptide được sản xuất nhanh chóng để phản
ứng lại sự kiện kích thích và cũng nhanh
chóng bị phân hủy. Chúng là “lính bộ binh”
của nhiều hệ thống sinh học. Và có lẽ đó là
khía cạnh hấp dẫn nhất của các peptide có
hoạt tính sinh học - khả năng bắt chước các
quá trình sinh học tự nhiên của da.

Further reading
Abu NH, Heard CM. Topically applied
KTTKS:A review. International Journal of
Cosmetic
Science 2011;33:483-490. Farwick M,
Grether-Beck S, Marini A, et al. Bioactive tet-
rapeptide GEKG boosts extracel lular matrix
formation:In vitro and in vivo molecular and
clinical proof. Exp Dermatol 2011;20:602-
604. Fields K, Falla TJ, Rodan K, et al. L bioac-
tive peptides:Signaling the future. Journal of
Cosmetic Dermatology 2009;8:8-13. Ka-

153
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
tayama K, Seyer JM, Raghow R, et al. Reg-
ulation of extracellular matrix production
by chemically synthesized subfragments of
type I collagen carboxypropeptide. Biochem-
istry 1991;30:7097-7104. Nakatsuji T, Gallo
RL. Antimicrobial peptides:Old molecules
with new ideas. Journal of
Investigational
Dermatology
2012;132:887-895. Yamasaki K, Gallo RL. Ro-
sacea as a disease of cathelicidins and skin
innate immunity.
J
Investig
Dermatol
Symp
Proc
2011;15:12-15. Zhang L, Falla TJ. Cosmeceu-
ticals and peptides. Clinics in Dermatology
2009;27:485-494. Zhang L, Falla TJ. Potential
therapeutic application of host defense pep-
tides in antimi crobial peptides. Methods Mo-
lecular Biology 2010;618:303-327

154
Peptides có hoạt tính sinh học
Chương 14 _

155
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
15
CÁC YẾU TỐ
TĂNG TRƯỞNG
DƯỢC MỸ PHẨM
TRONG

C
h
ư
ơ
n
g
Sabrina G. Fabi and Hema
Sundaram
in Butterwick, Fitzpatrick, Groff & Fabi,
Cosmetic Laser Dermatology, San Diego,
CA, daram Dermatology Cosmetic & Laser
Surgery, Rockville, MD, and Fairfax, VA, USA

156
Các yếu tố tăng trưởng trong dược mỹ phẩm
Chương 15 _
Giới thiệu
Các đặc tính cơ học, bảo vệ và phục hồi
của da suy giảm theo tuổi tác. Tiếp vic hàng
ngày với các tác nhân gây stress bên ngoài
môi trường bao gồm tia UV và khói thuốc lá,
gây tăng stress oxy hóa, hậu quả là mô tổn
thương do sự suy giảm chất chống oxy hóa,
cùng với với sự gia tăng sản xuất các chủng
oxy phản ứng (ROS - còn được gọi là các
gốc tự do). Nhiều con đường sinh hóa được
kích hoạt bởi ROS dẫn đến việc ức chế yếu
tố tăng trưởng biến đổi beta (TGFB-R2), biểu
hiện quá mức của ma trận metalloproteinase
(MMPs) là các collagenase, và tăng phản
ứng viêm thông qua con đường yếu tố hướng
nhân kappa beta (NFkB). Tia UV cũng gây ra
tổn thương trực tiếp cho các protein cấu trúc
của da.
Những tác động này làm trầm trọng
thêm tình trạng suy giảm nội tại của da, có
liên quan đến sự suy giảm dần dần khả năng
chống oxy hóa do tuổi tác cùng với việc tăng
sản xuất các loại oxy phản ứng từ quá trình
chuyển hóa oxy hóa trong các tế bào của da.
Điều này góp phần làm quá tải ROS và các
hiệu ứng sinh hóa được mô tả ở trên. Phân
tích các tế bào lão hóa cho thấy sự rút ngắn
dần telomere, cũng góp phần làm tổn thương
mô. Hình 15.1 cho thấy bảng tóm tắt các
con đường chính liên quan đến quá trình lão
hóa da.
Sự lão hóa của da, do các yếu tố bên
ngoài và bên trong, dẫn đến tổn thương nội,
ngoại bào, phá vỡ mạng lưới collagen và
elastin trong lớp bì. Các biểu hiện như khô da,
mất tính đàn hồi, teo da, rối loạn sắc tố, và
các nếp nhăn nhỏ và sâu là những đặc điểm
của lão hóa. Tìm kiếm cho các Phương pháp
điều trị an toàn, không xâm lấn để làm chậm
hoặc đảo ngược lung thay đổi này của làn da
lão hóa vẫn còn là thách thức.
Hình 15.1 Tổng quan đơn giản về các con đường sinh hóa nội và ngoại sinh của quá trình lão
hóa da. Nguồn: Courtesy of SkinMedica, Inc.

157
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Nghiên cứu về sinh lý bệnh của da bị
tổn thương do ánh sáng cho thấy ” tương
quan với một vài khía cạnh của việc lành vết
thương cấp tính an tính. Cụ thể, một số thay
đổi sinh hóa xảy ra trong quá trình lão 4 bên
trong và bên ngoài tương tự những thay đổi
xảy ra trong quá trình hình thành vết thương
và hậu quả của nó. Do đó, hiểu biết về quá
trình chữa lành vết thương có thể nâng cao
hiểu biết về lão hóa da và những can thiệp có
thể nỗ lực thực hiện làm chậm hoặc thậm chí
đảo ngược quá trình này.
Các yếu tố tăng trưởng và cytokine (sau
đây gọi là GFs) bao gồm một nhóm lớn các
protein điều hòa gắn vào các thụ thể trên bề
mặt tế bào tạo tín hiệu cho gian bào và nội
bào để kiểm soát sự tăng trưởng, sinh sôi và
phân hóa của tế bào. Trong da, chúng được
sản xuất tự nhiên bởi các nguyên bào sợi, tế
bào sừng, tế bào lympho và tế bào mast. GF
là những chất truyền tin hóa học điều hòa
các hoạt động đặc trưng, thiết yếu của tế
bào như tăng sinh tế bào, hóa hướng động
và hình thành chất nền ngoại bào. Bảng 15.1
và 15.2 cho thấy các cơ chế hoạt động chính
của các GFs và cytokine chính và phụ.
Khi da bị thương, GFs tích tụ tại vị trí tổn
thương, tương tác hiệp đồng để khởi động và
phối hợp chữa lành vết thương. GFs có thể
đảo ngược tác động của các collagenase,
tăng nồng độ collagen và giảm phản ứng
viêm mô. Ứng dụng tại chỗ của các yếu tố
tăng trưởng có nguồn gốc từ người hoặc
động vật trong các nghiên cứu lâm sàng đã
được chứng minh là làm giảm các dấu hiệu
và triệu chứng của quá trình lão hóa da. Kết
quả bao gồm giảm có ý nghĩa thống kê các
nếp nhăn và sự gia tăng tổng hợp collagen ở
lớp bì.
GF có thể có nguồn gốc từ nhiều nguồn
khác nhau bao gồm con người động vật, vi
khuẩn, nấm men và thực vật. Các GF bôi tại
chỗ nổi lên như một phương thức điều trị hấp
dẫn có thể được khai thác cho các mục đích
thẩm mỹ và y khoa. Người ta công nhận rằng
GFs và cytokine bôi tại cho có thể cùng kết
hợp để tạo ra các hiệu ứng mong muốn. Khi
hiểu biết các chúng ta về cơ chế hoạt động
của các công thức GF tăng lên, thì chúng “ có
thể áp dụng đầy đủ các lợi ích tiềm năng của
chúng trong lâm sàng.

158
Các yếu tố tăng trưởng trong dược mỹ phẩm
Chương 15 _
•
Yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu VEGF
- Hóa ứng động và phân bào đối với tế bào nội mô và thúc đẩy hình thành mạch
- Được cho là làm tăng tính thẩm của mạch máu để cải thiện dinh dưỡng mô
•
Yếu tố tăng trưởng bắt nguồn từ tiểu cầu PDGF AA, PDGF BBC:
- Hóa ứng động và phân bào nguyên bào sợi
- Được cho là điều hòa sự phát triển và phân chia tế bào trong chữa lành vết
thương
•
Yếu tố tăng trưởng chuyển dụng TGFB1, TGFB2, TGFB3
- Hóa ứng động và phân bào nguyên bào sợi
- Điều chỉnh protein nền bao gồm collagen và proteoglycan
•
Chất ức chế Metalloproteinase của mô TÌMP1, TÌMP2
- Điều chính hoạt động của các enzym ngăn ngừa sự phân hủy collagen và axit
hyaluronic
Bảng 15.1 Các yếu tố tăng trưởng và các cytokine chính.
Source: Sundaram et al. (2009). Reproduced with permission of the Journal of Drugs
in Dermatology.
•
Yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi bFGF (FGF-2), FGF-4, FGF-6, KGF (FGF-7),
FGF-9
- Được cho là có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng tế bào da và sửa chữa mô
•
Yếu tố tăng trưởng tế bào gan HGF Growth Factor HGF
- Được cho là để thúc đẩy sự phát triển mô ba chiều
•
Yếu tố tăng trưởng giống insulin IGF1, IGFBP1, IGFBP2, IGFBP3, IGFBP6
- Được cho là thúc đẩy sự phát triển và nhân lên của tế bào
•
Yếu tố tăng trưởng nhau thai PLGF.
- Được cho là có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng tế bào nội mô
•
Protein hình thái xương BMP7
- Được cho là thúc đẩy sự phát triển của các tế bào thần kinh ở các mô đang phát
triển
•
Interleukin: 15 Interleukin khác nhau bao gồm IL 10 và IL 13
- Được cho là có vai trò quan trọng trong việc chữa viêm và chữa lành vết thương
•
Các yếu tố kích thích khuẩn lạc GCSF, GM-CSF, M–CSF
- Được cho là gây tiết các cytokine khác
Bảng 15.2 Các yếu tố tăng trưởng và các cytokine phụ.
Source: Sundaram et al. (2009). Reproduced with permission of the Journal of Drugs
in Dermatology

159
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Sinh lý bệnh của lão hóa da
Lão hóa da nội sinh và ngoại sinh là quá
trình tích lũy xảy ra đồng thời, Theo thời gian,
chúng dẫn đến giảm lượng collagen ở da và
elastin. Đánh giá mô học của vùng da bị tổn
thương do ánh nắng mặt trời cho thấy có sự
dát phẳng lớp liên kết bì- thượng bì với mất
các nhu bì, giảm hoạt động của nguyên bào
sợi, giảm độ dày lớp bì, giảm mạch máu và
các sợi elastin bị phân mảnh, sắp xếp lộn
xộn. Sự giảm tổng hàm lượng elastin và giảm
khả năng tổng hợp tiền collagen loại I đã được
quan sát thấy ở da bị tổn thương do ánh nắng
mặt trời so với da người trẻ. Da bị tổn thương
bởi ánh nắng cho thấy sự sụt giảm có ý
nghĩa thống kê (20%) trên tổng lượng collagen
so với da được bảo vệ khỏi ánh nắng mặt
trời, và cả da được bảo vệ khỏi ánh nắng mặt
trời và da bị tổn thương do ánh sáng đều cho
thấy sự giảm bề dày trung bình lớp thượng
bì theo tuổi. Hơn nữa, lão hóa nôi sinh gây ra
sự giảm sản xuất và nồng độ các yếu tố tăng
trưởng trong da.

So sánh lão hóa da với sự
hình thành và lành thương
Một số thay đổi sinh hóa trong quá trình
lão hóa da nội sinh và ngoại sinh tương tự
như những thay đổi được quan sát thấy khi
vết thương xảy ra. GF được biết là rất quan
trọng đối với quá trình lành vết thương phức
tạp, nhiều bước. Mức GF trong cơ thể đạt đỉnh
điểm ở tuổi trẻ và giảm dần sau đó. Do đó, có
thể giả thuyết rằng lão hóa da tương tự như
một vết thương đủ rộng để lấn át các cơ chế
sửa chữa vốn có của da, thứ trở nên suy yếu
theo tuổi tác. Điều này cung cấp cơ sở lý luận
cho việc bôi GFs tại chỗ có nhiệm vụ chữa
lành vết thương, với mục đích bổ sung lượng
GFs bị suy giảm và làm chậm hoặc thậm chí
đảo ngược quá trình lão hóa da. Cơ sở lý luận
có thể được mở rộng cho vết thương da do
điều trị, chẳng hạn như laser và các thủ thuật
trẻ hóa da khác; giả thuyết cho rằng GFs tại
chỗ cũng có thể giúp lành vết thương trong
tình huống này và thậm chí có thể nâng cao
hiệu quả cuối cùng.
Phản ứng chữa lành vết thương bắt đầu
sau khi vết thương da xảy ra, thúc đẩy sự
phát triển của tế bào mới và giảm sự co thắt
và tạo sẹo của vết thương. Quá trình lành
vết thương thường được chia thành 4 giai
đoạn: cầm máu, phản ứng viêm, tăng sinh và
tái tạo. Các giai đoạn khác nhau được kiểm
soát bởi GF, cũng như quá trình chuyển đổi
từ giai đoạn này sang giai đoạn tiếp theo. Sự
tương tự giữa da tổn thương và da lão hóa
được củng cố bởi sự thật là tình trạng viêm
ban đầu thấy ở da tổn thương có ROS là trung
gian, giống như những thay đổi ở da lão hóa.
Đáng chú ý là, trong khi quá trình lão hóa nội
sinh không liên quan đến tình trạng viêm,
hiện tượng tổn thương do ánh sáng cấp tính
có liên quan đến tình trạng viêm qua trung
gian ROS. Giai đoạn tăng sinh, được gọi là
giai đoạn tạo mô hạt, được đánh dấu bằng
sự hình thành mạch, tạo xơ và lăng độ chất
nền ngoại bào, tất cả đều dẫn đến tái biểu mô
hóa. Giai đoạn tái tạo , còn được gọi là giai
đoạn tăng trưởng, là giai đoạn cuối cùng của
quá trình chữa lành vết thương sau khi tạo hạt
và tái biểu mô hóa vết thương hay giai đoạn
bong vảy sau viêm của da bỏng nắng. Trong
giai đoạn sửa chữa vết thương này, tích trữ và
tái tạo lại ECM xảy ra, cấu trúc collagen loại
III và elastin có sức bền thấp, tổ chức tương
đối kém, được tạo ra trong quá trình lành vết
thương ban đầu được thay thế bằng collagen
loại I bền vững hơn và cấu thành sợi elastin
để tái tạo sức mạnh cũng như khả năng phục
hồi cho lớp bì. Giai đoạn tu sửa này có thể
kéo dài trong vài tháng. Hình 15.2 cho thấy
các GF hoạt động trong ba giai đoạn chính
của quá trình chữa lành vết thương: ban đầu,
viêm qua trung gian ROS, tiếp theo là tạo mô
hạt ở vết thương và cuối cùng là tái tạo vết
thương.

160
Các yếu tố tăng trưởng trong dược mỹ phẩm
Chương 15 _
Hình 15.2
Các GF chính hoạt động
trong quá trình chữa lành
vết thương. GF là một
phần của mạng liên lạc
tế bào phức tạp và hoạt
động hài hòa với nhau.
Sự cân bằng giữa sự phát triển và thoái
lui của phản ứng viêm liên quan đến các yếu
tố tăng trưởng và cytokine bao gồm PDGF,
VEGF, HGF, TGF B, EGF, G-CSF, KGF, IL-6 và
IL-8, và kết quả là chữa lành vết thương thành
công.

Các GFs và Cytokine trong
quá trình lão hóa da
Quá trình chữa lành vết thương phụ
thuộc vào sự tương tác phức tạp giữa các
GF khác nhau. GFs liên quan đến chữa lành
vết thương có thể tạo ra collagen, elastin
mới, hình thành glycosaminoglycan và trung
gian hình thành mạch. Nếu một số tác nhân
này được cung cấp cho các tế bào ở da lão
hóa có nhiệm vụ sản xuất và tái tạo chất nền
ngoại bào, chúng có thể làm trung gian cho
quá trình trẻ hóa da.
Các nghiên cứu đã cho thấy sự xâm
nhập tối thiểu của các phân tử ưa nước trọng
lượng phân tử lớn hơn 500 Da vào lớp sừng
nguyên vẹn. GFs là những phần tử lớn, ưa
nước có trọng lượng phân tử lớn hơn 15.000
Da. Do đó, khó có khả năng GF có thể thâm
nhập vào lớp biểu bì nguyên vẹn với số lượng
đủ để tạo ra các hiệu ứng lâm sàng đáng
kể. Người ta tin rằng một Cơ chế mà GF có
thể phát huy tác dụng của chúng ở lớp bì là
thông qua sự xâm nhập qua các nang lông
và tuyến mồ hôi. Da lão hóa cũng có thể cho
phép thẩm thấu tốt hơn, vì chức năng hàng
rào của nó có phần bị tổn thương. Một khi
GF đã thâm nhập vào lớp sừng, chúng có
thể tương tác Với các thụ thể đặc hiệu trên
tế bào sừng, bắt đầu một dòng thác tín hiệu
cytokine tác động đến nguyên bào sợi và các
tế bào khác ở lớp bì. Sự liên kết tượng bì- bì
này trong quá trình chữa lành vết thương có
thể phản ánh tác động của GFs ngoại sinh,
được bồi tại chỗ. Sự khuếch đại tác dụng ban
đầu của GFs tại chỗ có thể xảy ra khi các tế
bào sừng kích thích nguyên bào sợi tổng hợp
các yếu tố tăng trưởng, từ đó kích thích tăng

161
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
sinh tế bào sừng (Hình 15.3). Kết quả của sự
tạo collagen và tái tạo lại chất nền. ngoại bào
có đã được quan sát trên mô học (Hình 15.3)
và có thể tích quan với các kết quả lâm sàng
được trình bày chi tiết dưới đây.
Hình 15.3 Đề xuất cơ chế hoạt động và thác tín hiệu cho GFs và cytokine.
Nguyên bào sợi cơ
Nguyên bào sợi
(tension+)
Tiện nguyên bào sợi cơn
(tension+++)
Tế bào sừng
Lợi ích và chỉ định lâm sàng
GFs người bôi tại chỗ có bán trên thị
trường được lấy từ nguyên bào sợi nuôi
cấy nguồn gốc từ bao quy đầu trẻ sơ sinh
(TNS Recovery ComplexTM, SkinMedica
Inc., Carlsbad, CA) và các protein tế bào da
đã qua xử lý (PSPTM, Neocutis, Lausanne,
Thụy Sĩ), có chứa hỗn hợp các cytokine, các
yếu tố tăng trưởng và chất chống oxy hóa
có nguồn gốc từ các dòng tế bào của thai
nhi. GF có nguồn gốc từ dịch tiết của ốc sên
Cryptomphalus aspersa (SCA) cũng có sẵn
trên thị trường (TensageTM, Biopelle, Inc.,
Ferndale, MI, sản xuất bởi Công ty Industrial
Farmabolica Cantabria, SA).
Trong một nghiên cứu lâm sàng, một hỗn
hợp gồm nhiều GF có nguồn gốc từ nguyên
bào sợi của người (TNS Recovery Complex)
đã được bôi tại chỗ cho 14 bệnh nhân hai lần
mỗi ngày trong 60 ngày với mục đích kích
thích tái tạo da. Các bệnh nhân được đánh giá
phân loại lâm sàng về lão hóa ánh sáng trên
thang điểm chín, bằng phương pháp đo cấu
trúc quang học trên mẫu sinh thiết bấm trên
vùng da đã điều trị để đánh giá những thay
đổi về độ dày và mô bệnh học vùng Grenz.
Khoảng 78,6% bệnh nhân bị tổn thương da

162
Các yếu tố tăng trưởng trong dược mỹ phẩm
Chương 15 _
Hình 15.4 Kết quả sau khi áp dụng hỗn hợp Yếu tố tăng trưởng và cytokine tại chỗ (TNS
Recovery Complex, SkinMedica) hai lần mỗi ngày trong 60 ngày ở 14 bệnh nhân. Các thành
màu đen trên máy đo quang thể hiện độ dày của vùng Grenz của lớp hạ bì. Biểu đồ hình cột cho
thấy sự gia tăng trung bình trên 35% độ dày của vùng Grenz ở 14 bệnh nhân được nghiên cứu.
Nguồn: Fitzpatrick & Rostan,
do ánh sáng cho thấy sự cải thiện lâm sàng
sau 60 ngày (Hình 15.4). Đánh giá bằng kính
hiển vi ghi nhận 37% cho thấy sự hình thành
collagen mới trong vùng Grenz, và 27% cho
thấy sự dày lên của thượng bì (Hình 15.4).
Một nghiên cứu mù đôi ngẫu nhiên với
tá dược, dùng cùng một hỗn hợp GF trên 60
bệnh nhân với độ tuổi trung bình là 55 và
lão hóa ánh sáng trên khuôn mặt (nhẹ đến
trung bình ở 48 đối tượng và nặng ở 12 đối
tượng) cho thấy sự cải thiện về nếp nhăn nhỏ
quanh mắt, màu da, kết cấu và tăng sắc tố.
(p = 0,012 tại 3 tháng) (Hình 15.5). Đánh giá
từ bệnh nhân và bác sĩ được thực hiện trước
điều trị, 3 và 6 tháng sau. Hình ảnh từ máy
đo quang học của các vết hằn bề mặt da
silicone cho thấy sự cải thiện độ nhám da (p
= 0,045 sau 3 tháng) (Hình 15.6 và 15,7).
Một nghiên cứu của PSP (Biocream,
Neocutis, Lausanne, Thụy Sĩ) đã đánh giá
những thay đổi về mặt lâm sàng, mô học và
cơ sở cấu trúc từ các GF có nguồn gốc từ
con người, Mười hai đối tượng thoa kem hai
lần một ngày cho toàn bộ khuôn mặt trong
6 tháng. Sinh thiết bấm vùng da trước tại
trước và sau điều trị. Các đánh giá sâu hơn
bao gồm chụp ảnh và đánh giá lâm sàng trên
da mặt để tìm các nếp nhăn. Cải thiện lâm
sàng của các nếp nhăn quanh mắt và quanh
miệng ghi nhận trung bình lần lượt là 33% và
25%. Đánh giá mô học cho thấy những thay
đổi trung bình về độ dày thượng bì cũng như
sự gia tăng mật độ nguyên bào sợi ở lớp bì
nông vào thời điểm cuối của 6 tháng điều trị.
Kính hiển vi điện tử cho thấy những thay đổi
về mặt mô học bằng những phát hiện phù
hợp với sự hình thành collagen mới.

163
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Hình 15.5 Kết quả lâm sàng sau khi áp dụng hỗn hợp Yếu tố tăng trưởng có nguồn gốc từ người
và hỗn hợp cytokine (TNS Recovery Complex) hai lần mỗi ngày trong 60 ngày ở 60 bệnh nhân.
Cải thiện các nếp nhăn tốt và tăng sắc tố dạng đốm rõ ràng.
Ấn tượng bề mặt da của vùng quanh mắt
Hinh 15.6 Vết hằn bề mặt da trên silicone từ vùng quanh mắt của bệnh nhân được điều trị bằng
hỗn hợp GF có nguồn gốc từ người tại chỗ. Số lượng và độ sâu của vết hằn giảm rõ rệt sau 6
tháng sử dụng.

164
Các yếu tố tăng trưởng trong dược mỹ phẩm
Chương 15 _
Hình 15.7. Phân ,tích cấu hình quang học của các vết bằng bề mặt da bằng silicone. Sự giảm
đáng kể có ý nghĩa thống kê về các nếp nhăn thô và mịn được nhìn thay sau 3 tháng và cải
thiện có ý nghĩa sau 6 tháng.
Trong một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù
đôi, hai trung tâm, kéo dài 14 tuần, 25 bệnh
nhân bị lão hóa ánh sáng vùng mặt mức
độ trung bình đến nặng được điều trị trong
12 tuần với nhũ tương chứa 8% SCA và se-
rum lỏng chứa 40% SCA (Tensage) ở một
bên của khuôn mặt và với kem giả dược ơ
bên đối diện. Các vết hằn da silicon của nếp
nhăn quanh mắt được thực hiện trước và sau
12 tuần điều trị. Đánh giá từ bệnh nhân và
bác sĩ cũng được thực hiện lúc ban đầu và
lúc 8,12 và 14 tuần. Ở tuần thứ 12, có sự cải
thiện đáng kể về nếp nhăn thô quanh mắt ở
phía bên được điều trị bằng hoạt chất GF (p =
0,03). Kết cấu da cũng được cải thiện ở 8 và
12 tuần vẫn được cải thiện trong 2 tuần sau
khi ngừng sản phẩm (14 tuần) (Hình 15.8).
Những phát triển mới
Một bước phát triển mới thú vị là thế
hệ GFs từ việc nuôi cấy các nguyên bào sợi
nguồn gốc từ da của trẻ sơ sinh chứng minh
các biểu hiện đa năng trong điều kiện thiếu
oxy mô phỏng môi trường của bào thai. Các
nguyên bào sợi này biểu hiện và tiết ra các
GF bao gồm KGF, VEGF và IL-8, cùng với các
protein liên kết với tế bào gốc. Người ta giả
thuyết rằng điều này có
thể tạo ra đặc điểm tái tạo sản sinh
collagen nhiều hơn, với sự biểu hiện nhiều
hơn của collagen loại III và V so với collagen
loại I, như được quan sát thấy ở thai nhi nơi da
được chữa lành không sẹo. Một nghiên cứu
so sánh lotion có chứa môi trường nuôi cấy
được tạo ra bởi các nguyên bào sợi đa năng
này (ReGenica, Suneva Medical) đã được
thực hiện trên 49 đối tượng được tái tạo bê
mặt bằng công cụ laser Erbium vung quanh
mat va quanh miệng. Vào ngày thứ 7, sau
khi tái tạo bề mặt bằng laser, mức độ đỏ da
quanh mắt và quanh miệng giảm nhiều hơn
so với bôi giả dược, được xác định bằng cách
đánh giá mù dựa vào lâm sàng và bằng các

165
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
phép đo mexameter. Việc sử dụng mỡ phục
hồi cũng giảm có ý nghĩa thống kê ở những
đối tượng được điều trị bằng lotion dạng hoạt
động (p = 0,0004).
Một đánh giá chia đôi mặt 42 đối tượng
trải qua kết hợp thủ thuật laser có và không
Hình 15.8 Kết quả lâm sàng sau khi bôi hỗn hợp Yếu tố tăng trưởng có nguồn gốc từ động vật
và hỗn hợp cytokine (Tensage) trong 14 tuần ở 25 bệnh nhân. Nữ da trắng lúc ban đầu (trên
cùng) và 14 tuần (dưới). Phần bên trái của khuôn mặt nhận được GF hoạt động; phía bên phải
nhận được kem giả dược. Courtesy of Joel Cohen, MD.
bóc tách cho thấy sự hồi phục nhanh chóng
hơn về chức năng hàng rào da bình thường
với gel có chứa GF hoạt tính, được đo bằng
sự mất nước qua biểu bì (p nhỏ hơn hoặc =
0,05)

166
Các yếu tố tăng trưởng trong dược mỹ phẩm
Chương 15 _
Cân nhắc về an toàn và hiệu
quả
Tất cả các sản phẩm bôi ngoài da đều
có nguy cơ gây kích ứng hoặc viêm da tiếp
xúc dị ứng. Vì một số tế bào ác tính có thể có
các thụ thể đối với một vài GF nhất định và
một số GF có thể làm tăng sinh tế bào, nên
có tranh cãi về việc liệu GF có tiềm năng tạo
khối u hoặc thúc đẩy các tế bào không điển
hình. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của các
GF cụ thể với da động vật và tế bào khối u ở
người đã cho thấy các kết quả khác nhau. Cơ
sở của việc ngoại suy những dữ liệu này để
áp dụng hỗn hợp GF bôi lên da người vẫn còn
cần được làm sáng tỏ.
Trong một nghiên cứu, EGF, TGF-a và
suramin (chất ức chế yếu tố tăng trưởng)
được bôi lên da chuột trong 9 ngày trước
khi chuột bị thí nghiệm. Người ta thấy rằng
TGF-a làm tăng hoạt động của creatine
phosphokinase (CPK). EGF và TGF-a đều
gây ra sự chuyển đổi từ CPK MM sang
isoenzyme CPK BB. Ý nghĩa của những phát
hiện này là hệ thống phosphocreatine / CPK
được tin là đóng vai trò quan trọng trong sinh
lý bình thường của da và trong các tình trạng
sinh lý bệnh như bệnh vẩy nến và ung thư.
Đánh giá mô bệnh học cho thấy sự biệt hóa
và phân bố bất thường của các tế bào sừng.
Trong một nghiên cứu về các tế bào khối u
ở người bằng cách sử dụng phản ứng chuỗi
polymerase sao chép ngược, biểu hiện VEGF
được tìm thấy trong tất cả 15 dòng tế bào
được kiểm tra, trong khi thụ thể VEGF, KDR, chỉ
được phát hiện ở ba dòng tế bào melanoma.
Bổ sung VEGF ngoại sinh (10 ng / mL) có thể
kích thích tăng sinh các tế bào melanoma
này lên đến 40%. Ngược lại, Graeven và cộng
sự nhận thấy VEGF ngoại sinh không có
tác động đáng kể đến sự tăng sinh tế bào
melanoma hoặc sự sản xuất mục tiêu phiên
mã cho VEGF. Một nghiên cứu khác về các
tế bào khối u ở người, bao gồm carcinoma tế
bào vảy ở đầu và cổ và các melanoma, cho
thấy rằng điều trị VEGF tế bào khối u biểu
hiện thụ thể, VEGFR-1, thực sự ức chế sự
tăng sinh và di cư của tế bào.
Cho đến nay, không có dữ liệu hoặc báo
cáo nào chỉ ra rằng GFs tại chỗ có thể có vai
trò kích thích hoặc ức chế trong quá trình sinh
ung thư ở người. Các tiếp cận dựa trên bằng
chứng thực nghiệm yêu cầu các nghiên cứu
có nhóm chứng về GF được bôi tại chỗ trên
da người còn nguyên vẹn, thay vì các báo cáo
trên lý thuyết hoặc nghiên cứu trên động vật
sử dụng nồng độ GFs vượt ngưỡng sinh lý.
Còn nhiều tranh cãi về việc liệu tác dụng của
việc sử dụng nồng độ cao của một hoặc một
vài GF có thể được ngoại suy cho tình trạng
lâm sàng của việc sử dụng nồng độ thấp hơn
của hỗn hợp chứa nhiều GF. Sản xuất và hoạt
động của GF nội sinh của cơ thể được kiểm
soát chặt chẽ bởi các cơ chế phản hồi âm và
dương. Hỗn hợp GF tiết ra tự nhiên có thể ở
trạng thái tương tự cân bằng sinh ly va cùng
hướng đến các cơ chế kiểm soát tương tự.
Giống như nhiều protein, GFs vốn không
ổn định khi không ở trong môi trường sinh
lý của chúng. Các công thức có chứa chất
hoạt động e mặt, dầu và các tá dược khác
có thể làm biến tính và bất hoạt protein. Do
đó, hiệu quả lâm sàng của hỗn hợp GF chỉ có
thể được đánh giá chính xác bằng các nghiên
cứu sử dụng công thức hoàn chỉnh, thay vì
từng thành phần riêng lẻ.

KẾT LUẬN
Các yếu tố tăng trưởng và cytokine
(GF) nâng cấp quá trình hồi phục và tái tạo
tế bào. Các yếu tố tăng trưởng tại chỗ đã
được chứng minh là có khả năng kích thích
sự hình thành collagen mới và làm dày lớp
biểu bì, dẫn đến cải thiện lâm sàng các vết
sần và độ nhám cua da. GF cũng có thể hoạt
động hiệp đồng với chất chống oxy hóa va
retinoids. Các bằng chứng thực nghiệm đánh
giá tác dụng lâm sàng của GFs, bao gồm
cả hoạt động của chúng khi kết hợp với các
hoạt chất chống lão hóa, cần có các nghiên
cứu có nhóm chứng sâu hơn, lý tưởng là tá
dược - nhóm chứng. Trong tất cả các quy

167
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
trình sản xuất dược mỹ phẩm, tính bền vững
và chất lượng của các sản phẩm GF vẫn là ưu
tiên hàng đầu.

Further reading
Babu M, Wells A. Dermal-epidermal com-
munication in wound healing. Wounds 2001;
13:183-189.
Eming SA, Krieg T, Davidson JM. Inflam-
mation in wound repair: molecular and cel-
lular mechanisms. J Invest Dermatol 2007;
127: 514-525.
Fabi SG, Peterson JD, Kiripolsky MG, Co-
hen J, Goldman MP. The effects of filtrate of
the secretion of the cryptomphalus aspersa
(SCA) on photoaged skin. JDrugs Dermatol
2013; 12(4): 453-457.
Fitzpatrick RE. Endogenous growth fac-
tors as cosmeceuticals. Dermatol Surg 2005;
31:827-831 [discussion 831].
Fitzpatrick RE, Rostan EF. Reversal of
photodamage with topical growth factors: A
pilot study. J Cosmet Laser Ther 2003; 5: 25-
34.
Hussain M, Phelps R, Goldberg D. Clini-
cal, histologic, and ultrastructural changes
after use of human growth factor and cyto-
kine skin cream for the treatment of skin reju-
venation. J Cosmet Laser Ther, 10:2,104-109.
Kellar R, Hubka M, Lawrence A Rheins,
Fisher G., Naughton G. Hypoxic conditioned
culture medium from fibroblasts grown un-
der embryonic-like conditions supports heal-
ing following post-laser resurfacing. J Cos-
met Dermatol 2009; 8: 190-196.
Liu B, Earl HM, Baban D, et al. Melano-
ma cell lines express VEGF receptor KDR and
respond to exogenously added VEGF. Bio-
chem BiophysRes Commun 1995; 217:721
-727. Mehta RC, Fitzpatrick RE. Endogenous
growth factors as cosmeceuticals. Dermatol
Ther 2007; 20(5): 350-359. Review.
Moulin V. Growth factors in skin wound
healing. Bur J Cell Biol 1995; 68(1): 1-7
Sundaram H, Mehta RC, Norine JA, Kircik L,
Cook-Bolden FE, Atkin DH, Werschler PW,
Fitzpatrick RE. Topically applied physiolog-
ically balanced growth factors: a new para-
digm of skin rejuvenation. J Drugs Dermatol.
2009; 8(5 Suppl. Skin Rejuvenation): 4-13.
Review.

168
Các yếu tố tăng trưởng trong dược mỹ phẩm
Chương 15 _

169
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
16
RESVERATROL :
CHẤT KÍCH HOẠT
TỔNG HỢP SIRTUIN

C
h
ư
ơ
n
g
Patricia K. Farris
Tulane University School of Medicine,
New Orleans, LA, USA

170
Resveratrol - Chất kích hoạt tổng hợp sirtuin
Chương 16 _
Giới thiệu
Quan sát cho thấy việc hạn chế ăn uống,
nhằm kéo dài tuổi thọ và giảm các bệnh liên
quan đến tuổi tác, đã dẫn đến việc phát hiện
ra một họ các enzym gọi là sirtuin. Sirtuin
được mã hóa bởi gen lặn điều hòa thông tin
(SIR). Các gen SIR được tìm thấy ở hầu hết
các loài và kiểm soát chức năng của các gen
khác. Họ Sir của gen được phát hiện lần đầu
tiên ở nấm men Saccharomyces cerevisiae.
Gen mới này được gọi là điều hòa thông tin
kiểu giao phối lặn (silent mating type)-2 (Sir2)
và sau đó được xác định có cả ở ruồi giấm
và giun đũa. Ở những sinh vật này, Sir2 đóng
vai trò quan trọng trong việc điều hoà nhiều
con đường chuyển hóa, bao gồm những con
đường ảnh hưởng đến sự lão hóa và tuổi
thọ. Bảy gen sirtuin (SIRT1 - SIRT7) hiện đã
được xác định ở động vật có vú. Gen đầu
tiên, SIRT1, được coi là tương đương về mặt
sinh học với Sir2. Mỗi gen SIRT mã hóa cho
một loại enzyme sirtuin duy nhất được đánh
số tương ứng. Theo đó, sản phẩm của gen
SIRT1 là enzym SIRT1.
Sirtuin của động vật có vú được tìm thấy
trong nhân, tế bào chất và ty thể. SIRT1, SIRT2,
SIRT6 và SIRT7 được tìm thấy trong nhân,
trong khi SIRT1 và SIRT2 cũng nằm trong tế
bào chất. SIRT3, SIRT4 và SIRT5 được tìm
thấy trong ty thể. Ngoài việc hiện diện trong
các ngăn tế bào khác nhau, sirtuins còn được
biểu hiện ở các mức độ khác nhau trong các
mô khác nhau. SIRT1 có lẽ được nghiên cứu
kỹ lưỡng nhất trong số tất cả các sirtuins.
Nó được biểu hiện trong nhiều loại mô bao
gồm vùng dưới đồi, tim, tuyến tụy, thận, gan,
cơ xương và chất béo. SIRT2 có nhiều nhất
trong mô mỡ, nhưng cũng được tìm thấy
trong não và hệ thần kinh. SIRT3 được tìm
thấy trong cơ xương, mỡ nâu và trắng, thận,
gan và tim. SIRT4 được tìm thấy trong tuyến
tụy và SIRT5 được thể hiện trong tim, não, cơ,
thận và gan. SIRT6 được tìm thấy trong tim,
não, cơ, thận và gan trong khi SIRT7 được tìm
thấy trong tim và mô mỡ (Bảng 16.1).
Sirtuin
Vị trí tác động
Sirtuin 1
Nhân, tế bào chất
Vùng dưới đổi, tim, tuyến tuy, thận, gan, cơ xương và
mỡ
Sirtuin 2
Nhân, tế bào chất
Mỡ, não, hệ thần kinh
Sirtuin 3
Ty thể
Cơ xương, mỡ nâu và trắng, thận, gan, và tim
Sirtuin 4
Ty thể
Tụy
Sirtuin 5
Ty thể
Tim, não, cơ, thận, và gan
Sirtuin 6
Nhân
Tim, não, thận
Sirtuin 7
Nhân
Tim và mô mỡ
Bảng 16.1 Sirtuins và Vị trí tác động.

171
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Phần lớn các enzym sirtuin được
phân vào nhóm histone deacetylases loại
III. Những enzym này có trên các protein
khác nhau có trong phản ứng phụ thuộc
nicotinamide adenine dinucleotide (NAD+).
Một khi nhóm acetyl được loại bỏ khỏi a
cetyl lysine có trong histone, nó được chuyển
thành gốc ADP-ribose của NAD+. Nói chung,
khi histone loại bỏ acetyl, quá trình phiên mã
không xảy ra. Do đó, sirtuins chủ yếu hoạt
động như gen lặn. Ngoài ra, một số sirtuins
tham gia vào phản ứng deacetylase không
histone trong khi những loại khác có hoạt
động monoribosyltransferase (mono-ADP-
ribosyltransferase).
Sự biểu hiện của các gen sirtuin bị ảnh
hưởng bởi những thay đổi trong môi trường
sống và chế độ ăn. Hạn chế calo thay đổi biểu
hiện của sirtuin theo cách cải thiện khả năng
thích ứng của cơ thể với stress từ môi trường
và kéo dài tuổi thọ. Nó đã được chứng minh
rằng việc hạn chế calo ở những con chuột bị
thiếu hụt SIRT1 không làm kéo dài tuổi thọ.
Dữ liệu trên người cũng đánh giá vai trò này
của sirtuins. Ở người khỏe mạnh, huyết thanh
được thu thập trước và sau khi hạn chế calo
hoặc thay phiên nhịn ăn trong ngày. Khi được
thêm vào các tế bào nuôi cấy, huyết thanh thu
được sau khi hạn chế calo hoặc nhịn ăn tăng
biểu hiện của SIRT1. Các nghiên cứu SIRT1 ở
những người tình nguyện thừa cân đã chứng
minh rằng việc hạn chế lượng calo nạp vào
25% hoặc 12,5% với mức tăng tập thể dục lên
12,5%, đã làm tăng sự biểu hiện của SIRT1
so với nhóm chứng được cung cấp 100% nhu
cầu năng lượng. Một nghiên cứu đáng quan
tâm khác ở phụ nữ béo phì, tuân theo chế
độ ăn kiêng 10 tuần gồm ít chất béo (nhiều
carbohydrate) hoặc chế độ chất béo vừa phải
(ít carbohydrate), có sự gia tăng biểu hiện của
năm gen trong đó có SIRT3 trong mô mỡ ở
những phụ nữ ăn theo chế độ chất béo vừa
phải. Hai chế độ ăn kiêng trên cho thấy mức
giảm cân nặng và profile giống nhau cho hầu
hết các biến số sinh học, ngoại trừ profile
lipid.
Dường như những thay đổi trong biểu
hiện sirtuin gây ra bởi sự hạn chế ăn uống,
và các tác động sinh học mà chúng gây ra,
là những phản ứng đáp ứng với stress của
chế độ ăn. Sirtuins được biết là điều chỉnh
sự tồn tại của tế bào, sửa chữa DNA, tân
tạo glucose, điều hòa chu kì tế bào, chuyển
hóa lipid, độ nhạy insulin, huy động chất béo
và tuổi thọ. Nhịn ăn gây ra biểu hiện SIRT1
trong gan, cơ xương và mô mỡ trắng. Ở gan,
SIRT1 thúc đẩy quá trình tạo glucose bằng
cách tăng phiên mã các gen tạo glucose
quan trọng thông qua deacetyl hóa PGC-la
và FOXO1. Ngoài việc thúc đẩy tăng tạo glu-
cose, hoạt tính của sirtuin làm tăng độ nhạy
với insulin. Những tác dụng sinh học kết hợp
này của SIRT1 là cơ chế thích ứng giúp duy
trì đường huyết khi đói. SIRT1 ở gan điều hòa
cân bằng nội môi lipid bằng cách điều hòa
tích cực thụ thể alpha (PPARa) kích hoạt per-
oxisome, một thụ thể nhân trung gian đáp
ứng thích ứng với nhịn đói và đói. PPARa thúc
đẩy phân giải lipid và huy động axit béo tự do
có thể được sử dụng như một nguồn năng
lượng khi đói.

Resveratrol: chất hoạt hóa
của sirtuin
Vì tầm quan trọng của sirtuins và vai trò
của chúng đối với sức khỏe, tuổi thọ, người ta
đã rất quan tâm đến việc xác định các phân
tử có thể mô phỏng tác dụng của chúng. Việc
sàng lọc các hợp chất tiềm năng dẫn đến việc
phát hiện resveratrol là một trong những phân
tử kích hoạt sirtuin mạnh nhất. Resveratrol
(3,4,5-trihydroxystilbene) là một chất chống
oxy hóa polyphenol được tìm thấy trong
nhiều loại quả mọng, quả hạch và các
nguồn thực vật khác. Nho và rượu vang đỏ
chứa hàm lượng resveratrol cao và thường
được coi là nguồn dinh dưỡng. Ở Pháp,
resveratrol khi uống rượu vang đỏ có liên
quan đến tỷ lệ mắc bệnh tim thấp, khiến
giới khoa học quan tâm đến lợi ích trên sức
khoẻ của rượu vang đỏ. Resveratrol đã được
nghiên cứu trên mô hình động vật và cho thấy

172
Resveratrol - Chất kích hoạt tổng hợp sirtuin
Chương 16 _
cải thiện việc đề kháng insulin và sức khỏe
tim mạch, bảo vệ các tế bào thần kinh khỏi
sự thoái hoá, giảm viêm, ngăn ngừa ung thư
và tăng tuổi thọ. Vì hội chứng chuyển hóa và
hận chế calo là hai mặt đối lập, không có gì
ngạc nhiên khi resveratrol đã được xem như
một tác nhân dược lý nhằm điều trị hội chứng
chuyển hóa. Nhiều nghiên cứu sau đó in vitro
và thí nghiệm trên động vật đã chứng minh
rằng resveratrol làm giảm sự tích tụ chất béo,
cải thiện độ nhạy insulin và cải thiện cân bằng
nội môi glucose. Vì đây là những thành phần
chính của hội chứng chuyển hóa, các nghiên
cứu trong tương lai sẽ làm rõ liệu những tác
dụng có lợi này của resveratrol có thể tái tạo
ở người hay không.

Resveratrol: bảo vệ quang
học và dự phòng hóa học
Resveratrol có hoạt tính sinh học quan
trọng trên da bao gồm bảo vệ quang học và
dự phòng hóa học. Là một chất chống oxy
hóa, resveratrol đã được chứng minh là làm
giảm stress oxy hóa do tia UVA gây ra và
tăng khả năng sống của tế bào sau khi tiếp
xúc với tia UVA. Resveratrol thực hiện hoạt
động chống khối u bằng cách tác động đến
cả ba con đường sinh ung thư, bao gồm khởi
đầu, thúc đẩy và tiến triển. Những con chuột
không có lông được bôi resveratrol 30 phút
trước khi tiếp xúc với tia UVB hoặc 5 phút
sau khi tiếp xúc với tia UVB đểu cho thấy khả
năng ức chế hình thành khối u. Sau 28 tuần
tiếp xúc với tia UVB, cả hai nhóm chuột được
điều trị bằng resveratrol đều làm chậm quá
trình khởi phát và giảm tỷ lệ hình thành khối
u. Vì việc điều trị trước hay sau đều mang
lại hiệu quả bảo vệ tương tự nhau, nên lợi
ích của resveratrol không được cho là do
tác dụng chống nắng. Resveratrol biểu hiện
hoạt tính chống khối u một phần bằng cách
điều chỉnh giảm biểu hiện và chức năng của
survivin, một chất ức chế thuộc họ gen
apoptosis. Resveratrol cũng gây ra apoptosis
bằng cách tăng biểu hiện của các gen ức chế
khối u, bao gồm P-53. Resveratrol cũng đã
được chứng minh hoạt động như một chất
nhạy cảm để tăng hiệu quả điều trị của bức
xạ ion hóa chống lại các tế bào ung thư.

Resveratrol với tư cách tác
nhân chống lão hoá
Resveratrol có tiềm năng đáng kể như một
chất bôi ngoài da để điều trị da lão hóa. Trong
một nghiên cứu so sánh, khả năng chống
oxy hóa của một sản phẩm chăm sóc da có
bán trên thị trường có chứa 1% resveratrol
(FAMAR, Athens, Hy Lạp) mạnh hơn kem
Idebenone 1% (Prevage MD, Allergan, Inc.,
Irvine , CA). Thông qua thử nghiệm khả năng
hấp thụ gốc oxy (ORAC), sản phẩm chăm sóc
da resveratrol có khả năng chống oxy hóa
cao gấp 17 lần so với sản phẩm Idebenone.
Resveratrol làm giảm các yếu tố phiên mã:
protein hoạt hóa 1 (AP-1) và yếu tố hạt nhân
kappa beta (NF-kB), mà nó quan trọng trong
cơ chế bệnh sinh của lão hóa da. AP-1 chịu
trách nhiệm tổng hợp metalloproteinase
phân hủy collagen (MMPs) và NF-kB chịu
trách nhiệm tổng hợp nhiều chất trung gian
gây viêm. Do đó, làm giảm các yếu tố chuyển
hóa này bảo tồn collagen ở da và giảm viêm
(góp phần gây lão hóa da). Resveratrol cũng
hoạt động như một chất làm sáng da và
dường như hoạt động đồng vận với các hợp
chất làm sáng da khác. Khả năng ức chế
tyrosinase của nó được cho là do nối đôi của
cấu trúc stilbene. Những tác dụng kết hợp
này làm cho resveratrol được quan tâm như
một thành phần bôi ngoài da để điều trị lão
hóa ánh sáng.
Một nghiên cứu gần đây đã đánh giá lợi
ích của các thực phẩm chức năng có chứa
hỗn hợp resveratrol-procyanin trong việc
điều trị da bị lão hoá ánh sáng. Thực phẩm bổ
sung sẵn có trên thị trường này chứa hỗn hợp
8 mg resveratrol và 14,63 mg procyanidins
(Revidox®, GMC Pharma, Milan; Actafarma,
Laboratorios, Madrid). Trong một nghiên
cứu mù đôi, có đối chứng với giả dược trên

173
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
50 bệnh nhân, các đối tượng dùng chất bổ
sung trong 60 ngày cho thấy sự cải thiện có
ý nghĩa thống kê về khả năng chống oxy hóa
trong da và huyết tương, độ ẩm da, độ đàn
hồi, nếp nhăn và đốm nâu khi so với giả dược.

Resveratrol với vai trò một
estrogen từ thực vật
Sau mãn kinh, sự thiếu hụt estrogen ảnh
hưởng nghiêm trọng đến làn da. Mức độ
estrogen thấp kết hợp với những thay đổi liên
quan đến tuổi tác sẽ thúc đẩy quá trình lão hóa
da. Da trở nên mỏng, nhăn nheo và nhạy cảm
do mất collagen lớp bì. Nguyên bào sợi trở
nên thưa thớt và sản xuất collagen giảm sau
mãn kinh. Cấu trúc stilbene của resveratrol
có liên quan về mặt hóa học với estrogen
tổng hợp diethylstilbestrol. Do đó, không có
gì ngạc nhiên khi resveratrol hoạt động như
một phytoestrogen hoạt động như một chất
chủ vận thụ thể estrogen tự nhiên (ERb). ERb
là một mục tiêu quan trọng để ngăn chặn
sự phát triển lão hoá ánh sáng và phát triển
u da. Các chất chủ vận ERp đã được chứng
minh là làm giảm nồng độ các chất gây viêm
liên quan đến quá trình lão hoá ánh sáng và
ức chế biểu hiện metalloproteinase. Do đó,
resveratrol có tiềm năng to lớn như một hoạt
dược mỹ phẩm có thể cung cấp các tác dụng
như estrogen tự nhiên cho da bị lão hóa.

Sự phân phối resveratrol
Sinh khả dụng của resveratrol đường
uống kém. Người ta đã gợi ý rằng chỉ cần một
lượng nhỏ resveratrol trong tuần hoàn đã
mang lại lợi ích cho da vì phân tử này rất háo
dầu. Bôi tại chỗ đã thành công và được đề
xuất như một phương pháp thay thế để phân
phối resveratrol cho da. Các công thức bôi
ngoài da bao gồm hydrogel và hỗn dịch nano
đã được sử dụng với một số thành công nhất
định. Các nghiên cứu gần đây nhằm đánh
giá một vài chất ổn định và chất hoạt động
bề mặt để tạo hỗn dịch nano bền vững chứa
resveratrol, đã xác định hai chất ổn định
không ion hoá cho tác dụng tốt. Các hỗn
dịch nano này ổn định ở nhiệt độ phòng trong
30 ngày nên có thể dùng cho các công thức
dược mỹ phẩm. Mặc dù nhiều loại thực phẩm
chức năng và dược mỹ phẩm có chứa resver-
atrol đang được bày bán như các biện pháp
chống lão hóa, vẫn cần có các nghiên cứu
sâu hơn để xác định liều lượng, sự phân phối
thuốc và thời gian điều trị tối ưu.

Chất hoạt hóa sirtuin tổng
hợp (STACs)
Năm 2007, các hợp chất tổng hợp
(SRT1720, SRT2183) có cấu trúc tương tự
như resveratrol đã được sàng lọc về hoạt
động kích hoạt SIRT1. Các chất tổng hợp này,
bây giờ được gọi là STAC, được chứng minh
là kích hoạt SIRT1 ở nồng độ dưới micromol
và tăng hoạt tính xúc tác SIRT1 lên gấp vài
trăm lần. Khi sử dụng đường uống, các chất
hoạt hóa phân tử nhỏ này của SIRT1 cải thiện
các thông số chuyển hóa ở chuột được cho
ăn nhiều chất béo và ở các mô hình động
vật bị tiểu đường. Nghiên cứu liên tục về các
phân tử này và các phân tử khác có thể cung
cấp cho chúng ta các lựa chọn thay thế tổng
hợp mang lại lợi ích lâm sàng vượt trội.

Ý kiến trái chiều về sirtuins,
resveratrol và STACs
Mặc dù vẫn còn tranh cãi xung quanh
resveratrol, các nghiên cứu gần đây nhất
được công bố khẳng định rằng polyphenol
này trên thực tế tăng điều hoà SIRT1. Trong
khi ở đây vẫn còn một số hoài nghi về các
sirtuin và khả năng kéo dài tuổi thọ của chúng
ở người, nghiên cứu vẫn đang tiếp tục trong
lĩnh vực này. Vì resveratrol thực hiện hoạt
động của nó bằng cách điều chỉnh nhiều con
đường tín hiệu tế bào và liên kết trực tiếp với
các phân tử mục tiêu, rõ ràng là hoạt động

174
Resveratrol - Chất kích hoạt tổng hợp sirtuin
Chương 16 _
của nó không chỉ dựa vào sự hoạt hóa sirtuin
(Bảng 16.2).
Men peptide sinh học với vai
trò chất hoạt hoá sirtuin
Một hoạt chất duy nhất đã được chứng
minh là làm tăng sự biểu hiện sirtuin là men
sinh học từ Kluyveromyces. Các nghiên cứu
in vitro đã chứng minh rằng các biopeptide
này kích hoạt SIRT1 trong các tế bào biểu bì
và nguyên bào sợi của người. Chúng cũng
đã được chứng minh là làm giảm sự lão hóa
tế bào qua trung gian UVB và sự phân mảnh
DNA. Một sản phẩm bán sẵn có trên thị
trường có chứa 1% men sinh học, chiết xuất
của hạt aframomum angustifolium và chín
thành phần chống lão hóa khác, đã được thử
nghiệm trên 33 đối tượng nữ dưới tác hại của
ánh nắng. Sau khi bôi mỗi ngày lên mặt và
cổ trong 4 tuần, độ ẩm của da đã được cải
thiện cũng như các nếp nhăn mịn, rãnh nhăn,
sắc tố, độ sáng bóng và kết cấu da. Mặc dù
Bảng 16.2 Hiệu quả sinh học của resveratrol
Chất hoạt hoá sirtuin
Điều hoà sự tồn tại của tế bào, sửa chữa DNA, tăng sinh
glucose, điều hoà chu trình tế bào, chuyển hoá chất béo, nhạy
cảm insulin, vận chuyển mỡ, tuổi thọ.
Chất chống oxy hoá
Giảm cảm ứng stress oxy hóa với UVA, tăng mức độ sống của
tế bào với UVA
Chất dự phòng hoá học
Ức chế sự khởi phát, thúc đẩy, và phát triển
Ức chế survivin, cảm ứng apoptosis thông qua biểu hiện P-53
Chất chống lão hoá
Ức chế yếu tố phiên mã AP-1 và NF-kB, tác dụng như estrogen
thực vật (phytoestrogen)
Chất kháng viêm
Ức chế NF-kV, ức chế Cox 1 và Cox 2
Estrogen thực vật
Estrogen tự nhiên đồng vận thụ thể beta
nghiên cứu không xác định cụ thể hiệu quả
của men sinh học để điều trị da lão hóa,
những sản phẩm này có nhiều thành phần có
lợi cho một tiếp cận bổ sung để điều trị lão
hóa da.
Kết luận
Thực phẩm chức năng và dược mỹ
phẩm có chứa resveratrol hiện đang có mặt
rộng rãi. Chúng được người tiêu dùng đón
nhận như một sản phẩm có thể làm chậm
lão hóa và ngăn ngừa các bệnh liên quan đến
tuổi tác. Resveratrol là một chất chống oxy
hóa tiềm năng, cung cấp các lợi ích về’ bảo vệ
quang học, dự phòng hóa học, có lợi cho sức
khỏe và chống lão hóa nên được các bác sĩ
da liễu và bác sĩ lâm sàng quan tâm. Nghiên
cứu sâu hơn được khuyến khích để đánh giá
tiềm năng đầy đủ của hợp chất polyphenolic
độc đáo này.

175
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Further reading
Aziz MH, Reagan-Shaw, s, Wu J, Long-
ley BJ, Ahmad N. Chemoprevention of skin
cancer by grape constituent resveratrol: Rel-
evance to human disease. FASEB J 2005; 19:
1193-1195.
Barger JL, Kayo T, Vann JM, Arias EB,
Wang J, Hacker TA, et al. A low dose of di-
etary resveratrol partially mimics caloric re-
striction and retards aging parameters in
mice. PLoS One 2009; 3: e2264.
Baur JA. Resveratrol, sirtuins and the
promise of a DR mimetic. Meeh Ageing Dev
2010; 131:261-269.
Baxter RA. Anti-aging properties of res-
veratrol: review and report of a potent new
antioxidant skin care formulation. J Cosmet
Derm 2008; 7: 2-7.
Buonocore D, Lazzeretti A, Tocabens p,
et al. Resveratrol-procyanidin blend: nutra-
ceuti cal and anti-aging efficacy evaluated in
a placebo-controlled, double-blind study. Clin
Cosm Invest Derm 2012; 5: 159-1ÍS5.
Rail-Vniirpf NT T aoniiơp M Frnelirh s Pt
al The “magnificent seven”: Function,

176
Resveratrol - Chất kích hoạt tổng hợp sirtuin
Chương 16 _

177
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
17
LÃO HÓA DA,
GLYCATION VÀ
GLYCATION
CHẤT ỨC CHẾ

C
h
ư
ơ
n
g
Patricia K, Farris
“Icahn School of Medicine at Mount
Sinai, New York, NY, USA 2 Waldorf
Dermatology & Laser Associates, PC, Nanu-
et, NY, USA

178
Lão hóa da, Glycation và chất ức chế chế glycation
Chương 17 _
Giới thiệu
Lão hóa là một quá trình đa yếu tố bao
gồm các yếu tố bên trong (nội sinh) và bên
ngoài (ngoại sinh). Mặc dù tiếp xúc với ánh
nắng mặt trời, thuốc lá và ô nhiễm được biết
là góp phần vào quá trình lão hóa ngoại sinh,
các nghiên cứu gần đây đã tập trung vào
dinh dưỡng như một yếu tố môi trường có
thể gây ra lão hóa bằng cách thay đổi biểu
hiện gen. Được biết, việc hạn chế calo sẽ kéo
dài tuổi thọ và giảm tỷ lệ mắc các bệnh liên
quan đến tuổi tác. Cơ chế chính xác theo đó
việc hạn chế calo ảnh hưởng đến quá trình
lão hóa vẫn là chủ đề của nghiên cứu đang
diễn ra nhưng các mục tiêu tiềm năng bao
gồm điều chỉnh giảm tín hiệu mTor và điều
chỉnh tăng biểu hiện gen Sirl. Mặc dù lợi ích
sức khỏe của việc hạn chế calo đã được ghi
nhận đầy đủ, nhưng nó thường được coi là
một cách tiếp cận để cải thiện sức khỏe và
tuổi thọ không thực tế. Ngoài ra, thay vì thay
đổi lượng dinh dưỡng chúng ta ăn vào thì việc
cải thiện chất lượng thực phẩm là một cách
tiếp cận thực tế hơn.
Chương này sẽ thảo luận về tầm quan
trọng của việc hạn chế đường trong việc cải
thiện sức khỏe chung và ngoại hình. Thuyết
glycation về lão hóa đã được ưa chuộng
trong những năm gần đây do nền khoa học
ngày càng phát triển chứng minh rằng chế
độ ăn bổ sung nhiều đường và carbohydrate
góp phần vào sự phát triển của hội chứng
chuyển hóa, bệnh tiểu đường loại II và các
bệnh liên quan đến tuổi tác khác. Vai trò của
đường trong chế độ ăn uống với lão hóa da
và việc sử dụng các hợp chất có nguồn gốc
dinh dưỡng để ức chế quá trình glycation sẽ
được xem xét. Danh mục sản phẩm chăm
sóc da chống glycation đang nổi lên cũng sẽ
được thảo luận.

Đường và các sản phẩm cuối
cùng của quá trình glycation
Quá trình glycation lần đầu tiên được mô
tả bởi Maillard, người đã quan sát thấy rằng
các axit amin được đun nóng với sự hiện diện
của đường khử gây ra màu nâu đặc trưng
Hình 17.1 Nhiều con đường dẫn đến phản ứng dicacbonyl và sản phẩm cuối quá trình glycation
(AGEs). Nguồn: Adapted from Peng X, Ma J, Chen F, Wang M. 2011. Reproduced with permission
ofthe Royal Society ofChemistry.

179
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
của thực phẩm. Phản ứng Maillard không chỉ
góp phần tạo nên màu sắc của thực phẩm
mà còn tạo ra mùi và mùi vị, khiến nó cực kỳ
quan trọng đối với khoa học thực phẩm. Vào
cuối những năm 1960, các bác sĩ xác định
rằng phản ứng Maillard cũng xảy ra ở bệnh
nhân tiểu đường thông qua một quá trình
gọi là glycation. Sản phẩm phụ đáng chú ý
nhất của quá trình glycation ở bệnh nhân
tiểu đường là hemoglobin glycated hoặc
hemoglobin Alc (HbAlc). HbAlc hiện được sử
dụng như một chỉ số kiểm soát đường huyết lâu
dài và có thể được sử dụng để đánh giá nguy cơ
biến chứng ở bệnh nhân tiểu đường. Quá trình
glycation protein ở bệnh nhân tiểu đường
xảy ra ở nhiều mô gây ra các biến chứng tiểu
đường thường gặp như bệnh tim mạch, bệnh
thận, bệnh võng mạc và bệnh thần kinh.
Quá trình hóa học của glycation hiện
đang được hiểu rõ ràng. Glycation xảy ra
thông qua một quá trình phi enzym, cuối
cùng dẫn đến sự hình thành các sản phẩm
cuối của quá trình glycation nâng cao (AGEs)
không thể đảo ngược (Hình 17.1). Bước đầu
tiên của quá trình glycation xảy ra khi nhóm
aldehyde hoặc ceton của đường khử liên
kết với các nhóm amin tự do trên protein,
tạo thành bazơ Schiff không bền. Các bazo
của Schiff này sau đó trải qua quá trình tái
sắp xếp Amadori, tạo thành các sản phẩm
Amadori. Sự biến đổi nhiều hơn nữa tạo ra các
hợp chất dicarbonyl có phản ứng cao hoạt
động như tiền chất AGE. Dicarbonyl cũng có
thể được hình thành bằng cách lên men oxy
hóa các bazơ Schiff (con đường Namiki), tự
động oxy hóa glucose có xúc tác kim loại
(con đường Wolff) hoặc peroxy hóa lipid (con
đường Acetol). Sau khi hình thành, các hợp
chất dicarbonyl này tương tác với các protein
nội bào và ngoại bào khác nhau, dẫn đến việc
hình thành các AGE ổn định nhưng không thể
đảo ngược. Một số AGE như pentosidine có
màu vàng nâu có thể được phát hiện bằng
cách tự phát huỳnh quang trong các mô bao
gồm cả da.

Glycation và da lão hóa
Bây giờ chúng ta biết rằng quá trình
glycation xảy ra như một phần của quá trình
lão hóa da nội sinh và ngoại sinh. Quá trình
glycation bắt đầu từ giữa tuổi ba mươi và
ảnh hưởng đến cả các phân tử collagen và
elastin. Các yếu tố ngoại sinh như tiếp xúc
với ánh nắng mặt trời làm tăng tốc độ lắng
đọng AGE được thấy trong các vùng da bị
thoái hóa elastin do ánh sáng mặt trời. Người
ta tin rằng những sản phẩm cuối cùng của
quá trình glycation nâng cao này gây ra sự
xuất hiện màu vàng của da bị tổn thương do
ánh sáng. Sự liên kết chéo của các sợi colla-
gen và elastin khiến chúng trở nên cứng và
kém đàn hồi, gây mất độ đàn hồi của da và
góp phần biểu hiện lão hóa. Khi đã lắng đọng
trong các mô, collagen và elastin đã glycated
không thể bị phá vỡ, vì vậy phòng ngừa vẫn
là chiến lược tốt nhất. Tỷ lệ glycation có thể
được thay đổi bằng cách giảm lượng đường
ăn vào và duy trì kiểm soát đường huyết chặt
chẽ.
Ngoài tác động trực tiếp lên các mô, các
protein glycated làm tăng stress oxy hóa và
tăng phản ứng viêm bằng cách liên kết với
các thụ thể AGEs (RAGE). RAGE là các thụ
thể trên bề mặt tế bào thuộc họ immuno-
globulin và được biểu hiện chủ yếu ở tim, phổi
và cơ xương. AGEs tạo ra tín hiệu sau thụ thể,
kích hoạt yếu tố phiên mã kappa beta (NF-
k(3). NF-kP làm tăng sản xuất các tiền cyto-
kine góp phần vào quá trình lão hóa da và cơ
thể. AGEs tự điều chỉnh stress oxy hóa trong
một quá trình được gọi là glycoxidation thúc
đẩy sự hình thành AGEs.
Chất ức chế Glycation
Glycation có thể bị ức chế ở giai đoạn
đầu và giai đoạn cuối. Các chất ức chế AGE
có thể ngăn chặn sự gắn kết của đường với
protein, làm giảm stress oxy hóa và quá
trình glycoxidation bằng cách loại bỏ các
dicarbonyl, các gốc tự do và các loại nitơ
được tạo ra bởi quá trình glycation. Các ion

180
Lão hóa da, Glycation và chất ức chế chế glycation
Chương 17 _
kim loại được biết là quan trọng trong việc
hình thành các AGEs vì vậy các chất khử kim
loại cũng rất hữu ích. Các chiến lược chống
glycation giai đoạn cuối bao gồm ức chế liên
kết chéo và ngăn chặn RAGE. Tất cả những
cách tiếp cận này đều không có khả năng ức
chế sự hình thành AGE. Dược mỹ phẩm đã
được bán trên thị trường với mục đích ngăn
ngừa quá trình glycation da. Các sản phẩm
này chứa nhiều thành phần hoạt tính bao
gồm chiết xuất thực vật, chiết xuất tảo và các
chất chống oxy hóa tự nhiên khác đã chứng
minh hoạt động ức chế glycation trong ống
nghiệm.
Chất ức chế glycation từ các nguồn
thực vật
Chiết xuất thực vật là một trong những
thành phần dược mỹ phẩm phổ biến nhất
(Bảng 17.1). Chúng phổ biến với những người
tiêu dùng coi chúng là tự nhiên và có giá trị
đối với các nhà hóa mỹ phẩm vì chúng chứa
rất nhiều thành phần quan trọng bao gồm
chất chống oxy hóa. Trong một nghiên cứu
thú vị, chiết xuất rau sam được biết đến trong
dân gian là hữu ích trong điều trị bệnh tiểu
đường đã được thử nghiệm trên các mẫu cấy
Bảng 17.1 Thực vật cỏ tác dụng ức chế quá trình glycation.
Cây hương thảo (Rosemary)
Cây xô thơm (Sage)
Cây kinh giới (Marjoram)
Cây ngải giấm (Tarragon)
Gừng (Ginger)
Hạt tiêu Giamaica (Allspice)
Cây quế (Cinnamon)
Trà xanh (Green Tea)
Cây nghệ (Turmeric)
Quả lựu (Pomegranate)
Táo (Apple)
Việt quất (Blueberry)
da người sống ngoài cơ thể sống (ex vivo) về
khả năng ức chế quá trình glycation gây ra
methylglyoxal. Chiết xuất từ rễ cây sắn dây,
Pueraria lobata và lá của cây cao su Hardy,
Eucommia ulmoides, đã được thử nghiệm
chống lại aminoguanidine hydrochloride, một
chất ức chế glycation mạnh. Rễ sắn dây chứa
isoflavone puerarin và axit chlorogenic trong
lá cây cao su Hardy. Cả ba tác nhân đều tỏ ra
hiệu quả khi bôi tại chỗ trên da người và ngăn
ngừa sự hình thành AGE. Mặc dù những chất
chiết xuất đặc biệt này không được tìm thấy
trong các sản phẩm chăm sóc da, những
nghiên cứu này cung cấp một mô hình có giá
trị để kiểm tra khả năng của chất chiết xuất
thực vật và các hợp chất khác trong việc ức
chế quá trình glycation ở da.

Các thành phần dược mỹ
phẩm
Trà xanh (Camellia sinensis)
Trà xanh đã được sử dụng rộng rãi cho
mục đích y học. Polyphenol trà xanh (GTP)
bao gồm (-)epigallocatechin 3-O-gallate

181
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
(EGCG), (-)epicatechin 3-O-gallate (ECG), (-)
epigallocatechin (EGC) và (-) epigallocatechin
(EGC) và là một trong những chất chống oxy
hóa mạnh nhất. GTP đã được chứng minh là
ức chế glycation. Các nghiên cứu trên động
vật đã xác nhận rằng ăn chiết xuất trà xanh
có hiệu quả ngăn chặn liên kết chéo collagen
và ức chế sự tích tụ AGE liên quan đến lão
hóa. Chiết xuất trà xanh ức chế’ glycation và
liên kết chéo của collagen gân đuôi ở chuột
tiểu đường và nó đã được gợi ý rằng GTPs có
thể có giá trị điều trị trong điều trị các biến
chứng tiểu đường. Điều đáng quan tâm là
các nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng
polyphenol trà cũng có thể loại bỏ các nhóm
carbonyl phản ứng trung gian, cho thấy các
đặc tính chống oxy hóa có thể không chỉ là
cơ chế mà theo đó GTP có thể ức chế sự hình
thành AGE. Các nghiên cứu đã chứng minh
rằng chiết xuất trà xanh tại chỗ bảo vệ chống
lại viêm do tia uv, stress oxy hóa và ức chế sự
phát sinh ung thư, làm cho nó trở thành một
thành phần có giá trị để bảo vệ và điều trị da
lão hóa.
Silymarin (Silybum marianum)
Silymarin là một phức hợp flavonoid có
thể được chiết xuất từ hạt của cây kế sữa.
Silymarin chứa các chất chống oxy hóa si-
lybin A và B, isosilibybin A và B, silychristin
và silydianin. Những chất chống oxy hóa
flavanoid này đã được quảng cáo như một
phương pháp điều trị bệnh gan và túi mật
từ thời cổ đại. Lợi ích của silymarin đã được
quan sát thấy khi sử dụng toàn thân và tại
chỗ. Các nghiên cứu gần đây đã chứng minh
rằng việc uống silymarin với chuột mắc bệnh
tiểu đường gây ra streptozotocin (STZ) đã
ức chế quá trình glycation ở giai đoạn cuối
bằng cách bẫy các nhóm carbonyl phản ứng
và ngăn chặn liên kết chéo. Nghiên cứu này
cũng cho thấy rằng silymarin làm giảm sự
tích tụ AGE, liên kết chéo của collagen ở đuôi
và các chất trung gian kháng viêm. Silymarin
bôi tại chỗ đã được chứng minh là có tác
dụng bảo vệ quang học, bao gồm ngăn ngừa
sự hình thành ung thư, stress oxy hóa và ức
chế miễn dịch do tia UV. Vì vậy, silymarin hứa
hẹn là một thành phần thẩm mỹ cung cấp
một cách tiếp cận đa cơ chế để điều trị da
lão hóa.
Phloretin và phloridzin (táo)
Táo được biết đến là loại quả có nhiều lợi
ích cho sức khỏe bao gồm phòng chống ung
thư, bệnh tim và tiểu đường. Phloretin là một
flavonoid chỉ có trong táo và các sản phẩm
từ táo. Phloridzin là dạng glucosidic của
phloretin và các nghiên cứu gần đây đã
chỉ ra rằng cả hai hợp chất này đều có tác
dụng chống tiểu đường. Những hợp chất này
ức chế sự hấp thụ glucose ở ruột và ngăn
chặn sự hình thành AGE bằng cách bẫy các
hợp chất dicarbonyl phản ứng. Phloretin
tại chỗ kết hợp với vitamin c và axit ferulic
đã được chứng minh là mang lại hiệu ứng
bảo vệ quang học và cải thiện sự xuất hiện
của quá trình lão hóa ánh sáng. Theo đó,
phloretin vẫn được quan tâm như là một hoạt
chất dược mỹ phẩm để bảo vệ quang học, ức
chế quá trình glycation và điều trị da lão hóa.
Quercetin
Quercetin là một trong những loại
flavonoids dồi dào nhất trong chế độ ăn uống
của chúng ta. Nó được tìm thấy trong trà xanh
và trà đen, nụ bạch hoa, táo đỏ, hành đỏ, nho
đỏ và một số loại quả mọng. Giống như các
flavonoid khác, quercetin có hoạt tính sinh
học rộng rãi, bao gồm kháng viêm và phòng
ngừa ung thư. Quercetin đã được chứng minh
là có khả năng ức chế’ quá trình glycation
DNA trong các mô hình thử nghiệm. Các
nghiên cứu trong ống nghiệm chứng minh
tác dụng trẻ hóa trên nguyên bào sợi và hoạt
động ức chế tyrosinase khiến polyphenol này
trở thành thành phần chống lão hóa độc nhất
vô nhị. Dược mỹ phẩm có chứa quercetin
được bán trên thị trường để điều trị lão hóa da
do ánh sáng mặc dù vẫn chưa có nhiều các
nghiên cứu lâm sàng được thiết kế tốt được
thực hiện.

182
Lão hóa da, Glycation và chất ức chế chế glycation
Chương 17 _
Việt quất
Chiết xuất việt quất có chứa chất chống
oxy hóa flavonoid và đã được chứng minh
là có khả năng ức chế quá trình glycation
trong các mô hình thử nghiệm. Dược mỹ
phẩm có chứa chiết xuất việt quất kết hợp
với các thành phần trẻ hóa da khác đã được
chứng minh là cải thiện vẻ ngoài của da
(Hình 17.2 và 17.3). Trong một nghiên cứu
lâm sàng, một sản phẩm thẩm mỹ độc quyền
có chứa chiết xuất việt quất và C-xyloside đã
được đánh giá về khả năng ức chế quá trình
glycation, cải thiện lão hóa ánh sáng từ nhẹ
đến trung bình ở phụ nữ mắc bệnh tiểu đường
loại II. C-xyloside kích thích các sản phẩm
glycosaminoglycan và chiết xuất việt quất
được chọn vì các đặc tính chống glycation
của nó. Sau 12 tuần sử dụng sản phẩm thử
nghiệm hai lần mỗi ngày, các nhà điều tra
nhận thấy có cải thiện đáng kể so với ban đầu
về độ ẩm da, độ dày của da, đường nét, vẻ
ngoài, độ rạng rỡ, nếp nhăn và vẻ ngoài tổng
thể. Sự ức chế AGE được đo bằng phương
pháp tự phát huỳnh quang ở da và không
thay đổi trong suốt nghiên cứu. Mặc dù việc
ức chế glycation không được ghi nhận với
sản phẩm thử nghiệm trong suốt 3 tháng
nghiên cứu, các tác giả cho rằng một nghiên
cứu dài hơn có thể cần thiết để ghi lại những
thay đổi trong tích lũy AGE. Thiết kế nghiên
cứu này đóng vai trò là một mẫu tuyệt vời để
thử nghiệm in vivo đối với các loại mỹ phẩm
chống glycation.
Hình 17.2 (a) và (b) Trước và sau khi sử dụng dược mỹ phẩm chứa 4% chiết xuất việt quất, 30%
proxylane và 0,2% Phytosphingosine trong 12 tuần. (SkinCeuticals A.G.E. Interrupter). Lưu ý cải
thiện nếp nhăn, sự lỏng lẻo, nhăn nheo và kết cấu da. Nguồn: Courtesy of SkinCeuticals.
Hình 17.3 (a) và
(b) Trước và sau khi
sử dụng mỹ phẩm
chứa 4% chiết xuất
việt
quất,
30%
proxylane và 0,2%
phytosphingosine
trong
12
tuần.
( S k i n C e u t i c a l s
A.G.E. Interrupter).
Lưu ý cải thiện kết
cấu da, rãnh nhăn và
nếp nhăn trên trán.
Source:
Courtesy
of SkinCeuticals.
a
b
a
b

183
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Lựu
Lựu là một loại trái cây cổ xưa được ứng
dụng trong y học và thẩm mỹ. vỏ của loại trái
cây này được biết đến với đặc tính làm se
và dầu hạt lựu rất giàu axit béo ngậm nước.
Lựu chứa polyphenolic các hợp chất được
tìm thấy trong dầu hạt, nước trái cây và vỏ.
Những polyphenol này có tính chống oxy hóa
mạnh, chống glycation, kháng viêm và chống
ung thư. Dầu hạt lựu kích thích tăng sinh tế
bào sừng trong nuôi cấy; chiết xuất vỏ lựu
kích thích sản xuất procollagen 1 và ức chế
metalloproteinases. Một nghiên cứu gần đây
hơn đã chứng minh rằng tách một phần poly-
saccharide từ vỏ lựu gây ức chế tyrosinase,
các gốc tự do trung hòa và ức chế sự hình
thành AGE. Các tác giả cho rằng sản phẩm
phụ này trong quá trình sản xuất nước ép trái
cây có thể được có giá trị như một nguyên
liệu thô cho các thành phần hữu ích trong
ngành công nghiệp mỹ phẩm. Chiết xuất lựu
được tìm thấy trong một loạt các dược mỹ
phẩm được thiết kế để trẻ hóa làn da lão hóa
và làm sáng sắc tố.
Các loại thảo mộc và gia vị
Trong một nghiên cứu so sánh, chiết
suất của 24 loại thảo mộc và gia vị đã
được kiểm tra về khả năng ức chế quá trình
glycation albumin in vitro. Nói chung, chiết
xuất gia vị là chất ức chế mạnh mẽ quá trình
glycation mạnh mẽ hơn so với chiết xuất
thảo mộc (với gừng, quế, cây ngũ gia bì và
đinh hương là một trong những chất có tác
dụng mạnh nhất). Các chất chiết xuất từ cây
xô thơm, kinh giới, ngải giấm và hương thảo
cũng có hiệu quả nhưng ở mức độ thấp hơn.
Các loại thực vật ức chế glycation được quan
tâm đến trong dược mỹ phẩm sẽ được thảo
luận dưới đây
Hương thảo (Rosmarinus
officinalis L)
Hương thảo là một loại thảo mộc phổ
biến trong gia đình được biết đến với hương
thơm độc đáo và hấp dẫn. Cây hương
thảo chứa các hợp chất phenolic bao gồm
carnasol,
rosmanol,
axit
caffeic,
axit
rosmarinic, axit carnosic và axit ursolic. Chiết
xuất hương thảo có chất chống oxy hóa
mạnh, có hoạt tính kháng khuẩn và ức chế
metalloproteinase do tia uv gây ra. Chiết xuất
cồn từ lá hương thảo, Rosml, được chứng
minh là có khả năng ức chế sự thay đổi oxy
hóa đối với lipid bề mặt da và bảo vệ da khỏi
tác hại của các gốc tự do. Ngoài ra, các
nghiên cứu trong ống nghiệm đã xác định khả
năng của chiết xuất hương thảo trong việc
ức chế quá trình glycation collagen, khiến nó
được quan tâm như một hoạt chất dược mỹ
phẩm chống glycation.
Củ nghệ (Curcuma longa)
Curcuma longa là một loại dược liệu đã
được sử dụng từ lâu trong Đông y. Rễ của
Curcuma longa được nghiền thành bột, tạo
ra nghệ gia vị. Củ nghệ được sử dụng làm
nguyên liệu cho các món ăn như cà ri. Củ
nghệ có chứa thành phần hoạt chất curcumin,
một chất chống oxy hóa nhóm polyphenolic
làm cho nó có màu vàng. Curcumin có hoạt
tính sinh học đa dạng bao gồm tác dụng
kháng khuẩn, ngăn ngừa ung thư, hóa trị liệu,
chữa lành vết thương, kháng viêm và chống
tăng sinh. Mặc dù có vô số tác dụng hữu ích,
việc sử dụng curcumin trong y học ở người bị
hạn chế do sinh khả dụng kém sau khi uống.
Các nghiên cứu đang được tiến hành để cải
thiện sự hấp thụ và duy trì hoạt tính sinh học
của curcumin bằng cách sử dụng các hạt
nano, liposome và các hệ thống phân phối
khác. Các nghiên cứu đã chứng minh rằng
chất curcumin có hoạt tính chống glycation.
Các nghiên cứu trên động vật cho thấy việc
sử dụng curcumin đường uống giúp cải thiện
độ nhạy insulin, giảm đường huyết, giảm
viêm, ức chế AGEs và liên kết chéo collagen
ở chuột bị tiểu đường.
Gel curcumin tại chỗ đã được nghiên
cứu trên lâm sàng. Gel curcumin được sử
dụng để điều trị bệnh nhân vẩy nến, nơi nó
được chứng minh là có khả năng ức chế
hoạt động của men phosphorylase kinase ở

184
Lão hóa da, Glycation và chất ức chế chế glycation
Chương 17 _
vùng da bị bệnh. Trong một nghiên cứu lớn
không kiểm soát trên 647 bệnh nhân vảy nến,
steroid tại chỗ được sử dụng kết hợp với gel
curcumin đã giúp hơn 70% bệnh nhân khỏi
hoàn toàn sau 16 tuần điều trị. Một nồng độ
cao hơn của cùng một loại gel curcumin đã
được chứng minh là có thể ngăn ngừa và
giảm sự hình thành mô sẹo sau phẫu thuật
trong một nghiên cứu trên 220 bệnh nhân.
Các nhà nghiên cứu điều trị cho bệnh nhân bị
lão hóa ánh sáng bằng gel curcumin tại chỗ
đã chứng minh sự cải thiện lâm sàng của
nhiều thông số bao gồm dày sừng ánh sáng,
đồi mồi, cấu trúc da và giảm xuất hiện nếp
nhăn sau 3-6 tháng.

Chất ức chế glycation có
nguồn gốc đại dương
Ngày càng có nhiều sự quan tâm đến
sinh vật biển như một nguồn tài nguyên
cho các hoạt chất dược mỹ phẩm. Tảo nâu
chứa phlorotannin là chất chống oxy hóa
nhóm polyphenolic có hoạt tính sinh học
đa dạng. Phlorotannin trong tảo bao gồm
phloroglucinol, diphlorethohydroxycarmalol,
eckol và dieckol và có rất nhiều trong rong nâu
Eckolonia cava. Những hợp chất này là
chất chống oxy hóa mạnh và thể hiện hoạt
tính kháng viêm qua việc điều hòa giảm
NF-kB. Chiết xuất của E.cava là chất ức chế
metalloproteinase, tyrosinase và ức chế
protein hoạt hóa 1 (AP-1), khiến chúng được
quan tâm để điều trị da lão hóa. Phloroglucinol,
đơn vị cấu thành của phlorotannin, đã được
chứng minh là có thể ức chế quá trình
glycation in vitro. Ngoài ra, polysaccharide
fucoidan có trong tảo có thể chặn các thụ thể
đối với AGEs, ức chế sự tích tụ AGE và tổn
thương mô thêm bởi AGEs. Chất astaxanthin
carotenoid được tìm thấy trong tảo đỏ cũng
đã được chứng minh là có khả năng ức chế
quá trình glycation. Do đó, các thành phần có
nguồn gốc từ biển có thể được quan tâm như
chất ức chế AGE cả phản ứng giai đoạn đầu
và giai đoạn cuối.
Các chất ức chế glycation quan
trọng khác
Alpha lipoic acid (ALA)
Axit alpha lipoic là một chất chống oxy
hóa tự nhiên có thể hòa tan trong nước và
chất béo. ALA và dạng khử của nó axit
dihydrolipoic (DHLA) loại bỏ các gốc tự do,
giúp tái tạo vitamin E và c, khử kim loại và
có hoạt tính kháng viêm. Các nghiên cứu trên
chuột mắc bệnh tiểu đường do STZ chứng
minh rằng việc bổ sung ALA bằng đường
uống làm giảm AGEs trong cả huyết thanh
và mô thận, ức chế biểu hiện RAGE bằng
cách giảm stress oxy hóa. Các nghiên cứu
trên động vật sử dụng chuột cho ăn fructose
chứng minh rằng các bất thường về collagen
bao gồm liên kết chéo collagen, giảm sản xuất
collagen do chế độ ăn nhiều đường đã được giảm
thiểu bằng cách sử dụng đồng thời axit alpha
lipoic đường uống. Dược mỹ phẩm có chứa
axit alpha lipoic rất phong phú và thường
được bán trên thị trường như chất chống oxy
hóa có tác dụng chống lão hóa. Có một số
nghiên cứu hạn chế vê’ mỹ phẩm có chứa axit
alpha lipoic. Trong một nghiên cứu mù đôi,
đối chứng với giả dược, ngẫu nhiên, 33 phụ nữ
đã sử dụng kem axit alpha lipoic 5% trên một
nửa khuôn mặt của họ trong 12 tuần và thoa
giả dược ở mặt còn lại. Tá dược chứa 0,3%
co enzyme Q10 và 0,03% acetyl-L-carnotine.
Phép đo chuyên nghiệp bằng laser cho thấy
sự cải thiện đáng kể về mặt thống kê đối với
các nếp nhăn quanh hốc mắt ở bên được
điều trị bằng axit alpha lipoic so với bên kiểm
soát bằng tá dược. Đánh giá lâm sàng và
chụp ảnh cho thấy không thể cải thiện đáng
kể trong đánh giá tổng thể toàn cầu về lão
hóa da ở nhóm sử dụng kem axit lipoic. 3%
co-enzym Q10 và 0,03% acetyl-L-carnotine.
Phép đo chuyên nghiệp bằng laser cho thấy
sự cải thiện đáng kể về mặt thống kê đối với
các nếp nhăn quanh hốc mắt ở bên được
điều trị bằng axit alpha lipoic so với bên điều
khiển phương tiện. Đánh giá lâm sàng và
chụp ảnh cho thấy cải thiện đáng kể trong
đánh giá chung toàn cảnh về lão hóa da ở

185
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
nhóm sử dụng kem axit lipoic.
Carnosine
Carnosine
là
dipeptide
beta-ala-
nine-L-histidine được tìm thấy trong cơ và
não. Nó hoạt động như một bộ đệm nội sinh
lọc các hợp chất cacbonyl và bảo vệ các
protein khỏi liên kết chéo. Carnosine là
một chất chống oxy hóa đa năng thể hiện
hoạt tính khử kẽm, đồng và cạnh tranh với
glucose để ức chế quá trình glycation protein.
Dipeptide này đã được chứng minh là có tác
dụng trì hoãn sự lão hóa ở các nguyên bào
sợi nuôi cấy ở người và làm chậm quá trình
lão hóa ở những con chuột được tăng tốc
độ lão hóa. Thực phẩm chức năng bổ sung
carnosine được bán rộng rãi, được đề xuất
để điều trị bệnh Alzheimer, ngăn ngừa các
biến chứng tiểu đường và chống lão hóa. Các
nghiên cứu đã chỉ ra rằng bổ sung carnosine
bằng đường uống có thể cải thiện vẻ ngoài
của da, bao gồm cả nếp nhăn mịn và rãnh
nhăn khi so sánh với giả dược. Theo quan
điểm của những tác động sinh học này, dược
mỹ phẩm có chứa carsonine được phát triển
để ngăn ngừa quá trình glycation và điều trị
da lão hóa.

Kết luận
Các sản phẩm chăm sóc da chống
glycation đại diện cho một hướng mới trong
mỹ phẩm. Các sản phẩm này được bán đại
trà ở. những thị trường uy tín, chứa nhiều chất
chống oxy hóa thực vật tiên tiến và các chất
ức chế glycation khác. Tầm quan trọng của
glycation và vai trò của nó trong quá trình lão
hóa da là một khái niệm mới nổi đang được
các bác sĩ thẩm mỹ và người tiêu dùng ưa
chuộng. Việc sử dụng thực phẩm chức năng,
thực phẩm bổ sung hoặc các sản phẩm
chăm sóc da tại chỗ để ngăn chặn quá trình
glycation có thể là một chiến lược mới cho
những bệnh nhân đang có mong muốn trẻ
hóa da của chúng ta.

Further reading
Babizhayev MA, Deyev AI, Savelyeva El,
et al. skin beautification with oral non hydro-
lyzed versions of carnosine and carcinine:
Effective therapeutic management and cos-
metic skincare solutions against oxidative
glycation and free-radical production as a
causal mechanism of diabetic complications
and skin aging. J. Dermat Treat 2012; 23(5):
345-385.
Beitner H. Randomized, placebo-con-
trolled, double blind study on the clinical ef-
ficacy of a cream containing 5% alpha lipoic
acid related to photoageing of facial skin. Br
J Derm 2003; 149: 841-849.
Danby FW. Nutrition and aging skin: Sug-
ar and glycation. Clin Dermatol 2010; 28:
409-411.
Dearlove RP, Greenspan p, Hartle DK, et
al. Inhibition of protein glycation by extracts
of culinary herbs and spices. JMed Food
2008; 11: 275-281.
Draelos ZD, Yatskayer MS, Raab MS, Ore-
sajo c. An evaluation of the effect of a topical
product containing c-xyloside and blueberry
extract on the appearance of type II diabetic
skin. Journ Cosmet Dermatol 2009; 8: 147-
151. Gasser p, Arnold F, Peno-Massarino L,
et al. Glycation induction and antiglycation
activity of skin care ingredients on living hu-
man skin explants. Int J Cos Sci 2011; 33:
366-370.
Heng MC. Curcumin targeted signaling
pathways: basis for anti-photoaging and anti
carcinogenic therapy. Int J Dermatol 2010;
49: 608-622.
Jeanmarie C., Danoux L, Pauly G. Gly-
cation during human dermal intrinsic and
actinic ageing: an in vitro and in vitro mod-
el study. BrJDerm 2001; 145: 10-18. Peng X,
Ma J, Chen F, Wang M. Naturally occurring
inhibitors against the formation of advanced
glycation end-products. Food Fund 2011; 2:
289-301.

186
Lão hóa da, Glycation và chất ức chế chế glycation
Chương 17 _

187
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
18
CÁC ION THIẾT YẾU
VÀ ĐIỆN SINH HỌC
CHĂM SÓC DA
TRONG

C
h
ư
ơ
n
g
Ying Sun, Elizabeth Bruning,
Susan H. Weinkle, I and Samantha
Tucker-Samaras
Johnson & Johnson Consumer Com-
panies, Inc., Skillman, NJ, USA .University of
South Florida, Tampa, FL, USA

188
Các ion thiết yếu và điện sinh học trong chăm sóc gia
Chương 18 _
Dòng ion và điện sinh học
Điện sinh học là hiện tượng điện của tất
cả các quá trình sống, được biểu hiện dưới
các dạng phân bố không đồng nhất và di
chuyển nhiều hướng của các ion trong nhiều
bộ phận khác nhau của cơ thể. Điện thế
xuyên màng là một ví dụ điển hình của điện
sinh học. Ở người, điện sinh học là có vai trò
như một quá trình tín hiệu để chỉ đạo các
hoạt động sinh lý ở cấp độ tế bào. Như vậy,
các tế bào sinh học sử dụng điện sinh học để
hoạt động, kích hoạt các thay đổi nội tại, tích
trữ năng lượng trao đổi chất và tín hiệu cho
nhau thông qua giao tiếp tế bào đến tế bào.
Hệ thống tín hiệu điện bẩm sinh này điều hòa
hoạt động sinh lý ở cấp độ tế bào bằng cách
sử dụng chuyển động của các ion có điện
tích âm hoặc dương nhỏ, chẳng hạn như ion
natri (Na +), ion kali (K +), ion clorua (C1-) và
ion canxi (Ca2 +), trong và ngoài tế bào để
tạo ra một gradient nồng độ và cuối cùng là
gradien điện thế. Nồng độ không đối xứng
của các ion này bên trong và bên ngoài tế
bào gây ra điện thế xuyên màng qua màng tế
bào. Tương tự, lớp thượng bì sống ở da cũng
tồn tại một điện thế xuyên màng.
Tín hiệu điện mức độ thấp được biết rõ
có liên quan đến sự lành vết thương. Ở vết
thương ngoài da, việc chữa lành được thực
hiện bằng việc tế bào di chuyển đến vị trí vết
thương và sự vận chuyển các ion, protein
thiết yếu đến vết thương. Bằng cách tăng
cường quá trình truyền tín hiệu điện của cơ
thể, việc chữa lành vết thương có thể được
tăng tốc bằng cách tăng việc di chuyển các
tế bào sửa chữa đến vị trí vết thương. Zhao
và cộng sự chứng minh rằng tín hiệu điện
như một tín hiệu chỉ dẫn có lẽ đóng vai trò
quan trọng hơn nhiều những gì người ta biết
trước đây trong việc chỉ đạo sự di chuyển
của tế bào trong việc chữa lành vết thương
của thượng bì. Họ cho thấy rằng có hai
protein rất quan trọng đối với đáp ứng
tế bào do điện trường gây ra. Một là
phosphatidylinositol 3-kinase (PI3K), điều kh-
iển sự di chuyển của các tế bào người từ bên
này sang bên kia thông qua gradient điện trong
một quá trình được gọi là điện hướng động.
Protein còn lại là lipid phosphatidylinositol
3,4,5-triphosphat (PIP3), một phân tử quan
trọng tập trung ở rìa tế bào, nơi các thành
phần tín hiệu liên kết với nó. Đến lượt nó, các
thành phần tín hiệu này dẫn đến trùng hợp
cục bộ actin để hình thành các vị trí nhô ra
theo hướng di chuyển. Theo báo cáo, trường
điện sinh học dường như đóng vai trò quan
trọng trong việc kiểm soát hoạt động nguyên
bào sợi ở người bằng cách tăng hoặc giảm
đáng kể biểu hiện gen của hơn 400 phiên mã
đã được tìm ra. Chúng bao gồm hoạt động
bên trong các con đường tín hiệu tế bào đặc
hiệu như TGF-p, G-protein, và ức chế quá
trình chết tế bào theo chu trình. Lớp thượng
bì tạo ra một điện thế xuyên biểu mô với bên
trong là điện tích dương. Nuccitelli và cộng sự
đo dòng điện sinh học ở vết thương trên da
người của hai nhóm đối tượng thử nghiệm để
tìm ra vai trò của trường điện nội sinh trong
việc chữa lành vết thương ở người trẻ và
người già. Trường bề mặt bên của vết thương
được đo giữa lớp sừng và lớp thượng bì gần
vết thương dạng lưỡi mác ở tay và chân của
40 người lớn. 10 nữ và 10 nam trong độ tuổi
từ 18-29 biểu hiện trường điện trung bình
là 163 ± 59mV /mm, trong khi, 10 nữ và 10
nam trong độ tuổi 65-80 biểu hiện trường
điện trung bình chỉ 78 ± 15 mV /mm. Trường
điện trung bình của những người ở nhóm tuổi
lớn hơn chỉ bằng một nửa so với nhóm trẻ,
chứng minh rằng điện trường ngay cả những
vết thương nhỏ trên da giảm mạnh theo tuổi.
Vì điện thế vết thương tỷ lệ thuận với tốc độ
lành vết thương, điện thế vết thương giảm có
thể là một yếu tố góp phần vào việc suy giảm
khả năng sửa chữa mô và chậm lành thương
ở người lớn tuổi. Mặt khác, có thể hình dung
rằng nếu điện thế bên ngoài có cường độ
sinh lý tương tự như tín hiệu điện chữa lành
vết thương trên da được áp dụng, việc chữa
lành vết thương của người già có thể được
cải thiện. Tương tự, nếu tín hiệu điện ở mức
thấp được áp dụng cho làn da lão hóa để bắt
chước tín hiệu điện sinh học liên quan đến
việc chữa lành vết thương, quá trình tái tạo

189
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
mô và trẻ hóa có thể được tăng cường cho lợi
ích chống lão hóa.
Do đó, có thể giả thuyết rằng khi da lão
hóa còn nguyên vẹn tiếp xúc với một tín hiệu
điện giả sinh học, nghĩa là áp một tín hiệu
điện bên ngoài bắt chước tín hiệu điện sinh
học khi có sự hiện diện của vết thương, cơ
chế phục hồi và trẻ hóa da tương tự trong quá
trình vết thương có thể được kích hoạt, dẫn
đến trẻ hóa da và các lợi ích chống lão hóa
đáng kể.

Các ion khoáng chất thiết
yêu và làn da
Các ion khoáng chất thiết yếu được biết
đến là đóng vai trò quan trọng đối với sức
khỏe làn da, ví dụ như kẽm có một vai trò
quan trọng trong toàn bộ quá trình sinh lý ở
người, và cũng là một chất chống oxy hóa
quan trọng cho da. Nồng độ kẽm trong lớp
thượng bì giảm dần theo tuổi: nồng độ kẽm
trung bình các đối tượng thử nghiệm trên
65 tuổi chỉ bằng khoảng một nửa so với đối
tượng thử nghiệm trẻ hơn 35 tuổi, tuy nhiên,
không có sự khác biệt có ý nghĩa về nồng độ
kẽm trong mô kẽ giữa hai nhóm, cho thấy
không có mối tương quan giữa nồng độ kẽm
huyết tương và nồng độ kẽm thượng bì. Cả
kẽm và đồng đều có liên quan đến tình trạng
viêm da và các bệnh lý liên quan đến lão hóa.

Phức hợp kẽm-đồng
Galvanic và điện mô phỏng
sinh học trong chăm sóc da
Điện sinh học cũng như mối liên quan
của nó đối với các lợi ích chăm sóc da, và
việc sử dụng điện cường độ thấp được tạo ra
bởi các hạt đôi điện tử để bắt chước điện sinh
học đã được xem xét gần đây. Một phức hợp
khoáng đôi galvanic bao gồm nguyên tố kẽm
và đồng đã được báo cáo về’ hiệu quả khi ứng
dụng điều trị ngoài da, chẳng hạn như giảm
xuất hiện của các dấu hiệu lão hóa da do ánh
sáng. Hoạt động điện của các hạt nguyên tố
kẽm-đồng tạo ra điện thế giữa kẽm và đồng
trên bề mặt mẫu kim loại khi có độ ẩm, và
các ion kẽm được tạo ra như một sản phẩm
phụ của quả trình galvanic.
Southall và cộng sự đã báo cáo việc sử
dụng vài hạt đôi galvanic của nguyên tố kẽm
và đồng (Zn-Cu) để xác định ảnh hưởng của
việc kích thích điện cường độ thấp lên hoạt
động sinh lý da nguyên ven bằng cách sử
dụng thiết bị thương mại có tên Dermacorder.
Zn-Cu gây ra hiệu điện thế được ghi nhận trên
da, tăng sản xuất H2O2, kích hoạt p38 MAPK
và Hsp27 trong tế bào sừng sơ cấp. Điều trị
bằng Zn-Cu cũng được cho thấy giảm các
cytokine tiền viêm, chẳng hạn như IL-la, IL-2,
NO và TNF-a trong nhiều loại tế bào do tác động
của PHA hoặc vi khuẩn Propionibacterium
acnes. Phức hợp Zn-Cu dẫn đến sự ức chế
NF-kB (tạo ra bởi TNF-a) phụ thuộc vào liều
trong tế bào sừng cũng như được đo bằng
phân tích chất hoạt hóa luciferase kép, và
ngăn chặn sự chuyển vị p65 vào nhân, ức
chế hoạt động NF-kB thông qua tác động
chéo với p38 MAPK có thể là một trong
những con đường tiềm năng mà qua đó
Zn-Cu phát huy hiệu ứng trên tình trạng viêm
của nó. ứng dụng tại chỗ của Zn-Cu thành
công trong việc giảm nhẹ tình trạng viêm da
do TPA và quá mẫn do oxazolone trên mô
hình chuột bị sưng phù tai. Hoạt động kháng
viêm gây ra bởi cặp điện tử Zn-Cu dường như
qua trung gian (ít nhất là một phần) quá trình
sản xuất hydrogen peroxide nồng độ thấp và
hoạt động này bị đảo ngược bởi việc thêm
vào enzyme catalase. Nói chung, những kết
quả này cho thấy rằng hạt đôi điện tích chứa
Zn-Cu làm giảm mạnh tình trạng viêm và đáp
ứng miễn dịch ở da nguyên vẹn, cung cấp
bằng chứng về vai trò của kích thích điện ở
da không bị thương.
Chantalat và cộng sự tiến hành nghiên
cứu lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, có nhóm
chứng để đánh giá hiệu quả và khả năng
dung nạp của phức hợp đồng kẽm-galvanic
trên các thông số lão hóa da do ánh sáng.

190
Các ion thiết yếu và điện sinh học trong chăm sóc gia
Chương 18 _
Trong nghiên cứu kéo dài tám tuần này, phụ
nữ (từ 40-65 tuổi) bị lão hóa da do ánh sáng
từ nhẹ đến trung bình ngẫu nhiên sử dụng
giả dược hoặc một trong ba chế phẩm phức
hợp điện đổng-kẽm (gel và kem dưỡng ẩm
hoạt hóa). Đánh giá hiệu quả bao gồm phân
độ lâm sàng, hình ảnh lâm sàng chuyên biệt
và đối tượng tự đánh giá so với lúc ban đầu,
15-30 phút sau khi áp dụng điều trị và sau 1,
2, 4 và 8 tuần. Khả năng dung nạp dựa trên
các phản ứng bất lợi và phân độ lâm sàng về
kích ứng. Mức có ý nghĩa được đặt ở p <0,05
so với mức nền và giữa các nhóm điều trị.
Nghiên cứu bao gồm 124 phụ nữ. Các chế
phẩm có chứa phức hợp kẽm-đồng galvanic
cho thấy những cải thiện lâm sàng có ý ng-
hĩa thống kê so với giả dược và so với mức
nền nhanh chóng (15-30 phút) sau khi áp
dụng và sau 8 tuần. Phân loại lâm sàng cho
thấy sự cải thiện đáng kể so với giả dược vê’
độ rạng rỡ của da và quầng thâm dưới mắt
15-30 phút sau lần thoa đầu tiên và tiếp tục
cải thiện qua tuần thứ 8. Về tổng thể tổn
thương do ánh sáng, đôi mắt trông trẻ ra, và
sự cải thiện các nếp nhăn bắt đầu sau hai
tuần và tiếp tục đến tuần 8. Các chế phẩm thử
nghiệm được dung nạp tốt. Phức hợp kẽm-
đồng galvanic đã được chứng minh giúp cải
thiện nhanh chóng và lâu dài so với giả dược
trên da lão hóa, điều này cho thấy hiệu quả
tiềm tàng của nó nếu được đưa vào chung
với các công thức chống lão hóa khác. Hình
18.1 cho thấy những cải thiện theo thời gian
trong việc nâng mi mắt/ làm mịn so với giả
dược hoặc công thức Zn-Cu galvanic được
trộn sẵn bôi một lần mỗi ngày.
Nollent và cộng sự đã báo cáo một
đánh giá lâm sàng về phức hợp kẽm-đồng
galvanic cho hiệu quả chống lão hóa vùng
da mắt. Đây là một thử nghiệm lâm sàng
không can thiệp, nhãn mở, có nhóm chứng
bao gồm giai đoạn 30 ngày không điều trị với
bất kì hoạt chất gì và 8 tuần điều trị. Số lượng
mẫu bao gồm 34 đối tượng phụ nữ da trắng
khỏe mạnh có tuýp da theo Fitzpatrick I - IV,
35 tuổi trở lên. Công thức phức hợp Zn-Cu
được bôi mỗi sáng trong tám tuần. Cả đánh
giá chủ quan và khách quan đã chứng minh
cải thiện đáng kể các dấu hiệu tổn thương da
do ánh sáng trên mặt trong tám tuần điều trị
với phức hợp Zn-Cu. Các kết quả phân loại
lâm sàng (Bảng 18.1) và tự đánh giá (Bảng
18.2) được thực hiện làm số liệu nền, ngay
sau lần thoa đầu tiên (T imm) và ở tuần 1, 4
(T4) và 8 (T8) cho thấy sự cải thiện có ý nghĩa
thống kê (p <0,05) một số thông số bao gồm
vết chân chim, các nếp nhăn nông - sâu, nếp
nhăn dưới mắt, bọng dưới mắt, sưng mí mắt,
quầng thâm mắt, và cấu trúc da (độ rạng rỡ
và màu sắc da). Các phương pháp khách
quan cho thấy giảm tổng số nếp nhăn bề mặt
và chiều dài trung bình trong các bản sao da.
Công thức thử nghiệm dung nạp tốt ở vùng
da nhạy cảm quanh mắt trong suốt 8 tuần
điều trị và không có tác dụng phụ. ,
Bruning và cộng sự đã mô tả một nghiên
cứu lâm sàng sử dụng chế phẩm bôi môi có
chứa phức hợp Zn-Cu giúp chống lão hóa
trên môi người. Thử nghiệm lâm sàng quy
mô nhỏ, ngẫu nhiên, mù đôi, có nhóm chứng
được thực hiện để đánh giá hiệu quả của các
chế’ phẩm chứa các hạt galvanic về các lợi
ích liên quan đến môi như chống lão hóa, làm
đẹp môi, khỏe môi. Mẫu nghiên cứu bao gồm
nữ tuổi từ 40-65, loại da Fitzpatrick I - IV tại
thời điểm nghiên cứu (dữ liệu cơ sở), đánh
giá những đặc điểm sau đây dựa trên phân
độ của chuyên gia và tự đánh giá: các nếp
nhăn trung bình đến nặng xung quanh viền
môi, các lằn dọc mảnh trên môi, môi bị mất
màu/ trông nhợt nhạt hơn, viền môi kém rõ
ràng, môi mỏng hơn/ kém đầy đặn, môi bị
chảy máu và môi khô nhẹ đến vừa trung bình.
Bốn chế phẩm son môi ở dạng son dưỡng
/son thỏi có chung công thức nền được sử
dụng trong nghiên cứu. Hai sản phẩm chứa
các hạt galvanic (Sản phẩm 1, phức hợp
Zn-Cu, Sản phẩm 2, sản phẩm chuẩn + phức
hợp Zn-Cu) và hai sản phẩm thì không chứa
các hạt galvanic (Sản phẩm so sánh A, Giả
dược, Sản phẩm so sánh B, sản phẩm chuẩn).
Những người tham gia nghiên cứu được chia
thành 4 nhóm (mỗi nhóm 11 người) sử dụng
ngẫu nhiên các sản phẩm. Các đối tượng sử

191
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
dụng sản phẩm ba lần mỗi ngày: vào buổi
sáng, buổi trưa (sau bữa ăn trưa) và buổi tối.
Các đối tượng được đánh giá thời điểm ban
đầu, tuần 1 và tuần 8. Tại mỗi các mốc thời
gian các đối tượng hoàn thành bảng câu hỏi
tự đánh giá, được chụp hình kỹ thuật số độ
phân giải cao của môi và hình ảnh quang phổ
của môi đã được thực hiện.
Các hình ảnh kỹ thuật số có độ phân giải
cao được đánh giá bởi một chuyên gia phân
độ (mù với các nhóm điều trị) để đưa ra đánh
giá khách quan về thay đổi trên môi. Chuyên
gia chấm điểm đã sử dụng tám thông số trực
Hình 18.1 Hình ảnh những bệnh nhân được điều trị với phức hợp Kẽm - Đồng galvanic cho thấy
sự cải thiện lão hóa ở mi mắt ngay lập tức và liên tục.
Phức hợp đồng kẽm Galvanic trộn
trước 1 lần/ngày (nhóm R)
Giả dược
Trước điều trị
15-30 phút
sau bôi
thuốc lần
đầu
Tuần 4
quan để phân loại các hình ảnh kỹ thuật số.
Kết quả phân loại của chuyên gia chỉ
ra rằng Sản phẩm 1 (phức hợp Zn-Cu) đặc
điểm môi tốt hơn đáng kể (p <0,05) so với
Sản phẩm So sánh A (giả dược) trong việc
cải thiện các đường xung quanh môi, và theo
hướng tốt hơn (p <0,10) về độ nét và đường
nét trên môi ở tuần thứ 8. Đặc điểm môi của
Sản phẩm 2 (Sản phẩm chuẩn + phức hợp
Zn-Cu) vượt trội hơn Sản phẩm so sánh B
(chỉ riêng Sản phẩm chuẩn) bằng cách cho
thấy sự cải thiện so với ban đầu về độ đầy
đặn của môi và, kể cả màu sắc cũng như cải

192
Các ion thiết yếu và điện sinh học trong chăm sóc gia
Chương 18 _
Bảng 18.1 Kết quả phân độ lâm sàng cho thấy mức độ cải thiện so với tình
trạng ban đầu.
T imm (%)
T4w(%)
T8w (%)
Nếp nhăn sâu (vết chân chim)
24
19
23
Nếp nhăn nông (vết chân chim)
37
31
40
Nếp nhăn nông dưới ổ mắt
34
28
39
Nếp gấp mi mắt trên
17
23
23
Quầng thâm mắt
21
33
69
Tăng độ mở rộng của khe mi
5
14
16
Bọng mắt (mi mẳt trên)
58
45
70
Bọng dưới mắt
34
31
43
Độ mềm mại của da
68
43
49
Độ rạng rỡ của da
17
46
52
Vẻ ngoài trẻ trung của da
52
40
82
Bảng 18.2 Kết quả do bệnh nhân tự đánh giá.
Note: p < 0.05 vs placebo at all time points in all parameters, except at T imm for eye opening.
T imm (%)
T4w(%)
T8w (%)
Giảm nếp nhăn sâu (vết chân chim)
12.9
51.72
64.29
Giảm nếp nhăn nông (vét chân chim)
17.65
71.88
75.00
Giảm nếp nhăn nông dưới ổ mắt
29.41
75.00
59.38
Giảm bọng dưới mắt
25.00
64.00
56.00
Giảm quầng thâm mắt
32.14
55.17
66.67
Giảm nếp gấp mi mắt trên
16.67
53.85
58.62
Tăng độ mở rộng của khe mi
26.47
51.52
65.63
Giảm Bọng mắt (mi mắt trên)
41.67
75.86
56.67
Tăng độ sáng của mắt
32.35
51.52
65.63
Da rạng rõ hơn
35.29
63.64
75.00
Da ẩm hơn
91.18
93.94
96.88
Da mịn màng hơn
97.06
96.97
96.88
Da trơn láng hơn
70.59
87.88
87.50
Mức độ dung nạp với sản phẩm ?
100.00
100.00
100.00
(%) improved subjects*
Note: * % subjects with self-assessment of “fully agree” 0r “rather agree.”

193
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
thiện tích cực các đường trên môi, trong khi
Sản phẩm so sánh B không làm được.
Nhìn chung, các hình ảnh kỹ thuật số đã
cho thấy những cải thiện rõ ràng về môi bằng
điều trị với cả Sản phẩm 1 và Sản phẩm 2 về
màu môi, đường nhăn và sự đầy đặn của mỗi
chỉ trong một tuần, với hiệu quả tiếp tục ở tất
cả các thông số Ở tuần 8.
Phân tích oxy-hemoglobin được thực hiện
bằng hình ảnh quang phổ (N = 7-9 đối tượng
mỗi nhóm điều trị). Như trong Hình 18.2, thành
phần môi của Sản phẩm 1 cho thấy mức
oxyhemoglobin tăng gần 25% (p = 0,05) ở
tuần 8 so với mức cơ bản. Sản phẩm so sánh
Hình 18.2 Kết quả phân tích nồng độ oxy-hemoglobin qua hình ảnh quang phổ cho thấy sản
phẩm 1 (chứa phức hợp Zn – Cu) giúp tăng 25% nồng độ oxyhemoglobin (p= 0.05) ở tuần thứ
8 khi so với sản phẩm A (giả dược).
A không cho thấy sự thay đổi đáng kể. Sự gia
tăng nồng độ oxy-hemoglobin này được cho
là đã góp phần quan sát thấy sự cải thiện
màu sắc môi trong dữ liệu tự đánh giá và
phân loại của chuyên gia.
Kết quả của bảng câu hỏi đối tượng tự
đánh giá chỉ ra rằng Sản phẩm 2 luôn được
xếp hạng cao hơn tất cả các phương pháp
điều trị khác, bắt đầu từ tuần 1. Sản phẩm 2
cũng mang lại khác biệt ý nghĩa nhất giữa các
lần điều trị và sản phẩm duy nhất cải thiện có
ý nghĩa thống kê (p <0,05) ở tất cả các thành
phần của môi so với tình trạng ban đầu khi tự
đánh giá ở tuần thứ 8.
1
A

194
Các ion thiết yếu và điện sinh học trong chăm sóc gia
Chương 18 _
Further reading
Bruning E, Chantalat J, Maitra P. Lip com-
positions comprising galvanic particulates.
United
States
Patent
Application
US20110195100. Chantalat J, Bruning E,
Sun Y, Liu J-C. Application of a topical bio-
mimetic electrical signaling technology to
photo-aging: A randomized, double-blind, pla-
cebo-controlled trial of a galvanic zinc-cop-
per complex. J Drugs Dermatol 2012; 11(1):
30–37. Dreno B. Evolution du zinc cutane au
cours du vieillissement cutane [Changes in
cutaneous zinc during skin aging]. Ann Der-
matol Venereol 1992; 119(4): 263–266. Drib-
an JB, Swanik CB, Huxel KC, Balsubramanian
E. Transient electric changes imme diately
after surgical trauma. J. Athletic Training
2007; 42: 524-529. Encyclopedia Britanni-
ca. Bioelectricity. Available at:
britannica.com
/EBchecked/topic/65834/
bioelectricity#ref=ref40797 (accessed Au-
gust 27, 2009). Encyclopedia Britannica.
Cell. Available at:
com/EBchecked/topic 1101396/cell/37442/
Cell-to-cell-communication-via-chemical-sig-
naling#ref =ref313825 (accessed August 27,
2009). Iuttenlocher A, Horwitz AR. Wound
healing with electric potential. N Engl J Med
2007; 356: 303–304. Jennings J, Chen D,
Feldman D. Transcriptional response of
dermal fibroblasts in direct current electric
fields. Bioelectromagnetics 2008; 29: 394-
405.. Kaur S, Lyte P, Garay M, Liebel F, Sun
Y, Liu J-C, Southall, M. Galvanic zinc copper
microparticles produce electrical stimulation
that reduces the inflammatory and immune
responses in skin. Arch Dermatol Res 2011;
303(8): 551-562. Lee BY, Wendell K, Butler
G. Ultra-low microcurrent therapy: A novel
approach for treatment of chronic resistant
wounds. Advances in Therapy 2007; 24:
1202–1209. Martinsen OG, Grimnes S. Bio-
impedance and Bioelectricity Basics. 2nd ed.
St. Louis, MO:
Elsevier Science & Technology Books,
2008. New World Encyclopedia. Cell mem-
brane. Available at:
encyclopedia.org/entry/Cell_membrane (ac-
cessed August 27, 2009). Nollent V, Lanctin
M, Nkengne A, Bertin C. Clinical evaluation of
a zinc- and copper based eye area anti-ag-
ing complex. Cosmetics e Toiletries, 2012;
127(10): 718-725. Nuccitelli R, Nuccitelli P,
Li C, et al. The electric field at human skin
wounds declines sharply with age. 18th An-
nual Meeting of the Wound Healing Society,
San Diego, CA,
April 24-27, 2008. Ojingwa JC, Isseroff
RR. Electric stimulation of wound healing.
J Invest Derm 2003; 121: 1-12. Rostan EF,
DeBuys HV, Madey DL, Pinnell SR. Evidence
supporting zinc as an important antioxidant
for skin. Int J Dermatol 2002; 41: 606-611.
Schwartz JR, Marsh RG. Draelos ZD, Zinc
and skin health: Overview of physiology and
pharmacology. Dermatol Surg 2005; 31(2):
837-847. Sun Y, Liu J-C. Bioelectricity. In:
Baran R, Maibach HI, Textbook of Cosmet-
ic Dermatology, 4th ed. New York: Informa
Healthcare, 2010, 466-481. Vasto S, Mocche-
giani E, Candore G, Listi F, Colonna-Rmano G,
Lio D, Malavolta
M, Giacconi R, Cipriano C, Caruso C. In-
flammation, genes and zinc in ageing and
age-related diseases. Biogerontology 2006;
7(5-6): 315-327. Zhao M, Song B, Pu J, et
al. Electrical signals control wound healing
through
Phosphatidylinositol-3-OH Kinase-y and
PTEN. Nature 2006; 442: 457-460.

195
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
19
DƯỢC MỸ PHẨM
TẾ BÀO GỐC

C
h
ư
ơ
n
g
Mark V. Dahl
Mayo Clinic and Makucell, Inc., Scotts-
dale, AZ, USA

196
Dược mỹ phẩm tế bào gốc
Chương 19 _
Da lão hoá khác biệt với da trẻ. Lớp
thượng bì già thiếu hụt các tế bào sừng và
mỏng hơn. Mào thượng bì được làm phẳng.
Lớp bì thiếu hụt số lượng bình thường của các
tế’ bào cũng như collagen, elastin, laminin,
glycosaminoglycans và fibronectin. Lớp bì
cũng thiếu hụt độ đàn hồi, độ chắc chắn,
mạch máu và chất nền như hyaluronic acid.
Ngoài sự mỏng manh, dễ vỡ, da lão hoá còn
lành thương chậm. Chu chuyển tế bào sừng
thượng bì bị kéo dài, hàng rào bảo vệ da có
khiếm khuyết. Da trở nên mỏng, nhăn, thâm
và thô ráp.
Để phục hồi sức mạnh và chức năng
theo cách tự nhiên, da cần tạo ra nhiều tế bào
và thành phần mô để bổ sung các phần mất
đi như sự hao mòn, hư hỏng bình thường, phá
huỷ của ánh sáng mặt trời và lão hoá. Lớp
sừng phải tự thay thế nhanh hơn tốc độ bình
thường và thượng bì phải dày hơn. Thượng bì
phải củng cố và duy trì quá trình biệt hoá tế
bào sừng một cách có trật tự bắt đầu từ tế
bào đáy lên dần tế bào hạt và cuối cùng là tế
bào lớp sừng. Tương tự, nguyên bào sợi của
lớp bì phải tăng số lượng và tăng tổng hợp
chất nền như elastin, collagen, và hyaluronic
acid. Các mạch máu phải duy trì số lượng
và chức năng bình thường. Thần kinh, nang
lông, tuyến bã và tuyến mồ hôi phải đầy đủ số
lượng và đảm bảo chức năng sinh lý đầy đủ.
Trẻ hóa làn da được định nghĩa là phải làm
cho da được biểu hiện và vận hành như cách
chúng đã từng.
Thật không may, việc thoa các thành
phần cấu thành lớp bì lên bề mặt da không
thể giúp tái tạo lớp bì bình thường một cách
đáng kể. Chúng hoặc không đi qua hàng rào
thượng bì, hoặc qua được nhưng tích lũy
không đủ hiệu quả ở mô bên dưới. Hầu hết
việc thoa chỉ giúp cấp nước ở lớp thượng bì,
làm mịn thượng bì, hoặc đơn giản chỉ là trả lại
sự mềm dẻo hơn. Chiến lược trẻ hoá thành
công hoàn toàn phải thúc đẩy sự tái lập lớp bì
và thượng bì bình thường với số lượng, chức
năng tế bào bình thường, bao gồm việc bình
thường hóa sản xuất các thành phần hóa học
và tế bào bình thường của da.
Tế bào gốc cung cấp nguồn dự trữ các tế
bào trên da giúp trẻ hoá hoặc sửa chữa các
tế bào da già hoặc bị tổn thương. Trong lớp
thượng bì, các tế bào gốc cư trú vị trí hành
lang và vùng thượng bì nang lông, nơi mà
chúng gần như đồng dạng với tế bào đáy.
Trong lớp bì, tế bào gốc cư trú xung quanh
mạch máu, nhú chân lông, và bất kì nơi nào
khác. Khi được hoạt hoá bởi các tín hiệu đến
từ nhân, tế bào gốc phân chia và biệt hoá
thành tế bào đặc trưng cho dòng như là tế
bào sừng, nguyên bào sợi, tế bào hắc tố, tế
bào mỡ và các tế bào khác. Một số tế bào
của chúng ví dụ như nguyên bào sợi tổng hợp
các thành phần của da như collagen.

Chiến lược cung cấp năng
lượng cho tế bào để trẻ hóa
da
Dược mỹ phẩm có thể nhắm mục tiêu
đến các tế bào sống. Tế bào sống không chỉ
có thể tạo ra các yếu tố cấu thành của da
mà còn có thể phối hợp các hoạt động để
đặt các yếu tố này với lượng thích hợp vào
đúng nơi, đúng lúc, đúng định hướng và hình
dạng. Bảng 19.1 liệt kê các chiến lược có thể
thực hiện để tạo ra các tế bào da bình thường
nhằm duy trì chức năng trẻ trung và tăng
tổng hợp các yếu tố sinh lý của dạ.
Kích thích các tế bào của lớp hạ bì sản
xuất nhiều cấu trúc ngoại bào và chất nền
hơn
Việc tác động lên các tế bào trong lớp
bì có thể làm cho chúng hoạt động nhanh
hơn hoặc tốt hơn. Nói chung, các yếu tố tác
động là các cytokine được tạo ra bởi các tế
bào mô xung quanh và các tế bào viêm tẩm
nhuận. Một cytokine hoặc một phân tử nhỏ
nào đó có thể là đòn bẩy để khởi động quá
trình tổng hợp tế bào và các sản phẩm của
chúng. Dược mỹ phẩm có mục tiêu kích thích
sản xuất collagen bao gồm retinoids, vitamin
G, peptide đồng, yếu tố tăng trưởng chuyển
hóa p, palmitoyl pentapeptide-3, một số

197
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
oligopeptides, flavonoids và estradiol. Làm
tổn thương da nhẹ nhàng với các chất peel
da hoặc điều trị bằng laser bề mặt dường như
cũng kích thích sản xuất collagen.
Bảng 19.1 Các chiến lược khả thi để cung cấp năng lượng cho các tế bào để
trẻ hóa làn da.
Kích thích các tế bào của lớp bì sản xuất nhiều cấu trúc ngoại bào và chất nền hơn
Giúp da tổ chức các yếu tố mô còn lại để duy trì chức năng
Làm cho các tế bào bôi tại chỗ đi vào da
Tiêm tế bào biệt hóa tự thân vào lớp bì hoặc hạ bì
Kích thích tế bào gốc trưởng thành / mô đệm di chuyển từ máu vào da
Kéo dài tuổi thọ tế bào bằng cách ức chế sự phá hủy (apoptosis) của tế bào
Kích thích tế bào gốc của da trải qua quá trình phân chia tăng sinh (đối xứng)
Làm cho các tế bào khuếch đại tạm thời của da trải qua quá trình phân chia tăng sinh
Kích thích tế bào gốc trong da trải qua quá trình phân chia biệt hóa (không đối xứng)
Giúp da sắp xếp các yếu tố
mô còn lại để duy trì chức
năng
Lớp thượng bì góp phần vào sự biểu
hiện của một làn da khỏe mạnh, trẻ hóa bình
thường. Chất dưỡng ẩm thuộc mỹ phẩm hay
dược mỹ phẩm giúp làm mịn và căng mọng
lớp thượng bì. Dược mỹ phẩm làm tốt công
việc của mình bằng cách cung cấp chất cấp
ẩm, bình thường hóa lớp sừng bị rối loạn, thúc
đẩy giải phóng yếu tố giữ ẩm tự nhiên và làm
mịn da khi thoa dầu hoặc dimethicone, giúp
giảm các vảy trên bề mặt. Dược mỹ phẩm
khó khăn hơn trong việc cung cấp các yếu tố
bình thường hóa cho các tê’ bào bên dưới lớp
thượng bì là lớp bì + lớp mỡ dưới da vì hàng
rào da và lớp thượng bì làm hạn chế sự hấp
thụ qua da cùng với việc hệ thống dẫn lưu
bạch huyết của da có xu hướng mang hoạt
chất đi khỏi da.
Làm cho các tế bào bôi tại
chỗ đi vào da
Chiến lược này có vẻ giống như khoa học
viễn tưởng, nhưng có phải vậy không? Tế bào
di chuyển ngẫu nhiên (hóa tăng động) và có
định hướng (hóa ứng động). Có thể khiến các
tế bào di chuyển xuyên qua lớp sừng vào lớp
thượng bì và bì, cũng giống như bạch cầu
di chuyển vào lớp thượng bì từ bên dưới để
phản ứng với các tác nhân lây nhiễm, chất
gây dị ứng và chất kích ứng khác nhau. Liệu
một nguyên bào sợi hoặc tế bào tiền thân (tế
bào gốc) có thể được cảm ứng để di chuyển
vào da từ phía trên không? Lớp sừng trình
diện một rào cản mạnh mẽ, nhưng có lẽ nó
có thể được loại bỏ bằng 1 số thủ thuật.

198
Dược mỹ phẩm tế bào gốc
Chương 19 _
Tiêm tê bào biệt hóa tự thân
hoặc tế bào gốc vào lớp bì
hoặc hạ bì
Hiện tại, tế bào gốc tự thân và tế’ bào biệt
hóa được tiêm vào cơ thể chủ yếu hoạt động
như một dạng làm đẩy, làm phình ra các mô
trong một khoảng thời gian ngắn hoặc lâu
hơn. Chúng chỉ bổ sung thể tích tạm thời, trừ
khi các tế bào tồn tại và sau đó tái tạo và /
hoặc tổng hợp dịch thể hoặc chất nền mô
sau khi tiêm. Tế’ bào gốc và tế’ bào mô biệt
hóa cần sự hướng dẫn từ các tế’ bào và cấu
trúc xung quanh để tái tạo và hoạt động bình
thường. Chúng cẩn tín hiệu để hoạt động. Do
đó, sự thành công của chiến lược tiêm tế bào
có thể sẽ cần đến sự hỗ trợ của các dược mỹ
phẩm để cung cấp các tín hiệu cần thiết hoặc
thay đổi vị trí thích hợp của tế bào gốc. Ví dụ,
tế bào gốc có nguồn gốc từ tế’ bào mỡ được
cảm ứng để hình thành nguyên bào sợi khi
được cung cấp thành phần chiết xuất từ lúa
mạch đen.

Kích thích tế bào gốc trưởng
thành / mô đệm di chuyển từ
máu vào da
Tế bào gốc có nguồn gốc từ tủy xương có
thể di chuyển vào da. Bệnh nhân mắc chứng
ly thượng bì bóng nước loạn dưỡng di truyền
gen lặn do thiếu các sợi dây neo giữ lớp biểu
bì trên vùng màng đáy của da do bệnh nhân
thiếu khả năng tổng hợp collagen tuýp VII về
mặt di truyền. Nếu không có sự cố’ định, lớp
biểu bì sẽ bong ra khỏi lớp bì sau những chấn
thương nhỏ. Ở một số bệnh nhân có da bị tổn
thương, bị bào mòn, các tế bào gốc có nguồn
gốc tủy xương dị sinh đã di chuyển vào da và
biệt hóa thành các tế bào tổng hợp collagen
loại VII.
Trong một số trường hợp nhất định, tế
bào gốc từ máu di chuyển từ từ vào da để tái
tạo lại quần thể tế bào gốc của da. Số lượng
tế bào gốc trong da không đổi trong suốt
cuộc đời. Điều này chủ yếu là do sự phân
chia không thường xuyên và thời gian sống
lâu dài của các tế bào gốc. Tuy nhiên, sau khi
bị thương, tế bào gốc có thể trải qua quá trình
phân chia nhanh hơn để nhanh chóng chữa
lành vết thương. Nếu bị cạn kiệt, tế bào gốc
từ máu có thể khôi phục lại số lượng tế bào
gốc trong vùng da đã lành.
Một số sản phẩm công bố rằng tế bào
gốc tìm kiếm làn da bị tổn thương và sửa
chữa nó. Cung cấp các yếu tố hóa ứng động
đặc hiệu của tế bào gốc và các cytokine
trong các sản phẩm dược mỹ phẩm có thể
giúp di chuyển các tế bào gốc từ máu đến da.
Tuy nhiên, ngay cả khi tế bào gốc di chuyển
vào da, chúng có thể không làm trẻ hóa da.
Tế bào gốc trong làn da già nua, không bị
làm cho tổn thương dường như vẫn tương
đối tĩnh lặng, bất kể số lượng. Chỉ với việc
truyền tín hiệu thích hợp, các tế bào gốc mới
có thể tổng hợp các cấu trúc trẻ hóa như sợi
collagen tuýp I và elastin.

Kéo dài tuổi thọ tế bào bằng
cách ngăn chặn sự hủy tế
bào theo chương trình
(apoptosis)
Apoptosis bảo vệ sinh vật khỏi những
rắc rối như ung thư. Tế bào, bao gồm cả tế
bào gốc, có thể cảm nhận được những tổn
thương DNA không thể sửa chữa được và tự
hủy. Chúng cũng chết khi bị tấn công bởi các
tế bào T gây độc tế bào hoặc các kháng thể
gây độc tế bào, chẳng hạn như khi một tế’
bào bị nhiễm vi rút hoặc các sinh vật gian
bào khác, hay sau khi tế bào biểu hiện một
số kháng nguyên đặc hiệu khối u liên quan
đến sự phát triển bệnh lý ác tính. Tuy nhiên,
các dược mỹ phẩm can thiệp vào quá trình
apoptotic bình thường này có thể dẫn đến
các tác dụng phụ nguy hiểm. Nếu các loại
dược mỹ phẩm làm chậm quá trình tiêu diệt
các tế bào bị nhiễm bệnh hoặc tế bào ung

hacklink satın al mumu模拟器 雷电模拟器 向日葵 giftcardmall/mygift giftcardmall balance mygift giftcardmall matbet matbet giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Betgaranti Betgaranti Güncel Adres Betgaranti Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Fim İzle Fim İzle Giriş Fim İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Fim İzle Fim İzle Güncel Adres Fim İzle jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Giriş Casibom Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Jojobet Jojobet Giriş Jojobet Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Deneme Bonusu Film İzle Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Türkçe Dublaj Film İzle Film İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi perabet perabet giriş holiganbet holiganbet giriş Casibom Lesfillmercom Casibom Lesfillmercom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Gerbergirlcom Casibom Gerbergirlcom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Spcelectriccontrolcom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş marsbahis marsbahis giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş matbet matbet giriş matbet güncel giriş vaycasino vaycasino güncel giriş vaycasino giriş matbet matbet giriş pusulabet pusulabet giriş pusulabet pusulabet güncel giriş pusulabet giriş matbet matbet güncel giriş matbet giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Resmi Adres pusulabet pusulabet giriş pusulabet güncel giriş Fixbet Fixbet Güncel Giriş Salvobet Salvobet Giriş Salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Turk Porno Turk Porno Giriş Turk Porno casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi casibom casibom jojobet izmir escort izmir buca escort buca escort jojobet casibom holiganbet holiganbet giriş jojobet holiganbet holiganbet giriş jojobet jojobet jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş izmir escort izmir buca escort buca escort izmir escort bayan salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Giriş Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Deneme Bonusu Veren Giriş Deneme Bonusu Veren salvobet salvobet salvobet salvobet Casibom betgaranti betgaranti betgaranti matbet matbet giriş matbet matbet giriş Casibom Casibom Salvobet jojobet Salvobet Salvobet Salvobet Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Güncel Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis bahsegel Fixbet Fixbet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş 1xbet 1xbet Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Listesi Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler grandpashabet grandpashabet grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler vaycasino vaycasino giriş jojobet grandpashabet casibom Casibom Casibom Giriş casibom www.giftcards.com Marsbahis grandpashabet jojobet jojobet grandpashabet casibom jojobet Casibom Casibom Casibom Casibom Casibom Grandpashabet Grandpashabet Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Marsbahis Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres grandpashabet grandpashabet giriş Casibom Fixbet Fixbet Giriş Casibom Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Holiganbet Holiganbet Güncel Adres Nevşehir escort Kapadokya escort Nevşehir escort bayan nevşehir eskort escort nevşehir Casibom Casibom Giriş Adresi Kapadokya esc Casibom Casibom Resmi Adres Matbet Matbet Matbet Güncel Adres Pusulabet Pusulabet Giriş Adresi imajbet giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Trabzon escort escort trabzon Trabzon escort bayan Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler