99
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
tăng sinh của các nguyên bào sợi ở người
cao tuổi. So sánh nguyên bào sợi trẻ mới
sinh (3-8 ngày) với nguyên bào sợi người già
(80-95 tuổi), các tế bào trẻ tăng sinh nhiều
hơn. Khi bổ sung vitamin C, cả hai bộ nguyên
bào sợi đều tăng sinh nhanh hơn và đạt mật
độ cao hơn so với nhóm đối chứng. Vitamin
C cũng làm tăng sản xuất collagen trong cả
hai bộ nguyên bào sợi. Từ đó, các nghiên cứu
in vivo đã xác nhận lợi ích của Vitamin C đối
với việc sản xuất collagen. Sinh thiết da từ 10
phụ nữ sau mãn kinh sử dụng axit L-ascorbic
5% trong 6 tháng cho một bên cẳng tay và tá
dược cho bên kia cho thấy sự gia tăng nồng
độ mRNA của collagen. Nồng độ ức chế mô
của MMP-1 cũng tăng lên ở bến được điều
trị bằng vitamin C. Do đó, vitamin C cải thiện
chất nền lớp bì bằng cách tăng sản xuất và
giảm sự suy thoái collagen.
Thử nghiệm lâm sàng: điều
trị lão hóa do ánh sáng
Trong khi có tương đối ít nghiên cứu
trong y văn, thì kinh nghiệm lâm sàng xác
nhận lợi ích của bôi Vitamin C giúp điều trị
da lão hóa ánh sáng rất nhiều (Hình 9.1 và
9.2). Trong một nghiên cứu chia khuôn mặt
ngẫu nhiên, mù đôi, kéo dài 3 tháng; 19 tình
nguyện viên được bôi L-ascorbic acid 10% và
serum tá dược. Ở 14 bệnh nhân , bên được
điều trị bằng Vitamin C cho thấy sự cải thiện
đáng kể trong phân tích hình ảnh đo độ mở
quang học so với bên được điều trị bằng
serum khác. Đánh giá lâm sáng cho thấy sự
cải thiện đáng kể về nếp nhăn to/nhỏ, cảm
giác thô ráp, độ lỏng lẻo màu da, sắc tố vàng
tái nhợt được nhận thấy ở bên được điều trị ở
16 trong tổng số 19 tình nguyện viên.
Trong nghiên cứu kéo dài 6 tháng, mù
đôi có đối chứng trên những bệnh nhân bị
lão hóa ở mức độ trung bình, các bệnh nhân
được bối kem Vitamin C 5% lên cổ và cẳng
tay. Sau 3 tháng, da của các bệnh nhân sẽ
được đánh giá trên thang điểm quốc tế dựa
theo các chỉ số về: độ ẩm của da, độ nhám,
độ lỏng lẻo, độ mềm mại, nếp nhăn mịn và
thô. Cải thiện lâm sàng tiếp tục được gia
tăng sau sáu tháng. Các miếng silicone giả
lập minh chứng cho sự cải thiện của các nếp
nhăn nhỏ và thô. Kiểm tra môn học của bên
được điều trị với vitamin C cho thấy sự phục
hồi của mô đàn hồi. Các tác giả kết luận rằng
Vitamin C có thể đem lại các hiệu quả tích
cực trong điều trị da lão hóa do ánh sáng.
Fitzpatrick và Rostan đã tiến hành một
nghiên cứu mù đôi chia mặt, trong đó 10
bệnh nhân được điều trị với 10% L-ascorbic
acid và 7% tetrahexyldecyl ascorbate trong
nền gel anhydrous polysilicone. Ở tuần thứ
12, phần mặt được điều trị với Vitamin C cho
kết quả cải thiện tổng thể. Sinh thiết da được
thực hiện cho thấy sự gia tăng collagen vùng
grenz và tăng độ nhuốm màu mRNA cho
collagen tuýp I.
Vitamin C: một chất làm
sáng da quan trọng
Làm sáng da là một hiệu quả thẩm mỹ
mong muốn ở những bệnh nhân lão hóa ánh
sáng và nám da. Mặc dù hydroquinone vẫn
là phương pháp điều trị chính cho các tình
trạng này, nhưng các lo ngại của người tiêu
dùng và cơ quan quản lý về tính an toàn của
hydroquinone đã thúc đẩy nền y khoa tìm
kiếm các sự lựa chọn thay thế. Việc điều
hòa sản xuất sắc tố có thể được kiểm soát ở
nhiều cấp độ khác nhau. Vitamin C được biết
đến là có khả năng ức chế tyrosinase - loại
enzyme quyết định tốc độ hình thành hắc tố,
và hoạt động như một chất giảm melanin và
các chất trung gian melanin. Do vậy, Vitamin
C được coi là một ứng cử viên thay thế trong
điều trị các vấn đề về rối loạn sắc tố.
Trong một nghiên cứu lâm sàng, bệnh
nhân được hướng dẫn bôi kem chứa 10%
magie-L-ascorbyl-phosphat để điều trị nám
da hoặc tàn nhang. Sự cải thiện đáng kể được
nhận thấy ở 19 trong tổng số 34 bệnh nhân.
Một nghiên cứu mù đôi, ngẫu nhiên, chia
mặt so sánh kem L-ascorbic acid 5% và kem
100
Vitamin C trong dược mỹ phẩm
Chương 9 _
Hình 9.1 Bệnh nhân trước và sau một năm điều trị với serum chứa 15%
L-ascorbic acid và kem chống nắng hàng ngày SPF20 ( chứa Zinc Oxide
và Octinoxate ). Các cải thiện rõ ràng ở các nếp nhãn năng quanh mắt.
Source: Draelos, T. (Ed. Procedures in Dermatology. Cosmeceuticals, 2nd
Edn. 2009: Sauders. Reproduced with permission of Elsevier.
101
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Hinh 9.2 Bệnh nhân trước và sau một năm điều trị với serum chứa 15%
L-ascorbic acid và kem chống nắng hàng ngày SPF20 (chứa Zinc Oxide
và Octinoxate ). Các cải thiện rõ ràng lão hóa ánh sáng , làm sáng / mờ
các điểm tăng sắc tố. Source: Draelos, Z. (Ed.). Procedures in Dermatology.
Cosmeceuticals, 2nd Edn. 2009: Sauders. Reproduced with permission of
Elsevier.
102
Vitamin C trong dược mỹ phẩm
Chương 9 _
hydroquinone 4% ở 16 bệnh nhân bị nám.
Bệnh nhân được đánh giá kết quả thông tua
phương pháp đo màu, chụp ảnh kĩ thuật số
và đánh giá chủ quan. Kết quả thu được, 93%
người dùng hydroquinone đánh giá cải thiện
tốt đến xuất sắc so với 62.5% ở người dùng
L-ascorbic acid. Điều đặc biệt là thông qua
máy đo màu, không thấy sự khác biệt giữa 2
phương thức điều trị. Không có gì ngạc nhiên
khi bên được điều trị với vitamin C ít gặp tác
dụng phụ hơn 6.2% so với bên được điều trị
với hydroquinone (68%). Hydroquinone tạo
ra phản ứng nhanh hơn sau một tháng so
với bên được điều trị với Vitamin C vào lúc 3
tháng. Vitamin C cũng đã được chứng minh
là có thể cải thiện tình trạng nám da khi sử
dụng cùng phương pháp điện chuyển ion
(Iontophoresis). Trong một thử nghiệm ở
hai nửa mặt , so sánh giữa việc sử dụng peel
glycolic acid 70% và điện di dung dịch
L-ascorbic acid nanosome. Cả hai đều cho
kết quả cải thiện sau 6 tuần điều trị. Phía nửa
mặt điều trị với Vitamin C cho hiệu quả vượt
trội hơn nửa mặt được điều trị với chemical
peel 70% Glycolic Acid. Cải thiện vượt trội hơn
ở nhiều phương diện: diện tích nám và chỉ số
độ nặng. Do đó, có thể kết luận rằng, việc sử
dụng các kỹ thuật tăng cường khả năng thẩm
thấu có thể mang lại lợi ích làm sáng da lớn
hơn so với việc bôi vitamin C ngoài da.
Vitamin C: một tác nhân
kháng viêm mạnh
Vitamin C được biết đến là một chất có
khả năng kháng viêm. Trong thử nghiệm nuôi
cấy tế bào người, việc nạp Vitamin C cho
thấy sự giảm hoạt động của yếu tố phiên mã
NF-kB. Người ta tin rằng hiện tượng suy
giảm hoạt động này được cấu thành bởi việc
ngăn chặn sự kích hoạt TNF-a (yếu tố gây ra
NF-kB). Về khả năng chống viêm của Vitamin
C, người ta cho rằng việc sử dụng Vitamin C
theo hình thức bối có thể đem lại nhiều lợi ích
trong việc điều trị các bệnh viêm như mụn
trứng ca. Tuy nhiên, mặt khác chất chống oxy
hóa cũng có thể ngăn ngừa quá trình oxy hóa
của bã nhờn và góp phần gây ra mụn.
Trong một nghiên cứu ngẫu nhiên mù
đôi có đối chứng, các bệnh nhân bị mụn
trứng cá được bôi kem dưỡng da chứa
Natri-L-ascorbyl-2-phosphate 5% (APS) hoặc
tá dược trong vòng 12 tuần. Bệnh nhân được
đánh giá bởi điều tra viên dưới thang điểm
đánh giá quốc tế; dựa trên số lượng các tổn
thương viêm, không viêm hay các tác dụng
phụ trên da. 37 bệnh nhân đã hoàn thành
nghiên cứu. Tất cả đều cho kết quả cải thiện
tốt. Kem dưỡng APS được đánh giá là dung
nạp tốt, chỉ có bốn bệnh nhân báo cáo là kích
ứng nhẹ.
Kết luận
Vitamin C hiện là một thành phần giá
trị và được săn lùng trong dược mỹ phẩm.
Người tiêu dùng nhìn nhận các sản phẩm
chăm sóc da chứa vitamin dưới một góc nhìn
tích cực: an toàn, tự nhiên và hiệu quả. Điều
này khiến chúng ngày càng được ưa chuộng
và sử dụng rộng rãi. Các sản phẩm chăm
sóc da chứa vitamin C như serum, lotion,
kem dưỡng thường được bào chế theo dạng
vitamin C kết hợp cùng các hợp chất chống
oxy hóa khác. Các nghiên cứu hiện nay cũng
chỉ ra rằng dược mỹ phẩm chứa Vitamin C
đem lại hiệu quả trong việc tăng cường bảo
vệ quang học, giảm các dấu hiệu của lão hóa
ánh sáng, cải thiện tình trạng tăng sắc tố và
điều trị các tình trạng viêm như mụn trứng cá
103
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Bảng 9.1 Tác dụng của vitamin C.
Đặc tínhVitamin C
Tác dụng
Chống oxy hóa và bảo vệ
quang học
•
Trung hòa các gốc tự do
•
Giảm ban đỏ do phơi nhiễm tia UV Giảm sự hình
thành tế bào cháy nắng Giảm sự hình thành
thymine dimer (do phơi nhiễm UV)
•
Giảm hiện tượng suy giảm miễn dịch do phơi
nhiễm tia UV
Bảo tồn collagen
•
Hoạt động như một đồng yếu tố cho lysyl và
prolyl hydroxylase
•
Tăng tính ổn định và giảm độ nhạy nhiệt của
collagen
Làm sáng da
•
Ức chế tyrosinase
•
Giảm tác nhân sinh melanin và chất trung gian
tạo melanin
Hoạt động như chất kháng
viêm
•
Hoạt động như chống viêm điều hòa NE-kB
•
Chặn kích hoạt TNF-a gây ra NF-kB
(bảng 9.1).
Further reading
Darr D. Combs S, Durston S, et al. Topical
Vitamin C protects porcine skin from ultravi-
olet
radiation-induced damage. Br J Derma-
tol 1992: 127: 247-253. Espinal-Perez LE,
Moncada B. Castanedo-Cazares JP. A dou-
ble-blind, randomized trial of
5% ascorbic acid vs. 4% hydroquinone in
melasma. Int J Dermatol 2004; 43:604-607.
Humbert PG, Haftek M, Credid P et al. Topical
ascorbic acid on photoaged skin: Clinical,
topographical and ultrastructural eval-
uations: double-blind study vs placebo. Exp
Dermatol 2003; 12: 237-244. Murray JC,
Burch JA, Streilein RD, et al. A topical antioxi-
dant solution containing
vitamins C and E stabilized by ferulic
acid provides protection for human skin
against damage caused by ultraviolet ir-
radiation. J Am Acad Dermatol 2008; 59:
418-425. Phillips CL, Combs SB, Pinnell SR.
Effects of ascorbic acid on proliferation and
collagen synthesis in relation to donor age of
human dermal fibroblasts. J Invest Derma-
tology 1994; 103: 228-232. Pinnell SR, Yang
HS, Omar M, et al. Topical L-ascorbic acid:
percutaneous absorption studies. Dermatol
Surg 2001; 27: 127–142. Ronchetti IP, Quagli-
no D, Bergamini G. Ascorbic acid and con-
nective tissue. In: Harris
JR, ed. Biochemistry and Biomedical
Cell Biology, New York: Plenum Press, 1996.
Traikovich SS, Use of topical ascorbic acid
and its effects on photodamaged skin topog.
raphy. Arch Otolaryngol Head Neck Surg
1999: 125: 1091-1998. Woolery-Lloyd J, Bau-
mann L. Ideno H. sodium L-ascorbyl-2-phos-
phate 5% lotion for
the treatment of acne vulgaris: A ran-
domized, double-blind, controlled trial. J Cos-
mer
104
Vitamin C trong dược mỹ phẩm
Chương 9 _
Driflalal 2010; 9(1): 22-27. Zussman J,
Ahdouf J, Kim J. Vitamins and photoaging:
Do scientific data support their
use? Jour Am Acad Dermatol 2010;
63(3): 507-527
105
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
10
NIACINAMIDE :
MỘT LOẠI VITAMIN
NHIỀU LỢI ÍCH CHO DA
BÔI TẠI CHỖ VỚI
C
h
ư
ơ
n
g
Diane S. Berson’ Rosemarie
Osborne, John E. Oblong
Tomohiro Hakozaki. Mary
B. Johnson and Donald L. Bissett
Weill Medical College of Cornell
University, New York-Presbyterian Hospital,
New York, NY, USA 2The Procter & Gamble
Company, Cincinnati, OH, USA
106
Niacinamide: Một loại vitamin bôi tại chỗ với nhiều lợi ích cho da
Chương 10 _
Giới thiệu
Niacinamide là vitamin B3, một chất dinh
dưỡng cần thiết. Trong cơ thể, nó được biến
đổi thành hai đồng yếu tố là NADH và NADPH
tham gia vào nhiều phản ứng sinh học. Sự
thiếu hụt của loại vitamin tan trong nước này
gây ra bệnh Pellagra với biểu hiện viêm đỏ da.
Trước khi tìm ra được phương pháp điều trị
bằng cách bổ sung thiếu hụt vitamin B3 qua
chế độ ăn, bệnh Pellarga đã làm hàng nghìn
người tử vong Mỹ trong nửa đầu thế kỷ 20.
Nồng độ NAD+ và NADPH trong tế bào
da suy giảm theo tuổi tác, do đó việc bổ sung
cho da lão hóa những tiền chất của hai đồng
yếu tố này có thể có nhiều lợi ích. Dược động
học của niacinamide dạng bôi tương đối cao
do nó có khả năng thấm qua hàng rào của da
một cách dễ dàng. Những tác dụng thẩm mỹ
trên da tương đối nhiều bao gồm giảm tăng
sắc tố, giảm đỏ, giảm sạm da, giảm bã nhờn,
thu nhỏ kích thước lỗ chân lông, và giảm các
nếp nhăn. Ngoài ra, niacinamide còn giúp
dưỡng ẩm, duy trì hàng rào bảo vệ và độ đàn
hồi của da. Việc kết hợp niacianamide với
một số thành phần khác cũng cho thấy giúp
tăng cường các tác dụng lâm sàng kể trên.
Tác dụng trên da của niacinamide dạng
bôi cũng đã được quan sát thấy trong thử
nghiệm lâm sàng điều trị trứng cá đỏ và bóng
nước dạng pemphigus. Gần đây, nicacinamide
được chứng minh giúp điều trị trứng cá đỏ
qua cơ chế cải thiện hàng rào bảo vệ da. Cơ
chế này cũng được thể hiện rõ khi bối trước
hoặc cùng lúc với retinoid tại chỗ. Việc kết
hết hợp này giúp tăng sự dung nạp của da với
retinoids và cải thiện điều trị da tổn thương
ánh sáng.
Chương đánh giá ngắn gọn này sẽ chỉ
tập trung vào một số hiệu ứng xuất hiện trên
da: bã nhờn, kích thước lỗ chân lông, kết cấu
bề mặt, tăng sắc tố, và nếp nhăn. Đặc biệt,
những hiểu biết mới về cơ chế tác dụng của
niacinamide với thẩm mỹ làn da và hiệu quả
khi kết hợp với các thành phần khác sẽ được
làm nổi bật.
Thành phần hoạt động
Vitamin B3 có trong nhiều nguồn thực
phẩm (ví dụ: thịt, các loại hạt, ngũ cốc nguyên
cám, các loại đậu, đồ lên men, ..) và trong các
sản phẩm thương mại.
Ba dạng chính của vitamin B3 đã được
sử dụng trong sản phẩm bôi là: niacinamide
(còn gọi là nicotinamide), axit nicotinic và
nicotinate este (ví dụ: benzyl nicotinate,
myristoyl nicotinate). Phần lớn các nghiên
cứu in vivo và thử nghiệm lâm sàng đã cho
thấy các tác dụng lâm sàng trên da của
niacinamide dạng bội. Do lo ngại về nguy
cơ gây kích ứng da (xem thảo luận về các
tác dụng phụ có thể xảy ra ở bên dưới), các
nghiên cứu về lợi ích lâm sàng trên da với axit
nicotinic và hầu hết các este nicotinat chưa
được thực hiện. Tuy nhiên, một số nghiên
cứu lâm sàng đã cho thấy tác dụng trên da
lão hóa của myristoyl nicotinate.
Cơ chế hoạt động
Vì niacinamide là một tiền chất của hai
đồng yếu tố NAD (H) và NADP (H), có liên
quan đến nhiều phản ứng sinh hóa trong da.
Do đó, nó có khả năng tác động đến nhiều
con đường chuyển hóa gây ra tác động lên
các chức năng của da. Ví dụ, NADPH là một
đồng yếu tố trong con đường chuyển hóa
lipid như tổng hợp axit béo và ceramide.
NADH còn ức chế một số enzym tham gia vào
quá trình tổng hợp của glycosaminoglycans
(GAGs) trong nghiên cứu in vivo. Do đó,
niacinamide có vai trò quan trọng trong tổng
hợp ceramide ở lớp sừng và tăng cường tính
toàn vẹn của hàng rào bảo vệ của da. Ngoài
ra, niacinamide còn làm giảm sự tổng hợp
GAGs quá mức ở lớp bì, giúp ngăn ngừa xuất
hiện các nếp nhăn. Tuy nhiên, Cơ chế của
một số tác dụng vẫn chưa được giải thích rõ
ràng như sự gia tăng tổng hợp protein (hàng
rào thượng bì và collagen lớp bì) và sự ức chế
di chuyển melanosome.
107
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Tuy nhiên, có thể những tác động
này cũng là hệ quả có vai trò của tiền chất
niacinamide, các chi tiết cụ thể của chúng
vẫn chưa được nghiên cứu chi tiết để xác
định các quá trình liên quan. Trong khi các
chi tiết cơ chế vẫn chưa được làm sáng tỏ
đầy đủ, Bảng 10.1 trình bày ngắn gọn tổng
quan dựa trên nghiên cứu trong ống nghiệm
và mối liên hệ tiềm năng của chúng với các
lợi ích lâm sàng của da (được thảo luận chi
tiết hơn trong Lợi ích lâm sàng).
Các nghiên cứu in vitro gần đây đã cho
thấy niacinamide tác động đến nhiều mục
tiêu đích ở da liên quan đến cấu trúc da, độ
đàn hồi, lành thương và tăng sắc tố. Những
phát hiện mới này được tóm tắt ngắn gọn
trong bảng 10.2. Một phát hiện gần đây cho
thấy tác dụng điều trị của niacinamide đối
với tổn thương da gây ra bởi tia UV. Ví dụ,
niacinamide có thể làm giảm sản xuất PGE2
từ tế bào sừng, bảo vệ tính toàn vẹn cấu trúc
tế bào khỏi những tổn thương do tia UV gây
ra. Những dữ liệu này giúp củng cố giả thuyết
niacinamide bồi tại chỗ và đường uống có
khả năng làm giảm sự suy giảm miễn dịch
gây ra bởi tia cực tím. Ngoài ra, niacinamide
cũng được bảo vệ quá trình chuyển hóa năng
lượng của tế bào trong ống nghiệm.
Giả thuyết niacinamide tác động đến
quá trình chuyển hóa tế bào dựa trên khái
niệm của hai đồng yếu tố NADH và NADPH.
Tuy nhiên, niacinamide còn có thể đóng một
vai trò quan trọng hơn trong việc kết nối quá
trình chuyển hóa tế bào với quá trình điều
hòa trong một nghiên cứu liên quan đến điều
hòa nhịp sinh học.
Bảng 1.1 Cơ chế tác dụng của Niacinamide và những lợi ích lâm sàng trên da
Tác dụng của niacinamide
Những lợi ích có thể
Ức chế khả năng tiết nhờn, giảm tổng hợp diglycerides,
triglycerides và các acid béo
•
Giảm mụn
•
Giảm kích thước lỗ chân lông
•
Cải thiện cấu trúc da
Kích thích tổng hợp lipid (ceramide) thượng bì và pro-
teins (keratin, involucrin, filaggrin)
•
Cải thiện hàng rào da và
dưỡng ẩm
•
Giảm đỏ da
•
Cải thiện trứng cá đỏ
Chống viêm ( ức chế cytokine)
•
Chống lão hóa
•
Giảm đỏ da
•
Cải thiện trứng cá đỏ
Tăng tổng hợp collagen
•
Chống nhăn
Ức chế tổng hợp quá mức các glycosaminoglycans
•
Chống nhăn
Ức chế di chuyển của melanoSome từ melanocytes tới
keratinocytes
•
Giảm sắc tố
Ức chế protein glycation qua tác dụng chống Oxy hóa
(niacinamide, tiền chất, tăng mức oxy hóa khử yếu tố
NADH và NADPH)
•
Chống vàng da
•
Chống nắng
108
Niacinamide: Một loại vitamin bôi tại chỗ với nhiều lợi ích cho da
Chương 10 _
Lợi ích lâm sàng
Trong một nghiên cứ ngẫu nhiên, mù đôi,
có nhóm chứng (thời gian nghiên cứu lên đến
sáu tháng) đã cho thấy nhiều tác dụng có lợi
ở da đối với niacinamide dạng bội.
Giảm tiết bã nhờn, thu nhỏ kích
thước lỗ chân lông và cải thiện bề
mặt da
Những tác dụng này thảo luận chung
thành một nhóm và giảm tiết bã nhờn được
quan sát thấy có liên quan đến việc giảm kích
thước, số lượng lỗ chân lông và cải thiện bề
mặt da. Niacinamide làm giảm đáng kể chất
nhờn bề mặt trong các mẫu sinh thiết da
người và trong thử nghiệm điều trị trên mặt
người da trắng (thời gian điều trị 4 tuần). Thử
nghiệm cho thấy giảm đáng kể thành phần
glyceride và axit béo trong chất bã nhờn.
Những thay đổi thành phần bã nhờn cũng đi
kèm với việc giảm đáng kể kích thước lỗ chân
lông và làm mịn hơn bề mặt da.
Một thử nghiệm gần đây đã giúp xác
nhận lại những tác dụng này trên da mặt của
người da trắng và cho thấy tác dụng tương tự
trên da mặt của người Nhật (giảm bã nhờn và
kích thước lỗ chân lông sau 2-4 tuần điều trị).
Tác dụng của Niacinamide
Lợi ích ở da
Kích thích tăng sinh tế bào sừng thông qua tăng hiệu ứng
trung gian KGF
Phục hồi vết thương
Kích thích sản xuất collagen và dịch mã mARN của những
thành phần trong chất nền ngoại bào, các enzymes liên kết
và cytokines: fibulin-1, fibronectin -1, elastine, lysyl oxidase
(1 và 2), procollagen, collagen (I và III), TGF - | beta(1,2 và
3), actin, CTGT, tenascin XB)
Chống lão hóa
Điều hòa ngược MITF, tyrosinase, TRP1, TRP2 và PMEL17
Giảm sắc tố
Giảm tổng hợp PGE2 do UV gây ra từ tế bào sừng
Chống viêm
Ngăn ngừa ức chế miễn dịch tia UV gây ra
Dây sừng ánh sáng
Trao đổi chất điều chỉnh nhịp sinh học
Hàng rào da
Bảng 10.2 Cơ chế tác động được phát hiện của niacinamide và lợi ích xuất hiện ở da.
Trong quá trình tìm kiếm các thành phần
bổ sung, việc sàng lọc trong một thử nghiệm
tế bào tuyến bã in vitro đã xác nhận hiệu
quả của niacinamide và xác định một thành
phần làm giảm bã nhờn bề mặt mạnh khác
- Axit dehydroacetic và muối của nó là natri
dehydroacetate (SDA) trước đây đã được sử
dụng trong công nghiệp mỹ phẩm như một
chất bảo quản. Trong thử nghiệm trên da
mặt, sự kết hợp của niacinamide bôi tại chỗ
và SDA cho thấy hiệu quả gấp đôi trong giảm
tiết bã nhờn và làm mịn da hơn so với dùng
niacinamide đơn thuần.
Trong thử nghiệm khác, một chế độ
của các sản phẩm có chứa niacinamide (N)
và axit salicylic (SA) so sánh với sản phẩm
benzoyl peroxide (BP) ở những phụ nữ có
tuýp da I - V. Phác đồ kết hợp N-SA cung cấp
hiệu quả dưỡng ẩm da tốt hơn đáng kể so với
chế độ BP. Đối với sang thương mụn viêm thì
hai phác đồ này cho hiệu quả tương đương
nhau. Ngoài ra, phác đồ kết hợp cho thấy
hiệu quả hơn đáng kể hơn trong việc cải thiện
kết cấu bề mặt da, kích thước lỗ chân lông và
số lượng lỗ chân lông (Hình 10.1). Hơn nữa,
các tác dụng này có mối tương quan đáng
kể với nhau, cụ thể là mối liên quan giữa kích
109
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
thước lỗ chân lông và độ mịn da. Điều này
giúp chứng minh rằng việc giảm tiết bã nhờn
làm thu nhỏ kích thước lỗ chân lông có vai trò
trong cải thiện cấu trúc bề mặt da. Tác động
giảm tiết bã nhờn và thu nhỏ lỗ chân lông
cũng có liên quan đến điều trị mụn trứng cá.
Hình 10.1 Phác đồ bôi niacinamide và SA giảm đáng kể kích thức lỗ chân lông và kết cấu da.
(nền vs. sau 12 tuần).
Giảm sự xuất hiện nếp nhăn
Các nghiên cứu trước đây cho thấy có sự
giảm xuất hiện của các nếp nhăn trên khuôn
mặt sau khi bối các sản phẩm dưỡng ẩm có
chứa niacinamide. Kết quả từ nghiên cứu
lâm sàng cho thấy các mức độ xuất hiện nếp
nhăn giảm đáng kể này sau 8 và 12 tuần điều
trị. | Trong thử nghiệm lâm sàng gần đây,
một phác đồ dưỡng ẩm gồm sự kết hợp của
niacinamide (N), peptide và retinyl propionate
(RP) được đánh giá so với phác đồ tretinoin
0,02% đơn độc. Trong khi cả hai phác đồ đều
giảm sự xuất hiện của các nếp nhăn trên khuôn
mặt một cách đáng kể và ở mức độ như nhau
sau 24 tuần, phác đồ N / peptide / RP có hiệu
quả hơn đáng kể ở giai đoạn đầu nghiên cứu
(sau 8 tuần) và dung nạp tốt hơn (dựa trên
các thông số đánh gia toàn vẹn của hàng rào
bảo vệ da, hồng ban và khô da) (Hình 10.2).
Giảm sự xuất hiện tăng sắc tố
Niacinamide bối tại chỗ đã được chứng
minh trong một số nghiên cứu lâm sàng để
làm giảm đáng kể sự xuất hiện của chứng tăng
sắc tố trên khuôn mặt, đặc biệt là các đốm
tăng sắc tố. Hiệu quả rõ rệt sau bốn tuần điều
trị. | Thử nghiệm lâm sàng gần đây hơn đã cho
thấy hiệu quả cao hơn của niacinamide trong
việc giảm sự xuất hiện của tăng sắc tố trên
khuôn mặt khi kết hợp với các thành phần ức
chế những giai đoạn khác nhau trong quá trình
tạo sắc tố. Ví dụ, N-acetyl glucosamine (ức
chế hoạt hóa tyrosinase trong ống nghiệm)
và N-undecyl-10-enoyl-L-phenylalanin (ngăn
chặn alpha-MSH trong ống nghiệm) làm tăng
đáng kể lợi ích bên ngoài da của các công
thức bối có chứa niacinamide (Hình 10.3).
110
Niacinamide: Một loại vitamin bôi tại chỗ với nhiều lợi ích cho da
Chương 10 _
Hình 10.2 Phác đồ bôi niacinamide, peptide và retinyl propionate giảm đáng kể
sự xuất hiện nếp nhăn (nền vs. sau 8 tuần).
Hình 10.3 Bối niacinamide kết hợp N undecyl-10-enoyl-L phenylalanine giảm
đáng kể xuất hiện tăng sắc tố ở khuôn mặt ( sau 8 tuần).
111
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Ức chế miễn dịch do tia UV gây ra và
chứng dày sừng ánh sáng Nhiều nghiên
cứu mới gần đây đánh giá tác động của cả
niacinamide bối và đường uống uống trong
việc ngăn ngừa ức chế miễn dịch do tia UV
gây ra, cho thấy khả năng ngăn chặn con
đường quan trọng này trong sự khởi phát ung
thư của vitamin này (như được minh chứng
thông qua việc giảm sự khởi phát của dày
sừng ánh sáng). Có sự khác biệt đáng kể của
tác dụng này đối với giới tính, khi giới nam
cho thấy hiệu quả nhiều hơn nữ.
Sử dụng Niacinamide được sử dụng bôi
tại chỗ trong các sản phẩm chăm sóc da mặt
cho các lợi ích lâm sàng đã thảo luận ở trên.
Niacinamide tại chỗ cũng đã được sử dụng
ngoài da để điều trị mụn trứng cá ở một số
quốc gia và gần đây là ở bệnh nhân trứng cá
đỏ, và như một biện pháp chăm sóc phụ kèm
với retinoids bối tại chỗ. Lợi ích lâm sàng ở
khuôn mặt một bệnh nhân trứng cá đỏ sau
Hình 10.4 .Bối niacinamide cung cấp lợi ích xuất hiện ở mặt ở bệnh nhân (trứng cá
đỏ sau 4 tuần).
bốn tuần sử dụng niacinamide bôi tại chỗ
(Hình 10.4).
Các tác dụng phụ có thể xảy ra
Niacinamide có thể được sử dụng tại
chỗ với nồng độ cao (ít nhất lên đến 5% đây
là nồng độ được sử dụng trong một số sản
phẩm mỹ phẩm trên thị trường) và bệnh
nhân cũng thường dung nạp tốt với nồng độ
này. Tuy nhiên, trong một số trường hợp hiếm
gặp, da có thể bị kích ứng nhẹ. Dạng axit
nicotinic của Vitamin B3 có thể gây phản
ứng đỏ da (giãn mạch) kèm ngứa ở nồng độ
dưới 1%. Một số este acid nicotinic (ngay cả
ở nồng độ dưới 1%) có thể khó sử dụng trong
các mỹ phẩm do dễ bị thủy phân tạo thành
acid nicotinic gây kích ứng da. Một dạng
ester của niacinamide là myristoyl nicotinate
đã được báo cáo không gây kích ứng da,
nhưng vẫn mang lại lợi ích lâu dài cho da.
112
Niacinamide: Một loại vitamin bôi tại chỗ với nhiều lợi ích cho da
Chương 10 _
Kết luận
Chương này minh họa vô số công dụng
ngoài da của niacinamide trong các công
thức mỹ phẩm, từ dưỡng ẩm đơn giản đến
cung cấp lợi ích lâm sàng ở những bệnh nhân
có bệnh lý da như trứng cá đỏ thông qua sự
cải thiện tính toàn vẹn của hàng rào da. Bởi
vì các bác sĩ da liễu có thể gặp nhiều vấn đề
về da có thể điều trị bằng niacinamide, do đó,
các bác sĩ nên cân nhắc sử dụng loại vitamin
này vì nó hiệu quả, rẻ tiền và ít gây kích ứng.
Trong khi hiểu biết về các cơ chế dựa
trên các nghiên cứu in vitro là một phần quan
trọng trong việc lựa chọn các thành phần
cho mỹ phẩm. Tuy nhiên, tầm quan trọng
của bằng chứng lâm sàng cũng không thể
bị bỏ qua. Các nghiên cứu lâm sàng chứng
minh tính hiệu quả phải có độ tin cậy cao:
ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng, sử dụng
các phương tiện hiện đại, khách quan (ví dụ:
phân tích hình ảnh trên máy tính) và so sánh
với các kết quả nghiên cứu tương tự
Hy vọng ngày càng có nhiều nghiên cứu
về các lợi ích mới và công thức kết hợp mới
của loại vitamin này. Những phát hiện mới
này sẽ giúp mở rộng các chỉ định sử dụng
niacinamide bôi trong điều trị các bệnh da.
Further reading
Bissett DL. Anti-aging skin care formula-
tions. In: Draelos ZD, Thaman LA (eds.) Cos-
metic
Formulation of Skin Care Products. New
York: Taylor & Francis Group, 2006, 167-186.
Bissett DL, Miyamoto K, Sun P, et al. Topical
niacinamide reduces yellowing, wrinkling red
blotchiness, and hyperpigmented spots in
aging facial skin. Int J Cosmet Sci 2004; 26:
231-238. Bissett DL, Oblong JE, Saud A, et
al. Topical niacinamide provides skin aging
appearance benefits while enhancing bar-
rier function. In: Elsner P, Maibach HI (eds.)
Cosmeceuticals and Active Cosmetics, 2nd
edn. New York: Taylor & Francis Group, 2005,
421-440. Bissett DL, Robinson LR, Raleigh
PS, et al. Reduction in the appearance of
facial hyper pigmentation by topical N-un-
decyl-10-enoyl-L-phenylalanine and its om-
bination with niacinamide. J Cosmet Derma-
tol 2009; 8: 260-266. Damian DL, Patterson
CR, Stapelberg M, et al. UV radiation-induced
immunosuppression is greater in men and
prevented by topical nicotinamide. J Invest
Dermatol 2008; 128: 447-454. Draelos ZD,
Ertel KD, Berge CA. Niacinamide-containing
facial moisturizer improves skin barrier and
benefits subjects with rosacea. Cutis 2005;
76: 135-141. Draelos ZD, Ertel KD, Berge CA.
Facilitating facial retinization through barrier
improve ment. Cutis 2006; 78: 275-281. Final
report on the safety assessment of sodium
dehydroacetate and dehydroacetic acid.
J Am Coll Toxicol 1985; 4: 123-159. Fu
JJJ, Hillebrand GG, Raleigh P, et al. A ran-
domized, controlled comparative study of
the wrinkle reduction benefits of a cosmetic
niacinamide/peptide/retinyl propionate prod-
uct regimen vs. a prescription 0.02% tretinoin
product regimen. Br J Dermatol 2010; 162:
647-654. Hakozaki T, Minwalla L, Zhuang J,
et al. The effect of niacinamide on reducing
cutaneous pigmentation and suppression of
melanosome transfer. Br J Dermatol 2002;
147:20–31. Imai S. Clocks in the NAD world:
NAD as a metabolic oscillator for the regula-
tion of metabolism and aging. Biochim Bio-
phys Acta 2010; 1804: 1584-1590. Kaczvin-
sky JR, Li JX, Mack CE, et al. Effectiveness
of a salicylic acid-niacinamide regimen for
improvement in the appearance of facial skin
texture and pores in post-adolescent women.
In manuscript. Kimball AB, Kaczvinsky JR, Li
J, et al. Reduction in the appearance of facial
hyperpig mentation after use of moisturizers
with a combination of topical niacinamide
and N-acetyl glucosamine: Results of a ran-
domized, double-blind, vehicle-controlled tri-
al.
Br J Dermatol 2010; 162: 435-441. Lam-
mers K, Bushnell D, Laughlin T, et al. Niacin-
amide inhibits melanogenesis related gene
113
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
expression in melanocytes when co-cultured
with keratinocytes. J Am Acad
Dermatol Sup 2010; 62: AB118. Matts PJ,
Oblong JE, Bissett DL. A review of the range
of effects of niacinamide in human skin. Int
Fed Soc Cosmet Chem Mag 2002; 5: 285-
289. Osborne RO, Rose-Mansfield R, Mat-
subara A, Swanson C. Reduction in skin sur
face sebum with cosmetic ingredients. Oral
presentation, 22nd World Congress of Der-
matology 2012, Seoul, Korea (poster number
FC 02-06).
Park J, Halliday GM, Surjana D, et al. Nic-
otinamide prevents ultraviolet radiation-in-
duced cellular energy loss. Photochem Pho-
tobiol 2010; 86: 942-948. Robinson MK, Mills
KJ, Trejo AV, et al. Reduction in gene expres-
sion related to inflammation by skin barrier
improving agent, niacinamide. J Am Acad
Dermatol Sup 2009; 60: AB83. Sivapirabu
G, Yiasemides E, Halliday GM, et al. Topical
nicotinamide modulates cellular energy me-
tabolism and provides broad-spectrum pro-
tection against ultra violet radiation-induced
iminunosuppression in humans. Br J Derma-
tol 2009; 161: 1357-1364. Surjana D, Halliday
GM, Martin AJ, et al. Oral nicotinamide reduc-
es actinic keratoses in phase II double-blind-
ed randomized controlled trials. J Invest Der-
matol 2012; 132: 1497-1500.
114
Niacinamide: Một loại vitamin bôi tại chỗ với nhiều lợi ích cho da
Chương 10 _
115
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
11
NHỮNG HOẠT CHẤT
THẢO MỘC MỚI
C
h
ư
ơ
n
g
Jennifer David’, Candrice R. Heath,
and Susan Taylor
Society Hill Dermatology, Philadelphia,
PA, USA 2St Luke’s-Roosevelt Hospital Cen-
ter, New York, NY, USA *University of Penn-
sylvania, Philadelphia, PA, USA
116
Những hoạt chất thảo mộc mới
Chương 11 _
Giới thiệu
Sự phát triển của những hoạt chất thảo
mộc mới có sự cải tiến đáng kể trong những
năm qua. Các hoạt chất thảo mộc hiện có
trong một loạt các sản phẩm chăm sóc da
và chăm sóc cá nhân. Những hoạt chất thảo
mộc mới được dùng để bổ sung cho phác đồ
điều trị y khoa đối với các rối loạn như mụn
trứng cá, nám da và trứng cá đỏ. Khi số lượng
thảo mộc sử dụng tại các trung tâm nghiên
cứu khoa học cơ bản và lâm sàng ngày càng
tăng, chúng ta hiện có y học chứng cứ để ủng
hộ các liệu pháp điều trị cũng như các bất
lợi tiềm ẩn. Trong chương này, chúng tôi sẽ
định nghĩa thành phần hoạt chất, cơ chế hoạt
động, lợi ích lâm sàng, cách sử dụng và các
tác dụng phụ tiềm ẩn của năm loại thảo mộc
mới: chiết xuất vỏ cây thông (PBE), Cà phê
arabica, lựu, tinh dầu tràm tràm trà và chiết
xuất hạt nho.
Chiết xuất vỏ cây thông
(PBE)
Chiết xuất vỏ cây thông (PBE) được
lấy từ vỏ cây thông Pháp, cây thông biển.
Nó thường được bán trên thị trường dưới
tên thương mại Pycnogenolý. Các thành
phần hoạt tính trong PBE là axit phenolic,
vanilin và flavonoid có đặc (procyanidins và
proanthocyanidins). Với thành phần phức tạp,
PBE có tác dụng chống viêm, chống oxy hóa,
vận mạch và tác dụng kháng dị ứng thông
qua nhiều cơ chế khác nhau (Bảng 11.1).
Việc sử dụng vỏ cây thông cho mục đích
y học có thể được bắt nguồn từ “Cha đẻ của
ngành Y”, Hippocrates, vào năm 400 trước
Công nguyên. Hiện tại, PBE đã được dùng
rộng rãi để điều trị các rối loạn da từ tăng sắc
tố, đến lupus ban đỏ hệ thống lão hoá da do
ánh sáng và suy van tĩnh mạch.
Các đặc tính chống dị ứng và chống
viêm của PBE đã được Choi và Yan đánh giá.
Thông qua cả mô hình in vitro và in vivo, PBE
đã được chứng minh là ức chế sự giải phóng
histamine và các cytokine gây viêm khác khi
được kích thích thông qua đáp ứng miễn dịch
qua trung gian IgE.
PBE cũng đã được nghiên cứu về tác
dụng của nó trong việc bảo vệ làn da của
con người chống lại hiện tượng đỏ da do tia
cực tím. Một nghiên cứu được thực hiện bởi
Saliou và cộng sự đã chứng minh rằng liều
ban đỏ tối thiểu (MED) được yêu cầu để tạo
ra một phản ứng ban đỏ khi đối tượng đang
dùng PBE đường uống so với không dùng là
cao hơn.
PBE, ở dạng Pycnogenol, đã được công
bố là GRAS (được coi là an toàn) bởi một hội
đồng độc lập gồm các chuyên gia về độc
học. Mặc dù không được chứng minh thông
qua các nghiên cứu, người ta đã suy đoán
rằng tác dụng chống oxy hóa mạnh của PBE
có thể cản trở hoạt động của một số thuốc
hóa trị và liệu pháp xạ trị.
Cà phê arabica
Cà phê arabica (C. arabica) hay còn gọi
là cà phê chè, là một loài cây thuộc họ Coffea
nguồn gốc bản địa ở vùng núi Yemen, trong
bán đảo Ả Rập, cũng như vùng cao nguyên
của Ethiopia. Các chất chuyển hóa có hoạt
tính sinh học như phenolic diterpenes,
tocopherols và axit béo đã được phân lập
từ cà phê arabica. Chiết xuất cà phê arabica
(CAE) và chiết xuất dầu hạt cà phê (GCO) có
tác dụng chống lão hóa và kháng viêm, với cơ
chế đã được nghiên cứu (Bảng 11.2) .
Các chất chuyển hóa của cà phê arabica
thường được sử dụng trong các sản phẩm
chống lão hóa để giải quyết các nếp nhăn
mịn, rãnh nhăn, tăng sắc tố, làm săn chắc da
và ban đỏ.
Một nghiên cứu mù đôi, ngẫu nhiên, có
đối chứng, đã đánh giá hiệu quả và khả năng
dung nạp của một hệ thống sản phẩm chăm
sóc da mới dạng bội (rửa mặt, lotion ban ngày,
kem dưỡng da ban đêm và serum mắt) đa
thành phần (thành phần chính là C. arabica)
trong việc giảm sự xuất hiện của các dấu
hiệu lão hoá da. Bốn mươi người tham gia là
117
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Bảng 11.1 Hoạt chất và cơ chế hoạt động của PBE
Hoạt chất
Cơ chế hoạt động
Chiết xuất vỏ cây
thông (PBE)
Kháng viên:
Chặn yếu tố hạt nhân tăng cường chuỗi kappa nhẹ của tế bào B hoạt
động
Ức chế sản xuất các protein kết dính: phân tử liên kết tế bào mạch
máu -1 (VCAM-1) và phân tử liên kết gian bào-1 (ICAM-1)
Chặn biểu hiện gen của 5-lipoxygenase (5-LOX) và cyclooxygenase-2
(COX-2) và hoạt động của phospholipid A2 (PLA2)
Chống oxy hóa:
Bảo vệ chống lại sự suy thoái của chất chống oxy hóa nội sinh
(tocopherol và glutathione)
Giãn mạch:
Tăng sản xuất nitric oxit
Kháng dị ứng:
Ức chế sự giải phóng histamine từ các tế bào mast
Bảng 11.2 Hoạt chất và cơ chế tác động của cà phê arabica.
Hoạt chất
Cơ chế hoạt động
Chiết xuất dầu
hạt cà phê chè
(GCO)
Chống lão hóa:
Tăng tổng hợp collagen, elastin và glycosaminoglycan bằng cách giải
phóng trực tiếp TGF-8 và GM-CSF
Tăng biểu hiện mRNA Aquaphorin-3 trong tế bào sừng nuôi cấy của
người
Chiết xuất lá
cà phê arabica
(CAE)
Chống lão hóa:
Kích thích biểu hiện procollagen loại I
Kháng viêm:
Ức chế biểu hiện MMP-1, -3, -9 và ức chế quá trình phosphoryl hóa
JNK, ERK và p38
118
Những hoạt chất thảo mộc mới
Chương 11 _
phụ nữ da trắng được phân chia ngẫu nhiên
áp dụng chế độ dùng chế độ chăm sóc giàu
C. arabica hoặc không có chất chống oxy
hóa không đặc hiệu. Nghiên cứu ghi nhận sự
cải thiện đáng kể về mặt thống kê trong biểu
hiện của nếp nhăn, độ săn chắc, sắc tố, mẩn
đỏ, cảm giác thô ráp và độ sáng của da bị
tổn thương do ánh sáng so với nhóm chứng
(Hình 11.1). C. arabica được dung nạp tốt
mà không có bất kỳ tác dụng phụ nào.
Hình 11.1 Cải thiện sự xuất hiện của các nếp nhăn quanh mắt (a), miệng (b) và chứng tăng sắc
tố da (c) sau khi sử dụng hệ thống chăm sóc da đa thành phần mới, dạng thoa (c). Arabica là
thành phần chính.
a
b
c
Trước
Trước
Trước
Sau
Sau
Sau
119
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Lựu
Lựu là một loại trái cây, Punica granatum,
thuộc họ Punicaceae. Hiện đang có sẵn
dưới nhiều dạng như nước ép lựu, dầu hạt ép
lạnh, chiết xuất vỏ, chiết xuất trái cây, chiết
xuất lựu dạng hydroalcoholic và gel có thể
được đưa vào các sản phẩm khác nhau.
Lựu có đặc tính chống oxy hóa, kháng viêm,
và kháng ung thư (Bảng 11.3).Tác dụng
trị liệu có được từ axit ellagic và flavonoid
(anthocyanidins và anthocyanins) trong
thành phần của quả lựu.
Lựu và các dẫn xuất của nó đã được sử
dụng để điều trị nhiễm vi khuẩn và nấm, cháy
nắng, lão hoá ánh sáng và ngừa ung thư do
ánh sáng bằng cách cải thiện các tác động
bất lợi của bức xạ UV-B.
Nhiều thử nghiệm trong ống nghiệm đã
chứng minh các đặc tính kháng khuẩn của
trái lựu. Một nghiên cứu đã đánh giá các hoạt
động của chiết xuất lựu methanolic (PGME)
kết hợp với kháng sinh chống lại 30 phân lập
lâm sàng của Staphylococcus aureus kháng
methicillin (MRSA) và Staphylococcus aureus
nhạy cảm với methicillin (MSSA). Kiểm tra
tỉnh nhạy cảm của các chủng phân lập với
PGME và kháng sinh được thực hiện bằng
phương pháp pha loãng. Tác động hiệp đồng
được phát hiện giữa PGME và năm loại kháng
sinh được thử nghiệm, chloramphenicol,
gentamicin, ampicillin, tetracycline và oxacillin,
giao động từ 38% đến 73%.
Hoạt chất
Cơ chế hoạt động
Sản phẩm từ
lựu(PBP)
Chống oxy hóa:
Giảm nồng độ peroxide lipid tế bào và tăng nồng độ glutathione.
Dầu hạt lựu ép
lạnh
Kháng viêm:
Ức chế cyclooxygenase và lipoxygenase
Chống sinh ung thư:
Ức chế phù nề da, tăng sản và hoạt động của ornithine decarboxylase
biểu bì
Chiết xuất trái
lựu(PEE)
Chống sinh ung thư:
Ức chế quá trình photphoryl hóa do TPA tạo ra của ERK1 | 2, 238, và
JNK1, 2, cùng với việc kích hoạt NF-x B
Bảng 11.3 Hoạt chất và cơ chế tác động của lựu.
Một thử nghiệm mù đôi có đối chứng
đánh giá tác dụng bảo vệ của chiết xuất từ
quả lựu giàu axit ellagic và cho thấy khi sử
dụng bằng đường uống, chiết xuất từ quả
lựu có tác dụng ức chế sắc tố da do tia UV.
| Bổ sung lựu đường uống đã được đánh giá
trong nhiều nghiên cứu về thông số an toàn
là không có bất kỳ tác dụng phụ nào.
120
Những hoạt chất thảo mộc mới
Chương 11 _
Tinh dầu tràm tràm trà
Tinh dầu tràm tràm trà, một loại dầu
thiết yếu, được sản xuất từ cây Melaleuca
alternifolia, có nguồn gốc từ Úc. Các thành
phần hoạt tính trong dầu tràm trà bao gồm
terpinen-4-ol, a-terpineol, a-pinen, 1-8-cineole,
sesquiterenoid và terinolene.Tinh dầu tràm
tràm trà có đặc tính kháng khuẩn phổ rộng,
tiệt trùng cũng như kháng viêm và chống oxy
hoá (Bảng 11.4).
Tinh dầu tràm tràm trà đã được sử dụng
để điều trị nhiễm vi khuẩn, nấm, côn trùng và
vi rút, cũng như mụn trứng cá, bệnh vẩy nến,
vết cắt và vết bỏng.
Các lợi ích lâm sàng của tinh dầu tràm
tràm trà đã được xem xét thông qua một số
nghiên cứu. Một thử nghiệm ngẫu nhiên, có
đối chứng so sánh phác đồ điều trị MRSA
của thuốc mỡ mupirocin tra mũi 2% và 4%
chlorhexidine rửa mũi tại chỗ so với phác đồ
sử dụng tinh dầu tràm tràm trà tại chỗ, bao
gồm kem mũi chứa 10% tinh dầu tràm tràm
trà và sữa tắm có 5% tinh dầu tràm tràm trà.
Các kết quả cho thấy tỷ lệ kháng khuẩn tương
tự nhau ở cả 2 nhóm. Khi dữ liệu được được
phân tích trên việc khử trùng bề mặt da thì
tinh dầu tràm trà được coi là vượt trội.
Hoạt chất
Cơ chế hoạt động
a-terpineol
Chống oxy hóa:
Nhanh chóng tự oxy hóa các gốc tự do
Kháng khuẩn:
Phá vỡ màng tế bào vi khuẩn
terpinen-4-01
Kháng viêm:
Ức chế sản sinh các chất trung gian gây viêm, yếu tố hoại tử khối u
alpha (TNF-a), interleukin-1B (IL-16) và IL-10
Kháng khuẩn:
Mất axit nucleic do tổn thương màng tế bào chất của S. aureus (Mất
chất hấp thụ 260 nm)
1,8-cineole
Kháng nấm:
Ức chế sự hình thành các ống mầm, hoặc chuyển đổi sợi nấm, trong
C. albicans
Bảng 11.4 Thành phần hoạt chất và cơ chế tácđộng của tinh dầu tràm trà.
Một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng
trên 123 đối tượng có chấy đầu chứng minh
rằng phác đồ điều trị điều trị kết hợp dầu cây
tràm trà, dầu hoa oải hương và một sản phẩm
làm chấy nghẹt thở là một giải pháp thay thế
hiệu quả cho phương pháp điều trị chấy dựa
trên Pyrethrin truyền thống.
Ngoài ra, trong một thử nghiệm mù đôi
ngẫu nhiên trên 60 bệnh nhân có mụn trứng
cá nhẹ đến trung bình, một nửa được điều trị
bằng gel dầu cây tràm trà 5% và nửa còn lại
được điều trị bằng giả dược (tá dược không
có hoạt tính chống mụn trứng cá). Kết quả,
tinh dầu tràm tràm trà có hiệu quả cao hơn
gấp 3,55 lần về số lượng tổn thương do mụn
trứng cá và gấp 5,75 lần chỉ số độ nặng của
bệnh so với giả dược.
Người ta cũng chứng minh đặc tính
kháng nấm của tinh dầu tràm tràm trà là có
hiệu quả chống lại Pityrosporum ovale, một
121
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
tác nhân gây ra gàu. Một nghiên cứu ngẫu
nhiên mu đơn nhóm song song, để khảo sát
hiệu quả và khả năng dung nạp của tinh dầu
tràm tràm trà 5% và giả dược ở những bệnh
nhân bị gàu nhẹ đến trung bình đã được tiến
hành. Nhóm dầu gội 5% tinh dầu tràm tràm trà
cho thấy 41% cải thiện độ nặng của bệnh so
với 11% ở nhóm giả dược (p <0,001). Những
cải thiện đáng kể về mặt thống kê được thấy
ở điểm số vùng da đầu bị ảnh hưởng, điểm
độ nặng, độ ngứa và độ nhờn do bệnh nhân
tự đánh giá.
Bằng chứng thu được trong gần 80 năm
sử dụng cho thấy sử dụng tinh dầu tại chỗ
tương đối an toàn, với các tác dụng phụ rất
nhỏ, tự giới hạn và ít gặp. Dữ liệu đã công bố
chỉ ra rằng tinh dầu tràm trà có khả năng gây
độc nếu uống với liều cao và cũng có thể gây
kích ứng da ở nồng độ cao. Viêm da tiếp xúc
dị ứng hoặc viêm da tiếp xúc kích ứng có thể
là tác dụng phụ của tinh dầu tràm trà.
Chiết xuất hạt nho
Chiết xuất hạt nho, là chiết xuất từ hạt
nho nguyên vẹn của cây Vitis Vinifera, có
nồng độ đáng kể các loại vitamin E, axit
linoleic, resveratrol, và flavonoid (anthocyanins
và proanthocyanidins). Nó có đặc tính chống
oxy hóa, kháng viêm, chống ung thư và chữa
lành vết thương mạnh mẽ (Bảng 11.5).
Chiết xuất hạt nho được sử dụng trong
điều trị tăng sắc tố, lão hoá da do ánh sáng
và chữa lành vết thương. Một nghiên cứu đa
chiều của Cornacchoine và cộng sự đã đánh
giá các đặc tính chống oxy hóa của chiết
xuất từ chối cây Vitis Vinifera (Samartine)
cùng với chiết xuất công nghệ sinh học
(Ronacare Hydroine) qua nghiên cứu in
vitro và in vivo. Ronacare Hydroine là một
loại thuốc bôi ngoài da đã được cấp bằng
sáng chế chứa các hợp chất phân tử hữu cơ
ectoine và hydroxyectoine được phân lập từ
các vi sinh vật ưa nhiệt sống ở môi trường
khắc nghiệt. Các hợp chất này ngăn chặn sự
biến tính của protein bằng cách giảm mất
nước. Trong ống nghiệm, chiết xuất từ chối
V, vinifera dường như có khả năng chống
oxy hóa tốt hơn cả vitamin C hoặc vitamin E
trên tế bào sừng sau khi tiếp xúc với H2O2.
Đánh giá in vivo sau bốn tuần sử dụng serum
Sarmentine (1%) thoa hai lần mỗi ngày cho
thấy sự cải thiện đáng kể trong tất cả các
đặc tính da (săn chắc, rạng rỡ, kết cấu, rãnh
nhăn và nếp nhăn mịn). Tuy nhiên, sự cải
thiện về kết cấu, độ mịn, độ đều màu, độ
ẩm và độ mềm mại của da cao hơn đáng kể
trong nhóm sử dụng Samartine phối hợp với
Ronacare Hydroine.
Bảng 11.5 Hoạt chất và cơ chế tác động của chiết xuất hạt nho.
Hoạt chất
Cơ chế hoạt động
Chiết xuất
Proanthocyanidin
( hạt nho (GSP)
Chống oxy hóa:
Dọn dẹp gốc tự do
Kháng viêm:
Ức chế các dấu hiệu viêm được tạo ra bởi TNF-alpha
Chống sinh ung thư:
Ức chế hoạt động ornithine decarboxylase và myeloperoxidase
Ngăn chặn sự hình thành và thúc đẩy khối u do tia UVB gây ra
Lành thương:
Thúc đẩy biểu hiện yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu trong tế
bào sừng
122
Những hoạt chất thảo mộc mới
Chương 11 _
Chiết xuất hạt nho đã được chứng minh
là có khả năng ức chế hệ thống cytochrome
P450 và có thể ảnh hưởng đến nồng độ thuốc
nội bào được chuyển hóa bởi enzym này.
Kết luận
Các hoạt chất thảo mộc mới đã được
chứng minh là có nhiều ứng dụng hữu ích
trong y học bao gồm các đặc tính kháng
viêm, chống oxy hóa, chống lão hóa, kháng
khuẩn và chống sinh ung thư. Sự hiểu biết
thấu đáo về giá trị và tính ứng dụng của
các tác nhân này hiện vẫn chưa đầy đủ. Tuy
nhiên, khi các nghiên cứu lâm sàng bổ sung
được thực hiện, những thông số về tính hiệu
quả và độ an toàn của các loài thảo mộc sẽ
tiếp tục được đưa vào y học chứng cứ, làm
nền tảng khoa học vững vàng cho khả năng
ứng dụng đầy tiềm năng của chúng.
Further reading
Barker SC, Altman PM. A randomized as-
sessor blind, parallel group comparative effi-
cacy trial of three products for the treatment
of head lice in children - melaleuca oil and
lavender oil, pyrethrins and piperonyl butox-
ide, and a “suffocation” product. BMC
Dermatol 2010; 10(1): 6. Carson CF, Mee
BJ, Riley TV, et al. Mechanism of action of
Melaleuca alternifolia (tea tree) oil on Sta-
plıylococcus aureus determined by time-kill,
lysis, leakage, and salt tolerance assays and
electron microscopy. J Antimicrob Chemoth-
er 2002; 46(6): 1914-1920. Chiang H, Lin T,
Chiu C, Chang C, Hsu K, Wen K, et al. Cof-
fea arabica extract and its constituents
prevent photoaging by suppressing MMPs
expression and MAP kinase pathway. Food
Chem Toxicol 2011; 49(1): 309-318. Choi Y,
Yan G. Pycnogenol inhibits immunoglobulin
E-mediated allergic response in mast cells.
Pliytother Res 2009; 23(12): 1691-1695. Co-
macchione S, Sadick N, Neveu M. Talbourdet
S, Lazou K, Perrier E, et al. In vivo skin anti-
oxidant effect of a new combination based
on a specific Vitis vinifera shoot extract and
a biotechnological extract. J Drugs Derma-
tol 2007; 6(6 Suppl.): s8-s13. Del Carmen
Velazquez-Vereda M, Dieamant G, Eberlin S,
Nogueira C. Colombi D.
Queiroz M, et al. Effect of green Coffea
arabica L. seed oil on extracellular matrix
components and water-channel expression
in in vitro and ex vivo human skin models.
Cosmetic Dermatol 2009; 8(1): 56-62.
Dryden M, Dailly S. Crouch M. A randomized,
controlled trial of tea tree topical prepara-
tions versus a standard topical regimen for
the clearance of MRSA colonization.
J Hosp Infect 2004; 56(4): 283-286. En-
shaieh S, Jooya A, Siadat AH, Iraji F. The ef-
ficacy of 5% topical tea tree oil gel in mild to
moderate acne vulgaris: A randomized, dou-
ble-blind placebo-controlled study.
Indian J Dermatol Venereol Leprol 2007;
73(1): 22-25. Jurenka J. Therapeutic applica-
tions of pomegranate (punic granatum l.): A
review. Altern
Med Rev 2008: 13(2): 128-144. Maimoo-
na A, Jameel K, Saddiqe Z, Naeem l. A review
on biological, nutraceutical and clinical as-
pects of French maritime pine bark extract.
J Ethnopharmacol 2011; 133(2): 261-277.
Mittal A, Elmets CA, Katiyar SK. Dietary feed-
ing of proanthocyanidins from grape seeds
prevents photocarcinogenesis in SKH-1
hairless mice: Relationship to decreased fat
and lipid peroxidation. Carcinogenesis 2003;
24: 1379-1388. Palmer D, Kitchin J. A dou-
ble-blind, randomized, controlled clinical tri-
al evaluating the efficacy and tolerance of a
novel phenolic antioxidant skin care system
containing Coffea arabica and concentrated
fruit and vegetable extracts. J Drugs Derma-
tol 2010; 9(12): 1480-1487.
Pazyar N, Yaghoobi R. Tea tree oil as a
novel antipsoriasis weapon. Skin Pharma-
col Physiol 2012; 25(3): 162-163. Saliou C.
Rimbach G, Moini H, McLaughlin L. Hos-
123
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
seini S, Packer L, et al. Solar ultraviolet-in-
duced erythema in human skin and nuclear
factor-kappa-B-dependent gene expression
in keratinocytes are modulated by a French
maritime pine bark extract. Free Radic Biol
Med 2001;30(2): 154-160. Santosh, K. Grape
seed proanthocyanidines and skin cancer
prevention: Inhibition of oxidative stress and
protection of immune system. Mol Nutr Food
Res 2008; 52(1):
S71-576. Satchell A, Saurajen A, Bell C,
Barnetson R. Treatment of dandruff with 5%
tea tree oil shampoo. J Amer Acad Dermatol
2002; 47(6): 852-855
124
Những hoạt chất thảo mộc mới
Chương 11 _
125
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
12
TINH CHẤT
TRÀ XANH
C
h
ư
ơ
n
g
Neil Houston’ and Alexa Boer
KimbaU!
Clinical Unit for Research Trials and
Outcomes in Skin (CURTIS), Massachusetts
General Hospital, Boston, MA, USA 2Harvard
Medical School, Boston, MA, USA
126
Chiết xuất trà xanh
Chương 12 _
Giới Thiệu
Trà là thức uống được tiêu thụ nhiều thứ
hai sau nước và được thưởng thức trên khắp
thế giới trong nhiều thế kỷ. Rất ít chất được
cho là có lợi cho sức khỏe con người mà ít
tác dụng phụ như trà xanh. Trà xanh là một
dược thực phẩm được sử dụng phổ biến do
đặc tính chống oxy hóa và kháng viêm có
trong lá trà. Mặc dù trà xanh thường được sử
dụng như một loại nước giải khát, chiết xuất
trà xanh (GTE) có thể được sử dụng thoa tại
chỗ hoặc uống dưới dạng thuốc viên để tận
dụng các tác dụng có lợi cho sức khỏe của
lá trà. Trong chương này, chúng tôi sẽ xem
xét các nghiên cứu chính và kết luận về GTE,
cũng như thảo luận về những lợi ích sức khỏe
tiềm năng chưa được chứng minh.
Thành phần hoạt tính
Cây trà, Camellia sinensis, được biết đến
nhiều nhất ở ba dạng: (1) trà đen (lên men
hoàn toàn); (2) trà ô long (lên men một phần);
và (3) trà xanh (chưa lên men) (Hình 12.1).
Sau khi thu hoạch, lá trà ô long và đen được
sấy khô và bắt đầu oxy hóa. Để sản xuất trà
đen, lá trà được sấy khô và nghiền nát hoàn
toàn để đẩy mạnh quá trình oxy hóa và tạo
cho trà có màu nâu sẫm đặc biệt. Trà ô long
bị oxy hóa một phần. Trong khi đó, trà xanh
được hấp hoặc đun nóng ngay sau khi thu
hoạch để ngăn chặn quá trình oxy hóa (Hình
12.2). Nhiều thành phần có lợi bị mất đi trong
quá trình chế biến trà đen và trà ô long được
giữ lại trong lá trà xanh, nên trà xanh là một
loại thực phẩm thẩm mỹ có lợi cho sức khỏe
vượt trội. Mặc dù trà đen có chứa nhiều thành
phần giống như trà xanh, một nghiên cứu so
sánh trong ống nghiệm của Chatterjee và
cộng sự đã chỉ ra rằng trà đen có ít khả năng
chống oxy hóa và kháng viêm hơn so với trà
xanh.
Các đặc tính chống oxy hóa của trà xanh
là do các polyphenolic catechin, còn được
gọi là flavan-3-ols. Catechin là một dạng
flavonoid, và mặc dù trà xanh có chứa
nhiều loại catechin, nhưng đặc biệt là 3 loại
epicatechin, epicatechin-3- gallate (ECG) và
Hình 12.1
Camellia
sinensis:(a)
Hạt từ cây Camellia
sinensis; (b) Lá trà
xanh;
(c)
Lá
trà
xanh
khô
và
chế
biến; (d) Lá trà xanh
nghiền mịn, thường
được gọi là matcha.
Nguồn: Ảnh minh họa
của Ryan Denman.
a
b
c
d
127
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
epigallocatechin-3-gallate (EGCG)- là các
chất cho lợi ích sức khỏe. Catechin chiếm
khoảng 30-35%trọng lượng khô của lá trà
xanh và 90% tổng số polyphenol trong trà
xanh. Trong trà đen, catechin bị oxy hóa trong
quá trình chế biến nên sản phẩm cuối cùng
chỉ chứa 4% catechin, so với 30% trong trà
xanh. | EGCG là chất mạnh nhất trong số các
catechin và là thành phần hoạt tính chính của
trà xanh và GTE (Hình 12.3). Đến nay, EGCG
Hình 12.2 Những rẫy chè xanh đang cho thu hoạch. Nguồn: Ảnh minh họa của Ryan Denman.
là thành phần polyphenolic được nghiên
cứu nhiều nhất trong trà xanh. Trong khi các
catechin khác có tác dụng chống oxy hóa,
EGCG là catechin có kích thước lớn nhất và
dồi dào nhất trong trà xanh và là chất chống
oxy hóa mạnh nhất trong bất kỳ loại trà nào
hiện có. Sau khi chế biến, trà xanh vẫn giữ
được hàm lượng EGCG cao nhất, khiến nó trở
thành một loại thực vật được ưa chuộng để
sử dụng trong các sản phẩm dược mỹ phẩm.
Các catechin trong GTE ảnh hưởng tích
cực đến cơ thể con người thông qua ba cơ
chế hoạt động: (1) chống oxy hóa; (2) kháng
viêm; và (3) bảo vệ khỏi tia cực tím (UV). Tất
cả ba thuộc tính này sẽ được trình bày dưới
đây. Trà xanh đã được sử dụng dưới nhiều
hình thức và thường được dùng bằng đường
uống như một thực phẩm bổ sung. GTE gần
đây đã được sử dụng trong các sản phẩm
dược mỹ phẩm để tận dụng đặc tính chống
lão hóa và ở mức độ thấp hơn là bảo vệ khỏi
tia cực tím. Cũng có bằng chứng hỗ trợ tác
động của GTE trong việc giảm thiểu sự phân
hủy collagen trong da và chống lại sự phân
hủy tự nhiên xảy ra với quá trình lão hóa.
128
Chiết xuất trà xanh
Chương 12 _
Cơ chế tác động
Lão hóa da phần lớn được cho là do tác
hại của các gốc tự do và phản ứng viêm. Các
đặc tính chống lão hóa của trà xanh được
cho là do nguồn cung cấp dồi dào các chất
chống oxy hóa có sẵn để loại bỏ các gốc tự
do. EGCG, EGC, và tập thể epicatechin dập
tắt các gốc oxy phản ứng (ROS): oxy đơn,
hydro peroxit, gốc superoxide, gốc hydroxyl
và gốc peroxyl. Theo một nghiên cứu của
Kim và cộng sự, những polyphenol này hạn
chế quá trình peroxy hóa lipid do tia UV gây
ra trên da. Ngoài ra, Nakagawa cùng cộng
sự phát hiện ra rằng các polyphenol này làm
giảm quá trình oxy hóa protein trong các hệ
thống tạo gốc tự do in vitro.
Các đặc tính chống oxy hóa của GTE có
tác dụng xuôi dòng cung cấp đặc tính kháng
viêm và bảo vệ tia cực tím cho da, tiếp tục
phát huy các đặc tính chống lão hóa của
GTE. Các gốc tự do điều hòa tăng 1 số yếu
tố phiên mà chẳng hạn như protein hoạt hóa
Hình 12.3
Epigallocatechin-3-gallate
(EGCG) là thành phần hoạt
tính chính trong chiết xuất trà
xanh, có đặc tính chống oxy
hóa mạnh. Nguồn: Ảnh minh
họa của Ryan Denman.
1 (AP-1) và yếu tố phiên mã ở nhân kappa
B (NF-kB), đến lượt nó, điều hòa tăng các
chất trung gian tiền viếm. AP-1 góp phần sản
xuất metallo-proteinase giúp phá vỡ collagen
trong da. NF-kB điều chỉnh quá trình phiên
mã của interleukin (IL)-1, IL-6, IL-8 và yếu tố
hoại tử khối u alpha. Các cytokine này tiếp
tục kích hoạt NF-kB và AP-1, tiếp tục chu kỳ
này và dẫn đến kết quả phản ứng viêm phá
vỡ collagen, cả hai đều dẫn đến lão hóa .
Bằng cách giảm các gốc tự do, EGCG điều
hòa giảm AP-1 và NF-kB, đồng thời làm giảm
tác hại của tia cực tím và tia UV đối với da
(Hình 12.4). | Đặc tính bảo vệ ánh sáng của
trà xanh đã được nghiên cứu bởi Elmets và
cộng sự trong một thử nghiệm để xác định
tác động của EGCG và ECG đối với ban đỏ do
tia cực tím. Trong nghiên cứu này, GTE bôi tại
chỗ đã được chứng minh là có tác dụng bảo
vệ quang học từ 24 đến 72 giờ. Trà xanh bôi
tại chỗ làm giảm 66% lượng tế bào bị cháy
129
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Hình 12.4 Bức xạ UV gây ra các loại oxy phản ứng (ROS) trong da, điều này có thể dẫn đến
việc điều chỉnh tăng yếu tố phiên mã hạt nhân-kappa B (NF-kB) và protein hoạt hóa 1 (AP-1).
NF-kB báo hiệu sự gia tăng các cytokine tiền viếm. AP-1 dẫn đến hoạt hóa các metalloproteinase
nền (MMP), cũng như làm giảm tổng hợp procollagen. Nói chung, điều này dẫn đến sự gia tăng
sự phân hủy collagen, giảm sản xuất collagen và tăng tổn thương do viêm, dẫn đến lão hóa.
EGCG dập tắt các ROS khác nhau, điều chỉnh giảm NF-kB và AP-1. Nguồn: Ảnh minh họa của
Ryan Denman. Phỏng theo: Chen L, Hu JY, Wang SQ. Vai trò của chất chống oxy hóa trong bảo
vệ quang: một đánh giá quan trọng. J Am Acad Dermatol. 2012; 67 ( 5): 1013-1024.
130
Chiết xuất trà xanh
Chương 12 _
nắng khi thoa 30 phút trước khi tiếp xúc với
tia UVB. Ngoài khả năng bảo vệ khỏi tia UVB,
GTE còn ngăn chặn sự ảnh hưởng của phức
hợp điều trị psoralen-UVA lên quá trình lão
hóa, làm giảm ban đỏ, tăng sản (hyperplasia)
và tăng sừng (hyperkeratosis). Họ kết luận
rằng GTE có thể làm giảm tổn thương DNA
sau bức xạ UV cũng như giảm hiện tượng
lão hóa da. Đặc tính bảo vệ khỏi tác hại tia
cực tím của GTE cũng được chứng minh
trong một nghiên cứu của Katiyar và cộng
sự, trong đó EGCG thoa tại chỗ làm giảm đáp
ứng viêm và tầm nhuận bạch cầu ở da người
do tia UVB gây ra (Bảng 12.1).
Lợi ích
Thành phần
hoạt tính
Nguồn
bổ sung
Cơ chế
Chống oxy
hóa
EGCG
Thoa,
uống
Catechins lọc các ROS sau: singlet oxygen,
hydrogen peroxide, superoxide radical, hydroxyl
radical, và peroxyl radical.
Kháng viêm
EGCG
Thoa,
uống
Lợi ích chống viêm là do đặc tính chống oxy
hóa của catechin. Các gốc tự do làm tăng một
số yếu tố phiên mã nhất định, chẳng hạn như
protein kích hoạt 1 (AP-1) và yếu tố phiên mã
nhân-kappa B (NF-kB), đến lượt nó, điều chỉnh
tăng chất trung gian tiền viêm như interleukin
(IL) -1, IL-6, IL-8, và yếu tố hoại tử khối u alpha.
Bằng cách giảm các gốc tự do, EGCG điều
chỉnh giảm sự biểu hiện AP-1 và NF-kB và giảm
tổn thương viêm trên da.
Chống tia UV
EGCG
Thoa là
chủ
yếu,
uống
Bảo vệ khỏi tia cực tím nhờ đặc tính chống oxy
hóa của catechin. EGCG dập tắt các gốc tự do,
giúp giảm sự biểu hiện AP-1 và NF-kB, do đó
làm giảm tác hại của tia UV đối với da.
Giảm phá hủy
collagen
EGCG
Thoa là
chủ
yếu,
uống
AP-1 góp phần sản xuất ma trận
metalloproteinase (MMP) phá vỡ collagen trong
da. Bằng cách giảm các gốc tự do, EGCG điều
chỉnh giảm AP-1, có tác dụng giảm thiểu MMPs
phá vỡ collagen
Bảng 12.1 Các lợi ích sức khỏe khác nhau của chiết xuất trà xanh và cơ chế hoạt động
chính
Một số hạn chế của các công thức bồi
tại chỗ của EGCG là tính ưa nước của các
catechin polyphenolic. Lớp ngoài cùng của
biểu bì, lớp sừng, có tính kỵ nước, khiến cho
EGCG khó có thể thâm nhập vào độ sâu cần
thiết để phát huy hết tác dụng chống oxy
hóa và kháng viêm của nó. Để tăng khả năng
thâm nhập vào da, nồng độ polyphenol được
khuyến nghị trong GTE là 90% trở lên. Nồng
độ này khó có thể nhận biết ở các sản phẩm
hiện có trên thị trường vì có rất ít tiêu chuẩn
liên quan đến nồng độ của GTE trong dược
mỹ phẩm. GTE có thể được chế biến theo
nhiều cách khác nhau, cung cấp lượng
131
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
EGCG khác nhau. Các sản phẩm có thể nêu
chi tiết nồng độ của GTE mà không đề cập
đến nồng độ polyphenol trong dịch chiết,
điều này có thể làm xuyên tạc hiệu quả của
sản phẩm và gây hiểu lầm cho người tiêu
dùng (Hình 12.5).
Hình 12.5 Lá trà xanh khổ. Nguồn: Ảnh minh họa của Ryan Denman.
Catechin trong trà xanh có đặc tính không
ổn định và dễ bị oxy hóa, và còn bị giới hạn do
không thể dễ dàng thấm qua lớp biểu bì. Điều
này nâng cao tầm quan trọng của nồng độ
catechin trong các sản phẩm bôi ngoài da,
để tăng khả năng thấm nhập vào da trước
khi sản phẩm bị ôxy hóa và mất đi tính chất
chống oxy hóa. Mặc dù nồng độ catechin cao
rất quan trọng đối với da, nhưng nồng độ cao
của GTE không đẹp về mặt thẩm mỹ và có
màu nâu xanh có thể tạm thời làm hoen ố da
132
Chiết xuất trà xanh
Chương 12 _
Lợi ích lâm sàng
Điều trị lão hóa
Các đặc tính bảo vệ ánh nắng của GTE,
tương tự như tính chống oxy hóa và kháng
viêm, được cho là do nồng độ cao EGCG và
các catechin khác trong trà xanh. GTE có thể
được thoa tại chỗ hoặc uống như một thực
phẩm bổ sung. Bổ sung trà xanh uống cho
phép cơ thể sử dụng thuộc tính chống oxi
hóa khác với việc thoa tại chỗ, nhưng vẫn có
nhiều lợi ích sức khỏe tương tự. Cả dùng tại
chỗ và đường uống đều cung cấp khả năng
bảo vệ khỏi tia cực tím và giảm viêm, do
đó khuyến khích việc sử dụng bổ sung GTE
thường xuyên kết hợp với sử dụng tại chỗ để
giảm tác hại của tia UV và các dấu hiệu lão
hóa da.
Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên mù
đôi, đối chứng với giả dược, kiểm tra các
chất bổ sung polyphenol trong trà xanh và
tác dụng của chúng đối với tác hại của ánh
nắng mặt trời đã được thực hiện bởi Jan-
jua và cộng sự vào năm 2009. Nghiên cứu
theo dõi 56 phụ nữ, với nhóm điều trị nhận
250 mg polyphenol trà xanh hai lần mỗi ngày
trong thời gian 2 năm. Kết quả cho thấy rằng
polyphenol trong trà xanh có thể cải thiện
tác hại của ánh nắng mặt trời sau 12 tháng,
nhưng không có sự khác biệt lâm sàng nào
được thấy sau 24 tháng.
Cho đến nay, chỉ có một thử nghiệm lâm
sàng ngẫu nhiên mù đôi, có đối chứng với giả
dược, đã được tiến hành liên quan đến các
đặc tính chống lão hóa của GTB khi bôi tại
chỗ. Nghiên cứu này của Chiu và cộng sự đã
khảo sát 24 phụ nữ trong khoảng thời gian 8
tuần. Nhóm điều trị được dùng kem GTE 10%
và 300 mg GTE bổ sung hai lần một ngày,
trong khi nhóm còn lại được dùng giả dược.
Sau 8 tuần, không có sự khác biệt đáng kể
nào về lâm sàng có thể được nhìn thấy; tuy
nhiên, có sự cải thiện về lượng mô đàn hồi
ở nhóm điều trị, cho thấy có thể cần một
khoảng thời gian dài hơn để có hiệu quả lâm
sàng. Các thử nghiệm lâm sàng tiếp theo
phải được thực hiện để xác định cách dùng
hiệu quả và thiết thực nhất để cung cấp khả
năng chống oxy hóa và kháng thấm của GTE.
Collagen được cho là duy trì độ dày và độ
đàn hồi của da. Theo tuổi tác, việc sản xuất
collagen giảm và collagen hiện có cũng bị suy
giảm. GTE có thể trì hoãn sự phân hủy collagen
theo tuổi tác, giảm nếp nhăn và giữ cho làn
da trông khỏe mạnh và trẻ trung hơn. Sẽ cần
phải tiến hành nhiều nghiên cứu hơn trên các
đối tượng là con người để chứng minh những
tuyên bố này, mặc dù bằng chứng hiện có
cho thấy một số côngnhận về tác dụng
của GTE đối với collagen và cung cấp một
lý do chính đáng để theo đuổi các nghiên
cứu trong tương lai. Một nghiên cứu trong
ống nghiệm cho thấy rằng polyphenol trong
trà xanh ức chế hoạt động của collagenase
và tăng tốc độ sinh tổng hợp collagen của
nguyên bào sợi người. Các nghiên cứu khác
đã chứng minh rằng GTE tại chỗ giúp ngăn
chặn metalloproteinase và liên kết chéo
collagen liên quan đến tuổi tác ở chuột.
Điều trị mụn cóc
Thuốc mỡ Sinecatechins 15%, được biết
đến dưới tên thương mại Veregen*, có nguồn
gốc từ lá trà xanh và là sản phẩm thực vật
đầu tiên mà Cơ quan Quản lý Thực phẩm
và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã phê duyệt
để điều trị mụn cóc sinh dục và quanh hậu
môn. Thuốc mỡ sinecatechins là một hỗn
hợp của catechin và các thành phần trà xanh
khác. Thuốc mỡ có 85-95% catechin, và 55%
catechin này là EGCG. Mặc dù công dụng
của thuốc mỡ đã được chứng minh, nhưng
cơ chế hoạt động vẫn chưa được biết. Thuốc
mỡ được bôi ba lần mỗi ngày và làm sạch
hoàn toàn mụn cóc ở 53-58% bệnh nhân sau
16 tuần điều trị, so với tỷ lệ khỏi 33 37% khi
dùng giả dược.
133
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Phòng ung thư bằng thuốc
Ngoài những lợi ích của catechin
polyphenolic được liệt kê ở trên, GTE đã được
chứng minh là có đặc tính chống ung thư và
đã được nghiên cứu rộng rãi cả in vitro và in
vivo, EGCG đã cho thấy tác dụng ức chế khối
u trên mô hình sinh ung thư ở động vật, mô
hình xenograft chuột và trên các dòng tế bào
ung thư khác nhau. EGCG cũng cho thấy khả
năng chống ung thư do tia UV qua việc thoa
và uống ở chuột. Khi cho vào nước uống của
chuột, các thành phần polyphenol của trà
xanh có thể bảo vệ đáng kể chống lại quá
trình sinh ung thư da do tia UV gây ra về tỷ lệ,
kích thước và tính đa dạng của khối u, so với
nhóm đối chứng.
Các tác dụng phụ có thể xảy
ra
Trà xanh đã được sử dụng theo nhiều
cách khác nhau trong suốt quá trình phát
triển của y học hiện đại và không có tình trạng
nghiêm trọng nào liên quan đến việc sử dụng
nó. Các tác dụng phụ chính của GTE đường
uống có liên quan trực tiếp đến hàm lượng
caffein, mặc dù có sẵn các chất khử caffein
trong chiết xuất. Caffeine có thể dẫn đến
mất ngủ, buồn nôn và đi tiểu thường xuyên.
Phụ nữ mang thai và những người có độ nhạy
cảm với caffein cao nên tránh dùng các chất
bổ sung GTE có chứa caffein. Thoa tại chỗ
đã được chứng minh là không chịu các tác
dụng phụ từ hàm lượng caffeine của GTE.
Hai nghiên cứu của Chow và cộng sự
đã khảo sát mức tiêu thụ lên đến 1200 mg
EGCG mỗi ngày được uống như một chất bổ
sung trong 1-4 tuần trên những người trưởng
thành khỏe mạnh. Các tác dụng phụ được
báo cáo bao gồm đánh rắm, buồn nôn, đau
dạ dày, ợ chua, đau bụng, chóng mặt, nhức
đầu và đau cơ. Các tác dụng này đều được
đánh giá là các tác dụng nhẹ và không có tình
trạng kéo dài hoặc các tác dụng phụ nghiêm
trọng nào được báo cáo. Chow và cộng sự
cũng xác định rằng 800 mg EGCG uống được
dung nạp tốt và tối ưu hóa tác dụng sinh học
của catechin trong trà.
Chống chỉ định
Có rất ít chống chỉ định được biết đến
đối với GTE. Theo một nghiên cứu tại Đại học
Nam California, các chất catechin khác nhau
trong trà xanh có thể liên kết với thuốc chống
ung thư bortezomib, làm giảm hiệu quả của
nó. Sự tương tác giữa EGCG và bortexomib
là rất đặc biệt và có thể làm cho thuốc thực
sự mất tác dụng trong điều trị ung thư. Bệnh
nhân đang điều trị bằng bortexomib nên
tránh các sản phẩm trà xanh có chứa EGCG.
Kết luận
GTE là một sự bổ sung đầy hứa hẹn cho
thị trường dược mỹ phẩm, với các đặc tính
chống oxy hóa và kháng viêm mạnh có thể
giúp chống lại tác hại của các gốc tự do cũng
như sự lão hóa. Qua nhiều thế kỷ, mọi người
đã sử dụng trà xanh để rèn luyện trí óc và
trẻ hóa cơ thể, và cần có thêm nhiều nghiên
cứu để tiết lộ cách tốt nhất để ứng dụng các
tác dụng có lợi của GTE. GTE có thể được
tìm thấy trong các loại kem dưỡng ẩm, kem
chống nắng, kem chống lão hóa, trang điểm,
lotion dưỡng ẩm, xà phòng rửa tay, và giá của
các sản phẩm này có thể khác nhau đáng kể.
Người tiêu dùng có nhiều lựa chọn sản phẩm
GTE mà không có tiêu chuẩn rõ ràng về hiệu
quả lợi ích sức khỏe của sản phẩm chứa
GTE. Nồng độ, liều lượng, đường dùng tối ưu
phải được xác định và chứng minh thông qua
các nghiên cứu trong tương lai để GTE phát
huy hết tiềm năng của nó như một dược mỹ
phẩm hữu cơ.
134
Chiết xuất trà xanh
Chương 12 _
Further reading
Chatterjee P, Chandra S, Dey P, Bhat-
tacharya S. Evaluation of anti-inflammatory
effects of green tea and black tea: A compar-
ative in vitro study. J Adv Pharrn Tech Res
2012; 3: after multiple-dose administration of
epigallocatechin gallate and polyphenon E in
Elmets C, Singh D, Tubesing K, et al. Cu-
taneous photoprotection from ultraviolet
injury by green tea polyphenols. J Am Acad
Dermatol 2001; 44: 425-432. Farris P. Ideben-
one, green tea, and coffeeberry extract: New
and innovative antioxidants.
Dermatol Ther 2007; 20: 322-329. Janjua
R, Munoz C. Gorell E, Rehmus W, Egbert B,
Kern D, Chang AL. A two-year, double-blind,
randomized placebo-controlled trial of oral
green tea polyphenols on the long-term clini-
cal and histologic appearance of photoaging
skin. Dermatol Surg 2009; 35(7): 1057-1065.
Katiyar S, Elmets CA, Katiyar SK. Green tea
and skin cancer: Photoimmunology, antio-
genesis, and DNA repair. J Nutr Biochem
2007; 18: 287-296. Katiyar SK, Matsui MS,
Elmets CA, Mukhtar H. Polyphenolic anti-
oxidant (-) epigallocatechin-3-gallate from
green tea reduces UVB-induced inflamma-
tory responses and infiltration of leukocytes
in human skin. Photochem Photobiol 1999;
69: 148-153 Kim J, Hwang JS, Cho YK, et al.
Protective effects of epigallocatechin-3-gal-
late on UVA and UVB induced skin damage.
Skin Pharmacol Appl Skin Physiol 2001; 14:
11-19. Levine J, Momin SB. How much do we
really know about our favorite cosmeceutical
ingredients? J Clin Aesthet Dermatol 2010;
3(2): 22-41. Ueda JI. Saito N, Shimazu Y, Oza-
wa T. A comparison of scavenging abilities of
antioxi dants against hydroxyl radicals. Arch
Biochem Biophys 1996; 333: 377-384.
135
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
13
ĐẬU NÀNH
VÀ BỘT YẾN MẠCH
DƯỢC THẨM MỸ
TRONG
C
h
ư
ơ
n
g
Jason Emer’ and Heidi A. Waldorf
“Icahn School of Medicine at Mount
Sinai, New York, NY, USA 2 Waldorf
Dermatology & Laser Associates, PC, Nanu-
et, NY, USA
136
Đậu lành và bột yến mạch trong dược thẩm mỹ
Chương 13 _
Giới thiệu
Với mong muốn bảo vệ, duy trì và cải
thiện chất lượng và vẻ ngoài của da kết hợp
với những lo ngại về ảnh hưởng lâu dài của
các hóa chất tổng hợp đã làm dấy lên mối
quan tâm đến các liệu pháp thoa “tự nhiên”
để thay thế. Bột yến mạch và đầu nành là
hai trong số các loại thực vật được sử dụng
rộng rãi và hiệu quả nhất trong da liễu. Các
thành phần tự nhiên này đã nhận được sự
chú ý ngày càng cao với vô số các bài báo
y khoa chứng minh đặc tính chống nắng,
chống viêm, và tác dụng chống lão hóa của
nó khi được sử dụng đường uống và bôi tại
chỗ. Trong chương này, bột yến mạch và đậu
nành sẽ được thảo luận về cơ chế hoạt động
và ứng dụng lâm sàng với vai trò là một thành
phần trong dược mỹ phẩm.
Keo yến mạch
Giới thiệu và lịch sử
Avena sativa hay yến mạch thông thường
là một loại hạt ngũ cốc và là thành viên của
họ cỏ Gramineae. Yến mạch thông thường
chứa beta-glucan, được coi là một chất xơ
hòa tan tốt cho tim. Các liệu pháp sử dụng
tại chỗ lấy từ hạt yến mạch tách vỏ để nghiền
thành bột rất mịn và đun sôi tạo chiết xuất
dạng keo dễ phân tán trong nước. Bột yến
mạch được sử dụng lâu đời trong dân gian
từ những năm 2000 trước Công nguyên ở Ai
Cập và bán đảo Ả Rập. Những mô tả ban đầu
về bột yến mạch như làm dịu, chống ngứa
và làm sạch trước đây đã được chứng minh
bởi nghiên cứu khoa học cho thấy tác dụng
chống viêm, chống oxy hóa và kháng dị ứng.
Bột yến mạch có mặt trên thị trường vào năm
1945 cho nhiều tình trạng da khác nhau đặc
biệt là các tình trạng phát ban ngứa và bỏng.
Năm 1989, Cơ quan Quản lý Thực phẩm
và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã công nhận
giá trị của keo yến mạch như một loại chất
không kê đơn có tác dụng bảo vệ da an toàn
và hiệu quả. Năm 2003, FDA đã xếp bột yến
mạch là một chất an toàn và hiệu quả trong
bảng thuốc bảo vệ da sử dụng không kê đơn
(21 CFR Phần 347). Keo yến mạch là bột
có được từ việc xay và chế biến yến mạch
nguyên hạt và được mô tả như là một thành
phần bảo vệ da, “cung cấp khả năng bảo vệ
da tạm thời và giảm kích ứng da nhẹ do cây
sôi độc, cây thường xuân độc, cây sơn độc và
côn trùng cắn”. Một loạt các sản phẩm từ keo
yến mạch bao gồm xà phòng, sữa tắm, gel
cạo râu và kem dưỡng ẩm có sẵn và là một
lựa chọn không phải dược phẩm phổ biến để
điều trị da khô, da bị viêm hoặc nhạy cảm,
vì chúng ổn định về mặt thẩm mỹ và không
gây kích ứng. Sản phẩm chứa yến mạch có
thể giúp giảm nhu cầu sử dụng thuốc thoa
tại chỗ như corticosteroid hoặc chất ức chế
calcineurin cho tình trạng da viêm hay dị ứng.
Cơ chế hoạt động Bột yến mạch phát
huy tác dụng tích cực cho da do sự kết hợp
của thuộc tính kháng viêm, chống oxy hóa,
kháng dị ứng, bảo vệ hàng rào da, cũng như
sửa chữa, làm sạch và chống nhiễm trùng
(Bảng 13.1). Keo yến mạch hiện nay gồm các
thành phần của yến mạch nguyên hạt như
polysaccharid, protein, lipid, saponin, enzym,
flavonoid, vitamin và một nhóm polyphenol
được gọi là avenanthramides. Polysaccharid,
chiếm thành phần lớn nhất (65-85%), và
các enzym chống oxy hóa như saponin,
vitamin, flavonoid và chất ức chế tổng hợp
prostaglandin, có hoạt tính điều hòa miễn
dịch. Các đặc tính kháng viêm là do ức chế
axit arachidonic, men phospholipase A2 và
con đường yếu tố hoại tử khối u (TNF)-a.
Polysaccharides cũng tạo thành dạng keo
sệt tan trong nước, để lại một lớp màng bảo
vệ vật lý trên da làm chậm mất nước, giúp
sửa chữa và duy trì hàng rào bảo vệ da.
Thành phần protein (10-18%) hoạt động
như một chất nhũ hóa làm tăng cường chức
năng hàng rào và độ ẩm da khi kết hợp với
polysaccharid. Những đặc tính này làm cho
keo yến mạch có tác dụng chống ngứa rất
mạnh. Protein trong yến mạch cũng có khả
năng đệm cho cả axit và bazơ để hỗ trợ và
137
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
sửa chữa hàng rào bảo vệ da sau khi tiếp
xúc với các hóa chất như a-hydroxyaxit, chất
hoạt động bề mặt, chất tẩy trắng, hoặc các
tác động môi trường khác. Lipid (3-9%) giúp
giảm mất nước qua biểu bì (TEWL), thúc đẩy
tăng cường phục hồi hàng rào bảo vệ da,
cũng như hấp thụ và hòa tan các mảnh vụn
trong nước, hấp thụ bụi bẩn, dầu và chất tiết
bã nhờn đồng thời với saponin. Chất xơ (5%)
và beta-glucans (5%) chịu trách nhiệm việc
bảo vệ hàng rào da và chức năng giữ nước
của keo yến mạch.
Các thành phần trong yến mạch được
cho là có tầm quan trọng trong điều trị nhất
là các hợp chất phenol - chẳng hạn như
avenanthraimide cũng như các vitamin A, B, E;
tất cả đều được biết là có tác dụng chống oxy
hóa và kháng viêm mạnh. Avenanthramides
đã được chứng minh là có tác dụng kháng
viêm mạnh thông qua việc ức chế thoái
giáng kappa B (IKB), giảm phosphoryl hóa
p65, hoạt động gen của yếu tố hạt nhân
kappa B (NF-KB) và ức chế giải phóng
cytokine tiền viêm. Tế bào sừng được điều trị
bằng avenanthramides cho thấy có sự ức chế
hoạt động NF-KB do TNF-a gây ra và kết quả là
giảm interleukin-8 (IL-8). IL-8 là một cytokine
tiển viêm tăng lên ở da bị viêm và là một yếu
tố hóa học mạnh có thể gây ra sự di chuyển
của bạch cầu trung tính. Avenathramides
cũng đã cho thấy khả năng ức chế giải phóng
Bảng 13.1 Các thành phần và cơ chế của bột yến mạch.
Thành phần
Cơ chế
Polysaccharides
Duy trì và sửa chữa hàng rào, chống ngứa, dưỡng ẩm
Proteins
Duy trì và sửa chữa hàng rào, chống ngứa, dưỡng ẩm
Lipids
Duy trì và sửa chữa hàng rào; chống ngứa, dưỡng ẩm, làm sạch
Fiber
Duy trì và sửa chữa hàng rào, chống ngứa, dưỡng ẩm
Beta-glucans
Duy trì và sửa chữa hàng rào; chống ngứa, dưỡng ẩm
Saponins
Chống oxy hóa; điều hòa miễn dịch, làm sạch
Vitamins
Chống oxy hóa; điều hòa miễn dịch
Flavonoids
Chống oxy hóa; điều hòa miễn dịch
Polyphenols
(Avenanthramides)
Chống oxy hóa, điều hòa miễn dịch, kháng viêm, kháng histamine;
hấp thụ tia cực tím
histamine phụ thuộc vào liều lượng.
Thoa tại chỗ của công thức 3%
avenathramide cho thấy giảm nhẹ tình trạng
viêm theo kiểu phụ thuộc vào liều lượng trên
chuột có tăng nhạy cảm với tiếp xúc (do
oxazolone), viêm thần kinh (do resiniferatoxin)
và giảm dị nguyên gây ngứa (hợp chất 48/80)-
làm giảm gãi. Ở nồng độ cao, tác dụng chống
viêm của avenanthramides có thể đạt đến
tác dụng của thuốc bôi hydrocortisone 1%.
Hơn nữa, hoạt tính chống oxy hóa, chống độc
của chúng có thể so sánh với axit ascorbic và
có thể có lợi ích về mặt sinh lý.
Rối loạn chức năng hàng rào bảo vệ da
góp phần vào nhiều bệnh, chẳng hạn như
như viêm da cơ địa và bệnh trứng cá đỏ,
trầm trọng hơn theo tuổi tác và tổn thương
do ánh sáng. Keo yến mạch đã được chứng
minh là hoạt động như một chất làm mềm,
cấp ẩm và khóa ẩm để giảm trực tiếp TEWL.
Những lợi ích này là do tinh bột và các thành
phần lipid. Sử dụng chiết xuất bột yến mạch
(Avena rhealba) đối với da được điều trị bằng
natri laurel sulfat làm giảm kích ứng so với tá
dược, minh họa tác dụng chống viêm của yến
mạch và cho thấy tiềm năng có lợi cho hàng
rào bảo vệ da.
Chiết xuất bột yến mạch cũng có đặc tính
kháng virus, có thể là do chất ức chế ảnh hưởng
đến sự hình thành eicosanoid, sản phẩm
138
Đậu lành và bột yến mạch trong dược thẩm mỹ
Chương 13 _
chuyển hoá của cytosolic phospholipase
A2 và axit arachidonic trong tế bào sừng của
con người. Một nghiên cứu trên 6 trẻ em bị u
mềm lấy được điều trị bằng kem chứa kẽm
oxit có kèm chiết xuất bột yến mạch (Avena
rhealba) 1 lần/ngày cho thấy những cải thiện
đáng kể sau 4 tuần điều trị. Hơn nữa, chiết
xuất hạt yến mạch khi áp dụng cho bánh mì
lúa mạch đen được chứng minh là có mức độ
hoạt động chống nấm cao, ngăn ngừa sự hình
thành các khuẩn lạc Penicillium roqueforti
và được đề nghị dùng trong bảo quản thực
phẩm.
Chỉ định và lợi ích lâm sàng
Bột yến mạch được sử dụng rộng rãi như
một chất bảo vệ da và dưỡng ẩm. Nó đã trở
thành một phần tiêu chuẩn của nhiều phác
đồ cả chăm sóc da khô hàng ngày và điều trị
các rối loạn da viêm hay dị ứng như viêm da
tiếp xúc, viêm da cơ địa, trứng cá đỏ, vẩy nến,
hăm tã, viêm da tiết bã, bỏng, rôm sảy, ban
đỏ tróc vảy, và nhiễm độc da sau hóa trị liệu
(Hình 13.1).
Hình 13.1 (a) Bệnh nhân mắc bệnh rosacea u hạt nặng không muốn bắt đầu điều trị
bằng đường uống; (b) Những cải thiện về mặt lâm sàng được nhìn thấy sớm nhất
là hai tuần khi sử dụng chế phẩm bột yến mạch dạng keo tại chỗ.
Các nghiên cứu ban đầu đã báo cáo lợi
ích của keo yến mạch trong việc quản lý bệnh
da ở bệnh nhi và bệnh nhân cao tuổi, những
người nên được dùng những sản phẩm có
tính an toàn cao. Keo yến mạch được coi là
chất bổ trợ trong điều trị viêm da cơ địa và có
thể đóng một vai trò quan trọng trong việc
giảm việc sử dụng corticosteroid và chất ức
chế calcineurin tại chỗ.
Với quần thể rộng hơn cũng có thể được
hưởng lợi, khi một nghiên cứu lâm sàng gần
đây kiểm tra lợi ích của chế độ chăm sóc da
gồm kem dưỡng ẩm và sữa tắm có chứa
avenanthramides đã cho thấy sự cải thiện
trong tất cả các kết quả (mức độ nghiêm
trọng của bệnh chàm, ngứa, ban đỏ và bong
vảy). Matheson và các đồng nghiệp báo cáo
rằng parafin lỏng với keo yến mạch 5% làm
giảm đáng kể ngứa và nhu cầu sử dụng thuốc
kháng histamine trong việc điều trị bệnh
nhân bị bỏng, so sánh với việc dùng parafin
đơn thuần. Trong một nghiên cứu khác ở
người trưởng thành, lotion dưỡng da chứa
keo yến mạch đã được chứng minh là có
hiệu quả để kiểm soát sự phát triển của phát
ban mụn trứng cá liên quan đến việc sử dụng
chất đối kháng thụ thể yếu tố tăng trưởng
biểu bì (EGFR) và chất ức chế tyrosine-kinase
(TKI) (cetuximab, erlotinib, panitumumab và
sorafenib) để điều trị các khối u rắn. Keo yến
mạch tại chỗ có thể giúp ích trong điều trị hội
chứng tay chân, một tác dụng phụ thường
gặp và gây giới hạn liều của liệu pháp TKI.
Các rối loạn như tăng sắc tố sau viêm
(PIH) thường gặp nhiều hơn ở những bệnh
nhân da màu và cần xem xét điều trị đặc biệt.
Trong một nghiên cứu gần đây về việc sử
dụng một loại kem dưỡng ẩm có chứa keo
yến mạch để điều trị da khô, sạm ở những
đối tượng da loại IV – VI Fitzpatrick cho thấy
cải thiện độ ẩm và độ sáng của da trong một
ngày áp dụng. Nghiên cứu này cho thấy rằng
139
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
keo yến mạch có thể gián tiếp ngăn ngừa
tăng sắc tố sau viêm bằng cách giảm viêm.
Nhìn chung, keo yến mạch có tác dụng
chống viêm, chống kích ứng, chống oxy hóa
và điều hòa miễn dịch. Những đặc tính này
làm cho bột yến mạch là một lựa chọn hữu
ích cho tình trạng ngứa và dị ứng, cũng như
những người có hàng rào bảo vệ da bị tổn
thương như bệnh chàm và trứng cá đỏ.
Đậu nành
Giới thiệu và lịch sử
Đậu nành (Glycine max L.), một thành
viên của họ đậu Fabaceae và có nguồn gốc
từ Đông Nam Á, mọc cao từ 1-5 feet với các
chùm từ ba đến năm quả, mỗi quả chứa từ
hai đến bốn hạt đậu. Nó đã được sử dụng
trong y học dân tộc Trung Quốc hàng nghìn
năm. Trồng đậu nành quy mô lớn bắt đầu ở
Mỹ trong thế chiến thứ hai. Hiện tại, Mỹ sản
xuất hầu hết 40% nguồn cung đậu nành của
thế giới.
Đậu nành có các thành phần chính và
phụ, mỗi thành phần có vai trò khác nhau
trong chăm sóc da (Bảng 13.2). Phospholipid
(45-60%), tinh chất béo (30 35%) và một
số thành phần phụ bao gồm isoflavone,
protease ức chế trypsin (STIs) và chất ức chế
Bowman-Birk (BBIs) có khả năng giảm viêm
và có thể làm giảm sắc tố da. Phytosterol
giúp phục hồi chức năng hàng rào và bổ
sung độ ẩm. Vitamin E là chất chống oxy
hóa giúp bảo vệ da khỏi môi trường các yếu
tố gây stress như các gốc tự do. Ngoài ra,
đậu nành đã được chứng minh trong phòng
thí nghiệm có khả năng kích thích tổng hợp
collagen và phục hồi elastin của da, được cho
là do sự hiện diện của isoflavone (genistein
và daidzein).
Sự kết hợp đa dạng của các thành phần
trong đậu nành cho thấy rất nhiều tiềm năng
điều trị bao gồm giảm sắc tố, tăng cường độ
đàn hồi của da, chậm quá trình mọc lông,
kiểm soát sản xuất dầu, dưỡng ẩm và cải
thiện hàng rào bảo vệ da. Đậu nành cũng có
thể cải thiện các dấu hiệu lão hoá da do ánh
sáng và ngăn ngừa ung thư da thông qua
estrogen và các chất chuyển hóa của nó
bằng tác dụng chống oxy hóa mạnh mẽ.
Bảng 13.2 Các thành phần và cơ chế của đậu nành.
Thành phần
Cơ chế
Phospholipids
Kháng viêm, chống oxy hóa, dưỡng ẩm; duy trì và sửa chữa hàng
rào
Essential fatty oils
Kháng viêm, chống oxy hóa, dưỡng ẩm; duy trì và sửa chữa hàng
rào
Isoflavones
Kháng viêm, chống oxy hóa; kích thích collagen; hấp thụ tia cực
tím
Proteases
Phytosterols
Giảm sắc tố, giảm lông
Duy trì và sửa chữa hàng rào, giảm sắc tố, hiệu ứng phytoestr
gentic
Vitamins
Kháng viêm, chống oxy hóa
140
Đậu lành và bột yến mạch trong dược thẩm mỹ
Chương 13 _
Cơ chế hoạt động
Tác dụng chống oxy hóa
Sự hình thành gốc tự do được cho là một
thành phần chính trong quá trình lão hoá da
do ánh sáng. Các hợp chất có hoạt tính cao
này có thể hoạt động như chất khơi mào và
/ hoặc chất xúc tiến, gây tổn thương DNA,
kích hoạt các chất sinh ung thư và thay đổi
hệ thống phòng thủ chống oxy hóa tế bào.
Các chất chuyển hóa chính của đậu nành,
isoflavone (genistein và diadzein), đã được
xác định ở cả động vật và người là tác dụng
như phytoestrogen - các hợp chất thực vật
có hiệu quả như estrogen yếu với cơ chế hoạt
động gấp bốn lần để chống lại quá trình oxy
hóa.
Isoflavones ức chế các chủng oxy phản
ứng gây ung thư, gây tổn thương DNA và biểu
hiện tiền ung. Đặc biệt, genistein đã được
chứng minh là ức chế quá trình khởi phát và
thúc đẩy sinh ung thư da ở chuột và ban đỏ
do tia cực tím B (UVB) gây ra ở người. Một
nghiên cứu đã xác nhận tác dụng bảo vệ
chống ánh nắng của genistein thoa trong
phòng thí nghiệm đối với làn da tiếp xúc với
UVB và PUVA. Các nghiên cứu này đã chứng
minh rằng chiết xuất đậu nành không biến
tính giảm sự hình thành tymine dimer do tia
UV gây ra và có thể đóng vai trò như một tác
nhân hóa học chống lại sự hình thành ung
thư do ánh sáng.
Tác dụng phytoestrogen
Những thay đổi trong thời kỳ mãn kinh
trên da bao gồm mất collagen và giảm độ
dày lớp bì có thể đo lường được. Estrogen
thoa có thể đảo ngược những thay đổi này
vì nồng độ thụ thể estrogen có nhiều nhất ở
lớp hạt của da. Isoflavone đậu nành đã được
nghiên cứu về khả năng kích thích collagen
và tăng mức glucosaminoglycans, đặc biệt
là hyaluronic axit (HA) ở da lão hóa. Các
nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đã chứng
minh rằng genistein có thể tăng biểu hiện
của gen collagen COL1A2 trong nguyên bào
sợi người và sản xuất collagen mới trong khi
diadzein thì không. Isoflavones tinh khiết
kích thích tổng hợp collagen ở mức độ thấp
hơn so với đậu nành nguyên hạt, gợi ý rằng
các hợp chất khác ngoài isoflavone có thể
cần thiết cho tác dụng kích thích collagen.
Trong 12 tuần, thử nghiệm lâm sàng mù đôi
ngẫu nhiên, một phức hợp đậu nành đã cho
thấy tác dụng kích thích tổng hợp collagen in
vitro, sửa chữa elastin, cải thiện độ săn chắc
và giảm sự lỏng lẻo của da mặt.
Tăng sắc tố
Phytosterol và các chất ức chế protease
serine, STI và BBI, đã được chứng minh là
can thiệp vào việc chuyển các melanosome
tới tế bào sừng bằng cách ức chế thuận
nghịch con đường thụ thể kích hoạt
protease-2 (PAR-2). Các nghiên cứu tiền lâm
sàng đã chứng minh điều hoà việc hoạt hóa
PAR-2 bằng chất ức chế protease serine có
trong chiết xuất đậu nành có thể làm giảm
sự vận chuyển và phân phối melanosome để
có tác dụng làm sáng da phụ thuộc vào liều.
Do đó, đậu nành có thể là một biện pháp an
toàn hơn về mặt lâm sàng, mặc dù nó có thể
ít hiệu quả hơn để thay thế cho hydroquinone
ở những bệnh nhân không thể dung nạp hợp
chất này.
Giảm phát triển lông
Đậu nành đã được sử dụng trong các loại
kem dưỡng da tại chỗ hứa hẹn làm giảm tần
suất cạo râu. Các protein lớn trong đậu nành
làm mịn, mềm da có lẽ bằng cách hoạt động
như chất cấp ẩm và giảm TEWL. Hơn nữa,
BBIs cũng ức chế ornithine decarboxylase,
một loại enzyme liên quan đến sự phát triển
của lông. Các nghiên cứu lâm sàng đã chứng
minh sự giảm sự xuất hiện và kết cấu của
lông mặt, lông chân và giảm kích ứng do cạo
râu.
Chỉ định và lợi ích lâm sàng
Các nghiên cứu lâm sàng đã xác nhận
hiệu quả của các sản phẩm đậu nành thoa
đối với điều trị tăng sắc tố và lão hoá da do
ánh sáng. Trong 12 tuần, nghiên cứu mù đôi
có đối chứng với giả dược trên 68 bệnh nhân,
141
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
một loại dưỡng ẩm đậu nành hoạt tính chứa
các STI, BB1, vitamin, axit béo cho thấy sự
cải thiện vượt trội về tông màu da mặt, sắc
tố, đốm nâu, các nếp nhăn cũng như kết cấu
và vẻ ngoài tổng thể. Các nghiên cứu lâm
sàng cũng đã chứng minh cải thiện rối loạn
sắc tố bao gồm cả tăng sắc tố sau viêm với
việc sử dụng dưỡng ẩm đậu nành hàng ngày
và công thức chiết xuất đậu nành nguyên hạt
phối hợp với axit salicylic và retinal.
Tác dụng của phytosterol trong đậu nành
trong việc sửa chữa hàng rào bảo vệ da đã
được đánh giá ở bệnh nhân đỏ da do methyl
nicotinate (MN). MN gây ra đỏ da được theo
dõi bằng phép đo quang phổ. Ba ngày sau
khi tháo băng, các vị trí được xử lý bằng công
thức có chứa phytosterol đậu nành cho thấy
sự phục hồi đáng kể hàng rào bảo vệ da.
Tác dụng phụ
Mặc dù có một số lo ngại rằng tiêu thụ
phytoestrogen qua ăn uống chẳng hạn như
đậu nành có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú
và ung thư tử cung, nhưng số liệu dịch tễ học
không cho thấy đều này. Ngược lại, ăn đậu
nành dường như có tác dụng bảo vệ chống
lại ung thư vú và tuyến tiền liệt có thể là do
đặc tính chống oxy hóa của nó. Ngoài ra,
mặc dù các nghiên cứu đã chứng minh rằng
đậu nành xâm nhập qua lớp sừng đến các
lớp biểu bì và hạ bì, không có bằng chứng cho
thấy rằng các sản phẩm đậu nành bôi tại chỗ
gây ra bất kỳ tác dụng phụ toàn thân nào.
Kết luận
Các thành phần tự nhiên trong dược mỹ
phẩm hiện nay cung cấp nhiều lựa chọn để
điều trị cho các tình trạng da. Điều quan trọng
là bác sĩ da liễu phải biết những thành phần
chứa trong sản phẩm để đánh giá tốt nhất
khả năng của nó để hỗ trợ trong liệu pháp
y khoa, các tác hại tiềm ẩn hoặc tương tác
với thuốc theo toa. Ví dụ, liệu dược mỹ phẩm
có chứa đậu nành nguyên hạt, isoflavones
genistein và daidzein, hoặc chất ức chế
protease đậu nành ở dạng không biến tính,
sẽ xác định khả năng làm giảm sắc tố và /
hoặc tác dụng chống lão hóa của đậu nành.
Hơn nữa, thành phần avenanthramide có vẻ
là cần thiết cho tác động chống oxy hóa và
chống viêm của keo yến mạch. Các nghiên
cứu trong tương lại là cần thiết để xác định
cả về sinh học lẫn hiệu quả lâm sàng của các
thành phần tự nhiên trong dược mỹ phẩm để
hướng dẫn tốt nhất các khuyến nghị điều trị
thích hợp.
Further reading
Alexandrescu DT, Vaillant JG, Dasanu
CA. Effect of treatment with a colloidal oat-
meal
lotion on the acneform eruption induced
by epidermal growth factor receptor and mul-
tiple tyrosine-kinase inhibitors. Clin Exp Der-
matol 2007; 32: 71-74. Fowler JF Jr, Wool-
ery-Llyod H, Waldorf H, et al. Innovations in
natural ingredients and their use in skin care.
J Drugs Dermatol 2010; 9: S72-581. Grais
ML. Role of colloidal oatmeal in dermatolog-
ic treatment of the aged. AMA Archi
Derm Syphilol 1953; 68: 402-407. Kurtz
ES Wallo W. Colloidal oatmeal: History, chem-
istry and clinical properties. J Drugs
Dermatol 2007; 6: 167–170. Soy and
Oatmeal-Based Cosmeceuticals
Paine C, Sharlow E. Liebel F, et al. An
alternative approach to depigmentation by
soybean extracts via inhibition of the PAR-2
pathway. J Invest Dermatol 2001; 116: 587-
595. Pazyar N, Yaghoobi R, Kazerouni A, et
al. Oatmeal in dermatology: A brief review.
Indian
J Dermatol Venereol Leprol 2012; 78:
142-145. Sur R. Nigam A, Grote D, et al. Av-
enanthramides, polyphenols from oats, ex-
hibit anti-inflammatory and anti-itch activity.
Arch Dermatol Res 2008: 300: 569-574. Wal-
lo W. Nebus J, Leyden JJ. Efficacy of a soy
moisturizer in photoaging: A double-blind,
142
Đậu lành và bột yến mạch trong dược thẩm mỹ
Chương 13 _
vehicle-controlled, 12-week study. J Drugs
Dermatol 2007; 6: 917-922. Wei H. American
Academy of Dermatology 1998 Awards for
Young Investigators in
Dermatology. Photoprotective action of
isoflavone genistein: Models, mechanisms,
and relevance to clinical dermatology. J Am
Acad Dermatol 1998; 39: 271-272. Wei H, Sal-
adi R, Lu Y, et al. Isoflavone genistein: Photo-
protection and clinical implications in derma-
tology. J Nutr 2003; 133: 3811S-3819S.
143
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
14
PEPTIDES
CÓ HOẠT TÍNH
SINH HỌC
C
h
ư
ơ
n
g
Katie Rodan”, Kathy Fields’, and
Timothy Falla
Stanford University, Stanford, CA, USA
144
Peptides có hoạt tính sinh học
Chương 14 _
Giới thiệu
Các peptide có hoạt tính sinh học tự nhiên,
chẳng hạn như angiotensin, vasopressin,
oxytocin và bradykinin, lần đầu tiên được phát
hiện cách đây hơn 40 năm. Việc nhận diện
và ứng dụng các peptide như một liệu pháp
điều trị da theo sau sự các peptide kháng
khuẩn và hỗ trợ lành thương như GHK-đồng
và Magainin. Tuy nhiên, mặc dù nhiều nỗ lực
được thực hiện, không có peptide hoạt tính
sinh học nào được phát triển thành công và
chấp thuận để làm thuốc bôi tại chỗ cho bất
kỳ bệnh lý da nào. Do đó, việc áp dụng công
nghệ hướng đến ngành công nghiệp mỹ
phẩm với GHK đồng (Copper Tripeptide-1)
và Matrixyl (Palmitoyl Pentapeptide-3) là
những peptide đầu tiên được đưa vào trong
công thức chăm sóc da. Các thành phần
peptide mang tính thương mại đầu tiên này
hướng đến mục tiêu là kích thích các thành
phần chất nền ngoại bào như collagen và ở
phương diện chữa lành vết thương như sự
tăng sinh tế bào. Kể từ đầu những năm 2000,
nhiều peptide đã gia nhập thị trường, tạo ra
một loạt các lựa chọn để đưa chúng vào các
sản phẩm da liễu thẩm mỹ (Bảng 14.1). Ở
đây chúng tôi định nghĩa và mô tả đặc điểm
của các thành phần, vai trò tự nhiên, quá trình
phát triển, lợi ích lâm sàng, và những hạn chế.
Định nghĩa peptide
Peptide là các polyme ngắn do các đơn
phần acid amin được liên kết bởi cầu nối
peptide hình thành thông qua liên kết cộng
hóa trị của nhóm cacboxyl của một amin acid
với nhóm amin của acid amin kế tiếp. Mọi
peptide đều có đầu tận N của một acid amin
(nhóm amin đầu tận cùng không liên kết) và
đầu tận C của acid amin khác (nhóm cacboxyl
đầu cuối không liên kết) ở điểm kết thúc của
nó (ngoại trừ các peptide vòng). Bởi vì người
có 21 acid amin tự nhiên hoạt động, mỗi loại
có cấu trúc hóa học và khả năng phản ứng
đặc trưng, tồn tại một lượng lớn khả năng
cho trình tự peptide dựa trên cơ sở mỗi vị trí
trong trình tự của một peptide có thể là một
trong số 21 amino acid này. Tiềm năng về sự
đa dạng trong cấu trúc cho phép các peptide
dễ dàng được sửa đổi để nhắm đến mục tiêu,
điều chỉnh mức độ, tính đặc hiệu của hoạt
tính sinh học và sinh khả dụng.
Peptide được phân biệt với các protein
khác dựa trên kích thước và thường chứa
ít hơn 50 axit amin. Vì kích thước ngắn này,
chúng thiếu cấu trúc bậc hai, bậc ba phức tạp
thường thấy trong protein. Peptide ngắn nhất
là dipeptide, bao gồm của hai acid amin nối
với nhau bằng một liên kết peptide đơn. Liên
kết peptide mạnh và tương đối bền với nhiệt,
ánh sáng và pH nhưng dễ bị phân hủy bởi
protease. Protease là một nhóm lớn các
enzym được tìm thấy ở tất cả các sinh vật,
có vai trò xúc tác phản ứng thủy phần các
liên kết peptide. Một số protease tách acid
amin đầu tận khỏi chuỗi peptide (chẳng
hạn như exopeptidase, aminopeptidases,
carboxypeptidase A) và nhóm khác tác động
tới liên kết peptide bên trong (chẳng hạn
như endopeptidase, trypsin, chymotrypsin,
pepsin, papain). Da chứa nhiều protease bao
gồm collagenase, elastase và fibrinolysin.
Bệnh lý da như bệnh vảy nến và trứng cá đỏ
có thể liên quan đến cơ chế điều chỉnh tăng
sinh quá mức trong các hoạt động nhất định
của protease.
145
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Kích thích ECM thông qua ức chế MMP-1
Kích thích ECM thông qua yếu tố tăng trưởng
Giảm mất các yếu tố tuyến ức
Tăng melanin thông qua điều hòa MSH.
Ức chế kích hoạt tyrosinase
Kích thích ECM
Điều chỉnh phản ứng viêm
Sửa chữa lớp bì
Bảo vệ lớp bị
Điều chỉnh phản ứng viêm
Chống tia UV
Điều chỉnh tăng tạo mỡ
Tăng AMPs
Chất tạo phức kim loại
Tăng bộc lộ kênh dẫn nước
Thư giãn cơ bằng cách ức chế kinase
Tăng protein sốc nhiệt để bảo vệ
Ức chế sự biệt hóa tế bào mỡ
Ức chế elastase
Điều hòa tăng melanin
Ức chế quá trình glycation collagen
Tăng tạo collagen
Giảm phù do ức chế men chuyển
Giống Botox nhờ bắt chước enkephalins
Giống như Botox thông qua ức chế SNARE
Giống như Botox thông qua ức chế SNARE
Tăng sinh tế bào và laminin V
Kích thích vùng tiếp giáp bi-biểu bì
Tổng hợp collagen qua TGF-beta
Công ty
Tên hoạt chất
Tác dụng
Bảng 14.1 Tóm tắt về các peptide hoạt tính sinh học được bán trên thị trường như một thành phần trong các sản phẩm chăm sóc da.
(còn tiếp)
146
Peptides có hoạt tính sinh học
Chương 14 _
Công ty
Tên hoạt chất
Tác dụng
Bảng 14.1 (Tiếp)
Giống như botox thông qua thụ thể acetylcholine
Chất ức chế MMP qua TIMP.
Giống như botox thông qua thụ thể acetylcholine
Lành vết thương
Kích thích ECM thông qua tín hiệu
Dẫn lưu bạch huyết qua ức chế ACE
Tổng hợp collagen thông qua tín hiệu
Độ đàn hồi thông qua giảm L6
Kích thích collagen thông qua tín hiệu
Hoạt động giống như axit retinoic
Tăng collagen và HA
147
Dược mỹ phẩm và ứng dụng trong thẩm mỹ
e-bacsy.com
Vai Trò Của Peptide Đối Với
Da
Trong da, có hai nguồn peptide chính.
Nguồn đầu tiên là sự tổng hợp duy nhất và
biểu hiện dưới dạng các phân tử độc lập
nguyên vẹn cho một mục đích cụ thể. Ví dụ
quan trọng cho loại này là các peptide cơ
bản được gọi là peptide kháng khuẩn (AMP)
nhưng, hiện nay khi sự hiểu biết của chúng ta
về các chức năng điều biến của chúng nhiều
hơn, chúng nên được gọi là “peptide bảo vệ
vật chủ”, “alamins” hoặc “peptide miễn dịch
bẩm sinh”. Trong suốt quá trình tiến hóa,
các peptide này đã giúp bảo vệ tất cả sinh
vật sống với hơn 1200 trình tự đặc trưng đã
được xác định trong tự nhiên. Ở động vật có
vú và các sinh vật bậc cao khác, các peptide
này tiến hóa để bảo vệ các bề mặt tiếp xúc
và biểu mô như đường tiêu hóa, mắt và da.
Cathelicidins
và
human
beta-defensins
(hBDs) là các peptide đặc trưng nhất biểu
hiện trong da người và các lớp peptide miễn
dịch bẩm sinh này biểu hiện một loạt các
hoạt tính liên quan đến việc bảo vệ chống lại
các mầm bệnh, điều hòa làm lành vết thương,
hình thành mạch và điều hòa phản ứng viêm.
Các peptide như vậy có thể được biểu hiện
hoặc cảm ứng khi được thử thách bởi mầm
bệnh, vết thương hoặc tình trạng bệnh lý.
Ngoài ra, một số bệnh lý da nhất định có thể
điều biến biểu hiện của peptide hoặc ngược
lại, sự biểu hiện của chúng có thể liên quan
đến căn nguyên của một số tình trạng da nhất
định. Ví dụ, người ta biết rõ rằng cathelicidins
và hBDs được cảm ứng mạnh mẽ trong các
tổn thương vảy nến ở mức độ giống như da
bị vết thương. Tuy nhiên, bất chấp sự hiện
diện của phản ứng viêm, dường như không
có sự điều chỉnh quá mức của các peptide
này trong bệnh viêm da cơ địa có nguy cơ bội
nhiễm Staphylococcus aureus. Trong bệnh
trứng cá đỏ, sự gia tăng nồng độ cathelicidin
LL-37 liên quan đến phản ứng viêm và phần
nào được tin rằng góp phần vào sinh bệnh
học của bệnh. Do đó, sự điều biến peptide
liên quan với tính miễn dịch bẩm sinh đã tạo
ra nhiều tiềm năng cho các chế phẩm trong
các lĩnh vực chống nhiễm trùng tại chỗ, mụn
trứng cá, rosacea và trẻ hóa từ hoạt tính chữa
lành vết thương.
Nguồn thứ hai của peptide hoạt tính
sinh học bắt nguồn từ sự phấn nhỏ của một
peptide lớn hơn hoặc protein được kích hoạt
bởi các phản ứng sinh lý như như bệnh lý
viêm, vết thương, tiếp xúc với tia UV hoặc
stress. Trong các phản ứng đó, peptide được
tạo ra thông qua quá trình tiêu hóa phân
giải protein ở chất nền ngoại bào. Các mảnh
vỡ peptide này hoạt động theo một vòng
feedback để kích thích quá trình chữa lành và
tái xây dựng lại chất nền ngoại bào, đóng một
vai trò quan trọng trong quá trình di chuyển,
tăng sinh và điều hòa gen của tế bào. Trong
số các trình tự peptide này, gọi là matrikines,
bao gồm hexapeptide VGVAPG có nguồn
gốc từ sự thủy phân elastin bởi elastase,
pentapeptide KTTKS có nguồn gốc từ sự
phân giải một procollagen, và tripeptide
GHK có nguồn gốc từ collagen I. Trong ống
nghiệm, sự ra đời của các peptide này trong
chất nền ngoại bào đã được cho thấy có tín
hiệu điều hòa sự di chuyển của tế bào sừng
để chữa lành vết thương, thúc đẩy quá trình
hóa hướng động và kích thích phân bào.
Sự Phát Triển Của Các
Peptides
Gốc trình tự
Trình tự acid amin của peptide được sử
dụng trong da liễu và các sản phẩm chăm
sóc da có thể đến từ các peptide tự nhiên
được mô tả ở trên hoặc từ bản sao của các
chuỗi ngắn tồn tại như một phần của các
peptide và protein lớn hơn nhưng không tồn
tại riêng lẻ như các peptide trong tự nhiên.
Phân nhóm này bao gồm các trình tự có thể
bắt chước vị trí liên kết, vị trí hoạt động cho
một enzym hoặc phối tử (ligand) của một
enzym được sử dụng để liên kết với một phân
tử khác. Những peptide này là chất đồng vận
148
Peptides có hoạt tính sinh học
Chương 14 _
hay đối vận và do đó, làm các phản ứng xảy
ra hoặc ngăn phản ứng xảy ra, cung cấp khả
năng làm giảm các sự kiện không mong
muốn như phản ứng viêm, sản xuất melanin
hoặc dẫn truyền thần kinh hoặc tăng những
sự kiện mong muốn như sự tạo mỡ, nồng độ
kênh hấp thu nước hoặc bảo vệ DNA.
Các cơ sở dữ liệu của protein và DNA trở
nên dễ tiếp cận, tìm kiếm được đã cho phép
các nhà khoa học tăng tốc và mở rộng đáng
kể khả năng xác định các trình tự quan tâm
cũng như các mô típ cấu trúc. Trình tự và cấu
trúc chung cho các protein khác nhau, các vị
trí liên kết và các phối tử có thể dễ dàng được
so sánh để tạo ra các thiết kế hợp lý và cung
cấp sự chỉ dẫn cho các hoạt tính sinh học
tiềm năng.
Điều biến peptide
Trình tự cuối cùng của một peptide có
thể từ những gì được nhìn thấy trong tự nhiên
sau đó được biến đổi để đưa vào công thức.
Ví dụ, trình tự acid amin có thể được sửa đổi
bằng nhóm thay thế để phát triển hoạt tính
mong muốn, để thay đổi độ hòa tan hoặc để
tăng khả năng của peptide đến được đích của
nó. Những hiệu quả như vậy có thể đạt được
bằng cách sửa đổi phân bố điện tích, thuộc
tính kỵ nước/ưa nước, hoặc bằng cách thay
đổi sắp xếp không gian của peptide. Thông
thường, sự dễ dàng trong thiết kế và sửa đổi
thông qua tổng hợp peptide mang lại một lợi
thế đáng kể qua việc áp dụng các sản phẩm
peptide có nguồn gốc tự nhiên.
Một biến đổi phổ biến khác của trình
tự peptide xuất hiện tự nhiên là sự giảm số
lượng acid amin. Nếu hoạt tính sinh học
mong muốn có thể được duy trì trong một
mảnh ngắn hơn của trình tự ban đầu, thì tổng
thể chiều dài có thể giảm và điều này có thể
giúp ích về khía cạnh công thức, chi phí và sự
thâm nhập vào da. Trình tự cũng có thể được
sửa đổi bằng cách bổ sung nhóm chức hóa
học cụ thể như acid béo (ví dụ: acid palmitic
sản xuất một nhóm palmitoyl, thường được
viết là PAL) để thay đổi cấu trúc hóa học và
đặc tính của peptide.
Sự kết hợp các hóa chất trong kho lưu
trữ hàng nghìn peptide có thể được tổng hợp,
cùng với khả năng tiếp cận một loạt thử ng-
hiệm sàng lọc được đưa vào, đã cho phép
các nhà nghiên cứu có được một mạng lưới
rất rộng khi tìm cách tối ưu hóa trình tự để
đạt lợi ích lâm sàng và phát triển sản phẩm.
Ngoài ra, sự ra đời của phương pháp phân
tích microarray (mRNA định lượng cho các
sản phẩm gen cụ thể) đã cung cấp cả một
công cụ có giá trị cho cơ chế hoạt động và
phát triển giai đoạn đầu để hướng dẫn thiết
kế cấu trúc chuỗi peptide.
Thẩm định
Sự kết hợp giữa thử nghiệm in vitro và
xác định đặc tính in vivo đã trở thành tiêu
chuẩn để đánh giá các thành phần hoạt động
tiềm năng. Khi xem xét giá trị của một pep-
tide vì một lợi ích cụ thể, điều quan trọng là
rằng dữ liệu phiên mã dựa trên tế bào được
hỗ trợ từ dữ liệu dịch mã dựa trên tế bào, như
việc dữ liệu này là sự phê chuẩn của dữ liệu
kia. Trong nghiên cứu trên con người, việc áp
dụng peptide đơn lẻ phải được thực hiện và
dữ liệu được trình bày từ kết quả lâm sàng
và cơ chế tác động bao gồm việc đọc cả
protein và mRNA. Mức độ thẩm định này là
một phần quan trọng trong việc đánh giá các
thành phần peptide bởi vì, do kích thước và
tính nhạy cảm của chúng với sự thoái giáng
protease, đôi khi dữ liệu in vitro sẽ không
hoạt động in vivo.
Lợi ích lâm sàng
Như đã mô tả ở trên, đã có nhiều
peptide được phát triển để đưa ra một loạt
các ứng dụng vào da liễu và chăm sóc da.
Một ví dụ của một peptide được phát triển
để nhắm đến mục tiêu chống lão hóa là
tetrapeptide-21, một thành phần chăm sóc
da đã được mô tả đầy đủ và được công bố
trong tạp chí bình duyệt.
Tiền đề cho việc phân lập tetrapeptide-21
dựa trên sự tăng trưởng trong sản xuất chất
