Chương 16
201
Hình 16-3 (tiếp theo)
C, Vùng hãm môi trên được tách rộng ra.
D, Đầu kéo xiên lên trên để đi vào khoảng trống gian trụ mũi.
E, Khoảng trống trụ mũi được tách càng rộng càng tốt. Đảm bảo sụn trụ mũi
có thể bảo vệ được vùng da tiền đình giữa không bị rách. Khi da trụ mũi được
căng ra sẽ rỉ chất bã nhờn. Chúng cần được lau sạch để tránh tồn đọng vi khu-
ẩn. E-2 mô tả hình E-1.
C
D
E-1
E-2
Đường phẫu thuật dưới môi
202
F-1
F-2
G-1
G-2
Hình 16-3 (tiếp theo)
F, đầu mũi kéo lướt phía trên góc trước vách mũi hơn là di chuyển qua mô dưới
da ở da đầu mũi. Da vùng tiền đình được bảo vệ bởi sụn vòm. F-1 minh họa F.
G, Bóc tách phía trên phần trên sụn bên. Các ngón tay trái giúp hướng dẫn đầu
mũi kéo. Túi được tạo nên rộng và đều. Tiếp tục thao tác đẩy nhẹ và nông rộng.
G-1 minh họa G-2.
Intradomal
ligament
Chương 16
203
Hình 16-3 (tiếp theo)
H, Tiếp tục bóc tách bằng kéo đến đầu của xương mũi.
I, Đưa vào dụng cụ nâng màng xương Joseph. Màng xương được nâng khỏi đầu
mũi. Cạo chắc và nhỏ vùng đỉnh xương mũi là rất hiệu quả. Hình I-1 mô tả cho
hình I-2.
H
I-1
I-2
Đường phẫu thuật dưới môi
204
Hình 16-3 (hết)
J, Bề mặt dưới màng xương được nâng lên đến mức đường khớp giữa xương
mũi và xương trán. Cố găng ngăn không cho mô quấn với phần còn lại bên
trong túi. Một khi túi được hình thành, loại bỏ mô quấn xung quanh là khó hơn
nhiều. J-1 mô tả J-2.
K, Implant được đặt vào. Túi nên dài hơn một chút so với chiều dài của implant.
J-1
J-2
K
Chương 16
205
16.11 Chèn thanh độn
Nâng môi trên bằng ngón
cái và ngón trỏ tay trái. Thanh độn
được chèn bằng kẹp cầm máu và
đẩy hướng lên dọc theo độ cong
của kênh (hình 16-4, A và B). Dẫn
đường thanh độn bằng các ngón
tay trái để ngăn trượt trong quá
trình đẩy.
16.12 Chỉnh vị trí
Một khi đã chèn xong thanh
độn, phẫu thuật viên sẽ cân chỉnh
vị trí đường giữa của thanh độn,
cũng như kiểm tra tính di động của
thanh độn, và bất kì mô treo nào
có thể khiến thanh độn bị đẩy theo
một hướng. Các điểm áp lực của lồi
chóp mũi trên và dưới được kiểm
tra toàn diện để tránh sức căng quá
mức (hình 16-4, C và D). Nếu phẫu
thuật viên nghi ngờ các điểm này
có vấn đề thì nên làm rộng khoang
hoặc kéo dài lên đến chỗ nối trán-
mũi.
16.13 Thu ngắn thanh độn trụ
mũi
Dù thanh độn trụ mũi khá
dài, hiếm khi cần thu ngắn thanh
tụ. Đầu xathanh độn trụ đơn giản
được đặt trên bề mặt phần trước
khẩu cái xương hàm trên. Nó
hỗ trợ chóp mũi nhẹ nhàng mà
không tạo lực đẩy. Một khi đã chèn
xong thanh độn, cần cẩn thận ước
tính mức độ lực đẩy hướng lên
của thanh độn trên da chóp mũi.
Thanh độn trụ được cắt bán phần
chỉ khi có quá nhiều lực áp lên da
chóp mũi (hình 16-4, E).
Hình 16-4 (tiếp)
A, Thanh cấy được điều chỉnh và hướng đến điểm vượt ra xa đầu mũi. Một khi
đầu implant đi vào phần thấp túi ở vùng sống mũi, implant sẽ trượt rất nhẹ
nhàng.
B, Một miếng gạc vô khuẩn 4x4 sẽ bảo vệ implant khỏi nước dãi.
A
B
Đường phẫu thuật dưới môi
206
C
D
E
F
Hình 16-4 (hết)
C, Implant được đẩy vào vị trí thích hợp, đầu của ngón tay đặt ở chân và đầu
mũi. Áp lực về phía dưới hốc mắt cần kiểm tra cẩn thận bằng đầu ngón tay.
D, Áp lực về phía trên hốc mắt được kiểm tra bằng cách nhẹ nhàng ép vào im-
plant và đẩy nó lên trên kèm với cầm máu ở đáy phần trụ của implant.
E, Đáy phần trụ implant được cắt bớt nếu có quá nhiều áp lực ảnh hưởng đến
phần da trên ổ mắt. Tuy nhiên, việc cắt là điều không cần thiết trong phần lớn
các trường hợp.
F, Vết cắt ở môi được khâu lại bằng một lớp đệm ngang, ghim sâu, sử dụng chỉ
tan chromic 4-0
Chương 16
207
16.14 Điều chỉnh thanh độn
Dùng thanh độn mũi toàn
phần chữ L. Bất kì điểu chỉnh nào
trên thanh độn cũng nên thực hiện
trước khi chèn, và dùng các công cụ
đo lường để tránh chèn lặp lại. Mặt
dưới thanh độn có thể được khắc
để phù hợp với phần gù nhỏ (hình
16-5, A), hay pah62n sống có thể
được thu ngắn để nâng duy nhất
nửa xa của mũi và chóp mũi, từ đó
ngụy trang phần gù mà không cần
đụng chạm (hình 16-5, B). Có thể
dùng cây giữa/mài để làm thấp
phần gù sống mũi qua đường này,
dù hiệu quả phần nào giới hạn.
16.15 Khâu đóng
Khâu đóng vết mỗ bằng chỉ
catgut chromic 4-0 theo kiểu khâu
đệm ngang kín (hình 16-4, F).
16.16 Băng dán
Tác giả không dùng nẹp hay
băng dán. Dán quá mức hoặc neo
thanh độn bằng cách tạo nhiều lỗ,
hoặc dùng thanh độn cho phép mô
phát triển đã được tán thành để
đảm bảo tính bất động của thanh
độn. Di lệch thanh độn xảy ra
trước khi mô kịp phát triển. Neo
thanh độn bằng mô phát triển sau
di lệch sẽ đơn giản cố định thanh
độn sai vị trí và biến chứng tới việc
tháo bỏ thanh độn trong tương lai,
do phải gỡ bỏ mô mũi. Bảo tồn mô
mũi là điều thiết yếu trong trường
hợp cần tái phẫu thuật điểu chỉnh.
Thay đổi vị trí thanh độn do sẹo
co kéo sẽ đẩy thanh độn theo một
hướng nhất định. Lực đẩy này
mạnh hơn bất kì sức kháng cự của
bất kì mô phát triển nào. Nếu tạo
khoang phù hợp, tác giả không cần
thiết cố định bên ngoài thanh độn.
16.17 Chăm sóc hậu phẫu
Thực hiện liệu trình kháng
sinh phổ rộng đường uống 10 ngày
tiền phẫu và hậu phẫu. Bệnh nhân
uống nước bằng ống hút và ăn bằng
muỗng trong 3 ngày đầu. Khuyến
cáo bệnh nhân không để kẹt thức
ăn vào rãnh môi – lợi và tập bơm
rửa dịch tiết bằng hỗn hợp nước
và oxy già. Đánh răng nhẹ nhàng
và dùng nước súc miệng. Không hỉ
mũi trong 4 tuần.
16.18 Hồi phục
Hồi phục nhanh và không
biến chứng. Phù mô mềm rõ vùng
góc trán-mũi. Hầu hết sưng phù
biến mất trong 1 tuần. Bệnh nhân
quay lại đời sống thường nhật
trong 1 tuần, trừ phi công việc đòi
hỏi căng thẳng nhiều. Tụ máu có
thể ở mức tối thiểu hoặc không
xảy ra. Tuy nhiên, chỉnh sửa hình
dáng mũi lần cuối có thể không rõ
ràng cho đến vài tháng sau (hình
16-6).
16.19 Ca lâm sàng
Trên bệnh nhân có sống
mũi nông và chóp mũi nhô, chỉ cần
dùng thanh độn sống mũi (hình
16-7). Thanh độn toàn phần là
một công cụ tuyệt vời cho bệnh
nhân có mũi lệch từ lần nâng mũi
Đường phẫu thuật dưới môi
208
trước theo đường tiền đình mũi
(hình 16-8). Do có phần trụ mũi
dài, đây là thanh độn đơn giản và
hiệu quả để cải thiện trụ mũi bị sụt
và góc nhọn trụ mũi – môi, cũng
như làm hẹp nền mũi (hình 16-9
và 16-10). Gù mũi và chóp mũi mất
nhô sẽ được chỉnh sửa với thanh
độn mũi bán phần (hình 16-5, B,
và hình 16-11).
Hình 16-5
A, Bề mặt bên dưới có thể được khắc
từ bộ implant sống mũi - trụ mũi toàn
phần.
B, Thanh độn sống mũi bán phần.
A
B
Chương 16
209
Hình 16-6
A, Hình ảnh trước phẫu thuật.
B, 8 ngày sau phẫu thuật. Phù vùng
chân mũi và đầu mũi hiện diện rõ.
C, 6 tháng hậu phẫu cho thấy đầu và
cầu mũi mềm mại, đường nét rõ ràng.
A
B
C
Đường phẫu thuật dưới môi
210
A
A
B
B
Hình 16-7
A, Hình ảnh tiền phẫu cho thấy sống mũi nông.
B, Hình ảnh hậu phẫu cho thấy sống mũi cân bằng, đường nét rõ ràng.
Hình 16-8
A, Hình ảnh tiền phẫu cho thấy sống mũi nhọn và lệch ra khỏi vị trí nâng
trước đó.
B, Hình ảnh hậu phẫu cho thấy sống mũi thẳng, đường nét rõ ràng.
Chương 16
211
A
A
B
B
Hình 16-9
A, Hình ảnh tiền phẫu cho thấy trụ mũi nhô và góc trụ mũi - môi nhọn.
B, Hình ảnh hậu phẫu cho thấy cải thiện hình dạng sống mũi và gốc trụ mũi.
Hình 16-10
A, Hình ảnh tiền phẫu cho thấy cánh mũi rộng.
B, Hậu phẫu cho thấy nền cánh mũi và chiều dọc lỗ mũi gọn hơn.
Đường phẫu thuật dưới môi
212
A
B
Hình 16-11
A, Hình ảnh tiền phẫu cho thấy phần gồ nhỏ ở sống mũi.
B, Hình ảnh hậu phẫu cho thấy đường nét hài hòa hơn.
Tài liệu tham khảo
1. Flowers RS: Nasal aug-
mentation by the intraoral route,
Plast Reconstr Surg 54(5):570-578,
1974.
2. Deva AK, Merten S, Chang
L: Silicone in nasal augmentation
rhinoplasty: a decade of clinical
experience, Plast Reconstr Surg
102(4):1230-1237, 1998.
3. Regnault P: Nasal aug-
mentation in the problem nose,
Aesthetic Plast Surg 11:1, 1987.
Chương 17: Phẫu thuật mũi hở
17.1 Đường rạch
Đường rạch ngang trụ mũi
bao gồm hai đường ngang và một
đường rạch chữ V đảo. Đường
rạch biên hai bên sẽ được nối với
đường rạch ngang trụ mũi (hình
17-1).
17.2 Tạo vạt da vòm mũi
Trụ mũi và da vòm mũi
được phát triển từ sụn mũi dưới
bên. Dùng dao loại iris mũi nhọn
để xén da vùng sụn nhẹ nhàng. Mô
mỡ vòm mũi vẫn phải dính với vạt
da để đảm bảo độ dày vạt da. Phụ
mổ nên hỗ trợ nâng và giữ vạt da
bằng móc da rộng hai đầu nhọn để
bọc lộ sụn vòm mũi.
17.3 Tạo khoang
Tiếp tục bóc tách vùng sụn
mũi bên cho tới xương mũi bằng
kéo mũi nhọn theo kiểu xén. Dùng
cây bóc tách vạt màng xương Jop-
seph để tách màng xương khỏi
xương mũi. Tạo một khoang rộng
lên tới đường khớp nối mũi-trán.
Kế đó, tạo một khoang giữa hai trụ
trong. Khoang sẽ chạm tới phần
trước khẩu cái của xương hàm
trên. Khoang sâu này giúp nâng
trụ mũi và chóp mũi mà không gây
kéo căng da vùng trụ mũi (hình
17-2, A). Khi khoang được giới hạn
ở trụ mũi, việc nâng chóp mũi sẽ
được thực hiện bằng cách kéo dài
phần da vùng trụ mũi (hình 17-2,
B). Nâng chóp mũi bằng cách kéo
dài khoang trụ mũi sẽ không hiệu
quả và tăng sức căng lên mô vùng
chóp, nếu so với việc nâng chóp
mũi ra trước bằng cách nâng trụ
mũi. Khi toàn bộ cấu trúc trụ mũi
được nâng lên, sức căng vùng chóp
mũi sẽ được san sẻ cho trụ mũi,
giúp giảm sức căng cho da vùng
chóp mũi.
17
Jung I. Park
Hình 17-1
Vết rạch hình chữ V ngược ngang trụ
mũi
Phẫu thuật mũi hở
214
Preoperative
Postoperative
Deep pocket
Interdomal
ligament
Shallow
pocket
A
B
Hình 17-2
A, Túi ở trụ mũi mà sâu sẽ cho phép thanh độn di chuyển tự do lên trên.
B, Túi ở trụ mũi mà nông sẽ làm giãn mô mềm ở trụ mũi về cả hai phía. Vì thế
việc nâng đầu mũi chỉ hiệu quả một nửa.
17.4 Chèn thanh độn
Phần sống mũi của thanh
độn mũi toàn phần chữ L được
đẩy vào khoang sống mũi. Phần
trụ của thanh độn được chèn vào
khoang trụ mũi và ấn xuống phần
trước khẩu cái xương hàm trên.
Phần gối của thanh độn (vòm
cánh) sẽ được kẹp giữa hai trụ
trong. Phần đầu gối của thanh
độn có được gọi nhỏ lại bằng dao
để ngừa tình trạng làm rộng chóp
mũi. Trụ trong và sụn cánh mũi
được nâng nhẹ nhàng để đánh giá
mức nhô cần thiết. Phức hợp sụn
được nâng lên thêm một khoảng
2-3 mm để đặt vòm cánh cao hơn
chiều cao mong muốn. Điều này
sẽ bù trừ cho tình trạng sai lệch
thứ phát do sưng của chóp mũi và
mất nhô thứ phát do sức nặng và
áp lực của mô vòm cánh lẫn sẹo
co kéo. Khi đã giữ ở vị trí này, trụ
trong sẽ được khâu vào phần trụ
của thanh độn với chỉ nylon trong
suốt 6-0 (hình 17-3, A và B). Thực
hiện nhô chóp mũi dựa vào sức ép
của thanh độn lên sụn trụ mũi đã
được khâu. Sụn vòm cánh sau đó
được khâu lại theo kiểu khâu đệm
ngang để làm hẹp vùng chóp nằm
ở mặt trên phần đầu gối của thanh
độn (hình 17-4). Do đó, da vòm
cánh sẽ không tiếp xúc với thanh
độn. Phần sống mũi sẽ được điều
chỉnh lại.
17.5 Vạt tự thân
Sụn vách ngăn hay sụn vành
tai có thể được dùng làm vạt che
Chương 17
215
hay vạt onlay. Vạt được khâu vào
sụn trong sao cho vạt sẽ tiến triển
cao hơn 3-4 mm so với thanh độn
(hình 17-5, A và B). Khi vùng da
vòm cánh được che phủ lại, vạt sẽ
tự bẻ qua và che phủ phần vòm
cánh của thanh độn (hình 17-5,
C). Da vòm cánh sẽ hoàn toàn tách
khỏi thanh độn. Một lớp vạt che
phủ, hoặc onlay, hoặc cả hai sẽ giúp
nâng chóp mũi (hình 17-6 đến 17-
8). Khi cần thiết chỉnh sửa nhiều
vùng chóp mũi, một quy trình phối
hợp thanh độn trụ mũi, thanh độn
sống mũi và vạt tự thân sẽ được sử
dụng (hình 17-9 đến 17-11).
B
B
Hình 17-3
A, Trụ trong được khâu vào thành độn ở vị
trí kép lên.
B, Minh họa phương pháp mổ.
A
Hình 17-4
A, Khoảng 50% phần vòm của thanh độn ở dạng mỏng. Sụn vòm được may vào
nhau bằng chỉ Nylon 6-0.
B, Minh họa phương pháp mổ .
B
A
Phẫu thuật mũi hở
216
A
B
C
D
Shield graft
Dorsocolumnellar implant
Hình 17-5
A, Một mảnh ghép có khiên dài được khắc đẽo từ sụn vách ngăn hoặc sụn vành
tai.
B, Thanh độn sống mũi - trụ mũi hình chữ L hoàn chỉnh được đặt vào. Mảnh
ghép sụn sẽ được may vào bờ ở phía đuôi của sụn trụ mũi tại 3 vị trí bằng chỉ
nylon 6-0.
C và D, Mảnh ghép “khiên” cuối xuống và che phủ thanh độn.
Chương 17
217
Hình 17-6
A, Thêm một lớp mảnh ghép “khiên” được củng cố thêm nhằm gia tăng đoạn
nhô ra của mảnh ghép.
B, Minh họa phương pháp mổ.
Hình 17-7
A, Hình ảnh trước phẫu thuật cho thấy đầu mũi bị xẹp.
B, Hình ảnh sau phẫu thuật cho thấy đầu mũi gọn hơn, nét cong mềm mại, lỗ
mũi hiện diện rõ hơn, và thu hẹp được nền cánh mũi.
A
B
Implant
Double shield
graft
B
A
Phẫu thuật mũi hở
218
A
B
Hình 17-8
A, Hình ảnh trước phẫu thuật.
B, Hình ảnh sau phẫu thuật cho thấy đầu mũi nhô ra trước nhiều hơn và cải
thiện góc trụ mũi - môi.
Hình 17-9 (tiếp theo)
A, Mảnh ghép trụ mũi có kích thước dài, đủ để nâng đầu mũi.
B, Phần silicone trụ mũi nằm bên trong khoang trụ mũi. Khoang được tạo hẹp
và sâu xuống đến xương hàm trên.
A
B
Chương 17
219
Hình 17-9 (tiếp theo)
C, Sụn trụ giữa được may vào thanh độn trụ
mũi.
D, Sụn vòm được may vào phần bản lề của trụ
và nằm ngay bên trên đầu thanh độn.
E, Khắc thanh độn sóng mũi silicone.
F, Nhét thanh độn sóng mũi vào.
G, Phần sụn hai lớp được đặt vào phía đuôi của
trụ mũi.
H, Thêm một lớp mảnh ghép sụn được chèn bít
vào giữa thanh độn sống mũi và mảnh ghép
“khiên” hai lớp. Mảnh ghép nhô vượt xa thanh
độn.
C
D
E
F
G
H
Phẫu thuật mũi hở
220
I
J
Hình 17-9 (tiếp theo)
I, Minh họa quá trình phẫu thuật ở H
J, Thanh độn sống mũi được may vào phần trên sụn bên tại hai vị trí nhằm ngăn
sự dịch chuyển về phía hai bên, dịch chuyển ra trước hoặc cả hai.
17.6 Cố định thanh độn
Phần chân trụ mũi có thể
trượt về một phía của phần trước
khẩu cái xương hàm trên, nhất là
khi cần nhiều lực đẩy hướng lên để
giúp chóp mũi nhô. Trong một số
ca nhất định, cố định kiểu vít phần
chân trụ sẽ cần thiết để giữ thanh
độn trên đường giữa và ổn định
lực đẩy của phần trụ mũi (xem
chương 18 để biết thêm thông tin).
17.7 Khâu đóng
Sau khi hoàn tất việc đặt thanh
độn và chỉnh nhô chóp mũi, vạt
trụ sẽ được đẩy xuống để che phủ
mụi. Đầu tiên, khâu vùi với chỉ
Vicryl 5-0 qua đỉnh của đường cắt
chữ V đảo, khâu một mảng da sâu
để cho phép bờ vết thương lật ra.
Đường vào và đường ra của mũi
kim gần da nên gần nhất có thể với
bề mặt và cân xứng để đạt được
khoảng cách hoàn hảo giữa hai
bờ da. Hai đường khâu dưới da
được đặt tại chỗ nối giữa đường
cắt biên và đường cắt ngang trụ
mũi. Hai đường khâu này giúp
trải đều da trụ mũi và cho phép
căn chỉnh việc khâu đóng trụ mũi.
Một kết quả thường gặp và không
mong muốn tại giai đoạn này liên
quan đến việc tạo các góc ở đường
khâu đóng trụ mũi. Nỗ lực thiết
lập khoảng cách hoàn hảo giữa hai
bờ da ở các góc. Căn chỉnh da tại
đường rạch biên phải chính xác.
Khâu đóng da vùng trụ mũi bằng
Chương 17
221
Hình 17-9 (hết)
K, Minh họa phương pháp phẫu thuật ở hình J.
chỉ nylon đen 6-0 bằng kiểu khâu
vòng không liên tục để tránh sức
căng lên da. Đóng vùng tiên đình
bằng chỉ catgut chromic tan 4-0.
Bước khâu đóng nên được xem là
một phần quan trọng trong phẫu
thuật và không thể làm theo quy
trình thông thường. Bệnh nhân có
thể phàn nàn kết quả phẫu thuật
do kết quả của bước cuối cùng này.
17.8 Băng dán
Che phủ theo cách thông
thường bằng benzoin, SteriS-
tripTM (3M, St. Paul, MN) và nẹp
ngoài tùy lựa chọn của phẫu thuật
viên. Tiền đình mũi được chèn nhẹ
nhàng gạc TelfaTM (Kendall, Man-
sfield, MA) gấp lại và phủ mỡ baci-
tracin. Miếng thấm dịch mũi được
đặt kèm.
Shield graft
Implant sutured to
upper lateral cartlages
Dorsal implant sutured
to nasal septum
K
Phẫu thuật mũi hở
222
A
A
B
B
Hình 17-10
A, Hình ảnh trước mổ cho thấy da dầy và đầu mũi to rộng.
B, Hình ảnh sau phẫu thuật cho thấy đầu mũi định hình sắc nét hơn và nhô cao.
Hình 17-11
A, Hình ảnh nhìn xiêng trước phẫu thuật.
B, Hình ảnh sau phẫu thuật.
Chương 17
223
17.9 Chăm sóc hậu phẫu
Kháng sinh phổ rộng trong
10 ngày đầu. Bệnh nhân không
được phép hỉ mũi trong 1 tháng.
Cho phép khịt mũi nhẹ để loại bỏ
chất tiết. Nhất thiết không được
nhấn hay vặn vẹo mũi.
17.10 Hồi phục
Cắt chỉ sau 1 tuần. Quá trình
lành sưng và ửng đỏ trụ mũi thay
đổi giữa các bệnh nhân. Đường
rạch hầu như không thấy được nếu
khâu đóng tỉ mỉ. Tiếp xúc không
khí quá lạnh gây đỏ ửng chóp mũi.
Tài liệu tham khảo
1. Goodman WS, Charles DS:
Why external rhinoplasty? J Otolar-
yngol 7(1):6-8, 1978.
2. Jung DH: Approach to rhi-
noplasty. In Jung DH (Ed.): Rhino-
plasty, Seoul, 2002, Greenbook, p
83.
Chương 18: Thanh độn trụ mũi
Nền mũi và trụ mũi người châu
Á có đặc điểm riêng biệt. Trụ mũi
có chiều cao xấp xỉ hoặc sụt vào
so với cánh mũi. Góc trụ mũi-môi
là góc nhọn. Chóp mũi sẽ có xu
hướng giảm nhô khó thấy ở một
số bệnh nhân. Nâng vùng trước
khẩu cái xương hàm trên bằng vật
liệu nhân tạo, vạt sụn độn, mô sụn
chóp mũi cải tiến, và vạt mô che
phủ hay onlay sẽ có thể cải thiện
một vài tình trạng. Tuy nhiên,
một cách đơn giản hơn và có thể
có hiệu quả hơn, nhằm thẳng vào
những vấn đề này, đó là sử dụng
thanh độn trụ mũi. Thanh độn trụ
mũi giúp tăng nhô chóp mũi và cải
thiện hình dạng trụ mũi và góc trụ
mũi-môi. Trụ mũi độn tạo ra một
thể tích cần thiết để đạt kết quả
mong muốn, trong khi mô ghép
tự thân không thề đạt được, trừ
phi có lấy mô nhiều hơn. Có hai
vấn đề tiềm tàng đi kèm với việc
sử dụng thanh độn trụ mũi. Đầu
tiên, sức nâng từ trụ mũi và chóp
mũi sẽ gây sức căng quá mức lên
lồi chóp mũi trên. Điều này có thể
được giải quyết bằng việc tạo kho-
ang trụ mũi bán phần. Không xâm
phạm phần 3 trên của mô trụ mũi,
chóp mũi sẽ được che chắn khỏi áp
lực từ thanh độn (hình 18-1). Thứ
hai, trượt phần đáy thanh độn về
một phía do sức ép từ trên xuống
sẽ gây nghiêng trụ mũi, một bên lỗ
mũi không cân, và tình trạng trồi
thanh độn gây khó chịu cũng như
sờ chạm được ở rãnh môi – lợi
trên. Khâu cố định thanh độn vào
màng xương của phần trước khẩu
cái xương hàm trên sẽ giải quyết
được vấn đề trướt của thanh độn.
Tuy nhiên, thật khó khăn và kém
hiệu qảu khi khâu thanh độn qua
một đường rạch nhỏ. Thanh độn
sẽ bị tái lại theo thời gian. Cách
khâu cố định kiểu vít sẽ đảm bảo
lực nâng hướng lên kéo dài và
ngăn trượt thanh độn (hình 18-2).
18
Jung I. Park
Hình 18-1
Khoang trụ mũi bán phần.
Chương 18
225
vít kim loại, và được trấn an rằng
nó không bị phát hiện bởi máy dò
kim loại cũng như tương thích với
chụp cộng hưởng từ (MRI).
18.2 Chăm sóc tiền phẫu, Thuốc,
Gây tê, và Dụng cụ
Độc giả tham khảo chương
16, “Đường dưới môi”.
18.3 Qui trình
Sau gây tê khu trú, bắt đầu
đường rạch dưới môi theo cách
tương tự đã miêu tả trong chương
16. Nền mũi nên được rạch rộng
trên màng xương để giải phóng nó
khỏi phần trước khẩu cái xương
hàm trên (hình 18-3). Thanh độn
trụ mũi có thể nâng nền mũi mà
không cần lực treo. Tiếp tục cắt
vào khoảng trong trụ mũi theo
phương pháp chương 16. Tuy
nhiên, nên tạo khoang hẹp để
đặt vừa khít thanh độn vào kho-
ang. Thanh độn nên được thiết kế
khoảng 2/3 dưới trụ mũi (hình
18-1). Nếu khoang quá nông, khi
đó thanh độn sẽ không làm nhô
chóp mũi hiệu quả. Thay vào đó,
một số lực bị hướng ra trước, gây
phình trụ mũi không đẹp và chếch
chóp mũi lên trên quá mức. Trong
một tình huống khác, lực đi trệch
sang một bên sẽ làm nghiêng trụ
mũi và thậm chí trồi thanh độn
qua tiền đình mũi. Mặt khác, nếu
khoang quá sâu và chạm gần đến
chóp mũi, thanh độn sẽ gây áp lực
lên da vùng cánh mũi (hình 18-
4). Thanh độn trụ mũi có thể lấy
18.1 Tư vấn
Thỉnh thoảng một số bệnh
nhân có lồi chóp mũi nhỏ sẽ muốn
thực hiện nâng chóp mũi để giảm
thiểu khuyết điểm. Những bệnh
nhân này ít chú ý tình trạng sụt trụ
mũi hoặc góc nhọn giữa trụ mũi và
môi. Sau khi quan sát các đặc điểm
giải phẫu và so sánh với tiêu chuẩn
lý tưởng, bệnh nhân sẽ muốn cải
thiện các đặc điểm này. Bệnh nhân
có cánh mũi co kéo không phải là
đối tượng sử dụng thanh độn trụ
mũi vì sẽ tăng lộ cánh mũi (kiểu pig
nose). Các phương pháp thay thế
cần được thảo luận trước khi lựa
chọn. Bệnh nhân cần được thông
báo rằng sẽ xuất hiện một khớp
Hình 18-2
Cố định vít. Vít xuyên qua mô đệm và
xương. Một vết rạch ngang bán phần
qua trụ mũi giúp đưa vít xuyên qua
vật liệu nhựa silicone.
Thanh độn trụ mũi
226
từ thanh độn mũi toàn phần bằng
cách cắt phần sống của thanh
độn (hình 18-5). Để tạo hình nhô
chóp mũi rõ và cải thiện góc trụ
mũi-môi, thanh độn có thể được
tạo hình tháp Eiffel có nền rộng.
Thanh độn có nền rộng đảm bảo
tính ổn định khi cố định bằng một
hay hai vít ở nền. Chiều dài mong
muốn của thanh độn trụ mũi được
xc1 định bằng thac tác tay trên
nền mũi khi thanh độn nằm trong
khoang. Dùng forceps nâng thanh
độn lên, phẫu thuật viên sẽ ước
tính được độ dài thanh độn cần để
tạo hình chóp mũi nhô lý tưởng.
Chỉnh vượt mức là cần thiết để bù
trừ sự nhô chóp do sưng khi tiêm
thuốc tê. Giảm nhô chóp mũi thứ
phát do sẹo co kéo và đè ép mô cần
được chú ý. Đường rạch giống khe
tự nhiên bán phần được đặt xuy-
ên qua phần thấp của thanh độn
trụ mũi để bắt vít đi vào theo động
tác xoay. Khe được rạch sẽ không
hoàn toàn. Đầu của vít đi xuyên
thanh độn và xương đủ xa để lộ
phần đầu được vùi trong thanh
độn. Độ dày thanh độn tại phần
nền được đặt ở mức 4 mm. Chèn
thanh độn vào khoang. Chóp mũi
và phức hợp trụ mũi được nâng
nhẹ đến chiều cao mong muốn
bằng cách xoay thanh độn trụ mũi
hướng lên. Chèn vít qua thanh độn
tới phần turo71c khẩu cái xương
hàm trên, sâu khoảng 3mm, và đầu
vít được vùi trong thanh độn. Vít
titan tự khóa được dùng (hình 18-
6). Tùy độ cứng của thanh độn mà
điều chỉnh bề dày.
Hình 18-3
Giải phóng nền mũi khỏi gai trước
xương hàm trên.
Hình 18-4
Thanh độn trong khoang sâu chèn ép da
vòm cánh mũi và gây trồi sụn.
Chương 18
227
18.4 Đường phẫu thuật mũi hở
Thanh độn trụ mũi có thể
được chèn vào khoang trụ mũi
theo đường phẫu thuật mũi ngoài.
Tạo đường rạch phẫu thuật mũi từ
ngoài, bộc lộ sụn trụ mũi và sụn
vòm cánh mũi. Khoang trụ mũi
được tạo giữa hai trụ trong. Để giữ
vị trí thanh độn, khoang sẽ không
kéo dài quá giới hạn trụ trong. Một
khoang chặt sẽ ngăn sự di chuyển
ra ngoài và trượt ra sau vào màng
ngăn của thanh độn. Một đường
hầm được tạo hướng xuống về
phần trước khẩu cái xương hàm
trên. Chóp trước của thanh độn
được đưa ra trước vượt qua mốc
nhô của sụn vòm cánh mũi (hình
18-7, A). Khâu trụ trong vào thanh
độn. Sụn mũi dưới được mang
vào phía trong, trên phần nhô của
thanh độn và khâu cố định bằng
chỉ nylon 6-0 trong suốt (hình 18-
7, B). Da vòm cánh mũi sẽ được
bảo vệ khỏi thanh độn. Che phủ da
mũi lên sụn vòm đã khâu.
18.5 Khâu đóng, Băng dán,
Chăm sóc hậu phẫu và Hồi phục
Độc giả tham khảo chương
16, “Đường phẫu thuật dưới môi”.
18.6 Ca lâm sàng
Hình 18-8 đến 18-10.
Hình 18-5
A, Thanh độn trụ mũi này được tạo tác từ thanh độn toàn phần.
B, Đạt được sự hiệu chỉnh nhẹ.
A
B
Thanh độn trụ mũi
228
A
B
C
D
Hình 18-6
A, Thanh độn trụ mũi thấy rõ bên trong khoang sâu dưới môi.
B, Kẹp thanh độn bằng forceps.
C, Dùng vít tự khóa dài 6-8 mm.
D, Cố định thanh độn bằng vít tự khóa.
Chương 18
229
Hình 18-7
A, Thanh độn trụ hướng lên trên sụn vòm cánh mũi.
B, Vòm mũi hai bên được kéo về giữa và khâu vào thanh độn. Sụn mũi hướng lên
qua thanh độn theo cách không tiếp xúc trực tiếp với da vòm mũi.
A
B
A
B
Hình 18-8
A, Tiền phẫu.
B, Hình ảnh hậu phẫu showing a subtle tip elevation và masking of the
dorsal hump.
Thanh độn trụ mũi
230
A
B
C
Hình 18-9
A, Tiền phẫu.
B, Hình ảnh hậu phẫu. Nâng chóp mũi,
hướng lên, và làm gọn mũi.
C, Hình ảnh hậu phẫu 1 năm.
Chương 18
231
A
B
C
Hình 18-10
A, Tiền phẫu.
B, Hậu phẫu 1 tháng nhìn nghiêng.
C, Hậu phẫu 1 năm nhìn nghiêng.
Thanh độn trụ mũi
232
Tài liệu tham khảo
1. Han KW: Rhinoplasty. In
Lee YH: Aesthetic plastic surgery,
Seoul, 1998, Gunja, p 173.
2. Webster RC, Hopping SB,
Hall B, et al: Intraoral insertion of
grafts to project the nasal tip, Arch
Otolaryngol 108:187-193, 1982.
3. Lawson W, Reino AJ, Se-
idman D: The silicone columellar
strut, Plast Reconstr Surg 97:938-
943, 1996.
Chương 19: Biến chứng của phẫu thuật
nâng mũi bằng thanh độn và dư luận
Bởi vì các phẫu thuật viên
nhận ra rằng, tiêm paraffin hay
silicone để lại những hậu quả kinh
khủng (hình 19-1), phẫu thuật
nâng mũi bằng thanh độn silicone
đã trở nên phổ biến trong 4 thập
kỉ qua, nhờ vào tính hiệu quả và
sự đơn giản. Tuy nhiên, nó cũng đi
kèm với nhiều biến chứng (khu-
ng 19-1 và 19-2). Mặc dù việc đặt
thanh độn nhầm vị trí (hình 19-2,
A) là biến chứng thường gặp nhất,
thì nhiễm trùng (hình 19-3), trồi
thanh độn và biến dạng do sẹo co
kéo (hình 19-4) ở mũi vẫn nghiêm
trọng hơn. Đặt thanh độn sai vị trí
thường là kết quả của việc tạo kho-
ang lệch hướng sau đường rạch
tiền đình mũi một bên (hình 19-2,
B). Trái ngược với quan điểm phổ
biến của các phẫu thuật viên châu
Âu, rất nhiều đợt phẫu thuật được
thực hiện bởi các nhà phẫu thuật
nhiều kinh nghiệm đã báo cáo tỉ
lệ trồi thanh độn thấp (dưới 2%).
Hầu như ở tất cả trường hợp dùng
thanh độn silicone, thì tiến triển
của thanh độn được cho là do sai
sót trong kĩ thuật mổ. Những cải
tiến vượt bậc về kết quả phẫu thuật
kéo dài và tỉ lệ thấp trồi thanh độn
đều dựa trên những hiểu biết sâu
sắc về mối tương tác mô và thanh
độn. Những yếu tố khác giúp giảm
tỉ lệ trồi thanh độn bao gồm phát
hiện sớm và tháo dỡ thanh độn
kịp thời (hình 19-5). Nhiễm trùng
đi kèm với hiện tượng trồi thanh
độn theo cách đi trước hoặc theo
sau sự trồi. Tỉ lệ nhiễm trùng được
báo cáo là xấp xỉ 3%. Dù cho tỉ lệ
thấp các biến chứng nghiêm trọng
đã được báo cáo, tỉ lệ phẫu thuật
điều chỉnh cũng nằm trong khoảng
19
Jung I. Park and
Dong Hak Jung
Khung 19-1 Biến chứng y khoa
Nhiễm trùng
Trồi sụn
Đỏ da kéo dài
Nứt vết thương
Sẹo
Khung 19-2 Biến chứng thẩm mỹ
Giảm nhô chóp mũi
Biến dạng mũi vẹt
Lệch mũi
Cánh mũi bất xứng
Mũi chếch lên
Ba chóp mũi
Thanh độn xoay
Thanh độn di chuyển
Thanh độn trong suốt
Biến chứng của phẫu thuật nâng mũi bằng thanh độn và dư luận
234
5-10%. Sự khác biệt này chủ yếu
do phần lớn thanh độn được tháo
bỏ vì những lí do thẩm mĩ, chủ yếu
là di lệch thanh độn hoặc sự không
hài lòng của bệnh nhân về kích
thước thanh độn.
Hình 19-1
A, Paraffinoma.
B, Hình ảnh trong phẫu thuật.
Hình 19-2
A, Mũi lệch thứ phát sau sai lệch vị trí
thanh độn.
B, Minh họa thanh độn lệch hướng do
đường rạch tiền đình một bên.
A
A
B
B
Chương 19
235
Hình 19-3
Nhiễm trùng
Hình 19-4
Sẹo lõm vùng chóp mũi dưới sau nhiễm
trùng thanh độn.
A
B
Hình 19-5
A, Đỏ kéo dài và phù nhẹ sau nhiễm trùng.
B, Gỡ bỏ thanh độn sớm ngăn ngừa biến dạng sẹo co kéo.
Biến chứng của phẫu thuật nâng mũi bằng thanh độn và dư luận
236
Nhiễm trùng có thể tiến
triển từ sự nhiễm khuẩn vết mổ
hay thanh độn, hiện tượng nhiễm
trùng toàn thân, xâm lấn da trong
phẫu thuật, hở vết thương, hoặc
xâm nhiễm chất bã trong quá trình
thao tác trên lớp da dầu chóp mũi.
Không xử lí tình trạng nhiễm trùng
sẽ dẫn đến hình thành abcess và
trồi thanh độn. Cách tốt nhất là
phòng ngừa nhiễm khuẩn. Điều
này đặc biệt đúng trong bất kì
phẫu thuật nào có dùng thanh độn.
Sử dụng kháng sinh phòng ngừa,
nước súc miệng kháng khuẩn,
che đậy vùng mặt và mũi, thao tác
thanh độn vô trùng, và gây thương
tổn tối thiểu cho mô là những chú
ý quan trọng. Sau khi nhiễm trùng
tiến triển, liệu trình kháng sinh
tích cực nên được sử dụng trong
1 tháng. Thanh độn nên được tháo
gỡ ngay lập tức bất cứ khi nào xuất
hiện dấu hiệu nhiễm trùng, dù cho
đã điều trị kháng sinh thích hợp,
hoặc nếu nhiễm trùng không thoái
lui sau 1 tháng kháng sinh điều trị.
Nếu nhiễm trùng đi kèm viêm đỏ
và phù trung bình, phẫu thuật viên
phải cân nhắc tháo bỏ thanh độn.
Bất kì sự trì hoãn nào cũng sẽ tiến
tới nguy cơ tạo abcess, mỏng da,
trồi thanh độn, hở vết mổ, và tạo
sẹo nghiêm trọng vĩnh viễn. Hiểu
rõ các nguyên nhân gây trồi thanh
độn là cách tốt nhất để ngăn ngừa.
Các nguyên nhân được tìm thấy
trong mối liên hệ giữa độ dày da
và áp lực trên da gây ra bởi thanh
độn. Da quá mỏng hay có quá
nhiều áp lực đặt lên da từ thanh
độn sẽ tạo một tình trạng mà
trong đó, một loạt các tương tác
xảy ra: giảm tưới máu mao mạch
biểu hiện bằng hoại tử trắng mất
mạch, lỗ rò, nhiễm khuẩn ngược
dòng, và trồi thanh độn. Khi áp lực
nằm ở vùng biên, xung huyết phản
ứng và bù trừ sẽ gây ra ửng đỏ
kéo dài. Tình trạng này (như hình
19-5, A và 19-6) có thể trải dài từ
tình trạng vô hại gián đoạn (đặc
biệt liên quan thời tiết lạnh) tới
những dấu hiện nghiêm trọng hơn
của nhiễm trùng, hay trồi thanh
độn, hoặc cả hai. Có 3 điểm dễ chịu
tác động áp lực dễ gây trồi thanh
độn. Khi đặt đường rạch gần với
vị trí thanh độn, sức căng trên vêt
thương mới lành có độ bền thấp
sẽ tạo ra một tình trạng đứt gãy
vết thương và trồi thanh độn. Do
đó, trồi thanh độn thường xảy ra ở
vùng rạch da tiền đình mũi hay trụ
mũi (hình 19-7). Đường rạch dưới
môi được thiết kế nhằm cách biệt
đường rạch và vị trí thanh độn, và
nguy cơ trồi thanh độn được giảm
đáng kể. Hai điểm áp lực còn lại là
lồi chóp mũi trên và lồi chóp mũi
dưới. Áp lực lên lồi chóp mũi trên
là kết quả của hiệu ứng “tent-pole”
g6y ra bởi sức căng quá mức của
thanh độn trụ mũi (hình 19-8).
Áp lực lên lồi chóp mũi dưới là do
hoặc thanh độn dài quá mức (hình
19-9), hoặc một khoang không phù
hợp ở vùng chân mũi và co thắt
bao xơ dẫn tới tạo áp lực hướng
xuống đối với lồi chóp mũi trên.
Chương 19
237
Hình 19-6
Đỏ kéo dài.
Hình 19-8
Đỏ da chóp mũi trên do thanh độn
dài.
Hình 19-9
Thanh độn mũi dài quá mức.
Hình 19-7
Nguy cơ trồi thanh độn.
Biến chứng của phẫu thuật nâng mũi bằng thanh độn và dư luận
238
Mặc cho nhiều sự chỉ trích rộng
rãi về tác dụng kém của thanh độn
trụ mũi, phần lớn các ca báo cáo
trồi thanh độn đều xảy ra vùng
tiền đình mũi hay vùng lồi chóp
mũi trên (hình 19-7 và 19-10). Khi
phẫu thuật viên suy xét, thì thanh
độn trụ cung cấp độ nhô chóp mũi
cần thiết mà không gây hại da. Một
cách an toàn để giảm thiểu nguy
cơ hạ chóp mũi, đó là hỗ trợ nhẹ
nhàng phần trụ mà không gây hiệu
ứng tent-pole. Tuy nhiên, phần
lớn phẫu thuật viên ưa thích việc
tránh sử dụng phần trụ của thanh
độn mũi. Kết quả là, giảm nhô chóp
mũi hoặc mũi kiểu pollybeak (hình
19-11) gây ra sự không hài lòng,
bởi vì thiếu sự hỗ trợ chóp mũi.
Khoang sống mũi nên đủ rộng và
dài để có thể đẩy thanh độn lên –
xuống mà không giới hạn. Dù một
khoang rộng giúp tránh trồi thanh
độn, nó sẽ tạo khoảng không cho
thanh độn di động và cố định tại
vị trí không ưng ý. Thanh độn có
thể nằm sang một bên, gây di lệch
(hình 19-2, A), hoặc nằm trên cao,
gây giảm nhô chóp mũi, hoặc một
biến dạng mũi pollybeak của chóp
mũi (hình 19-11). Một thanh độn
không có phần trụ mũi đặc biệt
dễ bị tổn thương, do phần trụ có
chức năng ổn định. Một thanh độn
trụ dài sẽ chống lại sự chếch lên,
hiện tượng sống mũi nằm một
bên, hoặc cả hai. Tuy nhiên, thanh
độn trụ dài cần được thiết kế để hỗ
trợ chứ không gây hiệu ứng tent-
pole. Cần nỗ lực ngăn ngừa lực đẩy
chóp mũi quá mức do thanh độn
mũi. Một thanh độn dài quá mức
cũng gây khuếch đại hai điểm
gãy (hình 19-12) hoặc chóp mũi
chếch lên (hình 19-13) hoặc lỗ
mũi bất xứng do thanh độn trụ
nghiêng. Nếu bệnh nhân có sụn
vòm cánh mũi chắc và rộng, hiệu
ứng tent-pole từ thanh độn trụ có
thể gây biến dạng bộ ba vòm mũi.
Những trường hợp hiếm, thanh
độn được chèn vào một khoang
sống mũi hẹp, khiến thanh độn bị
xoắn vặn khiến cạnh bên hướng ra
trước, tạo nên sống mũi lưỡi lam.
Điều tương tự cũng xảy ra do sự
co thắt bao xơ (hình 19-14). Do sự
dung nạp của da người châu Á đối
với thanh độn là dựa vào độ dày
da, nên có thể nói chắc rằng cần
tránh dùng thanh độn mũi trên
người châu Á có da mỏng (hình
19-15). Thanh độn có thể nhìn
thấy trong suốt qua lớp da mỏng
của bệnh nhân. Sử dụng thanh độn
tiệp màu da là một giải pháp. Kho-
ang nên được tạo sâu hết mức có
thể để đảm bảo che phủ mô hợp
lí. Mặt phẳng chứa khoang nằm
trên màng sụn của sụn mũi trên và
tấm dưới màng xương của xương
mũi. Đặt thanh độn quá nông gây
ra hình ảnh trong suốt và bất đồng
bề mặt. Thanh độn silicone sẽ bị
calci hóa sau 10-20 năm (hình 19-
16). Dù thanh độn mũi từ nhựa
Teflon, nhờ vào đặc tính mềm dễ
uống cong, không gây những mối
bận tâm do hiệu ứng áp lực như
thanh độn silicone, nhưng chúng
Chương 19
239
lại trơ trước phản ứng viêm ở bề
mặt tiếp xúc mô – thanh độn. Tất
cả thanh độn có thể có kết quả như
nhau dẫn đến tháo bỏ. Chúng cũng
có thể gây lệch thanh độn do tạo
khoang bất xứng, sẹo co kéo, hoặc
cả hai (hình 19-17). Phù kéo dài
mà không có nhiễm trùng cũng là
một biến chứng tiềm tàng. Mô sụn
dễ bị di lệch, bất đồng bề mặt, và
tiêu biến, nhất là phần sống mũi.
Những mối lưu tâm về sụn sườn
bao gồm các nguy cơ biến chứng
nghiêm trọng như tràn khí màng
phổi, sẹo phì đại thành ngực, và
cong vẹo (hình 19-18).
Hình 19-10
Đỏ da chóp mũi dưới do thanh độn
dài hoặc khoang sống mũi ngắn.
Hình 19-11
Biến dạng mũi vẹt.
Biến chứng của phẫu thuật nâng mũi bằng thanh độn và dư luận
240
Hình 19-12
Chóp mũi gãy đôi quá mức.
Hình 19-13
Mũi chếch lên quá mức.
Hình 19-14
A, Thanh độn xoay.
B, Thanh độn xoay trong phẫu thuật.
A
B
Chương 19
241
Hình 19-15
Thấy rõ thanh độn trên nền da mỏng.
Hình 19-16
Thanh độn silicone bị calci hóa.
Hình 19-17
Mũi lệch do đặt thanh độn mũi
e-PTFE sai vị trí.
Hình 19-18
Thanh độn mũi từ sụn sườn bị vẹo.
Biến chứng của phẫu thuật nâng mũi bằng thanh độn và dư luận
242
Tài liệu tham khảo
1. Hiraga Y: Complication of
augmentation rhinoplasty in Japa-
nese, Ann Plast Surg 4(6):495-499,
1980.
2. Deva AK, Merten S, Chang
L: Silicone in nasal augmentation
rhinoplasty: a decade of clinical
experience, Plast Reconstr Surg
102(4):1230-1237, 1998.
3. Lam SM, Kim YK: Augmen-
tation rhinoplasty of the Asian
nose with the “Bird” silicone im-
plant, Ann Plast Surg 51(3):249-
256, 2003.
4. Flowers RS: Nasal aug-
mentation by the intraoral route,
Plast Reconstr Surg 54(5):570-578,
1974.
5. Lipshutz HA: Clinical eval-
uation of subdermal and subcuta-
neous silicone implants, Plast Re-
constr Surg 37:249, 1966.
6. Davis PKB, Jones M: The
complication of Silastic implant, Br
J Plast Surg 24:405-411, 1971.
7. Mutou Y: The complica-
tion of augmentation rhinoplasty
in Orientals, Br J Plast Surg 28:160-
163, 1975.
8. McCurdy JA, Jr: The Asian
nose:
augmentation
rhinoplas-
ty with L-shaped implants, Facial
Plast Surg 18(4):245-252, 2002.
9. Shirakabe Y, Shirakabe
T, Kishimoto T: The classification
of complication after augmenta-
tion rhinoplasty, Aesth Plast Surg
9:185-192, 1985.
10. Han KW: Rhinoplasty. In
Lee YH: Aesthetic plastic surgery,
Seoul, 1998, Gunja, p 210.
11. Jung DH: Rhinoplasty. In
Jung DH (Ed.): Rhinoplasty, Seoul,
2002, Greenbook, p 122.
Chương 20: Thanh độn trụ mũi
Để nâng mũi thành công,
phẫu thuật viên cần hiểu tổng quan
về giải phẫu mũi ngoài, quan điểm
thẩm mĩ mũi được người châu Á
ưa chuộng, vật liệu nâng mũi hiện
hành, và các kĩ thuật mổ đa dạng.
20.1 Hình dạng mũi lý tưởng
Bệnh nhân luôn yêu cầu có
được vẻ mặt tư nhiên và không có
bóng dáng yếu tố phẫu thuật. Họ
thường yêu cầu nâng tối thiểu. Họ
muốn phù hợp với đại chúng, và
giữ nét hài hòa với toàn bộ khu-
ôn mặt (như là nâng mũi tối thiểu
trên những bệnh nhân có khoảng
cách liên khóe mắt hẹp).
20.1.1 Gốc mũi
Góc mũi-trán lý tưởng trên
người châu Á nằm trong khoảng
135 đến 140 độ. Điểm sellion là
điểm nằm ra sau nhiều nhất, hay
là điểm thấp nhất của mũi ngoài.
Vị trí lý tưởng của điểm sellion
là ngang mức nếp gấp mi mắt.
Dù rằng chiều cao điểm sellion
lý tưởng được đo từ giác mạc đối
với người da trắng, qui tắc này lại
không áp dụng cho người câu Á vì
sự đa dạng của tình trạng lồi mắt
trên người châu Á. Hơn nữa, chiều
cao lý tưởng của sellion được xác
định dựa trên mối quan hệ giữa
góc mũi-trán và độ nhô của diện
trên gốc mũi.
20.1.2 Sống mũi
Chiếc mũi lý tưởng biểu
hiện bằng đường bờ cong dọc theo
mỗi bên mũi, từ lông mày cho tới
chóp mũi. Mặc dù khoảng cách hẹp
nhất giữa hai đường nên xấp xỉ 10
mm, nhưng chỉ số này vẫn biến đổi
nhiều phụ thuộc khoảng cách liên
khóe mắt, đặc điểm khuôn mặt,
và sở thích của bệnh nhân. Đường
sống mũi đơn lẻ sau nâng nâng
mũi sẽ tạo dáng vẻ “phẫu thuật
thẩm mĩ”. Chóp mũi sẽ đẹp hơn khi
nằm cao hơn sống mũi 1-2 mm.
20.1.3 Chóp mũi
Chóp mũi của bệnh nhân
châu Á thường không có hình dáng
nhất định do sụn yếu và da dày.
Chiếc mũi lý tưởng cần có các điểm
nhận dạng chóp (TDPs) (hình 20-
1). Góc mũi-môi trên người châu
Á nằm giữa 90-95 độ. Chiều cao
thanh độn nên đa dạng ở những
điểm khác nhau trên gốc mũi, sống
20
Dong Hak Jung
Phẫu thuật nâng mũi phối hợp mô tự thân/ mô nhân tạo
244
mũi, hoặc chóp mũi. Bệnh nhân
nến có diện trên gốc mũi thấp,
chiều rộng mũi thích hợp, và các
điểm TDP rõ (hình 20-2).
Hình 20-1
Điểm nhận diện chóp mũi (TDP) bao
gồm vòm của cánh mũi trong và điểm
trên và dưới chóp mũi.
Hình 20-2
A, Hình ảnh hậu phẫu cho thấy độ rộng
mũi thích hợp và điểm nhận dạng mũi
rõ.
B, Đường gãy chóp mũi trên và tạo
khối chóp mũi dưới được minh họa rõ.
A
B
Chương 20
245
20.2 Nâng mũi bằng Gore-Tex-
TM và sụn
20.2.1 Chuẩn bị mô ghép
Độ dày mô ghép được xác
định sau khi quan sát bệnh nhân.
Việc chọn lựa giữa mô tự thân với
mô nhân tạo tùy vào cuộc thảo
luận với bệnh nhân. Nhựa Teflon
(e-PTFE, Gore-TexTM [W.L. Gore
và đồng sự, Inc., Newark, DE]) hoặc
silicone được dùng để nâng mũi
nên dưới 7 mm. Tác giả dùng sụn
sườn trên 7mm để nâng mũi nhằm
giảm áp lực lên da. Tránh dùng mô
độn cho vùng chóp vì tỉ lệ cao biến
chứng. Phối hợp mô tự thân và mô
nhân tạo có thể dùng (như là, da và
nhựa Teflon, hay là nhựa Teflon và
sụn vành tai) (hình 20-3). Dù mô
silicone có sẵn với nhiều kích cỡ và
hình dáng khác nhau, phẫu thuật
viên vẫn nên đẽo gọt mô độn để
vừa sít sao. Phẫu thuật viên có thể
dùng một khối silicone. Dù khối
nhựa Teflon tạo hình có bán sẵn,
tác giả vẫn ưa thích tạo kiểu bằng
cách cắt lớp (hình 20-4). Các rìa
của thanh độn được làm thon để
tránh sự không hài hòa. Gọt thanh
độn rộng về phần chân để tạo hai
đường song song, và hẹp ở phần
giữa hai sụn mũi dưới (hình 20-
5). Điều chỉnh vượt mức nhẹ cần
thiết để bù trừ cho sự co tự nhiên
của nhựa Teflon. Thanh độn được
ngấm kháng sinh trước khi đặt.
20.2.2 Gây tê
Hầu hết các ca đều được
gây tê vùng kèm thuốc an thần
đường tĩnh mạch. Liều khởi đầu
của ketamin hydrochloride (0.5-
0.7 ml) (25-35 mg, 0.5-1 mg/kg)
và propofol (5 ml) và theo sau là
propofol 5 cc tăng dần nếu cần.
Kế đó, tiêm 6-8 ml dung dịch hỗn
hợp lidocaine 2% và epinephrine
1:100,000 vào mũi. Tiêm lượng
thấp nhất vừa đủ để ngăn thay đổi
tạo khối mô mềm. Truyền dịch nhỏ
giọt propofol ở mức 40-70 ml/
giờ để giữ độ an thần. Tiêm bolus
propofol (5 ml) hoặc midazolam
(2-3 ml) (2-3 mg, 0.05-0.15 mg/
kg) tăng dần nếu cần.
20.2.3 Đường rạch
Có thể dùng đường trong
mũi hay đường mổ mũi hở đều
được. Nếu dùng đường mổ trong
mũi, thực hiện vết rạch biên (hình
20-6 và 20-7). Nếu dùng đường
mổ mũi hở, thực hiện rạch ngang
trụ mũi phía trên tấm đỡ trụ
trong. Sẹo khi đó sẽ ngắn nhất và
da mỏng nhất ở khu vực này (hình
20-7). Đường mổ mũi hở được ưa
thích trong phẫu thuật chóp mũi vì
bộc lộ hoàn toàn.
20.2.4 Qui trình
Mặt phẳng phẫu thuật nằm
trên màng sụn của sụn mũi trên và
dưới màng xương của xương mũi.
Cây bóc tách màng xương Joseph
được sử dụng. Đặt thanh độn lên
trên màng xương sẽ làm thanh độn
di động và thấy rõ bờ. Phẫu thuật
viên nên giới hạn kích thước kho-
ang để ngăn thanh độn di lệch sang
Phẫu thuật nâng mũi phối hợp mô tự thân/ mô nhân tạo
246
Hình 20-3
E-PTFE được kẹp giữa sụn (A). Tiền
phẫu (B và D) và hậu phẫu (C và E)..
A
B
C
D
E
Chương 20
247
Hình 20-4
Các lớp nhựa mềm e-PTFE được buộc bằng chỉ nylon 5-0. Tỉa gọt vùng rìa.
Thanh độn rộng hơn ở phần gốc và hẹp hơn ở phần chóp mũi.
nơi khác. Nếu tiếp cận sống mũi
qua một bên lỗ mũi, khoang sẽ có
xu hướng đi xiên qua bên đối diện.
Do đó, phẫu thuật nên bắt đầu qua
cả hai lỗ mũi (hình 20-8). Thanh
độn sống mũi chỉ nên kéo xuống
tới sụn mũi trên. Sống mũi nhô quá
mức sẽ tạo vẻ mặt căng thẳng cho
phụ nữ Á châu (hình 20-9). Nâng
sống mũi chỉ nên thực hiện trên
bệnh nhân có góc mũi-trán nông
và phần lồi diện trên gốc mũi thấp,
trừ khi thực hiện đồng thời nâng
chóp mũi. Chèn thanh nhựa teflon
và sụn sẽ gặp khó khăn do cấu trúc
mềm. Tác giả đã thiết kế và đăng
ký sáng chế một dụng cụ tên là for-
ceps Jung, giúp chèn mô sụn hay
nhựa Teflon mềm mà không cần
phải gấp lại (hình 20-10). Tác giả
ưa thích dùng Gore-TexTM thay
cho mô sụn vì ít gặp phải sự bất
hài hòa. Mô sụn thường tạo sự bất
tương đồng ở chân mũi, thậm chí
sau khi đã cắt gọt và làm thon. Đối
với nhiều bệnh nhân yêu cầu chỉ
nâng sống mũi, phần chóp cũng
cần được nâng để đạt vẻ hài hòa
(hình 20-11). Nếu không, chóp sẽ
trở nên kém nhô do chỉ nâng sống
mũi, và bệnh nhân sẽ bị mất giao
điểm trên chóp mũi.
Phẫu thuật nâng mũi phối hợp mô tự thân/ mô nhân tạo
248
Hình 20-5 Dùng forceps Jung để đặt
thanh độn nhựa mềm e-PTFE.
A và B, Sau khi chèn thanh độn, cố định
thanh bằng kim 26G qua da mũi; sau
đó gỡ bỏ forceps.
C,Tiền phẫu.
D, Hình ảnh hậu phẫu.
A
B
C
D
Chương 20
249
a
b
c
d
Hình 20-6
Đường rạch trong mũi: giữa các sụn (a), xuyên
sụn (b), đường rìa (c) và vành đai (d).
Đường rìa
Đường rạch xuyên trụ mũi
Hình 20-7
Các đường rạch rìa và ngang sụn mũi trong cách phẫu thuật mũi hở.
Phẫu thuật nâng mũi phối hợp mô tự thân/ mô nhân tạo
250
A
B
C
Hình 20-8
Đường mở qua một cánh mũi sẽ dẫn tới vết rạch được ưa chuộng ở phía đối
diện. Đường rạch ở 2 bên đảm bảo tính đối xứng của khoang (A). B và C, Hình
ảnh hậu phẫu minh họa mũi lệch.