Phẫu Thuật Thẩm Mỹ Khuôn Mặt Người Châu Á (Asian Facial Cosmetic Surgery)

13/10/2026 • by Bs CKI Phẫu thuật tạo hình, tái tạo và thẩm mỹ Trương Hoài Anh •

Cuốn sách kinh điển phân tích nhân trắc học và cấu trúc giải phẫu đặc thù của người Á Đông. Cung cấp bộ “kỹ thuật vàng” trong cắt mí mắt đôi, nâng mũi bọc sụn, độn cằm và các phẫu thuật chỉnh hình khung xương mặt góc cạnh.


📂 Chuyên mục: Tài liệu thẩm mỹ, Phẫu thuật thẩm mỹ, Thẩm mỹ khuôn mặt

🏷️ Từ khóa: thẩm mỹ châu á, phẫu thuật khuôn mặt, cắt mí, nâng mũi, nhân trắc học

Trang: / 507
Trang 1 Trang 2 Trang 3
📖 Xem bản dịch / Nội dung văn bản

51
Chương 4
4.5 Gây tê

Một ống tiêm 1 ml chứa 0,8
ml capocaine 1% với epinephrine
tỉ lệ 1: 100.000 và 0,2 ml ropiva-
caine 1% dùng để tiêm khoảng
0,1 ml thuốc gây tê cục bộ ở mỗi
bên, ngay dưới da, bằng kim 30G.
Cần thận trọng để tránh làm thủng
mạch máu dưới da trong khi tiêm.
Tiêm thêm 0,1 đến 0,2 ml thuốc
gây tê cục bộ khi các mô trước sụn
mi bị cắt bỏ sau khi rạch da.
4.6 Mổ xẻ

Các tác giả sử dụng kính
hiển vi phẫu thuật (độ phóng đại
4x) để thực hiện phẫu thuật mắt
hai mí. Kính hiển vi phẫu thuật cho
phép bác sĩ phẫu thuật thu được
thị trường sáng hơn và hình ảnh
rõ hơn so với các kính lúp phẫu
thuật. Kính hiển vi phẫu thuật cho
phép thực hiện phẫu thuật chính
xác ngay cả với vết rạch da ngắn
(tức là, các mạch nhỏ được làm
đông lại và dây thần kinh cảm giác
da được bảo tồn). Phẫu thuật viên
có thể xem đầy đủ các chi tiết giải
phẫu của mí mắt và xác định chính
xác các lớp màng của mí mắt. Phẫu
thuật viên được trang bị tốt hơn
để tạo các kết nối giải phẫu của
mí mắt ngay cả khi có sẹo rộng từ
phẫu thuật cắt mắt hai mí trước
đó, và phẫu thuật mắt hai mí có thể
được thực hiện một cách an toàn.

Khi chiều cao nếp gấp từ 8
mm trở xuống so với đường cung
mày và cao độ của sụn mi từ 8 mm
trở lên, da có thể được cố định
chắc chắn vào sụn mi bằng cách sử
dụng kỹ thuật cố định da-sụn mi
(Hình 4-2, A đến C). Ứng cử viên
tốt nhất cho kỹ thuật này là bệnh
nhân có mí mắt nặng và da dày với
lớp mỡ dày. Nếp gấp lỏng gặp phải
tối thiểu ở các bệnh nhân này.
Khi chiều cao nếp gấp được đặt ở
mức > 8 mm và cao độ của sụn mi
< 8 mm, không thể cố định da vào
vùng sụn mi. Trong trường hợp
này, các tác giả sử dụng kỹ thuật
cố định chuyển vách ngăn-da3,5
(Hình 4-3, A và B). Kỹ thuật cố
định này ít an toàn hơn so với kỹ
thuật cố định da-sụn mi. Do đó, kỹ
thuật cố định chuyển vách ngăn-da
chỉ được chỉ định cho những bệnh
nhân có mí mắt mỏng với thể tích
mô tương đối nhỏ.
4.7 Tarsodermal Fixation

Da được rạch dọc theo
đường rạch được đánh dấu trước
đó bằng dao mổ. Mạch máu dưới
da bị đông lại. Một dải cơ vòng
mi sau đó được cắt bỏ. Một vòng
bít của cơ nên được để lại ở mép
dưới của vết mổ vì kim đi qua cơ
này trong quá trình cố định da-
sụn mi. Các mô trước sụn mi được
cắt bỏ ngay bên dưới cơ vòng mi
về phía mi mắt. Loại bỏ quá mức
các mô mềm trước sụn mi có thể
gây biến dạng vì chỉ có da mỏng
kết dính vào sụn mi. Để tránh nguy
cơ chảy máu trong quá trình cắt
bỏ mô trước sụn mi, phẫu thuật
viên nên cẩn thận để tránh làm
tổn thương các sợi thần kinh cảm

52
Phẫu thuật mắt hai mí rạch bán phần
Hình 4-2
Cố định da-sụn mi.
A, Diện cắt của một mí mắt
được hiển thị.
B, Sau khi rạch da, các mô
trước sụn mi bị cắt bỏ.
C, Chỉ khâu được đưa qua
lớp sâu nhất của lớp hạ bì
và cơ và sau đó qua sụn
mi.
A
B
C

53
Chương 4
BA
B
Hình 4-3
Cố định chuyển vách ngăn-da.
A, Các mô trước hốc mắt được cắt bỏ, và rạch vùng vách ngăn.
B, Chỉ khâu được đưa qua lớp hạ bì và cơ ở rìa dưới vết rạch và sau dó đi qua
rìa dưới hốc mắt.
giác chạy dọc theo mạch máu. Tiếp
theo, mặt trước của sụn mi được
phơi bày (Hình 4-4, A). Các đám
rối mạch máu dọc theo cạnh trên
của sụn mi nên được bảo tồn cẩn
thận. Mỡ hốc mắt được loại bỏ nếu
bệnh nhân có nhiều mô mỡ.

Các mạch máu dưới da ở rìa
dưới của vết mổ được làm đông
lại bằng kẹp điện vi cực lưỡng cực.
Thao tác này tránh chảy máu tình
cờ và chàm dưới da do khâu kim
đâm thủng. Kim khâu được truyền
qua lớp sâu nhất của lớp hạ bì và
cơ bắp (xem Hình 4-4, B). Sau đó,
kim được truyền thẳng đứng qua
sụn mi ở độ sâu trung gian (xem
Hình 4-4, C) và chỉ khâu được buộc
lại. Việc cố định được thực hiện tại
ba điểm (trung gian, trung tâm và
bên) với luồng Dexon 7-0 (xem
Hình 4-4, D). Da nên được cố định
tại vị trí ban đầu của nó mà không
kéo lên; điều này tránh được nguy
cơ lông mao hướng lên trên và gây
ra bệnh ngoài tử cung. Da được
đóng lại bằng nylon 8-0 (xem Hình
4-4, £).

Kỹ thuật cố định chuyển
vách ngăn - da

54
Phẫu thuật mắt hai mí rạch bán phần
A
C
E
B
D
Hình 4-4
A, Các mô trước sụn mi được cắt bỏ,
và các dây thần kinh cảm giác được
bảo tồn.
B, Kim khâu được đưa qua lớp sâu
nhất của lớp hạ bì và cơ,
C, Kim khâu sau đó được đưa qua sụn
mi.
D, Thực hiện cố định tại các điểm
trong, trung tâm và bên. E, Da được
đóng lại bằng chỉ nylon 8-0.

Da bị rạch, và các mạch máu
dưới da bị làm đông lại. Một dải cơ
vòng mi được cắt bỏ (Hình 4-5, A).
Vách ngăn được phơi bày, sau đó
được rạch song song với mép dưới
của vết rạch da và có độ dài tương
đương với đường rạch da (xem
Hình 4-5, B). Điều này giúp bộc lộ
mỡ hốc mắt bên dưới vách ngăn.
Mỡ hốc mắt được rút lại trước
tiên, và màng sợi mỏng được rạch.
Màng bao cơ nâng mi với bề mặt

55
Chương 4
mịn màng sáng bóng, được bộc
lộ bên dưới màng sợi này (xem
Hình 4-5, c). Một mũi kim với chỉ
khâu 7-0 Dexon được luồn qua lớp
sâu nhất của lớp hạ bì và cơ ở rìa
dưới của vết mổ (xem Hình 4-5, D)
và qua mép dưới của vách ổ mắt
ở khoảng cách 5 điểm. Chỉ khâu
được buộc (xem Hình 4-5, E). Nếu
da bị khâu đến hết màng bao cơ
nâng mi, kết quả có thể là lộn mi
do kéo quá mức trên da. Bằng cách
để vách ngăn gắn vào màng bao cơ
nâng mi, da sẽ được kéo bằng một
lực thích hợp. Khi vết mổ được tạo
ra trên 15 mm so với đường cung
mày, da trước sụn mi sẽ bị chảy
xệ. Do đó, vết mổ nên được thực
hiện dưới 15 mm từ rìa đường
cung mày, và trong một số trường
hợp, một vài milimet da phía trên
đường rạch có thể cần phải được
cắt bỏ. Da được khâu lại bằng chỉ
nylon 8-0 (xem Hình 4-5, F).
4.8 Chăm sóc sau phẫu thuật

Mí mắt được giữ mát trong
một giờ sau khi phẫu thuật. Bệnh
nhân được phép tắm và bôi mĩ
phẩm mặt ( trừ mí mắt trên) vào
ngày hậu phẫu đầu tiên. Bệnh nhân
được hướng dẫn làm sạch mí mắt
hai lần mỗi ngày bằng bông ướt và
bôi thuốc mỡ kháng sinh. Chỉ khâu
được lấy ra vào ngày hậu phẫu thứ
tư hoặc thứ năm.
4.9 Phục hồi

Bệnh nhân được hướng dẫn
không sử dụng mỹ phẩm trên mí
mắt trong 2 tuần sau khi tháo chỉ
khâu và nhẹ nhàng lau các đường
khâu mỗi ngày. Bệnh nhân cũng
được hướng dẫn tránh kéo da
khi đeo hoặc tháo kính áp tròng
trong 2 tuần đầu sau phẫu thuật.
Ở hầu hết các bệnh nhân, tụ máu
không xảy ra và sưng mí mắt giảm
trong vòng 2 tuần sau phẫu thuật.
Mí mắt trở lại vẻ bình thường với
đỏ da thấy được tối thiểu trong 3
tháng.
Ca lâm sàng

Trường hợp 1: Kỹ thuật cố
định da-sụn mi ở một phụ nữ 28
tuổi (Hình 4-6, A đến G).

Trường hợp 2: Kỹ thuật cố
định chuyển vách ngăn-da ở một
phụ nữ 31 tuổi (Hình 4-7, A đến E)

56
Phẫu thuật mắt hai mí rạch bán phần
A
B
C
D
E
F
Hình 4-5
A, Các mô trước ổ mắt được cắt bỏ.
B, Đường rạch vùng vách được đánh dấu,
C, Mỡ hốc mắt được rút ra trước tiên, và rìa của vách ngăn được kéo xuống. Cơ
nâng mi được nhìn thấy bên dưới vách ngăn.
D, Kim khâu được đưa qua lớp sâu nhất của lớp hạ bì và cơ ở rìa dưới của vết
mổ và sau đó qua mép dưới của vách ngăn.
E, Thực hiện cố định tại năm điểm.
F, Da được đóng lại bằng chỉ nylon 8-0.

57
Chương 4
Hình 4-6
Cố định da-sụn mi.
A, Hình trước phẫu thuật.
B, Hình ngay sau phẫu thuật (mắt mở),
C, Hình ngay sau phẫu thuật (nhắm mắt).
D, Hình sau 5 ngày hậu phẫu (mắt mở).
E, Hình sau 5 ngày hậu phẫu (nhắm mắt).
F, Hình sau 4 tháng hậu phẫu (mắt mở).
G, , Hình sau 4 tháng hậu phẫu (nhắm mắt).
A
B
C
D
E
F
G

58
Phẫu thuật mắt hai mí rạch bán phần
A
B
C
D
E
Hình 4-7
Cố định chuyển vách ngăn-da.
A, Hình trước phẫu thuật.
B, Hình ngay sau phẫu thuật (mắt mở),
C, Hình ngay sau phẫu thuật (nhắm mắt).
D, Hình sau phẫu thuật một năm (mở mắt).
E Hình sau phẫu thuật một năm (nhắm mắt).

59
Chương 4
Tài liệu tham khảo

1. Shintomi s, Nohira I<:
Double eyelidplasty; partial inci-
sion technique. In Inchida M (ed):
Aesthetic surgery practice 1, Tokyo,
2000, Bunkodo, pp 46-48 (in Japa-
nese and Hangul).

2. Flowers RS: Aesthetic
surgery of the eyelids. In Marchac
D (ed): Transactions of the 6th In-
ternational Congress of Plastic
and Reconstructive Surgery, Paris,
1975, Masson.

3. Flowers RS: The art of eye-
lid and orbital aesthetics.
Multiracial
surgical
consider-
ations, Clin Plast Surg 14(4):703-
721, 1987.

4. Yang SY: Oriental double
eyelid: a limited-incision technique,
Ann
Plast
S’wr^46(4):364-368,
2001.

5. Lee JS, Park WJ, Shin MS,
et al: Simplified anatomic method
of double-eyelid operation: septo-
dermal fixation technique, Plast Re-
constr Surg 100(l):170-178, 1997.

Chương 5: Kỹ thuật cố định da - cơ
nâng - da

Trong những số xuất bản
trước, tác giả đã bàn về khái niệm
tạo hình nếp gấp mí trên và những
bước thiếu yếu nhằm đặt nếp gấp
mí lên mắt người châu Á. Phương
pháp này dựa trên sự đo lường
chính xác chiều cao trung tâm của
sụn mi trên để thực hiện đường
rạch ngoài da tạo nếp gấp. Theo
quan điểm của tác giả thì một nếp
gấp lý tưởng của người châu Á sẽ
có hình dạng thon kiểu mũi hay
song song. Nếp gấp mí trên góc
trong thường hiện diện ở phần
trong của mí trên người châu Á,
không tính đến tần suất, và không
nên bị xem là bệnh lý hay cần xóa
bỏ.

Cắt giảm hình thang lớp mỡ
trước gân cơ nâng mi là biện pháp
thiết yếu để loại bỏ bất kì mô dư
thừa nào, dọc theo rìa trên sụn mi
trên, để tạo nên một vector giữa
các phần xa của cơ nâng mi và da
trong lúc nhìn thẳng và nhìn lên,
để tạo nếp gấp. Các lớp mô sẽ tạo
thành một rào cản ngăn vector
trong một vùng hẹp 2-3 mm nằm
ở giới hạn trên của sụn mi trên.
Những mô này được loại bỏ bằng
cắt lọc lượng nhỏ da, cơ vòng,
phần xa vách ngăn ổ mắt (phần
thấp nhất của vách ngăn ổ mắt),
và đường cắt nhỏ chọn lọc hoặc tái
định vị lớp mỡ trước gân cơ nâng
mi.
5.1 Trình tự phẫu thuật
5.1.1 Đánh dấu

Dùng 1 ml thuốc gây tê
(xylocaine 2% và epinephrine
1:100,000) để gây tê cảm giác mi
trên. Tác giả khuyến khích dùng
thân que nhấn cotton nhúng vào
trong xanh methylene để đánh dấu
nếp gấp dự kiến. Lật ngược sụn mi,
và dùng thước cặp caliper đo bề
rộng trung tâm của sụn mi (thường
nằm trong khoảng 6.5 – 8.5 mm).
Cẩn thận đánh dấu lại lên bề mặt
da ngoài phía trên trung tâm da
mí (hình 5-1). Điểm này nằm trực
tiếp trên bờ trên sụn mi và là điểm
tham chiếu cho toàn bộ chiều cao
của 1/3 trung tâm mí mắt, bất kể
hình dáng mi mắt là thon kiểu mũi,
song song hay chếch lên. Nếu có kế
hoạch bảo tồn hoặc nâng nếp gấp
sẵn có, đo sụn mi để xác minh nếp
gấp sẵn có và khẳng định đường
nếp chính xác để dùng.
5
William Pai-Dei Chen

Chương 5
61

Nếu muốn nếp gấp thon kiểu
mũi có kiểu đi ngang phía ngoài
hay chếch, đánh dấu 1/3 trong của
đường rạch để làm thon lại hướng
về khóe mắt trong hoặc gộp cùng
nếp gấp mí trên phía trong. Đánh
dấu 1/3 ngoài theo kiểu hình lựa
chọn (đi ngang hay chếch lên).

Với nếp gấp song song, vẽ
chiều cao đã tính toán của bờ trên
sụn mi ngang chiều rộng mi mắt.

Nói tóm lại, chiều cao sụn
mi xác định vị trí trung tâm tổng
thể của nếp rạch; kiểu thiết kế
nếp gấp ở 1/3 trong và 1/3 ngoài
(phần thấp của đường rạch) sẽ xác
định hình dạng, dựa theo ý muốn
của bệnh nhân.

CHÚ Ý – Trong phẫu thuật
mí mắt người châu Á có rạch da,
phần thấp của đường rạch sẽ xác
định hình dạng và chiều cao của
nếp gấp được phẫu thuật.
5.1.2 Rạch da

Để tạo bề mặt bám dính
hiệu quả, cần loại bỏ một phần
mô dưới da. Đánh dấu một vạt da
khoảng 2-3 mm phía trên và song
song với phần thấp của đường
rạch. Nếu bệnh nhân muốn có nếp
thon kiểu mũi, vuốt thon phần trên
đường rạch hướng về khóe mắt
trong, hoặc gộp nó vào phần trong
nếp gấp mí trên, nếu có. Kết quả là,
phần da được rạch thường dưới 2
mm phía trên phần nếp phía trong.

Tiếp tục đường rạch với
da phẫu thuật #15 (Bard-Park-
er) dọc theo đường trên và dưới,
chỉ rạch vừa tới mức mô dưới da
(hình 5-2). Kiểm soát chảy máu
mao mạch bằng dao điện lưỡng
cực Wet-Field (Mentor O & O Inc.,
Norwell, MA). Vạt da nằm trong
đường rạch trên và dưới được cắt
chỉ sau khi vách ngăn ổ mắt được
mở dọc theo đường rạch phía trên,
và vạt da – cơ vòng – vách ngăn
được xoay xuống theo bờ trên sụn
mi (xem những trang sau).

Việc cắt vạt da không cần
thiết trong đa số trường hợp; tuy
nhiên, tác giả có quan điểm rằng,
khi làm như vậy, sẽ gây loại bỏ
những lớp của mô mí mắt, từ đó
cho phép tạo hình nếp gấp phù
hợp.
Hình 5-1
Đánh dấu mí mắt cho phẫu thuật tạo
nếp gấp. Chiều cao trung tâm dựa
trên chiều cao sụn mi mắt. Hình dạng
nếp trong ảnh này nhằm tạo nếp gấp
thon hướng mũi.

Kỹ thuật cố định da - cơ nâng - da
62
5.1.3 Mở vách ngăn ổ mắt

Lúc này, cơ vòng trước sụn
mi và trên sụn mi vẫn che phủ
bờ trên sụn mi, cũng như (có khả
năng) một số phần xa của vách
ngăn ổ mắt và các sợi tận hướng
ra trước của cơ nâng mi, bên dưới
vách ngăn. Để mở vách ngăn, kéo
bờ trên vết rạch lên trên và dùng
dao điện đơn cực đầu nhỏ (chế độ
cắt) để rạch qua cơ vòng mắt và
vách ngăn ổ mắt theo góc nghiêng
dọc theo đường rạch.

Trên mắt người châu Á,
vách ngăn ổ mắt nằm cách bờ trên
sụn mi 2-3 mm. Vách ngăn đã bộc
lộ, cho thấy lớp mỡ trước gân cơ
nâng mi nằm bên dưới (hình 5-3).
5.1.4 Lớp mỡ trước gân cơ nâng mi

Dựa vào mức độ đầy đặn
của mí trên (hình 5-4), dùng kéo
hoặc dao điện đơn cực (chế độ cắt
với mức năng lượng thấp) cắt một
phần nhỏ của lớp mỡ trước gân
cơ nâng mi. Kiểm soát các điểm
xuất huyết bằng dao điện lưỡng
cực Wetfield. (Đường cắt lớp mỡ
thường cần được gây tê khu trú
vào khoang bên dưới lớp mỡ với
Hình 5-2
Đường rạch da ở mí trên và mí dưới
theo đường đánh dấu.
Hình 5-3
Cắt ngang cơ vòng mi mắt và vách
ngăn ổ mắt, đi đến phần mỡ trước cơ
nâng.
Hình 5-4
Xác định khối mỡ trước cơ nâng, từ
đó xác nhận vị trí khoang trước cơ
nâng.

Chương 5
63
lidocaine).

Nếu bệnh nhân bị nhão da
và bị xóa mờ nếp gấp có xảy ra
dù thậm chí là vết lõm tối thiểu
ở rãnh trên sụn mi, đừng loại bỏ
bất kì mô mỡ nào. Việc này chỉ làm
tệ hơn tình trạng lõm mắt và dẫn
đến nhiều nếp dư thừa chiếm ưu
thế so với nếp gấp mong muốn.
Thay vào đó, hãy đặt một phần mỡ
trước gân cơ nâng mi lên trên, vào
rãnh trên sụn mi.

CHÚ Ý – Tác giả ưa dùng
dao điện lưỡng cực Wetfield nhằm
cầm máu và chỉ dùng dao điện đơn
cực để cắt và phẫu tích. Dùng dao
điện Wetfield sẽ làm giảm tỉ lệ tổn
thương mô do nhiệt.
5.1.5 Cắt rạch da, cơ vòng trước
vách ngăn ổ mắt và Vách ngăn

Sau khi đã mở vách ngăn
theo chiều ngang, cắt một dải da,
cơ vòng trên sụn mi, và vách ngăn
ổ mắt neo ở bờ trên sụn mi. Vạt da-
cơ này bao gồm khoảng 2-3 mm
da, phần lớn cơ vòng trên sụn mi,
và một lượng vách ngăn không cố
định (hình 5-5).
5.1.6 Cắt cơ vòng trước sụn mi

Để thực hiện tạo nếp gấp
mới, cắt một vạt 1-2 mm của cơ
vòng trước sụn mi dọc theo đường
rìa vết rạch da (hình 5-6).

Một số tác giả thường cắt
giảm toàn bộ khối dưới da trước
sụn mi; các tác giả này cho rằng,
tốt hơn hết chỉ còn lại phần da trên
mặt trước sụn mi. Tác giả chương
sách này chỉ loại bỏ phần mô dưới
da khi lớp mỡ trước sụn mi thấy rõ
và đe dọa quá trình phẫu thuật tạo
nếp gấp mí mới. Một số ít trường
Hình 5-6
Trên một số ca, có thể cần thiết cắt lọc
phần mô thừa dưới đường rạch da.
Hình 5-5
Cắt lọc một vạt da-cơ dọc theo bờ
trên sụn mi.

Kỹ thuật cố định da - cơ nâng - da
64
hợp, nếu có, xảy ra hiện tượng đan
đầu tận của cơ nâng mi vào da ở
tấm trước sụn mi trên những mí
mắt không có nếp gấp. Tác giả
phải kềm chế việc cắt lọc quá mức
trên tấm trước sụn mi, điều có thể
gây phù sau mổ kéo dài và dẫn tới
việc tạo thành nhiều hơn một nếp
gấp không mong muốn. Hơn nữa,
người châu Á bẩm sinh đã tồn tại
nếp gấp tự nhiên có một phần nào
đầy đặn vùng trước sụn mi, nằm
trong khu vực giữa nếp gấp và mi
mắt.
5.1.7 Tạo nếp gấp mí và Khâu đóng
vết mổ

Để tạo một nếp gấp rõ nét,
hướng đầu tận các sợi cơ nâng mi
nằm phía trên bờ trên sụn mi vào
tấm mô dưới da của đường rạch
da phía dưới, dọc theo bờ trên sụn
mi. đây là điều cần thiết để tạo một
vector phù hợp để nếp gấp rõ nét.
Dùng chỉ khâu không tan 6-0 (chỉ
lụa hay nylon 6-0) để kéo bờ rạch
da bên dưới cùng với mô dưới da
và cơ nâng mi dọc bờ trên sụn mi,
hợp cùng với bờ rạch da bên trên.
Khâu nối kiểu không liên tục.

Ngoài việc đính lên trung
tâm nếp gấp, đặt thêm 2-3 đường
khâu vào góc trong và 3 đường
khâu góc ngoài (hình 5-7). Cùng
với 6-7 đường khâu tạo nếp này,
dùng chỉ nylon 6-0 hay 7-0 để
đóng phần còn lại của vết rạch theo
đường khâu liên tục hay đường
khâu dưới da. (hình 5-8).

Cùng với việc cắt giảm chọn
lọc mô dọc theo tấm trước cơ
nâng mi, có thể thực hiện tốt nhất
đường nếp gấp rõ nét giải phẫu
như đã minh họa trong hình 5-9,
cho thấy mí mắt gấp lên sau phẫu
thuật nhưng chưa khâu đóng.

CHÚ Ý – Một nếp gấp rõ nét
của mí mắt trên là một đường nhạt
khi mắt hướng xuống. Một nếp gấp
tĩnh sẽ vẫn hiện rõ dù mắt hướng
xuống.
Hình 5-7
Nâng cấu trúc nếp bằng các
đường khâu không liên tục với
chỉ 6-0 qua da, cơ nâng, và lại
qua da.

Chương 5
65
Hình 5-8
Khâu mũi liên tục với chỉ 7-0 để
đóng các bờ da còn lại.
Hình 5-10
Hình ảnh tiền phẫu bệnh nhân A.
Hình 5-11
Hình ảnh ngay sau phẫu thuật của
bệnh nhân A.
Hình 5-9
Khi yêu cầu bệnh nhân nhìn thẳng
ra trước, thấy được một nếp gấp vào
trong rõ sau cắt giảm mô mềm trước
cơ nâng, đối diện bờ trên sụn mi,
ngay cả trước khi khâu lại.

Kỹ thuật cố định da - cơ nâng - da
66
5.2 Chăm sóc hậu phẫu

Trong giai đoạn ngay sau
phẫu thuật (hình 5-10 và 5-11,
bệnh nhân A), bôi thuốc mỡ kháng
sinh (polymixin, bacitracin) trực
tiếp vào vết thương và đường
khâu từ 3-4 lần/ngày. Đường nếp
gấp là kết quả của cắt giảm các cấu
trúc giải phẫu của tấm trước gân
cơ nâng mi, và căn chỉnh hợp lí các
lớp mô vùng tạo nếp. Nếu nếp gấp
của bệnh nhân không rõ ràng trong
giai đoạn ngay sau phẫu thuật (vài
ngày đầu), lý do tiêu biểu nhất là
do phù quá mức. Vào ngày 4 – 5,
bệnh nhân được khuyến khích tập
nhìn lên để tạo vector phù hợp cho
nếp gấp. Chỉ khâu thường được cắt
sau 5-7 ngày phẫu thuật. Khâu vùi
thường không dùng hay chừa lại.

Hình 5-12 và 5-13 minh họa
hình ảnh trước và sau phẫu thuật
của bệnh nhân B; đây là hình ảnh
hậu phẫu 2 tháng sau khi thực
hiện phẫu thuật tái chỉnh sửa mí
mắt.
Tài liệu tham khảo

1. Chen WP: Asian blepha-
roplasty—anatomy and technique,
J Ophthal Plast Reconstr Surg
3(3):135-140, 1987.

2. Chen WP: A comparision
of Caucasian and Asian blepharo-
plasty, Ophthal Pract 9(5): 216-
222, 1991.

3. Chen WPD: Asian blepha-
roplasty and the eyelid crease, 2nd
ed. Philadelphia, PA, 2006, Elsevi-
er/ Butterworth-Heinemann.

4. Chen WPD: Concept of tri-
angular, rectangular and trapezoi-
dal debulking of eyelid tissues: ap-
plication in Asian blepharoplasty,
Plast Reconstr Surg 97(1):212-218,
1996.

5. Chen WPD: Eyelid and
eyelid skin diseases. In Lee D, Hig-
ginbotham E (eds): Clinical guide
to comprehensive ophthalmology,
New York, 1998, Thieme Medical.

6. Chen WPD: Oculoplastic
surgery: the essentials, New York,
2001, Thieme Medical.
Hình 5-12
Phẫu thuật tái điều chỉnh: hình ảnh
tiền phẫu của bệnh nhân B.
Hình 5-13
Phẫu thuật tái điều chỉnh: hình ảnh
hậu phẫu 2 tháng của bệnh nhân B.

Chương 5
67

7. Chen WPD, Khan JA, Mc-
Cord CD: Color atlas of cosmetic oc-
ulofacial surgery, Philadelphia, PA,
2004, Butterworth-Heinemann.

Chương 6: Kỹ thuật cố định cơ vòng -
cơ nâng
6.1 Tại sao phải dùng phẫu
thuật?

Mặc cho sự phổ biến của kĩ
thuật khâu mũi đơn, tác giả vẫn
ưa thích phẫu thuật này hơn. Khả
năng tạo ra nếp gấp mí vĩnh viễn
sẽ cao hơn. Ưu tiên của tác giả là
tránh phẫu thuật lặp lại và thời
gian phục hồi hậu phẫu nhanh.
Dù một số trường hợp xuất hiện
nếp gấp mí rõ và vùng da trước
sụn mi xếp chặt, nhưng thường thì
nếp gấp sẽ không khác biệt nhiều,
còn da trước sụn mi thì lỏng lẻo
và nhăn. Bằng phẫu thuật này, cụ
thể là dùng kĩ thuật cố định cơ
vòng mắt và cơ nâng mi, nếp gấp
trên sụn mi sẽ khác biệt hơn và
da trước sụn mi sẽ được kéo chặt,
nhất là khi bệnh nhân mở mắt.
Chiều cao của nếp gấp trên sụn mi
và độ chặt của da rất ít thay đổi
theo thời gian. Kết quả có thể dự
đoán được.
6.2 Tại sao phải cố định cơ vòng
– cơ nâng?

Do sự khởi đầu của phẫu
thuật mắt hai mí, tất cả các kĩ thuật
được phát triển dựa trên việc tạo
ra nếp gấp trên sụn mi bằng cách
cố định da trước sụn mi vào sụn mi
hoặc cơ nâng mi. Các biến thể của
kĩ thuật này tập trung vào phương
pháp tiếp cận, phẫu tích, loại bỏ
mô, hoặc dùng các đường khâu
khác nhau. Mục tiêu ngăn chặn tái
hồi kích thích sự phát triển của các
kĩ thuật mới qua các thập kỉ. Sử
dụng da làm điểm cố định trung
gian là một ý tưởng đơn giản và
trực tiếp. Điều duy nhất quan ngại
(cũng là một vấn đề nghiêm trọng)
đó là độ mỏng của da. Sự tái hồi
xảy ra do thiếu bề mặt tiếp xúc để
cố định. Thậm chí những đường
khâu vĩnh viễn chỉ là phương tiện
tạm thời giúp kết dính mô. Da mi
mắt độc đáo ở chỗ, chúng bám
chặt và lớp cơ vòng mắt bên dưới.
Sự chuyển động của cơ được phản
ánh rõ ràng qua bề mặt da. Cố
định cơ vòng mi mắt vào cơ nâng
mi cũng tương đương với việc cố
định da – cơ nâng. Lợi ích to lớn
nhất của việc sử dụng cơ làm điểm
cố định trung gian, đó là thể tích
lớn sẽ tạo ra bề mặt tiếp xúc lớn.
Bề mặt cố định rộng sẽ đảm bảo
một vết sẹo cố định chắc chắn, mà
kĩ thuật cố định da – cơ nâng mi
không thể đạt được (hình 6-1).
6
Jung I. Park

Chương 6
69
6.3 Tư vấn
Bệnh nhân được tư vấn về qui
trình phẫu thuật và mong muốn
hay nhu cầu phẫu thuật khóe mắt
trong (phẫu thuật nếp quạt). Kích
cỡ và hình dạng của nếp sẽ được
xác định. Tâm lý và thái độ khác
nhau nhiều giữa các bệnh nhân
tìm đến phẫu thuật hai mí. Mặc dù
một số bệnh nhân khá thẳng tính,
đặt nhiều câu hỏi và đưa ra các
yêu cầu cụ thể, số lại hoàn toàn tin
tưởng vào phẫu thuật viên. Không
tính đến việc tiếp cận bệnh nhân
thì bác sĩ cũng phải cố gằng tìm
hiểu mục tiêu cuối cùng của bệnh
nhân là gì. Điều này đặc biệt đúng
cho những người hoàn toàn phụ
thuộc vào quan điểm của bác sĩ, và
muốn có một kiểu mắt nhất định
nhưng dường như không có khái
niệm nào về kiểu mắt mình muốn.
Nếu mong muốn của họ không
được đem ra bàn luận toàn diện
trước phẫu thuật, những bệnh
nhân này có thể quay lại với rất
nhiều lời phàn nàn về kết quả hậu
phẫu.
6.4 Chăm sóc tiền phẫu

Bệnh nhân được yêu cầu
không sử dụng đồ trang điểm mắt
hoặc mặt. Aspirin và các thuốc
chống đông không được dùng
trong vòng 7 ngày trước khi phẫu
thuật. Bệnh nhân không nên dùng
thực phẩm hay nước uống trong
vòng 8 tiếng trước phẫu thuật và
không mang kính áp tròng.
6.5 Thuốc tiền mê

Alprazolam (1.5 – 2 mg),
propoxyphen napsylate và acet-
aminophen 100 mg/650 mg (1
viên) và kháng sinh phổ rộng,
uống 30 phút trước phẫu thuật.
Hình 6-1
Hình ảnh minh họa điểm tiếp xúc rộng giữa cơ nâng mi bị gấp và cơ
vòng mi mắt.

Kỹ thuật cố định cơ vòng - cơ nâng
70
sít sao và mi mắt bắt đầu bị kéo lên
(hình 6-3). Thước caliper sẽ đánh
dấu tại điểm này. Khoảng cách
trung bình khi đánh dấu nếp gấp
là 7 mm từ bờ mi. Chấm vài chấm
lên da mi mắt ở cùng một khoảng
cách và đi song song với bờ mi.
Giữ khoảng cách tương tự từ 1/3
trong tới khóe mắt ngoài (hình
6-4). Đường kẻ sẽ đi xuống về phía
góc trong, chỉ hơi gần với bờ sụn
mi. Đường kẻ góc trong đi cong
xuống, thậm chí cả khi nó được vẽ
song song với bờ mi. Điều này là
do da vùng này bị ép lại ở phần ba
trong của mi mắt. Qua thăm khám
cẩn thận vùng mi mắt, một đường
mờ nhưng nhìn thấy được, đi song
song với bờ mi ở khoảng cách của
đường vẽ. Thông thường, tác giả vẽ
một đường đi dọc hoặc song song
với đường tự nhiên này, có thể là
một đường gấp nếp trên sụn mi
chưa tạo thành đầy đủ (hình 6-5, A
và B). Đường kẻ dừng lại ở khoảng
6.6 Đánh dấu

Vẽ đường đánh dấu khi
bệnh nhân ngồi thẳng đối diện
gương. Sử dụng bút đánh dấu y
khoa có đầu cực mảnh; thậm chí
loại bút đánh dấu đầu mảnh nhất
cũng có thể vẽ nên đường kẻ quá
rộng so với nhu cầu. Mực xanh
methylene có thể lan ra các nếp
nhăn và khó xóa một khi đã vẽ.
Trong khi bệnh nhân đang ngồi
thẳng trên ghế và mở mắt nhìn
thẳng trực diện, vùng da mi nằm
trước sụn mi được nhấn lên phía
lên bằng que nhọn đầu cotton, tạo
nên nếp gấp hai mí (hình 6-2).
Kích thước phù hợp được xác định
sau vài lần thử. Tiếp theo, bệnh
nhân được yêu cầu nhắm mắt, và
điểm mà que nhấn ấn vào mi mắt
của bệnh nhân được đánh dấu lại.
Khoảng cách từ bờ mi đến điểm
đánh dấu được đo bằng thước cặp
caliper trong khi cung mày được
nâng lên tới khi da mi mắt trở nên
Hình 6-2
Nếp gấp hai mí được tạo bởi que
nhấn đầu cotton.
Hình 6-3
Đo và đánh dấu bằng cách kéo mi
mắt

Chương 6
71
gấp mắt hai mí. Một nếp gấp nhỏ
hơn trông sẽ hấp dẫn hơn trên
người có đôi mắt nhỏ. Một nếp gấp
lớn trên một đôi mắt nhỏ sẽ kh-
iến đôi mắt không tự nhiên và sẽ
có dáng vẻ “Mông Cổ”. Bệnh nhân
nên được khuyên tránh khỏi việc
cách 3 – 4 mm tính từ khóe mắt
trong. Khi thực hiện phẫu thuật
khóe mắt trong, đường kẻ sẽ đi
song song với bờ mi và thậm chí có
thể vượt qua mức khóe mắt trong.
Theo một cách nào đó, kích cỡ của
khe mi phản ánh kích cỡ của nếp
Hình 6-4
A, Mặc dù đường rạch được vẽ song song với đường bờ mi, nhưng có như
đường rạch thon về phía góc trong và góc ngoài của bờ mi, do kết quả của
nhão da.
B, Đường đánh dấu chạy song song bờ mi ở khoảng cách xấp xỉ 2 mm.
Hình 6-5
A, Đường sơ khởi của nếp trên sụn mi thường thấy ở bệnh nhân mắt một mí.
Đường rạch được đánh dấu trên hoặc song song với đường này.
B, Minh họa đường sơ khởi.

Kỹ thuật cố định cơ vòng - cơ nâng
72
mong muốn những kết quả như
vậy. Bệnh nhân có mắt to nhìn sẽ tự
nhiên và hấp dẫn hơn với nếp gấp
lớn. Da thừa thay đổi nhiều giữa
các bệnh nhân ở cùng một nhóm
tuổi. Một người có da trước sụn mi
dày mỡ sẽ không tạo được lõm da
thích hợp và nếp gấp mí. Lông mi
có thể cuộn lên và thấy được bờ
sụn mi màu đỏ khi phẫu thuật viên
muốn tạo nếp gấp gần lông mi.
Nhóm bệnh nhân này có nguy cơ
tái hồi cao hơn. Dù kết quả thẩm
mĩ có thể không lí tưởng, đường kẻ
rạch da có thể phải cao hơn thông
thường nếu những bệnh nhân này
muốn tạo nếp gấp vĩnh viễn. Với
bệnh nhân có da thừa lỏng lẻo, cắt
lọc bảo tồn một mảng da hình ê-lip
là điều cần thiết (hình 6-6, A và B).
6.7 Gây tê

Dung dịch lidocain 2% và
epinephrine 1:100,000 pha trong
dung dịch đệm natri carbonate ở
tỉ lệ 1:10 và được tiêm qua kim
30G, dài 1 inch. Dung dịch được
tiêm vào 2 lớp. Lớp đầu tiên là tấm
hạ bì. Tiêm lượng ít nhất có thể
để hạn chế kéo lệch cấu trúc giải
phẫu và nguy cơ gây mất cân xứng.
Lớp thứ hai được tiêm là qua cơ
vòng mi mắt. Một lượng nhiều hơn
có thể được dùng. Khoảng 1.5 ml
dung dịch dùng cho mỗi mi mắt.
Nếu tiêm vào cơ nâng mi có thể
gây sụp mi. Tình trạng sụp mi mắt
sẽ gây phức tạp cho việc xác định
sự cân xứng của bờ sụn mi mí mắt
trên sau khi hoàn thành các đường
khâu. Lớp mỡ có thể được tiêm
nếu cần, nhưng chỉ khi đã tách biệt
phần mỡ hoàn toàn.
6.8 Dụng cụ

Bao gồm thước cặp caliper,
kẹp kéo da rộng, kéo đồng tử và
forceps, dao điện lưỡng cực, và
tấm chắn mắt (hình 6-7).
6.9 Phẫu tích
Đường rạch da được thực hiện
dọc theo đường kẻ bằng dao Bard
Parker #15. Laser CO2 sóng liên
Hình 6-6
A, Chỉ rạch da mí mắt có mô thừa nhiều.
B, Góc nhìn mắt mở.

Chương 6
73
tục hoặc dao điện đầu kim được
dùng để phẫu thuật qua lớp mô
dưới da và cơ vòng mi mắt (hình
6-8, A và B). Vách ngăn ổ mắt đã
bóc tách sẽ được cắt bởi kéo hay
dao điện đầu kim trong khi vẫn
được kéo căng bằng kẹp kéo da và
forceps (hình 6-8, C và D). Từ đó
tạo ra một vùng hở. Vùng mô liên
kết lỏng lẻo và lớp cơ nâng mi sáng
bóng có thể thấy được qua vùng hở
(hình 6-8, E). Trong khi vách ngăn
vẫn được kéo chặt, khoảng mô lỏng
lẻo trước gân cơ nâng mi được
bóc tách rộng, và vách ngăn ổ mắt
được chia ra phần trong và phần
ngoài bằng kéo bộc lộ cơ nâng mi
và khoang mỡ trước gân cơ nâng
mi (hình 6-8, F tới H). Trong đa số
các ca, cơ nâng mi được xác định
nằm dưới khoang mỡ ngay khi
vừa phân chia vách ổ mắt. Khoang
mỡ được bọc bởi một lớp màng
film mỏng, trong suốt (hình 6-8,
I). Với bệnh nhân có ít mỡ trước
cơ nâng mi, việc mở khoang mỡ
là an toàn để tìm cơ nâng bằng
cách kéo lớp mỡ. Xác định đúng
cơ nâng mi bằng cách kẹp cơ với
forceps và yêu cầu bệnh nhân cố
gắng mở mắt. Bệnh nhân sẽ không
thể mở mắt khi cơ đang bị kẹp; nói
cách khác, kẹp màng ngăn ổ mắt sẽ
không ngăn được bệnh nhân mở
mắt. Nếu phẫu thuật viên xác định
nhầm màng ngăn ổ mắt là cơ nâng
mi, việc khâu cố định sẽ được thực
hiện giữa cơ vòng mi mắt và màng
ngăn ổ mắt. Trong trường hợp đó,
nếp gấp trên sụn mi sẽ không hoàn
thiện và xảy ra tái hồi. Phân chia
màng ngăn ở mắt dưới dưới điểm
hợp nhất của nó sẽ là một tai họa.
Bởi vì không có màng ngăn ổ mắt
tự do bên dưới điểm hợp nhất,
nên phẫu thuật viên thực sự đang
cắt đi cơ nâng mi ở mức dưới, và
gây nên sụp mi (hình 6-9).
Hình 6-7
Dụng cụ dùng trong kĩ thuật.

Kỹ thuật cố định cơ vòng - cơ nâng
74
Hình 6-8
A, Tạo đường rạch da. Thấy rõ các sợi cơ.
B, Phân tách các bó cơ.
C, Kéo cơ và bộc lộ vách ngăn. Vách ngăn ổ mắt được phân định rõ với cơ nâng
mi do sự bám dính của nó vào cơ vòng mí mắt và thiếu vẻ sáng bóng trên bề
mặt như cơ nâng mi.
D, Xâm nhập vách ngăn ổ mắt bằng đầu kéo hay đầu dao điện. Mí trên được kéo
chặt về phía trước và kéo xuống dưới nhẹ nhàng bằng forceps để tạo kháng lực
làm căng vách ngăn ổ mắt.
E, Tạo một cửa sổ phẫu thuật qua vách ngăn. Khoang trống trước cơ nâng được
tạo bởi lực kéo phù hợp.
F, Khoang trước cơ nâng được mở rộng về góc trong và góc ngoài.

Chương 6
75
Hình 6-8 (tiếp)
G, Tách góc trong vách ngăn ổ mắt.
H, Tách góc ngoài vách ngăn ổ mắt.
I, Cơ nâng mi (trắng sáng) và mỡ
trước cơ nâng (nằm trong một kho-
ang mỏng, xuyên thấu) được bộc lộ.
Hình 6-9
Cơ nâng mi có thể bị vô ý cắt
đứt nếu nhầm lẫn với vách
ngăn ổ mắt. Sai lầm này có thể
xảy ra trên có điểm hợp nhất
vách ngăn-cơ nâng cao. Do
đó, cách an toàn nhất là phân
tách vách ngăn ở vị trí cao hơn
và xác định vùng mỡ trước cơ
nâng nằm sau vách ngăn ổ mắt
bằng cách ấn nhẹ nhãn cầu để
quan sát lớp mỡ đùn lên.

Kỹ thuật cố định cơ vòng - cơ nâng
76
6.10 Cố định cơ vòng trước sụn
mi – cơ nâng mi

Khi đã rạch da, một vạt cơ
vòng mi rộng 3 – 4 mm được bộc lộ
giữa hai rìa da trên và dưới (hình
6-8, A). Đường rạch cơ sẽ cách bờ
rì da phía dưới khoảng 2-3 mm.
Giới hạn này của phần cơ vòng
trước sụn mi sẽ được dùng để cố
định (hình 6-10, A và B). Dùng chỉ
nylon 6-0 trong suốt đính vào kim
P-3. Đầu tiên, kim đi xuyên qua cơ
từ mặt dưới và thoát ra tại rìa của
đường rạch da phía dưới (hình
6-11, A). Một phần nhỏ lớp bì được
lấy ra khỏi đường kim đi. Kế đó,
giữ cơ nâng mi bằng forceps và kẹp
khoảng 5-10 mm phía trên bờ trên
của cơ vòng trước sụn mi. Một kim
tương tự đi qua lớp gân cơ nâng
mi uốn nếp từ mặt trên và thoát ra
qua mặt dưới (hình 6-11, B). Sau
khi buộc mối chỉ, cơ sẽ được kéo
từ từ lên trên. Khi cơ được kéo,
phần da trước sun mi cũng được
kéo căng như lớp cơ. Chỉ buộc vừa
đủ chặt để giữ phần cơ nâng mi.
Phẫu thuật viên nên kềm lại không
kẹp mô qua việc siết chỉ; buộc quá
chặt sẽ làm cắt ngang mô và giảm
tuổi thọ của vết cố định. Khi phần
da trước sụn mi được kéo hướng
lên trên, lông mi sẽ được nhìn thấy
dựng đứng từ vị trí hướng xuống
thông thường. Khâu cố định vửa
đủ chặt để đạt được sự khác biệt
này. Nếu cơ bị kéo quá mức do siết
quá chặt hay quá cao phần cơ nâng
mi, lông mi sẽ lật ngược lên và lộ ra
phần da niêm bờ sụn mi màu đỏ.
Đường khâu đầu tiên đặt ở mức
giữa đồng tử; đường khâu này
định ra điểm cuối của bờ sụn mi
mí mắt trên. Phương pháp cố định
này thường nâng cao bờ sụn mi
mí mắt trên, dẫn tới rộng khoảng
cách hai mi mắt (hình 6-12, A và
B). Dù kĩ thuật này đem lại đôi
mắt to thu hút, việc cố định không
chính xác giữa hai mắt sẽ gây mất
cân xứng. Và với bất kì kĩ thuật nào
thì sự chính xác là thiết yếu. Nhiều
đường khâu cố định được đặt
mỗi bên của đường khâu ban đầu
với khoảng cách ½ đường khâu.
Đường khâu cuối nằm ở 1 cm góc
trong so với đầu ngoài của đường
rạch. Đường khâu này hỗ trợ lực
nâng cần thiết góc ngoài cho da
trước sụn mi, giúp giữ khoảng
cách song song giữa bờ sụn mi và
nếp mắt hai mí (hình 6-11, C và D).
Thiếu đường khâu ở đầu trong vết
rạch da sẽ tạo đường cong xuống
tự nhiên của nếp gấp mắt hai mí
tại khóe mắt trong. Nếu bệnh
nhân muốn một nếp gấp hai mí
song song suốt toàn bộ chiều dài
mắt tương tư như mắt người da
trắng, thì đường khâu cố định sẽ
được hoàn tất tại khóe mắt trong,
ngoài phẫu thuật khóe mắt trong
hình chữ Z (hình 6-11, E và F). Sau
khi hoàn tất đường khâu cố định,
các rìa da sẽ xấp xỉ nhau, dù chưa
khâu đóng da (hình 6-11, G và H).
Sau đó, da được khâu đóng với chỉ
tan nhanh 6-0 hay chỉ nylon đen
6-0 theo kiểu khâu dưới da liên
tục. Đường khâu dưới da liên tục

Chương 6
77
dùng ở một số ca sẽ ngăn tụ máu
thứ phát do kim đâm xuyên qua
mạng mao mạch phong phú dưới
da thường gặp ở mí mắt trên của
người châu Á.
Hình 6-10
A, Lớp đệm cơ vòng trước sụn mi sẵn sàng để cố định.
B, Dùng forceps kéo cơ vòng mi mắt, và bộc lộ cơ nâng mi.

Kỹ thuật cố định cơ vòng - cơ nâng
78
Hình 6-11
A, Kim khâu đi xuyên bề dày của lớp dệm cơ vòng trước sụn mi.
B, Sau đó kim đi xuyên cơ nâng mi, khâu môt lượng mô lớn bằng cách ôm cơ
nâng mi (không thấy được). Kim đi lên nếu khâu cơ nâng mi trước, và đi xuống
nếu khâu cơ vòng trước.
C, Kim đi qua lớp đệm cơ phía ngoài.
D, Cơ nâng mi khác biệt ở góc ngoài.
E, Cơ nâng mi nằm sâu và không định rõ hình ở phần trong. Cần thiết khâu mô
dày qua lớp mô sợi-mỡ góc trong.
F, Kim đi xuyên lớp đệm cơ góc trong.
G, Hoàn tất cố định cơ nâng-cơ vòng. Đồng thời thực hiện phẫu thuật khóe mắt
trong tạo hình chữ Z. Thực hiện đường rạch da chưa khâu.
H, Góc nhìn mắt mở rộng.

Chương 6
79
Hình 6-12
A, Tiền phẫu.
B, Giấu nấp hai mí, nhưng mắt mở to hơn do kết quả cố định cơ nâng.
6.11 Chăm sóc hậu phẫu

Chườm túi đá lên mắt ngay
sau khi phẫu thuật. Chườm tiếp
tục túi đá trong vòng 2 ngày, với
thời gian 30 phút chườm, 30 phút
nghỉ khi bệnh nhân đang thức đạt
được nhiều lợi ích. Dù rằng nhiễm
trùng hiếm khi là vấn đề gặp phải
trong thủ thuật này, việc bôi thuốc
mỡ vào vết mổ và dùng kháng sinh
phòng ngừa trong 2 ngày cũng
được cho phép. Bệnh nhân được
tắm sau 2 ngày. Nếu bệnh nhân
sống ở khu vực lân cận bệnh viện,
thì tái khám định kì mỗi tuần theo
lịch.
6.12 Hồi phục

Hồi phục nhanh và không
gặp nhiều vấn đề. Mặc dù sưng
phù có thể thấy rõ trong vòng 2
tuần đầu, nhưng vẻ ngoài tự nhiên
sẽ được hồi phục nhanh, nhất là ở
những bệnh nhân trẻ. Bệnh nhân
có thể quay lại công việc trong
vòng 2 ngày, mang theo mắt kính.
Cử động mắt quá sức được phép
thực hiện sau 2 tuần.
6.13 Ca lâm sàng

Hình dạng da trước sụn mi
thay đổi về chiều rộng (do chiều
cao của nếp gấp), phụ thuộc vào
độ cao của nếp gấp trên sụn mi và
tính lỏng lẻo của da che phủ trước
sụn mi (hình 6-13). Cố định chắc
sẽ đưa đến kết quả khác nhau về
độ cao của nếp gấp trên sụn mi,
thậm chí khi đường rạch da đặt ở
cùng khoảng cách tính từ bờ mi.
Khi khâu chặt, vùng da trước sụn
mi sẽ mềm và mỏng. Mắt hai mí có
thể được tạo ra mà không cần chú
ý vùng da trước sụn mi, hoặc nó có
thể cao như mong muốn của bệnh
nhân (hình 6-12 và 6-14). Việc loại
bỏ mô mỡ thừa, cơ, hoặc cả hai sẽ
gây nấp gấp ẩn hoặc vết lõm phía
trên nếp gấp (hình 6-15, A và B).
Phẫu thuật mắt hai mí thường hạ
thấp vị trí lông mày bằng cách loại
bỏ đi nhu cầu nhướng mày bù trừ
(hình 6-16, A và B). Lợi ích lớn
nhất của kĩ thuật cố định cơ vòng -

Kỹ thuật cố định cơ vòng - cơ nâng
80
cơ nâng đó là sự chắc chắn của da
trước sụn mi và tuổi thọ của mối
cố định (hình 6-17, A và B).
Hình 6-13
Nếp trên sụn mi là vị trí cố định; khi mắt mở, một nếp gấp đôi được tạo thành.
Phần mi mắt trước sụn mi được bộ lộ khi mắt mở sẽ tạo nên hình ảnh vùng
trước sụn mi. Mức độ của vùng trước sụn mi còn được mô tả là chiều cao nếp
gấp mí đôi.
Hình 6-14
A, Tiền phẫu.
B, Chiều cao trung bình của nếp gấp hai mí.

Chương 6
81
Hình 6-15
A, Tiền phẫu.
B, Loại bỏ tích cực mô mỡ tạo nếp gấp phụ ở mắt trái.
Hình 6-16
A, Hình ảnh tiền phẫu cho thấy vị trí cung mày cao, kết quả của tình trạng
không chú ý nâng lớp da lỏng lẻo mí mắt trên để nhìn rõ.
B, Hình ảnh hậu phẫu cho thấy vị trí cung mày thấp do không có nhu cầu nâng
cung mày bù trừ.

Kỹ thuật cố định cơ vòng - cơ nâng
82
Hình 6-17
A, Hình ảnh tiền phẫu cố định cơ vòng-cơ nâng.
B, Hình ảnh hậu phẫu sau 5 năm cho thấy vùng da trước sụn mi xếp chặt và rõ
ràng, cùng với nếp gấp mí đôi được bảo tồn tốt.
Tài liệu tham khảo

1. Fernandez LR: Double eye-
lid operation in the Oriental in Ha-
waii, Plast Reconstr Surg 25:257-
264, 1960.

2. Moutou Y, Moutou H: In-
tradermal double eyelid operation
and its follow-up results, Br J Plast
Surg 25:285, 1972.

3. Weingarten CZ: Blepha-
roplasty in the oriental eye, Tram
Acad Ophth Otol 82:442, 1976.

4. Matsunaga RS: Westerni-
zation of the Asian eyelid, Arch Oto-
laryngol 111:149, 1985.

5. Hiraga Y: Blepharoplas-
ty in orientals. Problems in plastic
and reconstructive surgery, JOUR-
NAL TITLE 1:504, 1991.

6. Chen WPD: Revision and
correction of suboptimal results.
In Chen WPD, ed: Asian blepharo-
plasty, Newton, MA, 1995, Butter-
worth-Heinemann, p 84.

7. Lee JS: Simplified anatom-
ic method of double-eyelid oper-
ation: septodermal fixation tech-
nique, Plast Reconstr Surg 100:170,
1997.

8. Park JI: Orbicularis-leva-
tor fixation in double-eyelid opera-
tion, Arch Facial Plast Surg 1(Apr-
June):90-95, 1999.

9. Park JI: Z-epicanthoplas-
ty in Asian eyelids, Plast Reconstr
Surg 98:602, 1996.

10. Park JI: Modified Z-epi-
canthoplasty in the Asian eyelid,
Arch Facial Plast Surg 2:43, 2000.

Chương 7: Tạo mi đôi trên bệnh nhân
lớn tuổi

Những vấn đề cần lưu tâm
trên bệnh nhân lớn tuổi bao gồm
thừa da mí mắt trên và sụp mày.
Những bệnh nhân không có mí
đôi thường muốn thực hiện phẫu
thuật ngay. Hiển nhiên là phần da
thừa cần được loại bỏ để bọc lộ
nếp gấp mí đôi mới. Ngoài ra, da
thừa sẽ rũ xuống và che lấp kết
quả phẫu thuật mí mắt. Da mí
trên và cơ vòng mỏng hơn ở vùng
trước sụn mi và dày hơn khi đi về
phía cung mày. Nếp gấp mắt hai mí
được tạo bởi lớp da mỏng sẽ tinh
tế và ưa nhìn. Không may, việc loại
bỏ da thừa trong quá trình phẫu
thuật lại phải đụng chạm đến phần
da mỏng trước sụn mi này. Phần
da và cơ còn lại phía trên đường
rạch thì dày hơn. Nếp gấp hai mí
được tạo bởi lớp mô dày còn lại
này có thể trông như phù và không
tự nhiên (hình 7-1, A và B). Nếp
gấp dày cộm này không phải là kết
quả của phù tạm thời, mà là vĩnh
viễn do bề dày của mô. Sụp mày sẽ
tăng thêm rắc rối do làm mí trên
trông dày thêm. Mặc dù tình trạng
sụp mày trên người da trắng sẽ tạo
hình ảnh che phủ lên mắt trũng,
nhưng nó lại làm cho mắt người
châu Á trông dầy hơn. Một kiểu
phàn nàn chung sau mỗi đợt phẫu
thuật mí mắt trên bệnh nhân lớn
tuổi, đó là đôi mắt trông đầy hơn.
Bệnh nhân đổ lỗi cho phẫu thuật
viên vì không lấy đi hết phần mỡ.
Khi phẫu thuật viên ra sức lấy đi
mô da và mỡ thừa, kết quả sẽ là
một hố mắt trũng sâu không ưa
nhìn và không thể tái tạo. Hố mắt
trũng là một trong những kết quả
không thể chấp nhận được của
phẫu thuật mí mắt người châu
Á khi áp dụng phương pháp của
Tây phương (hình 7-2). Vùng da
thừa ở vành đai ngoài ổ mắt và vết
chân chim nên được chú ý. Đường
rạch da nên kéo dài tới vành đai
ổ mắt. Không xử lý da thừa vùng
này sẽ tạo đôi mắt tròn có dáng vẻ
đang “ngạc nhiên”. Lý tưởng nhất
là phẫu thuật viên nên thực hiện
nâng trán để chỉnh sụp mày và loại
trừ da thừa, sau đó thực hiện phẫu
thuật mí đôi và có thể loại trừ một
phần nhỏ da thừa. Tuy nhiên, phần
lớn bệnh nhân từ chối quy trình
phẫu thuật công phu và tốn kém
này.
7
Jung I. Park

Tạo mi đôi trên bệnh nhân lớn tuổi
84
Hình 7-1 Phẫu thuật mí mắt trên bệnh nhân châu Á lớn tuổi.
A, Tiền phẫu.
B, Hậu phẫu 1 năm. Dù có nếp gấp mí được tạo hình tốt, nhưng vẫn tồn tại hình
ảnh đầy mắt không tự nhiên.
Hình 7-2
Mắt trũng sau phẫu thuật mí mắt
dựa trên các nguyên tắc phẫu thuật
cho người da trắng.
Hình 7-3
Mô phỏng nâng cung mày cho thấy
tác động lợi ích của việc làm mỏng
nếp gấp hai mí và làm rộng vùng
trước sụn mi.
7.1 Tư vấn

Nâng trán được khuyến
cáo dùng trên bệnh nhân lớn tuổi
muốn tạo mắt hai mí, loại trừ da
thừa, hoặc cả hai. Lợi ích của phẫu
thuật biểu hiện rõ nhất khi cho
bệnh nhân ngồi thẳng nhìn vào
gương và xem những thay đổi xảy
ra khi phẫu thuật viên mô phỏng
kết quả nâng trán bằng cách nâng
cung mày (hình 7-3, A và B). Phẫu
thuật viên nên nhấn mạnh nguy cơ
sưng phù kéo dài, và tình trạng dầy
vĩnh viễn vùng mí mắt sau phẫu
thuật. Bệnh nhân thường đã quen
với kết quả mong đợi do quen
thuộc với phẫu thuật tương tự. Họ
thường yêu cầu loại bỏ mỡ ổ mắt
để làm mất độ dày của đôi mắt. Độ
dày này thường chủ yếu là do lớp
mỡ mí trên. Loại bỏ mỡ trước gân
cơ nâng mi sẽ làm mí trên có dáng
vẻ trầm buồn, nếp gấp nhấn sâu,
hoặc mắt trũng. Điều thiết yếu là
giúp bệnh nhân hiểu những biến
chứng này trước khi thực hiện
phẫu thuật.

Chương 7
85
7.2 Chăm sóc tiền phẫu, Thuốc
tiền mê và Gây tê

Xem thêm chương 6
7.3 Quy trình phẫu thuật
7.3.1 Bệnh nhân mắt môt mí hoặc
nếp gấp trên sụn mi kém

Bệnh nhân được đánh dấu
khi ngồi thẳng nhắm mắt. Lông
mày được nâng nhẹ bằng ngón cái
tay trái cho tới khi lông mi trên bắt
đầu nhếch lên. Thước cặp caliper
được dùng để đo khoảng 7 mm
từ đường lông mi, và dùng bút
đánh dấu dầu cực nhỏ chấm một
điểm lên mí trên, nằm tại đường đi
qua giữa đồng tử. Kế đó, hai điểm
phụ cách 7 mm cũng được đánh
dấu. Một điểm nằm gần khóe mắt
trong, và điểm còn lại nằm gần
khóe mắt ngoài. 3 điểm này được
nối lại thành một đường cong đi
song song với bờ sụn mi (hình
7-4). Ở đầu ngoài, đường này sẽ đi
tiếp theo hướng cong lên theo một
nếp nhăn. Việc kéo dài này sẽ đi xa
đủ mức để chứa một túi da vùng
ổ mắt ngoài (hình 7-5). Tiếp theo,
yêu cầu bệnh nhân mở mắt nhìn
thẳng trong khi lông khi quay về
trạng thái thư giãn thông thường.
Chiều cao của nếp gấp hai mí
được xác định bằng việc đánh dấu
đường rạch da 2-3 mm phía trên
bờ mi (hình 7-6). Đánh dấu đường
rạch trên cũng tương đồng, hoặc
Hình 7-5
Kéo dài đường rạch dưới về phía
ngoài, đi theo vết chân chim tới vành
đai ngoài ổ mắt.
Hình 7-4
Đường rạch dưới cách bờ mi 7 mm.
Điều này cần thiết cho kĩ thuật cố
định cơ vòng - cơ nâng vì nó có xu
hướng tạo vùng cố định sâu và làm
rộng da trước sụn mi. Sẹo mổ cũ thấy
được ở vị trí cao hơn. Khoảng cách từ
cung mày cho đến vị trí đánh dấu dự
kiến của đường rạch trên là khoảng 1
cm. Xem hình 7-6 để xác định đường
rạch trên.

Tạo mi đôi trên bệnh nhân lớn tuổi
86
thậm chí quan trọng hơn chiều cao
của đường rạch dưới. Để tạo nếp
gấp hai mí cao hơn và có vùng da
trước sụn mi rộng hơn, các chấm
sẽ cách đường kẻ mi 3-4 mm. Một
chuỗi các chấm được đánh dấu
đồng khoảng cách và song song
với đường mi mắt. Những chấm
này liên kết lại thành một đường
rạch mí trên (hình 7-7). Yêu cầu
bệnh nhân nhắm mắt lại, lông mày
được nâng lên, vẽ một đường kéo
dài về phía góc trong và góc ngoài
để gặp đường rạch dưới. Thường
thì da thừa nhiều ở phía ngoài ổ
mắt, nhưng ít lại ở gần khóe mắt
trong. Do đó, vùng đảo da hình
ê-lip sẽ hẹp và được vẽ thon lại
về góc trong nhưng rộng ở vành
đai ngoài ổ mắt (hình 7-8, A và
B). Một lượng da tương đương
thường sẽ được cắt lọc ở hai bên.
Việc đánh dấu trên mắt còn lại sẽ
được thực hiện với thước cặp cal-
iper khi bệnh nhân nằm tư thế
ngửa trên bàn phẫu thuật, giúp
cho các đường rạch cân xứng nhất
có thể. Tuy nhiên, khi một mí mắt
cần được cắt nhiều hơn, hoặc vị
trí cung mày giữa hai mắt không
tương đồng, thì việc đánh dấu trên
mắt còn lại sẽ được thực hiện tốt
nhất khi bệnh nhân ngồi thẳng.
Chiều cao mí trên giữa cung mày
và đường bờ mi có thể khác nhau
giửa hai mắt. Sự khác biệt này có
thể là kết quả do cắt lọc da mí mắt
không đều từ các lần phẫu thuật
trước, do khác biệt bẩm sinh, hoặc
trạng thái thư giãn hai mắt khác
nhau do lão hóa. Thông thường
thì việc đạt được sự cân xứng sẽ
được đảm bảo hơn nhờ việc đo
đạc khoảng cách giữa cung mày và
đường rạch trên (hình 7-4 và 7-9).
Da thừa của vết chân chim nhiều
và cần cắt tích cực hơn. Kéo dài
đường kẻ về phía ngoài sẽ được
tính toán để loại trừ tình trạng che
phủ nhiều nhất có thể. Cắt lọc tích
Hình 7-6
Đường rạch trên được đánh dấu khi
mở mắt nhìn thẳng. Đường này cách
2-3 mm trên bờ mi.
Hình 7-7
Đường rạch trên chạy song song với
đường bờ mi khi mở mắt.

Chương 7
87
cực da mí mắt vùng này được phép
thực hiện vì nguy cơ tiến triển tật
lộn mi hay hở mi không phải là vấn
đề. Cắt lọc tích cực sẽ loại trừ một
số vết chân chim và ngăn ngừa
hiệu ứng mắt tròn khó nhìn thứ
phát từ sự hạ thấp của nếp gấp hai
mí phía góc ngoài.

Dùng que nhấn đầu cotton
nhấn nhẹ đường rạch phía dưới.
Da được kéo lên và gấp lại bằng
đầu que (hình 7-10, A). Vị trí của
que nhấn được làm dấu trên bề
mặt nếp. Điểm này trở thành vị trí
đường rạch trên. Kế đó nối điểm
này với đường rạch trên của mí
trên và đầu ngoài của đường rạch
dưới. Kĩ thuật kẹp cũng được dùng
an toàn tại vùng này (hình 7-10,
B). Vị trí cung mày ở một số bệnh
nhân thì đối xứng khi thư giãn
nhưng bất xứng khi hoạt động
(hình 7-11, A và B). Khi cắt lọc da
dựa trên tính toán lúc bệnh nhân
thư giãn tiền mê, cả bệnh nhân và
phẫu thuật viên có thể sẽ bối rối
khi xuất hiện bất xứng ở những
lần tái khám kế tiếp. Tình trạng
này có thể ngăn ngừa được nhờ
phát hiện tiền phẫu và hướng dẫn
bệnh nhân về khả năng bất xứng
do động học. Phẫu thuật viên sẽ
cho bệnh nhân lựa chọn cân xứng
khi đang thư giãn hay đang hoạt
động. bệnh nhân có da dày cần cắt
lọc da ít hơn để tối thiểu hóa tình
Hình 7-9
Đường rạch trên được đánh dấu 12.5
cm từ đường bờ mi. Tính toán để giữ
cân xứng về khoảng cách giữa cung
mày và đường rạch.
Hình 7-8 Đường cắt da - cơ hẹp, được vuốt nhọn ở góc trong và rộng ở vành
đai ổ mắt.
A, Khi mắt mở.
B, Khi mắt nhắm.

Tạo mi đôi trên bệnh nhân lớn tuổi
88
trạng đầy mắt (hình 7-12, A tới C).
Rửa mặt bằng xà phòng Phisohex
và làm sạch toàn diện bằng nước
trước khi đánh dấu. Nhất thiết
phải đánh dấu sau khi đã rửa sạch
xà phòng và trước khi tiêm gây tê;
hầu như không khả thi khi muốn
giữ tính cân xứng một khi đã làm
mất dấu sau khi tiêm gây tê. Dung
dịch lidocaine 2% và epinephrine
1:100,000 được tiêm dưới da.
Rạch da dọc theo đường kẻ. Đảo
da-cơ được cắt bỏ (hình 7-13, A).
Cắt lọc mô mỡ bị sụp vùng mày
nếu cần (hình 7-13, B). Phân chia
màng ngăn ổ mắt (hình 7-13, C tới
E). Xác định cơ nâng mi (hình 7-13,
F). Nếp gấp trên sụn mi được tạo
bằng cách cố định cơ vòng trước
sụn mi vào cơ nâng mi như cách
đã mô tả trong chương 6. Đóng da
bằng chỉ khâu nylon đen 6-0 hay
chỉ gut tiêu nhanh 6-0 theo đường
khâu liên tục dưới da (hình 7-13,
G).
Hình 7-10
A, Mức độ cắt lọc da - cơ góc ngoài được xác định bằng que nhấn đầu cot-
ton.
B, Kĩ thuật véo.
Hình 7-11
Cung mày cân xứng khi nhắm mắt (A) và trở nên bất xứng khi nhướn mày.

Chương 7
89
Hình 7-12
A, Hình ảnh tiền phẫu dày da mí mắt.
B, Cắt lọc bảo tồn da.
C, Bệnh nhân dày da thường tạo nếp
gấp dầy. Cắt bảo tồn da làm giảm sự
dầy.
Hình 7-13 (tiếp theo)
A, Cắt lọc cụm da - cơ.
B, Loại bỏ phần mỡ ở cung mày bị
sụp.
C, Kẹp vách ngăn ổ mắt bằng kéo.
Kéo căng vách ngăn hướng lên và
tách dính khỏi mô mỡ và cơ nâng bên
dưới.

Tạo mi đôi trên bệnh nhân lớn tuổi
90
Hình 7-13 (hết)
D, Cửa sổ vách ngăn được hình thành.
E, Cắt vách ngăn qua cửa sổ vách ngăn.
F, Toàn cảnh mỡ vách ngăn và cơ nâng mi.
G, Hoàn tất việc cố định cơ vòng - cơ nâng. Các đường rạch
nằm trong vị trí kề nhau mà không khâu da.
7.3.2 Bệnh nhân có nếp gấp trên
sụn mi rõ

Đường rach dưới được đánh
dấu dọc theo nếp gấp trên sụn mi
có sẵn. Nhìn chung, cách đánh dấu
tương tự được áp dụng cho đường
rạch trên, cách khoảng 2-3 mm
trên bờ mi trong khi bệnh nhân mở
mắt nhìn thẳng. Tuy nhiên, khoảng
cách này thay đổi tùy theo độ khít
của nếp gấp trên sụn mi. Bệnh
nhân có nếp mí đôi tự nhiên có xu
hướng có nếp gấp trên sụn mi cao
và chắc hơn. Đánh dấu đường rạch
trên ở khoảng cách 1-2 mm trên bờ
mi trên những bệnh nhân có mong
muốn tạo được nếp gấp hai mí giữ
nguyên chiều rộng. Ở bệnh nhân
có nếp gấp hai mí nhờ phẫu thuật,
đường rạch bảo tồn được lựa chọn
nếu nếp gấp được cố định cao và
chắc, tương tự như bệnh nhân có
nếp gấp tự nhiên. Nếp gấp trên
sụn mi mới và chặt hơn là điều
cần thiết ở những bệnh nhân có
phẫu thuật mắt hai mi trước đây,
nhưng nếp gấp trên sụn mi được
cố định lỏng lẻo, không chắc. Đánh
dấu tương tự như những bệnh
nhân không có nếp hai mí trước

Chương 7
91
đó. Mặc dù đường rạch cách bờ mi
1-3 mm khi mắt nhìn thẳng có vẻ
không đặc biệt, nhưng một lượng
da khá rộng có thể được loại bỏ
(hình 7-8, A và B). Lượng da cắt bỏ
này nhìn chung vẫn còn kém xa so
với bệnh nhân da trắng khi dùng kĩ
thuật pinch. Đường rạch dưới nên
được làm cẩn thận ở những bệnh
nhân đã có phẫu thuật mắt trước
đó. Cố định da – cơ nâng mi có thể
vô tình bị cắt đứt trong quá trình
rạch da vùng nếp gấp trên sụn mi.
Gần như không xảy ra tình huống
này ở mí mắt có nếp gấp hai mí tự
nhiên vì vùng đính rộng giữa da
trước sụn mi và cơ nâng mi. Khi sự
liên kết bị cắt đứt, phẫu thuật viên
sẽ thấy mí mắt rũ xuống trong quá
trình phẫu thuật. Lúc này, khó mà
xác định sụp mi thật sự hay rũ mi
trong phẫu thuật do phù mi, gây
tê cơ nâng mi, hoặc cả hai. Phẫu
thuật viên sẽ phải chờ sau cuộc
phẫu thuật, khi sưng phù đã hết,
trước khi xác định nguyên nhân rũ
mi.
7.3.3 Bệnh nhân nam có thừa da mi
trên

Bệnh nhân nam châu Á
có thừa da mí trên thường mong
muốn loại bỏ lượng da thừa mà
không tạo nếp gấp hai mí. Cách
đo lường thông thương cho bệnh
nhân nữ không thể áp dụng cho
bệnh nhân nam. Bệnh nhân nam
châu Á lớn tuổi sẽ bị e ngại với đôi
mắt hai mí dày hậu phẫu. Đường
rạch dưới nên cách bờ mi 5-6 mm.
Đường rạch trên nên đặt cách xấp
xỉ 1 mm trên bờ mi khi bệnh nhân
mở mắt đang nhìn thẳng. Cố định
da trước sụn mi nên được bảo tồn.
Tuy nhiên, cắt lọc da thừa phía
ngoài vành đai ổ mắt cũng nên
tích cực như trên bệnh nhân nữ.
Da thừa chủ yếu ở nửa ngoài của
mí trên và phái ngoài ổ mắt. Bệnh
nhân nam thường chịu được tình
trạng đỏ da tạm thời do cắt rạch da
phía ngoài hơn là nếp gấp mí đôi
dày.
7.4 Chăm sóc hậu phẫu và Phục
hồi

Xem chương 6
7.5Ca lâm sàng

Xem hình 7-14 đến 7-18.
Hình 7-14
A, Tiền phẫu.
B, Hậu phẫu 1 tháng cho thấy dầy
đáng kể mi mắt và ửng đỏ đường
rạch.

Tạo mi đôi trên bệnh nhân lớn tuổi
92
Hình 7-15
A, Tiền phẫu.
B, Hậu phẫu 1 năm cho thấy mi mắt tạo rõ và dầy mi kéo dài.
Hình 7-16
A, Tiền phẫu.
B, Nếp gấp ít dầy khi cố định không hoàn toàn.
Hình 7-17
A, Tiền phẫu.
B, Hậu phẫu. Cắt da bảo tồn không tạo nếp gấp hai mí được ưa dùng trên bệnh
nhân nam vì tránh được sự xuất hiện của nếp dầy không tự nhiên. Tái hồi sớm
xuất hiện theo lão hóa.

Chương 7
93
Hình 7-18
A, Tiền phẫu.
B, Hậu phẫu. Tiếp cận tích cực được thực hiện trên bệnh nhân lớn tuổi này sau
khi đã giải thích kết quả sau phẫu thuật. Bệnh nhân hài lòng với kết quả.
Tài liệu tham khảo

1. Lee JS: Simplified anatom-
ic method of double-eyelid oper-
ation: septodermal fixation tech-
nique, Plast Reconstr Surg 100:170,
1997.

Chương 8: Biến chứng, kết quả ngoại
ý và dư luận

Mặc dù có nhiều trường
hợp kết quả không như mong
muốn, biến chứng lại hiếm khi xảy
ra. Các trường hợp ngoài ý muốn
được liệt kê trong bảng 8-1 và 8-2
trải dài từ mức độ bình thường,
như mong đợi cho đến những biến
dạng rõ đáng kể. Tỉ lệ các trường
hợp ngoại ý cũng liên quan đến sự
mong đợi của bệnh nhân. Cả phẫu
thuật viên và bệnh nhân thường
quên mất vẻ đẹp nhờ phẫu thuật
có thể, và thường là, không hoàn
hảo.

Kích
cỡ
không
mong
muốn có thể bắt nguồn từ vấn đề
thảo luận giữa bệnh nhân bva2
bác sĩ trong lần tư vấn đầu tiên.
Cũng có thể đây là kết quả của việc
cố định không hoàn chỉnh, gây sụp
dần nếp gấp. Trong thực tế, 6 mục
8
Jung I. Park
Kích thước không hài lòng
Bất xứng
Tái hồi
Nếp không hoàn toàn
Rũ góc ngoài nếp gấp
Nhăn da trước sụn mi
Dầy mi mắt
Đa nếp gấp
Mắt trũng
Nếp gấp cao
Thick fold
Bảng 8-1. Kết quả không mong
muốn
Bảng 8-2. Biến chứng
Chứng chảy nước mắt
Ửng đỏ kết mạc
Lật sụn mi hay lộn mi
Kích thích kết mạc
Sụp mi
Tổn thương mắt
Sẹo phì đại
U hạt
Viêm hạt đường khâu
Hình 8-1
Mí mắt bất xứng và tái hồi. Mí mắt
trên bên phải giả sụp mi do rũ da mí
mắt trên.

Chương 8
95
liệt kê đầu tiên trong bảng 8-1 là
do cố định không hoàn chỉnh. Mọi
cải tiến trong thập kỉ qua đều là
kết quả của các cuộc thử nghiệm
nhằm hoàn thiện kĩ thuật cố định.
Sự phổ biến gần đây của phương
pháp khâu đã làm giảm tỉ lệ biến
chứng tái hồi hoặc nếp gấp không
rõ, gây tổn hao chi phí. Bất xứng
có thể do thiết kế, cắt lọc, hay cố
định không đều giữa hai mắt (hình
8-1). Một nguyên nhân quan trọng
gây bất xứng là sụp mi không nhận
biết một bên mắt. Sụp sụn mi là
kết quả của sup mi biểu hiện nhiều
trên da vùng trước mi và tạo ảo giác
nếp gấp cao hơn trên mắt bị sụp.
Thực tế là, vùng cố định thì chắc và
nếp gấp trước sụn mi thường định
hình rõ. Tái hồi xảy ra do cố định
lượng mô không đủ trong cả hai kĩ
thuật khâu và rạch (hình 8-2). Tỉ
lệ tái hồi gần đây sụt giảm nhờ kĩ
thuật khâu giúp kéo một phần lớn
mô bì vào đường khâu. Giữ mối
chỉ lỏng để tránh siết mô, giúp kéo
dài tuổi thọ nếp hai mí (hình 8-3).
Buộc chặt mối chỉ với mục đích cố
định chắc hai phần mô trên thực
tế sẽ gây tái hồi sớm hơn, dù là với
kĩ thuật nào. Buộc chặt quá mức sẽ
siết mô, nghẽn tuần hoàn, và làm
mối chỉ cắt sâu hơn và nhanh hơn
vào mô. Điều này dẫn tới việc mất
mô sớm trước khi xảy ra bất kì sự
bám dính đáng kể nào giữa hai
mặt mô. Mặt khác, kĩ thuật rạch
chủ yếu dựa trên sẹo rộng tạo giữa
mặt da và cơ nâng mi. Dù vật liệu
khâu sẽ giữ hai mô cạnh nhau, yếu
tố cố định chủ yếu vẫn là mô sẹo.
Nhiều kĩ thuật nâng cấp việc tạo
sẹo. Một cách đạt được điều này
là rạch cơ vòng mắt từ bờ dưới
vết rạch da sẽ giúp kéo da lại gần
cơ nâng mi. Mô mềm, bao gồm cơ
vòng trước sụn mi, được rạch chủ
động để tạo sẹo dính và cố định
da vào tấm sụn mi. Cắt giảm rộng
phần mô tại vùng cố định cũng
được tán thành. Tuy nhiên, tác giả
chương này tán thành việc dùng
cuff cho cơ vòng mắt trước sụn
mi, giúp đưa da lại gần cơ nâng mi,
hơn là cắt rạch cơ. Khi đã loại trừ
yếu tố cơ địa, khả năng thao tác
chính xác các kĩ thuật của phẫu
thuật viên sẽ tiên đoán tỉ lệ tái hồi.
Thông thường, trong quá trình
phẫu thuật tái điều chỉnh, phẫu
thuật viên có thể thấy vòng chỉ
khâu trên bề mặt vách ngăn ổ mắt,
gợi ý cơ nâng mi chưa hề được bộc
lộ, và việc cố định hoàn tất không
đúng. Mô thừa dưới da và mô mỡ
trước ổ mắt dường như gây tác
dụng ngược lên tuổi thọ nếp gấp
hai mí dù theo kĩ thuật khâu hay
kĩ thuật rạch. Để vượt qua chướng
ngại khi đem phần da trước mi dày
và nhiều mỡ xuống tới cơ nâng mi,
một cuff dày cơ vòng mắt được
dùng để cố định. Nếp ngoài rũ và
không hoàn chỉnh do lỗi cố định
giữa da trước sụn mi phía ngoài
và phần ngoài cơ nâng mi thường
xảy ra sau kĩ thuật khâu (hình
8-4). Hai bước giúp giảm nguy cơ
rũ mí ngoài. Đầu tiên, đường rạch
nên nằm song song sụn mi ở đầu

Biến chứng, kết quả ngoại ý và dư luận
96
Hình 8-2
Nếp gấp mí đôi tái hồi
Hình 8-3
Khâu mô lỏng so với khâu chặt.
Hình 8-5
Mí mắt dầy hậu phẫu
Hình 8-4
Nếp gấp góc ngoài rũ, không hoàn
toàn và lộn da mí mắt sau khâu. Kết
quả này là do cố định trung tâm cao
và chắc mà không cố định tương đồng
góc trong và góc ngoài. Do cấu trúc
giải phẫu cơ nâng mi, cố định trung
tâm có xu hướng chặt và khuếch đại
trong khi nếp trong lỏng lẻo và nếp
ngoài rũ.

Chương 8
97
ngoài. Thứ hai, cơ vòng trước sụn
mi nên được cố định vào vị trí
cao hơn trên cơ nâng mi, gần dây
chằng khóe mắt ngoài. Nhăn da
trước sụn mi là một điểm không
hoàn hảo mà bệnh nhân thường
phải chấp nhận như là giới hạn của
phẫu thuật. Kết quả không mong
muốn này có thể là kết quả của sẹo
do cắt lọc quá mức mo cơ và mô
mỡ trước sụn mi, hoặc có thể do cố
định kéo dài da trước sụn mi. Khi
đường rạch hay đường khâu thấp,
đường cố định lỏng sẽ gây tái hồi.
Khi đường rạch hay khâu trên mí
mắt nằm cao, dù cố định kéo dài
cũng không gây tái hồi. Thay vào
đó, nó làm da trước sụn mi lỏng
lẻo và nhăn vết chân chim. Đầy
mi mắt do nhiều mô dưới da và
mô mỡ trước vách ngăn, và quan
trọng nhất là, do mắt lồi ra hơn là
do mô mỡ quá mức trước gân cơ
nâng. Sụp cung mày cũng gây đầy
mi mắt, nhất là những bệnh nhân
lớn tuổi. Một nếp gấp dày thường
thấy sau phẫu thuật mắt hai mí
có cắt lọc da thừa. Đây là hậu quả
khó tránh của việc cắt bỏ da trước
sụn mi, thay bằng cơ và da ổ mắt
dày để tạo nếp gấp (hình 8-5). Khi
bệnh nhân muốn giải quyết mi mắt
đầy, phẫu thuật viên thường sẽ cắt
bỏ mỡ trước vách ngăn ổ mắt. Việc
này gây đa nếp gấp không thẩm
mĩ trên nếp gấp mi mắt đã định
hình (hình 8-6). Không như mí
mắt trên của người châu Á, nên
bảo tồn mỡ mắt trên người châu
Á (hình 8-7). Loại bỏ mỡ mắt quá
mức sẽ tạo mắt trũng và mất vẻ
đặc trưng (hình 8-8). Nếp cao
quá mức do loại bỏ da thừa mí
mắt trên, do áp dụng các qui tắc
phẫu thuật mắt phương Tây lên
người châu Á (hình 8-9). Dù việc
nâng trán là câu trả lời cho vấn đề
này, nhiều bệnh nhân vẫn chọn lựa
phẫu thuật mí mắt trên đơn giản
hơn và chấp nhận sống chung với
hậu quả. Chứng chảy nhiều nước
mắt là một tình trạng thoáng qua
do tắc nghẽn tạm thời tiểu quản
lệ thứ phát do phù hậu phẫu hoặc
tiết dịch kết mạc do chất liệu khâu.
Tình trạng này cải thiện theo thời
gian (nếu do phù) hoặc nhờ gỡ bỏ
chỉ khâu. Đỏ kết mạc là tình trạng
thoáng qua, tự giới hạn trong 2-3
ngày. Lật sụn mi hay lộn mi là do
cố định da trước sụn mi ở vị trí
cao trên cơ nâng mi (hình 8-10).
Nó không rõ ràng khi bệnh nhân
nhắm mắt trong cuộc phẫu thuật.
Khi mở mắt, cơ nâng sẽ kéo căng
da trước sụn mi và nâng cao bờ
sụn mi. Thường thấy rõ tình trạng
này vào cuối phẫu thuật và được
chỉnh sửa. Lộn mi nhẹ sẽ tự điều
chỉnh mà không cần can thiệp. Tập
kéo sẽ kéo dài vùng cố định. Thực
hiện bằng cách mở chủ động mắt
bị lộn mi trong khi đang ấn lông mi
và tấm sụn mi bằng các ngón tay,
để kéo dài vùng cố định. Trừ phi
bệnh nhân bị hở mi, tiết dịch kết
mạc thường là kết quả do chất liệu
chỉ khâu không phát hiện được
hoặc bong tróc giác mạc. Mối chỉ
khâu vùi có thể di chuyển và xuy-

Biến chứng, kết quả ngoại ý và dư luận
98
ên qua túi kết mạc. Nên cắt ngắn
mối chỉ, và kim không được đâm
vào kết mạc. Sụp mi thoáng qua
do phù và hiệu quả gây tê cơ nâng
mi (hình 8-11). Thường thì phẫu
thuật viên nhận thấy mắt được
Hình 8-6
Tạo đa nếp gấp sau loại bỏ tích cực
mỡ trước cơ nâng. Điều này sẽ tự
chỉnh sửa khi vết thương lành. Đa
nếp gấp trở nên vĩnh viễn khi mô
dưới nếp gấp phụ dính vào cơ nâng
mi do thiếu lớp mỡ xen giữa.
Hình 8-8
Mắt trũng là kết quả của việc loại bỏ
nhiều mô mỡ và da.
Hình 8-9
Nếp gấp cao quá mức.
Hình 8-7
Lớp mỡ trước cơ nâng nằm trong
một nang mỏng, trong suốt, vô danh.
Không cần thiết mở nang này trong
phẫu thuật mắt hai mí. Mặc dù nộ lực
loại bỏ nó, nhưng loại quá nhiều mỡ
sẽ khiến xuất hiện đa nếp gấp và tiền
triển dần trũng mắt khi lão hóa.

Chương 8
99
Hình 8-10
Lộn mi mắt và nếp phụ. Lộn mi mắt là
kết quả của việc cố định cao da trước
sụn mi vào cơ nâng mi.
Hình 8-12
Sụp mi.
Hình 8-13
Sẹo phì đại từ phẫu thuật khóe mắt
trong.
Hình 8-11
Sụp mi tạm thời do phù hậu phẫu từ
phẫu thuật tái chỉnh mi mắt một bên.
Mắt trở lại cân xứng khi vết thương
lành.
phẫu thuật trước sẽ bị sụp mi vào
thời đểm mà mắt kia được phẫu
thuật xong. Tuy nhiên, cả hai mắt
sẽ nhanh chóng tương đồng trong
giai đoạn hồi phục. Đứt cơ nâng mi
trong phẫu thuật gây sụp mi vĩnh
viễn (hình 8-12). Khâu đơn giản
cơ nâng mi có thể không chỉnh sửa
được sự khác biệt. Ngoài ra, khó
xác định mức độ chỉnh sửa do có
phù và hiệu ứng gây tê giữa hai bên
mắt. Cơ nâng mi gấp nếp trong quá
trình cố định dẫn tới mức độ nâng
khác nhau giữa hai bờ sụn mi. Dù
rằng đây không phải là sụp mi thật
sự, nhưng mi mắt có độ nâng sụn
mi kém hơn vẫn mang dáng vẻ bị
sụp. Trái ngược với niềm tin bấy
lâu nay rằng vách ngăn ổ mắt hợp
nhất với cơ nâng mi ở vị trí thấp
trên mí mắt người châu Á, dựa trên
nghiên cứu của tác giả (đã công bố
trên tạp chí), điểm hợp nhất nằm
khoảng 9-10 mm trên bờ mi. Do
đường rạch hai mí nằm ở vị trí
thấp hơn điểm hợp nhất, cơ nâng
mi sẽ khó tránh được tổn thương.
Cơ nâng mi khá mỏng tại bờ trên

Biến chứng, kết quả ngoại ý và dư luận
100
sụn mi. Phẫu thuật viên có thể cắt
nhầm cơ này khi đang cố cắt vách
ngăn ổ mắt.

Thường thì bệnh nhân sẽ
phàn nàn về sức căng và cảm giác
đẩy ở mắt do cơ nâng mi bị gấp và
làm ngắn. Chấn thương mắt sẽ
tránh được bằng thao tác cẩn thận.
Sẹo phì đại có thể tránh được nhờ
thăm khám kĩ bệnh nhân trước
phẫu thuật. Dù sẹo phẫu thuật mắt
hai mí có thể giấu dễ dàng dưới
nếp gấp, nhưng thậm chí chỉ một
sẹo rất nhỏ do phẫu thuật khóe
mắt trong cũng nhìn thấy rõ (hình
8-13). Nên cố gắng hết sức thực
hiện phẫu thuật khóe mắt trong
mà không tạo sức căng nào. Nhiều
kĩ thuật phẫu thuật khóe mắt trong
có hạt sạn trong công đoạn thiết kế
do chúng nhất thiết kéo mô và cố
định bằng cách khâu kéo căng.

U hạt kê thi thoảng xảy ra,
và có thể xử lý đơn giản bằng cách
loại bỏ lớp da phủ trên. Khâu vùi
mối chỉ và tránh đặt mối chỉ vĩnh
viễn quá nông sẽ ngăn tạo u hạt
mối chỉ khâu (hình 8-14). Chất
liệu chỉ như loại plain gut sẽ có thể
gây u hạt tiết dịch (hình 8-15, A và
B).
Hình 8-14
Viêm hạt do chỉ khâu sau sử dụng kĩ
thuật khâu vùi.
Hình 8-15
A, Viêm hạt chỉ khâu hậu phẫu 17 ngày, thứ phát sau sử dụng vật liệu chỉ khâu
(chỉ gut trơn).
B, Hậu phẫu 2 tháng. Viêm hạt chỉ khâu được xử lý bằng cách loại bỏ chỉ khâu,
steroid uống, kháng sinh, kháng histamines, và tiêm triamcinolone acetonide 10
mg/ml tại chỗ.

hacklink satın al mumu模拟器 雷电模拟器 向日葵 giftcardmall/mygift giftcardmall balance mygift giftcardmall matbet matbet giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Betgaranti Betgaranti Güncel Adres Betgaranti Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Fim İzle Fim İzle Giriş Fim İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Fim İzle Fim İzle Güncel Adres Fim İzle jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Giriş Casibom Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Jojobet Jojobet Giriş Jojobet Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Deneme Bonusu Film İzle Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Türkçe Dublaj Film İzle Film İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi perabet perabet giriş holiganbet holiganbet giriş Casibom Lesfillmercom Casibom Lesfillmercom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Gerbergirlcom Casibom Gerbergirlcom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Spcelectriccontrolcom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş marsbahis marsbahis giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş matbet matbet giriş matbet güncel giriş vaycasino vaycasino güncel giriş vaycasino giriş matbet matbet giriş pusulabet pusulabet giriş pusulabet pusulabet güncel giriş pusulabet giriş matbet matbet güncel giriş matbet giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Resmi Adres pusulabet pusulabet giriş pusulabet güncel giriş Fixbet Fixbet Güncel Giriş Salvobet Salvobet Giriş Salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Turk Porno Turk Porno Giriş Turk Porno casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi casibom casibom jojobet izmir escort izmir buca escort buca escort jojobet casibom holiganbet holiganbet giriş jojobet holiganbet holiganbet giriş jojobet jojobet jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş izmir escort izmir buca escort buca escort izmir escort bayan salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Giriş Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Deneme Bonusu Veren Giriş Deneme Bonusu Veren salvobet salvobet salvobet salvobet Casibom betgaranti betgaranti betgaranti matbet matbet giriş matbet matbet giriş Casibom Casibom Salvobet jojobet Salvobet Salvobet Salvobet Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Güncel Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis bahsegel Fixbet Fixbet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş 1xbet 1xbet Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Listesi Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler grandpashabet grandpashabet grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler vaycasino vaycasino giriş jojobet grandpashabet casibom Casibom Casibom Giriş casibom www.giftcards.com Marsbahis grandpashabet jojobet jojobet grandpashabet casibom jojobet Casibom Casibom Casibom Casibom Casibom Grandpashabet Grandpashabet Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Marsbahis Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres grandpashabet grandpashabet giriş Casibom Fixbet Fixbet Giriş Casibom Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Holiganbet Holiganbet Güncel Adres Nevşehir escort Kapadokya escort Nevşehir escort bayan nevşehir eskort escort nevşehir Casibom Casibom Giriş Adresi Kapadokya esc Casibom Casibom Resmi Adres Matbet Matbet Matbet Güncel Adres Pusulabet Pusulabet Giriş Adresi imajbet giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Trabzon escort escort trabzon Trabzon escort bayan Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler