Phẫu Thuật Tạo Hình Thẩm Mỹ Vùng Mông (Gluteal Augmentation)

13/10/2026 • by Bs CKI Phẫu thuật tạo hình, tái tạo và thẩm mỹ Trương Hoài Anh •

Chuyên đề chuyên sâu về phẫu thuật độn mông bằng túi độn (Gluteal Implants) và cấy mỡ tự thân (BBL – Brazilian Butt Lift). Đề cập kỹ thuật bóc tách đặt túi an toàn, kỹ thuật bơm mỡ mặt phẳng nông tránh thuyên tắc mạch mỡ (FATE) và kiến trúc giải phẫu cơ mông.


📂 Chuyên mục: Tài liệu thẩm mỹ, Phẫu thuật thẩm mỹ, Tạo hình cơ thể

🏷️ Từ khóa: tạo hình mông, độn mông, bbl, cấy mỡ mông, tạo hình cơ thể

Trang: / 248
Trang 1 Trang 2 Trang 3
📖 Xem bản dịch / Nội dung văn bản

PHẪU THUẬT TẠO HÌNH
THẨM MỸ VÙNG MÔNG
Biên dịch :
Thạc sĩ , Bác sĩ Nguyễn Đình Trung
Robert F. Centeno
Constantino G. Mendieta

Mục lục
Chương 1:Giải phẫu ứng dụng trong phẫu thuật thẩm mỹ vùng mông
Robert F. Centeno, Aditya Sood, và Vernon Leroy Young Trang 2


Mặc dù quy trình nâng mông đã được coi là một trong những quy
trình phẫu thuật thẩm mỹ chính thức, giải phẫu lâm sàng vẫn tiếp tục
đóng vai trò quan trọng trong việc cái thiện kết quả tạo hình thẩm mỹ cơ
mông. Trong lĩnh vực đang phát triển mạnh mẽ này, việc phòng tránh các
biến chứng là điều tối quan trọng để tiếp tục sự phát triển bền vững cũng
như là những trợ thủ đắc lực cho mọi bác sỹ muốn cống hiến cả đời mình
cho chuyên ngành phẫu thuật thẩm mỹ. Bài báo này điểm lại những kiến
thức giải phẫu lâm sàng quan trọng để phục vụ quá trình chẩn đoán và
điều trị.
Chương 2: Hệ thống phân loại đánh giá vùng mông: Những quan
điểm mới Trang 22
Constantino G. Mendieta và Aditya Sood


Vùng mông đã nhận được sự chú ý của giới truyền thông trong
những năm trở lại đây, điều này đã làm tăng nhu cầu của khách hàng về
việc ‘tái cấu trúc’ khu vực này. Nhu cầu của họ càng tăng đã đòi hỏi một
cách tiếp cận mới hơn, theo hệ thống để đánh giá về giải phẫu vùng cũng
như việc phát triển các quy trình phẫu thuật thẩm mỹ liên quan.
Chương 3: Biến chứng các thủ thuật nâng mông Trang 54
Bivik Shah

Các thủ thuật nâng mông dần trở nên phổ biến và điều này đang
thúc đẩy các bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ tích lũy kinh nghiệm và phát
triển các kỹ thuật để đáp ứng mong đợi của bệnh nhân. Hiện nay, 2 kỹ
thuật chính là ghép mỡ tự thân và implant để nâng mông còn nhiều hạn
chế. Ghép mỡ tự thân dường như có tỷ lệ tử vong cao hơn hẳn so với các
thủ thuật thẩm mỹ khác. Nâng mông bằng implant cũng khó không kém.
Tóm lại, đây là một bài đánh giá tổng quan về các biến chứng liên quan
đến cả hai loại thủ thuật trên. Các hội đồng cùng với các bác sĩ phẫu thuật
đang liên tục phát triển các hướng dẫn cho quy trình nâng mông dựa trên
các vấn đề thường gặp.

Chương 4: Chiến lược quản lý bệnh nhân dựa trên thực hành trong
nâng mông implant Trang 69
Douglas M. Senderoff

Bài viết này tập trung vào các khuyến nghị cho bác sĩ phẫu thuật
thực hiện nâng mông bằng implant (GAI). Việc lập kế hoạch trước phẫu
thuật, bao gồm các chỉ định, biện pháp phòng ngừa và chống chỉ định
đối với GAI sẽ được thảo luận chi tiết trong bài. Ưu điểm và nhược điểm
của implant dưới cân và trong cơ sẽ được phân tích cùng với các khuyến
nghị về kích thước, hình dạng và vị trí cấy ghép. Các khuyến cáo về quản
lý bệnh nhân trước và sau phẫu thuật cùng với các chiến lược phẫu thuật
và không phẫu thuật khi đối mặt với nguy cơ xảy ra các biến chứng, bao
gồm bục vết mổ, nhiễm trùng và bướu huyết thanh. Cùng với đó, chúng
tôi cũng đưa ra các khuyến nghị về thẩm mỹ để giải quyết những trường
hợp thất bại. Một tổng quan tài liệu toàn diện cùng với hình ảnh minh
họa trước và sau phẫu thuật sẽ được trình bày chi tiết trong bài này.
Chương 5: Nâng mông dưới cơ Trang 84
Jorge E. Hidalgo

Để xem video nội dung và bài báo, truy cập địa chỉ:
plasticsurgery.thedinics.com/.

Thực hiện nâng mông ở dưới lớp cơ là mô hình được thực hiện
nhiều nhất do tính phù hợp của chúng, đặc biệt đối với khu vực Bắc Mỹ,
nơi mà phần lớn chỉ có vật liệu là silicon. Chúng ta biết rằng dù sử dụng
loại chất dẻo đàn hồi nào để cấy ghép, chúng cũng tỏ ra ưu việt hơn khi sử
dụng các loại gel silicon. Nâng mông ở các lớp sâu và tương đối nhiều mô
mềm như thế này sẽ mang lại hình dáng tự nhiên hơn, miễn là tôn trọng
các ranh giới giải phẫu. Lựa chọn bệnh nhân để áp dụng điều trị cũng như
chọn loại implant là yếu tố then chốt để có được kết quả như mong đợi.
Chương 6 : Nâng mông trong cơ bằng implant kết hợp với tiêm mỡ
trực tiếp Trang 94
Paulo Miranda Godoy và Alexandre Mendonca Munhoz

Để xem video nội dung và bài báo, truy cập địa chỉ:
plasticsurgery.thedinics.com/.


Bài báo này trình bày tổng quan về nâng mông trong lớp cơ bằng
implant. Mặc dù nâng mông là một thủ thuật đã được nghiên cứu và áp
dụng nhiều năm nay, nhưng chỉ có một số báo cáo mô tả về kỹ thuật nâng

mông trong cơ cũng như việc kết hợp chúng với lipofilling. Bài báo này
trình bày kinh nghiệm khi thực hiện một thủ thuật kép, bao gồm implant
gel silicone dưới cơ mông lớn và tiêm mỡ trực tiếp. Nâng mông bằng
implant này đã cho thấy kết quả khả quan. Hầu hết các biến chứng, nếu
có, thường không đáng ngại và có thể dự phòng được. Mặt khác, chúng
không ảnh hưởng xấu đến tính thẩm mỹ cũng như phục hồi sau phẫu
thuật. Thành công phụ thuộc vào việc lựa chọn bệnh nhân và xử trí các
vấn đề trong mổ cũng như sau mổ.
Chương 7 : Nâng mông trong cơ bằng implant: Phương pháp XYZ
Raul Gonzalez và Ricardo Gonzalez Trang 116

Mặc dù sự quan tâm đến các thủ thuật implant mông đang tăng
dần lên, chúng vẫn là thủ thuật đòi hỏi trình độ cao. Nâng mông tại vị
trí trong các lớp cơ được cho là ưu việt hơn các vị trí khác. Những biến
chứng như hai bên không đối xứng và lộ vị trí mô cấy vẫn thường xuyên
xảy ra khi các Bs thực hiện mà không có hướng dẫn cụ thể. Phương pháp
XYZ giúp bác sĩ phẫu thuật có thể giải quyết những bấn đề nêu trên, hạn
chế tối đa các biến chứng không đáng có. Phương pháp này lợi dụng giải
phẫu bề mặt khung xương chậu để thực hiện tách các lớp cơ, giúp thuận
tiện trong việc thực hiện implant.
Chương 8 : Nâng mông dưới cân bằng implant Trang 130
Jose Abel de la Peña Salcedo, Guillermo J. Gallardo, và Guillermo Ernesto
Alvarenga

Nâng mông đã dần trở nên phổ biến trong ngành công nghiệp
thẩm mỹ. Đây có thể là thủ thuật duy nhất để giúp tăng kích thước vòng
mông ở những bệnh nhân gầy, không có mô ghép. Nâng cơ dưới cân là
một phương pháp điều trị an toàn với tỉ lệ biến cố thấp, đặc biệt là khi
được thực hiện trong một cơ sở thích hợp với một thiết bị phù hợp. Để
thực hiện thủ thuật, Bs nên nắm chắc giải phẫu khu vực vì việc bóc tách
các khoang, các lớp cân cơ đều dựa trên các mốc giải phẫu có sẵn. Im­
plant nên được đặt thẳng góc để tạo ra bờ mông căng tròn mềm mại. Khi
thực hiện khâu cũng không nên để cho mép vết mổ quá căng. Một trong
những bước quan trọng nhất là chăm sóc hậu phẫu, tránh tạo lực đè ép
lên vùng mông.

Chương 9 : Tạo hình bờ mông theo quan điểm hiện đại: lipofiller hệ
thống Trang 153
Lázaro Cárdenas-Camarena và Héctor Durán

Tăng kích thước vòng 3 bằng lipofiller là một trong những thủ
thuật được thực hiện nhiều nhất trong vòng 5 năm trở lại đây. Những
thay đổi tiêu cực về tính thẩm mỹ đã khiến nhiều bệnh nhân tìm đến thủ
thuật này nhằm cải thiện vòng 3 của mình. Quy trình này không chỉ thực
hiện hút mỡ để lấy mô ghép mà còn hệ thống hóa quy trình filler mỡ để
có được kết quả thẩm mỹ mong muốn. Quy trình này cho thấy kết quả
ban đầu khả quan vì có thể giúp bệnh nhân cải thiện ‘ngoại hình’ đáng kể.
Chương 10 : Nâng mông và tạo hình bờ mông bằng cấy mỡ tự thân:
Phần I Trang 171
Ashkan Ghavami and Nathaniel L. Villanueva

Để xem video nội dung và bài báo, truy cập địa chỉ
plasticsurgery.thedinics.com/.

Nâng mông bằng cấy mỡ tự thân là một thủ thuật ngày càng phổ
biến, có khả năng thay đổi hình dáng cũng như kích thước vòng ba một
cách ngoạn mục. Từ việc lựa chọn bệnh nhân thích hợp, đánh giá trước
phẫu thuật và lập kế hoạch chăm sóc là những yếu tố quan trọng quyết
định sự thành công của thủ thuật. Áp dụng các bước trong quy trình được
mô tả dưới đây sẽ giúp toàn bộ quá trình thực hiện một cách an toàn và
đạt kết quả tốt, tránh các biến chứng liên quan đến cấy mỡ.
Chương 11 : Chuyển vạt tự thân để nâng mông : Kỹ thuật purse-string
Joseph P. Hunstad, Mark A. Daniels, và John C. Crantford Trang 189

Những bệnh nhân lý tưởng cho phẫu thuật này là những người có
vòng mông nhỏ, teo đồng thời xuất hiện tình trạng sa, muốn cải thiện sự
cân đối vùng mông hai bên. Thực chất phẫu thuật này nhằm kết hợp nâng
mông với tự làm đầy, không gây ảnh hưởng tới mô ghép, sử dụng đường
khâu purse-string để điều chỉnh mô ghép tạo sự cân đối. Phẫu thuật này
là một kỹ thuật an toàn và hiệu quả để điều trị tình trạng sa và teo.

Chương 12:Chuyển vạt tự thân để nâng mông : Kỹ thuật xẻ tà
Sadri Ozan Sozer và Osman Erhan Eryilmaz Trang 203

Để xem video nội dung và bài báo, truy cập địa chỉ
plasticsurgery.thedinics.com/.

Từ trước đến nay, nâng mông bằng implant đã được ghi nhận là
thủ thuật có tỉ lệ biến chứng cao, đồng thời cũng khó thực hiện hơn các
thủ thuật khác. Ghép mô mỡ thì có thể giúp tăng vòng 3 ở mức vừa phải,
song không có thủ thuật nào có thể giải quyết tình trạng sa. Quy trình
được mô tả trong bài viết này giải quyết tình trạng sa vòng 3 cũng như
giúp cải thiện kích thước của chúng. Hầu hết các vạt xuất phát từ vùng
mông trên và do đó chỉ giúp cải thiện ngoại hình vùng nửa trên mà không
phải vùng trung tâm. Vậy nên ý tưởng chuyển vạt tự thân cần được biến
tấu linh hoạt để tối ưu hóa ngoại hình cũng như giúp mô tập trung ở vùng
trung tâm.
Chương 13: Kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép trong nâng mông
Robert F. Centeno Trang 214

Để xem video nội dung và bài báo, truy cập địa chỉ
plasticsurgery.thedinics.com/.

Bệnh nhân sau khi giảm cân số lượng lớn và những bệnh nhân có
tổn thương mất thẩm mỹ vùng mông có thể gây ra tình trạng đường bờ
mông không đều, không căng tròn. Sa, bất thường cơ xương, chậu hông
dẹt, và thiếu mỡ trong thủ thuật ghép mỡ tự thân là những vấn đề thường
gặp gây nên tình trạng đường bờ mông không đều, đẹp. Để giải quyết tình
trạng bất thường sau giảm cân lượng lớn, người ta áp dụng những thủ
thuật can thiệp bằng cách chuyển vạt và cấy mô vào vùng thiếu hụt. Các
thủ thuật này mang lại cơ hội để giải quyết các dị tật nghiêm trọng sử
dụng mô tự thân. Với kiến thức sâu rộng về giải phẫu liên quan, kỹ thuật
phẫu thuật chuẩn xác, và chăm sóc hậu phẫu tỉ mỉ, bằng vật liệu tự thân
chỉnh hình mông bằng các phương pháp cải thiện số đo 3 vòng, nâng
mông bằng kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép sẽ giúp cải thiện kết quả và
sự hài lòng của bệnh nhân.

Chương 1 : Giải phẫu ứng dụng trong phẫu thuật thẩm mỹ vùng mông
2
Giải phẫu ứng dụng trong phẫu
thuật thẩm mỹ vùng mông
1
Robert F. Centeno, MD, MBAa,b,*, Aditya Sood, MD, MBAa,b,
Vernon Leroy Young, MDc
TỪ KHÓA
•
Giải phẫu vùng mông • Nâng mông • Cải thiện đường bờ mông
•
Autologous fat transfer • Brazilian butt lift • Gluteal implants
ĐIỂM QUAN TRỌNG
•
Kiến thức vững chắc về giải phẫu vùng mông là rất quan trọng để
có thể thực hiện các thủ thuật một cách an toàn.
•
Kết quả thẩm mỹ khả quan đòi hỏi sự thành thạo về giải phẫu định
khu, bất kể là áp dụng kỹ thuật nào.
MỐC GIẢI PHẪU QUAN TRỌNG

(Hình 1). Hình minh họa
một số mốc giải phẫu quan trọng
trên lâm sàng, liên quan mật thiết
đến các thủ thuật nâng mông thẩm
mỹ bằng mô đồng loại hoặc mô
tự thân. Đây là những điểm thiết
yếu, cung cấp kiến thức cần thiết
để thực hiện phẫu thuật cũng như
đánh giá sự thay đổi ngoại hình sau
phẫu thuật (Hình 2).


Mào
chậu,
thuộc
phần
trên của xương cánh chậu, cũng
là đường bờ phía trên của vùng
mông, là mốc giải phẫu có thể sờ
thấy được và cũng là đường định
hướng để tạo đường rạch trong
phẫu thuật nâng mông sau hoặc
tăng kích thước vòng ba (CBL)
bằng mô tự thân (AGA) (vui lòng
xem bài báo của Robert F. Centeno
”kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép
trong thủ thuật nâng mông” để nắm
rõ hơn vấn đề này). Vị trí đường
mổ có thể thay đổi ở trên hoặc dưới
mào chậu tùy từng trường hợp để
đạt được kết quả như mong muốn
sau phẫu thuật.

Khi quan sát vùng mông từ
phía sau, chúng ta sẽ thấy hai vị trí
lõm vào so với bề mặt mông. Đó là
vị trí hai gai chậu sau trên (PSIS).
Đây là kết quả của hội lưu bao gồm
PSIS, các cơ đa nhánh (nhiều bó cơ
nhỏ hơn gộp thành), mạc thắt lưng-
chậu và điểm bám của cơ mông lớn.
Những chỗ lõm vào này là đặc điểm
quan trọng, quyết đinh tính thẩm

Chương 1 : Giải phẫu ứng dụng trong phẫu thuật thẩm mỹ vùng mông
3
mỹ của vùng mông, nên cần được
bảo tồn khi phẫu thuật đồng thời
bộc lộ được chúng ra sau các liệu
trình thẩm mỹ.
Hình 1. Các mốc giải phẫu quan trọng:
mào chậu, gai chậu sau trên, xương
cùng, xương cụt và ụ ngồi.


Những chỗ lõm này cấu
thành nên tam giác cùng, bao gốm
3 điểm là 2 PSIS ở hai bên và xương
cụt ở phía dưới. Bảo tồn được tam
giác cân này là mấu chốt của thẩm
mỹ vùng mông, và nếu có thể thì
nên bộc lộ rõ các cạnh của chúng để
chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy
được các cạnh khi nhìn từ phía sau
(Hình 3). Để cải thiện vùng này, nên
tập trung hút mỡ và nâng mông
sao cho các cạnh của chúng có xu
hướng lõm vào phía trong lòng tam
giác cùng (Hình 3). Bài báo gốc của
đơn vị phẫu thuật thẩm mỹ vùng
mông được mô tả ở ảnh 4, nêu chi
tiết cách ‘chỉnh hình’ tam giác cùng.
Hình 2. .Đường lõm ở vùng cùng cụt
(phía trên xương cùng và phía bên
mông). Nếp lằn mông ngắn quyết định
tính thẩm mỹ của vùng mông.

Tam giác cùng luôn phải
được đánh dấu trước khi phẫu
thuật nâng mông bằng implant và
các cạnh được coi như đường giới
hạn phía bên trong của đường bóc
tách (Hình 5). Vị trí implant ở dưới
cơ, trong cơ, và dưới cân liên quan
tới các cấu trúc cân cơ được mô tả
trong Hình 6.

Chương 1 : Giải phẫu ứng dụng trong phẫu thuật thẩm mỹ vùng mông
4
Hình 3. Các điểm cần đánh dấu trước
phẫu thuật và hình ảnh tam giác cùng
với cạnh lõm vào trong sau phẫu thuật

Một mốc giải phẫu quan
trọng khác là vị trí lõm của mấu
chuyển lớn ở 2 bên mông, được
hình thành từ mấu chuyển lớn và
điểm bám của cơ vùng đùi cũng
như vùng mông, bao gồm cơ mông
nhỡ, cơ rộng ngoài cơ tứ đầu đùi,
và cơ mông lớn. Chỗ lõm này cũng
là một vị trí giải phẫu quan trọng
trong phẫu thuật tạo hình, giúp
đem lại nét đẹp thẩm mỹ. Ở một
số nhóm dân tộc (như người Mỹ
gốc phi và Mỹ gốc Tây ban nha)
thì không thích điểm lõm này xuất
hiện, và thường mong muốn lấp
chúng đi khi tạo hình thẩm mỹ.

Nếp lằn mông đóng vai trò là
giới hạn dưới của mông, được hình
thành bởi các lớp cân dày bám từ
vùng đùi và chậu, đi qua lớp cân
nội cơ tới vùng da.

Những cấu trúc này tạo ra
nếp gấp sâu, cố định ở phía dưới
của mông. Chiều dài và mức độ
hiện hữu của nếp gấp này đóng vai
Hình 4. Tám đơn vị giải phẫu thẩm mỹ
vùng mông: (1 và 2) mạng sườn đối
xứng hai bên, (3) tam giác cùng, (4
và 5) vùng mông đối xứng hai bên, (6)
giao thoa hai nếp lằn mông (hình thoi),
(7 và 8) vùng đùi sau đối xứng hai bên.
trò quan trọng trong thẩm mỹ vùng
mông. Nếp gấp này quá dài chứng
tỏ đây là một vùng mông đã lão hóa,
sa và teo với sự xuất hiện của vùng
da và tổ chức thừa dưới da. Ngược
lại, nếp lằn mông ngắn chứng tỏ
mông còn đầy đặn, căng tròn và trẻ
trung. Ụ ngồi, mặc dù không thuộc
vùng mông nhưng lại là vị trí tiếp
xúc với bề mặt khi chúng ta ngồi.

Chương 1 : Giải phẫu ứng dụng trong phẫu thuật thẩm mỹ vùng mông
5
Hình 5. Vị trí implant cho các thủ
thuật nâng mông dưới cơ (A), trong
cơ (B) và dưới cân (C). GT: mấu
chuyển lớn, IC: mào chậu, IGF: nếp
lằn mông.

Chương 1 : Giải phẫu ứng dụng trong phẫu thuật thẩm mỹ vùng mông
6
Hình 6. Vị trí implant tương quan giải
phẫu vùng: (A) dưới cơ, (B) trong cơ,
và (C) dưới cân.
PHÂN BỐ MỠ DƯỚI DA

Vùng mông người nhô ra
hơn so với cơ thể có thể là do sự
thích nghi trong quá trình tiến hóa
để phù hợp với tư thế đứng thẳng
và vận động bằng hai chân. Hầu hết
phần nhô ra này bắt nguồn từ khối
lượng cơ mông, chúng khá lớn so
với phân vùng giải phẫu, chưa kể
cột sống thắt lưng cong ra trước,
làm cho vùng mông có xu hướng
đưa ra phía sau một cách tương
đối. Lượng mỡ dưới da cũng góp
phần tạo nên hình dáng tròn trịa
của mông. Lượng chất béo này kết
hợp với các lớp cân vùng mông,
hình thành nên đường viền phía
dưới mông, được biết tới với cái
tên nếp lằn mông. Lượng mỡ này ở
nữ thường cao hơn nam, trẻ sơ
sinh cao hơn người lớn và một số
nhóm dân tộc cao hơn các nhóm
còn lại. Người ta mặc nhiên cho
răng điểm khác biệt ở mô mỡ dưới
da đóng vai trò quan trọng trong
việc đệm đỡ vùng mông khi ngủ ở
tư thế nằm ngửa và phát triển như
một cơ chế thích ứng để tản nhiệt
trong khi vẫn duy trì đủ lượng mỡ
cho cơ thể.

Phân bố mỡ đã được nghiên
cứu bằng nhiều phương pháp khác
nhau ở cả nam và nữ. Các loại hình
cơ thể đã được chia thành 3 loại
chính: android (dạng nam), gynoid
(dạng nữ) và dạng trung gian. Tác
động của việc giảm cân, lão hóa và
sức ảnh hưởng của giới tính đối với
các loại hình cơ thể cũng đã được
nghiên cứu. Khi phụ nữ già đi và
đến tuổi mãn kinh, họ có xu hướng
béo trung tâm, và chuyển từ loại
hình nữ thành loại hình nam. Sự
khác biệt lớn nhất trong phân bố
mỡ dưới da ở phụ nữ trẻ tuổi so với
lớn tuổi là tại khu vực eo và giữa
mấu chuyển. Hơn nữa, béo phì làm

Chương 1 : Giải phẫu ứng dụng trong phẫu thuật thẩm mỹ vùng mông
7
tăng xu hướng chuyển dịch loại
hình từ nữ thành nam hoặc phân
bố mỡ từ ngoại vi về trung tâm
(béo bụng). Điều này giải thích tại
sao loại hình cơ thể và cách phân
bố lượng chất béo luôn đồng nhất ở
những người đang trong liệu trình
giảm cân hiệu quả.

Những thay đổi về phân bố
mỡ ở mông liên quan đến quá trình
lão hóa và tăng cân đã được nghiên
cứu về khía cạnh sinh trắc hoặc và
điện quang học. Một cuộc điều tra
trên 115 phụ nữ chọn ngẫu nhiên
trong độ tuổi từ 17 đến 48 cho thấy
những thay đổi có ý nghĩa thống kê
trong một số thông số đo lường.

Tăng cân làm gia tăng kích
thước vòng ba cả về chiều cao lẫn
chiều rộng, kéo dài đường liên
mông và rút ngắn nếp lằn mông.
Lão hóa, yếu tố độc lập với tăng
cân, lại làm tăng chiều cao của
mông, kéo dài đường liên mông
cũng như nếp lằn mông. Hai yếu tố
này có liên quan tới tình trạng sa
mông qua nếp lằn mông. Trong khi
việc tăng cân làm tăng chiều rộng
của mông thì lão hóa lại có tác động
ngược lại. Những sự thay đổi của
mô mỡ dưới da và phân bố mỡ liên
quan tới độ đàn hồi của da và cân
được cho là lý do để giải thích cho
những phát hiện trên.
GIẢI PHẪU CÂN

Sa mông được cho là do 3
tình trạng: thứ nhất là giảm khối
lượng, thứ hai là da chùng và thứ 3
là do sự lỏng lẻo các lớp cân. Các
lớp cân (hình 7) này tương tự như
hệ thống cân nông đã được mô tả
bởi Lock-wood. Việc cắt bỏ và ‘thu
gọn’ lớp cân lỏng lẻo này không
chỉ giúp loại bỏ tình trạng sa mà
còn là những bước chính của thủ
thuật CBL (có hoặc không có kèm
AGA). Lớp cân sâu của cơ mông
lớn là lớp cân quan trọng trong thủ
thuật nâng mông bằng mô tự thân.
Chúng cũng được coi như một lớp
cân quan trọng, giúp duy trì vị trí
mô cấy trong thủ thuật nâng mông
bằng implant dưới cân. Lớp cân
nông và cân sâu kết nối chặt chẽ
với nhau để hình thành nên nếp lằn
mông. Đây là đường giới hạn dưới
của vùng mông và cũng là cấu trúc
khó tái tạo bằng phẫu thuật đơn
thuần.
MẠCH MÁU – THẦN KINH

Sự toàn vẹn cấu trúc giải
phẫu phần thân bên, thân sau và
vùng mông là yếu tố quan trọng
để thực hiện CBL hoặc các thủ
thuật nâng mông. Hai dây thần
kinh chậu hạ vị và chậu bẹn là
nhánh của thân L1 và xuất phát từ
đám rối cùng (Hình 8). Những dây
thần kinh này di chuyển vào trong,
xuống dưới, giữa cơ ngang bụng và
cơ chéo bụng trong. Dây thần kinh
chậu hạ vị chia ra nhánh bì ngoài và
bì trước, chi phối cho vùng trước
trên xương mu (bẹn bụng) và vùng
mông bên (mũ chậu). Mối khâu 3
điểm hoặc mối quilting sẽ được sử
dụng để đóng phần mông bên, giúp
giảm khoảng chết giải phẫu. Các

Chương 1 : Giải phẫu ứng dụng trong phẫu thuật thẩm mỹ vùng mông
8
biến thể giải phẫu của thần kinh
chậu bẹn, thần kinh chậu hạ vị và
thần kinh đùi bì ngoài (LFCN) có ý
nghĩa lâm sàng quan trọng vì chúng
chi phối vùng mông bên, đùi và
bụng trước dưới, sẽ cần chú ý bảo
tồn chúng khi phẫu thuật. Nhiều
nghiên cứu đã chỉ ra rằng những
dây thần kinh này có thể thay đổi
đáng kể. Trong một nghiên cứu giải
phẫu các tử thi, Whiteside và các
đồng nghiệp xác định rằng, trung
bình dây thần kinh chậu bẹn đi
trong thành bụng khoảng 3.1 cm về
phía trong và 3.7 cm về phía dưới,
hướng tới vị trí gai chậu trước trên
(ASIS) và kết thúc tại vị trí cách 2.7
cm so với đường giữa, trên khớp
mu 1.7 cm. Thần kinh chậu hạ vị
Thì đi trong cơ thành bụng khoảng
2.1 cm về phía trong và khoảng
0.9 cm dưới ASIS, kết thúc tại vị trí
cách đường giữa 3.7 cm và trên củ
mu khoảng 5.2 cm.

Một nghiên cứu khác cũng
giải phẫu tử thi cho thấy vị trí của
thần kinh chậu hạ vị liên quan với
ASIS có thể thay đổi từ 1.5 cm tới 8
cm ở phía bên phải và từ 2.3 tới 3.6
cm về phía bên trái. Thần kinh chậu
bẹn và mối tương quan của chúng
tới ASIS có thể thay đổi từ 3 tới 6.4
cm về bên phải và 2 cm tới 5 cm về
bên trái. Một nghiên cứu trên 110
bệnh nhân đã phẫu thuật thoát vị
xác định rằng đường đi của 2 dây
thần kinh này phù hợp với mô tả
trong giải phẫu khoảng 41.8% số
trường hợp, do đó phần còn lại có
sự khác biệt. Hầu hết các biến thể
liên quan tới góc tách nhánh từ L1,
sự phân chia, sai lệch nguồn gốc
(không xuất phát từ L1), các đường
rạch thực hiện CBL ở hoặc ở dưới
nếp bẹn đều có thể có nguy cơ
ảnh hưởng tới dây thần kinh này.
Nhánh bì ngoài của dây chậu hạ vị
và thần kinh gian sườn cũng có thể
bị ảnh hưởng trong quá trình phẫu
thuật. Điều này có thể xảy ra nếu
cơ chéo bụng ngoài được ‘thít chặt’
quá mức để cải thiện vòng eo hoặc
nếu nhánh phụ của dây này đi vào
các lớp sâu của thành bụng. Tuy
nhiên, trong 18/64 ca, dây thần
kinh chậu bẹn đều nằm nông ở lớp
cơ chéo bụng ngoài và nằm nông so
với ống bẹn.

Chương 1 : Giải phẫu ứng dụng trong phẫu thuật thẩm mỹ vùng mông
9
Hình 7. Giải phẫu hệ thống vùng mông và các lớp cân. (A) Hình ảnh hệ
thống các lớp cân sau khi đã loại bỏ các cấu trúc giải phẫu khác và (B) các
lớp cân vùng mông cũng như thắt lưng chậu.

LFCN và các tổn thương
của chúng được mô tả năm 1885.
Chứng đau đùi dị cảm là hội chứng
lâm sàng gây ra bởi tình trạng đè
ép hoặc tổn thương LFCN, được mô
tả bởi tình trạng mất cảm giác, đau
bỏng buốt và tăng cảm ở vùng da
chi phối. Thông thường, dây này
nằm phía trước ASIS và phía dưới
dây chằng bẹn. Aszmann và cộng
sự đã chỉ ra rằng có 4% số tử thi
họ giải phẫu là dây thần kinh này
đi ra phía sau ASIS và đi qua mào
chậu. Ở một nghiên cứu giải phẫu
tử thi khác, Grotharus và cộng sự
đã chứng minh rằng LFCN dễ bị tổn
thương nếu phẫu thuật ở khu vực
từ ASIS đi khoảng 7.3 cm vào trong
và khoảng 11.3 cm đi xuống, nhưng
trên cơ may.

Cảm giác vùng mông và thân
bên đến từ một số dây: các nhánh
gian ngành sau L3 L4 thuộc thần
kinh cùng, các nhánh bị của thần
kinh chậu hạ vị đi từ thân L1, và
thần kinh mông trên xuất phát từ
thân L1, L2, L3 và đi qua mào chậu
(Hình 8, Hình 9). Cảm giác da được
truyền bởi các dây thần kinh này
tạm thời bị gián đoạn trong và sau
CBL hoặc AGA một thời gian ngắn.
Bệnh nhân nên được yêu cầu thay
đổi tư thế thường xuyên và tránh
sử dụng miếng đệm sưởi để tránh
loét do đè ép hoặc hoại tử do nhiệt.

Tưới màu cho da vùng mông
chủ yếu bởi các nhanh của động
mạch mông trên và mông dưới, cả
hai nhánh này đều tách từ động
mạch chậu trong (Hình 10). Vùng
thắt lưng chậu cũng được cấp máu
từ các động mạch vùng thắt lưng.
Trong các phẫu thuật cần phải hi
sinh 1 số nhánh này.

Chương 1 : Giải phẫu ứng dụng trong phẫu thuật thẩm mỹ vùng mông
10
Hình. 8. (A-C) Các dây thần kinh chậu
bẹn và chậu hạ vị, phần mở rộng của
chúng kéo dài xung quanh cơ thể để
chi phối thần kinh cho mặt trước và
mặt ngoài đùi, bụng.

Chương 1 : Giải phẫu ứng dụng trong phẫu thuật thẩm mỹ vùng mông
11
Hình 10. Động mạch mông trên, mông dưới và các nhánh thần kinh cùng.
Hình 9. Thần kinh bì sau. (A) nhánh gian ngành sau L3 và L4 và (B) thần kinh
mông trên.

Chương 1 : Giải phẫu ứng dụng trong phẫu thuật thẩm mỹ vùng mông
12
mông trên (Hình 10).

Cơ hình lê là nhóm cơ giúp
xoay ngoài và dạng đùi, chúng
được chi phối bởi nhánh L5, S1,
S2. Chúng xuất phát từ mặt trước
xương cùng và bám tận ở mặt trên
trong mấu chuyển lớn (Hình 14).
Đây là một mốc giải phẫu quan
trọng, giúp xác định vị trí thần kinh
mạch máu chính của vùng mông,
bao gồm cả thần kinh hông to. Đây
cũng là vị trí dưới cùng của túi im­
plant trong phẫu thuật nâng mông
dưới cơ.

Cơ sinh đôi trên, sinh đôi
dưới và cơ bịt trong đều có nhiệm
vụ xoay ngoài và dạng đùi, nằm
đưới cơ hình lê. Cơ căng mạc đùi,
một trong những cơ nằm phía
trước của nhóm cơ mông, nằm
nông phía ngoài cơ mông nhỡ và
mông bé. Bắt nguồn tử mặt ngoài
mào chậu và ASIS, cơ này chạy dọc
xuống tiếp nối tới dải chậu chày
(Hình 15). Chức năng của chúng
là giúp ổn định đầu dối khi duỗi.
Chúng được cấp máu bởi nhánh
cùng của động mạch mũ đùi ngoài,
chi phối vởi thần kinh mông trên,
cũng như cơ mông nhỡ và mông bé
vậy.

Trong quá trình thực hiện
CBL, AGA + CBL, hoặc các phẫu
thuật tạo hình mông ở mặt ngoài.
Chúng ta có thể hoàn toàn yên tâm
vì nguồn cấp máu dồi dào trong
khu vực chậu này sẽ giúp đảm bảo
tưới máu cho tổ chức.
GIẢI PHẪU CƠ VÀ THẦN KINH
MẠCH MÁU SÂU

Cơ mông lớn là một cơ lớn
thuộc nhóm cơ duỗi, có khả năng
duy trì tính ổn định của vùng
hông. Khối cơ lớn này có nguyên
ủy từ mào chậu, đường mông sau,
mặt sau xương vùng và dây chằng
cùng-ụ ngồi tới bám vào ngành
ngoài đường ráp xương đùi (hình
11). Chúng được chi phối bởi thần
kinh mông dưới.Cơ mông nhỡ xuất
phát từ mặt trước mào chậu và
bám tận vào mặt ngoài mấu chuyển
lớn (Hình 12). Chúng có chức năng
dạng đùi và giúp ổn định khung
chậu trong khi đứng và đi. Cơ mông
bé xuất phát từ mặt ngoài xương
chậu và bám tận vào mặt trước bên
của mấu chuyển lớn (Hình 13). Cơ
này giúp dạng đùi và đóng vai trò
ổn định khung chậu khi đi và đứng.
Cả 2 cơ mông nhỡ và mông bé đều
được chi phối bởi thần kinh mông
trên. Động mạch mông trên và thần
kinh mông trên đi ra ngoài qua
khuyết ngồi lớn, ở trên cơ hình lê
và đi qua mặt phẳng giữa cơ mông
nhỡ và mông bé.
Cả 2 cơ đều được cấp máu bởi
động mạch mông trên và thần kinh

Chương 1 : Giải phẫu ứng dụng trong phẫu thuật thẩm mỹ vùng mông
13
Hình. 12. (A, B) Cơ mông nhỡ và các cấu trúc giải phẫu liên quan.
Hình 11. (A-B) Cơ mông lớn và các cấu trúc giải phẫu liên quan.

Chương 1 : Giải phẫu ứng dụng trong phẫu thuật thẩm mỹ vùng mông
14
Hình. 14. (A, B) Tương quan giải phẫu của thần kinh hông to, động tĩnh mạch
mông trên với cơ hình lê.
Hình. 13. (A, B) Cơ mông bé và cấu trúc giải phẫu liên quan.

Chương 1 : Giải phẫu ứng dụng trong phẫu thuật thẩm mỹ vùng mông
15
chúng có thể gây mất chức năng các
cơ thuộc khoang đùi sau, và tất cả
các cơ của cẳng và bàn chân, đồng
thời mất cảm giác mặt ngoài cẳng
và bàn chân. Các nghiên cứu về giải
phẫu cho thấy dây thần kinh tọa và
các nhánh chính của nó (dây thần
kinh chảy và mác chung) có thể
thay đối tương quan với cơ hình
lê. Dây thần kinh tọa rời khỏi khu­
ng chậu ở dưới cơ hình lê, trong
khuyết ngồi lớn trong khoảng 96%
các trường hợp. Tuy nhiên, khoảng
2.5% các trường hợp, các nhánh
của thần kinh mác chung tách ra
khỏi thần kinh tọa sớm hơn, thậm
chí từ ngay vị trí ngang cơ hình lê,
và như thế thần kinh chày sẽ được
tính từ ngay dưới cơ hình lê. Ở 1,5
% các trường hợp còn lại, thần kinh
mác chung chia nhánh từ vị trí dây
thần kinh chày và chúng tách nhau
ra ở phía trên cơ hình lê, trong khi
thần kinh chày tiếp tục chạy xuống
dưới cơ hình lê mới tách nhánh.

Mặc dù không phổ biến
nhưng những biến thể giải phẫu
này phải được tìm kiếm trong quá
trình phẫu thuật. Chúng giúp hạn
chế các biến chứng sau phẫu thuật
nâng mông trong cơ và dưới cơ
bằng implant. Hơn nữa, các trường
hợp lệch trục dây thần kinh tọa
đã được báo cáo trong phần biến
chứng của thủ thuật cấy ghép mô
mỡ tự thân trong phẫu thuật tạo
hình mông.

Hội chứng chèn ép khoang
mông, mặc dù hiếm gặp nhưng đã
được báo cáo trong y văn. Nguyên
nhân có thể do chấn thương,

Dây thần kinh tọa là dây thần
kinh lớn nhất của cơ thể bắt nguồn
từ đám rối thần kinh cùng (từ L4
tới S3). Nó chạy thẳng xuống dưới
và chỉ tách 1 nhánh nhỏ cho vùng
khớp háng. Thần kinh tọa rời khỏi
vùng mông tại khuyết ngồi lớn ở
dưới cơ hình lê và bên trên cơ sinh
đôi trên để đi vào khoang sau của
đùi (Hình 16). Ở trên khoeo, dây
thần kinh tọa chia thành 2 nhánh
là thần kinh chày và thần kinh mác
chung. Việc đè ép và gây tổn thương
Hình. 15. Mạc đùi với các cân vùng
mông-thắt lưng chậu đã được loại bỏ.

Chương 1 : Giải phẫu ứng dụng trong phẫu thuật thẩm mỹ vùng mông
16
trong khoang cơ mông nhỡ-nhỏ.
Nắm vững giải phẫu khu vực này
giúp ngăn ngừa những tổn thương
không đáng có khi thực hiện phẫu
thuật cũng như nâng cao kiến thức
về các hội chứng chèn ép khoang
hiếm gặp. Cụ thể, mạch máu thần
kinh được chia thành 2 bó trên-
dưới với ranh giới là cơ hình lê.
Động, tĩnh mạch mông trên và thần
kinh mông trên chạy phía trên cơ
hình lê và ngược lại. Động tĩnh
mạch và thần kinh mông dưới đi
xuống dưới cơ hình lê và ở trên
cơ sinh đôi trên để tiếp cận tới cơ
mông lớn. Dây thần kinh tọa, thần
kinh bì đùi sau, thần kinh thẹn,
thần kinh chi phối cho cơ bịt trong,
và thần kinh chi phối cho cơ sinh
đôi trên cũng thoát ra phía bên
dưới cơ hình lê.

Việc tăng áp lực các khoang
kèm theo đó là tình trạng giảm tưới
máu đến cơ mông và dài chậu chày
do khối chèn ép nào đó sẽ dẫn tới
tổn thương mạch máu và hậu quả là
chảy máu và/hoặc hình thành khối
máu tụ. Các khối chèn ép này có thể
đến từ các vật cấy lớn, chúng có thể
làm tăng áp suất khoang vượt quá
giới hạn cho phép. Mặc dù vẫn còn
tranh cãi, Song chúng ta chấp nhận
lý thuyết rằng áp suất khoang lớn
hơn 30mmHg có thể gây hoại tử cơ
trong vòng 4 đến 6 giờ và gây thoái
hóa thần kinh kiểu Wallerian trong
vòng 8h.

PTTM có tổ chức gần đây đã
tập trung vào việc báo cáo các yếu
tố làm gia tăng nguy cơ tử vong liên
quan đến các thủ thuật ghép mỡ tự
nghiện rượu, hôn mê do thuốc, hội
chứng Ehlers-Danlos, bệnh hồng
cầu hình liềm, vỡ phình động mạch
mông, vỡ phình động mạch chủ
bụng, trong các phẫu thuật chỉnh
hình cơ xương khớp vùng háng,
sinh thiết tủy xương, tiêm bắp
(mông), tiêu cơ vân xương, vận
động thể lực quá mức, và duy trì tư
thế quá lâu trong các phẫu thuật.

Mặc dù hội chứng chèn ép
khoang mông không thường xuy­
ên xảy ra sau các phẫu thuật vùng
mông, BS vẫn nên các kiến thức
căn bản về các khoang mông và tác
động của các thủ thuật thẩm mỹ
tới các khoang đó. Không còn nghi
ngờ gì nữa, can thiệp sớm sẽ giúp
giảm thiểu nguy cơ để lại những di
chứng nặng nề.

Khu vực mông được chia
thành 3 khoang chính: (1) khoang
cơ mông lớn, (2) khoang cơ mông
nhỡ-nhỏ, và (3) khoang cơ căng
mạc đùi. Khoang cơ mông lớn được
tạo thành bởi cơ, lớp cân nông và
lớp cân sâu, chúng tiếp giáp với các
lớp cân tương ứng của đùi. Khoang
này tiếp giáp với mào chậu ở phía
trên và dải chậu chày ở phía ngoài.
Ở phía trong, lớp cân nông và sâu
tiếp nối với các dây chằng vùng
cùng-cụt và dây chằng cùng-ụ ngồi.
Khoang cơ mông nhỡ-nhỏ được
giới hạn phía trên bởi cân cơ mông
sâu, phía ngoài bởi dải chậu chày,
và phía trong bởi xương cánh chậu.
Khoang chậu-chày được tạo thành
bởi cơ căng mạc đùi và dải chậu
chày. Phần lớn các cấu trúc mạch
máu thần kinh quan trọng đều nằm

Chương 1 : Giải phẫu ứng dụng trong phẫu thuật thẩm mỹ vùng mông
17
(
p l a s r e c o n o s y s t e m / F u l l ­
tex t / 2 0 1 6 / 0 3 0 0 0 / D e a t h s _
Caused_by_Gluteal_Lipoinjection
What_Are.65.aspx)


Xu hướng ngày nay về
PTTM đã giúp nâng tầm quan trọng
của việc làm quen với giải phẫu lâm
sàng thay vì giải phẫu truyền thống.
Điều này giúp cải thiện kết quả của
bệnh nhân và giảm tỉ lệ diễn biến
nặng cũng như tử vong.
SỰ THAY ĐỔI CÁC CẤU TRÚC SAU
GIẢM CÂN KHỐI LƯỢNG LỚN

Tạo hình thẩm mỹ ở những
bệnh nhân giảm cân khối lượng
lớn (MWL) đang là thử thách đối
với nhà PTTH. Từ tình trạng rối
loạn phân bố mỡ dư thừa tới các
vùng da bị chùng, ngay cả khi đã
thực hiện CBL (có hoặc không kèm
AGA) thường lamg giảm thẩm mỹ
vùng mông. Hơn nữa, những thay
đổi về da liên quan đến béo phì ở
một số vùng giiar phẫu vẫn còn
xuất hiện sau khi giảm cân và đồng
thời hạn chế hiệu quả của Các nỗ
lực tái tạo đường nét cơ thể. Đặc
biệt, tình trạng béo phì có trước khi
MWL tạo ra những thay đổi về tư
thế, ảnh hưởng vĩnh viễn tới hình
thái khung xương.
thân trên các hội thảo khoa học và
tạp chí. Hiệp hội PTTH thẩm mỹ
Hoa Kỳ, Hiệp hội phẫu thuật tạo
hình và thẩm mỹ quốc tế đã thành
lập một nhóm đặc nhiệm để đánh
giá thêm các nguyên nhân tiềm
ẩn và chiến lược phòng ngừa biến
chứng. Thuyên tăc mỡ các mạch
máu lớn sau chấn thương là một
trong những nguyên nhân chính
gây ra tình trạng tổn thương dẫn
tới phải cắt cụt sau này. Người ta
cho rằng các khối mỡ ở các vị trí
tĩnh mạch mông trên, dưới hoặc
các nhánh mạch liên quan, đi ra ở
vị trí phía dưới cơ hình lê thường là
nguyên nhân dẫn tới huyết tắc mỡ.
Ngoài ra, các khối thuyên tắc tĩnh
mạch nhỏ ở các tĩnh mạch chi dưới
hình thành 1 áp lực âm lớn cũng
có thể coi là cơ chế khả dĩ dẫn tới
thuyên tắc mỡ lớn. Tình trạng này
khác xa so với hội chứng thuyên
tắc vi mỡ sau hút mỡ. Chúng được
mô tả bằng các khối thuyến tắc lớn
và gây biến chứng tim mạch nặng
nề khi được giải phẫu tử thi. Các
chiến lược phòng ngừa được khu­
yến nghị bao gồm tránh tiêm chất
béo vào lớp cơ sâu, tránh tiêm mà
không có canuyn, để canuyn song
song với bề mặt mông khi tiêm và
sử dụng loại canuyn 4.1 mm hoặc
lớn hơn thế để tiêm. Kiến thức giải
phẫu về các bó mạch thần kinh, và
cách tránh xa các vùng nguy hiểm
được báo cáo bởi Rosique là rất
quan trọng trong việc ngăn ngừa
các biến chứng tiềm ẩn, nhưng rất
nặng nề về sau.

Chương 1 : Giải phẫu ứng dụng trong phẫu thuật thẩm mỹ vùng mông
18

Mặc dù những thay đổi về
xương ở bệnh nhân béo phì đã
thực hiện MWL là không thể thay
đổi, nhưng ít nhất một số khuyết
điểm có thể ‘ngụy trang’ bằng các
thủ thuật thẩm mỹ vùng mông, đặc
biệt là AGA hoặc cấy mỡ tự thân
(xin vui lòng xem bài viết của Ash­
kan Ghavami and Nathaniel L. Vil­
lanueva’s “Nâng mông và cải thiện
đường cong bằng cấy mỡ tự thân:
Phần 1” trong số này). Những hiểu
biết về các bất thường giải phẫu
gặp ở những bệnh nhân sau MWL
có thể giúp Bs phẫu thuật hiểu lý
do tại sao mông không được căng
tròn sau khi thực hiện CBL hoặc
nâng mông.
TỔN THƯƠNG DO TƯ THẾ

Tư thế trong quá trình phẫu
thuật nâng mông hiện nay có nhiều
nguy cơ gây tổn thương cho bệnh

Chứng vẹo cột sống, xẹp đốt
sống và/hoặc khung chậu lệch sẽ
đều ảnh hưởng nghiêm trọng tới
hình dáng mông. Bệnh phổi hạn
chế liên quan tới béo phì và một số
tình trạng tắc nghẽn đường thở do
tư thế dẫ tới phổi tăng thông khí,
gây ra tình trạng giãn nở lồng ngực
vĩnh viễn. Từ đó hình thành dạng
lồng ngực hình thùng, chúng cũng
ảnh hưởng tới thẩm mỹ vùng mông
và đáng tiếc là không thể làm gì để
cứu chữa cho tình trạng này. MWL
sẽ không làm thay đổi những bất
thường về cơ xương này và đôi khi,
chúng còn trở nên tồi tệ hơn sau
MWL. Hạ calci máu mạn tính không
được kiểm soát tốt, thiếu hụt vita­
min D và sự xuất hiện của các telo­
peptides huyết tương dẫn tới loãng
xương, điều này có thể làm thay đổi
bộ khung xương sau các liệu trình
phẫu thuật giảm cân.
Hình. 16. (A, B) Thần kinh hông to và mối liên quan với động tĩnh mạch mông
trên.

Chương 1 : Giải phẫu ứng dụng trong phẫu thuật thẩm mỹ vùng mông
19
được đường thở, sự phối hợp
của cả kíp để có thể dễ dàng xử lý
những bất thường có thể xảy đến
với bệnh nhân là điều cần thiết để
có một cuộc phẫu thuật an toàn.
Việc sử dụng các cuộn ngực để
ngăn ngừa tình trạng duỗi quá mức
và tồn thương đám rối thần kinh
cánh tay là điều rất quan trọng. Các
vùng khác cũng cần đệm đỡ bao
gồm thần kinh trụ, đầu gối, ngón
chân và mặt. Bảo vệ mặt bằng kính
bảo hộ có thể hiệu quả hơn việc
dán băng vào mắt vì băng dính có
thể bị dịch chuyển hoặc bị trôi đi.
Nếu cần gấp háng thì cuộn gel bên
dưới ASIS là điều nên làm.

Ở những bệnh nhân thừa
cân hoặc béo phì, nằm sấp có thể
gây ra các hậu quả về huyết động và
thông khí. Nằm sấp cũng có thể làm
giảm lưu thông máu tĩnh mạch do
đó ảnh hưởng đến tiền tải và cung
lượng tim, Nó cũng có thể tác động
tiêu cực tới khả năng thông khí. Ví
dụ, sức nặng của bệnh nhân đè ép
lên thành ngực làm chúng không
thể giãn nở được, và biểu hiện bằng
việc tăng thông khí. Sự cảnh giác và
nhận thức cẩn thận sẽ làm giảm
tác động có hại của những đáp ứng
sinh lý này.
TỔNG KẾT

Chúng ta không thể yêu cầu
bác sĩ phẫu thuật nắm quá nhiều
kiến thức về giải phẫu học. Mặc dù
ngắn gọn nhưng bài báo này đã mô
tả một số đặc điểm giải phẫu chính
mà các bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ
nhân. Vị trí nằm sấp và lệch bên
thường gặp trong các thủ thuật
Nâng mông lúc này thường gây rủi
ro cho họ, bao gồm loét điểm tì,
tổn thương giác mạc (tư thế nằm
sấp), chèn ép dây thần kinh ngoại
vi và chấn thương do co kéo. Mặc
dù toàn bộ kíp phẫu thuật có trách
nhiệm cảnh giác và cố gắng hạn
chế những tổn thương này cho họ,
nhưng bác sĩ phẫu thuật chính phải
luôn là người có đủ kiến thức và ý
thức được những tác động của tư
thế đem lại cho bệnh nhân.

Tư thế nằm nghiêng thường
được áp dụng trong các thủ thuật
hút mỡ hai bên sườn mông, lưng
và đùi bên, hoặc CBL, gây nguy cơ
tổn hại đến các dây thần kinh ngoại
vi. Lúc này việc sử dụng một cuộn
vải kẹp vào nách giúp bảo vệ đám
rối thần kinh cánh tay không bị ép
bởi xương đòn khi ở tư thế nằm
nghiêng này. Việc tránh tổn thương
cho dây thần kinh mác chung được
thực hiện bằng cách sử dụng một
tấm đệm gel trên giường phẫu
thuật để tránh cả khối cơ đè vào
chúng, đồng thời cũng giúp tránh
loét điểm tì. Trước phẫu thuật, một
tấm đệm gel như ‘roho’ hoặc ‘egg-
crate’ có thể sẽ hữu ích, đặc biệt
trong các phẫu thuật kéo dài.

Tư thế nằm sấp, được sử
dụng trong hầu hết các phương
pháp nâng mông thẩm mỹ, cũng
khiến bệnh nhân gặp rủi ro. Việc
chuyển từ tư thế nằm ngửa sang
tư thế nằm sấp phải là 1 quá trinh
có kiểm soát, do chính bác sĩ phẫu
thuật giám sát. Bs gây mê đảm bảo

Chương 1 : Giải phẫu ứng dụng trong phẫu thuật thẩm mỹ vùng mông
20
:1145–9.
7. Pascal JF, Le Louarn C. Remod­
eling bodylift withhigh lateral ten­
sion. Aesthetic Plast Surg 2002;26:
223–30
8. Regnault P, Daniel R. Second­
ary thigh-buttock deformities af­
ter classical techniques: preven­
tion andtreatment. Clin Plast Surg
1984;11(3):505–16.
9. Cuenca-Guerra R, Quezada J.
What makes buttocks beauti­
ful? A review and classification of
thedeterminants of gluteal beau­
ty and the surgicaltechniques
to achieve them. Aesthetic Plast
Surg2004;28:340–7.
10. Centeno RF. Gluteal aesthetic
unit classification: atool to improve
outcomes in body contouring. Aes­
thet Surg J 2006;26:200–8.
11. Matarasso A, Wallach G. Ab­
dominal contour surgery: treat­
ing all aesthetic units, including
themons pubis. Aesthet Surg J
2001;21:111–9.
12. Da Rocha RP. Surgical anato­
my of the gluteal region’s subcu­
taneous screen and its use in plas­
ticsurgery. Aesthetic Plast Surg
2001;25:140–4.
13. Babuccu O, Gozil R, Ozmen S, et
al. Gluteal regionmorphology: the
effect of the weight gain and aging.
Aesthetic
Plast
Surg
2002;26(2):130–3.
14. Montagu A. The buttocks
and
natural
selection.JAMA
1966;198:169.
15. Toth MJ, Tchernof A, Sites CK, et
al. Menopauserelated changes in
phải đối mặt khi tạo hình và thực
hiện các thủ thuật nâng mông. Trừ
khi họ đã có nhiều năm kinh ng­
hiệm, những người Bs luôn được
khuyến khích cập nhật kiến thức
giải phẫu cũng như các biến thể
thần kinh mạch máu xảy ra ở cơ thể
người. Hiểu rõ hơn về giải phẫu học
có thể giúp cải thiện kết quả nâng
mông thẩm mỹ. Quan trọng hơn, nó
cũng có thể làm giảm nguy cơ xuất
hiện những biến chứng, mà nặng
nề nhất là phải cắt cụt hoặc những
di chứng để lại suốt cuộc đời bệnh
nhân sau này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. De la Pena JA. Subfascial tech­
nique
for
glutealaugmentation.
Aesthet Surg J 2004;24:265–73.
2. Gonzalez-Ulloa M. Gluteoplasty:
a ten-year report.Aesthetic Plast
Surg 1991;15:85–91.
3. Mendieta CG. Gluteoplasty. Aes­
thet Surg J 2003;23(6):441–55.
4. Vergara R, Amezcua H. Intra­
muscular gluteal implants: fifteen
years’ experience. Aesthet Surg J
2003;23(2):86–91.
5. Ca´rdenas-Camarena L, Lacou­
ture AM,TobarLosada A. Combined
gluteoplasty:
liposuctionand
li­
poinjection. Plast Reconstr Surg
1999;104(5):1524–31.
6. Valero de Pedroza L. Fat trans­
plantation to the buttocks and legs
for aesthetic enhancement or cor­
rection of deformities: long-term
results of large volumesof fat trans­
plant. Dermatol Surg 2000 ;26(12)

Chương 1 : Giải phẫu ứng dụng trong phẫu thuật thẩm mỹ vùng mông
21
100(3):600–4.
24. Grothaus MC, Holt M, Mekhail
AO, et al. Lateral femoral cutaneous
nerve: an anatomic study. Clin Or­
thop Relat Res 2005;(437):164–8.
25. Taylor GI. The angiosomes of
the body and their supply to perfo­
rator flaps. Clin Plast Surg 2003;30:
331–42.
26. Drake RL, Wayne V, Mitchell
AWM. Gray’s anatomy for students.
Philadelphia: Elsevier, Churchill,
Livingstone; 2005.
27. Babinski MA, Machado FA,
Costa WS. A rare variation in the
high division of the sciatic nerve
surrounding
the
superior
ge­
mellus muscle. Eur J Morphol
2003;41(1):41–2.
28. Ugrenovic S, Jovanovic I, Krstic
V, et al. The level of the sciatic nerve
division and its relations to the
piriform muscle. Vojnosanit Pregl
2005;62(1):45–9.
29. Prynn WL, Kates DE, Pollack CV
Jr. Gluteal compartment syndrome.
Ann Emerg Med 1994;24(6):1180–
3.
30. Hill SL, Bianchi J. The gluteal
compartment syndrome. Am Surg
1997;63(9):823–6.
31. Bleicher RJ, Sherman HF, Lat­
enser BA. Bilateral gluteal com­
partment syndrome. J Trauma
1997;42(1):118–22.
32. Mofid MM, Teitelbaum S, Suissa
D, et al. Report on mortality from
gluteal fat grafting: recommenda­
tions from the ASERF task force.
Aesthet Surg J 2017; 37(7):796–
806.
body fat distribution. Ann N Y
Acad Sci 2000;904:502–6.
16. Kopelman PG. The effects of
weight loss treatments on up­
per and lower body fat. Int J Obes
1997;21:619–25.
17. Lockwood TE. Superficial fas­
cial system (SFS) of the trunk and
extremities: a new concept. Plast
Reconstr Surg 1991;87:1009–18.
18. Lockwood TE. Transverse
flank-thigh-buttock lift with super­
ficial fascial suspension. Plast Re­
constr Surg 1991;87:1019–27.
19. Lockwood T. Lower body lift
with superficial fascial system
suspension. Plast Reconstr Surg
1993;92:1112–22.
20. Whiteside JL, Barber MD, Wal­
ters MD, et al. Anatomy of ilioingui­
nal and iliohypogastric nerves in
relation to trocar placement and
lower transverseincisions. Am J Ob­
stet Gynecol 2003;189(6):1574–8.
21. Avsar FM, Sahin M, Arikan
BU, et al. The possibility of ner­
vus ilioinguinalis and nervus il­
iohypogasticus injury in lower
abdominal
incisions
andeffects
on hernia formation. J Surg Res
2002;107(2):179–85.
22. Al-dabbagh AK. Anatomical
variations of theinguinal nerves
and risks of injury in 110 her­
nia repairs. Surg Radiol Anat
2002;24(2):102–7.
23. Aszmann OC, Dellon ES, Dellon
AL. Anatomical course of the later­
al femoral cutaneous nerve and its
susceptibility to compression and
injury. Plast Reconstr Surg 1997;

Chương 2: Hệ thống phân loại đánh giá vùng mông:Những quan điểm mới
22
Hệ thống phân loại đánh giá vùng
mông:Những quan điểm mới
2
Constantino G. Mendieta, MDa, Aditya Sood, MD, MBAb'*
TỪ KHÓA
• Cải thiện đường bờ mông • Nâng mông • Chỉnh hình mông • Cấy mỡ
vùng mông
ĐIỂM QUAN TRỌNG
•
Cải thiện đường bờ mông và nâng mông là 2 quy trình khác nhau
nhưng luôn song hành với nhau.
•
Hệ thống phân loại được đề xuất sẽ giúp đánh giá giải phẫu của
từng bệnh nhân và phân tích các vùng đường bờ quan trọng của mông.
•
Hệ thống giúp chuẩn hóa việc đánh giá bệnh nhân
GIỚI THIỆU

Vùng mông đã nhận được sự
chú ý của giới truyền thông trong
những năm trở lại đây, điều này đã
làm tăng nhu cầu của khách hàng
về việc ‘tái cấu trúc’ khu vực này.
Nhu cầu của họ càng tăng đã đòi
hỏi một cách tiếp cận mới hơn,
theo hệ thống để đánh giá về giải
phẫu vùng cũng như việc phát triển
các quy trình phẫu thuật thẩm mỹ
(PTTM) liên quan.

Hiện tượng này đã được xác
nhận bằng các số liệu thống kê do
Hiệp hội Phẫu thuật Tạo hình Thẩm
mỹ Hoa Kỳ thu thập, cho thấy hơn
20000 thủ thuật nâng mông được
thực hiện vào năm 2016 (tăng
3267% so với năm 2002). Gần đây,
tổ chức nghiên cứu và đào tạo phẫu
thuật tạo hình thành lập đội đặc
nhiệm để điều tra những rủi ro liên
quan đến việc ghép mô mỡ trong
thủ thuật nâng mông. Và cuối cùng
họ đã công bố kết quả của mình.

Mặc dù sự quan tâm của Bs
tối với phẫu thuật tạo hình (PTTH)
cơ mông ngày càng tăng, nhưng
hầu hết các BS PTTM vẫn do dự
khi quyết định thực hiện thủ thuật
vì họ thực sự chưa hiểu thấu đáo
các kỹ thuật phẫu thuật, lựa chọn
phương pháp điều trị vẫn còn do
dự, và không thể tìm được hệ thống
đánh giá nào đạt chuẩn.

Mặc dù nhiều bài báo về
PTTH mông đã được xuất bản
trong vài năm quá, nhưng chúng
cũng chủ yếu tập trung vào kỹ

Chương 2: Hệ thống phân loại đánh giá vùng mông:Những quan điểm mới
23
thuật chứ không phải đánh giá các
biến thể giải phẫu khác nhau của
vùng mông. Bài báo này trình bày
một hệ thống phân loại có thể được
cá nhân hóa cho mọi bệnh nhân, từ
đó hướng dẫn lập kế hoạch phẫu
thuật cho việc tạo hình vùng mông
và nâng mông.

Hình dáng của mông chịu
ảnh hưởng của 4 yếu tố sau:
1.
Khung xương cơ bản
2.
Cơ mông lớn
3.
Định khu mỡ dưới da
4.
Da.

Sự tương tác của 4 tổ chức
này mang lại cho vùng mông một
hình dáng đặc trưng cụ thể (hình
1A). Để đơn giản hóa chủ đề phức
tạp này, hãy tưởng tượng cơ thể là
một cấu trúc có thể tháo rời. Khi
tách cơ ra thì phần còn lại là khung
xương, mỡ và da, có thể gọi chung
là khung (Hình 1B).

Hệ thống phân loại đề xuất
cho việc đánh giá, xác định các loại
khung khác nhau, các đơn vị thẩm
mỹ.

Vùng mông, các nhóm cơ
mông, và mối tương quan giữa cấu
trúc cơ và khung trong phẫu thuật
cải thiện đường bờ mông. Cuối
cùng là một hệ thống phân loại các
loại sa thường gặp.
KHUNG VÀ CÁC ĐƠN VỊ THẨM
MỸ VÙNG MÔNG

Khi loại bỏ khối cơ bên ngoài,
các nhà phẫu thuật phải hiểu được
những thành phần nào cấu tạo nên
khung chậu (xương, da, mỡ) và
chúng tương tác với nhau như thế
nào để tạo ra một hình dạng cụ thể,
ảnh hưởng tới những đơn vị thẩm
mỹ của cơ mông:

• Về cơ bản, khung xương
ảnh hưởng tới hình dáng của khu­
ng chậu; tuy nhiên, vì cấu trúc
này không thể thay đổi bằng phẫu
thuật, nên chúng không đóng vai
trò quan trọng nào trong hệ thống
phân loại ngoài việc xác định các
chỉ số khung chậu và xếp chúng vào
các nhóm khung chậu người.

• Da đóng vai trò nhất định
khi muốn xác định xem có cần
phải thực hiện năng mông trên
hay chỉnh hình nếp lằn mông hay
không.

• Mỡ là thành phần quan
trọng nhất của khung chậu về mặt
thẩm mỹ. Mỡ dưới da có tác động
lớn trong việc thiết lập hình dáng
của mông, đồng thời chúng cũng dễ
dàng chỉnh sửa.

Chương 2: Hệ thống phân loại đánh giá vùng mông:Những quan điểm mới
24
Hình 1. (A) Hình thể toàn bộ vùng mông phụ thuộc vào khung xương, cơ
mông lớn, vị trí và lượng mỡ dưới da, độ căng của da. (B) Khung mông,
với cơ mông lớn đã được tách ra.
Over rall Buttock Shape : Hình thể toàn bộ vùng mông
Gluteal muscle: Cơ mông
Gluateal muscle(gluteal shape): Hình dạng cơ mông
Frame: Khung


Các đơn vị thẩm mỹ vùng
mông là khái niệm quy định các
vùng thẩm mỹ khác nhau của mông.
Hiểu được các đơn vị thẩm mỹ này
và mối quan hệ của chúng với khu­
ng chậu là điều tối quan trọng trước
khi thực hiện nâng mông. Các đơn
vị này được sử dụng để định hướng
và xác định khu vực nào sẽ được
nhận Mỡ, khu vực nào sẽ được hút
mỡ, điều này sẽ ảnh hưởng tới kết
quả, vì thế chúng ta cần thảo luận
kỹ. Công trình đã xuất bản trước
đây đã mô tả 10 đơn vị thẩm mỹ
cho vùng sau (Hình 2), và một công
trình khác đã mô tả 8 đơn vị thẩm
mỹ vùng mông: 2 đơn vị mạn sườn,
1 đơn vị tam giác cùng, 1 đơn vị
giao thoa 2 nếp lằn mông, 2 đơn vị
mông đối xứng và 2 đơn vị đùi đối
xứng (Hình 3). Khuyến khích việc
phân tích giải phẫu cẩn thận và kỹ
thuật phẫu thuật chính xác, cũng
như giao tiếp tận tình với bệnh
nhân để xác định nhu cầu của họ.
ĐỊNH NGHĨA CÁC LOẠI KHUNG
(CHẬU)

Việc phân loại các loại khung
được thực hiện bằng cách so sánh
và đối chiếu lượng chất béo có sẵn
trong 3 vùng cụ thể. Điểm nhô ra
nhất ở vùng hông, giới hạn trên
được đánh dấu là điểm A, điểm nhô
ra nhiều nhất ở vùng đùi ngoài

Chương 2: Hệ thống phân loại đánh giá vùng mông:Những quan điểm mới
25
là điểm B và điểm giữa mặt ngoài
mông là điểm C (Hình 4).

Sự kết nối các điểm A và B ở
mỗi bên của cơ thế dẫn tới việc xác
định 4 loại khung cơ bản: Hình chữ
A, hình chữ V, hình vuông và hình
tròn (Hình 5).

Điểm C có 2 chức năng: Đầu
tiên là giúp phân biệt dạng mông
tròn hay vuông. Mông tròn có lượng
mỡ dư thừa ở điểm C này nhưng
mông vuông thì có lượng mỡ bằng
nhau hoặc lệch bên (Hình 5). Chức
năng thứ hai và cũng là quan trọng
nhất của điểm C là chúng giúp đánh
giá mức độ lõm xuống ở điểm C
trong mông vuông, mông hình chữ
A hoặc hình chữ V. Mức độ lõm này
được phân thành nhiều mức độ: 0,
nhẹ, vừa, nặng (Hình 6).

Ý nghĩa lâm sàng của điểm C
là đối với những chỗ lõm nhẹ hoặc
trung bình thường không cần ghép
mỡ vì vị trí lõm này sẽ biến mất khi
hút mỡ mông trên, mặt ngoài đùi
hoặc cả 2. Tuy nhiên, với tình trạng
lõm mức độ nặng, Bs nên cân nhắc
việc ghép mỡ vào khu vực này.
BỐN LOẠI KHUNG (CHẬU)
Khung vuông

Khung vuông là phổ biến
nhất, gặp ở khoảng 40% số bệnh
nhân. Vị trí A và B tương tự nhau,
đặc trưng cho phần mông hình
vuông để khi các điểm này nối với
nhau sẽ được một hình vuông
(Hình 7 và 8). Điểm C có thể có các
mức độ lõm (thiếu mô mỡ) khác
nhau. Đây là dạng khung dễ chỉnh
hình nhất trong cả 4 kiểu khung vì
bất kỳ sự thay đổi nào ở 1 trong 3
điểm A,B,C đều có thể biến khung
này thành dạng khung khác.

Chương 2: Hệ thống phân loại đánh giá vùng mông:Những quan điểm mới
26
Hình. 2. (A) 10 đơn vị thẩm mỹ vùng sau được mô tả. (B,C) Sau khu vực quan
trọng xác định hình dạng khung; bao gồm vùng 1 - 5 và vùng 8. (C) Vùng 8 có thể
yêu cầu ghép mô mỡ để tạo đường bờ đẹp (Từ bài báo của Mendieta CG. Gluteal
reshaping. Aesthet Surg J 2007;27(6):641-55)
Aesthetic Unit/Zones:Đơn vị thẩm mỹ
vùng mông.
1.Sacrum V-zone:Vùng cũng chữ V.
2.Flank: Hông.
3.Upper buttock : Mông trên,
4.Lower back: Thắt lưng.
5.Outer leg : Bờ ngoài đùi.
6.Gluteus: Mông.
7.Diamond
zone:inner
gluteal/leg
injection: Vùng hình thoi: Vùng đùi
trong/vùng hút mỡ.
8.Mid-lateral buttock point:Điểm C.
9.Inferior gluteal /posterior leg junc­
tion: Mặt sau đùi/mặt dưới mông.
10.Upper back: Lưng.

Chương 2: Hệ thống phân loại đánh giá vùng mông:Những quan điểm mới
27
Hình. 3. 8 đơn vị thẩm mỹ vùng mông bao gồm 2 mạn sườn đối xứng 2 bên (1,2),
1 tam giác cùng (3), mông hai bên (4,5), 2 đùi sau đối xứng nhau (7 và 8), và 1 bộ
phận giao thoa của 2 nếp lằn mông (hình thoi – 6) (Nguồn: Centeno RF. Gluteal
aesthetic unit classification: a tool to improve outcomes in body contouring. Aes­
thetic Surg J 2006;26(2):200-8)

Chương 2: Hệ thống phân loại đánh giá vùng mông:Những quan điểm mới
28
Hình. 4. Điểm A, B, C trong đánh giá khung (chậu)
Hình. 5. Bốn dạng khung (chậu).

Chương 2: Hệ thống phân loại đánh giá vùng mông:Những quan điểm mới
29
Hình. 6. Điểm C lõm xuống ở khung chậu vuông.
Mild depression at point C : Lõm ở điểm C: Nhẹ
Moderate depression: Trung bình
Severe depression: Nhiều
Hình. 7. Hình minh họa khung vuông, ngắn. Cơ mông lớn có tỉ lệ cao/rộng 1:1.

Chương 2: Hệ thống phân loại đánh giá vùng mông:Những quan điểm mới
30
Hình. 8. Hình minh họa khung vuông, cao. Cơ mông lớn có tỉ lệ cao/rộng = 2:1.

Hình dạng này độc đáo ở chỗ
chúng có thể cao, trung bình hoặc
ngắn (Hình 7 và 8). Để hiểu rõ khái
niệm này, cần phải nhớ rằng khung
bao gồm da, mỡ và xương. Khung
xương chỉ hữu ích để xác định đây
là khung cao, trung bình hay ngắn.
Giới hạn trên của khung xương là
đường viền trên của mào chậu. Nên
tùy thuộc độ cao của chúng mà cơ
mông lớn sẽ bám vào khung xương
tại các vị trí khác nhau. Cụ thể, biến
thể đầu tiên gắn đường viền trên
cơ mông lớn dọc Theo đường viền
trên của toàn bộ mào chậu, chúng
để lại rất ít khoảng trống giữa bờ
trên của cơ và mào chậu. Loại này
hình thành khung chậu ngắn, tỉ lệ
cao/rộng của khối cơ là 1:1. Dạng
biến thể thứ hai, cơ bám thấp hơn
trên khung chậu, sao cho mép trên
của cơ cách mào chậu khoảng ½
chiều dài cơ. Loại này được gọi là
khung chậu cao, cơ thường có tỉ lệ
cao/rộng là 2:1 (Hình 8).

Dạng còn lại là dạng trung
gian, nằm giữa dạng khung cao và
khung thấp vừa mới đề cập ở trên.
Cơ mông lớn có chiều cao/rộng =
1:1 hoặc 2:1. Mông dạng vuông
thường được cải thiện tương đối
nhiều khi hút mỡ điểm A và B. Điểm
C có thể cần ghép mỡ, tùy thuộc vào
mức độ lõm tại điểm này (Hình 9).
Dạng tròn

Dạng tròn gặp ở khoảng 15%
số bệnh nhân. Dạng này có đặc điểm là
xuất hiện lượng mỡ thừa ở điểm C. Khi
cả 3 điểm (A, B và C) được kết nối với
nhau, một đường cong hình chữ C sẽ
được hình thành (Hình 10). Điểm C rất
quan trọng vì nó giúp phân biệt khung
tròn với khung vuông. Khi điểm C lõm
dần, khung từ dạng tròn chuyển dạng
vuông.

Những bệnh nhân có mông
dạng này thường có xu hướng nặng
hơn những bệnh nhân khung vuông.
Ở dạng tròn, cơ mông lớn có thể có

Chương 2: Hệ thống phân loại đánh giá vùng mông:Những quan điểm mới
31
có chiều rộng bình thường hoặc
rộng; tuy nhiên, chúng thường có 1
phần đáy hẹp hơn phần chiều rộng.
Tỉ lệ chiều cao/rộng = 1:1.

Hình dạng này cũng có thể
có dị tật liên quan tới lượng chất
béo hoặc da dư thừa ở vùng dưới
trong nếp lằn mông (vị trí nằm
giữa đường liên mông và nếp lằn
mông 2 bên). Vùng này quá đầy tạo
ra hình ảnh trông như đang mặc tã
lót, sẽ không đảm bảo tính thẩm
mỹ.
Hình chữ A (Hình lê)

Khung chữ A gặp ở khoảng
30% bệnh nhân. Khi nối các điểm A
và B, tạo ra hình dạng gần như chữ
A (Hình 11). Hình dạng này đặc biệt
vì chúng tích nhiều mỡ ở hơn ở
vùng đùi ngoài phía trên (điểm B)
và ít chất béo hơn ở vùng hông bên
(điểm A). Lý tưởng nhất là điểm
A nhô ra nhiều hơn một chút. Lúc
này, khi rút chất béo ở điểm B đi,
mông bắt đầu có dạng vuông. Điểm
C có thể bị lõm đi nhiều, song ở
dạng này hầu hết các trường hợp
chỉ lõm mức nhẹ hoặc trung bình.
Dạng khung này thường được cải
thiện khi hút mỡ ở điểm B hoặc
vùng đùi bên (Hình 12). Điểm C có
thể cần ghép mô mỡ, tùy thuộc vào
mức độ lõm. Nên tránh hút mỡ quá
nhiều ở điểm B để ngăn chặn điểm
lõm ở khu vực này, ngẫu nhiên hình
thành ranh giới giữa vùng mông và
mặt ngoài đùi.
Hình chữ V (Hình quả táo)

Khoảng 15% số bệnh nhân
có dạng khung hình chữ V. Khi nối
điểm A và B với nhau, có thể thấy
chúng hội tụ lại 1 điểm ở dưới
mông, tạo hình chữ V. Hầu hết mô
mỡ nằm ở vùng mặt ngoài hông
(điểm A) và rất ít ở điểm B. Ở dạng
này, tình trạng lõm ở điểm C không
quá đáng ngại. Khi điểm A nhỏ đi,
mông sẽ có khung vuông.

Hình dạng này đặc biệt ở
chỗ bệnh nhân có khung xương
chậu cao, chân mảnh khảnh và có
xu hướng béo phì trung tâm. Giải
phẫu khung chậu lúc này cần quan
tâm, khung xương chậu cao với
dạng khung chữ V làm cho mông có
vẻ dài, tuy nhiên trên thự tế, cơ lại
bám thấp trên xương chậu, với tỉ
cao/rộng là 1:1. Đường liên mông
trông cũng ngắn và nằm dưới thấp
(hình 14). Hình dạng này được tạo
ra bởi 2 yếu tố: (1) không có khối
lượng cơ mông nhất định ở trên
nếp lằn mông và (2) chiều cao
xương cùng gấp 2-3 lần đường liên
mông.

Chương 2: Hệ thống phân loại đánh giá vùng mông:Những quan điểm mới
32
Hình. 9. Minh họa khung vuông, cao trước (trái) và sau (phải) phẫu thuật chỉnh
hình mông.
Hình. 10. Minh họa mông khung tròn.

Chương 2: Hệ thống phân loại đánh giá vùng mông:Những quan điểm mới
33
Hình. 11. Hình minh họa khung dạng chữ A với mức độ lõm nhẹ, trung bình và
nhiều ở điểm C. Điểm A nên là điểm lồi ra nhiều nhất của vùng mông ở dạng
này, nên sẽ thực hiện hút mỡ ở điểm B để cân đối lại.
Hình. 12. Khung mông dạng chữ A, cao trước (bên trái) và sau (bên phải) nâng
mông thẩm mỹ.

Chương 2: Hệ thống phân loại đánh giá vùng mông:Những quan điểm mới
34
Hình. 13. Hình minh họa mông hình chữ V. Mũi tên màu đỏ cho biết đường ranh
giới của mặt ngoài mông và mặt ngoài đùi: phương pháp trị liệu tốt nhất là cấy
mô mỡ. Đường liền nét cho biết chiều rộng cơ mông lớn với bên trái là chiều rộng
ngắn, bên phải là bình thường.
Hình. 14. Sự đa dạng về tỉ lệ chiều cao xương cùng và chiều dài đường liên mông.
Để xác định chiều cao xương cùng, hãy kéo từ điểm lõm dưới cùng của cột sống
(khe gian đốt L5-S1) tới điểm bắt đầu nếp liên mông (hình thành đường màu
xanh). Tương quan này lý tưởng ở tỉ số từ 0.5 tới 1. Một tỉ số nhỏ hơn 0.5 được
coi là đường liên mông quá dài, trong khi tỉ lệ 2:1 được coi là đường liên mông
quá ngắn.

Chương 2: Hệ thống phân loại đánh giá vùng mông:Những quan điểm mới
35

Về lý thuyết, khoang cùng
sẽ dược định nghĩa là vùng nằm
giữa khe gian đốt L5-S1 với điểm
trên cùng của đường liên mông;
chúng sẽ bằng khoảng 50% - 100%
chiều dài nếp liên mông. Ở Hình 14,
chiều dài nếp liên mông được coi là
lý tưởng khi chúng bằng một nửa
chiều cao cơ mông lớn, với ¼ đến
1/3 khối mông nằm trên đường
tiếp tuyến với điểm cao nhất nếp
liên mông, và ¼ đến 1/3 khối mông
nằm dưới đường tiếp tuyến với
điểm thấp nhất của nếp liên mông.
Điểm dưới cùng này chính là giao
thoa của nếp lằn mông hai bên. Ở
những bệnh nhân có khung hình
V, chiều cao của cơ mông thường
ngang bằng với đường liên mông
ngắn, tạo ra ảo giác rằng nửa trên
của cơ mông bị mất đi/không có
(Hình 14).

Dạng khung mông hình chữ
V là dạng khó chỉnh hình nhất.
Hình dạng chữ V này không hấp
dẫn người nhìn cho lắm, nên có
thể cải thiện bằng cách hút mỡ ở
điểm A và vùng mạn sườn. Đồng
thời cũng cần ghép mô mỡ vào
vùng mặt ngoài đùi trên để cải
thiện hình dạng chữ V này (Hình
15) trong những trường hợp khó.
Ngoài ra nếu điểm C có vùng lõm
quá rõ ràng thì cũng nên ghép mô
mỡ thêm vào để cải thiện tính thẩm
mỹ của khu vực.
Dạng trung gian

Mặc dù hầu hết bệnh nhân
có thể được phân loại thành 1 trong
4 nhóm khung, một số bệnh nhân
khó có thể quy về các nhóm đã đề
cập. Bởi vì không có cơ thể nào cân
xứng tuyệt đối, nên có trường hợp
mỗi bên có 1 dạng khung khác nhau.
Thậm chí, trong 1 số trường hợp,
sự bất cân đối quá rõ ràng, bệnh
nhân khó có thể phân loại thành
bất kỳ một dạng nào. Trong những
trường hợp này, mỗi bên mông cần
được phân loại riêng (Hình 16).

Ở một số bệnh nhân, sự khác
biệt giữa mỗi bên mông có thể rất
nhỏ, thậm chí có thể bỏ qua. Tuy
nhiên, đánh giá kỹ hơn cho thầy
hình dáng mỗi bên sẽ khác nhau,
và thậm chí mỗi bên có thể quy về
1 trong 4 dạng trên. Trong những
trường hợp này, cả loại khung mà
nó giống nhất và nó hướng tới (ví
dụ như dạng chữ V sẽ hướng tới
dạng hình vuông) đều phải được
xác định rõ ràng trước khi tìm ra
phương pháp điều trị tối ưu.
CƠ MÔNG LỚN

Cơ mông lớn có thể được
phân loại dựa trên cấu trúc giải
phẫu và thể tích khối của chúng.
Giải phẫu cơ mông lớn
Tỉ số cao/rộng của cơ

Hãy tưởng tượng bạn đang
đặt khối cơ mông ở trên tay. Khi
nhìn khối cơ từ phía sau (PA), vẽ
một đường tưởng tượng thẳng
xuống từ giữa khối cơ (Hình 17).

Chương 2: Hệ thống phân loại đánh giá vùng mông:Những quan điểm mới
36
Xác định điểm trên cùng và dưới
cùng của khối cơ Cũng như điểm
sát cùng bên trong và bên ngoài.
Từ đó xác định mối tương quan
giữa chiều cao và chiều rộng (tỉ số
cao/rộng). Thông thường chúng sẽ
được chia thành 3 nhóm là ngắn/
thấp (tỉ số 1:1), cao (tỉ số 2:1) và
trung gian (nằm giữa 2 tỉ số trên)
(Xem hình 7 và 8). Một cơ mông
lớn ‘lý tưởng’ sẽ thuộc nhóm trung
gian, nhưng thường nghiêng về
nhóm cao (2:1) (Xem hình 1A).

Trong các thủ thuật nâng
mông bằng implant, tỉ lệ này rất
quan trọng. Cơ mông thuộc nhóm
ngắn (1:1) sẽ phù hợp với vật im­
plant tròn vì cùng tỉ lệ, còn nhóm
cao (tỉ 2:1) thì nên sử dụng ana­
tomic implant (hình giọt nước).
Còn cơ thuộc nhóm trung gian sẽ
linh hoạt hơn và có thể dễ dàng im­
plant với 1 trong 3 loại vật implant:
tròn, anatomic, hoặc hình oval. Tuy
nhiên, nên nhìn vùng mông từ phía
bên để đưa ra quyết định cuối cùng
về hình dạng vật implant (sẽ thảo
luận sau).


Chiều rộng khối cơ mông
lớn (hẹp, bình thường, rộng)

Để xác định chiều rộng của
khối cơ, vẽ 1 đường thẳng ở giữa
mông (song song với đường liên
mông). Sau đó xác định chiều
rộng của nền khối cơ mông lớn từ
đường giữa của cơ thể. Nếu đường
đo nền khối cơ này (như hình 13,
ảnh thứ 2 từ trái sang) không vượt
quá đường thẳng vừa vẽ, chúng ta
sẽ kết luận đây là cơ mông có chiều
rộng hẹp. Nếu nó đi qua đường
giữa mông này khoảng 10-30%
thì được quy về chiều rộng bình
thường. Và nếu vượt trên khoảng
40-50% thì được gọi là rộng. Mông
đạt tiêu chuẩn thẩm mỹ ở người
trẻ thuộc nhóm chiều rộng bình
thường, và nếp lằn mông bên dưới
chạy đến đường giữa hoặc chỉ vượt
qua đường giữa mông đó 1 đoạn
ngắn (Hình 1A).
Khối lượng cơ mông lớn


Khối lượng cơ mông lớn cần
được đánh giá từ 2 phía: sau trước
và phía bên. Việc đánh giá này sử
dụng cho hai mục đích khác nhau.
Từ góc nhìn sau – trước

Hãy tưởng tượng cơ mông
nằm trên khung chậu với trục đối
xứng là đường liên mông. Theo lý
thuyết, cơ mông có khối lượng bằng
nhau ở hai bên và có hình dạng
của 1 quả bóng đá. Để đánh giá
kỹ hơn, vẽ một đường nằm ngang
(Hình 18). Điều này cho phép chia
mông thành 4 góc phần tư: trên
trong, trên ngoài, dưới trong và
dưới ngoài. Vòng mông lý tưởng là
vòng mông phân bố đểu tổ chức ở 4
vùng trên. Khi đánh giá từ góc nhìn
sau trước, mỗi góc trong số 4 góc
này phải được đánh giá xem chúng
bằng nhau hay thiếu so với các góc
còn lại như thế nào.

Chương 2: Hệ thống phân loại đánh giá vùng mông:Những quan điểm mới
37
Hình. 15. Khung hình chữ V, cao với khối cơ mông lớn ngắn trước (trái)
và sau (phải) phẫu thuật tạo hình.
Hình. 16. Các dạng khung không đối xứng có thể gặp ở một số bệnh nhân. Ảnh
bên trái là 1 bên thuộc khung tròn, 1 bên thuộc khung vuông. Còn ở ảnh bên
phải, 1 bên thuộc khung chữ V, bên còn lại thuộc khung vuông.

Chương 2: Hệ thống phân loại đánh giá vùng mông:Những quan điểm mới
38
Hình. 17. Cách xác định chiều rộng phần nền khối cơ mông: hẹp, trung bình/
bình thường, hoặc rộng.
Narrow base(50% line : Hẹp (50% đường giữa)
Normal base(10-30% beyond central line): Trung bình (vượt đường giữa 10-
30%)
Wide base (40-50% beyond central line): Rộng(vượt đường giữa 40-50%)
Hình. 18. Hình ảnh 4 góc phần tư: 1: góc trên trong, 2: góc trên ngoài, 3: góc
dưới trong, 4: góc dưới ngoài. Nên đánh giá đầy đủ từng góc một.
Gluteal Quadrants: Góc phần tư
Mid-reference line: Đường tham chiếu ở giữa mông

Chương 2: Hệ thống phân loại đánh giá vùng mông:Những quan điểm mới
39
Từ góc nhìn phía bên

Vùng trước xương cùng và
cơ mông lớn sẽ được đánh giá ở
mặt bên. Vùng trước xương cùng
này nếu lý tưởng phải là một đường
cong ra trước đẹp, tạo thành hình
chữ S khi nhìn từ vùng thắt lưng
xuống (Hình 19). Nếu khu vực này
có quá nhiều mỡ, hình chữ S sẽ mất
đi độ cong của mình, khiến mông
có vẻ phẳng, ít nhất là ở mặt trên.
Hình dạng này có thể sửa chữa
bằng cách hút mỡ vùng dư thừa.

Mặt bên vùng mông có thể
được chia thành 3 vùng: trên, giữa,
dưới (xem hình 19). Sự phân chia
tương ứng với 3 điểm A, B, C và
chúng giúp xác định vùng nào được
phân bố mỡ nhiều/ít hơn các vùng
còn lại. Trong thẩm mỹ vùng mông,
phần lớn mô mỡ dưới da sẽ nằm ở
vùng trung tâm (chính giữa mông),
và phần mỡ dưới da còn lại sẽ được
phân bố đồng đều ở hai bên. Như
vậy chúng ta có thể tưởng tượng
ra hình dạng tổng thể của mông
khi nhìn từ phía bên là hính chữ C
ngược (Hình 19). Có một số tác giả
cho rằng điểm nhô ra nhiều nhất
của vùng mông sẽ là điểm nằm
ngang với xương mu ở tư thế đứng.

Khi làm việc từ góc nhìn bên
này, chúng ta cần rõ ràng xác định
được đâu là ranh giới vùng mông
trên giữa dưới (Hình 20). Việc
xác định này rất quan trọng nhằm
quyết định loại thủ thuật hoặc
phương pháp implant nào sẽ được
thực hiện để tạo lập cấu trúc mông
lý tưởng nhất có thể. Nếu phần lớn
mông đang nằm ở phần mông
dưới thì sẽ sử dụng implant tròn
trong cơ bởi vì chúng giúp bổ sung
phần lớn diện tích cho mông trên
và vùng trung tâm. Nếu phần lớn
mông đang nằm ở vị trí trung tâm
thì bất kỳ loại vật implant nào cũng
sẽ đẹp vì bản thân mông đã cân đối
sẵn rồi. Các tác giả thích implant
dạng oval hoặc tròn trong những
trường hợp này. Nếu phần lớn thể
tích đang nằm ở vùng mông trên
thì áp dụng anatomic implant sẽ
hợp lý (vật implant dạng giọt nước)
vì hình dạng này sẽ giúp bổ sung
phần lớn diện tích ở vùng mông
giữa và dưới. Trong trường hợp
trên thì dùng vật implant dạng tròn
sẽ không hợp lý vì chúng càng làm
lộ sự thiếu hụt mô ở phía dưới. Kết
quả thu được sẽ không như mong
muốn. Khi cân nhắc xem nên dùng
loại vật implant nào, thì nên ưu
tiên kết quả ở góc nhìn sau trước
hơn là góc nhìn từ phía bên sang.
Góc nhìn PA giúp xác định tỉ lệ cao/
rộng của cơ mông: 2:1 là cao, ngắn
là 1:1 và ở giữa là trung bình. Trong
các trường hợp trung bình, có ý
kiến cho rằng góc nhìn từ bên sẽ
hữu ích hơn.

Chương 2: Hệ thống phân loại đánh giá vùng mông:Những quan điểm mới
40
Hình. 19. Ba vùng trên giữa dưới của mông.
Hình. 20. Phần lớn thể tích vùng mông tập trung ở 1/3 dưới, giữa, trên.
Lower buttock:
Central buttock:
Upper buttock:

Chương 2: Hệ thống phân loại đánh giá vùng mông:Những quan điểm mới
41
Liên quan giữa khối cơ mông lớn
và khung chậu

Để đánh giá mối tương quan
giữa cơ mông lớn và khung (chậu),
chúng ta cần:

Phải đánh giá xem các điểm
chuyển tiếp giữa cơ vùng mông và
khung chậu có được mềm mại, liên
tục hay không. Những điểm nối này
bản chất là vị trí của các bó cơ bắt
nguồn và bám tận tại khung xương.
Có 4 điểm chính phải được đánh
giá: điểm nối vùng trên trong mông
với tam giác cùng, điểm nối nếp lằn
mông với đùi, điểm nối vùng dưới
ngoài của mông với đùi và điểm nối
giữa mặt ngoài mông và hông.

Cơ mông trên trong mối
tương quan giữa vùng trên trong
mông với tam giác cùng

Trong vùng mông trên, phần
tiếp giáp giữa đường liên mông
và tam giác cùng phải là một hình
chữ V lõm sâu vào trong. Vùng này
được gọi là vùng chữ V.

Vùng này lõm vào bao nhiêu
sẽ ảnh hưởng tích cực đến tính
thẩm mỹ bấy nhiêu. Nếu lý tưởng,
bờ các khối cơ mông phải dễ dàng
xác định được bằng cách sờ ở
phía bên ngoài, với hình dạng bán
nguyệt cong lên trên (Hình 21). Bở
trên cùng của cơ mông phải vượt
qua khoảng ¼ đến 1/3 đường cong
tính từ vị trí điểm cao nhất của
đường liên mông. Nếu bờ cơ mông
hoặc vùng V không được xác định
rõ, mông trông sẽ bị dẹt, không
căng tròn. Để cải thiện vùng V, hãy
đánh giá xem vấn đề dẹt là do thừa
mỡ hay thiếu thể tích mông, hoặc
cả hai. Để từ đó quyết định xem
nên hút mỡ hay nâng mông bằng
implant hoặc ghép mô mỡ, hoặc cả
hai.

Khối cơ mông trong mối
tương quan của nếp lằn mông với
đùi

Để mổ tả khối cơ mông trong
mối tương quan giữa nếp lằn mông
và đùi, hãy lấy đường liên mông làm
trung tâm. Đầu trên của đường liên
mông có thể xác định một cách rõ
ràng; tuy nhiên, đầu dưới thì không
dễ dàng như vậy. Điểm dưới cùng
này là nơi mà hai bên mông tách
ra từ đường giữa. Nếu lý tưởng thì
điểm dưới này phải nằm ở 2/3 dưới
hoặc ¾ dưới của chiều cao khối cơ
(Hình 22). Hai mông tiếp tục tách
về hai phía cho tới khi chúng gặp
‘khớp nối’ vùng đùi trong. Tại vị trí
này, nếp lằn mông hợp với đường
liên mông góc 45 độ.

Chương 2: Hệ thống phân loại đánh giá vùng mông:Những quan điểm mới
42
Hình. 21. Đánh giá mối tương quan giữa cơ mông và vùng trên trong mông và
tam giác cùng. Ở ảnh bên trái, điểm chấm đen là khớp gian đốt L5-S1, đường nét
liền phía dưới đành dấu điểm cuối cùng của đường liên mông, và đường chấm
đánh dấu điểm cuối cùng của bờ trên cơ mông lớn. Bệnh nhân ở phía bên trái
có thể thấy rõ vùng chữ V cũng như bờ cơ mông lớn. Bệnh nhân bên phải không
thấy vùng chữ V vì thiếu thể tích vùng mông cũng như thừa mỡ vùng V, vì thế
trông mông sẽ bị dẹt.
Hình. 22. Nếp lằn mông (đường màu đỏ) có thể tồn tại ở ba dạng là
đường dốc xuống (lý tưởng), đường ngang, và đường dốc lên.

Chương 2: Hệ thống phân loại đánh giá vùng mông:Những quan điểm mới
43

Nếu lý tưởng, tương quan
giữa nếp lằn mông hai bên và vùng
đùi trong tạo ra 1 cấu trúc tưởng
tượng hình thoi (chính là vùng 6
trong 8 đơn vị thẩm mỹ) (Hình 22).
Nếu nếp lằn mông nằm ngang thì
gần như cấu trúc hình thoi kia sẽ
chuyển dạng thành 1 đường thẳng,
điều này làm giảm tính thẩm mỹ
của vùng mông. Khi mông bị sa, nếp
lằn mông lúc này lại tạo với mặt
trong đùi một góc âm (đối nghịch
với vùng mông lý tưởng), làm ảnh
hưởng rất xấu tới tính thẩm mỹ. Để
đánh giá vùng mông, độ nghiêng
của nếp lằn mông được xác định
là một đường thẳng dốc xuống,
đường ngang hoặc dốc lên và góc
tạo bởi nó và đường liên mông là
góc nghiêng (tính bằng độ).

Để cải thiện tình thẩm mỹ
vùng này, nên xác định kiểu hình
nếp lằn mông trước khi đưa ra
phương án điều trị. Nếu nếp lằn
mông nằm ngang (Hình 22), có thể
chỉ định hút mỡ vùng đùi trong và
nếp lằn mông. Nếu nếp lằn mong là
một đường hướng lên trên (hình
22c) thì nên thực hiện hút mỡ cả
đùi trong cũng như nếp lằn mông,
đồng thời xem xét cắt bỏ vùng da
thừa ở nếp lằn mông (hình 23).
Nếu lý tưởng, nếp lằn mông nên kết
thúc ở giữa mông đó hoặc có thể ra
ngoài một đoạn ngắn.
Khối cơ mông trong mối tương
quan của mặt dưới ngoài đùi và
giữa ngoài hông

Hai điểm bám cuối cùng
của cơ mông phải được đánh giá
là ‘khớp nối’ mặt dưới ngoài mông
với đùi và ‘khớp nối’ vùng giữa
ngoài mông với mặt ngoài đùi. Nếu
lý tưởng (Hình 24 và 25), bờ các cơ
vùng mông có thể không xác định
được vì chúng nối liên tục với khu­
ng, thống nhất thành 1 khối. Tuy
nhiên, ở một số bệnh nhân, phần
bờ ngoài của khối cơ lại xác định
được rõ ràng, tạo ra một đường
lõm không thẩm mỹ.

Các vùng chuyển tiếp này
nên được đánh giá và phân loại là
chuyển tiếp liên tục (không thấy
mép cơ), vừa phải (đường ranh
giới chúng tạo ra không rõ nét),
và không liên tục (đường ranh
giới rõ nét) (xem hình 24 và 25).
Khi sự phân tách này ngày một rõ,
nên xem xét để tiêm lipofiller giúp
đường chuyển tiếp trở nên liên tục.

Chương 2: Hệ thống phân loại đánh giá vùng mông:Những quan điểm mới
44
Hình. 23. Hình ảnh trước (trái) và sau (phải) của một bệnh nhân đã thực hiện
nâng mông bằng thủ thuật cấy vòng lớn, nếp lằn mông cũ bỏ, kèm theo hút mỡ
vùng mông trên và vùng dưới nếp lằn mông.
Hình. 24. Đánh giá vùng chuyển tiếp giữa mặt dưới ngoài mông với đùi. Vùng
chuyển tiếp lý tưởng là dạng chuyển tiếp liên tục (bên trái). Vùng chuyển tiếp
khác có thể ở mức trung gian hoặc không liên tục (hình giữa và bên phải). Mũi
tên màu đỏ chỉ vào vùng chuyển tiếp.
Smooth transition: Chuyển tiếp liên tục
Moderate demarcation: Trung gian
Sharp demarcation: Không liên tục

Chương 2: Hệ thống phân loại đánh giá vùng mông:Những quan điểm mới
45
Hình. 25. Đánh giá vùng chuyển tiếp giữa mặt giữa ngoài mông và hông (mũi
tên đen). Vùng chuyển tiếp liên tục được coi là lý tưởng. Các vùng chuyển tiếp
khác có thể là trung gian hoặc không liên tục (hình giữa và bên phải). Ở cả 3
bệnh nhân này, điểm C đều không có dấu hiệu lõm.
Smooth transition: Chuyển tiếp liên tục
Moderate demarcation: Trung gian
Sharp demarcation: Không liên tục
ĐỘ ĐÀN HỒI DA

Lý do chính để đảnh giá độ
đàn hồi da là để xác định xem có
cần nâng mông trên hoặc cắt bỏ
vùng da thừa ở nếp lằn mông hay
không để tái tạo đường cong thẩm
mỹ. Da thừa nhiều thường xuất
hiện ở bệnh nhân sau MWL (Hình
26). Nếu da chảy xệ ở vùng chứa
điểm B hoặc C thì có thể chỉ định
làm thủ thuật nâng mông. Chỉ định
khác để thực hiện nâng mông là
bệnh nhân có tình trạng lõm nặng
ở điểm C, tuy nhiên, việc chuyển
mô mỡ từ vùng khác qua cũng có
thể xem xét để thực hiện. Luôn nhớ
rằng độ lõm tại điểm C cáng lớn thì
khả năng bệnh nhân cần thực hiện
nâng mông càng lớn theo.
SA VÙNG MÔNG

Bước cuối cùng khi đánh giá
vùng mông là đánh giá tình trạng
sa mông. Để đánh giá, nên đứng ở
phía bên để nhìn và phân loại sa
mông (từ không sa đến có sa), cả 2
loại này đều được phân loại thành
3 phân lớp phía dưới chúng. Việc
phân loại này quyết định xem nên
thực hiện quy trình nào cho bệnh
nhân.
Phân loại

Ở những bệnh nhân không
có sa mông, toàn bộ vùng mông
nằm trên nếp lằn mông và không
có phần da thừa nằm dưới nếp lằn.

hacklink satın al mumu模拟器 雷电模拟器 向日葵 giftcardmall/mygift giftcardmall balance mygift giftcardmall matbet matbet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Betgaranti Betgaranti Güncel Adres Betgaranti Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Fim İzle Fim İzle Giriş Fim İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Fim İzle Fim İzle Güncel Adres Fim İzle jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Giriş Casibom Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Jojobet Jojobet Giriş Jojobet Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Deneme Bonusu Film İzle Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Türkçe Dublaj Film İzle Film İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi perabet perabet giriş holiganbet holiganbet giriş Casibom Lesfillmercom Casibom Lesfillmercom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Gerbergirlcom Casibom Gerbergirlcom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Spcelectriccontrolcom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş marsbahis marsbahis giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş matbet matbet giriş matbet güncel giriş vaycasino vaycasino güncel giriş vaycasino giriş matbet matbet giriş pusulabet pusulabet giriş pusulabet pusulabet güncel giriş pusulabet giriş matbet matbet güncel giriş matbet giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Resmi Adres pusulabet pusulabet giriş pusulabet güncel giriş Fixbet Fixbet Güncel Giriş Salvobet Salvobet Giriş Salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Turk Porno Turk Porno Giriş Turk Porno casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi casibom casibom jojobet izmir escort izmir buca escort buca escort jojobet casibom holiganbet holiganbet giriş jojobet holiganbet holiganbet giriş jojobet jojobet jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş izmir escort izmir buca escort buca escort izmir escort bayan salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Giriş Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Deneme Bonusu Veren Giriş Deneme Bonusu Veren salvobet salvobet salvobet salvobet Casibom betgaranti betgaranti betgaranti matbet matbet giriş matbet matbet giriş Casibom Casibom Salvobet jojobet Salvobet Salvobet Salvobet Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Güncel Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis bahsegel Fixbet Fixbet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş 1xbet 1xbet Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Listesi Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler grandpashabet grandpashabet grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler vaycasino vaycasino giriş jojobet grandpashabet casibom Casibom Casibom Giriş casibom www.giftcards.com Marsbahis grandpashabet jojobet jojobet jojobet grandpashabet casibom jojobet Casibom Casibom Casibom Casibom Casibom Grandpashabet Grandpashabet Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Marsbahis Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres grandpashabet grandpashabet giriş Casibom Fixbet Fixbet Giriş Casibom İzmir Escort İzmir eskort İzmir Escort Bayan Vip escort Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Holiganbet Holiganbet Güncel Adres Nevşehir escort Kapadokya escort Nevşehir escort bayan nevşehir eskort escort nevşehir Casibom Casibom Giriş Adresi Kapadokya esc Casibom Casibom Resmi Adres