Chương 2: Hệ thống phân loại đánh giá vùng mông:Những quan điểm mới
46
Tuy nhiên, dựa trên hình dạng
vùng mông của đa số những bệnh
nhân này, có thể chia thành 3 lớp:
A, B và C (Hình 27).
Lớp A
Ở những bệnh nhân thuộc
lớp này, hầu hết phần mông nằm
ở tập trung ở giữa, mô mỡ dưới da
được phân bố đều ở phần mông
trên và mông dưới. Ở mặt bên,
không phát hiện tình trạng sa hoặc
các vết lõm trên bề mặt, bờ mông
có hình chữ C mềm mại. Lớp A này
là hình dáng lý tưởng cho vùng
mông, đặc biệt có tính thẩm mỹ cao
khi nhìn từ phía bên. Những bệnh
nhân thuộc lớp này chỉ cần thực
hiện thủ thuật nâng mông đơn
thuần.
Lớp B
Về cơ bản, các bệnh nhân ở
lớp B có hình dáng mông điển hình
như sau: không có phần da chùng
xuống phía dưới nếp lằn mông,
nhưng có sự xuất hiện các vết lõm
ở nửa dưới của phần trung tâm,
dẫn tới bờ mông không có đường
cong mềm mại (Hình 27). Đối với
bệnh nhân thuộc lớp này, nên phối
hợp thực hiện Nâng mông với cấy
mỡ tự thân. Implant cũng giúp
ích trong một số trường hợp. Việc
chuyển mô mỡ từ vùng này qua
vùng khác có thể được thực hiện
ngay tại thời điểm phẫu thuật hoặc
được coi như giai đoạn 2 của phẫu
thuật nâng mông. Hút mỡ tối thiểu
và bảo tồn là một sự lựa chọn khác
để cải thiện đường bờ mông dưới.
Đối với các bác sĩ phẫu thuật thích
đặt implant ở dưới cân, một bệnh
nhân không sa vùng mông lớp B là
những ứng cử viên sáng giá cho thủ
thuật này vì vật implant sẽ có tác
động trực tiếp lên vùng này.
Lớp C
Trong lớp C, da không bị xệ
xuống dưới nếp lằn mông nhưng
nếp này cũng không được nhìn
thấy rõ ràng. Mỡ phân bố đều khắp
mông khi nhìn từ phía bên. Phẫu
thuật làm đầy mông nên được chỉ
định cho những bệnh nhân này.
Phân loại sa mông
Phân loại này được áp dụng
khi có vùng da sa xuống dưới nếp
lằn mông và chúng được chia thành
3 giai đoạn I, II, III (Hình 28).
Giai đoạn I
GĐ I rất giống với phân loại
không sa – lớp C; tuy nhiên, một
phần thể tích mông và da sa xuống
dưới nếp lằn mông (mức độ ít). Khi
nhìn nghiêng, sẽ phát hiện 1 nếp
lằn rõ nằm ngang. Trong những
trường hợp này, chỉ cần làm đầy
mông mà không cần nâng mông
trên.
Chương 2: Hệ thống phân loại đánh giá vùng mông:Những quan điểm mới
47
Hình. 26. (A) Đánh giá độ chùng của da mông ở các vị trí với các hình
dạng khác nhau. Bệnh nhân bên trái bị lõm nghiêm trọng ở điểm C và
vùng ngoài da tương đối sần sùi. Cô ấy nên được điều trị bằng các pp nâng
mông. 3 bệnh nhân còn lại xuất hiện vùng da thừa và nếp nhăn ở điểm B và
C. (B) Bệnh nhân ở ảnh ngoài cùng bên phải của hình 26A sau khi trải qua
phẫu thuật nâng mông trên bằng vạt da. Ở thì hai của cuộc phẫu thuật, cô
ấy đã được nâng nếp lằn mông và làm đầy bằng implant.
Chương 2: Hệ thống phân loại đánh giá vùng mông:Những quan điểm mới
48
Hình. 27. Phân loại các bệnh nhân không có sa mông theo 3 lớp A, B, và C. Đường
nét đứt biểu thị cho nếp lằn mông nhìn từ phía bên (đôi khi được gọi là crease).
Class A- No ptosis: Lớp A – Không sa
Class B - No ptosis: depression , lower part of central zone: Lớp B – Không sa: Lõm
ở phía dưới vùng trung tâm.
Class C - No ptosis at crease: Lớp C – Không sa xuống dưới nếp lằn mông.
Gluteal crease line : Nếp lằn mông
Ở một nhóm rất nhỏ bệnh
nhân có sa mông giai đoạn I, việc
cắt bỏ vùng da thừa dưới nếp lằn
mông có thể được xem xét nhưng
việc thực hiện chúng cực kỳ hiếm
khi xảy ra. Các tác giả khuyên nên
thực hiện làm đầy trước và sau đó
đánh giá lại vùng mông sau khoảng
3-6 tháng.
Giai đoạn II
Bệnh nhân ở giai đoạn II, nếp
lằn mông vẫn còn nhìn thấy nhưng
có tổ chức da sa xuống dưới nếp lằn.
Trong khi nếp lằn mông ở giai đoạn I
còn nằm ngang thì giai đoạn II có góc
cạnh hơn. Cụ thể, thường có một độ
lõm nhất định ở phần trên của vùng
mông dưới (Hình 28). Ở đây cũng có
thể xuất hiện tình trạng mất đàn
hồi da và xuất hiện các vết rạn da.
Nếu các vết rạn xuất hiện ở khu vực
điểm B và C thì nên chỉ định nâng
mông; tuy nhiên, đa số trường hợp
giai đoạn II chỉ cần làm đầy mông là
đủ. Những bệnh nhân này cũng có
thể phải cắt bỏ phần da thừa ở gần
nếp lằn mông. Nhưng tác giả khu
yến nghị là nên thực hiện làm đầy
mông trước và sau đó đợi từ 3 tới
6 tháng để xem liệu có cần cắt bỏ
vùng da thừa đó hay không.
Giai đoạn III
Bệnh nhân ở giai đoạn này có
phần da chùng nhiều nhất, xuống
dưới nếp lằn mông khi nhìn từ phía
Chương 2: Hệ thống phân loại đánh giá vùng mông:Những quan điểm mới
49
bên. Nếp lằn này mở rộng về phía
mặt trong đùi, và góc tạo bởi chúng
và đường liên mông thường lớn
hơn 30 độ. Giai đoạn này cũng
được mô tả bởi chỗ lõm ở phần
dưới của khu vực trung tâm (hình
28). Các vết rạn da xuất hiện chủ
yếu ở vùng điểm B, và da có độ đàn
hồi kém với các vết rạn rải rác. Điều
trị bệnh nhân ở giai đoạn này cần
thực hiện nâng mông trên, cắt vùng
da thừa dưới nếp lằn mông và làm
đầy mông. Trong các thủ thuật này,
có thể thực hiện 1 trong 3 trước
đều được.
PUTTING IT ALL TOGETHER
Để đạt thẩm mỹ vùng mông
tốt nhất, nên giải quyết đồng thời
việc làm đầy mông và tạo đường
nét bờ mông vì chúng có mối liên
hệ trực tiếp với nhau. Khi tiếp cận
những bệnh nhân này, Bs phãu
thuật nên tìm cách tạo đường nét
trước khi thực hiện làm đầy. Để
đơn giản, hãy xem mông là 2 cấu
trúc riêng biệt có thể tháo rời:
phần khung và cơ mông lớn có thể
tháo ra. Và chia việc đánh giá thành
4 bước cơ bản.
Đánh giá khung và đơn vị thẩm
mỹ vùng mông
1.Xác định xem khung chậu cao,
trung bình hay thấp.
2.Xác định kiểu khung là vuông,
tròn, hình V hay A và đánh giá đơn
vị thẩm mỹ vùng mông. Hiểu được
loại khung và tình trạng của từng
đơn vị thẩm mỹ vùng mông sẽ giúp
xác định những khu vực nào cần
làm đầy/hút mỡ/cắt bỏ hoặc đặt
đường rạch.
3.Xác định xem mức độ lõm tại điểm
C ở mức nào. Độ lõm này quyết
định xem liệu quá trình chuyển mô
mỡ có nên thực hiện hay không. Tại
thời điểm này, nên đánh giá sự hiện
diện và số lượng nếp nhăn, vết rạn
da tại các điểm A, B, C.
4.So sánh chiều cao xương cùng
với độ dài đường liên mông. Chiều
cao xương cùng phải nhỏ hơn 1/3
chiều dài nếp liên mông. Nếu chiều
cao này bằng hoặc thận chí lớn
hơn, nếp liên mông nên được kéo
dài bằng cách thêm mô mỡ vào
vùng mông trên trong hoặc hút mỡ
ở vùng V.
Đánh giá khối cơ mông
1.Xác định xem đây là bệnh nhân
có cơ mông lớn cao, trung bình hay
ngắn; điều này sẽ giúp ích trong
việc lựa chọn vật implant. Nếu cơ
cao (tỉ 2:1) thì dùng anatomic im
plant, nếu ngắn (tỉ 1:1) dùng vật cấy
tròn (round). Hầu hết bệnh nhân sẽ
nằm trong loại cơ trung gian, trong
những trường hợp này, hãy chú ý
nhìn bệnh nhân từ phía bên, xác
định phần lớn thể tích mông nằm ở
vùng trên, giữa hay dưới. Nếu phần
lớn nằm ở phía trên thì dùng ana
tomic implant, nếu phần lớn nằm ở
trung tâm thì dùng bất kỳ loại nào
cũng được, còn nếu phần lớn nằm
ở vùng mông dưới thì nên dùng
Chương 2: Hệ thống phân loại đánh giá vùng mông:Những quan điểm mới
50
round implant.
2.Đánh giá chiều rộng nền cơ mông
lớn để xem chúng thuộc nhóm cơ
rộng, trung bình hay hẹp.
3.Đánh giá 4 góc phần tư của mông
(trên trong, trên ngoài, dưới trong
và dưới ngoài) để xác định vùng
nào thiếu/thừa mô.
Đánh giá 4 điểm cốt yếu kết nối
cơ với khung
1.Phần tiếp giáp của vùng mông
trên trong và tam giác cùng thường
phải được xác định tính thẩm mỹ.
Nếu vùng này có biểu hiện dẹt,
đầy thì có thể có mỡ thừa ở vùng
V (đường liên mông-xương cùng)
hoặc thiếu thể tích mông (hoặc cả
hai).
2.Đường tiếp giáp giữa nếp lằn
mông và đùi cũng cần phải xác
định rõ. Nếu vùng này quá đầy, đơn
vị thẩm mỹ số 6 (trong 8) đáng lẽ
phải là hình thoi thì bây giờ trở
thành một đường thẳng, điều này
làm giảm tính thẩm mỹ của vùng
mông. Cũng cần đánh giá góc của
nếp lằn mông với đường liên mông.
Chúng có thể là 1 trong 3 dạng, dốc
xuống, ngang và dốc lên. Nếu có mỡ
thừa, hãy cân nhắc hút mỡ vùng đùi
trong và mặt trong nếp lằn mông.
Cũng cần xem xét việc cắt bỏ vùng
da sa xuống dưới nếp lằn mông.
3.Đánh giá 2 vùng quan trọng còn
lại: vùng mông dưới ngoài và đùi
với vùng giữa ngoài mông với đùi
ngoài. Vùng chuyển tiếp là liên tục,
trung gian hay gián đoạn. Nếu là
trung gian hoặc gián đoạn thì nên
cân nhắc chuyển mô mỡ tới vùng
này.
Đánh giá sa mông (hướng bên) 1
1.Nếu tình trạng sa tồn tại, thì xác
định nó thuộc giai đoạn I, II hay
III. Thông tin này + thông tin thu
được từ góc nhìn PA đánh giá độ
chùng da hoặc nếp nhăn, vết rạn
da ở điểm A, B hoặc C sẽ giúp bác
sĩ phẫu thuật thông báo cho bệnh
nhân của họ rằng họ cần năng vùng
mông trên hay không (cần ở bệnh
nhân sa GĐ II, III) hoặc cần cắt bỏ
vùng da thừa ở gần nếp lằn mông
hay không.
2.Nếu không có sa, hãy xác định
xem mông thuộc lớp A, B hay C.
Thông tin này sẽ giúp xác định
xem liệu có cần chuyển chất béo
đến vùng giữa dưới mông (lớp B)
hay cần hút mỡ vùng dưới nếp lằn
mông. Phân loại này cũng là yếu tố
chính quyết định xem nên sử dụng
loại vật implant ào (anatomic hay
round). Cuối cùng, đánh giá từ phía
bên giúp xác định xem có chỉ định
hút mỡ vùng sau xương cùng hay
không.
TỔNG KẾT
Tạo hình mông và làm đầy
mông là 2 quy trình rất khác nhau
nhưng lại song hành với nhau. Hệ
thống phân loại được đề xuất này
giúp đánh giá giải phẫu cụ thể của
từng bệnh nhân và phân tích các
vùng đường bờ quan trọng của
vùng mông. Ngoài ra, hệ thống này
Chương 2: Hệ thống phân loại đánh giá vùng mông:Những quan điểm mới
51
giúp chuẩn hóa đánh giá và trả lời
các câu hỏi sau:
1.Có cần hút mỡ không và nếu có
thì phải hút ở đơn vị thẩm mỹ vùng
mông nào: mạn sườn, xương cùng
(chữ V), mông trên (điểm A), mặt
ngoài đùi (điểm B), nếp lằn mông
hay khớp nối vùng mông dưới
ngoài với đùi?
2. Có cần chuyển chất béo không
và nếu có, ở đơn vị thẩm mỹ hoặc
vùng chuyển tiếp nào: điểm C,
khớp nối mặc dưới ngoài mông với
đùi, khớp nối giữa ngoài mông với
hông, khớp nối trên trong mông
với tam giác cùng hay vùng trên
giữa dưới mông?
3. Cần làm đầy mông bằng chuyển
mô mỡ hay implant?
a.Nếu chuyển mỡ thì cần khối
lượng bao nhiêu, đến vùng mô nào
và để nâng vùng nào của khung/
đơn vị thẩm mỹ vùng mông?
b.Nếu dùng implant, thì cần dùng
loại nào, hình dạng kích thước ra
sao? Mặt phẳng nào được sử dụng
để đặt implant (trong cơ, dưới cơ
hay dưới cân)?
4.Có cần bất kỳ thủ thuật bổ sung
nào để tạo đường nét bờ mông hay
không, và nếu có thì phương pháp
nào là có lợi nhất: nâng mông, cắt
bỏ phần da thừa ở dưới nếp lằn
mông/vùng mông dưới?
Các quy trình thực hiện tùy
thuộc vào trình độ và cảm quan của
từng Bs phẫu thuật thẩm mỹ.
Chương 2: Hệ thống phân loại đánh giá vùng mông:Những quan điểm mới
52
Hình. 28. Giai đoạn I, II, III của bệnh nhân có tình trạng sa mông. Ở giai đoạn I,
góc tạo bởi nếp da nhỏ hơn 10 độ. Ở giai đoạn II, focs này rơi vào khoảng từ 10-
30 độ. Còn ở giai đoạn III, góc tạo bởi nếp da lớn hơn 30 độ.
Ptosis Grade I 00-100: Sa mông GĐ I 00-100
Ptosis Grade II 100-300
Ptosis Grade III 300 or greater: Sa mông GĐ III 30° hoặc hơn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. ASERF outlines recommenda
tions to increase safety of gluteal fat
grafting procedures. Available at:
https://
news-releases/aserf-outlinesrec
ommendations-to-increase-safe
ty-of-gluteal-fatgrafting-proce
dures. Accessed December 19,
2017.
2. Mofid MM, Teitelbaum S, Suissa
D, et al. Report on mortality from
gluteal fat grafting: recommenda
tions from the ASERF task force.
Aesthet Surg J 2017;37(7):796–
806.
3. Mendieta CG. Gluteoplasty. Aes
thet Surg J 2003;23:441–55.
4. Robles JM, Tagliaprieta JC, Gran
di M. Gluteo- plastia de aumento:
implante submusculares. Cir Plast
I b e r o l a t i n o a m e r i c a n a
1984;10(4):365–9.
5. Gonza´lez-Ulloa M. Gluteoplasty:
a ten-year report. Aesthetic Plast
Surg 1991;15:85–91.
6. De la Pena JA. Subfascial tech
nique for gluteal augmentation.
Aesthet Surg J 2004;24:265–73.
7. Vergara R, Marcos M. Intramus
cular gluteal implants. Aesthet
Plast Surg 1996;20:259–63.
8. Mendieta CG. Classification sys
tem for gluteal evaluation. Clin
Chương 2: Hệ thống phân loại đánh giá vùng mông:Những quan điểm mới
53
Plast Surg 2006;33(3):333–46.
9. Mendieta CG. Gluteal reshaping.
Aesthet Surg J 2007;27(6):641–55.
10. Centeno RF. Gluteal aesthetic
unit classification: a tool to improve
outcomes in body contouring. Aes
thet Surg J 2006;26(2):200–8.
11. Roberts TL III, Mendieta CG.
Buttocks augmentation by micro
fat grafting or implants. Present
ed at the ASAPS Aesthetic Surgery
Meeting. Vancouver, Canada, April
15–21, 2004
Chương 3 : Biến chứng các thủ thuật nâng mông
54
Biến chứng các thủ thuật nâng
mông
3
Bivik Shah, MDa,b'*
TỪ KHÓA
• Mông • Nâng mông/Làm đầy mông • Ghép mô mỡ tự thân • Biến chứng
ĐIỂM QUAN TRỌNG
•
Nâng mông/Làm đầy mông.
•
Biến chứng làm đầy mông bằng implant.
•
Biến chứng ghép mô mỡ tự thân.
Vùng mông đóng vai trò
quan trọng đối với tính thẩm mỹ
toàn thân. Tượng thần vệ nữ, có
niên đại từ thế kỷ thứ nhất – thứ
hai trước Công nguyên, đã nổi tiếng
với phần ngực trần và nửa dưới kh
iêu gợi. Kể từ đó, tầm quan trọng
và sức hấp dẫn của cơ thể, đặc biệt
là ba vòng trên cơ thể nữ nhân đã
tăng lên đáng kể. Sự kết hợp giữa
quảng cáo tự thân của người nổi
tiếng, các hình ảnh của người mẫu
và các video âm nhạc truyền cảm
hứng cho hàng triệu người đã dần
hình thành những chuẩn mực về
một vòng ba đẹp.
Phẫu thuật thẩm mỹ là một
chuyên ngành cũng đóng vai trò
quan trọng. Hai thập kỷ trở lại đây,
các quy trình kỹ thuật thống nhất
và đạt độ an toàn cao vẫn chưa
được các hội đồng phê duyệt. Với
nhu cầu ngày càng tăng đến từ các
khách hàng, nâng mông đang dần
trở thành thủ thuật được các Bs
phẫu thuật thẩm mỹ quan tâm.
Các thủ thuật nâng mông bắt
đầu được biết tới nhiều hơn. Nó
tiếp tục trên đà leo thang, đạt mức
tăng lớn nhất trong năm so với bất
kỳ thủ thuật thẩm mỹ nào khác.
Theo thống kế của Hiệp hội Phẫu
thuật tạo hình thẩm mỹ Hoa kỳ
(ASAPS), trong nằm 2013 có 11527
ca phẫu thuật nâng mông. Năm
2016, có 20673 ca phẫu thuật nâng
mông. Để so sánh, chúng ta công bố
số liệu các ca nâng ngực cùng năm,
lần lượt là 313327 và 310444.
Biến chứng cũng dần được
các nhà làm lâm sàng báo cáo. Thật
không may, mức độ nghiệm trọng
của biến chứng nâng mông khá
nặng nề và mức độ rủi ro cũng cao
hơn so với các thủ thuật thẩm mỹ
khác.
GHÉP MÔ MỠ TRONG THỦ
THUẬT NÂNG MÔNG
Ghép mỡ để làm đầy mông
đã nổi lên là kỹ thuật chính được
Chương 3 : Biến chứng các thủ thuật nâng mông
55
đa số bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ sử
dụng. Năm 2016, theo thống kê của
ASAPS, 92% số ca nâng mông được
thực hiện bằng chuyển mỡ và chỉ
8% bằng implant. Tôi nghĩ có thể
giải thích cho sự khác biệt lớn này
như sau: nâng mông bằng implant
là một phẫu thuật khó hơn nhiều
với đa dạng các biến chứng khó
lường cũng như di chứng để lại sau
phẫu thuật. Ghép mô mỡ thì thực
hiện đơn giản hơn, ít biến chứng
hơn. Về mặt khái niệm, nó không
quá khó như implant vì không phải
lo lắng nhiều về biến chứng như vật
cấy di lệch, bục chỉ, sa, lộ implant,
và thời gian phẫu thuật kéo dài.
Ghép mô mỡ để nâng mông
bắt đầu được thực hiện từ cuối
những năm 1990 và đầu những
năm 2000. Nó đã được sử dụng
để giúp tái tạo đường bờ mông từ
những năm 1986 bởi Gonzalez và
Spina. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu
các báo cáo về biến chứng. Hầu hết
các báo cáo ban đầu đều không ghi
nhận biến chứng nào nghiêm trọng.
Tuy nhiên, những bài báo này được
nghiên cứu từ một lượng nhỏ bệnh
nhân, lượng mỡ ghép cũng không
lớn, hoặc thường áp dụng trong
chỉnh hình các dị dạng nhiều hơn là
để nâng mông. Restrepo và Guerre
rosantos là những tác giá đầu tiên
báo cáo về biến chứng, nhưng họ
chỉ ghi nhận 1 trường hợp nhiễm
khuẩn huyết nhưng lại hòi phục
tốt.
Sau gần hai thập kỷ được áp
dụng rộng rãi, các bBáo cáo về biến
chứng dường như đã đầy đủ hơn.
Cũng vì thế mà chúng ta dần quan
tâm tới chúng hơn. Các nghiên cứu
đã có sự thay đổi rộng rãi về lượng
mô mỡ được ghép, sự thay đổi
trong cách chuẩn bị mô ghép cũng
như vị trí cấy mô mỡ.
Bướu huyết thanh
Trong một nghiên cứu tổng
phân hợp gần đây cho thấy tỉ lệ gặp
bướu huyết thanh là 3.5%. Xuất
hiện bướu huyết thanh sau khi
ghép mỡ để nâng mông luôn xảy
ra ở khu vực hút mỡ - vùng thắt
lưng cùng. Đặc biệt, tam giác cùng
là vùng ghi nhận nhiều bướu huyết
thanh nhất. Một nghiên cứu tổng
quan khác của Oranges và cộng
sự đã cho thấy tỉ lệ này là 3.1%.
Cả hai nghiên cứu này đều không
cung cấp thông tin chi tiết về việc
hút mỡ được thực hiện như thế
nào cũng như các dụng cụ dùng
trong phẫu thuật ra sao. Để tạo tính
thẩm mỹ cho vùng thắt lưng cùng,
thường chúng ta sẽ đưa kim vào
vùng chữ V để hút bớt mỡ dư thừa.
Từ quá trình này, người ta cho rằng
việc hình thành bướu huyết thanh
phụ thuộc vào lượng mỡ còn lại và
lượng mạc bị bóc tách. Điều này
tương tự như việc hình thành các
bướu huyết thanh sau chuyển vạt
cơ lưng rộng. Để giúp giảm bớt các
biến chứng này, một số nhà phẫu
thuật đã sử dụng các loại ống hút
mỡ kín. Theo quá trình thực hành
của tác giả, ông không ghi nhận
trường hợp bướu huyết thanh nào
khi sử dụng loại ống hút kín này.
Chương 3 : Biến chứng các thủ thuật nâng mông
56
Loại ống hút này cũng giúp tạo
hình cho khu vực thắt lưng cùng
bằng việc giảm tích tụ dịch ở khu
vực, hạn chế khả năng xơ hóa mô.
Brunner và cộng sự đã đánh giá
261 bệnh nhân ghép mỡ và nhận
thấy rằng sau khi họ sử dụng 2 ống
hút mỡ trong phẫu thuật (trong
100 bệnh nhân cuối cùng được
đưa vào nghiên cứu) thì không có
ai xuất hiện bướu huyết thành sau
phẫu thuật.
Nhiễm khuẩn
Tỉ lệ nhiễm khuẩn có thể
thay đổi từ 0.3% tới 1.96% trong
các nghiên cứu đã được công bố từ
trước tới giờ. Trong 2 nghiên cứu
tổng phân hợp lớn, tỉ lệ nhiễm trùng
vào khoảng 2%. Brunner và cộng
sự à những người đầu tiên mô tả
nhiễm khuẩn huyết tối cấp có hoặc
không có DIC. Brunner đã công bố
xác suất gặp biến chứng này vào
khoảng 0.4%. Đúng như dự đoán,
các vi khuẩn căn nguyên phổ biến
nhất là gram âm (Escherichia coli,
Bacteroides fragilis, Microaero
philic streptococci, Pseudomonas
aeruginosa và Enterococci). S.au
reus là một trong những tác nhất
ít gặp nhất, chỉ 1/150 bệnh nhân.
Có 1 bệnh nhân mắc Mycobacteri
um fortuitum chelonei phát triển
chậm và 6 bệnh nhân không rõ
mầm bệnh. Một biến chứng hiếm
gặp nhưng nguy hiểm đó là nhiễm
khuẩn huyết sau khi ghép mỡ nâng
mông. Hầu hết các nghiên cứu đã
thảo luận về biến chứng này, vì
chúng ít khi xảy ra, nên khả năng
xuất hiện trong các nghiên cứu là
rất thay đổi. Cụ thể ở nghiên cứu
của Oranges và cộng Sự thì cho thấy
tỉ lệ này là 0.4%, trong khi ở nghiên
cứu của Restrepo và Ahmed thì
thấy xuất hiện ở 1/96 bệnh nhân.
Brunner và cộng sự đã tin
tưởng rằng bằng việc sử dụng pro
tocol của họ có thể giúp giảm tỉ lệ
nhiễm trùng từ 13.3% xuống 2%
(Bảng 1).
NHỮNG BIẾN CHỨNG KHÁC
Due to the nature of fat graft
ing and the unpredicBảng nature
of grafted fat resorption, there are
a variety of Biến chứng that occur
but are not quantifiable or measur
able. Asymmetry and paraesthesia
in the buttock skin and fat harvest
sites are encountered. Various
studies have put the incidence at
2% to 4%.4,8,10-12
HẤP THU MỠ
Một trong những khía cạnh
cần quan tâm khi ghép mô mỡ vùng
mông là lượng mỡ sẽ dần được hấp
thu và phân bố lại. Nhưng rất tiếc là
chúng ta không thể kiểm soát được
quá trình đó. Hầu hết các báo cáo
cho thầy khoảng 50% lượng mỡ
sẽ bị tái hấp thu dần đi và vì thế họ
khuyên rằng nên ghép nhiều hơn
(thậm chí là gấp đôi) lượng mỡ đã
ước tính để đạt được kết quả tốt.
Điều này làm giảm đi số bệnh nhân
đồng ý thực hiện thủ thuật này
Chương 3 : Biến chứng các thủ thuật nâng mông
57
vì những lo ngại ‘ngoại hình’ của
họ sau phẫu thuật sẽ không được
như ý muốn. Thực sự rất khó để
có thể trích dẫn đầy đủ số liệu về
tỉ lệ lượng mỡ hấp thu đi sau phẫu
thuật vì chúng phụ thuộc vào đặc
điểm từng bệnh nhân.
Bảng 1
Protocol được Brunner áp dụng để
hạn chế tối đa biến chứng
Tiền phẫu
Tiêm tĩnh mạch ampi
cillin, gentamicin, và
cefazolin
Tiền phẫu
Không cạo lông mu mà
chỉ cố định lại cho gọn
gàng
Chu phẫu
Chuẩn bị phẫu trường
Chu phẫu
Miếng
đệm
ngâm
trong povidone iot, đặt
rãnh liên mông
Chu phẫu
Canuyn nên được lau
bằng
povidone/iot
trước khi tiêm mỡ vào
dưới da mông.
Chu phẫu
Với mỗi 200 cm2 mô
mỡ lấy đi thì thêm 2g
ampicillin, 1g sulbact
am, 80mg gentamycin
và 2g defazolin cho
bệnh nhân.
Streit và cộng sự gần đây đã
công bố một nghiên cứu cho thấy
dù gạn lọc, ly tâm hay lọc qua màng
đều cho ra kết quả lượng mỡ hấp
thu gần tương tự nhau. Một trong
những nghiên cứu phân tích hiện
tượng này tốt nhất là nghiên cứu
của Castaneda và Ribeiro. Họ đã
quan sát lượng mỡ được tiêm vào
khu vực quanh rốn của 1 bệnh nhân
ở các thời điểm trước 60 ngày, 30
ngày, 21 ngày, 15 ngày, 8 ngày, 5
ngày và 2 ngày trước khi thực hiện
tạo hình thành bụng. Tại thời điểm
phẫu thuật, họ đã lấy ra lượng mỡ
còn lại sau khi tiêm tại các thời
điểm, cho thấy chỉ có khoảng 50%
lượng mỡ tiêm vào còn tồn tại. Đối
với lượng mỡ được tiêm tại thời
điểm 60 ngày hoặc 30 ngày trước
phẫu thuật thì chỉ còn khoảng 50%.
Hơn nữa, lượng mỡ còn tồn tại này
dày khoảng 1.5 mm tính từ ngoài
vào còn phần trong thì chỉ đơn tuần
là mô sẹo/collagen.
Cho đến nay, không có ng
hiên cứu nào được công bố đề cập
một cách khác đến lượng mỡ còn
lại sau các thủ thuật ghép mỡ nâng
mông. Một số nghiên cứu đã đánh
giá lượng mỡ còn lại ở môi trường
in vitro, nhưng tất cả các nghiên
cứu đều chỉ đánh giá khả năng sống
của tế bào mỡ chứ không đánh giá
về sự thay đổi thể tích mà lượng
mỡ đó mang lại – thứ mà lâm sàng
thực sự quan tâm.
NANG DẦU, HOẠI TỬ MỠ VÀ
TĂNG SẮC TỐ
Những biến chứng như hình
thành nang dầu, hoại tử mỡ và tăng
sắc tố không thường xuyên được đề
cập trong các công bố. Tuy nhiên,
chúng xảy ra tương đối nhiều trên
bệnh nhân. Nang dầu và hoại tử mỡ
rất khó phát hiện vì chúng thường
không có triệu chứng. Nếu chúng
Chương 3 : Biến chứng các thủ thuật nâng mông
58
ở gần bề mặt, nang có thể tự tiêu
đi hoặc chỉ cần 1 số thủ thuật nhỏ
để xử lý. Một nghiên cứu báo cáo tỉ
lệ hoại tử mỡ là 4%. Trong nghiên
cứu này, đề cập tới một bệnh nhân
duy nhất có biểu hiện chảy dịch,
sau đó đã được chích rạch, dẫn lưu
và đặt catheter pigtail để giải quyết
hậu quả.
HUYẾT TẮC MỠ
Có 2 trường hợp mà huyết
tắc mỡ gây ra những biến chứng
nặng nề. Đầu tiên là cục tắc đi theo
hệ tuần hoàn về phổi gây nhồi máu
phổi. Trường hợp thứ hai là đáp
ứng viêm hệ thống quá mạnh mẽ
cùng với đáp ứng viêm quá mức
của hệ hô hấp dẫn tới tắc nghẽn
đường thở. Mentz đã mô tả tỉ lệ tử
vong là 15% do thuyên tắc mỡ. Nói
chung, người ta tin rằng bất kỳ tai
biến biến chứng nào, nếu là trong
mổ thì liên quan đến yếu tố cơ học,
nếu là sau mổ thì liên quan đến hội
chứng thuyên tắc mỡ (FES).
Biến chứng nhồi máu phổi
hiện đang là cơ chế được quan tâm
nhiều hơn. Có hai cách giải thích
cho việc hình thành khối mỡ lớn
gây tắc mạch phổi. Thứ nhất là
các tế bào mỡ xâm nhập vào tĩnh
mạch, khối mỡ được hình thành và
di chuyển từ hệ thống tĩnh mạch
ở vùng mông (trên hoặc dưới) và
thứ hai là khối mỡ hình thành do
canuyn làm tổn thương các tĩnh
mạch mông trong quá trình ghép
mô mỡ. Hấu hết các Bs đều nghiêng
về giả thuyết thứ hai hơn. Mentz
và Wang và các cộng sự của họ lại
cho rằng phần nhiều bệnh nhân bị
huyết tắc mỡ là do họ bị giãn tĩnh
mạch vùng mông. Wang và cộng
sự khuyến nghị rằng chúng ta nên
kiểm tra tình trạng này trước khi
quyêt định thực hiện thủ thuật ở
bệnh nhân. Cardenas-Camarena và
cộng sự sau khi khám nghiệm các
tử thi bị huyết tắc mỡ đã cho thấy
giả thuyết thứ hai kia đáng tin cậy
hơn nhiều. Tuy nhiên với số lượng
ít bệnh nhân, những giả thuyết này
không được chứng minh một cách
đầy đủ và do đó, không có ý nghĩa
trong thống kê cũng như lâm sàng.
Có thể giải thích giả thuyết
thứ hai như sau: các tĩnh mạch
vùng mông bị tổn thương cắt ngang
do sức ảnh hưởng của gradient áp
lực được tạo ra từ thao tác bơm tổ
chức mỡ vào vùng mông. Với áp
suất lớn như thế (tổng áp suất tính
cả do mô kẽ và do lực bơm mỡ rơi
vào khoảng 25mmHg) đã vô tình
đưa một lượng mỡ lớn vào tĩnh
mạch – nơi áp suất thấp hơn rất
nhiều. Chưa kể đến việc trong và
sau phẫu thuật, dưới tác dụng của
vô cảm, mạch giãn và thiếu dịch, áp
suất tĩnh mạch còn xuống thấp hơn
rất nhiều.
HỘI CHỨNG THUYÊN TẮC MỠ
Cơ chế hội chứng thuyên tắc
mỡ (FES) đã được giải thích trước
đó trong phần huyết tắc mỡ. Tuy
nhiên hội chứng này thường là hậu
quả của việc lấy mô mỡ ở vị trí khác
làm mô ghép ở mông chứ không
Chương 3 : Biến chứng các thủ thuật nâng mông
59
phải việc tiêm chất béo như trong
cơ chế của huyết tắc mỡ. Bệnh
nhân FES đã được phát hiện có các
giọt chất béo trong dịch rửa phế
quản, nước tiểu và huyết thanh.
Việc chẩn đoán thường dựa trên
một loạt các triệu chứng, tuy nhiên
điều trị chỉ mang tính hỗ trợ chứu
không giải quyết được căn nguyên.
Gurd đã mô tả các tiêu chuẩn chính
và phụ để chẩn đoán hội chứng
này. Bảng 1 liệt kê đầy đủ bộ tiêu
chuẩn này. Thông thường, các triệu
chứng thần kinh xuất hiện đầu tiên,
với biểu hiện rối loạn tri giác, từ lơ
mơ tới hôn mê. Tiếp theo là các
triệu chứng hô hấp với biểu hiện từ
khó thở nhẹ cho tới ARDS. Khoảng
50% số bệnh nhân xuất hiện các
ban xuất huyết. Dấu hiệu thường
gặp nhất là nhịp nhanh (tương tự
thuyên tắc phổi) nhưng chúng lại
không đặc hiệu cho FES. Wang và
cộng sự đã xuất bản một bài báo
đánh giá về tất cả các triệu chứng
cũng như các dấu hiệu, xét nghiệm
liên quan đến FES.
FES ngày một được quan
tâm nhiều hơn do số ca tử vong vì
hội chứng này ngày một tăng. Biến
chứng này cũng đã nâng cao nhận
thức của cộng đồng thông qua các
phương tiện truyền thông, khiến
cộng đồng các Bs thẩm mỹ lại càng
phải chú ý đến chúng, vì chúng liên
quan trực tiếp tới tính mạng bệnh
nhân của họ.
Một cuộc khảo sát của ASAPS
đã đánh giá 25 trường hợp tử vong
liên quan tới ghép mỡ vùng mông
và Cardenas-Camarena đã đánh giá
Bảng 1
Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng
FES theo Gurd and Wilson
Tiêu chuẩn chính:
Tổn thương hệ hô hấp
Dấu chứng tổn thương não
Ban xuất huyết
Tiêu chuẩn phụ:
Sốt
Nhịp nhanh
Tổn thương võng mạc
Vàng da
Tổn thương thận
Xét nghiệm:
Thiếu máu
Giảm tiểu cầu
Tăng thời gian máu lắng
Tế bào mỡ trong huyết tương (+)
22 trường hợp tử vong ở Mexico
cũng như Colombia. Một số trường
hợp tử vong của ASAPS cũng ở
Mexico và Colombia nên có lẽ hai
nghiên cứu này trùng một số bệnh
nhân. Dựa trên kết quả này, chúng
tôi rút ra được một số nội dung
quan trọng:
• Khối lượng mỡ ghép không
tương quan với khả năng hình
thành huyết khối
• Vị trí ghép có thể có liên
quan đến khả năng hình thành
FES. Cần tránh xa khu vực nhóm
cơ mông sâu. Có lẽ vì đó là vị trí có
nhiều tĩnh mạch đi qua.
• Việc tiêm mỡ ghép chỉ nên
giới hạn ở vùng tổ chức dưới da và
các lớp cơ nông.
• Kích thước canuyn vào
khoảng 4.1mm hoặc hơn.
• Nên giữ canuyn song song
Chương 3 : Biến chứng các thủ thuật nâng mông
60
với bề mặt mông để tránh đưa
mỡ vào các tổ chức sâu phía dưới.
Nguy cơ tử vong ước tính khoảng
1:3000; tuy nhiên con số này không
chính xác vì sự hạn chế trong thiết
kế nghiên cứu. Có điều họ tin rằng
thực tế tỉ lệ này còn cao hơn nhiều.
NÂNG MÔNG BẰNG IMPLANT
Thủ thuật implant lần đầu
tiên được mô tả và thực hiện bởi
Bartels và các đồng nghiệp của ông
vào năm 1969. Tuy nhiên đây lại là
implant ngực, và các túi ngực thì
không thể chịu được áp lực ở vùng
mông nên chúng không thể áp
dụng cho vùng này được. Và những
túi silicon vỏ mỏng cứ thế bị loại
bỏ dần khỏi suy nghĩ sẽ dùng nó
để nâng mông. Trong khoảng thời
gian đó, các bệnh viện liên tục báo
cáo những trường hợp bục vết mổ,
lộ vật implant hoặc thải ghép. Lúc
này các Bs đã nhanh chóng chuyển
sang loại mô cấy gel silicon với vỏ
dày hơn. Ở Mỹ thì khác, do lệnh
cấm nâng ngực bằng gel silicon và
các quy định của FDA, những loại
túi ngực này không được phép sử
dụng. Thay vào đó họ dùng loại sili
cone rắn nhưng đàn hồi tốt với một
lớp cấu trúc bề mặt đặc biệt. Kết
cấu bề mặt này khác nhau tùy theo
công nghệ của các nhà sản xuất.
Do có sự khác biệt đáng kể
về quan niệm thẩm mỹ ở các vùng
khác nhau nên yêu cầu của bệnh
nhân cũng có sự khác biệt. Những
điều này ảnh hưởng tới số lượng
bệnh nhân, kích thước mô cấy và
loại mô cấy trong các công bố. Và
như vậy, tỉ lệ biến chứng gặp phải
cũng khác nhau, nên rất khó khăn
trong việc ngoại suy kết quả từ 1
quần thể cho toàn bộ dân số.
Có ba vị trí chính để đặt mô
cấy là lớp dưới cân, trong cơ và
dưới cơ. Dựa trên khảo sát của Mo
fid và cộng sự (19 người trả lời),
68% số họ sử dụng kỹ thuật im
plant ở trong cơ. Một phân tích gần
đây về tất cả các nghiên cứu của
Sinno và đông nghiệp cho thấy tỉ
lệ biến chứng là 62.1% đối với im
plant dưới cân, 28.1% với dưới cơ
và 8.8% với implant trong cơ.
Một hạn chế đáng kể của các
nghiên cứu này là hầu hết chúng
không liệt kê kích thước mô im
plant. Vì các kỹ thuật khác nhau có
những hạn chế khác nhau tùy thuộc
vào kích thước mô implant, nên
thật khó để đưa ra đánh giá chi tiết.
Kỹ thuật cấy dưới cân cho phép sử
dụng những loại mô cấy lớn nhưng
bù lại mô cấy không được bảo vệ
tốt bằng các khối cơ như trong 2
kỹ thuật còn lại. Hơn nữa tỉ lệ xuất
hiện bướu huyết thanh cũng ít hơn
ở hai kỹ thuật cấy trong và dưới cơ,
có thể bởi vì ít phạm vào tổ chức
dưới cân hơn.
Tỉ lệ biến chứng chung
cũng khác nhau đáng kể giữa các
kỹ thuật. Chúng dao động trong
khoảng từ 8-10% (với số lượng
bệnh nhân nhỏ) cho tới 30%. Điều
này một lần nữa có thể là do sự
khác biệt giữa các kỹ thuật, kích
thước mô cấy cũng như loại mô cấy
Chương 3 : Biến chứng các thủ thuật nâng mông
61
được sử dụng.
NHIỄM KHUẨN
Tỉ lệ nhiễm khuẩn sau các
thủ thuật nâng mông vào khoảng
từ 1 đến 7%. Senderoff đã báo cáo
các kỹ thuật giúp giảm tỉ lệ nhiễm
khuẩn xuống 2% trong phẫu thuật
nâng ngực, bao gồm dùng cồn sát
khuẩn trước phẫu thuật, dùng
xà phòng povidone/iod chà xung
quanh vùng phẫu thuật, sau đó sát
khuẩn lại bằng povidone/iod, tiếp
tục dùng xăng vô trùng che phủ
khu vực ô nhiễm để giảm thiểu tối
đa nhiễm khuẩn từ hệ vi sinh vật
trên da và cuối cùng là giảm thiểu
tối đa việc tiếp xúc giữa mô cấy và
da bệnh nhân.
Vi khuẩn phổ biến nhất gây
nhiễm khuẩn sau phẫu thuật là
Staph.aureus, xuất hiện ở 11/13
bệnh nhân trong nghiên cứu của
Senderoff. E.coli được tìm thấy ở
1/13 số bệnh nhân. Không có ng
hiên cứu nào khác ghi nhận tình
trạng nhiễm trùng nghiêm trọng,
tương tự đối với ghép mỡ vùng
mông.
BƯỚU HUYẾT THANH
Tỉ lệ bướu huyết thanh thay
đổi từ 3.7% đến 19%. Senderoff
đã báo cáo có thể giảm tỉ lệ bướu
huyết thanh từ 9.09% xuống tới 2%
bằng việc dùng mũi khâu quilting ở
những bệnh nhân implant lớp dưới
cân. Các nghiên cứu báo cáo đối với
các kỹ thuật cấy trong cơ và dưới
cơ thì hầu như Bs không sử dụng
dẫn lưu. Senderoff và Serra là
những người duy nhất mô tả công
dụng của mối khâu quilting.
Các nghiên cứu ở Hoa kỳ
cho thấy tỷ lệ xuất hiện bướu huyết
thanh cao hơn ở các khu vực Nam
Mỹ và Trung Mỹ. Tuy nhiên, với số
lượng bệnh nhân hạn chế và thiếu
thông tin chi tiết về dụng cụ cấy
ghép dẫn tới khó khăn cho việc xác
định căn nguyên gốc rễ. Các nghiên
cứu cần báo cáo đủ bao gồm loại
mô cấy, vị trí mô cấy, có hay không
việc sử dụng dẫn lưu và kết cấu mô
cấy, sẽ giúp có đánh giá toàn diện
về thủ thuật.
Hầu hết các nghiên cứu đều
đồng ý rằng bướu huyết thanh
là dấu hiệu của sự phát triển vết
thương và do đó, việc quản lý bướu
huyết thanh là rất quan trọng đối
với sự thành bại của thủ thuật.
Nói chung, Senderoff đề xuất hút
áp lực âm trong vòng 1 tuần sau
phẫu thuật (nếu không có thể đặt
ống dẫn và hút thường xuyên). Kế
hoạch tiếp theo tùy thuộc vào kết
quả của việc hút dịch trong tuần
đầu tiên này.
Các kỹ thuật cấy mô dưới cơ
hoặc trong cơ được báo cáo với tỉ
lệ gặp phải bướu huyết thanh thấp
hơn, có thể do các thủ thuật này
không phạm vào các lớp cân, nơi
được cho là căn nguyên hình thành
các bướu huyết thanh.
BỤC CHỈ VẾT MỔ
Tỉ lệ bục chỉ vết mổ thường
Chương 3 : Biến chứng các thủ thuật nâng mông
62
được báo cáo là khoảng 30% -
40%. Đây là biến chứng phiền toái
nhất cho cả bệnh nhân và bác sĩ.
Biến chứng này làm tăng khả năng
lộ vật cấy và buộc phải phẫu thuật
lấy ra vì các lo ngại về vấn đề nhiễm
khuẩn. Ngoài ra, điều này cũng làm
việc quản lý sau phẫu thuật trở nên
khó khăn hơn, khả năng tạo sẹo
lồi, sẹo phì đại cũng vì thế mà gia
tăng. Mendieta cũng đồng ý rằng
biến chứng này là nỗi thất vọng của
những người Bs phẫu thuật.
Một lần nữa, chúng tôi nhận
ra rằng luôn có sự khác biệt lớn
giữa các bác sĩ phẫu thuật ở Hoa
Kỳ và các nước khác ở Trung Mỹ
và Nam Mỹ. Họ báo cáo tỉ lệ xảy ra
biến chứng bục chỉ vết mổ rơi vào
khoảng từ 2-5% nhưng thường Hoa
Kỳ cao hơn Trung, Nam mỹ. Ngoài
ra, kích thước mô cấy cũng không
được đề cập trong các nghiên cứu,
nhưng họ tin rằng có sự khác biệt
đáng kể giữa hai khu vực. Serra và
đồng nghiệp của cô thì lại cho rằng
kích thước vật cấy không hề quan
trọng trong việc quyết định khả
năng xảy ra biến chứng. Thay vào
đó, họ tin rằng sự phát triển của
các bướu huyết thanh mới quyết
định khả năng xảy ra bục chỉ. Tuy
nhiên, trong bài báo không đề cập
đến kích thước vật cấy ở mỗi bệnh
nhân mà chỉ nói chung chung là
khoảng 300 cm3 cho mỗi người.
Và họ chỉ sử dụng implant ở trong
cơ, mà đây là thủ thuật buộc phải
giới hạn kích thước mô cấy, đồng
thời khả năng hình thành các biến
chứng liên quan tới bục chỉ vết mổ
cũng thấp. Việc thiếu thông tin về
các kích cỡ mô cấy đã gây trở ngại
cho các nhà đánh giá về sự khác
biệt trong kich thước mô cấy giữa
các khu vực. Mendieta tin rằng kích
thước mô cấy được sử dụng ở Hoa
Kỳ thường lớn hơn các nước ở khu
vực Nam và Trung Mỹ, điều này
đóng vai trò quan trọng trong việc
tăng tỉ lệ bục chỉ vết mổ.
LOẠI BỎ MÔ CẤY
Tỉ lệ bệnh nhân phải loại bỏ
mô cấy tỉ lệ thuận với lượng bệnh
nhân bục chỉ vết mổ. Tỉ lệ nầy trong
khoảng từ 1.5 tới 30%. Hầu hết các
Bs cho rằng chuyện này là do kích
thước và loại mô cấy. Một bộ cấy
ghép kích thước lớn đòi hỏi lực đẩy
mạnh để đưa vào vùng ghép, vô
tình làm tổn thương mô nhiều hơn
và sức căng tại khu vực đó cũng lớn
hơn.
Hầu hết các Bs đã cố gắng
giải quyết vấn đề này bằng cách tìm
ra mô cấy có kích thước phù hợp
nhất với bệnh nhân, đồng thời đưa
ra các khuyến cáo về việc hạn chế
vận động sau phẫu thuật trong thời
gian dài. Hơn nữa họ cần cố gắng
giải thích với bệnh nhân ưu nhược
điểm của từng phương pháp, cũng
như những rủi ro về bục chỉ vết
mổ hay hấp thu mỡ để bệnh nhân
có thể hoàn toàn hài lòng với kích
thước vùng mông sau phẫu thuật.
Ngoài ra bệnh nhân có thể được
thực hiện nâng mông hai giai đoạn,
Chương 3 : Biến chứng các thủ thuật nâng mông
63
bao gồm giai đoạn 1 với một lượng
mô nhất định và giai đoạn 2 với
mô cấy lớn hơn để tránh tình trạng
căng quá mức.
CO KÉO BAO XƠ
Tình trạng co kéo bao xơ để
nâng mông là một biến chứng hiếm
gặp. Sinno và đồng nghiệp báo cáo
tỷ lệ này là 0.55% (1 bệnh nhân duy
nhất sau cấy 2 năm). Đây là một
tổng hợp dựa trên đánh giá của tất
cả bài báo đã xuất bản tại thời điểm
đó. Và cũng là biến chứng chưa
được ghi nhận ở bất cứ nghiên cứu
nào khác.
Cần phải nghiên cứu thêm
để xác định tại sao lại có sự khác
biệt như vậy giữa nâng ngực và
nâng mông. Biến chứng này cũng
xảy ra với các bn ở khu vực Trung
và Nam mỹ vì ở đây họ được sử
dụng túi nâng là gel silicon – một
loại túi chuyên dụng nâng ngực.
Một điều cần chú ý là các vị trí cấy
ghép như ở dưới cơ, dưới cân hoặc
trong cơ đều không có sự khác biệt
lớn trong tỉ lệ gây co kéo bao xơ.
Với bất kể vị trí nào thì tỉ lệ này hầu
như không thể nào xác định chính
xác được.
BIẾN CHỨNG KHÁC
Các biến chứng khác sau
cấy bao gồm – khối máu tụ 0.63%,
đau thần kinh hông to 1%, hai bên
không đối xứng, implant không
đúng vị trí, vật implant bị xoay, và
phải chỉnh sửa vật implant. Tỉ lệ
này rất khác nhau phụ thuộc vào
vị trí cấy ghép. Nói chung, các kỹ
thuật cấy trong cơ và dưới cơ ít bị
xoay vật implant hơn nhưng lại có
tỉ lệ vật implant không đúng vị trí
cao hơn.
DI CHỨNG
Thật không may, không có
nghiên cứu nào theo dõi bệnh nhân
trong một thời gian dài. Biến chứng
phổ biến nhất là sa và xoay khối
implant. Cả hai biến chứng này đều
phổ biến nhưng ít được báo cáo.
Mặc dù tỷ lệ để lại di chứng chưa
được báo cáo cụ thể, nhưng có sự
đồng thuận chung rằng chúng vẫn
tồn tại. Các giải pháp cho những di
chứng này thường rất khó. Tốt nhất
nên loại bỏ mô cấy và đặt lại sau
3-6 tháng sau đó. Các tài liệu cho
thấy rằng các di chứng thường gặp
ở những bệnh nhân cấy dưới cân
hơn là cấy trong cơ hoặc dưới cơ.
NÂNG MÔNG BẰNG MỠ TỰ THÂN
Các báo cáo đầu tiên về việc
sử dụng mô tự thân để nang ngực
được mô tả bởi Pascal và Le louarn
vào những năm 2002. Kỹ thuật này
dường như có nhiều lợi ích hơn so
với các kỹ thuật khác. Với mô tự
thân bản chất là lượng mỡ dưới da
dư thừa, đều là các cấu trúc được
tưới máu nhưng không thực sự cần
thiết, chúng thường thừa thãi khắp
cơ thể và cũng là tổ chức cần loại
Chương 3 : Biến chứng các thủ thuật nâng mông
64
bỏ trong các thủ thuật thẩm mỹ
khác. Đây giống như một công
đôi ba việc. Tuy nhiên khi so sánh
chúng với nâng mông cổ điển, vẫn
có phần hạn chế. Đầu tiên, thủ
thuật này chỉ có thể được áp dụng
cho một nhóm nhỏ bệnh nhân thực
sự cần thiết, chứ không phải dùng
được cho tất cả bệnh nhân. Ngay
cả ở những bệnh nhân có lượng da
và mô mỡ thừa thãi, không phải ai
cũng đủ điều kiện để thực hiện thủ
thuật này theo đúng chỉ định. Thứ
hai, những quy trình này có thể
phải nghiên cứu, học tập và thực
hành trong một thời gian dài trược
khi được thực hiện chính thức,
nên coi như một thử thách lớn đối
với người Bs. Do đó mà chúng chỉ
được áp dụng để hút mỡ hoặc tái
tạo thành bụng ở những bệnh nhân
muốn giảm cân khối lượng lớn mà
thôi.
BIẾN CHỨNG CỦA NÂNG MÔNG
BẰNG MỠ TỰ THÂN
Nhìn chung, tôi tin rằng biến
chứng chính đến từ thủ thuật lấy tổ
chức cấy ghép từ cơ thể (bao gồm
da và mô mỡ phía dưới). Tuy nhiên,
dường như có sự gia tăng các biến
chứng khi nhìn dưới góc độ khác.
Srivastava đã đánh giá lại những
bệnh nhân sau thực hiện nâng
mông bằng vật liệu tự thân so với
những bệnh nhân không nâng
mông mà chỉ cắt bỏ da và mô mỡ,
thấy rằng tỉ lệ biến chứng lớn hơn
(42.5% so với 19.7%). Tuy nhiên
sự gia tăng này chỉ là do tình trạng
bục chỉ vết mổ (30% với 10.6%).
Tất cả các biến chứng khác như
khối máu tụ, bướu huyết thanh,
nhiễm trùng, hoại tử mô, thoát vị
qua vết mổ và abscess đường khâu
– thì không có sự khác biệt quá lớn
nào giữa hai nhóm. Điều này có vẻ
phù hợp do sự gia tăng độ căng
của vết mổ sau khi cấy. Colwell và
Borud đã thử thay mỡ tự thân bằng
chuyển vạt nhưng cũng không làm
ảnh hưởng tới tỉ lệ xuất hiện các
biến chứng. Các biến chứng thường
gặp nhất là bục chỉ vết mổ và hoại
tử mỡ.
Srivastava phát hiện ra rằng
ở những bệnh nhân nặng cân, bất
kể chỉ số BMI có bình thường hay
không, đều liên quan đáng kể tới
việc gia tăng các biến chứng – bục
chỉ vết mổ. Schmitt cũng đã so
sánh nâng mông bằng vật liệu tự
thân với không nâng và thấy rằng
những bệnh nhân nâng mông bằng
vật liệu tự thân chiếm ưu thế (238
so với 42). Trong đó, bệnh nhân
của họ bao gồm những người nâng
bằng implant và nâng bằng mỡ. Đa
số bệnh nhân là nâng bằng mô tự
thân (76% với 5% với 4%). Một
lần nữa, không có sự khác biệt giữa
nhóm nâng và không nâng trong
các biến chứng như khối máu tụ,
bướu huyết thanh, nhiễm trùng,
bục chỉ vết mổ và tỉ lệ tổng các biến
chứng.
Nhìn chung, tôi tin rằng các
vấn đề với nâng mông bằng vật liệu
tự thân thường là bục chỉ vết mổ và
khả năng đạt được tính thẩm mỹ lý
Chương 3 : Biến chứng các thủ thuật nâng mông
65
tưởng không quá cao.
TỔNG KẾT
Nâng mông đang dần trở
thành thủ thuật phổ biến và điều
này thúc đẩy các bác sĩ phẫu thuật
thẩm mỹ nhanh chóng tích lũy kinh
nghiệm và phát triển các kỹ thuật
để đáp ứng mong đợi của bệnh
nhân. Hiện tại 2 kỹ thuật chính là
ghép mô mỡ và implant đều có
những hạn chế đáng kể.
Ghép mô mỡ tự thân dường
như có tỉ lệ tử vong cao gấp 75 lần
so với phẫu thuật tạo hình thành
bụng. Và chúng còn có xu hướng
tăng dần lên theo thời gian. Các tổ
chức cũng như cá nhân mỗi người
Bs đang ra sức phát triển các hướng
dẫn mới cho quy trình này dựa
trên các căn nguyên cơ bản, Trong
một cuộc trao đổi cá nhân với 1 bs
phẫu thuật người Colombia (Mau
ricio Herrera, MD) ông ấy đã ngừng
thực hiện bất kỳ quy trình thẩm mỹ
nâng mông bằng ghép mỡ nào có
tỉ lệ tử vong cao. Nâng mông bằng
implant cũng gặp phải nhiều vấn
đề. Mặc dù rất hiếm khi xảy ra biến
chứng nghiêm trọng nhưng nó có
thể gây khó chịu cho Bs phẫu thuật
khi thực hiến và bệnh nhân cũng
không hài lòng sau phẫu thuật. Rủi
ro lộ vật implant sẽ làm các Bs hạn
chế lại phần kích thước mô cấy (để
tránh nguy cơ bục chỉ, từ đó gây lộ
vật implant). Việc đặt mô cấy vào
vị trí trong cơ hoặc dưới cơ đòi hổi
bệnh nhân và Bs phải chấp nhận
những hạn chế về tính thẩm mỹ
lý tưởng, cũng như chỉ một phần
mông được nâng lên.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. American Society for Aesthetic
Plastic Surgery 2013.
2. American Society for Aesthetic
Plastic Surgery 2016.
3. Guerrerosantos J. Autologous fat
grafting for body contouring. Clin
Plast Surg 1996;23:619–31.
4.
Restrepo
JC,
Ahmed
JA.
Large-volume lipoinjection for glu
teal augmentation. Aesthet Surg J
2002;22(1):33–8.
5. Peren PA, Gomez JB, Guerrero
santos J, et al. Gluteus augmenta
tion with fat grafting. Aesthetic
Plast Surg 2000;24:412–7.
6. Cardenas-Camarena L, Lacou
ture AM, TobarLosada A. Com
bined
gluteoplasty:
liposuction
and lipoinjection. Plast Reconstr
Surg 1999;140(5):1524–31.
7. Gonzalez R, Spina L. Grafting of
fat obtained by liposuction: tech
nique and instruments. Rev Bras
Cir 1986;76:243–50.
8. Pedroza LV. Fat transplantation
to the buttocks and legs for aes
thetic enhancement or correction
of deformities: long-term results
of large volumes of fat transplant.
Dermatol Surg 2000;26(12):1145–
9.
9. Monreal J. Fat tissue as a perma
nent implant: new instruments and
refinements. Aesthet Surg J 2003;
23(3):213–6.
Chương 3 : Biến chứng các thủ thuật nâng mông
66
10. Sinno S, Chang JB, Brownstone
ND, et al. Determining the safety
and efficacy of gluteal augmenta
tion: a systematic review of out
comes and complications. Plast Re
constr Surg 2016;137(4):1151–6.
11. Oranges CM, Tremp M, di Sum
ma PG, et al. Gluteal augmenta
tion techniques: a comprehensive
literature review. Aesthet Surg J
2017;37(5):560–9.
12. Bruner TW, Roberts TL III,
Nguyen K. Complications of but
tocks
augmentation:
diagnosis,
management, and prevention. Clin
Plast Surg 2006;33:449–66.
13. Kamal M, El-Ali TG. Assess
ment of the risk of systemic fat
mobilization and fat embolism
as a consequence of liposuction:
ex vivo study. Plast Reconstr Surg
2006;117(7):2269–76.
14. Conde´-Green A, Kotamarti V,
Nini KT, et al. Fat grafting for glu
teal augmentation: a systematic
review of the literature and me
ta-analysis. Plast Reconstr Surg
2016;138(3):437e–46e.
15. Streit L, Jaros J, Sedlakova V, et
al. A comprehensive in vitro com
parison of preparation techniques
for fat grafting. Plast Reconstr Surg
2017;139:670e.
16. Carpaneda CA, Ribeiro MT.
Study of the histologic alterations
and viability of the adipose graft
in humans. Aesthetic Plast Surg
1993;17:43–7.
17. Mentz HA. Fat emboli syndromes
following liposuction. Aesthetic Plast
Surg 2008;32:737–8.
18. Mofid MM, Teitelbaum S, Suissa
D, et al. Report on mortality from
gluteal fat grafting: recommenda
tions from the ASERF Task Force.
Aesthet Surg J 2017; 37(7):796–
806.
19. Astarita DC, Scheinin LA,
Sathyavagiswaran L. Fat transfer
and fatal macroembolization. J Fo
rensic Sci 2015;60(2):509–10.
20. Wang HD, Zheng JH, Deng CL,
et al. Fat embolism syndromes fol
lowing liposuction. Aesthetic Plast
Surg 2008;32:731–6.
21. Ca´rdenas-Camarena L, Bayter
JE, Aguirre-Serrano H, et al. Deaths
caused by gluteal lipoinjection:
what are we doing wrong? Plast
Reconstr Surg 2015;136(1):58–66.
22. Coronado-Malago´n M, Viso
so-Palacios P,Arce-Salinas CA. Fat
embolism syndrome secondary to
injection of large amounts of soft
tissue filler in the gluteal area. Aes
thet Surg J 2010;30(3):448–50.
23. Harrison D, Selvaggi G. Glu
teal augmentation surgery: indi
cations and surgical management.
J Plast Reconstr Aesthet Surg
2007;60:922–8.
24. Gurd AR, Wilson RI. The fat em
bolism syndrome. Br J Bone Joint
Surg 1974;56:408–16.
25. Bartels RJ, O’Malley JE, Doug
las WM, et al. An unusual use
of the Cronin breast prosthesis.
Case report. Plast Reconstr Surg
1969;44(5):500.
26. Nolte WJ, Olofsson T, Scherste´n
T, et al. Evaluation of the Gurd test
for fat embolism. J Bone Joint Surg
Chương 3 : Biến chứng các thủ thuật nâng mông
67
Br 1974;56B(3):417–20.
27. Douglas WM, Bartels RJ, Baker
JL. An experience in aesthetic but
tocks augmentation. Clin Plast Surg
1975;3(3):471–6.
28. Mofid MM, Gonzalez R, de la
Pen˜a JA, et al. Buttock augmen
tation with silicone implants:
a multicenter survey review of
2226 patients. Plast Reconstr Surg
2013;131(4):897–901.
29. Serra F, Aboudib JH. Gluteal
implant displacement: diagnosis
and treatment. Plast Reconstr Surg
2014;134(4):647–54.
30. Rosique RG, Rosique MJ, De Mo
raes CG. Gluteoplasty with autolo
gous fat tissue: experience with
106 consecutive cases. Plast Re
constr Surg 2015;
135(5):1381–9.
31. Serra F, Aboudib JH, Marques
RG. Reducing wound complica
tions in gluteal augmentation
surgery.
Plast
Reconstr
Surg
2012;130(5):706e–13e.
32. Senderoff DM. Buttock augmen
tation with solid silicone implants.
Aesthet Surg J 2011;31(3):320–7.
33. Andrade G, Coltro P, Farina
Junior J, et al. Gluteal augmen
tation with silicone implants: a
new proposal for intramuscu
lar dissection. Aesthetic Plast
Surg2017;41(4):872–7.
34. Aboudib JH, Serra F, de Castro
CC. Gluteal augmentation: tech
nique, indications, and implant
selection. Plast Reconstr Surg
2012;130(4):933–5.
35. Senderoff DM. Aesthetic sur
gery of the buttocks using implants:
practice-based recommendations.
Aesthet Surg J 2016;36(5):559–76.
36. Mendieta C. Intramuscular glu
teal augmentation technique. Clin
Plast Surg 2006;33:423–34.
37. Serra F, Aboudib JH, Cedrola JP,
et al. Gluteoplasty: anatomic basis
and technique. Aesthet Surg J 2010;
30(4):579–92.
38. Vergara R, Amezcua H. Intra
muscular gluteal implants: 15
years’ experience. Aesthet Surg J
2003; 23(2):86–91.
39. Pascal JF, Le Louarn C. Re
modeling bodylift with high lat
eral tension. Aesthetic Plast Surg
2002;26(3):223–30.
40. Srivastava U, Rubin JP, Gusenoff
JA. Lower body lift after massive
weight loss: auto-augmentation vs
no augmentation. Plast Reconstr
Surg 2015;135(3):762–72.
41. Centeno RF. Autologous gluteal
augmentation with circumferential
body lift in the massive weight loss
and aesthetic patient. Clin Plast
Surg 2006;33: 479–96.
42. Centeno RF, Mendieta CG,
Young VL. Gluteal contouring sur
gery in the massive weight loss pa
tient. Clin Plast Surg 2008;35:73–
91 [discussion: 93].43. Colwell AS,
Borud LJ. Autologous gluteal aug
mentation after massive weight
loss: aesthetic analysis and role
of the superior gluteal artery per
forator flap. Plast Reconstr Surg
2007;119(1):345–56.
Chương 3 : Biến chứng các thủ thuật nâng mông
68
44. Schmitt T, Jabbour S, Makhoul
R, et al. Lower body lift in the mas
sive weight loss patient: a new clas
sification and algorithm for gluteal
augmentation. Plast Reconstr Surg
2017. [Epub ahead of print].
Chương 4 : Chiến lược quản lý bệnh nhân dựa trên thực hành trong nâng mông implant
69
Chiến lược quản lý bệnh nhân dựa trên
thực hành trong nâng mông implant
4
Douglas M. Senderoff, MD*
TỪ KHÓA
•
Implant mông • Nâng mông • Làm đầy mông
•
Biến chứng nâng mông bằng implant
ĐIỂM QUAN TRỌNG
•
Đưa ra ưu nhược điểm của phương pháp để bệnh nhân có thể hài
lòng với kết quả sau phẫu thuật. Thảo luận với họ về lợi ích và rủi ro khi
implant các khối có thể tích trên 350 cm3.
•
Đặc điểm giải phẫu của bệnh nhân quyết định việc dựa chọn loại
implant. Các mô cấy khác nhau về kích thước chiều dài rộng, đường
kính,…nên chọn sau khi đã đánh giá giải phẫu kỹ lưỡng.
•
Lựa chọn vị trí đặt implant phù hợp sẽ cho ra kết quả tốt nhất, ít
gặp phải biến chứng và những vấn đề về tính thẩm mỹ sau phẫu thuật.
•
Nhận định các biến chứng sớm và nhận biết khi nào cần can thiệp
phẫu thuật. Khi không được phát hiện kịp thời, hậu quả để lại sau các
biến chứng thường rất trầm trọng.
•
Phẫu thuật chỉnh sửa có thể được thực hiện nhằm điều chỉnh sự
sai lệch vị trí của mô implant hoặc thay thế các mô này (do nhiễm trùng
hoặc bục chỉ vết mổ).
LỊCH SỬ
Impant mông (GAI) lần đầu
tiên xuất hiện trong các tài liệu
khoa học trong một bài báo trên
tạp chí Phẫu thuật tạo hình và tái
tạo năm 1969 bởi Bartels và các
đồng nghiệp, nơi ông mô tả quá
trình sử dụng túi ngực để đặt vào
vùng mông trái giúp căn chỉnh tình
trạng mất cân đối 2 bên mông do
teo. Túi ngực này được đưa vào từ
một đường rạch ở dưới vùng mông,
đường rạch này hiện không còn
được sử dụng trong các thủ thuật
nâng mông. Nâng mông thẩm mỹ
lần đầu được mô tả vào năm 1973
bởi Cocke và Ricketson bằng cách
sử dụng mô cấy ngực silicone đặt
dưới da vùng mông. Kết quả mặc
dù không khả quan, nhưng tác giả
khác (Gonzalez-Ulloa) đã tìm cách
Chương 4 : Chiến lược quản lý bệnh nhân dựa trên thực hành trong nâng mông implant
70
cải tiến chúng bằng phương pháp
sử dụng gel để implant vào vùng
dưới da. Và cho tới thời điểm hiện
tại, có ba cách tiếp cận vào vùng đặt
implant bao gồm vùng mông trên
hai bên, nếp lằn mông và đường
liên mông.
Những mô tả đầu tiên về
nâng mông implant với túi đặt ở
dưới cơ mông lớn và nhỡ được mô
tả bởi Robles và Tagliapietra vào
năm 1984. Cách tiếp cận này làm
giảm tỉ lệ co kéo bao xơ nhưng yêu
cầu Bs phải đặt được túi cấy ở vị trí
1/3 trên vùng mông để tránh tổn
thương thần kinh hông to. Túi cấy
đặt trong cơ (giữa khối cơ) lần đầu
xuất hiện trong các tài liệu vào năm
1996 trong một bài báo của Ver
gara và Marcos. Trong bài báo này,
họ mô tả vị trí đặt túi ghép ở phía
dưới cơ mông lớn khoảng 2-3 cm,
đưa từ đường rạch gần đường liên
mông vào. Cách tiếp cận này tránh
được việc bóc tách khối cơ gần dây
thần kinh hông to trong khi lớp cơ
vẫn đủ sức che phủ toàn bộ mô cấy.
Trong một bài báo của De la Pena
vào năm 2004, kỹ thuật đặt implant
dưới cân đã được mô tả. Ở trong
bài báo này, các nghiên cứu viên
đã thảo luận chi tiết về ưu nhược
điểm của phương Pháp đặt mô cấy
dưới cân, bao gồm việc tránh phải
bóc tách các khối cơ cũng như tổn
thương thần kinh hông to trong
khi vẫn bảo đảm môi trường xung
quanh mô cấy đủ sức để cố định
chúng. Trong một nghiên cứu của
Hwang và các đồng nghiệp năm
2012 đã chứng minh rằng độ dày
và chắc chắn của lớp cân đủ sức để
có thể bảo toàn khối implant khỏi
những tác động gây di lệch chúng.
PHƯƠNG PHÁP PHẪU THUẬT
HIỆN ĐẠI
Phương pháp hiện đại đối
với GAI dựa trên 3 yếu tố: vị trí im
plant, hình dạng implant và vị trí
đường rạch. Đặt implant dưới cân
và trong cơ là hai vị trí được sử
dụng rộng rãi nhất, và dưới da là vị
trí ít được sử dụng nhất. Về đường
rạch, có thể thực hiện 1 đường ở
giữa hai mông hoặc hai đường rạch
hai bên. Trong một cuộc khảo sát
năm 2013 của Mofid và cộng sự
về lựa chọn đường rạch của các
Bs US và quốc tế thì cho thấy 53%
trong số họ thích 1 đường rạch ở
giữa hơn là phải thực hiện 2 đường
riêng biệt. Một cuộc khảo sát năm
2015 của Mezzine cũng cho thấy
có tới 84% số Bs ở Pháp dùng một
đường rạch thay vì hai đường. Cuối
cùng là lựa chọn hình dạng khối
implant. Các khối này có thể dạng
tròn hoặc dạng anatomic, việc lựa
chọn tùy theo đặc điểm giải phẫu
và mục đích điều trị.
LỰA CHỌN BỆNH NHÂN
5 nhóm đối tượng có chỉ
định, cẩn trọng và chống chỉ định
áp dụng nâng mông implant đã
được các tác giả mô tả trong một
chương trình đào tạo liên tục năm
2016, cụ thể như sau:
Chương 4 : Chiến lược quản lý bệnh nhân dựa trên thực hành trong nâng mông implant
71
Chỉ định
• Kích thước vòng mông nhỏ
• Mông không cân đối
• Đường bờ mông không
đều
• Lượng mỡ ghép bị giới hạn
• Đường bờ mông không đạt
tiêu chuẩn
Thận trọng với các trường hợp
• BMI lớn hơn 30
• Bệnh nhân có vấn đề về
lành vết thương
• Bệnh tự miễn
• Có chiếu xạ vùng mông
• Bệnh nhân đã được lipofill
ing trước đó
Chống chỉ định
• Nhiễm khuẩn toàn thân và
tại chỗ
• Đái tháo đường
• Có vấn đề về tâm thần
• Không đủ mô mềm ước
tính để che phủ khối implant
• Mong muốn của bệnh nhân
nhiều hơn những gì thủ thuật có
thể làm.
Khi quyết định tiến hành
thực hiện nâng mông thẩm mỹ, các
vấn đề liên quan tới vị trí cấy ghép
và hình dạng mô cấy phải được
đặt lên hàng đầu trong khâu lên kế
hoạch. Những quyết định này dựa
trên cơ sở giải phẫu vùng mông của
bệnh nhân và những yếu tố thẩm
mỹ liên quan.
Mendieta đã mô tả những
tiêu chuẩn về tính thẩm mỹ vùng
mông, theo đó ông đã mô tả về tầm
quan trọng của cơ cũng như mô
mỡ dưới da đối với thẩm mỹ vùng
mông của từng nhóm đối tượng
bệnh nhân. Hiểu biết về giải phẫu
ứng dụng là điều cần thiết để tái
tạo được vùng mông hấp dẫn. Giải
phẫu lâm sàng đã được mô tả một
cách tỉ mỉ trong bài báo năm 2006
của Centeno và Young. Một bài báo
năm 2010 của Serra và các đồng
nghiệp cũng thảo luận về giải phẫu
liên quan ngoại khoa của vùng
mông, đồng thời nhân mạnh các vị
trí thoát ra khỏi khối cơ khác nhau
của thần kinh hông to. Những đặc
điểm của một cặp mông ‘đẹp’ đã
được mô tả kỹ lưỡng trong một bài
báo năm 2006 của Cuenca-Guer
ra và Lugo-Beltran, bao gồm 4 đặc
điểm dưới đây:
• Có vùng lõm nhẹ hai bên
• Nếp lằn mông ngắn
• Có vùng lõm chữ V ở tam
giác cùng
• Có vết lõm nhỏ ở trên hai
bên mông (vị trí gai chậu sau trên).
Khối implant thường được
đặt ở vị trí dưới cân hoặc trong cơ
(Hình 1 và 2). Bs phẫu thuật nên
nắm chắc ưu nhược điểm của từng
phương pháp này. Một số khảo sát
đã chỉ ra các Bs dường như thích
áp dụng phương pháp đặt implant
trong cơ hơn. Tuy nhiên, không
một nghiên cứu nào được công
bố liên quan tới việc nên ưu tiên
phương pháp nào trong các trường
hợp bệnh nhân cụ thể. Trong loạt
bài 200 ca implant của một số tác
giả, cho thấy không có sự khác biệt
Chương 4 : Chiến lược quản lý bệnh nhân dựa trên thực hành trong nâng mông implant
72
đáng kể nào về tỉ lệ nhiễm trùng
giữa implant trong cơ và dưới cân.
Một đánh giá năm 2013 gồm 30 bài
báo so sánh các vị trí đặt túi khác
nhau của Flores-Lima và cộng sự
đã xác định vị trí đặt trong cơ có
tỉ lệ biến chứng thấp hơn cả. Có 1
số ưu nhược điểm đối với kỹ thuật
GAI đặt trong cơ mà các Bs phẫu
thuật cần lưu ý.
Ưu điểm
• Khó bị sờ thấy
• Khó bị nhìn thấy
• Ít tạo áp lực hơn lên vùng
nếp lằn mông
Nhược điểm
• Mặt phẳng bóc tách không
rõ ràng
• Không đầy đặn vùng mông
dưới
• Túi gần vị trí dây thần kinh
tọa
Ngoài ra, kích thước mô cấy
có thể đặt trong khối cơ bị giới hạn
bởi chiều rộng của khối cơ mông
và những tính toán để đường mổ
không phải chịu lực (do khối im
plant quá lớn dẫn tới căng vết mổ).
Câu hỏi về những thay đổi sau im
plant với khối cơ mông đã được
Serra giải quyết thông qua đánh
giá thể tích khối cơ bằng CT và các
đánh giá chức năng vận động khác.
Việc implant đã dẫn tới teo khối cơ
mông từ 2.6 tới 6.4% nhưng không
làm ảnh hưởng tới sức cơ và giới
hạn về vận động. Phương pháp cấy
trong cơ này đã được mô tả kỹ
trong các tài liệu về phẫu thuật,
mặc dù không phải là trọng tâm của
bài viết này nhưng chúng tôi cũng
xin phép điểm lại một số thông tin
quan trọng. Thứ nhất, việc bóc tách
phải bằng dụng cụ tày đầu, và thứ
hai, phải giữ lại khối cơ dày khoảng
2-3 cmn trên implant. Các mốc giải
phẫu có thể sờ thấy được như mô
tả của Gonzalez có thể được sử
dụng để hướng dẫn bóc tách lớp cơ
nhằm tối ưu hóa vị trí đặt túi đồng
thời tránh được biến chứng do
khối cơ và da không bao phủ được
mô ghép. Cơ mông lớn có nguy cơ
bị thủng nếu nó bị kéo căng ra bên
ngoài, xuống dưới. Vì thế thực hiện
siêu âm ngay trong khi đang bóc
tách sẽ giúp Bs đảm bảo được yêu
cầu của phẫu thuật.
Chương 4 : Chiến lược quản lý bệnh nhân dựa trên thực hành trong nâng mông implant
73
Hình. 1. Một phụ nữ 35 tuổi bị teo vùng mông mong muốn tăng kích thước và
dáng vẻ bề ngoài. (A, B) Sáu tháng sau khi nâng mông với mô cấy là khối silicon
tròn, dạng rắn với thể tích là 276 cm3. (C,D) Chú ý tăng thể tích nhưng đồng thời
cũng phải đảm bảo vùng mông nhô ra tại đúng vị trí trung tâm.
Hình. 2. Một phụ nữ 28 tuổi bị teo vùng mông mong muốn tăng kích thước và
cải thiện dáng vẻ bề ngoài. (A) Sáu tháng sau khi thực hiện nâng mông trong cơ
bằng khối implant tròn, dạng rắn với thể tích 189 cm3. (B) Chú ý cải thiện cả về
kích thước lẫn hình thể bên ngoài.
Chương 4 : Chiến lược quản lý bệnh nhân dựa trên thực hành trong nâng mông implant
74
Nâng mông dưới cân có một
số ưu và nhược điểm sau:
Ưu điểm:
• Dễ dàng bóc tách
• Cải thiện ‘ngoại hình’ toàn
bộ vùng mông
• Cải thiện kích thước vòng
mông
Nhược điểm:
• Sờ thấy túi độn mông
• Có thể nhìn thấy túi độn
bằng mắt thường
• Nếp lằn mông bị lệch
Cách tiếp cận đưa túi độn
dưới cân có thể áp dụng cho những
bệnh nhân có mô mềm dày và
không hoặc ít bị chùng da. Kỹ thuật
này không quá phức tạp, cũng một
phần vì mặt phẳng giải phẫu riêng
biệt với các cấu trúc phía dưới nó.
Bệnh nhân cũng sẽ có ít nguy cơ bị
mất máu hơn so với kỹ thuật nâng
trong cơ, đồng thời túi độn có thể
được cố định dễ dàng hơn, đặc biệt
ở những bệnh nhân cần nâng khu
vực mông dưới. Tác giả đã phát
triển một sơ đồ đơn giản nhằm
đưa ra các khuyến nghị về vị trí đặt
và hình dạng túi implant dựa trên
chiều dài của mông và lượng mỡ
dưới da.
Khuyến cáo vị trí và hình
dạng túi implant:
• Đối với mông dài: anatom
ic implant
• Mông ngắn: implant tròn
(round implant)
• Mô mỡ dưới da dày: đặt túi
implant dưới cân hoặc trong cơ.
• Mô mỡ dưới da mỏng: đặt
túi trong cơ
• Thiếu/ít mô mềm dưới da:
không nên implant
Các liệu trình (bao gồm cả
phẫu thuật) bổ sung có thể được
thực hiện trước hoặc sau GAI. Các
thủ tục được mô tả bao gồm hút
mỡ vùng thắt lưng-cùng, chuyển
mỡ tới vùng hông và cắt bỏ phần
da thừa dưới nếp lằn mông. Hút
mỡ vùng thắt lưng-cùng có thể
được thực hiện ngay tại thời điểm
implant để cải thiện tỉ lệ eo/hông
(WHR). Trong các bài công bố của
Singh và Roberts cùng các đồng ng
hiệp, khái niệm về WHR được đưa
ra, coi như một chỉ số đánh giá mức
độ hấp dẫn của người phụ nữ. Bằng
cách chia chu vi của eo cho hông,
chúng ta thu được WHR với trị số lý
tưởng là 0.7. Một nghiên cứu nằm
2016 của Gupta và đồng nghiệp
cho thấy rằng WHR lý tưởng hiện
tại là 0.6. Hút mỡ vùng dưới nếp
lằn mông hoặc thắt lưng cùng để
bổ sung mỡ cho những vùng thiếu
hụt cũng đã được một số tác giả mô
tả trong các nghiên cứu của minhg.
Tác giả khuyến nghị tảo luận về lợi
ích của việc hút mỡ vùng thắt lưng
vùng và hai bên hạ sườn để cải
thiện kết quả implant (Hình 3). Ở
những bệnh nhân có mỡ thừa ở hạ
sườn, việc chỉ bổ sung túi độn mà
không cải thiện đường bờ mông có
thể làm cho vùng mông trở nên mất
thẩm mỹ. Nâng mông có thể đồng
thời kết hợp với làm đầy mông để
Chương 4 : Chiến lược quản lý bệnh nhân dựa trên thực hành trong nâng mông implant
75
loại trừ lượng da dư thừa và cải
thiện hình dáng mông, vấn đề này
đã được De la Pena-Salcedo và
cộng sự mô tả. Ở những bệnh nhân
có vùng da thừa, có thể thực hiện
nâng mông trước khi làm đầy, kỹ
thuật đã được mô tả kỹ trong một
bài báo của Gonzalez.
Các liệu trình bổ sung:
• Hút mỡ ở vùng thắt lưng
cùng, mạn sườn, eo.
• Ghép mỡ cho vùng hông,
mông
• Chỉnh sửa nếp lằn mông
• Nâng mông
Tác giả khuyến nghị các thủ
thuật cải thiện đường bờ mông nên
được căn chỉnh sao cho phù hợp
với kết quả implant mông trước đó.
Còn thủ thuật cắt bỏ vùng da thừa
dưới nếp lằn mông hoặc chỉnh sửa
nếp lằn mông có thể được thực
hiện trước hoặc sau khi implant
(Hình 4). Vùng dưới nếp lằn có thể
cải thiện một phần sau khi làm im
plant, nên khuyến nghị thực hiện
thủ thuật này sau implant (thường
là vài tháng), để không phải cắt bỏ
quá nhiều tổ chức da. Trong trường
hợp tổ chức da quá lỏng lẻo, nâng
mông có thể giúp định vị lại vùng
mô mềm dưới da để chuẩn bị cho
các thủ thuật làm đầy mông bằng
implant.
QUẢN LÝ SAU PHẪU THUẬT
Ngay sau khi phẫu thuật,
bệnh nhân sẽ ở tư thế nằm sấp trên
cáng và được băng ép vùng mổ.
Bệnh nhân được khuyên nên mặc
quần áo có tác dụng ép chặt vùng
mổ trong vòng 3 tuần và nằm ở tư
thế sấp càng nhiều càng tốt. Tập
thể dục và các hoạt động gắng sức
khác có thể tiếp tục sau 8 tuần. Nên
cố gắng tập vận động nhẹ nhàng
sớm để tránh thuyên tắc huyết khối
tĩnh mạch. Tác giả kê kháng sinh dự
phòng đường uống trong 5 ngày
sau mổ. Thuốc giãn cơ không nên
kê sau phẫu thuật nâng mông dưới
cân nhưng nếu nâng mông trong
cơ thì có thể kê (để giảm tình trạng
khó chịu tại vùng mổ). Sau implant
dưới cân thì không nên dùng dẫn
lưu, nhưng trong cơ thì có, nhằm
thức đẩy quá trình lành vết thương
và giảm nề. Ống dẫn lưu được rút
khi lượng dịch ra < 25 ml/24h,
thông thường vào khoảng 5-7 ngày
sau mổ. Ngoài ra, các Bs cần nắm rõ
các biến chứng tiềm tàng sau phẫu
thuật và hướng xử trí của từng biến
chứng để có thể giải quyết kịp thời,
tránh để lại di chứng sau này.
Khuyến nghị sau phẫu thuật:
• Mặc quần bó trong 3 tuần
• Duy trì tư thế nằm sấp
nhiều nhất có thể
• Tránh tập luyện gắng sức
trong 8 tuần sau PT
• Phát hiện và điều trị nhiễm
khuẩn sớm
• Nếu có nhiễm khuẩn, hút
dịch tiết và nuôi cấy địn danh vi
khuẩn
Chương 4 : Chiến lược quản lý bệnh nhân dựa trên thực hành trong nâng mông implant
76
• Loại bỏ khối implant đã
nhiễm khuẩn sớm nhất có thể.
NHIỄM KHUẨN
Nhiễm khuẩn có thể xảy ra
trong tuần đầu tiên sau phẫu thuật
với biểu hiện sưng nóng đỏ đau.
Nếu còn dẫn lưu thì có thể quan
sát được dịch bất thường. Dịch này
nên được cố định trên lam, nhuộm
Gram và nuôi cấy định danh. Nếu
lượng dịch nhiều (phát hiện và
đánh giá bằng việc sờ nắn) thì có
thể chọc hút bằng kim 18G để loại
bỏ toàn bộ lượng dịch này. Sau khi
có kết quả nuôi cấy vi khuẩn, nên
điều chỉnh (liệu pháp xuống thang)
hoặc có thể ngừng sử dụng kháng
sinh tùy theo căn nguyên. Chúng
ta biết rằng trong một số trường
hợp nặng, sử dụng kháng sinh
đơn thuần là chưa đủ. Lúc này, các
phương pháp phẫu thuật nên được
cân nhắc thực hiện. Trường phẫu
thuật trước đó nên được khảo sát
kỹ, đồng thời lập tức loại bỏ khối
implant ra ngoài. Sau đó nên tưới
rửa bằng dung dịch kháng sinh
trước khi đóng vết mổ lại. Nếu tình
trạng nhiễm trùng chỉ giới hạn
quanh vùng phẫu thuật, vết mổ có
thể được đóng kín. Nếu đường rạch
ở nếp liên mông xuất hiện mủ hoặc
hoại tử thì nên để hở vết mổ. Trong
bất kỳ trường hợp nhiễm trùng
nào, luôn phải tháo bỏ khối implant
ra khi can thiệp. Nếu nhiễm trùng ở
một bên mông, mô implant ở bên
còn lại vẫn có thể giữ nếu không có
vấn đề gì bất thường. Tỉ lệ nhiễm
trùng đối với GAI nằm trong khoảng
1-7%. Các tác giả khuyến nghị loại
bỏ túi độn càng sớm càng tốt khi
phát hiện nhiễm khuẩn, điều này
giúp ngăn ngừa nhiễm khuẩn lan
tràn tới vùng giữa nếp liên mông,
giảm thiểu thời gian lành vết mổ.
BƯỚU HUYẾT THANH
Hình thành bướu huyết
thanh sau GAI thường xảy ra sớm
trong giai đoạn hậu phẫu và thường
gặp sau khi implant dưới cân hoặc
trong cơ. Đây bản chất là sự tích
tụ chất lỏng (huyết thanh) trong
các khoang được tạo thành khi
bóc tách tổ chức. Nhưng chúng ta
thường không phát hiện ra cho tới
khi lượng dịch này tương đối nhiều
(thường lớn hơn 150 mL). Bệnh
nhân có thể phàn nàn về tình trạng
khó chịu ở 1 hoặc cả 2 bên mông
sau phẫu thuật từ 2 tới 3 tuần.
Tác giả khuyến nghị nên chọc hút
bằng kim 18G ở phần mông dưới
khi nghi ngờ có bướu huyết thanh.
Khi hút có thể dùng tay vừa ép vừa
đẩy vùng dưới nếp lằn mông để tạo
thuận cho việc chọc hút. Dịch hút
được nên được gửi đi nuôi cấy định
danh để xác định căn nguyên. Nếu
dịch hút ra đục có thể dùng kháng
sinh phổ rộng ngay mà không cần
chờ kết quả vi sinh. Nên thực hiện
chọc Hút nhiều lần cho tới khi ước
tính lượng dịch còn lại dưới 10mL.
Để phát hiện và xác định vị trí dịch,
có thể sử dụng siêu âm tần số cao.
Tỷ lệ bướu huyết thanh đã được De
La Pena báo cáo vào khoảng 2%
Chương 4 : Chiến lược quản lý bệnh nhân dựa trên thực hành trong nâng mông implant
77
trong một nghiên cứu implant
mông dưới cân.Aboudib đã báo
cáo tỉ lệ bướu huyết thanh trong
nghiên cứu implant mông trong cơ
là 4%. Tác giả sử dụng mô cấy trơn
với kết cấu bán rắn ở cả vị trí dưới
cân và trong cơ, báo cáo rằng có
28% số bệnh nhân xuất hiện bướu
huyết thanh khi chọc hút, nhưng
khám lâm sàng không phát hiện
ra. Mặc dù tỉ lệ bướu huyết thanh
được công bố ở Hoa Kỳ nhiều hơn
các khu vực khác do sử dụng mô
cấy bán rắn thay vì gel, chúng ta
cũng không thể kết luận được rằng
liệu sự hình thành bướu huyết
thanh có liên quan tới kích thước,
kết cấu, tính thuần nhất của mô
ghép và vị trí cấy ghép hay không.
Khối bướu lớn hơn 100mL có thể
dẫn tới nhiễm trùng hoặc làm đẩy
khối implant đi lệch vị trí ghép. Các
khối bướu lớn, tái lập nhanh có thể
phải đặt dẫn lưu cho tới khi giải
quyết triệt để chúng. Khối bướu từ
200-300 mL, đặt dẫn lưu hút kín
không hiệu quả thì có thể xem xét
mở vết mổ để đặt biofilm (màng
sinh học). Cúng nên phẫu thuật giải
quyết triệt để những trường hợp
bướu huyết thanh tồn tại lâu, điều
trị không triệt để.
Quản lý bướu huyết thanh
• Mặc quần bó
• Chọc hút thường xuyên
trong thời gian đầu
• Nuôi cấy, định danh vi khu
ẩn.
• Đặt dẫn lưu hút kín
• Mở vết mổ, đặt dẫn lưu.
BỤC CHỈ VẾT MỔ
Giảm thiểu áp lực tác động
lên vết mổ bằng cách đóng từng
lớp giải phẫu một cách cẩn thận và
cố định tốt từng bên vết mổ được
khuyến cáo. Tỉ lệ bục chỉ sau GAI
được báo cáo vào khoảng 6 tới
30%. Sinno và cộng sự đã báo cáo
đây là biến chứng thường gặp nhất
của các thủ thuật làm đầy mông sau
khi phân tích 43 bài báo với tổng
cộng 2375 bệnh nhân được khảo
sát. Oranges và cộng sự, trong một
bài báo gần đây đã phân tích 52 ng
hiên cứu về thủ thuật làm đầy mông
và cũng đưa ra kết luận tương tự
về biến chứng này. Sau bục chỉ vết
mổ thì các biến chứng khác thường
gặp là bướu huyết thanh và nhiễm
khuẩn. Trong một nghiên cứu của
Vergara, các trường hợp sử dụng
mô implant thể tích 250-350 cm3
thường không xuất hiện bục chỉ
sau mổ. Nên họ khuyến cáo tránh
sử dụng mô cấy có thể tích lớn hơn
350cm3 ở ngay lần nâng mông đầu
tiên. Nếu tình trạng bục chỉ chỉ xảy
ra ở một số vị trí với mức độ nhẹ
(chỉ nhìn thấy lớp dưới da), có thể
để lại chăm sóc tại chỗ (thay băng)
cho tới khi chúng liền. Còn các
trường hợp bục chỉ vết mổ có lộ vật
cấy thì nên mở vết mổ để giải quyết
triệt để. Trường hợp Implant trong
Chương 4 : Chiến lược quản lý bệnh nhân dựa trên thực hành trong nâng mông implant
78
Hình. 3. Một phụ nữ 36 tuổi có vùng mỡ thừa ở khu vực thắt lưng cùng,
mong muốn cải thiện đường bờ mông (đặc biệt khu vực thắt lưng cùng)
và tăng kích thước vòng ba. (A,B) Sáu tháng sau thủ thuật nâng mông
dưới cân với túi implant 301 cm3 silicone rắn, dạng tròn và hút 925 cm3
mỡ dưới da ở vùng thắt lưng cùng và mạn sườn. (C,D) Chú ý tỉ lệ eo/hông
được cải thiện rõ rệt.
cơ có bục chỉ nhưng không lộ
khoang cấy (trong các lớp cơ) thì
có thể không cần loại bỏ vật cấy.
Quản lý bục chỉ vết mổ
• Bục chỉ mức độ nhẹ nên
chăm sóc tại chỗ (thay băng).
• Bục chỉ có thể quan sát các
tổ chức sâu phía dưới nên được
chăm sóc tại chỗ cho tới khi vết mổ
liền lại.
• Bục chỉ + lộ vật cấy cần
phải loại bỏ vật cấy.
KHỐI MÁU TỤ
Chọc hút liên tiếp có thể đạt
hiệu quả cao trong việc điều trị các
khối máu tụ nhỏ. Đối với khối máu
tụ lớn, gây căng cứng vùng mông
thì có thể can thiệp phẫu thuật để
loại bỏ mô cấy hoặc tưới rửa liên
tục vùng phẫu thuật và đặt dẫn lưu.
Tác giả đã báo cáo tỷ lệ tụ máu là
2% sau phẫu thuật. Bục chỉ vết mổ,
nhiễm khuẩn, và co kéo bao xơ là
những nguy cơ dẫn tới khối máu
Chương 4 : Chiến lược quản lý bệnh nhân dựa trên thực hành trong nâng mông implant
79
Hình. 4. Một phụ nữ 46 tuổi yêu cầu tăng kích thước vùng mông hai bên
và loại bỏ lượng da thừa ở vùng này. (A-C) Một tháng sau khi thực hiện
implant mông dưới cân với khối silicone dạng rắn, tròn, thể tích 276 cm3.
Lưu ý các điểm đánh dấu trước phẫu thuật nhằm cải thiện nếp lằn mông.
(D-F) 11 tháng sau khi implant và nếp lằn mông được chỉnh sửa (G-I)
tụ.
CO KÉO BAO XƠ
Nguyên nhân dẫn tới co kéo
bao xơ có thể là do phản ứng viêm
tại vùng phẫu thuật sau nhiễm
trùng. Có thể cấy ghép khối elasto
mer bán rắn để tránh tình trạng co
kéo này. Co kéo bao xơ thường
biểu hiện bởi tình trạng căng cứng
vùng mông sau implant. Bệnh nhân
thường phàn nàn về tình trạng căng
tức khó chịu ở vùng mông. Việc xử
trí tình huống này phụ thuộc vào
mức độ khó chịu, có thể từ việc
phải mở vết mổ để cắt bao cho tới
việc phải loại bỏ hẳn khối implant
Chương 4 : Chiến lược quản lý bệnh nhân dựa trên thực hành trong nâng mông implant
80
nếu quan sát thấy giả mạc.
ĐAU THẦN KINH HÔNG TO
Đây là tình trạng thường
gặp sau phẫu thuật, biểu hiện đau
1 bên (đôi khi là 2 bên) vùng mông
lan tới mặt ngoài cẳng chân, do
tình trạng viêm và sưng nề dẫn
tới chèn ép dây thần kinh hông to.
Các biến chứng đau dây thần kinh
hông to được báo cáo sau các thủ
thuật nâng mông dưới cân và trong
cơ. Tình trạng này hầu như luôn tự
khỏi trong vòng hai tuần và có thể
được cải thiện khi sử dụng thuốc
kháng viêm.
CÁC VẤN ĐỀ VỀ TÍNH THẨM MỸ
Việc quản lý các bệnh nhân
implant thất bại cần các thông tin
về: kích thước, hình dạng và vị trí
cấy ghép. Việc nắm rõ các thông
tin này sẽ cho phép lập kế hoạch
chỉnh sửa tối ưu. Những bệnh nhân
không hài lòng với kích thước vòng
ba sau phẫu thuật có thể được cải
thiện ở lần phẫu thuật thứ 2 với mô
cấy lớn hơn sau lần một 6 tháng. Sẽ
an toàn hơn nếu lần đầu dùng một
túi độn có kích thước vừa phải, sau
khi ổn định có thể chuyển sang kích
thước lớn hơn để tránh các biến
chứng xảy ra trong quá trình lành
vết mổ. Thông thường, nếu vùng
mông dưới nhô ra chưa đạt như
ý muốn, có thể chuyển đổi mô cấy
dạng tròn (round) sang dạng ana
tomic, đặc biệt đối với những bệnh
nhân mông dài. Hoặc cũng có thể
xử trí bằng cách đặt mô ghép ở vị
trí thấp hơn. Các mô cấy hình oval
có thể bị xoay, dẫn tới tình trạng
mông không đối xứng và điểm nhô
ra nhiều nhất có thể sẽ không nằm
ở vị trí trung tâm. Trong một nghiên
cứu của Serra và cộng sự, đánh giá
20 CT của bệnh nhân nâng mông
trong cơ bằng khối hình oval cho
thấy sau 3 tháng, các bệnh nhân
này đều xuất hiện tình trạng xoay
khối mô cấy. Tác giả khuyến nghị
đổi khối implant từ dạng oval sang
dạng tròn để cải thiện tình trạng
không đối xứng này. Các bệnh nhân
bị lộ khối implant quá nhiều đều
cần xem xét khả năng phải thay đổi
vị trí cấy. Cụ thể, các vị trí cấy dưới
da hoặc dưới cân có thể chuyển
thành cấy trong cơ để đảm bảo
tính thẩm mỹ của vùng mông. Ser
ra và Aboudib đã mô tả việc định
vị lại các khối implant ở mặt phẳng
trong cơ xuống một lớp cơ sâu hơn
để tránh xoay khối implant. Trong
một bài báo của Jaimovich và cộng
sự, 43 ca cấy ghép trong cơ được
tái định vị và khâu nội bao xơ đã
ổn định trở lại. Trong trường hợp
bệnh nhân bị đau và viêm mạn,
khuyến cáo nên phẫu thuật. Việc
thay thế khối implant có thể phải
thực hiện sau 6 tháng nếu thấy cần
tăng kích thước vòng ba hơn nữa.
Ghép mỡ vào phần mông bị xệ có
thể giúp khôi phục thẩm mỹ đồng
thời cải thiện kích thước cũng như
sự cân đối của vòng ba.
Quản lý các trường hợp im
plant thất bại
• Xác định kích thước, hình
Chương 4 : Chiến lược quản lý bệnh nhân dựa trên thực hành trong nâng mông implant
81
dạng và vị trí khối implant
• Đổi sang khối implant kích
cỡ lớn hơn sau 6 tháng
• Cân nhắc thay đổi hình
dạng khối implant cho phù hợp.
• Thay đổi mặt phẳng cấy
ghép cho phù hợp
• Loại bỏ các mô cấy bị viêm
mạn hoặc nhiễm trùng
• Thay mô cấy sau 6 tháng
(trong trường hợp cần thiết)
• Xem xét việc ghép mỡ để
khối phục kích thước và chỉnh sửa
tình trạng bất đối xứng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bartels RJ, O’Malley JE, Douglas
WM, et al. Unusual use of the Cro
nin breast prosthesis: case report.
Plast Reconstr Surg 1969;44:500.
2. Cocke WM, Ricketson G. Gluteal
augmentation. Plast Reconstr Surg
1973;52:93.
3. Gonzalez-Ulloa M. Gluteoplas
ty: a ten year report. Aesthet Plast
Surg 1991;5:85–91.
4. Robles J, Tagliapietra J. Gluteo
plastia de aumento: implante sub
muscular. Cir Plast Iberolatino
americana 1984;10:365–9.
5. De la Pena JA, Rubio OV, Cano JP,
et al. History of gluteal augmenta
tion. Clin Plast Surg 2006;33:307–
19.
6. Vergara R, Marcos M. Intramus
cular gluteal implants. Aesthet
Plast Surg 1996;20:259–62.
7. De la Pena JA. Subfascial tech
nique for gluteal augmentation.
Aesthet Surg J 2004;24:265–73.
8. Hwang SW, Nam YS, Hwang K,
et al. Thickness and tension of the
gluteal aponeurosis and the impli
cations for subfascial gluteal aug
mentation. J Anat 2012;221:69–72.
9. Mofid MM, Gonzalez R, de la
Pena JA, et al. Buttock augmenta
tion with solid silicone implants;
a multicenter survey review of
2226 patients. Plast Reconstr Surg
2013;131:897–901.
10. Mezzine H, Khairallah G, Abs
R, et al. Buttocks enhancement us
ing silicone implants: a national
practices assessment about 538
patients. Ann Chir Plast Esthet
2015;60:110–6.
11. Senderoff DM. Aesthetic sur
gery of the buttocks using implants:
practice-based recommendations.
Aesthet Surg J 2016;36:559–76.
12. Mendieta CG. Classification
system for gluteal evaluation. Clin
Plast Surg 2006;33:333–46.
13. Centeno RF, Young VL. Clinical
anatomy in aesthetic gluteal body
contouring surgery. Clin Plast Surg
2006;33:347–58.
14. Serra F, Aboudib JH, Cedrola JP,
et al. Gluteoplasty: anatomic basis
and technique. Aesthet Surg J 2010;
30:579–92.
15. Cuenca-Guerra R, Lugo-Beltran
I. Beautiful buttocks: characteris
tics and surgical techniques. Clin
Plast Surg 2006;33:321–32.
Chương 4 : Chiến lược quản lý bệnh nhân dựa trên thực hành trong nâng mông implant
82
16. Senderoff DM. Buttock augmen
tation with solid silicone implants.
Aesthet Surg J 2011;31:320–7.
17. Flores-Lima G, Eppley BI, Dimas
JR, et al. Surgical pocket location
for gluteal implants: a systematic
review.
Aesthet
Plast
Surg
2013;37:240–5.
18. Roberts TL, Weinfeld AB, Brun
er TW, et al. “Universal” and eth
nic ideals of beautiful buttocks are
best obtained by autologous micro
fat grafting and liposuction. Clin
Plast Surg 2006;33:371–94.
19. De La Pena JA, Rubio OV, Cano JP,
et al. Subfascial gluteal augmenta
tion. Clin Plast Surg 2006;33:405–
22.
20. Serra F, Aboudib JH, Marques
RG. Intramuscular technique for
gluteal augmentation; determina
tion and quantification of muscle
atrophy and implant position by
computed tomographic scan. Plast
Reconstr Surg 2013;131:253e–9e.
21. Serra F, Aboudib JH, Neto JI, et al.
Volumetric and functional evalua
tion of the gluteus maximus muscle
after augmentation gluteoplasty
using silicone implants. Plast Re
constr Surg 2015;135:533e–41e.
22. Hidalgo JE. Submuscular glu
teal augmentation: 17 years of ex
perience with gel and elastomer
silicone implants. Clin Plast Surg
2006;33:435–47.
23. Mendieta CG. Intramuscular
gluteal augmentation.Clin Plast
Surg 2006;33:423–34.
24. Mendieta CG. Gluteoplasty. Aes
thet Surg J 2003;23:441–55.
25. Gonzalez R. Gluteal implants:
the “XYZ” intramuscular method.
Aesthet Surg J 2010;30:256–64.
26. Gonzalez R. Augmentation glu
teoplasty: the XYZ method. Aesthet
Plast Surg 2004;28:417–25.
27. Gonzalez R, Mauad F. Intraop
erative ultrasonography to guide
intramuscular buttock implants.
Aesthet Surg J 2012;32:125–6.
28. Singh D. Universal allure of
the hourglass figure: an evolu
tionary theory of female physi
cal attractiveness. Clin Plast Surg
2006;33:359–70.
29. Gupta CS, Wong WW, Motakef S,
et al. Redefining the ideal buttocks:
a population analysis. Plast Recon
str Surg 2016;137:1739–47.
30. Aiache AE. Gluteal recontouring
with combination treatments: im
plants, liposuction, and fat transfer.
Clin Plast Surg 2006;33:395–403.
31. Cardenas-Camerena L, Paillet
JC. Combined gluteoplasty: lipo
suction and gluteal implants. Plast
Reconstr Surg 2007;3:1067–74.
32. Cardenas- Camarena L, Sil
va-Gavarrete JF, ArenasQuintana
R. Gluteal contour improvement:
different surgical alternatives. Aes
thet Plast Surg 2011;35:
1117–25.
33. De la Pena-Salcedo JA, So
to-Miranda MA, VaqueraGuevara
MO, et al. Gluteal lift with subfas
cial implants. Aesthet Plast Surg
2014;37:521–8.
34. Gonzalez R. Buttocks lifting:
how and when to use medial, later
al, lower, and upper lifting
Chương 4 : Chiến lược quản lý bệnh nhân dựa trên thực hành trong nâng mông implant
83
techniques.
Clin
Plast
Surg
2006;33:467–78.
35. Bruner TW, Roberts TL, Nguy
en K. Complications of buttock
augmentation: diagnosis, manage
ment, and prevention. Clin Plast
Surg 2006;33:449–66.
36. Aboudib JH, Serra F, de Castro
CC. Gluteal augmentation: tech
nique, indications, and implant
selection. Plast Reconstr Surg
2012;130:933–5.
37. De La Pena A. Subfascial but
tock implant augmentation. Pre
sented at The Annual Meeting of
the American Society of Plastic
Surgery. Chicago, September 27,
2005.
38. Sinno S, Chang JB, Brownstone
ND, et al. Determining the safety
and efficacy of gluteal augmenta
tion: a systematic review of out
comes and complications. Plast Re
constr Surg 2016;137(4):1151–6.
39. Oranges CM, Tremp M, Di Sum
ma PG, et al. Gluteal augmenta
tion techniques: a comprehensive
literature review. Aesthet Surg J
2017;37(5):560–9.
40. Vergara R. Intramuscular glu
teal implants: 15 years experience.
Aesthet Surg J 2004;23:86–91.
41. Serra F, Aboudib JH, Marques
RG. Reducing wound complica
tions in gluteal augmentation
surgery.
Plast
Reconstr
Surg
2012;130:706e–13e.
42. Serra F, Aboudib JH. Gluteal
implant
displacement:
diagno
sis and treatment. Plast Reconstr
Surg2014;134:647–54.
43. Jaimovich CA, Almeida MW,
Aguiar LF, et al. Internal suture tech
nique for improving projection and
stability in secondary gluteoplasty.
Aesthet Surg J 2010;30:411–3.
44. Senderoff DM. Revision buttock
implantation: indications, proce
dures and recommendations. Plast
Reconstr Surg 2017;139(2):327–
35.
Chương 5 : Nâng mông dưới cơ
84
Nâng mông dưới cơ
5
Jorge E. Hidalgo, MD*
TỪ KHÓA
• implant dưới cơ • Nâng mông bằng túi độn • Implant mông • Tạo dáng
cơ thể
ĐIỂM QUAN TRỌNG
•
Ở những bệnh nhân có đủ các tiêu chí cho cuộc phẫu thuật, phương
pháp nâng mông dưới cơ đem lại độ bao phủ mô mềm nhiều hơn cả và
hình dáng mông sau phẫu thuật cũng tự nhiên hơn, đường nét tiếp nối
giữa vùng thắt lưng cùng và mông cũng uyển chuyển hơn.
•
Để tránh làm đầy phần mông trên quá mức và để xác định mặt
phẳng cấy ghép, cần đánh dấu vùng phẫu thuật trước mổ.
•
Ngày nay làm đầy bằng implant và chuyển mỡ ít được thực hiện
hơn vì sự gia tăng đáng báo động của việc sử dụng filler tổng hợp, hóa
chất tuy rẻ nhưng rất nguy hại cho cơ thể.
•
Tác giả mô tả một cách tiếp cận đơn giản mà ông đã phát triển để
xác định xem bệnh nhân có thỏa mãn các điều kiện để thực hiện nâng
mông dưới cơ hay không.
Làm đầy và tạo hình vùng
mông đã dần trở nên phổ biến
trong vài năm gần đây do nhu cầu
ngày một tăng của xã hội. Là bác
sĩ phẫu thuật thẩm mỹ, chúng ta
thường sử dụng hai phương pháp
cơ bản để giải quyết vấn đề này:
implant mông hoặc cấy ghép mỡ.
Cả hai phương pháp này đều có
những phân nhóm riêng: implant
ở mặt phẳng khác nhau (dưới cơ,
trong cơ, hoặc dưới cân), và ghép
mỡ (dưới da hoặc trong cơ). Cả hai
kỹ thuật này cũng đều có những
biến chứng liên quan. Ví dụ những
biến chứng thường gặp nhưng ít
nguy hiểm: bục chỉ vết mổ sau im
plant hoặc hấp thu mỡ sau ghép
mỡ. Những biến chứng khác tuy ít
gặp nhưng nguy hiểm hơn: nhiễm
khuẩn và khối máu tụ sau implant
và thuyên tắc ỡ sau ghép mỡ tự
thân.
ƯU ĐIỂM VÙNG DƯỚI LỚP CƠ
Đặt mô cấy trong mặt phẳng
dưới cơ giúp mô mềm có thể bao
phủ toàn bộ chúng, ít khi sờ thấy
mô cấy, và đường nét tiếp nối giữa
vùng thắt lưng cùng và mông cũng
uyển chuyển hơn nhiều.
Chương 5 : Nâng mông dưới cơ
85
Việc hạn chế khả năng khai
phá ở vùng mông dưới do những
lo ngại về tổn thương thần kinh
hông to phía dưới bờ dưới cơ tháp
sẽ không làm ảnh hưởng tới tính
thẩm mỹ vùng mông nếu như bệnh
nhân được chọn lựa một cách phù
hợp, sẽ mô tả phía dưới bài viết.
Mặt phẳng trong cơ được mô
tả bởi Vergara và Amezcua, Gonza
lez là mặt phẳng được lựa chọn thứ
hai sau mặt phẳng dưới cơ ở những
bệnh nhân có khung chậu ngắn và
phải đặt mô cấy ở vùng mông dưới,
bên dưới cơ tháp. Mặt phẳng trong
cơ này được Gonzalez mô tả là ‘mặt
phẳng sandwich’ chia cơ mông lớn
thành hai phần theo độ dày một
cách tỉ mỉ theo phương pháp XYZ
của ông. Như ông đã đề cập trong
bài báo này, việc bóc tách các lớp
cơ là rất khó, nên buộc phải đánh
giá được độ dày lớp cơ trước phẫu
thuật và cũng nên biết rằng các mốc
giải phẫu sẽ khá khó tìm và tưởng
tượng tại mặt phẳng này.
Bất chấp những hạn chế này,
kết quả xuất sắc của ông đã nói lên
tất cả.
Giải phẫu
Giải phẫu cơ mông được mô
tả trong bài báo của Robert F. Cen
teno và các đồng nghiệp “Giải phẫu
lâm sàng trong tạo hinh thẩm mỹ
vùng mông”, vấn đề này cũng đã
được Mendieta và Gonzalez đánh
giá trước đó.
Ngoài ra trong đĩa CD đi kèm
với bài báo này, có một video về
giải phẫu vùng mông của Bác sĩ Ba
rouidi trên tử thi (Video 1).
Lựa chọn bệnh nhân và đánh
dấu vùng phẫu thuật
Tác giả vẫn sử dụng giới hạn dưới
của mặt phẳng cắt là 2 đường ngang
được vẽ từ đốt xương cụt cuối cùng
tới hai mấu chuyển lớn.
Để tránh tình trạng quá
ngắn hoặc quá dài của vùng mông
(hay còn gọi là mông dài/ngắn)
thì tác giả đã kết hợp một phép
đo đơn giản trước phẫu thuật, đo
khoảng cách từ mào chậu phía sau
tới đường ngang đi qua trung điểm
nếp liên mông (khoảng cách A)
và từ đường ngang đó tới nếp lằn
mông (khoảng cách B) (Hình 1) để
tính vị trí chuẩn xác của khối im
plant.
Để tránh tình trạng phần
mông trên được nâng lên quá mức,
khoảng cách A thông thường phải
gấp đôi khoảng B để có thể phù
hợp cho nâng mông dưới cơ.
Nếu khoảng cách A ngắn
hơn, nên sử dụng mặt phẳng trong
cơ để tạo điều kiện cho khối im
plant được đẩy xuống thấp hơn 1
chút, giúp đạt được kết quả thẩm
mỹ lý tưởng.
Những bệnh nhân có mào
chậu rộng, khung chậu hẹp và ngắn
hoặc sa hay thiếu mô mềm ở mông
sẽ không phù hợp với các thủ thuật
nâng mông, bất kể áp dụng ở mặt
phẳng nào. Các tác giả khuyến cáo
họ nên chuyển sang phương pháp
Chương 5 : Nâng mông dưới cơ
86
ghép mỡ (Hình 2).
Phương pháp phẫu thuật
Phương pháp phẫu thuật
này được mô tả lần đầu bởi Tiến sĩ
Jose Robles và các đồng nghiệp đến
từ Argentina vào năm 1984. Tác giả
bắt đầu phát triển kĩ thuật này vào
nằm 1988, và đã được trình bày
tại cuộc họp thường niên về thẩm
mỹ năm 1992 của Hiệp hội phẫu
thuật thẩm mỹ khu vực Bắc Mỹ ở
Washington DC, quá trình báo cáo
đã được quay lại và giữ dưới dạng
video thuộc bản quyền của tổ chức
giáo dục phẫu thuật thẩm mỹ thuộc
hiệp hội Bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ
Hoa Kỳ năm 1993 và được xuất bản
trên tạp chí clinics in plastic surge
ru nằm 2006.
Kỹ thuật phẫu thuật được
quan sát ở video 1.
Theo đề xuất của Mendieta,
việc định hình nên được ưu tiên
trước các thủ thuật làm tăng kích
thước vùng mông. Ngoài việc hút
mỡ vùng eo và hông, tác giả hiện
đang thực hiện đồng thời việc
chuyển mỡ sang các vùng mông
thiếu tổ chức mỡ dưới da để có
được hình dạng quả lê (hình dạng
lý tưởng vùng mông).
Bởi vì mặt phẳng dưới cơ,
theo mô tả của Robles và cộng sự,
thường không được xác định một
cách rõ ràng, nên trong một số
trường hợp, tác giả phải đặt túi độn
ở mặt phẳng cơ cách mặt ngoài cơ
mông lớn ít nhất 3-4 cm, đây được
coi là mặt phẳng sâu trong cơ.
Tác giả không để lại một
lượng da nhất định ở cạnh nếp liên
mông như khuyến nghị của Gonza
lez. Anh ta dùng một đường rạch ở
giữa, nếp lằn mông được tái tạo lại
bằng cách gặm đi một phần lớp cân
ở trước xương cùng, mô dưới da và
bờ da khi đóng vết thương.
Lựa chọn loại implant
Tác giả luôn sử dụng loại
silicone dạng gel dính, trung bình
(moderate profile) với lớp vỏ dày
và chịu lực tốt do tiến sĩ Robles
và các đồng nghiệp phát triển lên
(dưới cái tên Silimed).
Các mô cấy high-profile khi
sử dụng thường dẫn tới đường
viền nhọn không tự nhiên, thậm
chí nhiều hơn khi bệnh nhân cúi về
phía trước hoặc nâng đùi lên.
Tác giả ban đầu sử dụng mô
cấy với thể tích 240, 270 và 300
cm3, nhưng ngày nay họ thường
dùng loại thể tích 300-350 cm3.
Đối với Hoa Kỳ, khi các nhà
máy sản xuất túi silicone bị cấm
hoạt động bởi FDA thì họ chuyển
sang dùng loại silicone đàn hồi
dạng tròn (Silimed-Sientra) Với thể
tích từ 250, 290 tới 340 cm3.
Một số cống ty khác sản xuất
mô cấy dạng elastomer, bao gồm
Hanson Medical Inc, AART Inc, và
Spectrum Designs Medical.
Những bệnh nhân có khung
chậu hẹp hoặc muốn đặt túi độn
trong cơ ở vị trí thấp thì nên chọn
loại anatomic implant (hình giọt
nước).
Chương 5 : Nâng mông dưới cơ
87
Hình. 1. Đánh giá trước phẫu thuật để lựa chọn bệnh nhân với mặt phẳng im
plant phù hợp.
Hình. 2. Bệnh nhân với khung chậu quá rộng hoặc quá ngắn đều không phù hợp
với implant mông.
Chương 5 : Nâng mông dưới cơ
88
Kết quả
Kết quả phẫu thuật quan sát
trên Hình. 3-5.
Biến chứng
Theo kinh nghiệm của tác
giả, nhiễm trùng lớp bề mặt và
hoặc bục chỉ vết mổ là hai biến
chứng thường gặp nhất (Hình 6).
Nếu bục chỉ ở các lớp bề mặt thì có
thể chăm sóc tại chỗ, làm sạch vết
mổ và chờ liền. Còn trong trường
hợp nặng, có thể thấy các tổ chức
sâu phía bên dưới thì cần chăm sóc
đặc biệt, thay băng và làm sạch vết
mổ thường xuyên cho tới khi thấy
được mô hạt sạch trên vết mổ. Sau
đó nên đóng vết mổ theo hai kỳ, kỳ
đầu là lớp sâu, kỳ sau là lớp nông
và cách nhau một tuần.
Kể từ lần xuất bản cuối cùng
vào năm 2006, tác giả đã không
ghi nhận bất kỳ trường hợp gặp
phải biến chứng khối máu tụ hoặc
nhiễm khuẩn dưới cơ nào.
Theo kinh nghiệm từ trước
tới giờ, tác giả đã có lần phải điều
trị tình trạng thoát vị khối implant
ở mông trái của một bệnh nhân nữ
(Hình 7). Trong phẫu thuật, ông
tìm thấy một khối silicone thể tích
220cm3 chứa đầy nước muối sinh
lý, sau đó ông thay bằng túi gel sil
icone với thể tích 270 cm3. Phần
cấy ghép mông bên trái đó bị thoát
vị qua một lớp cơ rất mỏng. Và như
thế hình thành 1 túi ở phía dưới
khối implant ban đầu. Khi phẫu
tích đã đặt lại túi độn và cố định
chắc chắn. Khối implant bằng cách
lợi dụng tương quan giữa các bó
cơ xung quanh khối đó đồng thời
chuyển vạt cố định các vỏ bao
(Hình. 7).
TỔNG KẾT
Mặc dù có sẵn các lựa chọn
khác nhau về mặt phẳng cấy ghép
mông, tác giả cho rằng, ở những
bệnh nhân phù hợp với các tiêu chí
kể trên, kỹ thuật ghép dưới cơ vẫn
nhiều ưu điểm hơn cả. Với việc sử
dụng các khối elastomer hoặc gel
silicone tròn, trung bình (moder
ate-profile), việc nâng mông dưới
cơ có thể đem lại kết quả tốt, tạo
hình tự nhiên và mềm mại. Ngày
nay, chúng ta đang thực hiện ít hơn
những ca implant và chuyển mỡ
hơn vì sự gia tăng đáng báo động
của filler bằng các hóa chất tổng
hợp, mặc dù rẻ nhưng rất nguy hiểm
cho cơ thể. Những vật liệu này, hiện
đang được sử dụng để tiêm trong
cơ nhằm nâng mông, nhưng chúng
ta biết rằng một số hoạt chất đó đã
bị cấm. Và hậu quả sẽ chỉ quan sát
thấy sau vài năm, khi chúng đã trở
nên quá rõ ràng.
Chúng tôi có thể sẽ phải đối
mặt với chuyện đó trong tương lai
và với tư cách là các Bs phẫu thuật
thẩm mỹ, sớm muộn cũng sẽ phải
giải quyết những biến chứng nặng
nề này.
Chương 5 : Nâng mông dưới cơ
89
Hình. 3. (A-H) Tiền phẫu, chu phẫu và sau hậu phẫu 6 tháng của một bệnh nhân
nữ 38 tuổi được ghép túi độn mông với thể tích 330 cm3.
Chương 5 : Nâng mông dưới cơ
90
Hình. 4. (A-I) Hình ảnh tiền phẫu, chu phẫu và sau hậu phẫu 11 tháng của
một phụ nữ 25 tuổi đã được thực hiện hút mỡ vùng éo, hông và sau xương
vùng, đồng thời ghép khối cấy thể tích 270cm3.
Chương 5 : Nâng mông dưới cơ
91
Hình. 5. (A-F) Hình ảnh tiền phẫu và sau hậu phẫu 4 tháng của bệnh nhân
67 tuổi, ghép khối implant thể tích 300 cm3.
Chương 5 : Nâng mông dưới cơ
92
Hình. 6. Bục chỉ vết mổ
Hình. 7. (A-D) Hình ảnh tiền phẫu và hậu phẫu của bệnh nhân thoát vị khối
implant ở mông trái.
Chương 5 : Nâng mông dưới cơ
93
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vergara R, Amezcua H. Intramus
cular gluteal implants. Aesthetic
Plast Surg 2003;23:86–91.
2. Gonzalez R. Buttocks reshaping
and the posterior body contour:
the XYZ intramuscular method. Rio
de Janeiro (Brazil): Indexa Ed;
2006. p. 109–43.
3. Gonzalez R. Gluteal implants: the
XYZ intramuscular method. Aes
thet Surg J 2010;30(2):256–64.
4. Mendieta C. Gluteoplasty. Aes
thet Surg J 2003;23:441–55.
5. Gonzalez R. Buttocks reshaping
and the posterior body contour:
anatomy. Rio de Janeiro (Brazil):
Indexa E.d; 2006. p. 77–91.
6. Baroudi R. Buttocks augmenta
tios. [Video # 61224] Lipoplasty
Society of North America. 1991.
7. Hidalgo J. Submuscular gluteal
augmentation: 17 years experi
ence with gel and elastomer sil
icone implants. Clin Plast Surg
2006;33:435–47.
8. Robles J, Tagliaprieta J, Grandi
M. Gluteoplastia de aumento; im
plantes submusculares. Clin Plastic
Surg 2006;33:435–47.
9. Hidalgo J. Submuscular augmen
tation gluteoplasty. Presented at
the 10th annual Meeting of the Li
poplasty Society of North America.
Washington, DC, October 1992.
10. Hidalgo J. Submuscular aug
mentation gluteoplasty [Video #
9513] Plastic Surgery Educational
Foundation. Aesthetic Body Con
touring Series. 1993.
Chương 6: Nâng mông trong cơ implant kết hợp tiêm mỡ trực tiếp
94
Nâng mông trong cơ implant kết hợp
tiêm mỡ trực tiếp
6
Paulo Miranda Godoy, MDa,*,
Alexandre Mendonga Munhoz, MD, PHDa,b,c,d',1
TỪ KHÓA
•
Nâng mông • Implant bằng silicone • Ghép mô mỡ • Tiếp cận vào
trong các lớp cơ
•
Kết quả
•
Biến chứng
ĐIỂM QUAN TRỌNG
•
Các phiên bản mới nhất của túi độn silicone và các phương pháp
phẫu thuật sẽ được giới thiệu trong bài, đặc biệt là nâng mông trong cơ,
phương pháp đã giúp cải thiện kết quả thẩm mỹ sau nâng mông.
•
Ưu điểm của phương pháp nâng mông trong cơ là mô cấy sẽ được
tổ chức da che phủ hoàn toàn, hạn chế tối đa việc để lộ mô cấy và tránh
được các hạn chế của phương pháp đặt túi độn dưới cân.
•
Ghép mỡ tự thân là quy trình được thực hiện tương đối nhiều
trong thời gian gần đây. Các nghiên cứu lâm sàng khác nhau chỉ ra rằng
ghép mỡ có thể là một lựa chọn để điều trị các thiếu hụt vùng mông thứ
phát sau phẫu thuật thẩm mỹ.
•
Hầu hết các bệnh nhân thực hiện làm đầy mông ngay từ đầu hoặc
sau một thủ thuật khác đều có thể thực hiện thành công với mặt phẳng
tiếp cận trong cơ này.
•
Các bệnh nhân phù hợp để thực hiện kỹ thuật này là những người
thiếu hụt thể tích mông nghiêm trọng, da chùng nhiều và vùng trung tâm
mông nhô ra không đủ, ít mô mềm để có thể đảm bảo che đủ mô cấy. Các
bệnh nhân thiếu hụt một phần hoặc toàn bộ lượng mô mềm cần thiết để
có thể che phủ toàn bộ khối implant hoặc những người có bất thường về
các mặt phẳng đặt túi độn cũng có thể phù hợp, mặc dù kém hơn.
GIỚI THIỆU
Tại Hoa Kỳ, số lượng người
thực hiện các thủ thuật nâng mông,
bao gồm implant và filler mỡ, đã
tăng hơn 20% chỉ trong 1 năm, từ
2014 tới 2015.
Sự phát triển của các túi độn
Chương 6: Nâng mông trong cơ implant kết hợp tiêm mỡ trực tiếp
95
silicone đã được cải tiến cùng với
các kỹ thuật phẫu thuật mới đã kh
iến việc nâng mông dần được chấp
nhận rộng rãi. Mặc dù nâng mông
có tỉ lệ thành công cao, tuy nhiên
cũng có mốt số trường hợp không
đạt yêu cầu và phải phẫu thuật lại.
Theo kinh nghiệm của các tác giả,
thông thường các trường hợp phải
phẫu thuật lại đều liên quan tới mô
mềm như việc để lộ vật cấy dưới
da khiến bệnh nhân có thể sờ/nhìn
được chúng. Mặc dù vị trí cấy ghép
dưới cân có thời gian phục hồi sau
phẫu thuật nhanh hơn, nhưng khả
năng để lộ mô cấy dưới da cũng lớn
hơn. Tuy nhiên với cách tiếp cận
dưới cơ, bác sĩ đã giảm được đáng
kể các biến chứng như sai lệch vị
trí túi độn, túi di chuyển, đùn túi
cấy, và đặc biệt là tình trạng để lộ
mô cấy dưới da dường như không
còn. Mặc dù vậy với phương pháp
này, đôi lúc vẫn ghi nhận được các
ca tạo hình không được như ý. Để
tránh gặp tình trạng này, có thể
sử dụng tiêm mỡ trực tiếp xung
quanh mô cấy để đạt được hình
dáng mong muốn. Sự kết hợp của
các phương pháp này, sử dụng cả
implant và ghép mỡ, có khả năng
làm giảm các biến chứng và kết quả
không mong muốn.
Hiện nay, việc implant mông
trong cơ kết hợp với tiêm (ghép)
mỡ trực tiếp đang trở nên phổ biến
vì nó mang lại kết quả tốt hơn so
với các kỹ thuật tiếp cận nâng mông
dưới cơ đơn thuần. Giống như các
nghiên cứu khác, các tác giả đều
cho ra kết quả tương đối khả quan,
đặc biệt ở các bệnh nhân đã được
lựa chọn kỹ cho thủ thuật nâng
mông trong cơ (Bảng 1).
Trong hơn 10 năm qua, cũng
như các phẫu thuật nâng ngực, việc
áp dụng ghép mỡ tự thân trong tạo
hình mông đã ngày một phổ biến,
với chỉ định rộng rãi. Việc ghép
mỡ tự thân đã được thực hiện
thường xuyên hơn từ năm 2008,
sau khi các khuyến nghị mới được
công bố. Dựa trên các nghiên cứu
lâm sàng khác nhau, Hiệp hội Bác
sĩ phẫu thuật thẩm mỹ Hoa kỳ đã
kết luận rằng ghép mỡ có thể được
xem xét để điều trị các khuyết tật
vùng vú do hậu quả của ung thư và
các di chứng sau thẩm mỹ. Mặc dù
sự hiệu chỉnh lượng mỡ cũng như
vị trí trong các quy trình ghép mỡ
đã cải thiện rất nhiều, tuy nhiên
các tác giả vẫn luôn muốn một kỹ
thuật theo tiêu chuẩn được mô tả
rõ ràng, từ đó làm chỉ dấu cho họ
thực hành.
Bảng 1
Ưu điểm của nâng mông trong cơ
• Cải thiện đường nét ở phần mông
trên
• Tránh để lộ mô cấy dưới da
• Giúp giữ mô cấy ở nguyên vị trí
• Làm giảm tác động của các khối
cơ lên vật cấy.
Do implant và kỹ thuật đặt
túi độn trong cơ là tương đối hiệu
quả và có thể áp dụng trong nhiều
trường hợp nâng mông thẩm mỹ.
Tuy nhiên một loạt các kết quả
không như mong muốn được báo