Chương 11: Chuyển vạt tự thân nâng mông: Kỹ thuật Purse-String
196
Hình. 8. Các tổ chức xung quanh mô trung tâm được neo vào chúng. Cũng có thể
sử dụng các mối chỉ như mối purse-string để đính mô trung tâm. Việc cố định này
rất quan trọng nhằm ngăn ngừa sự dịch chuyển sang bên của mô trung tâm. Tuy
nhiên điều quan trọng là phải bảo tồn được lớp cân nông ở mô trung tâm để có
thể hình thành 1 mỏ neo vững chắc cho mô xung quanh.
Một túi bao bọc mô trung
tâm được tạo ra dựa trên kích thước
vùng vừa khâu purse-string. Túi
này được đính ngang với lớp cân
nông vùng mông (Hình 9). Chúng
sẽ được kiểm tra thường xuyên để
luôn ôm sát khối mô trung tâm.
Sau phẫu thuật không nên
đóng ngay mà nên dùng ghim da,
ghim tạm thời vết mổ lại. Sau đó
dùng chỉ khâu vicryl số 0 hoặc số 1
khâu gá lớp cân nông bằng các mối
rời để kéo hai mép da lại gần với
nhau. Sau đó đóng lớp hạ bì bằng
chỉ vicryl 2-0, lớp biểu bì bằng chỉ
monocryl 4-0. Ngoài ra, để đảm bảo
không bị tách vết mổ, nên khâu da
bổ sung thêm bằng một sợi prolene
3-0 mối rời (Hình 10). Mặc dù khâu
nhiều loại và nhiều lớp chỉ như vậy
nhưng sau khoảng 4-5 ngày cắt chỉ
thì cơ bản đều không để lại vết tích
đường khâu đáng kể.
Sau phẫu thuật cần băng lại
vết mổ, dùng loại băng dài khoảng
1 inch. Băng này sẽ được tách
thành nhiều sợi nhỏ chiều rộng
khoảng 3-4 cm (nhưng hai đầu
dây không tách rời, tức vẫn là 1 dải
băng lớn được tách nhỏ ra) nhằm
có thể mở rộng dải băng, Đồng thời
hạn chế lực ép vì nguy cơ tụ máu và
tăng sắc tố sau phẫu thuật. Không
sử dụng các loại băng ép vì chúng
có thể ép làm tách đôi vết mổ. Sau
phẫu thuật, chúng tôi cho bệnh
nhân ngồi nhẹ nhàng trên gối hoặc
đệm mềm, nằm nghiêng. Vùng
phẫu thuật được kiểm tra thường
xuyên trong thời gian chăm sóc hậu
phẫu để đảm bảo vết thương lành.
Chương 11: Chuyển vạt tự thân nâng mông: Kỹ thuật Purse-String
197
Hình. 9. Một túi được tạo ra theo đúng kích thước phần mô trung tâm đã khâu
lại. Điều đặc biệt là chúng được làm từ chính tổ chức dưới da vừa khử biểu mô
của mô trung tâm.
Hình. 10. Đóng da (dog ear đã được tháo ra sau phẫu thuật tạo hình thành bụng).
Đóng da qua ba lớp, sử dụng chỉ Vicryl đóng lớp cân nông để hạn chế tình trạng
căng khi đóng da. Trước khi đóng da, đặt một dẫn lưu ở khu vực lưng dưới để
dẫn dịch cho cả 2 túi.
Chương 11: Chuyển vạt tự thân nâng mông: Kỹ thuật Purse-String
198
THẢO LUẬN
Chúng tôi đã thực hiện kỹ
thuật này cho hơn 40 bệnh nhân,
tính tới thời điểm hiện tại. Có thể
nói, với bất kỳ quy trình tạo hình
cơ thể nào, tình trạng nhão/chùng
da cũng sẽ xuất hiện sau một thời
gian nhất định. Tuy nhiên, trong kỹ
thuật này, điểm hình chiếu và gò
mông được tạo ra vẫn đươc duy trì
theo thời gian. Biến chứng thường
gặp nhất là tách vết mổ và sẹo phì
đại. Những vết sẹo này có thể được
điều trị bằng các thủ thuật sửa sẹo
thông thường hoặc phẫu thuật cắt
bỏ. Chúng tôi chưa từng gặp trường
hợp nào bị nhiễm khuẩn hoặc hoại
tử mỡ sau phẫu thuật. Bệnh nhân
sau phẫu thuật đa số hài lòng với
kết quả của mình. Sự gia tăng thể
tích mông và dựng được điểm hình
chiếu là những ưu điểm độc đáo
mà phương pháp này mang lại so
với kỹ thuật tạo hfinh vùng mông
kinh điển (Hình 11-13).
Chương 11: Chuyển vạt tự thân nâng mông: Kỹ thuật Purse-String
199
Hình. 11. (A, B) Bệnh nhân nữ 59 tuổi với vùng da mông chùng và xệ. (C,D) Hai
năm sau phẫu thuật tạo hình thành bụng và tạo hình mông bằng phương pháp
purse-string.Bệnh nhân này bị tách vết mổ, sau đó đã được điều trị liền sẹo
Chương 11: Chuyển vạt tự thân nâng mông: Kỹ thuật Purse-String
200
Hình. 12. (A, B) Bệnh nhân nữ 37 tuổi với vùng mông dẹt và xệ. (C,D) Tám tháng
sau phẫu thuật tạo hình thành bụng và tạo hình mông bằng phương pháp purse-
string .
Chương 11: Chuyển vạt tự thân nâng mông: Kỹ thuật Purse-String
201
Hình. 13. (A, B) Một bệnh nhân 62 tuổi với vùng mông xệ và hình chiếu không
thẩm mỹ. (C,D) Sau phẫu thuật 16 tháng tạo hình mông bằng phương pháp
purse-string (đã tạo hình thành bụng trước đó).
Chương 11: Chuyển vạt tự thân nâng mông: Kỹ thuật Purse-String
202
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hunstad JP, Repta R. Purse string
gluteoplasty. Plast Reconstr Surg
2009;123:123e–5e.
2. Centeno RF. Autologous glu
teal augmentation. Clin Plast Surg
2006;33:479–96.
3. Balague N, Combescure C, Huber
O. Plastic surgery improves long-
term weight control after bariat
ric surgery. Plast Reconstr Surg
2013;132:826–33.
4. van der Beek ES, Geenen R, de
Heer F. Quality of life long-term fol
lowing bariatric surgery: sustained
improvement after 7 years. Plast
Reconstr Surg 2012;130:1133–9.
5. Rohde C, Gerut Z. Augmentation
buttock-pexy using autologous tis
sue following massive weight loss.
Aesthet Surg J 2005;25:576–81.
6. Raposo-Amaral CE, Cetrulo CL,
de Campos Guidi M. Bilateral lum
bar hip dermal fat rotation aps: a
novel technique for autologous
augmentation gluteoplasty. Plast
Reconstr Surg 2006;117:1781–8.
7. Sozer SO, Francisco JA, Wolf C.
Autoprosthesis buttock augmen
tation during lower body lift. Aes
thetic Plast Surg 2006;29:133–7.
8. Oranges CM, Tremp M, di Sum
ma PG, et al. Gluteal augmenta
tion techniques: a comprehensive
literature review. Aesthet Surg J
2017;37(5): 560–9.
9. Kitzinger HB, Aayev S, Pitter
mann A. The prevalence of body
contouring surgery after gastric
bypass surgery. Obes Surg
2012;22:8–12.
10. Azin A, Zhou C, Jackson T, et al.
Body contouring surgery after bar
iatric surgery: a study of cost as a
barrier and impact on psychologi
cal well-being. Plast Reconstr Surg
2014;133: 776e–82e.
11. Srivastava U, Rubin JP, Gusenoff
JA. Lower body lift after massive
weight
loss:
autoaugmentation
versus no augmentation. Plast Re
constr Surg 2015;135: 762–72.
12. Hunstad JP, Aiken ME. Circum
ferential body contouring. In: Aly
A, editor. Body contouring after
massive weight loss. Boca Raton
(FL): CRC Press; 2006. p. 183–212.
13. Centeno RF, Mendieta CG, Young
VL. Gluteal contouring surgery in
the massive weight loss patient.
Clin Plast Surg 2008;35:73–91.
Chương 12 : Chuyển vạt tự thân nâng mông: Kỹ thuật xẻ tà
203
Chuyển vạt tự thân nâng mông: Kỹ
thuật xẻ tà
12
Sadri Ozan Sozer, MDa,*, Osman Erhan Eryilmaz, MDb
TỪ KHÓA
• Chia vạt cơ mông • Nâng mông bằng vật liệu tự thân • Ghép mỡ
ĐIỂM QUAN TRỌNG
•
Chia vạt cơ mông trong nâng mông là một trong những kỹ thuật
nâng mông bằng vật liệu tự thân, có thể thay thế cho các phương pháp
khác như ghép mỡ, implant mông và chuyển vạt mỡ da.
•
Implant mông có tỉ lệ biến chứng thay đổi trong các nghiên cứu
cũng như những khó khăn khi thực hiện.
•
Ghép mỡ là kỹ thuật hiệu quả khi cần tăng thể tích vùng mông ở
mức độ vừa phải.
•
Vạt mỡ da bắt nguồn từ vùng mông trên và chúng chỉ giúp cải thiện
kích thước vùng đó mà không thể kéo dài tới vùng trung tâm mông.
GIỚI THIỆU
Gần đây, số lượng bệnh nhân
tìm cách nâng mông và tạo hình bờ
mông ngày càng nhiều. Implant
mông đa được báo cáo là hay xuất
hiện biến chứng và thường gặp khó
khăn khi phẫu thuật. Còn ghép mỡ
thì được coi là một phương pháp
hiệu quả nếu bệnh nhân muốn cải
thiện kích thước và làm đầy mông ở
mức độ vừa phải. Tuy nhiên cả hai
kỹ thuật này đều không giải quyết
được tình trạng xệ/chùng da mông.
Mặc dù kỹ thuật xẻ tà được mô tả
dưới đây chủ yếu với mục đích giải
quyết tình trạng thiếu hụt thể tích
mông, nhưng chúng lại đặc biệt
hữu ích đối với bệnh nhân sa/xệ
mông đồng thời muốn tăng kích
thước vòng mông. Một số các loại
vạt mỡ-da thường dùng nâng mông
cũng sẽ được đề cập trong bài viết
này. Hầu hết các vạt này bắt nguồn
từ vùng mông trên và giúp cải thiện
thể tích cũng ở vùng mông trên này,
nên cơ bản không thể giải quyết
sự thiếu hụt thể tích ở vùng mông
giữa và dưới.
MỤC TIÊU ĐIỀU TRỊ
Vật lý tưởng phải linh hoạt
và được cấp máu đầy đủ, tạo được
Chương 12 : Chuyển vạt tự thân nâng mông: Kỹ thuật xẻ tà
204
độ săn chắc cho vùng mông trên và
dựng được điểm hình chiếu ở phần
giữa mông. Các vết sẹo sau phẫu
thuật phải nằm trong các nếp tự
nhiên hoặc có thể che bởi quần áo
lót.
CHUẨN BỊ TRƯỚC PHẪU THUẬT
Vạt cơ mông được cấp máu
bởi các động mạch xuyên bắt
nguồn từ động mạch mông trên.
Có khoảng 20-25 động mạch xuyên
nuôi vùng mông trên, được tách từ
hai động mạch mông trên và dưới,
thuộc phân nhánh động mạch chậu
trong. Do đó vùng mông trên được
cấp máu tương đối dồi dào, việc tạo
vạt ở đây sẽ không quá phức tạp.
Chúng ta định nghĩa điểm giao của
nếp lằn bẹn và đường nách giữa là
điểm A (Hình 1A). Điểm trên cùng
của nếp liên mông là điểm B (Hình
1B). Vẽ một đường cong lồi lên
trên, đi từ điểm B đến điểm A. Tại
vị trí xương cùng, vẽ đối xứng một
đường ở bên đối diện, tạo thành
hình chữ V. Sau phẫu thuật vết sẹo
này sẽ hơi cong lên một chút, và có
thể dễ dàng che chúng đi khi mặc
đồ lót. Sau đó, sử dụng nghiệm
pháp véo da bằng hai tay để ước
tính đường rạch da (hình 1C). Vạt
được tạo ra nằm giữa hai đường
rạch này, với khoảng 80% khối
lượng là cơ mông lớn.
Đối với tình trạng sa mông,
theo lý thuyết sẽ nâng mông lên
trên và vào trong một đoạn ngắn.
Vạt mông nằm trong giới hạn của
hai đường rạch trên và dưới, bắt
nguồn từ đoạn 2/3 trong bóc tách
từ dưới lên trên. Mặt trong vạt
được bóc tách phải cách đường
giữa cơ thể đoạn 2-3 cm. Giới hạn
bên ngoài của vạt là đoạn ¾ trong
tính từ đường giữa cơ thể tới
đường nách sau, và vạt có thể có
chiều rộng từ 5-15 cm tùy thuộc
vào mục đích phẫu thuật, đường
bờ mông và kết quả mong muốn
(Hình 1D). Tùy thuộc vào những
bất thường đường bờ mông mà
quyết định xem đâu sẽ là vị trí cần
được hút mỡ (hai bên sườn, xương
cùng, đùi sau,..đi lần lượt theo các
đơn vị thẩm mỹ vùng mông) để đạt
được đường cong mong muốn.
Chương 12 : Chuyển vạt tự thân nâng mông: Kỹ thuật xẻ tà
205
Hình. 1. Đánh dấu mốc giải phẫu quan trọng
Chương 12 : Chuyển vạt tự thân nâng mông: Kỹ thuật xẻ tà
206
TƯ THẾ BỆNH NHÂN
Bệnh nhân ở tư thế nằm sấp,
đặt một miếng đệm gel silicone
dưới mào chậu hai bên để tránh
loét điểm tì. Giữ bệnh nhân ở tư thế
uốn cong thắt lưng để tạo thuận
cho việc hút mỡ và nâng vạt.
TIẾP CẬN PHƯƠNG PHÁP PHẪU
THUẬT
Phần da phía trên mông
hình chêm đã đánh dấu trước đó
được rạch ra, để lại lớp mỡ trên
mặt sau xương cùng nhằm dẫn lưu
bạch huyết. Vạt mông sẽ được đánh
dấu vị trí sau khi đã rạch hai đường
trên dưới, sau đó được khử biểu
mô (hình 1D, 2A).
Vạt sẽ được bóc tách thẳng
từ trên xuống lớp cân nông bằng
các dụng cụ bóc tách sao cho đường
bóc ở mặt trên, trong và ngoài
thẳng góc với khối cơ ở dưới. Mặt
dưới sẽ được bóc tách với một góc
nghiêng (thay vì góc vuông như 3
mặt còn lại) cho tới lớp cân nông.
Một túi bao được thiết kế để bọc
phần vạt lại, ngay phía trên cân cơ
mông lớn (Hình 2B) (Pocket for the
flap ở hình 2A). Lớp cân ở mặt trên,
trong và ngoài được chia tách nhau
ra, sau đó tách một phần cơ mông
lớn (chiều dài khoảng 5-6cm) ra
đi cùng với phần tổ chức dưới da
đã được khử biểu mô trước đó, rồi
thực hiện thao tác lật vạt lên trên
(Hình 3).
Vạt được lật lên trên và bờ
tự do của chúng được khâu nối vào
túi bao đã đặt trước đó bằng chỉ
Quill 3-0 (chỉ khâu lớp cân nông
với túi, không khâu cơ) (Hình 4).
Sau các bước chính có thể
ghép mỡ để cải thiện đường bờ
mông cũng như vùng chuyển tiếp
đẻ có được đường cong mềm mại,
liên tục.
Việc đưa phần tổ chức dưới
da đã được khử biểu mô đem ‘giấu’
vào trong vạt lật vừa giúp bảo vệ
tổ chức, vừa giúp cho vạt có hình
dạng tròn hơn, giống như một khối
implant. Phần da mông ở phía
dưới bây giờ được kéo lên để che
phủ vạt. Sau đó bệnh nhân có thể
nằm ngửa ngay để có thể thực hiện
những thủ thuật khác nếu cần.
BIẾN CHỨNG VÀ QUẢN LÝ BIẾN
CHỨNG
Bằng cách tách đôi khối cơ
mông lớn, tạo thuận cho việc lật
vạt từ nửa dưới lên trên, đồng thời
bảo tồn tối đa mạch cấp máu cho
vạt so với các loại vạt khác (Bảng
1). Không ghi nhận trường hợp nào
bị hoại tử toàn bộ vạt hoặc hoại tử
mỡ. Các tác giả không ghi nhận bất
kỳ trường hợp xuất hiện khối máu
tụ hoặc bướu huyết thanh nào sau
phẫu thuật. Điều này có thể do sự
đóng góp của một số yếu tố, bao
gồm việc bảo tồn được hệ bạch
huyết sau xương cùng, giảm thiểu
các khoang tồn dư, băng ép sau
phẫu thuật và sử dụng dẫn lưu. Cho
đến nay, chỉ có 1 bệnh nhân phải
điều trị chỉnh sửa lại vạt sau phẫu
thuật.
Chương 12 : Chuyển vạt tự thân nâng mông: Kỹ thuật xẻ tà
207
Hình. 2. (A) Đường mổ từ trong ra ngoài. (B) Nâng cao da và tổ chức dưới da
để đặt vạt.
Hình. 3. Lật vạt sau khi tách cơ.
Chương 12 : Chuyển vạt tự thân nâng mông: Kỹ thuật xẻ tà
208
Hình. 4. Cách xoay và cố định vạt.
Chương 12 : Chuyển vạt tự thân nâng mông: Kỹ thuật xẻ tà
209
Bảng 1
Biến chứng nâng mông bằng vật
liệu tự thân
Biến chứng
Tỉ lệ
Dự phòng
Vạt gồ ghề
Hiếm
Tiêm
mỡ
xung quanh
túi chứa vạt.
Hoại tử mỡ
Hiếm
Tạo vạt kích
thước
phù
hợp.
Bướu huyết
thanh/khối
máu tụ
Hiếm
Kéo vạt da
dứt
khoát,
khâu siết chỉ.
Đặt dẫn lưu
Co cơ ở vạt
Rất
hiếm
CHĂM SÓC HẬU PHẪU
Bệnh nhân nên vận động tại
giường sớm sau phẫu thuật. Nên
sử dụng các loại tất áp lực và quần
áo bó để hạn chế biến chứng bướu
huyết thanh. Dẫn lưu được rút ra
khi thể tích dịch < 50 mL/24h.
Các tác giả không khuyến
cáo về tư thế cần duy trì sau phẫu
thuật. Bệnh nhân có thể ngủ, nằm
ở bất kỳ tư thế nào, thậm chí có
thể ngồi được ngay sau phẫu thuật.
Bệnh nhân có thể trở lại làm việc
sau 10-15 ngày.
KẾT QUẢ LÂM SÀNG ĐÃ ĐƯỢC
CÔNG BỐ
Trong loạt bài đăng của tác
giả,tổng cộng 400 ca đã được thực
hiện. Trong đó khoảng 70% là
bệnh nhân sau giảm cân lượng lớn
và mong muốn đạt được ngoại hình
đẹp hơn. Bệnh nhân đa số hài lòng
sau phẫu thuật.
TỔNG KẾT
Các dấu hiệu chứng tỏ một
kết quả thẩm mỹ toàn vẹn: điểm
hình chiếu ở trung tâm của mông,
ngang với vị trí xương mu. Ngoài
ra, khả năng giải quyết tình trạng
sa mông bằng cách nâng mông lên
trên vào trong đồng thời rút ngắn
nếp lằn mông đã được hầu hết các
tác giả công nhận. Việc tách phần
dưới vạt theo một góc xiên giúp cải
thiện chiều dài và tầm với của vạt
lên nửa mông trên, giúp hình thể
của vạt gần giống với một khối im
plant hơn.
Ưu điểm khác của loại vạt
này là điểm gập khá linh động, nên
có thể tính toán để dựng điểm hình
chiếu của mông tại chính điểm
gập đó, sao cho chúng nằm ở vị trí
trung tâm của mông. Đồng thời,
việc di chuyển các mô từ dưới lên
trên giúp nâng 1 phần mông trên
lên, đồng thời tạo đường chuyển
tiếp liên tục với vùng mông giữa
và thắt lưng. Chúng cũng làm cho
vùng thắt lưng trông cong ra trước
nhiều hơn (một cách tương đối)
(Hình 5-8).
Chương 12 : Chuyển vạt tự thân nâng mông: Kỹ thuật xẻ tà
210
Hình. 5. Hình ảnh trước và sau phẫu thuật, chứng minh sự cải thiện về hình
dáng mông và loại bỏ đi những bất thường.
Chương 12 : Chuyển vạt tự thân nâng mông: Kỹ thuật xẻ tà
211
Hình. 6. Hình ảnh trước và sau phẫu thuật, khẳng định kết quả khả quan
ở bệnh nhân có lượng mô mềm hạn chế.
Chương 12 : Chuyển vạt tự thân nâng mông: Kỹ thuật xẻ tà
212
Hình. 7. Hình ảnh trước và sau phẫu thuật của một bệnh nhân đã từng thực hiện
tạo hình thành bụng trước đó, chứng tỏ sự linh hoạt của ký thuật này trong việc
tùy chỉnh vị trí sẹo (cao/thấp).
Hình. 8. Hình ảnh trước và sau phẫu thuật của bệnh nhân mất chân phải, chứng
minh khả năng phục hình của kỹ thuật này ở những bệnh nhân teo cơ mông trầm
trọng.
Chương 12 : Chuyển vạt tự thân nâng mông: Kỹ thuật xẻ tà
213
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sozer SO, Agullo FJ, Palladino H.
Split gluteal muscle flap for auto
prosthesis buttock augmentation.
Plast Reconstr Surg 2012;129:766–
76.
2. Sozer SO, Agullo FJ, Wolf C. Auto
prosthesis buttock augmentation
during lower body lift. Aesthetic
Plast Surg 2005;29:133–7 [discus
sion: 138–40].
3. Sozer SO, Agullo FJ, Palladino H.
Autologous augmentation gluteo
plasty with a dermal fat flap. Aes
thet Surg J 2008;28:70–6.
4. Sozer SO, Agullo FJ, Palladino
H. Spiral lift: medial and lateral
thigh lift with buttock lift and aug
mentation. Aesthetic Plast Surg
2008;31:120–5.
5. Sozer SO, Erhan Eryilmaz O. Split
gluteal muscle flap for autopros
thesis buttock augmentation. In:
Strauch Berish, Vasconez LO, Her
man CK, et al, editors. Grabb’s ency
clopedia of flaps. 4th edition. Wolt
ers and Kluvert; 2016. p. 1533–6.
Chương 13: Kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép trong nâng mông
214
Kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép
trong nâng mông
13
Robert F. Centeno, MD, MBAa,b,*
TỪ KHÓA
•
Nâng mông • Cải thiện kích thước vòng ba • Làm đầy mông
•
Làm đấy mông bằng vật liệu tự thân • Chuyển vạt mông • Vạt kiểu
ria mép • Giảm cân số lượng lớn.
ĐIỂM QUAN TRỌNG
•
Những bệnh nhân sau giảm cân số lượng lớn thường gặp phải
những bất thường vùng mông mà không thể điều trị bằng ghép mỡ hoặc
implant đơn thuần.
•
Cải thiện kích thước vòng ba hoặc nâng mông là thủ thuật có nguy
cơ làm phẳng vùng mông và trầm trọng thêm các dị tật sẵn có.
•
Làm đầy mông bằng vật liệu tự thân kết hợp với tăng kích thước
vòng ba hoặc nâng mông có thể được sử dụng để giải quyết các dị dạng
vùng mông, cải thiện đường bờ mông và dựng điểm hình chiếu.
•
Làm đầy mông bằng vật liệu tự thân với tăng kích thước vòng ba
hoặc nâng mông có thể kết hợp với hút mỡ hoặc chuyển mỡ giữa các đơn
vị thẩm mỹ mông để cải thiện kết quả.
•
Làm đầy mông bằng vật liệu tự thân với vạt chuyển vị hình ria mép
cho phép cải thiện đường bờ mông đáng kể, hạ vị trí điểm hình chiếu và
lấp đầy cực dưới của mông.
GIỚI THIỆU
Hiện nay nhu cầu phẫu thuật
giảm cân ngày một tăng do các vấn
đề về chế độ ăn và chế độ sinh hoạt.
Sau các phẫu thuật này, bệnh nhân
thường giảm cân nhanh chóng,
thuật ngữ của chúng ta gọi là giảm
cân lượng lớn (MWL), nhưng kéo
theo đó là tình trạng xuất hiện các
vùng da chùng/xệ do đã mất tính
đàn hồi. Từ đây dẫn tới tăng mạnh
nhu cầu chỉnh sửa/tạo hình đường
nét cơ thể. Ngày nay, khi nhận thức
về thẩm mỹ vùng mông đã thay đổi
cùng với sự phát triển các phương
tiện truyền thông đại chúng, nhu
cầu tạo hình đường nét cơ thể và
Chương 13: Kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép trong nâng mông
215
đặc biệt là vùng mông cũng tăng
lên nhanh chóng. Mặc dù ngày nay,
hầu hết các thủ thuật được thực
hiện là implant và ghép mỡ tự
thân, nhưng sau phẫu thuật bệnh
nhân MWL vẫn thường xuất hiện
những bất thường không thể sửa
chữa, đòi hỏi các phẫu thuật khác
để giải quyết triệt để. Sự gia tăng
nhu cầu thực hiện các thủ thuật
này cũng dẫn tới sự gia tăng đáng
kể các thủ thuật tăng kích thước
các vòng (CBL) và nâng mông sau
cắt bỏ phần da thừa (EBL) với làm
đầy mông bằng vật liệu tự thân ở
nhiều đối tượng bệnh nhân với
tình trạng chùng/nhão vùng mông
và thiểu sản mông. Một số kỹ thuật
làm đầy mông bằng vật liệu tự thân
(AGA) với CBL và EBL đã được coi
là những giải pháp cho vấn đề này.
Mặc dù 3 loại vạt tự thân được mô
tả trong bài báo này, chúng tôi sẽ
tập trung vào loại vạt chuyển vị,
với tên ‘ria mép’. Kinh nghiệm và
kiến thức về nhiều loại kỹ thuật
cho phép mở rộng ứng dụng của kỹ
thuật này đối với những bệnh nhân
giảm sản mông thay vì chỉ áp dụng
cho bệnh nhân MWL.
GIẢM CÂN LƯỢNG LỚN VÀ
NHỮNG BẤT THƯỞNG THẨM MỸ
VÙNG MÔNG
Sự lão hóa làm thay đổi vị
trí giải phẫu của toàn cơ thể, đặc
biệt ở vùng thân và mông, làm ảnh
hướng xấu tới đường nét và tính
thẩm mỹ vùng. Sự tích tụ mỡ dưới
da ở những vùng xung quanh mông
và ở bụng của phụ nữ mãn kinh là
những yếu tố quan trọng làm giảm
tính thẩm mỹ vùng mông.
Hơn nữa, lão hóa còn ảnh
hưởng tới độ đàn hồi da, cụ thể là
xuất hiện tình trạng chùng/nhão
da cùng với sự tích tụ lớp mỡ dưới
da gây ảnh hưởng không hề nhỏ tới
ngoại hình, cũng như khả năng phục
hình cơ thể. Ở những bệnh nhân
MWL, việc giảm mỡ quá nhiều làm
mông dẹt, xẹp trong khi vùng da thì
chùng nhão. Những phụ nữ trung
tuổi cũng dần phát triển kích thước
vòng hông, nếp lằn mông cũng dần
dài hơn ra quá đường giữa mông.
CBL đã được chứng minh là một
thủ thuật rất hiệu quả trong việc
giải quyết vấn đề này, vì thế chúng
thường được áp dụng. Thật không
may, thủ thuật này cũng xuất hiện
một số biến chứng như làm phẳng
mông hoặc trầm trọng thêm các dị
tật sẵn có (Hình 1, video 1).
Chương 13: Kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép trong nâng mông
216
Hình. 1. CBL/EBL và vùng mông dẹt. (A-C) Hình ảnh phía sau, phía bên và chếch,
trước phẫu thuật. (D-F) Hình ảnh phía sau, phía bên và chếch, sau phẫu thuật.
Chương 13: Kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép trong nâng mông
217
Bệnh nhân MWL đại diện
cho một khía cạnh khác của việc
chỉnh sửa đường nét cơ thể ở bệnh
nhân giảm cân. Giảm cân sau tập
thể dục hoặc các liệu pháp chăm
sóc sức khỏe thường xảy ra theo
nhiều chiều hướng khác nhau. Các
phân tích đã cho thấy trên cơ thể
có một số khu vực khó giảm hơn
các vùng khác, do sự khác biệt về
di truyền gen. Một số chuỗi gen quy
định hình thể dạng ‘quả táo’, thì chủ
yếu vùng mông không có nhiều mỡ.
Nhưng ngược lại nếu hình thể dạng
‘quả lê’ thì lượng mỡ ở mông sẽ
nhiều hơn. Các chuỗi gen này cũng
quyết định hình dạng khung mông
và theo đó là hình dáng mông. Cuối
cùng, chỉ số khối cơ thể (BMI) sau
giảm cân có tác động đáng kể đến
việc chỉnh sửa vùng mông sau
này. Nhiều bệnh nhân MWL có xu
hướng mất một phần thể tích vùng
mông.
Bệnh nhân MWL cũng phát
triển các thay đổi về xương có thể
góp phần gây ra chứng platypy
gia (Hình 2). Béo phì góp phần tạo
nên bệnh phổi hạn chế có cản trở
đường thở biểu hiện rõ hơn ở tư
thế nằm ngửa. Giới hạn lưu lượng
thở ra ở tư thế nằm ngửa có thể
dẫn đến tăng thông khí ở phổi và
áp suất cuối thì thở ra dương nội
tại. Hiện tượng này được cho là có
vai trò trong việc chỉnh hình thở
theo tư thế được các bệnh nhân
béo phì báo cáo. Chứng vẹo lồng
ngực hoặc cong vẹo cột sống thứ
phát sau chèn ép cột sống ngực và
độ nghiêng trước của khung chậu
cũng xảy ra.8 Hạ canxi máu sau bỏ
cầu được điều trị không thích hợp,
kém hấp thu vitamin D, suy tuyến
cận giáp thứ phát và tái cấu trúc
xương được điều chỉnh bởi hor
mone sinh dục hoặc telopeptides
huyết thanh cũng có thể trầm trọng
hơn những thay đổi về xương liên
quan đến cân nặng. Những thay đổi
về da này là vĩnh viễn và làm trầm
trọng thêm chứng đau cơ nguyên
phát hoặc thứ phát do mất mô mỡ
ở vùng mông. Những phát hiện về
bộ xương này cũng góp phần đáng
kể vào sự bất đối xứng có khả năng
ảnh hưởng xấu tới đường nét cơ
thể. Bắt buộc phải thảo luận với
bệnh nhân về những bất đối xứng
và hạn chế về xương này để quản lý
kỳ vọng của họ.
CẢI TIẾN KỸ THUẬT NÂNG MÔNG
BẰNG VẬT LIỆU TỰ THÂN
Khi Nhu cầu nâng mông
và trải nghiệm nâng mông với các
dạng chất dẻo và AGA khác nhau
ngày càng được mở rộng, một đồng
thuận giữa các nhà khoa học đã
khẳng định những hạn chế trong
thiết kế implant mông đã hạn chế
sự thành công và sự chấp nhận rộng
rãi của nâng mông bằng chất dẻo ở
Hoa Kỳ. Tuy nhiên, những kỹ thuật
này vẫn có thể áp dụng cho một số
nhóm bệnh nhân có thông số tốt.
Kỹ thuật alloplastic rất thành công
trong việc nâng cao thẩm mỹ vùng
mông, nhưng khả năng ứng dụng
hạn chế vì tỷ lệ biến chứng đáng kể.
Thành công thẩm mỹ của các thủ
Chương 13: Kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép trong nâng mông
218
thuật alloplastic này đã truyền
cảm hứng cho các tác giả và những
người khác tiếp tục cải tiến một số
kỹ thuật tạo vạt tự thân để nâng
mông. Hơn nữa, tác động của vị trí
cấy ghép lên hình chiếu mông và
tính thẩm mỹ đã ảnh hưởng đáng
kể đến kỹ thuật nâng mông bằng
vật liệu tự thân .
Cấy ghép dưới cơ có điểm
chiếu tối đa cao nhất so với điểm
lý tưởng ở mức tại gò mu. Implant
trong cơ làm giảm điểm hình chiếu
tối đa, nhưng chúng vẫn cao hơn
mức lý tưởng. Implant dưới cân hạ
thấp điểm chiếu tối đa gần với lý
tưởng nhất ở mức của gò mu (hình
3).
Bệnh nhân MWL, với phần
da dư thừa đáng kể và mỡ ở mông,
không phải là ứng cử viên lý
tưởng cho việc nâng cơ bằng bất
kỳ phương pháp nào trong 3 mặt
phẳng được chấp nhận: dưới cân,
trong cơ, dưới cơ hoặc chuyển mỡ
tự thân. Sự kết hợp của một thủ
thuật đặc biệt (CBL / EBL) được
đặc trưng bởi tỷ lệ biến chứng
không nghiêm trọng cao hơn mức
trung bình, với các thủ tục nâng
mông bằng chất dẻo trong đó việc
nhuẫn khuẩn sẽ là thảm họa. Các
vạt khử biểu mô đã được sử dụng
để tạo hình bờ mông trong một số
trường hợp. Các tài liệu tham khảo
đã được công bố về việc sử dụng
mô tự thân trong việc ngăn ngừa
những bất thường ở mông với CBL,
nhưng thiếu chi tiết đáng kể và
không chứng minh được khả năng
làm đầy mông của chúng. Mô tả
của động mạch mông trên, động
mạch mông dưới, và các vạt sau
lưng ngang và nguồn cung cấp
mạch máu của chúng cũng củng
cố khả năng tồn tại trên lâm sàng
của phương pháp này. Các nghiên
cứu giải phẫu gần đây hơn đã hoàn
thiện thêm kiến thức của chúng ta
về giải phẫu mạch máu của vùng cơ
mông.
Chương 13: Kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép trong nâng mông
219
Hình. 2. Thay đổi khung xương khi giảm cân lượng lớn. (A) Vẹo cột sống & vòng
ngực lớn bất thường. (B) Xoay và nghiêng khung chậu. (C) Gù và vòng ngực lớn
bất thường..
Hình. 3. Vị trí khối implant và điểm hình chiếu. MP: gò mu.
Chương 13: Kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép trong nâng mông
220
Đảo vạt AGA, một trong
những kỹ thuật đầu tiên, mô phỏng
một khối vạt hình tròn trong im
plant mông dưới cơ. Vạt này được
cấp máu bởi nhánh xuyên động
mạch mông trên được bảo tồn bằng
cách hạn chế phá hoại vạt. Hunstad
đã báo cáo về một biến thể của đảo
vạt, một vạt ghép, sử dụng mối
khâu purse-string để nâng cao độ
chiếu của vạt. Colwell đã mô tả một
biến thể của đảo vạt dựa trên thiết
kế vạt từ nhánh xuyên động mạch
mông trên (Hình 4). Pascal, Rapo
sa-Amaral và Kohler tất cả đều có
các biến thể dự kiến của vạt với việc
tăng dần lượng bổ sung xung quanh
mô để cải thiện kết quả (Hình. 5).
Mặc dù khả năng chiếu được tăng
cường đáng kể với các cánh lật tăng
dần này, điểm chiếu tối đa vẫn cao
so với các thiết kế cánh thay thế.
Bóc tách vạt để hạn chế sự phá hủy
và huy động vạt từ vị trí hiến tặng
ban đầu để bảo tồn mạch máu là
yếu tố hạn chế chính. Và kết quả
lâu dài thông qua những cách tiếp
cận này đã gây thất vọng cho đa
số các tác giả. Độ chiếu của mông
cao hơn mức lý tưởng (là gò mu)
và không có độ chiếu ở cực dưới
của mông tiếp tục ảnh hưởng đến
kết quả thẩm mỹ của các kỹ thuật
này. Những thiếu sót này đã dẫn
đến sự phát triển của kỹ thuật ưa
thích của tác giả, vạt AGA ria mép
(Hình. 6A), là một biến thể của vạt
chuyển vị. Vạt AGA ria mép sử dụng
tổ chức mô ở lưng và mạng sườn và
đảo một phần và vạt chuyển vị một
phần dựa trên cấp máu của nhánh
xuyên động mạch mông trên và
nhánh xuyên các động mạch vùng
lưng. Vạt chuyển vị dưới trong của
phần “tay lái” của vạt ria mép cho
phép tuyển mô bổ sung cho mục
đích nâng, cũng như hạ thấp điểm
chiếu tối đa xuống mức ngang gò
mu, giúp hài hòa hơn về mặt thẩm
mỹ.
Việc khâu nối vạt lại bằng
các mối chỉ tạo ra hình thể như
một khối implant anatomic bằng
chất dẻo. Khu vực mô trung tâm
của vạt thường được phân chia để
cho phép kết hợp chặt chẽ hơn và
quay ngược chiều bên cạnh vào vạt.
Rhode cũng đề xuất một vạt chuyển
vị một phần để hạ thấp điểm chiếu
tối đa của các vạt tự thân để nâng
cao kết quả. Sozer và cộng sự đề
xuất một vạt luân chuyển cơ mông
lớn dựa trên việc bóc tách một
phần cơ mông lớn để tăng cường
khả năng chiếu và tiếp cận của vạt
từ giữa đến cực dưới của mông, và
kết quả tương đối khả quan. Dựa
trên kết quả đã công bố và đánh
giá quan trọng về tính thẩm mỹ, vạt
chuyển vị ria mép, như được Rohde
hoặc Sozer và cộng sự mô tả, có khả
năng đại diện cho các quy trình lựa
chọn ở những nơi có ý nghĩa, lâu
dài tăng cường thẩm mỹ là mong
muốn và điểm thấp hơn của mức
tối đa là rất quan trọng để có một
kết quả hài hòa (Hình 6).
Chương 13: Kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép trong nâng mông
221
Hình. 4. Đảo vạt ở mông. (A) Đảo Centeno. (B) Mũi khâu purse string của Huntad.
(C) Colwell, Borud, vạt cấp máu bởi nhánh xuyên động mạch mông trên. (a) Đánh
dấu. (b) Vạt khử biểu mô. (c) Vạt bóc tách. (d) Mũi khâu neo và tạo hình.
Chương 13: Kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép trong nâng mông
222
Hình. 5. Vạt tăng cường. (A) Pascal. (B) Raposa-Amaral. (C) Koller.
Chương 13: Kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép trong nâng mông
223
Hình. 6. Vạt chuyển vị. (A) Vạt ria mép của Centeno. (B) Vạt lật của Sozer. (C)
Rhode. (a) Đánh dấu. (b) Vạt bóc tách và khử biểu mô kiểu ria mép. (c) Xoay vạt.
(d) Ghép vạt . (e) Khâu chữ V với mép lộn vào trong.
Chương 13: Kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép trong nâng mông
224
PHÂN TÍCH THẨM MỸ VÙNG
MÔNG
Việc lựa chọn kỹ thuật tạo
đường bờ mông ở bệnh nhân MWL
hoặc bệnh nhân muốn cải thiện
thẩm mỹ bắt đầu bằng việc phân
tích thẩm mỹ cẩn thận về bản chất
và nguyên nhân của dị dạng cơ
mông. Tình trạng của mô mỡ dưới
da ở vùng mông cũng như các đơn
vị thẩm mỹ xung quanh mông, đặc
biệt là thân và chi dưới là bước
đầu tiên của phân tích (Hình. 7).
Dư thừa thể tích hoặc vùng mông
nhão/chảy xệ là đủ tiêu chuẩn để
thực hiện kỹ thuật này. Hình dạng
mông như mô tả của Mendieta
(Hình. 8) Khung mông chữ V là khó
sửa nhất và đòi hỏi thể tích mô lớn
nhất ở cực dưới và hai bên. Chiều
cao và chiều rộng của cơ và xương
sau đó được xác định để xác định
xem mông cần rút ngắn hoặc dài
ra cũng như để xác định vị trí cuối
cùng của điểm chiếu tối đa (Hình
9). Phân tích này rất quan trọng đối
với vị trí chiều cao vết rạch vì xác
định lại lựa chọn vạt và vị trí vết
rạch cuối cùng. Các vết rạch CBL /
EBL cao có thể nâng cao độ nét của
eo đồng thời kéo dài mông thuận
lợi ở bệnh nhân có mông ngắn
(Hình 10). Mông ngắn được đặc
trưng bởi chiều dài cơ mông ngắn
và chiều cao khung chậu có thể
được điều trị hiệu quả hơn với các
vạt ngắn hơn như đảo vạt hoặc vạt
tăng cường. Các vùng mông có cơ
mông lớn dài, xương dài như mông
hình chữ V được xử lý thích hợp
hơn bằng một vạt chuyển vị. Các
vạt chuyển vị sẽ lấy thêm mô để lấp
đầy một phần ba dưới của mông và
phần bên dưới của mông hình chữ
V; điểm hình chiếu cực đại càng
thấp càng tiến gần tới vị trí ngang
gò mu. Cuối cùng, chất lượng và
độ lỏng lẻo của da bụng, hai bên
sườn, hông, lưng, mông, đùi trước,
đùi bên và đùi sau được ghi nhận.
Kết quả của những phân tích này
sau đó được sử dụng để hướng
dẫn thông qua một thuật toán tạo
đường nét cơ mông để tạo đường
nét cơ thể (Hình. 11). Khi đã đưa
ra quyết định nâng mông và chỉ
định một thủ thuật ngoại khoa để
cải thiện sự lỏng lẻo của da mông
phía sau, thì CBL hoặc EBL sẽ được
xem xét. Nếu CBL hoặc EBL được
chỉ định, thì phẫu thuật nâng mông
bằng vạt cơ mông có cuống mạch
nuôi trở thành thủ thuật được lựa
chọn ở những bệnh nhân có BMI
dưới 30 kg / m2. Sơ đồ dưới đây
chỉ ra các lựa chọn ưu tiên cho
nâng mông trong các điều kiện
khác nhau. Theo thời gian, việc sử
dụng các mô tự thân làm vạt hoặc
chuyển mỡ đã trở thành những thủ
tục được lựa chọn của hầu hết các
Bs phẫu thuật. Nếu có sự thiếu hụt
đáng kể ở phía bên như ở mông
hình chữ V, có thể kết hợp chuyển
mỡ tự thân với vạt ria mép để tinh
chỉnh thêm. Vạt ria mép và các vạt
chuyển vị khác đã được thực hiện
các biện pháp điều trị bổ sung như
thêm chất độn hoặc chuyển mỡ
theo giai đoạn hoặc implant (ít cần
thiết hơn do đã đạt được sự
Chương 13: Kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép trong nâng mông
225
Hình. 7. Đơn vị thẩm mỹ vùng mông.
Hình. 8. Hình dáng khung mông.
gia tăng đáng kể sau chuyển vạt).
Do implant có tỉ lệ biến chứng cao
nên được coi là thủ thuật được lựa
chọn cuối cùng trong danh sách các
thủ thuật bổ sung.
Chương 13: Kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép trong nâng mông
226
Hình. 9. Cơ mông lớn và chiều cao khung chậu.
Chương 13: Kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép trong nâng mông
227
Hình. 10. Vị trí đường rạch đối với mông ngắn/dài. Trước phẫu thuật: (A) Mặt
sau. (B) Mặt bên. Sau phẫu thuật (C) Mặt sau với đường rạch cao. (D) Mặt bên
với đường rạch cao. Trước phẫu thuật (E) Mặt sau. (F) Mặt bên. Sau phẫu thuật
(G) Mặt sau với đường rạch thấp. (H) Mặt bên với đường rạch thấp.
Chương 13: Kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép trong nâng mông
228
Hình.11.Sơ đồ chiến lược tạo hình vùng mông.
Chương 13: Kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép trong nâng mông
229
BMI VÀ CHỈ ĐỊNH PHẪU THUẬT
Những bệnh nhân béo phì
có chỉ số BMI trên 30 kg / m2 đã
được chứng minh là có nguy cơ
cao mắc các về thẩm mỹ và đường
nét cơ thể sau MWL. Tách vết mổ,
chậm lành vết mổ,bướu huyết
thanh, nhiễm trùng và huyết khối
tĩnh mạch sâu là một số nguyên
nhân phổ biến được quan sát thấy
ở những bệnh nhân béo phì sau
phẫu thuật. Những bệnh nhân này
khác xa với các mục tiêu thẩm mỹ
lý tưởng đã được thống nhất chung
và nên được quản lý một cách thận
trọng hơn. Các phương pháp tiếp
cận ít rủi ro hơn như hút mỡ theo
giai đoạn và các phẫu thuật tái tạo,
và bóc tách hạn chế có thể làm
giảm tỷ lệ mắc bệnh ở nhóm này.
AGA với CBL / EBL không được
khuyến khích trong nhóm này.
Những bệnh nhân có BMI
trung bình (BMI 25-30 kg / m2)
cũng có thể áp dụng các phẫu thuật
ngoại khoa, hút mỡ bổ trợ và bổ
sung chuyển mỡ tự thân để tạo
hình thêm. Những bệnh nhân nhỏ
tuổi không mắc bệnh đi kèm ở phần
dưới của phạm vi này có thể được
áp dụng AGA với CBL / EBL. Các
thủ tục nào được kết hợp và cách
chúng được tổ chức được xác định
bằng cách kết hợp các xét nghiệm
thẩm mỹ, tình trạng y tế trước phẫu
thuật, tuổi tác, chỉ số BMI, kết quả
thể chất và mong muốn của bệnh
nhân.
Những bệnh nhân BMI ở
mức độ thấp (BMI <25 kg / m2) với
da nhão, thiểu sản mông và không
có lựa chọn dài hạn khả thi nào khác
cho nâng mông thì có khả năng là
nhóm lý tưởng cho AGA với CBL /
EBL. Họ thường không có đủ chất
béo để chuyển mỡ tự thân và chỉ
cấy ghép bộ phận giả sẽ gây ra bất
kỳ rủi ro không đáng có nào trong
dân số bệnh nhân MWL. Nhóm này
được hưởng lợi nhiều nhất về mặt
thẩm mỹ từ AGA với quy trình CBL
/ EBL và thường có ít biến chứng
hơn (Bảng 1).
Bảng 1
BMI và lựa chọn phẫu thuật
BMI (kg/
m2)
Lựa chọn phẫu thuật
<25
AGA với CBL/EBL, có thể
chuyển mỡ hoặc thêm các
phẫu thuật bơm chất độn
25-30
Chuyển mỡ, có thể thêm
các phẫu thuật bơm chất
độn hoặc AGA với CBL/
EBL
>30
CBL/EBL, hút mỡ, có thể
chuyển mỡ hoặc thêm
các phẫu thuật bơm chất
độn.
CHỈ ĐỊNH CHUYỂN VẠT
Khi bệnh nhân đã được xác
định là một ứng cử viên tốt cho
AGA với CBL / EBL, việc lựa chọn
thiết kế vạt phù hợp để đáp ứng các
mục tiêu thẩm mỹ là điều tối quan
trọng (xem Hình 11). Đảo vạt AGA
với sự thay đổi của trên từng bệnh
nhân và các biến thể của nó là các
Chương 13: Kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép trong nâng mông
230
thủ tục can thiệp lượng mô nhỏ nhất
và do đó là ít gia tăng thể tích nhất.
Vị trí của những vạt này thường
nằm ở 1/3 trên hoặc 2/3 trên của
cơ mông lớn, làm cho chúng thích
hợp với bệnh nhân có mông ngắn.
Chúng chỉ được chỉ định để ngăn
ngừa tác động làm phẳng của CBL /
EBL. Hình chiếu mông trước phẫu
thuật phải là “bình thường” hoặc
gần với những gì bệnh nhân mong
muốn. Điểm chiếu cực đại của đảo
AGA thường nằm ở hoặc cao hơn
một chút, mức chuyển vị của gò mu.
Do đó, chúng có thể dễ sử dụng hơn
ở phụ nữ Mỹ gốc Phi hoặc châu Á,
cũng như ở bệnh nhân nam. Mong
muốn có điểm chiếu tối đa cao hơn
hoặc chiều cao thẳng đứng ngắn
hơn của khung xương chậu có thể
góp phần vào những yêu cầu thẩm
mỹ này. Những phát hiện thẩm mỹ
này được cho là đáng mong đợi hơn
ở những nhóm bệnh nhân này. Cuối
cùng, việc sử dụng thiết kế vạt đảo
không được khuyến khích ở mông
hình chữ V vì phục hồi thể tích bên
trong và bên dưới là rất quan trọng
để có kết quả thẩm mỹ tốt. Chúng
có thể có hiệu quả ở những vùng
mông hình chữ A, vuông và tròn.
Thiết kế vạt AGA tăng cường
kết hợp thêm mô không xác định
bên dưới hoặc bên với thiết kế vạt
đảo được cho là đại diện cho cấp
độ tiếp theo của AGA. Chúng được
chỉ định ở những bệnh nhân bị
platypygia nhẹ trước phẫu thuật và
mong muốn tăng vừa phải. Kết quả
này được thực hiện bằng cách thiết
kế một vạt lớn hơn với khối lượng
lớn hơn đáng kể ở phía dưới và
bên. Những thiết kế vạt này có tác
dụng độn vùng mông hiệu quả hơn
một chút so với những thiết kế vạt
đảo. Bởi vì điểm chiếu tối đa vẫn
cao hơn đáng kể so với mức ngang
của gò mu, cực thấp hơn của mông
không được giải quyết.
Phương pháp này có thể có
hiệu quả ở bệnh nhân bị sa mông
đáng kể và mông hình chữ A, tròn
hoặc vuông. Vạt tăng cường có thể
đặc biệt hữu ích trong việc cải thiện
tình trạng thiếu hụt mông bên ở
những bệnh nhân có hình dạng
mông này.
Các thiết kế vạt AGA chuyển
vị là những thiết kế vạt được lựa
chọn khi muốn nâng cao dứt điểm.
Các vạt này có thể tích lớn nhất và
tính linh hoạt để phục hồi thể tích
ở tất cả các vùng của mông, bao
gồm cả phần trên, giữa và 1 phần
ba dưới của mông. Có thể dễ dàng
điều chỉnh thể tích mong muốn cuối
cùng để phù hợp với mong muốn
thẩm mỹ của bệnh nhân bằng cách
thay đổi cả chiều cao và chiều rộng
của vạt. Bằng cách lấy thêm mô ở
thân bên thấp hoặc mô mông cao,
điểm cuối cùng của hình chiếu tối
đa chuyển vị của chúng là ở mức
độ của gò mu và đặc trưng cho
thẩm mỹ cơ mông được chấp nhận
chung nhất. Phần cực và bên dưới
của mông và hông bên có thể được
tăng lên đáng kể để nâng cao tính
thẩm mỹ của mông ở hình vuông
hoặc hình chữ V, làm cho nó trở
thành thiết kế vạt được lựa chọn.
Các vạt AGA chuyển vị như vạt ria
Chương 13: Kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép trong nâng mông
231
mép là phương pháp được lựa chọn
vì khả năng ứng dụng rộng rãi, kết
quả thẩm mỹ lâu dài tốt và dễ dàng
hạ xuống khi cần.
Bất kể thiết kế vạt cuối cùng
được chọn, thể tích của vạt có thể
được điều chỉnh theo yêu cầu của
tình trạng lâm sàng và mong muốn
của bệnh nhân. Giới hạn cơ bản đối
với thể tích vạt lớn hơn là giới hạn
trên của mẫu đánh dấu da được sử
dụng cho CBL / EBL. Các vạt nhỏ
hơn cũng có thể được sử dụng để
tăng biên độ an toàn về mặt độ
hoàn thiện của mô, hoặc để tránh
căng quá mức trên các nắp CBL /
EBL phía sau. Tất cả các vạt có thể
được hạ xuống hoặc đóng lại hoàn
toàn để đảm bảo an toàn cho bệnh
nhân nếu có bất kỳ lo ngại nào về
sự tưới máu mô, mài mòn quá mức
khi đóng CBL hoặc không thể đóng
các nắp trên mô cấy ghép tự thân.
GIẢI PHẪU LÂM SÀNG
Sự toàn vẹn cấu trúc giải
phẫu ở vùng thân bên, lưng và
vùng mông là những yếu tố quan
trọng, đồng thời là những vùng
dễ tổn thương nhất khi thực hiện
CBL/EBL. Thần kinh chậu hạ vị và
chậu bẹn đều tách từ thân L1 và bắt
nguồn từ đám rối thần kinh cùng.
Các dây thần kinh này đi xuống
dưới vào trong giữa cơ nang bụng
và cơ chéo bé. Dây thần kinh chậu
hạ vị chia thành nhánh bì ngoài và
bì trước để chi phối cho vùng da
mặt ngoài mông hai bên và phía
xương mu. Đường rạch CBL nằm
ngay tại/dưới nếp lằn bẹn 1 chút
có thể phạm phải thần kinh này.
Nhánh bi ngoái của thần kinh chậu
hạ vị và thần kinh liên sườn cũng
có thể bị tổn thương khi thực hiện
phẫu thuật này. Tổn thương này có
thể xảy ra nếu can thiệp quá sâu
vào cơ chéo lớn trong khâu thít
chặt vòng eo lại hoặc khi khâu mũi
khâu 3 điểm hoặc quilting ở mặt
bên cơ thể khi muốn giảm thiểu
tối đa khoảng chết. Cảm giác vùng
mông và thân bên được chi phối
bởi: các nhánh lưng thẳng của thân
L3 L4 và nhánh bì của thần kinh
chậu hạ vị từ thân L1, và các nhánh
chi phối cho cảm giác mông từ các
thân L1, L2, L3 đi qua mào chậu.
Các dây thần kinh này tạm thời sẽ
bị phong bế trong quá trình thực
hiện CBL và AGA với CBL. Bệnh
nhân nên được tư vấn về việc thay
đổi tư thế thường xuyên và tránh
sử dụng đệm và chăn sưởi để tránh
hoại tử do tì đè hoặc bỏng.
Tưới máu cho da phía trên
vùng mông được cung cấp bằng các
nhánh xuyên của động mạch mông
trên và dưới, cả hai nhánh này đều
là nhánh từ động mạch chậu trong.
Vùng thắt lưng cũng được cấp máu
bởi các nhánh xuyên của động
mạch thắt lưng. Một số mạch xuyên
này sẽ bị cắt bỏ ở mặt sau cơ thể
khi thự hiện CBL / EBL, hoặc AGA
với CBL / EBL, nhưng tất nhiên vẫn
đủ nhánh mạch tưới máu mạnh mẽ
cho các vạt mô xung quanh.
Giải phẫu cân vùng mông có
ý nghĩa lâm sàng quan trọng đối với
thẩm mỹ của mông đã bị lão hóa.
Chương 13: Kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép trong nâng mông
232
Tình trạng mất đàn hồi của các lớp
cân dẫn tới chùng da/chảy xệ vùng
mông. Việc cắt bỏ một phần và
khâu nối lớp cân nông này không
những cải thiện tình trạng sa mông
mà còn đóng một vai trò quan
trọng trong quy trình CBL / EBL và
AGA với CBL / EBL. Vùng cân mông
sâu đóng một vai trò quan trọng
trong AGA với CBL là điểm cố định,
nhưng cũng là điểm giữ nếp mạnh
mẽ trong phương pháp tiếp cận hạ
mông đối với nâng mông toàn bộ.
Lớp cân nông và sâu kết dính chặt
chẽ với nhau ở đoạn dưới để tạo
thành nếp lằn mông, một cấu trúc
không nên vi phạm vì nó cực kỳ
khó tái tạo.
ĐÁNH DẤU VÙNG PHẪU THUẬT
Đánh dấu vùng phẫu thuật
trong AGA với CBL / EBL bắt đầu
bằng việc đánh dấu như với phiên
bản sửa đổi của CBL / EBL truyền
thống. Các dấu CBL / EBL sau được
đặt thấp hơn bình thường để cho
phép nâng cao cực giữa hoặc cực
dưới của mông và phù hợp với
các đơn vị thẩm mỹ vùng mông.
Việc hạ thấp các dấu này cũng giúp
thu ngắn vùng mông một cách
trực quan để nâng cao tính thẩm
mỹ. Điểm hình chiếu tối đa của cơ
mông đầu tiên được chiếu từ mức
của gò mu trở ra phía sau và được
đánh dấu.
Điểm dự kiến này được sử
dụng để giúp xác định mức độ mở
rộng tối đa cho thành phần nâng. Vị
trí của các nhãn hiệu cao cấp của
CBL / EBL sau đó được chọn dựa
trên một số yếu tố. Những yếu tố
này bao gồm điểm chuyển vị của
phép chiếu tối đa, mong muốn thu
ngắn hoặc kéo dài mông một cách
trực quan và mức độ cần thiết tăng
cường cực thấp hơn. Một mốc giải
phẫu hữu ích được Mendieta mô tả
là ụ nhô xương cùng tương ứng với
vị trí nguyên ủy của cơ mông tối đa
hay còn gọi là “mông tiêu chuẩn”.
Một đường rạch hình cánh quạt
được sử dụng cho 2 mục đích: (1)
để đặt đường rạch giữa các đơn vị
thẩm mỹ xương cùng và mông do
đó tăng cường tính thẩm mỹ, và (2)
để ngăn ngừa hoặc cải thiện sự kéo
dài nếp gấp giữa các cơ quan bất
lợi liên quan đến nâng mông. Sau
đó, các điểm phía dưới của CBL /
EBL được đánh dấu bằng cách kéo
và véo da cơ mông lỏng lẻo lên để
ướm vừa với các điểm đã đánh dấu
phía trên. Lượng da cắt bỏ này đủ
để điều chỉnh sự lỏng lẻo của cơ
mông trong khi vẫn giữ được các
vạt AGA mới đặt một cách an toàn
mà không bị căng quá mức. Sau đó,
hai túi mông đối xứng được đo và
đánh dấu bên dưới dấu CBL / EBL
bên dưới bắt đầu từ 2 đến 3 cm
trên nếp lằn mông.
Sau đó, thiết kế vạt mong
muốn được đánh dấu bắt đầu ở
điểm cắt bỏ thấp nhất ở vùng mông.
Kích thước của vạt được xác định
bởi kích thước cơ mông, lượng
nâng mong muốn và giới hạn trên
điểm đánh dấu đường nâng mông.
Các vạt được tập trung từ giữa sang
bên trên mỗi vùng mông. Khi sử
Chương 13: Kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép trong nâng mông
233
dụng nắp chuyển vị hoặc nắp ria
mép, các mô của thanh tay cầm
phía bên có chiều rộng và chiều
dài mong muốn sau đó sẽ được
rút ra. Một chiếc khăn hoặc thước
dây được sử dụng để xác định độ
quay không đủ của cánh xoay hoặc
chuyển vị từ trước của các thanh
tay cầm của nắp chuyển vị ria mép.
Điểm giới hạn đối với vòng cung
quay là 12 cm tính từ đường giữa
đối với vạt di chuyển ria mép và
đường viền dưới của cơ mông tối
đa đối với vạt xoay. Khi đã ở vị trí
nằm sấp, các vạch trên và dưới
trung tâm (xương cùng) cho phần
sau của CBL / EBL sau đó có thể
được điều chỉnh thấp hơn 1 đến 3
cm để thích ứng với sự dịch chuyển
cao hơn của các mô lỏng lẻo, để
đảm bảo an toàn cắt bỏ trung tâm,
để bảo tồn trước tính thẩm mỹ của
cơ mông, và để rút ngắn rãnh liên
mông dài. Các mô tả truyền thống
về đánh dấu CBL / EBL phía sau
dẫn đến một vết rạch cuối cùng
hoặc quá cao về mặt thẩm mỹ, vi
phạm các đơn vị thẩm mỹ của cơ
mông hoặc làm cho mông có hình
dạng thon dài hoặc hình vuông.
Vị trí cuối cùng của CBL /
EBL sau cùng với AGA thể hiện
phần nào sự thỏa hiệp. Để phát
triển một vạt cho phép nâng cao
cực giữa và cực dưới của mông và
nằm giữa các đơn vị thẩm mỹ của
cơ mông, các điểm đánh dấu phải
thấp hơn các mô tả kinh điển. Vị
trí cố định của vết mổ ở phần tiếp
giáp giữa các đơn vị thẩm mỹ vùng
mông giúp cải thiện hình dạng của
mông ở góc nhìn phía sau với chi
phí đáng kể là làm tổn hại đến định
nghĩa vòng eo bằng cách mở rộng
nó. Vấn đề này có thể được khắc
phục bằng cách thực hiện hút mỡ
bổ trợ ở những bệnh nhân thừa
mỡ vùng sườn. Ngược lại, đường
rạch CBL / EBL phía sau cao truyền
thống giúp cải thiện tình trạng cong
thắt lưng và hình chiếu cơ mông
rõ ràng ở chế độ xem bên và định
nghĩa eo ở chế độ xem phía sau,
nhưng với cái giá phải trả là mông
dài ra vĩnh viễn khi nhìn từ đằng
sau. Vết rạch cao cũng có thể nhìn
thấy trên quần áo lót hoặc quần áo
bình thường.
PHƯƠNG PHÁP PHẪU THUẬT
Tất cả các quy trình đều bắt
đầu bằng việc đào sâu thiết kế vạt
AGA đã chọn. Cả đảo và vạt tăng
cường đều được mổ xẻ theo kiểu cắt
vát bằng dao điện xuống thông qua
hệ thống cân nông, cân cơ mông và
mạc thắt lưng cùng. Vùng mạc trên
xương cùng còn nguyên vẹn. Các
mô xung quanh được cắt bỏ theo kế
hoạch để hoàn thành CBL / EBL, để
lại một lớp mỡ phía trên lớp cân cơ.
Các túi mông tập trung trên vùng
cơ mông được chia cắt đối xứng
bên dưới hệ thống cân nông nhưng
ở trên cơ cân mông, nhưng không
xa hơn, nếp gấp lằn mông. Một cầu
mô bên được giữ nguyên như một
đường viền với túi để ngăn chặn
sự sai lệch bên của vạt AGA. Khi sử
dụng một vạt chuyển vị hoặc vạt ria
mép, các phần mở rộng của thanh
Chương 13: Kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép trong nâng mông
234
tay cầm của vạt sau đó sẽ được tách
ra từ cân ngực sau lên đến 12 cm
tính từ đường giữa để bảo tồn hệ
thống tưới máu động mạch mông
trên. Ngược lại, sự mở rộng của cơ
tối đa của cơ mông hạn chế sự bóc
tách bên dưới của vạt cơ mông tách
đôi. Lớp hạ bì của thanh tay cầm xa
hoặc của vạt lật phân chia được neo
vào cơ mông ở khía cạnh thấp nhất
của túi mông. Phần giữa của vạt ria
mép được chia ở trung tâm và xoay
ngang dọc và được khâu vào lớp hạ
bì của vạt. Vạt AGA chuyển vị của
ria mép được đính lỏng lẻo bằng
chỉ khâu để tinh chỉnh hình chiếu,
hình dạng và đối xứng (xem Hình.
6A, B). Các vạt được neo chặt hơn
vào mặt giữa của túi mông bằng chỉ
khâu có thể thấm hút để tăng cường
hình dạng cuối cùng và ngăn ngừa
di lệch sang bên. Hệ thống dẫn lưu
được đặt hai bên ở phía dưới cùng
của túi mông. Vết mổ CBL được
đóng tạm thời bằng kẹp clip. Khi
đã so sánh thấy hai bên cân đối, hệ
thống cân nông được đóng lại bằng
chỉ khâu tùy theo kinh nghiệm của
Bs. Lớp hạ bì sâu và bề mặt được
đóng lại theo kiểu thông thường.
Vết mổ được băng bằng băng ép,
nhưng cẩn thận để tránh các lực cắt
gây ra bởi sự chèn ép quá mức của
băng.
BIẾN CHỨNG
Biến chứng liên quan đến
các thủ thuật AGA không tăng lên
đáng kể so với các thủ thuật CBL/
EBL tiêu chuẩn. Tỷ lệ được báo
cáo về chậm liền vết mổ, hoại tử
da rơi vào khoảng 0-77% và tổng
tỉ lệ trung bình các biến chứng là
khoảng 10-80%. Tình trạng tưới
máu cho vạt khi thực hiện thủ thuật
này với những bệnh nhân MWL
là tương đối tôt. Chỉ 1 nghiên cứu
chuỗi case lâm sàng thực hiện AGA
với CBL báo cáo rằng tỉ lệ biến
chứng liền vết thương cao hơn
đáng kể so với CBL kinh điển trên
bệnh nhân MWL. Mặc dù vẫn tồn
tại biến chứng, song các bác sĩ phẫu
thuật và bệnh nhân cơ bản đều hài
lòng với kết quả thẩm mỹ khi thực
hiện AGA. Theo tác giả, các nhóm
bệnh nhân thực hiện AGA thường
là những đối tượng nặng hơn trung
bình 1 chút, và việc áp dụng AGA
với CBL cho kết quả tích cực đối
với các bệnh nhân này. Những phát
hiện này cho thấy việc thiết kế vạt,
tình trạng béo phì và tiêu chuẩn
chọn bệnh nhân là những vấn đề
có thể ảnh hưởng đến kết quả cuối
cùng. Một nghiên cứu tổng phân
hợp (phân tích gộp) được công
bố gần đây cho thấy không có sự
khác biệt về tỉ lệ biến chứng giữa
bệnh nhân MWL được thực hiện
nâng mông bằng vạt tự thân và
nâng mông bằng các kỹ thuật khác.
Trong loạt bài của tác giả, 1 trường
hợp hoại tử vạt mức độ nhẹ có thể
giải thích là do sự kéo dài quá mức
của thanh tay cầm bên của vạt ria
mép vào mạch sau-liên sườn - một
số như mô tả của đơn vị Taylor. Bởi
vì phần mở rộng bên này không
được xác định để cho phép chuyển
vị trung gian trong biến thể ria mép
Chương 13: Kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép trong nâng mông
235
của vạt AGA chuyển vị, giới hạn 2
angio¬som lân cận về tưới máu cho
vạt tưới máu có thể đã bị vượt quá.
Một so sánh tổng hợp, hồi
cứu về tỷ lệ chữa lành vết thương
chậm và biến chứng cho bệnh
nhân CBL và AGA với CBL không
cho thấy tỷ lệ biến chứng tăng lên
đáng kể (Hình 12 và 13, Bảng 2).
Tỷ lệ lành vết mổ chậm được ghi
nhận trong 2 loạt bài này có thể so
sánh với tỷ lệ đối với CBL và đường
nét cơ thể ở bệnh nhân MWL hoặc
béo phì trong loạt bài đã xuất bản.
Bệnh nhân MWL, có khả năng đại
diện cho một bệnh nhân “có nguy
cơ” cao hơn khi so sánh với một
bệnh nhân thẩm mỹ bình thường,
khỏe mạnh. Tuy nhiên, sự suy giảm
của nắp kém hơn và sức căng khi
đóng có thể đáng kể hơn khi AGA
được thêm vào CBL. Sự kết hợp này
có thể dẫn đến các vấn đề về chữa
lành vết thương, đặc biệt là ở khía
cạnh trung tâm của vết mổ trong
vùng “đổ nước” của tưới máu mô.
Để giúp cải thiện vấn đề này, bệnh
nhân được đánh dấu để cắt trung
tâm ở tư thế cúi gập người xuống
để mô phỏng lực căng đặt lên vết
mổ khi ở tư thế bán Fowler sau
phẫu thuật và mức độ cắt trung
tâm bị hạn chế.
Lập kế hoạch trước phẫu
thuật cẩn thận để tránh cắt bỏ quá
mức và bảo tồn kích thước vạt sẽ
hữu ích trong việc tránh các vấn đề
nghiêm trọng về liền vết mổ, hoại
tử da và tách vết mổ. Lựa chọn
thích hợp những bệnh nhân có chỉ
số BMI thấp hơn có ít nguy cơ mắc
các vấn đề về liền vết mổ hơn cũng
rất hữu ích. Mặc dù những hạn chế
này có thể làm giảm chất lượng kết
quả ban đầu của bạn, nhưng có thể
đạt được kết quả tốt hơn đáng kể
khi có thêm kinh nghiệm.
Các bướu huyết thanh lớn
có thể được giảm bớt bằng cách
đặt ống dẫn lưu vào phần độc lập
quanh túi mông. Doxycycline được
sử dụng tiêm vào bướu huyết
thanh hoặc quản lý tình trạng tăng
tiết dịch quá mức ở bệnh nhân CBL
theo thực hành của tác giả. Chất
bịt lỗ hổng mô hiện không được sử
dụng do chi phí bất hợp lý và thiếu
dữ liệu thuyết phục trong ứng dụng
này. Mối khâu chần bông (quilting)
không được sử dụng thường xuyên
do không hiệu quả và biến chứng
mà các chỉ khâu này có thể gây ra.
Chương 13: Kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép trong nâng mông
236
Hình. 12. Kết quả tạo hình đảo vạt trong AGA với CBL. Trước phẫu thuật (A) Mặt
sau. (B) Mặt bên. (C) Chếch trái sau. Sau phẫu thuật (D) Mặt sau. (E) Mặt bên. (F)
Chếch trái sau. Trước phẫu thuật (G) Mặt sau. (H) Chếch trái sau. (/) Mặt bên.
Sau phẫu thuật (J) Mặt sau. (K) Chếch trái sau. (L) Mặt bên
Chương 13: Kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép trong nâng mông
237
Hình. 13. Kết quả tạo hình vạt ria mép trong AGA với CBL. Trước phẫu thuật (A
Mặt sau. (B) Mặt chếch. (C) Mặt bên. Sau phẫu thuật (D) Mặt sau. (E) Mặt chếch.
(F) Mặt bên. Trước phẫu thuật (G) Mặt sau. (H) Mặt chếch. (/) Mặt bên. Sau phẫu
thuật (J) Mặt sau. (K) Mặt chếch. (L) Mặt bên.
Chương 13: Kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép trong nâng mông
238
Bảng 2
Tỉ lệ biến chứng kỹ thuật AGA/CBL
chuyển vạt kiểu ria mép (n = 52)
Biến chứng
% (n)
Liền vết mổ
chậm
17(9)
Tách vết mổ
(nông)
7(4)
Tách vết mổ
(sâu)
4(2)
Nhiễm khuẩn
4(2)
Temporary anal
overexposure
4(2)
Bướu hthanh
cần dẫn lưu
2(1)
Vạt không đúng
vị trí
2(1)
Hoại tử mỡ (ít)
2(1)
Hoại tử mỡ
(nhiều)
0
Hoại tử da
0
Huyết khối tĩnh
mạch/phổi
0
Loét điểm tì
0
Lộ vạt
0
“ Từ viết tắt: AGA: nâng mông bằng
vật liệu tự thân, CBL: cải thiện kích
thước vòng ba, DVT: huyết khối
tĩnh mạch sâu, PE: thuyên tắc phổi”
Ngoài những lưu ý này,
không thể phóng đại tầm quan
trọng của việc lựa chọn bệnh nhân
thích hợp khi dự tính AGA với CBL
/ EBL. Sử dụng quy trình thích
hợp cho nhóm BMI thích hợp và
phù hợp với đặc điểm thể chất sẽ
làm giảm đáng kể tỷ lệ biến chứng.
Những người có chỉ số BMI lớn
hơn 30 kg / m2 có nguy cơ lành
vết thương Biến Chứng từ hầu như
tất cả các thủ thuật tạo đường nét
cơ thể và không trở thành ứng cử
viên lý tưởng cho các liệu trình này.
Các cách tiếp cận ít rủi ro hơn được
khuyến khích.
AN TOÀN CHU PHẪU
Trung bình, bệnh nhân được
thực hiện AGA với CBL cần nằm
viện từ 1-2 ngày, nhưng cũng có thể
được thực hiện như một thủ thuật
cho bệnh nhân ngoại trú. AGA với
EBL thì có thể coi như một thủ
thuật ngoại trú thực sự. Các bệnh
nhân MWL thường đòi hỏi phải
thực hiện nhiều thủ thuật cho tới
khi đạt được hình thể mong muốn,
nên cần đảm bảo về yếu tố sức khỏe
để có thể trải qua nhiều cuộc phẫu
thuật cùng lúc, đồng thời cần được
quản lý hậu phẫu chu đáo. Các vấn
đề về điều trị dự phòng thuyên tắc
phổi/huyết khối tĩnh mạch sâu,
mất máu, hạ thân nhiệt, rối loạn
điện giải, cân bằng thể dịch cần
được chú ý. Bệnh nhân được đặt ở
tư thế nằm sấp trên giường mềm,
các vị trí điểm tì được đặt các tấm
đệm, gel lót (mặt, mắt, nách, vú,
Chương 13: Kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép trong nâng mông
239
bộ phận sinh dục. khuỷu tay, đầu
gối và mắt cá chân). Sau phẫu thuật
nên duy trì ổn định huyết động
và thông khí cho bệnh nhân. FiO2
tăng lên đến 80% với mask không
thở lại có thể được áp dụng để duy
trì thông khí trong phòng hồi tỉnh,
ít nhất là 2h sau phẫu thuật vì có
nghiên cứu đã chứng minh việc
làm này giúp giảm tỉ lệ nhiễm trùng
sau phẫu thuật và tình trạng buồn
nôn. Các xét nghiệm cận lâm sàng
thường quy sau phẫu thuật bao
gồm công thức máu, sinh hóa cơ
bản, Calci máu, Magne máu, Phos
phate máu. Các xét nghiệm khác
như nồng độ glucose, protein, al
bumin máu và đông máu cũng nên
được lấy mẫu xét nghiệm. Bổ sung
protein và tối ưu hóa dinh dưỡng
đóng vai trò quan trọng trong việc
phục hồi ở bệnh nhân MWL. Đặt
sonde Foley để theo dõi lượng
nước tiểu, sử dụng kháng sinh
dự phòng trong 24h trước và sau
phẫu thuật. Các dụng cụ băng ép
và vận động sớm được khuyến cáo
sử dụng để dự phòng huyết khối
tĩnh mạch sâu. Thuốc chống đông
đường uống hoặc tiêm có thể được
sử dụng kết hợp với các loại tất áp
lực trên những bệnh nhân có nguy
cơ huyết khối trung bình đến cao
đối với huyết khối tĩnh mạch sâu/
thuyên tắc phổi hoặc có tiền sử
thuyên tắc tĩnh mạch sâu/thuyên
tắc phổi trước đó. Liều lượng các
thuốc này dưa trên trọng lượng cơ
thể (trọng lượng cơ) và nên được
điều chỉnh ở bệnh nhân béo phì.
Khối máu tụ sau phẫu thuật
thường hiếm khi xuất hiện, đặc biệt
là ở những bệnh nhân sử dụng liệu
pháp chống đông. Cần theo dõi sát
và chỉ định các xét nghiệm cận lâm
sàng thích hợp khi sử dụng thuốc
kháng đông sau phẫu thuật.
Các loại băng ép không nên
sử dụng hàng ngày sau phẫu thuật,
trong một thời gian dài vì các lo
ngại về tình trạng tưới máu cũng
như hoại tử mô do áp lực. Điều
này dẫn tới việc cân nhắc sử dụng
chúng trong giai đoạn muộn sau
phẫu thuật. Các loại gạc cổ điển giờ
được thay thế bằng keo sinh học để
cho phép theo dõi tình trạng tưới
máu da và giảm phỏng huyết thanh
do thiểu dưỡng. Dẫn lưu được loại
bỏ khi dẫn được < 30mL/24h. Nếu
dịch tiết nhiều hoặc kéo dài, có thể
tiến hành điều trị gây xơ bằng dox
ycyline liều cao (500 mg/10mL
NaCL 0.9%) bằng cách bơm chúng
theo đường dẫn lưu vào trong kho
ang phẫu thuật, kẹp dẫn lưu 15-30
phút rồi hút ra. Trươc khi gây xơ,
nên thực hiện gây tê tại chỗ bằng
bupivacaine 0.5% (Marcaine) liều
theo cân nặng vào khoang thanh
mạc. Sau gây xơ khoảng 8-24 tiếng
thường xuất hiện tình trạng đau
và nên sử dụng giảm đau gây ng
hiện để tránh những tác động bất
lợi đến bệnh nhân. Quy trình này
có thể phải lặp lại nhiều lần mới
có thể điều trị dứt điểm tình trạng
tăng tiết dịch. Nồng độ doxycycline
này cao hơn liều lượng khuyến cáo
tiêm tĩnh mạch, đây là cách sử dụng
thuốc không theo liều lượng thông
thường nên cần thông báo với
Chương 13: Kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép trong nâng mông
240
bệnh nhân trước để yêu cầu sự
đồng thuận. Ngoài ra, nếu bướu
huyết thanh xuất hiện sau khi rút
dẫn lưu, có thể dùng dung dịch doxy
này để tiêm vào khoang bướu sau
khi đã hút hết lượng huyết thanh
có bên trong để gây xơ. Tuy nhiên
cần đảm bảo không tiêm dung dịch
này vào mô dưới da vì có thể gây
tình trạng hoại tử mỡ và da. Vì lý do
này, nên sử dụng siêu âm để hướng
dẫn vị trí hút, tiêm dung dịch doxy.
Trong một số trường hợp, có thể
phải phẫu thuật cắt bỏ khối bướu
nếu chúng tái phát nhiều lần.
TỔNG KẾT
AGA với CBL/EBL ở bệnh
nhân MWL là một trong những
phương pháp điều trị hiệu quả
trong việc cải thiện đường nét cơ
thể. Kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria
mép là một sự lựa chọn thay thế
cho những liệu pháp làm đầy mông
bằng chất dẻo (implant) và các kỹ
thuật nâng mông bằng vật liệu tự
thân đang thịnh hành hiện nay.
AGA với CBL/EBL sử dụng kỹ thuật
chuyển vạt kiểu ria mép vừa giúp
duy trì được kết quả lâu dài, vừa
giúp hạn chế biến chứng. Việc cải
tiến hơn nữa các kỹ thuật này cũng
như lựa chọn đúng đối tượng có chỉ
định giúp cái thiện kết quả thẩm
mỹ.
THAM KHẢO
Thông tin liên quan đến bài
báo có thể tham khảo tại:
12.011.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. American Society for Aesthet
ic Plastic Surgery 2016. Cosmetic
Surgery National Data Bank Statis
tics.
2. Bauccu O, Gozil R, Ozmen S, et
al. Gluteal region morphology: the
effect of the weight gain and aging.
Aesthetic Plast Surg 2002;26:130–
3.
3. Da Rocha RP. Surgical anatomy
of the gluteal region’s subcuta
neous screen and its use in plas
tic surgery. Aesthetic Plast Surg
2001;25:140–4.
4. Toth MJ, Tchernof A, Sites CK, et
al. Menopauserelated changes in
body fat distribution. Ann N Y Acad
Sci 2000;904:502–6.
5. Kopelman PG. The effects of
weight loss treatments on up
per and lower body fat. Int J Obes
1997;21:619–25.
6. Ferretti A, Giampiccolo P, Cavalli
A, et al. Expiratory flow limitation
and orthopnea in massively obese
subjects. Chest 2001;119:1401–8.
7. Watson RA, Pride NB. Postural
changes in lung volumes and re
spiratory resistance in subjects
with obesity. J Appl Physiol (1985)
2005;98:512–7.
8. De Souza SAF, Faintuch J, Valezi
AC, et al. Postural changes in mor
bidly obese patients. Obes Surg
2005;15:1013–6.
9. Giusti V, Gasteyger C, Suter M, et
Chương 13: Kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép trong nâng mông
241
al. Gastric banding induces nega
tive remodeling in the absence of
secondary
hyperparathyroidism:
potential role of serum c telo
peptides for follow-up. Int J Obes
2005;29(12):1429–35.
10. Vergara R. Intramuscular gluteal
implants: fifteen years’ experience.
Aesthet Surg J 2003;23(2):86–91.
11. De la Pena JA. Subfascial tech
nique for gluteal augmentation.
Aesthet Surg J 2004;24:265–73.
12. Gonzalez-Ulloa M. Gluteoplas
ty: a ten-year report. Aesthetic
Plast Surg 1991;15:85–91.
13. Mendieta CG. Gluteoplasty. Aes
thet Surg J 2003; 23(6):441–55.
14. Sinno S, Chang JB, Brownstone
ND, et al. Determining the Safety
and Efficacy of Gluteal Augmenta
tion: A Systematic Review of Out
comes and Complications. Plast Re
constr Surg 2016;137(4):1151–6.
15. Mofid MM, Gonzalez R, de la
Pen˜a JA, et al. Buttock augmen
tation with silicone implants:
a multicenter survey review of
2226 patients. Plast Reconstr Surg
2013;131(4):897–901.
16. Gonzalez M, Guerrerosantos J.
Deep planed torsoabdominoplasty
combined with buttocks pexy. Aes
thetic Plast Surg 1997;21:245–53.
17. Guerrero-Santos J. Secondary
hip-buttock-thigh plasty. Clin Plast
Surg 1984;11:491–503.
18. Pitanguy I. Surgical reduction of
the abdomen, thighs and buttocks.
Surg Clin North Am 1971;51:479–
89.
19. Pascal JF, Le Louarn C. Remod
eling body lift with high later
al tension. Aesthetic Plast Surg
2002;26:223–30.
20. Regnault P, Daniel R. Second
ary thigh-buttock deformities af
ter classical techniques. Preven
tion and treatment. Clin Plast Surg
1984;11(3):505–16.
21.
Strauch
B,
Vasconez
LO,
Hall-Findlay EJ. Grabb’s encyclope
dia of flaps. 2nd edition. Philadel
phia: Lippincott-Raven; 1988.
22. Taylor GI, Corlett RJ, Dhar SC,
et al. The anatomical (angiosome)
and clinical territories of cutane
ous perforating arteries: develop
ment of the concept and design
ing safe flaps. Plast Reconstr Surg
2011;127(4):1447–59.
23. Pan WR, Taylor GI. The angio
somes of the thigh and buttock. Plast
Reconstr Surg 2009;123(1):236–
49.
24. Centeno RF. Autologous gluteal
augmentation with circumferential
body lift in the massive weight loss
and aesthetic patient. Clin Plast
Surg 2006;33:479–96.
25. Young VL, Centeno RF. The role
of large-volume liposuction and
other adjunctive procedures. In:
Rubin JP, Matarasso A, editors. Aes
thetic surgery after massive weight
loss. Philadelphia: Elsevier Saun
ders; 2007. p. 167–87.
26. Rohde C, Gerut ZE. Augmenta
tion buttock pexy using autologous
tissue following massive weight
loss.Aesthet Surg J 2005;25(6):576
Chương 13: Kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép trong nâng mông
242
–81.
27. Sozer SO, Agullo FJ, Wolf C.
Autoprosthesis buttock augmen
tation during lower body lift. Aes
thetic Plast Surg 2005;29:133.
28. Sozer SO, Agullo FJ, Palladino H.
Bilateral lumbar hip dermal fat ro
tation flaps: a novel technique for
autologous
augmentation
glu
teoplasty. Plast Reconstr Surg
2007;119(3):1126–7.
29. Sozer SO, Agullo FJ, Palladino H.
Autologous augmentation gluteo
plasty with a dermal fat flap. Aes
thet Surg J 2008;28(1):70–6.
30. Sozer SO, Agullo FJ, Palladi
no H. Split gluteal muscle flap
for autoprosthesis buttock aug
mentation.Plast
Reconstr
Surg
2012;129(3):766–76.
31. Centeno RF. Gluteal aesthetic
unit classification: a tool to improve
outcomes in body contouring. Aes
thet Surg J 2006;26(2):200–8.
32. Mendieta CG. The art of gluteal
sculpting. St Louis (MO): Quality
Medical Publishing; 2011.
33. Lee EI, Roberts TL III, Bruner
TW. Ethnic considerations in but
tock aesthetics. Semin Plast Surg
2009;23(3):232–43.
34. Centeno RF, Young VL. Clinical
anatomy in aesthetic gluteal con
touring surgery. Clin Plast Surg
2006;33:347–58.
35. Gonzalez-Ulloa M. Belt lipecto
my. Br J Plast Surg 1960;13:179–
86.
36. Lockwood TE. Lower-body lift.
Aesthet Surg J 2001; 21:355–70.
37. Lockwood TE. Maximizing aes
thetics in lateraltension abdomi
noplasty and body lifts. Clin Plast
Surg 2004;31:523–37.
38. Aly AS, Cram AE, Chao M, et al.
Belt lipectomy for circumferential
truncal excess: the University of
Iowa experience.Plast Reconstr
Surg2003;111(1):398–413.
39. Nemerofsky RB, Oliak DA, Ca
pella JF. Body lift: an account of 200
consecutive cases in the massive
weight loss patient. Plast Reconstr
Surg 2006;117(2):414–30.
40. Srivastava U, Rubin J, Gusenoff
JA. Lower body lift after massive
weight loss: auto-augmentation
versus no augmentation. Plast Re
constr Surg 2015;135(3): 762–72.
41. Carlone R, Naudet F, Chaput B,
et al. Are there factors predictive
of postoperative complications in
circumferential contouring of the
lower trunk? A meta-analysis. Aes
thet Surg J 2016;36(10): 1143–54.
42. Cheney FW, Domino KB, Ca
plan RA, et al. Nerve injury asso
ciated with anesthesia: a closed
claims analysis. Anesthesiology
1999;90:1062–9.
43. Kroll DA, Caplan RA, Posner K,
et al. Nerve injury associated with
anesthesia. Anesthesiology 1990;
73:202–7.
44. Brodsky J. Positioning the mor
bidly obese patient for anesthesia.
Obes Surg 2002;12:751–8.
45. Lincoln JR, Sawyer HP. Compli
cations related to body positions
during surgical procedures. Anes
thesiology 1961;22:800–9.
Chương 13: Kỹ thuật chuyển vạt kiểu ria mép trong nâng mông
243
46. Greif R, Laciny S, Rapf B, et al.
Supplemental oxygen reduces the
incidence of postoperative nausea
and
vomiting.
Anesthesiology
1999;91(5):1246–52.
47. Mangram AJ, Horan TC, Pear
son ML, et al. Guideline for preven
tion of surgical site infection. Infect
Control
Hosp
Epidemiol
1999;20:247–8.
48. Rubin JP, Nguyen V, Schwent
ker A. Perioperative management
of the post-gastric-bypass patient
presenting for body contour sur
gery. Clin Plast Surg 2004;31:601–
10.
49. Agha-Mohammadi S, Hur
witz DJ. Nutritional deficiency of
post-bariatric surgery body con
touring patients: what every plas
tic surgeon should know. Plast Re
constr Surg 2008;122(2):604–13.
50. Austin RE, Lista F, Khan A, et al.
The Impact of protein nutrition
al supplementation for massive
weight loss patients undergoing
abdominoplasty. Aesthet Surg J
2016;36(2):204–10.
51. Young VL, Watson ME. The
need for venous thromboem
bolism
(VTE)
prophylaxis
in
plastic surgery. Aesthet Surg J
2006;26(2):157–75.
52. Venturi ML, Davison SP, Capri
ni JA. Prevention of Venous throm
boembolism in the plastic surgery
patient: current guidelines and
recommendations. Aesthet Surg J
2009;29(5):421–8.
53. Jeong HS, Miller TJ, Davis K, et
al. Application of the Caprini risk
assessment model in evaluation of
non– venous thromboembolism
complications in plastic and recon
structive surgery patients. Aesthet
Surg J 2014;34(1):87–95.
54. Shermak MA, Rotellini-Coltvet
LA, Chang D. Seroma development
following body contouring surgery
for massive weight loss: patient risk
factors and treatment strategies.
Plast Reconstr Surg 2008;122(1):
280–8.