Phẫu Thuật Tạo Hình Thẩm Mỹ Vùng Mông (Gluteal Augmentation)

13/10/2026 • by Bs CKI Phẫu thuật tạo hình, tái tạo và thẩm mỹ Trương Hoài Anh •

Chuyên đề chuyên sâu về phẫu thuật độn mông bằng túi độn (Gluteal Implants) và cấy mỡ tự thân (BBL – Brazilian Butt Lift). Đề cập kỹ thuật bóc tách đặt túi an toàn, kỹ thuật bơm mỡ mặt phẳng nông tránh thuyên tắc mạch mỡ (FATE) và kiến trúc giải phẫu cơ mông.


📂 Chuyên mục: Tài liệu thẩm mỹ, Phẫu thuật thẩm mỹ, Tạo hình cơ thể

🏷️ Từ khóa: tạo hình mông, độn mông, bbl, cấy mỡ mông, tạo hình cơ thể

Trang: / 248
Trang 1 Trang 2 Trang 3
📖 Xem bản dịch / Nội dung văn bản

Chương 8: Nâng mông dưới cân implant
146
Hình. 18. (tiếp)

Chương 8: Nâng mông dưới cân implant
147
Giảm đau sau mổ

Hầu hết bệnh nhân ít hoặc
không gặp phải khó chịu sau phẫu
thuật. Tuy nhiên vẫn nên kê giảm
đau nhóm NSAIDs và chườm đá
(nếu đau) trong ít nhất 10 ngày.
THỜI GIAN HỒI PHỤC SAU MỔ

Bệnh nhân có thể trở lại làm
việc sau 3 tuần. Các hoạt động thể
chất có thể bắt đầu lại sau 8 tuần.
Nếu bị bục vết mổ, nên yêu cầu
bệnh nhân hạn chế vận động thêm
6 tuần sau phẫu thuật. Những bệnh
nhân đã từng ghi nhận bị bục vết
mổ, nên hạn chế vận động trong
vòng 12 tuần sau phẫu thuật. Khối
implant sẽ đem lại cảm giác hơi khó
chịu (do cứng, chắc) trong khoảng
thời gian đầu, nhưng sau khoảng 3
tháng sẽ mềm trở lại.
KẾT QUẢ

Bệnh nhân 31 tuổi tiền sử
khỏe mạnh, có chỉ định nâng mông
bằng implant do thiếu hụt thể tích.
Hai khối anatomic implant 225 mL
polyurethane dạng gel được đặt
ở vị trí dưới cân. Sau phẫu thuật
không ghi nhận biến chứng trong
suốt quá trình hồi phục, vết mổ liền
tốt (Hình 18).

Bệnh nhân 52 tuổi xuất
hiện chùng da vùng mông (mức độ
nặng), mong muốn giải quyết vấn
đề này đồng thời tăng kích thước
vòng ba. Hai khối anatomic implant
thể tích 330mL dạng silicone được
đặt ở dưới cân cơ mông lớn.Hậu
phẫu đánh giá thấy giảm thời gian
hồi phục (Hình 19).

Bệnh nhân 30 tuổi mong
muốn cải thiện hình dáng vòng ba,
mặc dù vòng mông đã tương đối
đầy đặn. Bs sau khi đánh giá đã đưa
ra quyết định hút mỡ eo và làm đầy
mông bằng implant. Hai khối im­
plant microtextured (vi nhám) thể
tích 330 mL được đặt cân đối ở hai
bên. Bệnh nhân sau phẫu thuật
xuất hiện bục một phần vết mổ
(dài khoảng 2cm) ở hai bên nhưng
không sâu và đã điều trị kịp thời
bằng dung dịch sát khuẩn, kháng
sinh tại chỗ và toàn thân. Vết mổ
liền lại tốt (Hình 20).

Cuối cùng, một bệnh nhân
48 tuổi có vùng thắt lưng tương
đối phẳng. Với tiền sử đã từng hút
mỡ và hiện tại đang mong muốn
được làm đầy mông để cải thiện
hình thể phần thắt lưng (một cách
tương đối). Hai khối implant mi­
crotextured thể tích 300 mL được
đặt ở dưới cân. Bệnh nhân được
tiếp tục điều trị bằng liệu pháp siêu
âm (dùng sóng siêu âm) sau phẫu
thuật nhằm giảm phản ứng viêm
tại chỗ. Sau phẫu thuật không ghi
nhận biến chứng (Hình 21).

Chương 8: Nâng mông dưới cân implant
148
Hình. 19. . (A) Hình anh trước và
(B) và sau phẫu thuật làm đầy
mông của bệnh nhân chùng da
vùng mông tương đối nhiều. Bệnh
nhân được đặt khối implant dưới
cân thể tích 330 mL ở hai bên.

Chương 8: Nâng mông dưới cân implant
149
Hình. 20. (A) Hình anh trước và
(B) và sau phẫu thuật làm đầy
mông của bệnh nhân có vùng
mông tương đối đầy đặn. Bệnh
nhân được đặt khối implant
dưới cân thể tích 330 mL ở hai
bên.

Chương 8: Nâng mông dưới cân implant
150
Hình. 21. (A) Hình
anh trước và (B) và
sau phẫu thuật làm
đầy mông của bệnh
nhân có vùng thắt
lưng
tương
đối
phẳng. Bệnh nhân
được đặt khối im­
plant dưới cân thể
tích 330 mL ở hai
bên.

Chương 8: Nâng mông dưới cân implant
151
TỔNG KẾT

Nâng mông bằng implant
dạng silicone tương đối an toàn
và hiệu quả, tỉ lệ biến chứng thấp
hơn cùng với đó là sự hài lòng của
bệnh nhân cũng cao hơn các dạng
implant khác. Mặc dù nâng mông
implant đã được áp dụng trên 30
năm nay, nhưng chỉ đến 10 năm
trở lại đây, nhận thức cũng như nhu
cầu của bệnh nhân về việc cải thiện
hình thể bờ mông mới thực sự
được nâng cao. Các thủ thuật làm
đầy mông/nâng mông đã tăng lên
đột biến (600%) trong 5 năm trở
lại đây. Có thể thấy chỉ định hàng
đầu cho những bệnh nhân muốn
làm đầy là ghép mỡ, những thực tế
thì không mấy ai có chỉ định thực
hiện những thủ thuật đó cả. Vì thế
mà những nhà lâm sàng nghĩ tới
implant. Quá trình ra đời và phát
triển của những kỹ thuật implant
thực sự là một chặng đường dài
vừa thực hành vừa nghiên cứu, vì
ban đầu tỉ lệ bục vết mổ rất cao. Đây
cũng là lý do tại sao kỹ thuật rạch
hai đường, mỗi bên một đường và
cách xa hậu môn lại được ưa dùng
hơn.

Việc sử dụng implant, siz­
ers và tiêu bản có sẵn cùng với kỹ
thuật bóc tách phía bên ngoài bờ
xương cùng đã giúp giảm đáng kể
tỉ lệ biến chứng. Cuối cùng, việc sử
dụng các dụng cụ phẫu thuật đặc
biệt đã giúp công đoạn bóc tách trở
nên dễ dàng hơn, giảm tỉ lệ tử vong
cũng như thời gian phẫu thuật.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. De la Pen˜a JA, Rubio OV, Cano JP,
et al. Subfascial gluteal augmenta­
tion. Clin Plast Surg 2006;33:405–
22.
2. Singh D. Universal allure of
the hourglass figure: an evolu­
tionary theory of female physi­
cal attractiveness. Clin Plast Surg
2006;33:359–70.
3. Cuenca-Guerra R, Lugo-Beltran I.
Beautiful buttocks: characteristics
and surgical techniques. Clin
Plast Surg 2006;33:321–32.
4. Centeno RF, Young VL. Clinical
anatomy in aesthetic gluteal body
contouring surgery. Clin Plast Surg
2006;33:347–58.
5. Mendieta CG. Gluteoplasty. Aes­
thet Surg J 2003;23: 441–55.
6. De la Pen˜a JA, Lo´pez HM, Gam­
boa LF. Augmentation gluteoplas­
ty: anatomical and clinical con­
siderations. Key Issues in Plastic
Cosmetic Surgery 2000;17:1–12.
7. De la Pen˜a JA. Subfascial tech­
nique for gluteal augmentation.
Aesthet Surg J 2004;24:265–73.
8. De la Pen˜a JA, Rubio OV, Cano JP,
et al. History of gluteal augmenta­
tion. Clin Plast Surg 2006;33:307–
19.
9. Tardif M, De la Pen˜a JA. Gluteal
augmentation. In: Aston SJ, Stein­
brech DS, Walden JL, editors. Aes­
thetic plastic surgery. Saunders El­
sevier; 2009. p. 837–44.

Chương 8: Nâng mông dưới cân implant
152
10. Bruner TW, De la Pen˜a JA,
Mendieta CG, et al. Gluteal aug­
mentation. In: Neligan PC, editor.
Plastic surgery. 3rd edition. Saun­
ders Elsevier; 2012. p. 599–615.
11. Bruner TW, Roberts TL III,
Nguyen K. Complications of but­
tocks
augmentation:
diagnosis,
management, and prevention. Clin
Plast Surg 2006;33:449–66.
12. Mofid MM, Gonzalez R, De la
Pen˜a JA, et al. Buttock augmen­
tation with silicone implants:
a multicenter survey review of
2226 patients. Plast Reconstr Surg
2013;131:897–901.
13. Roberts TL III, Weinfeld AB,
Bruner TW, et al. “Universal” and
ethnic ideals of beautiful buttocks
are best obtained by autologous
micro fat grafting and liposuction.
Clin Plast Surg 2006;33:371–94.

Chương 9: Tạo hình bờ mông theo quan điểm hiện đại: lipofiller hệ thống
153
Tạo hình bờ mông theo quan điểm hiện
đại: lipofiller hệ thống
9
Lázaro Cárdenas-Camarena, MDa,b,c,d,*
Héctor Durán, MDa,b,c,d
TỪ KHÓA
• Ghép mỡ • Ghép mỡ mông • Nâng mông kiểu Brazil • Làm đầy mông •
Kỹ thuật
ĐIỂM QUAN TRỌNG
•
Đánh giá khách quan tình trạng bệnh nhân và xác định đúng khu
vực cần điều trị là chìa khóa để có thể đạ được kết quả tốt.
•
Báo cáo này mô tả các bước và kỹ thuật cho phép chúng tôi hút mỡ
và xử lý chúng đúng cách, giúp hạn chế tình trạng ô nhiễm mô ghép. Đồng
thời báo cáo kỹ thuật filler mỡ vào các khu vực cần thiết.
•
Xác định và lập kế hoạch cho những điểm thiết yếu trong quá trình
điều trị là chìa khóa đề đạt được kết quả mỹ mãn.
•
Một vòng mông đẹp không chỉ đơn thuần là thể tích của chúng lớn
mà còn bởi sự cân đối của chúng với các cấu trúc xung quanh.
GIỚI THIỆU

Để có được đường bờ mông
như mong muốn, ghép mỡ hoặc
tăng thể tích đơn thuần là không
đủ. Những tiến bộ về nghiên cứu
hình thái học, tâm lý học và giải
phẫu đã cho thấy việc tạo hình bờ
mông phức tạp hơn thế nhiều. Để
đạt được kết quả tốt đòi hỏi những
hiểu biết sâu về giải phẫu, về mối
tương quan giữa vùng mông và các
vùng liên quan. Hình dạng mông
thực sự quan trọng hơn kích thước
của chúng. Hình dạng này phụ
thuộc vào mối quan hệ giữa eo,
hông và chân. Tuy nhiên, ngày
nay bệnh nhân tới với chúng ta và
thường chỉ yêu cầu tăng kích thước
thay vì các thủ thuật khác, và chúng
ta nhận ra rằng sau khi đã nâng
mông, các khiếm khuyết vốn có lại
lộ ra rõ ràng hơn. Từ đó, các Bs nên
suy nghĩ nghiêm túc tới việc tạo
hình bờ mông thay vì chỉ biết tăng
kích thước vòng. Cũng như đối với
ngực, thể tích thích hợp với hình
dáng đẹp là mục tiêu chính của các
phẫu thuật vùng mông. Chúng ta
nên loại bỏ suy nghĩ chỉ cần tăng

Chương 9: Tạo hình bờ mông theo quan điểm hiện đại: lipofiller hệ thống
154
thể tích là sẽ có một vòng mông đẹp.
Tương tự như vậy, chúng ta không
thể đạt được những yêu cầu về tính
thẩm mỹ vùng nếu không đưa vùng
mông vào mối tương quan với các
thành phần lân cận: vùng thắt lưng,
vùng eo và chân.

Những kiến thức này được
đúc kết từ các nghiên cứu quan
trọng về nâng mông kiểu Brazil.
Đây là thuật ngữ đầu tiên được sử
dụng do phần lớn các nghiên cứu
đều tới từ nước này. Hình dạng
khung mông, ví dụ như tròn “A” hay
vuông “V” là những khái niệm mà
chúng ta cần nắm được để có thể
hiểu cách tạo ra một vòng mông
đẹp.
MỤC TIÊU ĐIỀU TRỊ

Cũng như các cuộc phẫu
thuật khác, lập kế hoạch chi tiết
luôn là điều cốt yếu. Chúng ta phải
biết những gì bệnh nhân cần, mong
đợi để từ đó hiểu con mắt thẩm
mỹ của họ đang hướng tới điều gì.
Từ đó kết hợp với những đánh giá
nhận định của chúng ta để đi đến
một kế hoạch hoàn chỉnh, không
chỉ là về mặt thẩm mỹ mà còn liên
quan đến đặc trưng giải phẫu của
mỗi chủng người, mỗi vùng miền.
Đối với những bệnh nhân gốc Á, da
trắng hoặc những bệnh nhân BMI
< 25 kg/m2 thì có thể tiệm cận tới
hình thể mông tương đối đầy đặn,
có tính thẩm mỹ cao, thể tích mông
tập trung ở vùng trung tâm và tỉ số
eo/hông rơi vào khoảng 0.65-0.7.
Tuy nhiên, ở những người Mỹ Lat
in, Mỹ gốc Phi, chủ yếu BMI > 25 thì
nên đưa tỉ số eo/hông xuống dưới
0.65 vì lúc này vùng mông và hông
sẽ hình thành một khối liên tục, rất
lớn, tròn và dễ thấy ở trên vùng
mông. Tuy nhiên, nhiều người lại
thích vẻ bề ngoài trông ‘thể thao’
hơn và họ không thích vùng mông
ở hai bên hình thành nên một
đường cong (khung mông tròn),
họ muốn có vùng bên vừa đủ, thậm
chí nhiều người còn mong muốn
sau phẫu thuật họ có thể nhìn thấy
những bó cơ căng mạc đùi gồ lên
dưới da. (Hình 1-3)

Chương 9: Tạo hình bờ mông theo quan điểm hiện đại: lipofiller hệ thống
155
Hình. 1. Bệnh nhân nữ 30 tuồi người Mỹ Latin với hình ảnh trước phẫu thuật và
quá trình lên kế hoạch phẫu thuật. (1) Bụng: Có lượng mỡ dồi dào, không có sẹo,
chất lượng da còn tốt. (2) Đối xứng: Nửa thân bên trái đầy đặn hơn bên phải.
Mông trái thì lại dẹt hơn nhưng bè hơn mông phải. (3) Điểm khác thường: Có
một chút bất thường ở góc phần tư dưới (góc 6h). (4) Đường rạch: là các điểm
giao cắt (để hút/tiêm mỡ). (5) Tỉ lệ eo/hông: 0.75. Cần hút bớt 1 phần mỡ ở eo và
tiêm vào những chỗ thiếu hụt ở hông tại các vị trí có đường kẻ ngang song song
với đường ngang đi qua giữa mông: (a) đường ngang ở trên tương đương với
mức xương sườn 12. Cần hút mỡ từ vùng đó hướng về phía đường nách sau. (b)
Khung mông và điểm nhô ra nhiều nhất. Đây là khung vuông, điểm nhô ra nhiều
nhất cần ghép mỡ để cải thiện tỉ lệ eo/hông. (6) Chân và nếp lằn mông: Nếp lằn
mông kéo dài quá đường thẳng đi qua tâm điểm mỗi bên mông, nên cần ghép mỡ
để nâng mông và giảm chiều dài nếp lằn này. (7) Các điểm giải phẫu cần đánh
dấu và độ dày của vạt: Độ dày đủ, nguy cơ xuất hiện các bất thường là thấp. (8)
Vùng chuyển tiếp: Mềm mại.

Chương 9: Tạo hình bờ mông theo quan điểm hiện đại: lipofiller hệ thống
156
Hình. 2. Hình ảnh trong khi phẫu thuật của bệnh nhân nữ 30 tuổi ở tư thế nằm
nghiêng. Các điểm đánh dấu cho thấy phần mỡ thừa cần phải hút (phần ngoài
các đường đen) để đạt được mục tiêu thẩm mỹ.
Hình. 3. Bệnh nhân ở tư thế nằm nghiêng khi đã hút mỡ xong. Chúng ta có thể
thấy vùng eo nhỏ, hông rộng hơn. Tiêm mỡ cũng được thực hiện ở góc phần tư
ngoài bờ mông và phần bên ngoài nếp lằn mông.

Chương 9: Tạo hình bờ mông theo quan điểm hiện đại: lipofiller hệ thống
157
CHUẨN BỊ TRƯỚC PHẪU THUẬT

Tất cả bệnh nhân đều phải
được kiểm tra công thức máu,
thời gian máu đông, máu chảy, PT
trước phẫu thuật. Một số nghiên
cứu có đánh giá cả nồng độ Glucose
và một số xét nghiệm chuyên biệt
khác tùy theo bệnh lý kết hợp nếu
có. Tất cả các chỉ định xét nghiệm
đều phải được thống nhất với bệnh
nhân trước, và Bs cũng đồng thời
yêu cầu họ ngừng hút thuốc, ngừng
sử dụng aspirin và thực phẩm chức
năng trước phẫu thuật khoảng 2-3
tuần. Cũng nên xem xét việc bổ
sung sắt và vit K trước phẫu thuật,
bệnh nhân và gia đình nên được
thông báo về các rủi ro có thể gặp
phải, sau đó ký kết vào bản cam kết
đồng thuận thực hiện phẫu thuật.
Để có thể tạo hình bờ mông tốt, Bs
không những phải quan sát các đặc
điểm giiar phẫu mà còn phải nắm
được mong muốn của bệnh nhân
cũng như khả năng có thể thực hiện
để đưa ra phương án phù hợp. Quá
trình này bao gồm, phân tích lượng
mỡ dưa thừa và quan sát tương
quan vùng mông với các cấu trúc
xung quanh, từ đó đưa ra đường
bờ mông phù hợp. Bằng cách này,
dựa trên phân tích và hệ thống hóa
lại, chúng ta có thể thực hiện một
chuỗi các thủ thuật filler mỡ để đưa
ra kết quả cuối cùng tốt hơn. Nếu
thực hiện hút mỡ và tiêm mỡ một
cách có hệ thống, thì chỉ với những
dụng cụ sẵn có, chúng ta có thể đạt
được những kết quả tốt hơn những
quy trình cổ điển và theo đó,
cải thiện kết quả lâu dài (Hình 4).
ĐÁNH DẤU VÙNG PHẪU THUẬT

Bệnh nhân đứng quay lưng
về phía Bs. Bs đánh dấu đường giữa
cơ thể, và sau đó là hai đường chéo
đi từ nách hai bên đến điểm trên
cùng của nếp liên mông. Đường này
phân định các vùng trong/ngoài, cụ
thể là vùng ngoài là vùng có thể can
thiệp hút/tiêm mỡ. Sau đó, vẽ một
đường ngang nối cả hai khuỷu tay
(ngang sườn 12). Đường này thuộc
vùng eo, cũng là vùng cần hút mỡ
để tạo một đường rộng dần liền
mạch từ trên xuống dưới, chuyền
dạng các khung mông khác sang
khung hình chữ A. Các gai chậu
phía sau cũng cần được đánh dấu,
sau đó kẻ hai đường thẳng song
song đi qua tâm điểm của mỗi bên
mông, kéo dài lên trên cắt đường
ngang qua hông và eo tại các giao
điểm màu đỏ (Hình 1). Cuối cùng,
khoanh hai đường tròn tương ứng
với chu vi mông hai bên, để xác
định sự bất đối xứng hoặc chênh
lệch giữa vòng mông hai bên. Khi
đánh dấu chú ý nên đánh hai vòng,
1 vòng là vòng mông ban đầu, vòng
còn lại là vòng mông nhỏ hơn khi
chúng ta dùng tay ấn vào tâm điểm
của vùng mông đó (đường tròn này
chính là khu vực chúng ta cần làm
đầy bằng tiêm mỡ). Ngoài ra, Bs
cũng cần kiểm tra thêm các vùng
thiếu hụt mỡ cần bổ sung ở bất kỳ
vị trí nào. Nên nhờ rằng vùng nhô
ra ở mông nhiều nhất phải là vị trí
ngang với xương mu.

Chương 9: Tạo hình bờ mông theo quan điểm hiện đại: lipofiller hệ thống
158
Điều quan trọng nữa là phải xác
minh xem nếp lằn mông có dài quá
đường thẳng đi qua giữa mông hay
không. Nếu có thì phải đánh dấu coi
như một vùng sẽ tiêm mỡ để ‘rút
ngắn’ đường đó lại, tăng tính thẩm
mỹ vùng mông. Nếu có sự bất đối
xứng, bất thường hoặc các điểm
đặc biệt khác thì đều phải đánh dấu
lại
.
CHUẨN BỊ BỆNH NHÂN

Trước phẫu thuật bệnh
nhân đứng để đánh dấu các điểm
giải phẫu quan trọng. Sau đó họ
được nằm trên bàn phẫu thuật có
rải một tấm vô trùng trước đó để
có thể thay đổi vị trí của bệnh nhân
nếu muốn. Bs vô cảm có thể gây
mê hoặc tê ngoài cứng, sau đó đặt
sonde Foley. Hãy luôn chú ý nhiệt
độ cơ thể bệnh nhân vì những lo
ngại về vấn đề hạ thân nhiệt trong
quá trình phẫu thuật. Vì là phẫu
thuật can thiệp nhiều vùng cơ thể
nên bệnh nhân buộc phải cởi bỏ
toàn bộ quần áo, trong khi đó các
tấm săng vải không đủ khả năng để
giữ ấm cho họ trong phòng phẫu
thuật, chưa kể chúng rất cồng kềnh
và có thể gây cản trở trong quá
trình làm phẫu thuật. Vì thế nên
làm nóng bệnh nhân trước phẫu
thuật khoảng 1h bằng nước ấm
hoặc truyền dịch đã ủ ấm. Nếu có
thể, sử dụng các đệm nước nóng/
ấm cho bệnh nhân nằm trước phẫu
thuật là liệu pháp rất hữu ích để
tránh hạ thân nhiệt.
PHƯƠNG PHÁP PHẪU THUẬT

Chúng ta bắt đầu hút mỡ
bụng trước để chuẩn bị đủ lượng
mô ghép cho phẫu thuật ghép mỡ.
Thực hiện rạch hai đường, một ở
vùng bẹn và một ở quanh rốn. Cũng
có thể rạch một đường ở dưới nếp
lằn vú để tiếp cận khu vực mỡ ở
vùng bụng trên. Trước khi bắt đầu
hút, áp dụng kỹ thuật làm ướt mô
mỡ, sử dụng hóa chất làm phồng
(tumescent) bản chất là dung dịch
đẳng trương (khoảng 3L) trộn
cùng 3 ống adrenaline (theo công
thức Hunsted) để ‘bóc tách’ lượng
mỡ cần hút. Ở đây chúng tôi không
sử dụng lidocaine vì nó không cần
thiết khi bệnh nhân đã được gây
mê hoặc tê ngoài màng cứng. Quá
trình hút mỡ được thực hiện bằng
các canuyn kích thước 3-4 mm với
bơm hút thể tích 60mL. Độ sâu của
canuyn khi đưa vào khu vực hút
phụ thuộc vào kết quả của test véo
da (xác định độ dày lớp mỡ và mức
độ đồng đều của mô mỡ dưới da
trước và sau hút mỡ). Mô mỡ hút
được trữ trong Một bình kín. Sau
đó, bệnh nhân được chuyển tư thế
nằm nghiêng trái và nghiêng phải
để tiếp tục hút mỡ vùng mông bên,
và nằm sấp để hút mỡ vùng thắt
lưng và vùng mông. Để chuẩn bị mô
ghép, nên gạn lọc và làm sạch thủ
công, Bs nên tỉ mỉ trong khâu này
nhằm loại bỏ toàn bộ phần mô liên
kết hút ra. Sử dụng 300 mg Clinda­
mycin trộn cùng với lượng mỡ đã
chuẩn bị, đưa mỡ vào vùng đã đánh
dấu từ trước, theo nhiều Hướng và

Chương 9: Tạo hình bờ mông theo quan điểm hiện đại: lipofiller hệ thống
159
tại nhiều vị trí khác nhau (mô tả
chi tiết trong bài báo này), nhưng
tuyệt đối tránh đưa canuyn quá sâu
xuống dưới lớp cơ. Thực chất thao
tác tiêm mỡ tương tự như thao tác
thực hiện khi hút mỡ. Sau khi đã
kiểm tra hai bên cân đối, lớp mỡ
dưới da được phân bố đều thì đặt
dẫn lưu chiều dài khoảng 3-5 mm
đặt ngay đầu đường rạch và lưu
trong 5-7 ngày (Hình 5-11).
CHIẾN LƯỢC

Để thực hiện thủ thuật này,
theo kế hoạch đã định, chúng tôi
áp dụng liệu pháp hút mỡ hệ thống
hóa. Có 8 điểm quan trọng trong
hút mỡ hệ thống, cho phép chúng
tôi tính đến tất cả các yếu tố trước,
trong và sau khi phẫu thuật để có
được một kết quả như ý. Chúng tôi
sẽ chụp ảnh bệnh nhân trước khi
lập kế hoạch và đánh giá, sử dụng
chúng trong ngày phẫu thuật, để
phòng tránh các thiếu sót không
đáng có. 8 điểm quan trọng này bao
gồm:

1. Vùng bụng

2. Tính cân đối

3. Những điểm bất thường

4. Đường rạch

5. Tỉ số hông/eo

a. Vùng phía sau ngang vị trí
xương sườn 12 hoặc khuỷu tay

b.Khung mông và điểm nhô
ra nhiều nhất

6.Nếp lằn mông và vùng đùi
sau

7.Mốc giải phẫu quan trọng
và độ dày lớp mỡ

8. Vùng chuyển tiếp
Vùng bụng


Vùng bụng là khu vực quan
trọng vì chúng là nơi có khối lượng
và chất lượng mô mỡ tốt nhất. Nếu
vùng bụng chưa có can thiết gì
trước đó, chúng ta hoàn toàn có thể
yên tâm khu sử dụng mỡ ở vùng
này.
Tính cân đối

Một số nghiên cứu đã chỉ ra
rằng vùng mông là khu vực rất ít
khi đạt được sự cân đối tự nhiên.
Điều quan trọng đối với người Bs
là phải làm sao chỉ ra được điều
này cho bệnh nhân đồng thời lập
kế hoạch để giải quyết sự bất đối
đó. Tình trạng này thường xảy ra
do cong vẹo cột sống hoặc độ dài
chân hai bên không bằng nhau dẫn
tới lệch hông. Trong quá trình kiểm
tra, Bs phẫu thuật có thể quan sát
thấy hai bên gai chậu không cân
xứng và đây là minh chứng cho một
vùng mông không cân. Khung mông
cũng thường không cân. Bằng cách
đo kích thước cơ mông lớn tới nếp
lằn mông ở hai bên, có thể dễ dàng
xác định sự bất đối này. Để đánh giá
một cách toàn diện, nên đo chiều
cao, chiều rộng và hình chiếu của
mỗi bên mông và ghi lại. Những
khác biệt đáng kể cần được lưu ý vì
kể cả có phẫu thuật cũng khó có thể
đạt được sự cân đối hoàn hảo!.

Chương 9: Tạo hình bờ mông theo quan điểm hiện đại: lipofiller hệ thống
160
Hình. 4. Hình ảnh tiền và hậu phẫu của một phụ nữ 28 tuổi, mong muốn giảm
vùng eo và tăng kích thước vòng mông. 3 tháng sau phẫu thuật không ghi nhận
biến chứng bất thường, vùng hông giữ nguyên kích thước. Vì phần lưng trên của
bệnh nhân này không có bất thường đáng kể nên chúng tôi không hút mỡ vùng
đó.
Hình. 5. Bệnh nhân nữ 20 tuổi được thực hiện hút mỡ eo để nâng mông. Vùng
hông cũng được cải thiện phần lớn sau chuyển mỡ, tạo ra hình thể đẹp với đường
chuyển tiếp liên tục.

Chương 9: Tạo hình bờ mông theo quan điểm hiện đại: lipofiller hệ thống
161
Hình. 6. Bệnh nhân nữ 28 tuổi đã mang thai 2 lần mong muốn nâng mông và tạo
hình bờ mông. Chất lượng da của bệnh nhân này tương đối tốt nên chúng tôi đã
thực hiện hút mỡ eo và thêm vào mỗi bên mông 1000 mL mỡ. Sau 3 tháng thấy
được kết quả như hình bên phải, tình trạng bất đối xứng hai bên hông cũng được
giải quyết.
Hình. 7. Một phụ nữ 34 tuổi muốn thực hiện nâng mông và tạo hình bờ mông.
Bs đã thực hiện hút mỡ éo, ghép mỡ mông và bảo tồn phần mỡ ở lưng trên. Sau
phẫu thuật cho kết quả tốt.

Chương 9: Tạo hình bờ mông theo quan điểm hiện đại: lipofiller hệ thống
162
Hình. 8. Bệnh nhân nữ 28 tuổi. Với đường bờ mông đẹp hơn sau khi được ghép
mỡ.
Hình. 9. Bệnh nhân nữ 22 tuổi được thực hiện hút 1250 mL mỡ và ghép vào mỗi
bên mông 300mL mỡ. Phần hông được bảo toàn.

Chương 9: Tạo hình bờ mông theo quan điểm hiện đại: lipofiller hệ thống
163
Hình. 10. Hình ảnh một bệnh nhân 36 tuổi được tiêm 350mL mỡ mỗi bên mông
và 150mL mỡ mỗi bên hông.
Hình. 11. Bệnh nhân nữ 26 tuổi, với tình trạng teo hai bên hông và vùng mông
không cân đối, hình thành nên khung mông chữ V. Sau hút mỡ thu được 3250
mL, tiêm mỗi bên mông 425mL và 275mL bên hông phải, 375mL bên hông trái.

Chương 9: Tạo hình bờ mông theo quan điểm hiện đại: lipofiller hệ thống
164
Những điểm bất thường

Đây là vấn đề nan giải vì
thường bệnh nhân nào cũng có. Ví
dụ như sẹo co kéo sau tiêm bắp và
di chứng sau nhiễm khuẩn tạo ra
những chỗ lồi lõm không thẩm mỹ.
Thông thường, phương pháp để
xử lý những bất thường này là xử
lý vùng da tương ứng (căng da) và
tiêm mỡ làm đầy.
Đường rạch

Lập kế hoạch vẫn luôn là
khâu quan trọng, chúng sẽ bao gồm
cả khâu gây tê tại chỗ và thực hiện
đường rạch để đưa canuyn vào
hút mỡ. Tùy thuộc vào chiều cao
bệnh nhân, có thể phải rạch tương
đối nhiều vị trí nếu canuyn không
tới được các vùng mong muốn.
Các đường rạch thường sử dụng:
đường dọc giữa ở phía trên nếp
liên mông (tiếp cận vùng tam giác
cùng). Hai đường ở phía bên, đúng
vị trí cao nhất của mông mỗi bên
để tiếp cận vùng mông trên. Đường
rạch phía Bên, ngay dưới mào chậu
để tiếp cận các vùng mỡ mặt ngoài
đùi. Đường rạch ngay phía dưới nếp
lằn mông (khuyến cáo không nên
rạch quá ½ giữa) nhằm tiếp cận
tới vùng nhô cao nhất của mông, và
các khu vực chuyển tiếp. Tuy nhiên,
từ đường rạch dưới nếp lằn mông,
tuyệt đối không được đưa canuyn
tiếp cận để tiêm mỡ vào vùng mỡ
sâu ở giữa mông vì rất có khả năng
phần mỡ tiêm vào sẽ bị thoát vào
khu vực cơ và tổ chức dưới cơ –
nơi chứa nhiều mạch máu lớn, làm
tăng nguy cơ huyết tắc mỡ. Như vậy.
đường mổ luôn phải tạo điều kiện
cho canuyn đi lên trên, ra ngoài (đi
nông) trên một mặt phẳng song
song bàn mổ.
Tỉ số eo/hông

Nhà tâm lý học Singh đã
khẳng định rằng mối tương quan
giữa eo và hông quyết định sự hấp
dẫn về mặt thể chất của người phụ
nữ. Vì vậy chúng ta cần có sự quan
tâm đúng mức tới chúng. Dựa trên
đặc điểm của bệnh nhân, mong
muốn của họ và hoàn cảnh thực
tế, các Bs nên đưa ra quyết định
chỉnh sửa vùng mông sao cho phù
hợp, với mục tiêu đạt tỉ lệ eo/hông
khoảng 0.7 (hoặc 0.65 ở những
người muốn có vòng 3 lớn). Do đó,
trong quá trình phẫu thuật, chúng
tôi luôn phải tính toán để kết quả
sau khi mỡ ghép đã được hấp thu
Tôi đa thì tỉ lệ này tiệm cận tới con
số lý tưởng. Nên nhớ vùng mông là
vùng mỡ bị hấp thu nhiều còn vùng
eo thì rất ít vì khung sườn ngay đó
sẽ hạn chế khả năng tái phân bố
cũng như hấp thu mỡ.
Vùng lưng ngang vị trí xương
sườn 12

Khu vực lưng là một trong
những thành phần quan trọng,
quyết định tính thẩm mỹ vùng
mông. Chúng ta thường phải hút
mỡ vùng lưng trên, nhưng vẫn phải

Chương 9: Tạo hình bờ mông theo quan điểm hiện đại: lipofiller hệ thống
165
để vùng eo là vùng có đường kính
nhỏ nhất. Có 3 cách để xác định
vị trí vòng eo. Đầu tiên là tính dọc
theo vị trí xương sườn 12, thứ hai
là đoạn thân mình ngang với khuỷu
tay khi bệnh nhân ở tư thế cúi mặt,
thứ ba là điểm gập người khi bệnh
nhân cúi. Nếu chúng ta muốn tiếp
cận với khu vực này với đường vào
kín đáo, có thể rạch một đường từ
trên nách, ngay vị trí đường nách
sau. Cách khác là có thể rạch trực
tiếp từ vùng lưng sau nhưng trúng
ngay vị trí dây áo ngực, để có thể
giấu chúng đi sau này. Khu vực này
là vùng có lớp mỡ đặc, nên sẽ khó
khăn trong việc hút và thường gây
ra biến chứng chảy máu. Tuy nhiên
chúng vẫn thường được sử dụng
vì lớp da ở đây mỏng nên ít để lại
những bất thường sau hút mỡ.
Chúng ta cũng không được quên
vùng thắt lưng và trên xương cùng.
Đây là khu vực chuyển tiếp giữa
lưng và mông. Có thể can thiệp vào
các khu vực này thông qua đường
rạch qua nếp liên mông. Nên tránh
hút quá nhiều chất béo ở khu vực
này, vì sau đó có nguy cơ để lại
những bất thường không mong
muốn. Chúng ta cũng cần xem xét
khi can thiệp chúng vì nguy cơ chảy
máu và bướu huyết thanh ở đây là
tương đối cao. Sau khi hút nên để
hở không khâu đường rạch và đặt
vào đó một ống dẫn lưu nhỏ.
Liên quan khung mông và hình
chiếu của mông

Khung mông là một trong những
yếu tố quan trọng trong thẩm mỹ
mông. Đường bờ mông, bao gồm
các cơ và cấu trúc xương thành bên
(xương chậu và mấu chuyển lớn)
với lượng mô mỡ phía dưới chúng,
tạo thành một hình khối nhất định
(tròn, vuông, A, V). Các Bs phải
nắm được cách tạo khung mông và
chuyển dạng khung mông để tạo
hình dáng hài hòa và tỉ lệ eo/hông
hợp lý. Nói chung, cách đơn giản
nhất để tạo hình nó là để bệnh nhân
nằm ở tư thế nghiêng. Ở tư thế nằm
sấp/ngửa thì chỉnh hình khung sẽ
khó hơn vì các thành phần khung
mông đều bị thay đổi vị trí/hình
dạng. Filler thường được thực hiện
với đường vào từ điểm cao nhất
vùng mông hoặc từ nếp lằn mông.
Điểm hình chiếu (điểm mông nhô
ra ngoài nhiều nhất) là chìa khóa
thẩm mỹ vùng mông. Bản thân
nó là điểm có ảnh hưởng đến tình
thẩm mỹ của khung mông. Không
giống như việc tạo hình khung
mông (bằng cách hút mỡ), việc tạo
hình điểm hình chiếu chủ yếu bằng
cách tiêm thêm mỡ lên khu vực đó.
Khi tiêm nên để bệnh nhân ở tư thế
nằm nghiêng hoặc sấp để còn đánh
giá được vùng chuyển tiếp.
Nếp lằn mông và vùng đùi sau

Nếp lằn mông là khu vực ít
được chú ý đến, và do đó ít được
sửa chữa cho thỏa đáng. Trong
nhiều năm trở lại đây, người ta cho
rằng khu vực này nên được chú

Chương 9: Tạo hình bờ mông theo quan điểm hiện đại: lipofiller hệ thống
166
trọng nhiều hơn vì họ phát hiện
ra hình chiếu của mông phụ thuộc
một phần vào nó. Nói chung, nếp
lằn mông nên là một đường ngắn,
giới hạn bởi đường thẳng đi qua
giữa mông. Một nếp lằn mông quá
dài sẽ làm ảnh hưởng xấu đến kiến
trúc vùng, tạo thành khung mông
vuông hoặc hình V.

Tuy nhiên việc chỉnh sửa
khu vực này lại là một thách thức
khá lớn, và nói chung, cần phải
tiêm mỡ từ vùng trung tâm mông
ra phía đùi để mông đầy hơn, từ đó
rút ngắn chiều dài nếp lằn này. Ở
những bệnh nhân có mông ở phía
dưới trong kém thon gọn hoặc lồi
lõm, có thể cần phải hút mỡ hoặc
thậm chí cắt bỏ vùng này để tạo
hình nếp lằn mông. Chỉ định duy
nhất để hút mỡ phía dưới mông
là tình trạng bất thường kiểu cuộn
chuối. Khu vực này nên được điều
trị bảo tồn bằng cách hút mỡ lớp
nông để điều chỉnh lại.
Mốc giải phẫu quan trọng và độ
dày lớp mỡ

Độ dày lớp mỡ dưới da
quyết định xem vùng nào phù hợp
để hút mỡ. Vùng xương cùng thông
thường lớp mỡ không được dày
quá 1cm khi làm nghiệm pháp véo
da. Ở khu vực hai bên, nơi da dày
hơn, có thể hút mỡ để duy trì độ
dày lớp mỡ dưới da còn khoảng 1,5
– 2 cm. Hút mỡ quá nhiều ở vùng
này (xuống dưới 1cm) thường để
lại các bất thường hoặc thay đổi
màu da (da trông như vân đá) rất
khó sửa chữa. Khu vực tiêm mỡ
sẽ là khu cần có độ dày lớn nhất,
nhưng vẫn phải giữ được tính cân
đối với các khu vực xung quanh.
Vùng chuyển tiếp

Một vấn đề quan trọng nữa
trong chuyển mỡ mông là nên nắm
được đâu là vị trí cần hút/cần nâng.
Mặc dù có những vùng nên có lớp
mỡ mỏng nhưng có những vùng, ví
dụ như mông, cần lượng mỡ dày để
trông thẩm mỹ hơn. Một ví dụ điển
hình là vùng thắt lưng. Đây là vùng
quan trọng, giao thoa giữa vùng
hông eo và mông trên, nên phải căn
chỉnh sao cho tạo được một vùng
chuyển tiếp liên tục, tiếp nối hai
khu vực một cách mềm mại. Các
Bs nên tính toán để khi lượng mỡ
hấp thu (thường là 50%) hết thì để
lại một vùng chuyển tiếp đẹp, với
tính thẩm mỹ cao. Tuy nhiên một
số trường hợp thì lại yêu cầu một
vùng chuyển tiếp đột ngột giữa eo
và mông trên. Nhưng dù với trường
hợp nào, cũng cần phải xác định
rõ khu vực nào cần vùng chuyển
tiếp mềm mại, khu vực nào có thể
chuyển tiếp đột ngột được để đảm
bảo tính thẩm mỹ. Nói chung, quá
trình chuyển tiếp này được xác
định bới các cấu trúc phía dưới
(chi dưới), nên những vùng cơ vận
động nhiều cần có 1 vùng chuyển
tiếp mềm mại.

Chương 9: Tạo hình bờ mông theo quan điểm hiện đại: lipofiller hệ thống
167
LIPOFILLER HỆ THỐNG

Hệ thống hóa quá trình tiêm
mỡ bắt đầu từ từ dưới lên trên, từ
sâu đến nông. Cách tiếp cận này sẽ
giúp tạo hình mông đồng thời nâng
vùng mông trên lên đáng kể. Chúng
tôi đề xuất thứ tự này khi thực hiện
tiêm chất béo: nếp lằn mông, điểm
hình chiếu và khung mông, vùng
chuyển tiếp, nền mông và các điểm
định dạng hình chiếu.
Nếp lằn mông

Tiêm mỡ vào vùng này
không những giúp có được một
vòng mông rộng hơn khi ngồi mà
còn giúp đẩy mông lên cao hơn một
chút bằng tác động cơ học. Ngoài
ra, điều trị đầy đủ và tiêm đủ lượng
mỡ sẽ giúp nếp lằn mông ngắn hơn
và chếch xuống nhiều hơn, tạo tính
thẩm mỹ vùng.
Điểm nhô cao nhất và khung
mông

Điểm hình chiếu (nhô cao
nhất) là rất quan trọng vì chúng
giúp tạo đường bờ mông. Điều trị
đúng cách sẽ giúp chuyển dạng
khung từ hình chữ V hoặc vuông về
Dạng chữ A. Xác định điểm hình
chiếu dự tính là khâu quan trọng vì
vị trí này có thể bị ảnh hưởng bởi
nhiều yếu tố xung quanh và mục
tiêu thẩm mỹ đã định trước đó. Ví
dụ một người với vùng mông ‘thể
thao’ nên có nhiều mô mỡ hơn ở
vùng mông trên để có một tạo với
vùng chuyển tiếp một đường liên
tục, mềm mại. Đồng thời không
nên chuyển quá nhiều mỡ vào điểm
hình chiếu. Đối với mông người Mỹ
Laitn hoặc Mỹ gốc Phi thì sẽ yêu
cầu nhiều mô mỡ hơn ở vị trí 1/3
giữa mông hoặc mông dưới.
Vùng chuyển tiếp

Vùng chuyển tiếp giữa khu­
ng mông và thể tích mông sẽ giúp
đạt được ngoại hình mượt mà hơn.
Cách tiếp cận này cho phép các khu
vực lưng, eo, hông, mông hợp nhất
lại thành một khối tự nhiên nhất có
thể.
Nền mông

Chất béo cũng cần được đặt
vào các mặt phẳng sâu. Điều quan
trọng là phải tránh đưa vào khu vực
chứa các mạch máu thần kinh quan
trọng, đề phòng biến chứng huyết
tắc mỡ. Trong bước này, chúng ta
có thể định hình chiều rộng cũng
như độ dày của mông, đồng thời
cũng có thể kéo mông dài (lên phía
trên) 1 chút.
Định dạng mông và điểm hình
chiếu

Khu vực tiêm mỡ cuối cùng
là phần nông nhất của mông, với
mục tiêu định dạng và tạo hình
chiếu. Chúng ta phải xác định được
đâu là điểm tốt nhất để đặt điểm
hình chiếu, từ đó tiêm mỡ làm đầy
khu vực này. Vùng này thường

Chương 9: Tạo hình bờ mông theo quan điểm hiện đại: lipofiller hệ thống
168
tương ứng với đoạn 1/3 giữa mông
hoặc ngang với xương mu.
CHĂM SÓC HẬU PHẪU, BIẾN
CHỨNG TIỀM TÀNG VÀ CÁCH XỬ
TRÍ

Sau phẫu thuật, sử dụng các
loại băng ép lên vùng vừa tiêm,
đặc biệt ở vùng xương cùng. Bệnh
nhân được đưa tới phòng hồi sức
và sau đó được đưa về buồng ở
tư thế nằm nghiêng. Bệnh nhân
được cho ra viện vào ngày hôm
sau, sau khi được băng ép và mặc
quần áo bó. Họ sẽ được kê giảm
đau và kháng sinh phổ rộng trong
vòng 5 ngày sau phẫu thuật. Bệnh
nhân được khuyên nên đi lại sớm
để tránh thuyên tắc huyết khối tĩnh
mạch. Cũng cần phải xác nhận rằng
bệnh nhân không bị thiếu dịch thể,
để giảm thiểu tối đa nguy cơ huyết
khối. Họ cũng nên tắm hàng ngày,
sau khi tắm xong nên bôi thuốc sát
trùng vết mổ, sau đó dùng gạc vô
trùng và băng lại, làm vậy liên tục
trong 1 tuần. Đánh giá bệnh nhân
qua thang điểm Caprini để quyết
định xem họ có cần các loại kháng
sinh/sát trùng tại chỗ đặc biệt
nào hay không. Một tuần sau phẫu
thuật, bệnh nhân mới nên mặc các
loại băng nịt. Sở dĩ không đeo băng
nịt ngay từ đầu vì quá trình viêm
phù nề có thể dẫn tới hoại tử vùng
mô ghép. Chúng tôi không khuyến
khích massage trong tháng đầu tiên
sau phẫu thuật. Biến chứng sớm (3
ngày đầu) có thể gặp là chảy máu,
thuyên tắc mỡ hoàn toàn, thủng lá
tạng. Biến chứng muộn (3-21 ngày)
có thể bao gồm chảy máu, huyết
tắc mỡ, thuyên tắc huyết khối tĩnh
mạch, thuyên tắc phổi, nhiễm khu­
ẩn, phù nề, bướu huyết thanh, và
hoại tử mỡ. Di chứng (sau 21 ngày)
là tình trạng bất đối xứng, các điểm
lồi lõm bất thường, mất cảm giác,
bướu huyết thanh và huyết tắc mỡ.
Trong chuỗi nghiên cứu của chúng
tôi, chúng tôi đã thực hiện hơn 1000
ca phẫu thuật, và chúng tôi đã sớm
có biến chứng xảy ra trong 3 ngày
đầu tiên, là 2% số bệnh nhân được
phẫu thuật bị chảy máu. Chúng tôi
có 2 bệnh nhân bị hội chứng thuyên
tắc mỡ, bắt đầu 48 giờ sau khi phẫu
thuật và được giải quyết trong
phòng chăm sóc đặc biệt mà không
có vấn đề gì lớn. Chứng mediate
ngay lập tức xuất hiện từ 3 đến 21
ngày sau phẫu thuật là chảy máu
0,5%, huyết khối tĩnh mạch sâu
0,1%, và huyết thanh 2% ở vùng
hút mỡ thắt lưng. Các thay đổi xảy
ra sau 21 ngày là bất thường (3%),
không đối xứng (2%), hoại tử mỡ
(1%) và huyết thanh (1%).
PHỤC HỒI CHỨC NĂNG

Trong 7 ngày đầu, khuyến
cáo sớm tập vận động tại nhà. Bắt
đầu từ tuần thứ hai, nên thực hiện
phục hồi chức năng bằng siêu âm
trị liệu 3 lần một tuần. Phương
pháp điều trị này được chỉ định
trên các khu vực được hút mỡ và
tránh ở các khu vực ghép mỡ. Nên
hoạt động bình thường trở lại trong

Chương 9: Tạo hình bờ mông theo quan điểm hiện đại: lipofiller hệ thống
169
khoảng từ tuần thứ hai đến thứ ba,
và tập thể dục nhịp điệu được khu­
yến khích bắt đầu từ tuần thứ tư.
KẾT QUẢ

Nói chung, kết quả có thể
thấy được ngay trong vài tuần đầu
tiên sau phẫu thuật. Tuy nhiên,
kết quả cuối cùng phải được đánh
giá sau 3 tháng và là vĩnh viễn nếu
bệnh nhân duy trì thói quen ăn
uống phù hợp.
TỔNG KẾT

Ghép mỡ vùng mông được
thực hiện một cách hệ thống hóa,
tuân theo các quy trình được thiết
kế sẵn để hút và chuyển mỡ sang
các vùng khác, sẽ giúp đạt được kết
quả tốt và hạn chế biến chứng. Cách
tiếp cận này giúp đảm bảo mức độ
hài lòng cao cho cả Bs phẫu thuật
và bệnh nhân.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Toledo LS. Gluteal augmen­
tation with fat grafting the Bra­
zilian
buttock
technique:
30
years’ experience. Clin Plast Surg
2015;42(2):253–61.
2. Mendieta CG. Gluteal reshaping.
Aesthet Surg J 2007;27(6):641–55.
3. Lee EI, Roberts TL, Bruner TW.
Ethnic
considerations
in
but­
tock aesthetics. Semin Plast Surg
2009;23(3):232–43.
4. Morley-Forster PK. Uninten­
tional hypothermia in the oper­
ating room. Can Anaesth Soc J
1986;33(4):515–27.
5. Centeno RF, Young VL. Clinical
anatomy in aesthetic gluteal body
contouring surgery. Clin Plast Surg
2006;33(3):347–58.
6. Wall SH, Lee MR. Separation, as­
piration, and fat equalization. Plast
Reconstr Surg 2016;138(6):1192–
201.
7. Mendieta CG. Gluteoplasty. Aes­
thet Surg J 2003;23(6):441–55.
8. Roberts TL, Weinfeld AB, Brun­
er TW, et al. “Universal” and eth­
nic ideals of beautiful buttocks are
best obtained by autologous micro
fat grafting and liposuction. Clin
Plast Surg 2006;33(3):371–94.
9. Wong WW, Motakef S, Lin Y, et
al. Redefining the ideal buttocks: a
population analysis. Plast Reconstr
Surg 2016;137(6):1739–47.
10. Singh D. Universal allure of
the hourglass figure: an evolu­
tionary theory of female physi­
cal attractiveness. Clin Plast Surg
2006;33(3):359–70.
11. Kirwan L. Three-dimensional
liposculpture of the iliac crest and
lateral thigh. Aesthet Surg J 1997;
17(5):334–6.
12. Hoyos AE, Prendergast PM. High
definition body sculpting. 2014.

642- 54891-8.
13. Singh D, Dixson BJ, Jessop TS,
et al. Cross-cultural consensus for
waist-hip ratio and women’s at­
tractiveness. Evol Hum Behav

Chương 9: Tạo hình bờ mông theo quan điểm hiện đại: lipofiller hệ thống
170
2010;31(3):176–81.
14. Ca´rdenas-Camarena L, Bayter
JE, Aguirre-Serrano H, et al. Deaths
caused by gluteal lipoinjection:
what are we doing wrong? Plast
Reconstr Surg 2015;136(1): 58–
66.
15. Pannucci CJ. Evidence-based
recipes for venous thromboembo­
lism prophylaxis. Plast Reconstr
Surg 2017;139(2):520e–32e.

Chương 10: Nâng mông và tạo hình bờ mông bằng bơm mỡ tự thân: Phần I
171
Nâng mông và tạo hình bờ mông
bằng bơm mỡ tự thân: Phần I
10
Ashkan Ghavami, MDa,b,*, Nathaniel L. Villanueva, MDc
TỪ KHÓA
•
Nâng mông • Ghép mỡ • Tái tạo đường bờ mông • Chuyển mỡ •
Nâng mông cong chữ S
•
Nâng mông kiểu Brazil • Chuyển mỡ vùng mông • Làm đầy mông
ĐIỂM QUAN TRỌNG
•
Lựa chọn bệnh nhân phù hợp, định vị vùng phẫu thuật và lập kế
hoạch là chìa khóa để đạt được kết quả như mong muốn, xét về cả mặt
thẩm mỹ và thể tích.
•
Chuyển mỡ vùng mông phải được thực hiện bằng cách dùng một
lực tiêm vừa đủ, liên tục đồng thời di chuyển kim ở dưới da sao cho lượng
mỡ đầu ra thành một đường thẳng, không tích tụ tại một khu vực
•
Tránh tạo hình quá sát với hình thể lý tưởng/dự tính, vì sau phẫu
thuật thường xuất hiện phản ứng viêm ở khu vực, gây phù nề và chèn ép
mô ghép, dẫn tới hạn chế khả năng tồn tại của chúng.
•
Bệnh nhân nên tránh tạo áp lực tới vùng mông trong vòng 2 tuần
đầu sau phẫu thuật và tránh ngồi quá nhiều trong vòng 4 đến 8 tuần sau
phẫu thuật.
GIỚI THIỆU

Trong khi số lượng các
trường hợp được thực hiện thủ
thuật nâng mông ở Hoa Kỳ có mức
tăng trưởng đều đặn hàng năm thì
nhu cầu năng mông bằng chuyển
mỡ cũng tỏ ra không kém cạnh, đặc
biệt trong những năm trở lại đây.
Có một số lợi ích liên quan tới việc
áp dụng thủ thuật này trong việc
làm đầy mông. Ưu điểm chính là
tạo đường nét chính xác và giúp
định hình lại vùng mông, cải thiện
thẩm mỹ của cả cơ thể do sử dụng
chính lượng mỡ tự thân. Việc làm
này cho phép nâng kích thước
vùng mông và đùi đồng thời giảm
mỡ vùng lân cận. Sự kết hợp này
ưu việt hơn bất kỳ các thủ thuật
đơn lẻ nhằm cải thiện đường nét
cơ thể nào khác như implant hoặc
chuyển vạt làm đầy mông. Việc hút
mỡ nhằm chuẩn bị cho việc cấy
ghép sẽ giúp triệt tiêu lượng mỡ
thừa không mong muốn ở các vùng
khác. Đặc biệt, việc hút mỡ ở vùng

Chương 10: Nâng mông và tạo hình bờ mông bằng bơm mỡ tự thân: Phần I
172
thắt lưng cùng, mạn sườn, đùi và
các vị trí xa hơn là những vùng
thường xuyên xuất hiện mỡ thừa,
vừa giúp chuẩn bị lượng mô cấy
đầy đủ, vừa giúp tái tạo đường nét
cơ thể ở vùng đó. Việc loại bỏ tổ
chức mỡ ở vùng thắt lưng cùng và
thân mình đồng thời bơm mỡ cho
vùng mông tạo ra hình dáng chữ
S tiêu chuẩn của vùng mông (Hình
1). Sự kết hợp giữa hút mỡ và tiêm
mỡ vùng mông cùng lúc cho phép
tạo ra các đường cong lý tưởng đi
theo mốc giải phẫu là cột sống, tạo
tính thẩm mỹ tối ưu cho cơ thể.
Hơn nữa, việc sử dụng các mô tự
thân tránh được các biến chứng
liên quan tới thải ghép, bướu huyết
thanh, co kéo bao xơ, di chuyển mô
cấy, biến chứng liên quan liền vết
thương, chèn ép tổ chức, nhiễm
khuẩn liên quan implant và lộ vật
cấy. Tuy nhiên, quy trình chuyển
mỡ cũng có liên quan đến một số
biến chứng, bao gồm hoại tử mỡ,
nhiễm khuẩn, hình thành khối
áp xe, đường bờ mông không tự
nhiên, tổn thương thần kinh hông
to, huyết tắc mỡ, thuyên tắc huyết
khối, và tử vong. Tuy nhiên bất
chấp những biến chứng này, những
cải tiến trong lựa chọn bệnh nhân,
kỹ thuật phẫu thuật và quản lý chu
phẫu đã dần dần nâng cao được độ
an toàn cũng như cải thiện kết quả
ngắn hạn và dài hạn. Các quy trình
đã phát triển, cải tiến hơn mỗi ngày
để tạo ra kết quả tốt cũng như giúp
các nhà lâm sàng có thể dự đoán
được nguy cơ dẫn tới biến chứng
để từ đó giảm thiểu tối đa chúng.
Theo ý kiến của tác giả, đây là một
phương pháp ưu việt hơn nhiều so
với những thủ thuật nâng mông
khác. Trong bài viết này, các nhà ng­
hiên cứu sẽ mô tả cách để lựa chọn
bệnh nhân, hút mỡ, xử lý và ghép
mỡ sao cho hiệu quả và an toàn,
điều đã được các chuyên gia kiểm
chứng trong hàng thập kỷ qua.
CHUẨN BỊ TRƯỚC PHẪU THUẬT

Bệnh nhân lý tưởng để thực
hiện thủ thuật này phải có đủ lượng
mỡ tự thân dự tính để ghép. Tuy
nhiên, những bênh nhân gầy với
lượng mỡ ít ỏi cũng có thể được
thực hiện nếu khéo léo chuyển mỡ
vào đúng khu vực cần thiết. Tuy
nhiên, hầu hết các bệnh nhân có
tỉ lệ mỡ trong cơ thể thấp thường
không nên áp dụng thủ thuật này,
hoặc nếu muốn cũng có thể đưa họ
vào các liệu trình tăng cân cho tới
khi đạt được lượng mỡ như mong
muốn. Trong quá trình lựa chọn
bệnh nhân, điều quan trọng là phải
xác định mong muốn của họ và thảo
luận kỹ với họ về ưu nhược điểm
của kỹ thuật cũng như những gì có
thể đạt được đối với trường hợp
của họ. Điều này rất quan trọng đối
với sự thành công của quy trình
cũng như sự hài lòng của bệnh
nhân. Bệnh nhân nên đưa ra được
các tiêu chí ưu tiên như nâng vùng
mông trên, làm đầy vùng bên/sau,
làm đầy vùng mấu chuyển hay tạo
dáng vùng mông. Điều này đặc biệt
quan trọng ở những bệnh nhân gầy,

Chương 10: Nâng mông và tạo hình bờ mông bằng bơm mỡ tự thân: Phần I
173
Hình. 1. Nguyên lý tạo hình đường cong chữ S (nét đứt) bằng cách hút mỡ ở khu
vực thừa và bơm vào khu vực thiếu. Hình (A) bên trái cho thấy vùng cần giảm
mỡ cũng như vùng cần thêm (lượng mỡ thực tế bệnh nhân có là phần phía trong,
được ngăn cách với phần ngoài bởi đường nét liền. Hình (B) là khu vực được làm
đầy bởi mỡ, bao gồm tổ chức dưới da nông, sâu và phần cân nông.
những người không có đủ lượng
mỡ để đưa tới tất cả các vùng thiếu
hụt. Điều quan trọng nữa là phải
đánh giá diễn biến của các bệnh
lý đi kèm ở những bệnh nhân này
cũng như các loại thuốc đang sử
dụng. Điều này cho phép Bs phẫu
thuật phân tầng rủi ro một cách phù
hợp, từ đó đưa ra quyết định họ có
phù hợp cho thủ thuật này không.
Những loại thuốc/thực phẩm có
thể làm tăng khả năng xảy ra tai
biến trong phẫu thuật bao gồm dầu
cá, aspirin, NSAIDs,… Bệnh nhân
nên ngừng hút thuốc trước khi
thực hiện phẫu thuật 1 tháng và tốt
nhất là 3 – 6 tháng sau phẫu thuật
vì chúng có thể làm giảm tỉ lệ sống
của các tế bào mỡ (mô ghép). Các
yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng
thuyên tắc huyết khối nên được
đánh giá tỉ mỉ và thảo luận với
bệnh nhân, từ đó đưa ra quyết định
bệnh nhân có cần dùng chống đông
dự phòng trong giai đoạn hậu phẫu
hay không.
MỤC TIÊU ĐIỀU TRỊ
Kế hoạch phẫu thuật


Một khi mục tiêu đã được
xác định, việc thực hiện có thành
công hay không được quyết định
bởi khả năng tạo hình của người
bác sĩ thay vì việc chỉ quan tâm tới

Chương 10: Nâng mông và tạo hình bờ mông bằng bơm mỡ tự thân: Phần I
174
lượng mỡ được tiêm vào. Sử dụng
hệ thống phân loại mông của
Mendieta có thể giúp xác định mục
tiêu cần đạt tới. Có 4 hình dạng
khung là A, V, H (vuông) và tròn.
Xác định loại khung của bệnh nhân
và đánh giá khả năng chuyển dạng
(từ V thành H chẳng hạn) sẽ quyết
định sự thành công của phẫu thuật.
Chúng ta cũng nên tránh chuyển
mỡ quá nhiều tới vùng giữa và khu
vực dưới bên vì đây là những khu
vực nguy hiểm, là mồ chôn của mô
mỡ theo các số liệu thống kê được.
Nói chung, cần thảo luận với bệnh
nhân về việc nên ưu tiên đường bờ
mông hay ưu tiên làm đầy mông để
có phương án xử trí phù hợp. Một số
bệnh nhân muốn có một dạng khu­
ng trông giống các vận động viên
(hai phía bên không đầy đặn) và do
đó tỉ lệ eo/hông > 0.7. Những bệnh
nhân khác có thể mong muốn hình
dáng “đồng hồ cát” hoặc đường
cong chữ S với phần bên đầy đặn
hơn và như vậy tỉ lệ eo/hông < 0.7.
Đánh dấu vùng phẫu thuật

Bệnh nhân sẽ được đánh
dấu vùng phẫu thuật trong tư thế
đứng. Các khu vực cần hút mỡ phải
được xác định và đánh dấu dựa
trên sự thay đổi hình dáng mông
sau khi hút mỡ. Ví dụ, hút mỡ vùng
mạng sườn chắc chắn làm cho khu
vực mông trông lớn hơn, một cách
tương đối. Vậy đây được coi là khu
vực nên được ưu tiên số một trong
khi chọn vùng hút mỡ. Các khu vực
hút mỡ nhưng cần giải phóng dây
chăng và lượng mỡ tối đa cho phép
hút ở mỗi vùng cũng cần phải xác
định và phân loại rõ trước khi thực
hiện. Khi đánh dấu các mốc giải
phẫu phải chú ý đến một số yếu
tố, bao gồm tình trạng chùng da,
sự phân bố chất béo và cơ, cũng
như cấu trúc xương. Việc xác định
và đánh giá hình thể khu vực mấu
chuyển lớn để xem có cần chuyển
mỡ hay không là một trong những
điều quan trọng trong khâu đánh
giá trước mổ vì khu vực này quyết
định hình dáng đường bờ hai bên
của mông cũng như tỉ số eo/hông.
Cũng như tất cả các thủ thuật thẩm
mỹ khác, việc xác định hình thể của
xương, phân bố cơ/mỡ quyết định
xem đâu là vùng ưu tiên cho việc
hút mỡ. Mào chậu cũng cần được
xác định một cách tỉ mỉ vì chúng là
vùng vừa là vùng chuyển tiếp giữa
bụng và mông, cũng là điểm giới
hạn dưới cho các vị trí có thể hút
mỡ, đồng thời chúng cũng là giới
hạn trên của vùng mông. Ở phía
bên ngoài, chiều cao, rộng, khoảng
cách từ xương sườn dưới cùng tới
mào chậu và hình dáng của chúng
quyết định hình dạng của eo (Hình
2). Các vùng lõm trên rải rác trên
khu vực mông cũng cần được xem
xét kỹ để quyết định chiến lược
điều trị cụ thể (làm đầy toàn bộ/
chọn lọc).
TƯ THẾ BỆNH NHÂN

Bệnh nhân nằm lên một tấm
phủ ở tư thế nằm ngửa. Đặt thông

Chương 10: Nâng mông và tạo hình bờ mông bằng bơm mỡ tự thân: Phần I
175
tiểu (bắt buộc vì cần đánh giá kết
quả hồi sức dịch trong một số
trường hợp cần bù dịch). Sau đó
chuyển bệnh nhân về tư thế nằm
sấp, đặt các tấm đệm trên điểm tì
đè và bắt đầu thủ thuật (thường
được áp dụng trên lâm sàng). Nếu
ban đầu bệnh nhân đã nằm sấp, nên
tiêm tê sớm để chúng phát huy tác
dụng đúng thời điểm chuyển mỡ.
Bệnh nhân cũng có thể nằm ở tư
thế nghiêng, tuy nhiên tác giả cho
rằng đây không phải là một tư thế
tốt do không thể đánh giá tính cân
đối hai bên mông trong tư thế này
được, và đồng thời tỉ lệ xuất hiện
đường bờ mông bất thường sau
phẫu thuật hoặc biến dạng không
muốn là cao. Cách tiếp cận này còn
cần nhiều nghiên cứu để đánh giá
tính hiệu quả.
TIẾP CẬN PHƯƠNG PHÁP PHẪU
THUẬT
Hút mỡ

Công đoạn hút mỡ trong
kỹ thuật này được thực hiện theo
đúng chuẩn liệu pháp hút mỡ đơn
thuần, tuy nhiên có thể thay đổi
một chút tùy theo kinh nghiệm
mỗi Bs. Bệnh nhân cũng nên được
sử dụng một liều kháng sinh trước
phẫu thuật theo khueyens cáo của
Dự án nâng cao hiệu quả chăm sóc
sau phẫu thuật. Các Bs thường hút
mỡ bằng máy rung tần số cao, sử
dụng các canuyn Mercedes đầu loe
kích thước 4-5mm. Đường kính
canuyn lớn hơn sẽ giúp giảm thiểu
tổn thương các tiểu thùy mỡ. Chỉ
sử dụng những canuyn nhỏ khi
bệnh nhân gầy, cần đưa đầu canuyn
tiếp cận chính xác với vùng mỡ dư
thừa (vì quá ít). Máy rung để hút
mỡ đôi khi được sử dụng như một
hệ thống bắn phá các mô liên kết
nông và sâu để tạo thuận cho việc
thực hiện hút mỡ. Nên đào hầm
trước khi hút (đưa canuyn vào sâu,
vừa hút vừa rút canuyn ra) để quá
trình hút được hiệu quả, đồng thời
lượng mỡ còn lại cũng được phân
bố đều. Nên rạch nhiều đường và
đưa canuyn hút khắp các vị trí từ
nông đến sâu để có thể giúp duy trì
đường bờ viền cân đối sau khi hút
mỡ (tất cả các vùng đều được hút).
Trong quá trình hút mỡ, những
vùng trọng điểm cần đặt máy hút là
thắt lưng, sau xương cùng và mạng
sườn hai bên. Hút mỡ ở các khu
vực này cho phép cải thiện ngoại
hình toàn diện, đặc biệt là vùng sau
xương cùng vì việc hút mỡ ở đây
làm tăng độ cong chữ S phần thắt
lưng và phần mông trên, từ đó cải
thiện đường nét cơ thể. Tuy nhiên,
hút mỡ quá nhiều ở khu vực này có
thể phá hủy hệ bạch huyết, tương
tự như vùng trước xương mu, dẫn
tới biến chứng bướu huyết thanh.
Bướu huyết thanh trong khu vực
này có thể được điều trị ngay tại
các phòng khám nếu cần.
Chuẩn bị mô ghép

Chuẩn bị mô ghép là khâu
quan trọng, quyết định khả năng
sống sót của mô ghép. Phương

Chương 10: Nâng mông và tạo hình bờ mông bằng bơm mỡ tự thân: Phần I
176
pháp thường được áp dụng là rút
thành phần nước trong các mô mỡ
sau khi đã gạn lọc chúng. Sau đó,
mỡ được lọc qua một bộ lọc đặc
biệt giúp rút bớt nước một cách tối
ưu. Sản phẩm cuối cùng là các tiểu
thùy mỡ với mật độ cao. Các vùng
cần ghép mỡ cần được xử lý trước
nếu như có sẹo co kéo, da chùng…
Tiếp đó, đưa mỡ vào ống Toomey
thể tích 60 mL. Lượng mỡ này được
trộn chung với 300 mg dung dịch
kháng sinh clindamycin (/một mẻ
lọc). Các phần hở của hệ thống máy
lọc mỡ nên được bọc lại bằng các
tấm khăn vô trùng. Mặc dù một số
tác giả thích sử dụng các hệ thống
lọc khép kín, tuy nhiên không có
nghiên cứu nào chứng minh chúng
làm giảm tỉ lệ nhiễm khuẩn cả.
Trong hơn 1000 ca ghép mỡ mông
bằng kỹ thuật đơn giản được mô
tả ngay dưới đây, tác giả chỉ ghi
nhận 4 trường hợp nhiễm trùng và
2 trong số đó phải sử dụng kháng
sinh đường tĩnh mạch thôi. Hơn
nữa, 1 trong số đó lại nhiễm khuẩn
vùng đùi thay vì vùng ghép mỡ. Cả
4 trường hợp trên đều được điều
trị bằng kháng sinh và chích rạch
đặt dẫn lưu, bảo tồn được toàn bộ
mô ghép cũng như không cần sửa
chữa lại sau nhiễm khuẩn.
Tiêm mỡ

Ghép/tiêm mỡ là khâu quan
trọng nhất trong toàn bộ quá trình.
Tỷ lệ sống của mô ghép phụ thuộc
vào quá trình hút và ghép mỡ; đặc
biệt, các tồn thương mô mỡ do cắt,
thiểu dưỡng hoặc hoại tử trung
tâm do tiêm quá nhiều vào 1 khu
vực đều là những điều cần tránh
khi thực hiện thủ thuật ghép mỡ.
Chất béo cần được bao quanh bởi
các tổ chức sống, tưới máu tốt và
nếu tiếp xúc với các tế bào mỡ sẵn
có là tốt nhất. Tuyệt đối nên tránh
việc tiêm lượng mỡ lớn tại 1 khu
vực vì chúng có thể bị nang hóa
hoặc hoại tử trung tâm, kéo theo
phản ứng viêm gây tổn thương các
mô mỡ lành (Hình 3). Một canuyn
kích thước 3.7 mm được sử dụng
để tiêm mỡ ngược dòng. Khi thực
hiện tiêm, động tác đưa vào và rút
canuyn ra phải dứt khoát, nhanh, và
tạo thành 1 chuyển động dạng hình
quạt để giúp phân bố đều lượng mỡ
ghép và ngăn ngừa các bất thường
về đường bờ mông. Mỗi lần đưa
canuyn vào tiêm không quá 10mL.
Mặt phẳng tiêm phải được thay đổi
liên tục và lúc nào tiêm cũng phải
cảm nhận sức đề kháng của mô tại
đầu canuyn để tránh tiêm nhầm vị
trí. Cách làm này tương tự như khi
hút mỡ, để đảm bảo lượng mỡ được
phân bố đồng đều. Các mặt phẳng
được phép tiêm mỡ là bề mặt cơ,
lớp cân cơ, lớp mô dưới da sâu và
nông. Do đó, các đường đưa canuyn
vào chỉ được giới hạn ở các lớp này,
để tránh làm tổn thương mạch máu
thần kinh, đặc biệt là dây thần kinh
hông to. Sự an toàn của công đoạn
này phụ thuộc vào việc tiêm mỡ
vào đúng các mặt phẳng cho phép,
vì thế đòi hỏi người Bs phải nắm
chắc giải phẫu vùng cũng như một
chút kiến thức toán học về các góc

Chương 10: Nâng mông và tạo hình bờ mông bằng bơm mỡ tự thân: Phần I
177
đưa canuyn sao cho phù hợp (Hình
4, Video 1). Nắm chắc giải phẫu là
một điều rất quan trọng để đánh
giá các mặt phẳng ghép mỡ, tránh
được các cấu trúc mạch máu thần
kinh quan trọng. Ngoài ra, cần nắm
được vị trí các cân mạc và dây chằng
cũng như ảnh hưởng của chúng tới
việc tiêm mỡ. Ví dụ, các dây chằng
quanh xương cùng và xương ngồi
là những nhóm dây chằng mà ống
canuyn thường tiếp xúc mỗi khi
tiêm mỡ. Khi canuyn đi qua các cấu
Hình. 2. (A) Hình minh họa cấu trúc xương chậu dài/cao nhưng không đủ rộng,
đồng thời khoảng cách từ xương chậu tới khung sườn sẽ ngắn lại. Đây là hình
thái phức tạp nhất, bệnh nhân phải được thực hiện hút mỡ trước ở vùng eo,
mạng sườn sau đó chuyển mỡ để nâng mông phần giữa ngoài thì mới có thể đặt
được hình thể eo/hông “đồng hồ cát”. (B) Hình thái thuận lợi nhất trong chuyển
mỡ, chiều cao của khung chậu tương đối cùng với khoảng cách từ khung chậu
đến khung sườn dài, đồng thời độ rộng của khung chậu cũng vừa đủ.
Long iliac bone: Xương chậu dài
Short distance: Khoảng cách ngắn
Long distance: Khoảng cách dài
Short iliac bone: Xương chậu ngắn
trúc này, chúng có xu hướng bị xoắn
vặn làm cho đầu canuyn dễ đi vào
các cấu trúc sâu hơn, tăng nguy cơ
tiếp cận với tổ chức mạch máu thần
kinh, dẫn tới những biến chứng
nguy hiểm như liệt hoặc huyết tắc
mỡ. Để tránh tình trạng này, Bs
phẫu thuật nên giữ ống canuyn ở vị
trí giữa các lớp cân mạc, dây chằng
và luôn cảm nhận lực đẩy ở tay để
chắc chắn rằng canuyn không đâm
tới lớp mô liên kết (mật độ cứng
chắc). Việc giải phòng các tổ chức

Chương 10: Nâng mông và tạo hình bờ mông bằng bơm mỡ tự thân: Phần I
178
Hình. 3. Hoại tử mỡ vô khuẩn do lượng mỡ ghép quá lớn tập trung tại một khu
vực.
liên kết này sẽ tạo thuận cho việc
di chuyển của canuyn trong tổ chức
ghép, đồng thời hạn chế biến chứng
huyết tắc mỡ.

Mỡ sau quá trình gạn lọc và
rút nước phải đạt tiêu chuẩn không
còn quá nhiều nước tồn dư cũng
như các tổ chức mô liên kết xơ sợi
khác. Sự tồn tại các mô dư thừa này
làm việc đánh giá sau phẫu thuật
trở nên khó khăn vì ngay sau đó
một thời gian các mô dư này sẽ bị
hấp thu hết và để lại vùng mông
nhỏ hơn mong muốn. Lý tưởng
nhất là trong quá trình tiêm mỡ,
phải luôn cảm nhận được lực ở tay
khi đẩy pittong. Khi đẩy thấy sức
cản bị thay đổi thì nên dừng lại vì
nguy cơ tích tụ một lượng mỡ lớn
ở 1 khu vực, dẫn tới các biến chứng
như nang mỡ hoặc hoại tử mỡ,
như đã đề cập ở những bài trước.
Không nên chỉnh sửa quá mức
trong quá trình tạo hình mông vì
tiêm quá nhiều có thể gây chèn ép,
thiểu dưỡng mô ghép dẫn tới hoại
tử hoặc nang hóa. Ghép mỡ quá
nhiều nước sẽ ảnh hưởng xấu tới
kết quả do lượng mỡ tiêm không
cân xứng với lượng mỡ tính toán.
Nói cách khác, có thể sau phẫu thuật
bệnh nhân thấy hài lòng, nhưng khi
tình trạng phù nề thuyên giảm và
nước được hấp thu hết thì trông
vùng mông sẽ nhỏ đi hơn trước
nhiều. Tỉ lệ chất béo thực tế trong
lượng dịch thu được chỉ vào 30-
50%. Ví dụ, nếu hút được 3L mỡ
thì trong đó tối đa là có 1.5L mỡ có
thể sử dụng để ghép được. Thực ra
tỉ lệ này còn phụ thuộc vào mật độ
mỡ tại các khu vực hút. Tuy nhiên,
điều quan trọng là phải nhận ra
rằng chu vi vòng ba không phải là
đích đến cho một vòng mông đẹp,
tuy nhiên việc tính toán chuẩn xác
sẽ hạn chế được những biến chứng
không đáng có. Đối với các bệnh
nhân đã từng chuyển mỡ rồi thì ở
các lần phẫu thuật sau chỉ cần tiêm
một lượng mỡ nhỏ để tạo hình bờ
mông, nên việc tiêm nhiều hay ít

Chương 10: Nâng mông và tạo hình bờ mông bằng bơm mỡ tự thân: Phần I
179
lúc này sẽ cần cân nhắc kỹ. Còn đối
với những bệnh nhân giảm cân
lượng lớn, cần thể tích mỡ lớn để
điều chỉnh nhưng bản chất họ lại
không có quá nhiều mỡ tự thân để
ghép, nên lúc này cần chỉnh sửa
vùng da chùng, nhão trước khi tìm
chỗ hút mỡ. Các vùng da lõm tồn
tại trước đó có thể được giải phóng
bề mặt bằng cách bóc tách các tổ
chức liên kết, các lớp cân mạc bám
dính dưới da vùng đó bằng các
dụng cụ chuyên dụng (có thể chính
bằng máy rung hút mỡ). Ở đây tác
giả chính thường dùng chính máy
rung hút mỡ để giải phóng các dây
chằng, cân mạc bám dính dưới
điểm lõm. Tuy nhiên, phải cẩn thận
để tránh giải phóng quá nhiều, làm
da vùng đó bị chùng, thậm chí bị rò
rỉ tổ chức mỡ qua các vùng này do
tổn thương da hoặc lớp da được
giải phóng quá mỏng. Nên vừa tiêm
vừa xoa bóp vùng ghép mỡ để dùng
lực cơ học phân bố lượng mỡ vừa
tiêm cho đồng đều.

Các đường rạch được đóng
lại theo từng lớp để đảm bảo vô
trùng và giúp định hình lại vùng
mỡ ghép. Vùng mông và thắt lưng
phải được đóng kín. Đồng thời
cũng không nên sử dụng các loại
dẫn lưu hở. Sau phẫu thuật nên
băng ép các vùng đã hút mỡ trước
đó để tránh bướu huyết thanh và
đảm bảo sự bám dính tốt của da và
tổ chức dưới da lên các vùng khu­
ng cố định (xương) tương ứng. Sử
dụng 1 hoặc 2 tấm đệm Topifoam
nhiều lớp (Mentor, Irvine, CA, USA)
đặt trên khu vực trung tâm thắt
lưng (trên xương cùng) để tăng độ
cong của thắt lưng ra trước. Ngoài
ra cũng có thể đặt chúng ở những
vùng hút mỡ và đeo băng ép. Quần
áo nên mặc rộng rãi thoải mái, ít
nhất là 6-8 tuần sau thủ thuật.

Chương 10: Nâng mông và tạo hình bờ mông bằng bơm mỡ tự thân: Phần I
180
Hình. 4. (A) Các vị trí đặt kim với góc tới và độ sâu không chính xác, đi qua giới
hạn là các tổ chức xơ sợi ngăn cách tổ chức dưới da và cơ, cơ và mạch máu thần
kinh dưới cơ. Khuyến cáo không đưa kim đi quá các lớp cân này (đưa kim qua sẽ
có cảm giác tay) và nên thay đổi góc tiêm liên tục để tránh phạm vào các tổ chức
mạch máu cũng như thần kinh. (B) Bệnh nhân nằm sấp với một cái gối đệm phía
dưới giúp quá trình ghép mỡ được thuận lợi và dễ dàng hơn, hạn chế các thương
tổn mạch máu thần kinh. (C) Các tổ chức mô liên kết phải được giải phóng trước
khi đưa canuyn vào để tránh việc đầu canuyn bị xoắn vặn và bị đẩy vào lớp sâu
hơn chứa tổ chức mạch máu thần kinh quan trọng.

Chương 10: Nâng mông và tạo hình bờ mông bằng bơm mỡ tự thân: Phần I
181
BIẾN CHỨNG VÀ QUẢN LÝ BIẾN
CHỨNG
Không cân đối

Mặc dù bệnh nhân thường
không hay phàn nàn về tình trạng
mất cân đối sau các thủ thuật, tuy
nhiên đây được coi như thước đo
đánh giá sự tinh tế của một nhà lâm
sàng. Trước phẫu thuật, điều quan
trọng là phải xác định và thảo luận
với bệnh nhân về những vị trí mất
cân đối này, đồng thời giải thích kỹ
cho họ về những vùng có thể can
thiệp được (gọi là mục tiêu ‘mềm’)
và những vùng không thể, để sau
phẫu thuật bệnh nhân vẫn có thể
hài lòng với kết quả của mình. Đặc
biệt nếu có mất đối xứng vùng hông
và lệch khung chậu thì nên thông
báo với bệnh nhân trước, vì đây
là những vùng quan trọng nhưng
khó can thiệp. Thông thường kích
thước khung chậu và hình dáng
hai bên sẽ có đôi chút khác biệt, sẽ
hình thành nên tư thế và dáng đi
của bệnh nhân không cân đối, từ đó
ảnh hưởng đến thể tích vùng mông
hai bên. Mặc dù phẫu thuật được
thực hiện theo đúng quy trình, khả
năng gặp phải tình trạng mất cân
đối rất cao sau phẫu thuật. Nên để
đánh giá khách quan cần khoảng
thời gian 3-6 tháng vì đây mới
là khoảng thời gian cần để hoàn
thiện quá trình tái phân bố mỡ. Tuy
nhiên nếu mất cân đối quá mức có
thể tiến hành phẫu thuật ghép mỡ
ngay sau đó để phục hình lại vùng
mông. Tuy nhiên bệnh nhân hầu
như vẫn cần các phẫu thuật chỉnh
sửa bổ sung hoặc tăng thể tích
mông sau lần đầu tiên, thế nên tốt
nhất là chờ tới lúc đó để chỉnh hình
lại luôn. Tái ghép mỡ có thể thực
hiện sau lần đầu khoảng 9-12 tháng
(nếu còn mô mỡ dư) và bệnh nhân
có thể cần chỉnh chế độ ăn để tăng
cân nhằm duy trì lượng mỡ sẵn có.
Đường nét không tự nhiên

Quản lý các bất thường về
đường bờ mông cũng tương tự như
với tình trạng bất đối xứng. Việc
giải thích cặn kẽ và phòng ngừa cẩn
thận luôn là cách tiếp cận hiệu quả
nhất để tránh những bất thường
về đường nét cơ thể. Cũng như với
tình trạng mất cân đối, điều quan
trọng là phải lưu ý các bất thường
đã tồn tại trước đó và thảo luận chi
tiết với bệnh nhân để lên kế hoạch
chỉnh sửa. Một trong những thử
thách khó khăn nhất trong nâng
mông và ghép mỡ là việc Làm sao
để giải quyết được các điểm lồi lõm
bất thường trên khắp vùng mông.
Ta có thể thấy vùng da bên ngoài
thường rất khó chỉnh sửa, tương tự
vậy với vùng cực dưới mông và khu
vực dải chậu chày đều là những
vùng ‘khó nhằn’. Chỉ có phẫu thuật
tỉ mỉ và khả năng tiên lượng của Bs
mới là cách tốt nhất để phòng trừ
biến chứng.

Nếu gặp phải biến chứng
này, nên theo dõi sát và đánh giá
kết quả sau 3-6 tháng. Nếu sau đó
kết luận là ghép thừa mỡ thì có thể
sử dụng steroid để tiêm vào vùng

Chương 10: Nâng mông và tạo hình bờ mông bằng bơm mỡ tự thân: Phần I
182
dư thừa đó hoặc hút mỡ ra. Nếu
ghép thiếu mỡ thì nên tiêm bổ
sung, còn gặp sẹo co kéo sau phẫu
thuật thì nên cắt bỏ sẹo và ghép mỡ
bổ sung.
Hoại tử mỡ và u mỡ

Có thể tránh đươc tình trạng
hoại tử mỡ và u mỡ bằng cách tiêm
từ từ và đánh giá chính xác vùng
mông cần cải thiện thể tích. Các mô
ghép cần được bao bọc bởi các tổ
chức sống, được tưới máu tốt cho
phép đưa oxy và chất dinh dưỡng
đến các tế bào mỡ. Khi tiêm quá
nhiều mỡ trong 1 lần phẫu thuật,
nguy cơ cao là lượng chất béo đó sẽ
bị tích tụ và vón cục, dẫn tới phần
mỡ trung tâm mô ghép sẽ không
được tưới máu đầy đủ. Khi thiếu
máu nuôi, mô mỡ có thể bị chuyển
hóa thành các nang lớn chứa mỡ
hoặc bị hoại tử. Nếu tình trạng này
xảy ra với quy mô nhỏ và không có
dấu hiệu lâm sàng rõ ràng thì có
thể bỏ qua. Tuy nhiên nếu chúng
chuyển thành các nang quá lớn
hoặc tệ hơn là làm ảnh hưởng tới
hình thể ngoài vùng mông thì phải
điều trị ngay lập tức. Tình trạng
nang hóa hoặc hoại tử mỡ toàn
bộ hiếm khi xảy ra nhưng nếu có,
buộc phải điều trị lại bằng các kỹ
thuật nâng mông, đặc biệt là vùng
mông trên để tránh tình trạng xệ và
sau đó một thời gian có thể đến để
chuyển mỡ lại, nhằm làm đầy các
vùng còn thiếu.

Quản lý và điều trị các
nang/u mỡ phụ thuộc vào kích
thước của chúng. Các nang nhỏ chỉ
cần siêu âm rồi chọc hút, hoặc chọc
dẫn lưu nhưng cũng có thể chích
rạch sau đó đặt dẫn lưu. Các nang
lớn thì siêu âm, chọc hút hoặc đặt
dẫn lưu. Tác giả của nghiên cứu đã
từng chứng kiến một trường hợp
vách hóa nang và bên trong, dịch
bị xà phòng hóa phần lớn. Trường
hợp này sau khi chích rạch loại bỏ,
cần khâu đóng kín khoang đó lại.
Cũng như các nang, các khối mỡ
hoại tử phải được xử lý tùy theo
kích thước. Các vùng hoại tử mỡ
nhỏ, đường kính dưới 2 cm, có thể
tự tiêu biến theo thời gian nhưng
cần phải theo dõi sát. Những vùng
hoại tử mỡ lớn có thể cần phẫu
thuật cắt bỏ.
Nhiễm khuẩn

Kháng sinh tĩnh mạch tiền
phẫu và uống sau phẫu thuật và hòa
trộn mỡ với kháng sinh là những
điều cơ bản để giảm thiểu tối đa
nguy cơ nhiễm trùng. Bệnh nhân
sẽ được hướng dẫn vệ sinh vùng
mổ bằng dung dịch chloehexidine
trước phẫu thuật và yêu cầu giữ vệ
sinh tốt sau phẫu thuật bằng cách
tra thuốc mỡ kháng sinh lên vết mổ
thường xuyên, đặc biệt sau khi tắm
hoặc đi vệ sinh. Ngay cả khi làm cẩn
thận nhất, khả năng nhiễm khuẩn
vẫn có thể xảy ra. Nếu một bệnh
nhân phàn nàn về tình trạng đau và
đỏ da xung quanh vùng phẫu thuật
thì nên điều trị kháng sinh sớm vì

Chương 10: Nâng mông và tạo hình bờ mông bằng bơm mỡ tự thân: Phần I
183
đây có thể là biểu hiện của viêm mô
tế bào. Cụ thể sử dụng fluoroquino­
lone trong 7-10 ngày. Nếu xuất hiện
abscess thì buộc phải chích rạch
dẫn lưu và cấy khuẩn để sử dụng
kháng sinh sao cho phù hợp. Vết
mổ phải được băng cho tới khi liền.
Với những khối abscess, có thể đặt
đường vào là chính vết rạch hút mỡ
trước đó. Tuy nhiên trong một số
trường hợp có thể phải rạch đường
khác nếu vị trí vết mổ quá xa so
với khối abscess. Báo cáo cho thấy,
các nhiễm khuẩn thường liên quan
đến mycobacteria, và khi phát hiện
nhiễm khuẩn, nên thảo luận với
Bs truyền nhiễm trước khi đưa ra
kế hoạch điều trị. Trong một số
trường hợp phát hiện nhiễm nấm,
nhưng cần dùng kháng sinh đặc trị
nấm và tiến hành phẫu thuật cắt
bỏ phần mỡ nghi ngờ còn chứa các
bào tử nấm.
Bướu huyết thanh

Bướu huyết thanh có thể
xuất hiện ở vùng hút mỡ, tuy nhiên
việc điều trị cũng khá đơn giản,
sử dụng bơm tiêm hút phần huyết
thanh trong bướu sau đó băng ép
vùng này lại. Bướu này cũng có thể
xuất hiện ở vùng được tiêm mỡ, tuy
nhiên biến chứng này hiếm gặp và
có thể điều trị bằng cách hút huyết
thanh đơn thuần. Nếu tình trạng
này lặp lại, có thể đặt dẫn lưu.
Huyết tắc mỡ


Huyết khối mạch lớn hay vi
mạch đã được ghi nhận là xảy ra
ngay cả những bệnh nhân ghép mỡ
lượng nhỏ. Hội chứng thuyên tắc
mỡ được định nghĩa là tình trạng
viêm vi mạch do tắc nghẽn do các
tế bào mỡ dẫn tới phản ứng viêm
hệ thống, đôi khi là nghiêm trọng
nếu tổn thương các mạch lớn.
Trong mọi trường hợp, phải phát
hiện và điều trị kịp thời hội chứng
này. Để phòng tránh chúng, chất
béo chỉ nên được tiêm từng lượng
nhỏ trong mỗi lần đưa canuyn vào
ra, đồng thời phải di chuyển liên
tục để tránh vón cục mỡ. Chất béo
chỉ nên được đưa vào mô dưới da
và trên vùng cơ nông bề mặt. Các
mạch máu lớn nằm sâu trong các
khối cơ có nguy cơ huyết tắc mỡ
nếu lượng mỡ được đưa vào quá
sâu. Về lý thuyết, việc các mạch
máu này có bất kỳ tổn thương
nào đều có thể là đường vào cho
tổ chức mỡ do chênh lệch áp suất.
Hơn nữa, việc đưa mỡ vào sâu còn
làm tăng nguy cơ tổn thương thần
kinh hông to. Như đã lưu ý ở trên,
góc tiêm thích hợp và canuyn điều
hướng là những công cụ hữu ích để
phòng tránh biến chứng.

Thuyên tắc mỡ thường biểu
hiện trên lâm sàng là các bất thường
tim mạch cấp tính hoặc tiến triển
nặng thậm chí nguy kích. Trong cả
2 trường hợp, bệnh nhân cần được
điều trị bằng liệu pháp dịch và oxy
cấp cứu, nhanh chóng chuyển đến
các bệnh viện để điều trị.

Chương 10: Nâng mông và tạo hình bờ mông bằng bơm mỡ tự thân: Phần I
184
Hình. 5. (A) (Left) Hình ảnh trước khi hút mỡ và chuyển mỡ. (B) (Phải) Sau khi
chuyển mỡ vào hai bên mông và hút mỡ ở cánh tay, lưng, bụng và đùi trong.
(C,D) Chú ý sự khác biệt giữa hình bên trái và bên phải, đặc biệt là tình trạng bất
đối hai bên xương chậu. (E ) Khoảng cách và góc thay đổi giữa xương chậu và
khung chậu giữa bên phải và bên trái. (F) Bên phải có khoảng cách chậu-sườn
ngắn hơn.

Chương 10: Nâng mông và tạo hình bờ mông bằng bơm mỡ tự thân: Phần I
185
CHĂM SÓC SAU PHẪU THUẬT

Sau phẫu thuật, bệnh nhân
được sử dụng 1 liệu trình kháng
sinh dài 5 ngyaf. Các miếng đệm
Topifoam được tháo bỏ sau 7-10
ngày, trong thời gian đó thì có thể
thay miếng khác nếu cần. Bệnh
nhân được hướng dẫn sử dụng các
loại băng ép/nịt trong vòng 2 tháng
sau phẫu thuật. Sau 7-10 ngày, bệnh
nhân được chuyển từ băng ép + dây
nịt sang dây nịt đơn thuần để giảm
sức ép. Việc ép quá lâu có thể làm
giảm khả năng sống của mô mỡ; do
đó, bệnh nhân cần được hướng dẫn
tránh ngồi hoặc nằm ngửa nhiều
trong 2 tuần đầu và hạn chế cho tới
tuần thứ 8 sau phẫu thuật. Các biện
pháp bảo vệ bao gồm, nằm sấp khi
ngủ, kê gối dưới đùi, ghế có tay vịn..
để giảm thiểu tối đa áp lực lên vùng
mông. Ngoài ra có thể ngồi trên quả
bóng tập thể dục/yoga (rất phổ
biến trên thị trường hiện nay), ngồi
bằng đùi (mông để ngoài ghế) hoặc
ngồi ghế không tựa. Bệnh nhân
nên được hướng dẫn vệ sinh vùng
mông một cách tỉ mỉ. Họ có thể đi
lại nhẹ nhàng ngay sau phẫu thuật.
HỒI PHỤC CHỨC NĂNG

Sau phẫu thuật, bệnh nhân
được hướng dẫn ăn một lượng
calo tương đối cao trong 1-3 tháng
đầu để đảm bảo dinh dưỡng và từ
đó giúp giữ lại lượng mỡ tiêm vào
tốt hơn. Bệnh nhân được phép vận
động nhẹ sau 4 tuần phẫu thuật.
Các bác sĩ khuyên bệnh nhân nên
tập trung vào các bài tập tăng khối
cơ và tạo sự săn chắc các khối cơ
ban đầu (Vd yoga, Pilates, tập tạ..)
hơn là các bài tập đốt cháy mỡ và
các chương trình tập cardio chuyên
sâu trong 6 tháng đầu.
KẾT QUẢ
Từ ca lâm sàng

Ví dụ trong trường hợp hình
5 và 6 cho thấy hình ảnh bệnh nhân
trước/sau hút mỡ. Cụ thể, thực
hiện hút ở tay, hai bên mạng sườn,
toàn bộ lưng, bụng và mặt trong/
ngoài đùi. Việc chuyển toàn bộ
chất béo dưới dạng các tiểu thùy
nguyên vẹn đã qua xử lý tới vùng
mông tạo ra sự thay đổi toàn bộ
ngoại hình bệnh nhân. Trường hợp
trong hình 6, bệnh nhân cũng đã
trải qua phẫu thuật tạo hình thành
bụng và chuyển mỡ nhưng theo 2
giai đoạn riêng biệt.
TỔNG KẾT

Chuyển mỡ là một phương
pháp điều trị ngày càng phổ biến,
có khả năng biến đổi toàn bộ hình
dạng mông nhằm tăng tính thẩm
mỹ vùng và ngoại hình chung cho
cả cơ thể. Với sự tuân thủ nghiêm
chỉnh các hướng dẫn trước phẫu
thuật, thực hiện kỹ thuật tỉ mỉ và
chăm sóc hậu phẫu tốt, kết quả đạt
được hầu hết cho thấy tính ưu việt
của kỹ thuật này. Hơn nữa, việc
áp dụng đúng quy trình giúp giảm
thiểu tối đa tỉ lệ biến chứng.

Chương 10: Nâng mông và tạo hình bờ mông bằng bơm mỡ tự thân: Phần I
186
Hình. 6. (A) (Bên trái) Hình ảnh trước hút mỡ, tái tạo thành bụng và chuyển mỡ.
(B) (phải) Sau hút mỡ và tái tạo thành bụng. (C,D) Trước và sau khi tạo hình
thành bụng, hút mỡ ở tay, hai bên mạng sườn, toàn bộ lưng, bụng và mặt trong/
ngoài đùi. (E,F) (Giai đoạn hai) Sau 6 tháng, thực hiện hút mỡ ở lưng, bụng và
cánh tay để chuyển mỡ tới vùng mông hai bên.
THAM KHẢO

Thông tin liên quan đến
bài báo có thể tham khảo tại:

cps2017.12.009.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Surgeons, A.S.o.P. 2016 National
Clearinghouse of Plastic Surgery
Statistic Report. 2017. Available at:

news/plastic-surgerystatistics. Ac­
cessed February 17, 2017.
2. Lewis CM. Correction of deep
gluteal depression by autologous
fat grafting. Aesthetic Plast Surg
1992; 16(3):247–50.
3. Pereira LH, Radwanski HN. Fat
grafting of the buttocks and low­
er limbs. Aesthetic Plast Surg
1996;20(5):409–16.
4. Cardenas Restrepo JC, Munoz
Ahmed JA. Largevolume lipoinjec­
tion for gluteal augmentation. Aes­
thet Surg J 2002;22(1):33–8.

Chương 10: Nâng mông và tạo hình bờ mông bằng bơm mỡ tự thân: Phần I
187
5. Mendieta CG. Gluteal reshaping.
Aesthet Surg J 2007;27(6):641–55.
6. Cardenas-Camarena L, Silva-Ga­
varrete JF, ArenasQuintana R. Glu­
teal contour improvement: differ­
ent surgical alternatives. Aesthetic
Plast Surg 2011; 35(6):1117–25.
7. Nicareta B, Pereira LH, Sterodi­
mas A, et al. Autologous gluteal li­
pograft. Aesthetic Plast Surg 2011;
35(2):216–24.
8. Rosique RG, Rosique MJ, De Mo­
raes CG. Gluteoplasty with autol­
ogous fat tissue: experience with
106 consecutive cases. Plast Re­
constr Surg 2015; 135(5):1381–9.
9. Toledo LS. Gluteal augmenta­
tion with fat grafting: the Bra­
zilian
buttock
technique:
30
years’ experience. Clin Plast Surg
2015;42(2):253–61.
10. Conde´-Green A, Kotamarti V,
Nini KT, et al. Fat grafting for glu­
teal augmentation: a systematic
review of the literature and me­
ta-analysis. Plast Reconstr Surg
2016;138(3):437e–46e.
11. Mofid MM, Mendieta CG, Sen­
deroff DM, et al. Buttock augmen­
tation with silicone implants:
a multicenter survey review of
2226 patients. Plast Reconstr Surg
2013;131(4):897–901.
12. Senderoff DM. Buttock augmen­
tation with solid silicone implants.
Aesthet Surg J 2011;31(3): 320–7.
13. Hidalgo JE. Submuscular glu­
teal augmentation: 17 years of ex­
perience with gel and elastomer
siliconeimplants. Clin Plast Surg
2006;33(3):435–47.
14. Vergara R, Amezcua H. Intra­
muscular gluteal implants: 15
years’ experience. Aesthet Surg J
2003;23(2):86–91.
15. Cardenas-Mejia A, Martı´nez
JR, Leo´n D, et al. Bilateral sciatic
nerve axonotmesis after gluteal li­
poaugmentation. Ann Plast Surg
2009;63(4):366–8.
16. Astarita DC, Scheinin LA,
Sathyavagiswaran L. Fat transfer
and fatal macroembolization. J Fo­
rensic Sci 2015;60(2):509–10.
17. Cardenas-Camarena L, Bayter
JE, AguirreSerrano H, et al. Deaths
caused by gluteal lipoinjection:
what are we doing wrong? Plast
Reconstr Surg 2015;136(1):58–66.
18. Rosique RG, Rosique MJ. Deaths
caused by gluteal lipoinjection:
what are we doing wrong? Plast
Reconstr Surg 2016;137(3):641e–
2e.
19. Sinno S, Chang JB, Brownstone
ND, et al. Determining the safety
and efficacy of gluteal augmenta­
tion: a systematic review of out­
comes and complications. Plast Re­
constr Surg 2016;137(4): 1151–6.
20. Mofid M, Teitelbaum S, Suissa D,
et al. Report on mortality from glu­
teal fat grafting: recommendations
from the ASERF task force. Aesthet
Surg J 2017; 37(7):796–806.
21. Gutowski KA, ASPS Fat Graft
Task Force. Current applications
and safety of autologous fat grafts:
a report of the ASPS fat graft
task force. Plast Reconstr Surg
2009;124(1):272–80.

Chương 10: Nâng mông và tạo hình bờ mông bằng bơm mỡ tự thân: Phần I
188
22. Gould MK, Garcia DA, Wren SM,
et al. Prevention of VTE in nonor­
thopedic surgical patients: anti­
thrombotic therapy and prevention
of thrombosis, 9th ed: American
College of Chest physicians evi­
dencebased clinical practice guide­
lines. Chest 2012; 141(2):e227S–
77S.
23. Mendieta CG. Classification
system for gluteal evaluation. Clin
Plast Surg 2006;33(3):333–46.
24. Stulberg JJ, Delaney CP, Neu­
hauser DV, et al. Adherence to sur­
gical care improvement project
measures and the association with
postoperative
infections.
JAMA
2010;303(24):2479–85.
25. Sinno S, Wilson SC, Brownstone
ND, et al. Techniques and outcomes
in fat grafting: using evidence to
determine fact or fiction. Plast Re­
constr Surg 2015;136(4S):131–2.
26. Rohrich RJ, Sorokin ES, Brown
SA. In search of improved fat trans­
fer viability: a quantitative analysis
of the role of centrifugation and
harvest site. Plast Reconstr Surg
2004;113(1):391–5.
27. Gir P, Brown SA, Oni G, et al. Fat
grafting: evidencebased review on
autologous fat harvesting, process­
ing, reinjection, and storage. Plast
Reconstr Surg 2012;130(1):249–
58.
28. Wall S Jr, Del Vecchio D. Com­
mentary on: report on mortali­
ty from gluteal fat grafting: rec­
ommendations from the ASERF
task force. Aesthet Surg J 2017;
37(7):807–10.
29. Ghavami A, Villaneuva NL,
Amirlak B. Gluteal ligamentous
anatomy and its implication in safe
buttock augmentation. Plast Re­
constr Surg, in press.
30. Ghavami A. Commentary: glu­
teal augmentation with silicone
implants: a new proposal for in­
tramuscular dissection. Aesthetic
Plast Surg 2017; 41(5):1148–9.

Chương 11: Chuyển vạt tự thân nâng mông: Kỹ thuật Purse-String
189
Chuyển vạt tự thân nâng mông: Kỹ
thuật Purse-String
11
Joseph P. Hunstad, MD, Mark A. Daniels, MD,John C. Crantford, MD*
TỪ KHÓA
• Nâng mông • Tạo hình mông bằng kỹ thuật purse-string • Sa mông •
Giảm cân lượng lớn
ĐIỂM QUAN TRỌNG
•
Bệnh nhân lý tưởng cho kỹ thuật này là những người có vùng
mông sa và dẹt, mong muốn cải thiện điểm hình chiếu.
•
Thực chất kỹ thuật này là sự kết hợp giữa nâng mông và làm đầy
bằng vật liệu tự thân nhưng không gây tổn thương mô tham gia vào quá
trình làm đầy, bảo tồn toàn bộ hệ thống mạch máu thần kinh và sử dụng
mũi khâu purse-string để cải thiện hình chiếu của mông.
•
Kỹ thuật purse-string an toàn và hiệu quả trong việc điều trị sa và
teo mông.
GIỚI THIỆU

Teo và sa mông sau khi giảm
cân lượng lớn hoặc thứ phát do lão
hóa là vấn đề thường gặp của nhiều
bệnh nhân. Được mô tả lần đầu tiên
vào năm 2009, phẫu thuật tạo hình
mông kiểu purse-string là một giải
pháp thay thế cho các phương pháp
nâng mông bằng mỡ tự thân sẵn có
trước đó. Nâng mông tự thân bằng
ghép mỡ đã được một số tác giả mô
tả kỹ nên sẽ không đề cập lại trong
bài này. Tuy nhiên chúng ta có thể
thấy các phương pháp trước dây
đều có khâu bóc tách, xoay vạt hoặc
tạo vạt cuống hẹp. Vạt xoay, về mặt
lý thuyết là các vạt trục được cấp
máu bởi một mạch lớn đi dọc theo
trục của vạt, nhưng trên thực tế
thường là mạch ngẫu nhiên nuôi
và do đó hay xảy ra tình trạng thiếu
máu và hoại tử đầu vạt. Phương
pháp chỉnh hình mông kiểu purse-
string thuộc hệ thống các phương
pháp nâng mông bằng vật liệu tự
thân áp dụng ở những bệnh nhân
có đủ lượng mô mềm để nâng vùng
mông bị teo mà không làm căng da,
căng vết mổ. Quy trình này đã được
chứng minh là cải thiện đáng kể kết
quả so với phương pháp loại bỏ da
thừa .Sau đó mới nâng mông – một
phương pháp giúp nâng mông tốt

Chương 11: Chuyển vạt tự thân nâng mông: Kỹ thuật Purse-String
190
nhưng không giúp làm đầy chúng.

Kỹ thuật purse-string được
phát triển dựa trên những kết quả
không khả quan khi dùng vạt xoay.
Quy trình này không liên quan đến
việc phá hoại hoặc xoay mô làm
đầy, do đó đơn giản hóa quy trình
và cải thiện kết quả rõ rệt. Hơn nữa,
kỹ thuật này có điểm ưu việt mà
không phương pháp nào có được,
là việc bảo tồn tối đa mạch máu
nuôi. Mũi khâu purse-string cũng
giúp tạo hình và cải thiện điểm
hình chiếu của mông. Quy trình này
có thể được thực hiện như 1 phẫu
thuật riêng biệt hoặc kết hợp với
tạo hình thành bụng hoặc nâng các
bộ phận trên cơ thể.

Với tình trạng gia tăng số
người béo phì cũng như sự phát
triển của các phẫu thuật giảm cân
đã dẫn tới tăng nhu cầu tạo hình cơ
thể sau giảm cân. Căng thẳng tâm
lý nghiêm trọng do các dị tật để lại
sau giảm cân lượng lớn cũng có thể
thấy ở những bệnh nhân này. Các
báo cáo cho thấy, bệnh nhân sẽ hài
lòng hơn đối với các phẫu thuật
nâng mông có bằng vật liệu tự thân
làm đầy so với nâng mông đơn
thuần. Kỹ thuật purse-string (dây
rút) giúp cải thiện sự hài lòng của
bệnh nhân.

Đối tượng lý tưởng cho phẫu
thuật này là bệnh nhân có vùng da
và mô mềm vùng thắt lưng/mông
dư thừa nhưng mông dẹt và gần
như không có điểm hình chiếu.
Tiêu chuẩn này có thể được xác
định bằng cách dùng hai tay sờ và
véo da đồng thời (Hình 2). Quy
trình này không dành riêng cho
những bệnh nhân sau giảm cân
lượng lớn! Những bệnh nhân bị teo
và sa mông thường là những ứng
cử viên tuyệt vời cho phẫu thuật
này.

Bệnh nhân phải được kiểm
tra và quản lý các bệnh mạn tính
trước khi xác nhận đủ sức khỏe để
tham gia phẫu thuật tạo hình cơ
thể, đặc biệt là hệ thống hô hấp và
tim mạch. Việc cai nghiện thuốc lá
dường như là bắt buộc trong ít nhất
6 tuần trước khi thực hiện phẫu
thuật, cho tới khi vết mổ liền sẹo
hoàn toàn. Thận trọng khi chỉ định
phẫu thuật này ở bệnh nhân tiểu
đường hoặc có bệnh lý mạch máu.
Tuy phẫu thuật này ít gây chảy máu
nhưng vẫn nên kiểm tra công thức
máu cũng như tình trạng đông máu
của bệnh nhân trước, như một liệu
pháp thường quy.

Trong quá trình thảo luận,
bệnh nhân thường mô tả kỳ vọng
của họ bằng cách cầm tay kéo phần
mông lên đúng vị trí họ muốn. Họ
cũng muốn hỏi xem liệu có cần
ghép mỡ hoặc implant mông hay
không. Bệnh nhân giảm cân lượng
lớn lại thường yêu cầu cắt bỏ lượng
da thừa để tránh xệ và có thể đem
lại hiệu quả cao sau các kỹ thuật
nâng mông. Tuy nhiên những bệnh
nhân giảm cân lượng lớn này lại ít
khi có đủ mỡ cho việc ghép cũng
như che phủ khối implant. Lúc này,
kỹ thuật purse-string mới có cơ
hội để chứng minh tính ưu việt của
mình.

Chương 11: Chuyển vạt tự thân nâng mông: Kỹ thuật Purse-String
191
Hình. 1. Đường dưới xuất phát từ mấu chuyển lớn tới xương cụt, là đường
chứa điểm hình chiếu (điểm mông nhô ra phía sau nhiều nhất).
MÔ TẢ KỸ THUẬT

Bệnh nhân được đánh dấu
vùng phẫu thuật ở tư thế đứng.
Điểm hình chiếu của mông được
xác định, như cách mà tác giả Cen­
teno và Mendieta đã mô tả, là điểm
thuộc đường đi từ mấu chuyển tới
xương cụt. Đường này xác định
điểm hình chiếu của mông sau
phẫu thuật.

Bằng cách sờ và véo da đồng
thời bằng hai tay (hình 2) ở vị trí
đường nách giữa, chúng ta đánh
dấu phần da tiếp xúc với ngón trỏ
và ngón cái, nối chúng với nhau
tạo thành 2 đường. Hai đường này
chính là hai đường mổ sau này. Tuy
nhiên khi Bs thực hiện, bệnh nhân
thường có xu hướng ‘hỗ trợ’ chúng
ta, và vô tình nghiêng người về phía
đó, khiến lượng mô chúng ta véo
được nhiều hơn mức thực tế, do
đó ảnh hưởng xấu tới kết quả thẩm
mỹ sau này.

Để giải quyết vấn đề này,
chúng tôi thường yêu cầu bệnh
nhân hơi nghiêng người về phía
đối diện khi chúng tôi thực hiện
nghiệm pháp và đánh dấu ngay lúc
đó, bên đối diện cũng được thực
hiện tương tự. Tiếp tục đứng ở phía
sau bệnh nhân và thực hiện nghiệm
pháp tương tự để đánh dấu đường
rạch da ở phía mông (Hình 3). Phần
mô cạnh đường giữa thường dính
chặt hơn với tổ chức phía dưới, nên
sẽ lấy được ít tổ chức. Sau đó, cân
chỉnh lại đường vẽ phía sau và hai
bên để tạo thành một chuỗi đường
liên tục. Phần được đánh dấu vừa
rồi là phần sẽ rạch da và sau đó
khâu nối bằng các mũi purse-string.
Có thể dễ dàng thấy được khi nhìn
từ phía sau thì phần tổ chức cần cắt
bỏ sẽ có dạng cánh bướm, đóng vai
trò như một khu vực để neo giữ

Chương 11: Chuyển vạt tự thân nâng mông: Kỹ thuật Purse-String
192
mô làm đầy bằng vật liệu tự thân
để tránh chúng di lệch sang hai bên
(Hình 4).

Đường rạch cạnh bên cơ thể
sẽ bắt nguồn từ mặt ngoài của mô
tạo hình kiểu purse-string chạy ra
ngoài ra trước tới vị trí giao thoa
của đường nách trước với đường
đánh dấu trước đó, đường rạch sâu
tới lớp cân cơ.

Bệnh nhân được đặt ở tư
thế nằm sấp sau khi đã gây mê.
Các điểm đã đánh dấu phải được
kiểm tra một lần nữa để tránh cắt
quá mức. Điều này có thể dẫn tới
khi đóng vết mổ, chúng ta thậm chí
không thể đóng lại được hoặc đóng
nhưng vết mổ quá căng, dẫn tới
biến chứng đáng sợ nhất khi thực
hiện thủ thuật là tình trạng chảy
máu lượng lớn. Vết mổ sẽ mất một
khoảng thời gian khá dài để liền
hoàn toàn, và còn dài hơn nếu vết
mổ căng, hai mép da không dính
vào nhau. Nếu có sẹo xấu sau mổ,
Hình. 2. Nghiệm pháp véo da bằng hai tay được thực hiện ở đường nách trước.
Để bệnh nhân nghiêng người sang bên đối diện để tránh cắt đi quá nhiều mô.
cần chờ tới khi vết mổ lành hẳn
mới có thể sửa chữa.

Đối với những người mới
bắt đầu thực hiện kỹ thuật này,
nên rạch đường lùi vào 1 cm so
với đường đã đánh dấu để tránh
khi khâu nối, đường khâu quá căng
hoặc thậm chí là không đóng được.
Khi đã có kinh nghiệm thực hiện
rồi thì có thể thực hiện các đường
rạch chính tại vị trí đánh dấu.

Sau khi đã thống nhất vị trí
rạch, tiêm tê tại chỗ bằng dung dịch
lido-epinephrine loãng. Khu vực
được khoanh tròn (màu tím trong
hình 4) cũng được tiêm tê bề mặt
để tạo thuận cho quá trình khử
biểu mô (lọc lớp da bề mặt). Ở vị trí
bên trên và dưới, nơi phải rạch da
sâu hơn thì nên tiêm tê các lớp sâu
hơn để tránh chảy máu. Các đường
rạch này nên được thực hiện bằng
dao số 10 ở lớp da và dao điện ở
lớp dưới để cầm máu. Mô trung
tâm để tạo hình (phần được giữ lại

Chương 11: Chuyển vạt tự thân nâng mông: Kỹ thuật Purse-String
193
ở hình 5) được khử biểu mô bằng
dao tay hoặc dao điện để bộc lộ
tới phần cân nông. Phần ranh giới
của mô trung tâm này được bóc
tách tới lớp cân cơ, làm chúng bị
cô lập với các tổ chức xung quanh.
Sau đó sử dụng mũi purse-string
khâu đính phần cân nông lại với
nhau rồi thít chặt chỉ để hình thành
nên một đảo chứa các tổ chức dưới
da, cân cơ (Hình 6), đồng thời bảo
tồn được toàn bộ mạch máu thần
kinh phía bên dưới. Chúng ta có
thể thấy kỹ thuật này không phá
hủy mô quá nhiều, đồng thời có thể
sử dụng chính tổ chức dưới da để
tạo ra điểm hình chiếu thẩm mỹ
cho mông. Mũi khâu dây rút cũng
rất hữu hiệu ở đây vì chúng giúp co
các mối chỉ cùng nhau, từ đó dồn
và đẩy mô trung tâm lên thành một
khối hình cầu, như đang sử dụng
một khối implant vậy!
Hình. 3. Nghiệm pháp tiếp tục được thực hiện ở vùng mông để đánh dấu
đường rạch da.

Hệ thống cân nông có thể
được đánh dấu sau khi đã bộc lộ
để xác định dễ dàng hơn, đồng thời
các đường khâu cũng chính xác
hơn. Sau đó dùng chỉ Mersilene số
1 khâu lớp cân nông lại với nhau và
siết chặt chỉ để tạo thành một khối
hình cầu (Hình 6). Kết quả thu được
sẽ tương tự như khi bệnh nhân
được đặt một khối implant cỡ lớn,
với điểm hình chiếu tốt (Hình 7).
Sau đó chúng được neo vào lớp cân
nông phía trong (cạnh xương cùng)
đã được bảo tồn trước đó. Lúc này
có thể dùng chỉ Mersiline 3 (Hình
8). Cho tới nay không ghi nhận một
trường hợp ứ máu hay tắc nghẽn ở
tĩnh mạch vùng mô trung tâm nào.

Chương 11: Chuyển vạt tự thân nâng mông: Kỹ thuật Purse-String
194
Hình. 4. Đánh dấu trước phẫu thuật. Khu vực khoanh tròn màu tím chính
là vùng được làm đầy bằng vật liệu tự thân bằng mô tự thân. Cần đánh
dấu khi bệnh nhân đứng do da bệnh nhân rất chùng.
Hình. 5. Khử biểu mô vạt mông. Ở vùng ranh giới tiến hành bóc tách sâu tới lớp
cân sâu, bảo tồn các tổ chức mạch máu thần kinh. Da chỉ được khử lớp biểu mô
để bảo tồn thể tích và tạo ra một mỏ neo vững chắc cho đường giữa.

Chương 11: Chuyển vạt tự thân nâng mông: Kỹ thuật Purse-String
195
Hình. 6. Đặt các mối khâu purse-string (như khâu túi dây rút) ở lớp cân nông.
Mersilene 1 hoặc tương đương được sử dụng trong khâu này, chỉ khâu phải lướt
dễ dàng qua các tổ chức.
Hình. 7. Chỉ khâu được đảm bảo thắt chặt với khoảng 6 nút thắt. Sau khi
thít chỉ thì trông mô trung tâm sẽ nhô ra nhiều hơn, là cơ sở để tạo ra điểm
hình chiếu sau này.

hacklink satın al mumu模拟器 雷电模拟器 向日葵 giftcardmall/mygift giftcardmall balance mygift giftcardmall matbet matbet giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Betgaranti Betgaranti Güncel Adres Betgaranti Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Fim İzle Fim İzle Giriş Fim İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Fim İzle Fim İzle Güncel Adres Fim İzle jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Giriş Casibom Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Jojobet Jojobet Giriş Jojobet Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Deneme Bonusu Film İzle Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Türkçe Dublaj Film İzle Film İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi perabet perabet giriş holiganbet holiganbet giriş Casibom Lesfillmercom Casibom Lesfillmercom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Gerbergirlcom Casibom Gerbergirlcom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Spcelectriccontrolcom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş marsbahis marsbahis giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş matbet matbet giriş matbet güncel giriş vaycasino vaycasino güncel giriş vaycasino giriş matbet matbet giriş pusulabet pusulabet giriş pusulabet pusulabet güncel giriş pusulabet giriş matbet matbet güncel giriş matbet giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Resmi Adres pusulabet pusulabet giriş pusulabet güncel giriş Fixbet Fixbet Güncel Giriş Salvobet Salvobet Giriş Salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Turk Porno Turk Porno Giriş Turk Porno casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi casibom casibom jojobet izmir escort izmir buca escort buca escort jojobet casibom holiganbet holiganbet giriş jojobet holiganbet holiganbet giriş jojobet jojobet jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş izmir escort izmir buca escort buca escort izmir escort bayan salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Giriş Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Deneme Bonusu Veren Giriş Deneme Bonusu Veren salvobet salvobet salvobet salvobet Casibom betgaranti betgaranti betgaranti matbet matbet giriş matbet matbet giriş Casibom Casibom Salvobet jojobet Salvobet Salvobet Salvobet Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Güncel Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis bahsegel Fixbet Fixbet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş 1xbet 1xbet Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Listesi Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler grandpashabet grandpashabet grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler vaycasino vaycasino giriş jojobet grandpashabet casibom Casibom Casibom Giriş casibom www.giftcards.com Marsbahis grandpashabet jojobet jojobet grandpashabet casibom jojobet Casibom Casibom Casibom Casibom Casibom Grandpashabet Grandpashabet Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Marsbahis Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres grandpashabet grandpashabet giriş Casibom Fixbet Fixbet Giriş Casibom Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Holiganbet Holiganbet Güncel Adres Nevşehir escort Kapadokya escort Nevşehir escort bayan nevşehir eskort escort nevşehir Casibom Casibom Giriş Adresi Kapadokya esc Casibom Casibom Resmi Adres Matbet Matbet Matbet Güncel Adres Pusulabet Pusulabet Giriş Adresi imajbet giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Trabzon escort escort trabzon Trabzon escort bayan Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler