Phẫu Thuật Tạo Hình Thẩm Mỹ Vùng Mông (Gluteal Augmentation)

13/10/2026 • by Bs CKI Phẫu thuật tạo hình, tái tạo và thẩm mỹ Trương Hoài Anh •

Chuyên đề chuyên sâu về phẫu thuật độn mông bằng túi độn (Gluteal Implants) và cấy mỡ tự thân (BBL – Brazilian Butt Lift). Đề cập kỹ thuật bóc tách đặt túi an toàn, kỹ thuật bơm mỡ mặt phẳng nông tránh thuyên tắc mạch mỡ (FATE) và kiến trúc giải phẫu cơ mông.


📂 Chuyên mục: Tài liệu thẩm mỹ, Phẫu thuật thẩm mỹ, Tạo hình cơ thể

🏷️ Từ khóa: tạo hình mông, độn mông, bbl, cấy mỡ mông, tạo hình cơ thể

Trang: / 248
Trang 1 Trang 2 Trang 3
📖 Xem bản dịch / Nội dung văn bản

Chương 6: Nâng mông trong cơ implant kết hợp tiêm mỡ trực tiếp
96
cáo, có thể là do những trường hợp
này không đủ mô mềm để che phủ
toàn bộ khối implant. Do đó, ghép
mỡ nên được nghiên cứu để kết
hợp với nâng mông trong cơ, như
một liệu pháp kết hợp để cải thiện
kết quả và hạn chế biến chứng.
Ngoài ra, cần phải nhấn mạnh rằng
nếu ghép mỡ tự thân và nâng mông
implant có khả năng tái tạo vùng
mông như nhau và rủi ro tương tự
nhau thì nên kết hợp chúng trong
1 quy trình phẫu thuật thay vì làm
riêng lẻ.

Mục tiêu của bài viết này là
nhằm cung cấp một cái nhìn tổng
thể thể về nâng mông implant trong
cơ kết hợp với ghép mỡ tự thân.
Mặc dù nâng mông là thủ thuật
được nghiên cứu kỹ lưỡng, nhưng
các báo cáo trước đây về kỹ thuật
nâng trong cơ còn hạn chế và đặc
biệt là khi nâng sử dụng các loại sili­
cone thế hệ mới. Ngoài ra, không có
báo cáo lâm sàng nào đề cập cụ thể
đến việc lập kế hoạch phẫu thuật,
kết quả và đánh giá biến chứng của
liệu pháp kết hợp này. Trước đây
cũng có một nghiên cứu của Carde­
nas – Camarena và Paillet đề cập
tới việc hút mỡ kết hợp với implant
để nâng mông, và họ cũng cho rằng
đây là một phương pháp hiệu quả.
Tuy nhiên không giống với phương
pháp của họ, các tác giả ở đây cho
rằng việc kết hợp implant với tiêm
mỡ trực tiếp ở dưới da sẽ thu được
kết quả khả quan hơn. Cụ thể, mô
cấy được bảo vệ bởi tổ chức cơ, tạo
sự chắc chắn và đồng đều, và phần
trên của mô cấy được ‘ngụy trang’
bởi lớp chất béo được ghép, kh­
iến đường nét cơ thể tự nhiên hơn
nhiều.

Bài báo này mô tả chi tiết về
phương pháp của tác giả, bao gồm
việc đánh giá trước phẫu thuật,
chăm sóc chu phẫu và hậu phẫu ở
bệnh nhân implant mông trong cơ
kết hợp với cấy mỡ trực tiếp. Các
kỹ thuật phẫu thuật, các ưu điểm và
hạn chế cũng được thảo luận trong
bài. Trong thực hành lâm sàng,
cách tiếp cận này sẽ giúp Bs phẫu
thuật tạo hình có thể đạt được kết
quả thẩm mỹ như mong muốn, phù
hợp với nhu cầu của bệnh nhân.
CUỘC CÁCH MẠNG CỦA TÚI
IMPLANT VÀ CÁCH TIẾP CẬN
TRONG CÁC LỚP CƠ

Túi silicone nâng mông có
thể được đặt vào một trong 4 kho­
ang với mốc giải phẫu quan trọng
là cơ mông lớn: dưới da, dưới cân,
dưới cơ và trong cơ. Trong 10 năm
qua, quy trình này đã được cải
thiện bằng cách thay đổi vị trí đặt
túi implant và loại đường mổ được
sử dụng.

Vào năm 1960, Bartels và
cộng sự là một trong những người
đầu tiên khuyến nghị đặt mô cấy ở
trên cơ mông lớn, sử dụng đường
rạch dưới mông. Nhưng với tính
không ổn định của túi cấy và lượng
mô mềm che phủ thường không
đủ, nên khả năng đặt túi cấy dưới
da sẽ dẫn tới nhiều biến chứng, có
thể để lại di chứng lâu dài như lệch
vị trí, sờ thấy túi cấy, không cân đối

Chương 6: Nâng mông trong cơ implant kết hợp tiêm mỡ trực tiếp
97
và co kéo bao xơ. Năm 1980, Robles
và cộng sự đã giới thiệu một quy
trình mới, đặt túi độn dưới cơ để
nâng mông qua một đường rạch ở
giữa xương cùng. Túi độn dưới cơ
này nằm giữa cơ mông lớn và cơ
mông nhỡ, nên sẽ bị giới hạn tương
đối về khoảng không gian cũng như
thể tích. Trong quy trình mới này,
cơ tháp sẽ không được bóc tách ở
phía dưới để tránh đè ép vào thần
kinh hông to. Nên chính vì hạn chế
này mà khối implant thường phải
đặt hơi cao lên phần mông trên, sẽ
làm ảnh tưởng tới hình dáng mong
muốn của mông (phần trên thừa,
phần dưới thiếu). Để cải thiện kết
quả điều trị, Vergara và Marco đã
mô tả một quy trình khác, cấy túi
độn trong cơ. Theo kinh nghiệm
của họ cho thấy, đặt túi cấy ở vị trí
này sẽ được da và mô mềm che phủ
đầy đủ, hạn chế khả năng lộ mô cấy
dưới da và có thể đặt túi ở phía
dưới đối với những trường hợp cần
tăng thể tích vùng mông dưới (do
không bị hạn chế bởi cơ tháp). Hơn
nữa, có thể dùng túi cấy với thể tích
lớn hơn. Mặc dù quy trình này tối
ưu đến vậy, các tác giả lại không đi
sâu vào mô tả giới hạn tối đa thể
tích túi cấy cũng như cách bóc tách
tổ chức. Do đó, Gonzalez đã trình
bày các thông số cần thiết cho phẫu
thuật này, với mục đích để tránh lộ
mô cấy dưới da. Kỹ thuật này mô tả
cách xác định và đánh giá 3 điểm
tham chiếu quan trọng (X, Y, Z) và
một đường (G) là đường dẫn cho
việc đặt túi cấy bên trong cơ mông
lớn.

Cách tiếp cận dưới cân, được
giới thiệu vào những năm 2000 bởi
de la Pena và các đồng nghiệp, đã
được các Bs phẫu thuật đặc biệt chú
ý. Việc đặt túi silicone trong cơ đôi
khi có thể dẫn tới những kết quả
không như mong muốn, đặc biệt là
ở những bệnh nhân hoạt động thể
chất nhiều. Ngoài ra, một số nhà
nghiên cứu đã quan sát thấy rằng
đặt túi cấy trong cơ có thể có một
số khó khăn liên quan tới việc bóc
tách các khối cơ để tạo ra mặt phẳng
lý tưởng, dẫn tới nguy cơ lộ túi cấy
dưới da và đau sau phẫu thuật. Bất
chấp những tranh cãi liên quan đến
việc thiếu mô mềm che phủ túi cấy
cũng như các giới hạn về việc lựa
chọn túi cấy trong cơ, một vài ng­
hiên cứu đã cho thấy kết quả của kỹ
thuật này rất khả quan, đặc biệt đối
với những trường hợp đã lựa chọn
bệnh nhân một cách kỹ lưỡng.

Tuy nhiên, không có sự đồng
thuận nào về vị trí và khả năng bao
phủ mô cấy trong cả hai cách tiếp
cận là dưới cân và trong cơ. Mofid
và cộng sự đã khẳng định rằng việc
đặt mô cấy trong cơ sẽ phù hợp đối
với những bệnh nhân có lượng mô
dưới da mỏng. Ngược lại, túi cấy
dưới cân có thể giúp nâng mông,
đặc biệt ở phần mông dưới hiệu
quả hơn, đặc biệt ở những bệnh
nhân được phân loại vào nhóm
mông dài.

Trong một cuộc khảo sát gần
đây, Mofid và cộng sự đã gửi tới 83
bác sĩ phẫu thuật tạo hình thuộc
Hiệp hội phẫu thuật tạo hình hoa
kỳ một phiếu khảo sát 10 câu hỏi

Chương 6: Nâng mông trong cơ implant kết hợp tiêm mỡ trực tiếp
98
khai thác về số trường hợp đã
phẫu thuật, mặt phẳng đặt túi độn,
đường mổ và biến chứng ghi nhận.
Kết quả thu về, 19 người Bs phản
hồi (25%) cung cấp dữ liệu về 2226
bệnh nhân và phần lớn số người
được hỏi (68.4%) ủng hộ việc đặ
túi độn mông.

Dựa trên kinh nghiệm lâm
sàng của các tác giả và các nhà
nghiên cứu, họ đã nhấn mạnh sự
quan trọng của mặt phẳng đặt túi
cấy trong mối tương quan với khối
implant và mô mềm. Họ cũng nêu
ra những ưu điểm của quy trình
này, bao gồm khả năng mô mềm
có thể phủ toàn bộ mô cấy và giảm
thời gian phục hồi sau phẫu thuật
so với các mặt phẳng khác, đặc biệt
ở những bệnh nhân có lượng mô
mềm hạn chế.

Kể cả với những lợi điểm
này, các tác giả tin rằng những tiến
bộ trong kỹ thuật phẫu thuật vẫn
cần được liên tục cập nhật để cải
thiện kết quả thẩm mỹ và hạn chế
tối đa biến chứng. Ngoài ra, cần có
các nghiên cứu sâu hơn để so sánh
tỷ lệ biến chứng giữa nâng mông
trong cơ và dưới cân.
TIÊM MỠ TỰ THÂN

Ghép mỡ (tiêm mỡ) được
sử dụng nhiều trong phẫu thuật tái
tạo và thẩm mỹ để điều trị các khu­
yết tật đường nét trên cơ thể với
rất nhiều kỹ thuật hút mỡ, chuẩn
bị mô cấy, ghép mỡ. Theo thống kê
của Hiệp hội phẫu thuật tạo hình
thẩm mỹ quốc tế thì trong năm
2009, số lượng ca ghép mỡ chiếm
6% trong tổng số các ca thẩm mỹ
không phẫu thuật, với hơn 514000
thủ thuật được thực hiện trên toàn
thế giới.

Mười năm qua đã chứng
kiến sự ra đời của phương pháp
ghép mỡ tự thân trong phẫu thuật
vú. Ghép mỡ có ưu điểm là đạt được
hình thể tự nhiên và lâu dài, ngay cả
đối với trường hợp phải phẫu thuật
nhiều lần. Năm 2008, Hiệp hội bác
sĩ phẫu thuật thẩm mỹ Hoa Kỳ đã
thành lập một ủy ban (Lực lượng
đặc nhiệm), và họ kết luận rằng có
thể áp dụng ghép mỡ trong nâng
ngực và sửa chữa những khuyết tật
do hậu quả của ung thư.

Trong những báo cáo của
mình, lực lượng đặc nhiệm này đã
nhấn mạnh rằng ghép mỡ có thể
được coi là một phương pháp phẫu
thuật trong tạo hình ngực vì chúng
dễ thực hiện đồng thời lại giảm
được tỉ lệ các biến chứng gặp phải
sau phẫu thuật.

Mặc dù nhiều quy trình
phẫu thuật khác nhau đã được
thực hiện để tìm ra phương pháp
giúp bảo tồn lượng mô ghép (mỡ),
bao gồm việc rửa, ly tâm và gạn lọc;
tuy nhiên vẫn còn nhiều tranh cãi
về kết quả thẩm mỹ của chúng, các
biến chứng và di chứng có thể gặp.
Coleman và Saboeiro đã giới thiệu
“quy trình cấu trúc hóa mô ghép”
và chỉ ra tầm quan trọng của việc
loại bỏ phần mô mỡ chết bằng cách
ly tâm lượng mỡ hút ra. Họ cũng
nhấn mạnh đến phương pháp hút
mỡ, ly tâm mà không làm tổn

Chương 6: Nâng mông trong cơ implant kết hợp tiêm mỡ trực tiếp
99
thương đến các tế bào mỡ, và đặc
biệt là mô tả cách tiêm mỡ lượng
nhỏ khi ghép mô để tạo sự tiếp xúc
tối đa giữa lượng chất béo và mô
tiếp nhận (vùng mông). Kỹ thuật
này đã được ứng dụng trong lâm
sàng và đặc biệt được đưa vào các
nghiên cứu chuyên sâu hơn. Kinh
nghiệm của các bác sĩ trong phẫu
thuật chỉnh hình ngực và mông đã
khẳng định rằng kỹ thuật của hai
tác giả Coleman và Saboeiro đem
lại kết quả khả quan hơn, giảm tỉ lệ
biến chứng sau phẫu thuật.

Ngược lại với kỹ thuật ly
tâm mô ghép, Khater và các cộng
sự thấy rằng các tế bào tiền thân ở
dạng hoạt động đang chuyển hóa
thành tế bào mỡ trưởng thành lại
nằm trong phần mỡ bị ly tâm đi,
mà rõ ràng chúng là nguồn cung
cấp thêm tế bào mỡ quan trọng cho
mô ghép. Tương tự vậy, Rohrich và
cộng sự đã quan sát thấy rằng tỉ lệ
tế bào mỡ sống sót sau khi ly tâm
không khác nhiều so với sau khi
lọc.

Bất chấp những lợi ích và ưu
điểm của kỹ thuật ly tâm đã được
mô tả trước đó, chúng ta thấy rằng
vẫn còn thiếu nhiều nghiên cứu
lâm sàng có kiểm soát trong việc
đánh giá các khía cạnh về kỹ thuật
của phương pháp ghép mỡ tự thân,
chẳng hạn như cách lấy và xử lý mô
ghép, kỹ thuật ghép, khu vực hút
mỡ, và tỉ lệ sống sót của mô ghép
sau hút. Tương tự, không có nghiên
cứu nào so sánh khả năng sống sót
của các nhóm tế bào mỡ ở các kỹ
thuật hút và chuẩn bị mô ghép khác
nhau.

Theo quan điểm của các tác
giả, mặc dù đã thu được kết quả tốt,
tuy nhiên vẫn chưa có báo cáo hoặc
bài báo tổng phân hợp nào về di
chứng lâu dài sau ghép mỡ. Các dữ
liệu hiện có về ghép mỡ nâng mông
chỉ được giới hạn trong các chuỗi
ca lâm sàng và nghiên cứu hồi cứu.
Một số nghiên cứu đã quan sát thấy
rằng lipofilling có liên quan tới việc
hình thành các nốt (mỡ vón cục) và
nốt vôi hóa, có khả năng ảnh hưởng
tới hồi phục sau phẫu thuật. Tuy
nhiên, dữ liệu lâm sàng gần đây đã
cho thấy những kết quả khả quan
với tỉ lệ biến chứng hoại tử mỡ
thấp hơn.

Lipofilling vào vùng mông để
cải thiện đường bờ mông và nâng
mông đã trở nên phổ biến sau các
công bố của Mendieta. Không chỉ
với tỉ lệ tử vong thấp hơn, ghép mỡ
còn giúp giảm thời gian hồi phục
và cũng linh hoạt hơn trong các
chỉ định phẫu thuật so với implant
silicone. Mặc dù mỗi phương pháp
đều có những ưu điểm khác nhau,
nhưng với những bệnh nhân được
lựa chọn kỹ lưỡng, liệu pháp kết
hợp hai pp này giúp cải thiện ngoại
hình vùng mông, tăng tỉ lệ hài lòng
của bệnh nhân sau cấy ghép.

Từ nhìn nhận của các tác giả,
chúng ta có thể thấy rằng nếu bệnh
nhân có lượng mô mềm đủ che
phủ khối implant và giải phẫu bình
thường, họ không cần ghép mỡ bổ
sung sau đặt implant. Nhưng đối
với những trường hợp còn lại, kết
hợp hai phương pháp trên là giải

Chương 6: Nâng mông trong cơ implant kết hợp tiêm mỡ trực tiếp
100
pháp hữu hiệu. Chúng giúp Bs có
thể tinh chỉnh kết quả implant nếu
chưa được như mong muốn, và đây
cũng được coi như giải pháp thay
thế cho các cuộc đại phẫu vùng
mông thẩm mỹ.
LÊN KẾ HOẠCH/PHƯƠNG PHÁP
PHẪU THUẬT
Lựa chọn bệnh nhân
Làm đầy mông trước implant

Nói chung, hầu hết các bệnh
nhân có đủ lượng mỡ ghép sẽ được
thực hiện implant mông trong cơ
kết hợp với lipofiller. Những bệnh
nhân gầy và không có đủ lượng mô
mềm che phủ khối implant sẽ được
thực hiện làm đầy trước (Test véo
da thấy chiều cao vùng da véo được
< 2 cm). Trong nghiên cứu của tác
giả, hầu hết bệnh nhân đều gầy,
BMI < 20. Mặc dù những người này
có ít mô mỡ, chúng ta vẫn có thể
lấy được một phần ở vùng hông và
sườn. Họ nhận thấy rằng không cần
lipofilling bổ sung nếu test véo da
cho kết quả từ 2-3 cm; thậm chí thủ
thuật tiêm mỡ còn được liệt vào
hàng chống chỉ định tương đối sau
implant. Những chỉ định cho thủ
thuật nâng mông trong cơ kết hợp
cấy mỡ tự thân được mô tả ở bảng
2.
Làm đầy mông sau implant

Đây là kỹ thuật được mô tả
trong bài viết này. Những bệnh nhân
phù hợp với quy trình này bao gồm:
thiếu hụt một phần hoặc toàn bộ mô
Bảng 2
Nâng mông trong cơ và cấy mỡ tự
thân
Lựa chọn bệnh nhân: Làm đầy mông
trước
• Teo/thiểu sản mông
• Bệnh nhân gầy (BMI <20)
• Chỉ có thể bao phủ phần mông trên
tối thiểu
Lựa chọn bệnh nhân: Làm đầy mông
sau
• Thiếu mô mềm một phần/toàn
phần
• Bệnh nhân gầy (BMI <20)
• Nhìn thấy túi cấy dưới da sau phẫu
thuật
• Đường bờ mông không liên tục
• Sờ thấy túi cấy dưới da sau phẫu
thuật
mềm, nhìn/sờ thấy khối implant sau
khi ghép, đường bờ mông không liên
tục sau implant. Ở những bệnh nhân
có mô dưới da mỏng và căng thường
dễ bị lộ mô ghép, đặc biệt ở những
bệnh nhân gầy. Do đó, sau implant
cần thay thế túi cấy hoặc tiêm thêm
mỡ vùng mông để ‘ngụy trang’ khuyết
điểm này. Theo kinh nghiệm của các
tác giả về việc phục hình, phẫu thuật
implant mông trong cơ kết hợp với
tiêm mỡ trực tiếp sau đó sẽ được chỉ
định khi: (1) thiếu/bất thường một
phần mô mềm ở vùng mông; (2) sờ
thấy đường viền của túi cấy; (3) nhìn
thấy đường viền túi cấy; (4) đường
bở mông không liên tục. Một số bệnh
nhân thỏa mãn nhiều hơn 1 chỉ định
thì vẫn áp dụng phương pháp kết hợp
này được. Các chỉ định được mô tả

Chương 6: Nâng mông trong cơ implant kết hợp tiêm mỡ trực tiếp
101
trong bảng 2.
Đánh giá trước mổ

Khu vực hút mỡ và ghép
mỡ sẽ được đánh dấu trên bệnh
nhân ở tư thế đứng trước khi phẫu
thuật. Ngoài ra cần đánh dấu giao
điểm của đường liên mông và tam
giác cùng, đây là một điểm tối quan
trọng trong việc lập kế hoạch phẫu
thuật, nên không được đánh dấu ở
tư thế nằm vì chúng có thể bị thay
đổi vị trí (Hình 1).

Tiếp đó để bệnh nhân ở tư
thế nằm sấp, xác định ụ ngồi (vị trí
nhô ra nhiều nhất của xương ngồi,
sở được khi bệnh nhân nằm). Tiếp
đó vẽ một đường thẳng trục dọc cơ
thể đi qua đường liên mông (gọi là
đường A). Tiếp đó, vẽ hai đường
song song với đường A về hai phía
của mông, cách đường A khoảng
4cm mỗi phía (đường B). Tiếp tục
vẽ đường liên ụ ngồi (đường C).
Việc xác định đúng ụ ngồi rất quan
trọng vì đường C là giới hạn dưới
của khối implant. Sau đó, đặt khối
implant lên da vùng mông sao cho
chúng tiếp xúc được cùng lúc với
đường B và C, vẽ giới hạn bên ngoài
và bên trên của chúng (Hình 2).

Dựa trên kích thước khối im­
plant đó, xác định giới hạn của vỏ
sao cho không phải bóc tách cơ quá
nhiều đồng thời vẫn đảm bảo được
tính an toàn trong phẫu thuật. Thủ
thuật này giúp xác định được vỏ
bao phù hợp, tạo ra một túi cấy vừa
phải giúp chúng cố định chắc chắn
trong khối cơ mông, ngăn ngừa
hiện tượng xoay hoặc di lệch của
khối implant.
Phương pháp phẫu thuật

Tất cả bệnh nhân đều được
gây mê, một tấm đệm được đặt
dưới hông để nâng vùng mông lên
cao và tạo thuận cho việc bóc tách
vùng mông. Trong khâu chuẩn bị,
bệnh nhân cần được lau rửa vùng
mông bằng dung dịch rửa có cồn
hoặc chlorhexidine để giảm lượng
vi khuẩn trên da. Đặt một lớp film
trong suốt lên vùng hậu môn và
khâu/đặt một đoạn gạc cách bờ
trên hậu môn khoảng 1cm và vùng
da xung quanh mông để tránh vi
khuẩn xâm nhập vào phẫu trường.

Chương 6: Nâng mông trong cơ implant kết hợp tiêm mỡ trực tiếp
102
Hình. 1. Đường giữa khối xương cùng, tiếp nối với nếp liên mông. Hai
đường song song, cách đường giữa 4 cm về hai phía. Một đường ngang
tạo bởi đường nối ụ ngồi hai bên, vuông góc với đường giữa.

Chương 6: Nâng mông trong cơ implant kết hợp tiêm mỡ trực tiếp
103
Hình. 2. Đánh dấu vị trí mô cấy dự tính đặt vào, từ đó xác định giới hạn
trên, dưới và các bên phục vụ cho công tác bóc tách.

Chương 6: Nâng mông trong cơ implant kết hợp tiêm mỡ trực tiếp
104
Bóc tách lớp cơ

Rạch một đường dài khoảng
6cm ở đường liên mông. Không
giống như các nghiên cứu khác,
các tác giả ở đây bảo tồn một đảo
da ở phía trên đường liên mông,
vì họ cho rằng khi đặt túi cấy vào
thì chắc chắn vùng da sẽ căng, nếu
loại bỏ một phần da đi thì có nguy
cơ sẽ bị bục vết mổ sau cấy ghép.
Tác giả bắt đầu bóc tách theo góc
45 độ, tuy nhiên vẫn bảo tồn dây
chằng cùng cho tới khi bóc tách
tới cân cơ mông lớn (hình 3). Tiếp
tục bóc tách trên lớp cân này cho
tới đường B. Cố gắng chỉ tạo đường
hầm (rộng khoảng 2cm) từ đường
rạch tới đường B chứ không mở
rộng ra (Hình 4). Sau đó sử dụng
cây bóc tách đầu tù, đi qua lớp cân
và tách khối cơ mông lớn thành 2
phần, mỗi phần dày khoảng 3cm.
Túi sẽ được đặt ở trong giữa 2 lớp
này.

Giới hạn của đường bóc
tách sẽ phụ thuộc vào kích thước
mô cấy, được đánh dấu trên da
vùng mông trước phẫu thuật. Để
ngăn tình trạng chảy máu trong
quá nhiều khi bóc tách, một miếng
gạc tẩm adrenaline sẽ được đặt
vào trường bóc tách để cầm máu
tại chỗ. Để tránh hiện tượn xoay/
dịch chuyển và đảm bảo sự ổn định
của mô cấy, điều quan trọng là phải
đánh giá chính xác kích thước mô
cấy, giúp tạo ra một khu vực đặt túi
cấy phù hợp giữa khối cơ mông lớn
(Bảng 3). Nếu bóc tách quá nhiều
sẽ dễ dẫn tới xoay, di lệch mô ghép
(Bảng 4).
Đặt implant/đóng vết mổ

Mô cấy được ngâm trong
dung dịch pha kháng sinh và được
đặt dưới sự trợ giúp của các phễu
nhựa vô trùng. Dẫn lưu được đặt
tại mặt phẳng chứa túi cấy sao cho
có thể hút được dịch cả ở vùng trên
xương cùng. Cân cơ mông lớn được
đóng bằng chỉ nylon 3-0 mối rời và
tiếp đó gá một phần mô dưới da
với cân cơ mông lớn bằng chỉ ny­
lon 4-0. Lớp dưới da sẽ được đóng
bằng chỉ nylon 3-0 mối rời và lúc
khâu chú ý lộn mép vào trong. Có
thể sử dụng keo sinh học để đính
da lại, vì chúng giúp hai mép da
sát nhau, đồng thời hoạt động như
một lớp màng không thẩm để ngăn
ngừa nhiễm trùng.

Chương 6: Nâng mông trong cơ implant kết hợp tiêm mỡ trực tiếp
105
Hình. 3. Bóc tách lớp dưới da theo góc 45 độ từ trường phẫu thuật hướng
tới mấu chuyển lớn.
Hình. 4. Đường hầm dưới da có chiều rộng x dài là 2 x 4 cm là đủ để có
thể tiếp cận tới lớp cơ và bóc tách được chúng.

Chương 6: Nâng mông trong cơ implant kết hợp tiêm mỡ trực tiếp
106
Bảng 3
Biến chứng implant: nguyên nhân
dẫn tới lệch/xoay mô ghép
• Túi cấy thể tích lớn
• Sự di động của các khối cơ phía
trước/ngoài
• Bướu huyết thanh/khối máu tụ
• Bao xơ kép
• Massage sau mổ
Tiêm mỡ

Sau implant, tiếp tục làm
đầy mông bằng lipofillier. Các tác
giả thường sử dụng kỹ thuật của
Coleman và Saboeiro đã cải tiến để
lấy mô ghép. Sau khi tiêm tê cục bộ
(Khoảng 40-100 mL mỗi vùng bằng
lidocaine 1% trộn với epinephrine
1: 100000), mỡ được hút bằng cách
sử dụng một canuyn tù đầu kích
thước 2mm với chiều sâu canuyn
vào khoảng 0.8mm. Lượng mỡ này
được rửa sạch và cô đặc trong hệ
thống hút chân không cho tới khi
chúng được ghép vào vùng mông.
Lượng mỡ này sẽ được chuyển vào
ống tiêm thể tích 60 mL qua một
canuyn 3mm, tiêm vào vùng thiếu
hụt đã được đánh dấu trước phấu
thuật. Canuyn được đưa xuống vị
trí dưới da thông qua các vết rạch
nhỏ ở vùng đã được đánh dấu đó.
Các vùng này phải là vùng có thiếu
hụt mô mỡ, và khi tiêm chỉ nên
đưa lượng nhỏ mỡ vào khu vực để
chúng có thể tiếp xúc tối đa với tổ
chức ở khu vực đó, tăng tỉ lệ sống
sót của mô mỡ. Cần tránh đưa
canuyn đâm thủng vỏ bao hoặc làm
hỏng tổ chức silicone. Tùy từng
trường hợp, mô mỡ có thể được
tiêm ở vùng mấu chuyển/dưới
mông. Nên ghép mỡ vào vùng cực
trên cơ mông để tạo đường bờ tiếp
nối vùng thắt lưng cùng và vùng
mông được mềm mại, liên tục, tự
nhiên hơn (Hình 7). Chú ý vừa tiêm
mỡ vừa rút canuyn ra để mỡ có thể
tiếp xúc với tất cả các khu vực. Nên
tiêm mỗi 20-30 mL cho mỗi lần đưa
kim như vậy. Lượng chất béo tiêm
vào có thể dao động từ 40-120 mL
cho mỗi bên, theo thống kê của tác
giả. Sau khi tiêm, dùng tay xoa bóp
kết hợp để phân bố mỡ tại mỗi khu
vực tiêm, để tạo đường viền liên
tục, cân đối. Sử dụng băng đàn hồi
và băng ép ở vùng mông trên để
cố định mô ghép sau phẫu thuật, ở
ngoài bệnh nhân phải đeo đai trong
2 tháng (Video 1).
Bảng 4
Tiêu chí giúp hạn chế biến chứng
xoay/lệch vị trí túi implant
• Đặt ở mặt phẳng trong cơ
• Điều chỉnh vị trí túi cấy theo
đúng dự tính
• Bất động sau mổ và dẫn lưu hút
kín
• Không massage hoặc hoạt động
thể lực

Chương 6: Nâng mông trong cơ implant kết hợp tiêm mỡ trực tiếp
107
Hình. 5. Dụng cụ đầu tù dùng để bóc tách cơ mông lớn và hình thành mặt
phẳng trong cơ.
Hình. 6. Tiêm mỡ vào vùng mấu chuyển.

Chương 6: Nâng mông trong cơ implant kết hợp tiêm mỡ trực tiếp
108
Hình. 7. Tiêm mỡ vào phần mông trên giúp tạo sự liên tục từ vùng thắt
lưng cùng tới mông, đường nét cơ thể sẽ tự nhiên hơn.

Chương 6: Nâng mông trong cơ implant kết hợp tiêm mỡ trực tiếp
109
Chăm sóc hậu phẫu

Tất cả bệnh nhân đều phải sử
dụng kháng sinh đường tĩnh mạch
và kháng sinh uống trong 7 ngày
sau phẫu thuật. Cố định bằng các
loại băng ép trong 3 ngày đầu sau
phẫu thuật. Các bệnh nhân nghiên
cứu trong loạt bài của tác giả đều
được xuất viện trong ngày hoặc 1
ngày sau phẫu thuật. Nên vận động
sớm để giảm nguy cơ huyết khối
tĩnh mạch. Thuốc giãn cơ và kháng
sinh đường uống cũng phải dùng
hàng ngày trong vòng 7 ngày. Dẫn
lưu được rút ra sau khoảng 4 ngày
hoặc khi lượng dịch < 25mL/ngày.
Hậu phẫu, bệnh nhân nên ngồi trên
một tấm đệm đỡ vùng đùi sau, để
giảm tải áp lực vùng mông. Hơn
nữa, họ nên giữ tư thế lưng phải
luôn thẳng và bàn chân tiếp xúc
với mặt sàn. Ngoài ra cần tránh các
hoạt động thể chất sau khi cấy ghép
để giảm thiểu nguy cơ xoay, dịch
chuyển khối implant, bướu huyết
thánh và các biến chứng khác. Khi
tình trạng phù nề giảm đi, nên giảm
độ căng của băng ép và bệnh nhân
nên được thăm khám thường xuy­
ên để xác định vị trí mô cấy và độ
căng của băng ép. Đai ép nên được
đeo thấp, ngay sau khi phẫu thuật
trong 2-3 tuần đầu. Loại băng này
sẽ giúp giảm sưng nề sau phẫu
thuật, hỗ trợ các vùng phẫu thuật
để thoải mái vận động hơn và cho
phép bệnh nhân giảm thời gian hồi
phục sau mổ. Phía trên băng ép, đặt
một dải băng mềm dài 3 inch lên
vùng trên khối implant, tạo lực ép
ở mức vừa phải để tránh xoay và di
lệch. Các dải này có thể điều chỉnh
để duy trì lực ép cố định khi mức
độ phù nề mô thay đổi theo ngày.
KẾT QUẢ

Từ nghiên cứu của tác giả,
cho thấy kết quả khá khả quan. Rất
hiếm trường hợp phải chỉnh sửa lại
khối implant hoặc xuất hiện biến
chứng. Nếu có, các biến chứng này
đều không nghiêm trọng và không
ảnh hưởng tới kết quả thẩm mỹ.
Mức độ hài lòng của bệnh nhân
được đánh giá sau ít nhất 6 tháng;
và đã thu về kết quả đạt yêu cầu
(hình dáng mông tự nhiên). Sau
6 tháng, đa số bệnh nhân đều hài
lòng với kết quả của họ. Kết quả
cuối cùng nói chung là tốt và hầu
như không quan sát được đường
viền mô cấy lộ dưới da. Một trong
số 31 bệnh nhân (3.22%) được
phẫu thuật nâng ngực cùng lúc
với mông và bệnh nhân này được
ghép mỡ vào vú cùng lúc với ghép
ở mông.

Ở nghiên cứu này, các tác giả
không sử dụng mô cấy có thể tích
vượt quá 350 mL, chọn mô cấy có
thẻ tích thấp hơn để giữ được vị trí
cố định mô ghép. Trong loạt bài của
tác giả, có 2 trường hợp vết mổ bị
bục (6.44%).. Các nghiên cứu cho
rằng tỉ lệ bục chỉ vết mỏ thấp là
do ứng dụng được những kỹ thuật
mới khi đóng da, được Serra và các
cộng sự mô tả trước đó. Không có
bệnh nhân nào trong nghiên cứu
này xuất hiện bướu huyết thanh,

Chương 6: Nâng mông trong cơ implant kết hợp tiêm mỡ trực tiếp
110
khối máu tụ hoặc di chuyển khối
implant sau phẫu thuật. Kể từ khi
viết bài báo này, tác giả không thấy
có trường hợp nào bị co thắt bao
xơ; tuy nhiên, chúng ta vẫn cần
những nghiên cứu với số lượng
bệnh nhân lớn và thời gian theo
dõi dài hơn để đưa ra kết luận cuối
cùng (Hình 8-10).
TỔNG KẾT

Những tiến bộ trong kỹ
thuật bóc tách và ghép mỡ đã giúp
cải thiện kết quả thẩm mỹ vùng
mông, Các tác giả tin rằng kỹ thuật
này có thể đóng vai trò quan trọng
trong thẩm mỹ vùng mông, và kinh
nghiệm cho thấy đây là 1 thủ thuật
đơn giản và có tiên lượng tốt. Đa số
biến chứng không nghiêm trọng và
không ảnh hưởng tới kết quả thẩm
mỹ. Bên cạnh những ưu điểm, kỹ
thuật kết hợp này còn tồn tại một số
khuyết điểm như cần phải đào tạo
các bác sĩ thực hiện phẫu thuật thật
tỉ mỉ, chuyên nghiệp và thời gian
phẫu thuật cũng dài hơn. Phương
pháp này là một cách tiếp cận linh
hoạt trong tạo hình vùng mông, kết
hợp ưu điểm của cả phương pháp
implant thông thường và tận dụng
được lượng mỡ có sẵn trong cơ thể.
Tương tự với các phẫu thuật ngực,
có thể sử dụng các khối implant
nhỏ (giảm độ khó cho phẫu thuật,
giảm biến chứng) và bổ sung thể
tích bằng ghép mỡ tự thân.

Chương 6: Nâng mông trong cơ implant kết hợp tiêm mỡ trực tiếp
111
Hình. 8. (A-D) Ca 1: hình ảnh trước phẫu thuật nhìn từ phía sau, chếch
sau trái, và bên trái bệnh nhân nữ 57 tuổi với tình trạng thiểu sản mông
(Hình 2A, C). Hậu phẫu (5 ngày) nhìn từ phía sau, chếch sau trái, bên trái
và chếch sau phải sau khi implant silicone hai bên mông (thể tích 325 mL)
và ghép mỡ (B, D).

Chương 6: Nâng mông trong cơ implant kết hợp tiêm mỡ trực tiếp
112
Hình. 9. (A-F) Ca 2: hình ảnh trước phẫu thuật nhìn từ phía sau, chếch
sau phải, và bên phải bệnh nhân nữ 23 tuổi với tình trạng thiểu sản mông
(Hình. 3A, C, và E). Hậu phẫu (1 năm) nhìn từ phía sau, chếch sau phải và
bên phải của bệnh nhân với khối implant thể tích 375 mL, và ghép mỡ tự
thân (B, D, và F).

Chương 6: Nâng mông trong cơ implant kết hợp tiêm mỡ trực tiếp
113
Hình. 10. Ca 3: Hình ảnh tiền phẫu (bên trái) từ phía sau, chếch sau phải
của 1 bệnh nhân 29 tuổi với tình trạng thiểu sản vú và mông (A, C và E).
Hình hậu phẫu (bên phải) sau 1 năm nhìn từ phía trước, chếch phải và bên
phải sau khi implant ngực 2 bên thể tích 180 mL/bên và mông hai bên thể
tích 235mL/bên kết hợp với ghép mỡ tự thân (B,D).

Chương 6: Nâng mông trong cơ implant kết hợp tiêm mỡ trực tiếp
114
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Mofid MM, Gonzalez R, de la
Pen˜a JA, et al. Buttock augmen­
tation with silicone implants:
a multicenter survey review of
2226 patients. Plast Reconstr Surg
2013;131(4):897–901.
2. Sinno S, Chang JB, Brownstone
ND, et al. Determining the safety
and efficacy of gluteal augmenta­
tion: a systematic review of out­
comes and complications. Plast Re­
constr Surg 2016;137(4):
1151–6.
3. Wong WW, Motakef S, Lin Y, et
al. Redefining the ideal buttocks: a
population analysis. Plast Reconstr
Surg 2016;137(6):1739–47.
4. American Society of Plastic Sur­
geons. 2016 cosmetic surgery na­
tional data bank statistics. Avail­
able at:
sites/default/files/Stats2015.pdf.
Accessed July 25, 2017.
5. Bartels RJ, O’Malley JE, Doug­
las WM, et al. An unusual use
of the Cronin breast prosthesis.
Case Report. Plast Reconstr Surg
1969;44(5):500.
6. Gonza´lez-Ulloa M. Gluteoplasty:
a ten-year report. Aesthetic Plast
Surg 1991;15(1):85–91.
7. Robles JM, Tagliapietra JC, Gran­
di M. Gluteoplastia de aumento:
implante submuscular. Cir Plast
Iberolat 1984;10:4–5.
8. Vergara R, Marcos M. Intramus­
cular gluteal implants. Aesthetic
Plast Surg 1996;20:259–62.
9. Gonzalez R. Augmentation glu­
teoplasty: the XYZ method. Aes­
thetic Plast Surg 2004;28(6):417–
25.
10. Gonzalez R. Gluteal implants:
the “XYZ” intramuscular method.
Aesthet Surg J 2010;30(2):256–64.
11. Ca´rdenas-Camarena L, Paillet
JC. Combined gluteoplasty: lipo­
suction and gluteal implants. Plast
Reconstr Surg 2007;119(3):1067–
74.
12. Ca´rdenas-Camarena L, Sil­
va-Gavarrete JF, ArenasQuintana
R. Gluteal contour improvement:
different surgical alternatives. Aes­
thetic Plast Surg 2011; 35(6):1117–
25.
13. Ca´rdenas-Camarena L, Are­
nas-Quintana R, RoblesCervantes
JA. Buttocks fat grafting: 14 years
of evolution and experience. Plast
Reconstr Surg 2011; 128(2):545–
55.
14. Gutowski KA. ASPS fat graft
task force. current applications
and safety of autologous fat grafts:
a report of the ASPS fat graft
task force. Plast Reconstr Surg
2009;124:272–8.
15. American Society of Plastic Sur­
geons. Fat transfer/fat graft and fat
injection: ASPS guiding principles,
January, 2009. Available at: http://

ments/medical-professionals/
health-policy/guiding-principles/
ASPS-Fat-Transfer-Graft-Guiding­
Principles.pdf. Accessed July 17,
2013.

Chương 6: Nâng mông trong cơ implant kết hợp tiêm mỡ trực tiếp
115
16. de la Pen˜a JA. Subfascial tech­
nique for gluteal augmentation.
Aesthet Surg J 2004;24:265–73.
17. Aboudib JH, Serra F, de Castro
CC. Gluteal augmentation: tech­
nique, indications, and implant
selection. Plast Reconstr Surg
2012;130(4):933–5.
18. Serra F, Aboudib JH, Marques
RG. Intramuscular technique for
gluteal augmentation: determina­
tion and quantification of muscle
atrophy and implant position by
computed tomographic scan. Plast
Reconstr Surg 2013;131(2):253e–
9e.
19. Serra F, Aboudib JH, Marques
RG. Reducing wound complica­
tions in gluteal augmentation
surgery.
Plast
Reconstr
Surg
2012;130(5):706e–13e.
20. Largo RD, Tchang LA, Mele V,
et al. Efficacy, safety and complica­
tions of autologous fat grafting to
healthy breast tissue: a systemat­
ic review. J Plast Reconstr Aesthet
Surg 2014;67:437–48.
21. Gir P, Brown SA, Oni G, et al. Fat
grafting: evidencebased review on
autologous fat harvesting, process­
ing, reinjection, and storage. Plast
Reconstr Surg 2012;130:249–60.
22. Spear SL, Wilson HB, Locjwood
MD. Fat injection to correct contour
deformities in the reconstructed
breast.
Plast
Reconstr
Surg
2005;116:1300–5.
23. Coleman SR, Saboeiro A. Fat
grafting to the breast revisited:
safety and efficacy. Plast Reconstr
Surg 2007;119:775–85.
24. Sampaio Goes JC, Munhoz AM,
Gemperli R. The subfascial ap­
proach to primary and secondary
breast augmentation with autol­
ogous fat grafting and form-sta­
ble implants. Clin Plast Surg
2015;42(4):551–64.
25. Khater R, Atanassova P, Anas­
tassov Y, et al. Clinical and exper­
imental study of autologous fat
grafting after processing by cen­
trifugation and serum lavage. Aes­
thetic Plast Surg 2009;33:37–43.
26. Rohrich RJ, Sorokin ES, Brown
SA. In search of improved fat trans­
fer viability: a quantitative analysis
of the role of centrifugation and
harvest site. Plast Reconstr Surg
2004;113:391–5.
27. Mendieta CG. Gluteal reshaping.
Aesthet Surg J 2007;27(6):641–55.
28. Mendieta CG. Gluteoplasty. Aes­
thet Surg J 2003; 23(6):441–55.

Chương 7 : Nâng mông trong cơ: Phương pháp XYZ
116
Nâng mông trong cơ: Phương pháp
XYZ
7
Raul Gonzalez, MD*, Ricardo Gonzalez, MD
TỪ KHÓA
• Implant mông • Tạo hình mông • Phương pháp XYZ • Implant trong cơ
• Biến chứng
ĐIỂM QUAN TRỌNG
•
Lộ vật cấy dưới da sau các thủ thuật nâng mông là điều khó được
bệnh nhân chấp nhận vì chúng làm thay đổi lối sống và ngoại hình của họ.
•
Các mặt phẳng nông như dưới da hoặc dưới cân thường không
được áp dụng trong nâng mông thẩm mỹ vì tỉ lệ lộ vật cấy dưới da cao.
•
Việc bóc tách lớp cơ không đủ dày có thể dẫn tới lộ vật cấy
•
Đối với thủ thuật nâng mông trong cơ, nên tìm cách đưa vật dụng
bóc tách đến giữa lớp cơ thay vì bóc tách quá nông, điều này sẽ làm tăng
khả năng lộ vật cấy dưới da sau phẫu thuật.
•
Mặt phẳng sandwich – như được mô tả trong phương pháp XYZ
là mặt phẳng chia đôi lớp cơ mông lớn thành hai phần bằng nhau và đặt
khối implant ở giữa hai lớp cơ này giống như hình ảnh chiếc bánh mỳ
kẹp.
IMPLANT LÀ MỘT LỰA CHỌN
TRONG TÁI CẤU TRÚC VÙNG
MÔNG

Implant mông là một trong
những thủ thuật đầu tiên được sử
dụng để tái cấu trúc vùng mông.
Thủ thuật này bắt đầu được áp
dụng từ những năm 1980, chủ yếu
ở Châu Mỹ Latin trước khi ghép
mỡ được ra đời. Tuy nhiên, ngay từ
đầu, implant mông đã ghi nhận tỉ
lệ biến chứng cao, và các nhà phẫu
thuật đã không khuyến khích áp
dụng chúng. Khi nghiên cứu, họ đã
thấy rằng biến chứng xuất hiện hay
không phụ thuộc vào hai yếu tố:
mặt phẳng giải phẫu được sử dụng
và trình độ kỹ thuật của Bs. Các mặt
phẳng dưới da, dưới cân và dưới
cơ khi đặt túi implant đều ghi nhận
kết quả thẩm mỹ kém và tỉ lệ biến
chứng cao hơn. Nhưng đối với mặt
phẳng trong cơ, khi được thực hiện
đúng quy trình có thể đem lại kết
quả tốt. Hơn nữa, các nghiên cứu
cũng ghi nhận tỉ lệ biến chứng thấp
hơn các mặt phẳng giải phẫu khác.
Thậm chí khi so sánh với implant
ngực, kết quả cũng khả quan hơn

Chương 7 : Nâng mông trong cơ: Phương pháp XYZ
117
nhiều.

Implant mông đem lại hình
thể mông cân đối và đầy đặn. Ngay
cả khi implant không thể cải thiện
toàn diện tình trạng sa, chùng da ở
vùng mông; chúng cũng giúp nâng
một phần mông, đặc biệt ở cực
trên.
TÁI TẠO QUAN TRỌNG HƠN LÀM
ĐẦY MÔNG

Khi tái tạo vùng mông, Bs
phẫu thuật có thể áp dụng kỹ thuật
implant hoặc ghép mỡ. Một số bác
sĩ không quen với tái tạo có thể
sẽ gặp khó khăn khi đưa ra quyết
định nên áp dụng kỹ thuật nào. Tuy
nhiên, trong hầu hết các trường
hợp, điều quan trọng là bệnh nhân
có chỉ định tái tạo mông hay không
và mong muốn của họ như thế nào
chứ không phải là việc lựa chọn thủ
thuật.

Không giống như ghép mỡ,
implant đạt được hình dạng tròn
trịa dựa trên cấu trúc tương đối cố
định của khối implant, còn ghép
mỡ thì lượng mỡ sẽ được phân bố
đều đặn khắp mông, vì vậy giảm
khả năng tạo đường cong như
mong muốn. Đây cũng là mong
muốn của nhiều nhóm bệnh nhân,
khi họ muốn hình thể mông ‘đẹp’
nhìn từ phía bên cũng như phía
sau. Nói cách khác, họ muốn mông
nhô ra phía sau nhiều hơn là một
cặp mông quá lớn. Vì thế, lựa chọn
ưu tiên cho những bệnh nhân này
là tạo hình mông bằng implant thay
vì ghép mỡ.

Implant mông không chỉ
áp dụng cho những bệnh nhân có
vùng mông phẳng, ghép mỡ lượng
lớn cũng không phải là lựa chọn
ưu tiên cho đa số các bệnh nhân.
Tuy nhiên, các tác giả đã quan sát
thấy rằng hầu hết bệnh nhân có
mông đúng kích thước thì chỉ yêu
cầu ghép mỡ vào đúng những vùng
thiếu hụt, như vùng mấu chuyển,
cực trên của mông, lõm thần kinh
hông to để tạo được độ tròn trịa và
hình chiếu mong muốn.
GHÉP MỠ HAY IMPLANT?

Cần hút được một lượng mô mỡ
tương đối lớn để ghép vào vùng mông.
Vì thế ở những bệnh nhân gầy, implant
là lựa chọn tối ưu hơn cả. Ở hầu hết
các bệnh nhân có nguồn mỡ dồi dào,
người ta có thể dễ dàng tạo hình mông
dựa trên lượng mỡ thu được từ các vị
trí khác. Do đó, ngay cả các Bs phẫu
thuật có nhiều kinh nghiệm implant
mông vẫn ưa thích dùng ghép mỡ hơn
là kỹ thuật implant. Trong thực hành
lâm sàng, ghép mỡ cũng được thực
hiện nhiều hơn là implant. Hơn 70%
các trường hợp implant mông sau đó
cũng cần thực hiện thêm ghép mỡ để
có được kết quả thẩm mỹ tốt hơn.
TẠI SAO CHỌN MẶT PHẲNG TRONG
CƠ THAY VÌ CÁC MẶT PHẲNG NÔNG
HƠN?

Implant mông có thể đặt ở mặt
phẳng sâu, như lớp dưới cơ và trong
cơ, hoặc các mặt phẳng nông như
dưới da và dưới cân. Mỗi một mặt
phẳng này đều có những đặc điểm
khác nhau, dẫn tới kết quả cũng khác

Chương 7 : Nâng mông trong cơ: Phương pháp XYZ
118
nhau tùy thuộc. Mặt phẳng trong
cơ tỏ ra ưu việt hơn khi chúng làm
giảm tỉ lệ lộ mô cấy dưới da và khả
năng xảy ra biến chứng. Chống
chỉ định đặt túi implant ở mặt
phẳng nông ở những bệnh nhân
gầy vì khả năng lộ mô cấy rất cao.
Ở những bệnh nhân có lượng mỡ
vùng mông tương đối nhiều, có thể
che phủ tốt mô cấy thì vẫn có thể áp
dụng đặt mô cấy ở mặt phẳng dưới
cân, tuy nhiên sau vài năm thì lớp
cân sẽ giảm độ đàn hồi và mô cấy
có thể bị lộ. Nói chung, đặt ở mặt
phẳng càng nông thì mô cấy càng
dễ bị lộ. Trong một số trường hợp.
mô cấy chỉ có thể được nhìn thấy
khi bệnh nhân di chuyển, cúi người
về phía trước hoặc co cơ mông.
Hình ảnh hậu phẫu của bệnh nhân
cho thấy kết quả tốt khi nhìn ở tư
thế đứng có thể không phản ánh
kết quả thực tế. Một vấn đè khác
thường liên quan đến mặt phẳng
dưới cân là tình trạng xuất hiện
bướu huyết thanh muộn. Mặc dù
tỷ lệ này cao nhưng hầu như chưa
có báo cáo nào về tần suất xuất
hiện trung bình của chúng trên các
nhóm bệnh nhân.

Một nhược điểm của mặt
phẳng dưới cơ là không gian để đặt
vật cấy rất hạn chế. Thực tế khi áp
dụng mặt phẳng này, chỉ có thể đặt
túi ở vị trí trên cơ hình lê vì phần
dưới cơ hình lê là thần kinh hông
to, chúng không được bảo vệ bởi
một tổ chức nào khác nên việc đặt
túi cấy ở dưới sẽ gây tổn hại đến
chúng. Vì thế, khi sử dụng mặt
phẳng này, cực trên sẽ được làm
đầy là chính và như vậy có thể tạo
ra hiệu ứng bong bóng kép (ranh
giới cực trên và cực dưới là một
đường lõm mất thẩm mỹ).

Tất cả những vấn đề xuất
phát từ việc sử dụng mặt phẳng
dưới da, dưới cân và dưới cơ như
bướu huyết thanh, lộ mô cấy, hiệu
ứng bong bóng kép đều sẽ được
giải quyết khi đặt mô cấy ở trong
cơ. Do đó, mặt phẳng này thường
được ưu tiên trong implant mông.
CƠ MÔNG LỚN VÀ NGUYÊN LÝ
TẠO MẶT PHẲNG CẤY GHÉP

Dây thần kinh mông dưới
phân thành nhiều nhánh đi vào cơ
mông lớn (GM) qua mặt trước và
một nhánh qua mặt sau. Bởi vì hầu
hết các nhánh này không liên quan
đến mặt phẳng cấy ghép, nên trong
quá trình bóc tách hầu như không
bị ảnh hưởng hoặc nếu có thì không
đáng kể. Tuy nhiên, để duy trì chức
năng thần kinh đầy đủ và đạt được
kết quả thẩm mỹ tốt, cần tuân thủ
một số nguyên tắc sau:

1.Bóc tách giới hạn ở trong
lớp cơ mông lớn.

2.Nên bóc tách ở giữa lớp cơ
mông lớn để tạo mặt phẳng đưa túi
cấy vào.
MẶT PHẲNG SANDWICH TRONG
CƠ MÔNG LỚN

Các tác giả gọi mặt phẳng
được tạo bởi việc chia đôi lớp cơ
mông lớn thành hai phần bằng
nhau là mặt phẳng sandwich. Mặt

Chương 7 : Nâng mông trong cơ: Phương pháp XYZ
119
phẳng này làm cho mô cấy có thể
duy trì vị trí cố định trong quá
trình co cơ. Khi một lớp có độ dày
khác với lớp cơ còn lại thì sự cân
bằng của lực cơ sẽ bị phá vỡ. Khu
vực sâu hơn có nhiều khối cơ hơn
và do đó lực cơ cũng mạnh hơn khu
vực nông. Trong trường hợp này,
khi cơ co lại, sẽ đẩy khối implant
về phía cơ mỏng hơn. Áp lực liên
tục này lâu dần sẽ gây ra tình trạng
teo cơ. Hơn nữa, các lớp cơ mỏng
cũng có thể bị teo do thiếu máu cục
bộ hoặc do mất thần kinh chi phối.
Bất kỳ việc bóc tách nào liên quan
đến mặt sau của cơ và lớp cân của
của chúng đều dẫn tới hiện tượng
bóc tách khối cơ không đều, dẫn tới
teo cơ do thiếu cấp máu. Nói chung,
khối cơ càng mỏng càng ít được
tưới máu, do tình trạng chèn ép của
khối implant và của khối cơ còn lại
khi vận động. Hơn nữa, độ mỏng
này cũng liên quan tới tình trạng
mất thần kinh chi phối. Trong tình
huống này, có nguy cơ mô cấy sẽ bị
lộ khi bệnh nhân uốn cong mình về
phía trước, nâng cao chân hoặc co
cơ.

Hầu hết các Bs phẫu thuật
nếu không được đào tạo bài bản thì
khi bóc tách lớp cơ mông lớn, đều
lo ngại sẽ làm tổn thương dây thần
kinh hông to. Hầu hết các kết quả
không đạt yêu cầu đều xuất phát từ
việc bóc tách quá nông hoặc đặt túi
implant không nằm gọn trong cơ.
NHỮNG KHÓ KHĂN KHI BÓC
TÁCH CƠ

Tạo một khoảng không gian
trong lớp cơ mông lớn không phải
là một kỹ thuật đơn giản. Phần bóc
tách, cũng là khâu quan trọng nhất
của phẫu thuật, lại là khâu được
làm mù hoàn toàn. Ngay cả khi có
thể quan sát được lớp cơ bóc tách
trong khi phẫu thuật, cũng sẽ rất
khó để xác định mặt phẳng và độ
sâu chính xác cần đạt tới để chia
đôi cơ mông lớn. Rất khó để xác
định liệu chúng ta có thể tạo ra
một mặt phẳng sandwich phù hợp
hay không. Hơn nữa, không có mốc
giải phẫu nào được sử dụng để làm
hướng dẫn và lúc này các điểm
đánh dấu trên da cũng không còn
hữu ích nữa.
PHƯƠNG PHÁP XYZ VÀ CÁCH
THIẾT LẬP MẶT PHẲNG CẤY GHÉP
DỰA TRÊN GIẢI PHẪU

Không có các mốc giải phẫu
phù hợp để bóc tách và bóc tách mù
là những khó khăn chính trong việc
thiết lập mặt phẳng sandwich chính
xác. Bất chấp những thách thức này,
các tài liệu tham khảo về giải phẫu có
thể hữu ích cho việc hướng dẫn. Đây
là mục đích chính của phương pháp
XYZ: thực hiện bóc tách trong cơ được
hướng dẫn bởi các mốc giải phẫu
tham chiếu ra bên ngoài để tạo ra mặt
phẳng sandwich thích hợp.

Các điểm X, Y, Z liên quan với
khối cơ mông lớn, trong mặt phẳng
sandwich. Bằng cách nối hai điểm
(X, Y) bằng bộ bóc tách, từ đó kéo dài
đường thẳng này tới điểm Z để hình
thành mặt phẳng sandwich.

Chương 7 : Nâng mông trong cơ: Phương pháp XYZ
120
Hình. 1. Hình trái tim ngược được đánh dấu, với đường A đi từ giới hạn trên của
chúng dọc xuống khoảng 7-8cm. Từ cách đánh dấu này sẽ hướng dẫn Bs phẫu
thuật bóc tách lớp cơ mông lớn. Trục chính của mỗi bên dài 7cm và hướng theo
chiều đi của khối cơ mông lớn, ở một góc xấp xỉ 45 độ so với đường liên mông.
Hình thoi đánh dấu trên đường liên mông cũng dài 7cm.
PHẪU THUẬT
Đánh dấu

Đỉnh của đường liên mông
(đường A) được đánh dấu khi bệnh
nhân ở tư thế đứng. Tất cả các điểm
còn lại được đánh dấu khi bệnh
nhân ở tư thế nằm sấp, khi đã vào
phòng mổ. Từ điểm cao nhất của
đường A đi xuống vẽ một đường
hình thoi rộng khoảng 4-5mm dài
khoảng 7cm. Từ đó vẽ ra hai đường
cong có chiều cao khoảng 7cm đối
xứng sang hai bên, tạo thành hình
trái tim ngược như hình 1.
Bộc lộ cơ và bảo tồn dây chằng
cùng-cụt

Đưa dung dịch Klein bằng 1
kim 21G đẩy sâu ¼ chiều dài theo
góc xiên vào vùng trái tim ngược
để dễ dàng bóc tách. Lượng dung
dịch này sẽ nằm ở vùng trên cân,
dùng khoảng 40 cc cho mỗi bên
và 40 cc ở vùng trên đường liên
mông. Nếu không đưa lượng dịch
này vào, khả năng sẽ khó bóc tách
khối cơ, đồng thời dễ gây chảy máu
cho bệnh nhân. Hai đường song
song của hình thoi trên đường liên
mông được rạch, dao để vuông góc
cho tới khi bộc lộ được lớp dưới da,

Chương 7 : Nâng mông trong cơ: Phương pháp XYZ
121
sau đó tiến hành bóc tách ở góc 45
độ hình trái tim ngược, chú ý bảo
tồn dây chằng cùng-cụt, cho tới khi
bộc lộ được lớp cân cơ. Dây chằng
cùng-cụt đã được các tác giả mô tả
trước đó, và chúng có vai trò tạo
hình cho cấu trúc và độ sâu của
đường liên mông. Khi vết rạch này
được đóng lại, dây chẳng này sẽ
giúp tái tạo lại đường liên mông
với độ sâu nguyên thủy của nó. Bóc
tách lớp cơ nên bảo tồn lớp cân tối
đa để khâu gá cố định lớp cơ lên
sau này và nên sử dụng hình trái
tim ngược để hướng dẫn đường
bóc tách.
Bảo tồn dây chằng cùng-cụt

Dây chằng cùng-cụt là một
cấu trúc dạng sợi vững chắc nối
mặt trong mào xương cùng với
xương cụt, đồng thời chúng bám
thẳng vào da vùng mông và có vai
trò tạo độ sâu cho rãnh liên mông.
Như vậy, khi thực hiện đường rạch
trên rãnh liên mông, phải hết sức
cẩn thận tránh đưa dao cắt đứt dây
chằng này vì chúng có thể làm ảnh
hưởng tới hình thể nếp liên mông
sau phẫu thuật. Bảo tồn dây chằng
này giúp người Bs phẫu thuật tái
tạo lại rãnh liên mông một cách dễ
dàng đồng thời tránh bục vết mổ
sớm sau phẫu thuật. Vì thế nên
trong các bước thực hành, chúng
tôi đã cố tình rạch một dải da dạng
hình thoi kích thước 7cm x 4-5mm
để tránh đưa dao phạm vào dây
chằng này. Lúc thực hiện đường
rạch, cũng khuyến cáo để dao
vuông góc với bề mặt da và độ sâu
chỉ tới tổ chức dưới da, cũng với
mục đích không làm ảnh hưởng
đến cấu trúc giải phẫu dây chẳng
này. Ngay sau đó, chuyển hướng
đường dao qua rạch hình trái tim
ngược, chúng tôi đưa dao trở về góc
45 độ để thuận tiện cho Bs phẫu
thuật, đồng thời đặt độ sâu đến lớp
cân cơ thay vì tổ chức dưới da như
đường rạch cạnh rãnh liên mông.
Bộc lộ khối cơ

Đưa dung dịch Klein bằng 1
kim 21G đẩy sâu ¼ chiều dài theo
góc xiên vào vùng trái tim ngược để
dễ dàng bóc tách. Lượng dung dịch
này sẽ nằm ở vùng trên cân, dùng
khoảng 40 cc cho mỗi bên và 40 cc
ở vùng trên đường liên mông. Nếu
không đưa lượng dịch này vào, khả
năng sẽ khó bóc tách khối cơ, đồng
thời dễ gây chảy máu cho bệnh
nhân. Khi bóc tách để bộc lộ khối
cơ phải bảo tồn tối đa.
Điểm X

Để tách cơ tạo mặt phẳng
sandwich, phẫu thuật viên phải
thành thục để có thể chia đôi được
bề dày khối cơ tại hai điểm: tại vị trí
bắt đầu bóc tách (cạnh xương cùng
– gọi là điểm X) và mặt ngoài khối
cơ cạnh mào chậu – gọi là điểm Y.

Khi đã nhìn thấy được khối
cơ, rạch một đường dọc qua lớp
cân để tiếp cận vào khối cơ mông
lớn, bóc tách một đường dài 5-6 cm
và sâu khoảng 3 cm từ vị trí ban

Chương 7 : Nâng mông trong cơ: Phương pháp XYZ
122
đầu. Điểm X được xác định là điểm
sâu khoảng 2.5 – 3 cm bắt đầu từ vị
trí bóc tách khối cơ.

Tại vị trí bóc tách ban đầu
(cạnh xương cùng), cơ dày khoảng
4-5.5 cm. Trong quá trình phẫu
thuật, có thể dễ dàng xác định độ
dày này bằng cách đưa ngón trỏ
theo đường bóc tách cơ đi dọc về
phía xương cụt cho tới khi chạm
tới dây chằng cùng cụt. Dây chằng
này có thể dễ dàng xác định được,
vì khi chạm được vào chúng có
cảm giác như chạm vào ngón tay
người. Vì dây chằng này là giới hạn
phía trước của khối cơ, nên độ dày
sẽ được tính từ mặt sau cùng của
khối cơ tới vị trí sờ thấy dây chằng.
Để xác định vị trí điểm X, nên tính
chính xác độ sâu của khối cơ rồi
chia cho 2, từ đó bóc tách tới chiều
sâu tương ứng. Nhưng trong thực
tế, chỉ nên lấy tới độ sâu tối thiểu
(tức là quy ước lấy mốc 2.5 cm đối
với người có khối cơ mỏng và 3 cm
với người có độ dày khối cơ > 5cm)
(Hình 2).
Đường G

Đường G hay còn gọi là
đường bờ ngoài của cơ mông lớn,
là đường cong nằm trên mặt ngoài
cánh chậu, cách gai chậu sau trên
khoảng 5cm. Đầu tiên, xác định
mào chậu và đánh dấu đường cong
đó. Tiếp theo, xác định vị trí gai
chậu sau trên và đo đoạn 5 cm ra
phía bên ngoài, đặt một điểm T, kẻ
một đường thẳng nằm trên mặt
ngoài cánh chậu sao cho chúng
vuông góc với đường nối từ điểm
T tới mấu chuyển lớn (điểm Z), đây
chính là giới hạn ngoài của khối cơ
mông lớn (Hình 3).
Điểm Y

Ở phần trên-ngoài của của
khối cơ mông lớn, độ dày của
chúng chỉ khoảng 2 cm. Tại điểm
này, cơ mông lớn dính chặt vào cả
mào chậu và xương cánh chậu; cụ
thể, ½ số bó cơ bám vào mào chậu
(khoảng 1cm) và nửa còn lại bám
vào xương cánh chậu. Trong quá
trình phẫu thuật, Bs có thể dễ dàng
xác định được giao điểm của mào
chậu và cánh chậu. Trong thực tế,
giới hạn ngoài này được xác định
bằng cách vẽ đường G, như đã mô
tả ở trên. Độ dày khối cơ tại vị trí
này được xác định bằng cách đặt
ngón tay lên giao điểm của mào
chậu và đường G và ấn xuống tới
độ sâu 1cm. Đây chính là vị trí của
điểm Y. Vậy ta có điểm nối từ X tới
Y chính là đường cần bóc tách để
chia đôi khối cơ.

Chương 7 : Nâng mông trong cơ: Phương pháp XYZ
123
Hình. 2. Sau khi bộc lộ khối cơ (bảo tồn lớp cân), bóc tách một đường dài 6 cm,
sâu 3cm dọc theo hướng đi của cơ (hạn chế tối đa tổn thương). Đường bóc tách
này ban đầu nên được rạch (bằng dao mổ) một đoạn ngắn sau đó bóc tách trực
tiếp bằng ngón tay. Điểm X là điểm sâu khoảng 2.5 – 3 cm tính từ vị trí bóc tách
đầu tiên, theo độ dày của cơ.
Hình. 3. Đường G là giới hạn ngoài của cơ mông lớn, dựa trên các cấu trúc giải
phẫu bề mặt. Từ gai chậu sau trên, lấy 1 điểm cách 4-5 cm ra phía ngoài ở trên
mào chậu, từ đó kẻ một đường nối giữa điểm vừa xác định và điểm Z (điểm xuất
chiếu mấu chuyển lớn trên da) – đây chính là đường G. Điểm Y nằm trên đường
này, là điểm hội tụ của đường G với mào chậu và mặt ngoài cánh chậu.

Chương 7 : Nâng mông trong cơ: Phương pháp XYZ
124
Tạo đường nối điểm X và Y

Khi đã xác định được đường
G, điểm X và Y, bước tiếp theo là
nối hai điểm này lại và đường này
trở thành đường dẫn khi bóc tách.
Bằng cách dùng một dụng cụ bóc
tách đầu tù đi từ vị trí điểm X, dọc
theo đường XY tới vị trí ngón tay
đã ấn sẵn vào điểm Y cho tới khi
đầu ngón tay sờ thấy đầu của dụng
cụ bóc tách thì dừng lại, như mô tả
trong hình 4.
Tạo mặt phẳng bởi đường X-Y

Đường XY sẽ giúp tạo mặt
phẳng chia đôi khối cơ. Khi dùng
dụng cụ để bóc tách, sẽ đẩy thẳng
chúng từ vị trí điểm X tới điểm Y,
từ đó thực hiện động tác vừa xoay
vừa tách khối cơ, hướng đầu dụng
cụ về phía điểm Z, tạo thành hình ¼
đường tròn, như mô tả trong hình
5.
Mở rộng các góc túi implant

Khi đã thực hiện xong các
thao tác trên, phần trên của vỏ khối
implant gần như đã hoàn thiện.
Đặt một dụng cụ banh không mấu
(retractor) dài 12cm ở phía trên
và 10cm ở phía dưới. Đưa một đèn
sợi quang vào quan sát bên trong,
hãy chắc chắn rằng không còn để
sót lại một vách cơ nào trong kho­
ang sandwich. Tiếp theo, dùng bộ
bóc tách, tiếp tục bóc về phía dưới
của khoang bằng một forcep có đầu
phẳng, hình thoi (tương tự như mỏ
vịt trong thăm khám sản khoa).
Công cụ này hoàn tất phần phân
tách các bó cơ, phá vỡ hoàn toàn
các vách ngăn giữa các bó cơ để tạo
khoang sandwich như mong muốn.
Tạo tính cân đối hai bên

Trong quá trình thực hiện
nếu không đi theo đúng từng bước
như được mô tả ở trên với công
đoạn đánh dấu các điểm xuất chiếu
cẩn thận thì một trong những biến
chứng thường gặp nhất là tình
trạng khối implant không cân đối
hai bên. Với phương pháp XYZ
này, phần bóc tách trong cơ được
định hướng bởi khung chậu, một
mốc giải phẫu cố định nên sẽ hạn
chế được tối đa biến chứng này.
Theo quan điểm thẩm mỹ, mô im­
plant nên được đặt càng cao càng
tốt trong khối cơ, giúp tạo hình
thể đẹp ở cực trên của mông. Túi
phải được mở rộng tùy theo hình
dạng và thể tích khối implant, tuyệt
đối không quá rộng hoặc quá chật.
Sau khi implant xong, nên so sánh
và điều chỉnh mô cấy hai bên sao
cho cân đối. Trong một số trường
hợp, có thể dùng ngón tay để bóc
tách chỉnh sửa sao cho hai bên cân
xứng. Các loại implant hình oval
phải được đặt theo chiều dọc, với
phần lớn hơn ở phía trên.

Chương 7 : Nâng mông trong cơ: Phương pháp XYZ
125
Hình. 4. Động tác đòi hỏi sự kết hợp của cả 2 bàn tay để có thể chia đôi cơ mông
lớn một cách chính xác. Một tay đặt vào điểm Y trên đường G, nhấn đầu ngón cho
tới khi đạt độ sâu 1cm (tương ứng với điểm giữa khối cơ). Trong khi đó, tay còn
lại cầm dụng cụ bóc tách (dài 30cm và rộng khoảng 2.5 cm) được đặt tại điểm X,
thực hiện động tác vừa đẩy vừa tách khối cơ, hướng đầu dụng cụ từ điểm X tới Y,
chú ý lóc khối cơ theo đúng chiều cong của nó.
Hình. 5. Bằng cách đặt dụng cụ bóc tách như hình, với điểm tựa là khối xương
cùng, chúng ta có thể dễ dàng xoay chúng từ đoạn XY theo chiều hướng xuống
dưới tới vị trí điểm Z. Kết quả đạt được là một khoang hình tam giác (hoặc ¼
hình tròn) bảo tồn được các sợi cơ. Trong quá trình này, nếu phát hiện còn vách
cơ nào có thể dùng ngón tay trỏ để bóc tách nốt phần còn lại. Tiếp đó, các dụng
cụ banh được đặt vào trong để duy trì và mở rộng khoang sandwich cho tới khi
phù hợp với kích thước mô ghép.

Chương 7 : Nâng mông trong cơ: Phương pháp XYZ
126
Đóng vết mổ

Trước khi đóng vêt mổ nên
đặt một dẫn lưu hút áp lực âm để
loại bỏ lượng máu và dịch tiết ở
khoang sandwich (khoảng 50-80
cc), và quan trọng hơn là tránh cho
bệnh nhân các cơn đau thần kinh
hông to do phù nề và lượng dịch
tiết chèn ép. Dẫn lưu nên được rút
bỏ sau 2 ngày. Một dẫn lưu bổ sung
nên đặt ở vị trí tách cân để tránh
biến chứng bướu huyết thanh nhỏ
ở khu vực này. Để đóng cơ, tác giả
khuyên dùng chỉ 2-0 tự tiêu, mối
liên tục, tiếp sau đó là một đường
chỉ tương tự ở vị trí giao thoa của
cơ mông lớn với lớp cân ở ngay
phía trên để gá chúng vào với nhau
(gọi là mũi quilting). Mũi khâu
này được tiếp tục khâu vào phần
mô dưới da ở vùng trái tim ngược
(được mô tả ở phía dưới) sau khi
đã đi hết một lượt đường rạch ở
cân cơ mông lớn.

Dải da hình trái tim ngược
ban đầu được cắt ra, Bs sẽ lọc phần
ngoại bì bỏ đi, để lại trung và hạ
bì. Sau đó đặt lại vị trí cũ, khâu nối
phần hạ bì hai bên với dây chằng
cùng cụt để tạo hình lại rãnh liên
mông. Lúc này mối khâu cân cơ
vừa nãy sẽ được khâu tiếp với lớp
hạ bì này trước khi đóng da.
Chăm sóc hậu phẫu

Thủ thuật này có thể gây đau
cho bệnh nhân, vì thế nên dùng bộ
kit tê ngoài cứng để giải quyết vấn
đề này. Tác giả thường dùng Ropiv
acaine 0.15%, 20 cc trong mỗi 6h.
Bệnh nhân nên duy trì tư thế nằm
sấp trong 48h sau phẫu thuật. Sau
khi xuất viện, họ có thể đi bộ hoặc
ngồi như bình thường. Trong tuần
đầu tiên, bệnh nhân nên tránh nằm
sấp quá lâu để tránh di lệch khối
implant cũng như phù nề chèn ép
thần kinh hông to. Sau 1 tuần, bệnh
nhân có thể ngồi để lái xe (Hình 6
và 7).

Chương 7 : Nâng mông trong cơ: Phương pháp XYZ
127
Hình. 6. (A) Bệnh nhân nữ 44 tuổi yêu cầu ghép mỡ để cải thiện hình thể
mông, nhưng cô đã được thuyết phục chuyển sang implant mông. Thủ
thuật bao gồm implant khối hình oval thể tích 350 cc và hút mỡ ở hông, eo
dưới để tiêm vào vùng thiếu hụt ở mấu chuyển lớn. (B) Sau 6 tháng phẫu
thuật.

Chương 7 : Nâng mông trong cơ: Phương pháp XYZ
128
Hình. 7. (A) Bệnh nhân nữ 36 tuổi phàn nàn về tình trạng lộ mô cấy dưới da ở
cưc trên của mông. Trên hình CT, các mô cấy nằm bên trong cơ lớp cơ mỏng và
phần cơ còn lại bị dồn xuống dưới, tạo ra hiệu ứng bong bóng kép. (B) Khi co cơ,
có thể thấy rõ khối implant lộ dưới da. Chỉ có phần dưới của cơ co lại do khối
implant đã chiếm chỗ hết ở cực trên. (C) Các mô cấy cũ được lấy ra, mặt phẳng
được đóng kín bởi chỉ Vicryl 2-0 và tạo lại mặt phẳng mới, đặt túi mới. một dẫn
lưu được đặt cạnh túi implant mới để tránh biến chứng bướu huyết thanh. Đây
là một biến chứng thường gặp khi loại bỏ và thay thế các mô cấy. Sau 4 tháng,
các mô cấy được thay thế bằng phương pháp XYZ. Hình (C) là kết quả thu được
sau 6 tháng cấy ghép lại.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Gonzalez-Ulloa M. Gluteoplasty –
a ten years report. Aesthetic Plast
Surg 1991;15:85–7.
2. Robles JM, Tagliapietra JC, Gran­
di M. Gluteoplastia de aumento:
implante submuscular. Cir Plast
Iberolat 1984;X:4–9.
3. Gonzalez R. Gluteoplasty: per­
sonal modifications of the Robles
technique. In: Toledo S, editor. Re­
cent Advances in Plastic Surgery
90. Sao Paulo, Brazil:Editora Grafi­
ca do Estadao; 1992. p. 166–71
4. Gonzalez R. Pro´tese para a re­
gia˜o glu´tea (Prostheses for gluteal
a´rea). In: Tournieux AAB, editor.
Atualizac¸a˜o em Cirurgia Pla´stica.
Sa˜o Paulo (Brazil):Robe Editorial;
1992. p. 555–70.
5. Vergara R, Marcos M. Intramus­
cular gluteal implants. Aesthetic
Plast Surg 1996;20:259–62.
6. De la Pen˜a JA. Subfascial tech­
nique for gluteal augmentation.
Aesthet Surg J 2004;24(3):265–7.
7. Cocke WM, Ricktenson G. Gluteal
augmentation. Plast Reconstr Surg
1973;52:93.
8. Bruner TW, Roberts LT III, Nguy­
en K. Complications of buttocks

Chương 7 : Nâng mông trong cơ: Phương pháp XYZ
129
augmentation: diagnosis, manage­
ment and prevention. Clin Plast
Surg 2006;33(3):449–66.
9. Gonzalez R. Late intracapsular
seroma in subfascial buttock aug­
mentation: a case report. Aesthetic
Plast Surg 2006;30(5):599–604.
10. Flores-Lima G. Cutaneous fis­
tulas and acute seroma after sub­
fascial gluteal implants. Aesthetic
Plast Surg 2008;32(5):810–2.
11. Gonzalez R. Augmentation glu­
teoplasty: the XYZ method. Aes­
thetic Plast Surg 2004;28:417–25.
12. Gonzalez R. Gluteal implants:
the “XYZ” intramuscular method.
Aesthet Surg J 2010;30(2):256–64.
13. Gonzalez R. Buttocks reshap­
ing – posterior contour surgery:
a step-by-step approach. Rio de
Janeiro (Brazil): Editora Indexa;
2006. p. 109–60.
14. Flores-Lima G. Surgical pock­
et location for gluteal implants: a
systematic review. Aesthetic Plast
Surg 2013;37:240–5.
15. Flores-Lima G, Eppley BL.
Body Contouring with solid sili­
cone implants. AestheticPlastSurg
2009;33:140–6.
16. Gonzalez R. Remodelagem glu­
tea. In: Pitanguy I, editor. Cirurgia
Plastica – uma visa˜o de sua ampli­
tude.Sao Paulo, Brazil: Editora Ath­
eneu; 2016. p. 553–62.
17. Gonzalez R, Mauad F. Intraop­
erative ultrasonography to guide
intramuscular buttock implants.
Aesthet Surg J 2012;32(1):125–6.

Chương 8: Nâng mông dưới cân implant
130
Nâng mông dưới cân implant
8
Jose Abel de la Peña Salcedo, MD, FACS*, Guillermo J. Gallardo, MD,
Guillermo Ernesto Alvarenga, MD

TỪ KHÓA
• Làm đầy mông • Implant mông • Nâng mông • Implant mông dưới cân
ĐIỂM QUAN TRỌNG
•
Lên kế hoạch trước phẫu thuật và sử dụng các khuôn mẫu sẵn có
rất quan trọng trong việc xác định thể tích và vị trí khối implant.
•
Đánh dấu trước phẫu thuật là rất quan trọng trong việc định hướng
đường mổ và nên được thực hiện khi bệnh nhân ở tư thế đứng.
•
Điểm nhô ra nhiều nhất của mông nên nằm ngang với vị trí của
xương mu khi nhìn từ phía bên.
•
Khối implant luôn phải ở tư thế thẳng đứng, và được định hướng
bởi một đường trắng đi ngang qua đường xích đạo của mô cấy (nhìn thấy
trên CT hoặc Xquang)
•
Làm đầy mông là đại phẫu; vì vậy, các biện pháp phòng ngừa nên
được thực hiện để tránh xuất hiện những biến chứng không đáng có.
GIỚI THIỆU

Tương quan giữa vùng mông
và eo quyết định tính hấp dẫn của
chúng. Theo tác giả Singh, cơ thể
được coi là đẹp khi có vòng ba căng
đầy và vòng eo thon gọn. Tỷ lệ eo/
hông lý tưởng của phụ nữ là 0.7
(vòng eo đo lấy số nhỏ nhất, vòng
mông lấy chỉ số tối đa).

Ngoài mối tương quan này,
có nhiều đặc điểm khác cũng được
đánh giá. Chúng bao gồm: (1) thắt
lưng cong ra trước với một khung
chậu chếch xuống, (2) khe mông
‘nữ tính’ với hai bên mông tách
nhau ở phía trên, (3) phần mông
dưới tách nhau ra tạo thành hình
thoi với phần đùi trên trong, (4)
vùng nhô ra phía sau nhiều nhất
nằm trên đường thẳng giao giữa
1/3 trong và 1/3 giữa của mông,
(5) nếp lằn mông ngắn, và (6)
không có hình ảnh sa mông.
MẶT PHẲNG DƯỚI CÂN

Vì các kỹ thuật đặt túi im­
plant dưới da, dưới cơ và trong cơ
luôn tồn tại những vấn đề cố hữu

Chương 8: Nâng mông dưới cân implant
131
liên quan tới mặt phẳng implant,
việc tìm ra một mặt phẳng khác
có thể implant để hạn chế tối đa
những thiếu sót của các ký thuật
khác là điều cần thiết. Và mặt phẳng
dưới ra đời (Hình 1). Kỹ thuật này
được phát triển dựa trên nhiều
nghiên cứu trên các tử thi nhằm
phân tích các lớp giải phẫu riêng
biệt. Cân vùng mông bám rất chắc
ở cả nguyên ủy và bám tận của nó.
Chúng bao phủ cơ mông lớn, là cấu
trúc lớn nhất và nông nhất ở vùng
mông, đóng vai trò quan trọng
trong việc tạo nên hình dáng của
mông.

Hai phần ba trước của cơ
mông nhỡ cũng được bao phủ bởi
các mạc tương ứng, tạo ra độ nhô
cho vùng mông 1/3 trên. Nguyên ủy
của mạc (cân nông) này bắt nguồn
từ mặt sau xương cánh chậu, xương
vùng và cụt; chúng đi ra phía ngoài
và bám tận ở mấu chuyển lớn và
dải chậu chày. Mạc (cân nông) này
bao phủ toàn bộ vùng mông trên
và có vai trò trong việc giữ các khối
implant ở nguyên vị trí vì đây đều
là những cân mạc bám chắc và rộng
vào cả nguyên ủy cũng như bám tận
của chúng. Do đó, khi implant vào
không giam này (dưới lớp cân cơ
mông lớn-nhỡ), sẽ đạt được hình
thể giải phẫu tự nhiên.

Lớp cân mạc bao phủ vùng
mông tiếp giáp phía ngoài với lớp
hạ bì. Chúng hoạt động như một
hệ thống kết dính da và các tổ chức
sâu dưới da với nhau. Hình 2 cho
thấy vị trí lớp cân mạc xuất chiếu
trên da và chiều hướng tương ứng
của chúng. Cân cơ mông lớn – nhỡ
đều đi cùng với chiều hướng của
lớp cơ chúng che phủ. Nên nhớ hệ
thống cân cơ này buộc phải bảo
tồn tối đa trong bất kỳ phẫu thuật
nâng mông thẩm mỹ nào. Và khối
implant khi đặt ở vị trí dưới cân sẽ
đảm bảo không ảnh hưởng tới bất
kỳ cấu trúc mạch máu thần kinh
sâu nào (Hình 3).
MỤC TIÊU ĐIỀU TRỊ

Tập trung vào việc tăng kích
thước, cải thiện đường bờ mông
và hình chiếu của chúng. Do các
nguyên nhân như thiểu sản, teo,
hoặc lão hóa. Đối với các trường
hợp khác, khi mức ưỡn cột sống
của bệnh nhân không đủ, thì việc
tăng thể tích vùng mông giúp cải
thiện đường cong này, một cách
tương đối. Để tạo một đường xẻ
sâu vùng mông, nên thực hiện hút
mỡ ở vùng eo đối với 1 số trường
hợp. Hình thoi (mông dưới – đùi
trong) có thể đươc tái tọa bằng
cách hút mỡ ở đoạn ¼ dưới trong
vùng mông và mặt trong đùi. Đối
với hầu hết bệnh nhân có chỉ định
làm đầy mông, các thủ thuật bổ trợ,
bao gồm hút mỡ vùng phụ cận (bên
cạnh các vùng thiếu hụt) và bổ sung
vào nguồn mỡ ghép, thường được
thực hiện để đạt kết quả tối ưu.

Chương 8: Nâng mông dưới cân implant
132
Hình. 1. Tương quan giải phẫu và vị trí của khối implant dưới cân cho thấy,
chúng phải nằm ở vị trí trung tâm của mông và được che phủ hoàn toàn bởi hệ
thống cân mạc bao phủ cơ. Dây thần kinh hông to, có thể nhìn thấy rõ từ phía
bên, cách túi implant một khoảng cách tương đối an toàn. (Trích từ de la Peda JA.
Subfascial technique for Gluteal Augmentation. Aesthet Surg J 2004;24:265-73;
đã xin phép trước khi đăng tải.)
Hình. 2. Vị trí xuất chiếu của lớp cân mạc trên da kèm theo hướng đi của
chúng. (Trích từ de la Pena JA, Rubio OV, Cano JP, et al. Subfascial Gluteal
Augmentation. Clin Plast Surg 2006;33:408; đã xin phép trước khi đăng
tải.)

Chương 8: Nâng mông dưới cân implant
133
Hình. 3. (A) Lớp cân mạc che phủ cơ mông lớn. (B) Bóc tách lớp cân và cơ
để tạo mặt phẳng cấy ghép. (Trích từ de la Pena JA, Rubio OV, Cano JP, et
al. Subfascial Nâng mông. Clin Plast Surg 2006;33:409; đã xin phép trước
khi đăng tải.)
LỰA CHỌN BỆNH NHÂN

Những bệnh nhân có tập
luyện, giữ cân ở mức trung bình
và không có chùng da là những đối
tượng phù hợp cho kỹ thuật này.
Khi bệnh nhân bị chùng da quá
nhiều, da thường có độ đàn hồi kém
và cấu trúc hỗ trợ bên dưới yếu, đặc
biệt là lớp cân. Một số bệnh nhân
thừa cân và thậm chí béo phì cũng
có thể được chỉ định thực hiện kỹ
thuật này nhưng thường phải hút
– chuyển mỡ phức tạp hơn nhiều.
Nếu phải hút mỡ quá nhiều, nên
có kế hoạch cụ thể trước khi thực
hiện. Những bệnh nhân giảm cân
lượng lớn là những đối tượng phù
hợp, nếu họ cần phục hình vùng
mông và vùng lưng. Bệnh nhân có
chùng da vẫn muốn thực hiện kỹ
thuật này thì nên cắt bỏ một phần
da tương ứng.

Nâng mông dưới cân có thể
thực hiện thành công ở hầu hết
những bệnh nhân có vùng mông
tương đối dẹt, những người mong
muốn cải thiện hình dáng mông
và nâng cao tính thẩm mỹ vùng.
Kỹ thuật này có thể đưa các khối
anatomic implant vừa và nhỏ nếu
mục đích là cố định vùng da chùng
hoặc các khối implant lớn với mục
đích tăng thể tích và hình chiếu của
chúng (vùng nhô ra). Các khối im­
plant nhỏ khoảng 175 mL và 250
mL có thể được đặt vào với mục
đích nâng mông, cải thiện hình
dáng mà không làm tăng thể tích
quá nhiều. Vì khối implant được
đặt dưới cân và trên khối cơ mong
lớn, nên dạng anatomic sẽ là dạng
implant phù hợp nhất.

Những vấn đề mà chúng tôi
đề cập trong kỹ thuật nâng mông
dưới cân bao gồm các mốc giải
phẫu được đánh dấu trên da trước
phẫu thuật, kích thước và chất liệu
khối implant.

Chương 8: Nâng mông dưới cân implant
134
Hình. 4. Các tiêu bản khối implant dùng để đánh dấu vị trí trên da trước
phẫu thuật. (Trích từ de la Pena JA, Rubio OV, Cano JP, et al. Subfascial
Gluteal Augmentation. Clin Plast Surg 2006;33:410; đã xin phép trước khi
đăng tải.)
LÊN KẾ HOẠCH PHẪU THUẬT

Việc chuẩn bị bệnh nhân
trước khi thực hiện phẫu thuật bao
gồm cả khâu thảo luận kế hoạch chi
tiết với họ để tinh chỉnh sao cho đạt
được sự hài lòng nhất có thể. Bệnh
nhân cũng được yêu cầu không sử
dụng aspirin, vitamin E, acid béo
omega và các chất bổ sung vi lượng
đồng căn (ngoại trừ Arnica mon­
tana) bởi vì những dược chất này
làm tăng nguy cơ chảy máu trong
khi phẫu thuật. Họ nên được nhập
viện trước một ngày để hoàn tất
khâu chuẩn bị và được thụt tháo
đầy đủ.

Bệnh nhân ở tư thế đứng,
đánh dấu vị trí khối implant theo
tiêu bản như hình 4. Tiêu bản này
phải được đặt chính giữa vùng
mông, cách nếp lằn mông ít nhất
5cm và đường liên gai ít nhất 2cm
(Hình. 5).

Sau khi tìm được tiêu bản
phù hợp cho vùng mông mỗi bệnh
nhân, dựa vào kích thước tiêu bản
có thể dễ dàng xác định kích thước
khối implant (hình 6). Kích thước
khối implant nên được xác định
trước phẫu thuật và xác nhận lại
trong quá trình phẫu thuật (hình
7). Hiện nay đã có sẵn các khối im­
plant được thiết kế với nhiều hình
dạng và cấu trúc khác nhau, giúp
chúng ta có thể dễ dàng lựa chọn.

Chương 8: Nâng mông dưới cân implant
135
Hình. 5. Đánh dấu vùng phẫu thuật phải tuân theo hình thể giải phẫu vốn
có của từng bệnh nhân và đảm bảo rằng khối implant sẽ nằm phía ngoài
xương cùng và cách nếp lằn mông khoảng 2-5 cm. (Trích từ de la Pena JA,
Rubio OV, Cano JP, et al. Subfascial Gluteal Augmentation. Clin Plast Surg
2006;33:410; đã xin phép trước khi đăng tải.)
Hình. 6. Rạch da cạnh xương cùng, thực hiện bóc tách theo một góc nghiêng
từ đường rạch tới giới hạn là đường bờ ngoài xương cùng. Sau đó tiếp cận tới
lớp cân nông, rạch cân và đặt túi cấy dưới cân, trên bề mặt cơ mông lớn.(Trích
từ de la Pena JA, Rubio OV, Cano JP, et al. Subfascial Nâng mông. Clin Plast Surg
2006;33:411; đã xin phép trước khi đăng tải.)

Chương 8: Nâng mông dưới cân implant
136
Hình. 7. Đặt sizer lên trên vùng mông để ước lượng vị trí khối implant.
(Trích từ de la Pena JA. Subfascial technique for Gluteal Augmentation.
Aesthet Surg J 2004;24:268; đã xin phép trước khi đăng tải.)
TƯ THẾ BỆNH NHÂN

Thủ thuật được bắt đầu sau
gây mê hoặc tê tủy sống, nhưng
chúng tôi ưu tiên gây mê vì tê tủy
sống dễ gây giãn mạch trong khi
phẫu thuật, tăng nguy cơ chảy máu.
Bệnh nhân được đặt ở tư thế nằm
sấp, đeo tất áp lực và dùng thuốc
chống huyết khối với thông tiểu và
các miếng đệm ở vùng tì đè (vai,
xương chậu, đầu gối). Dùng săng
trải từ hố khoeo đến vùng lưng trên.
Dùng gạc tẩm iodopovidone đặt
lên hậu môn, khâu gá một miếng
sponge vô khuẩn bằng chỉ lụa 2-0
ngay trên vị trí của gạc để bao phủ
toàn bộ vùng hậu môn và vùng
mông trong, tránh nhiễm trùng.
Cuối cùng là dán lên trên vùng hậu
môn một tấm opsite kháng khuẩn.
PHƯƠNG PHÁP PHẪU THUẬT

Tiêm tê dưới da bằng hỗn
hợp lidocain 2% với epinephrine
sau đó thêm ropivacain 7.5%. Trên
lỗ hậu môn 5cm, rạch hai đường
mỗi đường dài 6cm về hai phía
mông cho tới khi tiếp cận được lớp
cân mạc ở bờ ngoài xương cùng. Từ
vị trí đó, tiếp tục rạch một đường
dài khoảng 8-10 cm song song với
bờ ngoài xương cùng, đi lên trên và
cong lõm về phía mông tương ứng
để bộc lộ lớp dưới cân (Hình 8).

Dùng khoảng 100-150 mL
dung dịch Tumescent (dung dịch
làm phồng) thông qua một canuyn
tiêm vào khu vực vừa rạch để bộc
lộ mặt phẳng vô mạch ở lớp cân
mạc, tạo thuận cho việc bóc tách
các vách ngăn giữa cân và cơ ở

Chương 8: Nâng mông dưới cân implant
137
Hình. 8. (A) Phẫu thuật được lên kế hoạch, sử dụng các tiêu bản phù hợp
với vùng mông của bệnh nhân với các đường rạch dài 6cm ở hai bên, trên
vị trí hậu môn ít nhất 5cm. (B) Đây là hình ảnh bệnh nhân với tiền sử có
bệnh lý liên quan vùng mông, đồng thời đã từng thực hiện hút mỡ mông
trước đó, nên chúng tôi quyết định đặt đường rạch cao hơn bình thường
để tránh các biến chứng.
khu vực dưới cân, từ đó có thể bóc
tách được lớp cân mạc nguyên vẹn
(Hình 9). Các vách ngăn này chạy
cùng chiều với các bó cơ mông mà
chúng che phủ tương ứng, nên khi
bóc tách trông chúng như đang tỏa
ra như hình rẻ quạt.

Dụng cụ bóc tách hai đầu tù,
hình tròn được sử dụng để phân
tách mặt phẳng vô mạch đã được
bộc lộ bằng cách tiêm dung dịch
trước đó, nhằm bảo tồn tối đa vách
và lớp cân mạc. Nên thực hiện
bóc tách từ trong ra ngoài, từ trên
xuống dưới với một dụng cụ banh
có đèn sợi quang (Hình 10). Để
tách các vách ngăn, sử dụng một
cây bóc tách dài có một đầu nhọn
hoặc kéo dài (Hình 11). Các nhánh
động mạch mông trên, mông dưới
và một số mạch nuôi cho vùng cân
mạc được đốt điện. Hãy chắc chắn
rằng cả hai bên túi được bóc tách
trước khi đặt mô cấy để dễ dàng
căn chỉnh hai bên cho cân đối (Hình
12 và 13). Sau khi bóc tách xong, sử
dụng các sizer đặt vào mặt phẳng
vừa bóc tách để xác nhận lại kích
thước khối implant phù hợp cho
bệnh nhân (Hình 14).

Chương 8: Nâng mông dưới cân implant
138
Hình. 9. Đánh dấu các mốc giải phẫu quan trọng. (A) Đường rạch cân cơ mông
lớn bắt đầu từ bờ ngoài xương cùng (B) Bắt đầu bóc tách lớp cân từ đường rạch
ban đầu (Trích từ de la Pena JA, Rubio OV, Cano JP, et al. Subfascial Gluteal aug­
mentation. Clin Plast Surg 2006;33:411; đã xin phép trước khi đăng tải.)
Hình. 10. Dụng cụ banh có chứa các đèn sợi quang và cống hút khói, vừa hỗ trợ
quá trình bóc tách vừa giúp nâng vạt cân mạc một cách hiệu quả.

Chương 8: Nâng mông dưới cân implant
139
Hình. 11. Dụng cụ phẫu thuật tiêu chuẩn cho kỹ thuật nâng mông dưới cân.
Hình. 12. Bóc tách mặt phẳng dưới cơ trước khi đặt sizer để ước tính vị trí, kích
thước khối implant khi đặt vào (From de la Pena JA, Rubio OV, Cano JP, et al. Sub­
fascial Nâng mông. Clin Plast Surg 2006;33:412; đã xin phép trước khi đăng tải.)

Chương 8: Nâng mông dưới cân implant
140
Hình. 13. Bóc tách lớp dưới cân của một tử thi và nâng lên để quan sát. Đường
rạch lớn như thế này chỉ với mục đích quan sát và minh họa quá trình phẫu
thuật, không áp dụng trong lâm sàng. Trong thực tế, một đường rạch tiêu chuẩn
chỉ dài 6-7 cm. (From de la Pena JA. Subfascial technique for Nâng mông. Aesthet
Surg J 2004;24:268; đã xin phép trước khi đăng tải.)
Hình. 14. Sau khi hoàn thành việc đặt túi, hãy đặt 1 sizer vào để đánh giá tính cân
đối và thể tích khoảng không gian bên trong đó. Chú ý khối implant phải vừa khít
với túi. (From de la Pena JA, Rubio OV, Cano JP, et al. Subfascial Nâng mông. Clin
Plast Surg 2006; 33:414; đã xin phép trước khi đăng tải.)

Chương 8: Nâng mông dưới cân implant
141

Trước khi các loại micro­
textured implant ra đời, chúng tôi
thường phải sử dụng các dẫn lưu ở
phía trên và phía bên ngoài khu vực
mô cấy. Tuy nhiên, ngày nay chúng
tôi không còn phải sử dụng dẫn lưu
nhiều nữa. Chúng ta biết rằng các
loại macrotextured implant và loại
implant phủ polyurethane khi đặt
vào hiếm khi xuất hiện biến chứng
bướu huyết thanh vì khả năng dính
cao của chúng đối với các mô xung
quanh. Kết quả này cũng tương tự
đối với implant ngực, bướu huyết
thanh rất ít khi xuất hiện, đặc biệt
đối với các loại implant mềm.

Các loại microtextured im­
plant hoạt động tương tự như các
loại implant mềm. Như vậy, chúng
tôi ưu tiên dùng loại cấu trúc vỏ
microtextured này thay cho các
loại khác. Và cho tới thời điểm hiện
tại thì không ghi nhận trường hợp
xuất hiện biến chứng kể trên.

Sau đó, mô cấy sẽ được đưa
vào, đảm bảo rằng nó được căn
chỉnh hoàn hảo, thẳng trục và vừa
khít bên trong túi (Hình 15). Chúng
tôi nhấn mạnh rằng tất cả các khối
implant đều phải có 1 đường trắng
chạy ngang qua tâm điểm của chúng
để tạo thuận cho việc căn chỉnh vị
trí (Hình 16). Không bao giờ được
đặt khối implant chếch vì chúng sẽ
tạo ra hiệu ứng bong bóng kép ở ¼
dưới ngoài vùng mông (Hình 17).

Sau khi đã đưa các khối im­
plant này vào, thực hiện đống vết
mổ bằng cách khâu lớp cân mạc
bằng hai đường chỉ, một là nylon
2-0 mối rời và polyglactin 910 loại
2-0 đầu tròn mối liên tục, các mối
khâu không được quá căng nhằm
tạo thuận cho quá trình liền nhưng
vẫn che phủ tốt được khối implant.

Sau đó khâu đóng tổ chức
sâu và nông dưới da riêng biệt
bằng chỉ polydioxanone 2-0. Đóng
lớp da bằng chỉ polydioxanone 3-0
mũi vát và khâu vắt thêm một sợi
monofilament 4-0 không tiêu (vd:
nylon) và cuối cùng gia cố thêm
bằng keo sinh học.

Ở những bệnh nhân cần
phải cắt bỏ một phần da, nên cắt ở
vùng mông trên. Đường rạch và cắt
phải được tính toán sao cho việc
bóc tách qua mặt phẳng dưới cân
đi qua khu vực da bị cắt bỏ đó để
thuận tiện cho việc khâu nối sau
này. Cách cắt bỏ da thừa như sau:
ở vùng thắt lưng hoặc mông trên,
cắt phần da và tổ chức dưới da hình
chêm (hình tam giác đỉnh hướng
vào xương cùng) ở hai bên. Nên
cắt bỏ da thừa trước khi tiêm dung
dịch tumescent và thực hiện quy
trình bóc tách như đã mô tả ở trên.

Chương 8: Nâng mông dưới cân implant
142
Hình. 15. Đường chia đôi mông theo phương ngang phải đi qua đường
trắng giữa của khối implant để đảm bảo khối này được đặt đúng vị trí.
Hình. 16. Hình nhìn từ phía sau các khối implant ở đúng vị trí trong mối tương
quan giữa xương cùng, rãnh liên mông và giới hạn ngoài cơ mông lớn. Đường
giữa được vẽ nét liền trên hình đi qua cả hai đường đánh dấu của khối implant.
(Trích từ de la Pena JA. Subfas¬cial technique for Gluteal Augmentation. Aesthet
Surg J 2004;24:269. đã xin phép trước khi đăng tải.)

Chương 8: Nâng mông dưới cân implant
143
Hình. 17. Khối implant silicone (bên trái) và elastomer (bên phải) với một
vạch trắng ở giữa để giúp Bs có thể định vị chúng khi phẫu thuật.
BIẾN CHỨNG VÀ QUẢN LÝ BIẾN
CHỨNG

Biến chứng thường gặp là
tình trạng bục vết mổ. Vì thế nên
đường rạch hai bên được thực
hiện, và chúng đã giúp giảm tỉ lệ
biến chứng này từ 30% xuống chỉ
còn 5-7.9% so với việc rạch một
đường ở giữa xương cùng. Quản lý
tốt quy trình chăm sóc vết mổ sẽ tạo
thuận cho quá trình liền cũng như
hạn chế tình trạng lộ mô cấy (biến
chứng này xảy ra với tỉ lệ 2%). Cách
tiếp cận này bao gồm chăm sóc vết
thương tại chỗ bằng dung dịch khử
trùng có thành phần Clo và H202.
Sau khi tưới rửa bằng dung dịch
này, vết thương được xử lý (bôi)
bằng gel chứa các tinh thể bạc hoặc
alginate bạc và sau đó được phủ
lên bằng tấm băng có chứa Triti­
cum vulgare cùng với băng kháng
khuẩn không dính. Cuối cùng, vết
mổ được dán bằng một tấm băng
plastic để tránh tiếp xúc với đường
mổ bên cạnh cũng như các rác nhân
gây bệnh từ bên ngoài. Dịch tiết từ
vết mổ có thể phải nuôi cấy và điều
chỉnh kháng sinh trong các trường

Chương 8: Nâng mông dưới cân implant
144
hợp nghi ngờ nhiễm khuẩn. Nếu
xuất hiện sẹo, có thể gaiir quyết
chúng sau 3-6 tháng khi vết mổ đã
lành hẳn.

Bướu huyết thanh có thể
xuất hiện, làm thay đổi vị trí mô
cấy, dẫn tới nguy cơ bất đối xứng
và nhiễm trùng. Do đó, phải hạn
chế tối đa biến chứng này. Các khối
bướu huyết thanh xuất hiện muộn
(sau 3-6 tháng hậu phẫu) thường
gặp khi đặt các textured implant
(dạng nhám) với tỉ lệ 3-3.7%. Theo
kinh nghiệm của chúng tôi, để giải
quyết vấn đề này có thể thay thế
loại mô cấy (sang dạng trơn), cắt
bỏ một phần vỏ và đặt dẫn lưu.

Tỷ lệ nhiễm trùng thường
thấp hơn 1% và điều trị thường cần
loại bỏ tạm thời mô ghép ra ngoài.
Cảm giác vùng mông có thể bị mất
đi trong 6 tuần đầu sau phẫu thuật
và sẽ hồi phục trở lại sau 4 tháng.

Những biến chứng ít gặp
khác bao gồm co thắt bao xơ, xoay
mô ghép, và loét da, với tỉ lệ chung
vào khoảng dưới 1% mỗi loại và
đều phải cản thiệp phẫu thuật để
giải quyết chúng.
CHĂM SÓC HẬU PHẪU

Vì tình trạng bục vết mổ
thường xuất hiện từ ngày thứ 12
đến 16 sau phẫu thuật, bệnh nhân
nên được hướng dẫn hạn chế các
hoạt động gây tăng áp, co kéo vùng
mông trong khoảng thời gian này.
Sau 2 tuần, Bệnh nhân có thể hoạt
động trở lại, nhưng các hoạt động
thể chất và ngồi nhiều thường phải
hạn chế tối đa trong tháng đầu tiên,
trừ những lúc đi vệ sinh. Khi đi toi­
let, nên khuyên bệnh nhân dùng
loại toilet với nắp ngồi cao và có
tay cầm để làm giảm áp lực lên vết
mổ. Khi ngủ nếu nằm ngửa thì phải
kê thêm 1 gối dưới thắt lưng và 1
gối dưới vùng đùi trên trong vòng
3 tuần. Nếu có thể thì nên nằm sấp.
Dụng cụ hỗ trợ

Nên mặc các loại quần nịt
trong vòng 6 tuần sau phẫu thuật
để luôn duy trì một lực tương đối
ở vùng mông trên. Nếu muốn hạn
chế đè ép vào vết mổ, có thể chỉ
dùng các loại dây nịt tại đúng vị trí
1/3 trên. Nếu dùng dây nịt thì nên
kèm thêm 1 miếng nịt bụng ở trên
để cân bằng áp lực giữa vùng mông
và bụng.
Chăm sóc vết mổ

Khi tháo băng, bệnh nhân
vẫn phải tiếp tục rửa vết mổ bằng
dung dịch sát khuẩn hàng ngày, sau
mỗi lần đi vệ sinh. Bệnh nhân có thể
tắm ngay 1 ngày sau phẫu thuật.
Dùng kháng sinh dự phòng (moxi­
floxacin) ngay trước phẫu thuật và
duy trì sau phẫu thuật 10 ngày. Sau
mỗi lần hẹn đến khám lại, nên bổ
sung vào vết mổ các loại keo liền
vết thương để tránh sự xâm nhập
của vi khuẩn.

Chương 8: Nâng mông dưới cân implant
145
Hình. 18. . (A) Hình anh trước
và (B) và sau phẫu thuật làm
đầy mông của bệnh nhân
được đặt khối implant dưới
cân thể tích 225 mL, hai bên.

hacklink satın al mumu模拟器 雷电模拟器 向日葵 giftcardmall/mygift giftcardmall balance mygift giftcardmall matbet matbet giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Betgaranti Betgaranti Güncel Adres Betgaranti Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Fim İzle Fim İzle Giriş Fim İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Fim İzle Fim İzle Güncel Adres Fim İzle jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Giriş Casibom Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Jojobet Jojobet Giriş Jojobet Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Deneme Bonusu Film İzle Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Türkçe Dublaj Film İzle Film İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi perabet perabet giriş holiganbet holiganbet giriş Casibom Lesfillmercom Casibom Lesfillmercom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Gerbergirlcom Casibom Gerbergirlcom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Spcelectriccontrolcom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş marsbahis marsbahis giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş matbet matbet giriş matbet güncel giriş vaycasino vaycasino güncel giriş vaycasino giriş matbet matbet giriş pusulabet pusulabet giriş pusulabet pusulabet güncel giriş pusulabet giriş matbet matbet güncel giriş matbet giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Resmi Adres pusulabet pusulabet giriş pusulabet güncel giriş Fixbet Fixbet Güncel Giriş Salvobet Salvobet Giriş Salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Turk Porno Turk Porno Giriş Turk Porno casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi casibom casibom jojobet izmir escort izmir buca escort buca escort jojobet casibom holiganbet holiganbet giriş jojobet holiganbet holiganbet giriş jojobet jojobet jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş izmir escort izmir buca escort buca escort izmir escort bayan salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Giriş Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Deneme Bonusu Veren Giriş Deneme Bonusu Veren salvobet salvobet salvobet salvobet Casibom betgaranti betgaranti betgaranti matbet matbet giriş matbet matbet giriş Casibom Casibom Salvobet jojobet Salvobet Salvobet Salvobet Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Güncel Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis bahsegel Fixbet Fixbet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş 1xbet 1xbet Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Listesi Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler grandpashabet grandpashabet grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler vaycasino vaycasino giriş jojobet grandpashabet casibom Casibom Casibom Giriş casibom www.giftcards.com Marsbahis grandpashabet jojobet jojobet grandpashabet casibom jojobet Casibom Casibom Casibom Casibom Casibom Grandpashabet Grandpashabet Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Marsbahis Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres grandpashabet grandpashabet giriş Casibom Fixbet Fixbet Giriş Casibom Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Holiganbet Holiganbet Güncel Adres Nevşehir escort Kapadokya escort Nevşehir escort bayan nevşehir eskort escort nevşehir Casibom Casibom Giriş Adresi Kapadokya esc Casibom Casibom Resmi Adres Matbet Matbet Matbet Güncel Adres Pusulabet Pusulabet Giriş Adresi imajbet giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Trabzon escort escort trabzon Trabzon escort bayan Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler