Chương 9 : Mổ qua đường nách
145
Hình 9.3 (a, b) Thiết kế đường rạch da thay thế.
Hình 9.4 Dụng cụ được sử dụng để hỗ trợ bóc tách ban đầu.
Chương 9 : Mổ qua đường nách
146
9.2. 2 Vẽ đánh dấu
Vẽ một vết mổ ngắn trong nếp gấp da hiện có ở đỉnh nách. Tác giả lên kế
hoạch xung quanh nếp gấp da rõ ở nách để lựa chọn sử dụng đường mổ. Tác giả
thích đánh dấu vị trí đường mổ trước phẫu thuật khi bệnh nhân ngồi. Sử dụng
các mốc để giữ đường mổ trong vùng da có mang lông, xác nhận trước khi đặt
đường mổ với bệnh nhân, định vị cho phẫu thuật theo phương pháp gây mê toàn
thân. Đánh dấu đường rạch dài hơn khi bệnh nhân tỉnh táo ở tư thế ngồi, vị trí
đầu tiên là ở cạnh sau của bờ cơ răng trước và là cạnh trước của bờ sau của hõm
nách. Đỉnh nách sau đó được đánh dấu bằng một dấu chấm ( Hình. 9.5a). Đường
rạch được kéo dài về phía trước nằm ở bờ sau cơ ngực lớn. Nếu chọn đường rạch
chữ S, phần mở rộng phía trước ít hơn ở phía sau cạnh sau của cơ ngực lớn. Vết
mổ được kéo dài ra phía sau từ điểm đỉnh nách, cạnh lớn ra sau để đường mổ
không nhìn thấy nếu tay bệnh nhân đặt trên eo của họ. Nếu chọn đường rạch chữ
S, phần trung tâm của chữ S được tập trung ở nếp gấp da và đầu trên cũng để đi
theo vùng da có lông. Điều này được xác định trước trong vùng hõm nách trước
khi bắt đầu phẫu thuật ( Hình 9.5b, Video 9.1).
9.2.3 Chi tiết về phẫu thuật
Ban đầu, dùng dao rạch da sâu xuống lớp hạ bì, ngay lập tức bóc tách rộng
vào mặt phẳng dưới da bằng đầu đốt điện đơn cực với đầu kim Colorado. Bóc
tách ban đầu được hướng về phía trước về bờ ngoài của cơ ngực lớn, phải cẩn
thận giữ nguyên mặt phẳng dưới da.
Đối với đường mổ ngắn, ban đầu thực hiện điều bằng dao mổ điện ở chế
độ đốt, sử dụng móc da rộng 2 đâu để kéo da và dùng kéo thẳng đầu cùn để tiếp
tục tách đến cạnh bên của cơ ngực lớn ( Hình. 9.6). Không khuyến khích dùng
ngón tay cái tay không thuận để nhấc mặt sau của cơ ngực lớn lên, dùng cái kéo
chèn ngay bên dưới mép cơ vào khoảng không gian dưới cơ ngực lớn. Cái kéo
nằm trong mặt phẳng nông và song song với mặt trước của các xương sườn để
không để vô tình bóc tách vào lồng ngực.
Khi rạch da dài hơn và hình chữ S, rạch theo đường chéo ngắn trước khi
mở đường mổ để đảm bảo dễ căn chỉnh và đóng vết mổ dễ dàng. Sau khi tạo vết
mổ, sử dụng móc 4 nhánh Freeman để nhấc mặt phẳng dưới da lên ngay lập tức.
Mặt phẳng mổ chính xác được lặp đi lặp lại khi nó tới phía ngoài cơ ngực lớn. Móc
Freeman sau đó được thay thế bằng một retactor có quang sợi dày 1 inch khi tiếp
cận bờ ngoài của cơ ngực lớn. Retractor sẽ giúp nhận dạng được ngay mặt dưới
bờ ngoài của cơ ngực lớn. Điều này cho phép nhìn thấy trực tiếp để bóc tách vào
không gian dưới cơ ngực lớn bằng cách sử dụng đốt điện vào mọi lúc. Cách tiếp
cận này cho thấy khả năng hiển thị tối ưu của mặt dưới cơ ngực lớn (Hình 9.7;
Video 9.2).
Chương 9 : Mổ qua đường nách
147
Hình 9.5 (a) Đường mổ ở hố nách, (b) Phần kéo dai mở rộng ra trước và ra sau
Hình 9.6 Ban đầu, ngay lập tức thực hiện bóc tách trong mặt phẳng mô dưới da.
Chương 9 : Mổ qua đường nách
148
Hình 9.7 . Thực hiện xâm nhập vào không gian dưới cơ ngực lớn (a) Nhìn trực tiếp và (b)
với hỗ trợ retactor kéo lên.
9.2.4 Cẩn thận
Vấn đề quan trọng cho giai đoạn bóc tách ban đầu là giữ cho mặt phẳng
bóc tách nằm trong mặt phẳng dưới da cho đến bờ ngoài cơ ngực lớn. Điều này
liên tục là để tránh tổn thương đến dây thần kinh liên sườn và hạch bạch huyết
ở các mô của nách. Bóc tách trong mặt phẳng dưới da ngay lập tức dẫn đến việc
tạo ra một vạt da mỏng mà không bị phá hủy bởi dao mổ điện dùng để bóc tách.
Mổ bóc tách cẩn thận trong giai đoạn này ngăn ngừa chảy máu và tạo điều kiện
tốt cho các bước tiếp theo của phẫu thuật.
9.2.5 Ưu điểm
Có những nhược điểm vốn có trong việc lựa chọn đường mổ bằng phương
pháp này. Tùy chọn đường mổ ngắn, từ 2,5 đến 3 cm ở đỉnh nách, trong một nếp
gấp da hiện có là một lựa chọn cho đặt túi nước biển. Kỹ thuật này có ưu điểm là
để lại vết sẹo bên ngoài ít nhìn thấy nhất, nhưng ít cho phép nhìn thấy trực tiếp
khi bóc tách sâu hơn và xâm nhập vào khoang dưới cơ ngực lớn. Đường hầm bóc
tách hẹp hơn, với kinh nghiệm, nếu có thể được tạo ra một đường hầm nhất định
thì đường mổ sẽ nhỏ hơn. Kinh nghiệm đã chỉ ra rằng điều này là có thể trên cơ
sở nhất định và đã khiến tác giả tiếp tục sử dụng phương pháp này thường xuyên
cho đặt túi nước biển.
Ngoài ra, phương pháp rạch da dài hơn cho phép thấy được tất cả các chi tiết của
bóc tách ban đầu, bao gồm cả đi vào khoảng không dưới da. Vùng này sẽ không
có mạch máu. Móc 4 chấu Freeman, được thay thế bằng retractor có quang sợi
dày 1 inch, cho phép nhìn thấy rõ ràng, với thao tác kéo da lên để phòng ngừa tổn
thương vạt da dư được tạo ra bởi sự bóc tách mặt phẳng bên ngoài. Tuy nhiên,
cần có sự đảm bảo hơn nữa đối với bệnh nhân trong giai đoạn hậu phẫu sớm đối
với kết quả cuối cùng của vết mổ. Kinh nghiệm này đã khiến tác giả chỉ sử dụng
Chương 9 : Mổ qua đường nách
149
các phương pháp rạch dài hơn cho đặt túi gel silicon, trong đó độ dài đường mổ
được thêm vào là cần thiết để nhét thành công các túi ngực được làm sẵn mà
không thể thực hiện được thông qua phương pháp rạch ngắn thay thế đã mô tả
cho đặt túi nước biển ban đầu trống rỗng và bơm phồng sau khi đặt.
9.3 Bóc tách cơ: Phần I
9.3.1 Dụng cụ
Máy nội soi góc mười milimét, góc 30 độ, retractor có ống nội soi, máy nội
soi có ống hút kết hợp, dao mổ điện có tích hợp hút, bàn đạp dao mổ điện lưỡng
cực, nội soi có đèn, dung dịch đông. ( Hình. 9.8).
9.3.2 Vẽ điểm mốc
Ban đầu, bóc tách dưới cơ là ở dưới quần vú, định hướng bằng cách nhìn
thấy hình ảnh của xương sườn trong mặt phẳng sâu, trước mặt phẳng ở quần vú
sẽ thấy cơ ngực lớn ở trên, ở trong và ngoài ( Hình 9,9).
9.3.3 Chi tiết về phẫu thuật
Phần I của bóc tách cơ tập trung vào việc tạo ra phẫu trường để nhìn thấy
và chuẩn bị cho việc giải phóng cơ. Mặt phẳng bóc tách nằm trong 2 cơ, lớp sâu
là cơ ngực bé, lớp nông là cơ ngực lớn, sau đó đi xuống dưới hơn là giữa cơ ngực
lớn và xương sườn ở phía xa / thấp của phẫu trường. Qua nội soi, thấy được mặt
phẳng nằm dưới cơ ngực lớn, chỉ sử dụng dao điện, cầm máu bằng đốt điện triệt
để, để cho phép tránh chảy máu và duy trì khả năng nhìn thấy phẫu trường được
tối ưu. Bóc tách ngay bên dưới mặt dưới của cơ ngực lớn, theo hướng từ đường
mổ về phía nếp lằn vú, trong một phẫu trường rộng, cho đến khi nhìn thấy rõ các
xương sườn ( Hình 9.10). Nhìn thấy xương sườn là cột mốc quan trọng ban đầu
để duy trì định hướng nội soi và chuẩn bị cho việc tạo ra phẫu trường đầy đủ
trước khi tách cơ ngực lớn.
Độ rộng của phẫu trường được duy trì trong suốt, lộ ra của mặt dưới của
cơ ngực lớn kéo dài đến các phần phụ của cơ ngực lớn chèn vào bên dưới ở ngang
mức nếp lằn vú, đến phần đính phía ngoài và tới cơ răng trước. Khi chưa thực
hiện xong giai đoạn này thì không được chia hoặc tách cơ ngực lớn. Trọng tâm
là chuẩn bị và tạo ra một phẫu trường để tạo điều kiện cho việc tiếp xúc và nhìn
thấy rõ và nhìn trực tiếp để kiểm soát tốt việc bóc tách cơ ngực lớn là phần chính
của chia tách cơ ngực lớn. Phạm vi bóc tách trong giai đoạn sớm nhất của kỹ
thuật này được xác đinh từ mốc ngoài đến mốc trong của giải phẫu ( Hình 9.11;
Video 9.3). Khi tạo khoang túi thì tránh chảy máu làm nhuộm màu phẫu trường
ảnh hưởng đến bóc tách
.
Chương 9 : Mổ qua đường nách
150
Hình. 9.8 Dụng cụ nội soi để bóc tách : Phần I.
Hình.9. 9 Hình ảnh nội soi ban đầu về mặt phẳng ở quần vú, nằm giữa cơ ngực lớn và cơ
ngực bé, để bắt đầu tạo khoang túi.
Chương 9 : Mổ qua đường nách
151
Hình 9.10 Hình ảnh nội soi của xương sườn để duy trì định hướng thích hợp.
9.3.4 Cẩn thận
Phần này của phẫu thuật là rất quan trọng để duy trì hình ảnh rõ nét để
chuẩn bị cho việc giải phóng cơ ngực lớn. Lúc đầu của trong giai đoạn này, bóc
tách phụ thuộc vào sự xâm nhập chính xác vào mặt phẳng mô, nằm giữa cơ ngực
lớn và cơ ngực bé, liên quan đến cơ ngực bé. Vấn đề tiếp theo là bóc tách cẩn thận
trong mặt phẳng quần vú, lớp nông là mặt dưới cơ ngực lớn, lớp sâu là nhìn thấy
rõ các xương sườn, để tránh vô tình xâm nhập vào khoang lồng ngực. Nếu tác giả
không có kinh nghiệm về vấn đề này thì việc xâm nhập vào khoang lồng ngực có
thể xảy ra dễ dàng hơn so với khi nhìn thấy rõ, đặc biệt ở những bệnh nhân có
hình dạng thành ngực khó xác định hoặc biến dạng thành ngực. Chia ra 2 phần
riêng biệt trước và sau khi tách cơ ngực lớn để tránh phẫu thuật sai, trong đó
Không được chia tách cơ ngực lớn cho tới khi đã xác định rõ ràng toàn bộ
chỗ bám cơ ngực lớn ở ngang mức của nếp lằn vú.
Chương 9 : Mổ qua đường nách
152
Hình 9.11 Hình ảnh nội soi tạo ra quang cảnh giải phóng cơ ngực lớn.
9.3.5 Ưu điểm
Chỉ thực hiện dùng dao mổ điện trong giai đoạn ban đầu của việc tạo kho
ang túi. Mặc dù giai đoạn này có thể được thực hiện với bóc tách bằng kéo đầu
tù, có thể thực hiện nhanh hơn, nhưng với kinh nghiệm đã cho thấy rằng chảy
máu và phẫu trường kém do máu chảy sẽ dẫn đến kéo dài quá trình giải phóng cơ
ngực lớn và có khả năng làm phức tạp cuộc phẫu thuật cũng như khả năng phục
hồi của bệnh nhân. Một kinh nghiệm lớn của tác giả đã dẫn đến sự tiến triển tốt
trong việc dùng máy đốt điện gần như hoàn chỉnh, và nhấn mạnh vào việc tạo ra
khoang túi hoàn chỉnh trước khi bóc tách cơ ngực lớn thực sự. Kỹ thuật này cho
thấy khả năng nhìn thấy rõ phẫu trường, kiểm soát giải phóng cơ ngực lớn để
theo dõi, và cải thiện phục hồi bệnh nhân. Hơn nữa, kỹ thuật này đơn giản hóa
rất nhiều khi giải phóng cuối cùng của cơ ngực lớn.
9.4 Phân chia cơ: Phần II
9.4.1 Dụng cụ
Chương 9 : Mổ qua đường nách
153
Máy nội soi 10 mm, có góc 30 độ, retractor có ống nội soi, đầu dao điện có gắn
ống hút, bàn đạp máy đốt điện lưỡng cực, ống nội soi có gắn đèn, dung dịch đông lạnh,
dụng cụ tách Agris-Dingman ( Hình 9.1.2).
9.4.2 Vẽ đánh dấu
Vẽ đánh dấu mặt trong của vú là đường liên tục từ nếp lằn vú chạy vào
trong ngay mức chỗ bám đầu trong cơ ngực lớn. Mặt ngoài liên quan đến chỗ
bám bên ngoài của cơ ngực lớn, nơi bóc tách cơ ngực lớn tận hết bằng nọi sôi.
Sau đó, giải phóng cơ tiến hành theo hướng từ trong ra ngoài. Giải phóng cơ bên
trong là cắt các nhánh bám vào xương ức. Khi giải phóng cơ bên trong thì lưu ý
rằng không nên giải phóng cơ lên cao hơn mức ngang của núm vú. ( Hình 9.13).
9.4.3 Chi tiết về kĩ thuật
Điểm bắt đầu giải phóng cơ ngực lớn là bên trong, tương ứng với mặt
ngoài nơi đã đánh dấu trước phẫu thuật, tại ngang mức bên trong của nếp lằn
vú. Vị trí và mức độ của điểm này được xác nhận bằng cách tương quan giải phẫu
bên trong với đánh dấu bên ngoài. Hình. 9.14 cho thấy một ví dụ về điểm bắt đầu
giải phóng cơ ngực lớn, nhìn thấy bên trong với sự trợ giúp của máy nội soi ở mặt
trong của vú phải, liên quan với các dấu hiệu bên ngoài, trước khi giải phóng mô.
Sau đó, tiến hành giải phóng ra ngoài, từ trái sang phải, ngay trên nếp lằn vú dự
định (vẽ trước).
Dùng máy đốt điện để cắt tách các cột cơ của cơ ngực lớn, từ bên trong
đến bên ngoài, liên tục kiểm tra hướng của ống nội soi, một lần nữa xác định giải
phẫu bên trong đến các điểm tham chiếu bên ngoài. Tham chiếu tương quan bên
trong với bên ngoài bằng cách bóc tách dần tổ chức mô, tại vị trí mong muốn liên
quan đến nếp lằn vú bên trong. Kiểm soát tốt bất kỳ điểm có khả năng chảy máu
nào là rất quan trọng để duy trì hình ảnh tối ưu cho bóc tách giải phóng cơ qua
nội soi
Sau đó, tiếp tục giải phóng ra ngoài tới bờ của cơ ngực lớn. Độ sâu của giải
phóng (nhìn qua nội soi bên trong từ sâu đến nông), từ bề mặt sâu của cơ ngực
lớn bao gồm cả cân trước cơ lớn, có thể dễ dàng thực hiện và kiểm soát tùy thuộc
vào kế hoạch phẫu thuật. Sau khi rút ống nội soi ra, dùng dụng cụ tách tổ chức
Dingman-Agris, đầu tiên là bên trong và sau đó ra bên ngoài, để kiểm tra mức
độ giãn của tổ chức và kích thước của khoang túi ngực. Bất kỳ một sự tinh chỉnh
nhẹ cần thiết nào thì phải dùng dụng cụ tách tổ chức Dingman-Agris để tách nhẹ,
hoặc qua ống nội soi, dùng kéo cắt và đốt điện cầm máu. Nếu sử dụng bóc tách
đầu tù, thì phải đưa lại ống nội soi để kiểm soát bất kỳ điểm chảy máu nào trước
khi đặt túi.
9.4.4 Cẩn thận
Thách thức của bóc tách cơ: Phần I là tạo ra một khoang quang rộng trong
Chương 9 : Mổ qua đường nách
154
Hình 9.12 Thiết bị đo cho pectoralis phát hành cơ bắp chính.
Hình 9.13
T ư ơ n g
quan
các
dấu
hiệu
bên ngoài
với
giải
phẫu
bên
t r o n g .
Toàn
bộ
phạm
vi
bên trong
của
vú
được
xác
nhận.
Chương 9 : Mổ qua đường nách
155
giới hạn của giải phẫu bên trong và duy trì hình ảnh tối ưu ở mặt dưới của cơ
ngực lớn. Sự rõ ràng của quan điểm của việc giải phóng cơ ngực lớn trong trường
hợp này có thể tác động đồng thời tạo ra một số vấn đề quá mức hoặc các tác
động ngoài ý muốn khác. Các khả năng hoàn thành giải phóng cơ ngực lớn phụ
thuộc vào
Hình 9.14 Giải phóng cơ bắt đầu từ trong ra ngoài, cắt cơ ngực lớn.
khả năng thường xuyên để duy trì định hướng chính xác bằng nội soi. Kỹ năng nội
soi cơ bản này là rất quan trọng và trở thành bản chất kinh nghiệm thứ hai. Điều
này phải được kiểm tra nhiều lần trong giai đoạn giải phóng cơ để đảm bảo kiểm
soát mức độ giải phóng liên quan đến nếp lằn vú đang hiện có. Chú ý cẩn thận về
điều này cho phép kiểm soát mức độ của nếp lằn vú, cho dù kế hoạch phẫu thuật
là duy trì nếp lằn vú ở vị trí cũ hay hạ thấp vị trí xuống ở vị trí mới trên từng bệnh
nhân cụ thể. Khía cạnh khác của độ nhìn rõ ràng là độ sâu và mức độ giải phóng
mô, và liệu sự giải phóng đó có bao gồm độ dày đầy đủ cơ hay không và liệu nó
sẽ kéo dài vào trước cân cơ ngực hay sâu hơn (vì việc bóc tách qua nội soi được
thực hiện từ sâu đến nông) Lớp cân Scarpa. Giải phóng qua các lớp cân cơ này
thì phải theo thiết kế, theo kế hoạch ở một bệnh nhân cụ thể, để tránh việc vô
tình giải phóng và làm mỏng quá mức các lớp hỗ trợ mô quan trọng (Video 9.4).
9.4.5 Ưu điểm
Tại thời điểm viết bài này, tác giả đã thực hiện kỹ thuật này đã 20 năm. Đã
có một sự phát triển nhất định để gần như hoàn toàn nhấn mạnh vào kỹ thuật đốt
điện dứt khoát và duy trì hình ảnh tối ưu. Trong mỗi bước của kỹ thuật từ vết mổ
đến bóc tách ban đầu, đến bờ ngoài của cơ ngực lớn, để đi vào không gian dưới
da, để tạo khoang túi ngực bằng dùng chế độ đốt của dao mổ điện-nhìn qua nội
soi thì cũng đơn giản. Đây là chìa khóa cho kết quả nhất định và thành công với
Chương 9 : Mổ qua đường nách
156
kỹ thuật này. Ban đầu, dùng các dụng cụ bóc tách cùn thì dễ tăng khả năng chảy
máu, dẫn đến khó có được hoặc duy trì hình ảnh tối ưu để giải phóng cơ ngực lớn.
Sau khi hoàn thành giải phóng cơ, nên sử dụng ống nội soi để kiểm tra lại cầm
máu nếu sử dụng bất kỳ kỹ thuật bóc tách cùn nào để tinh chỉnh và giải phóng
mô.
9.5 Chuẩn bị túi và vị trí túi
9.5.1 Dụng cụ
Hai retractors Deaver 1-inch nhỏ.
9.5.2 Điểm mốc
Xác định kích thước của đường hầm mô cần thiết cho đặt túi. Đường hầm
hẹp ― khoảng 3 đến 4 cm cho đặt túi nước biển. Túi gel silicone đòi hỏi đường
hầm rộng hơn, song song với xương đòn ở bờ trên của mép vết mổ, và giải phóng
ra ngoài xuống dưới.
9.5.3 Chi tiết về kỹ thuật
Tưới túi bằng dung dịch kháng sinh được bác sĩ phẫu thuật ưa thích. Tác
giả cũng tưới rửa khoang túi bằng sử dụng dung dịch 0,5% Marcaine với epi
nephrine. Nếu vết mổ nhỏ đã được sử dụng để tiếp cận, retractor Deaver duy
nhất được đưa vào thông qua đường mổ và định hướng xuống dưới, hướng tới
phức hợp đỉnh của núm vú -quần vú. Túi nước biển, với bóp đuổi không khí hoàn
toàn, được ngâm trong dung dịch kháng sinh, sau đó được đặt sâu vào theo dưới
retractor, cuộn tròn lại ( Hình 9.15). Túi không cuộn lại được đặt khi bờ xa được
đặt đến vị trí nếp lằn vú mong muốn. Sau đó, làm đầy túi bằng nước biển qua hệ
thống bơm kín.
Hình 9.15 (a) Vị trí túi nước biển cuộn tròn qua phương pháp rạch da ngắn. Lưu ý đường
hầm mô mềm được tạo ra cho túi nước biển nhỏ hơn so với (b) đường hầm rộng hơn cho
túi gel silicon.
Chương 9 : Mổ qua đường nách
157
Thay găng tay bác sĩ phẫu thuật trước khi xử lý đặt túi, với bác sĩ phẫu
thuật là người duy nhất xử lý túi.
Ngoài ra, nếu sử dụng đường mổ dài hơn, vị trí túi nước biển là cách khác
như đã nêu trước. Vị trí túi gel silicon đòi hỏi phải sử dụng hai retractor Deaver,
một song song với xương đòn ở bờ trên và thứ hai dọc theo mặt phẳng giải phóng
bên ngoài. Các retractor được kéo theo hướng vuông góc và đặt túi bằng chuyển
động lăn dọc theo cạnh trên của túi để đặt. Thường xuyên sử dụng ống lót chèn
để thu nhỏ tiếp xúc với túi gel silicon với da và các mô dưới da trong quá trình
đặt. Định hướng chính xác và tái tạo mô trên túi được xác nhận và bệnh nhân
được đặt ở tư thế ngồi 45 và 80 độ. Bất kỳ điều chỉnh nhỏ nào cần thiết để tinh
chỉnh ở đường nếp lằn vú thì thực hiện bằng cách sử dụng dụng cụ tách Ding
man-Agris. Tuy nhiên, cần hết sức cẩn thận để những điều chỉnh này luôn làm
ở mức tối thiểu, vì việc sử dụng lực mạnh loại dụng cụ cùn này sẽ dẫn đến việc
thiếu kiểm soát khoang túi, tăng nguy cơ chảy máu và mổ lại là khó tránh được.
Sau khi xác nhận đối xứng 2 bên, lấy bỏ hết tất cả các dụng dụng cụ ở vết mổ và
chuẩn bị đóng vết mổ. Tác giả không sử dụng ống dẫn lưu cho nâng vú thường
quy (Video 9.5).
Kỹ thuật đặt túi gel nhám đã định hình phụ thuộc vào khả năng đặt túi với
định hướng chính xác vào khoang túi. Sau khi đặt ban đầu, xác nhận định hướng
với sự trợ giúp của retractor. Kỹ thuật cụ thể phụ thuộc vào từng loại túi cụ thê và
các công cụ hỗ trợ cho định hướng hiện tại. Sau đó, đẩy túi sâu vào trong khoang
túi, được xác nhận bằng cách đặt bệnh nhân ở các vị trí 45 và 80 độ. Một lần nữa,
xác nhận chính xác vị trí của túi theo phương thẳng đứng. Nếu cần, có thể dùng
ống dẫn lưu nhỏ, tùy thuộc vào sở thích của bác sĩ phẫu thuật.
9.5.4 Ưu điểm và nhượt điểm
Nhấn mạnh ở kỹ thuật này, như với các thành phần trước đó của quy trình,
là để tránh dùng dụng cụ bóc tách đầu tù, và chắc chắn dùng nó tối thiểu nhất.
Điều này là rất quan trọng để chắc chắn và có thể dự đoán kết quả bằng cách sử
dụng kỹ thuật này. Việc bóc tách thì tránh bóc tách quá mức khi tạo khoang túi
, đặc biệt là tại khu vực của nếp lằn vú, vì việc sửa chữa một lỗi như vậy có thể
không được sử dụng bằng cách đặt túi qua đường nách.
Liên quan đến túi gel nhám định dạng, điều quan trọng cần lưu ý là các
túi này khó đặt hơn và không cho phép điều chỉnh vị trí sau phẫu thuật, điều mà
có thể thực hiện với các túi tròn trơn. Không nên sử dụng túi định dạng trừ khi
chúng ta bóc tách tạo khoang túi chính xác qua đường nách bằng nội soi. Ngoài
ra, sự khác biệt quan trọng của túi tồn tại ở độ dày của gel nhám giữa các nhà sản
xuất có thể làm cho một số túi dễ bị vỡ hơn trong khi đặt bằng kỹ thuật này.
9.6 Đóng vết mổ
Tác giả ưa thích khâu vết mổ bằng các mũi khâu đơn chôn dưới da, với chỉ
Chương 9 : Mổ qua đường nách
158
3 PD0 PDS (polydioxanone; Ethicon, Somerville, NJ), theo sau khâu lớp nông
bằng plaint cargut 6.0. Steri-Strips băng phủ qua vết mổ. Giữ cố định nếp lằn vú
trong bằng cách sử dụng hai lớp băng xốp một inch, sau đó là băng ép (Video
9.6). Băng ép để giữ cho túi nằm ở vị trí mong muốn và để duy trì áp lực hiệu quả
trên ở vùng nách và vùng đường hầm trên của vú, băng đều tay 2 bên. Băng như
thế trong 1->2 ngày, sau đó thay bằng áo ngực định hình, thường kết hợp với bọc
đàn hồi, để duy trì vị trí túi trong giai đoạn sớm sau mổ. Sự khác biệt quan trọng
với phương pháp đặt túi qua đường nách, khi so sánh với phương pháp đặt túi
qua đường nếp lằn vú, là băng áp lực phải duy trì ở phần trên của vú để ngăn
chặn sự di chuyển ngược lại sớm của túi vào đường hầm mô được sử dụng để đặt
túi. Đây là vấn đề
Quan trọng có thể dẫn đến sai lệch túi lên trên mặc dù khoang túi mô được
tạo ra rất chính xác. Quản lý bệnh nhân sau đó về cơ bản là giống như bất kỳ bệnh
nhân nâng vú sau phẫu thuật.
Hình 9.17 (a-c) Ảnh trước phẫu thuật. (d-f) Hình ảnh hậu phẫu 1 năm. (g) Hình ảnh
đường mổ sau phẫu thuật.
9.7 Kết quả
Các hình ảnh trước phẫu thuật và hình ảnh sau phẫu thuật 1 năm Hình.
9.16 và Hình. 9.17 mô tả bệnh nhân đã trải qua quá trình nâng vú được hiển thị
trong Video 9.1-9.6. Bệnh nhân Hình. 9.16 là bệnh nhân được mô tả trong các
video bao gồm. Kỹ thuật thể hiện ở bệnh nhân này đòi hỏi một đường mổ góc,
nếp lằn vú trong khoang túi được hạ xuống và sử dụng túi gel silicỏne có độ nhô
cao. Bệnh nhân Hình. 9.17 đòi hỏi một vết mổ thẳng vì nếp lằn vú dài hơn trên
da ở đỉnh nách. Việc tiến hành giải phóng cơ ngực lớn theo cách duy trì mức độ
Chương 9 : Mổ qua đường nách
159
và hình dạng hiện tại của IMF. Túi gel silicone có độ nhô vừa được sử dụng.
Thông tin bổ sung về và sửa đổi kỹ thuật gần đây nhất cũng có thể được
tìm thấy trong các tài liệu gần đây
Hình 9.17 (a-c) Ảnh trước phẫu thuật. (d-f) Hình ảnh hậu phẫu 1 năm. (g) Hình ảnh
đường mổ sau phẫu thuật.
Tài liệu tham khảo
[1] Strock LL. Transaxillary breast augmentation - Live Surgery Video, 49th Annual Baker
Gordon Symposium on Cosmetic Surgery. Plast Reconst Surg 2016;137(1)
[2] Strock LL. Technical nuance in transaxillary breast augmentation with textured implants-
Lecture Video, 49th Annual Baker Gordon Symposium on Cosmetic Surgery. Plast Reconst
Surg 2016;137(1)
[3] Strock LL. Surgical approaches to breast augmentation: the transaxillary approach. Clin
Plast Surg. 2015; 42(4):585–593
Chương 10 : Nâng vú qua đường quần vú
160
Chương 10
Nâng vú qua đường quần vú
Tóm lược
Nâng vú sa trễ qua đường quần vú là một kỹ thuật để điều chỉnh vú sa trễ
ít mà không có sẹo mở dọc theo vú. Điều trị vú sa trễ bằng cắt bỏ da quanh quần
vú, có vết sẹo quanh quần vú ở trên. Kỹ thuật có thể cải thiện sự tương đồng giữa
vú và quầng vú, vì làm giảm đường kính quầng vú. Mục tiêu của phương pháp
này là chọn vú sa trễ ít và giải thích cho bệnh nhân về khả năng của phần dưới
của vú nhô ra nhiều hơn thay vì có vết sẹo dọc theo vú. Khâu khối cố định tròn là
rất quan trọng để duy trì vết sẹo và quần vú với kết quả thẩm mỹ tốt hơn.
Những điểm chính
• Nâng vú qua quần vú của vú sa trễ là một lựa chọn quan trọng để giảm thiểu
sẹo trong các trường hợp vú sa trễ ít.
• Nó được chỉ định để nâng cao phức hợp núm vú-quầng vú và gò vú.
• Nâng vú sa trễ qua đường quần hoặc thu gọn vú mà không làm to lên có thể
dẫn đến thiếu bảo vệ và hình dạng mong muốn.
10.1 Giới thiệu
Điều chỉnh các mức độ khác nhau của vú sa trễ vú bằng kỹ thuật nâng vú /
nâng vú sa trễ đòi hỏi thách thức tăng thể tích vú bằng túi silicone trong khi cắt
bỏ da thừa và đồng thời di chuyển phức hợp quầng vú (NAC) lên trên và phần
trên của vú đầy lên.
Các kỹ thuật mổ đường quần vú và dọc vú cho nâng vú sa trễ đã được phát
triển để thu nhỏ sẹo trong các trường hợp vú sa trễ ít. Kỹ thuật đường quần vú
Chương 10 : Nâng vú qua đường quần vú
161
được mô tả lần đầu tiên bởi Bartels et al. Năm 1980, Gruber và Jones đã trình bày
về kỹ thuật nâng vú sa trễ với các chỉ định và các biến chứng liên quan. Kỹ thuật
này được phổ biến bởi Benelli và Góes.
Trong phẫu thuật nâng vú sa trễ trong tạo hình vú, việc lựa chọn phương
pháp phẫu thuật cho loại túi dựa trên đặc điểm riêng của từng bệnh nhân và các
điều kiện mô để đảm bảo độ bao phủ tối ưu. Kỹ thuật không được tùy tiện dựa
trên sở thích của bác sĩ phẫu thuật và bệnh nhân, phải đảm bảo độ che phủ mô,
do đó giảm thiểu rủi ro ngắn và lâu dài. Đường mổ quanh quần vú trong phẫu
thuật nâng vú có quần vú nằm giữa vú hơn so với toàn bộ vú và để xử lí vú sa trễ
từ ít đến trung bình. Tuy nhiên, thao tác này được giới hạn trong các trường hợp
vừa phải vì vú không đạt được sự nâng lên nhiều.
Mục tiêu của phẫu thuật nâng vú qua đường quần vú:
• Phẫu thuật ít xâm lấn, phù hợp với mức độ vú sa trễ ít.
• Nâng cao của NAC.
• Chuyển đổi từ vú sa trễ sang vú hình nón.
• Độ cao của gò vú.
• Tăng kích thước /cải thiện kích thước vú.
• Cải thiện tính đối xứng vú.
• Sẹo nhỏ / cắt da hạn chế.
• Giữ nguyên vẹn và toàn bộ độ dày mô mềm của phần dưới vú
• Tư vấn cho bệnh nhân và bảo cho bệnh nhân biết về phần dưới của vú có
thể nhô nhiều ra thay vì có vết sẹo thẳng dọc.
Mục tiêu đối lập của phẫu thuật nâng vú sa trễ và nâng vú, một mục tiêu
làm giảm đi và cái mục tiêu làm đầy lên, dẫn đến nhiều nguy cơ của phẫu thuật
nâng vú sa trễ và phẫu thuật nâng vú và làm cường điệu chúng. Chúng bao gồm:
• Tăng nguy cơ nhiễm trùng túi khi tiếp xúc hoặc sai lệch vị trí
.• Tăng nguy cơ hoại tử núm vú hoặc vạt da.
• Mối quan hệ giữa núm vú toàn bộ vú và túi thì không chắc chắn, sẹo xấu
dọc theo vú, và giảm cảm giác núm vú.
• Ở một mức độ nào đó, tái phát của vú sa trễ và liên quan đến giãn rộng
vết sẹo ở quần vú có thể giải quyết bằng cách phẫu thuật cắt bỏ da dư quanh
quần vú sang kỹ thuật mổ chữ T lật ngược.
Phẫu thuật nâng vú sa trễ theo đường quần vú chủ yếu được chỉ định cho
những bệnh nhân trẻ tuổi với độ dày và độ đàn hồi của da còn tốt. Loại bệnh nhân
tốt nhất cho phẫu thuật nâng vú sa trễ qua đường quần là những bệnh nhân nếu
làm nâng vú đơn thuần hay chỉ thu gọn vú thì kết quả không tốt vì hình dạng vú
sẽ như cái đĩa và da rất lỏng lẻo và căng ra. Vú săn chắc khi mong muốn bảo tồn
dây chằng Cooper cũng cho kết quả tốt hơn.
10.2 Kỹ thuật
Thực hiện vẽ đánh dấu với bệnh nhân ở tư thế đứng. Phương pháp chính
Chương 10 : Nâng vú qua đường quần vú
162
xác được thực hiện bằng cách dựa vào nếp lằn vú (IMF), NAC và điểm trên xương
ức cũng đánh dấu.
Đánh dấu đường giữa của ngực và IMF. Đường đầu tiên là vẽ 1 đường
thẳng giữa ngực từ đỉnh xương ức xuống tới mỏm ức, và tiếp tục đường thứ 2:
cách 5 cm từ bờ trên xương ức, chạy từ trên xương đòn đến NAC xuống qua quần
vú. Tạo chiều cao núm vú là vô cùng quan trọng. Xác định vị trí được bởi nhiều
yếu tố. . Khoảng cách từ đỉnh xương ức đến núm vú nằm trong khoảng từ 17 đến
19 cm và nó bị ảnh hưởng bởi chiều cao vú và đặc điểm riêng từng người. Ước
tính số lượng da dư, và sau đó hình dạng quần vú (hình bầu dục ở vị trí đứng)
được vẽ đánh dấu phức hợp xung quanh quầng vú. Từ nếp lằn vú đến núm vú từ
4,5 đến 5,5 cm. Từ đường giữa đến núm quần vú khoảng 9 cm. ( Hình 10.1). Dấu
vết của mô vú được đánh dấu giới hạn trên khắp vú để khi mổ bóc tách dưới da.
Kích thước và hình dạng lý tưởng của vú ở phụ nữ là có tính duy truyền và
liên quan đến cả sở thích của từng người và các chuẩn mực văn hóa riêng.
10.3 Kỹ thuật
Đặt nằm ngửa bệnh nhân trên bàn mổ và sau khi gây mê toàn thân hay
ngoài màng cứng (có thể gây tê tại chỗ), vô trùng, trải săng mổ và chuẩn bị rạch
da, rạch da sâu xuống dưới da (ngoại trừ bên trên tới quầng vú), với dung dịch
epinephrine loãng trong dung dịch nước muối ( 1: 100.000) và sau đó thực hiện
đánh dấu dưới dạng bốn điểm chính trong NAC ( Hình 10.2.).
Hình. 10.1 (a) Vẽ đường quần vú. Khoảng cách từ đỉnh xương ức đến núm vú nằm trong
khoảng từ 17 đến 19 cm và nó bị ảnh hưởng bởi chiều cao vú và đặc điểm riêng từng
người. Ước tính số lượng da dư, và sau đó hình dạng quần vú (hình bầu dục ở vị trí đứng)
được vẽ đánh dấu phức hợp xung quanh quầng vú. Từ nếp lằn vú đến núm vú từ 4,5 đến
5,5 cm. Từ đường giữa đến núm quần vú khoảng 9 cm. (b) Sau khi cắt bỏ lớp da, rạch da
xuyên qua lớp da bên dưới..
Chương 10 : Nâng vú qua đường quần vú
163
Hình 10.2 Đánh dấu được thực hiện như 4 điểm chính trong phức hợp quầng vú- núm
vú.
Phẫu thuật được bắt đầu bằng cách đánh dấu quầng vú bằng 42 mm. Thực
hiện một vết rạch da tròn, tiếp theo là lấy bỏ hết lớp biểu mô của vùng hình tròn
đã đánh dấu ( Hình 10.3). Sau đó, bắt đầu bóc tách nhu mô tuyến vú được ở nửa
dưới giữa da và quầng vú, nằm ở phần dưới của vú, song song với ống dẫn tuyến
sữa tránh cắt chúng, hướng sâu về phía thành ngực.
Khi đến thành ngực, khi đến cân cơ ngực lớn thì bắt đầu tạo khoang túi,
bóc tách tạo khoang túi nằm trên cơ ngực lớn, theo hình đã vẽ sẵn ( Hình. 10,4).
Kiểm tra lại kích thước túi và loại. Bác sĩ phẫu thuật nên quyết định có nên chọn
2 túi có kích thước khác nhau không để bù lại sự khác biệt về kích thước của vú
tự nhiên. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng thấy rõ có sự khác biệt về tỷ lệ phần trăm về
thể tích, do đó, ngay cả khi tăng thêm cùng một thể tích cho cả hai vú,thì sự không
cân xứng sau phẫu thuật sẽ ít hơn. Nếu chọn túi lớn hơn, chúng ta phải rất thận
trọng, bởi vì đặt bên lớn hơn bệnh nhân sẽ dễ nhận thấy hơn. Điều quan trọng để
kiểm tra bệnh nhân ở từ phía sau.
Sau khi chọn túi, thực hiện việc cầm máu cẩn thận. Tưới rửa túi bằng dung
Chương 10 : Nâng vú qua đường quần vú
164
dịch kháng sinh (nước muối, gentamicin, cefazoline), cũng như để túi bên trong
hộp. Bác sĩ phẫu thuật thay găng tay và rửa chúng bằng dung dịch kháng sinh
trước khi chạm vào túi.
Khâu nhu mô tuyến vú bằng các mũi khâu sử dụng chỉ Monocryl 4.0 ở
hai hoặc ba mặt phẳng. Thực hiện khâu vòng tròn xung quanh NAC để phân phối
phân bố lực căng da đều quanh da quần vú và giảm căng nhiều cho NAC. Đánh
dấu 8 điểm chính ở vùng da quanh quần vú và quầng vú (▶ Hình 10.5). Sử dụng
chỉ nylon 3.0 không màu để khâu chạy quanh quần vú. Khâu từ lớp hạ bì sâu của
lớp da bên ngoài và tổ chức sâu của quần vú, khâu túm lấy một ít các mô đã đánh
dấu nằm trong quầng vú và khâu tổ chức nhiều hơn ở da quanh quần vú. Khi kéo
căng chỉ khâu sẽ làm giảm chu vi của đường kính quần vú dần, cho đến đường
kính mong muốn của NAC (khoảng 4,5 cm). Dùng chỉ tiêu chậm (4.0 Monocryl)
để đóng vết mổ quanh quần vú (▶ Hình 10.6).
Chúng ta sẽ thấy nhiều nếp nhăn quanh quần vú ngay sau kết thúc cuộc
mổ và chúng sẽ mất thường sau 3 tháng. Điều quan trọng là phải giải thích cho
Hình. 10.3 Phẫu thuật bắt đầu bằng cách đánh dấu quầng vú bằng 42 mm. Thực hiện
một vết rạch da tròn, tiếp theo là lấy bỏ hết lớp biểu mô của vùng hình tròn đã đánh dấu.
Chương 10 : Nâng vú qua đường quần vú
165
Hình. 10.4 Bóc tách đến thành ngực, và sau đó mở cân cơ ngực lớn ra và tạo khoang túi
theo đường vẽ sẵn.
bệnh nhân trước khi phẫu thuật (Video 10.1).
Trong trường hợp cần tạo hình vú lại lần 2, để xử lí phần vú sa trễ thì da
thừa cần cắt bỏ sao cho phù hợp.
Đối với trường hợp này, sau khi lấy bỏ da quanh quần vú, chúng tôi bóc
tách dưới da cho đến khi gần chạm vào bao xơ của túi. Mở cắt bao xơ của túi và
lấy túi ra ngoài, với cắt bỏ mặt trước của bao xơ. Giữ lại mặt sau của bao xơ và cắt
phần giữa của nó. Khoang túi mới được tạo ra nằm bên dưới mặt sau của bao xơ,
giữ một ít sợi cơ ngực lớn bám trên nó và khi bóc tách tạo khoang vú đạt đến vị
trí đã đánh dấu trước mổ, qua giới hạn của phần bao xơ. Đặt túi vào khoang túi
sau khi cầm máu cẩn thận và rửa túi bằng dung dịch kháng sinh. Khoang túi này
không được đóng hoàn toàn để tránh độ phẳng của túi và mất độ nhô. Khâu nhu
mô tuyến vú lại với nhau để đạt độ bao phủ nhất định và để tránh di lệch của túi
nằm dưới tuyến vú. Đóng vết mổ như trong các trường hợp mổ lần đầu (Video
10.2). Trong những trường hợp bị co kéo túi do đặt dưới cơ, có thể tạo khoang
túi mới ở mặt phẳng dưới cân cơ ngực lớn.
Chương 10 : Nâng vú qua đường quần vú
166
Hình. 10. 5 Sau khi túi vào bên trong túi, tám điểm chính được đánh dấu ở vùng da
quanh quần vú và quầng vú.
10.4 Thảo luận
Phẫu thuật nâng vú sa trễ qua đường quần vú cải thiện tình trạng da lỏng
lẻo, sa trễ tuyến vú giả, cho những trường hợp vú sa trễ độ 1 hoặc độ 2. Đường
rạch da qua quần vú loại bỏ thành phần dọc của vú và có thể giúp che giấu bớt
vết sẹo. Khâu cố định quanh quần vú là chìa khóa quan trọng để ngăn ngừa sự
giãn rộng quần vú và giãn rộng vết sẹo mà hay thường thấy với các phương pháp
khác.
Kỹ thuật qua đường quần vú là lựa chọn đầu tiên để tránh sẹo lớn hơn ở
vú sa trễ độ 1 và độ 2 vì túi ngực sẽ nâng vú to lên, dẫn đến da bị thừa ít hơn.
Thật khó để phẫu thuật nâng vú sa trễ mà không đặt thêm túi. Trong trường hợp
những người có da lỏng lẻo dư thừa, cần phải thực hiện vết mổ dọc hoặc chữ T
ngược, ngay cả trong các trường hợp sửa lại mà kết quả lý tưởng vẫn không đạt
được.
Nếu phẫu thuật nâng vú sa trễ hoặc cắt bỏ bớt da và tuyến vú thì vú sẽ
không có độ nhô cần thiết cũng như kích thước mong muốn và sẽ sa trễ lại theo
thời gian. Bằng cách đặt túi khi phẫu thuật nâng vú sa trễ thì sẽ có kết quả có thể
Chương 10 : Nâng vú qua đường quần vú
167
dự đoán và an toàn, giảm thiểu rủi ro, có thể đạt được kết quả tốt hơn. Khi lựa
chọn bệnh nhân phẫu thuật nâng vú sa trễ đúng thì kết quả đạt được sẽ tốt và
lâu dài.
Không nên đặt núm vú quá cao trong quá trình nâng vú / nâng vú sa trễ
vì nó sẽ trông không tự nhiên và khó sửa, đặc biệt là nếu túi ngực bị rơi xuống.
Hình dạng của da cần cắt bỏ thường không tròn và đồng tâm hoàn hảo nhưng có
thể có hình bầu dục và lệch tâm hơn để nâng núm vú và chiều rộng của vú không
quá hẹp.
Điều quan trọng là phải thực hiện đánh dấu quầng vú ở các điểm chính
trước khi rạch da. Bằng cách này, duy trì kích thước thích hợp và giãn rộng quầng
Hình 10.6 Hình ảnh cuối cùng. Thực hiện một mũi khâu khối tròn xung quanh phức hợp
quầng vú (NAC) núm vú để phân phối lực đều cho da quanh quần vú và giảm căng trên
NAC.
Chương 10 : Nâng vú qua đường quần vú
168
vú phù hợp đạt được khi kết thúc phẫu thuật.
Thực hiện khâu chỉ vòng tròn với chỉ không tiêu (Nylon không màu vì Go
re-Tex không có ở Brazil) như kỹ thuật của Denis Hammond. 8 điểm hướng dẫn
cố định quầng vú và khâu lấy một lượng mô lớn hơn ở viền ngoài chỉ ở những
điểm được đánh dấu và những vết khâu nhỏ hơn của mô ở trong các điểm được
đánh dấu ở rìa quầng vú. Cách khâu này giúp giữ kết quả lâu dài và để ngăn ngừa
giãn rộng quầng vú. Khâu vòng, cố định chỉ khâu ở phần bắt đầu và kết thúc ở bên
dưới của quầng vú, để lại nốt chỉ cùng một vị trí. Khi bệnh nhân thường phàn nàn
về cảm giác vết khâu, sau 1 năm chỉ được lấy ra với gây tê tại chỗ.
Trong hầu hết các trường hợp, chọn túi tròn có độ nhô cao vì những bệnh
nhân bị thiếu mô ở phần trên của vú và thừa mô ở cực dưới. Túi tròn sẽ cải thiện
dáng vú và độ nhô phần trên của vú tốt hơn. Túi có độ nhô cao thì thích hợp hơn
vì chúng cải thiện được độ nhô của vú vì khâu chỉ vòng tròn có xu hướng làm cho
ngực phẳng hơn.
Tránh đặt dưới cơ vì da lỏng lẻo của vú là chủ yếu ở những bệnh nhân này
và mô vú trượt trên túi ngực có thể xảy ra, dẫn đến xuất hiện vú sóng đôi.
Ghép mỡ có thể được sử dụng để bổ sung cho đường viền vú, đặc biệt là
trong trường hợp mổ lại và bệnh nhân gầy, tránh đặt dưới cơ và các vấn đề của
Hình 10.7 (a - c) Ảnh trước phẫu thuật của một bệnh nhân 49 tuổi bị teo tuyến vú và vú
sa trễ (cấp trên trái, giữa và phải). (d-f) 5 năm phẫu thuật đặt túi nâng vú sa trễ. Đặt túi
tròn nhám dưới cân cơ ngực lớn, kích thước 215 ml. (g- h) Sẹo sau phẫu thuật.
Chương 10 : Nâng vú qua đường quần vú
169
nó. Đặt dưới cân cơ ngực lớn là lựa chọn cho những ca mổ lần đầu và đặt dưới
bao xơ (một phần trong cơ) trong các trường hợp mổ lại ( Hình 10.7; Hình. 10.8).
10.5 Phần kết luận
Nâng vú sa trễ có thể là một quy trình an toàn cho cả bệnh nhân và bác sĩ phẫu
thuật khi được thực hiện với kế hoạch chu đáo và thực hiện cẩn thận. Thông báo
cho bệnh nhân trước phẫu thuật rằng sự bất cân xứng của vú có thể được cải
thiện nhưng hiếm khi được hoàn toàn giống nhau 2 bên.
Phẫu thuật an toàn và thành công có thể đạt được một cách đáng tin cậy cho cả
nâng vú sa trễ và đặt túi / nâng vú sa trễ đơn thuần tuân thủ các nguyên tắc này.
Hình 10.8 (a - c) Ảnh trước phẫu thuật của một bệnh nhân 42 tuổi bị teo nhu mô tuyến
vú và vú sa trễ (trái, giữa và trên phải). (d- f) 8 năm sau phẫu thuật nâng vú sa trễ và đặt
túi. Đặt dưới cân cơ ngực với túi tròn nhám có độ nhô cao, kích thước 270 ml. (g- h) Sẹo
sau phẫu thuật.
Chương 10 : Nâng vú qua đường quần vú
170
Tài liệu tham khảo
[1] Bartels RJ, Strickland DM, Douglas WM. A new nâng vú sa trễ operation for
mild or moderate breast vú sa trễ. Plast Reconstr Surg. 1976:687–91
[2] Gruber RP, Jones HW, Jr. The “donut” nâng vú sa trễ: indications and compli
cations. Plast Reconstr Surg. 1980; 65(1):34–38
[3] Benelli L.. A new đường quần vú mammaplasty: the “round block” tech
nique. Aesthetic Plast Surg. 1990; 14(2):93–100
[4] Góes JC. Đường quần vú mammaplasty: double skin technique with applica
tion of polyglac-tine or mixed mesh. Plast Reconstr Surg. 1996; 97(5):959–968
[5] Persoff MM. Vertical nâng vú sa trễ with expansion augmentation. Aesthetic
Plast Surg. 2003; 27(1):13–19
[6] Davison SP, Spear SL. Simultaneous breast augmentation with đường quần
vú nâng vú sa trễ. Semin Plast Surg. 2004; 18(3):189–201
[7] Andrews JM, Yshizuki MM, Martins DM, Ramos RR. An areolar approach to
reduction mammaplasty. Br J Plast Surg. 1975; 28(3):166–70
[8] Karnes J, Morrison W, Salisbury M, Schaeferle M, Beckham P, Ersek RA. Simul
taneous breast augmentation and lift. Aesthetic Plast Surg. 2000; 24(2):148–54
[9] Owsley JQ, Jr. Simultaneous nâng vú sa trễ and augmentation for correction
of the small, ptotic breast. Ann Plast Surg. 1979; 2(3):195–200
[10] Spear SL, Davison SP. Advances in breast reduction and nâng vú sa trễ.
Semin Plast Surg. 2004; 18(3):177
[11] Wilkinson TS, Aiache AE, Toledo LS. Circumareolar Techniques for Breast
Surgery. Springer; 1995
[12] Góes JCS. Đường quần vú nâng vú sa trễ: double skin technique with mesh sup
port. Aesthet Surg J. 2003; 23(2):129–135
[13] Graf R, Reis de Araujo LR, Rippel R, Neto LG, Pace DT, Biggs T. Reduction mam
maplasty and nâng vú sa trễ using the vertical scar and thoracic wall flap technique.
Aesthetic Plast Surg. 2003; 27(1):6–12
[14] Holländer E. Die operation der mammahypertrophie und der hängebrust.
DMW-Deutsche Medizinische Wochenschrift 1924;50(41):1400–1402
[15] Adams WP, Jr, Spear SL. Augmentation mammaplasty. Plast Reconstr Surg. 2006;
118(7) Suppl:5S–6S
[16] Hidalgo DA, Spector JA. Breast augmentation. Plast Reconstr Surg. 2014;
133(4):567e–583e
[17] Maxwell GP, Gabriel A. The evolution of breast implants. Clin Plast Surg. 2009;
36(1): 1–13, v
[18] Melmed EP. The greatest myths in breast augmentation. Plast Reconstr Surg.
2002:826–7
[19] Brown T. Subfascial breast augmentation: is there any advantage over the sub
mammary plane? Aesthetic Plast Surg. 2012; 36(3):566–569
171
Chương 11 Phẫu thuật nâng vú qua đường quần bằng đường mổ Zigzag
Chương 11
Phẫu thuật nâng vú qua đường quần bằng đường mổ
Zigzag
Tóm lược
Phẫu thuật nâng vú qua đường quần vú bằng đường mổ zigzag là một kỹ
thuật tốt để thực hiện nâng vú. Kỹ thuật này tạo ra vết sẹo ẩn bên trong phức hợp
núm vú-quầng vú và tiếp cận tốt với tuyến vú. Các khối u vú cũng có thể dễ dàng
bóc đi và tạo khoang túi dễ dàng thực hiện hơn. Đường rạch ngoằn ngoèo không
đều ở quầng vú và sẽ mờ dần khi lành vết thương. Bảo tồn được các nhu mô vú
và kỹ thuật này cho phép sử dụng các hình dạng và kích cỡ túi khác nhau.
Từ khóa: vú, nâng vú, phức hợp núm vú-quầng vú, túi ngực, sẹo, dưới cân cơ
ngực
Những điểm chính
• Phẫu thuật nâng vú là một trong những phẫu thuật phổ biến nhất hiện nay
trên toàn thế giới.
• Các yếu tố như: kích thước, vị trí túi, loại túi cũng như kiểu vết mổ ảnh hưởng
đến kết quả cuối cùng.
• Kỹ thuật nâng vú qua đường quần vú đã được biết đến và phổ biến, nhưng kết
quả vết sẹo là một lý do phổ biến mà bệnh nhân không hài lòng.
• Kỹ thuật nâng vú qua đường quần vú cải tiến bằng cách sử dụng đường rạch
ngoằn ngoèo dẫn đến sẹo không nhìn rõ sau phẫu thuật nâng vú là một biện
pháp thay thế tuyệt vời cho phẫu thuật nâng vú cổ điển và có kết quả thẩm mỹ
với sẹo không nhìn rõ ở vùng da quanh phức hợp quần vú, trông không đều tự
nhiên.
172
Chương 11 Phẫu thuật nâng vú qua đường quần bằng đường mổ Zigzag
11.1 Giới thiệu
Phẫu thuật nâng vú được thực hiện phổ biến nhất ở nếp lằn vú, quầng vú
hoặc nách. Điều quan trọng là phải quyết định với bệnh nhân nơi đặt sẹo và quyết
định nên dựa trên giải phẫu bệnh nhân, kích thước và hình dạng của túi, sở thích
của bệnh nhân và mức độ thoải mái của bác sĩ phẫu thuật.
Kể từ khi kỹ thuật mổ trong đường quần vú được phát triển để nâng vú,
một số cuộc thảo luận về phương pháp tốt nhất cho vị trí túi đã nêu ra. Tất cả các
vết mổ đều có ưu điểm và nhược điểm riêng.
Mục tiêu của phẫu thuật nâng vú qua đường quần vú (trong đường quần
vú) như sau:
• Phẫu thuật ít xâm lấn.
• Kỹ thuật trực tiếp vào túi cấy ghép vú.
• Sẹo nhỏ / cắt da hạn chế.
• Đường rạch gấp khúc (ngụy trang).
• Giữ nguyên vẹn và toàn bộ độ dày mô mềm của phần dưới vú.
• Tổ chức bao phủ túi an toàn.
• Đường mổ tăng lên/ tăng chiều dài để ưu tiên cho từng loại túi.
• Dễ đi vào hạch tuyến vú/ phổi.
• Giáo dục bệnh nhân và tư vấn về vết sẹo ít nhìn thấy và giảm cảm giác
núm vú
Gửi phản hồi
Lịch sử
Kỹ thuật mổ nâng vú qua quần vú cải tiến bằng đường zigzag dẫn đến sẹo
ít nhìn thấy sau phẫu thuật nâng vú là một giải pháp thay thế tuyệt vời cho phẫu
thuật nâng vú và có kết quả thẩm mỹ với sẹo nằm ở quần vú của phức hợp núm
vú-quần vú (NAC), trông không đều tự nhiên.
11.2 Kỹ thuật
Thực hiện vẽ đánh dấu với bệnh nhân ở tư thế đứng. Các số đo chính xác
phải được thực hiện bằng cách sử dụng nếp lằn vú (IMF), NAC, đỉnh xương ức và
chiều rộng nền vú làm những mốc chính.
Đánh dấu đường giữa của ngực và IMF. Đường vẽ đầu tiên là đường giữa
ngực chạy từ đỉnh xương ức tới mũi xương ức và đường thứ 2 là 4 -> 5cm từ
đường viền trong của quần vú. Chân của mô tuyến vú được vẽ để định hướng
khi bóc tách khoang túi và cách đường giữa ngực khoảng 1-1.5 cm, nên tránh hệ
thống giao cảm.
Thực hiện các vết mổ ở một nửa dưới của NAC bên trong da quầng vú,
hình zigzag, tránh vùng da xung quanh. Độ dài zigzag phải ngắn để nằm trong
quần vú ( mỗi cạnh khoảng 0,5 cm). Điểm đầu vết mổ ở vị trí 3 giờ, cuối vết mổ ở
vị trí 9 giờ, trong quầng vú hướng vào núm vú để tránh tổn thương da trong phẫu
thuật ( Hình 11.1).
173
Chương 11 Phẫu thuật nâng vú qua đường quần bằng đường mổ Zigzag
Hình 11.1 Vẽ đường zigzag trong quần vú khi nâng vú. Các vết mổ hình zigzag được thực
hiện ở nửa dưới của phức hợp núm vú-quầng vú.
11.3 Kỹ thuật
Bệnh nhân nằm ngửa trên bàn mổ và sau khi gây mê toàn thân hay gây tê
ngoài màng cứng (có thể gây tê tại chỗ), vô trùng và trải săng mổ, rạch da xuyên
qua lớp da đến lớp dưới da theo đường vẽ sẵn (trừ phần trên của quầng vú), với
dung dịch epinephrine loãng trong dung dịch muối ( 1: 100.000) và sau đó thực
hiện đánh dấu trong ba điểm để định hướng khâu da ( Hình 11.2). Dùng bọc núm
vú để bảo vệ.
Phẫu thuật được bắt đầu bằng dao mổ số 11, rạch da xuống dưới da với
một vết mổ chính xác. Sau đó, bắt đầu bóc tách nhu mô tuyến vú ở nửa dưới của
vú giữa da và quầng vú, song song với các ống dẫn sữa tránh cắt chúng, cho đến
khi tiếp cận đến thành ngực, thấy đến cân mạc ngực thì nằm ngang mức ở
174
Chương 11 Phẫu thuật nâng vú qua đường quần bằng đường mổ Zigzag
khoang liên sườn thứ tư ( Hình 11.3).
Hình. 11.2 Tiêm dưới da bằng epinephrine loãng trong dung dịch muối (1: 100.000) để
tránh chảy máu khi rạch da.
Hình 11.3 Bóc tách mô vú được bắt đầu ở nửa dưới giữa da và quầng vú, song song với
các ống dẫn sữa tránh cắt chúng, về phía cho đến thành ngực, đạt đến cân mạc ngực ở
mức độ của khoang liên sườn thứ tư.
175
Chương 11 Phẫu thuật nâng vú qua đường quần bằng đường mổ Zigzag
Hình 11.4 Bóc tách tạo khoang dưới cân. (a) Mở Fascia của cơ ngực lớn. (b) Tạo khoang
túi theo nền vú. (c) Các sợi cơ sau khi bóc tách.
Hình 11,5 Kỹ thuật nhét túi với dụng cụ Keller.
Khi đến thành ngực, cắt mở cân cơ ngực lớn ra và bóc tách tạo khoang túi
một túi theo đường vẽ sẵn theo nền vú ( Hình 11.4).
Ở phần trên bên trong của vú, thực hiện giải phóng tổ chức đi sâu xuống
dưới cơ hơn để cho phép cơ che phủ tốt nhất ở phần trên bên trong của túi. Kiểm
tra lại kích thước túi tại vùng vú đã bóc tách và xác định nếu kích cỡ túi bóc tách
phù hợp với khoang túi đã tạo ra không.
176
Chương 11 Phẫu thuật nâng vú qua đường quần bằng đường mổ Zigzag
Hình 11.6 (a) Sau khi đặt túi vào khoang túi ngực (b) Nhu mô vú được khâu lại bằng
chỉ monocryl 4.0 với các mũi khâu đơn cách rời ở trong các lớp như mô dưới da. Fascia
không cần khâu.
Hình 11.7 Túi ngực vú nằm trong khoang túi, được bao phủ hoàn toàn bởi cân cơ ngực
lớn.
177
Chương 11 Phẫu thuật nâng vú qua đường quần bằng đường mổ Zigzag
Thực hiện tốt việc cầm máu cẩn thận. Túi được tưới bằng dung dịch kháng
sinh (nước muối, gentamicin, cephazolin), làm ở bên trong hộp của túi. Thay
găng tay phẫu thuật và rửa chúng bằng dung dịch kháng sinh trước khi chạm vào
túi. Cho túi vào dụng cụ nhét túi Keller và nhét vào khoang túi ngực ( Hình 11,5).
Sau khi trải đều tổ chức tuyến vú, dùng chỉ Monocryl 4.0 để khâu fascia
bên dưới với tổ chức tổ chức tuyến vú bên trên là lớp đầu tiên và sau đó là lớp
thứ hai với mô tuyến vú và lớp thứ ba với mô dưới da ( Hình 11.6; Hình. 11.7).
Khâu da tại mỗi đỉnh và cạnh của vết mổ hình zigzag bằng chỉ nylon 6.0 (Gilles),
phù hợp với tất cả các cạnh ( Hình 11.8; Hình 11.9; Video 11.1).
1.4 Thảo luận
Phẫu thuật nâng vú vẫn là một thách thức vì có rất nhiều kỹ thuật, hầu hết
chúng đều phù hợp với cùng một bệnh nhân. Sự lựa chọn của nó dựa trên nhiều
thông số, như giải phẫu, mong muốn của bệnh nhân và sự lựa chọn của bác sĩ
phẫu thuật.
Hình 11.8 Khâu da rời hình zigzag ngoằn ngoèo bằng chỉ nylon 6.0, ở mỗi đỉnh và cạnh,
chú ý ghép lại cho phù hợp
Hình 11.9 (a) Hình ảnh cuối cùng của khâu da, (b) cả hai vị trí túi sau mổ.
178
Chương 11 Phẫu thuật nâng vú qua đường quần bằng đường mổ Zigzag
Có rất ít bằng chứng khách quan về biến chứng để giúp việc sử dụng vị trí
đường mổ ở một vị trí khác.
Hình dạng túi là quan trọng và trong kỹ thuật này, túi tròn và túi giọt nước
có thể được sử dụng.
Vị trí đặt dưới cân cơ thường là lựa chọn đầu tiên của chúng tôi, vì đạt
được độ che phủ tốt, kích thước túi vừa vặn trong khoang túi chính xác, và tổ
chức cơ ngực lớn có nhiều cấu trúc mạch máu tốt ngăn ngừa vi khuẩn xâm nhập,
bảo tồn dây chằng vú và tiếp xúc với mô tuyến vú và ống dẫn sữa.
Các trường hợp vú hình củ có thể xử lý đúng cách với kỹ thuật này do sự
co giãn tốt của các sợi cơ. Phương pháp phẫu thuật qua quần vú sẽ tạo điều kiện
thuận lợi cho các vết mổ và có thể mở rộng vết mổ.
Kỹ thuật này tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận để loại bỏ hạch vú ở
bất kỳ góc ¼ nào của vú và vì vết mổ nằm ở phần trung tâm của vú, khoang túi dễ
dàng mổ xẻ hơn.
Hình dạng ngoằn ngoèo của vết mổ theo thiết kế tự nhiên của quầng vú
thay vì vết mổ thẳng trở thành màu trắng rõ ràng hơn theo thời gian theo dõi.
Cũng cho phép bác sĩ phẫu thuật đặt túi dễ dàng vì hình zigzag hoạt động như
kiểu Z plasties.
Vết sẹo cuối cùng được ẩn trong quầng vú không đều mà không có khác
biệt về màu sắc ( Hình 11.10).
Hình 11.10 Một bệnh nhân nữ 26 tuổi với vú hình củ. (a, b) Ảnh trước phẫu thuật. (c- e)
Hình ảnh sau phẫu thuật; 30 tháng sau phẫu thuật nâng vú qua quần đường zigzag. Vết
sẹo được ngụy trang tốt.
179
Chương 11 Phẫu thuật nâng vú qua đường quần bằng đường mổ Zigzag
11.5 Phần kết luận
Nâng vú qua quần vú bằng đường zigzag là một phương pháp thay thế
cho phẫu thuật nâng vú và nó cho thấy đây là một quy trình an toàn với tỷ lệ biến
chứng thấp. Sự hài lòng của bệnh nhân với kỹ thuật này thường rất cao, đặc biệt
là hình ảnh vết sẹo cuối cùng, sẹo không đều ẩn trong quầng vú. Thường là một
lợi ích lớn cho bệnh nhân, cả về thể chất và tâm lý.
Tài liệu tham khảo
[1] Tebbetts JB, Adams WP. Five critical decisions in breast augmentation using
five measure-ments in 5 minutes: the high five decision support process. Plast
Reconstr Surg. 2006; 118(7) Suppl:35S–45S
[2] Spear SL, Bulan EJ, Venturi ML. Breast augmentation. Plast Reconstr Surg.
2004; 114(5):73E–81E
[3] Jones FR, Tauras AP. A periareolar incision for augmentation mammaplasty.
Plast Reconstr Surg. 1973; 51(6):641–644
[4] McKinney P, Shedbalker AR. Augmentation mammaplasty using a non-in
flatable prosthe-sis through a circum-areolar incision. Br J Plast Surg. 1974;
27(1):35–38
[5] Namnoum JD, Largent J, Kaplan HM, Oefelein MG, Brown MH. Primary breast
augmen- tation clinical trial outcomes stratified by surgical incision, anatom
ical placement and implant device type. J Plast Reconstr Aesthet Surg. 2013;
66(9):1165–1172
[6] Stutman RL, Codner M, Mahoney A, Amei A. Comparison of breast aug
mentation incisions and common complications. Aesthetic Plast Surg. 2012;
36(5):1096–1104
[7] Jacobson JM, Gatti ME, Schaffner AD, Hill LM, Spear SL. Effect of incision
choice on out-comes in primary breast augmentation. Aesthet Surg J. 2012;
32(4):456–462
[8] Tenius FP, da Silva Freitas R, Closs Ono MC. Transareolar incision with geo
metric broken line for breast augmentation: a novel approach. Aesthetic Plast
Surg. 2008; 32(3):546–548
[9] Gryskiewicz JM, Hatfield AS. “Zigzag” wavy-line periareolar incision. Plast
Reconstr Surg. 2002; 110(7):1778–1783, discussion 1784
[10] Carvajal J, Echeverry A. Alternative technique for breast augmentation in
patients with a small nipple-areolar complex diameter. Aesthet Surg J. 2005;
25(2):117–125
180
Chương 12. Nâng vú với ghép mỡ khối lượng lớn
Chương 12
Nâng vú với ghép mỡ khối lượng lớn
Tóm lược
Nâng vú với phương pháp ghép mỡ khối lượng lớn (LVFG) có vai trò
tuyệt vời trong việc nâng vú. LVFG gần đây đã được chứng minh là an toàn, đáng
tin cậy và quan trọng nhất là không ức chế kiểm soát ung thư. Chương này sẽ tập
trung vào các khái niệm được sử dụng trong LVFG bao gồm làm giãn tổ chức vú
trước, xử lý, kết quả thu được và vị trí đặt túi. Nó cũng sẽ chứng minh nâng vú chỉ
sử dụng LVFG thay cho nâng vú kết hợp ghép mỡ. Trong chương này, gồm nhiều
trường hợp rất khác nhau, trong đó LVFG có thể được sử dụng để xử lí các biến
chứng liên quan đến đặt túi, thay thế đặt túi (đồng thời thay đổi đặt túi thành cấy
ghép mỡ [SIEF]) và cho LVFG cùng với đặt túi (kết hợp với đặt túi). Sau khi đọc
chương này, người đọc sẽ hiểu rõ hơn về cách sử dụng phương pháp ghép mỡ
khối lượng lớn trong thực tế.
Từ khóa: nâng vú, ghép mỡ khối lượng lớn, ghép mỡ vào vú, đặt túi thay cho ghép
mỡ (SIEF), nâng vú kết hợp.
Những điểm chính
• Lựa chọn bệnh nhân để ghép mỡ khối lượng lớn
• The Four Ps của ghép mỡ khối lượng lớn, giãn tổ chức vú trước, kết quả thu
được, quy trình và vị trí đặt túi.
• Sử dụng LVFG trong phẫu thuật nâng vú, thất bại trong đặt túi, đặt túi thay
cho ghép mỡ (SIEF) và nâng vú kết hợp.
• LVFG là kỹ thuật an toàn, đáng tin cậy và không ức chế giám sát ung thư
12.1 Giới thiệu
Ghép mỡ vào thay thế nhu mô tuyến vú có từ lâu trong phẫu thuật vú. Các
kỹ thuật bắt đầu từ ghép mỡ ở mặt sau đó phát triển để ứng dụng trong ghép mỡ
khối lượng nhỏ và lớn (LVFG) để thay thế và nâng vú. Lịch sử đã ghi nhận với việc
ghép mỡ khối lượng nhỏ cả trong phẫu thuật tái tạo và thẩm mỹ để cải thiện các
khuyết tật của vú, đặc biệt là thành ngực / giữa 2 vú, dáng vú bị chia tách ra xa và
bất thường nhẹ.
181
Chương 12. Nâng vú với ghép mỡ khối lượng lớn
Thách thức của kỹ thuật LVFG cho những vú nhạy cảm với nội tiết tố đã
gây nhiều tranh cãi và dẫn đến một số tranh luận về việc ứng dụng lâm sàng của
nó. Năm 1987, sau khi Bircoll trình bày kinh nghiệm về phẫu thuật nâng vú bằng
phương pháp ghép mỡ, những lo ngại về sự an toàn của quy trình và sự can thiệp
của nó đối với bệnh ung thư vú đã khiến Hiệp hội Phẫu thuật Thẩm mỹ Hoa Kỳ
đưa ra quan điểm rằng ghép mỡ sẽ làm tổn thương đến khả năng phát hiện ung
thư vú và nên bị cấm, do đó đặt lệnh cấm đối với LVFG trong gần 20 năm.
Sau đó, nhiều báo cáo trường hợp, bài thuyết trình và một loạt bệnh nhân
đã được trình bày bởi các nhà điều tra độc lập đã chứng minh rằng ghép mỡ là an
toàn, đáng tin cậy và quan trọng nhất, không ức chế giám sát ung thư .4,5 Mãi đến
tháng 1 năm 2009, Hiệp hội Phẫu thuật Thẩm mỹ Phẫu thuật Thẩm mỹ Hoa Kỳ đã
tuyên bố ngược lại những gì trước đây họ đã quy định, ghép mỡ là an toàn.6 Kể
từ đó, tiếp tục có sự hỗ trợ từ các tài liệu. ghép mỡ tiếp tục an toàn để cải thiện
thẩm mỹ tái tạo ung thư vú và nâng vú.
LVFG được định nghĩa là ghép hơn 300ml mỡ vào trong vú. Các thành
phần của mỡ chuyển không thành công trong nâng vú sẽ tạo thành u nang dầu,
hoại tử mỡ và các biến chứng tiềm ẩn khác. Cũng giống như nâng vú chuẩn, mục
đích của LVFG cho phẫu thuật nâng vú là giới thiệu một phương pháp nâng vú
đáng tin cậy mang lại bộ ngực khỏe mạnh mà vẫn có thể kiểm tra vú hiệu quả
bằng chụp X quang tuyến vú.
Khi ghép mỡ đã trở nên phổ biến, nên chú ý nhiều hơn tập trung vào các
khái niệm về giãn tổ chức vú trước, tăng giảm, quy trình ghép và vị trí ghép. Ban
đầu, các bác sĩ nhiệt huyết cho là LVFG sẽ thay thế đặt túi để nâng vú. Các tác giả
tin rằng đây không phải đơn cử là thành công 1 trường hợp. Tuy nhiên, LVFG có
một vai trò tuyệt vời trong việc nâng vú cũng như khả năng khắc phục các vấn đề
về đặt túi. Chương này sẽ đề cập đến nâng vú chỉ sử dụng LVFG thay cho đặt túi
vú.
Nó cũng sẽ chứng minh một số tình huống khác nhau trong đó LVFG có thể
được sử dụng, để quản lý các biến chứng liên quan đến đặt túi, để thay thế cho
đặt túi (thay đổi túi ngực bằng ghép mỡ [SIEF]) và LVFG cùng với đặt túi (nâng
vú kết hợp).
Việc thực hiện LVFG để nâng vú thay cho đặt túi ngực là riêng hơn là một
quy tắc. Trong những bệnh nhân phẫu thuật nâng vú thì những người chấp nhận
dùng LVFG để tăng kích thước vú có thể chiếm ít hơn 10%. Những bệnh nhân
muốn dùng LVFG để tăng kích thước vú thường là người có khuynh hướng
không muốn dùng chất liệu cấy ghép từ bên ngoài như đặt túi ngực chẳng hạn và
mong muốn một kết quả cực kỳ tự nhiên. Như vậy, những bệnh nhân thường chỉ
mong muốn duy nhất là tăng kích thước vú. Tuy nhiên, một lợi ích tiềm ẩn phải
xem xét khi hút mỡ để tăng kích thước vú thẩm mỹ là có chỗ vị trí nào để hút
không.
182
Chương 12. Nâng vú với ghép mỡ khối lượng lớn
12.2 Phân loại bệnh nhân
Điều quan trọng cho LVFG tin cậy là xác định được độ săn chắc của da vú.
Ghép mỡ đơn thuần để tăng kích thước vú hay là ghép mỡ + đặt túi ngực kết hợp.
Bệnh nhân lý tưởng có đủ da vú để nâng. Ví dụ, bệnh nhân đã sinh nhiều con, sau
đó bị tình trạng xẹp vú do teo tuyến vú và có nhiều mỡ để hút là lý tưởng cho
LVFG đơn thuần. Bệnh nhân có độ chùng da nhiều có thể không cần giãn tổ chức
vú trước vẫn đạt được kết quả tốt. Mặt khác, bệnh nhân sinh nhiều con nhưng
có da vú rắn chắc thường đòi hỏi phải giãn tổ chức vú trước để đạt được kết quả
tương xứng.
Giãn tổ chức vú trước không chỉ làm cho lớp da phù hợp để làm đầy mỡ
mà còn tạo ra một môi trường bên trong dẫn đến tăng kích thước của vú tốt hơn.
Với các phương pháp hiện tại, việc giãn tổ chức vú trước có thể không thoải mái
và tốn thời gian. Tuy nhiên, nó là cần thiết để nâng vú đáng tin cậy. Nghiên cứu
đầu tiên của Del Vecchio và Bucky mô tả tỷ lệ duy trì 66% giãn tổ chức vú trước
3 tuần sau đó là LVFG14 ( Hình 12.1).
Bệnh nhân có cú hình củ hay vú bị co kéo phần dưới là ứng cử viên tuyệt
vời cho LVFG nhưng thường đòi hỏi phải có các thao tác đặc biệt trong lúc mổ
như dùng kim để giải phóng các dải xơ để cải thiện hình dạng cũng như nâng cao
lên.
Hình 12.1 Quét hình ảnh cộng hưởng từ quét trước và sau khi, nhìn thấy tăng kích thước
và các nang mỡ phù hợp mà không có u nang, khối mỡ hoặc hoại tử mỡ. (a, b) Ví dụ về
trước và sau khi ghép mỡ. (c, d) Một ví dụ thứ hai về trước và sau khi ghép mỡ.
183
Chương 12. Nâng vú với ghép mỡ khối lượng lớn
12.3 Đánh giá bệnh nhân
Bệnh nhân LVFG lý tưởng có giải phẫu thuận lợi với đủ lượng mỡ để hút và
ghép mỡ lên vú. Tuy nhiên, bệnh nhân gầy cũng làm khá tốt với ghép mỡ. Có thể
lấy mỡ ở nhiều vùng khác nhau trên cơ thể bệnh nhân.
Tất cả bệnh nhân phải được chụp X quang vú trước phẫu thuật. Họ phải
không có bất kỳ điều gì liên quan đến ung thư vú hoặc bất kỳ khuynh hướng di
truyền nào đối với ung thư. Bệnh nhân được đánh giá cho bất kỳ bệnh tật nào ảnh
hưởng đến sự hút mỡ an toàn. Hút thuốc lá là một chống chỉ định do suy yếu vi
tuần hoàn và sự gia tăng của hoại tử mỡ và u nang dạng dầu. Bệnh nhân trải qua
giai đoạn giãn tổ vú trước cần phải có động lực và tuân thủ đầy đủ.
12.4 Tuân thủ quy trình
Giãn tổ chức vú trước mổ là không thể thay thế. Giãn tổ chức vú trước phụ
thuộc vào cả sự tuân thủ của bệnh nhân và sự tuân thủ cơ học của các mô. Nếu
không giãn đủ tổ chức, thì việc ghép mỡ sẽ dẫn đến tăng áp lực kẽ sẽ làm tăng tế
bào chết và kích thước còn lại kém. Bệnh nhân cần được giáo dục và động viên
đúng cách để đạt được sự giãn rộng tối ưu. Cuối cùng, trách nhiệm của bác sĩ
phẫu thuật là lựa chọn, giáo dục và quản lý bệnh nhân thông qua quá trình giãn
rộng vú trước. Giãn rộng đầy đủ đòi hỏi một khối lượng giãn tổ chức vú trước lớn
hơn kết quả mong muốn. Nếu bệnh nhân không đạt được sự giãn rộng vú thích
hợp trước khi phẫu thuật, thì phải được hoãn lại.
Hình 12.2 Bệnh nhân chấp nhận mang dụng cụ giãn tổ chức mô vú BRAVA để đạt được sự
giãn rộng đầy đủ. (a) Nhìn nghiên bệnh nhân đang đeo dụng cụ giãn tổ chức BRAVA trong
quá trình giãn rộng vú. (b) Một bệnh nhân sau khi hoàn thành giãn tổ chức vú trước khi
phẫu thuật với dụng cụ BRAVA.
184
Chương 12. Nâng vú với ghép mỡ khối lượng lớn
12.5 Chỉ định giãn tổ chức vú trước
Dụng cụ giãn tổ chức BRAVA đầu tiên được phát triển vào những năm
1990 như là một thiết bị giãn mô mềm bên ngoài để làm to ngực. Bệnh nhân
mặc áo hình vòm xung quanh vú như áo ngực. Thiết bị này thường được đeo
suốt ngày đêm cho từ 4-6 tuần. Kỹ thuật này tạo ra một hiệu ứng chân không bên
trong ngực sẽ làm tăng các chất lỏng và mạch máu và dẫn đến tổ chức vú lớn hơn.
Tuy nhiên, nếu điều này bị ngưng lại, vú sẽ trở lại kích thước ban đầu.
Có nhiều mối tương quan có thể được rút ra giữa hút áp lực âm để chăm
sóc vết thương và kỹ thuật BRAVA trong giãn rộng vú trước. Lực âm trên vết
thương sẽ tạo ra lực biến dạng trên các tế bào thúc đẩy sự phân chia tế bào, sự
hình thành mạch và sự điều hòa trong các yếu tố tăng trưởng.16,17 Người ta cho
rằng những kỹ thuật tương tự này xảy ra với mô tuyến vú trong quá trình giãn
rộng BRAVA. Công dụng giãn tổ chức vú trước trong phẫu thuật nâng vú đã trở
nên đáng tin cậy để mang lại cho bệnh nhân một kết quả có thể dự đoán được.
Việc thực hiện kỹ thuật giãn tổ chức vú trước phẫu thuật nâng vú không chỉ làm
căng lớp da mà còn làm tăng tổ chức mô mềm, do đó tạo ra vị trí tiếp nhận mạch
máu nhiều hơn cho phép đặt túi khối lượng lớn hơn và cuối cùng, góp phần hơn
nữa vào kết quả thành công hơn( Hình 12.2).
Các tác giả tin rằng giãn rộng tổ chức giúp gia tăng kết quả ghép mỡ theo
bốn cách quan trọng sau:
1. Khoảng mô mềm bị giãn rộng thể lớn hơn để ghép mỡ (ghép theo tỷ lệ
vú).
2. Giảm áp lực kẽ ở vú cho phép bơm mỡ được nhiều hơn.
3. Xác định các bất thường dáng vú trước khi ghép mỡ, do đó
hình dạng có thể chỉnh sửa thông qua đầu hút mỡ và kim cắt dải xơ.
4. Cải thiện mạch máu và tân mạch dẫn đến tăng khả năng sống của mỡ
ghép.
12.6 Ghép theo tỉ lệ khả năng
Khái niệm về ghép theo tỷ lệ khả năng là rất quan trọng để ghép mỡ thành
công. Cách ghép theo tỉ lệ khả năng là giải quyết lượng mỡ ghép lý tưởng cho một
nơi nhận đặc biệt cụ thể. Bằng cách tăng kích thước vùng nhận thông qua việc
giãn rộng tổ chức vú trước, người ta có thể cung cấp khối lượng ghép mỡ hiệu
quả hơn. Sự giãn rộng tổ chức vú trước cho phép tăng không gian nhu mô bằng
một lượng mỡ phép lớn, chích vào nhu mô vú sẽ làm giảm hủy hoại tế bào mỡ
ghép và tăng áp lực kẽ, do đó dẫn đến có thể tăng thể tích lớn hơn.
Dựa trên kinh nghiệm của các tác giả, ông ta đã kết luận rằng: xác định
chính xác ghép lượng mỡ bao nhiêu là dựa vào sự giãn rộng tổ chức vú trước.
Với giãn rộng tổ chức vú trước, nhiều mỡ có thể được ghép vào không gian
nhu mô và không phải tạo ra áp lực giãn nở từ bên trong. Không nên ghép mỡ để
làm căng tổ chức như một cách dùng áp lực dương bên trong giãn nở sẽ có ảnh
185
Chương 12. Nâng vú với ghép mỡ khối lượng lớn
hưởng không tốt đến khả năng sống sót của mỡ. Chỉ cần đưa các mảnh ghép mỡ
vào làm đầy hoặc giữ chỗ những khoảng không đã tạo ra do giãn rộng tổ chức
trước.
Cuối cùng, giãn rộng tổ chức trước thúc đẩy sự hình thành mạch. Tương tự
như các yếu tố cho sự sống sót của mảnh ghép da bao gồm sự thẩm thấu, sự kết
nối tổ chức và sự hình thành mạch, các tế bào mỡ theo cùng một hình thức. Nếu
không giãn rộng tổ chức trước, sẽ có áp lực gia tăng lên các tế bào mỡ, gây ngăn
chặn sự sống sót bằng cách khuếch tán oxy và cuối cùng gây chết tế bào mỡ.
12.7 Four Four Ps, ghép khối lượng lớn chất mỡ: giãn rộng tổ chức trước,
lấy mỡ, xử lí và ghép mỡ
Bệnh nhân được theo dõi chặt chẽ trong suốt thời gian giãn rộng tổ chức.
Nếu bệnh nhân không giãn rộng được tổ chức hoặc không tuân thủ quy trình thì
nên tiếp tục giãn rộng tổ chức và nên hoãn cuộc phẫu thuật. Cuối cùng, đạt được
sự giãn rộng tổ chức vú là rất quan trọng để tăng kích thước vú thành công bằng
LVFG. Một số bệnh nhân có thể tăng kích thước rất nhanh. Khi dùng dụng cụ giãn
rộng tổ chức vú thì thời gian mang dụng cụ và áp lực hút âm là có thể điều chỉnh
được. Sau khi giãn rộng hoàn tất, bệnh nhân đã sẵn sàng để phẫu thuật (▶ Hình
12.3).
Hướng dẫn bệnh nhân mang dụng cụ giãn vú cho đến ngày phẫu thuật.
Đánh dấu các điểm để tiêm mỡ vào vú. Đánh dấu những vùng co kéo để ghép mỡ.
Dùng kim để cắt các dải xơ co kéo sau khi đã ghép mỡ. Chúng tôi mô tả quy trình
hút mỡ tumescence thơm và cách cắt các dải xơ.
Có nhiều cách để lấy mỡ. Đã có nhiều nghiên cứu và nghiên cứu mô tả vị
trí tốt nhất để lấy mỡ, kích thước ống hút tối ưu, áp suất âm chính xác và lực hút
bao nhiêu để có thể lấy được mỡ.19,20 Mục tiêu quan trọng nhất trong lấy mỡ để
ghép phải là một phương pháp an toàn và sẽ mang lại lượng mỡ có thể dự đoán
hiệu quả.
Bệnh nhân nên được đánh dấu trên cơ thể để lấy mỡ theo kế hoạch.
Thường phải có đủ mỡ, thậm chí từ một người gầy để ghép. Bệnh nhân gầy đòi
hỏi phải lấy mỡ vừa phải từ nhiều vị trí, bao gồm bụng, lưng, sườn và đùi bằng
cách sử dụng ống hút tumescence.
Trong thời gian qua, các lý thuyết liên quan đến xử lý mỡ đối với mỡ cấu
trúc đã yêu cầu phải ly tâm tốc độ cao. Mục tiêu của việc ly tâm là cô đặc thêm tổ
chức mỡ càng nhiều càng tốt và loại bỏ những chất lỏng dư thừa. Kết quả ly tâm
sẽ gây chết 1 lượng tế bào mỡ đáng kể, loại bỏ hầu hết các yếu tố tái sinh tế bào
và khả năng sống sót của tế bào mỡ là thấp. Hơn nữa, kỹ thuật này tương đối tốn
thời gian và không hiệu quả.
Các nghiên cứu sâu hơn cho thấy rằng ly tâm vừa phải với quay thấp sẽ có
khả năng mỡ sống sót tốt hơn và ghép mỡ với khối lượng lớn hơn. Kỹ thuật bao
gồm rửa mỡ để tách máu, lidocaine và các mảnh vụn chết khác, với tuyên bố về
186
Chương 12. Nâng vú với ghép mỡ khối lượng lớn
khả năng sống của tế bào mỡ được cải thiện.
Các kỹ thuật lấy mỡ và xử lí mỡ trong tương lai có thể gồm tách nước, hút
tumescence và sử dụng chất hoạt động bề mặt để tách mỡ.
Chúng tôi thường sử dụng ống hút nhiều lỗ/ ống tiêm lớn / độ hút vừa
phải
Lấy mỡ với canula nhiều lỗ kết nối với máy hút mỡ áp lực âm chuẩn ( Hình
12.4). Sau đó, mỡ được chuyển sang ống tiêm 60 ml, được đưa vào máy ly tâm
vô trùng có lực thấp. Máy ly tâm quay trong 2 đến 3 phút, còn khoảng 20 đến 40
g mỡ ( Hình 12.5). Khoảng 15 đến 20% chất lỏng tinh thể bổ sung được loại bỏ.
Kết quả là một mỡ cô đặc ít có độ đặc sệt và sẵn sàng để tiêm.
Ly tâm ít vòng quay dẫn đến mỡ tập trung thấp có thể dễ dàng tiêm vào
vú khi đã giãn rộng trước. Về mặt lý thuyết điều này dẫn đến ít chấn thương, ít
tiếp xúc không khí, lưu lượng tốt hơn, phân tán tăng, thời gian mổ ít hơn và giảm
nhân lực cho cuộc mổ.
Hình 12.3 Bệnh nhân sau khi giãn rộng hoàn toàn với BRAVA nên được ghép mỡ và ghép
nhiều hơn để mong muốn để đạt được kết quả tốt nhất. (a) Vú trước khi mở rộng. (b) Vú
giãn rộng thích hợp để sẵn sàng cho ghép mỡ khối lượng lớn.
Mục tiêu của việc đưa hoặc tiêm mỡ phải phân chia được một cách chính xác mỡ
trong tất cả các lớp của vú. Bác sĩ phẫu thuật cần đảm bảo tránh tiêm nhiều quá,
ghép quá mức và ghép sai vị trí. Tiêm phù hợp đòi hỏi phải chú ý chặt chẽ đến
ghép theo tỷ lệ khả năng và tránh các dấu hiệu tăng áp lực khoang. Các dấu hiệu
nhận biết khác là thay đổi màu sắc da hoặc tiêm chưa đủ và khối lượng tiêm
187
Chương 12. Nâng vú với ghép mỡ khối lượng lớn
mong muốn. Bảo tồn mỡ ghép tối đa và ưu tiên tránh những hậu quả nghiêm
trọng của việc ghép mỡ quá mức.
Hình. 12.4 Canula 4 mm, có nhiều lỗ từ 12 đến 15 lỗ có kích thước lỗ 1 cm để lấy mỡ an
toàn và hiệu quả.
Hình 12.5 Quá trình chuẩn bị mỡ. (a) Mỡ lấy được đưa vào 60 ml ống tiêm và được quay
trong 2 đến 3 phút ở 20 đến 40 g . (b) Loại bỏ các chất lỏng không thấm nước và mỡ còn
lại đã sẵn sàng để ghép.
Chọn vị trí để chích mỡ là quan trọng. Bơm mỡ qua ống tiêm 60 ml được
gắn vào ống cannula 16 inch, dài 15 cm (ống cannula Coleman; Hình 12.6). Tiêm
xung quanh vú, vào những vị trí cần thiết mà đã đánh dấu trước. Kỹ thuật này đòi
hỏi một chuyển động đều của tay, vừa đẩy cannuala, vừa đẩy mỡ từ syringe vào
vú với 1 áp lực vừa phải, tránh tiêm tạo nốt sần lên da. Mỗi chuyển động của
188
Chương 12. Nâng vú với ghép mỡ khối lượng lớn
cannula phải ở dạng kiểu quạt tạo ra nhiều mặt phẳng để tăng kích thước vú (
Hình 12.7) ). Mỗi vị trí chích được sử dụng để đạt được hình dạng và nâng vú tối
ưu nhất. Nếu cần tiêm thêm dưới cơ để tăng kích thước vú, phương pháp qua
đường nách có thể được sử dụng để cho phép đi vào mặt phẳng dưới cơ chính
xác. Nhìn chung, phương pháp này đáng tin cậy và hiệu quả vì nó đơn giản, không
gây chấn thương nhiều và ít tốn thời gian.
Hình 12.6 Một cannnula 16 inch, 15 cm (ống Coleman) được sử dụng để tiêm mỡ trong
ghép mỡ khối lượng lớn.
Hình 12.7 Đặt nhiều vị trí tiêm xung quanh vú. Chuyển động vừa đẩy tới, vừa chích 1
lượng mỡ vào nhiều mặt phẳng của vú.
189
Chương 12. Nâng vú với ghép mỡ khối lượng lớn
12.8 Nâng vú kết hợp
Những bệnh nhân lý tưởng cho phẫu thuật nâng vú bằng đặt túi là bệnh
nhân có nhu mô vú mềm và hình dạng thẩm mỹ vú tuyệt vời. Ở những bệnh nhân
này, việc đặt một bộ đặt túi ngực có nhiều hình dạng thường có thể mang lại kết
quả tuyệt vời. Vấn đề là không phải tất cả bệnh nhân đều có mô mềm và thẩm mỹ
vú thuận tốt để đặt túi. Thường thì những bệnh nhân đến để nâng vú là những
bệnh nhân thiếu nhu mô tuyến vú và gồm mô mềm của vú. Khi những bệnh nhân
như vậy để đặt túi ngực, mặc dù lựa chọn đặt túi phù hợp và vị trí đặt túi hoàn
hảo, kết quả có thể không thuận lợi do mô mềm bao phủ không tốt. Bệnh nhân
thường có thể có bị 2 vú xa nhau nhiều và sự xuất hiện không tự nhiên của bộ
ngực do tính chất không tự nhiên của túi ngực bên dưới chúng.
Phẫu thuật kết hợp giữa nâng vú bằng đặt túi và ghép mỡ có nguồn gốc
từ các trường hợp đặt sửa lại túi ngực trong đó mô mềm không đủ dẫn đến nhìn
không tự nhiên. Ý tưởng xác định những bệnh nhân này tại thời điểm nâng vú lần
đầu đã dẫn đến khái niệm nâng vú kết hợp lần đầu.
Những bệnh nhân lý tưởng cho phẫu thuật nâng vú kết hợp lần đầu là
bệnh nhân có nhu mô vú không đủ, nhỏ hơn 1 cm và mong muốn được đặt túi
vú lớn hơn chân vú mô mềm của mình. Trong những trường hợp như vậy, bệnh
nhân được hiển thị kết quả nâng vú kết hợp tại thời điểm hội chẩn ban đầu và
thực hiện lựa chọn có nên đặt túi ngực đơn thuần hay đặt túi ngực có ghép mỡ.
Nếu bệnh nhân muốn được đặt túi ngực đơn thuần, do đó bệnh nhân nhận thức
được rằng kết quả của mình có thể không tự nhiên như mong muốn, điều này sẽ
tạo cơ hội cho phẫu thuật chỉnh sửa lại trong tương lai.
Sau đây, lần thứ 2 kỹ thuật ghép mỡ được sử dụng bởi bác sĩ cao cấp
(D.A.V.V.), nhưng kỹ thuật tương tự được mô tả trước đó cũng có thể được sử
dụng trong phẫu thuật nâng vú kết hợp. Trong phẫu thuật nâng vú kết hợp, túi
được đặt theo kiểu thông thường hoặc thông qua đường mổ nếp lằn vú hoặc qua
vết mổ ở nách. Đường nách thì vết mổ nằm xa vú hơn, phương pháp ghép mỡ sẽ
cho phép che phủ mô mềm hiệu quả hơn. Trong trường hợp này, không nên chích
mỡ qua đường vết mổ. Trong trường hợp sử dụng đường mổ nếp lằn vú, đóng
vết mổ lại hoàn toàn trước khi ghép mỡ để tránh mỡ thoát ra khỏi qua vết mổ.
Dùng cannula dài 40 cm để chích mỡ vào vú qua đường rạch da ở rốn, nằm cách
xa vú. Điều này giúp loại bỏ các dấu kim dọc theo nếp lằn vú. Chích mỡ qua
đường phổ biến này dẫn đến sẹo ở đầu kim và gây tăng sắc tố ở da type 2 và 3
theo Fitzpatrick, và đã được ghi nhận trong thực tế của chúng tôi.
Khối lượng mỡ ghép được chèn trên mô cấy ngực, thường xuyên tiếp cận
với toàn bộ túi. Điều này là do mô ngực ít. Nếu muốn tăng độ dày từ 1 đến 2 cm
trên toàn bộ mô cấy ngực, tăng bề mặt mỡ ghép với thể tích túi, theo phân tích
hình học về thể tích ( Hình 12.8).
Chỉ định khác phù hợp để nâng vú kết hợp là vú bất đối xứng, trong đó sự
bất cân xứng được tạo thành không phải bởi kích thước túi mà bởi mỡ. Ngoài ra,
190
Chương 12. Nâng vú với ghép mỡ khối lượng lớn
nâng vú kết hợp có lợi ở những bệnh nhân bị ngực hẹp, ghép mỡ ở phần dưới của
vú sẽ tốt hơn để tăng khoảng cách từ núm vú đến nếp lằn vú.
Hình 12.8 Độ che phủ của các loại túi có kích thước khác nhau với mỡ để đạt được độ dày
cụ thể. Điều này không tính đến phần trăm mà mỡ bị giảm dần theo thời gian.
Sử dụng hình ảnh ba chiều, duy trì thể tích dài hạn trong 1 năm có thể từ
50% -> 60% khối lượng mỡ đã ghép.
Nâng vú kết hợp là tạo mặt phẳng mô mềm thực sự bởi vì bác sĩ phẫu
thuật có thể lập kế hoạch kích thước túi ngực và kiểm soát các mô mềm. Chúng
tôi xem xét các bệnh nhân đến văn phòng của chúng tôi với bộ ngực hoàn hảo và
mô mềm tốt, điều này có thể chỉ chiếm một phần tư số bệnh nhân muốn nâng vú.
Điều này ngụ ý rằng 75% bệnh nhân có thể có kết quả tốt từ cả đặt túi và ghép
mỡ. Nâng vú kết hợp là một quy trình ghép mỡ ở vú mà thông qua lâm sàng tiềm
năng nhất, vượt qua cả phẫu thuật nâng vú bằng khối lượng lớn chỉ với mỡ.
12.9 Case lâm sàng
12.9.1 Trường hợp 1
Nâng vú LVFG ( Hình 12.9): Hầu hết bệnh nhân đều yêu cầu giãn rộng vú
trước.
191
Chương 12. Nâng vú với ghép mỡ khối lượng lớn
Chúng tôi thường giãn rộng cho bệnh nhân trong 3 tuần trước khi phẫu
thuật. Hình ảnh ba chiều được sử dụng để ghi lại sự giãn rộng cũng như thúc đẩy
bệnh nhân hoàn thành quy trình. Tăng kích thước thông thường và điển hình là
khoảng 300 ml mỡ cho mỗi bên, với hy vọng rằng 66% thể tích sẽ còn giữ lại.
Hình. 12.9 Đây là một ví dụ
về một người phụ nữ mong
muốn ngực của mình to hơn
thêm. Cô đã được giãn tổ chức
vú trước 3 tuần trước khi phẫu
thuật. Cô đã được ghép mỡ
405 ml vào mỗi vú. (a,b) hình
ảnh trước phẫu thuật của cô
được so sánh với kết quả của
cô sau 6 tháng. (c - f) Hình ảnh
trước phẫu thuật của cô được
so sánh với kết quả của cô sau
18 tháng, trước và sau, tương
ứng.
192
Chương 12. Nâng vú với ghép mỡ khối lượng lớn
Hình 12.10 Đây là trường hợp ghép mỡ khối lượng lớn (LVFG) có thể được sử dụng ở
những bệnh nhân bị nhiều vết tích với các biến chứng từ phẫu thuật đặt túi dựa trên
mô. Người phụ nữ này đã có 4 lần nâng vú thất bại và sự sợ hãi nghiêm trọng ngày càng
nhiều. BRAVA đã được sử dụng để giãn rộng vú và sau đó cô đã trải qua LVFG với ghép mỡ
+ cắt các dải xơ bằng kim. Vú phải được ghép mỡ với 340 ml và vú trái được ghép mỡ với
480 ml. (a, b) Nhìn thẳng của trước và sau. (c - f) Nhìn nghiên của trước và sau. (g) Ghép
mỡ và cắt các dải xơ bằng kim.
12.9.2 Trường hợp 2
LVFG cho sự thất bại của đặt túi ngực ( Hình 12.10): Những bệnh nhân
bị biến chứng nhiều lần do nâng vú sẽ thích hợp mà không phẫu thuật thêm.
Những bệnh nhân này thường bị nhiều vết tích sẹo và không đối xứng 2 bên rõ.
Do đó, giải phóng các sẹo dính bằng kim và ghép mỡ trong lúc phẫu thuật là rất
cần thiết. Giãn tổ chức vú trước cũng giúp xác định độ bám dính tốt hơn.
12.9.3 Trường hợp 3
Thay túi ngực bằng ghép mỡ ( Hình 12.11): Thông thường, bệnh nhân
không còn mong muốn đặt túi. Mong muốn loại bỏ túi ngực có thể do tuổi tác,
thay đổi thói quen cơ thể, co thắt bao xơ tái phát, khó chịu hoặc lo lắng. Việc sử
dụng LVFG cho những trường hợp này để loại túi ngực là kỹ thuật tuyệt vời để
giữ lại được kích thước vú. Chúng tôi đã gọi quá trình này là đồng thời thay túi
193
Chương 12. Nâng vú với ghép mỡ khối lượng lớn
ngực bằng ghép mỡ, hoặc SIEF. Mục tiêu quan trọng để quản lý bệnh nhân trải
qua SIEF là xác định tính toàn vẹn của túi, vị trí của túi so với cơ ngực và xử lý
(bảo tồn) của bao xơ hiện tại sao cho không để mỡ tràn vào khoang túi.
Hình 12.11 Ví dụ về đồng thời thay túi bằng ghép mỡ, hoặc SEIF. (a - d) Phụ nữ đã đặt
túi 175 cc và muốn loại bỏ. Cô đã trải qua SIEF với 390cc ghép mỡ vào mỗi vú. Kết quả 10
tháng của cô được nhìn thấy. (a, c) nhìn thẳng và nghiên trước phẫu thuật. (b, d) Nhìn
thẳng và nghiên trước và sau phẫu thuật 10 tháng. (e-j) Phụ nữ đã đặt túi 350cc trải qua
BRAVA và SIEF. Ghép mỡ cho 340cc mỡ ở bên phải và 345cc mỡ ở bên trái. Kết quả một
năm sau phẫu thuật. (e, g, i) Nhìn thẳng và nghiên trước phẫu thuật. (f, h, j) Nhìn thẳng
và nghiên trước phẫu thuật 1 năm.
194
Chương 12. Nâng vú với ghép mỡ khối lượng lớn
12.9.4 Trường hợp 4
Phẫu thuật kết hợp ( Hình 12.12): Kỹ thuật cho phép bệnh nhân không có
vú lý tưởng để thực hiện phẫu thuật nâng vú. Điều này đặc biệt phù hợp cho bệnh
nhân có độ che phủ mô mềm kém hoặc không đối xứng. Có thể chọn đặt túi thích
hợp dựa trên kích thước và sau đó ghép mỡ để thêm độ che phủ mô mềm để đạt
được kết quả tuyệt vời.
Hình 12.12 Phụ nữ có độ che
phủ mô mềm không đủ cần nâng
vú kết hợp. Đặt túi 339 ml được
đặt 2 bên sau đó ghép thêm 100
ml mỡ ở bên phải và 190 ml mỡ ở
bên trái. Kết quả 1 năm sau phẫu
thuật với độ che phủ tốt và hình
dáng vú đẹp. (a, c, e) Nhìn thẳng
và nghiên trước phẫu thuật. (b, d,
f) Nhìn thẳng và nghiên sau phẫu
thuật một năm.