245
Chương 14 : Chăm sóc sau phẫu thuật
Chương 14
Chăm sóc sau phẫu thuật
Tóm lược
Khái niệm nâng vú là một Quy trình hữu ích vừa là phương tiện để sẵn
sàng nâng vú cho bệnh nhân vừa là hướng dẫn cho quản lý để có kết quả tối ưu.
Quy trình nâng vú là quan niệm mạnh mẽ nhất trong chuyên ngành để thực hành
kỷ thuật này ở mức độ cao nhất. Tất cả bệnh nhân phải hiểu rằng việc tham gia
vào các thói quen sau phẫu thuật là một yếu tố quan trọng cho kết quả thành
công, vì mỗi lần khám sau phẫu thuật là một cơ hội để sàng lọc và cải thiện kết
quả. Các tác giả nhận thấy rằng hầu hết các bệnh nhân đánh giá cao rằng nâng vú
được trình bày theo các kỹ thuật này, vì niềm đam mê cho kết quả tuyệt vời hơn
và tinh thần đồng đội cần thiết để đạt được điều đó là dễ thấy.
Từ khóa: nâng vú, chăm sóc sau mổ, đau sau phẫu thuật, xử trí
Những điểm chính
• Chăm sóc sau mổ được xác định là phần cuối cùng và thứ tư của quá trình
nâng vú.
• Càng nhiều bệnh nhân hiểu và họ càng ít bất ngờ mà bệnh nhân mắc phải, họ
càng làm tốt hơn.
• Kế hoạch khám sau mổ định kỳ để giảm thiểu các điều chỉnh và tăng cường
phục hồi của bệnh nhân và thêm kinh nghiệm cho bác sĩ.
14.1 Giới thiệu
Quản lý sau phẫu thuật được xác định là nền tảng của sự thành công trong
giai đoạn sau phẫu thuật nâng vú. Cũng cần lưu ý rằng đây là quy trình nhỏ thứ
tư và cuối cùng cho quá trình nâng vú. Như đã đề cập trước đây, mỗi bước phối
hợp với các bước trước và sau đó, không chỉ dẫn đến quy trình mở rộng về phía
trước mà còn nhiều mức độ phản hồi để củng cố các bước trước và tạo điều kiện
thành công và kết quả cho các quy trình sau. Phác đồ sau phẫu thuật và cuối cùng
là trải nghiệm của bệnh nhân có thể được xác định gần như hoàn toàn thông qua
ba quy trình đầu tiên (tư vấn bệnh nhân, lập kế hoạch dựa trên mô và kỹ thuật
phẫu thuật tinh chế với phục hồi nhanh trong 24 giờ) với việc quản lý sau mổ
thực tế xảy ra trong dường như hoàn cảnh thụ động.
246
Chương 14 : Chăm sóc sau phẫu thuật
Thảo luận về quản lý bệnh nhân sau mổ nói chung có thể là một nhiệm vụ
khó khăn, vì có nhiều khái niệm khác nhau được sử dụng trong quản lý sau mổ
của một bệnh nhân nâng vú. Tuy nhiên, một số khái niệm nhất định đúng với tất
cả các cách quản lý sau phẫu thuật bất kể chi tiết. Bao gồm các
1. Kế hoạch xác định.
2. Điều chỉnh ít nhất.
3. Nâng cao trải nghiệm tổng thể cho bệnh nhân.
Chương này cung cấp các cách quen thuộc được đề xuất cho các loại kỹ
thuật được nêu chi tiết trong Chương 7 đến 10. Ở đây, đã sử dụng phác đồ được
thảo luận bởi nhiều bác sĩ phẫu thuật với dữ liệu kết quả được công bố, được
đánh giá ngang hàng. Sử dụng dẫn lưu sau phẫu thuật chắc chắn là phụ thuộc
phẫu thuật viên; tuy nhiên, với việc sử dụng các kỹ thuật được mô tả trong cuốn
sách này, bao gồm cả phẫu thuật bóc tách không chảy máu chính xác, không cần
thiết phải dẫn lưu sau phẫu thuật là tốt nhất trong phẫu thuật lần đầu, và mọi
người đều biết rằng bệnh nhân thường khó chịu với ống dẫn lưu. Do đó, nói
chung tránh dẫn lưu sau phẫu thuật là một lợi ích lớn trong trải nghiệm bệnh
nhân.
14.2 Đường mổ nếp lằn vú
Bảng 14.1 liệt kê các thành phần chính của giai đoạn sau mổ.
Mục tiêu là để giảm thiểu tất cả các điều chỉnh. Bệnh nhân không nên sử dụng áo
ngực đặc biệt, dây đai, ống dẫn lưu, bơm giảm đau hoặc bất kỳ thiết bị hoặc chiến
thuật nào khác để giảm đau, vì những điều này có xu hướng làm chậm phục hồi.
Trong nhiều loạt bài được công bố đánh giá như nhau, morphin đã được loại bỏ
khỏi giai đoạn sau mổ thông thường với kết quả tuyệt vời.1,2,3 Một chất ức chế
cyclooxygenase 2 (COX-2) đã được đưa ra một liều trước phẫu thuật và ibupro
fen 800 mg t.i.d. p.r.n. trong giai đoạn sau mổ. Bơm giảm đau đã được áp dụng;
tuy nhiên, những điều này đã không được tìm thấy để thêm một mức độ giảm
đau bổ sung nhưng chắc chắn thêm chi phí và một rắc rối cho giai đoạn phục
hồi. Exparel (bupivacaine bao quanh liposome) đã được chứng minh hiệu quả
để kiểm soát đau sau phẫu thuật; tuy nhiên, nó khá tốn kém và được đưa ra quy
trình phục hồi nhanh trong 24 giờ, nó không hiệu quả về chi phí cho việc nâng vú.
Có lẽ một trong những khía cạnh quan trọng nhất của giai đoạn sau mổ là
các hướng dẫn sau mổ chi tiết cụ thể ( Hình 14.1) bao gồm cả nâng cánh tay, bệnh
nhân thực hiện năm lần mỗi giờ trong khi thức trong 5 ngày tiếp theo. Bệnh nhân
được hướng dẫn để tránh ngồi yên 1 chỗ trong 2 đến 3 ngày đầu sau phẫu thuật.
Khuyến cáo rằng bệnh nhân nên ra ngoài mua sắm và ăn tối vào ngày phẫu thuật,
và điều này rất quan trọng để ngăn ngừa bệnh nhân không hoạt động trong thời
gian phục hồi kéo dài khoảng 6 đến 8 giờ sau khi nâng vú. Giai đoạn cữa sổ phục
hồi này là một giai đoạn quan trọng và chưa được mô tả trước đây cho các tác giả
có kiến thức. Sau khi nâng vú, bệnh nhân có 6 đến 8 giờ để tiếp tục các hoạt động
247
Chương 14 : Chăm sóc sau phẫu thuật
nhẹ bình thường của cuộc sống hàng ngày trước khi chúng trở nên cực kỳ cứng
đơ và đau và nó trở nên quá khó để trở lại với các hoạt động này. Vì lý do này,
các hướng dẫn để tiếp tục các hoạt động nhẹ với cánh tay nâng nhẹ cụ thể ngay
lập tức sau phẫu thuật là vô cùng hữu ích để duy trì bệnh nhân trong giai đoạn
cửa sổ phục hồi này. Điều quan trọng là phải có ít nhất một cuộc gọi điện thoại
sau phẫu thuật để đảm bảo bệnh nhân tuân theo các hướng dẫn và không có câu
hỏi. Thời gian của cuộc gọi này nên theo sau giấc ngủ ngắn 2 giờ và phải đảm
bảo rằng bệnh nhân đang trong một khóa học bình thường. Bệnh nhân khôngnó
trở nên quá khó để trở lại với các hoạt động này. Vì lý do này, các hướng dẫn để
tiếp tục các hoạt động nhẹ với cánh tay nhẹ cụ thể ngay lập tức sau phẫu thuật
là vô cùng hữu ích để duy trì bệnh nhân trong giai đoạn phục hồi này. Điều quan
trọng là phải có ít nhất một cuộc gọi điện thoại sau phẫu thuật để đảm bảo bệnh
nhân tuân theo các hướng dẫn và không có câu hỏi. Thời gian của cuộc gọi này
nên theo sau giấc ngủ ngắn 2 giờ và phải đảm bảo rằng bệnh nhân đang trong
quá trình hồi phục sau mổ bình thường. Bệnh nhân không theo học quá trình hồi
phục sau mổ quy định sẽ cần phải được giáo dục cho họ càng sớm càng tốt để
tránh các vấn đề với sự phục hồi.
Các điểm quản lý sau mổ khác bao gồm việc sử dụng áo ngực, là tùy vào
sở thích của bệnh nhân. Điều này rõ ràng là không cần thiết nếu khoang túi được
bóc tách tốt.
Chăm sóc vết thương
Đặt dải băng Band-Aid được đặt trong phẫu thuật và
để lại trong 1 tuần và sau đó thay đổi mỗi tuần trong
6 tháng hoặc bôi gel silicon bôi ngoài da. Massage sẹo
để theo dõi đến 1 năm sau phẫu thuật
Áo ngực
Không bắt buộc, đưa cho bệnh nhân và có thể được sử
dụng theo sở thích của bệnh nhân. Không nên mặc áo
đẩy vú lên trong 6 tuần.
Hoạt động
Về đến nhà, ngủ trưa 2 tiếng rồi ra khỏi giường tắm
nước nóng trong 20 phút và mặc quần áo. Đừng nằm
yên trên giường. Đưa cánh tay nhẹ nhang 5 lần/giờ,
trong khi thức trong 5 ngày tiếp theo
Tập thể dục
Bắt đầu hoạt động mạnh sau 2 tuần; nằm sấp được
sau 4 tuần; ngực ngồi lên ngực sau 6 tuần
Bảng 14.1 Thành phần chăm sóc sau mổ
248
Chương 14 : Chăm sóc sau phẫu thuật
Hình. 14.1 Hứng dẫn hoạt động và chăm sóc tại nhà sau phẫu thuật.
Hướng dẫn chăm sóc nâng vú tại nhà cho
Ngay sau mổ:
Bạn sẽ tỉnh dậy trong phòng hồi tỉnh. Vết mổ được băng dải Band –Aid gel strip để
nhanh lành vết thương. Bình thường thì cảm thấy bó chặt và đau nhứt trong 1->2
ngày, và cảm giác túi ngực chưa phải là 1 phần của cơ thể bạn. Sau 6->8 tuần thì túi
ngực sẽ mềm và cảm thấy tự nhiên hơn. Túi gel nhám có thể mất 4->6 tháng.
Trước khi rời trung tâm phẫu thuật, bạn phải thực hiện đưa tay qua đầu. Tập
như vậy 5 lần/giờ, trong 5 ngày lúc thức.
Những hướng dẫn bắt buộc tại nhà:
Nếu không tuân theo hướng dẫn tại nhà thì bạn phải ở lại phòng hồi tỉnh trong 24h.
• Một khi bạn về nhà, nên ngủ ngắn khoảng 2 tiếng, chúng tôi không muốn bạn ngủ
quá 2 tiếng, bắt đầu bằng 1 bữa ăn nhẹ, bắt đầu chế độ ăn uống có chứa đường như các
sản phẩm như than cốc hoặc sprite ( không ăn kiên sodas và uống đủ nước).
• Uống Ibuprofen 800 mg (motrin)
• Uống sau khi bạn ngủ dậy. Tiếp tục uống Ibuprofen trong 5 ngày sau phẫu thuật.
Thậm chí lâu hơn nếu cảm thấy cần thiết.
• Tắm nước ấm 20 phút để bạn tỉnh hơn do gây mê và thả lỏng cơ tự nhiên. Không tắm
nước quá nóng sẽ gây chóng mặt.
• Khi tắm thì tháo băng vết thương ra, chúng không thấm nước. Nếu ở bệnh viện thì
sẽ thay băng sau 7->10 ngày sau phẫu thuật.
• Sau khi tắm xong, tiếp tục đưa cánh tay lên sờ lưng và đầu của bạn mà không gập
khuỷu tay. Tiếp tục đưa cánh tay như vậy 5 lần/ giờ, thực hiện trong 5 ngày tiếp theo.
•Đi ra khỏi nhà. Chúng tôi khuyến khích là đi ra ngoài ăn tối hay đi mua xắm vào đêm
sau mổ. Thay đổi không khí giúp bạn chóng hồi phục.
• Sau khi ăn tối, uống 800mg Ipuprofen trước khi đi ngủ. Cố gắng thức đến 10 h đêm.
Sáng hôm sau:
• Ngủ dậy không đi ra khỏi giường ngay, uống nước khoáng có ga với ăn bữa ăn nhẹ/
ăn sáng ít.
• Uống 800mg Ipuprofen. Đợi 30 phút sau mới đi tắm và chải tóc.
• Bạn nên đi ra khỏi nhà. Đi mua sắm gì đó nhẹ nhàng. Mong đợi còn có có năng lượng
để chạy vào giữa ngày, có kế hoạch để nghỉ ngơi 1 tí. Không được ngủ cả ngày; có kế
hoạch dậy sau 1-2 giờ ngủ, thắp sáng mọi thứ quanh nhà.
249
Chương 14 : Chăm sóc sau phẫu thuật
Hình. 14.1 (tiếp tục) Hứng dẫn hoạt động và chăm sóc tại nhà sau phẫu thuật.
• Tiếp tục tập đưa cánh tay qua đầu, làm 5 lần/giờ.
• Không đưa cánh tay quá mạnh, không tập thể dục thể thao, chạy hay làm cho
nhịp tim tăng trên 100 lần/phút
Hoạt động thường ngày
• Kế hoạch uống 800 mg Ipuprofen 3 lần/ ngày, uống trong 5 ngày
• Có thể trở lại công việc của bạn sau 1-3 ngày, tùy thuộc vào công việc.
• Bạn có thể lái xe sau 24 giờ
Áo ngực:
• Nếu áo ngực sau phẫu thuật mà bác sĩ cấp cho bạn, nếu mặc không thích hợp thì bạn
không cần mặc nó. Nếu bạn muốn, bạn có thể đặt mua cái áo ngực khác cho hợp với bạn,
nhớ mặc áo ngực không dây thép trong 6 tuần.
• Nhớ là không đẩy vú lên hay mang áo ngực có dây thép trong 6 tuần
Tập thể dục
• Không tập mạnh trong 2 tuần đầu:
• Không tập aerobic (làm việc nặng, đi xe đạp, lớp aerobic, chạy, đạp xe thư giãn,
hoạt động với cường độ cao)
• Không nhấc vật nặng quá 10 pounds
• Không làm việc để nhịp tim tăng trên 100 lần/ phút
• Bạn sẽ hoạt động mạnh sau 2 tuần, nhớ mặc áo ngực khi chạy bộ
• Không tập nâng chân trong 4 tuần
• Không tập để giảm cân ở phần trên cơ thể trong 6 tuần
• Không tập nâng tạ hay tập vùng cơ bụng trong 6 tuần; bao gồm Yoga hay tập để tăng
cường sức khỏe.
Bạn trở lại hoạt động bình thường sau 6 tuần
• Bạn dễ dàng trở lại hoạt động thể thao như bình thường, và tự chăm sóc bạn theo
hướng dẫn
• Bế và giữ trẻ nhỏ hơn 3 tuổi thì có thể làm được ngay sau khi bạn cảm thấy thích hợp.
Giữ trẻ lớn tuổi thì làm được những không được bế cháu trong 2 tuần sau mổ
Chăm sóc vết thương
• Cố gắng giữ băng dính vết thương trong 7->10 ngày.
• Bạn chú ý đánh dấu bút màu tím và gel phản ứng với nhau có thể đánh dấu bằng bút
màu đen. Điều nay là bình thường và bạn không cần cảnh báo
Hẹn theo dõi
Hẹn khám lại sau phẫu thuật theo kế hoạch:
Ngày
Thời gian
250
Chương 14 : Chăm sóc sau phẫu thuật
Hình. 14.1 (tiếp tục ) Hứng dẫn hoạt động và chăm sóc tại nhà sau phẫu thuật.
Dùng thuốc theo đơn sau khi mổ nâng vú
Theo đơn thuốc thì dùng 1 tuần sau mổ:
Thuốc giảm đau:
Ipuprofen 800mg (motrin), uống 1 lần 1 viên, ngày uống 3 lần, uống trong 5
ngày.
Thuốc chống nôn
Phênergan (promethazine) 25 mg
Uống 1 lần 1 viên, cách nhau 6 giờ nếu thấy còn nôn
Ngủ:
Ambien (Zolbidem) 10 mg
Nếu mất ngủ thì uống 1 viên trước khi muốn đi ngủ 30 phút
Xin vui lòng mua tất cả các loại thuốc đã kê toa
Theo hướng dẫn sử dụng trong thời gian dùng thuốc thì:
Uống sau ăn
Tránh uống rượu bia
Tránh lái xe hay vận hành máy móc
Còn thắc mắc gì thì gọi cho bác sĩ phẫu thuật. Bác sĩ phẫu thuật chỉ trả
lời trong 24 giờ sau mổ.
251
Chương 14 : Chăm sóc sau phẫu thuật
tuy nhiên, có một số bệnh nhân thích mặc áo ngực và một số bệnh nhân không
thích mặc áo ngực. Một khí bóc tách túi chính xác và ít chấn thương như mô tả
trong các chương trước, có thể mặc một chiếc áo ngực nếu bệnh nhân mong
muốn. Chúng tôi đề nghị không mặc áo lót chống đẩy vú lên cao trong 6 tuần.
Những trường hợp đặt túi định dạng (túi giọt nước) thì khuyên dùng áo ngực cho
bệnh. Còn trong những trường hợp mà chúng ta bóc tách khoang túi quá nhiều
thì nên mặc chiếc áo ngực bó sát thì rất hữu ích.
Chuyển vị trí đặt túi phụ thuộc vào loại túi ngực. Dịch chuyển thường được
khuyến cáo cho túi ngực hình tròn, mịn. Túi ngực nhám
không khuyến chuyển vị trí, đáng chú ý nhất là túi ngực định dạng. Xác định
khoảng thời gian theo dõi và nên khá thường xuyên cho năm đầu tiên sau phẫu
thuật. Các tác giả khuyến nghị thời gian theo dõi sau phẫu thuật là vào 5 ngày, 1
tuần, 3 tháng và 1 năm, và sau đó hàng năm sau kể từ năm thứ 2 sau mổ. Hầu hết
các vấn đề về biến chứng với nâng vú có thể được xác định trong năm đầu tiên
sau phẫu thuật, và điều quan trọng là phải theo dõi chặt chẽ và giải quyết những
vấn đề này nếu chúng phát sinh. Quản lý vết sẹo bất kể nó ở vị trí nào là quan
trọng. Thói quen điều trị sẹo bao gồm sử dụng dải silicon ship, dải gel Band-Aid,
Mepiform và massage nhẹ nhàng vùng sẹo, không cào gãi lên sẹo.
14.3 Mổ qua đường nách
Các thành phần chính của giai đoạn chăm sóc sau mổ theo phẫu thuật nâng
ngực qua đường nách bằng nọi soi đã liệt kê trong Bảng 14.2. Các khái niệm về
chăm sóc hậu phẫu theo quy trình này có nhiều điểm chung với những khái niệm
được liệt kê trước đây cho phương pháp qua đường nếp lằn vú. Tuy nhiên, một
sự thay đổi quan trọng giữa phương pháp qua đường nạch và phương pháp qua
nếp lằn vú là cách tiếp cận qua đường nách tạo một khoảng trống từ nách đến
mép trên của mô cấy ngực, được sử dụng cho thao tác mổ xẻ và vị trí túi , không
cần thiết sau khi đã đặt xong túi ngực. Vấn đề này được giải quyết thường xuyên
bằng cách đặt băng bó chặt trong phẫu thuật để duy trì áp lực lên vùng nách và
vùng trên của vú, và để ổn định vị trí mong muốn của túi. Tháo bỏ băng sau lần
thăm khám đầu tiên sau mổ, 1 hoặc 2 ngày sau khi phẫu thuật. Sau khi tháo bỏ
băng ép, dùng áo ngực định hình cố định vú để duy trì sự hỗ trợ của nếp lằn vú,
ngoài một miếng ép đàn hồi để duy trì áp lực nhẹ trên vùng nách và phần trên
của vú. Áp lực này được duy trì trong một khoảng thời gian từ 2 đến 14 ngày, tùy
thuộc vào vị trí của túi. Sau đó, bệnh nhân mặc một chiếc áo lót có dây để cung
cấp sự hỗ trợ chặt chẽ toàn bộ diện tích của nếp lằn vú và giảm thiểu chuyển
động túi ngực sớm. Áo ngực này được mặc liên tục vào ban ngày, bào ban đêm thì
mặc cho đến khi đi ngủ, có thể phải mặc lúc ngủ nếu có nguy cơ di lệch, cho đến
khi 8 tuần sau phẫu thuật. Bệnh nhân tự do lựa chọn áo ngực theo ý muốn của
mình tại thời điểm đó.
252
Chương 14 : Chăm sóc sau phẫu thuật
Chăm sóc vết thương
Steri-Strip đặt trên vết mổ trong phẫu thuật, được
lấy ra sau 2 tuần (nếu vẫn còn sau khi mọc lông).
Thay băng áp lực trong lúc phẫu thuật, loại bỏ 1
đến 2 ngày sau phẫu thuật
Áo ngực
Bệnh nhân mặc áo ngực có độ đàn hồi cao và miếng
ép áp lực lên phần trên của vú, trong khoảng thời
gian từ 2 ->3 ngày và 2 tuần. Sau đó, bệnh nhân
mặc áo ngực bó sát ngực và sử dụng hàng ngày, với
áo ngực có độ đàn hồi cao sử dụng vào ban đêm
khi ngủ, cho đến 8 tuần sau phẫu thuật. Hướng
dẫn cụ thể về áo ngực định hình để tập thể dục sẽ
đưa ra sau 2 tuần phẫu thuật
Hoạt động
Khuyến khích giảm thiểu đáng kể hoạt động của
bệnh nhân trên phần cánh tay và vai trong 5
ngày, có thể chườm đá ở phần dưới ngoài của vú
nếu thấy cần thiết.
Bệnh nhân khuyến khích tự đi lại có thể ra ngoài
ăn tối mà không tổn hại gì. Bệnh nhân không
được nằm yên trên giường hoặc nằm thẳng. Trở
lại hoạt động phần trên của cánh tay sau 5 ngày.
Tập thể dục
Tập thể dục nhịp điệu với chuyển động cánh tay
hạn chế như xe đạp nằm ngửa được phép sau
7 ngày. Hoạt động đầy đủ khuyến khích sau 2
tuần, ngoại trừ việc nâng tạ bằng tay / vai chính,
không được khuyến khích cho đến sau 3 tuần sau
phẫu thuật.
Tất cả bệnh nhân được khuyến khích tự đi lại sau phẫu thuật, chỉ sử dụng
cử động cánh tay nhẹ, trong 5 ngày đầu sau phẫu thuật. Các tác giả cho rằng
hạn chế các cử động chính của cánh tay và vai cho đến sau khoảng thời gian 5
ngày sau phẫu thuật. Bệnh nhân khuyến khích tránh nằm trên giường hoặc nằm
thẳng. Bệnh nhân có thể ra ngoài ăn tối mà không ảnh hưởng gì trong một hoặc
hai ngày đầu sau phẫu thuật. Sau 1 tuần, họ được khuyến khích tiếp tục các hoạt
động thể dục cụ thể như xe đạp nằm ở vị trí hạn chế hoặc chuyển động của cánh
tay. Sau tuần thứ hai, bệnh nhân có thể tiếp tục tất cả các hoạt động nhưng không
được khuyến khích từ việc tiếp tục nâng vật nặng hoặc nâng tạ trên tay / vai cho
đến sau tuần thứ ba.
Bảng 14.2 Các thành phần chăm sóc sau mổ sau phẫu thuật nâng vú qua đường
nách bằng nội soi
253
Chương 14 : Chăm sóc sau phẫu thuật
Như đã thảo luận trước đó, vấn đề quan trọng góp phần phục hồi sau phẫu
thuật nhanh chóng và nối lại hoạt động bình thường sớm liên quan đến kỹ thuật
phẫu thuật chính xác giúp giảm thiểu nhu cầu sử dụng chất giảm đau gây nghiện
theo quy trình. Việc hạn chế bóc tách bằng kéo đầu tù và sử dụng các thuốc chống
viêm non- steroid cả trước phẫu thuật và sau phẫu thuật cũng giúp giảm đáng kể
nhu cầu sử dụng thuốc giảm đau gây nghiện. Tất cả bệnh nhân kê đơn thuốc ibu
profen 600 mg ba lần mỗi ngày, thuốc giảm đau gây nghiện nhẹ, thuốc giãn cơ và
kháng sinh đường uống. Dẫn lưu phẫu thuật không sử dụng với kỹ thuật này. Các
dụng cụ bơm giảm đau không sử dụng thường xuyên nhưng được sử dụng theo
yêu cầu trong những trường hợp cụ thể. Không được massage túi ngực thường
xuyên trừ trường hợp túi ngực bị di lệch nhẹ.
14.4 Mổ qua đường quần vú
Việc quản lý sau phẫu thuật theo đường quần vú không khác biệt đáng kể
so với mổ qua đường nếp lằn vú như mô tả chi tiết trong Bảng 14.1.
14.5 Phần kết luận
Khái niệm nâng vú là một quá trình hữu ích vừa là phương tiện để nâng vú
nhô ra trước cho bệnh nhân vừa là hướng dẫn cho quản lý kết quả tối ưu. Tất cả
bệnh nhân phải hiểu rằng việc tham gia vào các hoạt động thường ngày sau phẫu
thuật là một yếu tố quan trọng cho kết quả thành công, vì mỗi lần khám sau phẫu
thuật là cơ hội để sàng lọc và cải thiện kết quả. Các tác giả nhận thấy rằng hầu hết
các bệnh nhân đánh giá cao rằng nâng vú được trình bày theo cách này, vì niềm
đam mê cho kết quả tuyệt vời và tinh thần đồng đội cần thiết để đạt được điều đó
là dễ thấy.
Tài liệu tham khảo
[1] Adams WP, Jr. The process of breast augmentation: four sequential steps for
optimizing outcomes for patients. Plast Reconstr Surg. 2008; 122(6):1892–1900
[2] Tebbetts JB, Adams WP, Jr. Five critical decisions in breast augmentation us
ing five mea- surements in 5 minutes: the high five decision support process.
Plast Reconstr Surg. 2005; 116(7):2005–2016
[3] Tebbetts JB. Achieving a predictable 24-hour return to normal activities after
breast aug- mentation: Part II. Patient preparation, refined surgical techniques,
and instrumentation. Plast Reconstr Surg. 2002; 109(1):293–305, discussion
306–307
[4] Strock LL. Transaxillary endoscopic silicone gel breast augmentation. Aes
thet Surg J. 2010; 30(5):745–755
254
Chương 15 : Sửa biến dạng núm vú thường gặp của người châu Á
Chương 15
Sửa biến dạng núm vú thường gặp của người châu Á
Tóm tắt
Sự bất thường của núm vú bao gồm nhiều loại dị tật khác nhau. Phì đại
núm vú và tụt núm vú, hai trong số các dị dạng thường thấy, hay gặp ở phụ nữ
hơn nam giới. Cả hai đều có thể gây ra tâm lý đau khổ và khó chịu về thể chất,
chẳng hạn như kích thích núm vú, nứt nẻ và loét. Trong chương này, chúng tôi sẽ
mô tả núm vú lý tưởng ở phụ nữ châu Á, hai biến dạng núm vú phổ biến nhất và
kỹ thuật phẫu thuật để chỉnh sửa.
15.1 Núm vú lý tưởng
Kích thước núm vú lý tưởng ở phụ nữ châu Á là chiều cao khoảng 10 mm
và đường kính từ 8 đến 10 mm. Núm vú có chiều cao và đường kính vượt quá
kích thước bình thường hơn 50% được coi là phì đại, đủ điều kiện để chỉnh sửa
phẫu thuật. Tuy nhiên, khi xác định xem bệnh nhân có núm vú phì đại hay không,
bác sĩ phẫu thuật nên xem xét tỷ lệ của núm vú với kích thước của toàn bộ vú và
quầng vú. Một núm vú có thể được chia thành 3 phần: đỉnh hình vòm (khoảng 3
mm), giữa hình trụ (khoảng 5 mm) và nền núm dốc cong (khoảng 2 mm) (Hình
15.1). Hầu như tất cả phụ nữ coi núm vú của họ là một yếu tố quan trọng của toàn
bộ ngực. Không còn nghi ngờ gì nữa, biến dạng núm vú có thể làm hỏng hình ảnh
của bộ ngực đẹp về mặt thẩm mỹ.
Hình 15.1Các số đo lý tưởng của
núm vú nên có chiều rộng từ 8
đến 10 mm, với đỉnh hình vòm 3
mm, giữa hình trụ 5 mm và nền
núm dốc 2 mm.
255
Chương 15 : Sửa biến dạng núm vú thường gặp của người châu Á
15.2 Phì đại núm vú
Phì đại núm vú (đầu vú quá dài), còn được gọi là núm vú lớn, là một tình
trạng thường xuyên xảy ra ở phụ nữ châu Á hơn phụ nữ phương Tây. Bệnh nhân
thường cố gắng che giấu khuyết điểm này bằng cách tránh mặc quần áo chật
hoặc mỏng. Do không có định nghĩa chính xác về tình trạng này, dịch tễ học vẫn
còn chưa rõ. Tuy nhiên, trong số tất cả phụ nữ, cho con bú và các yếu tố di truyền
được coi là nguyên nhân có thể gây ra. Mặc dù thường xuyên xảy ra, phì đại núm
vú đã nhận được sự chú ý ít hơn nhiều so với chứng vú to bất thường. Trong
những năm qua, các bác sĩ phẫu thuật trên toàn thế giới đã đề xuất nhiều kỹ thuật
để điều chỉnh phì đại núm vú, và mỗi kỹ thuật đều có ưu điểm và nhược điểm
riêng. Một phẫu thuật chỉnh sửa thành công nên tránh mất khả năng tiết sữa và
đạt được kết quả thẩm mỹ thuận lợi.
Phân loại
Phì đại núm vú thường có thể được phân thành ba loại sau:
1. Loại I: Đường kính núm vú vượt quá 10 mm
2. Loại II: Chiều cao núm vú vượt quá 10 mm
3. Loại III: Cả đường kính núm vú và chiều cao vượt quá 10 mm
Kỹ thuật phẫu thuật: Phì đại núm vú
Trong những năm qua, các bác sĩ phẫu thuật trên thế giới đã giới thiệu
nhiều phương pháp phẫu thuật khác nhau để chỉnh sửa phì đại núm vú. Các kỹ
thuật có thể được phân thành hai loại: bảo tồn vòm núm vú và loại bỏ vòm núm
vú.
Bảo tồn vòm núm vú
Vòm của núm vú rất quan trọng cho cả chức năng và bề ngoài thẩm mỹ.
Bảo tồn vòm núm vú có ưu điểm là duy trì hình dạng tự nhiên, cảm giác của núm
vú và ống dẫn sữa ở giữa. Tuy nhiên, việc duy trì vòm núm vú là một khó khăn về
mặt kỹ thuật, bởi vì rất khó để bảo tồn lưu thông tuyến sữa và chức năng cương
dương của núm vú thường bị tổn thương. Phương pháp này thường được sử
dụng cho phì đại núm vú loại I và II. Một số phương pháp phổ biến được thảo
luận trong phần sau.
Phương pháp cắt vòng tròn
Phương pháp cắt vòng tròn được Jin và Lee giới thiệu lần đầu tiên và phù hợp
với bệnh phì đại núm vú loại II. Mục tiêu của kỹ thuật này là điều chỉnh núm vú
nhô ra quá nhiều. Kích thước sau phẫu thuật của núm vú cũng có thể quyết định
theo nhu cầu của bệnh nhân. Thực hiện đường mổ Zigzag ở phía dưới và trên
quanh núm vú. Bác sĩ phẫu thuật cắt bỏ phần da thừa một cách tỉ mỉ bằng vạt da
rất mỏng. Cố định núm vú mới được vào nền của nó bằng cách khâu chỉ 4-0 hoặc
5-0 trên bốn góc (trên, dưới, trong, ngoài), phần lột ra được khâu lại. Phần còn lại
256
Chương 15 : Sửa biến dạng núm vú thường gặp của người châu Á
của vết mổ được khâu bằng chỉ PDS 6-0 hoặc 5-0 (Hình 15.2).
Phương pháp vòng tròn mở rộng
Phương pháp cắt cắt vòng tròn mở rộng cũng được Jin và Lee giới thiệu và
chủ yếu được sử dụng cho bệnh phì đại núm vú loại III (Hình 15.3). Bác sĩ phẫu
thuật xác định đường kính mong muốn của núm vú mới và sau đó chia chiều
rộng dư thừa làm hai phần. Đánh dấu hai phần nhỏ (từ 2 -> 5 mm) ở trên các bề
mặt dưới và trên đối diện nhau. Tiếp theo, hai đường rạch ngang (từ 2 ->3 mm)
được đánh dấu ở cả hai bên trên đỉnh của mỗi bờ ngay dưới vòm núm vú. Hai
vết mổ này chỉ lấy bỏ phần da rất mỏng bên ngoài cho phép 2 bờ của vết rạch sẽ
đóng từng khuyết da lại với nhau và thu hẹp núm vú mới. Hai bờ được cắt ra như
những mảnh da rất mỏng ở bên ngoài. Hai vết rạch được thực hiện ở cả hai phía
của phần trên và phần dưới. Bác sĩ phẫu thuật nên thực hiện bóc tách dưới da tối
thiểu khoảng 2 ->3 mm hai bên để nâng hai vạt tiến đến gần nhau bằng khâu chữ
U. Hai hình tam giác nhỏ, có chiều rộng từ 2 -> 5 mm, được đánh dấu và cắt bỏ ở
bờ dưới và bờ trên của nền vết mổ để thu hẹp các khuyết da hình tròn ở quầng
vú.
Cuối cùng, khâu vết mổ ở các khu vực tiếp xúc. Một ví dụ trường hợp điển
hình được trình bày trong hình 15.4. Bệnh nhân được biểu thị 2 tuần sau khi
chỉnh sửa núm vú và nâng vú. Không cần chăm sóc thêm sau khi cắt chỉ.
Hình 15.2 Phương pháp cắt vòng tròn. A, thực hiện vết mổ Zigzag ở dưới và trên xung
quanh núm vú. B, cắt bỏ các mô da dư thừa. C, khâu vết mổ lại.
257
Chương 15 : Sửa biến dạng núm vú thường gặp của người châu Á
Hình 15.3 Phương pháp cắt vòng tròn mở rộng. A, xác định đường kính mong muốn của
núm vú và chiều rộng dư thừa được chia làm 2 phần. B, đánh dấu trên hai phần nhỏ (từ 2
->5 mm) phần thấp và phần cao đối diện nhau. C, cắt bỏ da quá dư thừa. D, khâu vết mổ.
Hình 15.4 A, Núm vú có hình dạng xấu, nhô cao quá mức trước khi phẫu thuật. B, Sau khi
giảm núm vú và nâng vú.
Hình 15.5 Phương pháp 2 vạt tam giác. A, thực hiện mổ hai vết rạch hình chữ V đối diện
nhau ở hai bên núm vú. B, loại bỏ vùng hình nêm. C, khâu vết mổ.
258
Chương 15 : Sửa biến dạng núm vú thường gặp của người châu Á
Hình 15.6 A, nhìn thấy núm vú phì đại của bệnh nhân trước phẫu thuật. B, khâu núm vú
và cắt bỏ mô. C, Kết quả 6 tháng sau thủ thuật.
Loại bỏ vòm của núm vú
Các phương pháp loại bỏ vòm của núm vú được thiết kế chủ yếu để điều
chỉnh phì đại núm vú loại I. Mặc dù vòm núm vú rất cần thiết cho cả chức năng và
bề ngoài thẩm mỹ, các kỹ thuật loại bỏ vòm này ít khó khăn hơn và có thể bảo tồn
tốt hơn chức năng cương dương của núm vú. Tuy nhiên, cảm giác núm vú và ống
dẫn sữa ở giữa thường bị tổn thương, điều này có thể dẫn đến mất hoàn toàn khả
năng tiết sữa. Một số kỹ thuật loại bỏ vòm núm vú được giới thiệu trong phần
sau.
Phương pháp 2 vạt tam giác
Phương pháp 2 vạt tam giác (Hình 15.5), được giới thiệu bởi Wang, 3, 4,
chủ yếu phù hợp cho bệnh phì đại núm vú loại II. Thực hiện 2 vết mổ hình chữ V
đối diện nhau ở hai bên núm vú. Loại bỏ khu vực hình nêm. Cắt bỏ một phần hoặc
Hình 15.7 Kỹ thuật 3 vạt. A, thiết kế 3 vạt chữ Y hình tam giác đối xứng nhau cách đều
nhau. Sau đó cắt bỏ lõi của núm vú. B, Tiếp theo, cắt bỏ núm vú được. C, Vùng hình dạng
chữ Y.
259
Chương 15 : Sửa biến dạng núm vú thường gặp của người châu Á
toàn bộ phần ở giữa của núm vú, tùy theo nhu cầu. Khâu 2 vạt tam giác bằng chỉ
khâu PDS 5-0 hoặc 6-0. Một ví dụ trường hợp đại diện được trình bày trong hình
58-6. Bệnh nhân hiển thị 6 tháng sau khi phẫu thuật. Không cần chăm sóc đặc
biệt thêm sau khi cắt chỉ.
Hình 15.8 Loại bỏ vòm núm vú. A, Vẽ trước phẫu thuật trên núm vú có độ nhô ra quá
nhiều. B, Sau khi thực hiện kỹ thuật 3 vạt cùng với nâng vú.
Phương pháp 3 vạt
Phương pháp 3 vạt (Hình 15.7), được giới thiệu bởi Basile và Chang, chủ
yếu được sử dụng để điều chỉnh phì đại núm vú loại III. Ba vạt tam giác đối xứng
và cách đều nhau được thiết kế theo kiểu chữ Y. Lõi của núm vú được cắt bỏ khi
thực hiện giảm đường kính núm vú. Cắt bỏ đầu núm vú trong các vạt tam giác
xiên để giảm chiều cao dư thừa. Bác sĩ phẫu thuật nên khâu vết mổ vạt hướng về
phía trung tâm với chỉ khâu tiêu 5-0 để làm giảm đường kính của núm vú.
Nếu núm vú chỉ cần giảm chiều cao, không cần phải cắt bỏ lõi núm vú khi tạo ra
vạt tam giác đối xứng.
Hình 15.8 cho thấy vẽ trước phẫu thuật và kết quả sau phẫu thuật của
cùng một vú 2 tuần sau khi giảm núm vú và nâng vú. Không cần chăm sóc hậu
phẫu đặc biệt. Các núm vú giữ lại hình dạng và khối lượng thiết kế, và bệnh nhân
hài lòng với kết quả. Một số bệnh nhân lưu ý mất một phần cảm giác trên đầu
núm vú; khả năng này đã được thảo luận với bệnh nhân trong quá trình tư vấn
trước phẫu thuật.
260
Chương 15 : Sửa biến dạng núm vú thường gặp của người châu Á
Núm vú tụt
Một núm vú tụt, núm vú được rút vào trong vú trên mặt phẳng thấp hơn
mặt phẳng quầng vú thay vì nhô ra phía trước, điều này gây ra giống như biến
dạng miệng núi lửa (Hình 15.9).
Trong trường hợp nhẹ, núm vú có thể nhô ra tạm thời khi kéo ra hoặc kích
thích, nhưng trong trường hợp nặng, nó chỉ có thể chỉnh sửa bằng phẫu thuật..
Yếu tố nguyên nhân
Một núm vú tụt thường là bẩm sinh6; tuy nhiên, nó cũng có thể bị mắc
phải do ung thư da, viêm hoặc chấn thương. Khoảng 10% tất cả phụ nữ có tình
trạng này. Khoảng 87% các trường hợp là bị 2 bên, và 13% là 1 bên. Nó có thể ảnh
hưởng đến phụ nữ trong độ tuổi từ 18 đến 50 tuổi. Khoảng 10% đến 20% tất cả
phụ nữ được sinh ra với dị tật này. Các nguyên nhân phổ biến nhất của núm vú
tụt vào bẩm sinh là dây chằng ống sữa ngắn và cơ thắt quần vú rộng. Các nguyên
nhân phổ biến khác của tụt núm vú được tóm tắt trong Bảng 15.1.
Hình 15.9 So sánh núm vú bình thường với núm vú tụt. A, Bình thường núm vú nhô ra
với một dây chằng ống dẫn sữa bình thường. B, Núm vú co rút lại với một dây chằng ống
dẫn sữa ngắn.
Núm vú tụt
Núm vú bình thường
Co kéo
261
Chương 15 : Sửa biến dạng núm vú thường gặp của người châu Á
Bảng 15.1 Nguyên nhân phổ biến của tụt núm vú
• Cho con bú
• Mang thai
• Chấn thương do hoại tử mỡ, sẹo, biến chứng phẫu thuật, v.v.
• Vú sa trễ
• Ung thư và ung thư vú, ung thư gây viêm tuyến vú
• Bệnh Paget
• Kích thích lặp đi lặp lại hoặc viêm, chẳng hạn như ống dẫn sữa tuyến vú, áp
xe vú hoặc viêm vú
• Các dạng di truyền của hình dạng núm vú, như hội chứng Weaver, hội chứng
Fryns-Aftimos, hội chứng xóa nhiễm sắc thể 2q, một rối loạn bẩm sinh của gly
cosylation loại 1A và 1L, hoặc hội chứng Kenner-knecht-Sorgo-Oberhoffer
• Vú to ở đàn ông
• Holoprosencephaly, nhiễm trùng tái phát hoặc tăng bạch cầu quá mức
• Bệnh lao
Hệ thống xếp loại
Năm 1999, Han và Hong đã giới thiệu một hệ thống phân loại để phân loại
mức độ tụt núm vú. Trong hệ thống của họ, núm vú được phân thành ba cấp theo
mức độ dễ bị kéo dài, mức độ xơ hóa tồn tại trong vú và nguy hại cho các ống dẫn
sữa.
Độ I
Độ I được nhiều chuyên gia gọi là “núm vú e thẹn”, vì nó có thể dễ dàng kéo
ra bằng tay hoặc bất kỳ phương tiện nào khác (Hình 15.10). Núm vú tụt độ I vẫn
duy trì độ nhô của nó và hiếm khi co lại. Thường thì núm vú nhô ra mà không cần
bất kỳ thao tác hay kích thích nào. Các ống dẫn sữa thường không bị tổn thương
do bất kỳ sự co rút lại nào, và có thể cho con bú. Xơ hóa thường không có hoặc rất
ít. Không có sự thiếu hụt mô mềm của núm vú.
Độ II
Ở độ II, núm vú có thể được kéo ra nhưng bị vùi sâu hơn núm vú tụt độ I (Hình
15.11). Núm vú thường rút vào khi không kéo ra hay kích thích. Cho con bú
thường rất khó khăn, mặc dù vẫn có thể. Mức độ xơ hóa là vừa phải. Các ống dẫn
sữa được co rút lại nhẹ nhưng không cần phải cắt để giải phóng xơ hóa. Kiểm tra
mô học thường cho thấy núm vú có cấu trúc collagen dày đặc với nhiều bó cơ
trơn.
262
Chương 15 : Sửa biến dạng núm vú thường gặp của người châu Á
Hình 15.10 Một núm vú tụt độ I có thể được kéo ra bằng tay.
Hình 15.11 Núm vú tụt độ II được vùi sâu hơn núm vú độ I nhưng vẫn có thể nhô ra và
kéo ra.
263
Chương 15 : Sửa biến dạng núm vú thường gặp của người châu Á
Độ III
Núm vú tụt độ III là núm vú bị co rút nặng và hiếm khi có thể kéo ra (Hình
15.12). Cần phẫu thuật chỉnh sửa. Các ống dẫn sữa thường bị tắc nghẽn và không
thể cho con bú. Bởi vì núm vú bị co rút nghiêm trọng, rất khó để duy trì vệ sinh
núm vú, và nhiễm trùng hoặc viêm nhiễm xảy ra. Sự xơ hóa là nghiêm trọng, và
các ống dẫn sữa bị rút ngắn và co rút lại. Mô mềm thường không đủ. Kiểm tra mô
bệnh học có thể cho thấy các đơn vị thùy cuối ống dẫn sữa teo và xơ hóa nghiêm
trọng.
Kỹ thuật không phẫu thuật
Có nhiều cách lựa chọn để điều trị chỉnh sửa núm vú tụt, tùy thuộc vào
mức độ nghiêm trọng của tình trạng núm vú. Phương pháp không phẫu thuật
như dùng máy hút sữa hoặc các loại dụng cụ hút chân không khác có thể sử dụng
trong trường hợp nhẹ. Trong trường hợp nặng, phẫu thuật thẩm mỹ có thể là
lựa chọn duy nhất. Dụng cụ hút chân không là phương pháp điều trị không phẫu
thuật dễ dàng nhất và thường được sử dụng nhất cho tụt núm vú. Trong một số
trường hợp, chẳng hạn như độ I hoặc tụt núm vú độ II nhẹ, núm vú có thể được
rút ra bằng dụng cụ hút hoặc hút áp lực (Hình 15.13). Mặc dù phương pháp này
đã có hiệu quả trong một số trường hợp, nhưng tái phát có thể xảy ra khi bệnh
nhân ngừng sử dụng dụng cụ hỗ trợ hoặc tình trạng thay đổi.
Hình 15.12 Núm vú tụt độ III bị co rút nặng và hiếm khi có thể chạm được hoặc kéo ra.
264
Chương 15 : Sửa biến dạng núm vú thường gặp của người châu Á
Hình 58-13 Một dụng cụ hút đơn giản có thể sử dụng để điều chỉnh không phẫu thuật ở
bệnh nhân tụt núm vú nhẹ mặc dù có thể tái phát, đòi hỏi phải lặp lại kỹ thuật hút.
Kỹ thuật phẫu thuật
Trong trường hợp tụt núm vú nặng độ III, trong đó núm vú không thể kéo
ra được về mặt hình thể, điều trị phẫu thuật là biện pháp cuối cùng. Trong những
năm qua, các phương pháp điều trị phẫu thuật đã phát triển thành các loại chính
sau: giải phóng vết mổ, khâu, vạt da và ghép.
Giải phóng và khâu
Phương pháp giải phóng vết mổ liên quan đến việc bóc tách các dải xơ
ngắn và ống dẫn sữa kéo núm vú vào bên trong thông đường mổ quanh quần vú.
265
Chương 15 : Sửa biến dạng núm vú thường gặp của người châu Á
Phương pháp này có hiệu quả nhưng không nên sử dụng cho phụ nữ còn muốn
cho con bú, vì nó làm hỏng số lượng các ống dẫn sữa. Để giải quyết vấn đề này.
Chen và cộng sự giới thiệu một kỹ thuật nội soi. Thay vì mổ bóc tách mò để cắt
các dây chằng co rút ngắn dải sợi và ống dẫn sữa và do đó có nguy cơ gây tổn
thương cho các ống dẫn sữa, dây thần kinh và mạch máu bình thường, kỹ thuật
này cho phép các bác sĩ phẫu thuật xác định vị trí và phân tích chính xác các mô
bất thường, tăng khả năng bảo tồn các ống dẫn sữa bình thường. Các tác giả đã
báo cáo rằng 82% số núm vú đã chỉnh sữa thì duy trì được sự lộn ra và 27% bệnh
nhân có thể tiết sữa thành công.
Kỹ thuật khâu đôi hình chữ U
Chỉ khâu đôi hình chữ U được phát triển bởi Quan et a (Hình 15.14). Luồn
chỉ khâu để kéo núm vú lên trên mức quầng vú. Tám lỗ có đường kính 1 mm cách
đều nhau được chọc qua trên nền núm vú. Thực hiện khâu chỉ silk 7-0. Mỗi mũi
khâu xuyên qua một lỗ được tạo ra ở nền núm vú, tiến xuống dưới, khâu một
miếng nhỏ của tuyến vú và sau đó thoát ra qua lỗ đối diện. Đầu kim lại chọc vào
lỗ thoát ra, tiến vào dưới da trong khoảng 5 mm, và sau đó thoát ra cùng một lỗ.
Một lần nữa, kim lại khoét lỗ đã thoát ra, tiến xuống phía dưới và khâu một vết
nhỏ của tuyến vú, thoát ra qua lỗ đối diện, nối lại lỗ thoát lỗ, di chuyển dưới da
trong 5 mm, và sau đó thoát ra lỗ đầu tiên, do đó hoàn thành chu kỳ. Quá trình
được lặp lại để tạo thành hai mũi khâu hình chữ U vuông góc với nhau. Các lực
dọc đẩy núm vú lên trên, do đó cải thiện được độ nhô của núm vú.
Hình 15.14 Hai mũi khâu đôi hình chữ U được chôn dưới da chồng lên nhau ở nền của
núm vú.
266
Chương 15 : Sửa biến dạng núm vú thường gặp của người châu Á
Hình 15.15 Phương pháp Broadbent và Woolf. A, Rạch một vết mổ dọc từ trên xuống
dưới đến nền núm vú. B, Bác sĩ phẫu thuật bóc tách bằng kéo đầu tù và giải phóng các dải
sợi co rút lại hoặc ống dẫn sữa. Cắt các mô tuyến vú bên dưới núm vú, và tạo ra hai vạt
mô tuyến vú. C và D, sau đó kéo hai vạt mô tuyến về phía ở giữa và cố định bằng chỉ khâu
để lấp đầy khoảng trống bên dưới núm vú.
Hình 15.16 A, A núm vú tụt độ III. B, Kết quả 10 ngày sau khi thực hiện kỹ thuật
khâu của Broadbent và Woolf.
Đường mổ Broadbent – Woolf và phương pháp khâu
Phương pháp rạch và khâu vết mổ được phát triển bởi Broadbent và Woolf
(Hình 15.15). Thực hiện một vết rạch dọc được từ trên xuống đến nền núm vú.
, Bác sĩ phẫu thuật bóc tách bằng kéo đầu tù và giải phóng các dải sợi co rút lại
hoặc ống dẫn sữa. Cắt các mô tuyến vú bên dưới núm vú, và tạo ra hai vạt mô
tuyến. C và D, sau đó kéo hai vạt mô tuyến về phía ở giữa và cố định bằng chỉ khâu
267
Chương 15 : Sửa biến dạng núm vú thường gặp của người châu Á
để lấp đầy khoảng trống bên dưới núm vú, ngăn ngừa co rút tái phát. Khâu vết
thương bằng chỉ khâu 5-0 hoặc 6-0. Một ví dụ trường hợp đại diện được trình
bày trong hình 58-16. Hình ảnh sau mổ 10 ngày.
Vạt da hình bán nguyệt
Phương pháp vạt da hình bán nguyệt được phát triển bởi Wang (Hình
15.17). Núm vú được kéo ra bằng chỉ khâu. Thiết kế 1 hay 2 vạt da hình bán
nguyệt từ 0,6 đến 1 cm ở góc ¼ phía dưới bên trong, tùy thuộc vào kích thước
của núm vú. Thực hiện rạch da ở rìa dưới của núm vú, và cắt bỏ sợi xơ bị co rút lại
kéo núm vú xuống. Nếu núm vú vẫn bị tụt vào, bác sĩ phẫu thuật nên bóc tách hay
cắt một ít hoặc hầu hết các ống dẫn sữa để giúp giải phóng sự rút trở lại. Thiết
kế một vạt mô tuyến vú từ 0,6 đến 1 cm và đặt dưới núm vú để lấp đầy dưới nền
núm vú. Khâu vào nền vú để giúp cố vạt mô và ngăn ngừa tổ chức phòi ra. Vạt da
hình bán nguyệt được chuyển vào sát nền núm vú, và khâu vết mổ.
Hình 15.17 Vạt da hình bán nguyệt. A, khâu một sợi chỉ kéo trên đầu núm vú. B, thiết kế
một vạt da hình bán nguyệt trên phía góc ¼ dưới của quầng vú. C, Đường rạch được tạo
ra và vạt da được nâng lên. D, Cắt các tổ chức xơ hóa ở bên dưới nền vú. E, khâu vết mổ.
268
Chương 15 : Sửa biến dạng núm vú thường gặp của người châu Á
Hình 15.18 Vạt da có cuống dưới da đã bỏ lớp thượng bì có hình thoi hai bên. A, thiết kế
hai đường mổ hình thoi ở hai bên núm vú đối diện nhau và cắt bỏ mô da. B, Hai vạt hình
thoi được đặt dưới núm vú và chồng lên nhau. C, khâu vết mổ. D, Kết quả cuối cùng.
Vạt da có cuống dưới da đã bỏ lớp thượng bì có hình thoi hai bên
Quy trình chỉnh sửa vạt da có cuống dưới da đã bỏ lớp thượng bì có hình
thoi hai bên được phát triển bởi Zhang và Yang (Hình 15.18). Thiết kế 2 vết
mổ hình thoi trên hai bên núm vú đối diện nhau. Chiều dài của cạnh AB và AD,
bằng nhau (10 ->15 mm), bằng với chiều cao của núm vú sau phẫu thuật. Chiều
rộng của các vết mổ hình thoi được thiết kế theo mức độ tụt của tình trạng núm
vú. Chiều rộng không được quá rộng để ảnh hưởng đến khâu và cung cấp máu
(khoảng 8 mm). Bên BC và DC phải bằng nhau. Núm vú được kéo dài ra bằng chỉ
khâu. Bác sĩ phẫu thuật thực hiện các vết mổ dựa trên thiết kế trước phẫu thuật
và tạo khối sâu cả hai vết mổ hình thoi. Bác sĩ phẫu thuật phải bóc tách mặt trên
và dưới của vết mổ ở dưới da để tạo ra hai vạt da có tổ chức dưới da ở 2 bên quần
vú. Mổ bóc tách để giải phóng bất kỳ sự co rút lại của các dải sợi và các mô sao
cho núm vú được hoàn toàn. Bác sĩ phẫu thuật nên tránh mổ cắt ngang và làm
hỏng ống dẫn sữa. Sau đó, bác sĩ phẫu thuật sẽ bóc tách bên dưới núm vú để tạo
đường hầm. Hai vạt đã loại bỏ da thì tiến qua đường hầm, và chúng được khâu
vào các vết mổ đối diện để tăng lực kéo dài núm vú, cho phép núm vú kéo dài liên
tục. Khâu vết thương thành hai lớp. Một ví dụ trường hợp đại diện được trình.
269
Chương 15 : Sửa biến dạng núm vú thường gặp của người châu Á
bày trong hình 58-19.
Bức ảnh hậu phẫu được chụp 2 tuần sau khi phẫu thuật
Hình 58-19 A, núm vú tụt độ III. B, Kết quả 2 tuần sau khi phẫu thuật bằng kỹ thuật vạt
da 2 bên.
Vạt da quần vú có 2 tam giác cải tiến
Phương pháp vạt da quần vú cải tiến có 2 tam giác được phát triển bởi
Kim và cộng sự. Đo đường kính của núm vú trước khi thực hiện kỹ thuật. Một
vòng tròn được vẽ xung quanh cổ núm vú và thiết kế hai vạt tam giác ở vị trí 3 giờ
và 9 giờ. Đáy của tam giác (khoảng 5 -> 8 mm) và chiều dài mỗi cạnh của tam giác
(khoảng 9 -> 12 mm) được thiết kế theo đường kính của núm vú. Các hình tam
giác thường ngắn hơn 1 mm so với đường kính của núm vú. Núm vú được kéo dài
bằng chỉ khâu. thực hiện các vết rạch da theo các thiết kế. Vết mổ ở hai bên của
hình tam giác được rạch sâu xuống mô mỡ dưới da và giới hạn đáy của hình tam
giác ở lớp hạ bì, cho phép vạt da có thể di chuyển vào bên trong. Các bác sĩ phẫu
thuật loại bỏ lớp thượng bì ở hình tam giác, nâng các vạt da quần vú lên, và cuối
cùng bảo tồn lớp mô mỡ dưới da cho đến vạt. Bác sĩ phẫu thuật dùng kéo đầu tù
để cắt bỏ mô dưới da bên dưới núm vú và tránh làm tổn thương các ống dẫn sữa.
Cắt ngang các dải sợi bên dưới, và giải phóng núm vú. Nếu núm vú vẫn bị co rút
lại sau khi đã cắt ngang các dải xơ, thì bác sĩ phẫu thuật phải cắt ngang hầu hết
hoặc tất cả các ống dẫn sữa để giải phóng núm vú.
Tạo một khe dọc nhỏ trong bó của các ống dẫn sữa để bảo tồn ống dẫn sữa.
Khâu một mũi trên đầu của mỗi vạt quần vú, và chỉ khâu được kéo qua khe
mổ nhỏ đến vạt da quần vú bên đối diện. Bằng cách kéo chỉ khâu, 2 vạt da quần
vú được tiến lại gần nhau và kéo qua khe và đến gần nhau. Các vạt da nằm ở bên
cạnh các ống dẫn sữa còn nguyên vẹn còn lại hoặc bên dưới núm vú sau khi một
số hoặc tất cả các ống dẫn sữa đã bị cắt ngang. Khâu lớp hạ bì của núm vú ở mỗi
cạnh của vạt tam đã nâng lên bên đối diện. Đóng vết mổ thành hai lớp
270
Chương 15 : Sửa biến dạng núm vú thường gặp của người châu Á
(Hình 15.20). Một ví dụ trường hợp đại diện được trình bày trong Hình 15.21.
Bệnh nhân mang ống nhựa định hình trong 1 tuần để kéo đầu vú; để bảo vệ vị
trí vết thương, sau đó tháo chỉ khâu. Bệnh nhân hài lòng với kết quả, và núm vú
được điều chỉnh của cô duy trì hình dạng mà không bị giảm cảm giác. Sự phục
hồi có thể xảy ra ở một số bệnh nhân. Núm vú tụt nặng thể được phải chỉnh sửa
lại lần 2.
Hình 15.20 Vạt da quần vú cải tiến có 2 tam giác. A, Núm vú tụt. B, Khâu một sợi chỉ khâu
kéo đầu núm vú lên, và thiết kế hai vạt hình tam giác. C, loại bỏ lớp da bề mặt, và nâng
vạt nâng lên với mô dưới da. D, Thiết kế vạt được hiển thị từ bên cạnh. E, Khâu chỉ ở trên
đầu của vạt. F, Vạt được kéo theo hướng ngược lại và bên dưới núm vú. G, khâu vết mổ.
Hình 15.21 Kết quả của kỹ thuật mổ vạt da quần vú cải tiến có 2 tam giác. A, Núm vú
trước phẫu thuật. B, Ngay sau phẫu thuật tại chỗ. C, Sau phẫu thuật.
Xử lí biến chứng
Cả núm vú phì đại và núm vú tụt đều có thể gây ra các vấn đề về chức năng
và thẩm mỹ mà các bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ phải khắc phục. Mỗi kỹ thuật
chỉnh sửa đã đề cập có ưu điểm và nhược điểm riêng, và các biến chứng phải
được xử lí.
271
Chương 15 : Sửa biến dạng núm vú thường gặp của người châu Á
Núm vú phì đại có thể là do cho con bú hoặc bệnh lý do di truyền. Nó ít có
khả năng tái phát sau khi cắt bỏ các mô dư thừa trên núm vú. Tuy nhiên, một ước
tính không chính xác về số lượng mô cần cắt bỏ có thể gây ra sự bất cân đối về
kích thước núm vú, và thiết kế sai các đường mổ có thể dẫn đến biến dạng núm
vú do sẹo co rút. Sự không đối xứng về kích thước núm vú có thể được sửa chữa
bằng cách cắt bỏ các mô dư thừa của núm vú lớn hơn và sẹo co rút cũng có thể
được giải phóng với kỹ thuật Z-plasty.
Bảo tồn ống dẫn sữa ở trung tâm cũng là một vấn đề trong điều chỉnh núm
vú phì đại. Ở một số bệnh nhân, ví dụ, đầu núm vú không bị phì đại; nó có thể
không phải cắt bỏ, do đó bảo tồn được ống dẫn sữa trung tâm. Mặt khác, nếu đầu
núm vú có đường kính lớn hơn nền núm vú, có thể cắt bỏ đầu vú để đạt được
độ kết quả thẩm mỹ mong muốn. Do đó, trước khi phẫu thuật cần phải cho bệnh
nhân biết về khả năng các biến chứng có thể xảy ra.
Tụt đầu núm vú thường do các ống dẫn sữa ngắn hoặc dây chằng của ống
dẫn sữa ngắn. Để ngăn ngừa tái phát và đảm bảo kết quả khả quan, các ống dẫn
sữa hoặc dây chằng của ống dẫn sữa phải được cắt hoặc giải phóng, bệnh nhân
có thể ảnh hưởng hoặc không thể có khả năng tiết sữa. Thật không may, không
có phương pháp nào có thể đảm bảo chắc chắn rằng bệnh nhân sẽ có thể cho con
bú sau phẫu thuật. Do đó, bệnh nhân phải được thông báo đầy đủ về các biến
chứng sau phẫu thuật có thể xảy ra. Các biến chứng sau phẫu thuật khác bao gồm
tái phát, không đối xứng núm vú và biến dạng núm vú do sẹo co kéo. Tái phát tụt
núm vú có thể được sửa chữa bằng cách giải phóng các ống dẫn hoặc dây chằng
ống dẫn sữa ngắn hoặc bằng cách lấp đầy các tổ chức mô mềm ở nền vú sau 1
năm phẫu thuật. Sự bất cân xứng hoặc biến dạng núm vú sau phẫu thuật có thể là
kết quả của một lần tái phát một bên hoặc sẹo co rút. Có thể được thực hiện phẫu
thuật sửa lại để giải phóng các ống dẫn và dây chằng bị co rút và vết sẹo co rút.
Thảo luận
Một phẫu thuật thành công cho một núm vú phì đại và núm vú tụt nên đơn
giản hóa và đáng tin cậy, với tỷ lệ tái phát thấp và không có sẹo nhìn thấy rõ. Núm
vú phì đại thường đòi hỏi phải cắt bỏ các mô dư thừa. Để đảm bảo kết quả chức
năng và thẩm mỹ tối ưu, việc ước tính chính xác lượng mô phải cắt bỏ là rất quan
trọng để tránh sự bất cân xứng của núm vú. Trong khi cắt bỏ các mô dư thừa, bác
sĩ phẫu thuật nên tránh làm hỏng ống dẫn sữa ở trung tâm để duy trì khả năng
tiết sữa của bệnh nhân và tránh các vết mổ thẳng, có thể dẫn đến sẹo co rút, gây
biến dạng núm vú.
Núm vú tụt độ II và III thường đòi hỏi phải giải phóng các ống dẫn sữa và
dây chằng ống dẫn sữa ngắn. Mặc dù, bác sĩ phẫu thuật nên tránh làm hỏng ống
dẫn sữa ở trung tâm và bảo tồn khả năng tiết sữa là lý tưởng, nhưng không có gì
đảm bảo. Thông thường, chìa khóa để thành công trong điều chỉnh tụt núm vú là
giải phóng hoàn toàn các ống dẫn sữa và dây chằng bị co rút, và do đó bệnh nhân
272
Chương 15 : Sửa biến dạng núm vú thường gặp của người châu Á
phải hy sinh khả năng tiết sữa để tránh tái phát. Để đảm bảo kéo dài đầu vú, phải
lấp đầy khoang dưới núm vú được giải phóng.
Ưu điểm thành công
Núm vú phì đại
• Điều quan trọng là phải có ước tính chính xác về số lượng và vị trí của các
mô cần được loại bỏ.
• Ước tính hình dạng vòm của núm vú và có kích thước chính xác sau khi loại
bỏ mô.
• Cần bảo tồn phần nhạy cảm nhất của vòm núm vú
• Bác sĩ phẫu thuật nên tránh tổn thương ống dẫn sữa ở trung tâm.
• Tránh đường rạch thẳng.
Núm vú tụt
• Thông thường chỉ có độ II hoặc III yêu cầu phẫu thuật chỉnh sửa.
• Bác sĩ phẫu thuật nên giải phóng hoàn toàn các ống dẫn sữa ngắn, các dây
chằng và các dải sợi xơ.
• Lấp đầy khoang dưới núm vú được giải phóng (ví dụ vạt mô mềm).
• Bác sĩ phẫu thuật phải nhận thức được việc cung cấp máu cho núm vú.
• Bác sĩ phẫu thuật nên tránh vết mổ nằm thẳng.
Tài liệu tham khảo
1. Jin US, Lee HK. Nipple reduction using circumcision and wedge exci
sion technique. Am Plast Surg 70:154-157, 2013.
2. Basile FV, Chang YC. The triple-flap nipple-reduction technique. Ann
Plast Surg 59:260-262, 2007.
3. Wang W. Nipple inversion correction using lunar shaped skin flaps meth
od. J Pract Aesthetic Plast Surg 3:189-190, 1992.
4. Wang W. Plastic and Reconstructive Surgery. Hangzhou, China: Zhejiang
Science and Technology Publications 1166-1169, 1922.
5. Park HS, Yoon CH, Kim HJ. The prevalence of congenital inverted
nipple. Aesthetic Plast Surg 23:144-146, 1999.
6. Shafir R, Bonne-Tamir B, Ashbell S, et al. Genetic studies in a family
with inverted nipple (mammillae invertita). Clin Genet 15:346-350, 1979.
7. Han S, Hong YG. The inverted nipple: its grading and surgical correction.
Plast Reconstr Surg 104:389-395; discussion 396-397, 1999.
8.Chen SH, Gedebou T, Chen PH. The endoscope as an adjunct to correc
tion of nipple inversion deformity. Plast Reconstr Surg 119:1178-1182,
273
Chương 15 : Sửa biến dạng núm vú thường gặp của người châu Á
2007.
9. Quan L, Ying C, Jingjing L. Correction of inverted nipples by double
stitching of U-shape. Chinese J Reparative Reconstr Surg 22:593-596,
2008.
10. Broadbent TR, Woolf RM. Benign inverted nipple: trans-nipple-areolar
correction. Plast Reconstr Surg 58:673-677, 1976.
11. Zhang Q, Yang C. Correction of congenital nipple inversion with
bilateral rhombus deepithelialized subcutaneous pedicle skin flaps and
continuous traction. Chin J Plast Surg 20:21-23, 2004.
12. Kim DY, Jeong EC, Eo SR, et al. Correction of inverted nipple: an
alternative method using two triangular areolar dermal flaps. Ann Plast
Surg 51:636-640, 2003.