11 Ghép mỡ vùng mặt
242
11.13 Biến chứng
11.13.1 Nang
Có khả năng tạo u nang là
rất thấp, vì đây không phải là một
lượng lớn mỡ ghép. Có thể bị vón
cục vì u nang dầu sau khi ghép mỡ.
Độ cứng có thể phát hiện khi
mỡ bị hoại tử hoặc bị vôi hóa xảy
ra sau khi nang dầu hình thành.
Điều này có thể gây đau, và nhìn
bên ngoài rất khó chịu. Vì vậy, có
thể cần thiết phải phẫu thuật cắt
bỏ.
11.13.2 U mỡ
Các khối u mỡ có thể xảy ra
ở những vùng được tiêm mỡ quá
nhiều, hoặc mỡ có thể dễ dàng bị
quá phát.
Nếu nó nhỏ, không cần điều
trị đặc biệt gì. Nếu một bệnh nhân
không hài lòng rằng các khối u lớn
hoặc nếu có đau, họ nên được loại
bỏ.
Có thể thực hiện loại bỏ khá
đơn giản. Kiểm tra vùng u bằng
siêu âm. Tiêm dung dịch tumes
cent chính xác cho vùng này. Sau
đó, sử dụng thiết bị phân giải mỡ
ULTRA-Z để phân giải khối u này
sẽ cho một kết quả tốt. Trong một
số trường hợp, vùng này có thể
được hút bằng ống tiêm có khóa.
Có thể cải thiện tạm thời
bằng cách sử dụng steroid (triam
cinolone). Tuy nhiên, trong trường
hợp tiêm steroid quá nhiều, có thể
có bị lõm da khi các khối u biến
mất.
Khối u thường xuất hiện ở
vùng má hoặc dưới má.
11.13.3 Viêm do mỡ hoại tử
Lượng mỡ được tiêm trên
mặt không quá nhiều so với lượng
mỡ tiêm ở vú, do đó tình trạng
viêm do hoại tử mỡ không xảy ra.
11.13.4 Nhiễm trùng
Đây là biến chứng nguy
hiểm nhất trong ghép mỡ. Điều rất
quan trọng là phải vô trùng triệt
để trong tất cả các quy trình của
phẫu thuật.
11.13.5 Sưng
Sưng nề nhiều nhất xảy ra
sau tiêm mỡ từ 2-> 3 ngày. Phần
lớn sưng có thể biến mất vào
khoảng ngày thứ bảy.
Bệnh nhân đã nhận được
mỡ ghép có thể nhầm lẫn sưng
trong giai đoạn này cho ảnh hưởng
của mỡ ghép. Họ có thể phàn nàn
rằng mỡ ghép đã bị tiêu đi quá
nhanh. Vì lý do này, quá trình sưng
này nên giải thích trong quá trình
trao đổi với bệnh nhân về phẫu
thuật ghép mỡ.
11.13.6 Chảy máu
Khả năng xuất huyết sau
khi ghép mỡ là thấp. Ngay cả một
lượng nhỏ xuất huyết trên trán
11 Ghép mỡ vùng mặt
243
cũng có thể chảy xuống vùng mắt,
điều này có thể làm tăng sự không
hài lòng của bệnh nhân.
11.13.7 Chạy mỡ ghép đi chỗ khác
Mỡ ghép rơi xuống do trọng
lực có thể xảy ra nếu tiêm quá
nhiều mỡ vào vùng má hoặc tiêm
vào phần dưới của má.
11.13.8 Không đối xứng
Sự bất cân xứng chủ yếu xảy
ra khi tiêm lượng mỡ vào mỗi bên
trái và bên phải. Nó cũng có thể
xảy ra trong quá trình sống sót của
mỡ sau khi ghép. Sự bất đối xứng
thường phải xử lí bằng phương
pháp ghép mỡ lại lần thứ hai.
11.13.9 Vấn đề da bị mụn
Tình trạng da mụn có thể
trở nên tồi tệ tạm thời trong 1 ->2
tháng sau khi ghép mỡ. Giải thích
đầy đủ cho bệnh nhân về điều này
là cần thiết trước khi phẫu thuật
ghép mỡ.
Có thể cần thiết phải dùng
thuốc điều trị mụn trứng cá nếu
mụn trứng cá trở nên tồi tệ hơn.
11.13.10 Lõm da hoặc không đều
của vùng hút mỡ
Hút mỡ không có kỹ năng
trong vùnglấy mỡ có thể gây ra
tình trạng lõm da hoặc không đều.
Do đó, kỹ năng hút mỡ thành thạo
là rất quan trọng. Trước khi học
một kỹ thuật ghép mỡ, bác sĩ phẫu
thuật đã làm quen đầy đủ với các
kỹ thuật hút mỡ.
11.14 Điều trị sau phẫu thuật
Không có xử lí đặc biệt nào
là cần thiết sau khi phẫu thuật
ghép mỡ. Vì tác giả tạo ra một lỗ
vào bằng cách sử dụng dùi awl,
không cần khâu vết thương, điều
đó có nghĩa là khâu cũng không
cần thiết.
Trong 1 tuần sau khi phẫu
thuật, nên dùng túi chườm lạnh để
giảm sưng.
11.15 Ảnh trước và sau phẫu
thuật
Hình 11.40,11.41,11.42,11.43,11.
44,11.45, 11.46,11.47,11.48,11.49
,11.50,11.51,11.52, và 11.53
11 Ghép mỡ vùng mặt
244
Hình.11.40 Trước khi ghép mỡ vào
trán
Hình.11.41 Da thẳng lên sau phẫu
thuật
Hình.11.41 Da thẳng lên sau phẫu
thuật
Hình.11.43 3 ngày sau khi ghép mỡ
11 Ghép mỡ vùng mặt
245
Hình.11.44 Trước ghép mỡ toàn mặt
Hình.11.44 Trước ghép mỡ toàn
mặt
Hình.11.46 Trước ghép mỡ toàn mặt
Hình.11.47 3 tháng sau ghép mỡ
11 Ghép mỡ vùng mặt
246
Hình.11.48 Trước khi ghép mỡ
Hình.11.49 3 tháng sau khi ghép mỡ
Hình.11.49 3 tháng sau khi ghép mỡ
Hình.11.51 3 tháng sau khi ghép mỡ
11 Ghép mỡ vùng mặt
247
Hình.11.52 Trước khi ghép
Hình.11.53 3 tháng sau khi ghép
12 Ghép mỡ vào vú
248
Ghép mỡ vào vú
12
Ghép mỡ tự thân ở vú đòi hỏi một
lượng mỡ lớn và bí quyết:
1. Hút mỡ
2. Lấy mỡ
3. Tiêm mỡ
Nếu bác sĩ phẫu thuật thiếu
một trong ba lĩnh vực này, anh ta
hoặc cô ta không thể thực hiện
ghép mỡ ở vú thành công và thỏa
đáng.
Chọn một bệnh nhân phù
hợp cũng rất quan trọng.
Đủ mỡ từ bênh nhân để lấy
bằng cách hút mỡ trên bệnh nhân.
Bệnh nhân cũng phải có một khối
lượng vú vừa phải. Sẽ không tốt
nếu vú của bệnh nhân quá nhỏ.
Những điều kiện này làm tăng sự
hài lòng của bệnh nhân sau khi
thực hiện phẫu thuật ghép mỡ vào
vú.
Ba câu hỏi dưới đây sẽ là
điểm gây tò mò nhất cho một bác
sĩ lần đầu tiên gặp phải một ca
ghép mỡ ở vú:
1. Những loại bệnh nhân nào có
thể trải qua phẫu thuật này?
2. Tỷ lệ sống như thế nào đối với
ghép mỡ ở vú?
3. Ghép mỡ vú có thực sự an toàn
không?
Tôi muốn giải thích những
điểm này và bí quyết của tôi liên
quan đến ghép mỡ ở vú.
Ghép mỡ tự thân chưa phải
là một phương pháp phẫu thuật đã
chuẩn hóa. Nó chỉ phụ thuộc vào
kỹ năng và phương tiện của học
viên, và phòng phẫu thuật.
Cá nhân tôi nghĩ rằng ng
hiên cứu hiệu quả về ghép mỡ vú
là cần thiết từ góc độ lâu dài, và
theo dõi lâu hơn về các biến chứng
của ghép mỡ ở vú và mối quan hệ
của mỡ với ung thư vú là điều cần
thiết.
12.1 Tỷ lệ sống cho mảnh ghép
mỡ ở vú
Largo và cộng sự. (2014) đã
phân tích các nghiên cứu, trong đó
có nói đến 1453 bệnh nhân ghép
mỡ. Trong 6% bệnh nhân có một
biến chứng cần điều trị phẫu thuật
xảy ra. Ung thư vú xảy ra ở 0,1%
bệnh nhân. Thể tích vú tăng 55%
->82% sau ghép mỡ. Không có
12 Ghép mỡ vào vú
249
bằng chứng thuyết phục nào cho
thấy việc ghép mỡ ở vú gây ung
thư vú, nhưng cần phải theo dõi
lâu dài hơn cho việc này.
Peter và cộng sự. (2016) đã
phân tích tỷ lệ sống của mỡ bằng
cách sử dụng hình ảnh cộng hưởng
từ (MRI) sau khi ghép mỡ tự thân
vào vú (Bảng 12.1).
12 tháng sau khi ghép mỡ ở
vú, tỷ lệ sống của mỡ được đo đã
thay đổi từ 30 ->90%.
Sự thay đổi về kích thước
vú nên được đo sau khi phẫu thuật
ghép mỡ vú và xem xét hình dạng
thay đổi của vú, vì các mảnh ghép
A và B, chỉ định các điểm tham
chiếu, là bờ trên vú và bờ dưới vú,
thay đổi (Hình 12.1 và 12.2) .
Hình 12.3 cho thấy mỡ ghép
1 tháng sau khi ghép mỡ ở vú do
tác giả thực hiện. Bạn có thể thấy
rằng mỡ ghép vẫn chưa được sống
ở vú hoàn toàn.
Quan sát thấy có sự phát
triển mạch máu mới xung quanh
mãnh mỡ ghép.
12.2 Vú nào thích hợp cho
phẫu thuật ghép mỡ
1. Vú có kích thước lớn giữa cup
size A
2. Vú không đối xứng
3. Vú chảy sệ dưới độ 2
4. Bệnh nhân bị cắt bỏ một số bộ
phận của vú vì ung thư vú
5. Tái tạo lại kích thước vú sau khi
lấy silicon ra khỏi vú
12.3 Có sẵn vùng để hút mỡ
Cánh tay, bụng, bikini, đùi
đều có khả năng hút mỡ.
Nếu bệnh nhân không có sở
thích về một vùng cụ thể để hút
mỡ và chỉ muốn ghép mỡ lên vú,
thì nên sử dụng vùng mặt ngoài
đùi làm vùng hút mỡ ưu tiên hàng
đầu, vì vùng này là nơi dễ dàng
nhất để hút mỡ.
Tuy nhiên, nếu bệnh nhân
đã được hút mỡ ở đùi hoặc không
có đủ mỡ ở đùi thì vùng bụng hoặc
vùng bikini là vùng ưu tiên thứ hai.
Nếu khó hút mỡ từ bụng, vùng
bikini và đùi hoặc nếu bệnh nhân
muốn hút mỡ cánh tay thì việc
hút mỡ từ cánh tay và sau đó sử
dụng mỡ này để ghép lên vú cũng
là điều tốt.
Được biết, tỷ lệ sống sót của
mỡ được lấy từ cánh tay là thấp,
vì có nhiều mô sợi trong cánh tay.
Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của
tác giả, không có sự khác biệt về
tỷ lệ sống sót của mỡ được hút từ
cánh tay so với các bộ phận khác
của cơ thể.
12.4 Phương pháp hút mỡ
12.4.1 Kỹ thuật thủ công
1. Phương pháp sử dụng ống tiêm
có khóa
Đối với ghép mỡ ở vú, chủ
yếu sử dụng ống tiêm khóa 10
ml, 20ml, 50 ml. Phương pháp
này không dễ dàng để hút lấy một
lượng lớn mỡ.
12 Ghép mỡ vào vú
250
Trước
mổ
>3 h
4 tháng
12 tháng
Mỡ ghép
(ml)
Bệnh
nhân 1
Vú phải
0 (593.0)
332.2 (925.1)
212.2 (805.1)
152.0 (745.0)
300
Vú trái
0 (592.7)
326.1 (918.8)
206.5 (799.1)
143.4 (736.5)
300
Bệnh
nhân 2
Vú phải
0 (575.9)
308.2 (884.1)
119.5 (695.4)
171.5 (747.4)
260
Vú trái
0 (543.3)
334.8 (878.1)
128.4 (671.7)
180.0 (723.3)
260
Bệnh
nhân 3
Vú phải
0 (747.8)
391.6 (1139.4)
266.4 (1014.2)
296.7 (1044.5)
327
Vú trái
0 (726.2)
383.6 (1109.8)
265.7 (991.9)
290.0 (1016.2)
330
Bệnh
nhân 4
Vú phải
0 (967.8)
300.5 (1268.3)
202.9 (1170.7)
84.1 (1051.9)
280
Vú trái
0 (933.5)
315.7 (1249.2)
188.7 (1122.2)
103.4 (1036.9)
250
Bảng12.1 Nghiên cứu tỉ lệ sống sót của mỡ ghép lên vú bằng dùng MRI
Hình.12.1 Thay đối kích thước vú nên quan tâm đến hình dáng của vú trước và
sau phẫu thuật
Thay đổi kích thước vú, cm3(kích thước tổng thể vú, cm3)
Bờ trên
Bờ dưới
Bờ trên
Bờ dưới
12 Ghép mỡ vào vú
251
a Cắt ngang
b cắt đứng
c Ngang vú
Hình.12.2 Điểm ức-vú
Hình.12.3 Mỡ ghép sau 1 tháng ở vú
2. Hút bằng ống cannula với thiết
bị hút chân không
Đây là phương pháp đã sử
dụng trong một số phòng khám
nơi không có sẵn thiết bị phù hợp
và việc thực hiện hút mỡ bằng các
công cụ rẻ tiền. Điều này thường
được gọi là hút mỡ thủ công, có
nghĩa là, sử dụng thiết bị hút dễ
dàng tìm thấy trong phòng phẫu
thuật thẩm mỹ.
Gần đây, cả máy kết hợp
tiêm dung dịch tumescent và máy
hút chân không đã thấy bán trên
thị trường.
12.4.2 Phương pháp sử dụng dụng
cụ hút mỡ
Có thể hút một lượng lớn
mỡ trong một thời gian ngắn bằng
cách sử dụng các thiết bị hút mỡ
như EVA và Microair (Made in
America).
12.4.3 Phương pháp sử dụng thiết
bị hút mỡ và tách mỡ để ghép ngay
lập tức
Các thiết bị như Lipokit và
Harvest-jet đang có mặt trên thị
trường.
Đây là một phương pháp
tốt để chọn cho một ghép mỡ bình
thường nơi các tế bào SVF không
được sử dụng.
12.5 Tổ chức tế bào mỡ sau khi
hút bằng thiết bị rung
Từ việc nhìn vào kiến thức
thông thường đang có, người ta
biết rằng nếu hút mỡ bằng thiết
bị rung, tỷ lệ sống của tế bào mỡlà
thấp do sự phá hủy tế bào mỡ.
Tuy nhiên, từ kết quả của năm lần
kiểm tra mô tế bào của mỡ được
hút từ thiết bị rung, không có sự
khác biệt trong các mô tế bào mỡ,
12 Ghép mỡ vào vú
252
điều này có thể dẫn đến sự khác
biệt về tỷ lệ sống sót. Đã có kết quả
tốt về tỷ lệ sống sau khi ghép mỡ.
Tôi đã hút mỡ ở 05 bệnh
nhân bằng cách hút mỡ từ đùi
bằng hai phương pháp khác nhau
với thiết bị EVA. Sau đó, tôi tiến
hành phân tích mô mỡ.
Một phương pháp là hút
mỡ khi chế độ rung BẬT và một
phương pháp khác là hút mỡ khi
chế độ rung TẮT.
Trong kết quả kiểm tra mô
tế bào mỡ của từng kỹ thuật hút,
không có sự khác biệt đáng kể nào
cho thấy một phương pháp này tốt
hơn phương pháp kia.
Tôi dự định tiến hành ng
hiên cứu bổ sung bằng thiết bị rung
sử dụng EVA và tôi mong muốn
nhìn thấy các tài liệu báo cáo tốt từ
các phòng khám khác (Hình 12.4,
12.5, 12.6, 12.7, 12.8,12.9, 12.10,
12.11, 12.12 và 12.13).
12.6 Hút mỡ và Quy trình xử
lí mỡ
12.6.1 Hoàn thành sắp xếp phòng
mổ trước khi phẫu thuật
Khi sắp xếp thiết bị hút mỡ
để ghép mỡ ở vú bằng cách sử
dụng EVA, cần có kính tiệt trùng
chân không (Hình 12.14). Kết nối
dụng cụ này với tay cầm EVA và
thân chính của EVA (chức năng hút
mỡ).
Điều này là để ghép mỡ vào
vú đã chiết xuất từ cánh tay bằng
cách sử dụng hút mỡ.
Hình.12.4 Biến dạng màng tế bào mỡ
Hình.12.5 Không biến dạng màng tế
bào mỡ
Hình.12.6 Hút tế bao mỡ với thiêt bị
không rung
12 Ghép mỡ vào vú
253
Hình.12.7 Hút tế bao mỡ với thiêt bị
rung
Hình.12.8 Hút tế bao mỡ với thiêt bị
không rung
Hình.12.9 Hút tế bao mỡ với thiêt bị
rung
Hình.12.10 Hút tế bao mỡ với thiêt bị
không rung
Hình.12.11 Hút tế bao mỡ với thiêt bị
rung
Hình.12.12 Năng lượng rung ON
12 Ghép mỡ vào vú
254
Hình.12.13 Chế độ rung OFF
12.6.2 Hút đủ mỡ vào chai thủy tinh
vô trùng
Hình 12.15 cho thấy mỡ đã hút
trong chai thủy tinh vô trùng.
12.6.3 Lấy bỏ dịch màu đỏ ở đáy
chai thủy tinh
Hình12.16 và 12.17 cho thấy còn
dịch.
12.6.4 Rửa mỡ bằng 500 ml nước
muối sinh lí
Hình12.18 cho thấy đang rửa mỡ.
12.6.5 Sau khi rửa mỡđể loại bỏ
dịch màu đỏ ở đáy chai thủy tinh
Hình12.19 và 12.20 cho thấy dịch
màu đỏ.
Hình.12.14 Sắp xếp dụng cụ phẫu
thuật hút mỡ để ghép mỡ vào vú
bằng thiết bị EVA
Hình.12.15 Hút mỡ bên trong chai
thủy tinh
Hình.12.16 Dùng syringe 50-mL có
khóa để lấy bỏ dịch
12 Ghép mỡ vào vú
255
12.6.6 Chuyển mỡ bên trong chai
thủy tinh vào cốc và trộn với kháng
sinh Cefaclor
Hình 12.21 và 12.22 cho thấy mỡ
đã chuyển vào cốc và trộn với
kháng sinh.
12.6.7 Chuyển mỡ vào syringe vô
trùng 50 ml
Bác sĩ phẫu thuật cần phải
làm việc trong phòng vô trùng để
ly tâm mỡghép (Hình 12.23). Anh
ta hoặc cô ta cần phải vô trùng
phòng làm việc trước và thực hiện
công việc bởi các nhà nghiên cứu.
12.6.8 Mỡ ly tâm sử dụng máy ly
tâm
Hình 12.24 cho thấy quy trình ly
tâm mỡ.
12.6.9 Chuyển mỡ đã ly tâm sang
Syringe 50-mL
Hình 12.25 cho thấy mỡ sau khi ly
tâm
12.6.10 Chuyển mỡ vào syringe
3ml có khóa
Hình 12.26 cho thấy chuyển mỡ
vào những syringe nhỏ hơn.
12.6.11 Ghép mỡ vào vú
Hình 12.27 cho thấy mỡ
ghép vào vú.
Hình.12.17 Lấy bỏ mỡ với máu
Hình.12.18 Rửa mỡ với dung dịch
nước muối sinh lí
Hình.12.19 Lấy bỏ dịch có máu
12 Ghép mỡ vào vú
256
Hình.12.20 Mỡ còn lại
Hình.12.21 Chuyển mỡ vào cốc
Hình.12.22 Trộn với kháng sinh
Hình.12.23 Chuẩn bị mỡ trước khi li
tâm
Hình.12.24 Ly tâm 700g mỡ, trong 3
phút
Hình.12.25 Mỡ đã thanh lọc sau khi
ly tâm
12 Ghép mỡ vào vú
257
Hình.12.26 Chuyển mỡ từ syringe
50-mL có khóa sang syringe 3 mL có
khóa
Hình.12.27 Dùng syringe 3ml có khóa
để ghép mỡ
Hình.12.28 Cannula mà tôi dùng
ghép mỡ có kích thước 1.2mm×10cm.
Hình.12.29 Sắp xếp phòng mổ để
ghép mỡ
Hình.12.30 Đánh dấu lỗ vào
12.7 Cannula tiêm mỡ
Có thể sử dụng syringe có
khóa 1 mL, 3 mL, 5 mL và 10 mL
để tiêm mỡ vào vú.
Tôi nghĩ rằng rất khó để
thực hiện tiêm mỡtinh chế khi sử
dụng syringe khóa 10 ml, vì syrin
getrong trường hợp này dày và do
đó các hạt mỡ dày đặc được tiêm.
Khi sử dụng syringe có
khóa 1 ml để tiêm mỡtinh chế với
các hạt mỡ nhỏ có thể được hình
thành. Nhược điểm là nó kéo dài
12 Ghép mỡ vào vú
258
thời gian phẫu thuật.
Vì những lý do này, tôi tiêm
mỡ bằng ống tiêm khóa 3 ml (Hình
12.28).
12.8 Tiêm mỡ vào vú
12.8.1 Sắp xếp phòng mổ trước khi
tiêm mỡ vào vú
Hình 12.29 cho thấy sắp xếp phòng
mổ.
12.8.2 Lỗ rạch da
Tiêm mỡ ở lỗ rạch da nằm
dưới cùng của vú và nếp gấp của
nách trước. Thực hiện tiêm trong
hai vùng bằng cách sử dụng ống
cannula. Tạo các lỗ vào bằng cách
sử dụng dùi awl thay vì rạch da
(Hình 12.30 và 12.31). Một lý do
khả quan để sử dụng dùi awl là
không cần cần thiết phải khâu lại
sau khi phẫu thuật. Thông thường,
các vết rạch da không nên tạo ra
xung quanh quầng vú.
12.8.3 Chích mỡ
Chích mỡ vào nhiều góc khác nhau
thông qua 2 lỗ (Hình. 12.32).
12.8.4 Lớp tổ chức ở vú để tiêm mỡ
Vùng tiêm mỡ thường sử
dụng là phần dưới của nhu mô vú,
nằm phía trên cơ ngực lớn.
Tôi cũng tiêm một ít mỡ vào
lớp mỡ dưới da của vú, nằm phía
trên nhu mô vú.
Nếu có thể, không nên tiêm
mỡ vào bên trong nhu mô vú.
Bác sĩ phẫu thuật có thể tiêm
mỡvào vú khi cảm thấy như thể
họ đang chạm vào cơ. Khi tiêm mỡ
bằng cách giữ vú lên bằng 1 tay,
mỡ có thể dễ dàng được tiêm vào
lớp thấp nhất của vú (Hình 12.33).
12.8.5 Vú đầy hơn sau khi tiêm mỡ
Hình 12.34,12.35, 12.36, và
12.37cho thấy bệnh nhân sau khi
tiêm mỡ vào vú.
12.8.6 Tạo khuông vú sau khi tiêm
ghép mỡ
Điều này là để giảm bớt sự
hình thành u mỡ. Tác giả cho rằng
việc tạo khuông không có ảnh
hưởng xấu đến sự sống sót của các
tế bào mỡ ghép.
Hình.12.31 Tạo lỗ vào bằng dùi awl
12 Ghép mỡ vào vú
259
Hình.12.32 Mỡ ghép xuyên qua những lỗ vào
Hình.12.33 Tiêm mỡ vào lớp thấp
nhất của vú
Hình. 12.35 Vú phải nhô cao hơn
nhiều sau khi tiêm ghép mỡ
12 Ghép mỡ vào vú
260
Hình.12.36 Vú phồng lên sau khi tiêm mỡ vào 2 vú
Hình. 12.35 Vú phải nhô cao hơn
nhiều sau khi tiêm ghép mỡ
12.9 Biến chứng của ghép mỡ
vú
12.9.1 Nhiều nang
Một biến chứng phổ biến
nhất là u nang vú. Một khi đã xảy
ra, chúng không dễ dàngbiến mất,
nhưng cũng không cần thiết phải
điều trị đặc biệt.
12.9.2 U mỡ
Có thể xảy ra ở những vùngtiêm
ghép quá nhiềumỡ. Khối u này có
thể dễ dàng xảy ra ở phần dưới của
vú nơi tiêm ghép mỡ nhiều.
Nếu khối u nhỏ, không cần
thiết phải điều trị đặc biệt. Tuy
nhiên, nếu bệnh nhân phàn nàn về
việc cảm thấy một khối u lớn hoặc
đau, thì khối u cần phải được loại
bỏ.
Có thể thực hiện loại bỏ khá
dễ dàng. Kiểm tra vùng u mỡ bằng
siêu âm. Tiêm dung dịch tumes
cent chính xác vào vùng này. Sau
đó, dùng thiết bị siêu âm phân giải
mỡ(ULTRA-Z) để phân giải khối
u. Trong một số trường hợp, có
thể hút vùng này bằng syringe có
khóa.
Nếu bệnh nhân muốn loại bỏ
một khối mỡ nhỏ, thì nên chuyển
đến phòng khám vú để tiến hành
cắt bỏ bằng cách sử dụng chọc hút.
Nếu khối u quá lớn để hút
bằng ống tiêm, thì phải tiến hành
bằng phẫu thuật cắt bỏ u.
Tôi đã xử lí hai trường hợp
khối u mỡ bằng cách phân giải mỡ
ULTRA-Z và hút ống tiêm có khóa.
12 Ghép mỡ vào vú
261
12.9.3 Viêm do hoại tử mỡ
Tỷ lệ viêm do hoại tử mỡ là
rất hiếm, nếu tiêm một lượng lớn
mỡkhông đều.
12.9.4 Tụ máu
Tỷ lệ gặp tụ máu là hiếm khi gặp.
12.9.5 Tụ dịch có thể xảy ra, nhưng
nó không phổ biến
12.9.6 Tác dụng của việc ghép mỡ ở
vú đối với ung thư vú
Vẫn chưa có bằng chứng
chính xác. Nghiên cứu liên tục về
điều này là bắt buộc sau đây. Sẽ
khuyến nghị là bệnh nhân nên
chụp nhũ ảnh, siêu âm (USG),
chụp cắt lớp vi tính và kiểm tra
MRI thường xuyên. Thông thường,
bệnh nhân nên kiểm tra USG mỗi
năm một lần.
12.10 Biến chứng thẩm mỹ
Khi 120ml->200mlmỡ tiêm
vào mỗi bên vú, thì vú có thể không
đối xứng, theo tỷ lệ mỡ sống sót, và
đôi khi bệnh nhân có thể phàn nàn
về sự tăng thêm một ít kích thước
vú sau khi ghép mỡ.
Do đó, tác giả khuyến cáo
nâng vúbằng cách cấy ghép túi sil
icone trước khi ghép mỡ nếu có
thể.
Nếu bệnh nhân không muốn
đặt túi silicone hoặc hút mỡ, thì
vẫn nên ghép mỡ ở vú.
Kỹ thuật ghép mỡ vào vú là
rất tốt cho những bệnh nhân có vú
không đối xứng.
12.11 Bảo quản mỡ
Tác giả có một hệ thống bảo
quản đóng băng cực kỳ thấp và do
đó có thể tiến hành ghép mỡ lần
thứ hai bằng cách sử dụng mỡđã
đông lạnh. Tuy nhiên, chi phí thêm
cho một mảnh ghép thứ hai khi sử
dụng mỡ lưu trữ trong tủ đông.
Chi phí bổ sung cho việc lưu trữ
đóng băng cực thấp như sau:
1. Cần một gói lưu trữ mỡ 50 mL
đắt tiền để đặt vào hộp chứa nitơ
lỏng
2. Chi phí điều trị thuốc làm tan
mỡ đông lạnh
3. Chi phí nitơ lỏng
Nó có giá khoảng 500 đến
1.000 đô la Mỹ Tiền để lưu trữ,
đông lạnh và rã đông 300 mL mỡ.
Trong trường hợp ghép mỡ vú lần
thứ hai bằng tủ đông bình thường,
một lượng lớn mỡ cần được lưu
trữ và sử dụng so với ghép mỡ ở
mặt. Theo kinh nghiệm của tôi thì
điều này dường như làm tăng số
lượng khối u và u nang, và do đó
tôi không giới thiệu một cách ghép
mỡ lần thứ hai từ một tủ đông
bình thường.
12 Ghép mỡ vào vú
262
12.12 Xử lý sau khi phẫu thuật
Bệnh nhân không đeo băng
ép hoặc mặc quần áo bó. Họ không
được mặc áo ngực trong một tháng.
Khác với điều này, bệnh nhân cần
tránh uống rượu và hút thuốc. Họ
nên ăn rau giàu chất chống oxy
hóa và tránh ăn thịt.
Bệnh nhân cần tránh xoa
bóp bằng máy hoặc điều trị bằng
tần số vô tuyến RF.
Dùng buồng oxy áp suất cao
là để giúp phục hồi sự mệt mỏi từ
phẫu thuật và có thể giúp ích cho
tỷ lệ sống sót của tế bào mỡ. Tuy
nhiên, không có kết quả nghiên
cứu khách quan và kết luận nào
cho việc này. Vì một trung tâm
điều trị bỏng sử dụng buồng oxy
áp suất cao cho mục đích điều trị
để tái tạo mô bị bỏng, tôi nghĩ rằng
nó cũng có thể hữu ích cho tỷ lệ
sống sót của các tế bào ghép mỡ.
Tuy nhiên, bệnh nhân nên
lưu ý rằng buồng oxy áp suất cao
trong trung tâm điều trị bỏng và
tại phòng khám địa phương có các
cài đặt áp suất khác nhau.
12.13 Khám sau khi phẫu thuật
Cần phải giải thích rằng cần
tiến hành chụp X quang tuyến vú
và kiểm tra USG lúc một năm sau
khi ghép mỡ ở vú để so sánh và để
kiểm tra vú trong tương lai.
12.14 Các trường hợp ghép mỡ
vú
Trường hợp 1 (Hình. 12.38 và
12.39)
Trường hợp 2 (Hình. 12.40 và
12.41)
12 Ghép mỡ vào vú
263
Hình.12.38 Trước phẫu thuật
Hình.12.39 3 tháng sau phẫu thuật
12 Ghép mỡ vào vú
264
Hình.12.40 Trước phẫu thuật
Hình.12.41 3 tháng sau phẫu thuật
13 Ghép tế bào gốc mỡ
265
Ghép tế bào gốc mỡ
13
Ưu điểm của phương pháp
ghép mỡ sử dụng tế bào gốc là tăng
tỷ lệ sống sót và giảm khả năng
hoại tử, u nang và vón cục mỡ, vì
ghép mỡ tế bào gốc tiêm nhiều mỡ
mềm hơn so với ghép mỡ thông
thường.
Vẫn còn nhiều khó khăn để
tiếp cận sử dụng tế bào gốc cho
mục đích thẩm mỹ vì nhiều bác
sĩ chưa có kinh nghiệm điều trị
bằng cách sử dụng tế bào gốc. Do
đó, tôi muốn đưa ra các phương
pháp điều trị thẩm mỹ bằng cách
sử dụng tế bào gốc để cho phép
dễ dàng tiếp cận các phương pháp
điều trị đó dựa trên nhiều năm
kinh nghiệm của tôi.
13.1 Hiểu biết về các tế bào SVF
và ADSC
Ghép mỡ tế bào gốc nên
được chia thành các mảnh ghép
mỡ bằng cách sử dụng mỡ phân
đoạn mạch máu(SVF) và ghép mỡ
bằng tế bào gốc có nguồn gốc từ
mỡ (ADSCs).
1. Ghép mỡ bằng cách sử dụng tế
bào phân đoạn mạch máu SVF liên
quan đến việc tiến hành ghép mỡ
ngay sau khi tạo tạo ra được tế bào
phân lập SVF sau khi chiết xuất mỡ
vào ngày điều trị.
2. Ghép mỡ bằng cách sử dụng
ADSC bao gồm tiến hành ghép mỡ
sau khi tạo đủ số lượng tế bào gốc
trong hơn 2 tuần bằng cách nuôi
cấy tế bào SVF đã chiết xuất
Các tế bào phân lập là các
khuẩn lạc tế bào được chiết xuất từ
các tế bào mỡ (Hình 13.1). Chúng
chứa các tế bào gốctrung mô / tế
bào gốc, tế bào mỡ tiền thân, tế
bào nội mô, tế bào ngoại mạch,
tế bào T và đại thực bào M2. Các
tế bào SVF tiết ra các yếu tố tăng
trưởng khác nhau và cấu trúc nền
bên ngoài tế bào ECM như colla
gen và axit hyaluronic để kích hoạt
tổng hợp mô mạch máu và thần
kinh. Tỷ lệ tế bào gốc trong các tế
bào SVF nằm trong khoảng từ 3->
10%.
Từ 50 mL mỡ, chúng ta có
thể tạo ra hàng trăm ngàn tế bào
SVF (Bảng 13.1). Nếu chúng ta
nuôi cấy các tế bào SVF này, chúng
ta có thể thu được 10.000.000 tế
13 Ghép tế bào gốc mỡ
266
bào gốc. Nếu chúng ta nuôi cấy
chúng trong 3 tuần, chúng ta có
thể thu được 100.000.000 tế bào
gốc.
Đạt được 10.000.000 tế bào
gốc bằng cách nuôi cấy trong 2
tuần được coi là đủ tế bào gốc để
ghép mỡ. 100.000.000 tế bào gốc
thu được bằng cách nuôi cấy trong
3 tuần có thể sử dụng như một
phương pháp chống lão hóa bằng
tiêm tĩnh mạch để điều trị thẩm
mỹ nhiều vùng trên cơ thể.
Mô mỡ có thể tạo ra từ hàng
trăm đến hàng nghìn lần tế bào
gốc so với tủy xương. Mô mỡ có
thể sử dụng lượng lớn hơn so với
tủy xương và do đó nó có thể tạo ra
nhiều tế bào gốc hơn.
Các tế bào gốc có nguồn gốc
từ mỡ (ADSCs) được đặt tên lần
đầu tiên vào năm 2004 bởi Hiệp
hội Công nghệ Ứng dụng Mỡ Quốc
tế (IFATS).
Các tế bào phân lập (SVF) có
thể thực hiện theo các bước sau.
Đầu tiên, tiến hành ly tâm mỡ, làm
sạch mỡ và sau đó phản ứng với
enzyme collagenase. Sau đó, sau
khi lọc các tạp chất và làm sạch,
thu được các tế bào SVF.
Để nuôi cấy, khi các ADSC
nhân lên bằng cách gắn vào một
lớp, gắn ADSC vào một vật chứa
thủy tinh tích điện âm hoặc hộp
nhựa tích điện vừa phải như poly
styrene và sau đó tiến hành nhân
lên trong lò ấp CO2.
Trong một bài báo nuôi cấy,
Dulbecco dòng Modified Eagle
Medium (DMEM) và albumin
huyết thanh bò, là những yếu tố
chính, chứa trong các yếu tố tăng
trưởng khác.
Trong quá trình nuôi cấy,
sau 3-> 4ngày, các tế bào gốc bắt
đầu gắn vào môi trường phát triển;
sau 10 ngày, hầu hết các tế bào gốc
bám vào giấy nuôi cấy và các tế bào
khác nổi lên. Sau quá trình này, chỉ
bắt đầu nuôi cấy tế bào gốc bằng
cách trao đổi môi trường nuôi cấy.
13.2 Tác động của ADSC đối với
ghép mỡ
Các ADSC, liên quan đến
ghép mỡ, làm tăng quá trình tân
mạch, mật độ mao mạch và cung
cấp mạch ở giai đoạn ban đầu.
Người ta cũng biết rằng chính hoạt
động của các ADSC như các tế bào
mỡ tiền thân và biệt hóa thành các
tế bào mỡ để tăng tỷ lệ sống sót
trong một thời gian dài.
Vai trò của ADSC khi được
sử dụng để ghép mỡ là:
1. Tham gia vào quá trình tái tạo
mô bằng cách biệt hóa thành các tế
bào mỡ bằng cách tự sản sinh.
2. Phân biệt thành tế bào nội mô
mạch máu hoặc tế bào thành mạch
máu.
3. Duy trì sự sống sót của các tế
bào mỡ bằng cách ngăn ngừa tế
bào mỡ tự chết, thực hiện bằng
cách thể hiện VEGF và IFG-1, là các
yếu tố tăng trưởng tạo mạch máu.
4. Được biết đến để tăng khả năng
sống sót của các tế bào mỡ bằng
13 Ghép tế bào gốc mỡ
267
Macrophages
ASCs
Hình.13.1 Hình ảnh tế
bào phân lập SVF (2
ảnh). Simerman et al.
(2014)
Bảng13.1 Các tế bào gốc
Nguồn gốc
Dây rốn
Tủy xương
Mỡ hút
Mỡ cắt
Thu được
200~20,000
CFU/mL
100~1000
CFU/mL
3600~10,700
CFU/mL
28,000
CFU/g
Illous and Steroidimas (2011)
13 Ghép tế bào gốc mỡ
268
a
fSVF
cSVF
day 28
day 14
Hình.13.2 Tế bào phân đoạn mạch máu phân bố các yếu tố tạo mạch
cách ngăn ngừa xơ hóa và hoại tử
mỡ.
Tác giả cho rằng tác dụng
lớn nhất của việc ghép mỡ bằng
cách sử dụng các tế bào AVF là làm
tăng tốc độ tái tạo mỡ bằng cách
chuyển tân mạch (Hình 13.2).
Các SVF mới được phân lập
và nuôi cấy khác nhau đáng kể về
khả năng được kết hợp vào các mô
của mạch máu mới. fSVF và cSVF
phân lập từ GFP chuột đã được
cấy ghép với các mảnh vi mạch
có nguồn gốc từ chuột không GFP
vào chuột bị suy giảm miễn dịch
trong 14 hoặc 28 ngày (Nunes et
al. 2013).
13.3 Phương pháp tạo tế bào
AVF
13.3.1 Phẫu thuậttrong phòng thí
nghiệm như là phòng phẫu thuật
Đây là phương pháp tạo ra
số lượng tế bào AVF lớn nhất, mặc
dù nó cần phải có người được đào
tạo tốt và các cơ sở có kinh nghiệm.
13.3.2 Phương pháp sử dụng thiết
bị tạo tế bào gốc tự động
Các thiết bị được sản xuất
tại Hàn Quốc như CELLDIS và
CHA-STATION
không
cần
các
nhà nghiên cứu và quá trình này
chỉ mất 1 hoặc 2 giờ. Tuy nhiên,
phương pháp này tạo ra ít tế bào
13 Ghép tế bào gốc mỡ
269
AVF hơn so với phẫu thuật trong
phòng thí nghiệm bằng cách sử
dụng phòng phẫu thuật (Hình
13.3).
13.3.3 Bộ Kit tế bào gốc
Điều này có thể thực hiện
với giá rẻ mà không cần mua thiết
bị và phương tiện. Tuy nhiên, tác
giả cho rằng số lượng tế bào AVF
tạo bằng phương pháp này là ít
nhất.
13.4 Phương pháp tạo các tế
bào AVF bằng cách sử dụng một
phòng phẫu thuật
13.4.1 Hút mỡ
Chuẩn bị mỡđể chuyển và
sử dụng trong việc tạo ra các tế
bào gốc (Hình 13.4 và 13.5).
Hình.13.3 Cảnh phẫu thuật cho thấy tác giả dùng dụng cụ tự động
Hình.13.4 Chiết xuất mỡ để chuyển
đến vú
13.4.2 Trước khi ly tâm lượng
mỡcấy ghép và số lượng tế bào gốc
từ mỡ theo tỷ lệ 2: 1
Hình13.6 cho thấy chiết tách mỡ
13.4.3 Rửa mỡ
Tiến hành ly tâm hai lần
(Hình 13.7).
Chuẩn bị mỡ và dung dịch
riêng biệt bằng cách ly tâm (hình
13.8).
13 Ghép tế bào gốc mỡ
270
Hình.13.5 Chiết
tách
mỡ
để
ghép lên mặt
Hình.13.6 Chiết
tách mỡ
13.4.4 Chế biến collagen
1. Chuẩn bị enzyme collagenase
(Hình 13.9).
2. Trộn enzyme collagenase với
mỡ
(Hình 13.10)
3. Phản ứng trong 30 phút lắc
trongtủ ấm
(Hình 13.11).
13.4.5 Quá trình lọc và rửa
Hình 13.12 và 13.13 cho
thấy quá trình lọc và rửa.
Loại bỏ mỡ nổi trên bề mặt
(Hình 13.14).
13.4.6 Hoàn thành các tế bào SVF
Các tế bào phân đoạn mạch
máu thu được bằng cách ly tâm
sau khi trộn nước muối sinh lí
(Hình 13.15).
Các tế bào phân đoạn mạch
máu được chuyển vào ống syringe
1 mL (Hình 13.16).
13 Ghép tế bào gốc mỡ
271
Hình.13.7 Mỡ
chuẩn bị để ly tâm
Hình.13.8 Mỡ sau khi
ly tâm
13 Ghép tế bào gốc mỡ
272
Hình.13.9
Chuẩn bị en
zyme collage
nase
Hình.13.10 Pha
trộn enzyme
collagenase với
mỡ
Hình.13.11 Lắc
trong tủ ấp
13 Ghép tế bào gốc mỡ
273
Hình.13.12
Chất cặn lắng
xuống và mỡ
phân lập bằng
máy ly tâm
Lớp dầu
Mảnh vụn
Dung dịch colla
gene và tổ chức
đệm
Tế bào SVF và lớp tổ
chức liên kết
RBC (Tế bào bạch cầu)
Hình.13.13 Mỗi lớp
mỡ sau khi ly tâm
13 Ghép tế bào gốc mỡ
274
Hình.13.14
Lấy bỏ mỡ bề
mặt
Hình.13.15
Phân đoạn tế
bào mạch thu
được
13.4.7 Trộn tế bào SVF với mỡ
1. Trộn mỡ ly tâm với các tế bào
SVF (Hình 13.17)
2. Mỡ để ghép được trộn với các
tế bào SVF (Hình 13.8 và 13.19)
13.5 Kiểm tra tính hiệu lực của
các tế bào SVF
13.5.1 Kiểm tra: thái tế bào, thu
được, tính hiệu quả
Quá trình kiểm tra được
hiển thị trong hình. 13.20 và 13.21.
13 Ghép tế bào gốc mỡ
275
Hình.13.16 Phân
đoạn tế bào mạch
chuyển sang sy
ringe 1-mL
Hình.13.17 Trộn
mỡ với tế bào SVF
13 Ghép tế bào gốc mỡ
276
Hình.13.18 Cho vùng mặt
Hình.13.19 Cho vùng ngực
13.5.2 Kiểm tra hiệu quả của tế bào
Hình 13.22 và 13.23 cho
thấy thử nghiệm cho độ khả thi
của tế bào.
Các tế bào phân đoạn mạch
máu có hình dạng trục chính và
kích thước và hình dạng của chúng
không cố định, mà làm cho việc
phân biệt các tế bào và mảnh vụn
trở nên khó khăn. Do đó, việc phân
biệt các tế bào và mảnh vụn cần
thực hiện bởi các nhà nghiên cứu
được đào tạo chuyên nghiệp.
13 Ghép tế bào gốc mỡ
277
Hình.13.20 Dùng kính hiển vi kiểm tra tê bào
Hình.13.21 Tế bào phân đoạn mạch nằm trong hình tròn
13 Ghép tế bào gốc mỡ
278
Liệu pháp phục hồi tế bào gốc
Chứng nhận
Tên bác sĩ phẫu thuật
0 0 0
Tên bệnh nhân
0 0 0
Tuổi/Giới
0 0/Nữ
Vùng hút
Đùi
Tổng lượng mỡ chiết tách
205cc
Số lượng tế bào sống sót
68.2 × 10^6 (82.6%)
Đếm tế bào
2015.00(tháng).00(Ngày)
Bác sĩ Dr. -----------------------------------------------------------
Hình.13.22 Đếm tế bào
13 Ghép tế bào gốc mỡ
279
Hình.13.24
Dụng cụ trong
khoa của tôi,
nhiệt độ thấp
1–2°C /phút.
Hình.13.23 Nhà
nghiên cứu
đang kiểm tra tế
bào SVF
13.6 Bảo quản tế bào gốc
13.6.1 Tủ đông bình thường
(Thương hiệu trong nước, thấp
nhất Nhiệt độ −27 ° C)
Rất khó để giữ tế bào AVF và
tế bào gốc.
13.6.2 Hệ thống bảo quản cấp đông
cực thấp: Ngân hàng tế bào di động
Để ngăn ngừa sự phá hủy
của màng tế bào bằng cách giảm
thiểu sự đóng băng bên trong các
tế bào, phải tiến hành làm lạnh từ
từ, từ -0.1 đến −2.0°C mỗi phút
(Hình 13.24). Nhiệt độ cực thấp
13 Ghép tế bào gốc mỡ
280
hệ thống bảo quản sẽ đóng băng,
nơi các tế bào và mô không bị hư
hại và có thể bảo quản trong một
thời gian dài để sử dụng. Trong
hệ thống này, các tế bào được giữ
lạnh trong −196 ° C của nitro lỏng
nơi quá trình chuyển hóa tế bào bị
dừng lại (thấp hơn 130°C).
13.6.3 So sánh hệ thống bảo quản
đông lạnh bình thường và hệ thống
bảo quản đông lạnh ở nhiệt độ cực
thấp
Hình13.25,13.26,13.27,13.
28,13.29,13.30, và 13.31 cho thấy
hệ thống đông lạnh.
Hình.13.25 Tủ bảo quản lạnh bình
thường
Hình.13.26 Hình dạng của mỡ ( lam
kính)
13 Ghép tế bào gốc mỡ
281
Hình.13.27
Hình dạng tế
bào chiết tách
(SVF cells)
Tỉ lệ sống sót
13 Ghép tế bào gốc mỡ
282
Hình.13.29 Hình dạng
tế bào mỡ (lam kính)
Hình.13.28 Tủ bảo quản
có nhiệt độ cực thấp
13 Ghép tế bào gốc mỡ
283
13.7 Phòng vô trùng
Để tách các tế bào mà không
bị nhiễm bẩn, nên thực hiện quá
trình này trong điều kiện vô trùng.
Tác giả tiến hành an toàn tất cả
các quá trình phân tách tế bào tại
phòng vô trùng được nằm trong
phòng thí nghiệm vô trùng (class
100- 10.000.000 zone).
13.8 Các trường hợp ghép mỡ
Trường hợp 1 Ghép mỡ tế
bào gốc vào vùng mặt (Hình 13.32
và 13.33).
Trường hợp 2 Ghép mỡ tế bào gốc
vào vú (Hình 13.34 và 13.35)
Trường hợp 3 Ghép mỡ tế bào gốc
chỉ cho vú phải (Hình 13.36 và
13.37).
Vú phải của bệnh nhân nhỏ
hơn vú trái.
Lượng mỡ được chiết tách
dự kiến sẽ nhỏ. Việc ghép chính
(đầu tiên) cho vú phải bằng cách
sử dụng tế bào gốc đã được quyết
định (Hình 13.36 và 13.37).
Tỉ lệ sống sót
Hình.13.30 Hình dạng
tế bào chiết tách
(SVF cells)
13 Ghép tế bào gốc mỡ
284
Hình 13.31 So sánh hình ảnh của các tế bào được giữ trong tủ đông bình thường
và các tế bào trong một đóng băng ở nhiệt độ cực thấp hệ thống lưu trữ vào ngày
thứ mười sau khi nuôi cấy
Hình 13.32 Trước khi phẫu thuật:
Ghép mỡ toàn mặt
Hình. 13,33 Một tháng sau ca phẫu
thuật
13 Ghép tế bào gốc mỡ
285
Hình 13.34 Hình ảnh trước phẫu thuật
13 Ghép tế bào gốc mỡ
286
Hình 13.35 một tháng sau phẫu thuật
13 Ghép tế bào gốc mỡ
287
Hình 13.36 Trước phẫu thuật
Hình 13.37 Ba tháng sau phẫu thuật
Phần III
Tăng tiết mồ hôi nách
14 Tăng tiết mồ hôi nách
289
Tăng tiết mồ hôi nách
14
Tôi có hơn 300 bệnh nhân
đã điều trị tăng tiết mồ hôi nách
trong hơn 15 năm qua. Phương
pháp phẫu thuật đã được cải thiện
khi thiết bị phát triển. Tăng tiết
mồ hôi nách gây ra sự bất tiện cho
đời sống xã hội vì mùi hôi, nhưng
nó có thể điều trị chỉ bằng một kỹ
thuật đơn giản chỉ trong40 phút.
Bệnh nhân có thể trở lại cuộc sống
bình thường và hài lòng ngay sau
khi phẫu thuật. Tôi giải thích ở đây
về tăng tiết mồ hôinách dựa trên
kinh nghiệm của tôi.
14.1 Định nghĩa về tăng tiết mồ
hôi nách
Tăng tiết mồ hôi nách được
gây ra khi tuyến apocrine lớn hơn
ở người bình thường và khi có
nhiều tuyến apocrine hơn ở người
bình thường (Hình 14.1 và 14.2).
Những nguyên nhân này do tiết
quá nhiều. Dịch tiết lúc đầu là vô
khuẩn và không mùi. Do vi khuẩn
bạch hầu kỵ khí phân hủy dịch tiết
và tạo mùi trong 2-> h.
Tuyến apocrine nằm ở lớp
hạ bì và lớp dưới da (Hình 14.3).
Đôi khi mùi do tuyến mồ hôi và
tuyến bã nhờn bị nhầm lẫn với
tăng tiết mồ hôi.
Điều này cho thấy rằng
tuyến apocrine nhiều hơn và lớn
hơn tuyến mồ hôi. Hình 14.4, 14.5
và 14.6 là các hình ảnh mô học
đã chụp sau khi phẫu thuật, được
thực hiện bởi tác giả. Dịch tiết có
thể nhìn thấy bên trong tuyến apo
crine.
Hình.14.1 Cấu trúc da
14 Tăng tiết mồ hôi nách
290
Hình.14.2 Cho thấy
các tuyến ở da trong
đó
tuyến
apocrine
nằm bên trong lớp da
Hình.14.3 Giải
phẫu bệnh
tuyến apocrine
(Hwan2009)
Hình.14.4 Hình
ảnh có độ phóng
đại thấp của
tuyến apocrine
14 Tăng tiết mồ hôi nách
291
14.2 Mối quan hệ của tăng tiết
mồ hôi nách với lông nách
Lông nách có thể gây ra mùi
nhiều hơn. Khi lông nách tích tụ
dịch tiết, mô và vi khuẩn, mùi hôi
do lông nách có thể giảm nếu loại
bỏ lông nách. Khi tôi tiến hành
phẫu thuật tăng tiết mồ hôi nách,
tôi nhổ hết lông nách của bệnh
nhân và bệnh nhân được tẩy lông
khoảng 5 lần trong 2 tháng và 6
tuần sau khi phẫu thuật tăng tiết
mồ hôi để tăng tỷ lệ thành công
của ca phẫu thuật.
Hình.14.5 Hình ảnh
có độ phóng đại cao
của tuyến apocrine
Hình.14.6 Mô bệnh
học của tuyến apo
crine khi tiết đầy
