3 Hút mỡ mặt
42
Hình. 3.27 Băng sau khi hút mỡ vùng mặt (2 ảnh)
Hình. 3.28 Bệnh nhân đeo băng ép và hình ảnh dải ép (3 ảnh)
3.19 Lượng mỡ hút
Trong trường hợp mỡ ở
vùng mặt, hút đi một lượng mỡ
nhỏ 20 ml có thể cải thiện kết quả
thẩm mỹ khá tốt.
Một số bác sĩ đầu tiên hút
mỡ ở mặt, đã nghi ngờ liệu nó có
thể có tác dụng hay không nếu hút
mỡ ra dưới 20 ml. Tuy nhiên, số
lượng mỡ này có thể có hiệu quả
thẩm mỹ.
Khi hút mỡ vùng mặt hơn 50 ml,
chúng tôi cho rằng hút ra khỏi mặt
một lượng lớn mỡ. Bệnh nhân có
thể rất hài lòng với điều này.
Hút mỡ ra ở mặt hơn 100 ml là
một lượng rất lớn.
3 Hút mỡ mặt
43
3.20 Biến chứng
1. Không hài lòng vì hút chưa hết
mỡ
2. Tụ dịch và tụ máu hiếm khi xảy
ra
3. Bầm tím có thể xảy ra
4. Tổn thương dây thần kinh VII
hiếm khi xảy ra
5. Không đối xứng
6. Để lại sẹo tại chỗ đâm cannula
qua da
7. Da chảy xệ có thể xảy ra sau
phẫu thuật
8. Viêm
9. Bề mặt da không đều có thể gặp
phải do mỡ không được hút theo
nhiều hướng
3.21 Trường hợp trước và sau
khi phẫu thuật
Trường hợp 1. Một phụ nữ
45 tuổi, hút mỡ vùng má và dưới
cằm, khoảng 45 ml (Hình 3.29,
3.30, 3.31, 3.32 và 3.33).
Chúng ta có thể thấy rằng da
đã được nâng lên khi so sánh hình
ảnh trước và sau khi phẫu thuật.
Vùng mỡ dưới cằm cũng đã biến
mất.
Dùng laser Belody để nâng
cơ mặt và săn chắc da là rất tốt.
Nếu da bị chảy xệ sau khi hút mỡ,
thì có thể thực hiện thao tác nâng
cơ mặt một cách chính xác.
Trường hợp 2. Một người
45 tuổi, hút mỡ vùng má và dưới
cằm, khoảng 27 ml, (Hình. 3.34 và
3.35).
Đây là khuôn mặt bệnh nhân ngày
sau khi phẫu thuật hút mỡ. Không
có vết bầm tím, nhưng có tình
trạng sưng nề. Sưng nề tăng lên
sau đó. Xuất hiện vùng da bị cứng
sau khi phẫu thuật 10 ngày. Điều
này cần phải giải thích cho bệnh
nhân và họ cần điều trị.
Mức độ sưng nề này vào
ngày sau khi phẫu thuật không
ảnh hưởng tiêu cực gì đến cuộc
sống hàng ngày của bệnh nhân.
Kết quả hút mỡ vùng mặt
sẽ thấy rõ sau 2 tháng khi so sánh
hình ảnh trước và sau khi phẫu
thuật.
Trường hợp 3. Một phụ nữ
27 tuổi, hút mỡ vùng má và dưới
cằm, khoảng 60ml (Hình. 3.36 và
3.37).
Khi hút ra khoảng 60 ml mỡ có ng
hĩa là một lượng lớn mỡ được loại
bỏ khỏi vùng mặt. Với lượng hút
này, có thể thấy rằng khuôn mặt
nhỏ hơn, thậm chí cả ngày sau khi
phẫu thuật.
Trường hợp 4. Một phụ nữ
24 tuổi, hút mỡ vùng má và dưới
cằm, khoảng 15 ml (Hình. 3.38 và
3.39).
Một kết quả khả quan có thể đạt
được ngay cả khi hút mỡ dưới 20
ml.
Trường hợp 5. Một phụ nữ
23 tuổi, hút mỡ vùng má và dưới
cằm, khoảng 35 ml (Hình 3.40,
3.41 và 3.42).
3 Hút mỡ mặt
44
Hình. 3.29 Trước khi phẫu thuật
(nhìn thẳng)
Hình. 3.30 Một tháng sau khi phẫu
thuật (nhìn thẳng)
Hình. 3.31 Trước khi phẫu thuật
(chụp nghiên góc 45°)
Hình. 3.32 Một tháng sau phẫu thuật
(chụp nghiên góc 45°)
3 Hút mỡ mặt
45
Hình. 3.33 Hút mỡ ra khỏi vùng mặt
Hình. 3.34 Trước khi phẫu thuật (2 ảnh)
Hình. 3.35 Ngày sau phẫu thuật (2 ảnh)
3 Hút mỡ mặt
46
Hình. 3.36 Trước khi phẫu thuật
Hình. 3.37 Ngày sau khi phẫu thuật
Hình. 3.38 Trước khi phẫu thuật
Hình. 3.39 Ba tháng sau khi phẫu
thuật
Hình. 3.40 Trước khi phẫu thuật
Hình. 3.41 Ba tháng sau khi phẫu
thuật
3 Hút mỡ mặt
47
Hình. 3.42 Mỡ mặt hút ra
Khi hút ra khoảng 35 ml mỡ
ở vùng mặt của cô ấy, đây là một
lượng khá lớn cho khuôn mặt cô
ấy. Bệnh nhân hài lòng với kết quả
này.
Trường hợp 6. Một phụ nữ 37
tuổi, hút mỡ vùng má và dưới cằm,
khoảng 25 ml (Hình. 3.43 và 3.44).
Trong một số trường hợp,
bệnh nhân phàn nàn về khuôn mặt
của họ trông quá gầy sau khi phẫu
thuật, như thực sự bệnh nhân này
đã làm. Trong trường hợp hút mỡ
mặt, nên đánh giá mức độ hài lòng
Hình. 3.43 Trước phẫu thuật
Hình. 3.44 Ba tháng sau phẫu thuật
của bệnh nhân bằng cách nhìn
trực diện vào mặt bệnh nhân thay
vì chỉ nhìn vào hình ảnh trước và
sau phẫu thuật.
4 Hút mỡ cánh tay và nách
48
Hút mỡ cánh tay và nách
4
Cánh tay là vùng tốt nhất
nơi đẹp nhất có thể thực hiện hút
mỡ chính xác và bệnh nhân có thể
giữ được kết quả trong một thời
gian sau khi trải qua phẫu thuật
hút mỡ. Bức ảnh này cho thấy một
bệnh nhân tôi đã hút mỡ vùng
cánh tay, cô ta mặc váy cưới. Ở đây,
tôi giải thích về việc hút mỡ cánh
tay dựa trên kinh nghiệm của tôi
khi nghĩ về một cô dâu có nụ cười
hạnh phúc trong chiếc váy cưới
(Hình 4.1).
Hút mỡ cánh tay có thể cho
kết quả khả quan nhất, nhưng nó
cũng có thể cho kết quả không đạt
yêu cầu nhất. Hiện nay, vẫn chưa có
nhiều phòng khám tiến hành hút
mỡ vòng quanh 360° ở cánh tay và
cùng một lúc hút mỡ phía trước và
phía sau nách. Khi thực hiện hút
mỡ vừa đủ quanh cánh tay 360°,
nó có thể mang lại kết quả rất khả
quan so với các vùng khác.
Hình 4.2 và 4.3 cho thấy
trước và sau khi phẫu thuật ở một
người mẫu đã trải qua hút mỡ
cánh tay tại phòng khám của tôi.
Điểm mấu chốt của việc hài
lòng hút mỡ cánh tay là không
được hút mỡ ở mặt ngoài lòng bàn
tay, nhưng vùng này có thể hút mỡ.
Điều này có nghĩa là tiến
hành hút mỡ quanh cánh tay 360°
và cùng một lúc loại bỏ mỡ từ phía
trước và phía sau nách và từ dưới
nách.
Tôi giải thích rất chi tiết về
phương pháp MDMP (đa hướng,
đa vị trí) mà tác giả sử dụng khi
thực hiện hút mỡ 360°.
Khi so sánh hình ảnh 4.4 và
4.5, có thể thấy rõ sự khác biệt về
mức độ hài lòng.
Sáu trong số bảy nhân viên
làm việc trong bộ phận tư vấn ở
phòng khám của tôi đã được hút
mỡ cánh tay miễn phí.
4 Hút mỡ cánh tay và nách
49
Hình. 4.1 Tác giả đã thực hiện hút
mỡ cánh tay cho bệnh nhân này
Hình. 4.2 Trước hút mỡ
Hình. 4.3 Sau hút mỡ
4 Hút mỡ cánh tay và nách
50
Hình. 4.4 Tôi đã thực hiện hút mỡ ở cánh tay cho nhân viên phòng khám của
tôi (3 ảnh)
Hình. 4.5 Bệnh nhân đã hút mỡ ở cánh tay tại một phòng khám khác (3 ảnh)
4 Hút mỡ cánh tay và nách
51
Hình. 4.6 Tôi đã
vẽ bức tranh bằng
phấn màu (2 ảnh)
Nếu người đọc muốn xem
kết quả hút mỡ cánh tay do tác giả
thực hiện, họ có thể chỉ cần bước
vào phòng khám của tôi và xem
cánh tay của những nhân viên ở
đó.
Tôi rất tự hào về kỹ thuật
hút mỡ cánh tay của mình mà các
thành viên trong gia đình tôi cũng
đã trải qua quá trình hút mỡ cánh
tay do tôi thực hiện.
Tôi hy vọng rằng tất cả các
bác sĩ tiến hành hút mỡ đều có sự
tự tin để mang lại kết quả tốt cho
bệnh nhân bằng cách học hỏi từ
tác giả đã có 16 năm kinh nghiệm.
Có một số phương pháp để
thực hiện hút mỡ cánh tay thành
công, và tôi muốn nói về những
phương pháp này trong chương
này.
Cá nhân tôi thích vẽ những
bức tranh về cơ thể người. Đây là
một bức tranh được vẽ vào năm
2012 với phấn màu (Hình 4.6). Tôi
luôn giữ một cơ thể đẹp của người
phụ nữ trong tâm trí của tôi bằng
cách vẽ tranh.
4.1 Chụp ảnh
Chụp ảnh trước và sau phẫu
thuật ở nhiều góc độ (Hình 4.7).
Nên chụp hình ảnh từ các
góc độ cụ thể. Điều này giúp dễ
dàng so sánh các bức ảnh đã chụp
trước và sau khi phẫu thuật.
Vùng cánh tay và các bộ
phận khác nên đưa vào độ thay đổi
từng vị trí ảnh để có thể nhìn thấy
rõ các vùng phẫu thuật theo các vị
trí khác nhau.
Tôi có một máy ảnh DSLR,
Canon 6D, nhưng tôi sử dụng ba
máy ảnh không gương lật cho các
bức ảnh trước khi phẫu thuật.
Tôi sử dụng chúng vì nó
thuận tiện để đặt độ sáng của máy
4 Hút mỡ cánh tay và nách
52
ảnh và kích thước của hình ảnh
thay vì xem xét các góc hoặc độ
sâu.
Tốt nhất là có một phòng
chụp ảnh cụ thể.
Hình. 4.7 Các vị trí chụp ảnh của Farbe trước khi phẫu thuật hút mỡ cánh tay
(12 ảnh)
4 Hút mỡ cánh tay và nách
53
Hình. 4.7 (tiếp tục)
4 Hút mỡ cánh tay và nách
54
4.2 Quan sát hình dạng cánh tay
Mỗi bệnh nhân có hình dạng cánh
tay khác nhau:
• Cơ nhị đầu phát triển và tay ít mỡ
• Cơ nhị đầu cánh tay phát triển và
một lượng lớn mỡ
• Cơ nhị đầu ít và mỡ nhiều
• Cơ nhị đầu ít và mỡ ít
Điều quan trọng là phải
thông báo cho bệnh nhân về loại
hình cánh tay họ có và đường cánh
tay dự kiến, số lượng mỡ hút và
giảm chu vi cánh tay sau khi quan
sát cánh tay bệnh nhân.
Nếu có kinh nghiệm trong
việc hút mỡ, bác sĩ phẫu thuật có
thể ước tính chu vi cánh tay chỉ
bằng quan sát bằng mắt thay vì sử
dụng thước dây.
Để có được chu vi ngay
bằng cách đo mắt, tốt nhất là tập
thói quen ước tính chu vi cánh tay
và sau đó kiểm tra nó bằng thước
dây.
4.3 Thiết kế
4.3.1 Thiết kế trước phẫu thuật
Điều cơ bản của thiết kế
cánh tay có tính đến hình dạng
cánh tay và đường cánh tay. Nó
cũng quan trọng để thiết kế cánh
tay phản ánh sự chuyển động của
mỡ dựa trên chuyển động của
cánh tay.
Nên thực hiện thiết kế 360°,
vì tiến hành việc hút mỡ cánh tay
bằng cách loại bỏ mỡ, bằng cách
xoay cánh tay 360°.
Thiết kế mà không bao gồm
các cạnh cánh tay là không tốt, vì
đây có thể là lý do lớn nhất tại sao
các phần bên của cánh tay phình
ra, do hút mỡ chưa đủ.
Hình. 4.8 Thiết kế ở phía trước cánh
tay
Hình. 4.9 Thiết kế khi cánh tay được
nâng lên 90 °
Cách đây 15 năm, tác giả
cũng từng gặp khó khăn với việc
thiết kế, mất hơn 5 phút. Bây giờ,
tôi thiết kế vùng cánh tay bằng
phương pháp của riêng mình và
chỉ mất 2 phút. Vì vậy, tôi khu
yên người đọc nên thiết lập các
phương pháp thiết kế của riêng họ.
Nghiên cứu các thiết kế khác nhau
bằng cách nhìn vào hình ảnh của
các thiết kế cánh tay của tôi (Hình
4.8 và 4.9).
4 Hút mỡ cánh tay và nách
55
Đánh dấu vùng trước nách.
Sau đó, vẽ một đường đi qua phía
trước của bắp tay đến khuỷu tay.
Khi nâng cánh tay lên 90°,
mỡ dưới bắp tay của cánh tay sẽ
sa xuống, đánh dấu ranh giới vùng
mỡ này. Sử dụng dấu gạch chéo để
đánh dấu.
Ranh giới của vùng này trở
nên nhỏ hơn khi bệnh nhân nằm
trong lúc phẫu thuật. Cần chú ý
không nên cố hút quá nhiều mỡ,
làm cho phần này quá mỏng, bằng
cách đánh dấu phần này trước.
Trong trường hợp mỡ ở bên
trong khuỷu tay, vẽ thiết kế vùng
này, vẽ vùng cần hút lớn hơn phần
cẳng tay. Đây là mục đích để hút
vừa đủ trong vùng bên trong của
khuỷu tay.
Dấu chấm màu đỏ cho biết
vị trí rạch da ở nách. Dấu chấm
màu đỏ này chỉ được đánh dấu để
dễ hiểu và không được đánh dấu
chấm màu đỏ này khi tạo ra một
thiết kế thực tế.
Điều này cho thấy phần khu
ỷu đã nổi rõ lên hơn sau khi hút
mỡ (Hình 4.10). Có thể xảy ra tình
trạng là vùng cần thiết để thiết kế
thì vẫn chưa vẽ ở phần bên trong
khuỷu tay, dẫn đến sẽ hút mỡ chưa
hết ở vùng này.
Đường vẽ thiết kế nên bắt
đầu từ đường viền áo ngực bên
dưới sau nách. Đường vẽ thiết kế
từ đây chạy xuống dọc theo phần
trên và phần ngoài của cơ nhị đầu
cánh tay đến khuỷu tay.
Đánh dấu vùng cơ delta
bằng một vòng tròn. Khi ranh giới
giữa cơ delta và cơ tam đầu cánh
tay đã nổi rõ lên, đánh dấu vùng
này bằng những dấu gạch chéo.
Sau đó, khi hút mỡ nên hút
ít mỡ ở vùng ranh giới này hơn so
với vùng cơ delta và vùng cơ tam
đầu cánh tay, mặc dù vùng ranh
giới có nhiều mỡ hơn các vùng
khác.
Hình. 4.10 Bệnh nhân đến để phẫu
thuật lại vì hút chưa hết mỡ và hút
không đều ở bên trong khuỷu tay và
cánh tay.
Nói cách khác, cần loại bỏ
nhiều mỡ hơn ở vùng cơ delta
và vùng cơ tam đầu cánh tay so
với vùng ranh giới. Hút làm sao
mà mặt ngoài cánh tay sẽ tạo nên
đường thẳng, mà không làm cho
các cơ phình ra nhấp nhô.
Bệnh nhân có cơ delta và cơ
tam đầu cẳng tay phát triển thì cần
phải thông báo cho bệnh nhân biết
rằng hai cơ này có thể phình ra
sau khi hút mỡ. May mắn thay, khi
số người muốn có cánh tay khỏe
mạnh với cơ bắp rõ hơn ngày càng
tăng, họ dễ dàng đồng ý với
4 Hút mỡ cánh tay và nách
56
phẫu thuật khi tôi giải thích trước
về điều này.
Điều này cho thấy khi hút chưa
hết mỡ vùng ngoài của cánh tay,
nhìn cánh tay rất ít đẹp. Cánh tay
của hai bệnh nhân này đã cải thiện
bằng cách phẫu thuật hút mỡ lại
(Hình. 4.11 và 4.12).
Khi xoay cánh tay, có thể nhìn thấy
các chuyển động khác nhau của mỡ
và cơ ở các vị trí khác nhau (Hình
4.13). Hãy xem xét những điều này
khi vễ đánh dấu để hút mỡ.
Vùng có dấu gạch chéo màu xanh,
nếu hút mỡ vùng này thì khi cơ
tam đầu cánh tay xoay sẽ làm cho
vùng này lõm xuống gây mất thẩm
mỹ. Vì vậy nên hút ít mỡ hơn ở đây.
Vùng có vòng tròn đã đánh dấu ở
phần trên là một phần mà mỡ sẽ
nổi cao lên hơn khi xoay vị trí của
cánh tay. Vùng mỡ đẩy lên này cần
phải loại bỏ khi xoay cánh tay, làm
cho đường cánh tay trông tự nhiên
hơn khi xoay cánh tay sau khi phẫu
thuật.
Hình. 4.11 Thiết kế bao gồm các bờ cạnh của cánh tay (02 ảnh)
4 Hút mỡ cánh tay và nách
57
Hình. 4.12 Bệnh nhân hút mỡ chưa hết và không đều ở mặt ngoài cánh tay (ba
ảnh)
Hình. 4.13
Hình ảnh cho
thấy ranh giới
của cơ khi xoay
cánh tay (hai
ảnh)
4.3.2 Thiết kế cho bệnh nhân
nhiều mỡ
Hình 4.14 cho thấy thiết kế cho
bệnh nhân có lượng mỡ lớn.
4.4 Khám qua siêu âm
Trong trường hợp vùng
cánh tay, tôi thường không thực
hiện kiểm tra qua siêu âm (USG)
khi chẩn đoán bệnh nhân trước
khi phẫu thuật. Tốt
hơn là kiểm tra cánh tay bệnh
nhân bằng mắt thường và dùng
các ngón tay để sờ nắn tìm ra tỷ lệ
gần đúng của lớp mỡ và cơ, độ đàn
hồi của da, và kết quả mong đợi và
hình dáng của cánh tay.
Có thể sử dụng USG để kiểm
tra sau phẫu thuật khi xét nghiệm
huyết thanh và khi xảy ra viêm
(viêm mô tế bào), để kiểm tra quy
trình, chẩn đoán và chỉ định điều
trị (Hình 4.15 và 4.16).
4 Hút mỡ cánh tay và nách
58
Về hình ảnh USG ở mặt sau
của cánh tay, nếu bệnh nhân nặng
60 kg và lượng mỡ sẽ loại bỏ ít hơn
1000 ml, thì độ dày lớp mỡ trên
USG thường dưới 2 cm.
Hình ảnh USG trong hình
4.17 cho thấy các vùng cơ tam đầu
cánh tay và cơ delta.
Trong hầu hết các trường
hợp, có nhiều mỡ ở vùng cơ tam
đầu cánh tay hơn vùng cơ delta.
Ngoài ra còn có nhiều mỡ ở ranh
giới giữa hai cơ này.
Có hai máy USG trong phòng
khám của tôi. Một là máy USG di
động và rất hữu ích vì nó có thể
được di chuyển xung quanh
Hình. 4.14 Thiết kế cho bệnh nhân nhiều mỡ (24 ảnh)
4 Hút mỡ cánh tay và nách
59
Hình. 4.14 (tiếp theo)
4 Hút mỡ cánh tay và nách
60
Hình. 4.14 (tiếp theo)
4 Hút mỡ cánh tay và nách
61
Hình. 4.14 (tiếp theo)
Hình. 4.15 Hình ảnh tụ dịch dưới siêu
âm (USG)
Hình. 4.16 Hình ảnh mặt sau cánh
tay dưới USG
4 Hút mỡ cánh tay và nách
62
Hình. 4.17 Hình ảnh của vùng cơ
delta và vùng cơ tam đầu cánh tay
dưới siêu âm.
trong văn phòng của tôi, phòng xét
nghiệm máu, điều trị và phòng mổ.
Tôi khuyên các phòng khám có
thực hiện kỹ thuật hút mỡ nên
mua loại thiết bị USG cầm tay này,
vì nó rẻ hơn thiết bị cố định.
4.5 Vị trí chuẩn bị trước khi
phẫu thuật và vô trùng
Cần phải vô trùng một vùng
rộng lớn của cơ thể bệnh nhân
trước khi phẫu thuật vùng cánh
tay. Toàn bộ vùng trên của cơ thể
phải vô trùng, bao gồm các vùng
xuống đến hông, bằng sử dụng
potadine. Toàn bộ vùng cánh tay
phải vô trùng, bao gồm tất cả các
đầu ngón tay (Hình 4.18). Do đó,
phải có đường truyễn tĩnh mạch ở
đầu bàn chân hoặc ở mắt cá chân
(Hình 4.19). Nếu không có thể tìm
thấy mạch máu nào ở phía bàn
chân, thì có thể bắt đầu tạo đường
truyền tĩnh mạch trên mu bàn tay
và gây mê bằng propofol.
Hình. 4.18 Kết thúc vô trùng để
chuẩn bị phẫu thuật
Hình. 4.19 Truyền tĩnh mạch ở bàn
chân.
Một số phòng khám bắt đầu
phẫu thuật với đường tiêm tĩnh
mạch ở mu bàn tay mà không sát
trùng cổ tay. Đây không phải là
một phương pháp vô trùng tốt và
có thể thay đổi vị trí bệnh nhân để
thực hiện hút mỡ cánh tay 360°.
4 Hút mỡ cánh tay và nách
63
4.6 Sắp đặt phòng mổ
Các dụng cụ hút mỡ đặt ở
vị trí ở bên trái của bệnh nhân là
tốt nhất. Các xe đẩy với các dụng
cụ phẫu thuật nên đặt ở phía bên
phải của bệnh nhân. Một đường
tiêm tĩnh mạch an toàn đặt ở phía
trên của bàn chân và dung dịch
tumescent được chích vào (Hình
4.20).
Cần đảm bảo rằng ống sil
icon và dụng cụ phẫu thuật nằm
trên xe đẩy. Chuẩn bị thêm các
ống hút, miếng băng và gạc đã vô
trùng, hộp đựng potadine, mes và
kéo.
Một số bác sĩ nghĩ rằng việc
đặt máy bơm tiêm dung dịch tu
mescent (Hình 4.21) dưới bàn mổ
gần chân bệnh nhân là tốt hơn để
giữ phòng mổ gọn gàng. Bạn có thể
đặt nó lên bàn khác để đảm bảo
ngăn ngừa nhiễm trùng.
Tác giả thích đặt nó dưới
bàn phẫu thuật. Tôi tin rằng có khả
năng nhiễm trùng rất thấp, khi tôi
quấn một ống silicon đã vô trùng
bằng một ống treo đã vô trùng và
để nó trên sàn nhà.
4.7 Dung dịchTumescent
• Nước muối bình thường 1L +
epinephrine 1,5A + 30 ml lido
caine 2% + bicarbonate 10 ml
• Thông thường, tôi sử dụng trung
bình 2500-> 3000 mL dung dịch
tumescent.
Hình. 4.20 Hoàn thành tất cả các thủ
tục để chuẩn bị cho phẫu thuật
Hình. 4.21 Máy bơm tiêm dung dịch
tumescent
Tôi sử dụng epinephrine
nhiều hơn 50%, gấp 1,5 lần so với
các vùng khác (1 Ample). Vùng
cánh tay có nhiều cử động hơn
vùng bụng và đùi, do cơ phát triển
hơn và mỡ cứng hơn ở các vùng
khác. Đây là lý do tại sao cần tăng
lượng epinephrine.
Cần thêm dung dịch tumes
cent và tăng lượng epinephrine
đến lớp mỡ sâu hơn gần với cơ
trong trường hợp hút ở cánh tay.
4 Hút mỡ cánh tay và nách
64
Không có sự tăng đáng kể về
huyết áp và tỷ lệ rối loạn nhịp tim
xảy ra, vì tôi theo dõi điện tâm đồ
và huyết áp trong khi phẫu thuật.
4.8 Gây mê
Ban đầu, tiêm 0,4 ml ket
amine và sau đó 6-7 mL propo
fol. Sau giai đoạn này, tôi sử dụng
thuốc liên tục, tiêm 4 ml cứ trong 4
phút. Đây là liều lượng trung bình.
Tùy thuộc vào bệnh nhân, tôi tiêm
4 ml trong 2 phút hoặc 4 ml trong
6 phút
Tôi tiêm 0,4 ml ketamine
chia làm 3->4 lần nữa trong quá
trình phẫu thuật tùy theo tình
huống của bệnh nhân.
Có thể thực hiện phẫu thuật
với gây tê tại chỗ bằng dung dịch
tumescent; do đó, nếu bệnh nhân
không muốn ngủ khi gây mê, có
thể tiến hành phẫu thuật dưới gây
tê tại chỗ.
Gây mê toàn thân nên tránh,
vì tác dụng gây co mạch thấp, tăng
chảy máu và quan trọng hơn là
bệnh nhân không thể đảm nhận
nhiều tư thế khác nhau trong quá
trình phẫu thuật.
4.9 Vùng vết mổ
Tôi thực hiện ba vết rạch da:
tại vị trí nếp gấp của trước nách,
vị trí nếp gấp nách ở lưng và một
ở giữa nếp gấp khuỷu tay (Hình
4.22).
Thực hiện các vết rạch nhỏ
khoảng 3 mm. Trong quá trình
phẫu thuật, vùng vết mổ có thể
được mở rộng bằng ống cannula,
nhưng không chính xác để tạo một
vết mổ lớn ngay từ đầu.
Một số bác sĩ không phải là
chuyên gia trong việc hút mỡ có
thể gặp khó khăn khi đẩy ống can
nula do bị chặn lại đột ngột và chỉ
cần lắc nhẹ cổ tay làm cho ống can
nula đổi hướng thì có thể đẩy ống
cannula nhẹ nhàng. Điều này làm
mở rộng vùng cần hút mỡ.
Lời giải thích không dễ hiểu.
Các bác sĩ vẫn đang học từ chỗ của
tôi vẫn thấy nó là một kỹ thuật khó.
Để giải quyết vấn đề này một cách
dễ dàng hơn, bác sĩ phẫu thuật cần
phải đẩy cannula đi qua vùng hút
mỡ một cách nhẹ nhàng mà không
bị chặn lại, đẩy ống cannula càng
xa càng tốt.
Trong trường hợp sẹo rạch
da cánh tay, hầu hết bệnh nhân
không than phiền, vì thực hiện vết
rạch ở những vùng hầu như không
thể phân biệt.
4.10 Phương pháp rạch
Tôi rạch 3 mm bằng mes
(Hình 4.23). Trong trường hợp
khuỷu tay, thực hiện một vết rạch
da dọc theo nếp gấp khuỷu tay.
Nếu ống cannula không
đưa vào dễ dàng qua lỗ rạch, nó có
thể rạch kéo dài ra một chút bằng
kéo nhỏ. Ý nghĩa của việc kéo dài
không phải là làm cho vết mổ lớn
hơn mà là mở rộng mô dưới da, là
phần bên trong của vùng vết mổ.
4 Hút mỡ cánh tay và nách
65
Hình. 4.22 Thực hiện gây tê tại chỗ tại ba vùng vết rạch da (ba ảnh)
Hình. 4.23 Tạo vết rạch da bằng mes (dao 11)
Hình. 4.24 Tiêm dung dịch tumescent theo phương pháp nhiều hướng-nhiều vị
trí (MDMP) (9 ảnh)
4 Hút mỡ cánh tay và nách
66
4.11 Phương pháp phẫu thuật
4.11.1 Tiêm dung dịch Tumecent
theo phương pháp MDMP
Phương pháp MDMP có ng
hĩa là tôi tiêm dung dịch tumes
cent theo nhiều hướng khác nhau
và tôi sử dụng đa dạng 10 vị trí để
tiêm dung dịch tumescent vào tổ
chức mỡ.
Hút mỡ vùng bikini và cánh
tay là những vùng mà phương
pháp MDMP đã sử dụng hiệu quả
nhất.
Trong trường hợp hút mỡ
ở cánh tay, tiêm dung dịch tumes
cent ở các góc khác nhau, tiêm vào
tất cả các lớp mỡ qua ba vùng: một
ở khuỷu tay và hai ở vùng nách
trước và sau, và vị trí của bệnh
nhân có thể thay đổi trong 10
hướng trong quá trình phẫu thuật.
Tôi tiêm trung bình 1000-
>1500 mL dung dịch tumescent
vào mỗi cánh tay (bao gồm cả
nách).
Ở hầu hết các phòng khám,
khi thực hiện hút mỡ cánh tay, họ
tiêm dung dịch tumescent ít hơn:
1000->2000 mL cho cả hai cánh
tay. Tiêm dung dịch đầy đủ tumes
cent là cần thiết trong quá trình
hút mỡ cánh tay.
Số lượng dung dịch tumes
cent để tiêm cho đùi và cánh tay
không khác nhau nhiều.
Trong trường hợp cánh tay,
tiêm dung dịch tumescent vào lớp
nông hơn so với đùi. Trong
trường hợp vùng cơ delta, cần tiêm
dung dịch tumescent đến lớp mỡ
sâu nhất sao cho có cảm giác như
bị chọc vào cơ. Da mặt trong cánh
tay thì mỏng. Da vùng vai thì dày.
Đây là lý do tại sao da vùng mặt
trong trở nên trắng và da vùng vai
không trắng lên sau khi tiêm dung
dịch tumescent.
Nếu việc hút mỡ bắt đầu 15
phút sau khi tiêm dung dịch tu
mescent, có thể hút mỡ nhiều mà
ít chảy máu.
Trong trường hợp đùi, việc
hút có thể bắt đầu ngay sau khi
tiêm dung dịch tumescent, hút ra
mỡ có màu vàng mà không chảy
máu nhiều. Lượng dung dịch tu
mescnet hút ra là nhỏ.
Tuy nhiên, trong trường
hợp cánh tay, tiêm một lượng lớn
dung dịch tumescent vào để phân
giải mỡ trong tất cả các lớp và hút
mỡ ra càng nhiều mỡ càng tốt.
Tôi thích bắt đầu hút mỡ mà
không phải chờ đợi sau khi tiêm
dung dịch tumescent, vì tôi muốn
rút ngắn thời gian phẫu thuật và
không có nhiều sự khác biệt trong
kết quả phẫu thuật. Do đó, chờ
trong 15 phút là tùy thích của mỗi
phẫu thuật viên.
Hình 4.24 cho thấy: Các vị
trí sử dụng trong tiêm dung dịch
tumescent. Có một số vị trí bổ sung
thêm. Vì mỗi bác sĩ thích một vị trí
khác nhau, nếu chúng được thêm
vào, thì có thể thực hiện thao tác
hút mỡ thuận lợi hơn.
4 Hút mỡ cánh tay và nách
67
4.11.2 Hút mỡ bằng phương pháp
MDMP
Một nguyên tắc chính của
hút mỡ là có thể thay đổi vị trí
bệnh nhân một cách nhanh chóng
và sử dụng các hướng hút mỡ khác
nhau, có nghĩa là sử dụng phương
pháp MDMP.
Việc tiến hành hút mỡ phải
thực hiện từ vùng xa vị trí vết mổ
đến vùng gần vị trí vết mổ (Hình
4.25).
Để làm cho mặt ngoài của
cánh tay trông dài hơn, cần thực
hiện hút đủ mỡ ở hai bên cánh
tay và vùng phía trên của nách nối
với cánh tay (Hình 4.26). Điều này
cho phép mặt ngoài của cánh tay
trông dài hơn; do đó, điều này một
lần nữa dẫn đến cánh tay trông tự
nhiên và thon gọn hơn (Hình 4.27).
Các vùng đánh dấu màu
đen trong Hình 4.28 cho thấy mặt
ngoài của cánh tay. Vùng đánh dấu
bằng chữ A là một phần kết nối của
cánh tay và nách.
Hút mặt ngoài của cánh tay
là vùng hút được ít mỡ nhất của
cánh tay. Vùng này giống như vùng
dưới của cánh tay khi cánh tay đưa
lên.
Vùng đánh dấu bằng chữ
B trong Hình 4.28 cho thấy vùng
phình ra bên ngoài khi nhìn vào
cánh tay từ phía sau. Đây là phần
khó nhất trong hút mỡ cánh tay.
Hiểu rõ giải phẫu về cơ delta, cơ
tam đầu cánh tay và ranh giới của
hai cơ này.
Thực hiện hút tối đa vùng
cơ delta, mặc dù không có nhiều
mỡ.
Việc hút mỡ cần phải tiến
hành cẩn thận sao cho cơ của delta
và cơ tam đầu không bị phình ra.
Trong các cuốn sách mô tả kỹ thuật
hút mỡ trước đây, nó đã cho là nên
tránh hút mỡ mặt ngoài cánh tay.
Tuy nhiên, có thể thực hiện việc
hút mỡ hoàn toàn và kỹ lưỡng.
Vùng khuỷu tay có thể
phình ra nếu hút mỡ không hết ở
phía trong của vùng này. Cần phải
hình thành vùng hút mỡ trong một
vùng rộng hơn về phía trước như
vùng cẳng tay.
Trong hình 4.29, tác giả
dùng hai ngón tay để ép da xuống.
Điều này để cố định và giữ mỡ ở
lớp mỏng hơn và thực hiện hút
lượng mỡ được tối đa.
Cần thực hiện hút mỡ hết
ở phía trước và phía sau của cánh
tay và nách (Hình 4.30). Khi phụ
nữ mặc áo ngực, da ở những vùng
này bị đẩy lên do mất độ đàn hồi
của da và trông giống như mỡ. Tuy
nhiên, hầu hết mọi người có ít mỡ
trong các vùng này.
Nên thông báo cho bệnh
nhân biết về lượng mỡ trong vùng
này trước khi phẫu thuật. Sau
phẫu thuật, nên thông báo về kết
quả hút mỡ cho bệnh nhân.
Mức độ hài lòng của bệnh
nhân giảm rất nhiều sau phẫu
thuật nếu bệnh nhân nghĩ rằng vẫn
còn có một lượng lớn mỡ trong
vùng này , mặc dù sự phồng ra là
4 Hút mỡ cánh tay và nách
68
Hình. 4.25 Thực hiện hút mỡ qua đường rạch da ở khủy tay (2 ảnh)
Hình. 4.26 Hút mỡ quanh vùng nách (3 ảnh)
Hình. 4.27 Hút mỡ mặt ngoài cánh tay (3 ảnh)
4 Hút mỡ cánh tay và nách
69
do mất độ đàn hồi của da.
Hình 4.31 cho thấy một số
vị trí sử dụng để hút vùng nách
trước. Rất tốt khi bắt đầu hút từ xa
hơn trong vùng giữa nếp gấp nách
trước và cánh tay. Nếu tiến hành
hút trong vùng nếp gấp càng nhiều
càng tốt, có thể tránh phồng.
Nên hút mỡ ở lớp mỡ nông
bề mặt bằng cách ấn bằng lòng
bàn tay xuống vùng này. Giữ càng
nhiều da càng tốt và hút xuống lớp
bỏ mỡ sâu hơn. Có thể được nâng
cánh tay bệnh nhân lên ở vị trí 90°
và hút mỡ ngay bên dưới cánh tay
(Hình 4.32, 4.33, 4.34 và 4.35).
4.12 Chọn Cannula
Khi thực hiện hút mỡ cánh
tay, tôi thích dùng ống cannula 4
mm. Tôi không dùng loại 3 mm.
Tôi đã từng sử dụng ống cannula
3 mm cách đây 15 năm. Tuy nhiên,
phải mất hơn gấp đôi thời gian
để hút cùng một lượng mỡ so với
phẫu thuật
Hình. 4.29 Hút mỡ mặt trong của cánh tay (2 ảnh)
Hình 4.28 Thiết kế vùng cánh tay
4 Hút mỡ cánh tay và nách
70
Hình. 4.30 Hút mỡ vùng nách (3 ảnh)
Hình. 4.31
Hút nách
trước (bốn
ảnh)
Hình. 4.32 Hút vùng nách sau và
phía sau theo hướng 90°
Hình. 4.33 Hút càng nhiều mỡ càng
tốt bằng cách ấn ngón tay vào khuỷu
tay bệnh nhân
4 Hút mỡ cánh tay và nách
71
Hình. 4.34 Hút nách
Hình. 4.35 Đây là vị trí tốt nhất để
hút phía sau khuỷu tay
sử dụng ống cannula 4 mm. Cũng
có thể có sự khác biệt về số lượng
mỡ hút. Vì vậy, tôi khuyên bạn nên
sử dụng ống cannula 4 mm khi đã
quen với việc hút mỡ.
Nếu bác sĩ phẫu thuật đã
thành thạo trong việc sử dụng ống
cannula 4 mm, hút không đều sẽ
không xảy ra.
4.13 Sử dụng eva
Khi tôi sử dụng thiết bị hút
mỡ EVA, tôi thường thực hiện hút
mỡ với áp lực máy là 3. Đôi khi tôi
thực hiện hút mỡ với áp lực 2.5,
nhưng ít dùng hơn.
Lựa chọn áp lực này cuối
cùng là sự lựa chọn của từng bác sĩ
cho từng bệnh nhân.
Tác giả đôi khi thực hiện
hút mỡ với áp lực 4, áp lực 4 thì độ
rung rất mạnh. Có thể khi đã quen
với độ rung của eva. Do đó, nếu
bác sĩ phẫu thuật đã quen với độ
rung của eva, tôi khuyên bạn nên
sử dụng áp lực là 4.
Nếu bác sĩ bị chai da ở mặt
trong của ngón cái và ở giữa của
các ngón tay, thì bác sĩ này có thể
được coi là một người có kỹ năng
sử dụng EVA.
Khi sử dụng EVA trong một
thời gian dài, bác sĩ phẫu thuật có
thể bị đau ở bên vai phải trong
trường hợp của người thuận tay
phải. Vai bị tê cứng có thể xảy ra.
Vì vậy, tốt nhất là khi hút mỡ nên
dùng hoạt động của cơ delta và
làm căng nó. Và đừng quên xoa
bóp massage các cơ quanh vai.
4.14 Phương pháp véo da rất
thuận lợi khi hút mỡ
Có một số vùng rất tốt khi
dùng tay đè vào da để hút lớp mỡ
sâu, và một số vùng ở lớp nông
(Hình 4.36).
Điều cần thiết là dùng toàn
bộ lòng bàn tay đè vào da bệnh
nhân, để giảm bất thường gợn
sóng không đều và kích thích da
trong quá trình hút và cũng để cố
định da.
Hình 4.37 cho thấy: vị trí
véo da giữ mỡ lại với nhau bằng
cách sử dụng các ngón tay để hút
4 Hút mỡ cánh tay và nách
72
mỡ theo cách phức tạp hơn. Khi
loại bỏ mỡ ở vị trí này, có thể cảm
thấy mỡ biến mất khỏi ngón tay
khi ta hút mỡ và làm cho việc hút
mỡ có thể kết thúc sớm hơn.
Khi mỡ được hút từ vùng da
dày và dai, có thể dễ dàng hút từ
lớp mỡ mong muốn, lớp sâu hoặc
lớp nông bằng cách véo da lên cao
bằng ngón tay và kiểm soát đầu
cannula (Hình 4.38).
Sử dụng phương pháp véo
da để có thể thực hiện thay đổi
hút từng lớp mỡ, ngay cả trong
cùng một vùng (Hình 4.39, 4.40 và
4.41).
Hình. 4.36 Nhấn da bằng lòng bàn tay hoặc ngón tay (hai ảnh)
Hình. 4.37 Véo da bằng ngón tay (hai ảnh)
4 Hút mỡ cánh tay và nách
73
Hình. 4.38 Phương pháp véo da để
giữ da bằng các ngón tay.
Hình. 4.39 Hút lớp mỡ ở nông.
Hình. 4.40 Hút lớp mỡ ở giữa
Hình. 4.41 Hút lớp mỡ ở sâu.
4.15 Lý thuyết hút mỡ mới của
EVA
Trong các cuốn sách hút mỡ
trước kia thì mặt ngoài của cánh
tay, nơi có các mô sợi khỏe và rắn
chắc và do đó không thể thực hiện
hút mỡ hoàn toàn.
Khi thiết bị rung khí mạnh
được gọi là EVA đã giới thiệu, tuy
nhiên, có thể thực hiện hút mỡ
hoàn toàn ở mặt ngoài cánh tay. Sự
ra đời của EVA đã tạo thành một lý
thuyết hút mỡ mới.
Thiết bị EVA có chức năng
dừng hút khi chạm vào cơ hoặc
nếu bị mô mỡ cứng kẹt trong ống
cannula. Điều này cho phép giảm
khả năng tổn thương mạch và dây
thần kinh ở vùng nách trước và
nách sau.
Hơn nữa, chức năng rung
của EVA giảm thiểu tổn thương mô
của lớp mỡ dưới da. Do đó, nếu hút
mỡ theo cách này để ghép mỡ vào
vú, kết quả có thể rất khả quan.
Nhiều bác sĩ cho rằng việc loại bỏ
mỡ bằng thiết bị rung là sai lầm vì
4 Hút mỡ cánh tay và nách
74
nó có thể dẫn đến làm tổn thương
nhiều tổ chức mô.
Tuy nhiên, khi tôi so sánh
từng lượng mô mỡ hút ra bằng
phương pháp thủ công và phương
pháp rung, không có sự khác biệt
đáng kể giữa hai phương pháp này.
Hơn nữa, tỷ lệ sống sót của
mỡ ghép ở vú bằng cách sử dụng
từng lượng mỡ thu được từ đùi và
từ cánh tay là tương tự nhau, cho
thấy không có sự khác biệt đáng
kể.
Do đó, nó có thể rất tốt cho
việc sử dụng thiết bị EVA để hút
mỡ vùng đùi, cánh tay ghép lên
mặt hoặc ngực được dễ dàng hơn.
Có rất nhiều hình ảnh trong
chương về ghép mỡ tế bào gốc ở
vú trong cuốn sách này.
4.16 Hút mỡ cho vùng xệ xuống
của cánh tay
Có thể chia vùng cánh tay
thành hai loại: một loại có lượng
mỡ lớn và chảy xệ rất nhiều (cánh
tay nặng) và một loại có ít mỡ và ít
chảy xệ.
Trong hầu hết các trường
hợp, cánh tay chảy xệ nhiều là
do có một lượng lớn mỡ dư ra.
Nguyên nhân gây chảy xệ là trọng
lượng của lượng mỡ quá nhiều.
Nếu hút hết mỡ, thì cánh tay chảy
xệ sẽ thu gọn lại và hết chảy xệ.
Trong một số trường hợp,
độ giãn da vẫn còn khi ta véo da
bằng ngón tay. Tuy nhiên, một
điểm rõ ràng là nó cải thiện rất
nhiều nếu nhìn ở bên ngoài.
Nên mặc quần áo bó chặc
cho những bệnh nhân này, và theo
dõi sau phẫu thuật là rất quan
trọng.
Một hiệu ứng nâng tốt hơn
có thể sẽ cung cấp cho da chảy
xệ bằng cách dùng laser diode
980nm, đưa đầu dò laser vào lớp
dưới da trong quá trình hút mỡ.
Sau khi phẫu thuật, theo dõi
bằng cách sử dụng tần số RF ba
cực + kích hoạt động cơ với tần
số thấp (DMA) có thể giúp tăng độ
đàn hồi cho da.
Tập thể dục cánh tay tích
cực sau khi phẫu thuật có thể
mang lại hiệu quả nâng và tăng độ
đàn hồi da tốt hơn.
Một điều quan trọng sau
phẫu thuật là bệnh nhân không
nên cố gắng giảm cân trong một
khoảng thời gian rất ngắn. Giảm
cân đột ngột và nhanh chóng làm
giảm độ đàn hồi của da.
Nếu bệnh nhân có ít mỡ và
da dư thừa nhiều thì nên cắt bỏ da,
cẩn thận để lại sẹo.
Hình 4.42, 4.43, 4.44 và 4.45
cho thấy một bệnh nhân đã từng bị
chảy xệ cánh tay, đã cải thiện sau
khi hút mỡ.
4 Hút mỡ cánh tay và nách
75
Hình. 4.42 Trước phẫu thuật
Hình. 4.43 1 tháng sau phẫu thuật
Hình. 4.44 Trước phẫu thuật
Hình. 4.45 1 tháng sau phẫu thuật
4.17 Chăm sóc sau phẫu thuật
1. Mặc quần áo: vào ngày thứ ba
2. Cắt chỉ: vào ngày thứ bảy
3. Sau 1 tuần: dùng sóng siêu âm
hội tụ.
4. Sau 2 tuần: điều trị thêm săn
chắc da
5. Sau 3 tuần: có thể dùng thêm RF
ba cực + tần số thấp DMA
Dùng RF lưỡng cực sử dụng
nhiệt độ 42>44° C làm nóng sâu
hơn. Nếu da trở nên cứng sau khi
hút mỡ thì dùng RF lưỡng cực sẽ
rất hiệu quả, bệnh nhân có thể cảm
thấy thoải mái, nhưng độ cứng trở
nên tồi tệ hơn. Đây là lý do tại sao
tôi không khuyên bạn nên sử dụng
RF lưỡng cực.
Siêu âm hội tụ xuống độ sâu
10 cm trong lớp mỡ, giúp phục hồi
độ cứng da sau khi hút mỡ.
Một mẹo nhỏ cho massage
là cơn đau có thể giảm bằng cách
giữ da ở một đầu và bắt đầu ma
sage ở vị trí đối diện.
Bác sĩ phẫu thuật có thể cảm
thấy thực sự hữu ích của chăm sóc
sau phẫu thuật, nếu anh ta hoặc cô
ta thực sự áp dụng đủ các phương
pháp xử lí cho bệnh nhân.
4.18 Mặc đồ bó chặc
Nếu da của bệnh nhân có độ
đàn hồi tốt, sau đó cho phép bệnh
nhân mặc quần áo bó chặc trong
12 h mỗi ngày. Nó là tốt hơn để
mặc nó vào ban đêm và cởi nó vào
ban ngày.
4 Hút mỡ cánh tay và nách
76
Lý do để đề nghị mặc nó trong 12
giờ là để ngăn ngừa sưng ở tay và
chấn thương da do mặc liên tục
của quần áo bó chặc.
Hiệu ứng của quần áo bó
chặc về mặt ép có thể giảm kích
thước của nó sau mỗi 2-> 3 tuần.
Mặc quần áo bó chặc trong
một tháng có thể cho kết quả khả
quan.
Hình 4.46 cho thấy một sản
phẩm áo bó chặc đã may riêng
trong một công ty sản xuất hàng
may mặc áo bó với thiết kế đặc biệt
của tôi. Quần áo này cung cấp độ
nén hoàn toàn bằng cách nén ép
vùng nách.
Hình 4.47 và 4.48 cho thấy
bệnh nhân mặc quần áo bó chặc
ngay sau khi phẫu thuật. Toàn bộ
cánh tay và mặt sau và mặt trước
của nách đã ép tốt với nhau.
Hình. 4.46 Áo bó
Hình. 4.47 Nhìn thẳng khi bệnh nhân
mặc áo bó
Hình. 4.48 Nhìn phía sau khi mặc áo
bó
4.19 Thời gian thực hiện
• Tiêm dung dịch tumescent: 15
phút
• Thời gian hút mỡ: 20 phút cho
một cánh tay
• Tổng cộng mất 50-> 60 phút.
4 Hút mỡ cánh tay và nách
77
4.20 Số lượng mỡ hút
Về số lượng hút mỡ, tôi đã
thực hiện hút mỡ ở vùng eo của
phụ nữ với 100 ml người có eo
thon, và với 5000 ml ở người thừa
cân.
Mức độ hài lòng của hút mỡ
là khá tốt khi loại bỏ được hơn
1000 ml từ một phụ nữ nặng 60 kg.
Bệnh nhân rất hài lòng khi hút hơn
1500 ml. Tuy nhiên, một số người
có thể cảm thấy rất hài lòng khi
hút ít hơn 600 ml, tùy thuộc vào
hình dạng cánh tay. Do đó, mức độ
hài lòng không chỉ có thể được xác
định bằng lượng hút.
4.21 Biến chứng
4.21.1 Tụ dịch (seroma)
Seroma là một biến chứng
đôi khi có thể xảy ra sau khi hút
mỡ cánh tay. Có thể thấy sự cải
thiện sau khi hút bằng ống syringe
(Hình 4.49, 4.50 và 4.51).
Khi xảy ra tụ dịch, bệnh
nhân phàn nàn về đau và sưng ở
cánh tay. Nếu không có sẵn máy
siêu âm USG, có thể kiểm tra khám
kỹ và dùng ống syringe để thực
hiện hút dịch ra.
4.21.2 Viêm
Viêm là một biến chứng
hiếm gặp. Tôi đã gặp phải một
trường hợp viêm mô tế bào. Bệnh
nhân đã giảm hơn trong vòng 7
ngày sau bằng cách dùng kháng
sinh nhóm cefa. Nếu không hồi
phục, sau đó nên cho bệnh nhân
nhập viện.
Hình. 4.49 Vùng phình ra ở trên khu
ỷu tay phải là do tụ dịch.
Hình. 4.50 Tụ dịch thấy rõ qua hình
ảnh USG
Hình. 4.51 Hút bằng syringe 10-ml
4 Hút mỡ cánh tay và nách
78
4.21.3 Chảy máu hoặc bầm tím
Tỷ lệ chảy máu hoặc bầm
tím là tùy thuộc vào kỹ năng của
bác sĩ thực hiện phẫu thuật. Không
có nhiều trường hợp chảy máu ở
cánh tay, nhưng bầm tím thì hay
xảy ra. Điều này cần giải thích cho
bệnh nhân trước khi phẫu thuật.
4.21.4 Tổn thương thần kinh
Tổn thương thần kinh là
biến chứng rất hiếm gặp không xảy
ra trong hầu hết các trường hợp.
Sau khi hút mỡ, khi các tổ chức trở
nên cứng lại, có thể bị chèn ép các
dây thần kinh ngoại biên, dẫn đến
tê ở cánh tay trong vài tháng.
4.21.5 Sắc tố da
Tăng sắc tố da có thể xảy ra
khi hút mỡ khi thực hiện hút ở lớp
mỡ nông.
4.21.6 Da không đều
Da không đều là biến chứng hay
gặp nhất. Các phẫu thuật viên nên
thực hiện mỡ một cách cẩn thận.
4.21.7 Khó chịu trong việc di chuyển
cánh tay
Khi các tổ chức trở nên cứng
lại sau khi hút mỡ, bệnh nhân có
thể cảm thấy khó chịu khi cử động
cánh tay trong 1->2 tháng. Chăm
sóc và dùng thêm các
phương pháp vật lí trị liệu tại chỗ
và thường xuyên sau phẫu thuật là
rất quan trọng.
4.22 Mổ lại do da bất thường
sau khi hút mỡ
Có thể phẫu thuật hút mỡ
lại cánh tay ngay cả khi không hút
mỡ ở vùng này hoặc nếu phần bên
ngoài của cánh tay bị phồng lên, vì
việc hút mỡ không được thực hiện
cho toàn bộ cánh tay. Tuy nhiên,
khi có quá nhiều tổ chức xơ dính
hoặc đã thực hiện hút mỡ quá
nhiều, việc phẫu thuật hút lại có
thể khó khăn.
Trường hợp 1. Khi chỉ xem
Hình 4.52, thực hiện thao tác hút
mỡ dường như rất thành công. Tuy
nhiên, khi xem hình 4.53, chụp từ
một góc độ khác, có thể thấy rằng
đã loại bỏ mỡ chưa hết (Hình 4.54,
4.55 và 4.56).
Vùng đánh dấu màu xanh
lam với chữ B cho thấy cánh tay
phình ra ở bốn vị trí, có nghĩa là
hiệu quả hút mỡ là chưa đủ. Điều
này là do vùng mặt ngoài cánh tay
không được hút mỡ. Điểm mấu
chốt của việc mổ hút lại là thực
hiện hút mỡ toàn bộ vùng mặt
ngoài của cánh tay. (Hình 4.57).
Cánh tay trông dài hơn và
đường thẳng của cánh tay rất đẹp
khi thực hiện hút hết mỡ ở vùng
màu đỏ với chữ A. Trong hình này,
vùng A thực sự cho thấy hút mỡ
chưa hết.
4 Hút mỡ cánh tay và nách
79
Trường hợp 2. Trong trường
hợp này, việc hút mỡ chỉ thực hiện
thông qua một vết rạch da, nằm ở
khuỷu tay (Hình. 4.58, 4.59, 4.60,
4.61 và 4.62).
Hình. 4.52 Phần trong của cánh tay
sau khi hút mỡ
Hình. 4.53 Mặt ngoài cánh tay
Hình. 4.54 Vùng cơ delta bị phình ra.
Hình. 4.55 Mặt sau cánh tay
4 Hút mỡ cánh tay và nách
80
Hình. 4.56 Đưa cánh tay lên.
A là cơ Delta, B là cơ tam đầu
cánh tay. Vùng gạch chéo là
vùng nằm giữa 2 cơ này.
Hình. 4.57 Vùng mặt ngoài cánh tay và vùng trên nách hút chưa hết mỡ. (ba
hình ảnh)
Hình. 4.58 Trước khi phẫu thuật
Hình. 4.59 Thiết kế
4 Hút mỡ cánh tay và nách
81
Phần dưới của cánh tay
(phía sau cánh tay) bị tạo thành
một đường cong do đã hút mỡ
trước đó. Vùng cơ delta, là phần
bên ngoài của cánh tay và vùng cơ
tam đầu cánh tay, bị bất thường do
đã hút mỡ chưa đủ hết.
Hút mỡ không thực hiện ở
vùng phía mặt sau trên nơi gặp
nhau của nách và cánh tay.
Trong giai đoạn thiết kế, tôi
đã đánh dấu các vùng còn lại nhiều
mỡ. Tôi cũng đánh dấu vùng đã
thực hiện hút mỡ quá nhiều bằng
một dấu gạch chéo. Tôi đánh dấu
các vùng ranh giới giữa các cơ.
Xem xét những điểm này, tôi đã
tiến hành mổ hút mỡ lại.
Trong trường hợp phẫu
thuật lại hút lại, mỡ dưới da ở
trong tình trạng cứng lại do vôi
hóa từ lần hút mỡ trước đó. Do đó,
tiêm dung dịch tumescent và vùng
vôi hóa bằng cánh dung máy siêu
âm phân giải mỡ (Ultra-Z).
Tôi khuyên bạn nên sử dụng
ống hút 4 mm thay vì 3 mm trong
trường hợp mổ lại.
Trường hợp 3 Vùng cơ
delta, là phần phía ngoài của cánh
tay, do hút mỡ không tốt phần
ngoài của cánh tay, dẫn đến mặt
ngoài cánh tay bị phình ra. Có sự
bất thường vì vùng cánh tay gần
nách cũng không hút hết mỡ. Tôi
đã thực hiện hút mỡ lại (Hình 4.63,
4.64, 4.65, 4.66, 4.67, 4.68, 4.69,
4.70 và 4.71).
Hình. 4.60 Sau khi hút mỡ lại
Hình. 4.61 Thiết kế hút mỡ cánh tay
phải
Hình. 4.62 Thiết kế hút mỡ cánh tay
trái
4 Hút mỡ cánh tay và nách
82
Hình. 4.63 Trước khi hút mỡ
Hình. 4.64 Sau khi hút mỡ
Hình. 4.65 Trước khi phẫu thuật
Hình. 4.66 Sau phẫu thuật
Hình. 4.67 Trước phẫu thuật
4 Hút mỡ cánh tay và nách
83
Trường hợp 4 Trường hợp
này cho thấy do thực hiện hút mỡ
360° không tốt (Hình 4.72, 4.73,
4.74, 4.75 và 4.76).
Có thể nhìn thấy bất thường ng
hiêm trọng vì có vùng hút mỡ quá
nhiều và có vùng hút mỡ ít. Mặt
ngoài cánh tay thì không hút mỡ.
Hình. 4.68 Sau hút mỡ
Hình. 4.69 Trước phẫu thuật
Hình. 4.70 Sau hút mỡ
Hình. 4.71 Lượng mỡ hút ra khi
phẫu thuật. Lượng mỡ khoảng 1100
mL
4 Hút mỡ cánh tay và nách
84
Hình. 4.72 Mặt sau của cánh tay
Hình. 4.73 Mặt ngoài cánh tay
Hình. 4.74 Phần dưới của mặt ngoài
cánh tay
Hình. 4.75 Phần trong của cánh tay.
Hình. 4.76 Phần ngoài của cánh tay
4.23 Hình ảnh trước và sau
Trong trường hợp 1, hình.
4.77, 4.78, 4.79, 4.80, 4.81 và 4.82
cho thấy trước và sau khi phẫu
thuật, chụp từ nhiều góc độ.
Có thể thu được một kết quả khả
quan, ngay cả khi nhìn từ nhiều vị
trí khác nhau khi thực hiện hút mỡ
360°.
Trường hợp 2. Hình 4.83
và 4.84 cho thấy cơ thang trông
nhỏ hơn khi thực hiện hút mỡ
xuống vùng bên dưới nách và hút
mỡ cánh tay 360°. Phần bên ngoài
đã trở nên gần như thẳng, làm cho
vai trông hẹp hơn.
4 Hút mỡ cánh tay và nách
85
Trường hợp 3 Bệnh nhân
thể hiện trong hình. 4.85 và 4.86
giống như trong trường hợp 2.
Trường
hợp
4
Trong
trường hợp này (Hình 4.87 và
4.88), lượng hút mỡ là 2000 mL.
Đường vai và cánh tay đã thẳng
hơn, làm cho phần thân trên trông
nhỏ
Hình. 4.77 Trước phẫu thuật
Hình. 4.78 Sau phẫu thuật
Hình. 4.79 Trước phẫu thuật
Hình. 4.80 Sau phẫu thuật
Hình. 4.81 Trước phẫu thuật
4 Hút mỡ cánh tay và nách
86
Trường hợp 5. Hình 4.89
và 4.90 cho thấy bệnh nhân trước
và sau phẫu thuật.
Trường hợp 6. Hình 4.91
và 4.92 cho thấy đường tự nhiên
khi cánh tay được nâng 90°. Khu
ỷu tay cũng cho thấy một đường tự
nhiên.
Hình. 4.82 Sau phẫu thuật
Trường hợp 7. Khi nhìn
cánh tay từ mặt bên, mặt sau có vẻ
thẳng hơn, làm cho cánh tay trông
dài hơn (Hình 4.93 và 4.94). Mặt
sau của cánh tay là vùng có hiệu
ứng yo-yo ít nhất.
Hình. 4.83 Trước phẫu thuật
Hình. 4.84 Sau phẫu thuật
Trường hợp 8. Vùng chảy
xệ của cánh tay là do trọng lượng
của mỡ trong hầu hết các trường
hợp (Hình 4.95). Do đó, với việc
hút mỡ hết vùng này, có thể được
giải quyết vấn đề về da chảy xệ sau
khi phẫu thuật (Hình 4.96).
4 Hút mỡ cánh tay và nách
87
Hình. 4.85 Trước phẫu thuật
Hình. 4.86 Sau phẫu thuật
Hình. 4.87 Trước phẫu thuật
Hình. 4.88 Sau phẫu thuật
Hình. 4.89 Trước phẫu thuật
Hình. 4.90 Sau phẫu thuật
4 Hút mỡ cánh tay và nách
88
Hình. 4.91 Trước phẫu thuật
Hình. 4.92 Sau phẫu thuật
Hình. 4.93 Trước phẫu thuật
Hình. 4.94 3 năm sau phẫu thuật
Hình. 4.95 Trước phẫu thuật
Hình. 4.96 Sau phẫu thuật
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
89
Hút mỡ vùng bụng và
vùng bikini
5
Hình mẫu có đường nét tự
nhiên thể hiện trong hình 5.1, cơ
thể khỏe mạnh và thon gọn của
bụng và eo.
S-line là niềm mơ ước ở tất
cả phụ nữ! là một đường mà tất cả
các bác sĩ thực hiện hút mỡ nằm
mơ có được!
Tác giả chia phần thân trên
thành vùng bụng và vùng bikini.
Vùng bụng theo nghĩa đen có ng
hĩa là một vùng có cơ bụng. Vùng
bikini có nghĩa là một vùng bắt đầu
từ bụng bên và bao gồm eo, vùng
lưng (bên dưới đường áo ngực) và
vùng hông trên.
Giờ đây, các sách hút mỡ
đã mô tả riêng về mỡ 2 bên eo
và vùng lưng, nhưng tác giả gọi
những vùng này là đường bikini.
Tôi đã giới thiệu tên này, đường
bikini, lần đầu tiên du nhập vào
Hàn Quốc. Tôi khuyên các bác sĩ
nên thực hiện hút mỡ vòng eo và
phẫu thuật hút mỡ lưng cùng nhau
(Hình 5.2, 5.3, 5.4 và 5.5).
Vùng bikini có kết quả hút
mỡ rất tốt trong đó không có nhiều
hiệu ứng yo-yo và bệnh nhân cho
thấy mức độ hài lòng rất cao sau
Hình. 5.1 Hình mẫu với S-line
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
90
khi hút mỡ. Hút mỡ vùng bụng và
vùng bikini là những nơi mà tôi
sử dụng phương pháp đa vị trí, đa
hướng (MDMP), có thể sử dụng
một cách hiệu quả.
Hình. 5.2 Trước phẫu thuật (nhìn
trước)
Hình. 5.4 Trước phẫu thuật (nhìn
sau)
Hình. 5.3 Sau phẫu thuật (nhìn
trước)
Hình. 5.5 Sau phẫu thuật (nhìn sau)
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
91
5.1
Sự khác biệt về kiến thức
giải phẫu với hút mỡ thực tế
Lớp mỡ dưới da của bụng
được phân chia bởi fascia. Vùng
bụng trên chia thành ba lớp và
bụng dưới bốn lớp. Phần giữa
được gọi là mô sợi ở vùng eo.
Khi thực hiện hút mỡ thì cần
phải hiểu biết đến kiến thức giải
phẫu này. Do đó, rất khó để loại bỏ
mỡ từ vùng eo, nơi có một lượng
lớn các mô sợi và bụng trên, nơi
có nhiều mô xơ hơn ở vùng bụng
dưới, gây chảy máu và đau đớn
hơn trong quá trình hút mỡ.
Vì những lý do này, nồng độ
epinephrine và lidocaine cần phải
cao hơn khi tiêm dung dịch tumes
cent ở vùng eo và bụng trên.
Tuy nhiên, vì các thiết bị
hút mỡ đang cải tiến dần, các khái
niệm và lý thuyết về hút mỡ bụng
cũng đang thay đổi.
Vùng bụng chia thành 3->4
lớp giải phẫu theo fascia. Tuy
nhiên, trong phẫu thuật hút mỡ,
lượng mô mỡ và mô sợi hiển thị
trên siêu âm (USG) là quan trọng
hơn (Hình 5.6, 5.7 và 5.8).
Hình. 5.6 Hình ảnh
giải phẫu vùng bụng
Fascia sâu
Lớp Mantle
Camper’s
fascia
Scarpa’s
fascia
Khoang mỡ
dưới Scarpa’s
Xơ vùng eo
