5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
92
Hình. 5.7
Hình ảnh siêu âm
vùng bụng trên
Hình. 5.8
Hình ảnh siêu âm
vùng bụng dưới
Có thể nói một cách an toàn
rằng việc phân chia lớp mỡ dưới
da bằng fascia là không có nghĩa
trong quá trình hút mỡ.
Người ta biết rằng rất khó
để loại bỏ mỡ ở vùng eo, với một
lượng lớn các mô sợi và bệnh nhân
bị đau nhiều hơn trong quá trình
hút, nhưng điều này đã được giảm
bớt khi những thiết bị rung được
phát triển.
5.2 Những điểm quan trọng
trong khi thực hiện hút mỡ ở
vùng bụng và bikini
5.2.1 Độ dày mỡ
Vùng bikini rất rộng và 3
chiều, và do đó, đo độ dày mỡ khi
nhìn vào USG là vô nghĩa. Có thể
đo dự kiến lượng mỡ thực sự bằng
cách kiểm tra bằng mắt và bằng
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
93
cách kiểm tra véo da để đo độ dày
của mỡ bằng tay.
Lượng mỡ dự kiến của vùng
bụng có thể đo bằng độ thừa mỡ
của bụng và độ dày của lớp mỡ
dưới da.
Lớp mỡ dưới da bụng có
thể dễ dàng đo khi kiểm tra USG.
Một số bác sĩ đo độ dày của lớp mỡ
dưới da bằng cách sử dụng test
véo da, nhưng điều này không hợp
lý hoặc chưa khoa học.
Test véo da có thể không
chính xác khi độ đàn hồi của da
bệnh nhân thấp. Trong trường
hợp này, độ dày có thể đo được
chứ không phải là lượng mỡ thực
tế. Một sai lầm nữa là lượng mỡ
có thể đo được bằng mắt thường
bằng cách dùng test véo da có thể
khác nhau tùy theo số lượng da
mỡ bị véo lên bởi các ngón tay.
Thông thường, tôi tiến hành
phẫu thuật hút mỡ khi độ dày
mỡ hơn 2,5 cm khi kiểm tra USG,
nhưng đây không phải là nguyên
tắc nhất quán. Tôi quyết định có
nên thực hiện hút mỡ hay không
bằng cách xem xét các yếu tố và
điều kiện khác nhau.
Sự hữu ích của việc kiểm
tra USG là tôi có thể giải thích cho
bệnh nhân về kết quả hút mỡ dự
kiến trước bằng cách tìm ra một
tỷ lệ lớp mỡ dưới da ở vùng nhiều
nhất của bụng.
Hút mỡ bụng bao gồm hút
hết các lớp mỡ dưới da. Do đó, nếu
bệnh nhân bị nội tạng bên trong
quá lớn hoặc quá giãn cân cơ
thành bụng, thì mức độ hài lòng có
thể thấp hơn. Trong một số trường
hợp, thậm chí phẫu thuật hút mỡ
có thể không nên tiến hành.
Nếu số lượng lớp mỡ dưới
da chiếm hết phần lớn vùng bụng,
thì nó có thể ước lượng kết quả
hút mỡ dự kiến.
Ngoài ra, bệnh nhân có thể
nghĩ rằng nếu bụng trên nhô ra
nhiều hơn bụng dưới, thì bụng
trên sẽ trở nên thon hơn so với
bụng dưới sau phẫu thuật. Tuy
nhiên, nếu lượng mỡ ở bụng trên
ít hơn so với ở bụng dưới khi kiểm
tra USG, bệnh nhân có thể thông
báo rằng mức độ hài lòng sau phẫu
thuật với kết quả hút mỡ vùng
bụng trên có thể thấp hơn so với
vùng bụng dưới (Hình 5.9, 5.10 và
5.11).
Khi nhìn vào vùng bụng
trên, nó nhô ra nhiều hơn bụng
dưới, nhưng thực tế, vùng bụng
trên có nhiều mỡ hơn.
Trường hợp này cho thấy
một bệnh nhân nam có mỡ toàn
bộ vùng bụng như dự đoán nhiều
hơn so với tỷ lệ thực tế của lớp mỡ
dưới da. Điều này là do sự nhô ra
cơ thẳng bụng. Tôi gọi loại này là
bụng nòng nọc.
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
94
Hình. 5.9 Ảnh vùng bụng
Hình. 5.10 A: Độ dày mỡ là 3.0 cm
Hình. 5.11 B: Độ dày mỡ là 5.0 cm
5.2.2 Độ liên kết giữa mỡ và mô
sợi
Độ liên kết giữa mô mỡ và
mô sợi khác nhau rất nhiều giữa
các bệnh nhân. Phẫu thuật hút mỡ
trở nên khó khăn khi độ liên kết
trở nên chắc chắn hơn. Thật tốt
nếu chúng ta tìm ra bao nhiêu mô
sợi dưới USG trước khi hút mỡ.
5.2.3 Độ đàn hồi của da
Độ đàn hồi của da giảm
sau khi hút mỡ. Trong trường
hợp bụng có một lượng mỡ lớn,
sự chảy xệ ở bên ngoài có thể tốt
hơn vì nó được nâng lên sau khi
hút mỡ bằng cách hút hết hớp mỡ
thừa. Da sẽ tự đàn hồi, tuy nhiên,
không cải thiện nhiều ngay cả sau
khi hút mỡ.
Do đó, ở những bệnh nhân
có độ đàn hồi da kém, nên quyết
định hút mỡ bằng cách xem xét số
lượng mỡ (Hình. 5.12 và 5.13).
• Có nếp gấp da, nhưng điều
này biến mất sau khi hút mỡ vì độ
đàn hồi của da bệnh nhân rất tốt.
• Lượng hút mỡ: bụng + bi
kini 5000 ml
• Đây là dấu hiệu rám nắng
của da bệnh nhân ở vùng bikini
của cô ta. Cô đi hưởng tuần trăng
mật 6 tháng sau khi hút mỡ.
• Hút mỡ vùng bikini được
tôi đặt tên là lấy cảm hứng từ bệnh
nhân này.
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
95
Người phụ nữ này ở độ tuổi
50 và bị thoái hóa khớp và đau thắt
ngực. Tôi đã thực hiện một ca phẫu
thuật để giảm nguy cơ phẫu thuật
(Hình 5.14).
Hút mỡ bụng dưới được
thực hiện trước, sau 2 ngày sau đó
là hút mỡ bụng trên (Hình 5.15).
Không nhìn thấy sự chảy xệ
của bụng trong ảnh được chụp một
tháng sau khi phẫu thuật (Hình
5.16).
Hình 5.12 Trước phẫu thuật
Hình 5.13 Sau Phẫu thuật
Hình 5.13: Trước phẫu thuật
Hình 5.15 vài ngày sau phẫu thuật
Bệnh nhân này cho thấy có
thể thực hiện hút mỡ ngay cả khi
da bị chảy xệ nghiêm trọng, chỉ khi
có một lượng lớn mỡ ở vùng bụng
và độ đàn hồi da tốt.
Lượng mỡ hút là 2000 ml
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
96
5.2.4 Mỡ thay đổi theo tuổi
Trong hầu hết các trường
hợp, việc hút mỡ trở nên đơn giản
và dễ dàng hơn ở những bệnh
nhân lớn hơn 50 tuổi, vì mỡ và mô
xơ trở nên mềm hơn.
Tôi chưa xác định liệu tổ
chức mô mỡ và mô xơ mềm này
có phải do sự thay đổi estrogen
hay không. Điều rõ ràng là dễ dàng
thực hiện hút mỡ ở những bệnh
Hình 5.16 Một tháng sau phẫu thuật
nhân trên 50 tuổi.
5.2.5 Ảnh hưởng của sự thay đổi
trong các tế bào mỡ
Nếu hai bệnh nhân có trọng
lượng tương đương và lượng mỡ
tương tự nhau, việc hút mỡ sẽ dễ
dàng hơn ở những bệnh nhân đã
tăng cân trong một thời gian ngắn.
Tôi nghĩ rằng điều này cũng liên
quan đến mức các tổ chức nối giữa
mô mỡ và mô sợi.
5.2.6 Nhiều nếp nhăn da ở bụng
So với một người có thói
quen giữ thẳng lưng, những người
có xu hướng gù lưng, có bộ ngực
lớn hoặc những người có xương
sườn nhô ra trước khi họ gập
(cuối) phần thân trên của họ về
phía trước.
Đường gấp này có thể xấu đi
sau khi hút mỡ. Cần cẩn thận.
Bệnh nhân này có nhiều nếp
gấp quanh rốn và một nếp gấp ở
bụng trên. Do đó, tôi chỉ tiến hành
hút mỡ vùng bikini, không hút mỡ
vùng bụng (Hình 5.17 và 5.18).
Hình 5.17 Trước khi hút mỡ vùng
bikini
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
97
Hình 5.18 Sau khi hút mỡ vùng bikini
5.2.7 Độ đàn hồi của da tại vùng
xung quanh đường áo ngực
Khi độ đàn hồi da ở vùng
lưng thấp, mỡ phình ra xung quanh
đường viền áo ngực khi bệnh nhân
mặc áo ngực. Có thể tin không
chính xác rằng vì sự phình ra này,
có nhiều mỡ hơn thực tế. Do đó,
điều này cần được giải thích cho
bệnh nhân trước khi phẫu thuật,
để họ hiểu kết quả sau phẫu thuật.
Ở lưng dường như có một lượng
mỡ lớn khi dùng test véo da (Hình
5.19). Khi khám dưới USG, có thể
thấy mỡ ít (Hình 5.20).
Khi so sánh ảnh trước và
sau phẫu thuật, có thể thấy vòng
eo thon hơn rất nhiều. Tuy nhiên,
vùng lưng xung quanh đường viền
áo ngực không thay đổi nhiều
(Hình, 5.21, 5.22, 5.23 và 5.24).
Hình 5.19 Độ dày mỡ khi đo bằng test
véo da là 4.0 cm
Hình 5.20 Lớp mỡ dày thực sự được
đo dưới siêu âm USG là 0.8 cm
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
98
Hình 5.21 Trước khi phẫu thuật (góc
nghiêng 450)
Hình 5.22 Sau khi phẫu thuật (góc
nghiêng 450)
Hình 5.23 trước khi phẫu thuật (nhìn
từ phía sau)
Hình 5.24 Sau khi phẫu thuật (nhìn từ
phía sau)
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
99
5.2.8 Căng giãn cân cơ thành bụng
Ở những phụ nữ đang mang
thai hoặc đã trải qua sinh đẻ và
những người đàn ông bị tăng áp
lực trong phúc mạc do nội tạng
lớn, các cơ bụng trở nên mỏng
hơn và tràn sang một bên, dẫn đến
bụng bị nhô ra.
Trong trường hợp này, độ
dày cơ và độ dày mỡ nên đo trước
khi phẫu thuật bằng cách thực
hiện đo dưới siêu âm USG.
5.3 Chụp ảnh
Trước và sau khi phẫu thuật
thì hình ảnh cần phải chụp từ các
góc độ khác nhau. Thật tốt khi
chụp ảnh, cho phép bệnh nhân
quay theo hướng trong các khoảng
45° (Hình 5.25).
5.4 Thiết kế
Mỗi người có một hình dạng
bụng khác nhau. Điểm này cần
được xem xét khi thiết kế (Hình.
5.26 và 5.27).
5.5 Vị trí vô trùng và chuẩn bị
trước phẫu thuật
Hình 5.28 cho thấy bệnh
nhân trong đó tất cả các khâu để
phẫu thuật đã hoàn thành. Bắt đầu
vô trùng từ cổ bệnh nhân đến cổ
tay bằng potadine. Trong trường
hợp ở phần dưới cơ thể, vùng
xuống bắp chân nên vô trùng.
Bệnh nhân này đã được hút
mỡ bụng ở một phòng khám khác.
Cô cho thấy phản ứng dị ứng với
potadine, dẫn đến sẹo da nghiêm
trọng và tăng sắc tố da ở bắp chân
(Hình 5.29). Đây là một trường
hợp rất hiếm gặp và đã báo cáo ở
một bệnh viện của trường Đại học.
Cô ấy đã hút mỡ cánh tay
trong phòng khám của tôi. Tôi đã
sử dụng zephanon và alcohol để
vô trùng cho bệnh nhân này.
Truyền đường tĩnh mạch để
cung cấp dịch ở phía mu bàn tay
của bệnh nhân. Dịch truyền tĩnh
mạch (thông thường tôi sử dụng
D/W 500 ml) trong quá trình phẫu
thuật nên giới hạn ở mức dưới 100
ml/giờ.
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
100
Hình 5.25 Vị trí khi chụp ảnh
(tám ảnh)
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
101
Hình 5.25 tiếp tục
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
102
Hình 5.26 Thiết kế khi hút mỡ vùng bụng (5 ảnh)
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
103
Hình 5.27 Thiết kế khi hút mỡ vùng
bụng và vùng bikini cùng với nhau (2
ảnh)
Hình 5.26 Tiếp tục
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
104
Hình 5.28 Chuẩn bị xong bệnh nhân để phẫu thuật (3 ảnh)
Hình. 5.29 Bắp chân với mảng tăng
sắc tố da và sẹo do phản ứng dị ứng
với potadine
Vì dung dịch tumescent sẽ
làm tăng lưu lượng tuần hoàn, nên
tăng thể tích nội mạch bằng cách
hydrat hóa tĩnh mạch.
5.6 Sắp đặt phòng phẫu thuật
Các dụng cụ phẫu thuật nên
sắp xếp trên xe đẩy, nằm ở phía
bên phải của bàn mổ. Máy hút EVA,
là thiết bị phẫu thuật và bơm tiêm,
Hình 5.30 Dụng cụ phẫu thuật
nên ở phía bên trái của bàn mổ
(Hình. 5.30 và 5.31).
Cần chú ý đặc biệt để đảm
bảo rằng các dụng cụ phẫu thuật
và ống silicon không rơi ra khỏi xe
đẩy (Hình 5.32).
Các ống hút bổ sung, một
miếng săng vải vô trùng, gạc vô
trùng, chén chứa potadine, mes và
kéo nên chuẩn bị sẵn sàng.
Khi lần đầu tiên tiêm dung
dịch tumescent trong khi hút mỡ
bụng, bệnh nhân nên được đặt ở
tư thế nằm sấp. Sự khác biệt về
chiều cao của vùng giữa lưng và
hông trở nên rõ ràng khi vùng giữa
của lưng trở nên thấp hơn hông.
Đặt giữ bụng với một tấm vải cuộn
và vô trùng
(Hình 5.33).
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
105
Điều này có thể làm giảm sự
khác biệt về chiều cao, cho phép
tiêm dung dịch tumescent dễ dàng
hơn ở vị trí nằm sấp
5.7 Dung dịch Tumescent
• Nước muối bình thường 1L + epi
nephrine 1.0A + 30 mL lìdocaine
2%+ bicarbonate 10 mL
• Bụng: sử dụng trung bình 1500
-> 2000 mL
• Bikini: sử dụng trung bình 2000
-> 3000 mL
• Bụng + bikini: sử dụng trung
bình 3000 -> 4000 mL
Trong trường hợp vùng
lưng, tôi sử dụng 1,5 ống epineph
rine trong đó nồng độ của nó tăng
50% so với vùng bụng và eo. Vì
vùng lưng có da dày hơn và ít mỡ
hơn các vùng khác, nên hút mỡ
từ lớp mỡ sâu gần với cơ và sau
đó đến lớp mỡ nông gần da. Tăng
nồng độ epinephrine để giảm chảy
máu.
Như trong (A), nếu tiêm
dung dịch tumescent quá gần da,
da sẽ trở nên trắng. Trong trường
hợp này, khả năng hút mỡ ở lớp
quá nông tăng lên, và điều này có
thể gây ra sự bất thường của da.
(B) cho thấy dung dịch tu
mescent không tiêm nhiều như
(A), nơi da trở nên trắng. Ở vùng
(B), ít chảy máu và bầm tím xảy ra.
Tốt nhất nên để lại hơn 5 mm của
lớp mỡ từ da. Do đó, khuyến cáo
rằng dung dịch tumescent không
nên tiêm quá gần da (Hình 5.34).
Hình 5.31 sắp xếp phòng phẫu thuật
Hình 5.32 Dụng cụ phẫu thuật trên xe
đẩy
Hình 5.33 Trải săng vô trùng dưới
bụng
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
106
Hình. 5.34 So sánh hình ảnh của
các vùng (A) và (B): (A) là vùng
mà dung dịch tumescent được tiêm
quá gần da. (B) là vùng tumescent
thơm được tiêm đúng cách
Chảy máu và bầm tím trong
quá trình hút mỡ có thể xảy ra khi
hút mỡ mà không tiêm dung dịch
tumescent đủ sâu đến lớp mỡ gần
với cơ.
5.8 Gây tê
Khởi đầu, 0,4 ml ketamine
và sau đó tiêm 6->7 ml propo
fol. Sau giai đoạn này, tôi sử dụng
propofol không liên tục, tiêm 4 ml
trong 4 phút. Đây là con số trung
bình. Tùy thuộc vào bệnh nhân, tôi
tiêm 4 ml trong 2 phút hoặc 4 mL
trong 6 phút.
Tôi tiêm thêm 0,4 ml ket
amine 3->4 lần trong suốt quá
trình phẫu thuật tùy theo tình
huống.
Các cases phẫu thuật có thể
thực hiện dưới gây mê; do đó, nếu
bệnh nhân không muốn gây mê
để ngủ thì phẫu thuật có thể tiến
hành gây tê tại chỗ.
Gây mê toàn thân nên tránh
vì nó có tác dụng co mạch thấp,
làm tăng chảy máu và quan trọng
hơn là bệnh nhân không thể xoay
chuyển nhiều tư thế khác nhau
trong quá trình phẫu thuật.
Hơn nữa, gây mê toàn thân
trong hút mỡ bụng làm yếu cơ
thẳng bụng. Do vùng cơ thẳng
bụng bị suy yếu này, có thể chọc
ống cannula vào trong phúc mạc,
có thể dẫn đến viêm phúc mạc. Gây
mê toàn thân, do đó, nên tránh.
5.9 Vị trí rạch da
Các vết mổ trong trường
hợp hút mỡ bụng có thể thực hiện
ở hai khu vực, một vết mổ cho bên
phải và bên trái của nếp lằn vú.
Thực hiện hai vết mổ nữa ở bên
phải và bên trái của bụng dưới.
Có thể thực hiện thêm các vết mổ
xung quanh rốn.
Trong trường hợp vùng
bikini, các vị trí vết mổ có thể là:
một ở hai bên hông và một ở giữa
xương hông, một ở đường viền áo
ngực, phía trên đường eo-eo, một
ở giữa lưng xung quanh đường
viền áo ngực, và mỗi vết mổ cho
mỗi bên ở vùng phía trên hông.
Thông qua các vị trí vết mổ này, tôi
tiêm dung dịch tumescent và tiến
hành hút mỡ MDMP có tính đến sự
chuyển động của mỡ (Hình. 5.35,
5.36 và 5.37).
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
107
5.10 Phương pháp rạch
Sử dụng mes để thực hiện
vết rạch vết mổ dài 3 mm. Rạch
và tách mô dưới da, nằm dưới vết
rạch da quan trọng hơn kích thước
của vết rạch da. Làm điều này là
để cho ống cannula có thể dễ dàng
đẩy qua vết rạch da.
Hình 5.35 Vết rạch da ở vùng bụng
Hình 5.36 Vết rách da ở vùng lưng và
eo.
Dùng kéo chèn vào lớp mỡ
dưới da thông qua vết rạch 3 mm
và mở rộng kích thước vết rạch
của lớp mỡ dưới da (Hình 5.38).
Tôi khâu vết mổ ngay sau
khi phẫu thuật. Một số bác sĩ khâu
vết mổ 1->3 ngày sau. Tuy nhiên,
tôi không khuyến khích điều này.
Nếu không có chảy máu trong quá
trình hút mỡ, bạn có thể khâu vết
mổ ngay lập tức. Nếu không khâu
vết mổ, bệnh nhân không thể mặc
quần áo bó và phải băng ép, điều
này có thể gây ra sự bất thường
của da. Hơn nữa, dịch máu màu
đỏ có thể chảy ra qua vị trí vết mổ
và rơi xuống đất, khiến bệnh nhân
cảm thấy khó chịu và lo lắng.
Tác giả đã từng khâu vết mổ
vào ngày thứ 2 sau khi phẫu thuật,
khâu như vậy khoảng 2 năm kể từ
khi tôi bắt đầu thực hiện hút mỡ.
Sau đó, tôi khâu vết mổ ngay sau
khi phẫu thuật. Không có nguy
hiểm hoặc ảnh hưởng xấu đến kết
quả phẫu thuật. Do đó, tôi khuyên
bạn nên khâu vết mổ ngay sau khi
phẫu thuật.
Không có vấn đề gì về dung
dịch tumescent còn sót lại bên
trong bệnh nhân vì nó sẽ hấp thụ
vào cơ thể và được bài tiết qua
nước tiểu. Không cần phải cố ép
dung dịch tumescent ra khỏi vết
mổ sau khi phẫu thuật.
5.11 Phương pháp phẫu thuật
5.11.1 Tiêm dung dịch tumescent
Sử dụng phương pháp MDMP
Phương pháp MDMP có ng
hĩa là tôi tiêm dung dịch tumes
cent theo nhiều hướng khác nhau
và tôi sử dụng các vị trí phẫu thuật
khác nhau để tiêm dung dịch tu
mescent.
Sử dụng phương pháp
MDMP để hút mỡ vùng bikini là
rất hiệu quả. Lý do cho tầm quan
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
108
trọng của phương pháp MDMP
này là vì nó rất cần thiết trong việc
giảm đau và giảm chảy máu trong
quá trình phẫu thuật
Hình 5.37 Sau khi khâu vết rạch da (2 ảnh)
Hình 5.38 Dùng kéo để tách tổ chức mỡ nằm dưới da và làm rộng vết mổ thêm.
Lượng dung dịch tumescent
cho một bệnh nhân nặng 60 kg là
1500 ml khi hút mỡ bụng, 2000
->3000 mL cho hút mỡ vùng bikini
và kết hợp hút mỡ bụng và bikini
là 3000 ->4000 mL.
Trong trường hợp hút mỡ
bụng, nếu bắt đầu hút 15 phút
sau khi tiêm dung dịch tumescent,
lượng dịch máu có màu đỏ sẽ hút
ra sẽ ít hơn và có ít máu trong mỡ
hút ra hơn.
Trong trường hợp hút mỡ
bikini, đợi trong 15 phút. Tuy
nhiên, tôi nghĩ rằng nó không thực
Mỡ màu vàng vẫn có thể hút ra và
ít chảy máu.
Các giải thích sau đây cho
thấy sử dụng một số vị trí trong
tiêm dung dịch tumescent. Có vị
trí bổ sung. Vì mỗi bác sĩ thích một
vị trí khác nhau, nếu các bác sĩ ưa
thích các vị trí khác nhau thì có thể
kết hợp lại, làm sao để có thể thực
hiện việc hút mỡ có kết quả tốt
nhất.
sự quan trọng trong trường hợp
vùng bikini; do đó, tôi bắt đầu hút
ngay sau khi tiêm dung dịch tu
mescent.
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
109
5.11.1.1 Vùng lưng
Hình 5.39 cho thấy tiêm
dung dịch tumescent ở các hướng
khác nhau vào vùng lưng bệnh
nhân. Tốt hơn là sử dụng ống chích
cannula có hình dạng cong chứ
không phải là ống có đường thẳng.
Hình dạng cong này giúp đưa đầu
ống cannula vào vùng xa nhất, đi
qua vùng bị lõm ở phần giữa của
lưng.
Đầu tiên, tiêm dung dịch tu
mescent theo nhiều hướng ở một
vị trí. Sau đó, thay đổi vị trí của
bệnh nhân sang vị trí bên ngoài để
tiêm dung dịch tumescent bổ sung
vào vùng lưng.
Khi đã hoàn thành bước
này, tiêm dung dịch tumescent vào
tất cả các lớp mỡ; do đó, không có
chảy máu khi hút mỡ từ vùng lưng.
Trên thực tế, vùng có ít chảy
máu nhất khi tiến hành hút mỡ
vùng bụng-bikini là ở vùng lưng.
Tuy nhiên, nếu tiêm vào
một lượng dịch không đủ, thì việc
hút mỡ ở vùng lưng này có thể gặp
khó khăn. Đây là lý do tại sao các
phòng khám khác khó thực hiện
hút mỡ ở vùng lưng.
5.11.1.2 Vị trí hai bên
Trong các vùng đánh dấu
bằng các chữ cái A, B và C, mỡ
dường như bị lan xuống dưới khi
bệnh nhân thay đổi sang nghiên
bên trong khi phẫu thuật (Hình
5.40).
Nếu trước đó tiêm dung
dịch tumescent vào vùng A ở vị trí
nằm sấp, thì cũng nên tiêm dung
dịch tumescent ở vị trí 2 bên. Điều
này giúp tiêm dung dịch tumes
cent hoàn chỉnh hơn, vì dung dịch
tumescent có thể tiêm vào tất cả
các lớp mỡ đồng đều.
Tiêm dung dịch tumescent
ở vị trí 2 bên (Hình 5.41), nghĩa là,
xoay người bệnh về phía họ, là rất
quan trọng.
Thông qua lỗ rạch tại A, nên
tiêm dung dịch tumescent theo
nhiều hướng.
Rất khó để đưa ống cannula
thông từ vị trí vết mổ đến vùng xa
nhất, như thể hiện ở F. Do đó, bác
sĩ phẫu thuật cần phải luyện tập
chăm chỉ để trở nên quen với việc
đẩy ống cannula.
Ống cannula phải đi qua
lớp mỡ ở nông theo hình cong và
hướng đến vùng giữa như đã hiển
thị trong B để dễ dàng đẩy ống
cannula từ vị trí vết mổ đến vùng
xa nhất. Đẩy nhanh bằng cách sử
dụng một xoay cổ tay nhanh để có
thể bổ sung thêm khi bị kẹt lại.
Có thể tiêm dung dịch tu
mescent qua các lỗ rạch như thể
hiện trong A, B và C, nhưng tiêm
dịch qua các lỗ tiêm ở sườn là có
thể, như trong hình H và I.
Trong trường hợp vùng lỗ
rạch của hình A, tốt hơn là tiêm
dung dịch qua lỗ rạch của hình H.
Điều này được áp dụng tương tự
trong trường hợp hút mỡ.
Thật dễ dàng để tiêm dung
dịch vào lớp mỡ sâu ở phần lớn
nhất của vùng eo như trong hình I.
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
110
Có thể tạo ra một lỗ rạch da
tại một vùng đã thiết kế bằng ngón
tay như trong hình J trong Hình
5.42. Thông qua lỗ rạch này, có thể
tiêm dung dịch tumescent thêm
một lần nữa vào các vùng lỗ rạch
như thể hiện trong hình A và I.
5.11.1.3 Tư thế nằm ngửa
Ở tư thế nằm ngửa này,
dung dịch tumescent có thể tiêm
vào toàn bộ bụng (Hình 5.43).
Dung dịch tumescent cũng có thể
tiêm vào vùng eo-eo và vùng lưng,
có thể tiêm bằng tay (Hình 5.44).
Trong hầu hết các trường
hợp, có thể thực hiện các vết mổ
ở các vùng như hiển thị trong hình
1 và 2. Thực hiện các vết rạch ở
các vùng bên dưới ngực như trong
hình 3 và 4.
Nên tiêm dung dịch tumes
cent theo các hướng khác nhau tại
một số vị trí vết mổ như hiển thị
bởi mũi tên trong hình.
Có thể thực hiện một vết
mổ thêm ở vùng rốn. Mục tiêu đầu
tiên của lỗ rạch ở rốn là tạo thêm
lực hút ở vùng bụng trên trong
hầu hết các trường hợp. Mục tiêu
thứ hai là nâng rốn đã bị chảy xệ.
5.11.2 Hút mỡ theo phương pháp
MDMP
Một nguyên tắc chính của
hút mỡ là tiến hành phẫu thuật
bằng cách có thể thay đổi vị trí
bệnh nhân một cách nhanh chóng
và theo nhiều hướng khác nhau,
có nghĩa là sử dụng phương pháp
MDMP (Hình 5.45).
5.11.2.1 Vị trí hai bên
Vùng A là nơi tìm thấy lượng
mỡ lớn nhất ở eo khi bệnh nhân
đứng. Khi bệnh nhân nằm ở hai
phía bên, mỡ di chuyển đến vùng
B (Hình 5.46).
Vùng màu xanh nằm ngay
phía trên tay cầm khi bệnh nhân
đứng lên. Vùng này có ít mỡ và nếp
gấp da. Tuy nhiên, mỡ di chuyển
đến vùng này khi bệnh nhân nằm
nghiên xuống. Do đó, phải hút mỡ
bằng cách xem xét chuyển động
của mỡ theo các vị trí khác nhau.
Vùng phía trên đường màu
xanh, cho thấy vùng phía trên của
xương chậu, trở thành vùng phía
trên hông, nơi dường như có một
lượng lớn mỡ trên xương chậu
khi bệnh nhân đứng. Trên thực tế,
có thể xảy ra trường hợp có một
lượng lớn mỡ, nhưng trong hầu
hết các trường hợp, đó là mỡ chảy
xệ phủ qua vùng xương chậu.
Vùng đánh dấu bằng một
vòng tròn màu xanh là nơi mỡ di
chuyển đến vùng A khi thay đổi
vị trí sang phía 2 bên (Hình 5.47).
Điều này phải được xem xét khi
hút mỡ. Càng nhiều mỡ càng tốt
trong vùng này để tránh mỡ phía
trên hông sẽ chùng xuống hoặc
phình ra. Nói cách khác, điều này
là để tránh hiện tượng vòng eo
trông thon thả, nhưng vùng 2 bên
hông dường như bị phồng lên.
Vùng bị gạch chéo màu đỏ
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
111
Hình. 5.39 Tiêm dung dịch tumescent ở bệnh nhân nằm sấp (12 ảnh)
Hình 5.40 Mỡ di chuyển khi bệnh nhân thay đổi tư thế (2 ảnh)
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
112
Hình 5.41 Tiêm dung dịch tumescent ở 2 bên (9 ảnh)
Hình 5.42 Định hướng các ngón tay theo từng vị trí rạch da (3 ảnh)
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
113
Hình.5.43 Tiêm dung dịch tumescent
khi bênh nhân nằm ngửa.
Hình.5.44 Tiêm dung dịch tumescent khi bênh nhân nằm ngửa (21 ảnh)
cho thấy một vùng ranh giới giữa
bụng và eo. Ở vị trí 2 bên, mỡ đã
giảm xuống (Hình 5.48). Nên hút
mỡ, có tính đến sự chuyển động
của mỡ theo các vị trí khác nhau
để tạo ra một đường đẹp hơn sau
khi phẫu thuật.
A và D cho thấy hút mỡ xung
quanh hai vị trí vết mổ theo cách
bổ sung. Đây là cùng một vùng với
mỡ phình phía trên hông (Hình
5.49 và 5.50).
B và E là nơi hút ở phần
mỏng nhất ở giữa eo. Vị trí B tốt
hơn vị trí E để hút toàn bộ lớp mỡ.
Mỡ có thể hút bằng cách dùng bàn
tay để giữ mỡ như trong E.
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
114
Hình 5.44 tiếp tục
C và F chỉ ra cách thực hiện
hút đến vùng xa nhất. Thật dễ dàng
nếu bác sĩ phẫu thuật làm quen với
chuyển động của ống hút cannula.
Vị trí này không dễ nếu bác sĩ phẫu
thuật có ít kinh nghiệm.
5.11.2.2 Vị trí nằm sấp
Trong hình 5.51, A cho thấy
vùng lưng xung quanh đường viền
áo ngực là nơi da dày nhất. Hút
dưới lớp mỡ ở giữa là dễ dàng
trong vùng này, nhưng không dễ
để hút lớp mỡ gần da. Trong vùng
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
115
Hình.5.45 Ngay sau khi hút mỡ theo phương pháp đa hướng-đa chiều (MDMP)
(3 ảnh)
Hình 5.48 Mỡ di chuyển ra 2 bên (3)
Hình 5.46 Mỡ di chuyển ra 2 bên (1)
Hình 5.47 Mỡ di chuyển ra 2 bên (2)
mỡ, có thể thấy một vòng eo thon
thả hơn nhiều.
Nếu thuận tay phải, thì việc
hút ở bên trái của vùng eo khó
khăn hơn so với bên phải của vùng
eo. Để tránh sự bất cân xứng ỏ 2
bên eo sau khi hút mỡ, cần chú ý
nhiều hơn đến việc hút mỡ ở bên
trái của vùng eo.
Hình 5.52 cho thấy hút mỡ
từ vị trí vết mổ của vùng lưng theo
vùng sườn. Điều này có thể làm
cho một đường eo trông tự nhiên
hơn, vì nó dễ dàng hút vùng sườn
và gối đệm eo.
Tôi thích rạch ở vùng này
nếu có một lượng lớn mỡ.
nên di chuyển ống cannula theo
nhiều hướng và vào nhiều vị trí. Da
nên được ép lại để hút cả lớp mỡ
sâu và lớp mỡ nông.
B và C cho thấy hút bên trái
của vùng eo. Nếu mỡ tập trung
nhiều ở vùng lưng và sau khi hút
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
116
Hình.5.49 Hút mỡ vùng hông qua vết rạch da(3 ảnh)
Hình.5.51 Hút mỡ ở vùng lưng qua vết rạch da nằm trên hông (3 ảnh)
Hình 5.51 Hút mỡ ở vùng lưng thông qua lỗ rạch phía trên hông (ba ảnh)
5.11.2.3 Vị trí nằm ngửa
Các vị trí như trong hình
5.53 cho thấy đã hoàn thành việc
hút mỡ ở vùng eo và bụng. Có
thể hút mỡ ở vùng bụng thông
qua 4->5 vị trí rạch da theo nhiều
hướng khác nhau.
Điều rất quan trọng là hút
đều từ cả bụng trên và bụng dưới.
Trong trường hợp của tôi, tôi hút
mỡ càng nhiều càng tốt ở vùng eo
để tránh hiệu ứng yo-yo, nhưng tôi
chỉ hút 50-60% mỡ từ bụng.
Điều này là do khi hút mỡ
quá nhiều ở bụng, có thể hình
thành đường gấp tùy thuộc vào
hình dạng cơ thể, hoặc có thể xảy
ra da không đều.
Trong trường hợp hút mỡ
vùng bụng, tôi đề nghị nên hút mỡ
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
117
khi lớp mỡ dày hơn 2,5 cm.
Từ cấu trúc giải phẫu của
bụng, người ta đã biết rằng việc
hút mỡ là khó khăn ở những vùng
có lượng mô sợi lớn. Tuy nhiên, tôi
tin rằng không có sự khác biệt, vì
các dụng cụ hút mỡ đã phát triển
rất nhiều.
Điều thích hợp để nói rằng
khó khăn trong việc hút mỡ bụng
là do nhiều các mô sợi nối với mỡ
vùng bụng.
Khi thực hiện hút mỡ bụng,
rất khó thực hiện hút so với lượng
mỡ thực tế và có thể thấy rằng mỡ
được hút trong điều kiện ít phân
giải hơn. Trong trường hợp này, có
thể phải phân giải mỡ bằng thiết bị
siêu âm phân giải mỡ (ULTRA-Z)
và sau đó hút ra.
Cần hết sức cẩn thận khi
thực hiện hút mỡ quanh rốn. Khi
hút xung quanh rốn quá mạnh,
hình dạng của rốn có thể thay đổi.
Hơn nữa, hút chính nó là rất khó
khăn trong vùng rốn. Có thể sử
dụng ống cannula 3mm để hút mỡ
và kết thúc cuộc phẫu thuật.
5.12 Chọn Cannula
Tôi thường sử dụng ống
cannula có độ dày 4 mm. Thỉnh
thoảng tôi sử dụng ống cannu
la 3 mm cho vùng quanh rốn. Tôi
không khuyên bạn nên sử dụng
ống cannula 5 mm.
Tôi thường sử dụng một ống
cannula dài 47->49 cm. Nó không
quan trọng về loại ống cannula.
Thường có 3->4 lỗ hút bên trên
đầu ống cannula. Tôi chỉ sử dụng
ống cannula có bọc bên ngoài tại
vết rạch. Lớp bọc qua ống cannula
làm giảm ma sát của ống hút mỡ
với da tại vị trí vết mổ, ngăn ngừa
tăng sắc tố.
5.13 Sử dụng EVA
Khi tôi sử dụng thiết bị hút
mỡ EVA, tôi thường thực hiện thao
tác với áp lực 3. Đôi khi tôi thực
hiện thao tác với áp lực 2.5, nhưng
điều này ít sử dụng hơn.
Lựa chọn áp lực cuối cùng
này là về sự lựa chọn riêng của
từng phẫu thuật viên.
Tác giả tiến hành hút mỡ và
sử dụng áp lực 4, đó là độ rung rất
mạnh. Điều này có thể xảy ra khi
bác sĩ phẫu thuật đã quen với độ
rung của eva. Do đó, nếu bác sĩ
phẫu thuật đã quen với độ rung
của eva, tôi khuyên bạn nên sử
dụng áp lực 4.
5.14 Các phương pháp véo da
khác nhau rất có ích trong quá
trình hút mỡ
5.14.1 Véo da hoặc ép vào da bằng
lòng bàn tay hoặc ngón tay
Có một số vùng tốt khi ấn
vào da để hút lớp mỡ ở sâu và một
số vùng cho lớp ở nông (Hình 5.54
và 5.55).
Dùng lòng bàn tay đè vùng
da cần hút xuống để giảm độ đung
đưa và kích ứng cho da trong quá
trình hút và để cố định da.
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
118
Hình.5.52 Hút mỡ ở vùng lưng qua các vị trí vết rạch da ở đường viền áo ngực
(2 ảnh)
Hình.5.53 Hút mỡ vùng bụng và eo khi bệnh nhân nằm ngửa (9 ảnh)
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
119
5.14.2 Véo da bằng ngón tay
Khi hút mỡ ở một vị trí dưới
bàn tay của bác sĩ, bác sĩ phẫu
thuật có thể cảm thấy làmỡ đang
biến mất khỏi ngón tay bằng cách
hút và thời gian hút mỡ có thể
hoàn thành sớm hơn (Hình 5.56).
5.14.3 Véo giúp nâng da lên bằng
ngón tay
Nếu da được nâng lên ở nơi
da dày và cứng bằng ngón tay, bác
sĩ phẫu thuật có thể dễ dàng hút
vào vùng sâu hơn (Hình 5.57).
5.14.4 Véo giúp nâng một vùng lớn
da bằng tay
Hình 5.58 cho thấy hiệu quả
của việc hút một vùng rộng lớn.
5.14.5 Véo da có thể đẩy mỡ từ bên
dưới bằng ngón tay cái
Hình 5.59 cho thấy hút
trong một vùng cong.
5.14.6 Véo da có giữ mỡ cùng với
bàn tay
Hình 5.60 cho thấy hút mỡ
ở vùng mỡ chảy xệ.
Hình.5.54 Các vị trí đè da khác nhau (1) (ba ảnh)
Hình.5.55 Nhiều vị trí véo da (2) (2 ảnh)
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
120
Hình.5.56 Dùng các ngón tay véo da để giữ mỡ lại với nhau, và hút mỡ hết sạch
hơn (2 ảnh)
Hình.5.57 Dùng các ngón tay véo da nhấc lên (02 ảnh)
5.14.7 Có thể hút lớp mỡ khác nhau
tùy theo độ véo da , ngay cả trong cùng
một khu vực
Hình 5.61 và 5.62 cho thấy
nâng da lên và ấn vào da.
5.14.8 Nhận biết vùng hút bằng
cách dùng Cannula nâng mỡ lên
Thật vô nghĩa khi thấy
kết quả của việc hút mỡ bằng
cách dùng ống cannula nâng mỡ
lên(Hình 5.63). Nếu thực hiện hút
mỡ chủ yếu ở lớp mỡ sâu, thì có
thể nâng một vùng rộng lớn da dày
lên. Nếu thực hiện hút mỡ ở lớp
quá nông, da có thể trở nên mỏng
hơn.
Tuy nhiên, trong hình 5.64,
với bệnh nhân đã kết thúc quá
trình hút mỡ, vẫn còn tình trạng
Hình.5.58 Hút mỡ vùng rộng rất dễ
và nhanh
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
121
Hình.5.59 Khi tiến hành hút ở vùng cong, da bị ép và mỡ đẩy mỡ lên bằng ngón
tay cái để làm cho vùng cong bằng phẳng hơn (hai ảnh)
Hình.5.60 Thực hiện hút mỡ bằng cách dùngtay giữ mỡ chảy xệ với nhau (hai
ảnh)
mỡ phồng lên do dung dịch tu
mescent còn lại. Lớp mỡ F không
bị phân chia sau khi hút mỡ; do đó,
dùng cannula để nâng da lên thì độ
dày của da nâng có thể khác nhau
tùy theo độ sâu của ống.
5.15 Điều trị thêm sau mổ
1. Mặc quần áo: vào ngày thứ ba
2. Cắt chỉ: vào ngày thứ bảy
3. Sau 1 tuần: điều trị siêu âm hội
tụ.
4. Sau 2 tuần: dùng thêmmáy săn
chắc da
5. Sau 3 tuần: có thể dùng thêm
tần số vô tuyến (RF) ba cực + và
kích hoạt tần số thấp (DMA)
Hình.5.61 Hút mỡ lớp nông bằng cách
dùng ngón tay để nâng da lên.
Hình.5.62 Hút mỡ ở lớp sâu hơn bằng
cách dùng lòng bàn tay ấn lên da
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
122
Tôi cho phép bệnh nhân
được sử dụng dịch vụ thêm 06 lần
sau mổ. Sử dụng RF lưỡng cực
Nhiệt độ sâu 42 ->44°C. Nếu
thực hiện nó sau khi da trở nên
cứng sau khi hút mỡ, bệnh nhân có
thể cảm thấy thoải mái, nhưng độ
cứng trở nên xấu hơn. Đây là lý do
tại sao tôi không khuyên bạn nên
dùng RF lưỡng cực.
Siêu âm điều trị xuống sâu
đến 10 cm trong lớp mỡ, giúp phục
hồi độ cứng sau khi hút mỡ.
Bí quyết cho vật lí trị liệu là có thể
giảm đau.
Bác sĩ phẫu thuật có thể
cảm thấy sự hữu ích của điều trị
thêm sau phẫu thuật nếu việc điều
trị thực sự được thực hiện ở bệnh
nhân.
5.16 Băng ép
Khi thực hiện hút mỡ bằng
phương pháp MDMP , dịch thoát
ra sau phẫu thuật là ít. Do vậy,
đường mổ nên khâu lại ngay sau
mổ và bệnh nhân mặc quần áo gel
Các bác sĩ phẫu thuật
không cân hút dẫn lưu hay băng
ép dịch
Rất dễ mặc đồ gel ở vùng
bụng và vùng bikini hơn là vùng
đùi
Khi bệnh nhân có da chun
giãn tốt. Tôi khuyên cô ta mặc đồ
bó chặc trong 12h / ngày
5.17. Thời gian phẫu thuật
• Tiêm dung dịch tumescent: bụng
10 phút, bikini 15 phút
• Thời gian hút mỡ: bụng 20 phút,
bikini 40 ->50 phút
5.18 Lượng hút mỡ
Sử dụng siêu âm USG có
thể đo độ dày mỡ, chiều dài ngang
(chiều rộng) và chiều dài dọc
(chiều cao) của bụng. Giá trị đạt
được bằng độ dày mỡ × chiều dài
ngang (chiều rộng) × chiều dài
(chiều cao) cho thấy diện tích ba
chiều bề mặt của bụng. Tốt nhất
là hút 50% diện tích ba chiều bề
mặt đã tính toán này. Do đó, 50%
trong số đó có thể là số lượng mỡ
dự kiến sẽ hút.
Một lượng hút trung bình ở
vùng bụng + vùng bikini của một
người phụ nữ có chiều cao 160 cm
và cân nặng 60 kg là khoảng 2000
->3000 mL.
Trong trường hợp này, sự
giảm kích thước vùng bụng là
khoảng 4 –5 in tại chu vi rộng nhất.
5.19 Biến chứng thẩm mỹ của
hút mỡ
Trường hợp 1 Một bệnh
nhân nữ ở độ tuổi 20 đã hút mỡ
bụng ở một phòng khám khác từ
một bác sĩ có ít kinh nghiệm (Hình
5.66). Đây là 3 tháng sau khi phẫu
thuật.
Hình 5.67 cho thấy độ dày
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
123
Hình.5.63 Nâng mỡ lên với cannula (2 ảnh)
Hình.5.64 Phẫu thuật tạo hình thành
bụng
của lớp mỡ dưới da là 3 mm và độ
dày của vùng da bị viêm sau phẫu
thuật là 3 mm.
Siêu âm cho thấy đã thực
hiện việc hút quá nhiều mỡ ở vùng
này. Hình ảnh của bụng cho thấy
có một độ bám dính lớn. Khi tôi
sờ bụng cô ấy, tôi có thể cảm nhận
được cơ bụng của cô ấy ngay dưới
da và xác nhận độ cứng của da.
Người ta cũng cho rằng việc
hút quá nhiều này có thể gây chảy
máu.
Trong vùng này không thể
mổ lại. Lớp ranh giới giữa hai vùng
này sẽ trở nên tồi tệ hơn nếu bệnh
nhân tăng cân.
Hình 5.68 cho thấy độ dày
của mỡ còn lại là 1,0 cm. Viêm lan
rộng. Trường hợp này,các vị trí vết
mổ nằm ở phần dưới của bụng. Do
đó, thậm chí tiến hành hút theo
nhiều hướng sẽ rất khó thực hiện
Hút theo hướng ngang qua hai vị
trí vết mổ đó là nguyên nhân chính
gây ra tình trạng hút không đều ở
vùng 1 và 2.
Nếu bác sĩ đã rạch thêm bên
dưới vú, việc hút theo hướng dọc
sẽ có thể, điều này có thể làm giảm
mức độ nghiêm trọng của các biến
chứng (Hình 5.69 và 5.70).
Khi nếp gấp được hình
thành ở vùng 3, có thể có nhiều
chỗ phồng hơn. Vùng này cho thấy
tầm quan trọng của việc mặc quần
áo bó chặc sau khi hút mỡ.
Trong trường hợp này,
phòng khám đã ngăn cô mặc một
bộ quần áo bó. Tuy nhiên, bệnh
nhân đã mua một bộ quần áo bó
và tự mặc nó.
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
124
Hình.5.65 Bệnh nhân mặc quần áo bó, thậm chí ép vùng áo ngực (bốn ảnh)
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
125
Mỡ ở vùng trên xương sườn
thì vẫn chưa hút hết, nơi đây có
xương sườn. Hơn nữa, đã thực
hiện hút mỡ không hết ở vùng
phía trên eo, hiển thị dưới đường
áo ngực
Thực hiện hút mỡ thông
qua hai vùng rạch ở bụng và một
vùng rạch ở giữa xương chậu. Có
thể thực hiện hút hết mỡ ở vùng
eo và vùng lưng trong trường hợp
này.
Nếu tiến hành mổ lại, các
vết rạch bổ sung và hút qua các
vị trí vết mổ này phải theo nhiều
hướng.
Tuy nhiên, bệnh nhân cho
thấy như là da bị thiếu sự đàn
hồi. Hút vừa phải là cần thiết chứ
không phải hút quá nhiều.
Hình 5.71 và 5.72 cho thấy
một vùng phía trên rốn. Độ dày
mỡ của vùng này là 1,0 cm. Trong
trường hợp da có độ đàn hồi giảm,
nếu thực hiện hút lực ở vùng này,
thì vùng này có thể trông gấp khúc
khi bệnh nhân cuối gập phần thân
trên của cô ấy. Cần cẩn thận với
điều này.
Nếu việc hút chỉ diễn ra
thông qua các vết rạch ở bụng dưới,
thì khó có thể đưa ống cannula vào
miếng mỡ ở vùng sườn và hút mỡ.
Do đó, nếp gấp da xảy ra trên vùng
ranh giới của lớp mỡ đệm trên
vùng thượng vị, nằm dưới lớp mỡ
đệm trên xương sườn.
Trường hợp 2 Tiến hành
hút mỡ và phẫu thuật tạo hình
thành bụng cùng một lúc.
Hình.5.66 Bất thường nghiêm trọng sau khi hút mỡ bụng (hai ảnh)
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
126
Hình 5.67 Khu vực 1
Hình 5.70 Khu vực 4
Hình 5.69 Khu vực 3
Bệnh nhân này cho thấy sự
bất cân xứng nghiêm trọng ở bên
trái và bên phải của bụng. Ngoài ra
còn có sự bất thường và bám dính
nghiêm trọng ở vùng bụng và vùng
eo trái. Thay vào đó là tìm thấy
vùng phía trên vị trí phẫu thuật
tạo hình bụng thì hút mỡ chưa
hết. Vùng phồng phía trên đường
mổ tạo hình thành bụng có thể cải
thiện bằng cách mổ lại để hút mỡ
ở toàn bộ bụng.
Thực hiện hút mỡ vừa đủ ở
bên trái của bụng và vùng eo nơi
có độ bám dính nhiều. Điều này sẽ
làm giảm đi sự bất cân xứng của
toàn bộ bụng. Thực hiện hút mỡ,
có thể giúp cải thiện các vết lõm
trong vùng có độ bám dính cao.
Khi tiến hành hút mỡ bụng
với Phẫu thuật tạo hình thành
bụng, thực hiện hút mỡ bụng
trước sau đó là phẫu thuật tạo
hình thành bụng. Nếu thực hiện
phẫu thuật tạo hình bụng như
trong trường hợp này, cần phải
thực hiện việc bóc tách hoàn toàn
ở vùng bụng trên trước và sau đó
tiến hành phẫu thuật hút mỡ và
căn da.
Trong trường hợp này, rốn
của bệnh nhân nằm ở vị trí tương
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
127
đối cao hơn, hạn chế sự cắt bỏ da
đến vị trí của rốn. Điều này có thể
ngăn ngừa làm phẳng da bụng
sau khi phẫu thuật tạo hình thành
bụng và gây ra da bất thường ở
vùng phía trên rốn, như trong
trường hợp này (Hình 5.73).
Trường hợp 3 Vết lõm vào
sau khi lấy mỡ để ghép nơi khác.
Vùng bị lõm ở 2 bên của người đàn
ông dày 6 mm. Các vùng khác có độ
dày mỡ 21,2 mm. Đây là một biến
chứng hay gặp có thể gây ra khi lấy
mỡ ở vùng bụng để ghép đến chỗ
khác của cơ thể (Hình 5.74). Để xử
lí biến chứng này, cần phải hút mỡ
lại ở toàn bộ bụng.
Độ dày của lớp mỡ là 21,2
mm, gây khó khăn cho việc hút mỡ
vì lượng mỡ ít (Hình 5.75). Hút mỡ
ít thể làm giảm biến chứng, nhưng
việc hút mỡ quá nhiều có thể gây
ra biến chứng thứ phát nặng hơn.
5.20 Ảnh trước và sau
Trường hợp 1 Hút mỡ
Bụng + bikini
(Hình 5.76, 5.77, 5.78 và 5.79).
Trường hợp 2 Hút mỡ bi
kini (Hình 5.80 và 5.81)
• Phụ nữ / 28 tuổi
• Ảnh chụp sau ngày khi phẫu
thuật
Nó cho thấy rằng không có
vết bầm vào ngày thứ 1 sau khi
phẫu thuật và có thể thấy rằng
vòng eo đã trở nên thon gọn hơn.
Trường hợp 3 Hút mỡ
bụng và bikini
• Tuổi: 36 tuổi
• Chiều cao: 161 cm
• Trọng lượng: 57,8 kg
• Trọng lượng cơ : 36,1 kg
• BMI: 33,6
• Độ dày mỡ: vùng bụng trên 3,0
cm, bụng dưới 3,2 cm
• Lượng hút mỡ: 2300 ml.
• Kích thước 3 vòng trước khi phẫu
thuật: 83/95/90 (Hình 5.82)
• Kích thước 3 vòng sau khi phẫu
thuật: 76,5 / 85/87 (Hình 5.83)
Hình 5.71 Khu vực 5
Hình 5.72 Khu vực 6
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
128
Hình.5.73 Bất thường nghiêm trọng và dính tổ chức ở vùng bụng sau khi hút
mỡ bụng và phẫu thuật tạo hình bụng (hai ảnh)
Trường hợp 4 Hút mỡ
vùng bikini
• Tuổi: 26 tuổi
• Chiều cao: 163 cm
• Trọng lượng: 47 kg
• Lượng hút mỡ: 450 mL
• Kích thước 3 vòng trước khi phẫu
thuật: 64 / 74,5 / 80 (Hình 5,84)
• Kích thước 3 vòng sau khi phẫu
thuật: 58,5 / 71/78 (Hình 5.85)
Trường hợp 5 Hút mỡ
vùng Bikini
• Phụ nữ / 29 tuổi
• Lượng hút mỡ: 4000 mL
Người phụ nữ này đã hút
mỡ vùng bikini. Các nếp gấp của
da không phải do giảm độ đàn hồi
của da, mà là do sự tăng cân quá
nhanh. Các nếp gấp da này đã được
giải quyết sau khi hút mỡ. Có thể
nhìn thấy các vết tăng sắc tố da từ
vùng bikini. Bệnh nhân đã đi tuần
trăng mật 3 tháng sau khi phẫu
thuật (Hình 5.86, 5.87 và 5.88).
Hình.5.74 Vết lõm sau khi lấy mỡđể
ghép nơi khác.
Hình.5.75 Độ dày mỡ ở vùng bị lõm
(0,6 mm) và vùng bình thường (2,1
cm)
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
129
Trường hợp 6 Hút mỡ
vùng bụng-bikini + vàng nách
trước và nách sau
• Phụ nữ / 28 tuổi
• Lượng mỡ hút: 2800 ml
Trường hợp này cho thấy:có
thể thực hiện bằng hút mỡ ở vùng
bụng và các các vùng khác cùng
một lúc (Hình 5.89 và 5.90).
Không có vết bầm sau khi
hút mỡ, nhìn thấy một đường eo
thon ngay lập tức.
Hình 5.76 Trước khi phẫu thuật với
thiết kế (Mặt trước)
Hình.5.77 1 tháng sau khi phẫu thuật
(nhìn trước)
Hình.5.78 Thiết kế trước khi phẫu
thuật (nhìn sau)
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
130
Hình.5.79 1 tháng sau khi phẫu thuật
(nhìn sau)
Hình 5.80 trước khi phẫu thuật
Hình 5.81 Sau khi phẫu thuật
Trường hợp 7 Hút mỡ
vùng bụng
• Tuổi: 50 tuổi
• Chiều cao: 163 cm
• Trọng lượng: 91 kg
• Trọng lượng cơ: 50,5 kg
• BMI: 37,9 kg
• Trọng lượng mỡ trong cơ thể:
41,5 kg
• Độ dày mỡ: vùng bụng trên 4,7
cm, vùng bụng dưới 4,5 cm
• Lượng mỡ hút: 5200 ml
• Kích thước 3 vòng trước phẫu
thuật : 105/110.5 /117 (Hình
5.91)
• Kích thước 3 vòng sau phẫu
thuật: 96/100.5 / 102 (Hình 5.92)
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
131
Hình 5.82 Trước khi phẫu thuật
Trường hợp 8 Hút mỡ
bụng + phẫu thuật tạo hình thành
bụng mini (Hình 5.93).
Sau khi hút mỡ bụng, tôi
đã tiến hành phẫu thuật tạo hình
vùng bụng mini, điều này có thể
giúp loại bỏ vết sẹo vết mổ ở phần
C.
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
132
Hình 5.83 Một tháng sau khi phẫu
thuật
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
133
Hình. 5.84 Trước khi phẫu thuật (ba ảnh)
Hình 5.85 Một tháng sau phẫu thuật (ba ảnh)
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
134
Hình 5.86 trước phẫu thuật
Hình 5.88 thiết kế trước phẫu thuật (2 ảnh)
Hình 5.87 ba tháng sau phẫu thuật
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
135
Hình 5.89 Thiết kế trước phẫu thuật (3 ảnh)
Hình 5.90 Mặt trước và mặt sau của bệnh nhân ngay sau khi phẫu thuật (ba
ảnh)
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
136
Hình 5.91 trước khi phẫu thuật ( 4 ảnh)
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
137
Hình 5.92 Một tháng sau khi phẫu thuật
5 Hút mỡ vùng bụng và vùng Bikini
138
Hình 5.93 Bệnh nhân này muốn che giấu vết sẹo vết mổ ở phần C
6 Hút mỡ đùi và mông
139
Hút mỡ đùi và mông
6
Hút mỡ đùi 360°, Lượng mỡ hút
2700 mL,
1 năm sau khi phẫu thuật
Người phụ nữ trong hình
6.1 này làm việc như một người
mẫu. Cô đã trải qua phẫu thuật hút
mỡ vùng đùi để ghép mỡ ngực.
Chu vi đùi trước khi phẫu thuật là
dưới 50 cm, rất mỏng. Tuy nhiên,
lượng hút mỡ lấy từ đùi của cô là
2700 ml.
Trường hợp này cho thấy
kết quả hút mỡ đùi bị ảnh hưởng
bởi tỷ lệ cơ vùng đùi và mỡ ở đùi
chứ không phải do chu vi vòng đùi.
Đường đùi mong đợi, lượng
hút và tìm ra kích thước đùi có thể
giảm đi khi kiểm tra hình dạng đùi,
với sự hiểu biết rất tốt về cấu trúc
giải phẫu vùng đùi. Hút mỡ vùng
đùi và mông có thể tiến hành cùng
nhau, có tính đến hình dạng mông.
Hình 6.2 cho thấy vùng bị
xơ dính. Bác sĩ phẫu thuật không
cần quá thận trọng về các vùng
có độ bám dính cao, nhưng có thể
yêu cầu hút tích cực trong một số
trường hợp, có tính đến hình dạng
cơ thể của bệnh nhân.
Ví dụ, nếu vùng cơ gân kheo
bị phình ra khi nhìn từ phía sau,
thì vùng này cần tiến hành hút tích
cực hơn các vùng khác, ngay cả
những vùng có ít độ bám dính và
ít mỡ. Do đó, vùng có độ bám dính
này chỉ nên được ghi nhớ để tham
khảo.
6.1 Chụp ảnh
Hình ảnh cần được chụp
trước và sau từ nhiều góc độ khác
nhau (Hình 6.3). Hình ảnh được
chụp với các bệnh nhân quay góc
45°. Dễ dàng so sánh các bức ảnh
trước và sau khi khoảng cách cỡ
khoảng 20 cm giữa 2 chân.
6.2 Giải thích giải phẫu
theo thiết kế và từng vùng
Các thiết kế cho vùng đùi và mông
thể hiện trong Hình 6.4.
6.2.1 Vùng trước đùi
Đùi trước bao gồm vùng
đầu gối (Hình 6.5). Vẽ thiết kế từ
phần nếp gấp bẹn đến đầu gối.
Trong trường hợp trước đùi, nếu
đánh dấu chia nó thành bốn vùng,
việc mỡ hút thậm chí có thể thực
hiện ở trước đùi này.
6 Hút mỡ đùi và mông
140
Hình. 6.1 Nữ
cao 170 cm,
Nặng 50kg
(2 ảnh)
Hình. 6.2 Vùng có độ bám dính
6 Hút mỡ đùi và mông
141
Hình. 6.3 Các góc độ ảnh (8 ảnh)
