6 Hút mỡ đùi và mông
142
Hình 6.3 tiếp tục
Trong trường hợp trước
đầu gối, da có thể gấp lại phía
trên bắp chân trước và do đó mỡ
dường như phình ra. Sự phồng này
cần được phân biệt rõ ràng là có
liên quan đến mỡ hoặc do da chảy
xệ và nên giải thích trước cho bệnh
nhân. Phải đánh dấu trên thiết kế
ở vùng phồng ở phía trên đầu gối.
Vùng rộng lớn đã đánh dấu
bằng một đường màu đỏ cho thấy
đó là cơ thẳng đùi, là 1 phần của cơ
tứ đầu đùi, là cơ nằm ở hai bên của
phía trước đùi. Vùng nhỏ được
đánh dấu bằng một đường màu
đỏ cho thấy rằng nên có lực hút
tối thiểu ở vùng này, vì nhiều bệnh
nhân có chỗ hõm ở điểm bắt đầu
của cơ này.
Khi thực hiện kiểm tra trên
USG, hầu hết bệnh nhân có độ dày
mỡ trung bình khoảng 1,5 cm. Có
thể được thực hiện phẫu thuật hút
mỡ khi độ dày vượt quá 1,5 cm.
Khi tiến hành hút mỡ ở
trước đùi, mỡ cần được hút từ
6 Hút mỡ đùi và mông
143
vùng giữa đùi là chủ yếu, làm cho
đùi trông bớt phình ra ở phía trước
hơn.
6.2.2 Vùng mặt trong đùi
Cơ tứ đầu đùi là cơ bắt đầu
từ trước đùi đến 2 bên đùi và cơ
này bao gồm cơ thẳng đùi, cơ may
và cơ rộng ngoài. Có một vùng
rỗng (②) giữa cơ khép dài đi về
phía trong của đùi và cơ khép
mông. Vùng này gọi là rãnh trong
đùi hoặc vùng lõm đùi.
Hình. 6.4 Thiết kế
hút mỡ cho vùng đùi
và mông (4 ảnh)
Khi tiến hành hút mỡ ở mặt
trong đùi (Hình 6.6), có thể có sự
bám dính nếu hút quá nhiều ở vùng
giữa đùi và mặt trong của đùi. Nếu
bệnh nhân có một vùng bị lõm đặc
biệt nào đó, thì nên đánh dấu vùng
này bằng những dấu gạch chéo khi
thiết kế.
Nếu đùi nâng lên về phía
trước, thì lượng mỡ ở vùng phía
trên của mặt trong đùi có thể lộ ra.
Vùng trên của mặt trong đùi giữa
thì đánh dấu trong vòng tròn theo
phân bố mỡ (③). Mỡ phình
6 Hút mỡ đùi và mông
144
ra ở trên đùi được nối với vùng
trên của đùi trước.
Vùng phình này không bằng
phẳng. Đây là vùng đại diện khi
đùi bị cong. Ngay cả khi thực hiện
hút toàn bộ lớp mỡ để làm cho
phần trên của mặt trong đùi sẽ
xẹp xuống sau khi hút mỡ (Hình
6.7 và 6.8). Tuy nhiên, nếu hút quá
nhiều mỡ ở lớp nông, sẽ có thể
hình thành các nếp nhăn da. Nếu
chỉ hút mỡ ở lớp sâu, vùng này có
thể bị phồng lên. Do đó, vùng này
là vùng khó hút nhất trong hút mỡ
vùng đùi.
Dự kiến là có nhiều mỡ mặt
trong của đầu gối. Vùng này sẽ
đánh dấu bằng một vòng tròn tùy
thuộc vào sự phân bố mỡ (⑨).
Hình. 6.5 Thiết kế vùng đùi trước.
6.2.3 Mặt sau đùi
Đây là vùng mỡ nằm bên
dưới hông (⑤; khi có quá nhiều
mỡ, trông đùi như quả chuối) và
vùng kheo (bao gồm cả cơ nhị đầu
đùi) nằm bên dưới lớp mỡ đó (⑥).
Các gân ở vùng kheo cần đánh dấu
đầu tiên.
Có thể có một chỗ hõm hoặc
đường viền nằm trong ranh giới
trong như quả chuối này và điều
này cần phải đánh dấu (gạch chéo
giữa ⑤ và ⑥; Hình 6.9).
Trong hầu hết các đùi của
người châu Á, không có nhiều mỡ
trong vùng trông như quả chuối.
Nếu có một lượng lớn mỡ ở đó,
nên hút mỡ ở mức độ vừa phải.
Tuy nhiên, nếu có ít mỡ hoặc mỡ
vừa phải, thì tốt hơn là không tiến
hành hút mỡ ở vùng này.
Nhiều bệnh nhân than
phiền rằng có một lượng lớn mỡ
ở đó. Tuy nhiên, trong hầu hết các
trường hợp, hiện tượng này là suy
nghĩ thoáng qua. Nên giải thích
cho bệnh nhân về lượng mỡ thực
tế trước khi phẫu thuật.
6.2.4 Mặt ngoài đùi
Trong vùng này, thường
được gọi vùng gồ ra như yên ngựa,
có nhiều mỡ nhất và đánh dấu
bằng một vòng tròn (Hình 6.10;
(④). Vùng bên dưới này đánh dấu
là một vòng tròn nhỏ (⑦).
Ở giữa cơ tứ đầu đùi, đó
nằm ở phía ngoài của mặt trước
6 Hút mỡ đùi và mông
145
Hình. 6.7 Trước khi phẫu thuật.
Hình. 6.6
Thiết kế
vùng đùi
trong (2
ảnh)
đùi và phía ngoài của cơ nhị đầu
đùi, nằm ở sau đùi, có một lỗ hõm
đánh dấu bằng một dấu gạch chéo
(①). Nếu thực hiện hút quá mức
ở đây, phía mặt ngoài của đùi sẽ bị
lõm xuống. Điều này nên đánh dấu
thận trọng trên thiết kế.
Khi nâng chân lên, ranh giới
của hai cơ này rõ ràng có thể được
phân biệt với phía ngoài của đùi.
Khi hoàn thành quá trình hút mỡ
đùi phía ngoài đùi, vùng hõm có
dấu gạch chéo sẽ mở rộng ra toàn
bộ mặt ngoài đùi.
Cơ tứ đầu đùi, cơ nằm ở mặt
trước đùi và cơ nhị đầu đùi, cơ
nằm ở mặt sau đùi, là nhìn thấy rõ,
vì mỡ giữa hai cơ này sẽ được hút
ra.
Như thể hiện trong bản vẽ
của tôi, khi bệnh nhân nằm ng
hiêng, vùng được đánh dấu trở
nên cao hơn và có hiện phình ra
giả.
Như thể hiện trong bản vẽ
của tôi (Hình. 6.11 và 6.12), nếu
đùi quay nhiều hơn, hiện tượng
phình giả sẽ nhìn rõ ràng hơn.
6 Hút mỡ đùi và mông
146
Hình. 6.8 Sau phẫu thuật
Hình. 6.9 Thiết kế vùng sau đùi
6.2.5 Vùng nối giữa mông và mặt
ngoài đùi
Trong trường hợp thiết kế
cho mông, mặt ngoài của mông
phải vẽ đánh dấu trước và sau đó
thiết kế vẽ sao cho vùng nhô ra
nhiều nhất phải ở giữa. Một số bác
sĩ hiểu nhầm rằng họ nên hút mỡ
từ một vùng dưới hông đến lớp
mỡ ở nông và do đó tạo thêm dấu
vết tại vùng này. Điều này là rất sai,
và kiểu hút này có thể gây ra mông
chảy xệ.
Khi con người già đi, mông chùng
xuống do trọng lực, như các dây
chằng nghi giữ của Jacque bị thoái
hóa.
Hình dạng đại diện của mông như
thể hiện trong hình 6.13:
(a) Mông và đùi được phân
biệt rõ ràng. Vùng mấu
chuyển của xương đùi trông
sẽ lõm xuống. Hút quá nhiều
mỡ ở vùng này có thể gây ra
hiện tượng lõm xuống
nhiều.
(b) Hai bên của mông kết
nối với mặt bên ngoài của
đùi. Mấu chuyển lớn của
xương đùi trông không lõm.
(c) Những dạng cơ thể như
vậy thì rất khó phân biệt
giữa mông và đùi.
6.3 Vô trùng và vị trí bệnh
nhân trước phẫu thuật
Chuẩn bị cho ca phẫu thuật
hoàn tất ở bệnh nhân trong (Hình
6.14). Bệnh nhân nên được vô
trùng từ vai đến chân bằng cách sử
dụng potadine.
Truyền một đường truyền
tĩnh mạch bảo đảm ở phía mu bàn
tay bệnh nhân. Dịch truyền tĩnh
mạch (tôi chủ yếu sử dụng D /
W 500 mL) trong quá trình phẫu
thuật nên được tiêm dưới
6 Hút mỡ đùi và mông
147
Hình. 6.10 Thiết kế
mặt ngoài đùi (2 ảnh)
Hình. 6.11 Tôi vẽ đùi của bệnh nhân
(Pastel)
Hình. 6.12 Tôi vẽ đùi của bệnh nhân
2 (Pastel)
Hình. 6.13 Cáchình dạng khác nhau của mông (ba ảnh)
6 Hút mỡ đùi và mông
148
Hình. 6.14 Vị trí bệnh nhân trước khi
phẫu thuật
Hình. 6.15 Thiết kế phòng phẫu
thuật
100 ml / giờ.
Dung dịch tumescent đã tự
làm tăng thể tích tuần hoàn. Nên
tránh truyền nước qua đường tĩnh
mạch để làm tăng thể tích tuần
hoàn.
6.4 Thiết kế phòng phẫu thuật
Vị trí các dụng cụ phẫu thuật
nằm trên xe đẩy ở phía bên phải
của bàng mổ (Hình 6.15). Dụng
cụ phẫu thuật, thiết bị hút EVA và
bơm tiêm dung dịch tumescent
nằm ở phía bên trái của bàn mổ.
Cần lưu ý rằng các dụng cụ
phẫu thuật và ống silicon sẽ bị tách
ra khỏi bàn dụng cụ (Hình 6.16).
Cần chuẩn bị thêm ống hút,
săng vô trùng, gạc đã vô trùng, hộp
đựng potadine, mes và kéo.
Hai ống hút có chiều rộng 4
mm và chiều dài 47 cm và một ống
hút dài 52 cm, và một ống hút rộng
3 mm.
6.5 Dung dịch Tumescent
• Nước muối sinh lí 1L + epineph
rine 1.0 A +
30 mL lidoocaine 2%+ bicarbon
ate 10 mL
• Toàn bộ đùi: sử dụng trung bình
3000 mL
• Mông: sử dụng trung bình 500 ->
1000 mL
• Mặt ngoài đùi hoặc mặt trong
đùi: 1500->2000 mL cho mỗi đùi
Hầu như không có chảy
máu trong quá trình hút mỡ đùi.
Sử dụng 1 ống epinephrine là đủ.
Thực hiện tiêm dung dịch tumes
cent 30 phút trước khi phẫu thuật
và cần giữ ấm. Nên tránh vết tên
của điều dưỡng lên chai dung dịch
tumescent để tránh sử dụng nhầm
lẫn với dung dịch nước muối bình
thường.
Hình 6.17 so sánh hai vùng:
(A) một vùng có da trắng hơn do
tiêm dung dịch tumescent vào một
lớp mỡ quá nông. (B) Vùng có da
ít trắng nơi dung dịch tumescent
được tiêm vào đúng cách.
Khi tiêm dung dịch
6 Hút mỡ đùi và mông
149
tumescent vào quá gần da như
trong A, khả năng hút mỡ từ lớp bề
mặt nông sẽ tăng lên và điều này
có thể gây ra sự bất thường của da.
Một số bác sĩ nghĩ rằng sau khi
tiêm dung dịch tumescent thì da
cần phải chuyển sang màu trắng
để sẽ ít chảy máu trong quá trình
hút mỡ. Trong trường hợp (B),
dung dịch tumescent không được
tiêm quá nhiều đến nỗi da phải
chuyển sang màu trắng. Tuy nhiên,
có ít chảy máu và bầm tím.
Không cần phải tiêm dung
dịch tumescent ở lớp quá gần da,
vì hút mỡ nên để lại hơn 5 mm lớp
mỡ dưới da. Lý do chảy máu và
bầm tím trong quá trình hút mỡ là
do khi thực hiện hút mỡ ở những
vùng mà dung dịch tumescent
được tiêm đủ vào lớp mỡ sâu, gần
với cơ (Hình 6.18).
Hình 6.19 cho thấy tiêm dung dịch
tumescent rất gần da. Có thể thấy
rằng da phồng lên ngay lập tức
sau khi tiêm dung dịch tumescent.
Không nên tiêm dung dịch tumes
cent theo cách này.
Hình. 6.16 Dụng cụ phẫu thuật trên
xe đẩy
6.6 Gây mê
Tôi chủ yếu sử dụng thuốc
gây mê cho bệnh nhân ngủ bằng
propofol. Tôi bắt đầu gây mê bằng
ketamine 0,4 mL + propofol 7 ->8
mL. Sau đó, tôi tiêm propofol cách
nhau 4 phút. Có thể tiêm thêm
ketamine 3->5 lần trong khi phẫu
thuật. Tôi không sử dụng thuốc mê
liên tục từ bơm điện propofol.
Các phẫu thuật hút mỡ có
thể thực hiện dưới gây mê toàn
thân. Nếu bệnh nhân không muốn
gây mê toàn thân, thì chúng ta có
thể tiến hành phẫu thuật dưới gây
tê tại chỗ.
Gây mê toàn thân không
nên sử dụng rộng rãi, vì nó có thể
gây chảy máu do hiệu quả tác dụng
co mạch ở các vị trí khác nhau trên
bệnh nhân là không giống nhau
trong khi phẫu thuật. Thuyên tắc
mỡ ở phổi có thể dễ dàng xảy ra
ở đùi khi gây mê toàn thân, mặc
dù đây là một biến chứng hiếm
gặp. Khi thực hiện hút mỡ đùi, nên
tránh gây mê toàn thân
6.7 Vùng vết rạch da
Thực hiện các vết rạch da
tại đường nếp lằn mông, mặt ngoài
mông và ở giữa xương chậu (Hình
6.20 và 6.21). Trong trường hợp
ở vùng đùi trước, nên rạch một
đường bên trong vùng bẹn và bên
ngoài vùng bẹn. Có thể có một số
trường hợp thực hiện vết rạch da
ở phía trong đầu gối. Tôi không
rạch ở phần dưới đùi trong hầu
6 Hút mỡ đùi và mông
150
Hình. 6.17 Thay đổi màu da tùy thuộc vào việc tiêm dung dịch tumescent vào
lớp mỡ (hai ảnh)
Hình. 6.18 Biến chứng khi hút mỡ ở
lớp quá nông gần da.
Hình. 6.19 Da phồng lên sau khi
tiêm dung dịch tumescent
hết các trường hợp.
Kích thước của vùng vết
rạch da khoảng 3 mm là đủ. Khâu
vết rạch da bằng cách sử dụng Ny
lon 5/0 sau khi phẫu thuật (Hình
6.22). Vùng vết rạch da nằm ở
2 bên hông thì hay gây ra biến
chứng. Điều này là do có sự cọ sát
từ việc mặc quần áo.
Trường hợp này cho thấy
vết sẹo quá phát to nhất mà tôi
từng gặp phải trong 15 năm phẫu
thuật. Bệnh nhân này đã hút mỡ
2 năm trước. Vẫn còn một vết sẹo
quá phát rất to ở vùng rạch da 2
bên hông, vết rạch da các vùng
khác thì bình thường (Hình 6.23).
Tôi đã tiến hành một phẫu
thuật để loại bỏ vết sẹo này (Hình
6.24).
6.8 Phương pháp rạch
Dùng mes để thực hiện vết
rạch da dài khoảng 3 mm. Rạch da
và mô dưới da, nằm dưới vết rạch
da, quan trọng hơn kích thước vết
rạch da. Điều này là do ống hút
6 Hút mỡ đùi và mông
151
Hình. 6.20 Vị trí vết mổ ở phía trước đùi và mặt sau đùi (hai ảnh)
Hình. 6.21 Ngày thứ ba sau phẫu thuật. Băng miếng băng gạt lên vùng đã rạch
da (hai ảnh)
Hình. 6.22 Vùng vết rạch da sau khâu (hai ảnh)
6 Hút mỡ đùi và mông
152
Hình. 6.23 Sẹo để lại tại vùng vết rạch da (hai ảnh)
Hình. 6.24 Thực hiện cắt bỏ sẹo
có thể dễ dàng đi qua vết rạch da.
Tôi dùng kéo tách rộng thêm vết
rạch da 3 mm và làm rộng kích
thước vết rạch ở lớp mỡ dưới da.
Tôi khâu vết mổ ngay sau
khi phẫu thuật và để bệnh nhân
mặc quần áo bó ngay lập tức.
Không có nhiều dung dịch tumes
cent còn sót lại bên trong đùi sau
khi phẫu thuật. Vùng đùi thì sẽ ít
chảy máu so với các vùng khác. Do
đó, việc khâu vết mổ ngay lập tức
là điều nên làm. Dung dịch tumes
cent không cần ép vắt ra sau khi
phẫu thuật.
Tôi không khuyến khích phương
pháp ép bimodal đã có từ trước,
đó là dẫn lưu mở bằng cách sử
dụng một miếng băng ép thấm
nước và băng lên vết mổ. Tôi cũng
đã sử dụng băng ép lên phẫu thuật
hút mỡ 15 năm trước. Theo kinh
nghiệm của tôi, tôi có thể nói rằng
có nhiều nhược điểm hơn ưu điểm
trong việc này. Một số bệnh nhân
cảm thấy khó chịu vì chảy quá
nhiều dịch khi về họ nhà và sự bất
tiện của họ và họ sẽ đến phòng
khám một ngày sau khi phẫu thuật.
Bất thường ở da do băng ép cũng
là một trong những nhược điểm.
Một điểm rõ ràng là nó đủ
để khâu vết mổ ngay sau khi phẫu
thuật và mặc quần áo bó với áp lực
vừa phải.
6.9 Quy trình phẫu thuật
6.9.1 Tiêm dung dịch tumescent
Sử dụng phương pháp MDMP
Phương pháp đa hướng đa vị
trí (MDMP) có nghĩa là tôi tiêm dung
dịch tumescent theo nhiều hướng
6 Hút mỡ đùi và mông
153
Hình. 6.25 Tiêm dung dịch tumescent ở mặt ngoài đùi (ba ảnh)
Hình. 6.26 Tiêm dung dịch tumescent đa hướng qua vị trí vết rạch da ở nếp lằn
mông (ba ảnh)
Hình. 6.27 Tiêm dung dịch tumescent ở hông (hai ảnh)
khác nhau và tôi sử dụng nhiều
vị trí phẫu thuật đa dạng để tiêm
dung dịch tumescent.
Điều quan trọng nhất là
tiêm dung dịch tumescent vừa đủ
phải khuếch tán đến lớp mỡ sâu
nhất gần lớp cơ, có thể gây chảy
máu, và nên tránh tiêm dung dịch
tumescent quá gần da.
Trong trường hợp hút mỡ
đùi, có thể hút mỡ màu vàng mà
hầu như không chảy máu ngay sau
khi tiêm dung dịch tumescent, và
lượng dung dịch mỡ hút ra rất nhỏ.
Đầu tiên, tôi tiêm dung dịch
tumescent vào đùi phải. Khi tiêm
dung dịch tumescent vào mặt
ngoài đùi, đầu tiên, dung dịch tu
mescent cần phải tiêm vào vùng
sâu nhất cho đến khi cảm giác như
6 Hút mỡ đùi và mông
154
phát hiện đầu ống tiêm chạm vào
cân cơ (Hình 6.25).
Nếu đầu tiên, tiêm dung
dịch vào lớp mỡ quá nông, thì sau
đó khi tiêm dung dịch vào lớp mỡ
sâu sẽ trở nên khó khăn hơn.
Ở vị trí nằm sấp, mỡ ở mặt
ngoài đùi đi xuống dưới đùi; do đó,
mỡ này cần phải được giữ lại với
nhau và tiêm dung dịch tumescent
vào lớp mỡ này.
Hơn nữa, khi tiêm đủ dung dịch
tumescent thì phải nên tiêm xuống
Hình. 6.28 Tiêm dung dịch tumescent ở đùi trái (sáu ảnh)
tận vùng gần đầu gối. Nếu ống can
nnula để tiêm dung dịch được uốn
cong theo hình dạng đùi, thì dung
dịch tumescent có thể dễ dàng
tiêm vào bề mặt cong, nằm cách da
đều hơn so với sử dụng ống can
nula thẳng.
Đầu tiên, tiêm dung dịch tu
mescent theo nhiều hướng có thể
thông qua vị trí rạch nằm ở phía
ngoài đùi. Sau đó, tiêm dung dịch
tumescent theo tất cả các hướng
từ chéo tới ngang có thể thông qua
6 Hút mỡ đùi và mông
155
vị trí vết rạch da ở nếp lằn mông
(Hình 6.26).
Trong trường hợp mặt
trong đầu gối, vì dung dịch tumes
cent cần phải được tiêm vào lớp
mỡ ở lớp nông, nên dùng các ngón
tay để nhấn lên da.
Trong trường hợp vùng mặt
trên-trong của đùi, tiêm dung dịch
tumescent qua cả hai vị trí vết rạch
da ở nếp lằn mông và mặt ngoài
đùi. Điều này là do lớp mà dung
dịch tumescent cần tiêm vào nằm
trong lớp mỡ trở nên khác nhau
tùy thuộc vào hướng và vị trí đặt
ống cannula, mặc dù thực hiện
tiêm dung dịch ở cùng vùng phía
trên của mặt trong đùi.
Tiêm dung dịch tumescent
qua ba vị trí vết mổ ở hông (Hình
6.27). Đầu tiên, tiêm dung dịch tu
mescent qua mặt ngoài hông. Sau
đó, thực hiện tiêm dung dịch qua
vị trí vết mổ ở bên dưới đường
hông theo hướng theo khớp hông
cả bên trong và bên ngoài hông.
Cuối cùng, tiêm dung dịch
thêm một lần nữa theo hướng tới
vùng gồ lên của đùi thông qua vết
rạch ở giữa khớp hông.
Phần lớn dung dịch tumes
cent cần tiêm vào lớp mỡ giữa vì
30% - 60% lượng mỡ sẽ hút từ
hông.
Tiêm dung dịch tumescent
vào đùi trái bằng phương pháp
tương tự như được sử dụng ở đùi
phải (Hình 6.28). Nếu tổng số dung
dịch tumescent là 3000 ml trong
quá trình hút mỡ ở đùi, thì
2000 mL được tiêm ở vị trí bệnh
nhân nằm sấp.
Tôi tiêm dung dịch tumes
cent vào đùi với tốc độ 380 mL/
phút. Đây là tốc độ tối đa của máy
bơm tiêm dịch hiện có trên thị
trường. Tôi cảm thấy rằng đây là
tốc độ thoải mái nhất. Mỗi bác sĩ
nên tìm một tốc độ tiêm phù hợp
cho mình. Không có tốc độ nào là
đúng.
Nếu tiêm dung dịch tumes
cent ở tốc độ này, tổng thời gian
dành cho việc tiêm dung dịch tu
mescent cho toàn bộ đùi là khoảng
10 phút.
Hai vị trí vết rạch được thực
hiện tại vùng bẹn trong trường
hợp hút vùng đùi trước. Nếu bệnh
nhân cực kỳ béo phì hoặc cao hơn
170 cm và có vùng đùi rất dài, thì
rạch thêm một vị trí vết rạch da ở
phía trong đầu gối.
Thông qua hai vị trí vết rạch
da, tiêm dung dịch tumescent vào
chữ L và theo nhiều hướng khác
nhau (Hình 6.29).
Trong trường hợp mặt
trong và mặt ngoài của đùi, dung
dịch tumescent có thể tiêm ở vụ
trí bệnh nhân nằm sấp. Tuy nhiên,
mỡ cũng lan xuống dưới. Do đó,
cần phải tiêm thêm dung dịch tu
mescent.
Trong trường hợp đặc biệt ở mặt
trong đầu gối, dung dịch tumes
cent cần được tiêm bằng cách sử
dụng hai vị trí vết rạch da tại vùng
bẹn để tiêm dung dịch tumescent
khắp toàn bộ lớp mỡ (Hình 6.30).
6 Hút mỡ đùi và mông
156
Hình. 6.29 Tiêm dung dịch tumescent vào trước đùi (chín ảnh)
Hình. 6.30 Tiêm dung dịch tumes
cent ở các vị trí khác nhau
Nếu đùi đổ lan ra ngoài, thì
mặt trong của đùi trở nên phẳng.
Ngoài ra, dung dịch tumescent có
thể được tiêm vào lớp sâu của đùi
trong thông qua vị trí vết mổ này.
Thời gian trung bình thực hiện để
tiêm 1000 ml dung dịch tumescent
vào đùi trước là dưới 5 phút.
Điều này cho thấy việc tiêm
dung dịch tumescent đã kết thúc
(Hình 6.31). Da không trở nên
trắng.
Điều này có nghĩa là dung
dịch tumescent không được tiêm
quá gần da. Có thể phải tránh hút
mỡ ở lớp quá gần da.
6 Hút mỡ đùi và mông
157
Hình. 6.31 Hoàn thành tiêm dung dịch tumescent (hai ảnh)
Hình ảnh 6.32 Hút mỡ ở đùi bên
Hình. 6.33 Hút mỡ bằng cách giữ mỡ
chảy xệ cùng nhau
6.9.2 Hút mỡ bằng phương pháp
MDMP
Một nguyên tắc chính của
hút mỡ là thực hiện thao tác thay
đổi bệnh nhân nhiều vị trí và bằng
cách sử dụng các hướng khác
nhau, có nghĩa là sử dụng phương
pháp MDMP.
Hầu như không có chảy
máu, ngay cả khi việc thực hiện
hút mỡ từ lớp mỡ sâu do việc tiêm
dung dịch tumescent đã được thực
hiện vào lớp sâu trước đó. Nó là
tốt để hút mỡ từ lớp mỡ sâu trong
trường hợp ở vùng đùi.
Nhiều bác sĩ hỏi tôi có nên
bắt đầu hút mỡ bắt đầu ở xa vị trí
vết mổ hoặc gần vị trí vết mổ hơn
không. Không có câu trả lời đúng.
Thứ tự của việc hút nên
được đặt trước để rút ngắn thời
gian phẫu thuật.
Trong trường hợp hút mỡ ở
mặt ngoài đùi (Hình 6.32), tôi bắt
đầu hút từ vùng gần hơn vị trí vết
mổ, sau đó di chuyển ống cannula
đến vùng xa nhất ngay lập tức,
thực hiện hút một cách mềm mại.
Sau đó, tôi tiến hành hút theo
hướng ngược chiều kim đồng hồ,
tiến hành hút đến vùng gần hơn.
6 Hút mỡ đùi và mông
158
Để quyết định khi nào kết thúc việc
hút ở mặt ngoài đùi, nên nhận biết
được cảm giác là mỡ đã được đi
vào ống hút. Nếu vùng đùi gồ lên,
đó là vùng có nhiều mỡ nhất và sẽ
biến mất sau khi hút, và nếu tạo ra
vùng hõm ở giữa cơ tứ đầu đùi ở
phía ngoài của mặt trước đùi và cơ
nhị đầu đùi ở mặt sau đùi sẽ nhìn
thấy gồ lên, sau đó thì kết thúc việc
hút mỡ.
Rất tốt để hút mỡ bằng cách giữ
mỡ chảy xệ cùng nhau khi mỡ bị
sa xuống dưới (Hình 6.33).
Khi hút ở vùng mặt sau đùi
bao gồm cả vùng gân kheo, rất tốt
là cố định da (Hình 6.34). Nếu da
không cố định bằng lòng bàn tay,
có thể có sự bất thường nhấp nhô
trên da khi ống hút đi qua.
Có ít mỡ trong vùng gân
kheo hơn trong vùng nhô lên như
quả chuối. Hút càng nhiều mỡ
càng tốt trong vùng này để tránh
sự xuất hiện phình ra sau hút mỡ.
Vùng đùi gần đầu gối có ít
mỡ hơn và vùng này cần ấn bằng
ngón tay để dẫn truyền lực hút của
lớp mỡ nông (Hình 6.35).
Có nhiều bệnh nhân có một
lượng lớn mỡ ở mặt trong đầu gối
(Hình 6.36). Đây cũng là một vùng
lộ nhiều ra bên ngoài; do đó,
Hình. 6.34 Hút mỡ sau khi cố định da
Hình. 6.35 Hút mỡ toàn bộ mặt ngoài đùi
Hình. 6.36 Hút mỡ mặt trong gối (hai ảnh)
6 Hút mỡ đùi và mông
159
cần phải thực hiện hút mức độ
tối đa ở đây. Có thể thực hiện hút
hết mỡ thông qua vị trí vết mổ tại
đường nếp lằn mông ở phía sau
đùi và vị trí vết mổ ở vùng bẹn của
vùng trước đùi.
Trong trường hợp phía
trong đùi, ngay cả cần tiến hành
ở việc hút mỡ tư thế bệnh nhân
nằm ngửa, nằm sấp và nằm nghiên
(Hình 6.37).
Không nên thực hiện hút
mỡ quá nhiều tại một vị trí. Mỡ
nên được hút ra khi xem xét lớp
mỡ bị sưng lên do tiêm dung dịch
tumescent.
Có thể có dính trên da và các
nếp nhăn da sau phẫu thuật nếu
hút mỡ ở lớp quá nông.
Cũng có thể có sự chảy xệ
của mông, làm sâu hơn nếp gấp
mông hiện có và hình thành nếp
gấp mới mới sau khi hút mỡ.
Nên tránh hút mỡ ở một lớp
quá nông hoặc hút quá nhiều ở
vùng hình quả chuối để tránh các
biến chứng nêu trên.
Tiến hành hút mỡ ở mông
có xem xét các hình dạng và khối
lượng của mông mà bệnh nhân
mong muốn. Nhiều bệnh nhân hài
lòng khi thực hiện hút vừa phải ở
phía ngoài hông (Hình 6.38).
Có nhiều hình dạng của
mông: Mặt ngoài mông có thể kết
nối với vùng gồ lên của đùi. Xương
chậu rộng lớn ở hai bên. Các mặt
ngoài của hông bị chùng xuống,
làm cho vùng gồ lên của đùi xuất
hiện chảy xệ do làm suy yếu độ đàn
hồi của da ở mông và đùi.
Trong những trường hợp
này, nên hút đủ lượng mỡ phình
ra nối giữa mông và phần phình
ra của đùi. Hút mỡ từ giữa xương
hông theo hướng tới vùng gồ ra
của đùi cũng là một phương pháp
tốt.
Tôi khuyên bệnh nhân nên
mặc quần áo bó chặt sau phẫu
thuật nếu độ đàn hồi của da không
tốt.
Khi hút mỡ ở vùng gồ ra của
đùi, nếu bác sĩ thực hiện thao tác
quay trở lại phía đối diện để tiếp
tục hút, thì có thể tạo ra một đường
đùi mượt mà hơn (Hình 6.39).
Điều này là do vị trí đầu tiên của
ống hút bên trong lớp mỡ có thể
khác nhau tùy thuộc vào hướng
đi của ống cannula. Do đó, có thể
thực hiện hút mỡ ở những vùng
mà việc hút mỡ chưa hoàn thành
trước đó.
Cần thực hiện việc hút bổ
sung từ vị trí bệnh nhân nằm sấp
ở mặt ngoài trước đó đã hút ở vị
trí nằm ngửa (Hình 6.40).
Trong trường hợp các mặt
ngoài của đùi trước ở tư thế bệnh
nhân nằm ngửa, phần cuối của ống
hút có thể di chuyển về phía bề mặt
da, gây ra hút mỡ ở một lớp quá
nông (Hình 6.41). Điều này có thể
gây ra sự bất thường nhẹ ở vùng
này sau đó; do đó, cần hết sức cẩn
thận trong vùng này (Hình 6.42).
Có nhiều nếp gấp ở trước
đầu gối khi da chùng xuống (Hình
6.43). Tìm ra nó và hút một lượng
6 Hút mỡ đùi và mông
160
mỡ vừa phải là tốt nhất. Trong hầu
hết các trường hợp, vùng phía trên
của mặt trước đầu gối có xu hướng
bị lõm xuống. Do đó, cần chú ý
rằng lỗ lõm này không được gây ra
thêm sau khi hút.
Trong trường hợp vùng đùi
trong, thực hiện việc hút mỡ cần
phải thông qua hai vị trí vết rạch
tại vùng bẹn (Hình 6.44). Đây là
vùng khó khăn nhất để hút mỡ
trong đùi. Tùy thuộc vào độ đàn
hồi của da, có thể xuất hiện phồng
lên hoặc xẹp xuống tạo nếp nhăn
nhỏ có thể hình thành sau khi hút
mỡ.
Vùng này là vùng cong nhất đại
diện ở đùi. Nhiều vị trí hút là cần
thiết, vì việc thực hiện hút mỡ ở
bề mặt cong (Hình 6.45). Nếu hai
chân bệnh nhân nằm nghiêng sang
một bên hoặc bệnh nhân nằm ở tư
thế nằm nghiên, thì mặt trong của
đùi trở thành một mặt phẳng, cho
phép hút dễ dàng hơn.
Trong trường hợp phí trong
đùi, có thể hút mỡ bằng cách bóp
mỡ lại bằng các ngón tay. Nếu da
được nâng lên, thì bác sĩ phẫu
thuật có thể cảm nhận được lượng
mỡ còn lại.
Đôi khi, tôi hút mỡ bằng
cách xoay người bệnh sang một
bên. Khi có một lượng mỡ lớn ở
vùng gồ lên của đùi, tôi tạo dáng
cho bệnh nhân theo cách này
(Hình 6.46).
Hình 6.47 cho thấy hút
thêm ở vùng dưới của mặt ngoài
đùi bằng cách xoay bệnh nhân
sang nằm nghiêng.
Hình 6.48 cho thấy mỡ được
hút. Hút lượng dịch màu đỏ là nhỏ,
và chủ yếu là hút mỡ màu vàng.
Hình. 6.37 Hút mỡ mặt trong đùi
Hình. 6.38 Hút mỡ ở hông (2 ảnh)
6 Hút mỡ đùi và mông
161
Hình. 6.39 Hút mỡ vùng gồ lên của
đùi
Hình. 6.40 Hút mỡ mặt ngoài đùi khi
bệnh nhân nằm ngửa
Hình. 6.41 Hút mỡ mặt trước đùi
Hình. 6.42 Hút mỡ mặt trong gối khi
bệnh nhân nằm ngửa
Hình. 6.43 Hút mỡ mặt trước đùi bên
dưới gối
6.10 Mặc quần áo sau phẫu thuật
Hình 6.49 và 6.50 cho thấy
chỉ khâu là chỉ nylon 5.0. Băng ép
hút nước trên vết mổ và cố định
bằng băng keo.
Trong trường hợp phần bên
trong của đùi, khi bệnh nhân mặc
quần áo bó, điều này có thể không
ép chặt hoàn toàn với vùng bẹn,
khiến da cuộn lên. Vùng này có thể
phình ra. Hơn nữa, ở những bệnh
nhân có độ đàn hồi da yếu, da có
thể bị chảy xệ; do đó, phải dùng
băng thun trước và sau đó nên
mặc quần áo bó ép chặt hoặc dẫn
lưu mở với băng ép là không cần
thiết. Nó là đủ để mặc quần áo bó
6 Hút mỡ đùi và mông
162
Hình. 6.44 Nhiều vị trí hút mỡ mặt trong đùi (3 ảnh)
Hình. 6.45 Nhiều vị trí hút mỡ ở mặt trong đùi (2 ảnh)
Hình. 6.46 Hút mỡ vùng gồ lên nhất
ở mặt ngoài đùi
Hình. 6.47 Hút mỡ vùng bên dưới-ngoài
của đùi khi bệnh nhân nằm nghiêng
Hình. 6.48 Hút mỡ
6 Hút mỡ đùi và mông
163
Hình. 6.49 Đùi thẳng hơn sau khi
hút mỡ và băng lại
Hình. 6.50 Bệnh nhân được băng các
băng dán sau phẫu thuật
Nếu dùng bột phấn trẻ em
cho bệnh nhân trước khi mặc quần
áo bó, nó sẽ giúp ngăn ngừa tổn
thương da và làm cho dễ dàng hơn
để mặc vào.
Sau khi hút mỡ đúng cách và vừa
phải, các lớp mỡ có thể bị sưng lên
với dung dịch tumescent, nhưng
không quá nhiều. Do đó, băng
ép chặt hoặc dẫn lưu mở với băng
ép là không cần thiết. Nó là đủ để
mặc quần áo bó ngay sau khi phẫu
thuật.
Hiệu quả của quần áo bó
có thể kéo dài khi kích thước của
quần áo bó giảm đi trong 2->3
tuần.
Mặc quần áo bó trong một
tháng có thể cho kết quả khả quan.
Hình 6.51 cho thấy một bệnh nhân
mặc quần áo bó. Quần cần phải
kéo lên xuống để tránh đường gấp
sẽ hình thành bên dưới mông.
6.11 Sử dụng EVA
Một số bác sĩ sử dụng thiết
bị hút mỡ EVA thực hiện các thao
tác với công suất rung 3.0. Trong
một vài trường hợp, tiến hành các
phẫu thuật hút mỡ với công suất
cỡ 2.5.
Chọn công suất rung tùy
thuộc vào từng cá nhân. Họ có thể
chọn nó theo sở thích của họ. Tôi
thích sử dụng độ rung động mạnh
cỡ 4.0, lực hút -0.8 và đường kính
cannula là 4 mm.
Điều này có thể thực hiện
khi bác sĩ phẫu thuật đã quen với
độ rung động mạnh của EVA khi sử
dụng thiết bị này trong một thời
gian dài.
Thời gian hút mỡ trung bình
cho cả đùi sử dụng EVA là khoảng
1 h.
6 Hút mỡ đùi và mông
164
Hình. 6.51
Bệnh nhân mặt
quần áo bó sát
sau phẫu thuật
(2 ảnh)
Hình. 6.52 Ngày thứ 3 sau phẫu
thuật
6.12 Xử lý hậu phẫu
1. Mặc quần áo: vào ngày thứ ba
2. Cắt chỉ: vào ngày thứ bảy
3. Sau 1 tuần: dùng siêu âm hội tụ
4. Sau 2 tuần: Dùng máy điều trị
săn chắt da
5. Sau 3 tuần: có thể dùng thêm
(RF) 3 cực + kích hoạt cơ với tần
số thấp.
Tôi cho bệnh nhân dùng sáu buổi
xử lý sau phẫu thuật. Quản lý RF
lưỡng cực đang sử dụng nhiệt
sâu ở 42 ->44°C. Nếu áp dụng cho
những vùng da bị cứng sau hút
mỡ, bệnh nhân có thể cảm thấy
thoải mái, nhưng độ cứng trở nên
tồi tệ hơn. Đây là lý do tại sao tôi
không khuyên bạn nên dùng RF
lưỡng cực.
Siêu âm hội tụ xuống sâu
đến 10 cm trong lớp mỡ, giúp phục
hồi độ cứng sau khi hút mỡ.
Bí quyết điều trị săn chắc da
là cảm giác đau có thể giảm bằng
cách giữ da ở một đầu và bắt đầu
điều trị ở phía đối diện.
Bác sĩ phẫu thuật có thể cảm
thấy sự hữu ích của điều trị thêm
sau phẫu thuật nếu anh ta hoặc cô
ta thực sự quan tâm điều trị đến
bệnh nhân (Hình 6.52).
6 Hút mỡ đùi và mông
165
6.13 Thời gian thực hiện
• Thời gian truyền dung dịch tu
mescent: 10 - 20 phút cho toàn bộ
đùi
• Thời gian hút mỡ: 60 phút cho
toàn bộ đùi
• Thời gian hút mỡ ở phía ngoài
đùi bao gồm vùng gồ lên: 20 phút
6.14 Số lượng hút mỡ
Trong trường hợp bệnh
nhân có chiều cao 160 cm và nặng
60 kg, lượng mỡ trung bình là
2500->3000 mL.
Độ dày mỡ trung bình khi đo
bằng siêu âm USG:
1. Vùng có nhiều mỡ nhất ở phía
ngoài đùi: 4.0 -5.0 cm
2. Vùng dưới-ngoài đùi: 2,0 cm
3. Phía trong đùi (đo từ phía sau):
2,5 cm
4. Phía trước đùi: 1,5 cm
Tôi đo độ dày mỡ của bốn
vùng này bằng siêu âm USG, và
giải thích cho bệnh nhân về lượng
mỡ dự kiến sẽ hút và chu vi đùi sẽ
giảm đi.
Nếu lượng mỡ hút trung
bình là 2500->3000 mL, thì chu vi
của đùi sẽ giảm trung bình là 2 ->3
in. tại vùng to nhất của đùi
Lượng mỡ hút tối đa từ đùi
và mông mà tôi thu được là 12.000
mL từ một phụ nữ nặng 120 kg.
Có thể có trường hợp lượng hút từ
toàn bộ vùng đùi dưới 1000 mL.
Trong trường hợp này, nếu bác sĩ
phẫu thuật giải thích đầy đủ cho
bệnh nhân về kết quả mong đợi
của ca phẫu thuật, thì bệnh nhân
cũng có thể hài lòng với ca phẫu
thuật.
Hình. 6.53 Bất thường nghiêm trọng
ở mặt ngoài đùi
Hình. 6.54 Dính da do bị hút mỡ quá
nhiều.
6 Hút mỡ đùi và mông
166
6.15 Biến chứng thẩm mỹ của
hút mỡ
Trường hợp 1 Có sự bất
cân xứng nghiêm trọng giữa đùi
bên trái và đùi bên phải (Hình
6.53). Trong trường hợp đùi phải,
đã tiến hành hút ra một lượng mỡ
tương đối lớn ở vùng gồ lên của
đùi, dẫn đến xuất hiện phình ra ở
2 bên mông và vùng kheo. Đây có
thể là một trường hợp phải phẫu
thuật lại.
Trường hợp 2 Thực hiện
mút mỡ quá nhiều ở toàn bộ đùi,
gây ra dính da xuống dưới. Trường
hợp này thì không thể mổ lại.
Vùng hình quả chuối dưới
mông cho thấy nhiều đường
đã hình thành sau khi hút mỡ
quá nhiều (Hình 6.54). Không
có phương pháp để điều trị cho
những trường hợp như thế này. Có
sự mất cân bằng giữa đùi và mông,
vì ở mông không thực hiện hút mỡ.
Trường hợp 3 Trường hợp
này cho thấy hút quá nhiều mỡ và
hút không đều ở vùng gồ lên nhất
của đùi (Hình 6.55). Đo độ dày
mỡ bằng siwwu âm USG cho một
vùng phía trên chỗ hõm là 3,15
cm và đối với vùng bị lõm là 1,42
cm (Hình 6.56). Do đó, vùng kheo
dường như bị phình ra.
Trường hợp 4 Khi đo độ
dày mỡ bằng USG thì bên trái nhỏ
hơn 1,0 cm ở một số vùng. Hình
6.57 và 6.58 cho thấy biến chứng
hút mỡ rất xấu: tăng sắc tố da,
đường dưới mông rất xấu,
mông không đối xứng và dính da
trên toàn bộ đùi. Không thể mổ lại
trường hợp này.
Trường hợp 5 Một số
đường hình thành bên dưới mông
hoặc hình thành nhiều đường xấu
(Hình 6.59).
6.16 Ảnh trước và sau phẫu
thuật
Trường hợp 1 Phụ nữ
27 tuổi, lượng mỡ hút: 2500 mL,
trước và sau phẫu thuật 6 tuần
(Hình 6.60).
Đùi trái, kích thước trước phẫu
thuật: 59/55/42, kích thước sau
phẫu thuật: 52/48 / 39,5.
Trường hợp 2 Phụ nữ 21
tuổi, số lượng mỡ hút: 3800 ml,
trước và sau phẫu thuật 6 tuần
(Hình 6.61).
Đùi trái, kích thước trước phẫu
thuật: 62/55/44, kích thước sau
phẫu thuật: 55 / 49,5 / 39,5.
Trường hợp 3 Phụ nữ
29 tuổi, lượng mỡ hút: 3500 mL,
trước và sau phẫu thuật 7 tuần
(Hình 6.62).
Đùi trái, kích thước trước phẫu
thuật: 57,5 / 52 / 41,5, kích thước
sau phẫu thuật: 51 / 44,5 / 37,5.
Trường hợp 4 Phụ nữ 29
tuổi, lượng mỡ hút: 12.000 mL,
trước và sau khi hút mỡ ở đùi và
mông (Hình 6.63).
6 Hút mỡ đùi và mông
167
Hình. 6.55 Hút không đều và quá nhiều ở mặt ngoài đùi (2 ảnh)
Hình. 6.56 Hình ảnh siêu âm (2 ảnh)
Hình. 6.57 Bất thường nghiêm trọng và da bị dính với tăng sắc tố (ba ảnh)
6 Hút mỡ đùi và mông
168
Hình. 6.58 Hình ảnh siêu âm
Hình. 6.59 Nhiều đường bên dưới mông hay hình thành nhiều đường không
đẹp.
6 Hút mỡ đùi và mông
169
Hình. 6.60 6 tuần sau phẫu thuật (6 ảnh)
6 Hút mỡ đùi và mông
170
Hình. 6.61 6 tuần sau phẫu thuật (6 ảnh)
6 Hút mỡ đùi và mông
171
Hình. 6.62 7 tuần sau phẫu thuật (6 ảnh)
6 Hút mỡ đùi và mông
172
Hình. 6.63 4 tuần sau phẫu thuật (4 ảnh)
7 Hút mỡ cẳng chân
173
Hút mỡ cẳng chân
7
Mức độ hài lòng của hút
mỡ cẳng chân thấp hơn so với các
vùng khác vì cẳng chân có lượng
mỡ ít hơn so với lượng cơ bắp.
Trong hầu hết các trường
hợp, ở cẳng chân có một lượng
mỡ nhỏ. Tuy nhiên, nhiều phụ nữ
vẫn muốn phẫu thuật hút mỡ cẳng
chân vì họ muốn cẳng chân và mắt
cá chân nhìn thon thả hơn.
Tác giả không khuyến khích
hút mỡ cẳng chân đơn thuần vì
hai chân dường như nằm trên một
đường thẳng và cẳng chân cũng
trông thon hơn nếu bệnh nhân hút
mỡ đùi.
Chỉ định cho phẫu thuật hút
mỡ cẳng chân thì phải tìm hiểu
mức độ phát triển của cấu trúc cơ
xương của bắp chân, vì mức độ hài
lòng có thể thấp sau khi hút mỡ
nếu cấu trúc cơ xương quá phát
triển, mặc dù có mỡ ở bắp chân.
Tôi đo độ dày mỡ ở cẳng
chân bằng siêu âm (USG). Tôi cân
nhắc thực hiện hút mỡ cẳng chân
nếu độ dày mỡ hơn 1,2 cm ở vùng
có nhiều mỡ nhất khi bệnh nhân
đứng và độ dày mỡ nếu hơn 1,5 cm
trong tư thế nằm khi đó cơ cẳng
chân căng cứng.
Tôi không thấy bất kỳ
trường hợp nào mà cơ tam đầu
cẳng chân ở phía sau cẳng chân và
cơ 2 cơ mác ở mặt ngoài cẳng chân
phát triển thì có thể hút mỡ thành
công.
Trong trường hợp bệnh
nhân có cơ cẳng chân phát triển,
tôi thường tiến hành cắt thần kinh
chọn lọc có xâm lấn chi phối cơ
này. Nhưng bây giờ, tôi dùng chích
botox để giảm sự phát triển của cơ
này.
Biến chứng thẩm mỹ lớn
nhất của hút mỡ cẳng chân là vết
sẹo để lại tại vị trí vết mổ vì vị trí
vết mổ nằm ở vùng nhìn thấy.
Khi thực hiện hút mỡ cẳng
chân, mỡ có thể được hút từ toàn
bộ bắp chân, ngoại trừ mặt trước
của cẳng chân với mắt cá chân
hoặc từ mắt cá chân.
Trong trường hợp hút mỡ
mắt cá chân, bạn cần tiến hành hút
từ phía mặt ngoài của gân Achilles
đến một vùng bên dưới-trong của
cơ tam đầu cẳng chân, tạo ra một
đường tự nhiên.
7 Hút mỡ cẳng chân
174
7.1 Ảnh trước phẫu thuật
Hình ảnh, chụp xoay bệnh
nhân 45° và bệnh nhân đứng trên
đầu các ngón chân (Hình 7.1).
Hình.7.1 Chụp ảnh trước phẫu thuật (8 ảnh)
7 Hút mỡ cẳng chân
175
Hình.7.1 (tiếp tục)
7 Hút mỡ cẳng chân
176
7.2 Thiết kế
Thiết kế để tiến hành hút
trong toàn bộ cẳng chân ngoại trừ
cẳng chân trước cẳng chân và mắt
cá chân (Hình 7.2).
Khi chỉ hút mắt cá chân,
thực hiện hút ở vùng đã đánh dấu
là phía mặt ngoài của mắt cá chân.
7.3 Gây mê
Gây mê để hút mỡ vùng bắp
chân, tôi sử dụng thuốc gây mê cho
bệnh nhân ngủ bằng propofol.
Ở giai đoạn đầu của gây mê
cho bệnh nhân ngủ, tôi bắt đầu
bằng cách sử dụng ketamine 0,4
mL + propofol 7 ->8 mL.
Propofol được tiêm xen kẽ
cách nhau 4 phút.
Hình.7.2 Thiết kế trước phẫu thuật (sáu ảnh)
7 Hút mỡ cẳng chân
177
Hình.7.2 (tt)
7.4 Vô trùng
Toàn bộ chân được vô trùng
bao gồm cả đùi và ngón chân bằng
potadine. Trong trường hợp bàn
chân có thể mang tất vô trùng.
7.5 Vị trí vết mổ
Cần phải có hai vị trí vết
rạch ở phía sau bắp chân. Ở mắt cá
chân, hai vết mổ có thể nằm ở cả
hai bên của mắt cá chân, hoặc một
vết mổ có thể nằm gần gân Achilles
tùy thuộc vào hình dạng của mắt
cá chân (Hình 7.3).
Nếu một vết rạch da bổ sung
nằm ở phần phình ra nhất của bắp
chân, việc hút mỡ bắp chân có thể
thực hiện dễ dàng hơn. Tuy nhiên,
tôi không rạch ở vùng này, vì vết
mổ sẽ lộ ra và thu hút sự chú ý.
7.6 Quy trình phẫu thuật
7.6.1 Dung dịch Tumescent
Thành phần của dung dịch Tumes
cent như sau:
• Nước muối sinh lí 1L + epineph
rine 1.0A +
30 mL lidocaine2%+ bicarbonate
10 ml
• Toàn bộ bắp chân: tiêm khoảng
1500 ml dung dịch tumescent
• Mắt cá chân: tiêm khoảng 500 ml
dung dịch tumescent.
Vì cẳng chân có mỡ ít, nếu
tiêm đủ dung dịch tumescent, thì
nó sẽ đi vào toàn bộ lớp mỡ.
Không giống như vùng đùi,
màu da của cẳng chân có thể trở
nên trắng hơn sau khi tiêm dung
dịch tumescent.
Nếu sử dụng ống cannula
cong để tiêm dụng dịch Tumes
cent thì có thể dễ dàng để tiêm vào
bắp chân.
7 Hút mỡ cẳng chân
178
Hình.7.3 Các vị trí
vết mổ (2 ảnh)
7.6.2 Sử dụng thiết bị siêu âm phân
giải mỡ
Khi chỉ thực hiện hút mỡ
ở mắt cá chân, thì thực hiện hút
mỡ khá dễ dàng với sự trợ giúp
của thiết bị siêu âm (ULTRA-Z). Sử
dụng ULTRA-Z trong ít hơn 5 phút
là đủ để hút vùng mắt cá chân.
7.6.3 Sử dụng EVA
Trong trường hợp ở bắp
chân, tôi thích sử dụng ống cannu
la khá mỏng với chiều rộng 3 mm.
Tốt nhất là sử dụng một ống can
nula ngắn hơn 30 cm.
Nên tránh hút quá nhiều, vì
có thể xảy ra da sẽ bám dính vào
ống hút do vùng này ít mỡ.
Trong trường hợp vùng
cẳng chân có nhiều mỡ, tôi đã
từng hút 2700 ml. Tuy nhiên, bình
thường không dễ để hút hơn 500
mL.
7.7 Quản lý sau khi phẫu thuật
1. Mặc quần áo: vào ngày thứ ba
2. Cắt chỉ: vào ngày thứ bảy
3. Sau 1 tuần: dùng siêu âm hội tụ
4. Sau 2 tuần: điều trị thêm săn
chắc da
5. Sau 3 tuần: có thể dùng thêm
tần số vô tuyến (RF) ba cực + và
kích hoạt tần số thấp (DMA)
7.8 Biến chứng
1. Không hài lòng với việc hút mỡ
chưa hết
2. Không hài lòng với kết quả ngay
cả khi hút hết mỡ
3. Tụ dịch, tụ máu hiếm xảy ra
4. Bầm tím có thể xảy ra
5. Gây tổn thương thần kinh
6. Không đối xứng
7. Vết sẹo
8. Da không đều, trong trường
hợp bắp chân, thực hiện việc hút
ở lớp mỡ quá nông. Do đó, cần hết
7 Hút mỡ cẳng chân
179
sức cẩn thận vì có thể xảy ra tình
trạng da bất thường.
7.9 Các trường hợp
Trường hợp 1 Ảnh trước và sau
phẫu thuật Hình 7.4.
Trường hợp 2 Ảnh trước và sau
phẫu thuật Hình 7.5.
Hình. 7.4 Thiết kế
trước phẫu thuật
và bệnh nhân sau
phẫu thuật (12
ảnh)
7 Hút mỡ cẳng chân
180
Hình 7.4 tiếp tục
7 Hút mỡ cẳng chân
181
Hình.7.5 Thiết kế trước phẫu thuật và bệnh nhân sau phẫu thuật (6 ảnh)
182
8 Hút mỡ ở vùng vú phụ
Hút mỡ ở vùng vú phụ
8
Tỷ lệ lưu hành của bệnh vú
phụ ở nách là 2 ->6%. Tuyến vú
phụ cần phải được loại bỏ, vì có
thể bị phồng tại chỗ và gây đau
hiếm khi xảy ra.
Loại bỏ vú phụ có thể loại
bỏ tỷ lệ ung thư biểu mô và u xơ
tuyến vú, xảy ra ở tuyến vú phụ.
Vú phụ ở nách và sự tích tụ
mỡ ở nách thì rất khó phân biệt rõ
ràng.
Đọc dưới siêu âm (USG) bởi
các chuyên gia vú và bác sĩ chẩn
đoán X quang là rất quan trọng.
Hình 8.1 thì siêu âm cho thấy độ
dày của mỡ là 0,52 cm và nhu mô
vú là 1,12 cm.
Đây là một phụ nữ 45 tuổi
có bộ ngực phụ bị nhô ra nhiều
hơn sau khi sinh. Có một núm vú
phụ đi kèm.
Tôi đã tiến hành hút mỡ
bằng cách sử dụng ULTRA-Z và độ
rung cực mạnh (EVA). Tôi đã tiến
hành phẫu thuật cắt bỏ núm vú
phụ (Hình. 8.2 và 8.3).
Trong các phòng khám, vú
phụ ở nách có thể được phân loại
và điều trị bằng các phương pháp
tương tự như đối với vú to ở nam.
Hình.8.1 Kiểm tra siêu âm cho thấy
độ dày mỡ là 0,52 cm và nhu mô vú là
1,12 cm
Hình.8.2 Trước phẫu thuật
183
8 Hút mỡ ở vùng vú phụ
Hình.8.3 2 tuần sau phẫu thuật
Hình.8.4 Tuyến vú phụ hình thành bỡi
tổ chức nhu mô tuyến vú
Hình.8.5 Vú phụ hình thành bỡi cả
nhu mô tuyến vú và tổ chức mỡ.
Hình.8.6 Vú phụ giả là do thừa
nhiều mỡ vùng nách mà không có
nhu mô tuyến vú.
8.1 Phân loại vú phụ ở nách
8.1.1 Vú phụ ở nách hình thành do
sự phát triển của nhu mô tuyến vú.
Hình8.4 cho thấy nhu mô tuyến vú
phụ.
8.1.2 Vú phụ hình thành có cả nhu
mô vú và tổ chức mỡ.
Hình 8.5 cho thấy nhu mô tuyến vú
phụ và tổ chức mỡ.
8.1.3 Hiểu sai vú phụ giả vì thừa
nhiều mỡ dưới ULTRA-Z and EVA:
Vùng nách không có nhu mô tuyến
vú.
Hình 8.6 cho thấy tổ chức vú phụ
giả với tổ chức mỡ thừa.
184
8 Hút mỡ ở vùng vú phụ
8.1.4 Vú phụ 1 bên nách
Hình 8.7cho thấy tổ chức vú phụ ở
1 bên.
8.1.5 Vú phụ với núm vú phụ
Hình 8.8 cho thấy vú phụ có núm
vú.
8.1.6 Hơn 2 vú phụ ở 1 bên nách
Hình 8.9 cho thấy nhiều vú phụ
Hình.8.7 Vú phụ ở 1 bên
Hình.8.8 Vú phụ có cả núm vú
Hình.8.9 Nhiều vú phụ
8.2 Trường hợp nhiều loại vú
phụ
Hình8.10 cho thấy nhiều loại vú
phụ.
8.3 Điều trị
8.3.1 Phẫu thuật cắt bỏ
Phương pháp này có thể gây
ra sẹo nghiêm trọng. Nếu vú phụ
nằm ở dưới nách, có thể để lại vết
sẹo khoảng 10 cm. Thời gian phẫu
thuật để lấy bỏ cả hai vú phụ ở
nách là khoảng 1 giờ, khá dài.
8.3.2 Chọc hút làm giải phẫu bệnh
Một vú phụ nhỏ có thể được
loại bỏ rất đơn giản bằng cách sử
dụng dụng cụ chọc hút. Khi vú phụ
lớn, không dễ dàng để loại bỏ nó
hoàn toàn bằng cách sử dụng dụng
cụ chọc hút.
Nếu da bị chảy xệ tại chỗ vì
một vú phụ, thì có thể sẽ trông da
185
8 Hút mỡ ở vùng vú phụ
chảy xệ hơn sau khi loại bỏ vú phụ
bằng cách sử dụng dụng cụ chọc
hút.
Hình.8.10 Nhiều trường hợp vú phụ (6 ảnh)
8.3.3 Phương pháp hút mỡ
Phương pháp này bao gồm
tiêm dung dịch tumescent, phân
giải nhu mô vú bằng thiết bị siêu
âm nhũ hóa mỡ hoặc laser diode
và hút cả mô mỡ và nhu mô vú ra
ngoài cùng lúc bằng thiết bị hút
mỡ.
Phương pháp này hiện đang
được sử dụng bởi hầu hết các
phòng khám. Tôi giải thích phương
pháp phẫu thuật bằng thiết bị siêu
âm phân giải mỡ (ultra-z) và EVA
thiết bị hút mỡ
Nếu có núm vú phụ đi kèm
với vú phụ, sau đó tiến hành phẫu
thuật cắt bỏ và hút mỡ cùng một
lúc.
8.4 Thiết kế trước phẫu
thuật
Thực hiện thiết kế tại phần
phình nhiều nhất của nách. Vúng
thiết kế với vú phụ bằng một vòng
tròn nhỏ, làm nổi bật vùng này
(Hình 8.11).
186
8 Hút mỡ ở vùng vú phụ
Hình.8.11 Thiết kế trước phẫu thuật
(4 ảnh)
8.5
Quy trình phẫu thuật và
thời gian mổ
1. Thiết kế: 5 phút
2. Vô trùng và chuẩn bị mổ: 15
phút
3. Tiêm dung dịch tumescent: 5
phút
4. Sử dụng thiết bị siêu âm phân
giải mỡ
(ULTRA-Z): 3 ->5 phút
5. Hút mỡ và nhu mô vú: 10 phút
6. Tổng thời gian mổ trung bình:
20 phút
8.6 Gây tê
1. Tôi chủ yếu sử dụng thuốc
gây mê cho bệnh nhân ngủ bằng
propofol.
2. Tôi bắt đầu gây mê bằng ket
amine 0,4 mL + propofol 7->8 mL.
3. Sau đó, tôi tiêm propofol cách
quãng Cách nhau 4 phút.
4. Khi sử dụng ketamine, vì thời
gian mổ của vú phụ là ngắn, tổng
cộng 1-> 2 mũi tiêmlà đủ.
5. Tôi không sử dụng thuốc gây mê
để bệnh nhân ngủ bằng bơm liên
tục propofol.
6. Lý do cho điều này là thời gian
phẫu thuật thực tế là 30->40 phút,
thời gian ngắn. Hiệu quả gây tê tại
chỗ là tốt với tiêm dung dịch tu
mescent vừa đủ.
7. Do đó, tốt nhất là duy trì chế độ
ngủ bằng cách sử dụng thuốc tiêm
propofol không liên tục.
187
8 Hút mỡ ở vùng vú phụ
8.7 Vị trí rạch da
Thực hiện một vết rạch da
dài 3 mm tại đường gấp mặt trong
phía trước của nách (Hình 8.12A)
và một vết khác tại vùng giao nhau,
nơi gặp nhau của đường nếp gấp
cánh tay và bên dưới nách (Hình
8.13B). Khâu bằng nylon 5/0.
8.8
Vị trí bệnh nhân trong quá
trình phẫu thuật
Thực hiện tiêm dung dịch và
hút mỡ cho bệnh nhân ở nhiều tư thế
khác nhau (Hình 8.14).
8.9 Quy trình thực hiện
8.9.1 Dung dịch Tumescent
8.9.1.1 Pha dung dịch Tumescent
Hình.8.14 Nhiều vị trí phẫu thuật (4 ảnh)
188
8 Hút mỡ ở vùng vú phụ
• Nước muối bình thường 1 L +
epinephrine 1,5A + 30 mL lido
caine 2% + bicarbonate 10 mL
Tôi thường sử dụng 400
->500 mL.
Tôi sử dụng epinephrine
1,5A trong đó nồng độ tăng 50%.
Nó là tốt để sử dụng 2 A. Sử dụng
đủ dung dịchTumescent giúp giảm
chảy máu và giảm đau.
Điểm quan trọng nhất là cần
phải tiêm đủ dung dịch tumescent
vào nhu mô vú trước.
Nếu trước tiên, ta tiêm
nhiều dung dịch vào lớp mỡ bao
quanh nhu mô vú, thì trong quá
trình hút mỡ có thể sẽ hút được
nhiều mô mỡ hơn nhu mô vú, gây
ra tình trạng hút hút chưa hết nhu
mô vú.
8.9.2 Sử dụng thiết bị siêu âm phân
giải mỡ
ULTRA-Z là thiết bị siêu âm
phân giải mỡ mạnh với tần số ấn
định 50 Hz / 60 Hz và công suất
tiêu thụ 300 VA.
Đặt đầu dò ULTRA-Z và đặt
chế độ nguồn thành 100 (giá trị tối
đa). Thông thường, người ta biết
rằng sử dụng đầu dò ULTRA-Z cho
100 ml dung dịch tumescent trong
1 phút. Ít hơn thời gian này có thể
là sẽ ổn.
Tôi sử dụng đầu dò UL
TRA-Z trong 2->3 phút cho mỗi
nách trong trường hợp vú phụ ở
nách.
Khi sử dụng ULTRA-Z USG,
có thể cảm thấy rằng những tổ
chức cảng đầu ống hút sẽ giảm đi
và ống cannula đẩy dễ dàng hơn
bằng đầu dò ULTRA-Z. Đây có thể
được coi là điểm kết thúc của việc
sử dụng ULTRA-Z.
Hình.8.15 Vùng vú phụ thẳng ra sau
khi hút mỡ
8.9.3 Sử dụng hút EVA
Làm loãng mỡ bằng độ rung
cực mạnh (EVA) là trên thế giới chỉ
có thiết bị hút rung không khí. Nó
được tối ưu hóa để hút nhu mô vú,
vì nó làm quay khoảng 3000 vòng
trong mỗi phút.
Để thực hiện hút trong cả
mô mỡ và nhu mô vú, công suất
rung 4.0, lực hút −0.8 bar và sử
dụng ống hút rộng 4 mm.
Hầu hết bệnh nhân cho thấy
sự hài lòng với kết quả phẫu thuật
với việc loại bỏ sạch hết mô mỡ và
hút nhu mô vú thích hợp.
Việc hút nhu mô vú cần bắt
đầu trước. Sau khi hút hết ở vùng
này, sau đó hút mỡ ở nách.
Điểm mấu chốt là thực hiện
hút bằng cách sử dụng phương
pháp MDMP.
189
8 Hút mỡ ở vùng vú phụ
8.10 Chuẩn bị phòng phẫu
thuật
Đối với một phẫu thuật
tuyến vú phụ, phải có thiết bị siêu
âm phân giải mỡ (ULTRA-Z) và
thiết bị hút mỡ rung EVA.
Cần kiểm tra thiết bị trước khi
phẫu thuật. Hai phần thiết bị này
đặt ở phía bên phải của bàn mổ.
8.11 Băng ép sau phẫu thuật
Sau khi phẫu thuật (Hình
8.15), khâu các vị trí vết mổ bằng
sử dụng Nylon 5/0. Băng ép bằng
loại băng bọt thấm nước và sau đó
cố định bằng băng keo.
Bệnh nhân nên băng ép
trong 24 giờ vào ngày sau phẫu
thuật. Sau đó, bệnh nhân mặc quần
áo bó trong khoảng 4 tuần.
Bệnh nhân không cần mặc
quần áo bó trong 24 giờ. Chỉ cần
mặc trong 12 ->16h là được vì có
thể hiệu ứng đủ ép.
Trong trường hợp vú phụ bị
chảy xệ, thì vùng da bị chảy xệ có
thể cố định bằng băng thun sau khi
phẫu thuật và bệnh nhân nên mặc
quần áo bó.
Trong hầu hết các trường
hợp, da chảy xệ do nhu mô vú phụ
thì có thể cải thiện rất nhiều sau
khi phẫu thuật hút mỡ và với quá
trình băng ép.
8.12 Xử lí hậu phẫu
1. Mặc quần áo: vào ngày thứ ba
2. Cắt chỉ: vào ngày thứ bảy
3. Sau 1 tuần: dùng siêu âm hội tụ
4. Sau 2 tuần: điều trị thêm săn
chắc da
5. Sau 3 tuần: có thể dùng thêm
tần số vô tuyến (RF) ba cực + và
kích hoạt tần số thấp (DMA)
Tôi cho bệnh nhân dùng sáu
lần điều trị thêm sau phẫu thuật.
Thực hiệndùng RF lưỡng cực để
điều trị bằng cách sử dụng nhiệt độ
42->44°C. Nếu da của vùng hút mỡ
trở nên cứng sau khi hút mỡ, thì
khi điều trị RF bệnh nhân sẽ cảm
thấy thoải mái, nhưng độ cứng trở
nên tồi tệ hơn. Đây là lý do tại sao
tôi không khuyên bạn nên sử dụng
RF lưỡng cực.
Siêu âm hội tụ xuống sâu
đến 10 cm trong lớp mỡ, giúp phục
hồi độ cứng sau khi hút mỡ.
Bí quyết điều trị săn chắc da
là cảm giác đau có thể giảm bằng
cách giữ da ở một đầu và bắt đầu
điều trị ở phía đối diện.
Bác sĩ phẫu thuật có thể cảm
thấy sự hữu ích của điều trị thêm
sau phẫu thuật nếu anh ta hoặc cô
ta thực sự quan tâm điều trị đến
bệnh nhân.
8.13 Biến chứng
1. Không hài lòng vì không hút hết
mỡ và nhu mô vú.
2.Tụ dịch, tụ máu thì rất hiếm gặp.
Tôi chưa gặp trường hợp nào trong
kinh nghiệm phẫu thuật của tôi
3. Bầm tím có thể xảy ra
4. Tổn thương thần kinh hiếm gặp
190
8 Hút mỡ ở vùng vú phụ
5. Không đối xứng
6. Sợ tại vị trí vết mổ
7. Da chùng xuống trong hầu hết
các trường hợp, nhu mô vú phụ đi
kèm với chảy xệ da. Bệnh nhân cần
được thông báo trước rằng da có
thể bị chảy xệ sau phẫu thuật
8. Viêm
9. Da không đều hoặc gấp nếp khi
mô vú phụ được cải thiện, có thể
có một đường da bị gấp lại
8.14 Những trường hợp khác
nhau
Trường hợp 1 Phụ nữ27
tuổi, hai vú phụ trong một nách
(nhiều vú phụ; Hình 8.16, 8.17 và
8.18).
Trường hợp 2 Phụ nữ 23
tuổi, hút 150 mL, trước và 3 tuần
sau khi phẫu thuật (Hình 8 .19 và
8. 20).
Trường hợp 3 Phụ nữ 27
tuổi, cắt bỏ ở cả hai vú phụ và có
núm vú phụ ở bên phải, trước và
2 tuần sau khi phẫu thuật (Hình.
8.21, 8.22, 8.23 và 8.24).
Trường hợp 4 Phụ nữ /32
tuổi, trước và 2 tuần sau phẫu
thuật (Hình 8.25, 8.26 và 8.27).
Trường hợp 5 Phụ nữ 25
tuổi, trước và 2 ngày sau phẫu
thuật (Hình 8.28 và 8.29).
Hình.8.16 Trước phẫu thuật
Hình.8.17 3 ngày sau phẫu thuật
Hình.8.18 9 ngày sau phẫu thuật
191
8 Hút mỡ ở vùng vú phụ
Hình.8.19 Trước phẫu thuật (2 ảnh)
Hình.8.20 3 tuần sau phẫu thuật (2 ảnh)
Hình.8.21 Phía trước nách có vú phụ
và có cả núm vú phụ.
Hình. 8.22 Phía ngoài, phần núm vú
phụ trông nhô lên
