sad

15/09/2026 • by Bs CKI Phẫu thuật tạo hình, tái tạo và thẩm mỹ Trương Hoài Anh •

Giới thiệu về Atlas of Asian Rhinoplasty

Trong lĩnh vực phẫu thuật thẩm mỹ, mũi của người châu Á sở hữu những đặc điểm giải phẫu học riêng biệt đòi hỏi các kỹ thuật tiếp cận khác hẳn so với mũi người phương Tây (Caucasian). Cuốn Atlas of Asian Rhinoplasty của tác giả Man Koon Suh là một tài liệu kinh điển, cung cấp cái nhìn toàn diện và chi tiết về các chiến lược phẫu thuật tối ưu cho đối tượng bệnh nhân này.

Khác với mũi phương Tây thường cần thu nhỏ, mũi châu Á thường đòi hỏi sự nâng cao sống mũi, kéo dài đầu mũi và xử lý da dày. Cuốn sách đi sâu vào từng khía cạnh từ giải phẫu cơ bản đến các kỹ thuật phức tạp như sử dụng sụn sườn và chỉnh sửa mũi gồ.

Nội dung tóm tắt và các điểm nổi bật

Tài liệu bao gồm các chương chi tiết, hướng dẫn từng bước qua các quy trình phẫu thuật với hình ảnh minh họa rõ ràng:

  • Giải phẫu và sinh lý mũi người Châu Á: Phân tích sâu về độ dày da, cấu trúc sụn cánh mũi lớn nhỏ và yếu, sụn vách ngăn hạn chế, và hệ thống mạch máu thần kinh. Đặc biệt chú trọng vào sự khác biệt so với mũi phương Tây để đưa ra chỉ định phẫu thuật phù hợp.
  • Vật liệu cấy ghép và Sụn tự thân: So sánh ưu nhược điểm của Silicone và e-PTFE (Gore-Tex). Hướng dẫn chi tiết kỹ thuật lấy và xử lý các loại sụn tự thân: sụn tai, sụn vách ngăn, sụn sườn, cân thái dương và trung bì mỡ.
  • Kỹ thuật nâng sống mũi: Các phương pháp đẽo gọt implant (chữ I, chữ L), kỹ thuật đặt chất liệu dưới màng xương để tránh lộ sóng và di lệch. Đặc biệt là kỹ thuật sử dụng sụn sườn khối (en bloc) hoặc sụn thái nhỏ bọc cân (diced cartilage wrapped in fascia) cho các ca mũi khó hoặc da mỏng.
  • Chỉnh sửa vòm mũi và xương: Kỹ thuật chỉnh mũi gồ (hump reduction) bao gồm cắt từng phần (component hump reduction) để tránh biến dạng V-ngược. Các kỹ thuật đục xương (osteotomy) để thu hẹp nền mũi rộng và đóng vòm mũi hở.
  • Tạo hình đầu mũi: Các chiến lược xử lý đầu mũi to bè (bulbous tip), đầu mũi ngắn hếch, và đầu mũi dài rủ xuống bằng cách sử dụng các loại mảnh ghép trụ mũi, ghép mở rộng vách ngăn (septal extension graft).

Giá trị thực tiễn

Đây là tài liệu “gối đầu giường” cho các bác sĩ phẫu thuật tạo hình muốn chuyên sâu về nâng mũi cấu trúc. Sách không chỉ cung cấp lý thuyết mà còn chia sẻ các kinh nghiệm lâm sàng quý báu để xử lý các biến chứng thường gặp như lộ sóng, lệch vẹo, co rút bao xơ và nhiễm trùng.

Trang: / 293
Trang 1 Trang 2 Trang 3
📖 Xem bản dịch / Nội dung văn bản

Chương 1: Giải phẫu và sinh lý để phẫu thuật mũi
51
E-bacsy.com
book

Tuy nhiên, vùng cuộn cũng được coi là một cấu trúc quan trọng cần can thiệp
trong quá trình phẫu thuật để chỉnh sửa mũi ngắn trong phẫu thuật tạo hình mũi
người châu Á. Điều này là do không thể định vị sụn cánh mũi lớn lại theo hướng
đuôi mà không giải phóng đủ vùng cuộn. Nên bảo tồn vùng cuộn khi ghép sụn độn/
ghép sụn cắt nhỏ, nhưng có thể cần phải giải phóng để cho phép huy động đủ đầu
trước hoặc sau của sụn cánh mũi lớn trong trường hợp ghép sụn mở rộng vách
ngăn hoặc ghép dài cố định trụ mũi.

Đối với đầu mũi hình củ hành và có trụ ngoài lớn, phải cắt tỉa bớt để giảm thể
tích bờ đuôi của trụ ngoài đôi để làm giảm kích thước đầu mũi. Tuy nhiên, làm như
vậy dễ có thể trở thành một nguyên nhân làm cho đầu mũi rủ xuống.

Do đó, việc thao tác vùng cuộn có hai cân nhắc trái ngược nhau. Một mặt,
vùng cuộn là một cấu trúc nâng đỡ đầu mũi và nên được bảo tồn để tránh đầu mũi
rủ xuống. Mặt khác, kết nối xơ của vùng cuộn có thể hạn chế sụn cánh mũi lớn di
chuyển về phía đuôi-ra thước, trong trường hợp này thì tốt lợi hơn để giải phóng
vùng cuộn.
a
b
c
Hình. 1.48 Vùng cuộn. (a, b) Giải phóng vùng
cuộn tách sụn cánh lớn ra khỏi sụn mũi bên.
(c) Các dạng vùng cuộn
sụn mũi bên
sụn cánh
mũi lớn

Chương 1: Giải phẫu và sinh lý để phẫu thuật mũi
52
E-bacsy.com
book
Phức hợp bản lề

Phức hợp bản lề là phần kết nối giữa trụ ngoài của sụn cánh mũi lớn và đỉnh
hình quả lê và cũng được gọi là dây chằng phụ (trong thời gian qua). Dưới kính hiển
vi, phức hợp bản lề có chứa sụn phụ (sụn cánh nhỏ), mô cơ và một ít tế bào (Hình
1.49).

Trong chỉnh sửa mũi ngắn của bệnh nhân người châu Á, đôi khi phải tách
phức hợp bản lề ra để cho phép di chuyển đuôi của sụn cánh mũi lớn về phía trước.
Hình. 1.49 Phức hợp bản lề. Phức hợp bản lề có chứa sụn cánh nhỏ và tổ chức xơ sợi

Chương 1: Giải phẫu và sinh lý để phẫu thuật mũi
53
E-bacsy.com
book
Kết nối giữa chân trụ mũi và đuôi vách ngăn

Không giống như ở bệnh nhân châu Âu, ở bệnh nhân người châu Á thì không
có cấu trúc nâng đỡ rõ ràng nào có thể quan sát thấy ở vùng này (Hình 1,50). Bởi
vì điều này, bệnh nhân người châu Á thường có nền trụ mũi rộng hơn với đầu mũi
ít nhô ra hơn. Mặc dù thiếu tổ chức một cách đáng kể, việc tách khoảng trống giữa
chân trụ mũi và vách ngăn có thể góp phần làm cho đầu mũi rủ xuống. Do đó, vùng
này nên được bảo tồn càng nhiều càng tốt trong quá trình bóc tách vách ngăn.

Sự tách tổ chức ở vùng này đòi hỏi một quy trình tính toán kỹ để tạo độ nhô
đầu mũi, chẳng hạn như tách phần đuôi của vạt niêm mạc và cố định bằng chỉ khâu.

Tuy nhiên, có thể giải phóng vùng này để di chuyển đầu trong nhiều hơn
trong việc chỉnh sửa mũi ngắn hoặc trụ mũi sa xuống.
Hình. 1.50 Kết nối chân trụ mũi với phần đuôi của vách ngăn

Chương 1: Giải phẫu và sinh lý để phẫu thuật mũi
54
E-bacsy.com
book
Vách ngăn màng

Các mô mềm giữa đoạn trụ mũi của đầu trong và phần đuôi của vách ngăn có
chứa cơ hạ vách mũi. Một số tác giả đã báo cáo sự tồn tại cấu trúc như dây chằng
vách ngăn-trụ mũi hoặc mô liên kết sợi, nhưng sự tồn tại của cấu trúc dây chằng này
là một chủ đề vẫn còn gây tranh cãi. Không có cấu trúc đặc biệt tồn tại có khả năng
tạo khung nâng đỡ cho đầu mũi. Tuy nhiên, tác giả tin rằng sự gián đoạn của vùng
này có thể góp phần làm đầu mũi rũ xuống và cần một kỹ thuật bổ sung để khắc
phục nhược điểm này. Treo lên phía trước hoặc di chuyển phần đuôi của sụn cánh
mũi lớn để đầu mũi nhô ra hoặc kéo dài mũi có thể yêu cầu giải phóng các mô sợi và
cơ ở vùng này. Điều này thường sẽ dẫn đến đầu mũi rủ xuống và sẽ yêu cầu kỹ thuật
bổ sung như khâu cố định.
Dây chằng da-sụn

Dây chằng da-sụn lần đầu tiên được mô tả bởi Pitangy là một mô giống như
dải xơ ở giữa, màu trắng, chạy dọc từ giữa của 1/3 trên của sống mũi đến nền trụ
mũi. Vẫn tồn tại sự tranh luận về những phát hiện mô học và đường đi giải phẫu của
dây chằng này.
Theo nghiên cứu của Han và cộng sự, mô xơ này bắt nguồn từ lớp sâu của cơ ngang
mũi, chạy đến phần đuôi, đi qua trụ trong của sụn cánh mũi lớn và tận hết ở phần
bờ đuôi của sụn vách ngăn và trong một số trường hợp, tận hết ở cơ vòng môi (Hình
1.51). Về mặt mô học, các mô không phải là một dây chằng nhưng trên thực tế là
một dạng cân (fascia). Không có mối kết nối trực tiếp giữa dây chằng da-sụn và da
sống mũi. Bởi vì điều này, thuật ngữ dây chằng da-sụn có thể được coi là một cách
gọi chưa đúng. Có thể quan sát dây chằng rõ ràng hơn ở những bệnh nhân bị mũi
hình củ hành.
Hình. 1.51 Dây chằng
da-sụn

Chương 1: Giải phẫu và sinh lý để phẫu thuật mũi
55
E-bacsy.com
book
Giải phẫu mũi trong
Vách ngăn mũi

Vách ngăn nâng đỡ cho sống mũi và chia phần mũi trong thành hai khoang.
Thành phần của vách ngăn

Vách ngăn bao gồm vách ngăn sụn ở phần đuôi và phần vách ngăn xương ở
phần đầu. Các thành phần chính của vách ngăn xương là tấm thẳng đứng (vuông
góc) với xương sàng, vòm mũi, mỏm mũi của xương hàm trên và xương vòm miệng
(Hình 1.52). Tấm thẳng đứng tạo thành một phần ba trên của vách ngăn xương và
liên tục với lá sàng của xương sàng và xương trán. Tấm thẳng đứng nối với đường
giữa của mặt dưới xương mũi. Điểm nối của tấm vuông góc và vách ngăn sụn dưới
xương mũi được gọi là vùng keystone. Điểm nối của vách ngăn sụn và vách ngăn
xương thường nằm ở vị trí 5 mm cách khớp gian mũi về phía phần đầu, thường thay
đổi tùy theo từng cá nhân.

Vách ngăn sụn nối tiếp với tấm vuông góc theo kiểu từ đầu đến cuối và
xương lá mía, và tại điểm nối này thì việc bóc tách tương đối dễ dàng. Sụn được bao
phủ bởi một lớp duy nhất đó là niêm mạc. Tuy nhiên, vách ngăn sụn kết nối vững
vàng với mỏm hàm trên của tấm vuông góc theo đường rãnh khớp lưỡi. Trong vùng
này, màng sụn liên tục với màng xương cho tới mỏm xương hàm trên. Các phần của
sợi đi qua khớp nối và phân nhánh ra hai bên đối xứng nhau (Hình 1.53). Do những
kết nối này, khi tách nâng niêm mạc lên rất ễ bị xé rách và rất khó để tách sụn ra.
Rãnh sâu nằm trong phần đuôi và trở nên phẳng hơn ở phần đầu.

Vách ngăn sụn có 3 góc: góc vách trước, góc vách ngăn giữa và góc vách ngăn
sau (Hình 1.54).

Vách ngăn sụn có kích thước và hình dạng khác nhau ở từng cá thể. Một số
nghiên cứu đã báo cáo rằng, mặc dù không có sự khác biệt về độ dày của vách ngăn
giữa bệnh nhân người châu Á và châu Âu, nhưng kích thước của vách ngăn sụn ở
bệnh nhân người châu Á nhỏ hơn nhiều so với bệnh nhân châu Âu. Theo Hwang và
cộng sự, chiều dài và chiều cao trung bình của sụn vách ngăn tương ứng là 3,31 ±
0,53 cm và 2,99 ± 0,47 cm, đối với bệnh nhân người Hàn Quốc.
Tấm vuông góc
của xương sàng
Xoang bướm
Xương mũi
Sụn cánh
mũi bên
Vách ngăn
sụn
ANS
Mỏm mũi xương
hàm trên
Xương lá
mía
Mỏm mũi của
xương khẩu cái
Hình. 1.52 Cấu tạo vách ngăn

Chương 1: Giải phẫu và sinh lý để phẫu thuật mũi
56
E-bacsy.com
book

Ở những bệnh nhân Đông Á có mũi ngắn và dẹt, vách ngăn sụn thường nhỏ
hơn và mỏng hơn so với bệnh nhân châu Âu.

Thông thường, phần dày nhất của vách ngăn sụn là vách ngăn sau dọc theo
xương lá mía và mỏm xương hàm trên, tiếp theo là độ dày ở giữa dọc theo sống mũi
(Hình 1.55). Ngay phía trên phần dày nhất này, phần mỏng nhất nằm ở phần dưới
của vách ngăn giữa. Ở vùng sống mũi, phần đầu thường dày hơn phần đuôi, với
phần dày nhất ngay dưới xương mũi. Trong phần đuôi của vách ngăn, sụn dày nhất
tại ANS, mỏng nhất ở phần giữa và có độ dày vừa phải ở góc vách ngăn.

Vùng giữa vách ngăn và bờ đuôi của sụn mũi bên là van mũi trong. Góc bình
thường của van này là 10->15 độ và có diện tích mặt cắt nhỏ nhất dọc theo đường
mũi (Hình 1.34).
Vách
ngăn
sụn
xương
hàm trên/
Đỉnh
xương
vòm
Lớp
màng
sụn
Màng
xương
Góc vách
ngăn trước
Góc vách
ngăn giữa
Góc vách
ngăn sau
Hình. 1.54 Góc vách ngăn
1.01 ->1.25 mm
1.26 ->1.50 mm`
Phần
đuôi
Phần
đầu
Dày hơn
1.0 mm
Dày hơn 1.5 mm
Hình 1.55 Độ dày
của vách ngăn sụn
(Hwang K, Huan F,
Kim DJ. Phân bố độ
dày của vách ngăn
sụn. J Craniofac Surg.
2010 Jan;21 (1):243–
244)

Chương 1: Giải phẫu và sinh lý để phẫu thuật mũi
57
E-bacsy.com
book
Vách ngăn màng

Không có sụn giữa đầu trong của sụn cánh lớn và bờ đuôi của sụn vách ngăn.
Trong không gian này có hai lớp mô mềm và được gọi là vách ngăn màng (Hình
1.56).

Vách ngăn màng có tính di động cao và thực hiện vai trò quan trọng trong
việc tạo điều kiện cho sự di động của đầu mũi và trụ mũi cũng như cung cấp hiệu
ứng đệm chống lại bất kỳ tác động nào lên mũi. Vách ngăn chứa một cơ nội tại chưa
được làm sáng tỏ và cơ hạ vách mũi. Một số báo cáo về một dải xơ này gọi là dây
chằng vách ngăn-trụ mũi. Các sụn cánh mũi lớn và vách ngăn màng cho phép sự di
động của đầu mũi và là lý do tại sao khi sờ nắn đầu mũi có thể đè xuống. Để duy trì
khả năng di động của đầu mũi, bác sĩ phẫu thuật nên giảm thiểu việc đặt vật liệu
ghép cứng vào vách ngăn màng.
Hình. 1.56 Vách ngăn màng
Trụ trong
vách
ngăn
màng
đuôi vách ngăn

Chương 1: Giải phẫu và sinh lý để phẫu thuật mũi
58
E-bacsy.com
book
Niêm mạc sụn của vách ngăn

Niêm mạc vách ngăn sụn dính rất chặt vào sụn ở bờ đuôi và phần dưới (ví dụ,
xương lá mĩa hoặc vùng mỏm xương hàm trên). Độ bám dính lỏng hơn ở vùng sống
mũi, vùng giữa và vùng đầu (Hình 1.57). Do đó, khi bóc tách niêm mạc sụn phải bắt
đầu ở vùng ít dính và đi vào vùng dính nhiều hơn, để giảm nguy cơ rách niêm mạc.
Hình. 1.57 Độ dính của niêm mạc vách ngăn sụn. Niêm mạc vách ngăn sụn dính vào phần
sụn vách ngăn ở bờ đuôi (xanh) và nền vách ngăn (hồng)

Chương 1: Giải phẫu và sinh lý để phẫu thuật mũi
59
E-bacsy.com
book
Thành bên của mũi trong

Thành bên của mũi trong bao gồm nhiều xương: xương mũi, xương hàm trên,
xương lệ và xương sàng, cũng như xoăn mũi dưới, tấm vuông góc của xương vòm và
chân bướm trong của xương bướm. Thành bên có ba xương xoăn và các đoạn của
xoang (thịt) (Hình 1.58). Các xương xoăn dưới là một xương riêng biệt, trong khi
các xương xoăn giữa và cao hơn là các phần của xương ethmoid.

a
b
Xương xoăn trên
Xoang bướm
Xương
xoăn
giữa
Xương
xoăn
dưới
Ngách
mũi
dưới
Ngách
mũi giữa
Ngách
mũi trên
Xoang trán
Xương xoăn trên
Ngách mũi trên
Ngách mũi giữa
Xương xoăn giữa
Xương xoăn dưới
Ngách mũi dưới
Xoang
hàm
trên
Hình. 1.58 Giải phẫu thành bên mũi. (a) Thiết đồ cắt dọc. (b) Thiết đồ cắt ngang

Chương 1: Giải phẫu và sinh lý để phẫu thuật mũi
60
E-bacsy.com
book
Xương xoăn (cuốn mũi)

Các xương xoăn là các cấu trúc nhô ra khỏi thành bên của khoang mũi và
chạy song song với đường lưu thông khí. Mỗi xương xoăn bao gồm cấu trúc xương
bên dưới, được bao quanh bởi lớp niêm mạc mũi. Ba xương xoăn được gọi theo vị
trí của chúng, là xương xoăn trên, xương xoăn giữa hoặc xương xoắn dưới (Hình
1.58). Trong số này, xương xoăn dưới là lớn nhất.

Các mô mềm của xương xoăn bao gồm niêm mạc, động mạch và tĩnh mạch và
các cơ trơn. Các xương xoăn có chức năng cương to lên. Xương xoăn dưới tạo một
góc độ nào đó ở cả bên trong và bên dưới. Xương xoăn này có tác dụng điều không
khí, sưởi ấm, điều hòa độ ẩm của không khí, cả hai đều là chức năng sinh lý quan
trọng. Khi vách ngăn bị lệch về một phía, sẽ gây phì đại xương xoăn giữa và dưới ở
bên đối diện để lấp đầy khoang trong mũi bị tăng lên (Hình 1.59). Bởi vì điều này,
việc điều chỉnh và tái định vị lại vách ngăn bị lệch đòi hỏi phải giảm đồng thời các
xương xoăn bị phì đại. Nếu không điều chỉnh đúng cách các xương xoăn bị phì đại,
khi tái định vị vách ngăn sẽ tiếp giáp với xương xoăn, điều này có thể ngăn chặn sự
tái định vị đúng cách của vách ngăn và làm tắc nghẽn đường mũi với xương xoăn bị
phì đại
Hình. 1.59 Vách ngăn bị lệch và sự phì đại bù trừ của xương xoăn dưới bên đối diện

Chương 1: Giải phẫu và sinh lý để phẫu thuật mũi
61
E-bacsy.com
book
Ngách mũi
Các ngách mũi là các đoạn trước-sau nằm ở thành bên của khoang mũi. Có ba phần
ngách ở khoang mũi: ngách mũi trên, ngách mũi giữa, ngách mũi dưới. Mỗi ngách
mũi nằm bên dưới mỗi xương xoăn tương ứng (Hình 1.58). Các tế bào sàng sau và
khung xương bướm-khẩu cái mở vào ngách trên. Ngách giữa tiếp nối với các xoang
cạnh mũi (xoang trán, xoang hàm trên và các tế bào sàng trước). Các ống lệ mũi đổ
vào ngách dưới.
Động mạch cấp máu
Có hai nguồn cung cấp máu động mạch chính cho mũi trong: động mạch sàng trước
và động mạch bướm-khẩu cái
(Hình 1.21).
Cung cấp máu cho các bức tường bên
1. Chủ yếu từ nhánh mũi sau-ngoài của động mạch chân bướm khẩu cái
2. Một phần từ nhánh mũi sau-trong của động mạch sàng trước và nhánh mũi ngoài
của động mạch sàng sau
Cung cấp máu cho vách ngăn
1. Vách ngăn đuôi: Đám rối Kiecraftbach Ham (các nhánh của nhánh mũi trong giữa
của động mạch sàng trước, nhánh vách ngăn của động mạch môi trên và nhánh
vách ngăn sau của động mạch bướm-khẩu cái)
2. Vách ngăn đầu: chủ yếu từ nhánh sau của động mạch bướm-khẩu cái, một phần
từ nhánh vách ngăn của động mạch sàng sau
Phân bố cảm giác của mũi trong
Hai dây thần kinh cảm giác quan trọng cho mũi trong là dây thần kinh sàng trước và
dây thần kinh từ hạch chân bướm khẩu cái (Hình 1.23 và 1.24).
Dây thần kinh sàng trước
Nhánh bên trong từ dây thần kinh sàng trước phân bố cho phần vách ngăn trước
và phần trước của thành bên của khoang mũi. Nhánh mũi ngoài ngoài của dây thần
kinh sàng trước phân bố cho vòm mũi và đỉnh mũi.
Các dây thần kinh từ hạch xương bướm khẩu cái
Các dây thần kinh cảm giác của mũi trong hầu hết được phân bố bởi các hạch xương
bướm-khẩu cải nằm phía sau xương xoăn giữa. Hầu hết các thành bên của khoang
mũi được phân bố bởi dây thần kinh mũi sau-trên và dây thần kinh mũi sau-dưới,
cả hai đều là các nhánh của hạch xương bướm-khẩu cái. Nhánh mũi-khẩu cái này
cũng xuất phát từ hạch xương bướm khẩu cái và phân bố vào vách ngăn mũi.

Chương 1: Giải phẫu và sinh lý để phẫu thuật mũi
62
E-bacsy.com
book
Sinh lý mũi
Chức năng sinh lý của mũi

Mũi liên quan đến cấu trúc tĩnh. Tuy nhiên, hình dạng bên ngoài có hình thì
có tính di động và có một chức năng rất phức tạp. Tạo hình mũi có thể ảnh hưởng
đến một số chức năng này theo các cách khác nhau và những bệnh nhân muốn phẫu
thuật tạo hình mũi thẩm mỹ cũng thường muốn điều trị các vấn đề về chức năng. Do
đó, các bác sĩ phẫu thuật tạo hình mũi phải tìm hiểu kỹ các chức năng của mũi.
Hô hấp

Mũi là một con đường hít thở tự nhiên. Nó dường như là con đường duy nhất
để đưa không khí ẩm ấm vào phổi. Nó có chức năng như một cơ chế điều hòa không
khí khi hít vào, nghĩa là làm ấm và làm ẩm không khí đi vào phổi. Khi hít không khí
vào phổi thì nó được làm nóng gần như nhiệt độ cơ thể trong khi. Chúc năng điều
hòa không khí xảy ra trong vùng lân cận niêm mạc của xương xoăn dưới. Khi không
khí vào đến phổi, không khí đã bão hòa với độ ẩm 90% -> 93% ở nhiệt độ 31->37
°C. Trong suốt 24 giờ, trong quá trình làm ẩm mũi thì mất khoảng 1l nước.

Khi mũi bị tắc nghẽn có thể buộc người ta phải thở bằng miệng, với độ ẩm và
nhiệt độ không đủ của không khí khi đến phổi. Nếu không khí không được lọc kỹ, thì
sẽ làm làm tăng nguy cơ viêm họng, viêm thanh quản và viêm phế quản.

Trước khi giải thích về động lực học của dòng chảy qua mũi, cần phải hiểu
dòng chảy tầng và dòng chảy hỗn loạn.

Dòng chảy tầng là dòng chảy của chất lỏng (không khí hoặc chất lỏng) đi qua
một ống. Trong trường hợp đó, vận tốc dòng chảy thay đổi từ 0 tại lúc vào cho đến
tối đa dọc theo đường đi của mạch máu (Hình 1.60). Chất lỏng di chuyển trong các
lớp với tốc độ cao hơn. Chất lỏng gần thành ống gần như đứng yên, trong khi không
khí ở giữa lòng ống thì chảy nhanh hơn.

Ngược lại, dòng chảy hỗn loạn là một loại dòng chất lỏng trong đó chất lỏng
trải qua thay đổi không đều theo cả hướng và cường độ (Hình 1.61).
Theo định nghĩa trên, luồng khí đi qua mũi không thể thực sự là dòng chảy tầng, bởi
vì luồng khí không đi theo đường thẳng qua đường thở mũi và đường thở không có
bề mặt hình ống nhẵn có cấu trúc lồi và lõm không đều. Luồng khí hô hấp có đường
cong parabol qua đường mũi (Hình 1.62). Trong tổng số lượng khí qua mũi thì
khoảng ½ luồng không khí đi qua ngách giữa, với 35% đi qua ngách dưới và 15%
đi qua vùng khứu giác.

Với tốc độ dòng chảy thấp (nghĩa là bình thường chậm với áp suất thấp), thì
luồng không khí xấp xỉ dòng chảy tầng. Dòng chảy trở nên hỗn loạn hơn ở tốc độ
dòng thở cao hơn (nghĩa là nhanh với áp suất cao). Dòng khí hỗn loạn cũng tồn tại
khi dòng chảy tầng bị thay đổi (Hình 1.63). Trong thời gian thở ra, luồng không khí
trở nên hỗn loạn hoàn toàn.

Trong hít vào và thở ra, hít vào chậm tạo ra dòng chảy tầng và chuyển sang
dòng chảy hỗn loạn một chút với tốc độ dòng chảy tăng lên, và trở thành dòng chảy
hỗn loạn duy nhất khi thở ra. Thời điểm chuyển đổi giữa dòng chảy hỗn loạn và tầng
rất quan trọng, vì nó tạo ra tình huống tối ưu nhất để điều hòa không khí.

Chương 1: Giải phẫu và sinh lý để phẫu thuật mũi
63
E-bacsy.com
book
Hình. 1.60 Dòng chảy tầng. Tốc độ dòng
chảy tầng khi đi qua hình ống, thay đổi từ
0 tại điểm hít vào cho đến tối đa khi đi dọc
theo các mạch máu. Dòng chảy bằng chất
lỏng đi từng lớp với tốc độ cao ở giữa ống.
Hình. 1.61 Dòng chảy hỗn loạn. Dòng chảy
hỗn loạn thay đổi không đều cả về hướng và
tốc độ.

Nếu có dòng chảy hỗn loạn loạn quá nhiều trong mũi, nó có thể làm tăng sức
cản đường thở và có thể gây nghẹt mũi mặc dù không có bất kỳ tắc nghẽn về mặt
giải phẫu.

Theo nguyên lý Bernoulli, tốc độ của dòng chảy tăng tại vùng có bề ngang
hẹp, trong khi áp suất giảm (Hình 1.64). Ở những vùng nông, tốc độ tăng khi tạo ra
áp suất tương đối âm. Nếu luồng không khí được tăng lên ở van mũi trong hoặc van
mũi ngoài không đủ, nó sẽ tạo ra áp suất âm thấp hơn so với áp lực bên ngoài, dẫn
đến sụp van. Hiệu ứng này trở nên nặng hơn khi hít vào bắt buộc (Hình 1.65).
Hình. 1.63 Dòng khí trở nên hỗn loạn
khi hít mạnh vào hay khi dòng chảy
tầng bị thay đổi

Chương 1: Giải phẫu và sinh lý để phẫu thuật mũi
64
E-bacsy.com
book

Bệnh nhân bị viêm mũi teo và bệnh nhân có tiền sử cắt bỏ xương xoăn quá
nhiều thường phàn nàn về tắc nghẽn mũi mặc dù diện tích mặt cắt ngang rộng hơn
(hội chứng mũi rỗng). Điều này xuất phát từ việc mất cảm giác đối với luồng không
khí do mất cơ chế làm mát của niêm mạc và thần kinh, cũng như cảm giác khô và
hình thành cứt mũi (xem thêm Chương 17)

Hướng của luồng khí có thể thay đổi theo góc mũi. Nếu góc hẹp hơn bình
thường, luồng không khí sẽ có định hướng về phía đầu hơn. Ngược lại, một góc rộng
hơn sẽ hướng luồng khí về phía vòm mũi-họng hơn. Những luồng khí bất thường
có thể dẫn đến sự tích tụ của chất nhầy ở các vùng cụ thể của khoang mũi, sau đó có
thể dẫn đến mùi hôi hoặc nhiễm trùng.
A2V2P2Tốc độ thổi
V1
A1
P1
V2
A2
P2
Hình. 1.64 Nguyên lí Bernoulli. Trong hình ống, vùng có chu vi hình ống giảm xuống sẽ
tăng tốc độ dòng chảy và giảm áp lực không khí.
a
b
Hình. 1.65 Sụp van mũi ngoài (lỗ mũi bên phải) trong khi hít mạnh vào. (a) Hít –thở bình
thường. (b) Hít mạnh vào

Chương 1: Giải phẫu và sinh lý để phẫu thuật mũi
65
E-bacsy.com
book
Cơ quan nhận biết dị vật

Mũi là một cơ quan quan trọng để lọc các hạt bụi từ không khí khi hít vào
và phục vụ cho việc bảo vệ miễn dịch tuyến đầu thông qua lớp màng nhầy bao phủ
khoang mũi có chứa immunoglobulin A (IgA).

Các hạt bụi lớn trong không khí khi hít vào bị lông mũi giữ lại. Bất kỳ những
hạt bụi nào không bị giữ lại bởi các rung động sau đó bị giữ lại bởi lớp màng nhầy
của thành mũi. Các lông mao, chúng do sự di chuyển liên tục, di chuyển niêm mạc
vướng vào các hạt bụi về phía hầu họng; do đó, các hạt bụi khi hít vào có thể bị nuốt
hoặc thoát ra khỏi hệ hô hấp.

Ngoài nhận biết dị vật bằng cơ học, khoang mũi còn thực hiện các chức năng
miễn dịch bằng đại thực bào, bạch cầu hạt và tế bào mast.
Thông gió và dẫn lưu của xoang

Các xoang cạnh mũi là một nhóm gồm bốn khoảng không chứa đầy không
khí bao quanh khoang mũi. Đó là xoang trán, xoang hàm trên, xoang bướm và xoang
sàng. Ba ngách của mũi trong là những cấu trúc quan trọng giúp dẫn lưu các xoang
này. Thông thường, các xoang được thông khí tốt thông qua các ngách mũi. Thông
qua sự di chuyển của các lông mao dọc theo niêm mạc mũi, chất nhầy do xoang tiết
ra qua các ngách mũi tương ứng. Các yếu tố làm gián đoạn dẫn lưu này sẽ dẫn đến ứ
đọng dịch tiết từ xoang và điều này có thể dẫn đến kết quả cuối cùng là viêm xoang.
Nguyên nhân của các vấn đề thoát dịch ở xoang bao gồm: lệch vách ngăn, phì đại
xương xoăn, polyp mũi, khối u, viêm mũi dị ứng và bít tắc trong mũi.
Khứu giác

Khứu giác là một trong những chức năng quan trọng của mũi và rất quan
trọng đối với chất lượng cuộc sống. Dây thần kinh khứu giác (dây thần kinh sọ I) là
dây thần kinh chính cho khứu giác, trong khi dây thần kinh phế vị và dây thần kinh
lưỡi hầu cũng tham gia một phần. Biểu mô khứu giác có mặt ở phần trên của vách
ngăn mũi, bờ ngoài trên thành bên mũi, xương xoăn trên và phần trên của xương
xoăn giữa. Biểu mô chứa khoảng 6 ->10 triệu tế bào thần kinh khứu giác, là các tế
bào cảm giác lưỡng cực. Tín hiệu được truyền từ thụ thể của các tế bào này chạy dọc
theo dây kinh khứu giác thông qua lỗ khứu giác và vào bó khứu giác. Khi không khí
được hít vào, khoảng 10 ->20% dòng chảy đến các tế bào thần kinh khứu giác trong
rãnh khứu giác.

Một số cơ chế có thể gây ra giảm khứu giác sau phẫu thuật. Khi hít không khí
vào có thể ngăn chặn xâm nhập vào khe hở khứu giác bởi một khớp thần kinh giữa
vách ngăn và xương xoăn giữa hoặc thiếu oxy ở rãnh khứu giác do biến dạng của
các xương xoăn (thủng, teo). Cắt bỏ xương có thể gây ra chứng ứ đọng hoặc mất
khứu giác do vô tình làm tổn thương biểu mô khứu giác hoặc lỗ khứu giác.
Mũi cản trở luồng không khí

Sức cản đường thở là sức cản tạo ra bỡi đường hô hấp đối với luồng khí trong
khi hít vào và thở ra. Nó là một trong những tính năng cơ bản cơ học của hệ hô hấp
và đóng một vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn sự sụp đổ hoàn toàn thê thảm

Chương 1: Giải phẫu và sinh lý để phẫu thuật mũi
66
E-bacsy.com
book
của phổi trong quá trình thở ra. Trong khi mũi đại diện cho một phần nhỏ của
đường thở, nó chịu trách nhiệm cho 50 ->60% kháng trỏ của đường thở. Ba cấu trúc
có liên quan trong việc tạo ra sức kháng trở này là: van mũi ngoài (tiền đình mũi),
van mũi trong và xương xoăn. Trong số này, van mũi trong tạo ra sức cản đường thở
nhiều nhất và đại diện cho đoạn hẹp nhất của đường thở và do đó là một vùng hạn
chế dòng khí lưu thông chính.
Cộng hưởng giọng nói

Mũi là một yếu tố quan trọng để xác định các đặc điểm của giọng nói. Ngoài
dây thanh âm, giọng nói cũng được tạo ra bởi sự cộng hưởng từ không khí truyền
qua hầu họng, miệng và mũi. Đó là một giả định hợp lý rằng phẫu thuật tạo hình mũi
sẽ làm thay đổi chất lượng cộng hưởng của giọng nói ở các ca sướng và ca sĩ, nhưng
chưa có nghiên cứu trực tiếp nào xem xét vấn đề tiềm năng này.
Phản xạ mũi

Mũi tham gia vào các phản xạ khác nhau có chức năng tập thể là bảo vệ đường
hô hấp dưới khỏi bị dị vật xâm phạm. Trong số này, đại diện nhất là phản xạ mũi, gây
ra hắt hơi.
Chu kỳ sinh lý mũi

Chu kỳ mũi là tắc nghẽn một phần chưa được chú ý giữa xung huyết và giảm
xung huyết của các khoang mũi. Đó là một tắc nghẽn sinh lý (mở rộng) của các
xương xoăn dưới bắt đầu từ bên này sang bên kia, do kích hoạt có chọn lọc một nửa
của hệ thống thần kinh tự động.

Chức năng của chu kỳ mũi vẫn chưa biết đến nhiều. Đã có một số vấn đề chưa
rõ cho chu kỳ mũi này. Được biết, lông mao của bên bị tắc nghẽn làm mất khả năng
vận động của chúng, đảm bảo rằng một bên mũi luôn ẩm, để tạo điều kiện cho độ
ẩm. Một số hóa chất mùi liên kết với các thụ thể khứu giác một cách dễ dàng, ngay
cả trong điều kiện luồng thông khí cao, trong khi các mùi khác cần nhiều thời gian
tiếp xúc hơn, trong điều kiện luồng thông khí thấp, để liên kết với các thụ thể. Với
luồng thông khí cao ở một bên và luồng không khí thấp ở phía bên còn lại, trung
tâm khứu giác có thể phát hiện ra một loạt các chất có mùi. Vì những lý do này, chu
trình mũi là để kiểm soát độ ẩm và cải thiện chức năng khứu giác.

Chu kỳ mũi có mặt ở khoảng 80% toàn bộ dân số và có chu kỳ giữa 4 và 12
giờ. Sự tắc nghẽn xen kẽ này không gây khó chịu cho từng cá nhân, những người
thậm chí có thể không nhận biết được hiện tượng này. Tuy nhiên, bệnh nhân bị lệch
vách ngăn hoặc phì đại xương xoăn thường xuyên bị tắc nghẽn mũi xen kẽ giữa các
hốc mũi trái và phải.
Cấu trúc giải phẫu liên quan đến tắc nghẽn mũi
Một số vị trí giải phẫu có thể trở thành điểm tắc nghẽn mũi. Ở những bệnh nhân bị
tắc nghẽn mũi, những vị trí này đã đánh giá trong quá trình tư vấn trước phẫu thuật.

Chương 1: Giải phẫu và sinh lý để phẫu thuật mũi
67
E-bacsy.com
book
Niêm mạc

Nguồn gốc của niêm mạc mũi gây tắc nghẽn mũi bao gồm: phì đại niêm mạc,
dính mống mắt, viêm mũi do vận mạch, dị ứng, chu kỳ sinh lý mũi, và nghẹt mũi phụ
thuộc vào tư thế ngủ.
Van mũi ngoài

Van mũi ngoài là một vùng cuối của van mũi trong, từ lỗ mũi ngoài đến bờ
đuôi của sụn mũi bên. Van mũi ngoài bao gồm trụ mũi, vách ngăn đuôi, chân của
trụ mũi trong, vành cánh mũi, trụ ngoài của sụn cánh mũi lớn và lỗ mũi ngoài (Hình
1.34). Nguyên nhân gây sập van ngoài bao gồm:

1. Cắt bỏ quá nhiều trụ ngoài của sụn cánh mũi lớn dẫn đến sập cánh mũi

(Hình 1.66)

2. Sẹo co kéo làm hẹp lỗ mũi

3. Lệch phần đuôi của vách ngăn

4. Thu gọn cánh mũi quá mức

5. Liệt cơ nở mũi do rối loạn chức năng của dây thần kinh mặt

6. Khung mũi yếu bẩm sinh

7. Quá trình lão hóa
Hình. 1.66 Sụp van mũi ngoài. Đây là bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật cắt bỏ trụ mũi
ngoài khi phẫu thuật tạo hình mũi. Một phần van mũi ngoài bị sụp xuống khi bệnh nhân
hít mạnh vào

Chương 1: Giải phẫu và sinh lý để phẫu thuật mũi
68
E-bacsy.com
book
Van mũi trong

Van mũi trong là đoạn giống như khe hở nằm giữa bờ đuôi của sụn mũi bên
và vách ngăn (Hình 1.34). Sự không đầy đủ của van mũi trong có thể là nguyên phát
hay thứ phát (Hình 1.67). Nguyên nhân gây hẹp van mũi trong như sau:

1. Độ lệch lồi của vách ngăn cao

2. Chấn thương

3. Cắt bỏ mũi gồ quá nhiều bao gồm cả sụn mũi bên

4. Trụ ngoài của sụn cánh mũi lớn bị biến dạng gây xẹp sụn mũi bên

5. Vết sẹo co kéo sau phẫu thuật chỉnh sụn

6. Cắt xương mũi gây hẹp đỉnh hình quả lê

Trong một số trường hợp nhất định, triệu chứng tắc nghẽn mũi do hẹp van
chỉ chỉ gặp khi bệnh nhân nằm ngửa. Chỉnh mũi gồ hỗn hợp có thể dẫn đến giảm
van mũi trong do sụn mũi bên đi vào trong hơn. Trong những trường hợp như vậy,
hình dạng ngoài của mũi là một vết lõm hình chữ V ngược giữa xương mũi và sụn
mũi bên, trở nên nhìn thấy rõ hơn khi hít mạnh vào (Hình 1.68).

Sự tắc nghẽn do sụp các van mũi trong và van mũi ngoài có thể giảm bớt khi
lực kéo ở bên da của má tăng lên, được gọi là phương pháp Cottle (Hình 1.69). Tuy
nhiên, phương pháp Cottle không hiệu quả đối với sự sụp của các van, vì nó cũng
cải thiện tình trạng tắc nghẽn mũi đối với vách ngăn có liên quan đến xương xoăn
dưới.

Nói một cách cụ thể hơn để kiểm tra sự tắc nghẽn do sập van là nâng van mũi
trong hoặc van mũi ngoài bằng dùng que tăm bông hoặc dụng cụ curette. Cải thiện
triệu chứng tắc nghẽn mũi là nâng các van mũi lên phần vòm mũi, và đó là một
phương pháp chính xác để xác định mức độ tắc nghẽn. Điều này đôi khi được gọi là
phương pháp cải tiên của Cottle (Hình 1.70).
Hình. 1.67 Sụp van mũi
trong. Ở bệnh nhân này,
vòm mũi và sụn mũi bên
có hình chữ V ngược. Sụp
sụn cánh lớn là nguyên
nhân do phẫu thuật cắt
bỏ để chỉnh mũi gồ mà
không dùng mảnh ghép
dài và đây là nguyên
nhân gây hẹp van mũi
trong

Chương 1: Giải phẫu và sinh lý để phẫu thuật mũi
69
E-bacsy.com
book
Hình. 1.68 Bệnh nhân bị sụp phần xương mũi và sụn mũi bên sau phẫu thuật chỉnh sửa
mũi gồ, Hình chữ V ngược trở nên rõ hơn khi bệnh nhân hít mạnh vào (b)
Hình. 1.69 Phương pháp Cottle. Thiếu van
mũi trong và van mũi ngoài, kéo da má ra
bên ngoài sẽ cải thiện tình trạng tắc nghẽn
mũi.
Hình. 1.70 Phương pháp Cottle cải tiến.
Thiếu van mũi ngoài hay van mũi trong rất
dễ nhận biết nếu nếu tắc mũi được cải thiện
khi dùng tăm bông nhấc bên mũi lên

Chương 1: Giải phẫu và sinh lý để phẫu thuật mũi
70
E-bacsy.com
book
Vách ngăn

Một vách ngăn thẳng hoàn toàn là những trường hợp rất hiếm gặp, và có sự
lệch nhẹ hay gợn nhẹ lên là khá phổ biến ở người lớn tuổi. Không phải tất cả các
vách ngăn bị lệch đều cần phải chỉnh sửa, nhưng vách ngăn lệch là một trong những
nguyên nhân hay gặp nhất gây tắc nghẽn mũi. Khi lệch vách ngăn xảy ra trong vùng
của van mũi trong, nó có nhiều khả năng là nguồn gốc gây tắc nghẽn mũi.
Xương xoăn
1. Phì đại xương xoăn dưới (cuốn mũi)

Phì đại xương xoăn dưới cũng có thể gây ra tắc nghẽn mũi. Trong hầu hết các
trường hợp, phì đại xương xoăn bao gồm chủ yếu là phì đại mô mềm, nhưng phì
đại phần xương xoăn không phải là cực kỳ hiếm. Trong số các bệnh ở mũi, thì viêm
mũi dị ứng là nguyên nhân phổ biến nhất sẽ dẫn đến phì đại xương xoăn dưới. Các
nguyên nhân khác dẫn đến sự phì đại xương xoăn bao gồm URI, viêm xoang, viêm
mũi vận mạch, các tình huống làm thay đổi lưu lượng máu đến mũi như thuốc và
hormone, thay đổi nhiệt độ và tư thế nằm ngửa. Khi bị lệch vách ngăn, một trong
những xương xoăn sẽ to lên để bù trừ là xương xoăn dưới (Hình 1.59), thường thấy
cho sự phì đại này là cả hai thành phần niêm mạc và phần xương.
Trước khi phẫu thuật tạo hình mũi, một bệnh nhân bị tắc nghẽn mũi nên phải đánh
giá bệnh lý bất kỳ nào của xương xoăn đã có, vì điều này sẽ cần phải được giải quyết.
2. Concha Bullosa (xoang hơi cuốn giữa)

Concha Bullosa là nơi chứa không khí chủ yếu ở xương xoăn giữa (Hình 1.71).
Xoang hơi cuốn giữa là một bệnh lí hay gặp thường có liên quan đến sự di lệch của
vách ngăn mũi về phía đối diện của khoang mũi, sẽ gây ra tắc nghẽn mũi.
Hình. 1.71 Concha bullosa thấy ở 2
bên xương xoăn giữa

Chương 1: Giải phẫu và sinh lý để phẫu thuật mũi
71
E-bacsy.com
book
3. Paradoxical Middle Turbinate (cuốn gữa lộn ngược)

Cuốn gữa lộn ngược đề cập đến một cạnh xương xoăn giữa có độ cong bất thường theo
hướng trong-dưới (Hình 1.72), và là một nguyên nhân hiếm gặp gây nên tắc nghẽn mũi.
Hình. 1.72 Cuốn gữa lộn ngược bên phải
Xương mũi

Tắc nghẽn mũi có thể được gây ra khi lệch xương mũi hoặc do xẹp xương mũi
sau khi cắt xương không hợp lí.
Khác

Polyp mũi và khối u có thể hay gặp bệnh nhân than phiền là tắc nghẽn mũi.

Chương 1: Giải phẫu và sinh lý để phẫu thuật mũi
72
E-bacsy.com
book

Đặc điểm giải phẫu bệnh của mũi ở bệnh nhân người châu Á
Một số đặc điểm giải phẫu mũi khác nhau giữa bệnh nhân châu Âu và châu Á.

1. So với bệnh nhân châu Âu, bệnh nhân người châu Á có da ở sống mũi
thì dày hơn và ít đàn hồi hơn. Đặc điểm này của da ở sống mũi là lợi thế để che đi
đường viền có thể nhìn thấy của mô cấy ghép, nhưng nó sẽ làm cho việc kéo dài mô
mềm trở nên khó khăn hơn trong những trường hợp cần chỉnh sửa mũi ngắn.

2. Ngoài da ở sống mũi, bệnh nhân người châu Á thì ở đầu mũi có da và mô
mềm dày hơn. Lớp da dày và mô mềm này che lấp sự bất thường và không đối xứng
của bờ các mảnh ghép sụn bên dưới, cho phép có sai số về kỹ thuật cao hơn. Tuy
nhiên, lớp da dày sẽ gây trở ngại lớn khi phẫu thuật tạo hình đầu mũi mà mong
muốn có đầu mũi đẹp. Sau khi tái tạo sụn (đặc biệt là để giảm đầu mũi hình củ
hành), phần da bị bong ra trên khung sụn tiếp tục co lại và co kéo từ từ theo thời
gian, da co lại trên khung đầu mũi mới. Ở những bệnh nhân có da đầu mũi dày hơn,
da không co lại theo khung sụn bên dưới như là đối với những bệnh nhân có da đầu
mũi mỏng.


Da dày hơn cũng sẽ dẫn đến phù nề sau phẫu thuật nhiều hơn và có xu hướng
giảm chậm hơn. Hội chứng xơ hóa sau phẫu thuật tạo hình mũi mũi là phổ biến hơn
ở những bệnh nhân có da dày hơn. Chăm sóc sau phẫu thuật những bệnh nhân có
da đầu mũi dày sẽ thảo luận trong Chương. 9.


3. Da vùng cánh mũi dày hơn và cũng ít đàn hồi hơn ở bệnh nhân người châu
Á. Đặc tính này của mô mềm dày ở cánh mũi sẽ là một thách thức lớn khi tịnh tiến
cánh mũi trong trường hợp ghép vành cánh mũi.

4. Sụn cánh mũi lớn thì nhỏ hơn và ít di động hơn ở bệnh nhân người châu Á.
Điều này có nhiều cách. Đầu tiên, kỹ thuật khâu sụn cánh mũi lớn có thể không đủ
để đạt được độ nhô của đầu mũi và giảm kích thước đầu mũi. Thứ hai, kỹ thuật khâu
sụn hoặc ghép trụ mũi có thể dẫn đến xoay đầu mũi dễ dàng hơn do trụ ngoài yếu.
Thứ ba, ghép sụn độn hoặc ghép sụn cắt nhỏ ở trên trụ trong, có thể gây biến dạng
trụ trong hay gây đè lên chân nền mũi và dẫn đến kết quả là đầu mũi không cao.

5. Sụn vách ngăn thường nhỏ hơn và mỏng hơn ở bệnh nhân người châu Á.
Như vậy, sụn vách ngăn thường không phải là nơi để lấy sụn để ghép kéo dài vách
ngăn. Ngoài ra, nguy cơ biến dạng mũi hình yên ngựa cao hơn đối với bệnh nhân
người châu Á vì sụn chữ L mỏng hơn của sụn vách ngăn có thể biến dạng theo thời
gian. Sau khi ghép kéo dài vách ngăn, phần chữ L yếu của sụn vách ngăn còn lại
bị lệch theo thời gian và không có gì lạ khi gặp phải đầu mũi, trụ mũi hoặc lỗ mũi
không đối xứng. Khi thực hiện ghép mở rộng vách ngăn ở bệnh nhân người châu
Á, điều quan trọng là phải để lại một L-strut rộng hơn trong khi học các mẹo và thủ
thuật cần thiết để tối đa hóa việc sử dụng ghép sụn vách ngăn nhỏ cũng như hiểu
các kỹ thuật thay thế để sử dụng phương pháp ghép mở rộng vách ngăn.

Chương 2: Đánh giá trước phẫu thuật tạo hình mũi
73
E-bacsy.com
book
Đánh giá trước phẫu thuật
tạo hình mũi
2
Tư vấn và khám bệnh
Tư vấn và lập kế hoạch toàn diện trước phẫu thuật, bao gồm các bước sau:

1. Phỏng vấn ban đầu để xác định mục tiêu và mong muốn của bệnh nhân

2. Khám và phân tích mũi và phần còn lại của khuôn mặt

3. Lập kế hoạch trước phẫu thuật để xác định sử dụng kỹ thuật nào cho phù

hợp, chất liệu cần thiết, khu vực phẫu thuật và các mục tiêu phẫu thuật

4. Đưa ra ý kiến cuối cùng để đảm bảo rằng bệnh nhân hiểu được giới hạn

của phẫu thuật và các biến chứng tiềm ẩn
Phỏng vấn và tư vấn trước phẫu thuật

Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ mũi là một môn học đầy thách thức đòi hỏi sự
hiểu biết thấu đáo về nhiều kỹ thuật và chất liệu phẫu thuật. Có rất nhiều các cuộc
tranh luận và rất nhiều các ý kiến liên quan đến kế hoạch phẫu thuật.

Nói chung, một phẫu thuật tạo hình mũi thành công dựa trên ba yếu tố. Đầu
tiên là năng lực kỹ thuật xuất sắc của bác sĩ phẫu thuật. Thứ hai là cảm nhận nghệ
thuật của bác sĩ phẫu thuật. Đây là trường hợp đặc biệt đối với một bác sĩ phẫu
thuật thực hiện phẫu thuật tạo hình mũi người châu Á, người cần hiểu các dạng
khác nhau trong tiêu chuẩn thẩm mỹ dựa trên dân tộc của từng bệnh nhân của
mình, cũng như biết được các chỉ số nhân trắc học có liên quan đến các đặc điểm
trên khuôn mặt, để có sự hài hòa trên khuôn mặt, và để có thể chuyển sự mong
muốn chủ quan của bệnh nhân thành một sự thay đổi giải phẫu khách quan. Thứ ba
là khả năng giao tiếp với bệnh nhân.

Những kỳ vọng ngày càng tăng từ bệnh nhân đặt ra yêu cầu cao hơn về cải
thiện kết quả phẫu thuật, đây là một gánh nặng ngày càng tăng đối với các bác sĩ
phẫu thuật. Để vượt qua những thách thức như vậy và đạt được kết quả thành công,
không đủ để một bác sĩ phẫu thuật chỉ đơn giản là có kỹ năng trong các phẫu thuật.
Thay vào đó, bác sĩ phẫu thuật phải tỉ mỉ trong cách tiếp cận để hiểu bệnh nhân
cũng như anh ấy/cô ấy đang có kế hoạch trước phẫu thuật.
Tư vấn trước phẫu thuật tạo hình mũi nên đánh giá khuôn mặt và mũi của bệnh
nhân, và mong muốn và nguyện vọng của họ, và lên kế hoạch cho một ca phẫu thuật
thành công. Đồng thời, tư vấn trước phẫu thuật cũng là một quá trình tâm lý, qua đó
xác định các phần mong đợi không thực tế của bệnh nhân và chuyển thành mục tiêu
thực tế, có thể đạt được. Giao tiếp, sau đó, là sự phù hợp của một mục tiêu mong

Chương 2: Đánh giá trước phẫu thuật tạo hình mũi
74
E-bacsy.com
book
muốn của bệnh nhân với những gì bác sĩ phẫu thuật có khả năng đạt được.

Bệnh nhân đòi hỏi và yêu cầu cực kỳ chính xác thì không phải là hiếm đối với
phẫu thuật tạo hình mũi. Theo kinh nghiệm của tác giả, điều này đặc biệt đúng với
các bệnh nhân nam đã trải qua nhiều ca phẫu thuật tạo hình mũi.

Rất nhiều chuyên gia đã trở thành một bác sĩ phẫu thuật tạo hình mũi là khả
năng giao tiếp với bệnh nhân của anh ấy/cô ấy. Bác sĩ phẫu thuật phải có khả năng
hiểu chính xác những gì bệnh nhân muốn, liệu mong muốn đó có thực tế hay không,
và nếu vậy liệu hình dạng mong muốn đó có hài hòa với phần còn lại của khuôn mặt
hay không. Bác sĩ phẫu thuật cũng phải có khả năng truyền đạt sự hiểu biết này với
bệnh nhân, trong khi đánh giá và thích nghi với các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến
mong muốn của bệnh nhân.

Giao tiếp với bệnh nhân phải cụ thể và chính xác đến từng chi tiết nhỏ nhất.
Khi một bệnh nhân không thể hoặc không muốn có một cuộc thảo luận rõ ràng về
hình dạng của mũi hoặc hướng phẫu thuật, bác sĩ phẫu thuật phải nhận biết được
khả năng dẫn đến hậu quả tai hại. Ví dụ hay gặp là bệnh nhân mong muốn có kết
quả phải hoàn toàn tuyệt đối (ví dụ, nguy hiểm) bao gồm ‘vui lòng làm cho nó trông
thật tự nhiên’ và ‘tôi tin tưởng vào phán đoán của bạn, vì vậy hãy sử dụng phán
đoán của bạn để làm cho mũi tôi đẹp’. Sao cho hầu hết những gì bệnh nhân mong
muốn và những gì bác sĩ phẫu thuật có khả năng làm được cũng nên trình bày rõ
ràng cho mọi người hiểu.

Bác sĩ phẫu thuật tạo hình mũi nên cố gắng xác định và giúp đỡ những bệnh
nhân có động lực thành công để phẫu thuật và kỳ vọng thực tế và chú ý không phẫu
thuật cho bệnh nhân có vấn đề về tâm lý hoặc kỳ vọng không thực tế. Trong thực
tế, phần lớn sự không hài lòng sau phẫu thuật tạo hình mũi ít liên quan đến kết
quả phẫu thuật hoặc biến chứng. Trong nhiều trường hợp, hình dạng mũi sau phẫu
thuật là tuyệt vời, nhưng bệnh nhân vẫn có thể biểu hiện là không hài lòng do sự bất
hòa với sự mong đợi của bệnh nhân. Bởi vì điều này, bác sĩ phẫu thuật không bao
giờ nên khẳng định mạnh mẽ về kết quả phẫu thuật cũng như không đảm bảo một
kết quả không thực tế.

Thông qua Internet, việc lấy thông tin liên quan đến các chất liệu và kỹ thuật
sử dụng trong phẫu thuật tạo hình mũi đã trở nên dễ dàng hơn nhiều. Những thông
tin có sẵn này đã dẫn đến nhiều bệnh nhân yêu cầu cách phẫu thuật cụ thể và tình
trạng họ tự chẩn đoán là một sai lầm. Những bệnh nhân như vậy thường từ chối lời
đề nghị của bác sĩ phẫu thuật và không tin tưởng vào quá trình ra quyết định phẫu
thuật. Rất có thể là bệnh nhân tự chẩn đoán sẽ không hài lòng với kết quả sau phẫu
thuật, bất kể kết quả phẫu thuật tốt hơn. Những bệnh nhân sau đây là cần đặc biệt
chú ý và đòi hỏi sự thận trọng của bác sĩ phẫu thuật tạo hình mũi:

1. Rối loạn tâm thần gồm tâm thần phân liệt và trầm cảm

2. Kỳ vọng quá cao

3. Nhu cầu không thực tế

4. Nghiện phẫu thuật thẩm mỹ

5. Rối loạn cơ thể

6. Bệnh nhân với mức độ nghi ngờ không chính đáng hoặc với người xây

dựng mối quan hệ là khó khăn

Chương 2: Đánh giá trước phẫu thuật tạo hình mũi
75
E-bacsy.com
book

7. Bệnh nhân muốn bù đắp cho cảm giác tự ti hoặc bất an bằng phẫu thuật

thẩm mỹ

8. Bệnh nhân có tiền sử kiện cáo liên quan đến phẫu thuật thẩm mỹ

9. Tính cách tự ái hoặc ám ảnh cưỡng chế

10. Bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật tạo hình mũi muốn trở lại hình dạng

mũi ban đầu

Bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ không phải là bác sĩ tâm thần và không nên cố
gắng chẩn đoán cũng không điều trị cho các bệnh tâm thần để tiến tới tư vấn phẫu
thuật thẩm mỹ. Tuy nhiên, họ có thể phải xác định và tránh phẫu thuật trên những
bệnh nhân có khả năng không hài lòng cao với kết quả phẫu thuật, bất kể kết quả
khách quan.

Một bác sĩ phẫu thuật tạo hình mũi có kinh nghiệm luôn luôn hiểu rằng có
được kết quả tốt trong một trường hợp phẫu thuật khó vừa phải hơn là cố gắng
phẫu thuật như một trận chiến khó khăn trong những trường hợp khó khăn. Đó là
công việc riêng của các bác sĩ phẫu thuật để giảm căng thẳng tinh thần từ công việc
và cũng duy trì tính uy tín của nghề nghiệp. Bác sĩ phẫu thuật phải hiểu rằng một
trường hợp khó khăn vượt quá phạm vi khả năng của mình thì thường sẽ dẫn đến
những cơ hội thành công nhỏ, thường có nguy cơ thất bại và mất sức khỏe và thời
gian hơn.
Đánh giá trước phẫu thuật của tiền sử về sức khỏe và tiền sử chung
Sức khỏe chung

Nhìn thoáng qua, một bệnh nhân đang được cân nhắc phẫu thuật sẽ phải đủ
khỏe mạnh để trải qua một cuộc phẫu thuật.

Vấn đề chính trong đánh giá trước phẫu thuật là xác định có những nguy cơ
chảy máu. Nguy cơ chảy máu không chỉ là một vấn đề trong quá trình phẫu thuật mà
còn làm tăng nguy cơ tụ máu sau phẫu thuật, điều này có thể dẫn đến nhiễm trùng
và thay đổi hình dạng mô mềm. Điều này đặc biệt là vấn đề đối với chỉnh sửa đầu
mũi hình củ hành ở bệnh nhân người châu Á, người bị tụ máu sau phẫu thuật hoặc
mô bị sưng quá mức có thể dẫn đến xơ hóa sau phẫu thuật tạo hình mũi dẫn đến kết
quả mà cả bác sĩ phẫu thuật và bệnh nhân đều không mong muốn. Điều quan trọng
là phải xem xét tiền sử bệnh dễ bị bầm tím, chảy máu trong các phẫu thuật trước đó,
tăng huyết áp không kiểm soát, bệnh máu khó đông, rối loạn đông máu do di truyền,
và sử dụng aspirin và thuốc chống đông máu. Nếu tiền sử bệnh được bảo đảm, nên
làm thêm các xét nghiệm về máu chảy-máu đông, số lượng tiểu cầu.

Tiền sử bệnh nhân cũng cần phải xem xét đến các bệnh mạn tính như sau:
tăng huyết áp, tiểu đường, bệnh thận, bệnh miễn dịch hoặc tình trạng suy giảm
miễn dịch, bệnh gan, bệnh tim, bệnh phổi, bệnh về huyết học, v.v.

Kiểm soát tốt bệnh tăng huyết áp hoặc bệnh tiểu đường thì không ảnh hưởng
gì đến cuộc phẫu thuật. Tuy nhiên, nên thận trọng thì sẽ tốt hơn, nên cho hỏi ý kiến
của các chuyên gia về từng lĩnh vực phù hợp, khả năng biến chứng và các phương

Chương 2: Đánh giá trước phẫu thuật tạo hình mũi
76
E-bacsy.com
book
phương pháp điều trị đặc biệt có thể cần thiết trước và sau phẫu thuật. Ở những
bệnh nhân bị tăng huyết áp có kiểm soát, bệnh nhân có thể không chảy máu nhiều
trong quá trình phẫu thuật nhưng có thể bị chảy máu chậm trong giai đoạn hậu
phẫu, vì khi huyết áp bắt đầu tăng.

Bệnh nhân tiểu đường thường biểu hiện chậm lành vết thương hoặc vết
thương không tốt và có thể trải qua sự hình thành sẹo lớn hơn và cơ hội nhiễm
trùng cao hơn so với bệnh nhân có mức glucose máu bình thường.
Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ mũi hoặc sử dụng cấy ghép không có chống chỉ định
tuyệt đối cho bệnh nhân có suy giảm chức năng miễn dịch. Tuy nhiên, những bệnh
nhân này đòi hỏi phải có sự quan tâm và chăm sóc thêm. Nếu có thể, khuyến nghị
nên sử dụng phẫu thuật xâm lấn tối thiểu và chất liệu tự thân.

Ở bệnh nhân người châu Á, sử dụng thường xuyên các loại thuốc thảo dược
như nhân sâm và gingko. Nhiều loại thuốc và chất bổ sung dinh dưỡng làm tăng xu
hướng chảy máu. Nên hướng dẫn bệnh nhân ngừng sử dụng các thuốc như vậy ít
nhất 2 tuần trước khi phẫu thuật.
Bệnh mũi

Phải hỏi bệnh nhân về tiền sử chấn thương mũi, viêm xoang, viêm mũi dị ứng
và phẫu thuật tạo hình vách ngăn trước đó. Điều quan trọng là kiểm tra bệnh nhân
có bị khó thở không. Tuy nhiên, không phải tất cả bệnh nhân thở bằng miệng đều
cho rằng họ khó thở. Do đó, việc phụ thuộc vào thông báo của bệnh nhân là không
đủ mà còn phải kiểm tra bệnh nhân trong suốt cuộc phỏng vấn. Nếu bệnh nhân bị
viêm xoang có tiết dịch mủ thì nên điều trị trước khi thực hiện phẫu thuật tạo hình
mũi thẩm mỹ.
Khám trước phẫu thuật và kiểm tra khuôn mặt và mũi
Khám đánh giá khuôn mặt và mũi trước phẫu thuật nên ghi lại theo sau đây:
Đánh giá khuôn mặt

Kiểm tra để phẫu thuật tạo hình mũi toàn diện thì không chỉ đánh giá mũi mà
còn cả phần còn lại của khuôn mặt bệnh nhân. Đánh giá khuôn mặt có bị mất cân
xứng tổng thể hoặc bị liệt mặt. Kiểm tra tỷ lệ mũi với tổng thể khuôn mặt. Thông
thường, phẫu thuật tạo hình mũi ở bệnh nhân người châu Á, hay thực hiện như: tạo
độ nhô đầu mũi và nâng sống mũi, rất dễ thấy với sự mất cân bằng hài hòa giữa mũi
và phần còn lại của khuôn mặt.

Tạo độ nhô đầu mũi có thể làm cho cằm bị thu lại thậm chí nhiều hơn. Ở
những bệnh nhân như vậy, nâng cằm rất hữu ích trong việc duy trì sự cân bằng hài
hòa với độ nhô của đầu mũi (Hình 2.1). Bác sĩ phẫu thuật nên tránh phẫu thuật tạo
hình mũi mà cải thiện hình dạng mũi nhưng làm mất sự hài hòa chung của khuôn
mặt.

Ở những bệnh nhân có khoảng cách giữa 2 góc mắt trong gần nhau, khi nâng
cao gốc mũi sẽ càng làm cho 2 góc mắt gần nhau hơn nữa, điều này rõ ràng là không
mong muốn.

Chương 2: Đánh giá trước phẫu thuật tạo hình mũi
77
E-bacsy.com
book

Ở những bệnh nhân có trán phẳng, nâng sống mũi có thể làm cho gốc mũi
quá nổi bật trên khuôn mặt. Để tránh vấn đề này, thì không nên nâng phần gốc mũi,
nâng phần gốc mũi dành cho những bệnh có trán nhô cao.
Khi nâng sống mũi và chỉnh sửa mũi ngắn có thể tạo cái nhìn ảo về vùng giữa mặt
dài ra. Ngoài ra, nâng sống mũi có thêm rất nhiều đường viền cho trung tâm khuôn
mặt, có thể làm cho khuôn mặt rộng giảm bớt đi và khôi phục lại sự cân bằng giữa
mũi và vùng giữa mặt rộng. Đây là một ví dụ trong đó nâng sống mũi mang lại cho
toàn bộ khuôn mặt gần với sự hài hòa hơn trong phẫu thuật tạo hình mũi ở người
châu Á.

Ở người có môi trên ngắn có cười hở lợi thì khi phẫu thuật ghép trụ mũi để
tạo độ nhô đầu mũi có thể trở có kết quả không khả quan. Ngược lại, hạ thấp đầu
mũi có thể kéo dài mũi và làm giảm độ căng của môi trên ở những bệnh nhân có môi
trên ngắn và chóp mũi quá nhô ra thì cũng không tốt.
Khám mũi
Da và mô dưới da

Da mũi: nên đánh giá về độ dày da và mô dưới da, có vết sẹo hay sắc tố trên
da mũi. Da mũi mỏng có thể làm cho chât liệu cấy ghép dễ nhìn thấy hoặc đường các
bờ của sụn ghép. Da dày có thể che giấu những bất thường nhỏ bên dưới nhưng có
thể khó tạo độ nhô đầu mũi như ý khi điều chỉnh đầu mũi hình củ hành. Để chỉnh
sửa mũi ngắn, da dày và căng không bị giãn và đòi hỏi phải mổ xẻ rộng hơn nhiều.
Nếu nhìn thấy bất kỳ vết đỏ da và tĩnh mạch có từ trước trên sóng mũi thì có thể trở
nên dễ thấy hơn sau khi nâng sống mũi.
Sống mũi (xương mũi và sụn mũi bên)

Đánh giá sống mũi: gồ, võng xuống, hay vẹo lệch. Chiều dài của xương mũi
cũng rất quan trọng, vì xương mũi ngắn sẽ không ổn định hơn sau phẫu thuật cắt
xương.

Đối với xương mũi quá rộng, cắt xương để giảm chiều rộng xương mũi cũng
như di chuyển các sụn mũi bên vào ở giữa, có nguy cơ gây hẹp các van mũi trong.
Cần phải có kỹ thuật bổ sung để có thể phòng ngừa vấn đề này.

Ngoài ra, còn phải đánh giá sống mũi có bị biến dạng hình V-đảo ngược hoặc
các vấn đề van mũi trong do cuộc phẫu thuật trước đó.

Ở những bệnh nhân có sống mũi bị gồ phần sụn, nếu hạ thấp phần đuôi của
sụn mũi bên (đầu mũi) rất có thể dẫn đến đầu mũi bị rơi xuống ngay lập tức. Nếu
một bệnh nhân yêu cầu hạ thấp nhiều sống mũi thì khi lập kế hoạch trước phẫu
thuật nên xem xét có cần thiết tạo độ nhô đầu mũi không, chẳng hạn như ghép
thanh chống trụ mũi hoặc ghép độn trên đầu mũi.

Chương 2: Đánh giá trước phẫu thuật tạo hình mũi
78
E-bacsy.com
book
a
d
b
e
c
f
Hình. 2.1 Nâng
mũi và nâng cằm
cùng 1 lúc ở bệnh
nhân nữ. (a–c) Ảnh
trước phẫu thuật
với mũi thấp và
cằm thụt vào. (d–f)
Ảnh sau nâng mũi
(nâng mũi bằng
silicone và tạo độ
nhô đầu mũi bằng
sụn tai) và nâng
cằm (silicone).
Không nên nâng
cằm hay nâng mũi
đơn thuần sẽ làm
cho khuôn mặt
trong ít đẹp hơn

Chương 2: Đánh giá trước phẫu thuật tạo hình mũi
79
E-bacsy.com
book
Đầu mũi

Đầu mũi: nên được đánh giá về độ rộng của đầu mũi hình củ hành (độ phình
ra), độ nhô, tính đối xứng và đầu rủ xuống khi cười. Trong số các yếu tố này, việc bỏ
qua hình dạng đầu mũi khi bệnh nhân mỉm cười do sự hoạt động quá mức của cơ
hạ vách mũi sẽ dẫn đến dự đoán kết quả đầu mũi không phù hợp.

Ở bệnh nhân người châu Á, đầu mũi hình củ hành không phải là vấn đề đơn
giản chỉ giới hạn ở sụn cánh lớn và khi khám đầu mũi nên khoanh sụn cánh lớn,
tách vòm mũi hoặc kết hợp các vấn đề về da và mô mềm (Hình 2.2).

Trong trường hơp đầu mũi thấp, sự ổn định đầu trong của sụn cánh lớn sẽ
đánh giá bằng cách dùng một đầu ngón tay ấn lên đầu mũi. Ở những bệnh nhân
có đầu trong sụn cánh lớn yếu, một mảnh ghép sụn độn đơn giản có thể không đủ
để tạo độ nhô của đầu mũi cho việc kéo dài mũi. Ở những bệnh nhân như vậy, một
mảnh ghép thanh chống trụ mũi là cần thiết để củng cố đầu trong của sụn cánh lớn
yếu.

Tại thời điểm khám kiểm tra đầu mũi, có sai lệch sụn cánh lớn ở phần đầu
không.
a
c
b
d
Hình. 2.2 Nhiều biến thể của đầu mũi hình củ hành. (a, b): Đầu mũi hình củ hành do sụn.
(c, d) Đầu mũi hình củ hành do tổ chức phần mềm

Chương 2: Đánh giá trước phẫu thuật tạo hình mũi
80
E-bacsy.com
book
Nền mũi

Chiều rộng của nền mũi (khoảng cách giữa 2 cánh mũi): chiều rộng lý tưởng
nhất phải bằng hoặc rộng hơn 1->2 mm so với khoảng cách giữa 2 góc mắt trong
(32 ->35 mm).

Trụ mũi: đánh giá trụ mũi về chiều rộng và độ lệch so với đường giữa. Sai
lệch trụ mũi thường đi kèm với lệch vách ngăn. Trụ mũi nên đặt cao hơn 2 ->3 mm
so với vành cánh mũi, miễn sao là vành cánh mũi ở vị trí tối ưu.
Ghép độn sụn đơn giản để tạo độ nhô đầu mũi ở những bệnh nhân có trụ mũi bị co
kéo hoặc sa xuống (Hình 2.3) có thể dẫn đến khi tạo độ nhô đầu mũi sẽ không hiệu
quả hoặc đầu mũi rủ xuống theo thời gian. Để tạo độ nhô đầu mũi hiệu quả, cần giải
quyết nguyên nhân của trụ mũi bị co kéo hoặc sa xuống.

Lỗ mũi: không đối xứng thường là do sự sai lệch trụ mũi, nhưng cũng có thể
gây ra bởi sự chênh lệch chiều cao của đỉnh lỗ mũi mà không có sự tham gia của trụ
mũi.

Cánh mũi: đánh giá cánh mũi thì nên đánh giá về hình dáng và độ dày mô.
Trong số những bệnh nhân người châu Á, co kéo nhẹ cánh không phải là hiếm gặp
và có thể dễ dàng làm nặng thêm bằng các kỹ thuật khâu trên sụn cánh lớn.
Van mũi ngoài: Khi quan sát mũi thì khó có thể đánh giá nhưng sẽ nhìn thấy rõ khi
bảo bệnh nhân hít mạnh vào để nhận dạng (Hình 1.66). Khi thực hiện kỹ thuật tạo
hình đầu mũi mà thiếu hiểu biết về vấn đề van mũi ngoài có thể làm nặng thêm vấn
đề hít-thở cho bệnh nhân.

Chân trụ mũi: đánh giá cho hình dạng và độ nhô ra. Chân trụ mũi nhô ra có
thể trở nên tồi tệ hơn với bệnh nhân khi chỉnh sửa trụ mũi sa xuống hoặc sửa chữa
kéo dài mũi.
a
b
Hình. 2.3 Trụ mũi sa xuống (a) Trụ mũi co kéo (b)

Chương 2: Đánh giá trước phẫu thuật tạo hình mũi
81
E-bacsy.com
book
Liên quan với môi trên
Đánh giá vùng góc mũi-môi, chiều dài môi trên và cười hở lợi.
Khám bên trong mũi

Vách ngăn: cần được kiểm tra xem có bất kỳ sai lệch nào không. Ghi lại sai
lệch vách ngăn về vị trí và loại. Vách ngăn cũng nên kiểm tra: thủng, dính và hẹp.
Các cuốn mũi: sau đó cần kiểm tra kích thước, màu sắc và liệu chúng có chạm vào
cách ngăn hay không.

Van mũi trong: có bị nghẽn, hẹp hoặc sụp xuống. Khám thực thể van mũi
trong được mô tả trong Chương 1.

Không phải là hiếm khi gặp phải bệnh nhân có tiềm ẩn vấn đề về đường thở
nhưng những người không biết được vấn đề này. Công việc của bác sĩ phẫu thuật là
nhận ra và giải quyết các vấn đề như vậy với bệnh nhân trước khi thực hiện bất kỳ
ca phẫu thuật nào. Mặt khác, thu gọn mũi có thể làm xấu đi các vấn đề tiềm ẩn.
Xét nghiệm và chụp ảnh trước phẫu thuật

Để đánh giá trước phẫu thuật tạo hình mũi, thực hiện kiểm tra X quang
thường để đánh giá độ lệch mũi và thường bao gồm xem xương mũi và xem Waters.
Chụp cắt lớp vi tính là tốt nhất.
Kiểm tra qua nội soi có thể cung cấp thêm thông tin liên quan đến vách ngăn, cuống
mũi và niêm mạc. Kiểm tra mũi bằng siêu âm có thể hữu ích để đánh giá khách quan
về tình trạng tắc nghẽn mũi.
Phân tích mũi

Đạt được kết quả tốt nhất trong phẫu thuật tạo hình mũi thì phải dựa vào
phân tích cẩn thận mũi trước phẫu thuật và lập kế hoạch chính xác. Mỗi dân tộc
có một tỷ lệ mũi lý tưởng cho đặc điểm khuôn mặt mà chỉ dân tốc đó mới có được.
Trong quá trình đánh giá trước phẫu thuật, bác sĩ phẫu thuật tạo hình mũi có thể so
sánh đặc điểm nhân trắc học của từng bệnh nhân (chiều cao, hình dạng, góc và tỷ
lệ) với các tỉ lệ chuẩn lý tưởng. Ở người châu Á, những chuẩn mực về vẻ đẹp khuôn
mặt đã thay đổi theo thời gian, nhưng điều quan trọng là phải giữ được bản sắc dân
tộc của từng bệnh nhân. Dữ liệu nhân trắc học từ người da trắng không phù hợp với
phẫu thuật tạo hình mũi ở bệnh nhân người châu Á.

Một số phép đo trên khuôn mặt rõ ràng là khác nhau giữa người da trắng và
người châu Á. Vì vậy, các bác sĩ thực hành phẫu thuật tạo hình mũi trên người châu
Á nên thành thạo nhân trắc học trung bình của các nhóm dân tộc ở các quốc gia
châu Á.

Tất nhiên, không nên thực hiện phẫu thuật tạo hình mũi để thay đổi hình
dạng mũi để đáp ứng các số đo lý tưởng, tiêu chuẩn. Các kết quả phẫu thuật cuối
cùng là sẽ được một chiếc mũi hài hòa với phần còn lại của khuôn mặt. Mặc dù điều
quan trọng là phải phân tích kỹ tỷ lệ của khuôn mặt, nhưng điều quan trọng đối với
bác sĩ phẫu thuật là phải có trực giác tốt về kết quả cuối cùng là hình dạng mũi phù
hợp cho mỗi bệnh nhân nhất định. Ngoài chi tiết tốt này, kết quả phù hợp cũng đòi
hỏi dựa theo các phép đo khách quan.

Chương 2: Đánh giá trước phẫu thuật tạo hình mũi
82
E-bacsy.com
book

Thật không may, tài liệu này là dữ liệu nhân trắc học liên quan đến mũi ở
bệnh nhân người châu Á và có sự khác biệt đáng kể với các tỉ lệ phép đo đã báo cáo.

Đánh giá trước phẫu thuật tạo hình mũi bao gồm nhiều thông số sẽ liệt kê
dưới đây. Bước đầu tiên là phân tích mối liên quan giữa mũi và khuôn mặt.
Nhìn thẳng

Chiều cao của khuôn mặt có thể chia thành các phần trên, giữa và dưới (Hình
2.4). Đường kẻ ngang phân định 1/3 phần này là ở chân tóc, lông mày, gốc mũi và
cằm. Mặt dưới: xác định chính xác bởi khoảng cách từ gốc cánh mũi đến cằm. Vùng
này chia thành hai phần: phía trên là từ nền cánh mũi đến ngang mép môi là 1/3
của vùng mặt dưới.

Khuôn mặt cũng có thể chia thành 5 phần nằm ngang, với các mặt phẳng
phân định tại: góc mắt ngoài-góc mắt trong. Trong sơ đồ này, phần trung tâm chứa
toàn bộ mũi (Hình 2.5).
a
b
1/3
1/3
1/3
1/3
1/3
1/3
1/3
2/3
Hình. 2.4 Khuôn mặt chia làm 3 phần bằng nhau: trên, giữa và dưới. Các đường ngang sẽ
cắt qua các vị trí như: đường chân tóc, chân mày, gốc mũi và cằm. Vùng mặt dưới là từ nền
cánh mũi đến cằm. Vùng này chia thêm thành 2 phần nhỏ: phần trên (nền cánh mũi đến
mép môi, chiếm 1/3) và phần dưới (mép môi đến cằm chiếm 2/3)
Hình. 2.5 Vùng mặt chia làm 5 phần ngang: dựa vào đường
cắt qua góc mắt ngoài và góc mắt trong.

Chương 2: Đánh giá trước phẫu thuật tạo hình mũi
83
E-bacsy.com
book
Chiều rộng và chiều dài mũi

Khoảng cách giữa 2 góc mắt trong thì bằng chiều rộng của 1 mắt (khoảng
cách từ góc mắt ngoài đến góc mắt trong). Ở hầu hết các bệnh nhân, các đường
thẳng đứng đi qua bờ góc mắt trong thì cũng đi qua mép môi (Hình 2.6).

Ở những bệnh nhân da trắng, khoảng cách giưa 2 góc mắt lý tưởng là từ 31-
>33 mm. Đối với bệnh nhân người châu Á, khoảng cách trung bình được báo cáo là
37 mm đối với nam và 36 mm đối với nữ.

Ở bệnh nhân người da trắng, chiều rộng mũi lý tưởng chiếm khoảng 1/5
chiều rộng khuôn mặt. Chiều rộng của nền mũi lý tưởng xấp xỉ bằng hoặc rộng hơn
2 mm so với khoảng cách giữa 2 góc mắt trong. Ở bệnh nhân Hàn Quốc, chiều rộng
trung bình của mũi được báo cáo là 4,0 cm ở nam và 3,6 cm ở nữ. Do chiều rộng lớn
hơn, bệnh nhân Hàn Quốc có thể có chiếc mũi ngắn hơn so với bệnh nhân da trắng
có mũi hẹp hơn. Ở bệnh nhân đến từ Đông Nam Á thì nền mũi thậm chí còn rộng
hơn.
a
b
Hình. 2.6 Khoảng cách giữa 2 góc mắt trong thì bằng chiều rộng của 1 mắt (khoảng cách
từ góc mắt ngoài đến góc mắt trong). Đường thẳng đứng đi qua bờ góc mắt trong thì cũng
đi qua mép môi cùng bên.

Chương 2: Đánh giá trước phẫu thuật tạo hình mũi
84
E-bacsy.com
book

Chiều dài mũi là khoảng cách từ gốc mũi đến đỉnh mũi. Độ dài lý tưởng sẽ
khác nhau giữa bệnh nhân người châu Á và người da trắng. Tác giả Byrd cho là chiều
dài mũi lý tưởng là bằng 2/3 chiều dài của chiều chiều dài vùng giữa mặt (trán đến
vùng dưới mũi). Các tác giả khác cho rằng chiều dài mũi/chiều cao mũi khoảng 1:
0,67 ở mũi lý tưởng của người da trắng (Hình 2.7). Tuy nhiên, chiều dài lý tưởng sẽ
khác nhau giữa bệnh nhân người châu Á và người da trắng, và quan niệm chủ quan
của từng người. Ngoài ra, chiều dài lý mũi tưởng có thể thay đổi tùy thuộc vào chiều
dài và chiều rộng của tổng thể khuôn mặt cũng như của cằm và môi. Do đó, các tiêu
chuẩn lý tưởng không thể là mục tiêu tuyệt đối để phẫu thuật và mỗi thao tác nên
thực hiện theo nhu cầu riêng của bệnh nhân.

Chiều rộng của nền xương mũi phải khoảng 80% chiều rộng của nền cánh
mũi ở bệnh nhân da trắng. Ở bệnh nhân người châu Á, tỷ lệ này nên ở khoảng 2/3
(Hình 2.8).
Hình. 2.7 Độ dài mũi đo từ gốc
mũi đến đỉnh mũi
Hình. 2.8 Ở người châu Âu, thì chiều rộng của
xương mũi bằng khoảng 80% chiều rộng của
nền mũi.

Chương 2: Đánh giá trước phẫu thuật tạo hình mũi
85
E-bacsy.com
book
Đường thẩm mỹ ở sống mũi
Các đường thẩm mỹ của sống mũi: xác định bởi các đường vẽ từ đầu trong của lông
mày giữa đến xương mũi và xuống đến các điểm bờ của đầu mũi (Hình 2.9). Khoảng
giữa 2 đường có dạng hình đồng hồ cát với điểm hẹp nhất gần góc vách ngăn.
Các đường nên uốn cong nhẹ nhàng nhưng có thể xác định ít hơn ở bệnh nhân nữ
người châu Á.
Nhìn nghiêng
Đánh dấu các điểm chính trên khuôn mặt khi nhìn nghiêng (Hình 2.10). Từ cách
nhìn này, mặt phẳng ngang Frankfort tồn tại trong đường vẽ từ ống tai ngoài đến bờ
dưới ổ mắt. Đường thẳng đứng gặp đường ngang Frankfort ở một góc phải.
Hình. 2.9 Đường thẩm mỹ sống mũi
a
b
R
T
A
S
M
Hình. 2.10 Các điểm quan trọng của mũi khi nhìn nghiên. Nhìn 1 bên, đường ngang Frank-
fort horizontal chạy từ ống tai ngoài đến bờ dưới ổ mắt. Đường thẳng đứng gặp đường
ngang Frankfort ở một góc phải. A nền mũi, M cằm, R gốc mũi, S môi, T đầu mũi

Chương 2: Đánh giá trước phẫu thuật tạo hình mũi
86
E-bacsy.com
book
Gốc mũi

Ở những bệnh nhân người da trắng, phần giữa của gốc mũi nằm ngang mức
giữa đường nối 2 lông mi và ngang mức nếp mí trên sụn mi. Khi so sánh, gốc mũi
ở bệnh nhân người châu Á thì ở vị trí thấp hơn. Chiều cao của phần giữa của gốc
mũi là khoảng 9 ->14 mm so với mặt phẳng trước giác mạc ở người da trắng, là một
thành phần quan trọng của cấu hình mũi. Ở bệnh nhân người châu Á, cùng chiều
cao của gốc mũi có thể biểu hiện cao bất thường. Gốc mũi cao như vậy có thể tạo ra
cái nhìn ảo về một chiếc mũi dài và vẻ mặt hung dữ. Một gốc mũi quá thấp có thể
làm cho mũi có vẻ nhỏ hơn thực tế.

Nếu một đường tưởng tượng vẽ từ gốc mũi đến đầu mũi, thì đường thực tế
của sống mũi phải thấp hơn một chút so với đường thẳng mà không có độ cong nhẹ
(Hình 2.11). Tuy nhiên, bệnh nhân nam châu Á không mong muốn đường cong sống
mũi như vậy.
Góc mũi

Góc mũi-trán là góc hình thành giữa các đường tiếp tuyến vẽ dọc theo sống
mũi và trán (Hình 2.12).

Ở những bệnh nhân da trắng, góc mũi lý tưởng là khoảng 120 ->130° ở nam
và 115 ->125 ° ở nữ. Ở nữ bệnh nhân người Hàn Quốc, góc mũi trán có giá trị lý
tưởng là 137 ->139 °.

Một góc mũi nhỏ hơn bình thường có liên quan đến một gốc mũi thấp và
cũng góp phần vào một hình thái mũi trông ngắn. Ngược lại, một góc mũi lớn hơn
bình thường có thể làm cho mũi trông quá dài trong một vài tình huống.

Điểm Selion thường nằm sâu hơn và thấp hơn ở mũi ở người châu Á so với
người châu Âu. Bệnh nhân người châu Á bị selion nằm ở vị trí sâu có thể làm gián
đoạn đường thẩm mỹ ở sống mũi cũng như chuyển đổi đột ngột giữa vùng mặt trên
và mặt giữa. Trông khuôn mặt có thể rộng hơn.
Hình. 2.11
Đường cong
sống mũi
thực tế nằm
thấp hơn
đường nối
giữa gốc mũi
và đầu mũi
Hình. 2.12 Góc
mũi-trán là góc
hình thành giữa
các đường tiếp
tuyến vẽ dọc
theo sống mũi
và trán

Chương 2: Đánh giá trước phẫu thuật tạo hình mũi
87
E-bacsy.com
book
Chiều dài mũi

Chiều dài mũi là khoảng cách từ gốc mũi đến đỉnh mũi (Hình 2.7). Trong số
những nam giới người Hàn Quốc, chiều dài mũi thông thường là từ 38-> 47 mm, với
bệnh nhân nữ thì có mũi ngắn hơn. Nhìn chung, bệnh nhân người Hàn Quốc có mũi
ngắn hơn đối với người da trắng. Ở bệnh nhân người châu Á, các phẫu thuật thường
xuyên sử dụng để tăng chiều dài mũi là phẫu thuật tạo hình mũi và tinh chỉnh đầu
mũi.
Supratip Break (lằn trên đầu mũi)

Supratip Break nằm hơi về phía đầu hơn so với điểm xác định đầu mũi và
nằm sau đường nối giữa gốc đến đỉnh mũi (Hình 2.13). Supratip Break là thích hợp
cho các bệnh nhân nữ châu Á thích có sống mũi hơi cong. Tuy nhiên, hầu hết bệnh
nhân nam không muốn có Supratip Break. Ngay cả trong số các bệnh nhân nữ, việc
Supratip Break quá sâu là nguyên nhân dẫn đến sự không hài lòng sau phẫu thuật.
Độ cong của đường sống mũi không nên chỉ phụ thuộc vào Supratip Break. Thay
vào đó, độ cong nên kéo dài trên toàn bộ chiều dài của mũi.
Góc mũi-môi

Góc mũi môi là đường hình thành giữa đường thẳng đứng và đường nối giữa
bờ trước và bờ sau của lỗ mũi (Hình 2.14).
Góc mũi
trán
lõm trên đầu mũi
Điểm xác
định đầu
mũi
Góc trụ
mũi-môi
Đường
ngang
Frank-
fort
95-100°
Hình. 2.13 Supratip break được xác định
bằng sự liên quan giữa chiều cao đầu mũi và
chiều cao vòm mũi phần đuôi
Hình. 2.14 Góc mũi môi hình thành
từ đường thẳng giũa mặt và đường
nối giữa bờ trước và bờ sau của lỗ
mũi

Chương 2: Đánh giá trước phẫu thuật tạo hình mũi
88
E-bacsy.com
book

Trong dân số người da trắng, đo góc mũi-môi từ 95°-> 100° ở nữ và 90° ->
95° ở nam. Ở Đông Á, góc được báo cáo là 90°->93 °. Góc mũi-môi thường rộng hơn
ở những bệnh nhân bị đầu mũi hếch lên, thường gọi là mũi lợn vì có thể nhìn thấy
phần trong của lỗ mũi từ phía trước. Hầu hết người châu Á không thích có chiếc mũi
hếch quá mức này.

Trong số những người châu Á, một góc mũi-má nhỏ có thể tạo phần miệng
nhô ra vì điểm dưới mũi lõm vào. Trong những trường hợp như vậy, phẫu thuật tạo
hình nâng mũi đơn giản cho mũi tương đối phẳng có thể không đủ để bù đắp cho
miệng nhô ra. Có thể cần ghép đồng thời trụ mũi hoặc tăng cường ANS để tăng góc
mũi.

Góc trụ mũi-môi đôi khi sử dụng thay thế cho góc mũi-môi, nhưng hai góc
này không giống nhau về mặt kỹ thuật. Góc trụ mũi-môi được hình thành giữa môi
trên và trụ mũi (Hình 2.15) và có thể bị ảnh hưởng bởi phần nhô ra của môi trên
hoặc nhô ra bỡi đuôi vách ngăn. Ở nữ giới Hàn Quốc, góc trụ mũi-môi trung bình
báo cáo là khoảng 95,2 °. Góc này lớn hơn đối với người da trắng.
Góc trụ mũi-thùy mũi
Góc trụ mũi-thùy mũi là góc được hình thành bởi trụ mũi và phần dưới của đầu mũi,
và đại diện cho điểm nối giữa đầu trong và đầu giữa của sụn cánh lớn (Hình 2.16).
Góc này lý tưởng là 30 °->45 ° ở những người phụ nữ da trắng.
Hình. 2.15 Góc trụ mũi-môi được hình
thành giữa môi trên và trụ mũi
Hình. 2.16 Góc trụ mũi-thùy mũi là
góc được hình thành bởi trụ mũi và
phần dưới của đầu mũi

Chương 2: Đánh giá trước phẫu thuật tạo hình mũi
89
E-bacsy.com
book
Hình dạng trụ mũi (Mối quan hệ Cánh mũi-Trụ mũi)

Một đường vẽ xuyên qua bờ ngoài của cánh mũi và trụ mũi (Hình 2.17). Ở
người da trắng, khoảng cách giữa bờ cánh mũi và mặt dưới của trụ mũi là 3 ->4 mm.
Trong số những người Hàn Quốc, khoảng cách trung bình được báo cáo là 4,9 mm
ở nam và 4,3 mm ở nữ.

Sự gia tăng khoảng cách giữa trục dài và vành cánh mũi cho thấy độ cánh mũi
bị co kéo và giảm khoảng cách này là cánh mũi bị sa xuống. Sự gia tăng khoảng cách
giữa trục và mặt dưới cho thấy trụ mũi bị sa xuống, trong khi giảm khoảng cách này
có thể là dấu hiệu của trụ mũi bị co kéo.
Hình. 2.17 Liên quan cánh mũi-trụ mũi bình thường. Một đường vẽ xuyên qua bờ ngoài
của cánh mũi và trụ mũi

Chương 2: Đánh giá trước phẫu thuật tạo hình mũi
90
E-bacsy.com
book
Độ nhô đầu mũi

So với người da trắng, ở người châu Á thì đầu mũi bị thấp xuống và thường
không xác định được đỉnh mũi.

Độ nhô đầu mũi là khoảng cách ngang từ rãnh cánh mũi đến đầu mũi (Hình
2.18). Trong số những người Hàn Quốc, khoảng cách trung bình là 2,7 cm đối với
nam và 2,4 cm đối với nữ.

Độ nhô đầu mũi nên đánh giá bằng hai phương pháp.
Đầu tiên, cần đánh giá tỷ lệ chiều dài của toàn mũi (Hình 2.18a). Độ nhô đầu mũi là
thấp nếu tỷ lệ giữa chiều dài mũi / độ nhô đầu mũi là nhỏ hơn 0,67.

Thứ hai, tạo độ nhô đầu mũi cần đánh giá liên quan đến môi trên. Độ dài của
độ nhô đầu mũi có thể chia thành các phần trước và sau bằng một đường vẽ từ điểm
phía trước nhất của môi trên (Hình 2.18b). Lý tưởng nhất là phần trước chiếm 50
->60% trong tổng thể độ nhô của đầu mũi. Nếu phần trước này chiếm hơn 60%,
phần lớn khả năng là đầu mũi bị nhô quá mức. Ngược lại, phần trước chiếm ít hơn
50% hình chiếu của đầu mũi thì đầu mũi bị thiếu.
Hình. 2.18 Độ nhô đầu mũi là khoảng cách ngang từ rãnh cánh mũi đến đầu mũi và được
đánh giá bằng 2 phương pháp

Chương 2: Đánh giá trước phẫu thuật tạo hình mũi
91
E-bacsy.com
book
Nhìn từ nền mũi

Đánh giá độ nhô đầu mũi, hình dạng lỗ mũi ngoài, hình dạng và chiều rộng của
cánh mũi khi nhìn từ nền cánh mũi (Hình 2.19). Chiều rộng của nền cánh mũi được
đo từ rãnh cánh mũi-má đến rãnh bên đối diện và lý tưởng nhất là bằng khoảng
cách giữa 2 góc mắt trong. Cánh mũi loe là cánh mũi nằm cao hơn phía trên rãnh
cánh mũi-má, và tốt nhất là không vượt quá 2 mm bên ngoài rãnh.
Khi nhìn từ nền mũi, mũi có hình dạng của một hình tam giác đều. Chiều cao của
thùy dưới đỉnh sẽ bằng 1/3 khoảng cách từ gốc cánh mũi đến đỉnh mũi.
1/3
2/3
Hình. 2.19 Nhìn bên dưới lên, hình dạng mũi như một hình tam giác điều. Chiều cao của
thùy dưới đỉnh sẽ bằng 1/3 khoảng cách từ gốc cánh mũi đến đỉnh mũi.

Chương 3: Đường mổ, quy trình dùng thuốc trong mổ và hướng dẫn
92
E-bacsy.com
book
Đường mổ,
Quy trình dùng thuốc trong mổ
và Hướng dẫn 3
Đường mổ và quy trình kỹ thuật cho nâng mũi

Một đường mổ hở qua da và niêm mạc mũi sẽ tạo điều kiện cho phẫu thuật
viên tiếp cận vào một số cấu trúc xương và sụn của mũi. Một quy trình kỹ thuật là
thực hiện một phương pháp phẫu thuật để tiếp cận hoặc bộc lộ một cấu trúc mũi
nhất định, bao gồm bóc tách và có thể cần kết hợp thêm nhiều đường mổ.
Có nhiều đường mổ và quy trình kỹ thuật được sử dụng để nâng mũi. Mỗi đường
mổ và quy trình kỹ thuật có một ưu điểm và nhược điểm riêng, vì vậy không có quy
trình kỹ thuật nào có thể cho phép thực hiện nhiều kỹ thuật nâng mũi. Một phẫu
thuật viên có kinh nghiệm nên làm quen với các đường mổ và các quy trình kỹ
thuật, và có thể sử dụng để tiếp cận phù hợp nhất cho một tình huống nhất định.
Phương pháp tiếp cận cho phẫu thuật nâng mũi bao gồm phương pháp mổ mũi kín
(phương pháp trong mũi) và phương pháp mổ mũi hở.
Phương pháp mổ mũi kín

Đường mổ bên trong mũi được sử dụng cho phương pháp mũi kín gồm:
đường mỏ bờ trong mũi, đường trng sụn, đường mổ giữa 2 sụn và đường mổ ngang
(Hình 3.1).
a
b
c
d
Hình. 3.1 Đường mổ mũi kín. (a) Đường mổ bờ trong mũi, (b) đường mổ trong sụn, (c)
đường mổ giữa 2 sụn, (d) đường mổ ngang

Chương 3: Đường mổ, quy trình dùng thuốc trong mổ và hướng dẫn
93
E-bacsy.com
book
Đường mổ bờ trong mũi

Đường mổ bờ trong mũi là đường mổ được thực hiện phổ biến nhất trong
phẫu thuật tạo hình mũi. Đường mổ bắt đầu ngay bên trong điểm giữa của trụ mũi
và tiếp tục dọc theo bờ đuôi của trụ trong của sụn cánh lớn về phía vòm mũi. Gần
tới vòm mũi, đường mổ được kéo dài về phía ngoài dọc theo bờ đuôi của trụ ngoài
(Hình 3.2). Với sự co lại ra bên ngoài của vành cánh mũi, bờ đuôi của trụ ngoài có
thể quan sát là đường nằm giữa khu vực có và không có lông mũi. Các bờ càng ra
ngoài thì càng sâu hơn. Đường mổ bờ trong mũi thì càng về phía cánh mũi thì càng
nằm sâu về bên trong lỗ mũi hơn. Không bao giờ thực hiện đường mổ dọc theo vành
cánh mũi để tránh những thay đổi hình dạng của lỗ mũi sau mổ.

Đối với kỹ thuật khâu thu gọn chính xác ở sụn cánh lớn, nên rạch vết mổ cho
cả hai bên. Ngay cả khi không có sụn nhân tạo, việc rạch và bóc tách hai bên có thể
cho phép hình thành túi đối xứng để nâng sống mũi hoặc ghép độn sụn đơn giản.
a
b
c
Hình. 3.2 Đường mổ bờ trong mũi. (a) Đường mổ bắt đầu từ 2–3 mm bên trong bờ trụ
mũi và kéo dài về phía đầu dọc theo bờ đuôi của trụ trong. (b) Tránh cắt qua tam giác
mềm, đường mổ cong theo vòm mũi. (c) Đường rạch chạy ra phía ngoài dọc theo bờ đuôi
của trụ ngoài.

Chương 3: Đường mổ, quy trình dùng thuốc trong mổ và hướng dẫn
94
E-bacsy.com
book
Đường mổ giữa 2 sụn

Đường mổ giữa 2 sụn nằm ở vùng da tiền đình mũi giữa sụn mũi bên và sụn
cánh lớn. Đường mổ này sẽ tạo điều kiện tiếp cận vào sụn mũi và xương sống mũi,
và cho phép có thể bóc tách ngược về phía thùy mũi (Hình 3.3). Dùng móc đôi kéo
cánh mũi ra phía ngoài về phía đầu, trong khi sử dụng ngón giữa của bàn tay đè lên
để tạo áp lực và lộ ra khu vực van. Sau khi xác định bờ đuôi của sụn mũi bên, sử
dụng lưỡi số 11 hoặc 15 để rạch dọc theo bờ đuôi của sụn rồi hướng về phía góc
van.

Đường mổ này thường sử dụng để phẫu thuật chỉnh sửa xương sống mũi (ví
dụ: giảm mũi gồ).

Để giảm thiểu nguy cơ chấn thương van mũi, thực hiện vết mổ phải nhỏ hơn
1->2 mm so với viền tiền đình mũi.
Đường mổ trong sụn

Đường mổ trong sụn đi qua trụ ngoài của sụn cánh lớn. Đường mổ này nằm
ở van mũi và do đó làm giảm nguy cơ tắc nghẽn mũi (tức là tránh sẹo của van mũi
khi mổ qua đường mổ giữa 2 sụn). Đường mổ này rất hữu ích để cắt bỏ một phần về
phía đầu mũi hình củ hànha trụ ngoài của sụn cánh lớn. Trong hầu hết các trường
hợp, rạch đường mổ khoảng từ 6 ->8 mm đến bờ đầu đến bờ đuôi của trụ ngoài của
sụn cánh lớn. Tác giả không khuyến khích sử dụng vết mổ này vì đường mổ trong
sụn có thể không đối xứng và vì đầu ngoài của sụn cánh lớn rất dễ không đối xứng.
Hình. 3.3 Đường mổ giữa 2 sụn

Chương 3: Đường mổ, quy trình dùng thuốc trong mổ và hướng dẫn
95
E-bacsy.com
book
Đường mổ xuyên 2 bên

Đường mổ xuyên 2 bên là một đường mổ tại vách ngăn màng phủ qua phần
đuôi của vách ngăn sụn. Nó cũng có thể gọi là đuôi vách ngăn. Đường mổ này có thể
tiếp cận vào vùng vách ngăn, tiền hàm trên, trước sống mũi và sàn xoang mũi.
Đường mổ là một vết mổ hoàn toàn thực hiện qua cả hai bên của vách ngăn màng;
do đó, nó là một đường mổ xuyên suốt ở phần đuôi của vách ngăn sụn. Có thể thực
hiện bóc tách dưới màng sụn ở cả hai bên của vách ngăn thông qua vết mổ này
(Hình 3.4).

Đường mổ 1 bên cũng thực hiện ở 1 bên, trong đó rạch vết mổ thông qua một
bên của vách ngăn màng. Qua đường mổ một bên của vách ngăn màng, nâng cả hai
bên của niêm mạc-sụn lên. Bác sĩ phẫu thuật thuận tay phải thì tiến hành mổ bên
phải của vách ngăn.
Hình. 3.4 Đường mổ xuyên 2 bên

Chương 3: Đường mổ, quy trình dùng thuốc trong mổ và hướng dẫn
96
E-bacsy.com
book
Kỹ thuật mổ hở

Mổ mũi hở đòi hỏi một đường mổ ngang qua bên ngoài của trụ mũi và đường
mổ kéo dài qua bên trong mũi theo bờ trong cánh mũi.

Đường mổ cắt qua trụ mũi có nhiều biến thể như: hình chữ V ngược, hình
tam cấp và chữ V ở nền trụ mũi. Trong số này, đường mổ hình chữ V ngược và
đường mổ bậc thang là hay sử dụng nhiều nhất (Hình 3.5). Tác giả thích vết mổ hình
V ngược vì nó ít nhìn thấy và ít tạo sẹo co kéo sau phẫu phẫu thuật.

Đường mổ được thực hiện tại điểm hẹp nhất của trụ mũi, thường là ở phần
giữa. Vùng vết mổ này thường là nơi sụn mũi nằm gần da nhất, giúp giảm thiểu khả
năng bị sẹo lõm. Nếu đặt vết mổ nằm sau trụ mũi quá nhiều, vết sẹo sẽ kéo dài và
khả năng vết sẹo lõm cao hơn vì da không được hỗ trợ tốt bởi các cấu trúc sụn mũi.

Sử dụng lưỡi dao số 11 để tạo ra phần V đảo ngược, và dùng lưỡi dao số 15
để rạch đường mổ ngang qua trụ mũi. Đường mổ phải giữ vuông góc với bề mặt
da. Đường mổ tiếp tục rạch về phía khu vực vòm- cánh mũi dọc theo bờ đuôi của
trụ ngoài của sụn cánh lớn. Ở khu vực vòm mũi, đường mổ này kéo dài dọc theo bờ
đuôi của trụ ngoài của sụn cánh lớn, đó là đường mổ bên trong lỗ mũi (Hình 3.6).
Có thể dùng móc da móc dọc theo bờ đuôi của vết mổ lên, dùng ngón trỏ và ngón
giữa giữ móc da để lật ngược lên và có thể nhìn thấy và tiếp xúc với bờ đuôi của
trụ ngoài của sụn cánh lớn. Có thể khó thực hiện đường mổ trong mũi nếu lỗ mũi
nhỏ hoặc nếu bờ đuôi của sụn cánh lớn không thể nhìn thấy rõ ràng. Trong những
trường hợp như vậy, đường trong lỗ mũi nên dừng lài cho đến sau nâng được độ
cao của trụ mũi.

Bóc tách bằng kéo Metzenbaum hoặc kéo Converse góc cạnh để nâng cao
phần trụ mũi của vạt và tiến hành tiếp tục bộc lộ vòm mũi và trụ ngoài của sụn cánh
lớn. Thực hiện bóc tách dọc theo mặt phẳng mạch máu chỉ ở lớp nông của màng
sụn. Nếu thực hiện nâng vạt da bằng cách tách lớp màng ngoài của sụn, thì sụn
cánh lớn có thể trở nên mỏng manh, đó là điều cần tránh. Ở những bệnh nhân có da
mỏng, thì nên cố gắng bóc tách để giữ lại nhiều mô mềm cho vạt da.
Hình. 3.5 Đường mổ
mũi hở

Chương 3: Đường mổ, quy trình dùng thuốc trong mổ và hướng dẫn
97
E-bacsy.com
book
a
b
c
d
e
f
Hình. 3.6 Quy trình mổ mũi hở. (a) Đường tạch hình chữ V đảo ngược ở trụ mũi. (b)
Đường rạch dọc theo bờ đuôi của trụ trong sụn. (c, d) Đường rạch kéo dài ra ngoài theo bờ
đuôi của trụ ngoài. (e, f) Mặt phẳng bóc tách là trên màng sụn.

Chương 3: Đường mổ, quy trình dùng thuốc trong mổ và hướng dẫn
98
E-bacsy.com
book

Ở những bệnh nhân có đầu mũi hình củ hành và da dày, nâng vạt da lên trong
khi để lại một phần mô xơ ở vòm mũi và ở trụ ngoài của sụn cánh lớn. Có thể được
cắt bớt các mô xơ-mỡ gắn vào sụn cánh lớn để giảm kích thước đầu mũi. Tuy nhiên,
tác giả thích để lại các mô xơ-mỡ không phải trên sụn mà ở bên cạnh vạt da. Lý do là
để lại các mô xơ-mỡ với vạt da và thực hiện quy trình làm mỏng vạt như bước cuối
cùng trong quy trình phẫu thuật sau khi tiếp xúc với sụn cánh lớn và hoàn thành
công việc phép sụn sau đó loại bỏ mô mềm sẽ chính xác hơn. Điều này cũng giảm
thiểu phù nề sau phẫu thuật ở chóp mũi. Tất nhiên, sự lựa chọn này tùy thuộc vào
kinh nghiệm và sở thích của từng bác sĩ phẫu thuật. Để bảo tồn mạch máu cung cấp
cho chóp mũi, nên tránh làm mỏng vạt quá mức ở khu vực chóp mũi.

Tiếp tục mổ mổ bóc tách xa hơn dọc theo sống mũi bằng sử dụng kéo
Metzenbaum. Thực hiện bóc tách trên màng sụn trên vùng sụn mũi bên. Đối với khu
vực xương mũi, bóc tách sâu đến dưới màng xương. Sử dụng các vật liệu để nâng
sống mũi (ví dụ, chất liệu cấy ghép nhân tạo, ghép sụn sườn hoặc sụn cắt nhỏ bọc
trong fascia) nên đặt ở mặt phẳng dưới màng xương. Lý do đặt dưới màng xương là
để cho giảm thiểu khả năng nhìn thấy chất liệu và khả năng di động của chất liệu cấy
ghép hoặc sụn ghép. Ngoài ra, khi màng xương còn nguyên vẹn có xu hướng giảm
thiểu khả năng nhìn thấy các bất thường sau khi giảm gồ sống mũi và cắt bỏ xương
giữa.

Dùng Joseph để nâng màng xương lên. Khi nâng màng xương về phía đuôi
lên, dùng retractocrAufricht để nâng cả vạt da lên. Tiếp tục bóc tách màng xương
đến khi nhìn thấy thấy khoang bên trong, tránh để rách màng xương. Các mạch máu
nhỏ nằm trên xương mũi cung cấp máu cho vạt da sẽ bị cắt đi trong quá trình nâng
cao màng xương (Hình 3.7). Chảy máu từ các mạch này sẽ tự cầm, nhưng các mạch
phải được đốt cầm máu trước khi cắt ngang, luôn luôn chú ý để giảm thiểu chảy
máu muộn, tụ máu và bầm tím.
Da bên trên
Các mạch xiên
Xương mũi
Hình. 3.7 Các mạch
máu xiên qua các lỗ
nhỏ ở xương mũi

Chương 3: Đường mổ, quy trình dùng thuốc trong mổ và hướng dẫn
99
E-bacsy.com
book
Lựa chọn đường mổ và quy trình kỹ thuật

Sự lựa chọn giữa phương pháp kín và phương pháp mổ hở phụ thuộc vào sở
thích và kinh nghiệm của bác sĩ phẫu thuật, cũng như để giải quyết một vấn đề lâm
sàng nhất định trên bệnh nhân và mục tiêu phẫu thuật. Ở hầu hết các bệnh nhân,
sẹo trụ mũi của phẫu thuật nâng mũi không gây ra vấn đề đáng kể ở hầu hết bệnh
nhân sau phẫu thuật.

Tác giả sử dụng phương pháp mổ hở trong 70% phẫu thuật nâng mũi lần đầu
và 90% phẫu thuật nâng mũi sửa lại (lần 2 trở đi).
Phương pháp mổ mũi kín

Phương pháp mũi kín cho phép thực hiện kỹ thuật ở sống mũi, giảm gồ, cắt
bỏ xương và tạo hình đầu mũi.
Ưu điểm của phương pháp mổ mũi kín

1. Có thể nhanh hơn quy trình kỹ thuật hở

2. Không để lại sẹo bên ngoài

3. Ít phù nề ở đầu mũi

4. Không mất tổ chức nâng đỡ đầu mũi

5. Dễ chấp nhận đối với những bệnh nhân có cơ địa sẹo xấu
Nhược điểm của phương pháp mổ mũi kín

1. Hạn chế tiếp xúc và hình dung vì lỗ mũi nhỏ, thường gặp ở người châu Á.

2. Tùy thuộc vào phẫu thuật viên, có một sự khác biệt lớn trong khu vực

phẫu thuật có thể xử lí bằng phương pháp mổ mũi kín.

3. Ở những bệnh nhân có nhiều mô mềm, da mũi dày và sụn cánh lớn nhỏ,

rất khó khăn khi muốn thực hiện tạo hình đầu mũi bằng phương pháp mổ

mũi kín. Các kết quả thường kém hơn so với những người được mổ theo

quy trình mổ mũi hở.
Lựa chọn bệnh nhân

Phương pháp mổ mũi kín là lý tưởng cho một bệnh nhân có da mỏng, mô
dưới da ít, lỗ mũi có kích cỡ đủ lớn và sụn cánh lớn vững chắc. Trong phẫu thuật
nâng mũi người châu Á, phương pháp này thường sử dụng để tạo độ nhô đầu mũi,
nâng sống mũi, chỉnh sửa kéo dài mũi ít và chỉnh sửa độ co kéo cánh mũi nhẹ.
Phương pháp mổ mũi kín rất hạn chế để chỉnh sửa những trường hợp có đầu mũi
hình củ hành và có da dày với tổ chức dưới da nhiều, mũi ngắn và mũi lệch. Đối với
những trường hợp như vậy, quy trình kỹ thuật mổ hở sẽ áp dụng hiệu quả hơn.

Chương 3: Đường mổ, quy trình dùng thuốc trong mổ và hướng dẫn
100
E-bacsy.com
book
Quy trình kỹ thuật hở
Ưu điểm của phương pháp hở
1. Tiếp xúc tốt hơn với các cấu trúc mũi
2. Đặt chính xác hơn các mũi khâu và vị trí các mảnh ghép
3. Chỉnh sửa sẹo và giải phóng những co kéo trong trường hợp mổ mũi lại lần 2
4. Cho phép cầm máu tốt hơn và ít nguy cơ gây khối máu tụ
5. Kiểm tra chính xác hơn các biến dạng cấu trúc mũi trong lúc phẫu thuật
6. Giá trị giảng dạy
Nhược điểm của phương pháp hở

1. Sẹo ở trụ mũi: Vết sẹo là không rõ ràng trong hầu hết các trường hợp. Sẹo

xấu có thể giải quyết bằng laser hoặc phẫu thuật sửa sẹo đơn giản.

2. Thời gian mổ lâu hơn. Tuy nhiên, các bác sĩ phẫu thuật có kinh nghiệm sẽ

nhận thấy ít sự khác biệt giữa các phương pháp mũi hở và mổ mũi kín.

3. Quy trình mổ mũi hở sẽ gây đầu mũi phù nề lâu hơn.

4. Trong những trường hợp hiếm gặp, quy trình mổ mũi hở có thể dẫn đến

hoại tử trụ mũi hoặc chóp mũi. Điều này là cực kỳ hiếm ở bệnh nhân người

châu Á, đặc biệt là không loại bỏ quá nhiều các mô dưới da ở vùng đầu mũi.
Lựa chọn bệnh nhân

1. Mũi ngắn với đầu mũi hếch lên

2. Mũi lệch

3. Đầu mũi hình củ hành và có mô mềm trên đầu mũi dày

4. Đầu mũi và lỗ mũi không đối xứng

5. Đầu mũi thấp hoặc ngắn với sụn cánh mũi lớn rất nhỏ

6. Phẫu thuật sửa lại đầu mũi, mà quy trình kỹ mổ mũi kín không thể tiếp

cận hết toàn bộ sụn cánh mũi lớn

7. Phẫu thuật sửa mũi lại cho những trường hợp mũi co kéo

8. Biến dạng vòm mũi

9. Loại bỏ chất liệu làm đầy do tiêm
Chuẩn bị trước phẫu thuật và gây mê

Hai tuần trước khi phẫu thuật, hướng dẫn bệnh nhân nên ngừng dùng NSAID,
aspirin, thuốc chống đông máu, thuốc thảo dược và vitamin E. Các loại thuốc đang
được sử dụng ngay cả trong ngày phẫu thuật bao gồm thuốc hạ huyết áp, thuốc DM
và hormone tuyến giáp. Bệnh nhân nên phải NPO trong 4 giờ trước khi gây tê IV và
8 giờ trước khi gây mê toàn thân. Bệnh nhân có độ lo lắng nhiều có thể được dùng
thuốc giảm lo âu trước khi phẫu thuật.

hacklink satın al mumu模拟器 雷电模拟器 向日葵 giftcardmall/mygift giftcardmall balance mygift giftcardmall Salvobet Salvobet Giriş Salvobet Salvobet Giriş matbet matbet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Betgaranti Betgaranti Güncel Adres Betgaranti Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Fim İzle Fim İzle Giriş Fim İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Fim İzle Fim İzle Güncel Adres Fim İzle jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Giriş Casibom Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Jojobet Jojobet Giriş Jojobet Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Deneme Bonusu Film İzle Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Türkçe Dublaj Film İzle Film İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi perabet perabet giriş holiganbet holiganbet giriş Casibom Lesfillmercom Casibom Lesfillmercom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Gerbergirlcom Casibom Gerbergirlcom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Spcelectriccontrolcom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş marsbahis marsbahis giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş matbet matbet giriş matbet güncel giriş vaycasino vaycasino güncel giriş vaycasino giriş matbet matbet giriş pusulabet pusulabet giriş pusulabet pusulabet güncel giriş pusulabet giriş matbet matbet güncel giriş matbet giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Resmi Adres pusulabet pusulabet giriş pusulabet güncel giriş Fixbet Fixbet Güncel Giriş Salvobet Salvobet Giriş Salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Turk Porno Turk Porno Giriş Turk Porno casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi casibom casibom jojobet izmir escort izmir buca escort buca escort jojobet casibom holiganbet holiganbet giriş jojobet holiganbet holiganbet giriş jojobet jojobet jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş izmir escort izmir buca escort buca escort izmir escort bayan salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Giriş Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Deneme Bonusu Veren Giriş Deneme Bonusu Veren salvobet salvobet salvobet salvobet Casibom betgaranti betgaranti betgaranti matbet matbet giriş matbet matbet giriş Casibom Casibom Salvobet jojobet Salvobet Salvobet Salvobet Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Güncel Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis bahsegel Fixbet Fixbet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş 1xbet 1xbet Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Listesi Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler grandpashabet grandpashabet grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler vaycasino vaycasino giriş jojobet grandpashabet casibom Casibom Casibom Giriş casibom www.giftcards.com Marsbahis grandpashabet jojobet jojobet jojobet grandpashabet casibom jojobet Casibom Casibom Casibom Casibom Casibom Grandpashabet Grandpashabet Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Marsbahis Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres grandpashabet grandpashabet giriş Casibom Fixbet Fixbet Giriş Casibom İzmir Escort İzmir eskort İzmir Escort Bayan Vip escort Adana Escort Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler