phuong-phap-dieu-tri-mun-va-seo-trung-ca

20/11/2025 • by Bs CKI Phẫu thuật tạo hình, tái tạo và thẩm mỹ Trương Hoài Anh • laser
Sách Mụn trứng cá và Mụn trứng cá đỏ - David J. Goldberg

Giới thiệu

Cuốn sách Mụn trứng cá và Mụn trứng cá đỏ: Dịch tễ học, chẩn đoán và cách điều trị của các tác giả David J. Goldberg và Alexander L. Berlin là một tài liệu tham khảo giá trị dành cho các bác sĩ phẫu thuật tạo hình và da liễu. Tài liệu mang đến cái nhìn tổng quan và cập nhật về hai bệnh lý da liễu phổ biến, từ cơ chế bệnh sinh phức tạp đến các chiến lược điều trị đa mô thức.

Tóm tắt nội dung

Nội dung sách được chia thành các phần rõ ràng, bắt đầu bằng việc phân tích sâu sắc về dịch tễ học và sinh lý bệnh học của mụn trứng cá và mụn trứng cá đỏ. Các tác giả trình bày chi tiết về các lựa chọn điều trị hiện hành, bao gồm liệu pháp dùng thuốc tại chỗ và toàn thân. Đáng chú ý, tài liệu dành một thời lượng lớn để thảo luận về các ứng dụng công nghệ cao như laser, thiết bị ánh sáng và tần số vô tuyến trong việc kiểm soát bệnh. Cuối cùng, vấn đề sẹo mụn – một di chứng thẩm mỹ quan trọng – được giải quyết triệt để thông qua các phương pháp can thiệp nội khoa và ngoại khoa.

Các chương nổi bật

  • Dịch tễ học và Sinh lý bệnh: Cung cấp nền tảng kiến thức vững chắc về cơ chế hình thành bệnh.
  • Điều trị nội khoa: Cập nhật các phác đồ sử dụng thuốc bôi và thuốc uống hiệu quả.
  • Laser và thiết bị năng lượng: Hướng dẫn ứng dụng Laser hồng ngoại, Laser xung nhuộm màu, liệu pháp quang động (PDT) và RF trong điều trị lâm sàng.
  • Phương pháp điều trị sẹo trứng cá: Phân loại sẹo chi tiết và các kỹ thuật điều trị như tiêm chất làm đầy, bóc tách đáy sẹo và tái tạo bề mặt da.
Trang: / 345
Trang 1 Trang 2 Trang 3
📖 Xem bản dịch / Nội dung văn bản

Chương 12: Kỹ thuật phẫu thuật: Cắt đáy sẹo, ghép da (grafting)
cắt khâu sẹo và các kỹ thuật bấm sẹo
149
Hình 12.1 Ngay sau khi cắt đáy sẹo, có thể xuất hiện chảy máu và bầm tím
tại vị trí được điều trị. Những biến chứng này có thể thấy trước được và có
lợi vì giúp kích thích hình thành collagen mới bên dưới sẹo lõm.
Quy trình tiến hành thủ thuật

Trước khi bắt đầu thủ thuật, cần phải làm sạch da và vẽ ranh giới
sẹo lõm bằng cách sử dụng bút đánh dấu trong phẫu thuật. Vị trí này
sau đó được tiêm dung dịch lidocaine 1% pha với epinephrine theo tỉ lệ
1:100000. Vùng được gây tê nên được mở rộng ra quá bờ của mỗi vết sẹo
để đảm bảo quá trình đâm kim vào không gây đau đớn. Khi thuốc tê đạt
hiệu quả và mạch máu co lại, một cây kim cắt [2] hay còn gọi là kim Nokor
[11, 12] (Becton Dickinson, Franklin Lakes, NJ, USA) được đâm vào da ở vị
trí bên cạnh sẹo lõm và đầu kim sau đó được đẩy đến vị trí bên dưới sẹo
lõm (hình 12.2). Độ sâu khi đâm kim sẽ phụ thuộc vào độ nặng của mỗi
sẹo, với sẹo lõm nông thì đưa kim cắt đến vị trí lớp bì giữa và với sẹo lõm
sâu thì cần đưa kim đến cắt ở lớp bì sâu hoặc mô dưới da [11].

Di chuyển kim cắt đáy sẹo tới trước và lui ra sau như chuyển động
trong đường hầm để cắt mô sẹo bị xơ hóa (hình 12.2). Khi khối xơ được
phá, di chuyển kim qua về hai bên theo hướng song song với bề mặt da để
giải phóng sẹo khỏi các cột xơ (hình 12.2). Với những sẹo nhiều xơ, có thể

Chương 12: Kỹ thuật phẫu thuật: Cắt đáy sẹo, ghép da (grafting)
cắt khâu sẹo và các kỹ thuật bấm sẹo
150
tiến hành đâm kim tại nhiều vị trí để cắt đáy sẹo từ nhiều góc khác nhau
[1]. Khi những sợi xơ cuối cùng được cắt, có thể thấy bề mặt da được nâng
lên. Sau thủ thuật, có thể bôi mỡ kháng sinh và băng ép vết thương lại [1].
Những cải tiến trong thủ thuật này đã được đề xuất. Những tiến bộ của
thủ thuật tập trung chủ yếu vào việc thay thế dụng cụ cắt đáy sẹo: bẻ cong
kim cắt đáy sẹo một góc 900 để hạn chế sự xuyên sâu và/hoặc giảm tổn
thương đến da [20]; sử dụng kìm kẹp kim đối với kim Nokor để giúp định
hướng theo phương ngang (song song với bề mặt da) và tránh bị rút lui
kim [21]; sử dụng kim cannula tủy sống (cannula kim loại) G 18 hoặc 21
(Hakko Co.,Chikuma, Japan) được chứng minh có tỉ lệ lành cao [22]; sử
dụng dao phẫu thuật đục thủy tinh thể G 20 vì sử dụng dao này làm tăng
độ sắc, tăng khả năng kiểm soát độ sâu và độ chính sát, cắt xa hơn, và dễ
cầm hơn [23]; và tiêm dung dịch gây phồng trước khi cắt đáy sẹo bằng dao
cùn để tránh nguy cơ phẫu thuật viên bị chích bởi kim đã dính máu bệnh
nhân [24]. Tất cả những cải tiến trên đã được chứng minh là giúp cải thiện
tình trạng sẹo trứng cá.

Một tiến bộ trong dụng cụ cắt đáy sẹo gần đây là Taylor Liberator,
đây là một dụng cụ bằng kim loại dài hơn và dễ cầm bằng tay hơn, có đầu
sắc bén giống như một cái nĩa. Dụng cụ này được đưa vào lớp mô dưới
da nông qua một vết cắt nhỏ ở vùng trước tai, sau đó nó được đẩy từ một
điểm duy nhất này đến dưới sẹo trứng cá ở vùng má giữa và vùng quanh
miệng cùng bên. Lợi ích khi sử dụng dụng cụ mới này là cần ít điểm đâm
vào da hơn và ít gây tổn thương thượng bì hơn. Khi sử dụng cần phải lưu
ý giữ dụng cụ này nông để tránh gây tổn thương quá mức và gây dị cảm
thoáng qua trên da mặt bệnh nhân.

Một ưu điểm nữa của dụng cụ này là khả năng căng da mặt vật
lý ở vùng được điều trị. Những bệnh nhân thực hiện hút bằng thiết bị
microdermabrasion vào ngày thứ 3 sau khi cắt đáy sẹo và tiếp tục thực
hiện cách ngày trong thời gian ít nhất 2 tuần cho thấy có sự cải thiện rõ
hơn [25]. Tương tự, dù không được nghiên cứu để sử dụng trong điều trị
sẹo trứng cá, nhưng việc khâu một vòng chỉ ở trung tâm sẹo lõm để kéo
sẹo lên theo phương thẳng góc trong quá trình cắt đáy sẹo cũng giúp cải
thiện sẹo trứng cá [26]. Các tác giả cho rằng việc kéo sẹo lên cho phép
giải phóng các dải xơ ở mặt phẳng sâu hơn, do đó cách này có thể áp dụng
trong trường hợp sẹo trứng cá sâu hơn, có nhiều bó sợi xơ hơn và cần phải
nghiên cứu thêm [26].

Chương 12: Kỹ thuật phẫu thuật: Cắt đáy sẹo, ghép da (grafting)
cắt khâu sẹo và các kỹ thuật bấm sẹo
151
Hình 12.2 Cắt đáy sẹo. (a) Kim Nokor (Becton Dickinson, Franklin Lakes, NJ,
USA) được đưa vào da theo một góc tại vị trí cạnh vết sẹo để lưỡi dao của
kim nằm ngay bên dưới vùng lõm của sẹo và song song với bề mặt da. Kim
cắt đáy sẹo sau đó được di chuyển tới lui như chuyển động trong đường
hầm để cắt các mô xơ. (b) Tiếp theo, kim được đưa qua về sang hai bên phía
dưới sẹo để đảm bảo cắt tất cả các bó xơ. (c) Sau khi lành, sẹo không còn bị
neo xuống bởi mô dưới da nữa và bề mặt sẹo được nâng lên.
Lớp thượng bì
Lớp bì
Các dải xơ kéo bề
mặt sẹo xuống
Kim Nokor được
di chuyển tới lui
a
b
Lưỡi kim nên
được đặt song
song với bề
mặt da
Mũi kim được
đưa qua về sang
hai bên phía dưới
sẹo
c
Đáy sẹo được nâng lên
các dải xơ đã bị
cắt

Chương 12: Kỹ thuật phẫu thuật: Cắt đáy sẹo, ghép da (grafting)
cắt khâu sẹo và các kỹ thuật bấm sẹo
152
Xử lí biến chứng

Nếu hình thành nang tại vị trí cắt đáy sẹo, có thể điều trị bằng cách
tiêm steroid vào trong tổn thương và kháng sinh đường uống. Phần da
cứng gây ra do phản ứng phì đại thường sẽ biến mất mà không cần phải
can thiệp, nhưng có thể làm quá trình này diễn ra nhanh hơn bằng cách
dùng ngón tay massage hàng ngày tại vị trí biến chứng [12] hoặc tiêm cor­
ticosteroid liều thấp vào tổn thương [1,2,11].
Ghép da
Lịch sử

Ghép da và ghép mỡ da đã được sử dụng từ những thập niên 1930
[27] nhưng phương pháp này lần đầu tiên được sử dụng là với mục đích
chỉnh sửa thiếu hụt mô ở các tạng hơn là ở trên da [11,28,29]. Trong nhiều
thập kỉ, sử dụng phương pháp ghép da trên da bị hạn chế do phương pháp
này có xu hướng hình thành nang và cho kết quả tương phản [28,29].
Những cải tiến gần đây trong kĩ thuật thu hoạc và cấy mô cho phép ghép
da trở thành một lựa chọn chấp nhận được để làm đầy vĩnh viễn sẹo lõm
do thiếu hụt mô dưới da [29].
Cấu trúc và chức năng

Trong thủ thuật ghép da, vùng sẹo lõm được bóc tách ngay trước
khi cấy mảnh da vào. Thực hiện bước này nhằm mục đích tạo ra một túi
nhận nằm ở lớp mô hạt mạch máu, là nơi có thể chấp nhận mảnh ghép và
thúc đẩy sự nối thông các mao mạch của mảnh ghép và vùng được ghép
[28]. Quy trình này sẽ thúc đẩy quá trình phục hồi tuần hoàn đến mảnh da
ghép nhanh chóng và đây là yếu tố chính để tỉ lệ thành công của thủ thuật
cao hơn [28].
Kỹ thuật ghép da
Chỉ định

Ghép da được chỉ định để chỉnh sửa những vết sẹo dài và rộng
(đường kính từ 3mm đến 2 cm) nhưng mềm và có thể co giãn [28,30].
Giống phương pháp cắt đáy sẹo, ghép da có thể làm đầy sẹo lõm nhưng
không gây tổn thương đến lớp thượng bì phủ trên bề mặt sẹo, do đó
phương pháp này phù hợp nhất để điều trị những loại sẹo có bề mặt da
bình thường và bờ sẹo không sắc. Ghép da cũng được sử dụng để làm đầy
những nếp nhăn sâu và rộng như nếp mũi má và nếp nhăn vùng giữa 2

Chương 12: Kỹ thuật phẫu thuật: Cắt đáy sẹo, ghép da (grafting)
cắt khâu sẹo và các kỹ thuật bấm sẹo
153
chân mày (vùng glabellar) [28] và để chỉnh sửa những thiếu hụt ở bờ mũi
và má do phẫu thuật Mohs để lại [31].
Ưu điểm và nhược điểm

Ghép da là một kĩ thuật mang lại nhiều lợi ích trong chỉnh sửa những
thiếu hụt mô sâu trên da và mảnh da ghép có một vài ưu thế hơn so với
những chất làm đầy khác. Mảnh da ghép có sẵn, không đắt tiền, là miếng
ghép tự thân nên không gây dị ứng hoặc bị thải ghép [7, 29]. Ngoài ra
mảnh da ghép có tiềm năng mang lại sự chỉnh sửa lâu dài hoặc vĩnh viễn
so với các chất làm đầy khác [29]. Hơn nữa có thể tạo ra mảnh da ghép có
hình dạng và kích thước phù hợp với bất kì vùng lõm nào [7]. Trong ghép
da, bề mặt sẹo không bị gây tổn thương và chỉ gây bầm máu và phù nhẹ,
tương tự như đối với thủ thuật cắt đáy sẹo.

Nhược điểm chủ yếu của ghép da là đòi hỏi phải có một vùng hiến
da, và bệnh nhân cũng như bác sĩ có thể do dự khi gây tổn thương ở một
vùng mới cho mục đích này. Ngoài ra, mặc dù ghép da có một vài ưu thế so
với tiêm chất làm đầy, nhưng quy trình thu hoạch và cấy mô được xem là
tốn thời gian hơn và thử thách hơn so với những thủ thuật làm đầy khác.
Sự phát triển mạnh mẽ và sẵn có của nhiều loại vật liệu làm đầy mô mềm
có thể tiêm, được đóng gói sẵn, an toàn và hoạt tính kéo dài đã làm giảm
đi mối quan tâm đối với phương pháp ghép da.
Biến chứng

Sau khi ghép da, có thể xuất hiện những vết bầm tím, phù và đóng
mài tại vị trí rạch da để tạo túi nhận [7]. Biến chứng thường thấy nhất là
hình thành các nang ở da với tỉ lệ chiếm khoảng 10% các trường hợp [31].
Cách tốt nhất để tránh biến chứng này là chăm sóc cẩn thận để loại bỏ
hoàn toàn lớp thượng bì và cấu trúc phụ của vùng hiến da trước khi thu
hoạch mô ghép [29].
Phối hợp ghép da với các phương pháp khác

Có thể thu nhiều mảnh da ghép từ một vùng hiến da để cấy ghép
cho nhiều vị trí khác nhau trong cùng một thủ thuật. Bệnh nhân có thể
đồng thời điều trị tái tạo bề mặt da bằng dermabrasion, peel hóa chất
hoặc điều trị laser cùng thời điểm với thủ thuật ghép da hoặc sau khi vết
thương của thủ thuật ghép da đã lành [29,32]. Mặc dù không có những
nghiên cứu chính thức được thực hiện, PRP có thể làm tăng hiệu quả điều

Chương 12: Kỹ thuật phẫu thuật: Cắt đáy sẹo, ghép da (grafting)
cắt khâu sẹo và các kỹ thuật bấm sẹo
154
trị khi phối hợp với ghép mỡ tự thân +/- tái tạo bề mặt bằng laser trong
điều trị nhiều loại sẹo khác nhau [33,34].
Khuyến cáo lâm sàng cho bác sĩ

Mặc dù ghép da là phương pháp được đề xuất để điều trị sẹo có khả
năng co giãn, có thể cần phải thực hiện cắt đáy sẹo một đến hai lần để làm
những sẹo vốn bị xơ hóa trở nên mềm hơn và dễ thực hiện ghép da hơn
[29].

Khi lựa chọn dụng cụ bấm để thu hoạc mô ghép, thì cần lưu ý rằng
dụng cụ bấm thường được thiết kế để lấy mảnh da ghép có kích thước hơi
lớn hơn vùng nhận một ít để bù trừ khi mảnh ghép teo lại, tuy nhiên lời
khuyên là nên lấy mảnh ghép có kích thước đúng bằng kích thước vùng
nhận [29].
Quy trình tiến hành thủ thuật

Có nhiều ý kiến khác nhau liên quan đến cách chuẩn bị tốt nhất
để tiến hành thực hiện ghép da. Trong khi Swinehart khuyến cáo nên tạo
khoang nhận bên dưới sẹo từ 10-14 ngày trước khi đặt mảnh ghép hoặc
ở thời điểm ghép da [29], thì những tác giả khác thích cắt đáy sẹo để tạo
khoang nhận ngay trong thời điểm ghép da [29]. Cho dù bước này có được
thực hiện hay không, các vết sẹo nên được khám một cách cẩn thận bằng
cách chiếu sáng từ trên đầu hoặc chiếu tiếp tuyến ngay trước khi thực
hiện ghép da và cả vùng sẹo lẫn vùng hiến da nên được đánh dấu cẩn thận
bằng bút đánh dấu. Chụp ảnh trước và sau khi đánh dấu, trong đó những
bức ảnh được chụp sau khi đánh dấu sẽ được sử dụng để tham khảo trong
quá trình làm thủ thuật.

Tiếp theo, cả hai vị trí sẽ được tiêm tê bằng lidocaine 1%-2% pha
với epinephrine 1:100000 để gây tê tại chỗ và giúp cầm máu. Vùng hiến
da thường là vùng sau tai, vùng này sau đó được loại bỏ thượng bì đến
dưới lớp bì nhú bằng cách mài da (dermabrasion) [7] hoặc laser tái tạo bề
mặt [30]. Nên loại bỏ các cấu trúc phụ một cách cẩn thận, đặc biệt là tuyến
bã nhờn vì sự tồn tại của tuyến bã nhờn trong mảnh da ghép có thể dẫn
đến hình thành nang sau thủ thuật [29]. Phương pháp thu hoạch mảnh
ghép được quyết định dựa vào kích thước và hình dạng của sẹo cần được
chỉnh sửa. Có thể sử dụng dao mổ hoặc laser để thu hoạch mô da hình dải
dài, trong khi dụng cụ bấm da được sử dụng để tạo ra mảnh da ghép cho
những sẹo tròn và nhỏ. Mảnh da ghép nên được đặt vào dung dịch saline

Chương 12: Kỹ thuật phẫu thuật: Cắt đáy sẹo, ghép da (grafting)
cắt khâu sẹo và các kỹ thuật bấm sẹo
155
vô trùng được làm lạnh, và nếu cần có thể cắt tỉa bớt để vừa với vùng sẹo
nhận [28].

Sẹo sau đó được cắt đáy để tạo túi nhận bên dưới bề mặt lõm của
sẹo. Đối với sẹo tròn, nhỏ thì mảnh da ghép nên được đưa vào túi nhận
qua vết cắt tạo ra bằng kim cắt đáy sẹo và điều chỉnh vào bên trong túi
bằng forceps Jeweler đầu kim cương [28] (hình 12.3).

Để chỉnh sửa sẹo dạng đường kích thước lớn, Goodman đề xuất sử
dụng kim luồn tĩnh mạch để tạo túi nhận cho sẹo và cũng như sử dụng để
hướng và đặt mảnh ghép vào [29]. Kim luồn được đặt vào ở một đầu của
đường sẹo khuyết, và được đẩy tới lui vài lần để tạo túi nhận, sau đó được
đâm ra khỏi da ở đầu xa của vết sẹo [29]. Lõi sắt kim luôn sau đó được
rút ra để lại vỏ nhựa của kim luồn bên trong túi nhận sao cho phần vỏ này
lòi ra ở hai đầu của túi nhận [30]. Vỏ kim luồn sẽ đóng vai trò như là một
đường hầm để luồn một cây kim thẳng được nối với mảnh ghép bằng chỉ
polydioxanone. Kim thẳng được đưa vào một đầu của đường hầm cho đến
khi mảnh ghép tiến sát đầu vỏ kim luồn, sau đó đuôi mảnh da ghép sẽ
được kẹp bởi forcep Jewelers để có thể dễ dàng điều chỉnh mảnh ghép vào
vị trí sau cùng của nó [29]. Trong khi mảnh da vẫn được kẹp bằng forcep
Jewelers, thì vỏ kim luồn và mảnh da ghép được kéo (mảnh da ghép được
kéo thông qua sợi chỉ) đồng thời bên trong túi nhận như là một đơn vị để
loại bỏ vỏ nhựa kim luồn và chỉ còn lại duy nhất mảnh ghép bên trong hầm
túi nhận [29]. Khi mảnh ghép đã ở đúng vị trí, tiến hành rút forcep Jew­
elers và cắt sát đầu chỉ [29]. Không cần thiết phải loại bỏ chỉ ở đầu mảnh
ghép. Nếu cần thiết, phần cuối của mảnh da ghép có thể được đặt lại bên
trong với chỉ có khả năng tự tiêu cao và hai đầu đường hầm có thể được
đóng bằng chỉ Steri-Strips (3M Corp, St. Paul, MN, USA) hoặc chỉ tự tiêu
mảnh [28]. Cuối cùng, vùng hiến da nên được đóng lại bằng mũi khâu đệm
ngang (horizontal mattress suture) [29].
Tham khảo thêm tại đường link sau:

ume=7;issue=4;spage=224;epage=226;aulast=Nirmal

Sau thủ thuật, bệnh nhân nên bất động vị trí mảnh ghép tối đa có
thể trong 1-2 ngày để làm tăng khả năng sống sót tối đa của mảnh ghép
[29]. Kết quả tức thì của thủ thuật ghép da thường rất tốt, hoàn toàn hoặc
gần như hoàn toàn chỉnh sửa được chỗ khuyết với bằng chứng là chỗ lõm
không còn nữa [28]. Thật không may, những kết quả ấn tượng ban đầu
này có thể không tồn tại mãi vì mảnh ghép thường giảm thể tích theo

Chương 12: Kỹ thuật phẫu thuật: Cắt đáy sẹo, ghép da (grafting)
cắt khâu sẹo và các kỹ thuật bấm sẹo
156
sẹo lõm
Kim Nokor được sử
dụng để tạo túi nhận
bên dưới bề mặt sẹo
túi nhận
mô da ghép
vùng lõm đã
được làm đầy
mô da ghép nằm
bên trong túi nhận.

Chương 12: Kỹ thuật phẫu thuật: Cắt đáy sẹo, ghép da (grafting)
cắt khâu sẹo và các kỹ thuật bấm sẹo
157
HÌNH 12.3 ghép da. (a) sẹo lõm đầu tiên được cắt đáy để tạo túi nhận mô
ghép. (b) sử dụng forceps Jeweller để đưa mảnh da ghép vừa được thu
hoạch vào túi nhận qua đường rạch da được tạo ra bởi kim cắt đáy sẹo. (c)
Sau khi hoàn tất thủ thuật, vùng lõm đã được làm đầy đến ngang mức với
mô xung quanh.
thời gian. Hơn nữa, trong nghiên cứu của Goodman năm 1997 trên 11
bệnh nhân với 32 vị trí ghép da, 84% mảnh ghép đã giúp chỉnh sửa phần
lớn hoặc chỉnh sửa hoàn toàn sẹo lõm trong khoảng thời gian theo dõi từ
3 đến 30 tháng [30].

Một kĩ thuật điều chỉnh được mô tả cách cắt vụn mảnh mô với dao
mổ #15 hoặc kéo iris cong để tạo thành mô ghép mảnh vụn, có khả năng
tạo thành bất kì hình dạng nào và phù hợp với sẹo boxcar, rolling, sẹo dạng
đường hoặc sẹo có dạng hình học không đều [36]. Mô ghép mảnh vụn
được hút vào trong một xi-lanh 1ml đầu kim 18 G và tiêm vào túi nhận bên
dưới sẹo. Ngoài ra mô ghép vụn cũng có thể được đưa vào túi nhận bằng
forceps giữ mô. Có thể điều chỉnh thể tích mô ghép từ bên ngoài cho đến
khi sự chỉnh sửa tối đa đạt được [36].

Tham khảo thêm về kĩ thuật này tại:
gov/pmc/articles/PMC5227081/
Xử lí biến chứng

Trong trường hợp hình thành nang, có thể tiến hành tiêm corti­
costeroid. Một phương pháp thay thế khác đó là dẫn lưu hoặc rạch nang
[28].
Cắt khâu sẹo, bấm nâng sẹo và ghép da bằng dụng cụ bấm
Lịch sử

Kỹ thuật cắt và bấm mảnh ghép đã được sử dụng trong vài thập kỉ
để điều trị sẹo trứng cá lõm sâu [8,36-41]. Những kĩ thuật này vẫn không
thể thiếu trong điều trị sẹo trứng cá ở những người không thể chỉnh sửa
được bằng các phương pháp tái tạo bề mặt và những người có đáy sẹo
không đồng đều và bờ sắc rõ khiến họ trở nên không phù hợp để làm filler
chỉnh sửa.
Kỹ thuật
Chỉ định

Cắt khâu sẹo hình elip hoặc cắt khâu sẹo bằng dụng cụ bấm (punch
excision) nên được sử dụng khi mục đích thẩm mỹ là thay thế sẹo xấu

Chương 12: Kỹ thuật phẫu thuật: Cắt đáy sẹo, ghép da (grafting)
cắt khâu sẹo và các kỹ thuật bấm sẹo
158
bằng những đường sẹo nông ít xấu hơn. Cắt khâu sẹo bằng dụng cụ bấm
được chỉ định để điều trị sẹo ice pick và sẹo boxcar sâu có đường kính <3.5
mm [1]. Sẹo lớn hơn 3.5 mm nên được giải quyết bằng thủ thuật cắt khâu
sẹo hình elip để vết thương được tạo ra có thể được chỉnh sửa một cách
hiệu quả. Cắt khâu sẹo cũng thường là lựa chọn tối ứu để điều trị sẹo có
các cầu dưới da hoặc các nang mạn tính hoặc các đường hầm ở bên dưới
[42]. Phương pháp này cũng được lựa chon để điều trị một số sẹo trứng
cá lồi hoặc phì đại [35] (bảng 12.2).

Đối với một số bệnh nhân bị sẹo ice pick và sẹo boxcar sâu, phương
pháp ghép da bằng dụng cụ bấm (punch grafting) có thể cho kết quả có
tính thẩm mỹ cao hơn so với phương pháp cắt khâu sẹo, đặc biệt là nếu
sẹo nằm ở các vùng trên mặt nơi mà những vết sẹo do cắt mổ khó có thể
được che đậy bới các nếp tự nhiên. Tuy nhiên, ghép da bằng dụng cụ bấm
chỉ khả thi nếu bệnh nhân có vùng hiến da có màu sắc và cấu trúc da phù
hợp với vùng sẹo. Punch grafting sẽ dễ thành công nhất ở vùng mặt ít di
động nhất như vùng trán và vùng má trên [35] (bảng 12.2).

Bấm nâng sẹo có chỉ định rất hẹp đối với sẹo boxcar sâu với đáy
có cấu trúc trơn nhẵn, màu sắc bình thường và không bị xơ hóa. Ngoài ra
những sẹo này còn phải có thành sẹo dựng đứng vì nếu sẹo nhỏ dần theo
độ sau thì đáy sẹo sẽ không đủ lớn để làm đầy bề mặt phía trên khi làm thủ
thuật (bảng 12.2).
Kĩ thuật
Các loại sẹo được chỉ định
Cắt khâu sẹo bằng dụng cụ bấm
Sẹo ice pick; sẹo boxcar sâu đường
kính < 3.5 mm
Cắt khâu sẹo hình elip
Sẹo ice pick; sẹo boxcar sâu đường
kính < 3.5 mm; sẹo có cầu nối,
nang hoặc đường hầm.
Ghép da bằng dụng cụ bấm
Sẹo ice pick; sẹo boxcar sâu
Bấm nâng sẹo
Sẹo boxcar sâu có thành sẹo dựng
đứng, đáy có cấu trúc và màu
sắc da phù hợp với vùng da xung
quanh
BẢNG 12.2
Chỉ định đối với các kĩ thuật cắt và bấm

Chương 12: Kỹ thuật phẫu thuật: Cắt đáy sẹo, ghép da (grafting)
cắt khâu sẹo và các kỹ thuật bấm sẹo
159
Ưu điểm và nhược điểm

Các kĩ thuât cắt và bấm có những ưu điểm khác biệt so với các kĩ
thuật chỉnh sửa sẹo không phẫu thuật về khả năng cải thiện phần lớn tình
trạng sẹo ice pick và sẹo boxcar sâu của nó. Mãi cho đến khi có sự xuất
hiện của kĩ thuật tái cấu trúc sẹo bằng cách bôi trichloroacetic acid tại chỗ
trong điều trị sẹo ice pick hẹp [43], thì kĩ thuật phẫu thuật là phương pháp
điều trị hiệu quả duy nhất đối với các sẹo trứng cá lõm sâu hoặc sẹo có đáy
lõm không đồng đều.

Nhược điểm chính của tất cả các kĩ thuật cắt và bấm là để lại sẹo thứ
phát. Ý tưởng thay thế sẹo cũ bằng sẹo mới có thể không thuyết phục đối
với một số bệnh nhân và bác sĩ. Ngoài ra, những thủ thuật này khó có thể
đạt được kết quả tối ưu ở những bệnh nhân chậm lành vết thương. Cần
phải lưu ý rằng một vài bệnh nhân có thể hình thành sẹo trứng cá nặng
do có cơ địa lành vết thương bất thường, và do đó những bệnh nhân này
khó có thể được chỉ định những thủ thuật can thiệp trên. Thậm chí khi
thực hiện tốt việc lựa chọn bệnh nhân, các kĩ thuật cắt và bấm cũng có thể
có nhiều nguy cơ để lại sẹo lồi hoặc sẹo lõm. Ghép da bằng dụng cụ bấm
có thêm nhược điểm là đòi hỏi phải có vùng hiến da và nguy cơ lồi mảnh
da ghép hoặc nhìn thấy được sự không vừa vặn giữa mô ghép và vùng da
nhận.
Biến chứng

Sau thủ thuật cắt khâu sẹo hình elip, sẹo có thể lõm hơn và to hơn,
đặc biệt là ở những vùng tuyến bã nhờn hoạt động mạnh [44,45]. Cách
dự phòng biến chứng này là lựa chọn bệnh nhân cẩn thận và thực hiện kĩ
thuật tỉ mỉ. Lưu ý khi cắt khâu sẹo phải bảo tồn tối đa mô dưới da để trở
thành nền cố định cho quá trình lành vết thương [44]. Kĩ thuật khâu chính
xác [46] và sử dụng chỉ Steri-Strips (3M Corp.,St. Paul, MN, USA) cho đến
10 ngày sau thủ thuật [47] có thể hạn chế sẹo lan rộng. Khi lên kế hoạch
điều trị sẹo có diện tích lớn, nên tránh cắt rộng thay vào đó nên lựa chọn
thực hiện vết cắt nhỏ trong nhiều lần, với khoảng cách giữa các lần từ 4-6
tuần [46].

Một vài biến chứng của thủ thuật ghép da bằng dụng cụ bấm gồm
lấy mảnh ghép không tốt, lồi mảnh ghép, lõm các rãnh quanh bờ của miếng
ghép, mảnh ghép lồi hoặc lõm, không trùng khớp về cấu trúc và màu sắc
giữa mảnh ghép và vùng da xung quanh. Để hạn chế những biến chứng
này, vùng da hiến mô nên được lựa chọn một cách cẩn thận trước khi tiến

Chương 12: Kỹ thuật phẫu thuật: Cắt đáy sẹo, ghép da (grafting)
cắt khâu sẹo và các kỹ thuật bấm sẹo
160
hành thủ thuật. Nguy cơ xuất hiện bờ lõm quanh mảnh ghép hoặc lồi hoặc
lõm mảnh ghép có thể được làm giảm bằng cách lấy mảnh ghép có kích
thước hơi lớn hơn so với vùng nhận và sử dụng chỉ Steri-Strips để giữ
mảnh ghép đúng vị trí trong tối thiểu 5 ngày [48]. Ngoài ra, cần lưu ý là
khả năng thành công của mảnh ghép ít hơn khi ghép ở vùng má dưới và
vùng quanh miệng do vùng hàm và vùng miệng cử động nhiều. Nếu mảnh
ghép được ghép ở những vùng này, cần chăm sóc cẩn thận hơn để đảm
bảo mảnh ghép ở đúng vị trí và bệnh nhân phải hạn chế nói và ăn trong
vài ngày sau phẫu thuật [48].

Đối với thủ thuật bấm nâng sẹo, biến chứng thường xảy ra nhất là
mảnh da được bấm lồi cao hơn soi với vùng da xung quanh trong thời gian
dài [48].
Phối hợp với các phương pháp khác

Các kĩ thuât cắt và bấm thường được phối hợp với các thủ thuật tái
tạo bề mặt da nhàm cải thiện bề mặt của sẹo. Thông thường, có thể tiến
hành mài da (dermabrasion) từ 4-8 tuần sau khi cắt khâu sẹo hoặc ghép
da bằng dụng cụ bấm [38]; một lựa chọn khác mới hơn đó là tiến hành
phối hợp đơn thuần giữa thủ thuật cắt khâu sẹo hoặc ghép da bằng dụng
cụ bấm với laser tái tạo bề mặt [49,50]. Một nghiên cứu hai nữa mặt (split-
face) ngẫu nhiên đã tiến hành so sánh liệu trình điều trị với kỹ thuật bấm
nâng sẹo sau khi đã thực hiện 2 lần điều trị với laser CO2 vi điểm, khoảng
cách điều trị là 1 tháng với liệu trình điều trị laser CO2 đơn lẻ trong điều
trị sẹo lõm trứng cá; kết quả cho thấy liệu trình điều trị phối hợp tỏ ra có
hiệu quả hơn [51].
Lời khuyên lâm sàng cho các bác sĩ

Do các thủ thuật cắt và bấm sẽ để lại sẹo thứ phát, nên đều quan
trọng là bệnh nhân phải có kì vọng đúng thực tế trước khi tiến hành thủ
thuật điều trị. Bệnh nhân nên được thông tin đầy đủ về kết quả có thể đạt
được và họ cần phải sẵn sàng chấp nhận khả năng có thể cần phải thực
hiện thêm thủ thuật sau đó như tái tạo bề mặt bằng laser để có thể đạt kết
quả tốt nhất.

Với tất cả những kĩ thuật này có thể tiến hành điều trị nhiều vùng
sẹo cùng một lúc. Nếu có 2 sẹo được cắt đồng thời, thì khoảng cách giữa
chúng ít nhất là 4-5 mm để tránh căng quá mức trong giai đoạn lành vết
thương [1]. Nếu ghép nhiều mảnh da được bấm với kích thước khác nhau

Chương 12: Kỹ thuật phẫu thuật: Cắt đáy sẹo, ghép da (grafting)
cắt khâu sẹo và các kỹ thuật bấm sẹo
161
trong cùng một lần làm thủ thuật thì nên xắp sếp các mảnh ghép và dán
nhãn chúng trước khi bắt đầu.

Trong thủ thuật ghép da bằng dụng cụ bấm, lựa chọn cẩn thận vùng
hiến da là hết sức quan trọng. Vùng sau tai là vùng thường được sử dụng
làm vùng hiến da nhất, nhưng nếu vùng này không phù hợp với vùng nhận
hoặc vùng này đang có tổn thương mụn hoạt động, thì có thể cân nhắc lấy
ở những vùng như vùng trước tai, vùng trên xương ức, vùng sau cánh tay
và vùng chân tóc [48].
Quy trình thực hiện kỹ thuật

Trước khi thực hiện các thủ thuật cắt và bấm da, cần phải khám và
đánh dấu sẹo, vùng điều trị phải dược lau sạch và tiêm tê với lidocaine 1%
có chứa epinephrine (1:100000). Đối với tất cả các kĩ thuật bấm da, hiện
có sẵn rất nhiều dụng cụ bấm sinh thiết khác nhau với đường kính từ 1.5
đến 3.5 mm (tăng dần theo mức 0.25 mm) (Goodman GJ, không được công
bố). Thành của mảnh da được bấm liên tục và thẳng.

Trong thủ thuật cắt khâu sẹo bằng dụng cụ bấm, có thể chọn một
dụng cụ bấm có kích thước đủ lớn để ôm trọn vùng sẹo và thành sẹo
[1]. Dùng ngón trỏ và ngón cái giữ 2 bên của mảnh sẹo và tạo ra lực kéo
ra ngoài vuông góc với các nếp da tĩnh [35]. Sau đó ta có được một vết
thương dài và có thể được che dấu bởi các rãnh tự nhiên trên da mặt.
Dụng cụ bấm được đặt vuông góc 900 được bấm vào da đến lớp mỡ dưới
da; sau đó mảnh sẹo sẽ dễ dàng được nhấc ra trừ khi đáy sẹo bị xơ hóa quá
nhiều. Có thể sử dụng forceps hoặc kéo iris để bóc tánh nhẹ nhàng mảnh
sẹo khỏi các bó xơ sợi nếu cần thiết [1]. Nếu có kích thước nhỏ hơn 2 mm
thì có thể để vết thương tự lành nhờ quá trình lành thứ phát [28] hoặc có
thể đóng bằng một hoặc hai mối khâu riêng lẻ [1]. Nếu lớn hơn 2.5 mm thì
vết thương sẽ lành tốt hơn nếu đóng bằng một mũi khâu sâu trong da duy
nhất [1]. Bất kì mũi khâu thượng bì nào đều phải được cắt chỉ trong vòng
7 ngày để tránh hình thành dấu chỉ [1].

Cắt khâu sẹo hình elip được ưa chuộng hơn so với cắt khâu sẹo
bằng dụng cụ bấm khi điều trị sẹo lớn hơn 3.5 mm. Phương pháp này sử
dụng dao phẫu thuật để cắt hình elip dọc theo các nếp da tĩnh. Vùng sẹo
sẽ nằm trọn bên trong vùng trung tâm của hình elip và 2 góc của hình elip
phải nhỏ hơn 300 để đảm bảo tính thẩm mỹ khi đóng da [35]. Có thể cắt
bên dưới bờ vết thương để làm nó di động hơn và vết thương sẽ không
căng khi đóng [47]. Vết cắt nhỏ có thể được đóng bằng mũi chỉ trong da

Chương 12: Kỹ thuật phẫu thuật: Cắt đáy sẹo, ghép da (grafting)
cắt khâu sẹo và các kỹ thuật bấm sẹo
162
[46] trong khi vết thương lớn có thể được đóng bằng nhiều mũi khâu đơn,
rời nhau hoặc bằng mũi khâu đệm dọc trong da [35].

Để thực hiện thủ thuật bấm nâng sẹo, dụng cụ bấm được chọn phải
có đường kính bằng với kích thước của đáy sẹo (hình 12.4). Dụng cụ được
bấm xuống lớp mỡ dưới da để có thể dễ dàng điều chỉnh mảnh sẹo [48].
Tiếp theo, sử dụng forceps để nâng nhẹ đáy sẹo cho đến khi thấy đáy sẹo
hơi cao hơn so với bề mặt xung quanh và được giữ nguyên trong 1-2 phút
cho đến khi đông máu xảy ra bên dưới sẹo [48] (hình 12.4). Mảnh sẹo
sau đó dược cố định tại chỗ bằng chỉ Dermabond (2-octyl cyanoacrylate,
Ethicon, Inc.,Somerville, NJ, USA) hoặc chỉ Steri-Strips [19]. Vùng này sau
đó được bôi kháng sinh và đắp gạc, bệnh nhân phải được hướng dẫn rửa
nhẹ nhàng vùng điều trị và bôi kháng sinh 2 lần mỗi ngày [1].

Trước khi tiến hành ghép da bằng dụng cụ bấm, cần lựa chọn và
chuẩn bị vùng hiến da, vùng này được gây tê tương tự như gây tê vùng
nhận. Đầu tiên, tiến hành bấm cắt toàn bộ sẹo bao gồm cả thành sẹo (hình
12.5). Nên để bấm vuông gócm900 so với bề mặt da theo chuyển động
xoắn. Ngược với kĩ thuật cắt khâu sẹo bằng dụng cụ bấm được mô tả trước
đó, cần phải cẩn thận để không kéo căng vùng da hai bên từ đó có thể tạo
ra một hố nhận tròn trịa [42]. Sẹo được cắt sẽ được lấy ra và bỏ đi. Mảnh
da ghép sau đó được thu hoạch bằng dụng cụ bấm có đường kính lớn hơn
hố nhận từ 0.25-0.5 mm bằng kĩ thuật tương tự để có thể tạo ra mảnh da
ghép đủ độ dày và tròn trịa. Khuyến cáo sử dụng mảnh da ghép hơi lớn
hơn hố nhận vì mảnh da ghép thường có xu hướng co lại trong khi hố
nhận có xu hướng rộng ra, và điều quan trọng là phải đảm bảo duy trì sự
tiếp xúc giữa mảnh da ghép với bờ của hố nhận [38,42]. Mảnh da ghép
được đưa vào nhẹ nhàng và sử dụng forceps để điều chỉnh mảnh ghép vào
vùng nhận sao cho bề mặt mảnh da ghép hơi cao hơn so với mô da xung
quanh (hình 12.5). Mảnh ghép sau đó có thể được khâu hoặc dán để giữ
cố định bằng chỉ Steri-Strips, vùng hiến da cũng được khâu lại. Bệnh nhân
nên hạn chế vận động cơ mặt và tránh đụng mảnh ghép trong vài ngày đầu
sau thủ thuật.

Chương 12: Kỹ thuật phẫu thuật: Cắt đáy sẹo, ghép da (grafting)
cắt khâu sẹo và các kỹ thuật bấm sẹo
163
Dụng cụ được bấm vào da một
góc 900
phần đầu sẹo
đường biểu thị phần sẹo dưới
bề mặt
Forceps
sẹo được nâng lên hơi cao hơn
so với bề mặt da xung quanh
Diện mạo của sẹo đã được cải
thiện
HÌNH 12.4 Thủ thuật bấm nâng sẹo để điều trị sẹo boxcar sâu. (a) Dụng cụ
bấm được chọn có đường kính bằng với đáy sẹo và được bấm ở góc 900
xuống đến lớp mô dưới da. (b) Forceps sau đó được sử dụng để nâng nhẹ
đáy sẹo sao cho bề mặt sẹo hơi cao hơn so với vùng da xung quanh. (c) Mảnh
sẹo sẽ tự phẳng dần trong quá trình lành vết thương.

Chương 12: Kỹ thuật phẫu thuật: Cắt đáy sẹo, ghép da (grafting)
cắt khâu sẹo và các kỹ thuật bấm sẹo
164
Miệng sẹo
đường biểu thị phần sẹo dưới bề
mặt da
Forceps
nút da có chứa sẹo được loại bỏ
mảnh da được ghép vào nằm hơi
cao so với da xung quanh.
Forceps
dụng cụ được bấm vào da một góc
900 theo chuyển động xoắn.

Chương 12: Kỹ thuật phẫu thuật: Cắt đáy sẹo, ghép da (grafting)
cắt khâu sẹo và các kỹ thuật bấm sẹo
165
HÌNH 12.5 ghép da bằng dụng cụ bấm trong điều trị sẹo ice pick. (a) dụng
cụ bấm được lựa chọn sẽ bao gọn sẹo và thành sẹo, dụng cụ này dược bấm
ở góc 900 theo chuyển động xoắn đến lớp mô dưới da. (b) Tiếp theo, forcep
sẽ được sử dụng để loại bỏ sẹo khỏi hố nhận. (c) Mảnh da ghép đủ độ dày, có
kích thước hơi lớn hơn hố nhận được ghép vào bằng forceps. Bề mặt mảnh
da ghép nên đặt hơi cao hơn so với da xung quanh.
Xử lí biến chứng

Như được mô tả ở trên, nguy cơ biến chứng của các thủ thuật cắt
và bấm sẹo có thể được hạn chế tối thiểu nếu tiến hành thủ thuật một
cách cẩn thận Khi cắt khâu sẹo hình elip hoặc cắt khâu sẹo bằng dụng cụ
bấm với kích thước lớn, cần phải khâu vết thương tỉ mỉ để sẹo vết khâu ít
bị chú ý nhất. Trong thủ thuật ghép da bằng dụng cụ bấm, cần lựa chọn
vùng hiến da cẩn thận, kĩ thuật thu hoạch mảnh da ghép chính xác và ghép
mảnh ghép kĩ lưỡng đóng vai trò quan trọng để đạt được hiệu quả điều trị.

Nếu sẹo thứ phát sau thủ thuật không đẹp có thể tiến hành loại bỏ
tiếp vết sẹo đó bằng các thủ thuật khác. Khi mảnh ghép da hơi gồ lên có
thể xử lí bằng laser tái tạo bề mặt bắt đầu khoảng 4-8 tuần sau khi thực
hiện thủ thuật ban đầu [40]. Trong trường hợp lồi mảnh da ghép hoặc
hình thành sẹo lõm thì nên lặp lại thủ thuật ban đầu [38,42].

Trong thủ thuật bấm nâng sẹo, nút sẹo ban đầu hơi cao hơn so với
bề mặt da xung quanh có thể phẳng dần mà không cần phải can thiệp,
nhưng nếu tình trạng này kéo dài thì có thể làm phẳng bề mặt bằng các thủ
thuật tái tạo bề mặt thực hiện từ 4-8 tuần sau thủ thuật ban đầu (Good­
man GJ, không được công bố).
Các phương pháp hỗ trợ và sự phát triển trong tương lai

Mặc dù có nhiều phương pháp phẫu thuật điều trị sẹo trứng cá đã
được sử dụng trong nhiều thập kỉ, tuy nhiên vẫn có sự hạn chế số lượng
các nghiên cứu về đánh giá đáp ứng lâu dài của những phương pháp điều
trị này và sự so sánh hiệu quả điều trị với các phương pháp khác. Trong
khi một vài phương pháp điều trị như dermabrasion dần dần không được
ưa chuộng, thì những phương pháp điều trị mới, phác đồ điều trị mới và
những nghiên cứu so sánh vẫn đang liên tục được báo cáo. Việc đẩy mạnh
nghiên cứu những phương pháp điều trị được dự báo trong chương này
cùng với sự phát hiện của những phương pháp điều trị mới có thể sẽ giúp
cải tiến và/hoặc nâng cao hiệu quả điều trị trong tương lai.

Dermabrasion là phương pháp sử dụng một thiết bị motor gắn với

Chương 12: Kỹ thuật phẫu thuật: Cắt đáy sẹo, ghép da (grafting)
cắt khâu sẹo và các kỹ thuật bấm sẹo
166
dụng cụ mài như bàn chải tốc độ cao, đầu mài kim cương, hoặc giấy nhám
phủ silicon than hóa để loại bỏ lớp thượng bì và/hoặc một phần lớp bì để
kích thích tái tạo collagen [52-54]. Mục đích của phương pháp này là cho
phép bác sĩ làm mòn rìa sẹo với độ chính xác cao hơn mà không gây tổn
thương nhiệt [54]. Dermabrasion là phương pháp phù hợp nhất để điều
trị sẹo rolling, và sẹo boxcar nông, nhưng ít có tác dụng đối với sẹo trứng
cá sâu như sẹo ice pick, hoặc sẹo boxcar sâu [54-56]. Các nghiên cứu trước
đây đã chứng minh hiệu quả điều trị tương tự của dermabrasion với laser
vi điểm [57]. Tuy nhiên, nhược điểm của thủ thuật này đặc biệt đau, đỏ da,
phù, thời gian phục hồi lâu, nguy cơ để lại sẹo, rối loạn sắc tố và hình thành
mụn thịt (milia) [55,57].

Những nghiên cứu gần đây về sinh học tế bào gốc và y học tái tạo
(regenerative medicine) cho rằng những cách tiếp cận mới trong chỉnh
sửa sẹo có thể sẽ xuất hiện trong tương lai. Những tiến bộ lớn đã đạt được
trong việc làm sáng tỏ sự khác biệt giữa quá trình xơ hóa khi lành vết
thương dẫn đến sẹo và những con đường giúp tái tạo hoàn hảo mô tổn
thương, một hiện tượng có thể quan sát thấy ở bào thai người và những
sinh vật khác [58]. Các tế bào gốc da đã được xác định ở động vật có vú,
và chúng ta hy vọng rằng bằng cách cấy ghép những tế bào này vào da tổn
thương và cung cấp đúng điều kiện vi môi trường thì quá trình lành nhờ
tái tạo có thể dược tạo ra [58]. Do đó, sau cùng chúng ta có thể cắt xơ sẹo
và kiểm soát vết thương theo cách mà nó có thể được thay thế bởi mô da
mới bình thường và khỏe mạnh. Những nghiên cứu can thiệp được mô tả
gần đây có liên quan đến việc sử dụng tế bào gốc để trẻ hóa và cải thiện
sẹo da. Tế bào gốc được tìm thấy trong tủy xương, mô mỡ và máu nơi mà
các tế bào gốc thực hiện chức năng như là các tế bào chưa biệt hóa và có
thể biệt hóa thành một loại tế bào cụ thể [59]. Ibrahim và các cộng sự của
mình đã tìm thấy sự cải thiện lớn về số lượng và chất lượng ở 14 bệnh
nhân được điều trị sẹo trứng cá bằng cách tiêm trực tiếp tế bào gốc tủy
xương tự thân vào sẹo [60]. Tương tự, Zhou và các đồng nghiệp của ông đã
đánh giá việc bôi tế bào gốc có nguồn gốc từ mô mỡ 1 tuần sau lần điều trị
đầu tiên và 1 tháng sau mỗi lần điều trị với laser CO2 vi điểm trong điều
trị sẹo lõm ở mặt và trẻ hóa da [61]. Cả hai nhóm bệnh nhân đều có sự gia
tăng về mức độ hài lòng, độ đàn hồi và cấp nước cho da, và có sự giảm mức
độ mất nước qua da, giảm thô ráp và giảm chỉ số sắc tố. Phân tích mô học
từ một bệnh nhân cho thấy có sự tăng mật độ collagen và elastin lớp bì
[61]. Do đó, sử dụng tế bào gốc có thể cân nhắc như là một phương pháp

Chương 12: Kỹ thuật phẫu thuật: Cắt đáy sẹo, ghép da (grafting)
cắt khâu sẹo và các kỹ thuật bấm sẹo
167
điều trị đơn độc hoặc sử dụng phối hợp với các phương pháp phẫu thuật
để cải thiện hiệu quả điều trị. Gần đây, các lần điều trị tế bào gốc trên các
bệnh nhân ở phòng khám với nhiều chỉ định lâm sàng khác nhau đã được
FDA (Cục quản lí Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ) khảo sát kĩ lưỡng
và các phòng khám này đã được phê chuẩn là không an toàn và có nhiều
tuyên bố không được kiểm nghiệm.

Ghép mỡ tự thân (fat grafting) là một sự lựa chọn ngày càng phổ
biến trong điều trị sẹo trứng cá. Mặc dù phương pháp này ban đầu được
mô tả bởi Neuber vào năm 1893, Coleman vào năm 2006 đã chứng minh
sự cải thiện của sẹo trứng cá ở những bệnh nhân được ghép mỡ [62,63].
Hiệu quả của phương pháp cấy mỡ được cho là có liên quan với các tế bào
gốc mỡ có tiềm năng biệt hóa, tổng hợp collagen và kích thích tăng sinh
mạch máu [64]. Mô mỡ được thu hoạch và các phần mô nhỏ được tiêm vào
trong nhiều đường hầm để tăng tiếp cận tối đa với nguồn cung máu [59].
Hiệu quả điều trị được thấy rõ khoảng 3 tháng sau điều trị [59].
Seidel và Moy đã đánh giá việc sử dụng các serum yếu tố tăng trưởng
thượng bì tổng hợp 2 lần mỗi ngày trong điều trị sẹo trứng cá. Sau 12 tuần
điều trị, trong 8 bệnh nhân có 25% có hiệu quả rất tốt và 37% có hiệu
quả tốt [65]. Có rất nhiều các sản phẩm serum được thêm vào các chất có
nguồn gốc từ tế bào gốc được lưu thông trên thị trường có thể dùng để
làm tăng hiệu quả điều trị khi phối hợp với các phương pháp điều trị phẫu
thuật [59].

Một phương pháp điều trị bổ trợ tiềm năng khác đã được nghiên
cứu đó là sử dụng liệu pháp ánh sáng cường độ thấp (low-level light thera­
py-LLLT). Barolet và Bouche đã báo cáo về 3 bệnh nhân bị sẹo phì đại hoặc
sẹo lồi do mụn trứng cá hoặc do phẫu thuật, 3 bệnh nhân này được điều
trị bằng laser CO2 xâm lấn và có một một trong 2 vết sẹo được điều trị với
ánh sáng đèn LED (light-emitting diode- diode phát quang) có bước sóng
805 nm trong vùng hồng ngoại gần ở mức năng lượng 30 mW/cm2 trong
30 ngày [66]. Sau điều trị, kết quả ở 3 bệnh nhân (trong đó có 1 bệnh nhân
có sẹo lồi trứng cá trên ngực) đều cho thấy có sự cải về diện mạo khi nhìn,
độ nặng sẹo và địa hình bề mặt da so với vùng không điều trị. Mặc dù cần
có thêm nhiều nghiên cứu, LLLT được cho là có khả năng làm giảm inter­
leukin-6 và điều hòa yếu tố tăng trưởng TGF-β là những chất có liên quan
đến quá trình lành bình thường của vết thương [67].

Một lựa chọn khác đó là sử dụng phương pháp cấy lông để ngụy
trang sẹo trứng cá dạng boxcar và rolling ở vùng có râu của bệnh nhân có

Chương 12: Kỹ thuật phẫu thuật: Cắt đáy sẹo, ghép da (grafting)
cắt khâu sẹo và các kỹ thuật bấm sẹo
168
phân loại da type V theo Fitzpatrick [68]. Các tác giả này đã mô tả việc sử
dụng dụng cụ bấm nang lông để lấy các đơn vị nang lông từ các vùng hiến
ở dưới hàm và dưới càm để cấy xung quanh mỗi sẹo [68]. Kết quả là sẹo
trứng cá ít bị để ý hơn và làm tăng tính thẩm mỹ [68].
Tóm tắt

Chỉnh sửa sẹo trứng cá là một quá trình phức tạp, trong đó hướng
dẫn điều trị được thiết kế cá nhân hóa tùy thuộc vào đánh giá mức độ nặng
của sẹo, các đặc điểm chung của bệnh nhân cũng như cân nhắc đến mong
muốn, mục tiêu và khả năng tài chính của bệnh nhân [59]. Mỗi kĩ thuật
chỉnh sửa sẹo chỉ phù hợp nhất đối với một loại sẹo và để có thể điều trị
tất cả các loại sẹo đòi hỏi mỗi một bác sĩ phải thuần thục rất nhiều thủ
thuật phẫu thuật, không phẫu thuật và tái tạo bề mặt. Những kĩ thuật phẫu
thuật được mô tả trong trong chương này là những kĩ thuật mà mỗi bác sĩ
phải nắm được và là một trong số ít những thủ thuật có khả năng cải thiện
các loại sẹo trứng cá sâu và xơ hóa (Hình 12.6). Bác sĩ da liễu thẩm mỹ nên
cân nhắc phối hợp những phương pháp phẫu thuật này với các thủ thuật
tái tạo bề mặt và các thủ thuật không phẫu thuật khác, vì những phương
pháp này khi phối hợp có thể cộng gộp tác dụng để đạt hiệu quả điều trị
cao hơn [59]. Vì sẹo trứng cá nặng thường gây stress (cảm xúc và xã hội)
đối với bệnh nhân, do đó học cách thực hiện các thủ thuật này là rất cần
thiết đối với các bác sĩ da liễu thẩm mỹ.

Chương 12: Kỹ thuật phẫu thuật: Cắt đáy sẹo, ghép da (grafting)
cắt khâu sẹo và các kỹ thuật bấm sẹo
169
Đánh giá hình thái sẹo
Sẹo ice pick
• Hẹp
• Độ sâu đến lớp bì sâu hoặc
lớp mô dưới da
• Kích thước hẹp dần thành một
điểm ở đáy (hình nón ngược)
Sẹo boxcar
• Thành rõ, dựng đứng
• Miệng sẹo hình tròn hoặc hình
oval
• Đường kính đáy sẹo tương
đương đường kính miệng sẹo.
Đáy lõm rộng
Bờ không sắc rõ
sâu 0.5
mm
sâu <0.5
mm
Độ rộng
<3.5 mm
Độ rộng
3.5 mm
• Co giãn
được
• Mềm
• Nguyên
nhân do
mất da
sẹo rolling
•Không co
giãn được
• Có các cột
xơ neo lại
bên dưới
Đáy sẹo có giống da xung
quanh sẹo và có tương đương
với miệng sẹo về hình dạng
và kích thước hay không?
Cắt khâu sẹo hoặc
ghép da bằng dụng
cụ bấm
Không
Có
Bấm nâng sẹo
Cắt khâu
sẹo hình
elip
Điều trị
không
phẫu thuật
Ghép da
Cắt đáy sẹo
HÌNH 12.6 Lưu đồ ghép nối các loại sẹo khác nhau với các thủ thuật phẫu thuật
phù hợp. Ngoại trừ sẹo boxcar nông có độ sâu <0.5 mm, thì mỗi một loại sẹo
điều có thể được cải thiện bằng các phẫu thuật chỉnh sửa sẹo. Cắt khâu sẹo và
ghép da bằng dụng cụ bấm phù hợp để điều trị sẹo ice pick và sẹo boxcar sâu,
bấm nâng sẹo có thể được sử dụng để chỉnh sửa sẹo boxcar sâu có đáy sẹo bằng
phẳng, trong khi đó thủ thuật cắt đáy sẹo là phương pháp lí tưởng để điều trị
sẹo rolling và ghép da là lựa chọn tối ưu để cải thiện sẹo lõm co giãn.

Chương 13: Vai trò quan trọng của trang điểm ngụy trang trên
lâm sàng và kết quả chất lượng sống trong điều trị bệnh nhân
sẹo trứng cá và hoặc tăng sắc tố sau viêm
170
13
Vai trò quan trọng của trang điểm
ngụy trang trên lâm sàng và kết quả
chất lượng sống trong điều trị bệnh
nhân sẹo trứng cá và hoặc tăng sắc tố
sau viêm
Aurora Tedeshi và Giorgia Giuffrida
GHI NHỚ

• Trang điểm ngụy trang là phương pháp sử dụng các sản
phẩm kem phủ đặc biệt đã được kiểm tra.

• Đây là một kĩ thuật không xâm lấn cho phép có thể che đậy
ngay lập tức một số vấn đề của da.

• Phương pháp này không gây cản trở các thuốc bôi điều trị
trong các thủ thuật thẩm mỹ.
Giới thiệu

Mụn trứng cá là một trong những bệnh lí da liễu phổ biến nhất và
gây rất nhiều stress lên bệnh nhân. Các tổn thương trên da mặt có thể gây
trầm cảm, mất tự tin, giảm chất lượng sống, ảnh hưởng đến tình dục và
làm tăng tỉ lệ trầm cảm so với tỉ lệ trong dân số chung [1,2]. Hơn nữa, mụn
viêm nếu không được điều trị tức thời và hợp lí có thể để dẫn đến hình
thành sẹo gây mất thẩm mỹ ở nhiều mức độ khác nhau. Điều này có thể
gây ra hoặc làm nặng hơn các rối loạn tâm lí và ảnh hưởng đến chất lượng
sống của bệnh nhân (quality of life- QoL) [1].

Sẹo trứng cá là một vấn đề khó giải quyết: các liệu pháp điều trị lâu
dài với retinoids bôi có thể giúp cải thiện các trường hợp sẹo trứng cá nhẹ
[3] trong khi tiếp cận bằng các thủ thuật nội khoa và phẫu thuật như cắt

Chương 13: Vai trò quan trọng của trang điểm ngụy trang trên
lâm sàng và kết quả chất lượng sống trong điều trị bệnh nhân
sẹo trứng cá và hoặc tăng sắc tố sau viêm
171
khâu sẹo hình elip, cắt khâu sẹo bằng dụng cụ bấm, bấm nâng sẹo, peel
hóa học, mài da và lăn kim chỉ có thể mang lại hiệu quả điều trị nếu được
thực hiện bởi các bác sĩ có kinh nghiệm. Tuy nhiên, nhiều loại sẹo khác
nhau có thể xuất hiện cùng lúc trên cùng bệnh nhân, do đó để đưa ra lựa
chọn điều trị tốt nhất có thể rất khó khăn và có thể cần phải sử dụng nhiều
kĩ thuật khác nhau để đạt được kết quả như kì vọng [1,3].

Cuối cùng, các bác sĩ thẩm mỹ nên cẩn thận lựa chọn các thủ thuật
có khả năng điều trị thành công các loại sẹo khác nhau.

Trang điểm ngụy trang (Corrective cover cosmetic- CCC) có thể là
một lựa chọn thay thế cho thuốc, các thủ thuật và phẫu thuật và đặc biệt là
có thể tạm thời che phủ tình trạng đỏ da sau các thủ thuật như dermabra­
sion, lăn kim hoặc peel hóa chất [1] (xem hình 13.1-13.5). Ngoài ra, CCC
cũng có thể được sử dụng như là một phương pháp hỗ trợ cho các phương
pháp điều trị nhằm làm tăng hiệu quả điều trị so với khi thực hiện đơn lẻ
[4]. Cuối cùng, CCC được báo cáo là giúp cải thiện sức khỏe tinh thần, sự
tự tin của bệnh nhân [5-14].
HÌNH 13.1 Sẩn và các tổn thương đỏ da sau viêm (a) trước và (b) sau khi
trang điểm ngụy trang
a
b

Nhiều bác sĩ da liễu do dự trong việc sử dụng các sản phẩm trang
điểm ở bệnh nhân mụn trứng cá, vì họ sợ hiện tượng “trứng cá do mỹ
phẩm”. Đây là một loại mụn trứng cá đặc biệt được mô tả trong thập niêm
1970 và được gây ra hoặc làm nặng hơn khi dùng các sản phẩm mỹ phẩm
sinh còi mụn, tuy nhiên vấn đề này có thể không xảy ra nếu bệnh nhân
được tư vấn cẩn thận [12]. Ngoài ra, khái niệm về sức khỏe ngay nay không
chỉ là “không có bệnh” mà còn “khỏe mạnh về thể chất và tinh thần” nữa.
Khái niệm này ủng hộ cho việc sử dụng CCC như là một sự hỗ trợ cho các
phương pháp điều trị chuẩn y khoa [6-14].

Chương 13: Vai trò quan trọng của trang điểm ngụy trang trên
lâm sàng và kết quả chất lượng sống trong điều trị bệnh nhân
sẹo trứng cá và hoặc tăng sắc tố sau viêm
172
HÌNH 13.2 Sẹo và các tổn thương đỏ da sau viêm (a) trước và (b) sau khi
trang điểm ngụy trang
HÌNH 13.3 Sẩn, sẹo và các tổn thương đỏ da sau viêm (a) trước và (b) sau
khi trang điểm ngụy trang
HÌNH 13.4 Sẩn, mụn mủ và các tổn thương đỏ da sau viêm (a) trước và (b)
sau khi trang điểm ngụy trang
a
b
a
b
a
b

Chương 13: Vai trò quan trọng của trang điểm ngụy trang trên
lâm sàng và kết quả chất lượng sống trong điều trị bệnh nhân
sẹo trứng cá và hoặc tăng sắc tố sau viêm
173
HÌNH 13.5 Sẩn, mụn mủ và các tổn thương đỏ da sau viêm (a) trước và (b)
sau khi trang điểm ngụy trang

CCC được sử dụng ở Mỹ từ những năm cuối của thập niên 1960
bằng cách sử dụng các sản phẩm có tính che phủ và không thấm nước mà
có khả năng chỉnh sửa và làm mờ sẹo do các nguyên nhân khác nhau. Bảng
13.1 [6-14] liệt kê những vấn đề da phổ biến nhất có thể có lợi từ CCC.
Bảng 13.1 Những vấn đề về da có thể trang điểm ngụy trang
Mụn trứng cá
Sẹo trứng cá
Bệnh gai đen
Viêm da tiếp xúc dị ứng
Bớt Becker
Bớt xanh
Sẹo bỏng
Nám má
Giảm sắc tố dạng chấm tự phát
Đốm nâu
Lichen dạng sùi
Nốt ruồi
Bớt Ota
Thâm mí mắt
Tăng sắc tố sau viêm do bệnh bóng nước tự miễn (ví dụ: pemphigus)
Vảy nến
Trứng cá đỏ
Sẹo do phẫu thuật
Giãn mạch
Bệnh khô da sắc tố
Bạch biến
a
b

Chương 13: Vai trò quan trọng của trang điểm ngụy trang trên
lâm sàng và kết quả chất lượng sống trong điều trị bệnh nhân
sẹo trứng cá và hoặc tăng sắc tố sau viêm
174

Trong khoa của tôi, đơn vị CCC được hoạt động từ năm 2001 và
nhiều vấn đề da khác nhau bao gồm tăng sắc tố sau viêm và sẹo trứng cá
đã được điều trị thành một cách thành công [6-14].

CCC thường bao gồm 2 bước. Bước đầu tiên là khám sơ qua nhằm
đánh giá nhu cầu, kỳ vọng và kết quả có thể đạt được của CCC đến lối
sống của bệnh nhân và để cung cấp nhiều thông tin chi tiết hơn về các sản
phẩm. Trong bước này, một bộ câu hỏi đánh giá QoL (chất lượng sống)
được đưa ra nhằm khảo sát mối liên quan giữa sẹo trứng cá với những
căng thẳng tâm lí [1].

Sau bước tư vấn ban đầu, những bệnh nhân có thể áp dụng phương
pháp CCC phải rửa mặt và dưỡng ẩm hàng ngày bằng các sản phẩm không
sinh còi mụn và không gây dị ứng. Sau đó, tiến hành bôi sản phẩm phù
hợp, các sản phẩm này rất đa dạng về màu sắc từ đục nhẹ đến rất đục,
kháng nước hoặc không thấm nước, không sinh còi mụn và/hoặc ít gây dị
ứng và được cố định bằng cách bôi một lớp bột.

Những thay đổi về sắc tố được điều chỉnh bằng cách bôi lớp nền
màu xanh và/hoặc vàng để lần lượt trung hòa màu đỏ và màu đà/nâu hoặc
xanh da trời của sẹo; đối với tình trạng tăng sắc tố sau viêm do sẹo trên
mặt, bôi lớp nền màu xanh thường được sử dụng như là kỹ thuật tạo mặt
nạ [1]. Trong quá trình trang điểm ngụy trang, bệnh nhân sẽ được hướng
dẫn cẩn thận về cách bôi các sản phẩm ở nhà.

Các bệnh nhân sẽ được mời quay trở lại đơn vị CCC sau 2 tuần để
đánh giá chất lượng kĩ thuật CCC và cũng để theo dõi chất lượng sống của
họ.

Theo kinh nghiệm của tôi, mặc dù hiệu quả sử dụng CCC khá tương
đồng, nhưng những bệnh nhân bị sẹo trứng cá và/hoặc tăng sắc tố sau
viêm được báo các là có mức độ hài lòng với CCC cao hơn so với những
bệnh nhân bị ảnh hưởng bởi các vấn đề da khác [1]. Các sản phẩm CCC
giúp đạt kết quả ngụy trang ngay và không gây nổi mụn [12].
Bàn luận

Sau khi được giới thiệu từ cuối thập niên 1960, việc sử dụng CCC
trở nên phổ biến trên thế giới từ thập niên 1980s [15-18]. Đây là kĩ thuật
không xâm lấn cho phép ngay lập tức che phủ được các vấn đề của da, bao
gồm tăng sắc tố sau viêm và sẹo trứng cá. Các bác sĩ da liễu nên biết thủ
thuật đơn giản và an toàn này và có thể đề xuất các sản phẩm che phủ tốt
nhất để đáp ứng cho nhu cầu cũng như để hướng dẫn bệnh nhân sử dụng

Chương 13: Vai trò quan trọng của trang điểm ngụy trang trên
lâm sàng và kết quả chất lượng sống trong điều trị bệnh nhân
sẹo trứng cá và hoặc tăng sắc tố sau viêm
175
đúng cách [12].

Điều quan trọng là các sản phẩm CCC không phải là các sản phẩm
trang điểm “quyến rũ” hay “thời trang” truyền thống. Công thức cải tiến
không sinh còi mụn (noncomedogenic) và không sinh mụn (nonacnege­
nic) được phát triển bởi các công ty có uy tín được biết tới trong cộng
đồng các bác sĩ da liễu có chứa thành phần sắc tố cao và nhiều loại màu
sắc để có thể che đậy được nhiều vấn đề về da khác nhau trên nhiều phân
loại da khác nhau [12,19].

Không may rằng các sản phẩm CCC vẫn tỏ ra ít hiệu quả trong việc
che đậy sẹo trứng cá so với các vấn đề về da khác, và nguyên nhân chủ yếu
là do khó có thể làm đầy được sẹo lõm và bóng của sẹo lõm vẫn có thể nhìn
thấy được [1].

Chương 14: Sẹo trứng cá ở bệnh nhân Châu Á
176
14
Sẹo trứng cá ở bệnh nhân Châu Á
Evangeline B. Handog, Maria Juliet E. Macarayo, và Chee Leok goh
GHI NHỚ

• Mụn trứng cá vẫn là nguyên nhân hàng đầu khiến bệnh
nhân châu Á phải đến gặp bác sĩ da liễu để khám tư vấn.

• Sẹo trứng cá là hậu quả thường thấy của mụn trứng cá khi
không được điều trị, thậm chí đối với người Châu Á.

• Điều trị sớm tất cả các loại mụn trứng cá có thể giúp dự
phòng sẹo.

• Một số phương pháp để điều trị sẹo trứng cá có thể áp dụng
cho các bệnh nhân Châu Á và hiệu quả điều trị rất khác nhau giữa
các phương pháp này.
Giới thiệu

Người châu á thuộc chủng tộc da nâu [1] và được nhận diện như là
những người có da màu [2], là chủng người không đồng nhất về gen khi
xem xét đến các yếu tố như di cư và hôn nhân khác chủng tộc [1]. Phân
loại da phổ biến của người Châu Á là thuộc nhóm IV-V theo Fitzpatrick và
phân loại IV theo Lancer Ethnicity Scale [1,3], hiện nay da người châu Á
nằm trong nhóm II-V với tone màu da khác nhau từ sắc nâu sáng nhất đến
sắc nâu tối nhất [4].

Mụn trứng cá và những hậu quả của nó như tăng sắc tố sau viêm
(PIH) và sẹo là những vấn đề không hiếm gặp ở người châu Á. Do đó trong
thực hành da liễu, cần phải cố gắng điều trị mụn trứng cá bất kể đang ở
giai đoạn nào. Vì dân cư châu Á có nhiều nền văn hóa và niềm tin khác
nhau, một số niềm tin đã khiến quá trình điều trị bị trì hoãn. Tuy nhiên, tại
thời điểm chúng tôi viết chương này 7 năm về trước, nhận thức của phần
lớn người châu Á đã tăng lên rất nhiều do sợ hậu quả của mụn trứng cá khi
không được điều trị. Do đó, ngày càng có nhiều bệnh nhân đến để được tư

Chương 14: Sẹo trứng cá ở bệnh nhân Châu Á
177
vấn điều trị mụn trứng cá ở hầu hết các bệnh viện và phòng khám ở châu
Á.

Mặc dù được điều trị nhưng mụn trứng cá vẫn là một vấn đề. Với
sự xuất hiện của các thiết bị laser và ánh sáng mới đã mở ra nhiều cánh
cửa trong điều trị sẹo trứng cá. Nhiều bác sĩ da liễu châu Á khi sử dụng các
thiết bị này đã tự tiến hành nhiều nghiên cứu thử nghiệm và hình thành
những kinh nghiệm điều trị phù hợp với da người châu Á.
Mụn trứng cá ở người châu Á: Có gì mới trong những nghiên cứu gần
đây

Mỗi chủng tộc có nhiều bệnh da đặc thù riêng [2] nhưng mụn trứng
cá là bệnh da phổ biến đối với tất cả các chủng tộc, bao gồm cả người châu
Á. Nó được xem là một trong những nguyên nhân hàng đầu khiến bệnh
nhân tìm kiếm sự tư vấn và điều trị từ các bác sĩ da liễu [2,4-6].
Từ năm 2011 đến 2016, thống kê có hơn 475967 cuộc tư vấn ở 11 cơ sở
đào tạo của Hội bác sĩ Da liễu Philippine; trong số đó có 45085 (9.47%)
bệnh nhân Filipino đến khám và điều trị trứng cá và trong đó số bệnh
nhân là các trường hợp mới đi khám là 32948 (6.9%). 2/3 bệnh nhân
là nữ và chỉ 1/3 bệnh nhân là nam, các bệnh nhân có độ tuổi từ dưới 1
tuổi cho đến 67 tuổi [7]. Phần lớn bác sĩ Filipino khám ít nhất 10 bệnh
nhân mụn trứng cá mỗi tuần với nhiều loại và mức độ khác nhau tại các
clinic của họ. Điều này đã khiến mụn trứng cá trở thành một trong những
nguyên nhân phổ biến khiến bệnh nhân tìm đến bác sĩ da liễu (Handog EB,
không được công bố dữ liệu).

Tương tự, trong các nghiên cứu tiến hành ở Singapore, mụn trứng
cá luôn nằm trong 10 bệnh phổ biến nhất khiến bệnh nhân phải tìm kiếm
sự điều trị [8-10]. Một nghiên cứu dịch tễ được tiến hành trong 10 năm
(2004-2013) trên đối tượng thanh niên (<25 tuổi) và người trưởng thành
(≥ 25 tuổi) bị mụn được tiến hành tại Singapore bởi Han và các cộng sự
[11]. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ mụn trứng cá ngày càng tăng và ở
bệnh nhân nữ luôn cao hơn so với bệnh nhân nam. Tuy nhiên, phân tích
từng nhóm đối tượng cho thấy trong nhóm đối tượng thanh niên (<25
tuổi) thì tỉ lệ bệnh nhân nam lại cao hơn (61.3% nam so với 38.8% nữ).
Mụn trứng cá ở nhóm người trưởng thành chiếm 30% các trường hợp
mụn trứng cá với tỉ lệ nữ cao hơn so vơi nam (69.0% nữ và 31.0% nam).
Trong các loại sẹo, dạng nhân mụn (comedonal acne) thường được thấy
nhiều hơn ở đối tượng thanh niên và nang mụn thì lại thấy nhiều ở nhóm

Chương 14: Sẹo trứng cá ở bệnh nhân Châu Á
178
người trưởng thành (≥ 25 tuổi). Điểm thú vị là 40.5% những người bị mụn
ở tuổi trưởng thành là do tình trạng mụn kéo dài từ độ tuổi thanh niên.
Trong các bệnh nhân ở độ tuổi trưởng thành do mụn trứng cá kéo dài từ
thời thanh niên hoặc mới khởi phát, thì mụn trứng cá ở thân mình thường
xuất hiện ở nhóm bệnh nhân có mụn kéo dài từ thời thanh niên, và mụn
mủ thường thấy ở nhóm mới khởi phát. Singapore là một ví dụ điển hình
của một quốc gia đa chủng tộc người châu Á (ví dụ: Trung Quốc, Malaysia,
Ấn độ). Mặc dù các nghiên cứu cho thấy có sự gia tăng số lượng các ca bị
mụn trứng cá ở tất cả các chủng tộc, nhưng Trung Quốc là nước có tỉ lệ
mụn trứng cá cao nhất.

Một nghiên cứu về mụn trứng cá ở Nepal được công bố gần đây
[12] cho thấy có tỉ lệ mụn trứng cá thấp ở mức 1.068%. Các bệnh nhân
có độ tuổi từ 13 đến 45 tuổi, trong đó bệnh nhân trong nhóm 16-20 tuổi
chiếm nhiều hơn (độ tuổi trung bình là 19.78 năm). Mặc dù tỉ lệ nam/nữ
chung là 1.25:1, tuy nhiên ở nhóm tuổi lớn hơn nữ giới có tỉ lệ mụn cao
hơn và bị nặng hơn. Thời gian kéo dài của mụn từ 1 tháng đến 25 năm,
trung bình là 45.55 tháng. Tương tự với các nghiên cứu khác, các bệnh
nhân người Nepal có thời gian bị mụn dài hơn và bị mụn nặng hơn. Mụn
chủ yếu tập trung ở mặt, nhưng cũng xuất hiện ở vùng lưng, ngực và cổ.
Mụn comedone được quan sát thấy ở tất cả bệnh nhân và tỉ lệ sang thương
mụn không viêm/ viêm là 8.55:1.

Một nghiên cữu dịch tễ đa trung tâm về mụn ở Hàn Quốc trên 1236
bệnh nhân [13] cho thấy tỉ lệ nam/nữ là 1:1.6 trong đó tỉ lệ nữ cao hơn
trong nhóm người lớn tuổi (19-35 tuổi) và thời gian bị mụn dài hơn (trung
bình 7.7 năm). Mụn trứng cá ở mặt ảnh hưởng đến cả hai giới, tuy nhiên
mụn ở vùng quanh miệng ưu thế hơn ở giới nữ. Trong các bệnh nhân nam,
mụn tập trung phổ biến ở vùng mũi, cổ, ngực và lưng. Một nghiên cứu đa
trung tâm thực hiện trong 10 năm (2004-2013) trên 180782 bệnh nhân
mụn trứng cá được tiến hành bởi Hiệp hội nghiên cứu Mụn trứng cá Hàn
Quốc cũng cho thấy nữ giới có tỉ lệ mụn cao hơn. Trong đó, mụn trứng cá
ở người lớn (>18 tuổi) vẫn chiếm đa số (83.8%) và 14.4 % mụn trứng cá ở
nhóm tuổi thanh niên (13-18 tuổi). Mụn trứng cá trẻ em (<13 tuổi) chiếm
tỉ lệ 1.8% với tỉ lệ nam/nữ là 4:6. Trong nghiên cứu 10 năm, tổng số lượng
bệnh nhân bị mụn trứng cá tăng 60% và các tác giả cho rằng tỉ lệ tăng này
liên quan đến sự tăng nhận thức của người dân Hàn Quốc về mụn trứng
cá và các biến chứng của nó.

Chương 14: Sẹo trứng cá ở bệnh nhân Châu Á
179

Điểm thú vị cần lưu ý đó là các nghiên cứu về mụn trứng cá được
thực hiện ở người châu Á đã sử dụng các hệ thống thang điểm đánh giá độ
nặng khác nhau [12,15-17]. Do đó không có sự thống nhất về cách đánh
giá và phân loại độ nặng của mụn trứng cá, thậm chí giữa các chuyên gia.
Mặc dù mỗi phân loại đều dựa trên nền tảng chung, nhưng do sử dụng các
thang điểm và các thuật ngữ khác nhau nên rất dễ gây nhầm lẫn.

Không bao giờ được xem thường ảnh hưởng tâm lí của mụn trứng
cá [6,15,17-20]. Trong 429 bệnh nhân Singapore, độ tuổi từ 17-35, thì
có hơn một nữa cảm thấy ngại ngùng và tự nhận thức được về tình trạng
mụn trứng cá của bản thân và một phần ba số bệnh nhân cho rằng mụn
trứng cá gây cản trở các hoạt động xã hội và giải trí của họ [6]. Hơn nữa,
khả năng am hiểu về mức độ nặng của mụn trứng cá ở mỗi người cũng rất
khác với đánh giá thực tế của các bác sĩ, điều này cũng đã ảnh hưởng đến
lượng người tìm kiếm sự điều trị [6,15].

Sinh bệnh học của mụn trứng cá đã được biết đến là do nhiều yếu tố
tạo thành và điều này đúng đối với tất cả các chủng tộc và dân tộc trên thế
giới [4,6]. Người châu Á có thể bị tất cả các dạng mụn trứng cá với nhiều
mức độ khác nhau, tuy nhiên mụn trứng cá nặng dạng nang, nốt ít gặp hơn
[21] và tăng sắc tố sau viêm (PIH) luôn là hậu quả nổi bật của mụn trứng
cá trên đối tượng này [4,5,12,15,16,21-23].
Sẹo trứng cá ở người châu Á: các dữ liệu nói lên điều gì

Sẹo là hậu quả đáng sợ của mụn trứng cá và có thể xuất hiện dù
bệnh nhân có mức độ trứng cá nặng như thế nào [24]. Nếu như mụn trứng
cá ảnh hưởng đến chất lượng sống của bệnh nhân, thì mức độ ảnh hưởng
của sẹo trứng cá đến chất lượng sống còn nặng nề hơn [25]. Mụn trứng
cá viêm nếu không được điều trị hoặc trì hoãn điều trị thì sẽ đưa đến hậu
quả bị sẹo (hình 14.1 và 14.2). Hơn nữa, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng sẹo
trứng cá có thể xất hiện thậm chí đối với các tổn thương mụn không viêm
hoặc ở mụn trứng cá mức độ nhẹ [24-27].

Trong khoảng 3 thập kỉ trước, một số hệ thống phân loại sẹo trứng
cá đã được đề xuất và sử dụng [28]. Nhiều nghiên cứu về sẹo trứng cá đã
sử dụng các hệ thống khác nhau để đánh giá độ nặng của sẹo trên bệnh
nhân. Nói một cách đơn giản, sẹo trứng cá được hình thành do mất mô
hoặc tăng sinh mô quá mức [1]. Nếu sẹo do tăng sinh mô quá mức thì gọi
là sẹo phì đại (hypertrophic) hoặc sẹo lồi (keloid) và đã được báo cáo là có
tỉ lệ cao hơn ở người châu Á so với người da trắng [29] (hình 14.3 và 14.4).

Chương 14: Sẹo trứng cá ở bệnh nhân Châu Á
180
HÌNH 14.1 Trứng cá
mức độ nặng dẫn đến
sẹo
HÌNH 14.2 Trứng cá
dạng sẩn mụn mủ

Chương 14: Sẹo trứng cá ở bệnh nhân Châu Á
181
Sẹo lõm gồm có 3 phân loại nhỏ hơn là sẹo ice pick, rolling, và boxcar,
đây là loại sẹo trứng cá thường thấy nhất ở tất cả các chủng tộc và dân
tộc trên thế giới bao bồm cả người châu Á (hình 14.5)
HÌNH 14.3 Sẹo phì
đại
HÌNH 14.4 Sẹo lồi

Chương 14: Sẹo trứng cá ở bệnh nhân Châu Á
182
HÌNH 14.5 Sẹo lõm

Sẹo trứng cá xuất hiện với tỉ lệ 39.5% trong các bệnh nhân người
Nepal trong nghiên cứu của Jha, trong tất cả các trường hợp đều có sẹo ở
vùng má. Sẹo ice pick là loại sẹo thường thấy nhất. Thời gian mụn trứng
cá kéo dài hơn 3 năm được xem là yếu tố góp phần hình thành sẹo trứng
cá [12]. Trong số các thanh niên Hồng Kong bị mụn trứng cá, mức độ sẹo
và tăng sắc tố (phản ánh độ nặng của mụn trứng cá) được báo cáo là cao
hơn so với người phương tây và xuất hiện nhiều hơn ở nữ giới [20]. Tuy
nhiên trong một nghiên cứu được thực hiện trên người Ấn Độ, Hazarika
và Rajaprabha đã thấy rằng sẹo trứng cá ảnh hưởng đến nam giới nhiều
hơn nữ giới (86% và 38%) [30].

Sẹo trứng cá thường tồn tại đồng thời với các tổn thương mụn
trứng cá ở nhiều bệnh nhân Filipino. Các bác sĩ da liễu ở Philiphin có thể
bắt gặp hầu hết các loại sẹo ở các bệnh nhân, trong đó chủ yếu là dạng sẹo
lõm. Các sẹo này hầu hết được điều trị bằng laser và ánh sáng, peel hóa
chất và lăn kim. Ngược lại, sẹo phì đại thường được điều trị bằng tiêm
corticosteroid kèm hoặc không kèm phối hợp điều trị với laser & ánh sáng
và kem bôi silicon. Biến chứng tăng sắc tố sau mụn chiếm phần lớn so với
mất sắc tố. Phương pháp peel da bằng hóa chất sử dụng các loại acid như
trichloroacetic acid (TCA), glycolic hoặc salicylic acid là lựa chọn thường
thấy để điều trị sẹo trứng cá. Thủ thuật này có thể được tiến hành một đến

Chương 14: Sẹo trứng cá ở bệnh nhân Châu Á
183
2 lần mỗi tháng và hầu hết bệnh nhân có thể thấy được sự cải thiện bề mặt
đa đến 50% (Handog EB, dữ liệu không được công bố).

Sẹo trứng cá dạng sẩn xuất hiện ở mũi và cằm được xem như là một
thể sẹo khác biệt, khác với cả sẹo ly giải mô đàn hồi được thấy chủ yếu ở
ngực và thân [31,32]. Loại sẹo này không thường thấy ở các bệnh nhân
người châu Á. Tuy nhiên, nếu điều trị loại sẹo này bằng laser CO2 xâm lấn
hoặc đốt điện có thể gây mất sắc tố. Lee và các cộng sự [33] đã báo cáo 2
trường hợp nữ người Hàn, 30 tuổi và 20 tuổi, được điều trị theo phương
pháp đục lỗ kim bằng laser Er: YAG (Erbium: yttrium-aluminum garnet)
kèm với đắp gặc thấm hydrocolloid trong 1 tuần sau điều trị. Trường hợp
đầu tiên cho kết quả thẩm mỹ tốt với chỉ 1 lần điều trị và không có dấu
hiệu tái phát thậm chí là ở thời điểm 1 năm sau laser. Trường hợp thứ 2
cần 2 lần điều trị với khoảng cách 1 tháng và cũng cho hiệu quả điều trị rất
tốt.

Gần đây, Chaudhary và các cộng sự của mình [34] đã so sánh hiệu
quả điều trị của các loại peel da khác nhau với các thủ thuật phẫu thuật
để để điều trị sẹo trứng cá ở 80 bệnh nhân Ấn Độ. Ông nhận thấy rằng tỉ
lệ nam/nữ là 1.2:1, trong đó 62% bệnh nhân thuộc nhóm tuổi thanh niên
và thời gian bị sẹo trứng cá là từ 2-5 năm. Sẹo boxcar là loại sẹo thường
gặp nhất, tiếp theo lân lượt là sẹo rolling và ice pick. Ông chia các bệnh
nhân thành 4 nhóm, mỗi nhóm có 20 người được tham gia điều trị bởi một
trong các phương pháp sau: (A) Tiến hành một chuỗi peel da bằng glycolic
acid với nồng độ tăng dần từ 35% đến 70% trong tối thiểu 10 lần, khoảng
cách giữa các lần điều trị là 2 tuần, (B) tái tạo cấu trúc sẹo bằng hóa chất
(CROSS) TCA 95% mỗi tháng, tối thiểu 4 lần điều trị, (C) lăn kim tối thiểu
3 lần, mỗi lần cách nhau 6 tuần, và (D) cắt đáy sẹo tối thiểu 4 lần, mỗi lần
cách nhau 1 tháng. Kết quả cho thấy phương pháp lăn kim làm giảm điểm
sẹo trứng cá nhiều nhất, tiếp theo đó lần lượt là CROSS bằng TCA, cắt đáy
sẹo và peel glycolic acid. Hiệu quả điều trị của các phương pháp phẫu
thuật cao hơn có ý nghĩa thống kê so với phương pháp peel hóa chất. Chỉ
có 7 trong số 80 bệnh nhân có tác dụng phụ. Các tác dụng phụ này chủ yếu
là đỏ da và khối máu tụ do điều trị các thủ thuật phẫu thuật và thay đổi sắc
tố do peel hóa chất.
Điều trị sẹo trứng cá ở người châu Á

Một khi đã hình thành sẹo thì rất khó để điều trị. Dường như không
thể khôi phục da trở lại như bình thường. Hiện tại, tất cả các phương pháp

Chương 14: Sẹo trứng cá ở bệnh nhân Châu Á
184
điều tri sẹo đều không thể loại bỏ được chúng một cách hoàn toàn được.

Phần lớn bệnh nhân lo lắng về tình trạng tăng sắc tố sau viêm (PIH)
và đỏ da sau viêm (PIE) (hình 14.6 và 14.7). Ở các phòng khám, hầu hết
các bác sĩ ở Châu Á điều trị các vấn đề trên bằng cách sử dụng các chất làm
trắng da kết hợp với sử dụng chống nắng hàng ngày. Trên thực tế, PIH có
thể tự mất dần theo thời gian.
HÌNH 14.6 Tăng sắc tố
sau viêm
HÌNH 14.7 Đỏ da sau
viêm

Chương 14: Sẹo trứng cá ở bệnh nhân Châu Á
185

Peel hóa chất vẫn là phương pháp được ưa chuộng bởi nhiều bác sĩ
da liễu (đặc biệt ở châu Á) để điều trị PIH, PIE và sẹo trứng cá. Lý do giải
thích điều này có thể là do giá thành rẻ. Tuy nhiên, hiệu quả điều trị của
phương pháp này bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như loại sẹo trứng cá
cũng như phân loại da ánh sáng của bệnh nhân.

Khi điều trị sẹo trứng cá, cần thiết phải phân biệt được sẹo (lõm và
phì đại) với các dát trên da (PIH và PIE). Với các dát trên da, chúng có thể
tự lành và mất dần theo thời gian nhưng đối với sẹo lõm, sẹo phì đại và
sẹo lồi thì thường tồn tại dai dẵng nếu không được điều trị. Các lựa chọn
điều trị bao gồm sử dụng các công nghệ sử dụng năng lượng hoặc không
sử dụng năng lượng [35]. Các thiết bị sử dụng năng lượng bao gồm laser
xâm lấn và không xâm lấn, thiết bị sóng cao tần RF, IPL, và thiết bị trẻ hóa
da plasma. Các công nghệ không sử dụng năng lượng gồm các thủ thuật
như cắt đáy sẹo, mài da và vi mài da, lăn kim, filler sẹo và peel hóa chất.
Có rất nhiều phương pháp phẫu thuật, laser cũng như các thiết bị sử dụng
năng lượng được ứng dụng để điều trị sẹo trứng cá ở người châu Á [36].

Hiệu quả điều trị sẹo trứng cá ở người châu Á rất khác nhau và
nằm trong khoảng từ 10 đến 50%. Các biến chứng khi điều trị ít xảy ra.
Các bệnh nhân châu Á có thể hình thành sẹo phì đại và sẹo lồi sau điều trị
đặc biệt là ở những người có type da tối màu. Tuy nhiên, tăng sắc tố sau
viêm (PIH) mới là biến chứng thường gặp nhất sau các thủ thuật điều trị
sẹo trứng cá [37,38]. Hơn 40% bệnh nhân châu Á điều trị sẹo trứng cá với
laser mạnh mạnh sẽ xuất hiện tăng sắc tố sau viêm ở nhiều mức độ khác
nhau. Mặc dù có rất nhiều phương pháp đã được thử để giảm PIH sau điều
trị laser, thì việc bôi các chất làm trắng da trước và sau điều trị laser (ví
dụ: hydroquinone) vẫn còn đang tranh cãi [39,40]. Tuy nhiên tránh nắng
và sử dụng chống nắng luôn tỏ ra hiệu quả trong việc hạn chế hình thành
PIH.
Sẹo phì đại và sẹo lồi

Sẹo phì đại thường sẽ tự giảm thể tích dần theo thời gian tuy nhiên
sẹo lồi thì tốt nhất phải được điều trị bằng cách tiêm triamcinolone vào
sẹo. Phương pháp phẫu thuật thường làm sẹo lồi trở nên xấu hơn.

Có thể sử dụng laser xung nhuộm màu (PDL) với chế độ năng lượng
thấp nhất (để làm giảm bầm tím nhẹ) để làm giảm thể tích sẹo phì đại.
Người ta thấy rằng cấu trúc và tính mềm dẻo của da tăng lên khi mức độ
đỏ da giảm xuống [41]. Thiết bị PDL đã được sử dụng bởi các bác sĩ da liễu
ở châu Á và tỉ lệ điều trị sẹo phì đại thành công rất khác nhau.

Chương 14: Sẹo trứng cá ở bệnh nhân Châu Á
186
Sẹo lõm
Các kỹ thuật phẫu thuật

Trên mỗi bệnh nhân thường xuất hiện đồng thời cả sẹo ice pick,
boxcar và rolling [36] (hình 14.8 và 14.9). Các kĩ thuật phẫu thuật thường
được áp dụng để điều trị sẹo lõm gồm cắt đáy sẹo, cắt khâu hình elip hoặc
cắt khâu bằng dụng cụ bấm, và thủ thuật bấm nâng sẹo.
HÌNH 14.8 sẹo rỗ

Kỹ thuật cắt đáy sẹo được thực hiện nhằm mục đích giải phóng
các dải xơ bên dưới sẹo và được ứng dụng chủ yếu đối với sẹo rolling.
Thủ thuật được thực hiện bằng cách đưa kim norker hoặc kim 18 G theo
phương ngang xuống lớp bì sâu, sau đó chuyển động qua về để giải phóng
dải xơ và cho phép sẹo trở nên co giãn trở lại. Các biến chứng thường thấy
của phương pháp này là bầm tím và khối máu tụ.

Thủ thuật cắt khâu sẹo bằng dụng cụ bấm hoặc cắt khâu hình elip
được áp dụng để điều trị sẹo ice pick và sẹo boxcar đường kính < 3 mm.
Thủ thuật này loại bỏ toàn bộ sẹo đến lớp mỡ dưới da bằng dụng cụ bấm
sinh thiết sau khi gây tê. Lỗ thủng trên da sau đó được khâu lại bằng chỉ
6-0 và tránh kéo quá căng. Biến chứng thường gặp là để lại sẹo và bị nhiễm
trùng.

Bấm nâng sẹo được thực hiện để điều trị sẹo boxcar đường kính >4
mm. Thủ thuật được tiến hành bằng cách cách dùng dụng cụ bấm quanh

Chương 14: Sẹo trứng cá ở bệnh nhân Châu Á
187
HÌNH 14.9 sẹo lõm
quanh thành sẹo xuống đến lớp mỡ dưới da. Sẹo sau đó sẹo được nâng lên
hơi cao hơn so với mô xung quanh và cố định bằng chỉ hoặc Steri-Strips.
Biến chứng của phương pháp này bao gồm sẹo và nhiễm trùng.
Filler sẹo

Có thể sử dụng phương pháp làm đầy da để chỉnh sửa các sẹo trứng
cá lõm có thể co giãn nhẹ [42]. Dạng filler sẹo phù hợp đó là filler tạm
thời (ví dụ: hyaluronic acid) và filler kéo dài (ví dụ: poly-L-lactic acid và
calcium hydroxylapatite). Cấy mỡ tự thân cũng là một sự lựa chọn khác.
Thời gian hiệu quả rất khác nhau tùy thuộc vào loại filler được sử dụng.
Hyaluronic acid là một sự lựa chọn an toàn trong các chất filler tuy nhiên
chất này lại tan nhanh.

Chương 14: Sẹo trứng cá ở bệnh nhân Châu Á
188
Laser, ánh sáng và các thiết bị sử dụng năng lượng

Laser và các thiết bị sử dụng năng lượng đã trở thành tiêu chuẩn
vàng trong điều trị sẹo trứng cá với rất nhiều thiết bị được ra đời trong 2
thập kỉ gần đây. Tuy nhiên, không có thiết bị nào có thể hoàn toàn loại bỏ
sẹo. Ở bệnh nhân châu Á hiệu quả điều trị sẹo trứng cá nằm trong khoảng
thay đổi tối thiểu đến 50 %. Mặc dù đã áp dụng các biên pháp dự phòng
như sử dụng các chất làm trắng trước và sau laser nhưng tỉ lệ PIH sau điều
trị laser vẫn cao ở người châu Á [43,44].
Laser tái tạo bề mặt xâm lấn

Tái tạo bề mặt bằng laser xâm lấn với thiết bị scanner là thủ thuật
laser đầu tiên được áp dụng để điều trị sẹo trứng cá. Phương pháp điều trị
này đã từng được xem là tiêu chuẩn vàng mang lại hiệu quả cải thiện sẹo
tốt nhất từ 50%-60% [45]. Hiện tại nó hiếm khi được sử dụng do thời gian
lành vết thương dài và các biến chứng của nó. 2-3 tuần sau thủ thuật, da
vẫn còn đỏ và rỉ dịch, điều này làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn và tái hoạt
herpes. Tình trạng đỏ da thậm chí có thể kéo dài 3-6 tháng sau điều trị. Có
hơn 40% bệnh nhân châu Á bị tăng sắc tố sau viêm PIH sau điều trị [46].
Ngoài ra nếu điều trị quá tay có thể làm sẹo xấu hơn và gây mất sắc tố da.
Laser xâm lấn phổ biến nhất được sử dụng cho mục đích này là laser CO2
(10600 nm) và Er: YAG (2940 nm). Đốt bốc hơi toàn bộ lớp thượng bì và
lớp bì nhú trên có thể dẫn đến quá trình tái tạo làn da khỏe hơn với cấu
trúc da được cải thiện. Thường chỉ cần một lần điều trị là đủ. Nếu bệnh
nhân mong muốn có sự cải thiện nhiều hơn có thể lặp lại điều trị sau 12
tháng hoặc hơn.

Các biến chứng của thủ thuật này gồm đỏ da kéo dài (có thể lên đến
12 tháng), chậm lành, rối loạn sắc tố (PIH và mất sắc tố muộn), mụn thịt,
phát ban dạng mụn trứng cá, nhiễm trùng, giãn mạch và sẹo. Những người
có tiền sử nhiễm HSV trên mặt nên được điều trị dự phòng bằng thuốc
kháng virus.
Laser không xâm lấn

Để làm giảm tối đa thời gian lành vết thương và biến chứng của la­
ser tái tạo bề mặt xâm lấn, đã có rất nhiều loại laser không xâm lấn ra đời.
Những loại laser này gồm laser diode, laser neodymium-doped: YAG và
các loại laser không gây tổn thương thượng bì khác. Nhiệt độ được truyền
vào lớp bì thông qua chomophore là nước để gây tổn thương lớp bì. Quá

Chương 14: Sẹo trứng cá ở bệnh nhân Châu Á
189
trình này sẽ kích thích sản xuất các sợi collagen mới và giúp cải thiện sẹo
trứng cá. Trong thủ thuật này, lớp thượng bì được bảo vệ khỏi tổn thương
nhiệt nhờ hệ thống làm lạnh bề mặt. Một ví dụ của loại laser này đó là
Smoothbeam (1450 nm) và Cooltouch (1320 nm). Tuy nhiên, hiệu quả
điều trị rất kém [47] đến nỗi các laser này hiếm khi được sử dụng. Các
biến chứng như đỏ da và PIH hiếm khi xảy ra.
Laser ly giải quang nhiệt vi điểm

Ly giải quang nhiệt vi điểm ngày nay đang được ưa chuộng và là
tiêu chuẩn vàng trong điều trị sẹo trứng cá. Thiết bị này đem lại hiệu quả
trung hòa giữa laser tái tạo bề mặt xâm lấn và không xâm lấn trong điều trị
sẹo trứng cá. Ly giải quang nhiệt chọn lọc cho phép gây tổn thương lên da
một cách có kiểm soát và hiệu quả với thời gian hồi phục ngắn hơn so với
laser xâm lấn, nhưng lại có hiệu quả điều trị cao hơn so với laser không
xâm lấn. Tuy nhiên, cũng có thể dự đoán được rằng mức độ cải thiện khi
dùng thiết bị ly giải quang nhiệt chọn lọc không tốt bằng laser tái tạo bề
mặc xâm lấn.

Laser vi điểm tạo ra các cột tổn thương gọi là vùng điều trị nhiệt vi
điểm (microthermal treatment zones) mà không làm tổn thương mô xung
quanh và được gọi là ly giải quang nhiệt vi điểm. Kết quả là vết thương
lành nhanh hơn, thời gian phục hồi ngắn hơn và ít nguy cơ xảy ra biến
chứng hơn, đặc biệt là biến chứng PIH. Mô da (thượng bì và lớp bì) được
đốt xuống sâu hơn (đến lớp bì sâu) bên trong hàng trăm cột nhỏ có đường
kính tính bằng micro mét, trong khi các lớp thượng bì và lớp bì giữa các cột
nhỏ không hề bị tổn thương và đóng vai trò như nguồn mô bình thường để
thúc đẩy quá trình lành vết thương diễn ra nhanh hơn. Thủ thuật này sẽ
kích thích tái tổ chức và sản xuất collagen mới ở lớp thượng bì.

Thiết bị ly giải quang nhiệt chọn lọc có thể ở chế độ xâm lấn hoặc
không xâm lấn. Chế độ không xâm lấn gây tác dụng ly giải quan nhiệt lên
da mà không gây tổn thương nhiệt hoàn toàn tới lớp thượng bì và lớp bì.
Có thể quan sát thấy hiện tượng hoại tử đông ở cả 2 lớp của da nhưng một
phần lớp thượng bì vẫn còn nguyên vẹn. Những chấn thương này đủ để
gây tổn thương collagen lớp bì để kích thích quá trình tân tạo collagen với
thời gian hồi phục tương đối ngắn và ít biến chứng. Sau thủ thuật có thể
xuất hiện mài và đỏ da tối thiểu. Thời gian hồi phục ngắn cho phép bệnh
nhân có thể quay trở lại làm việc sau 3-4 ngày điều trị [48]. Laser erbi­
um-doped fiber (1550 nm) và thulium-doped fiber (1927 nm) là hai trong

Chương 14: Sẹo trứng cá ở bệnh nhân Châu Á
190
các thiết bị laser tái tạo bề mặt vi điểm, không xâm lấn. Thông thường,
bệnh nhân cần khoảng 3 đến 4 lần điều trị với khoảng cách điều trị 1
tháng để đạt được hiệu quả tối ưu.

Thiết bị tái tạo bề mặt vi điểm xâm lấn (ví dụ: laser CO2 vi điểm
10600 nm) được ra đời không lâu ngay sau khi xuất hiện thiết bị tái tạo bề
mặt vi điểm không xâm lấn đầu tiên. Người ta tin rằng tổn thương nhiệt
đến lớp bì càng lớn thì sẽ kích thích quá trình tân tạo collagen càng mạnh
và hiệu quả điều trị sẹo sẹo trứng cá càng cao. Trong laser tái tạo bề mặt
xâm lấn, nhiệt lượng tạo ra sẽ phá hủy lớp thượng bì và lớp bì ở mức độ
nặng hơn, biểu hiện bằng hiện tượng hoại tử mô và tổn thương dạng cột
nhỏ ở cả hai lớp da trên lâm sàng. Do đó, thời gian hồi phục vết thương
cũng sẽ dài hơn và nguy cơ biến chứng cao hơn. Mài có thể xuất hiện 1-2
ngày sau điều trị laser và đỏ da có thể kéo dài hơn. Bệnh nhân chỉ có thể
quay trở lại làm việc sau 5-7 ngày.

Hiệu quả điều trị giữa laser tái tạo bề mặt vi điểm xâm lấn và không
xâm lấn rất khác nhau. Một vài báo cáo cho thấy rằng cả 2 loại laser đều
mang lại hiệu quả điều trị như nhau trong khi các báo cáo khác lại cho
rằng loại laser xâm lấn có hiệu quả điều trị tốt hơn [49]. Các báo cáo cho
thấy hiệu quả sau 3 lần điều trị với laser tái tạo bề mặt vi điểm là từ 20 đến
30%.

Tái tạo bề mặt bằng laser vi điểm ít gây biến chứng PIH hơn so với
laser tái tạo bề mặt xâm lấn, thậm chí đối với da của người châu Á. Nếu có
thì PIH xất hiện nhẹ hơn và nhanh biến mất hơn. Do đó, laser vi điểm được
xem là phương pháp điều trị an toàn đối với người có kiểu da tối màu. Tỉ
lệ PIH sau điều trị laser vi điểm được báo cáo là từ 5-90% ở người châu Á.
Thiết bị RF vi điểm

RF là các sóng điện từ cao tần từ 3 kHz đến 300 GHz. Thiết bị RF
lưỡng cực vi điểm phát ra năng lượng để bóc tách nhiệt vi điểm lớp bì, tạo
thành các vùng vi điều trị và vùng không được điều trị thông qua các điện
cực rất nhỏ khi tiếp xúc với bề mặt da. Sóng RF tạo nhiệt bên dưới thượng
bì tại lớp bì trên để làm nóng các sợi collagen ở vùng này. Quá trình này sẽ
kích thích sản sinh và tái tổ chức collgen lớp bì trong khi hạn chế tối thiểu
tổn thương lên lớp thượng bì. Các ví dụ của thiết bị tái tạo bề mặt RF vi
điểm đó là thiết bị eMatrix và eTwo. Để tăng cường hiệu quả và khả năng
dẫn truyền năng lượng RF vào lớp bì, người ta có thể gắn các vi kim vào
tay cầm của thiết bị để năng lượng RF có thể được dẫn truyền trực tiếp vào

Chương 14: Sẹo trứng cá ở bệnh nhân Châu Á
191
lớp bì. Có 2 thiết bị như vậy trên thị trường đó là ePrime và Infiny (Hình
14.10 và 14.11).
HÌNH 14.10 Trước khi điều trị với thiết bị RF vi điểm lưỡng cực (thiết bị
eTwo) 80 mJpin, 64 kim, 3 lần điều trị cách nhau mỗi tháng (da type 5)
HÌNH 14.11 Sau khi điều trị với thiết bị RF vi điểm lưỡng cực

Chương 14: Sẹo trứng cá ở bệnh nhân Châu Á
192

So với điều trị bằng laser ly giải quang nhiệt vi điểm thì hiệu quả
điều trị của thiết bị RF vi điểm là giúp cải thiện khoảng 20%-30% sau 3
lần điều trị [50]. Ưu điểm của phương pháp này đó là thời gian lành vết
thương ngắn và hạn chế tối thiểu biến chứng. Do lớp thượng bì không bị
tổn thương, do đó đỏ da sau thủ thuật ít khi xảy ra. Thông thường bệnh
nhân có thể quay trở lại làm việc vào ngày tiếp theo. Nguy cơ bị tăng sắc
tố sau viêm (PIH) rất thấp. Phương pháp này đặc biệt phù hợp với những
người có típ da tối như người châu Á [50]. Tuy nhiên không nên sử dụng
thiết bị này ở những người đang mang máy tạo nhịp vì sóng RF có thể ảnh
hưởng đến máy tạo nhịp.
Lời khuyên
Có thể kết thúc chương này với những lời khuyên mà chúng tôi đã học
được để tồn tại trong quá trình hành nghề bác sĩ da liễu ở châu Á.
• Phòng bệnh hơn chữa bệnh

o Để dự phòng sẹo trứng cá cần phải điều trị mạnh tay mụn trứng
cá.
• Mỗi bệnh nhân là một trường hợp riêng biệt dù với bất kì chủng tộc nào.

o Khi bệnh nhân mụn trứng cá đến khám phải đánh giá ngay từ lấy
lịch sử bệnh lí cho đến khám qua trên lâm sàng.

o Phải tiến hành điều trị mụn dù nhẹ hay nặng.

o Để điều trị thành công, cần phải cân nhắc đến nguyện vọng của
bệnh nhân để đưa ra quyết định điều trị cuối cùng tốt nhất cho từng bệnh
nhân.
• Luôn nói sự thật

o Cần phải đưa ra kì vọng điều trị đúng thực tế ngay từ đầu.

o Không được phóng đại những kết quả không thể đạt được.

o Những kết quả điều trị có thể đạt được phải giải thích cho bệnh
nhân và lên kế hoạch thời gian điều trị để đạt được kết quả mong đợi.

o Không được bao giờ quên đi những tác dụng phụ có thể xuất hiện.

o Cần phải đảm bệnh nhân tuân thủ điều trị.
• Điều trị dựa trên khoa học

o Luôn có những kiến thức mới mẻ cần phải cập nhật.

o Áp dụng những điều mà bạn nghĩ là tốt nhất cho bệnh nhân dựa
trên kinh nghiệm cá nhân và các bằng chứng y khoa.

Chương 15: Điều trị sẹo trứng cá ở bệnh nhân châu Phi
193
15
Điều trị sẹo trứng cá ở bệnh nhân
châu Phi
GHI NHỚ

• Mụn trứng cá là vấn đề phổ biến ở tất cả các chủng tộc và
dân tộc trên thế giới. Những người có da tối màu hơn thường có
nguy cơ bị tăng sắc tố sau viêm và sẹo phì đại, sẹo lồi hơn khi bị mụn
trứng cá.

• Để làm giảm những nguy cơ này ở người châu Phi, thì điều
quan trọng là phải tiến hành dự phòng và điều trị kịp thời mụn trứng
cá viêm mà không gây thêm tổn thương cho da.

• Để điều trị tăng sắc tố sau viêm, có thể sử dụng retinoids,
chất làm trắng và peel hóa chất.

• Phân loại sẹo: sẹo lõm (ice pick, rolling, và boxcar) và sẹo
tăng thể tích (sẹo lồi và sẹo phì đại).

• Để điều trị sẹo tăng thể tích ở những bệnh nhân châu Phi,
có thể sử dụng phương pháp tiêm steroid và các chất gây độc tế
bào, băng dán silicone, và liệu pháp laser với laser xung nhuộm màu
(PDL).

• Lựa chọn điều trị sẹo ice pick khá hạn chế với phương pháp
cắt sẹo bằng dụng cụ bấm hoặc kỹ thuật tái cấu trúc sẹo bằng hóa
chất (CROSS).

• Điều trị sẹo rolling và sẹo boxcar có nhiều lựa chọn hơn như:
peel hóa chất, lăn kim, cắt đáy sẹo (chỉ sử dụng đối với sẹo rolling),
filler da, và liệu pháp laser với laser vi điểm xâm lấn và không xâm
lấn.
Giới thiệu

Mụn trứng cá là bệnh lí da phổ biến ảnh hưởng đến 45 triệu người
ở Mỹ [1] với tỉ lệ đến 80% ở những người có độ tuổi từ 11 đến 30 tuổi và
xuất hiện khoảng 5% đối với những người lớn tuổi hơn [2,3]. Đây cũng là

Chương 15: Điều trị sẹo trứng cá ở bệnh nhân châu Phi
194
bệnh lí được điều trị nhiều nhất bởi các bác sĩ da liễu [3] và xuất hiện ở
mọi chủng tộc, mọi dân tộc trên thế giới. Cho đến thời điểm hiện tại, chúng
ta đã thừa nhận rằng sinh lí bệnh, biểu hiện lâm sàng và phương pháp
điều trị mụn trứng cá là giống nhau ở tất cả phân loại da. Tuy nhiên, điểm
khác biệt ở những người có phân loại da tối màu khi bị mụn trứng cá đó là
họ có nguy cơ bị tăng sắc tố sau viêm (PIH) và sẹo cao hơn. Chương này sẽ
tập trung mô tả hai biến chứng chính này của mụn trứng cá ở người châu
Phi.

Sẹo trứng cá và tăng sắc tố sau viêm là những tình trạng ảnh hưởng
nặng nề lên tâm lí của bệnh nhân. Sẹo có thể khiến bệnh nhân yếu đuối,
ngại ngùng, mất tự tin, tách biệt với xã hội, trầm cảm cũng như nhiều ảnh
hưởng khác [4]. Mặc dù những ảnh hưởng này khó có thể đo lường trên
phương diện cá nhân bệnh nhân, hiệu quả chăm sóc sức khỏe và chi tiêu
xã hội, nhưng sẹo trứng cá là một vấn đến quan trọng cần được lưu tâm
đặc biệt đối với những người da đen vì tỉ lệ sẹo phì đại ở những đối tượng
này cao hơn [5,6] (hình 15.1).
HÌNH 15.1 Các tổn thương mụn viêm (sẩn và nốt) và PIH. Cả hai loại tổn
thương này là động lực đưa bệnh nhân đến khám.

Chương 15: Điều trị sẹo trứng cá ở bệnh nhân châu Phi
195
Dịch tễ học

Trong bối cảnh dân số thế giới đang ngày càng đa dạng, thì việc nắm
bắt được sự khác nhau trong mô hình bệnh da giữa các chủng tộc và dân
tộc đang dần trở nên quan trọng. Gen, môi trường, yếu tố kinh tế- xã hội và
các yếu tố văn hóa là những nhân tố góp phần tạo nên những sự khác nhau
đó [7]. Hiện nay, vẫn đang thiếu hụt các nghiên cứu tin cậy về sự khác
nhau giữa các chủng tộc trong dịch tễ học các bệnh lý ngoài da [6]. Hầu hết
các dữ liệu mà chúng tôi có được là dựa trên các khảo sát và những kinh
nghiệm lâm sàng cá nhân [7,8]. Hầu hết những khảo sát đều cho thấy rằng
thứ hạng những bệnh lí về da hàng đầu đều có sự giống nhau trong tất cả
các phân loại da [6-8] và những khảo sát này cũng cho rằng sự khác nhau
về chủng tộc có thể ảnh hưởng đến sự biểu hiện của bệnh lí da [9].

Theo dữ liệu khảo sát được của National Ambulatory Medical Care
từ 1993 đến 2009 [1], trong số những bệnh nhân người Mỹ gốc Phi đến
khám da liễu thì có đến 22.1% các trường hợp khám có liên quan đến
mụn trứng cá. Dựa trên một biểu đồ tổng quan hồi cứu được thực hiện
giữa tháng Tám năm 2004 và tháng Bảy năm 2005, thì 6 bệnh lí được chẩn
đoán nhiều nhất ở người da đen là mụn trứng cá, rối loạn sắc tố, viêm da
tiếp xúc và các bệnh viêm da khác, rụng tóc, viêm da tiết bã, và các tổn
thương do hành vi không cụ thể gây ra. Nghiên cứu này cũng đã chỉ ra rằng
mụn trứng cá là bệnh lí phổ biến nhất ở cả người da đen (28.4%) và người
da trắng (21.0%) [7].

Nguồn gốc dân tộc có thể ảnh hưởng đến tỉ lệ sẹo trứng cá và các
đặc điểm của nó. Một khảo sát được công bố bởi Perkins và các cộng sự
năm 2011 đã được thực hiện ở 4 thành phố (ở Mỹ, Anh, Nhật và Italia) với
số lượng mẫu nghiên cứu là 2895 phụ nữ độ tuổi từ 10 đến 70 tuổi, điểm
thú vị là trong đó có 385 (13.3%) là người da đen. Những người còn lại
thuộc các chủng tộc người da trắng, người Hispanic (Tây Ban Nha và Bồ
Đào Nha), người châu Á, và người Ấn Độ đại lục. Nghiên cứu này ước tính
được trong quần thể người Mỹ gốc Phi có 37% bị mụn trứng cá, tỉ lệ cao
nhất so với các chủng tộc khác trong nhóm đối tượng nghiên cứu. Ngoài
ra, tăng sắc tố, sẹo lồi và sẹo lõm cũng thấy nhiều hơn ở những người Mỹ
gốc Phi so với các nhóm người khác [9].

Chất lượng sống và kỳ vọng điều trị ở người da trắng và người da
màu (bao gồm người Mỹ gốc Phi và các nhóm người khác) cũng đã được
nghiên cứu bởi Callender và các cộng sự trong một nghiên cứu được công
bố vào năm 2014. . Ông đã không thấy có sự khác biệt có ý nghĩa

Chương 15: Điều trị sẹo trứng cá ở bệnh nhân châu Phi
196
thống kê về chất lượng sống giữa những nhóm người này. Tuy nhiên, họ
thấy rằng những bệnh nhân da màu lo lắng nhiều hơn đối với tình trạng
PIH và 2 trong 3 bệnh nhân thuộc nhóm này mong muốn có liệu trình điều
trị mụn trứng cá được thiết kế riêng cho làn da của mình [10] (hình 15.2).
Như đã nói qua trước đó, PIH là một trong những biến chứng chính ở bệnh
nhân da màu. Trong một khảo sát được tiến hành ở 2000 bệnh nhân da
đen đến khám bác sĩ da liễu, thì PIH là bệnh lí phổ biến xếp hàng thứ 3, với
tỉ lệ 9% (sau mụn trứng cá 28% và viêm da 20%) so với 2% ở bệnh nhân
da trắng [8,11]. Tỉ lệ PIH cao cũng đã được ghi nhận trong một nghiên
cứu được tiến hành năm 2002 ở các bệnh nhân người Mỹ gốc Phi, người
Hispanic, và người châu Á. Mụn trứng cá và dát tăng sắc tố ở những nhóm
bệnh nhân này được tìm thấy lần lượt là 65, 53 và 47% [12]. Rõ ràng rằng
mặc dù tỉ lệ mụn trứng cá là khá tương đồng giữa các phân loại da, nhưng
tỉ lệ PIH do mụn trứng cá được quan tâm nhiều hơn rất nhiều ở bệnh nhân
da màu so với bệnh nhân da trắng [6,13].

Sẹo lồi và sẹo phì đại không thường thấy nhiều như PIH và sẹo lõm;
tuy nhiên tỉ lệ các biến chứng này cao hơn ở người da màu và thường tồn
tại vĩnh viễn và gây biến dạng da mặt [9]. Nhìn chung, sự quá phát mô sẹo
thường thấy cao gấp 5 đến 16 lần ở những bệnh nhân da màu [14]. Những
sang thương sẹo này thường tồn tại kéo dài và có tỉ lệ bằng nhau giữa nam
và nữ. Tuy nhiên lại ít thấy hơn ở những bệnh nhân quá nhỏ hoặc quá lớn
tuổi. Yếu tố gia đình và ảnh hưởng của gen lên cả NST tính trội và lặn là các
yếu tố liên quan đến sự quá phát mô sẹo [5,14].

Biểu hiện bệnh của mụn trứng cá gây ra chủ yếu bởi các tổn thương
mụn, bệnh nhân thường cảm thấy sưng, đau, cũng như có sự xuất hiện của
sẹo và PIH sau khi các tổn thương nang và nốt biến mất. Trạng thái bệnh
của mụn trứng cá cũng có thể gây ra bởi tác dụng phụ của điều trị. Mụn
trứng cá có thể gây ảnh hưởng nặng nền đến chất lượng sống, đặc biệt là
tâm lí của bệnh nhân. Ước tính người tiêu dùng đã chi khoảng 100 triệu
đô la mỗi năm để mua các sản phẩm điều trị mụn không kê đơn trên thị
trường. Nếu cộng thêm chi phí mất đi do giảm năng xuất lao động và thất
nghiệp bên cạnh chi phí điều trị trực tiếp thì tổng chi phí có thể vượt quá
1 tỉ đô la mỗi năm ở Mỹ [1].

Do đó, đều quan trọng cần nhớ là không những chính những tổn
thương mụn (viêm và không viêm) mà còn những biến chứng của mụn
(PIH và sẹo) cũng ảnh hưởng đến chất lượng sống của bệnh nhân. Nếu
chúng ta hiểu biết về mụn trứng cá ở người da màu tốt hơn, thì chúng ta

Chương 15: Điều trị sẹo trứng cá ở bệnh nhân châu Phi
197
có thể thiết kế phương án điều trị thích hợp hơn và kết quả đạt được sẽ
cao hơn [15].
HÌNH 15.2 Một bệnh nhân đến khám tư vấn PIH và sẹo trứng cá. Mặc dù
khám lâm sàng cho thấy tình trạng bệnh nhân ở mức độ nhẹ, nhưng cũng
đủ để gây căng thẳng và làm giảm chất lượng sống của họ.
Lịch sử

PIH và sẹo trứng cá là hai biến chứng làm xấu da mặt nhiều nhất
của mụn trứng cá viêm [6]. Việc sử dụng các chất để điều trị rối loạn sắc
tố đã tồn tại trong nhiều thế kỉ. Người ai cập cổ đại đã sử dụng dầu động
vật, muối, thạch cao tuyết hoa, và sữa chua cho mục đích làm đẹp [16]. Các
bác sĩ da liễu sau đó đã tiếp tục sử dụng và cải tiến các phương pháp đó.
Họ chính là những bác sĩ da liễu tiên phong trong việc ứng dụng peel da
để làm đẹp. Đầu năm 1871, Fox (một bác sĩ da liễu) đã điều trị các thay đổi
sắc tố bằng cách sử dụng phenol để loại bỏ các đốm tàn nhang [17].
Trải qua thời gian, cũng đã có nhiều sự cố gắng cải tiến trong điều trị sẹo
trứng cá. Các kĩ thuật xâm lấn như peel sâu hóa chất, mài da, và gần đây là
phương pháp tái tạo bề mặt với laser CO2 và/hoặc Er: YAG cũng như laser
vi điểm đã được sử dụng để điều trị sẹo trứng cá [18]. Các thủ thuật xâm
lấn như điều trị laser đã được sử dụng trong chỉnh sửa sẹo từ thập niên
1990s [19,20].

Chương 15: Điều trị sẹo trứng cá ở bệnh nhân châu Phi
198
Tăng sắc tố sau viêm

Tăng sắc tố sau viêm (PIH) là phản ứng của da với bất kì chấn
thương mô da nào và thường là biến chứng chính của mụn trứng cá. Biến
chứng này đặc biệt có tỉ lệ cao ở những người có kiểu da tối màu. PIH có
thể là tăng sắc tố lớp thượng bì hoặc ở lớp bì. Mụn trứng cá thường gây
tăng sắc tố thượng bì với cơ chế tăng sản xuất melanin và/hoặc tăng vận
chuyển melamin từ các tế bào sắc tố vào tế bào sừng. Rất nhiều chất trung
gian viêm khác nhau như prostaglandins E2 và D2 đã tham gia vào quá
trình thúc đẩy sản xuất melanin trong các thí nghiệm trên động vật và có
thể có một cơ chế tương tự ở người [21].

Sự xuất hiện của PIH trong mụn trứng cá có thể do nhiều yếu tố
khác nhau. Bản thân các tổn thương mụn khác nhau như comedone, sẩn
viêm, mụn mủ, và nốt mụn đều có thể gây tăng sắc tố, tuy nhiên các tác
động vật lí của bệnh nhân vào các tổn thương hoặc sự kích ứng bởi các sản
phẩm điều trị mụn có thể khởi phát phản ứng không mong muốn đó.

Nhìn chung, nhân mụn ở người da trắng được xem là tổn thương
không viêm. Tuy nhiên trong các mẫu sinh thiết nhân mụn ở người da đen
thì người ta thấy tồn tại quá trình viêm với bằng chứng là có sự xâm nhập
của các tế bào bạch cầu đa nhân [22]. Sự khác nhau về viêm ở mức độ mô
học giữa người da đen và da trắng giúp giải thích xu hướng hình thành PIH
cao hơn ở những người có kiểu da tối màu (hình 15.3).
HÌNH 15.3 Bệnh
nhân bị PIH thứ
phát sau mụn trứng
cá, mụn trứng cá đã
biến mất tại thời
điểm thăm khám.

hacklink satın al mumu模拟器 雷电模拟器 向日葵 giftcardmall/mygift giftcardmall balance mygift giftcardmall matbet matbet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Betgaranti Betgaranti Güncel Adres Betgaranti Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Fim İzle Fim İzle Giriş Fim İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Fim İzle Fim İzle Güncel Adres Fim İzle jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Giriş Casibom Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Jojobet Jojobet Giriş Jojobet Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Deneme Bonusu Film İzle Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Türkçe Dublaj Film İzle Film İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi perabet perabet giriş holiganbet holiganbet giriş Casibom Lesfillmercom Casibom Lesfillmercom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Gerbergirlcom Casibom Gerbergirlcom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Spcelectriccontrolcom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş marsbahis marsbahis giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş matbet matbet giriş matbet güncel giriş vaycasino vaycasino güncel giriş vaycasino giriş matbet matbet giriş pusulabet pusulabet giriş pusulabet pusulabet güncel giriş pusulabet giriş matbet matbet güncel giriş matbet giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Resmi Adres pusulabet pusulabet giriş pusulabet güncel giriş Fixbet Fixbet Güncel Giriş Salvobet Salvobet Giriş Salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Turk Porno Turk Porno Giriş Turk Porno casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi casibom casibom jojobet izmir escort izmir buca escort buca escort jojobet casibom holiganbet holiganbet giriş jojobet holiganbet holiganbet giriş jojobet jojobet jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş izmir escort izmir buca escort buca escort izmir escort bayan salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Giriş Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Deneme Bonusu Veren Giriş Deneme Bonusu Veren salvobet salvobet salvobet salvobet Casibom betgaranti betgaranti betgaranti matbet matbet giriş matbet matbet giriş Casibom Casibom Salvobet jojobet Salvobet Salvobet Salvobet Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Güncel Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis bahsegel Fixbet Fixbet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş 1xbet 1xbet Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Listesi Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler grandpashabet grandpashabet grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler vaycasino vaycasino giriş jojobet grandpashabet casibom Casibom Casibom Giriş casibom www.giftcards.com Marsbahis grandpashabet jojobet jojobet jojobet grandpashabet casibom jojobet Casibom Casibom Casibom Casibom Casibom Grandpashabet Grandpashabet Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Marsbahis Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres grandpashabet grandpashabet giriş Casibom Fixbet Fixbet Giriş Casibom İzmir Escort İzmir eskort İzmir Escort Bayan Vip escort Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Holiganbet Holiganbet Güncel Adres Nevşehir escort Kapadokya escort Nevşehir escort bayan nevşehir eskort escort nevşehir Casibom Casibom Giriş Adresi Kapadokya esc Casibom Casibom Resmi Adres