Chương 8: Lăn Kim điều trị sẹo trứng cá
99
8
Lăn Kim điều trị sẹo trứng cá
Gabriella Fabbrocini, Marianna Donnarumma, và Maria Vastarella
GHI NHỚ
• Lăn kim là phương pháp điều trị da được thực hiện nhằm
kích thích sự sản xuất collagen, phương pháp này có hiệu quả trong
cải thiện tình trạng sẹo lõm do mụn trứng cá.
• Tổn thương lớp bì do lăn kim gây ra sự giải phóng các yếu tố
tăng trưởng, những chất này sẽ kích thích sản xuất sợi collagen và
elastin mới trong lớp bì nông.
Số liệu trình lăn kim rất khác nhau tùy thuộc vào đáp ứng sản xuất
collagen trong mô và kết quả mong muốn của mỗi bệnh nhân. Số
liệu trình sẽ được quyết định bởi bác sĩ da liễu, thông thường cần
làm từ 2-6 liệu trình điều trị.
Lăn kim là phương pháp điều trị da được thực hiện nhằm kích thích
sự sản xuất collagen (PCI), phương pháp này có hiệu quả trong cải thiện
tình trạng sẹo lõm do mụn trứng cá, nếp nhăn cũng như trong điều trị vết
rạn da. Phương pháp này được tiến hành bằng cách sử dụng một cây lăn
kim để gây ra nhiều tổn thương nhỏ khi đầu kim đâm xuyên qua đến lớp
bì. Tổn thương này ở lớp bì sẽ gây ra sự giải phóng các yếu tố tăng trưởng,
những chất này sẽ kích thích sản xuất sợi collagen và elastin mới trong
lớp bì nông. Không giống như những kĩ thuật tái tạo bề mặt khác, lăn kim
gây tổn thương đến lớp bì mà không loại bỏ hoàn toàn lớp thượng bì khỏe
mạnh phía trên.
Lịch sử
Simonin đã công bố kết quả của ông trên tạp chí Baran’s Cosmetic
Dermatology vào năm 1994, tuy nhiên kĩ thuật đột phá của ông (được ông
đặt tên là electroridopuncture) vẫn còn chưa được biết đến nhiều trong
Chương 8: Lăn Kim điều trị sẹo trứng cá
100
phần lớn cộng đồng y khoa [1]. Vào năm 1995, Orentreich và Orentreich
đã mô tả phương pháp này như là cách để lắp đầy mô liên kết bên dưới sẹo
co rút và nếp nhăn [2]. Fernandes đã điều trị nếp nhăn môi trên bằng cách
dùng kim 15 G đâm xuyên qua da và tạo đường hầm bên dưới nếp nhăn
ở nhiều hướng khác nhau, nằm song song với bề mặt da [4-6]. Vào năm
1997, Camirand và Doucet đã mô tả kinh nghiệm của họ trong điều trị
bệnh nhân sẹo mất sắc tố ở mặt bằng cách tattoo màu da lên sẹo [7]. Sau
1-2 năm, người ta thấy rằng mặc dù mực xăm đã biến mất nhưng chúng
đã thực sự được thay thế bằng melanin thực thụ, trong khi đó, sẹo cũng đã
được cải thiện về cấu trúc, hình dáng và màu sắc. Từ đó ông cho rằng việc
khoan vào sẹo bằng súng tattoo giúp cải thiện và tái tạo sắc tố cho vết sẹo.
PCI (tái tạo collagen da) là kết quả từ hiện tượng đáp ứng tự nhiên của da
khi bị tổn thương dù là vết thương rất nhỏ và quá trình này diễn ra chủ
yếu dưới da. Họ đã nhận ra rằng việc chích vào vết sẹo với súng tattoo đơn
thuần mà không có mực xăm cũng sẽ làm vỡ collagen sẹo từ đó gây tái tổ
chức và kích thích hình thành melanin.
Fernandes và các cộng sự nghĩ rằng kim lăn phải xâm nhập tương đối
sâu
để kích thích sự sản xuất sợi elastin từ các lớp sâu phía dưới của
lớp bì lên đến bề mặt, và ông đã làm thí nghiệm với một công cụ đặt biệt
để kích thích tái tạo collagen da (PCI), dụng cụ này gồm một cây lăn gắn
nhiều vi kim nhỏ cách đều nhau [4-6].
Sinh lý học
PCI khởi phát đáp ứng tự nhiên đối với vết thương trên da, thậm chí
đối với vết thương nhỏ và chủ yếu diễn ra ở dưới da. Sự xâm nhập của kim
vào da kích thích quá trình lành vết thương diễn ra theo 3 giai đoạn [8,9]:
1. Quá trình viêm bắt đầu rất sớm ngay sau khi da bị tổn thương:
các tế bào tiểu cầu được hoạt hóa để giải phóng các chất hóa ứng động,
những chất này sẽ đưa đến sự xâm nhập của các tế bào bạch cầu, nguyên
bào sợi và các tế bào tiểu cầu khác. Sau khi các tế bào tiểu cầu được hoạt
hóa bằng cách gắn với thrombin và collagen, chúng tiết hàng loạt các cyto
kins khác nhau. Quá trình này liên quan đến sự liên hệ phức tạp của nhiều
yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút nguyên bào sợi đến vùng
tổn thương: yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi (FGF), yếu tố tăng trưởng
tiểu cầu (PDGF), yếu tố tăng trưởng biệt hóa TGF-α, TGF-β, peptide III
hoạt hóa mô liên kết và peptide hoạt hóa bạch cầu trung tính.
2.
Khoảng 5 ngày sau khi lăn kim, bạch cầu đa nhân trung tính
Chương 8: Lăn Kim điều trị sẹo trứng cá
101
được thay thế bằng bạch cầu mono. Những tế bào bạch cầu này loại bỏ
những mảnh vỡ tế bào và giải phóng một vài yếu tố tăng trưởng bao gồm,
PDGF, FGF, TGF-α và TGF-β, những chất này đến lượt nó sẽ kích thích sự di
cư và tăng sinh của các nguyên bào sợi cũng như kích thích sự sản xuất vài
tái cấu trúc chất nền ngoại bào. Các tế bào sừng đóng vai trò chính trong
trường hợp này, chúng thay đổi hình dạng và trở nên di dộng để che phủ
vùng khuyết của màng đáy và bắt đầu tạo ra tất cả các thành phần để tái
thiết lập màng đáy với laminin và collagen typ IV và VII. Một đến hai ngày
sau PCI, các tế bào sừng bắt đầu tăng sinh và tăng cường hoạt động để làm
dày lớp thượng bì hơn là để làm đóng vết thương. Ngay sau PCI, sự gãy vỡ
của các mạch máu đưa đến thiếu oxy ở mức độ trung bình. Nồng độ oxy
thấp kích thích nguyên bào sợi tạo ra nhiều TGF-β, PDGF, và yếu tố tăng
trưởng nội mạc. rARN của procollagen cũng được tăng cường điều chỉnh,
nhưng không thể đưa đến sự hình thành collagen vì cần phải có oxy, quá
trình này chỉ diễn ra sau quá trình tái tạo mạch máu. Quá trình tiền tái tạo
mạch máu diễn ra khá sớm sau khi lăn kim. TGF-β là một chất hóa ứng
động mạnh đối với nguyên bào sợi để thu hút chúng di cư đến vết thương
trong 48h sau tổn thương và bắt đầu sản xuất collagen type I và III, sợi
elastin, glycosaminoglycans, và proteoglycans. Collagen type III là dạng
chủ yếu của collagen trong pha sớm của quá trình lành vết thương và đạt
mức tối đa khoảng 5-7 ngày sau chấn thương da. Collagen được tích lũy ở
lớp bì trên ngay dưới lớp tế bào đáy của thượng bì. Mặc dù chấn thương
da do lăn kim xuyên sâu quá những cấu trúc phụ. Bởi vì vết thương biểu
mô đơn giản chỉ là các khe hở, nên quá trình co rút vết thương nhờ các
nguyên bào sợi cơ có thể không đóng vai trò quan trọng trong quá trình
lành vết thương. Có rất nhiều các protein và enzymes dóng vai trò quan
trọng trong quá trình tạo mô xơ và tạo mạch máu diễn ra trong cùng một
thời điểm. Anoxia, TGF-β, FGF và những yếu tố tăng trưởng khác đóng
vai trò rất quan trọng trong quá trình tạo mạch máu. Nguyên bào sợi giải
phóng yếu tố tăng trưởng giống insulin, chất này là một chất kích thích
quan trọng đối với sự tăng sinh của chính các nguyên bào sợi, với các tế
bào nội mô, quá trình tân tạo mạch máu và nó còn là một trong những chất
có hiệu lực chính đối với hormone tăng trưởng. Intergrin giúp hỗ trợ cho
sự tương tác giữa các nguyên bào sợi, tế bào nội mô và các tế bào sừng.
3. Tái cấu trúc mô chủ yếu được điều hòa nhờ hoạt động liên tục của
nguyên bào sợi trong nhiều tháng sau khi chấn thương. Giai đoạn tái cấu
trúc bắt đầu và kéo dài trong một vài tháng: collagen type III được
Chương 8: Lăn Kim điều trị sẹo trứng cá
102
lắng đọng ở lớp bì trên, ngay dưới lớp tế bào đáy của thượng bì và dần
dần dần sẽ được thay thế bằng collagen type I. Chất nền matrix metallo
proteinases (MMPs 1, 2, và 3) là những chất cần thiết cho quá trình này.
Kĩ thuật
Giai đoạn chuẩn bị
Bệnh nhân nên sử dụng các sản phẩm bôi có chứa α- và ώ-hydroxy
acid; ώ-hydroxy acid nên được sử dụng ít nhất 3 tuần trước khi tiến hành
liệu trình điều trị lăn kim. Nếu lớp sừng của da thô ráp, có thể tiến hành
nhiều lần thủ thuật peel nhẹ bằng trichloroacetic acid (TCA) (2.5%-5%
TCA) để tái tạo lại bề mặt da chuẩn bị cho quy trình lăn kim và giúp cải
thiện kết quả lâm sàng vì peel TCA có thể kích thích tân tạo collagen.
Ngày tiến hành điều trị
Da mặt được sát khuẩn và sau đó bôi tê và để trong 60 phút. Thủ
thuật điều trị sau đó được tiến hành bằng cách lăn dụng cụ lăn kim lên các
vùng da được điều trị 4 lần (4 pass) theo 4 hướng khác nhau: theo đường
dọc, ngang, và đường chéo phải, trái [10].
Dụng cụ lăn kim được sử dụng cho bệnh nhân là một thiết bị gắn
nhiều vi kim với độ dài 1.5-2.0 mm; sau khi lăn sẽ tạo ra nhiều điểm chảy
máu đồng nhất trên toàn bộ vùng da được điều trị. Thực tế trên thị trường
có nhiều loại dụng cụ lăn kim khác nhau từ những dụng cụ dùng cho các
chuyên da cho đến những dụng cụ sử dụng ở nhà khác nhau về độ dài,
đường kính và số lượng vi kim; do đó có thể gây khó khăn trong việc lựa
chọn dụng cụ lăn kim. Số lượng kim trên mỗi cây lăn là đặc điểm ít quan
trọng nhất, vì chúng ta có thể lăn lặp lại để tạo ra số lượng tổn thương
nhiều hơn. Đường kính vi kim rất quan trọng vì chúng ta luôn muốn làm
làm tổn thương tối đa lớp bì mà không để lại sẹo. Theo kinh nghiệm của
chúng tôi, vi kim có đường kính 0.25 mm là loại kim có đường kính tối đa
có thể được sử dụng mà không gây ra sẹo mới trên da. Vi kim với đường
kính nhỏ hơn có thể được sử dụng nhưng không thể tối đa hóa tổn thương
lớp bì do đó cho kết quả không tốt bằng. Độ dài kim cũng là một vấn đề hết
sức quan trọng. Mục tiêu khi chúng ta đâm kim vào da là một lớp của lớp
bì goi là lớp bì lưới giữa. Lớp này là nơi chứa nhiều tế bào gốc có khả năng
sản xuất collagen nhất. Thượng bì (lớp ngoài cùng của da) có độ sâu khác
nhau từ 0.05 mm ở vùng mí mắt đến 1.5 mm ở lòng bàn chân. Độ sâu lớp
thượng bì ở mặt (trừ vùng mí mắt) nằm trong khoảng từ 0.3 mm đến
Chương 8: Lăn Kim điều trị sẹo trứng cá
103
1mm, do đó sử dụng kim có độ dài từ 0.75- 2 mm là dư đủ để tiếp cận đến
lớp bì lưới giữa. Chúng ta nên sử dụng kim có độ dài 1.5 mm và đường
kính là 0.25 mm. Tùy thuộc vào áp lực lăn (lực lăn quá mạnh là không cần
thiết để có thể đạt được kết quả tốt nhất, nếu bạn lăn kim ở vùng mặt thì
không nên lăn ở vùng mí mắt hoặc môi) mà khả năng xâm nhập của vi kim
vào mô sẹo từ 0.1 đến 1.3 mm.
Quá trình lăn cần lưu ý đến chuyển động cây lăn, lăm với nhiều lực
lăn khác nhau, lăn 4 lần cho mỗi hướng: hướng dọc, ngang, chéo phải và
chéo trái. Điều này đảm bảo tạo ra được từ 250-300 lỗ kim trên mỗi cm2.
Vi kim đi xuyên qua lớp thượng bì nhưng không loại bỏ nó; do đó, lớp
thượng bì chỉ bị đâm thủng và sẽ lành lại nhanh chóng (hình 8.1).
Hình 8.1 Thủ thuật lăn kim trong điều trị sẹo trứng cá: da mặt được lăn
kim theo nhiều hướng với lức lăn cố định.
Lăn kim tự động có thể giúp tạo ra áp lực chuẩn trên toàn bộ bề mặt được
điều trị và cho hiệu quả tốt hơn lên quá trình trẻ hóa collagen và elastin. Vì
vi kim được gắn lên cây lăn nên mỗi một cây kim khi nó bắt đầu xâm nhập
vào da sẽ tạo với da một góc nhọn và sau đó kim được đưa vào sâu hơn
Chương 8: Lăn Kim điều trị sẹo trứng cá
104
khi cây lăn di chuyển. Cuối cùng, vi kim được rút ra theo một góc nhọn
ở phía đối diện; do đó, đường xuyên do kim tạo ra sẽ bị cong, đường này
thể hiện đường xuyên của kim khi đẩy kim vào và khi rút kim ra khỏi da,
đường xuyên này khoảng 1.3 mm đâm vào đến lớp bì.
Lớp thượng bì và đặc biệt là lớp sừng vẫn còn “nguyên vẹn”, ngoại
trừ ở những lỗ nhỏ với đường kính khoảng 4 tế bào. Thời gian điều trị có
thể thay đổi từ 10 đến 60 phút tùy thuộc vào kích thước của vùng được
điều trị. Rõ ràng rằng, da sẽ bị xuất huyết ngay khi lăn và sẽ sớm được cầm
trong thời gian ngắn sau đó. Khi da bị nhiều điểm bầm máu trong thượng
bì sẽ giúp khởi phát bậc thang phức tạp của các yếu tố tăng trưởng nhằm
kích thích quá trình sản xuất collagen.
Số lần điều trị cần thiết rất khác nhau tùy thuộc vào đáp ứng colla
gen của mỗi người, vào tình trạng mô và kết quả kỳ vọng của khách hàng.
Hầu hết các bệnh nhân cần khoảng 3 lần điều trị với khoảng cách giữa các
lần là khoảng 4 tuần.
Chăm sóc sau điều trị
Ngay sau khi điều trị, da thoạt nhìn sẽ giống như bị bầm máu với
nhiều điểm chảy máu nhỏ. Cách tiến hành sau đó tốt nhất là áp lạnh.
Cuối cùng, điều quan trọng là trong 24 giờ đầu sau điều trị, bệnh nhân
không được sử dụng bất kì sản phẩm chăm sóc da nào dù không chứa chất
sinh còi mụn (noncomedogenic) hoặc đặc biệt được thiết kế để sử dụng
cùng với lăn kim như các sản phẩm trang điểm, chống nắng, lotion phủ
màu, peel da mặt hoặc các sản phẩm chăm sóc da chứa các thành phần
gây kích ứng và độc cho da. Ngoài ra cũng nên tránh sử dụng các sản phẩm
chứa cồn ngay sau khi điều trị vì có thể làm cho da trở nên rất khô.
Chăm sóc da thường quy có thể được tiến hành trở lại khi vùng điều trị
hoàn toàn hồi phục. Nên tiếp tục sử dụng kem bôi vitamin A và C trong ít
nhất 6 tháng sau thủ thuật để đảm bảo quá trình tái tạo collagen và elas
tin. Bệnh nhân nên được nhắc nhở là chỉ được sử dụng nước âm ấm để
rửa vì sau thủ thuật da sẽ trở nên nhạy cảm hơn với nhiệt. Khi rửa nước
lên mặt hoặc body, bệnh nhân nên massage nhẹ vùng da được điều trị cho
đến khi huyết tương, máu hoặc dầu được loại bỏ. Tầm quan trọng của việc
rửa mặt cẩn thận nhưng nhẹ nhàng trong một vài giờ sau thủ thuật có thể
không được quan tâm đúng mức.
Bệnh nhân nên tránh tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng mặt trời trong
ít nhất 15 ngày. Da có trí nhớ và sẽ tìm cách để khôi phục về trạng thái ban
Chương 8: Lăn Kim điều trị sẹo trứng cá
105
đầu, do đó khuyến cáo nên lặp lại điều trị lăn kim trong khoảng thời gian
từ 1-2 năm.
Ngày 1 và 2: mô da căng, đỏ, và bầm kèm rỉ dịch bạch huyết nhẹ từ vùng
được điều trị, có thể kèm ngứa và vùng da được lăn kim nhìn như bị “mèo
cào”.
Ngày 3: vùng da điều trị có thể sẽ đóng mài
Ngày 4-5: đỏ da và mài giảm dần
Ngày 5-7: vùng da bị tổn thương.
Kết quả lâm sàng
Kết quả thường có thể bắt đầu thấy được sau khoảng 6 tuần nhưng
để cải thiện hoàn toàn có thể cần ít nhất là 3 tháng vì sự lắng đọng colla
gen mới diễn ra chậm; cấu trúc da sẽ tiếp tục được cải thiện trong khoảng
thời gian 12 tháng sau đó. Kết quả lâm sàng thường khác nhau giữa các
bệnh nhân với một vài người đạt được sự cải thiện 90% trong khi những
người khác có thể chỉ đạt dưới 50% (hình 8.2 và 8.3). Tuy nhiên, tất cả các
bệnh nhân đều có cải thiện. Số lần điều trị cần thiết cũng khác nhau tùy
thuộc vào mức độ đáp ứng collagen của mỗi người, tình trạng mô da, và kì
vọng của bệnh nhân; số lần điều trị được quyết định bởi bác sĩ da liễu và
thông thường cần từ 2 đến 6 lần điều trị. Hầu hết bệnh nhân cần khoảng
3 lần điều trị với khoảng cách giữa các lần là 4 tuần. Theo kinh nghiệm
thực hành của chúng tôi cho thấy rằng chỉ cần sau 2 lần điều trị thì độ
nặng của sẹo rolling ở tất cả các bệnh nhân đều được giảm đáng kể: sự
so sánh ảnh chụp kĩ thuật số của tổn thương trước và sau khi lăn kim PCI
CIT (collagen-induction therapy) cho thấy (độc lập với sự phân độ sang
thương) rằng trong mỗi nhóm bệnh nhân da trở nên dày hơn, độ sâu của
sẹo rolling giảm rõ rệt. Hơn nữa, mức độ không đồng đều về cấu trúc da
trong khi phân tích vi địa hình bề mặt da cho thấy giảm 25% (trung bình;
theo cả 2 trục) giữa trước và sau khi lăn kim PCI CIT. Bên cạnh đó, không
có bệnh nhân nào để lại dấu hiệu của thủ thuật hoặc tăng sắc tố.
Nhiều nghiên cứu khác nhau báo cáo rằng 6 tháng sau liệu pháp
tái tạo collagen (CIT), bằng chứng về mô học cho thấy có sự gia tăng đáng
kể các sợi collagen và elastin mới [11-13]. Mặc dù khó đánh giá, nhưng tỉ
lệ collagen và elastin tăng ít nhất từ 400 đến 1000% sau thủ thuật. Gân
đây, Aust và cộng sự cũng đã chứng minh sự gia tăng rất nhiều về sự tích
lũy của collagen và elastin ở thời điểm 6 tháng sau khi làm thủ thuật. Lớp
thượng bì được chứng minh là dày hơn 40% ở lớp gai thượng bì và bình
Chương 8: Lăn Kim điều trị sẹo trứng cá
106
thường ở thời điểm 1 năm sau thủ thuật [6].
Quan sát dưới kính hiển vi siêu phân giải (confocal microscopy)
cho thấy rằng trong kĩ thuật này có sự tăng số lượng các bó sợi, collagen
phân bố tốt hơn, các tế bào sắc tố phân bố và được tổ chức tốt hơn, và có
sự gia tăng mật độ và kích thước của nang lông. Tất cả các dữ liệu này gợi
ý cho chúng ta thấy rằng kĩ thuật tái tạo collagen da (PCI CIT) có thể là kĩ
thuật phù hợp để điều trị sẹo trứng cá, và kính hiển vi siêu phân giải có thể
giúp xác định được mức chỉnh độ sửa và cải thiện của tình trạng sẹo.
Chống chỉ định và tác dụng không mong muốn
Một vài bệnh lí lâm sàng có thể được cân nhắc xem như là chống chỉ định
tuyệt đối đối với thủ thuật lăn kim:
• Điều trị với isotretinoin trong 3 tháng gần đây
• Đang có vết thương hở, vết cắt hoặc vết trầy da
• Điều trị xạ trị trong vòng một năm trở lại đây
• Đang bùng phát herpes hoặc đang mắc bất kì một bệnh da nhiễm
trùng hoặc bệnh da mạn tính nào ở vùng cần điều trị
• Vùng da bị tê hoặc mất cảm giác
• Phụ nữ có thai và cho con bú
• Tiền sử sẹo lồi hoặc sẹo phì đại hoặc chậm lành vết thương
Việc lưu ý đến tất cả những biện pháp phòng ngừa trước và sau
thủ thuật và tôn trọng những chỉ định giúp làm giảm nguy cơ bị tác dụng
phụ. Tác dụng phụ đối với thủ thuật này thường nhẹ và dạng thường gặp
là bong da nhẹ hoặc khô da, hình thành vảy trong một số rất ít các trường
hợp, mụn thịt (milia), và tăng sắc tố (hiếm khi xảy ra và thường sẽ biến
mất trong vòng 1 tháng). Phù và đỏ da là di chứng thường gặp nhất. Thời
gian cần thiết để da phục hồi là từ 24h cho đến một vài ngày. Hầu hết các
bệnh nhân đều có thể quay trở lại làm việc vào ngày tiếp theo sau khi làm
thủ thuật. Thời gian phục hồi phụ thuộc vào mức độ điều trị và độ dài của
vi kim.
Tác dụng phụ, biến chứng và cách xử lí
• Ngay sau thủ thuật da thường nhạy cảm hơn với ánh sáng mặt
trời. Do đó để phòng ngừa tăng sắc tố phải tránh nắng 1 tuần sau khi điều
trị. Bệnh nhân phải bôi kem chống nắng có chỉ số chống nắng SPF 30+ khi
đi ra ngoài.
• Cảm thấy đau, căng khi chạm vào da: nên dùng bông rửa mặt cho
đến khi da hoàn toàn hồi phục.
Chương 8: Lăn Kim điều trị sẹo trứng cá
107
• Sau điều trị da sẽ trở nên khô. Do đó điều quan trọng cần phải lưu
ý là không được sử dụng toner hoặc bôi mỹ phẩm có chứa các thành phần
có tính kích ứng như glycolic/salicylic/TCA, và không sử dụng các sản
phẩm bôi có chứa các thành phần gây độc như hydroquinone.
• Da sẽ bị mất ẩm. Tránh các điều trị xâm lấn (laser/ peel hóa chất/
vi mài da-microdermabrasion) cho đến khi da được hồi phục.
• Tác dụng phụ thường đi kèm với thủ thuật. Phổ biến nhất là đỏ da
và kích ứng da, da khô, và căng tức (thường giảm dần trong vòng một vài
ngày).
• Các biến chứng của thủ thuật là tăng sắc tố sau viêm, đỏ da, làm
nặng tình trạng mụn trứng cá, và tái hoạt virus herpes hệ thống, phản ứng
u hạt dị ứng và nhiễm trùng tại chỗ do dùng dụng cụ chưa được khử trùng.
Viêm da tiếp xúc đối với các thành phần của kim lăn cũng có thể thấy.
• Việc xử lí những biến chứng này khác nhau giữa mọi người. Trong
trường hợp tăng sắc tố, nên điều trị bằng dung dịch glycolic acid (50%)
hoặc kem hydroquinone phối hợp với chống nắng hoặc liệu pháp laser.
Trong trường hợp nhiễm trùng, sử dụng liệu pháp kháng sinh: hoặc bôi
bằng dầu mupirocin 2%, 3 lần mỗi ngày trong 10 ngày, hoặc thay thế bằng
fusidic acid và trong các trường hợp nặng có thể điều trị kháng sinh đường
hệ thống với amoxicillin+clavulanic, 2 lần mỗi ngày trong 6 ngày. Nếu xảy
ra tình trạng nặng lên của mụn trứng cá, thì cân nhắc sử dụng kháng sinh
bôi tại chỗ hoặc kháng sinh đường uống, tùy thuộc vào mức độ nghiêm
trọng của vấn đề.
Chương 9: Sử dụng Hyaluronic Acid, huyết tương giàu tiểu cầu
(PRP), và chỉ tiêu Polylactic trong điều trị sẹo trứng cá
108
9
Chương 9: Sử dụng Hyaluronic Acid,
huyết tương giàu tiểu cầu (PRP), và
chỉ tiêu Polylactic trong điều trị sẹo
trứng cá
Hyaluronic acid
Giới thiệu
Acid hyaluronic (HA) là một glycosaminoglycan bao gồm D-glucu
ronic acid và N-acetyl D-glucosamine liên kết xen kẽ nhau. Chúng được
liên kết chéo để tạo thành chuỗi dài, không phân nhánh từ đó hình thành
một polymer anion sinh học. Nhờ những thành phần kết hợp này, HA nội
sinh đã góp phần tạo sức căng và độ đàn hồi cho da.
Khi được tiêm vào da mặt, HA có thể làm đầy thể tích ngay và tồn tại
trong thời gian ngắn. Ngoài ra HA còn tạo tác dụng lâu dài bằng cách kích
thích sự tổng hợp collagen từ các nguyên bào sợi [1,2]. HA được sản xuất
ở nhiều dạng khác nhau, chúng khác nhau về độ nhớt, về công thức giúp
tận dụng tối đa lợi ích của HA và phạm vi ứng dụng của nó. Đặc tính nhớt
đàn hồi của HA được tạo ra nhờ đặc tính của chuỗi phân tử polymer, liên
kết chéo, nồng độ và kích thước hạt.
HA độ nhớt trung bình là lựa chọn tối ưu cho những đường nhỏ và
nếp nhăn vừa phải, như là nếp cau mày và rãnh mũi má, HA được tiêm vào
lớp bì giữa đến bì sâu. Công thức HA mịn đã được sử dụng để cải thiện các
nếp nhăn nhỏ trên mặt, như là nếp nhăn quanh miệng và nếp nhăn quanh
mắt, trong các trường hợp này HA sẽ được tiêm vào lớp bì nông [3,4]. Các
công thức chuyên biệt đã được chế tạo để tiêm vào môi, trong khi các công
thức khác được chỉ định cho việc khôi phục lại các thể tích bị mất đi do lão
hóa tự nhiên. Từ việc đưa ra các thành phần, vị trí tiêm nông, và kĩ thuật
dẫn truyền liều thấp, thì gel HA độ nhớt thấp sẽ là sản phẩm được chỉ định
tuyệt vời trong điều trị giúp giảm sẹo lõm do mụn trứng cá.
Chương 9: Sử dụng Hyaluronic Acid, huyết tương giàu tiểu cầu
(PRP), và chỉ tiêu Polylactic trong điều trị sẹo trứng cá
109
Chức năng
Chức năng tự nhiên của HA là lấp đầy khoang kẽ, với đặc tính ưa
nước cao của nó, do đó giúp tránh sự sụp đổ của các sợi lưới, thúc đẩy
hoạt động của tế bào trung mô và tế bào miễn dịch. Liên kết chéo giúp tạo
thành dạng gel không tan trong nước có tính ổn định phân tử.
Nó cũng giúp điều hòa sự tăng sinh và thay thế của các tế bào ke
ratinocyte nhờ hai thụ thể HA chính: CD44 và RHAMM (thụ thể vận động
qua trung gian HA); hơn nữa, nó làm bất hoạt các gốc tự do và các gốc tự
do oxy hóa (ROS) được tạo thành bởi tia cực tím. [6]
Vai trò sinh lý của loại polyme này có thể được phục hồi nhân tạo
bằng cách tiêm các chuỗi acid liên kết chéo (HA) vào các lớp bì và hạ bì
khác nhau, nhờ vậy có thể mang lại một làn da mịn màng và săn chắc, với
thời gian bán hủy 4-6 tháng tương ứng với mức độ polyme hóa thông qua
sự thoái biến gan.
Chất làm đầy HA hoạt động bằng cách tăng thể tích trực tiếp ở lớp
bì hoặc lớp hạ bì, thể tích này có thể được tăng thêm nhờ khả năng hấp
dẫn nước trong mô của HA. Hơn thế nữa, acid hyaluronic tự nhiên còn
thúc đẩy sự tăng sinh tế bào và tổng hợp chất nền ngoại bào, điều chỉnh
đường kính các sợi collagen.
Chỉ định
• Sẹo lõm trứng cá: sẹo boxcar, sẹo ice pick, và sẹo rolling
• Sẹo lõm trứng cá phân bố khoảng 30% diện tích khuôn mặt
Phương pháp đưa HA vào da
Gel HA độ nhớt thấp (được sản xuất sẵn với 12 hoặc 20mg/mL)
được tiêm bằng xi lanh định liều và thể tích mỗi điểm tiêm là 10 µL. Theo
kinh nghiệm của chúng tôi, để cải thiện sẹo trứng cá có thể lựa chọn tiêm
dưới da bằng kĩ thuật tiêm đường thẳng ngắn, vừa tiêm vừa rút kim lui
(kim 30G). Sau tiêm sẽ tạo ra một chuỗi các điểm tiêm nhỏ vào lớp bì giữa
hoặc bì sâu.
• 20mg/mL HA dùng để điều trị sẹo boxcar và sẹo ice pick
• 12mg/mL HA dùng để điều trị sẹo rolling
Những điểm tiêm nhỏ này sẽ tập trung vào các sẹo. Trong quá trình
làm thủ thuật, một số bệnh nhân có thể cảm thấy không thỏa mái. Mỗi lần
điều trị thường kéo dài khoảng 15-20 phút. Có thể lặp lại điều trị mỗi 20
ngày (hình 9.1).
Chương 9: Sử dụng Hyaluronic Acid, huyết tương giàu tiểu cầu
(PRP), và chỉ tiêu Polylactic trong điều trị sẹo trứng cá
110
a
b
HÌNH 9.1 (a, b) Điều trị bằng HA độ nhớt thấp
Sau điều trị
HA độ nhớt thấp là lựa chọn điều trị nhằm cải thiện chất lượng da
dần dần. Một số tác dụng của nó sẽ được thấy ngay sau lần điều trị duy
nhất, tuy nhiên kết quả tốt nhất chỉ có thể thấy được sau tối thiểu 3 lần
điều trị, mỗi lần cách nhau 3-4 tuần (hình 9.2). Sau điều trị, da có thể phù
và bầm tím. Những tác dụng phụ này sẽ biến mất trong vài ngày.
HÌNH 9.2 (a) trước và (b) ngay sau điều trị bằng filler HA.
a
b
Chương 9: Sử dụng Hyaluronic Acid, huyết tương giàu tiểu cầu
(PRP), và chỉ tiêu Polylactic trong điều trị sẹo trứng cá
111
Ưu điểm
HA đã trở thành chất làm đầy được lựa chọn hàng đầu do hội tụ
được các đặc tính như ít gây dị ứng, tính tương hợp sinh học cao (đã được
chứng minh khi được sử dụng để tiêm ở mắt và tiêm trong khớp). HA khi
tiêm sẽ trở thành một thành phần tự nhiên của mô mềm và không có phản
ứng dị ứng nặng nào được báo cáo [7]. Loại filler này có thể sử dụng trên
tất cả các phân loại da ánh sáng, và có thể thực hiện mỗi mùa trong năm.
Nhược điểm
Tiêm HA độ nhớt thấp không hiệu quả đối với sẹo lõm sâu như sẹo
ice pick.
Hiệu quả lâm sàng
Dựa trên đánh giá của bệnh nhân cho thấy có sự cải thiện rõ về cấu
trúc da và hình ảnh lâm sàng trên toàn bộ sẹo về cả số lượng và độ rộng.
Đánh giá số lượng sẹo cho thấy có sự cải thiện đáng kể trên cả hai thang
điểm Goodman và Baron và cả thang điểm Global Aesthetic Improvement
Scale (Hình 9.3 và 9.4).
Hơn nữa, hiệu quả của HA cũng đã được chứng minh bằng kính
hiển vi đồng tiêu (confocal microscopy). Sau điều trị, da mặt căng hơn và
có thể quan sát thấy có sự cải thiện trong phân bố và tổ chức của các sợi
collagen, ngoài ra có sự tăng mật độ và kích thước nang lông [8].
Biến chứng
Hầu hết các tác dụng phụ của tiêm trong da thường nhẹ và thoáng
qua như đau, sưng, phù, đỏ da và bầm tại vị trí tiêm. Các tác dụng phụ liên
quan đến kĩ thuật tiêm như bề mặt da không đều và xuất hiện các hạt dưới
da kéo dài do tiêm filler nông vào vùng da hoại tử do tắc mạch. U hạt gây
ra bởi tiêm HA cũng đã được báo cáo.
Khi tiêm HA quá nông vào lớp bì của những bệnh nhân có phân loại
Fitzpatrick 1 hoặc 2, thì có thể xuất hiện màu xanh lợt do hiệu ứng Tyn
dall. Tất cả các biến chứng này rất hiếm khi xảy ra.
Hiệu ứng Tyndall:
B%87u_%E1%BB%A9ng_Tyndall
Chương 9: Sử dụng Hyaluronic Acid, huyết tương giàu tiểu cầu
(PRP), và chỉ tiêu Polylactic trong điều trị sẹo trứng cá
112
a
b
HÌNH 9.3 (a) trước và (b) sau điều trị bằng filler HA
HÌNH 9.4 (a) trước và (b) sau điều trị bằng filler HA
Chương 9: Sử dụng Hyaluronic Acid, huyết tương giàu tiểu cầu
(PRP), và chỉ tiêu Polylactic trong điều trị sẹo trứng cá
113
Sử dụng huyết tương giàu tiểu cầu trong điều trị sẹo trứng cá
Giới thiệu
Huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) là phần huyết tương tự thân cô
đặc chứa tiểu cầu và đầy đủ các yếu tố tăng trưởng, chemokines, và các
cytokines. Liệu pháp PRP là một liệu pháp đã có từ lâu và được sử dụng
rộng rãi trong các chuyên khoa da liễu, khớp và răng hàm mặt. Bệnh nhân
thường dung nạp tốt với phương pháp này. Biến chứng khi làm PRP ít
được báo cáo và các thử nghiệm lâm sàng có tổ chức có thể chứng minh
cho đều này.
Lịch sử
PRP được phát triển vào thập niên 1970s và lần đầu tiên được đẩy
mạnh như là thành phần truyền máu tự thân sau một cuộc phẫu thuật tim
hở để tránh việc truyền quá mức các sản phẩm máu tự thân bởi M. Ferrari
vào năm 1987 [9].
Năm 1990, chất dính sợi fribrin tự thân (keo dán fibrin) được tạo ra
từ quá trình polymer hóa fibrinogen với thrombin hoặc calcium chloride
đã được sử dụng như là chất cầm máu dạng bôi, trong khi đó quá trình tạo
ra sản phẩm PRP tự thân từ một lượng máu nhỏ đã được mô tả vào năm
1999 [10].
Khi mới bắt đầu, PRP được sử dụng trong nha khoa và phẫu thuật
răng hàm mặt. Ngày nay PRP có nhiều ứng dụng khác nhau từ các chuyên
khoa y học thể thao cho đến thẩm mỹ, phẫu thuật chỉnh hình và chuyên
khoa mắt [11,12]. Những nghiên cứu về hiệu quả của PRP được công bố
ngày càng nhiều trong những thập niên trở lại đây. Gần đây PRP đã được
sử dụng cho rất nhiều chỉ định trong chuyên khoa da liễu như làm lành vết
thương, cấy mỡ, rụng tóc, chỉnh sửa sẹo, và làm đầy thể tích da [13].
Sinh lí bệnh
PRP chứa tiểu cầu cô đặc tự thân trong một thể tích nhỏ huyết
tương. Các tế bào tiểu cầu sản xuất rất nhiều yếu tố tăng trưởng khác nhau
có khả năng kích thích sự tăng sinh của các tế bào gốc và sự nhân đôi của
các tế bào trung mô, nguyên bào sợi, nguyên bào xương và các tế bào nội
mô.
PRP chứa một số yếu tố tăng trưởng khác nhau: yếu tố tăng trưởng
nguồn gốc tiểu cầu (PDFG), yếu tố tăng trưởng chuyển dạng (TGF)-α, yếu
tố tăng trưởng nội mô mạch máu (VEGF), yếu tố tăng trưởng giống insulin
1 (IGF-1),
Chương 9: Sử dụng Hyaluronic Acid, huyết tương giàu tiểu cầu
(PRP), và chỉ tiêu Polylactic trong điều trị sẹo trứng cá
114
yếu tố tăng trưởng thượng bì (EGF), yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi cơ
bản (bFGF), TGF-β1, và yếu tố hoạt hóa tiểu cầu (PAF) (hình 9.5). Sự bài
tiết của các yếu tố này bắt đầu trong 10 phút sau khi hình thành cục máu
đông và trên 95% các yếu tố tăng trưởng tiền tổng hợp được bài tiết trong
vòng 1 giờ. Khi thêm thrombin và calcium chloride sẽ giúp hoạt hóa tiểu
cầu trong PRP và gây ra sự giải phóng của các yếu tố từ các hạt nhỏ α.
HÌNH 9.5 các yếu tố tăng trưởng chính có trong PRP (ảnh được sự cho phép
của Lovreglio R và các cộng sự. Trích từ: Nonsurgical lip and eye rejuvena
tion techniques. Fabbrocini G, De Padova MP, Tosti A, eds. Springer, 2016)
• EGF: kích thích sự phát triển của tế bào biểu mô, tăng sinh mạch máu và
làm lành vết thương.
• FGF: sửa chữa mô, kích thích sản xuất collagen và hyaluronic acid
• VEGF: tăng tưởng và tăng sinh tế bào nội mô mạch máu
• TGF-β: Tăng trưởng và tạo mới các tế bào nội mô và tế bào nội mô mạch
máu, thúc đẩy quá trình lành vết thương.
• PDGF: tăng trưởng tế bào, tăng sinh mới và sửa chữa các mạch máu và
tổng hợp collagen
Chương 9: Sử dụng Hyaluronic Acid, huyết tương giàu tiểu cầu
(PRP), và chỉ tiêu Polylactic trong điều trị sẹo trứng cá
115
Các tế bào khác nhau như tế bào gốc trung mô trưởng thành, nguyên
bào xương, nguyên bào sợi, tế bào nội mô và tế bào thượng bì có bộc lộ thụ
thể của các yếu tố tăng trưởng có trong PRP trên màng tế bào. Khi các yếu
tố tăng trưởng gắn với thụ thể của các tế bào sẽ kích thích tăng sinh tế bào,
tạo chất nền, cốt hóa xương và tổng hợp collagen.
Điều quan trọng cần phải nắm đó là các yếu tố tăng trưởng PRP
không gây đột biến gen vì chúng không đi vào bên trong tế bào hoặc nhân
tế bào, do đó PRP không gây ra các khối u.
Do sự hiện diện nồng độ cao của các yếu tố tăng trưởng trên, PRP
đã được sử dụng rộng rãi trong các thủ thuật phẫu thuật và điều trị lâm
sàng bao gồm điều trị các vấn đề liên quan đến vết thương và thiếu hụt
xương vùng hàm mặt, trong các phẫu thuật thẩm mỹ và phẫu thuật đường
tiêu hóa [14,15].
Chỉ định
• Sẹo lõm trứng cá: sẹo boxcar, ice pick, và rolling
• Sẹo lõm trứng cá liên quan nhiều hơn 30% diện tích mặt
• Thường điều trị phối hợp với các phương pháp khác (lăn kim và
laser)
Ưu điểm của PRP
• Tăng sinh mạch máu
• Khả năng kháng khuẩn
• Kích thích hình thành biểu mô và mô liên kết
• Có các yếu tố kích thích tạo xương
• An toàn và không gây độc tế bào
• Tự thân
Chống chỉ định
Chống chỉ định tuyệt đối
• Hội chứng rối loạn chức năng tiểu cầu
• Giảm tiểu cầu nặng
• Huyết động không ổn định
• Nhiễm trùng máu
• Nhiễm trùng tại chỗ tại vị trí làm thủ thuật
• Những bệnh nhân không chấp nhận được các nguy cơ của thủ
thuật
Chống chỉ định tương đối
• Sử dụng thuốc NSAIDs trong vòng 48h trước làm thủ thuật
• Tiêm corticosteroid tại vị trí điều trị 1 tháng trước khi điều trị
Chương 9: Sử dụng Hyaluronic Acid, huyết tương giàu tiểu cầu
(PRP), và chỉ tiêu Polylactic trong điều trị sẹo trứng cá
116
• Sử dụng corticosteroid hệ thống trong vòng 2 tuần
• Hút thuốc
• Sốt hoặc bị ốm gần đây
• Ung thư, đặc biệt là ung thư tạo máu hoặc ung thư xương
• Nồng độ hemoglobin <10 g/dL
• Số lượng tiểu cầu < 105/µL
Quy trình tạo gel tiểu cầu tự thân
Chuẩn bị
Giai đoạn chuẩn bị của phương pháp tạo gel tiểu cầu là: lấy máu vào
ống nghiệm, ly tâm tế bào, hoạt hóa, test kiểm soát chất lượng.
Lấy máu vào ống nghiệm
PRP được chuẩn bị ngay sau khi lấy máu bệnh nhân. Sử dụng khoảng
40 cc máu tĩnh mạch có thể tạo ra được 7-9 cc PRP tùy thuộc vào lượng
tiểu cầu của mỗi người, thiết bị được sử dụng, và kĩ thuật tiến hành. Máu
được hút vào ống nghiệm có chứa chất chống đông như acid citrate dex
trose (ACD) để ngăn chặn quá trình hoạt hóa tiểu cầu trước khi sử dụng.
PRP được chuẩn bị thông qua quá trình được gọi là ly tâm vi sai (phương
pháp ly tâm dùng để tách các tổ chức nhỏ hơn tế bào). Trong phương pháp
ly tâm vi sai, lực gia tốc được điều chỉnh để tách một số thành phần của tế
bào dựa vào sự khác biệt trọng lực riêng.
Có nhiều cách để chuẩn bị PRP. Một phương pháp chuẩn bị được
biết đó là phương pháp PRP (PRP methods). Trong phương pháp này, máu
sẽ được li tâm lần thứ nhất để tách hồng cầu ra khỏi huyết tương, sau đó li
tâm lần hai để cô đặc tiểu cầu trong một lượng nhỏ huyết tương. Ban đầu
máu toàn phần được lấy vào trong ống nghiệm có chứa chất chống đông.
Bước quay li tâm thứ nhất được thực hiện với một gia tốc cố định để tách
hồng cầu ra khỏi thể tích máu toàn phần còn lại. Sau bước quay li tâm đầu
tiên này, máu toàn phần sẽ được tách thành 3 lớp: lớp trên cùng chứa chủ
yếu là tiểu cầu và bạch cầu, lớp mỏng ở giữa là lớp đệm chứa nhiều bạch
cầu, và lớp phía dưới chứa chủ yếu là hồng cầu. Để có thể tạo ra PRP tinh
khiết, thì hút lấy lớp phía trên và phần bề mặt lớp đệm cho vào ống ng
hiệm vô trùng để tiếp tục quay li tâm lần hai. Để tạo ra PRP giàu bạch cầu
thì ta lấy toàn bộ lớp đệm và một ít hồng cầu cho lần li tâm tiếp theo. Sau
đó tiến hành ly tâm lần thứ 2. Số vòng quay trong lần thứ 2 cần được điều
chỉnh phù hợp để có thể tạo thành cục tiểu cầu màu hồng nhạt ở đáy
Chương 9: Sử dụng Hyaluronic Acid, huyết tương giàu tiểu cầu
(PRP), và chỉ tiêu Polylactic trong điều trị sẹo trứng cá
117
ống nghiệm. Sau khi ly tâm lần hai, phần huyết tương phía trên chứa ít
tiểu cầu (lớp PPP) sẽ được loại bỏ. Cục tiểu cầu sau đó được đồng nhất
hóa với 5 mL huyết tương để tạo ra PRP chứa nồng độ bạch cầu cao.
Phương pháp PRP (PRP method)
1. Lấy máu toàn phần bằng chân không vào ống nghiệm chứa ACD
2. Không làm lạnh máu trước và trong thời gian tách tiểu cầu
3. Ly tâm máu ở chế độ soft spin (tốc độ chậm)
4. Hút phần huyết tương chứa nhiều tiểu cầu phía trên sang một
ống nghiệm vô trùng khác (không có chứa chất chống đông)
5. Ly tâm ống nghiệm ở tốc độ cao (chế độ hard spin) để cô đọng
tiểu cầu
6. 1/3 huyết tương ở đáy là PRP và 2/3 huyết tương phía trên là
PPP. Cục tiểu cầu sẽ được hình thành ở đáy của ống nghiệm.
7. Loại bỏ lớp PPP và đồng nhất cục tiểu cầu với lượng nhỏ huyết
tương (5-7 mL) bằng cách lắc ống nghiệm.
Phương pháp Buffy-Coat
1. Máu toàn phần được giữ ở nhiệt độ 20-24oC trước khi ly tâm
2. Ly tâm máu toàn phần ở tốc độ cao
3. Sau li tâm sẽ hình thành 3 lớp do tỷ trọng khác nhau: lớp đáy
chứa hồng cầu, lớp giữa chứa tiểu cầu và bạch cầu, và lớp trên cùng chứa
huyết tương nghèo tiểu cầu (PPP)
4. Loại bỏ lớp huyết tương trên cùng
5. Hút lớp đệm (buffy-coat) sang một ống nghiệm vô trùng khác
6. Ly tâm ở tốc độ thấp để tách bạch cầu hoặc sử dụng màng lọc
bạch cầu.
Các loại PRP kit có sẵn trên thị trường
Hiện có nhiều hệ thống PRP được bán trên thị trường để hỗ trợ
cho việc chuẩn bị PRP. Quy trình được thực hiện trên một lượng nhỏ máu
(20-60 mL) được lấy từ bệnh nhân và dựa trên nguyên lí ly tâm. Những
hệ thống này khác nhau rất nhiều trong khả năng năng lấy và cô đặc tiểu
cầu tùy thuộc vào phương pháp và thời gian ly tâm. Kết quả là thu được
phần huyết tương có nồng tiểu cầu và bạch cầu khác nhau. Sự khác nhau
về nồng độ tiểu cầu và bạch cầu ảnh hưởng tới nồng độ và tính đa dạng
của các yếu tố tăng trưởng. Rất khó để đánh giá bộ kit nào tốt hơn khi
dùng để chuẩn bị PRP.
Các thiết bị PRP thường được chia thành hệ thống cô đặc thấp (2.5-3 lần
so với nồng độ tiểu cầu trong máu) và hệ thống cô đặc cao (5-9 lần).
Chương 9: Sử dụng Hyaluronic Acid, huyết tương giàu tiểu cầu
(PRP), và chỉ tiêu Polylactic trong điều trị sẹo trứng cá
118
Làm giàu tế bào
Theo kinh nghiệm của tác giả, để có thể chuẩn bị gel PRP đồng nhất
và đủ thể tích nhưng vẫn có tác dụng tốt thì nồng độ tiểu cầu cần đạt được
khoảng 750.000-1.000.000/ µL. Ở nồng độ tiểu cầu này, có thể tạo gel
trong 5-7 phút. Sau khi thu được PRP cần thực hiện xét nghiệm tổng phân
tích tế bào máu và dựa vào lượng tiểu cầu đếm được, ta có thể pha loãng
hoặc cô đặc tiểu cầu trong điều kiện vô trùng.
Hoạt hóa
Có thể tạo thrombin tự thân để làm chất hoạt hóa theo các bước
sau: Lấy một lượng máu khác (trong ống nghiệm chứa ACD hoặc sodium
citrate), li tâm trong 10 phút ở tốc độ 3000 vòng/phút, hút phần huyết
tương phía trên sang một ống nghiệm mới (trong điều kiện vô khuẩn), sau
đó thêm vào 0.2 mL calcium gluconate cho mỗi 1 mL huyết tương, ủ ấm
ở 37oC trong 15-30 phút, sau đó hút phần huyết tương chứa tiền throbin
ở phía trên (trong điều kiện vô trùng), đông lạnh và giữ ở 30oC cho đến
khi cần sử dụng. Để tạo dạng gel, tiểu cầu cô đặc được đặt trên một đĩa vô
trùng và sau đó thêm chất hoạt hóa vào theo tỉ lệ 1 mL thrombin tự thân
và 1 mL calcium gluconate cho mỗi 10 mL PRP. Lúc này, hỗn hợp được ủ ở
nhiệt độ phòng. Nếu quá trình đông quánh diễn ra lâu hơn dự kiến, thì có
thể ủ ấm ở 37oC trong 5 phút để tăng tốc độ phản ứng.
Tiểu cầu cô đặc cần phải được vô trùng. Các thành phần máu cần
phải được chuẩn bị theo nguyên lý của Good Manufacturing Practice. Mỗi
một thủ thuật phải được test kiểm tra chất lượng gồm: xác định thể tích,
số lượng tiểu cầu, số lượng bạch cầu, và xét nghiệm nồng độ fibrinogen.
Ứng dụng lâm sàng của PRP
Sau khi li tâm, các thành phần tiểu cần và fibrin của máu được chiết
ra và tiêm vào vùng cần điều trị.
Trong da liễu và thẩm mỹ nội khoa, PRP được sử dụng để điều trị:
• Loét động mạch và tĩnh mạch ở chân
• Loét bàn chân đái tháo đường
• Loét ép
• Vị trị hiến da trong thủ thuật ghép da
• Bỏng nhiệt độ 1 và 2
• Vết thương phẫu thuật, vết trợt, vết cắt và chấn thương bề mặt
• Các vấn đề rụng tóc – PRP được chứng minh là có thể tái sinh các
Chương 9: Sử dụng Hyaluronic Acid, huyết tương giàu tiểu cầu
(PRP), và chỉ tiêu Polylactic trong điều trị sẹo trứng cá
119
nang lông và kích thích mọc lông mới
• Sẹo sau chấn thương- PRP phổi hợp với mô mỡ ly tâm và laser vi
điểm tái tạo bề mặt có thể giúp cải thiện bề mặt sẹo
• Trẻ hóa mặt- tiêm PRP có thể giúp điều trị nếp nhăn, tổn thương
ánh sáng, thay đổi sắc tố da khi phối hợp với các phương pháp điều trị
khác.
Chuẩn bị PRP
Máu được lấy vào ống nghiệm có thêm chất chống nông. Hỗn hợp
được ly tâm và tách thành 3 lớp: PPP, PRP, và hồng cầu. Để tạo PRP, loại bỏ
lớp hồng cầu và ly tâm lần 2. Sau đó lớp PPP (chiếm phần lớn) được loại
bỏ và sản phẩm cuối cùng chứa PRP và một lượng nhỏ PPP. Thêm throm
bin hoặc calcium chloride để hoạt hóa tiểu cầu.
Lăn kim và PRP: Giới thiệu thủ thuật
Lăn kim được sử dụng để kích thích sản xuất collagen dưới da
nhằm làm giảm sự thiếu hụt mô da. Ngày nay, lăn kim được sử dụng như
là phương pháp hiệu quả trong điều trị sẹo và nếp nhăn. Các vi kim xuyên
qua lớp thượng bì để lại những lỗ đâm và lành rất nhanh. Thủ thuật lăn
kim sẽ khởi phát một bậc thang các yếu tố tăng trưởng giúp kích thích
trực tiếp đến pha trưởng thành của quá trình lành vết thương, do đó sự
đâm xuyên của các vi kim không tạo ra tổn thương như cách hiểu thông
thường, nhưng lại tạo ra các tổn thương nhỏ và thời gian lành vết thương
sẽ được rút ngắn, khi đó cơ thể sẽ bị đánh lừa như thể đã xảy ra chấn
thương thật sự.
Lăn kim có thể tạo ra các kênh dẫn cho các hoạt chất bôi (ví dụ:
PRP) giúp chúng được hấp thụ một cách hiệu quả qua lớp trên cùng của
da.
Quy trình thủ thuật
Đầu tiên, tiến hành sát trùng da mặt và bôi tê (bằng EMLA) trong vòng 60
phút. Sau đó tiến hành lăn kim bằng dụng cụ chuyên dụng gồm trụ lăn
rộng 10 mm, được gắn 96 đầu kim nhỏ xếp thành 4 hàng. Các cây kim có
đội dài 1.5 mm và đường kính 0.25 mm. Tùy thuộc vào áp lực lăn, những
cây kim này có thể xuyên vào da từ 0.1 đến 1.3 mm. Trụ lăn được lăn lên
vùng da có sẹo theo 4 hướng: dọc, ngang, chéo trái và chéo phải. Trong
hình 9.6, mặt bên phải của bệnh nhân được điều trị chỉ bằng kĩ thuật lăn
kim, trong khi ở mặt bên phải thì được bôi PRP khi tiến hành lăn kim.
Chương 9: Sử dụng Hyaluronic Acid, huyết tương giàu tiểu cầu
(PRP), và chỉ tiêu Polylactic trong điều trị sẹo trứng cá
120
a
b
HÌNH 9.6 (a) Lăn kim trước khi (b) tiêm PRP (hình ảnh được sự cho phép
của Springer Science+ Business Media: Nonsurgical Lip and Eye Rejuvena
tion Techniques, the nonsurgical thread lift for facial rejuvenation, 2016,
85-96, Lovreglio R, Fabbrocini G, Delfino M)
Theo dõi lâm sàng
• Bình thường, liệu trình điều trị lão hóa da gồm 3 lần điều trị lăn
kim cách nhau mỗi tháng, và quá trình theo dõi lâm sàng được thực hiện
vào tháng thứ 1, thứ 3 và tháng thứ 6 kể từ lần điều trị thứ cuối cùng.
• Các bệnh nhân được hướng dẫn sử dụng liệu trình bôi ngoài da
với dưỡng ẩm và kem làm dịu nha trong 48 giờ sau mỗi liệu trình. Ngoài
ra, cần phải tránh nắng bằng cách sử dụng kem chống nắng có SPF30+
trong thời gian ban ngày.
Kết quả lâm sàng
Theo kinh nghiệm của chúng tôi, khi phối hợp lăn kim và PRP sẽ
có hiệu quả cải thiện sẹo tốt hơn so với khi chỉ sử dụng lăn kim. Trên
lâm sàng, có thể thấy được sự cải thiện về độ trơn láng của da và độ sâu
và kích thước của sẹo. Số lần điều trị cần thiết có thể rất khác nhau tùy
thuộc vào đáp ứng collagen của mỗi người, tình trạng sẹo của bệnh nhân
và kết quả mong muốn đạt được, và số lần điều trị sẽ được quyết định
bởi bác sĩ da liễu trong khoảng từ 2 đến 6 lần điều trị (hình 9.7)
Chương 9: Sử dụng Hyaluronic Acid, huyết tương giàu tiểu cầu
(PRP), và chỉ tiêu Polylactic trong điều trị sẹo trứng cá
121
HÌNH 9.7 sẹo trứng cá trước (a) và 6 tháng sau điều trị (b) với lăn kim +
PRP
Điều trị sẹo trứng cá bằng chỉ tiêu
Giới thiệu
Căng da bằng chỉ gai là thủ thuật xâm lấn tối thiểu được sử dụng
rộng rãi để trẻ hóa da mặt. Những thủ thuật này có thể giúp căng da chảy
xệ.
Điều trị bằng chỉ tiêu là một kỹ thuật sáng tạo mang lại hiệu quả
trong điều trị căng da mặt và mô cơ thể. Sự ra đời của loại chỉ gai có thể
trở thành một lựa chọn thay thế tốt cho nhiều thủ thuật xâm lấn khác.
Nhờ khả năng kích thích tái tạo mô thông qua quá trình hoạt hóa
nguyên bào sợi, chỉ tiêu có thể được sử dụng để điều trị sẹo trứng cá.
Hiện có rất nhiều loại chỉ gai khác nhau về giá và chất liệu, có thể
chia ra thành 2 loại:
1. Polydioxanone (PDO)
2. L-lactide-ɛ-caprolactone
Giáo sư Marlen Sulamanidze vào cuối thập niên 1990 đã tiến hành
thủ thuật cấy chỉ gai 2 chiều được sản xuất ở dạng polymer không tiêu
(polypropylene) vào mặt phẳng dưới da mặt [16].
Tuy nhiên, biến chứng của chỉ không tiêu lên da mặt là vĩnh viễn.
Do đó, người ta đã thiết kế ra loại chỉ mới có thể tiêu được và có gai mà
hiện đang có mặt trên thị trường.
Chương 9: Sử dụng Hyaluronic Acid, huyết tương giàu tiểu cầu
(PRP), và chỉ tiêu Polylactic trong điều trị sẹo trứng cá
122
Vào năm 2008, Ông đã đưa 3 dòng chỉ tiêu ra thị trường: Nano, Excellence,
và Light Lift. Ông đã chế tạo ra loại chỉ polypropylene co rút vĩnh viễn đầu
tiên bằng cách sử dụng kỉ thuật căng da không xâm lấn [17-20].
Quy trình thủ thuật
Đây là thủ thuật cho bệnh nhân ngoại viện có hoặc không có gây tê
tại chỗ tùy vào đánh giá lâm sàng mỗi trường hợp. chỉ được cấy vào dưới
da thông qua một một lỗ nhỏ, dọc theo nếp căng da bằng kim mảnh hoặc
kim đầu tù (kim đầu bén dễ gây tổn thương tại chỗ), khi đặt kéo căng nhẹ
để căng mô da bị chảy xệ. Chỉ tiêu dính vào da nhờ sự có mặt của các neo
đặc biệt. Hiệu quả đạt được là do chỉ được cấy theo các đường căng da, và
trên thực tế cần có thêm kĩ năng thực hiện nhất định cũng như hiểu biết
chắc chắn về giải phẫu học.
Chỉ định
• Sẹo lõm trứng cá: sẹo boxcar và rolling
• Sẹo lõm trứng cá liên quan đến trên 30% diện tích khuôn mặt
• Sẹo trứng cá đơn độc
Chỉ PDO
Bản chất
Chỉ PDO là polymer của polylactic p-dioxanone, một loại chất liệu
có khả năng hấp thụ sinh học và có tính kháng khuẩn được sử dụng trong
phẫu thuật và tương hợp sinh học với da.
Đặc tính
Tương hợp sinh học, kháng khuẩn, được hấp thu nhờ quá trình
thủy phân trong 6-8 tháng, được sử dụng trong y tế, phẫu thuật.
Chỉ tiêu PDO (độ dày: 0.05-0.19 mm, và độ dài 3-16 cm) được đặt
sẵn trong kim (26, 29, hoặc 30G).
Tác dụng
Chỉ PDO có hoạt tính kích thích sinh học được cấy vào lớp bì có thể
kích thích nguyên bào sợi, tăng hoạt hóa quá trình tổng hợp collagen [21].
Những thay đổi trên mô da đạt được dựa vào quá trình sửa chữa
mô da của sẹo trứng cá được khởi phát bởi chỉ tiêu khi được cấy.
Các tế bào được kích thích bởi sự có mặt hệ thống thụ thể xuyên
màng được gắn trên màng tế bào, hay còn được biết đến với cái tên integ
rin. Các kích thích cơ học gắn vào phần nằm bên ngoài tế bào của integrin
sẽ tạo ra những thay đổi sinh học bên trong tế bào thông qua thụ thể này,
từ đó dẫn đến hoạt hóa các gen cụ thể.
Chương 9: Sử dụng Hyaluronic Acid, huyết tương giàu tiểu cầu
(PRP), và chỉ tiêu Polylactic trong điều trị sẹo trứng cá
123
Các nguyên bào sợi đặc biệt nhạy cảm với các kích thích cơ học và khi bị
kích thích chúng sẽ hoạt hóa gen phục vụ cho quá trình sản xuất collagen
và các protein khác.
Thời gian tác dụng
Sau khoảng 6-8 tháng, chỉ sẽ tiêu hoàn toàn một cách tự nhiên và
không gây hại gì nhờ quá trình thủy phân. Tuy nhiên, tác dụng cơ học ổn
định trong 6-8 tháng và sự kích thích nội sinh mạnh mẽ sẽ tiếp tục kéo dài
sau đó.
Chỉ l-lactide-ԑ- caprolactone
Đặc tính
Chỉ polylactic acid có tính tương hợp sinh học và là loại chỉ tiêu
hoàn toàn. Thành phần caprolactone cho phép quá trình hấp thụ polylac
tic acid diễn ra dần dần và đảm bảo độ mạnh cơ học và mức độ đàn hổi của
chỉ. Hơn nữa, khả năng kích thích sinh học của chỉ có thể giúp khôi phục
lại độ sáng và màu sắc của da.
Tác dụng
Những mao mạch vi tuần hoàn ở đầu gần của chỉ tăng số lượng
trong khi vùng ngoại vi và lòng mạch dãn ra nhiều hơn. Các nghiên cứu
cho thấy trong suốt khoảng thời gian sau khi cấy chỉ thì mạch mãu vẫn
giãn với lượng máu nhiều để nuôi dưỡng vùng được điều trị kèm với sự
hình thành các sợi elastin, fibrin và collagen mới. Các nguyên bào sợi của
mô xơ được tạo ra khi cấy chỉ được hoạt hóa chức năng, điều này được
chứng minh bởi sự gia tăng thể tích nhân và bào tương kèm với sự giãn ra
của các nhiễm sắc thể. Ở lớp mô liên kết nơi chỉ được cấy vào, tỉ lệ dưỡng
bào tăng lên đồng thời tập trung nhiều mạch máu của hệ vi tuần hoàn. Các
hạt bên trong các dưỡng bào chứa hyaluronic acid, một phức hợp polysac
charide, là thành phần của lớp hạt thượng bì và cũng tồn tại ở các mạch
máu nông của da. Có bằng chứng cho thấy sự sụt giảm lượng hyaluronic
acid ảnh hưởng đến trạng thái miễn dịch của da, và khi tiêm chất này vào
da sẽ giúp cải thiện cấu trúc da. Trong thời gian 40 ngày sau khi cấy chỉ,
sợi chỉ trơn sẽ được bao quanh bởi các nang mô xơ liên kết [22-25].
Quá trình tiêu chỉ bắt đầu khoảng 80 ngày sau khi cấy và tiêu hoàn
toàn sau 1 năm.
Chương 9: Sử dụng Hyaluronic Acid, huyết tương giàu tiểu cầu
(PRP), và chỉ tiêu Polylactic trong điều trị sẹo trứng cá
124
Kỹ thuật thực hiện
Chỉ được đưa vào lớp dưới da thông qua một lỗ nhỏ, dọc theo các
đường chính của sẹo kéo căng nhẹ để nâng mô sẹo lõm. Số lượng chỉ được
cấy có thể rất khác nhau tùy thuộc vào chất liệu chỉ và quyết định của
người làm thủ thuật. Để đặt mỗi một chỉ, bác sĩ làm thủ thuật sẽ đưa kim
thẳng qua một vết cắt vào mặt phẳng dưới da. Ở một số vùng giải phẫu, thì
có thể bẻ cong cây kim để nó có thể dễ dàng luồn theo các nếp nhăn động.
Ở những mặt phẳng này kim được đưa vào theo chuyển động zig-zag dọc
theo đường cong đã được đánh dấu. Khi đã được neo cố định, việc đặt chỉ
theo chuyển động zig-zag này giúp hạn chế sự thụt lùi của chỉ và có thể cấy
chỉ dài hơn các nếp nhăn. Cách này giúp tối đa hóa số lượng gai ở dưới da
và giúp cố định chỉ ở vùng da được cấy tốt hơn. Thông thường bệnh nhân
có thể chịu đựng được quá trình xuyên kim đặt chỉ dưới da. Nếu kim được
đưa nông vào mặt phẳng này thì ngay lập tức có thể thấy đường gồ ở lớp
da phía trên. Nếu kim được đưa sâu vào mặt phẳng dưới da hoặc gần đến
lớp mạc cơ hoặc màng xương thì bệnh nhân sẽ có cảm giác đau và chèn ép.
Ở mọi thời điểm, có thể rút kim một phần hoặc toàn bộ để cấy lại. Không
cần thiết phải gây tê và chỉ cần làm lạnh vùng điều trị bằng đá khô là đủ
[26,27].
Chống chỉ định
• Bị mụn trứng cá cấp hoặc bệnh da gần đây
• Nhiễm trùng hệ thống
• Tiền sử dị ứng
• Đang điều trị ức chế miễn dịch
• Tăng huyết áp không kiểm soát hoặc đang uống thuốc chống đông
• Tái phát herpes (đòi hỏi phải điều trị kháng virus dự phòng)
• Tiền sử sẹo lồi
• Mang thai và đang cho con bú
• Rối loạn đông máu
• Bệnh tự miễn
Ưu điểm
Loại chỉ này được thiết kế ít xâm lấn hơn và có thể làm giảm sẹo
trứng cá nhanh hơn và ít nguy cơ hơn so với cách tiếp cận truyền thống.
Căng da bằng chỉ không chỉ mang lại hiệu quả rõ rệt gần như ngay lập tức
và ít nguy cơ, bất tiện hơn so với các thủ thuật xâm lấn nhiều hơn mà giá
cả của phương pháp này còn hợp lí hơn so với các lựa chọn truyền thống.
Đây là một kĩ thuật sáng tạo trong lĩnh vực thẩm mỹ, quá trình tiến hành
Chương 9: Sử dụng Hyaluronic Acid, huyết tương giàu tiểu cầu
(PRP), và chỉ tiêu Polylactic trong điều trị sẹo trứng cá
125
thủ thuật ít đau nhưng mang lại sự cải thiện về tone màu và các đặc điểm
khác của da.
Nhược điểm
Hạn chế của phương pháp này gồm: lồi chỉ qua da, hiệu quả thẩm
mỹ không đều 2 bên, thường cần phải cấy chỉ bổ sung và thời gian tác
dụng hạn chế.
Sau điều trị
Thời gian phục hồi khoảng 3-4 ngày. Các biến chứng nhẹ như sưng,
bầm tím, và cảm giác “kéo căng”, những biến chứng này sẽ biến mất sau
1-3 tuần.
Do thủ thuật này có thể tạo ra áp lức lớn trong da nên bệnh nhân
thời gian đầu phải hạn chế vận động hoặc tập thể dục mạnh vì có thể đánh
bật da ra khỏi hàng trăm chiếc gai dọc theo sợi chỉ. Không có thông tin
nào từ nhà sản xuất được bình duyệt chứng minh rằng loại chỉ này có thể
tạo các nang sơ hóa có khả năng hợp nhất tốt vào mô lớp bì và mô dưới
da trong vòng vài tháng trên chuột thí nghiệm. Nếu quá trình này xảy ra
tương tự ở da người thì có thể làm kéo dài hiệu quả thẩm mỹ của phương
pháp này. Hiệu ứng căng da kéo dài trên thực tế của phương pháp cấy chỉ
này chưa được biết rõ. Những người đã thực hiện thủ thuật này cho rằng
hiệu quả thẩm mỹ có thể duy trì trong 6 tháng.
Sau khi can thiệp bệnh nhân sẽ phải:
• Sát khuẩn điểm đưa kim vào da bằng dung dịch sát khuẩn trong 3
ngày
• Không uống nước và đồ ăn nóng trong 3 ngày
• Không uống rượu trong 2-3 tuần
• Hạn chế hoạt động trong 7 ngày
• Hạn chế tập gym, xông hơi, và phơi nắng trực tiếp trong 3-5 tuần
• Uống kháng sinh trong 3-5 ngày nếu sử dụng nhiều chỉ
• Nằm ngữa khi ngủ và đặt gối 2 bên nếu thủ thuật được thực hiện
ở trên mặt, cổ hoặc bụng
Hiệu quả điều trị
Trên lâm sàng da bệnh nhân trơn láng hơn, độ sâu và bề rộng của
sẹo giảm. Số lần điều trị cần thiết rất khác nhau tùy thuộc vào tình trạng
sẹo và hiệu quả mong muốn của bệnh nhân và sẽ được quyết định bởi bác
sĩ da liễu (hình 9.8)
Chương 9: Sử dụng Hyaluronic Acid, huyết tương giàu tiểu cầu
(PRP), và chỉ tiêu Polylactic trong điều trị sẹo trứng cá
126
HÌNH 9.8 Sẹo trứng cá (a) trước và 2 tháng sau điều trị bằng chỉ PDO (b)
a
b
Chương 9: Sử dụng Hyaluronic Acid, huyết tương giàu tiểu cầu
(PRP), và chỉ tiêu Polylactic trong điều trị sẹo trứng cá
127
Sau điều trị
Hiệu ứng căng da tại vùng điều trị có thể thấy được ngay sau khi kết
thúc thủ thuật. Bệnh nhân có thể trở lại các hoạt động thường ngày ngay
sau đó.
2 tháng sau điều trị
Sự cải thiện nhìn thấy rõ sau 1-2 tháng điều trị. Tone da cũng đẹp
hơn. Tình trạng sẹo giảm rõ rệt.
Tác dụng phụ và xử lí biến chứng
Tác dụng phụ thường gặp nhất là phù và đỏ da trong 24-48 h sau
điều trị và tụ máu ở vùng cấy chỉ. Nhạy cảm ở vùng điều trị thường sẽ biến
mất trong 1-3 ngày sau điều trị. Trong các trường hợp nặng, có thể rút chỉ
sau 20 ngày bằng một đường cắt nhỏ và sử dụng clamp (kẹp) để rút chỉ ra.
Chương 10: Công nghệ ly quang nhiệt vi điểm trong điều trị
sẹo trứng cá
128
10
Công nghệ ly quang nhiệt vi điểm
trong điều trị sẹo trứng cá
Gillian Beer, Patrick M. Zito, Adrianna Gonzalez, và Kenneth R. Beer
GHI NHỚ
• Sẹo trứng cá là vấn đề thẩm mỹ rất được quan tâm của nhiều
thanh niên cũng như người lớn.
• Ly giải quan nhiệt vi điểm điều trị bằng cách gây nhiều vùng
tổn thương nhỏ trên da
• Một vài thiết bị laser vi điểm hiện đã có trên thị trường và
mỗi loại khác nhau về nguồn laser (ví dụ: ruby, erbium…), cài đặt điều
trị, spot size và độ sâu điều trị
• Lựa chọn thiết bị laser vi điểm nên tùy thuộc vào loại sẹo và
độ sâu của sẹo cũng như phân loại da ánh sáng của bệnh nhân và mức
độ nguy cơ
• Có rất nhiều loại laser mới được phát triển, gồm các hệ thống
laser CO2 vi điểm mới với đặc điểm không cần phải gây tê và bệnh
nhân dung nạp tốt.
Giới thiệu
Sử dụng laser trong điều trị sẹo trứng cá đã xuất hiện trong nhiều
thập kỉ. Đầu tiên, người ta sử dụng laser nhuộm màu (pulsed dye laser-
PDL) để giảm tình trạng đỏ liên quan đến sẹo trứng cá. Tuy nhiên, khi công
nghệ phát triển cao, người ta thấy có bằng chứng cải thiện rõ rệt về hình
dạng và độ sâu của sẹo trứng cá (hình 10.1) khi sử dụng công nghệ ly giải
quang nhiệt vi điểm. Công nghệ này đầu tiên được phát triển bởi Manstain
và cộng sự, ly giải quang nhiệt vi điểm là công nghệ loại bỏ nhiều vùng cực
nhỏ (vi điểm) của da bằng cách gây tổn thương nhiệt lên các điểm cực nhỏ
trên da [1]. Laser vi điểm xâm lấn sẽ bốc hơi những vùng da cực nhỏ trong
khi laser vi điểm không xâm lấn tạo thành các cột nhiệt trong da. Những
Chương 10: Công nghệ ly quang nhiệt vi điểm trong điều trị
sẹo trứng cá
129
vùng da nguyên vẹn xung quanh sẽ hỗ trợ thúc đẩy quá trình lành vết
thương thông qua việc đẩy những mảnh hoại tử ra khỏi da. Với công nghệ
li giải nhiệt vi điểm, các tổn thương nhiệt kéo dài từ thượng bì đến lớp bì
trên. Lớp sừng có thể được bảo tồn hay không tùy thuộc vào việc cài đặt
mức năng lượng [2]. Mức độ năng lượng được sử dụng sẽ quyết định đến
độ sâu và đường kính của tổn thương.
Từ khi được công nhận có vai trò quan trọng trong tái tạo bề mặt
da, cả hai loại laser vi điểm xâm lấn và không xâm lấn đều được sử dụng
để điều trị sẹo trứng cá, ngoài ứng dụng trong điều trị sẹo vết mổ hoặc sẹo
do chấn thương. Ngoài ra, việc sử dụng nhiều phương pháp như sử dụng
các yếu tố tăng trưởng, tế bào gốc, và các loại laser để điều trị phối hợp với
laser li giải quang nhiệt vi điểm đã mở ra kỉ nguyên mới cho điều trị sẹo
trứng cá.
Trong khi các phương pháp điều trị sẹo trứng cá trước đây là
phương pháp cắt đáy sẹo, peel bằng trichloroacetic acid (TCA) và phẫu
thuật chỉnh sửa sẹo, thì laser vi điểm mới sẽ là một lựa chọn đầy hứa hẹn
về hiệu quả và tính an toàn, phương pháp này có thể cải thiện rõ tình trạng
sẹo trứng cá.
Kể từ lần tái bản trước của quyển sách này, nghiên cứu mới hơn và
sự cải tiến công nghệ đã đưa laser trở thành lựa chọn hàng đầu trong điều
trị sẹo trứng cá. Chương này sẽ khái quát những nghiên cứu mới hơn cũng
như một vài hướng đi trong tương lai. Trong đó người ta sẽ cân nhắc đến
vai trò của laser vi điểm xâm lấn, laser vi điểm không xâm lấn và sự phối
hợp của các loại laser này với các phương thức điều trị khác.
Bình
thường
Ice pick
Rolling
Boxcar
Hypertrophic
Brown spot
hyperpigment
Hình 10.1
Phân
loại
mụn trứng
cá
Chương 10: Công nghệ ly quang nhiệt vi điểm trong điều trị
sẹo trứng cá
130
Tái tạo bề mặt bằng laser vi điểm xâm lấn
Phương pháp tái tạo bề mặt bằng laser CO2 đã được sử dụng để
điều trị da trong hơn 20 năm. Trong khi các loại laser đời đầu thường
được sử dụng để điều trị lão hóa da ánh sáng, kể từ đó loại laser này đã
được sử đụng để điều trị sẹo do chấn thương, sẹo phẫu thuật, sẹo bỏng và
sẹo trứng cá. Phương pháp tái tạo bề mặt xâm lấn sử dụng năng lượng ánh
sáng để phá hủy da theo dạng cột. Xung quanh vùng đốt là vùng mô đông
nhiệt. Giai đoạn diễn ra sau chấn thương là giai đoạn chuẩn bị để sản xuất
collagen, sợi elastin và lớp thượng bì mới.
Phiên bản mới hơn của laser CO2 sử dụng chùm tia laser vi điểm
hơn là sử dụng các tia không vi điểm. Bằng cách này, các cột tế bào không
bị đốt vẫn còn nguyên vẹn và những cột da không bị bắn tia này có thể
giúp tái tạo lại da mới. Khi sử dụng laser này để điều trị sẹo trứng cá, thì
sự hình thành collagen và thượng bì mới sẽ giúp da trẻ đẹp hơn. Trong
những năm trước, việc sử dụng laser để điều trị sẹo trứng cá đã cho thấy
có một vài sự cải thiện, thì bằng cách phối hợp nhiều phương pháp, việc
điều trị sẹo trứng cá đã giúp cải thiện rõ rệt.
Hiện có nhiều nhà sản xuất laser CO2 khác nhau và mỗi nhãn hàng
có những ưu và nhược điểm riêng. Có nhiều nơi sản xuất laser CO2 tốt
và mỗi nơi lại có một cách cài đặt riêng. Phòng khám của Dr. Bee sử dụng
dòng laser Lumenis CO2 và các thông số cài đặt máy được đề cập trong
chương này sẽ là các thông số trên dòng máy này. Đối với sẹo nông có thể
sử dụng tay cầm (hand piece) Active FX, loại này có spot size 1.3 mm phù
hợp với kích thước của nhiều sẹo trứng cá nhỏ và spot size này có thể bắn
ở nhiều hình thái và mật độ khác nhau. Điều này cho phép laser với các
mức năng lượng có thể được bắn theo nhiều mật độ khác nhau.
Tay cầm Active FX tạo ra “các hố rộng, nông tiếp cận đến lớp bì lưới
nông” [4]. Sau khi gây tê, cài đặt mức năng lượng trong khoảng 85 đến 125
mJ, mật độ từ 2-4. Hình dạng và kích thước khác nhau của chùm tia được
cài đặt tùy thuộc vào kích thước và sự phân bố của sẹo. Khi sử dụng tay
cầm Active FX, Ramsdell ủng hộ chế độ cài đặt năng lượng khoảng 100-
125 mJ cho vùng mặt với mật độ từ 2 đến 4, sử dụng mật độ cao hơn cho
vùng sẹo trứng cá [4].
Sau thủ thuật, các sợi collagen và lớp thượng bì mới sẽ phát triển và
tác động rõ lên sẹo trứng cá. Những sẹo sâu hơn có thể được điều trị với
tay cầm DEEP FX có kích thước chùm tia là 0.12 mm. Khi sử dụng thiết bị
này, tay cầm DEEP FX được cài đặt trong khoảng 15-22.5 mJ sẽ tạo ra các
Chương 10: Công nghệ ly quang nhiệt vi điểm trong điều trị
sẹo trứng cá
131
cột tổn thương hẹp và sâu từ đó giúp hình thành các sợi collagen, sợi elas
tin và lớp thượng bì mới. Độ sâu tổn thương khi dùng thiết bị này được
xác định là từ 416 μm với mức năng lượng 15 mJ, độ sâu này khá tương
đồng với độ sâu của đa số sẹo trứng cá [5].
Khoảng cách điều trị lý tưởng vẫn là vấn đề đang còn tranh cải.
Một nhóm các tác giả đã so sánh điều trị với khoảng cách 1 tháng so với 3
tháng [6]. Những bệnh nhân được lựa chọn nghiên cứu được điều trị bằng
laser CO2 đối với sẹo trứng cá. Laser được sử dụng là Lumenis Ultra Pulse
với tay cầm DEEP FX được cài đặt mức năng lượng 17.5-22.5 mJ, thông
số mật độ là 3. Sau điều trị, kết quả thu được tương đồng giữa hai nhóm
và không có sự khác biệt về tác dụng không mong muốn. Mặc dù là một
nghiên cứu có cỡ mẫu nhỏ (13 người), nhưng những dữ liệu thu được cho
thấy có sự cải thiện đáng kể ở cả hai nhóm đối tượng khi điều trị với laser
CO¬¬2. Nghiên cứu này cũng đã góp phần chứng minh cho hiệu quả của
laser CO2 trong điều trị sẹo trứng cá.
Phối hợp trong điều trị sẹo trứng cá
Một trong những cách điều trị phối hợp đó là kết hợp nhiều phương
pháp khác nhau gồm peel TCA 20%, cắt đáy sẹo và tái tạo bề mặt bằng la
ser CO2 vi điểm [7]. Phương pháp phối hợp này đã được sử dụng ở 114
bệnh nhân có sẹo trứng cá chủ yếu là dạng sẹo rolling. Sau điều trị, 90%
bệnh nhân được điều trị thỏa mãn với kết quả thu được. Nghiên cứu này
không phải là nghiên cứu mù đôi và sử dụng thang điểm đánh giá 4 điểm
đơn giản thay vì phân tích hình ảnh để xác định sự cải thiện. Tuy nhiên, sự
thật rằng có tới 90% bệnh nhân cảm nhận có sự cải thiện đáng kể.
Những phương pháp phối hợp điều trị khác thường tập trung vào vai trò
của laser trong điều trị sẹo trứng cá đã so sánh phương pháp cấy mỡ tự
thân + huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) +/- laser CO2 vi điểm [8]. Những
tác giả này đã sử dụng cấy mỡ tự thân kèm PRP để điều trị sẹo trứng
cá lõm ở 30 bệnh nhân và đo mức độ cải thiện theo thang điểm FACE-Q.
Thang điểm FACE-Q là công cụ đánh giá kết quả được báo cáo bởi bệnh
nhân (patient reported outcome-PRO) được sử dụng để đánh giá mức độ
hài lòng của các thủ thuật thực hiện trên mặt. Công cụ này gồm thang
điểm 40 + và checklist (bản liệt kê những mục cần kiểm tra) được thiết kế
để đánh giá tác dụng không mong muốn, hình thái bên ngoài, chất lượng
sống liên quan đến sức khỏe. PRP được thu hoạch bằng cách sử dụng các
ống nghiệm RegenLab THT. Sử dụng laser CO2 phối hợp thêm vào
Chương 10: Công nghệ ly quang nhiệt vi điểm trong điều trị
sẹo trứng cá
132
không cho thấy có ưu điểm hơn so với nhóm bệnh nhân không sử dụng
thêm laser. Các tác giả này đã kết luận rằng cả hai nhóm đối tượng đều có
lợi từ sự phối hợp giữa vi cấy mỡ/ PRP mà không có thêm lợi ích từ laser.
Ramsdell ủng hộ việc ưu tiên sử dụng phương pháp cắt sẹo bằng dụng cụ
bấm (punch excision) đối với sẹo ice pick so thay vì sử dụng laser CO2.
Trong phương pháp điều trị này, sẹo ice pick (hình 10.1) được gây tê bằng
lidocaine 1% và dùng dụng cụ bấm sinh thiết nhỏ (2-3 mm) để cắt sẹo. Sau
đó sử dụng kìm kẹp kim (forceps) để nhấc sẹo ra khỏi da và khâu lỗ sinh
thiết lại để có bề mặt bằng với vùng da lân cận. Cắt chỉ sau 7-10 ngày và sử
dụng laser CO2 để tái tạo bề mặt với các thông số cài đặt như đã được đề
cập trước đó. Với phương pháp phối hợp này, kết quả có sự cải thiện rõ rệt
ở những sẹo trứng cá khó trị.
PRP phối hợp với laser CO2 cũng đã được sử dụng để điều trị sẹo
trứng cá. Một nghiên cứu so sánh 16 bệnh nhân sẹo trứng cá được điều trị
với laser CO2 [9]. Trong quá trình điều trị, laser được thực hiện ở hai bên
mặt và sau đó một bên mặt được điều trị tiếp với PRP trong khi mặt còn
lại được điều trị bằng cách tiêm nước muối. Các tác giả của nghiên cứu này
đã kết luận rằng cả hai bên mặt đều đạt được kết quả tương tự với sự cải
thiện sẹo rõ, tuy nhiên ở bên mặt được điều trị bằng PRP có tỉ lệ tác dụng
không mong muốn cao hơn nhiều (đặc biệt là tăng thời gian phù nề và đỏ
da).
Laser vi điểm không xâm lấn
Laser vi điểm không xâm lấn rất có hiệu quả trong điều trị sẹo trứng
cá. Đối với những bệnh nhân có sẹo trứng cá nông hoặc không có thời gian
để tiến hành thủ thuật xâm lấn thì tái tạo bề mặt bằng laser không xâm
lấn là một sự lựa chọn thay thế. Những thiết bị laser không xâm lấn này
đã được sử dụng để điều trị sẹo nông bề mặt với nhiều liệu trình điều trị
và khoảng cách giữa các lần điều trị là từ vài tuần hoặc vài tháng. Laser
không xâm lấn không làm bốc hơi bề mặt da, thay vào đó thiết bị này chỉ
làm nóng mô và kích thích cơ chế sửa chữa mô để tái tạo lại mô da. Tổn
thương gây ra bởi laser loại này ít hơn so với khi sử dụng laser xâm lấn và
do đó thời gian lành sẽ nhanh hơn.
Điều trị bằng laser không xâm lấn đã được sử dụng trong điều trị
sẹo trứng cá ở người có da tối màu. Một nghiên cứu đã đánh giá việc sử
dụng laser không xâm lấn ở bệnh nhân có phân loại da theo Fitzpatrick
type IV-VI [10]. Các tác giả của nghiên cứu này đã điều trị sẹo trứng cá ở
Chương 10: Công nghệ ly quang nhiệt vi điểm trong điều trị
sẹo trứng cá
133
những bệnh nhân có type da IV-VI với laser vi điểm không xâm lấn (hình
10.2).
Để tiêu chuẩn hóa nghiên cứu, những đối tượng nghiên cứu cần
phải có ít nhất 5 sẹo trứng cá. Những sẹo này phải đối xứng mới đủ tiêu
chuẩn để được điều trị. Những người làm nghiên cứu đã sử dụng laser
Fraxel 1550 nm với chế độ cài đặt mật độ khác nhau (200 so với 393 vùng
điều trị vi nhiệt [microthermal treatment zones- MTZ] nhưng có cùng
dòng năng lượng (40 mJ) để điều trị bệnh nhân với khoảng cách điều trị
là 4 tuần. Những bệnh nhân hoàn thành 4 lần điều trị cho thấy có sự cải
thiện về hình thái bên ngoài của sẹo ở cả hai chế độ cài đặt, chỉ có sự khác
nhau nhỏ giữa hai chế độ cài đặt. Họ đã kết luận rằng loại laser không xâm
lấn khá an toàn và hiệu quả trong điều trị sẹo trứng cá. Tuy nhiên, có tỉ lệ
cao bệnh nhân bị tăng sắc tố sau khi làm thủ thuật. Tác dụng phụ này đặc
biệt cao hơn nếu cài đặt ở chế độ có mật độ cao hơn.
So sánh laser vi điểm xâm lấn với laser vi điểm không xâm lấn
Chúng ta biết rằng tái tạo bề mặt bằng laser vi điểm xâm lấn cho sự
cải thiện rõ rệt tình trạng sẹo trứng cá. Tuy nhiên phương pháp điều trị
này thường đi kèm với nhiều tác dụng phụ như đỏ da kéo dài, sẹo, nhiễm
trùng và thay đổi sắc tố. Các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu liệu rằng có đáng
chấp nhận những nguy cơ để có sự cải thiện tình trạng sẹo hay không. Một
nhóm tác giả đã so sánh laser CO2 vi điểm xâm lấn với laser CO2 xâm lấn
(loại không vi điểm), Er: YAG với erbium 1550 nm vi điểm [11]. Những
nhà nghiên cứu trong nhóm này đã viết một bài tổng quan hồi cứu (review
paper) trên 58 bệnh nhân được điều trị sẹo trứng cá. Chế độ cài đặt khi
điều trị bằng laser vi điểm xâm lấn là “50 mJ, điện năng tiêu thụ 30 w và
mật độ là 150 điểm/cm2”. Tổng số lần điều trị là từ 3 đến 5 lần. Đối với
laser vi điểm không xâm lấn, chế độ cài đặt như sau “30 mJ/MTZ và tổng
mật độ là 2500 MTZ/ cm2” với mức độ điều trị khác nha từ 4 đến 6. Mỗi
bệnh nhân được điều trị từ 3 đến 5 lần. Er: YAG và laser CO2 không xâm
lấn cũng được sử dụng trong nghiên cứu nhưng đã trở nên không còn phổ
biến nên không được mô tả chi tiết trong bài này. Các tác giả của nghiên
cứu đã thấy rằng tất tất cả bệnh nhân đều đạt hiệu quả điều trị mặc dù
một số bệnh nhân phải lặp lại điều trị sau 6-12 tháng. Dữ liệu thu được
cho thấy laser vi điểm xâm lấn có hiệu quả điều trị tương tự với laser CO2
vi điểm không xâm lấn, nhưng tỉ lệ đỏ da thấp hơn. Điều thú vị là ở những
người được tái tạo bề mặt bằng laser vi điểm không xâm lấn có sự cải
Chương 10: Công nghệ ly quang nhiệt vi điểm trong điều trị
sẹo trứng cá
134
thiện ít rõ rệt hơn và ít thỏa mãn bệnh nhân hơn so với điều trị bằng laser
xâm lấn. Dựa trên nghiên cứu này, việc tái tạo bề mặt da bằng cách sử laser
vi điểm xâm lấn như là lựa chọn điều trị ban đầu đối với sẹo trứng cá mức
độ trung bình đến nặng là cách làm hợp lí. Các tác giả của nghiên cứu này
tin rằng với 3 lần điều trị và khoảng cách giữa các lần là 2 tháng là cách
điều trị tốt nhất với các loại sẹo trứng cá.
Tóm tắt
Điều trị sẹo trứng cá có thể phức tạp, đòi hỏi cần phải có sự hiểu
biết về phân loại da, phân loại sẹo trứng cá, độ sâu của sẹo, cách cài đặt
laser và hiểu biết về sự tương tác của laser xâm lấn và laser không xâm lấn
lên các loại da khác nhau. Laser vi điểm xâm lấn và không xâm lấn đều có
thể được sử dụng trong điều trị sẹo trứng cá. Có thể phối hợp laser vi điểm
với nhiều phương pháp khác nhau như PRP và peel TCA nhưng cần có
thêm nhiều nghiên cứu về các phương pháp phối hợp này trước khi đưa
ra khuyến cáo chung. Những nghiên cứu hiện tại rất khó để so sánh mỗi
nghiên cứu khác do khác nhau các thông số trong nghiên cứu. Do đó, đối
với những bệnh nhân châu Á, dường như sử dụng liệu trình điều trị nhiều
lần với mức năng lượng được cài đặt thấp có thể mang lại hiệu quả điều
trị đồng thời làm giảm nguy cơ bị tăng sắc tố sau viêm [12]. Đối với những
bệnh nhân có phân loại da theo Fitzpatrick từ type IV-VI, thì laser vi điểm
không xâm lấn thể hiện được hiệu quả điều trị đối với sẹo trứng cá; tuy
nhiên, cần hết sức lưu ý để tránh tình trạng tăng sắc tố [10]. Để tránh tăng
sắc tố sau viêm nên sử dụng nhiệt độ thấp và các phương pháp bảo vệ.
Chương 11: Thiết bị công nghệ xâm lấn và không xâm lấn
trong điều trị sẹo
135
11
Thiết bị công nghệ xâm lấn và không
xâm lấn trong điều trị sẹo
GHI NHỚ
• Laser xâm lấn và không xâm lấn
• Sẹo trứng cá
• Các phương pháp điều trị phối hợp
Giới thiệu
Sẹo trứng cá có nhiều hình dạng khác nhau và đỏi hỏi cách tiếp cận
đa chiều để có thể điều trị thành công. Sẹo trứng cá có thể là sẹo lõm, sẹo
phì đại, sẹo có bờ sắt nhọn, sẹo căng giãn được và sẹo không căng giãn
được. Sự khác biệt bề mặt da gồm đỏ da, mất sắc tố và tăng sắc tố. Sự tiến
bộ trong laser, ánh sáng và sóng cao tần (radiofrequency- RF) đã làm xuất
hiện thêm nhiều phương pháp mới trong điều trị sẹo sau mụn trứng cá.
Chúng ta bắt buộc phải nắm vững chỉ định của mỗi thiết bị để có thể đưa
ra một bản hướng dẫn thực hành cụ thể trong khi phối hợp các thiết bị để
điều trị sẹo trứng cá. Chương này sẽ khái quát lại kiến thức về các công
nghệ ánh sáng, laser xâm lấn và không xâm lấn, và thiết bị sóng cao tần
trong điều trị sẹo trứng cá.
Đèn flash- Laser nhuộm màu xung (PDL) có bước sóng 585 và 595
nm
Đèn flash-laser nhuộm màu xung (FPDL) là một trong những thiết
bị laser đầu tiên được sử dụng để điều trị sẹo phì đại và sẹo đỏ da [1, 2].
Chromophore (chất hấp thụ bước sóng) của FPDL là oxyhemoglobin. Do
đó, mục đích chúng ta sử dụng thiết bị này là để cải thiện tình trạng đỏ
da vì đỏ da thường là biểu hiện chủ yếu của sẹo trứng cá mới hình thành.
Ngoài tác dụng làm giảm đỏ da, thiết bị này còn được thấy là có thể giúp
cải thiện cấu trúc sẹo. Từ đó, người ta đưa ra giả thuyết rằng tác dụng này
Chương 11: Thiết bị công nghệ xâm lấn và không xâm lấn
trong điều trị sẹo
136
liên quan đến sự tăng sản xuất collagen và tái cấu trúc lớp bì khi sử dụng
chế độ không xâm lấn. Sử dụng FPDL với dòng năng lượng cao khi điều
trị sẹo phì đại và với dòng năng lượng thấp khi điều trị sẹo lõm. Thiết bị
FPDL cũng có tác dụng đồng thời giúp cải thiện trứng cá hoạt động, tuy
nhiên đây vẫn là vấn đề còn đang được tranh cải. Cơ chế làm sạch mụn liên
quan đến tổn thương thứ phát của tuyến bã nhờn và sự tiêu diệt vi khuẩn
Propionibacterium acnes. Người ta thấy có sự gia tăng mRNA (RNA thông
tin) mã hóa cho yếu tố tăng trưởng TGF-β1 ở những bệnh nhân sau khi
được điều trị bằng FPDL. TGF-β1được biết đến như là một chất kích thích
tiềm năng cho quá trình tân tạo collagen cũng như thúc đẩy quá trình
giảm viêm, điều này giải thích cho tác dụng kép của FPDL trong việc giúp
giải quyết tình trạng trứng cá hoạt động/ đỏ da và cải thiện sẹo trứng cá
về lâu về dài. Cần phải thực hiện liệu trình FPDL từ 3 đến 5 lần với khoảng
cách 4-6 tuần để đạt hiệu quả [hình 11.1].
Hình 11.1 sẹo trứng cá đỏ da có thể co giãn (a) trước và (b) sau 3 lần điều
trị bằng FPDL với bước sóng 585 nm.
Ánh sáng phổ rộng qua thiết bị lọc (Intense Pulsed Light- IPL)
Thiết bị IPL sử dụng thiết bị lọc để chọn lọc ánh sáng phổ rộng mà
phần lớn là nằm trong khoảng ánh sáng nhìn thấy. Do đó, có thể sử dụng
thiết bị này tương tự như với thiết bị FPDL để điều trị không xâm lấn sẹo
trứng cá [3]. Giống như thiết bị FPDL, điều trị với IPL từ 3 đến 5 lần là cần
thiết và chỉ định của IPL cũng tương tự FPDL- chủ yếu là điều trị sẹo lồi và
sẹo lõm với mục tiêu ban đầu là cải thiện tình trạng đỏ da.
Chương 11: Thiết bị công nghệ xâm lấn và không xâm lấn
trong điều trị sẹo
137
Ngoài ra tác dụng đồng thời giúp làm giảm mụn trứng cá hoạt động cũng
đã được báo cáo.
Liệu pháp quang học khí hút (photopneumatic Therapy)
Liệu pháp quang học khí hút sử dụng ánh sáng có bước sóng ngắn
hơn trong khoảng 420-500 nm như là nguồn sáng phổ rộng, khác với cách
truyền thống là sử dụng ánh sáng nhìn thấy để làm nguồn sáng phổ rộng
[4]. Tay cầm hút da vào trong đồng thời với chiếu tia làm các mục tiêu
ở lớp bì tiến lại gần bề mặt hơn cho phép tia sáng phát ra hiệu quả hơn.
Thiết bị này được chỉ định ban đầu để điều trị mụn trứng cá hoạt động, vì
mục tiêu của nó là Propionibacterium acnes. Ngoài ra người ta còn thấy có
sự cải thiện đối với các sẹo đỏ da, và sẹo nông không co giãn, tác dụng này
tương tự như tác dụng có thể thấy được ở các thiết bị FPDL và IPL (hình
11.2). Thiết bị này còn có thể kéo căng da khi hút, lực cơ học tạo ra có thể
có tác dụng giúp tái tạo lớp bì về lâu về dài.
Hình 11.2 Sự cải thiện đồng thời của mụn trứng cá hoạt động và sẹo trứng
cá đỏ da co giãn (a) trước và (b) sau 5 lần điều trị với liệu pháp quang khí
học.
Laser xung dài 1064 nm
Laser xung dài (LP) 1064 nm ban đầu được tạo ra để triệt lông trên
đối tượng người có tone màu da tối. Tác dụng đồng thời lên cấu trúc da và
tone màu da được quan sát thấy ở những bệnh nhân được triệt lông, từ đó
các bác sĩ bắt đầu sử dụng loại laser này để điều trị sẹo sau trứng cá.
Chương 11: Thiết bị công nghệ xâm lấn và không xâm lấn
trong điều trị sẹo
138
Chromophore của laser xung dài (LP) 1064nm chủ yếu là nước, hemoglo
bin cũng hấp thụ một phần bước sóng mặc dù ít hơn nhiều so với thiết
bị FPDL và IPL. Do đó, cũng tương tự như những thiết bị không xâm lấn
khác, laser xung dài 1064 cũng được chỉ định để cải thiện các sẹo trứng cá
không đỏ da, co giãn [5, 6]. Ngoài ra độ dài vốn có của bước sóng này còn
làm cho thiết bị này trở thành một lựa chọn để điều trị những bệnh nhân
có tone màu da tối. Khi sử dụng thiết bị bắt buộc phải cài đặt năng lượng
thấp và hệ thống làm lạnh vì nếu sử dụng dòng năng lượng cao và làm lạnh
kém có thể làm sẹo trở nên xấu hơn. Mô học cho thấy có sự tân tạo colla
gen tương tự như khi điều trị với các thiết bị không xâm lấn khác. Khoảng
cách điều trị là từ 2-4 tuần và thường cần phải điều trị từ 3 đến 5 lần.
Laser Q-Switched 1064 nm
Laser Q-Switched 1064 nm sử dụng màn trập quang cơ, cho phép
bắn ra bước sóng 1064 nm với độ rộng xung tính bằng nano giây. Loại laser
này ban đầu được thiết kế để xóa mực xăm màu xanh da trời- đen. Cơ chế
xóa xăm của thiết bị này dựa vào hiện tượng quang âm, trong khi cơ chế
tái tổ chức lớp bì trong điều trị sẹo là sự phối hợp của hiện tượng quang
âm và sự hấp thu bước sóng bởi nước từ đó đưa đến sự tái tổ chức lại col
lagen trong lớp bì [7]. Đây là loại laser an toàn nhất đối với da tone màu tối
và không cần phải tiếp xúc lạnh. Cài đặt năng lượng thấp khi điều trị sẹo,
khác so với khi xóa xăm. Cần điều trị từ 3 đến 5 liệu trình, và khoảng cách
giữa các liệu trình là từ 4-6 tuần.
Hiện tượng quang âm: là hiện tượng hình thành sóng âm khi vật chất hấp
thụ ánh sáng ( )
Pico laser 755 và 1064 nm
Những tiến bộ gần đây của công nghệ laser cho điều trị sẹo sử dụng
xung laser có động rộng pico giây ở bước sóng 755 và 1064 nm [8,9]. Pico
laser sử dụng năng lượng quang âm và năng lượng quang nhiệt. Năng
lượng quang âm chiếm ưu thế làm giảm nguy cơ tổn thương nhiệt và do
đó làm tăng độ an toàn khi điều trị, đặc biệt ở những bệnh nhân có tone
màu da tối. Bộ tách chùm tia holographic trong domain pico giây và các
dãy thấu kính trong domain pico giây tạo ra tác dụng nhiệt giúp kích thích
sản xuất collagen mới.
Chương 11: Thiết bị công nghệ xâm lấn và không xâm lấn
trong điều trị sẹo
139
Laser 1320 nm
Laser 1320 nm là loại laser đầu tiên được nghiên cứu riêng nhằm
tái tạo bề mặt không xâm lấn trong điều trị nếp nhăn. Cơ chế hoạt động của
máy là sử dụng bước sóng dài 1320 nm, bước sóng này có khả năng xuyên
sâu vào lớp bì, vượt quá lớp thượng bì và giúp bảo vệ thượng bì bằng hệ
thống làm lạnh. Kết quả đạt được khi điều trị nếp nhăn nhìn chung gây
thất vọng, nhưng kết quả khi điều trị sẹo trứng cá không co giãn lại tốt hơn
[10].
Laser Diode 1450 nm
Như với laser 1320 nm, laser diode 1450 nm ban đầu được phát
triển để tái tạo bề mặt không xâm lấn đối với những nếp nhăn ở mặt. Tác
dụng đồng thời được quan sát thấy khi sử dụng laser 1450 nm là tác dụng
gây hoại tử nhiệt lên các tuyến bã nhờn [11]. Do đó, các tổn thương đang
hoạt động của mụn trứng cá thường đạt được hiệu quả vài liệu trình điều
trị. Sự hấp thu không chọn lọc của nước và khả năng xâm nhập sâu hơn
cho phép quá trình tân tạo collagen và tái tổ chức lớp bì diễn ra đồng thời,
do đó laser này cũng được ứng dụng trong điều trị sẹo. Khả năng xâm
nhập sâu cho phép điều trị những sẹo nghiêm trọng hơn, đây là điểm khác
biệt của laser 1450 nm so với các thiết bị không xâm lấn khác như FPDL,
IPL và laser 1064 nm. Sẹo lõm cũng như sẹo phẳng và sẹo lồi có thể được
điều trị thành công với laser loại này. Một chuỗi liệu trình điều trị có thể
từ 3 đến 5 lần với khoảng cách điều trị là 4-6 tuần. Sự cải thiện tình trạng
mụn cũng là một tác dụng thêm vào của laser 1450 nm. Bất lợi chính của
laser diode 1450 nm là gây cảm giác không thỏa mái, do đó bắt buộc phải
sử dụng thuốc bôi tê mạnh.
Laser vi điểm không xâm lấn 1540 và 1550 nm
Sự tiến bộ lớn nhất trong điều trị sẹo trứng cá là sự phát triển của
phương pháp tái tạo bề mặt bằng laser vi điểm không xâm lấn với bước
sóng ở khoảng giữa của vùng ánh sáng hồng ngoại [12, 13]. Các loại laser
này được phát triển với mục đích ban đầu là để tái tạo bề mặt do những
tổn thương ánh sáng vì tái tạo bề mặt bằng laser xâm lấn mang nhiều
nguy cơ trong khi phương pháp tái tạo bề mặt bằng laser không xâm lấn
thì mang lại kết quả hạn chế. Ngoài những kết quả tuyệt vời trong tái tạo
bề mặt của những tổn thương ánh sáng mức độ từ nhẹ đến trung bình, các
loại laser này còn mang lại kết quả ấn tượng đối với sẹo trứng cá.
Chương 11: Thiết bị công nghệ xâm lấn và không xâm lấn
trong điều trị sẹo
140
Chromophore của các loại laser trên là nước và khả năng xuyên sâu của
nó là trên 1 mm vào trong lớp bì. Năng lượng của laser được phát ra thông
qua một dãy các tia vi điểm kích thước nhỏ, hoặc ở dạng đóng dấu (laser
1540 nm) hoặc ở dạng random (1550 nm). Chế độ bắn tia vi điểm cho
phép tạo ra những vùng vi tổn thương. Mật độ và năng lượng điều trị có
thể được điều chỉnh dựa vào mức độ sẹo trứng cá, vị trí giải phẫu và tone
màu da. Đây là phương pháp điều trị an toàn đối với tất cả các màu da.
Chế độ bắn năng lượng vi điểm giúp làm giảm mức độ đốt nóng (là nguyên
nhân chính của các biến chứng đối với laser xâm lấn và không xâm lấn).
Tất cả các loại sẹo trứng cá – ice pick, rolling, boxcar, co giãn (distensible),
không co giãn (non-distensible) và sẹo đỏ da (erythematous scar) đều có
thể được điều trị thành công (hình 11.3). Hơn nữa, sẹo mất sắc tố cũng có
thể được điều trị thành công với phương pháp tái tạo bề mặt bằng laser
vi điểm không xâm lấn. Nhu cầu điều trị bổ trợ đối với sẹo ice pick và sẹo
rolling (ví dụ: cắt đáy sẹo) đã giảm một cách đáng kể từ khi đạt được sự
tiến bộ trong tái tạo bề mặt bằng laser vi điểm. Cần phải chỉ định làm từ 3
đến 7 lần, khoảng cách giữa các lần điều trị là 4-6 tuần.
Hình 11.3 sẹo trứng cá đa hình thái (a) trước và (b) sau 5 lần điều trị với
phương pháp tái tạo bề mặt bằng laser vi điểm không xâm lấn 1550 nm.
Laser vi điểm xâm lấn 2940 và 10600 nm
Sự ra đời của laser xâm lấn 2940 và 10600 nm [14] xuất phát từ
mong muốn làm giảm số lần điều trị tái tạo bề mặt so với laser không xâm
lấn và để làm giảm nguy cơ của laser xâm lấn truyền thống cùng bước
sóng. Những thiết bị này tương đối mới và các số liệu về hiệu quả của
chúng đối với sẹo trứng cá vẫn còn ít. Bước sóng 2940 nm có ái tính với
nước cao nhất nhưng cần phải cài đặt dòng năng lượng cao hơn để đốt
Chương 11: Thiết bị công nghệ xâm lấn và không xâm lấn
trong điều trị sẹo
141
do đó thủ thuật với laser này gây chảy máu nhiều hơn. Bước sóng 10600
nm được sử dụng tốt nhất với năng lượng cao, cho phép xâm nhập vào sâu
hơn. Có một vài báo cáo về kết quả đầy ấn tượng khi sử dụng laser xâm lấn
10600 trong điều trị sẹo trứng cá với số lần điều trị ít hơn so với các loại
laser vi điểm không xâm lấn [15].
Lăn kim RF
Lăn kim RF giúp tạo ra những vùng tổn thương nhiệt mà không gây
tổn thương lớp thượng bì [16]. Năng lượng sóng cao tần (RF) được phát
ra thông qua vi kim bằng cách sử dụng các mũi kim nhỏ cách điện giúp
hạn chế gây tổn thương điện nhiệt ở bất kì vùng nào của lớp bì ngoại trừ
vùng tiêp xúc với đầu của vi kim. Độ sâu của kim có thể được điều chỉnh từ
0.5 đến 3.5 mm dựa vào độ sâu của thương tổn. Quá trình tân tạo collagen
xảy ra có lẽ thông qua sự giải phóng của các yếu tố tăng trưởng. Do lớp
thượng bì được bảo tồn, quá trình lành da diễn ra nhanh hơn và ít nguy cơ
bị tăng sắc tố sau viêm hơn, đặc biệt là những người da tối màu.
Laser xâm lấn truyền thống 2940 và 10600 nm
Phương pháp tái tạo bề mặt bằng laser xâm lấn truyền thống sử
dụng bước sóng 2940 và 10600 nm. Những thiết bị này ngày càng ít phổ
biến do kéo dài thời gian lành và hồi phục của da, ngoài ra những trường
hợp tái tạo bề mặt với laser xâm lấn truyền thống 10600 nm sẽ có nguy cơ
cao bị mất sắc tố. Laser xâm lấn truyền thống 10600 nm có ưu điểm hơn
so với laser xâm lấn truyền thống 2940 nm nhờ khả năng cầm máu tốt
hơn. Sự ra đời của laser xung dài 2940 nm ngày nay có thể giúp cầm máu
tốt hơn. Đối với sẹo trứng cá, laser xâm lấn 2940 nm có thể ưu thế hơn so
với laser 10600 m nhờ khả năng xâm nhập sâu hơn, do đó cho phép điều
trị nhiều loại sẹo trứng cá hơn [17-19].
Phối hợp nhiều phương pháp điều trị
Bảng 11.1 tóm tắt cách tiếp cận đơn trị liệu trong điều trị sẹo trứng
cá. Cũng như trong điều trị trẻ hóa da mặt, có nhiều bằng chứng ủng hộ
rằng điều trị sẹo trứng cá đòi hỏi tiếp cận dựa trên nhiều phương pháp.
Điều này đặc biệt đúng đối với các loại sẹo ice pick, sẹo lõm sâu và sẹo liên
thông. Mổ cắt sẹo thường là phương pháp cần thiết nếu sẹo quá lớn và với
sẹo ice pick tự nhiên, mặc dù nhu cầu sử dụng phương pháp này đã giảm
do sự ra đời của laser tái tạo bề mặt vi điểm không xâm lấn.
Chương 11: Thiết bị công nghệ xâm lấn và không xâm lấn
trong điều trị sẹo
142
Thiết bị
Chế độ
Loại sẹo trứng cá được lựa
chọn điều trị
Laser xung nhuộm
màu-đèn flash (FPDL)
585 nm, 595 nm
Không xâm lấn
Sẹo đỏ da và sẹo co giãn
Liệu pháp quang học
khí hút, ánh sáng phổ
rộng
Không xâm lấn
Sẹo đỏ da, sẹo tăng sắc tố và
sẹo co giãn
Laser xung dài 1064
nm
Không xâm lấn
Sẹo trứng cá co giãn, sẹo rỗ
tinh tế
Laser Q-switched
1064 nm
Không xâm lấn
Sẹo trứng cá co giãn, sẹo rỗ
tinh tế
Laser 1320 nm
Không xâm lấn
Sẹo trứng cá co giãn, sẹo rỗ
và sẹo boxcar từ nhẹ-trung
bình
Laser 1450 nm
Không xâm lấn
Sẹo trứng cá co giãn, sẹo rỗ
và sẹo boxcar từ nhẹ-trung
bình
Laser 1540 và 1550
nm
Vi điểm không
xâm lấn
Sẹo đa hình thái
Laser 2940 và 10600
nm
Vi điểm xâm lấn Sẹo đa hình thái
Laser 2940 và 10600
nm
Xâm lấn
Sẹo đa hình thái
Chương 11: Thiết bị công nghệ xâm lấn và không xâm lấn
trong điều trị sẹo
143
Kết luận
Có thể điều trị thành công sẹo trứng cá với nhiều thiết bị khác nhau.
Các thiết bị không xâm lấn gồm FPDL, IPL, laser LP 1064 nm, laser QS
1064 nm, laser 1320 nm và laser 1450 nm. Những thiết bị không xâm lấn
này là lựa chọn điều trị tốt nhất đối với sẹo nông, tinh tế và sẹo đỏ da. La
ser 1320 và 1450 nm có thể có lợi hơn đối với sẹo diện tích rộng. Các loại
laser vi điểm không xâm lấn gồm laser 1540 và 1550 nm được xem là tiêu
chuẩn vàng để điều trị sẹo, có thể điều trị nhiều loại sẹo trứng cá đa hình
thái nhất và giúp làm giảm nhu cầu phẫu thuật cắt sẹo và cắt đáy sẹo. Các
loại laser vi điểm xâm lấn gồm laser 2940 và 10600 nm được chế tạo gần
đây và có thể cho kết quả tương đương với laser vi điểm không xâm lấn,
nhưng với số lần điều trị ít hơn. Các loại laser xâm lấn truyền thống gồm
laser 2940 và 10600 nm, các loại laser này tuy có hiệu quả trong điều trị
sẹo trứng cá, nhưng lại mang nhiều nguy cơ và chậm lành vết thương. Các
thiết bị được sử dụng tốt nhất khi phối hợp với các phương pháp cắt đáy
sẹo, phẫu thuật cắt sẹo và filler da để có thể điều trị sẹo trứng cá hiệu quả
nhất.
Chương 12: Kỹ thuật phẫu thuật: Cắt đáy sẹo, ghép da (grafting)
cắt khâu sẹo và các kỹ thuật bấm sẹo
144
12
Kỹ thuật phẫu thuật: Cắt đáy sẹo, ghép
da (grafting) cắt khâu sẹo và các kỹ
thuật bấm sẹo
Rohit Kakar, Farhaad Riyaz, Megan Pirigyi, và Murad Alam
GHI NHỚ
• Các phương pháp tiếp cận điều trị đối với sẹo trứng cá nên
được cá nhân hóa và được quyết định dựa trên đặc điểm hình thái
sẹo của mỗi bệnh nhân.
• Những can thiệp phẫu thuật được mô tả trong chương này
là cần thiết để sữa chữa các loại sẹo trứng cá sâu và xơ hóa.
• Cắt đáy sẹo là thủ thuật đơn giản, dung nạp tốt và có thể
giúp cải thiện theo thời gian đối với sẹo rolling.
• Ghép da là phương pháp ghép tự thân có thể giúp làm đầy
vĩnh viễn sẹo trứng cá lõm sâu.
• Kĩ thuật cắt và sinh thiết sẹo vẫn là lựa chọn điều trị đối với
sẹo trứng cá sâu và sắc cạnh.
• Tất cả những thủ thuật được mô tả trong chương này có thể
được phối hợp trong phương án điều trị nhiều bước được thiết kế
theo nhu cầu cá nhân của mỗi bệnh nhân.
Giới thiệu
Kinh nghiệm lâm sàng và những nghiên cứu y học đã cho thấy hầu
hết các trường hợp sẹo trứng cá không thể được giải quyết bằng một
phương pháp điều trị “tốt nhất” đơn lẻ. Sẹo trứng cá rất đa dạng về cấu
trúc và độ sâu, và mỗi một phương pháp điều trị hiện tại chỉ phù hợp nhất
với một trong các loại sẹo. Trong khi các thủ thuật tái tạo bề mặt tỏ ra rất
hữu ích trong giải quyết những rối loạn trong cấu trúc và sắc tố gây ra bởi
Chương 12: Kỹ thuật phẫu thuật: Cắt đáy sẹo, ghép da (grafting)
cắt khâu sẹo và các kỹ thuật bấm sẹo
145
sẹo trứng cá từ nông-trung bình-sâu, thì filler lại là phương pháp hiệu
quả trong làm đầy sẹo co giãn, lõm sâu. Những can thiệp phẫu thuật được
mô tả trong chương này gồm cắt đáy sẹo (subcision), ghép da (dermal
grafting), kĩ thuật cắt và sinh thiết sẹo (excision and punch techniques) là
những lựa chọn tốt nhất giúp cải thiện các dạng sẹo bị xơ hóa nhất và sâu
nhất bên cạnh các phương pháp chỉnh sửa sẹo nông bề mặt.
Cả hai phương pháp cắt đáy sẹo và ghép da đều nhằm đạt được sự
làm đầy lâu dài đối với những sẹo lõm sâu nhưng không rõ bờ sẹo. Cắt đáy
sẹo được ứng dụng để điều trị sẹo trứng cá dạng rolling gây ra bởi sự hình
thành các sợi xơ neo từ bề mặt sẹo với các cấu trúc sâu hơn phía dưới của
da. Do sự tồn tại của các sợi xơ này, loại sẹo này không thể được chỉnh sửa
hiệu quả bởi thủ thuật filler da đơn thuần nhưng lại có thể cải thiện khi áp
dụng phương pháp cắt đáy sẹo để làm đứt những sợi xơ bên dưới bề mặt
những sẹo rolling. Ghép da là thủ thuật cấy ghép một dải hoặc một mảnh
da tự thân vào vùng sẹo đã đã được cắt bỏ và có thể đạt được hiệu quả làm
đầy lâu dài đối với những sẹo lõm sâu gây ra bởi tổn thương mất da.
Cắt và sinh thiết sẹo là kĩ thuật được sử dụng để thay thế các loại
sẹo sâu, bờ sắc như sẹo ice pick và sẹo boxcar sâu bằng một sẹo thứ phát ít
xấu hơn. Trong thủ thuật cắt hình elip và cắt bằng dụng cụ bấm, sẹo được
phẫu thuật loại bỏ và được đóng lại một cách cẩn thận để có thể tạo ra một
đường sẹo phẳng nằm trùng với các nếp da tự nhiên. Ghép da sau khi cắt
sẹo bằng dụng cụ bấm là phương pháp thay thế sẹo đã bị bấm cắt bằng
một mảnh da lành tự thân với đầy đủ độ dày và sự phát triển của mảnh da
mới là nhờ vào sự bào tồn của lớp đáy sẹo khi cắt cho phép mảnh da mới
có thể phát triển bằng với mô da xung quanh.
Đối với tất cả những thủ thuật phẫu thuật được mô tả trong chương
này, cần thiết phải lựa chọn bệnh nhân một cách cẩn thận và giao tiếp liên
tục với bệnh nhân. Mặc dù những thủ thuật này có tiềm năng giúp cải thiện
thậm chí đối với dạng nặng nhất của sẹo trứng cá, bệnh nhân phải có kỳ
vọng đúng thực tế và nên tư vẫn kĩ cho bệnh nhân về mức độ cải thiện có
thể đạt được khi điều trị. Mặt dù có thể cải thiện được sự không đều về bề
mặt, cấu trúc và sắc tố nhưng việc loại bỏ hoàn toàn sẹo gần như là không
thể. Vì nhiều bệnh nhân có đồng thời nhiều loại sẹo trứng cá khác nhau và
do một vài trong các phương pháp điều trị này có thể tạo ra những sẹo thứ
phát nên việc phối hợp nhiều thủ thuật khác nhau trong một liều trình kéo
dài nhiều tháng là cần thiết để đạt được kết quả khả quan nhất. Ngoài ra,
khi lên kế hoạch điều trị, bác sĩ lâm sàng nên lưu ý cẩn thận xem
Chương 12: Kỹ thuật phẫu thuật: Cắt đáy sẹo, ghép da (grafting)
cắt khâu sẹo và các kỹ thuật bấm sẹo
146
bệnh nhân có sẵn sàng chấp nhận khoảng thời gian hồi phục sau điều trị
hay không. Trước khi đề xuất bất kì một thủ thuật chỉnh sửa sẹo nào thì
cần thiết phải hỏi sơ qua về tiền sử phẫu thuật và bệnh lý của bệnh nhân.
Bệnh nhân nếu có nguy cơ cao bị sẹo lồi và sẹo phì đại hay những người có
mụn trứng cá đang hoạt động hoặc hoạt động gần đây không phải là ứng
cử viên tốt cho các thủ thuật phẫu thuật chỉnh sữa sẹo [1] (bảng 12.1).
Đặc điểm
Lý do chống chỉ định
Tiền sử chậm lành vết thương
hoặc có xu hướng hình thành sẹo
lồi/sẹo phì đại
Nguy cơ hình thành sẹo xấu không
mong muốn
Mong muốn không thực tế
Việc loại bỏ hoàn toàn sẹo gần như
là không thể. Kết quả tốt nhất có
thể đạt được cần phải có sự phối
hợp của nhiều phương pháp điều
trị khác nhau trong một liệu trình
kéo dài nhiều tháng.
Đang hoặc gần đây có tổn thương
mụn trứng cá hoạt động
Sự phá vỡ các đơn vị nang lông-
tuyến bã trong quá trình làm các
thủ thuật phẫu thật có thể dẫn đến
hình thành các nang dạng trứng
cá.
BẢNG 12.1
Đặc điểm khiến bệnh nhân có thể bị chống chỉ định với các phẫu thật điều
trị sẹo
Subcision
Lịch sử
Vào năm 1995, Orentreich và Orentreich đã giới thiệu kĩ thuật cắt
đáy sẹo như là phương pháp điều trị duy nhất đối với sẹo lõm sâu và nếp
nhăn [2]. Tuy nhiên, cắt đáy sẹo đã được sử dụng sớm hơn vào năm 1957
khi nó được mô tả như là phương pháp để chuẩn bị không gian cho thủ
thuật tiêm bọt fibrin [3]. Kể tử đó, cắt đáy sẹo đã được sử dụng thường
xuyên phối hợp với các thủ thuật cấy fibrel [4, 5], tiêm vi mỡ [6] và ghép
da [7].
Chương 12: Kỹ thuật phẫu thuật: Cắt đáy sẹo, ghép da (grafting)
cắt khâu sẹo và các kỹ thuật bấm sẹo
147
Cấu trúc và chức năng
Cắt đáy sẹo được sáng tạo để giải quyết cơ chế bệnh sinh bên dưới
của sẹo trứng cá rolling. Những loại sẹo này rộng, lõm xuống thấp hơn
bề mặt da và có bờ không rõ như bờ của sẹo boxcar và sẹo ice pick. Mặc
dù là sẹo nông, rolling scar là kết quả của việc hình thành các sợi xơ neo
thượng bì với mô dưới da. Phương pháp cắt đáy sẹo được áp dụng để bóc
tách các dải xơ trong khi chỉ gây tổn thương tối thiểu đế bề mặt da. Điểm
đặc trưng của thủ thuật này là làm nâng sẹo lõm lên ngang mức với mô da
xung quanh. Những người đầu tiên sử dụng phương pháp này là David và
Norman Orentreich, họ đã cho rằng tác dụng làm đầy thấy được sau khi
cắt đáy sẹo là kết quả của 2 quá trình khác nhau [2]. Sự nâng lên của bề
mặt sẹo một phần diễn ra ngay lập tức là kết quả thu được do đáy sẹo bị
cắt và tách khỏi các bó sợi xơ vốn neo và kéo bề mặt sẹo xuống gắn với mô
dưới da [2, 8]. Những tuần sau cắt đáy sẹo, tác dụng làm đầy tiếp tục được
quan sát thấy. Đây là kết quả của những tổn thương vật lí gây ra trong quá
trình thủ thuật, những tổn thương này đã đưa đến phản ứng làm lành vết
thương và từ đó tạo ra tích lũy của mô liên kết mới bên dưới bề mặt sẹo
[2, 9].
Kỹ thuật cắt đáy sẹo
Chỉ định
Cắt đáy sẹo được chỉ định tốt nhất để điều trị sẹo trứng cá rolling có
bề mặt sẹo giống với da bình thường và không có bờ sắc cạnh [2]. Phương
pháp này chống chỉ định với những vùng da đang bị nhiễm trùng và ở
những bệnh nhân có cơ địa dễ chảy máu hoặc có xu hướng hình thành
sẹo lồi [2]. Các trường hợp lõm da khác như nếp nhăn mặt, miếng ghép da
lõm, vết thương phẫu thuật và các điểm lún trong bệnh sẩn da cam (cellu
lite) cũng được cân nhắc để trở thành chỉ định của cắt đáy sẹo [2, 10].
Ưu điểm/ nhược điểm
Ưu điểm chính của cắt đáy sẹo là khả năng cải thiện lâu dài tình
trạng sẹo trứng cá rolling trong khi chỉ gây tổn thương tối thiểu bề mặt da
phía trên. Thủ thuật này dễ thực hiện, thường an toàn và bệnh nhân có thể
dung nạp tốt. Mặc dù phương pháp này có thể gây bầm tím và phù, nhưng
những biến chứng này sẽ biến mất trong thời gian ngắn. Hơn nữa, dụng cụ
cần thiết để làm thủ thuật rẻ và có sẵn.
Một nhược điểm của cắt đáy sẹo là nếu sử dụng phương pháp này
Chương 12: Kỹ thuật phẫu thuật: Cắt đáy sẹo, ghép da (grafting)
cắt khâu sẹo và các kỹ thuật bấm sẹo
148
đơn thuần trong điều trị sẹo thì sẽ không đảm bảo tạo được sử cải thiện
chính yếu của tình trạng sẹo. Vì kết quả cuối cùng của thủ thuật phụ thuộc
duy nhất vào khả năng đáp ứng của mỗi cá nhân, do đó khó có thể dự đoán
được kết quả của điều trị ban đầu [2]. Để đặt được kết quả tốt nhất, một
vài bệnh nhân cần phải tiến hành một vài lần điều trị hoặc phối hợp với
các thủ thuật khác như tái tạo bề mặt hoặc tiêm chất làm đầy (filler).
Biến chứng
Đỏ da, bầm tím, phù và đau là những biến chứng có thể dự đoán
trước và những biến chứng này có thể kéo dài tại vị trí cắt đáy sẹo từ 1-2
tuần [2, 11]. Biến chứng khác có thể có như hình thành các nang mụn, biến
chứng này xuất hiện do sự phá hủy các đường hầm thông giữa các xoang
trứng cá hoặc do làm vỡ các đơn vị nang lông-tuyến bã [2, 11].
Thường thì sau khi cắt đáy sẹo sẽ thấy được sự cải thiện một phần
của sẹo lõm, tuy nhiên cũng có thể xảy ra trường hợp đáp ứng quá mức
hoặc đáp ứng phì đại trong khoảng từ 5%-10% các trường hợp [2, 11].
Một đáp ứng quá mức có thể tạo thành vết chai nhỏ, sờ được tại vùng
được điều trị [12]. Những vùng chai này có thể không thể được nhìn thấy
bằng mắt thường và phẳng đi theo thời gian. Bệnh nhân cần được thông
tin rằng những khối gồ sờ được nhưng không thấy được có thể sẽ lan rộng
thêm và nhờ đó sẽ giúp cải thiện thêm mức độ trơn láng của bề mặt da.
Phối hợp cắt đáy sẹo với những phương pháp khác
Cắt đáy sẹo có thể được dùng phối hợp với những phương án điều
trị khác như tiêm filler, tái tạo bề mặt bằng laser, lăn kim, lăn kim RF, peel
bằng trichloroacetic hoặc tái tạo da bằng hóa chất [13-19]. Trong nhiều
trường hợp, khi phối hợp điều trị sẽ mang lại kết quả tốt hơn, đặc biệt là
khi sẹo rolling nằm rải rác so với các dạng khác của sẹo trứng cá.
Lời khuyên thực hành đối với các bác sĩ
Chảy máu và bầm máu trong khi tiến hành thủ thuật được xem là
bình thường và có thể có lợi vì sự tích tụ máu bên đưới sẹo có thể thúc đẩy
quá trình tạo thành collagen mới [11] (hình 12.1).
Trước khi tiến hành điều trị, đều quan trọng là bệnh nhân phải hiểu
được sự cải thiện hoàn toàn sau một lần điều trị với phương pháp cắt đáy
sẹo là không thể và cần phải tiến hành điều trị nhiều lần để có thể đạt
được kết quả tốt nhất.
