201
Page
bookyhoc.com
mẽ với sự phát triển cũng như biểu hiện của nám.
Bệnh hệ thống
Các bệnh hệ thống và tự miễn dịch có mối liên kết mạnh
Thai kỳ và thuốc tránh thai
Sự thay đổi nồng độ các hormon trong cơ thể dù là trong
giai đoạn thai kỳ hay do các liệu pháp điều trị hormon thay
thế được xem là một trong những yếu tố chính có ảnh
hưởng đến sự khởi phát và tiến triển của nám. Trong suốt
thời gian thai kỳ, những sự thay đổi vể miễn dịch, nội tiết
tố, chuyển hóa và hệ thống mạch máu đểu làm cho phụ nữ
mang thai dễ phải đối mặt với một số biến đổi nhất định
về da. Ngoài ra, một số nhà khoa học cho rằng những biên
đổi về nồng độ hormon bao gồm sự giảm thấp của estro-
gen và sự tăng cao của LH do rối loạn chức năng buồng
trứng cũng có thể là các nguyên nhân tiềm ẩn trong một
số trường hợp nám vô căn.
Bên cạnh nám da trong thai kỳ, phụ nữ dùng thuốc tránh
thai có chứa progesterone hoặc phụ nữ sau mãn kinh được
chỉ định dùng progesterone trong liệu pháp hormon thay
thế cũng hình thành nám đáng kể trên da. Đáng chú ý, trái
ngược với nám da trong thời gian mang thai, tình trạng
tăng sắc tố do thuốc tránh thai không tự hồi phục theo
thời gian. Các nhà khoa học đã chỉ ra rằng sự biểu lộ các
thụ thể estrogen và progesterone trong những trường hợp
nám da cần phải được nghiên cứu nhiều hơn để có thể kết
luận rõ ràng, từ đó tạo tiền để cho hướng phát triển mới
trong điều trị nám với các công thức điều trị dùng ngoài
kháng estrogen.
202
Page
bookyhoc.com
- Trong một nghiên cứu về nám trên 210 bệnh nhân, tỷ
lệ hình thành nám do các yếu tố nguy cơ đã được báo
- Ngoài ra, một số yếu tố như chế độ dinh dưỡng, bệnh
lý về gan và ký sinh trùng cũng có thể ảnh hưởng đến sự
phát triển của nám.
Một số bệnh (chẳng hạn như Addision) cần luôn luôn
được theo dõi và đánh giá. Tự miễn dịch tuyến giáp cũng
được xem xét là một yếu tố quan trọng trong sự khởi phát
của nám bởi một số lượng đáng kể phụ nữ mắc bệnh
Hashimoto đã được báo cáo xuất hiện nám trên da và đối
với phụ nữ trong thai kỳ, nêu hình thành nám thì khả năng
cao là đã có hoặc sẽ có dấu hiệu tự miễn dịch tuyến giáp.
Các nguyên nhân khác
- Mỹ phẩm: trước đây, mỹ phẩm thường được làm
từ những nguyên liệu kém tinh khiết và có tính kích ứng,
làm tăng độ nhạy cảm của da với ánh sáng từ đó gây nguy
cơ tăng sắc tố da đáng kể. Các thành phần khác trong mỹ
phẩm được cho rằng góp phần vào sự hình thành nám
bao gồm một số loại acid béo, các tạp chất quang hoạt
trong dầu khoáng, thuốc nhuộm, para-phenylenediamine,
hương liệu nước hoa,...
- Di truyền và chủng tộc: cho đến nay nguyên nhân
này chủ yếu chỉ được đánh giá bởi một số báo cáo không
thường xuyên về tình trạng nám xảy ra trong gia đình.
- Thuốc: nhiều loại thuốc khi được sử dụng có thể gây
nên tình trạng tăng sắc tố da bao gồm các kim loại như ar-
sen, sắt, đồng, bismuth, bạc, vàng, các loại thuốc gây phản
ứng độc tố ánh sáng và thuốc chống động kinh.
203
Page
bookyhoc.com
cáo cao nhất là do tiếp xúc với ánh nắng mặt trời (100%),
tiếp đến là thai kỳ (27%), mỹ phẩm (14%), di truyền (13%)
và sử dụng thuốc tránh thai (6,3%) [112], [113].
Hình 13.3. Nám trung tâm mặt
Hình 13.4. Nám vừng má
Hình 13.5. Nám vùng cạnh hàm
204
Page
bookyhoc.com
13.2.3.
Đặc điểm lâm sàng
Các biểu hiện lâm sàng của nám thường tiến triển nhanh
chóng, đặc biệt là sau tiếp xúc với tia cực tím. Các vùng tổn
thương có màu từ nâu nhạt đến sậm và thường có tính đối
xứng. Ba dạng lâm sàng có thể phân biệt bao gồm:
Nám trung tâm mặt: nám tập trung ở các vùng má, trán,
vùng da trên môi, mũi và cằm. Dạng này chiếm tỷ lệ cao
nhất (khoảng 63% bệnh nhân).
Nám vùng má: sắc tố phân bố ở các vùng má và mũi.
Dạng này xảy ra ở khoảng 21% bệnh nhân.
Nám vùng cạnh hàm: sắc tố tập trung dọc theo vùng da
cạnh hàm, chiếm khoảng 16% tổng số bệnh nhân.
13.2.4.
Tiêu chuẩn chẩn đoán
Mô bệnh học: vể cơ bản, nám được phân thành hai loại
chính:
- Nám biểu bì: vùng tập trung chủ yếu của sắc tố da
melanin là ở các lớp đáy biểu bì, lớp cận đáy (suprabasal)
và đôi khi có thể hiện diện ở lớp sừng.
- Nám trung bì: melanin tập trung ở cả lớp trung bì
nông và trung bì sâu.
Ánh sáng đèn Wood: kỹ thuật này tỏ ra hữu ích
trong việc xác định độ sâu phân bố của sắc tố để dự
đoán khả năng đáp ứng điều trị của bệnh nhân. Nó có
thể giúp phân biệt được bốn loại nám khác nhau: -
Nám biểu bì: sắc tố melanin tập trung ở lớp đáy biểu bì,
lớp cận đáy và có thể ở cả lớp tế bào sừng. Về mặt lâm
sàng, nám có màu nâu nhạt trong điểu kiện ánh sáng tự
nhiên và sẽ biểu hiện đậm hơn khi được soi dưới đèn
wood
205
Page
bookyhoc.com
-
Làm chậm lại sự tăng sinh và phát triển của các tê’
bào sinh sắc tố.
các túi chứa sắc tố (melanosome).
Mục tiêu điều trị:
-
Loại bỏ các sắc tố melanin tồn tại trên da.
- Ức chế sự hình thành đồng thời thúc đẩy sự phá hủy
-
Nám trung bì: melanin tập trung ở lớp trung bì nông
và trung bì sâu. Về mặt lâm sàng, nám có màu nâu sậm
đến xám trong điểu kiện ánh sáng tự nhiên và không biểu
hiện đậm hơn khi được soi dưới đèn Wood.
-
Nám hỗn hợp: sắc tố da melanin hiện diện ở cả lớp
biểu bì và trung bì. Về mặt lâm sàng, nám có màu nâu sậm
trong điều kiện ánh sáng tự nhiên và khi được soi dưới
đèn Wood, nám có thể biểu hiện đậm hơn ở một số vùng
nhất định và không đáp ứng ở những vùng khác.
-
Nám không đáp ứng với ánh sáng đèn Wood: các vết
nám có thể dễ dàng được quan sát thấy trong điều kiện
ánh sáng tự nhiên nhưng lại không cho đáp ứng gì với ánh
sáng đèn Wood. Dạng này thường gặp ở các bệnh nhân có
làn da thuộc Fitzpatrick loại VI với các mảng sắc tố có màu
sắc khá tương đồng với vùng da gần kề và sắc tố da tập
trung chủ yếu ở lớp trung bì [112].
13.2.5.
Điều trị
Việc điều trị nám có ý nghĩa quan trọng bởi tình trạng này
ảnh hưởng khá tiêu cực đến chất lượng cuộc sống, làm
giảm đáng kể sự tự tin trong công việc cũng như trong
giao tiếp hàng ngày.
206
Page
bookyhoc.com
Một số lựa chọn điều trị:
- Chống nắng phổ rộng (SPF từ 30 trở lên kèm theo các
pha-tocopherol).
• Các tác nhân ức chế tổnghợp melanin (acid retinoic,
acid benzoic).
• Các thành phần tẩy da chết (AHA: acid glycolic, BHA:
acid salicylic).
- Thay da hóa học:
• Thay da nông (TCA 15-20%, acid glycolic 50- 70%, acid
salicylic 25%).
• Thay da trung bình (resorcinol, acid pyruvic 50%).
• Thay dakếthợp (acidsalicylic 25% + gelTCA 10%).
- Meso therapy
- Laser [111].
Nhìn chung, nám biểu bì thường cho đáp ứng điều trị
tốt hơn bởi sắc tố chỉ phân bố chủ yếu trên bề mặt.
thành phần chống UVA).
- Các thành phần phần giải sắc tố:
• Các tác nhân ức chế tyrosinase (hydroquinon, acid
azelaic, acid kojic).
• Các chất chống oxy hóa (magie, acid ascorbic, al-
207
Page
bookyhoc.com
- Làm sạch da với các sản phẩm dịu nhẹ.
- Tiêm một lượng vừa đủ hỗn hợp trên vùng da nhỏ (có
thể sử dụng các công thức trong bảng “Một số công
13.2.6.
Điều trị với mesotherapy
Cấu trúc làn da người gồm ba lớp chính là biểu bì, trung
Quy trình gợi ý (có thể điện di, lăn kim hay tiêm trong
da):
- Thực hiện tẩy da chết trên vùng da cần điều trị để loại
bỏ lớp tế bào sừng và làm tăng tính thấm của da.
bì và hạ bì, trong đó biểu bì là lớp ngoài cùng đóng vai trò
hàng rào bảo vệ làn da trước các tác nhân bất lợi từ môi
trường cũng như ngăn ngừa sự mất nước giúp duy trì trạng
thái sinh lý bình thường của da. Dù vậy, trung bì mới là lớp
cấu trúc đóng vai trò quyết định đối với sức khỏe làn da
và do vậy nó là mục tiêu tác động của hầu hết các loại mỹ
phẩm. Tuy nhiên, tỷ lệ vượt qua được biểu bì để đến trung
bì của hoạt chất với cách thức thoa ngoài da đơn thuần
thường rất thấp. Để giải quyết vấn đề này, mesotherapy đã
ra đời trở thành liệu pháp được sử dụng rộng rãi trên thế
giới. Các hoạt chất sẽ được vận chuyển vượt qua hàng rào
biểu bì và đưa trực tiếp vào các lớp da mục tiêu thông qua
các đầu kim nhỏ một cách hiệu quả, giúp sinh khả dụng
của chúng tại vùng điều trị gần như ở mức tối ưu. Khi được
ứng dụng trong điểu trị nám kết hợp với các công thức
hoạt chất làm trắng hữu hiệu, mesotherapy sẽ giúp mang
lại kết quả cải thiện đáng kể sau chuỗi 6-8 quy trình điều trị
(mỗi quy trình cách nhau khoảng 2-3 tuần).
208
Page
bookyhoc.com
- Lau sạch lượng sản phẩm thừa khi kết thúc quy trình.
- Thoa kem dưỡng.
- Ghi chú lại hỗn hợp sử dụng, vùng da điều trị và các
thức pha trộn gợi ý” bên dưới), đợi đến khi hấp thu
hoàn toàn rổi tiếp tục với những vùng khác. Nên tuân thủ
thời gian quy định bởi nhà cung cấp thiết bị. Nếu cần gel
dẫn thì có thể pha trộn gel với hỗn hợp hoặc thoa gel lên
da trước khi dùng thiết bị.
yếu tố khác vào hồ sơ trị liệu của bệnh nhân.
- Thông tin cho bệnh nhân các vấn đề liên quan có ảnh
hưởng đến kết quả điều trị như chế độ dinh dưỡng, sinh
hoạt, các thói quen xấu, sự tiếp xúc với ánh nắng mặt trời
cũng như xây dựng chế độ sử dụng các sản phẩm dưỡng
tại nhà phù hợp với tình trạng da của bệnh nhân.
209
Page
bookyhoc.com
210
Page
bookyhoc.com
14.1.
CƠ SỞ KHOA HỌC
Mụn là một tình trạng bệnh lý phức tạp với sự đóng góp
Quá sản tuyến nhờn
Chất nhờn được tổng hợp liên tục bởi tuyến nhờn và
Chương 14
Hurt
của nhiều nhân tố trong quá trình phát sinh bệnh như quá
trình keratin hóa lớp biểu bì, nội tiết tố androgen, hoạt
động tuyến bã nhờn, vi khuẩn, viêm nhiễm, phản ứng quá
mẫn của hệ miễn dịch,... [6]
14.1.1.
Sinh lý bệnh
bài tiết trên bề mặt da mặt. Quá trình tiết được điều hòa
bởi hormon. Mật độ tuyến nhờn nhiều nhăt ở vùng mặt,
vai và lưng, tuyến nhờn thường hoạt động mạnh vào giai
đoạn tuổi dậy thì do sự gia tăng nồng độ hormon andro-
gen trong giai đoạn này. Sự mất cân bằng giữa quá trình
sản sinh chất nhờn và năng lực bài tiết chất nhờn qua lỗ
chân lông dẫn đến bít tắc lỗ chân lông, theo sau là phản
ứng viêm và phát sinh mụn.
211
Page
bookyhoc.com
Hình 14.1. Cấu trúc tuyến bá nhờn
Sự thay đổi quá trình keratin hóa ở nang lông
Quá trình keratin hóa tại nang lông diễn ra tương tự
mụn chính. Sự tích tụ bã nhờn và các tế bào sừng dẫn đến
sự gia tăng mật độ p.acnes. Tuy nhiên, p.acne không là
nguyên nhân trực tiếp dẫn đến phản ứng viêm mà là do
các acid béo tự
Ảnh hưởng của vi khuẩn
p. acne được xem là một trong những nguyên nhân gây
như quá trình keratin hóa ở bể mặt da. Những tê bào ker-
atin trưởng thành tích tụ quá nhiều tại nang lông sẽ hình
thành nên các nhân mụn đầu đen hoặc đầu trắng. Lỗ chân
lông bít tắc tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển
và gây viêm nhiễm tại chỗ. Tế bào miễn dịch nhận biết sự
hiện diện của vi khuẩn và gây nên các triệu chứng sưng đỏ,
mụn mủ, viêm nhiễm. Bên cạnh đó, phản ứng viêm còn
được khởi phát bởi các chất chuyển hóa từ vi khuẩn khu
trú tại tuyến bã nhờn.
212
Page
bookyhoc.com
Hình 14.2. Cơ chế phát sinh mụn
14.1.2. Phân
loại
bệnh
lý
mụn
Mụn sơ sinh
do hình thành từ quá trình phân hủy triglycerid trong
tuyến bã nhờn dưới tác dụng của enzym lipase của vi khu-
ẩn kích thích cơ chế gây viêm của các tế bào miễn dịch
dưới da [28].
Mụn sơ sinh xảy ra ở 20% trẻ sơ sinh và có liên quan đến
mụn trứng cá ở những trẻ này khi đến tuổi dậy thì. Mụn sơ
sinh thường xuất hiện trên trán, mũi, má. Tình trạng mụn
sơ sinh không rõ lý do nhưng sẽ tự khỏi sau khoảng 1-3
tháng mà không cần điều trị.
213
Page
bookyhoc.com
Mụn trứng cá
Mụn trứng cá thường phát sinh trong tuổi dậy thì do
Mụn ở người trưởng thành
Mụn có thể tiếp diễn sau tuổi dậy thì vào giai đoạn
trưởng thành. Phụ nữ bị mụn dai dẳng thường do tuyến
nhờn tăng hoạt động hơn so với người bình thường hoặc
do thói quen hút thuốc lá.
Mụn trứng cá kết tụ (Acne Conglobata)
Mụn trứng cá kết tụ có sự hiện diện của những nang áp
xe, viêm quanh nang lông, u đa nang. Những tổn thương
chủ yếu xuất hiện ở vùng mặt, cổ, ngực, vai và thường gây
biến dạng mô da hoặc gây ra sẹo lồi. Những tổn thương bị
bội nhiễm do vi khuẩn gram dương thường để lại sẹo nhất.
Mụn mủ (Acne Inversa)
Mụn mủ là một tình trạng viêm nhiễm mạn tính, thường
tái phát với những đợt tái phát xoang tại những nếp da có
chứa nang lông và tuyến nội tiết. Mụn mủ cân được phân
biệt với mụn nhọt, mủ da, lao da, bệnh Crohn, viêm nhiễm
do Actinomyces.
nặng thường gặp ở những nam thanh niên da trắng trong
sự tăng tiết hormon androgen, dẫn đến tăng sản sinh chất
nhờn và phì đại tuyến nhờn. Mụn trứng cá sẽ thuyên giảm
khi bệnh nhân bước vào tuổi 30. Tuy nhiên, bệnh nhân
phải chịu đựng những hậu quả về sẹo mụn.
Mụn trứng cá tối cấp (Acne Fulminans)
Mụn trứng cá tối cấp là dạng mụn trứng cá nang thể
214
Page
bookyhoc.com
Mụn do mỹ phẩm
Mụn do mỹ phẩm có nguyên nhân từ việc sử dụng các
loại mỹ phẩm có chứa thành phần tạo nên nhân mụn như
lanolin, dầu thực vật, butyl stearate, lauryl alcohol, acid
oleic. Tình trạng mụn sẽ thuyên giảm khi ngưng sử dụng
mỹ phẩm [152].
14.2.
ĐIỀU TRỊ
Retinoid đường thoa
Retinoid bao gồm vitamin A, các hoạt chất tổng hợp và
dẫn chất từ vitamin A có thể gắn kết với receptor của ret
inoid và phát huy tác dụng. Retinoid có tác dụng cải thiện
tình trạng mụn trứng cá, ức chế sự hình thành nhân mụn,
giảm viêm. Bình thường hóa quá trình phát triển và bong
tróc các tế bào sừng.
Các hoạt chất kháng khuẩn
Benzoyl peroxid khi được thoa lên da sẽ phân hủy thành
tuổi dậy thì. Những rối loạn về huyết học và cơ xương khớp
phương diện da liễu. Tình trạng được biểu hiện bởi những
vết loét và có liên quan đến những biến chứng toàn thân.
thường đi kèm với loại mụn này và bệnh nhân còn được
chăm sóc tổng thể hơn trước khi chăm sóc đơn thuần về
acid benzoic và hydrogen peroxid. Chính hydrogen perox-
id sẽ oxy hóa vi khuẩn và làm giảm mật độ sinh sản của vi
khuẩn. Nồng độ benzoyl peroxid thường được ứng dụng
trong điều trị phổ biến ở mức 2,5%, 5%, 10%. Ở nồng độ
càng thấp, benzoyl peroxyd càng ít nguy cơ gây kích ứng
cho da.
215
Page
bookyhoc.com
Nicotinamid 4% dạng gel, mỗi ngày thoa 2 lần có tác
dụng kháng viêm.
Điều trị hệ thống
Kháng sinh đường uống thường được chỉ định đối với
Kháng sinh
Liều
Tác dụng phụ
Oxytetracylin
500 mg/ngày
2 lẩn
Bong tróc móng, nhạy cảm với ánh
sáng, tăng áp lực nội sọ
Minocylin
100-200 mg/
ngày
Đau đầu, chóng mặt, thay đổi sắc
tố da, viêm gan tự miên, hội chứng
tương tự lupus ban đỏ.
Doxycydin
100-200 mg/
ngày
Nhạy cảm với ánh sáng
Lỵmecyclin
300-600 mg/
ngàỵ
Nhạy cảm với ánh sáng nhưng nhẹ
hơn so với Doxycyclin
Erythromycin
500 mg/ngày
2 lần
Nôn ói, tiêu chảy
Trimethoprim
200-300 mg/
ngày 2 lẩn
Độc cho chức năng gan thận
Các liệu trình điều trị bằng kháng sinh đường thoa có
chứa clindamycin và erythromycin không nên sử dụng đơn
trị liệu vì thời gian cẳn thiết để có hiệu quả thường kéo dài
và các loại kháng sinh này đều có nguy cơ đề kháng kháng
sinh cao.
những phụ nữ có tình trạng mụn dai dẳng ví dụ như tetra-
cyclin. Kháng sinh đường uống làm giảm mật độ p.acnes
và Staphylococcus epidermidis, đồng thời kháng sinh này
có hoạt tính kháng viêm.
Các kháng sinh được sử dụng trong điều trị mụn phổ
biến
216
Page
bookyhoc.com
Thuốc kháng androgen
Cyproteron
Cyproteron có hoạt tính kháng androgen do cùng gắn
vào receptor androgen trong cơ thể, được chỉ định cho
tình trạng mụn không đáp ứng với kháng sinh đường uống
và có biểu hiện rậm lông từ nhẹ đến trung bình. Liều khu
yến cáo 50-100mg/ngày.
spironolacton
spironolacton có hoạt tính kháng androgen và ức chê’
enzym 5-alpha-reductase. Với liều lượng 50-100mg/ngày
2 lần, spironolacton làm giảm sản xuất chất nhờn và cải
thiện tình trạng mụn.
Flutamid
Flutamid ức chế androgen do gắn vào receptor andro
Các hoạt chất được sử dụng trong phương pháp me
sotherapy để điều trị mụn
gen, được chỉ định trong bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Liều
khuyên cáo 250mg/ngày 2 lần. Bệnh nhân không nên sử
dụng quá 500mg/ngày do tác dụng phụ độc trên gan của
thuóc [138].
14.3.
ĐIỀU TRỊ MỤN BẰNG MESOTHERAPY
217
Page
bookyhoc.com
Vitamin A
Có khả năng đối kháng với các nguyên nhân
gây mụn như quá sản tuyến bã nhờn,
keratin hóa quá mức tại nang lông, gia tăng
mật độ vi khuẩn p.acne và giảm viêm.
Vitamin c
Có hoạt tính chống oxy hóa, bảo vệ da trước
tác động của bức xạ mặt trời và có hoạt tính
kháng viêm do giảm hoạt tính của yếu tố
phiên mã NF-K0 (nuclear factor kappa beta),
yếu tố có liên quan đến các cytokin tiền
viêm như yếu tố hoại tử khối u TNF -a
(tumor necrosis factor alpha) và các inter
leukin 11-1,11-6,11-8 [154].
Acid glycolic
Có khả năng ly giải lớp keratin tích tụ quá
mức tại biểu bì bằng cách ngăn cản sự hình
thành các liên kết ion cẩn thiết cho hoạt
tính các enzym tham gia vào quá trình sulfat
và phospharylat hóa các hợp chất
mucopolysaccharid, glycoprotein, sterol và
lipid phosphatide, dẫn đến việc giảm hình
thành nhóm chức tích điện âm ở lớp sừng
của biểu bì, giảm bớt lực gắn kết giữa các tế
bào sừng tại biểu bì, nang lòng, ức chê quá
trình hình thành nhân mụn, giảm mụn viêm,
mụn mủ [142],
Biotin
Là thành phần cấu tạo nên các enzym
carboxylase và biệt hóa biểu bì. Sự thiếu hụt
biotin có liên quan đến rối loạn chức năng
miễn dịch của da [136],
Dexpan- thenol
Là thành phẩn cấu tạo nên coenzym A, cẩn
thiết cho quá trình tổng hợp các acid béo và
spingolipid, đảm bảo hoạt động chức năng
bình thường của lớp biểu bì, dưỡng ẩm cho
da nhờ khả năng cải thiện sự giữ nước của
lớp sừng, giảm mất nước xuyên biểu bì,
duy trì độ mềm mại cho da, đặc biệt có khả
năng làm lành vết thương và giảm đỏ [98],
218
Page
bookyhoc.com
Các phương pháp pha chế mẫu:
Thành phẩn
Thể
tích
Công dụng
Dexpanthe
nol 20%
5 ml
Cung cấp độ ẩm, tăng hydrate
hóa lớp sừng.
Acid glycolic
1%
2 ml
Ngăn ngừa tích tụ tế bào chết,
tăng ly giải lớp sừng.
Dexpanthe
nol 20%
2,5 ml
Cung cấp độ ẩm, tăng hydrate
hóa lớp sừng.
Acid glycolic
1%
2 ml
Ngăn ngừa tích tụ tế bào chết,
tăng ly giải lớp sừng.
Vitamin A
100000 u.l
(Retinol)
2 ml
Ngăn ngừa bít tắc bể mặt da,
bình thường hóa quá trình sinh
sừng, chống oxy hóa cho da.
Dexpanthe
nol20%
5 ml
Cung cấp độ ẩm, tăng hydrate
hóa lớp sừng.
Acid glycolic
1%
2 ml
Ngăn ngừa tích tụ tế bào chết,
tăng ly giải lớp sừng.
Biotin
2 ml
Kích thích tăng trưởng tê bào
mới.
Dexpanthe
nol 20%
5 ml
Cung cấp độ ẩm, tăng hydrate
hóa lớp sừng.
Acid glycolic
1%
2 ml
Ngăn ngừa tích tụ tế bào chết,
tăng ly giải lớp sừng.
Vitamin c
20%
5 ml
Chống oxỵ hóa, tái tạo da, tăng
cường tổng hợp collagen.
Dexpanthe
nol 20%
3 ml
Cung cấp độ ẩm, tăng hydrate
hóa lớp sừng.
Biotin
2 ml
Kích thích tăng trưởng tế bào
mới.
DNA dạng
gel
2 ml
Hỗ trợ phục hồi tế bào da mới.
Hỗn hợp
acid hyal
uronic, silic
hữu cơ, DNA
3 ml
Cung cấp độ ẩm và hỗ trợ thành
phẩn cấu trúc cho da.
Acid glycolic
1%
2 ml
Ngăn ngừa tích tụ tế bào chết,
tăng ly giải lớp sừng.
Công
thức
Công
thức 1
Công
thức 2
Công
thức 3
Công
thức 4
Công
thức 5
Công
thức 6
219
Page
bookyhoc.com
Vitamin A
100000
u.l
2 ml
Ngăn ngừa bít tắc bể mặt da,
bình thường hóa quá trình
sinh sừng, chống oxy hóa cho
da.
Hỗn hợp acid
hyaluronic, silic
hữu cơ, DNA
3 ml
Cung cấp độ ẩm và hỗ trợ
thành phẩn câu trúc cho da.
Dexpanthenol
20%
2 ml
Cung cấp độ ẩm, tăng hydrate
hóa lớp sừng.
Acid glycolic
1%
2 ml
Ngăn ngừa tích tụ tê bào chết,
tăng ly giải lớp sừng.
Hỗn hợp col
lagen, elastin,
ubiquinone
5 ml
Tăng cường mô liên kết cho
da.
Acid glycolic
1%
2 ml
Ngăn ngừa tích tụ tế bào chết,
tăng lỵ giải lớp sừng.
Vitamin A
100000 u.l
2 ml
Ngăn ngừa bít tắc bề mặt da,
bình thường hóa quá trình
sinh sừng, chống oxy hóa cho
da.
Hỗn hợp acid
hyaluronic, silic
hữu cơ, DNA
2 ml
Cung cấp độ ẩm và hỗ trợ
thành phẩn cấu trúc cho da.
Hỗn hợp col
lagen, elastin,
ubiquinone
5 ml
Tăng cường mô liên kết cho
da.
Đa vitamin
(polyvitamins)
2 ml
Hỗ trợ dinh dưỡng và cấu trúc
làn da.
Hỗn hợp vita
min và khoáng
chất nuôi
dưỡng da
3 ml
Cung cấp độ ẩm và hỗ trợ
thành phẩn cấu trúc cho da.
Acid glycolic
1%
2 ml
Ngăn ngừa tích tụ tế bào chết,
tăng lỵ giải lớp sừng.
Dexpanthenol
20%
2 ml
Cung cấp độ ẩm, tăng hydrate
hóa lớp sừng.
công thức
7
công thức
8
công thức
9
công thức
10
220
Page
bookyhoc.com
14.4.
ĐIỀU TRỊ SẸO MỤN BANG MESOTHERAPY
Đối với các nang và nốt mụn viêm dai dẳng để lại sẹo
lồi cho bệnh nhân có thể được điểu trị với phương pháp
mesotherapy. Bác sĩ sử dụng kim tiêm 30G tiêm trực tiếp
l-2ml triamcinolon acetonid vào tổn thương. Một lần tiêm
cho một tổn thương và được lặp lại mỗi 3 tuần. Bác sĩ
không nên tiêm quá 20mg corticoid cho mỗi lần tiêm để
tránh ảnh hưởng đến chức năng tuyến thượng thận. Nồng
độ triamcinolon acetonid không được vượt quá 5mg/ml
do nguy cơ teo da nhưng vẫn chưa có những nghiên cứu
đưa ra số liệu về ngưỡng dưới có hiệu quả cho phương
pháp này. Tuy nhiên, các báo cáo khuyến cáo rằng nồng độ
không nên dưới 0,63 mg/ml [123].
221
Page
bookyhoc.com
Chương 15
Trẻ Hóa Da
15.1.
CHẢY XỆ
15.1.1.
Cơ sở khoa học
Tình trạng da chảy xệ hay lỏng lẻo được gây ra do một
số yếu tố:
- Sự giảm các tế bào mỡ dưới da (mô dưới da).
Tình trạng chảy xệ hay lỏng lẻo da là một vấn đề thẩm
mỹ xuất hiện từ độ tuổi 35-40. Đây là một rối loạn da xảy
ra cùng với quá trình lão hóa tự nhiên hoặc lão hóa nhanh
có liên quan về mặt cấu trúc với sự giảm sản sinh collagen.
Số lượng và khả năng tổn tại của các nguyên bào sợi giảm
dần, cả lớp trung bì và vách xơ bị mất đi một phần khả
năng tự thay thế chính nó. Những biến đổi hình thái xuất
hiện là do kết quả của quá trình sinh tổng hợp collagen và
elastin bị suy giảm cùng với những bất thường của môi
trường ngoại bào và nồng độ acid hyaluronic suy giảm.
222
Page
bookyhoc.com
- Mất các sợi collagen hoặc elastin ở lớp trung bì làm
giảm độ bền và độ đàn hồi của da.
- Do trọng lực khiến các mô lỏng lẻo bị chảy xệ xuống
[39], [43].
15.1.2.
Điều trị
Theo truyền thống, hầu hết các phương pháp không
phẫu thuật tập trung vào nguyên nhân gây phá hủy lớp
biểu bì và gây tổn thương trung bì, dẫn đến tổ chức lại
collagen và làm săn chắc da thứ cấp, cải thiện nếp nhăn.
Những phương pháp này gồm có kỹ thuật siêu mài mòn,
thay da hóa học và gần đây là laser carbon dioxide (co ) và
erbium-doped yttrium aluminum garnet (Er:YAG). Trong
nhiều năm qua, tái tạo bề mặt bằng laser xâm lấn được
coi là tiêu chuẩn vàng để cải thiện các đặc điểm lâm sàng
của lão hóa, thường đề cập đến điều trị với laser CO2 (lO.
óOOnm), hoạt động bằng cách làm bay hơi lớp biểu bì và
các phần của lớp trung bì nhú, dẫn đến sự hình thành col-
lagen mới. Những laser xâm lăn này cải thiện các nếp nhăn
mịn cũng như rối loạn sắc tố tổng thể, làm sáng quầng
thâm mắt và nhìn chung là cải thiện cấu trúc của da. Tuy
nhiên, tất cả các phương pháp xâm lấn thường dẫn đến
các biến chứng sau điểu trị như rỉ dịch, chảy máu, nhiễm
trùng và thời gian hồi phục kéo dài do da cần thời gian để
tái tạo lại biểu mô. Biến chứng phổ biến của các phương
pháp xâm lấn là các biên đổi sắc tố không mong muốn sau
viêm và có thể để lại sẹo.
Đối với nhiều bệnh nhân không muốn thực hiện các quy
trình phẫu thuật, giảm bớt lo lắng hay không muốn mất
thời gian hồi phục có thể tiếp cận với một phương
223
Page
bookyhoc.com
Quy trình chung
Sau khi làm sạch da bằng dung dịch sát trùng, bắt đầu
Mesotherapy là một phương pháp xâm lẩn tối thiểu
được sử dụng trong điều trị vùng da chảy xệ, giúp da phục
hồi và tái tạo, săn chắc, mịn màng hơn. Đây là phương
pháp làm căng bóng da và nâng cơ thay thế cho phẫu thuật
rất hiệu quả và an toàn. Tác động của mesotherapy hoàn
toàn tự nhiên, không tốn nhiều thời gian, ít tác dụng phụ
và sau liệu trình điều trị bệnh nhân vẫn có thể làm việc,
sinh hoạt bình thường mà không cần nghỉ dưỡng hay chịu
những đau đớn của phẫu thuật [30], [39].
15.1.3.
Điều trị chảy xệ bằng mesotherapy
thực hiện thao tác đưa sản phẩm vào vùng điểu trị và mát-
xa nhẹ nhàng (tương tự như sau khi tiêm chất làm đầy).
Dung dịch nước muỗi sinh lý và kem dưỡng ẩm có thể cũng
được sử dụng tại vùng điều trị với thao tác mát-xa nhẹ
pháp làm đầy thể tích bằng cách tiêm chất làm đầy vào
những vùng da mặt lỏng lẻo, chảy xệ. Phương pháp này
hữu ích ở vùng má, hàm và vùng mũi má hay hiệu quả ở
một mức độ nhất định đối với vùng mày và mí mắt trên.
Vùng cổ thường không hiệu quả khi sử dụng các chất làm
đầy để giảm tình trạng này. Đối với lão hóa vùng mặt sớm,
các chất tiêm làm đầy đem lại hiệu quả tổt. Đỗi với những
bệnh nhân có tình trạng lỏng lẻo da ở mức độ trung bình
hoặc nặng thì các chất làm đầy không là một lựa chọn tốt
bởi vì lượng thể tích cần dùng đòi hỏi chi phí rất cao và
không đem lại tính thẩm mỹ mong muốn cho bệnh nhân.
224
Page
bookyhoc.com
trong giai đoạn kinh nguyệt.
- Không cho bệnh nhân uống aspirin hoặc thuốc giảm
đau, kháng viêm NSAID khoảng 1 vài ngày trước hoặc sau
liệu trình.
- Tiêm sản phẩm từ từ, tránh áp lực cao làm vỡ thành
mạch.
- Sử dụng kháng sinh dạng kem sau mỗi quy trình.
Để tránh đau đớn ở những bệnh nhân nhạy cảm:
- Giữ cho da căng trong suốt quá trình thực hiện thao
kem tê 1 giờ trước điều trị.
Một số lưu ý
Để tránh tụ máu/xuất huyết:
- Không thực hiện mesotherapy khi bệnh nhân đang
nhàng. Quy trình thực hiện thường mất khoảng 20 phút
nhưng có thể thay đổi tùy thuộc vào vùng điều trị. Tránh
tiếp xúc với ánh nắng mặt trời và hút thuốc trong vòng 48
giờ sau điều trị. Quy trình này không cần chờ thời gian hồi
phục, bệnh nhân có thể hoạt động trở lại bình thường.
Tình trạng đỏ da nhẹ, cảm giác ngứa/nóng rát nhẹ 5 phút
sau khi đưa sản phẩm vào và các vết tụ máu nhỏ đôi khi có
thể xuất hiện. Các lần điều trị nên được tiến hành 2 tuần/
lần trong vòng 3-4 tuần, sau đó 1 tháng/lần trong vòng 3-4
tháng. Với acid hyaluronic liên kết chéo, những lần điều trị
nên được thực hiện 1 tháng/ lần trong vòng 3-4 tháng, sau
đó 2-3 tháng/lần.
tác đưa sản phẩm vào vùng điều trị.
- Thực hiện thao tác một cách chính xác.
- chọn các sản phẩm có chứa lidocain hoặc sử dụng
225
Page
bookyhoc.com
- Nói chuyện với bệnh nhân trong suốt quá trình điều
trị.
da săn chắc hơn, sáng hơn và được dưỡng ẩm tốt hơn.
Thông thường cần 2-3 lần điều trị để thấy được những kết
quả này, mặc dù hiện tượng da sáng lên có thể thấy sau lần
đầu tiên do sự kích thích mạch máu khi tiêm. Số lần điều trị
thay đổi giữa các bệnh nhân và phụ thuộc vào vùng được
điều trị và mong muốn của bệnh nhân. Việc duy trì các kết
quả có liên quan đến lối sống của bệnh nhân. Thực hiện
mesotherapy trên da của người trẻ chắc chắn sẽ khác biệt
khi thực hiện trên da lão hóa. Điều quan trọng cần lưu ý
là mesotherapy không phải là kỹ thuật làm đầy nhưng cho
phép trẻ hóa da bằng cách gia tăng sự hydrat hóa và xây
dựng lại môi trường sinh lý tối ưu cho các nguyên bào sợi.
Mesotherapy cải thiện làn da tổng thể, các chất làm đầy và
độc tố botulinum chỉ cải thiện cục bộ ở vùng được tiêm.
Mesotherapy là một sự bổ sung tuyệt vời cho các quy trình
trẻ hóa không phẫu thuật khác, đặc biệt nêu được thực
hiện 1-2 tháng trước để chuẩn bị da giúp đáp ứng tốt hơn
với những phương pháp điểu trị khác. Sau điều trị meso-
therapy, da đã được làm ẩm hơn, khi đó bệnh nhân cần
những quy trình ít xâm lần hơn bình thường, đồng thời
các chất làm đầy và độc tố botulinum được sử dụng cũng
sẽ có tác dụng kéo dài hơn.
Kết quả
Sau quy trình điều trị bằng phương pháp mesotherapy,
226
Page
bookyhoc.com
Hình 15.3. Sự thay đổi trước (trái) và sau (phải) ngay sau lần
đẩu tiên điều tri cháy xệ vừng má, câm và cổ.
227
Page
bookyhoc.com
Lưu ý:
- Khoảng cách liệu trình phụ thuộc vào phương pháp
ứng dụng.
- Lượng sản phẩm/vùng điều trị: da mặt: 5-7ml, cổ và
- Thiết bị/kỹ thuật: điện di, liệu pháp ion, siêu âm, liệu
pháp nhiệt, liệu pháp hút chân không, sử dụng dòng điện
một chiểu, sóng tần radio, lăn kim, súng tiêm, kim tiêm,...
[16]
15.2.
NẾP NHĂN
15.2.1.
Cơ sở khoa học
15.2.1.1. Mô bệnh học
Mất collagen
Collagen bất thường và giảm collagen là nguyên nhân
ngực: 5-10ml, bàn tay: 3ml, lượng sản phẩm có thể thay
đổi tùy theo vùng điều trị và thiết bị máy móc được sử
dụng.
Mô bệnh học của các nếp nhăn là kết quả của nhiều
nguyên nhân phức tạp. Sự mỏng đi của lớp biểu bì là một
đặc điểm đáng chú ý, tại đây có tình trạng teo thấy rõ ở
những vị trí sâu nhất của nếp nhăn. Những thay đổi khác
gồm có tình trạng phẳng đi của lớp DEJ (Dermal Epidermal
Junction) - lớp nằm giữa biểu bì và trung bì, tình trạng teo
mô mỡ dưới da cũng như tình trạng mất collagen, các gly-
cosaminoglycan và mô elastin.
chính gây ra các nếp nhăn, cả ở da tiếp xúc và không tiếp
xúc với ánh nắng mặt trời. Quá trình thay đổi collagen ở
da nhăn có thể được giải thích theo nhiều quan điểm khác
nhau. Sự tổng hợp collagen bị suy giảm ở da lão hóa cùng
với nồng độ cao các enzym
228
Page
bookyhoc.com
matrix metalloproteinase (MMPs) - là các enzym góp
phần vào việc phân hủy collagen đồng thời ức chế sự tổng
hợp hình thành collagen mới, làm cho sự suy thoái colla-
gen cũng bị gia tăng khi bước vào giai đoạn lão hóa. Một
nguyên nhân khác giải thích cho tình trạng collagen bất
thường trong quá trình lão hóa làn da là phản ứng đường
hóa collagen (glycation). Phản ứng này là một quá trình
không có sự tham gia của enzym, liên quan đến việc bổ
sung phân tử đường khử vào các protein và collagen cấu
trúc nền ngoại bào. Sau phản ứng oxy hóa, sản phẩm cuối
cùng của collagen và các protein đã được glycat hóa gọi là
các AGE (Advanced Glycation End products - các sản phẩm
đã được đường hóa) được tạo thành. Các phân tử AGE
sau đó được lắng đọng ở các mô collagen và elastin, làm
cho các mô này bị xơ cứng và ít nhạy cảm với sự co cứng
và sự tái tạo lại. Các phân tử AGE có thể tương tác với một
số thụ thể để tạo ra tín hiệu nội bào dẫn đến tăng cường
sự oxy hóa và sinh ra các cytokin gây viêm quan trọng. Kết
quả là các gốc tự do và các cytokin sinh ra dẫn đến phá hủy
collagen. Decorin là một SLRP (small leucine rich proteo-
glycan¬proteoglycan có lõi là leucin) được tìm thấy trong
protein cấu trúc nền ngoại bào, có hình “móng ngựa” và
giữ cho các sợi collagen trong tình trạng sắp xếp hợp lý.
Do các đoạn decorin ở da của người lớn tuổi nhiều hơn
người trẻ, đồng thời các đoạn decorin lại có ái lực thấp
với các sợi collagen nên sự phá vỡ decorin thành các đoạn
decorin là nguyên nhân chính trong việc phá hủy tổ chức
của mạng lưới collagen ở da bị lão hóa.
229
Page
bookyhoc.com
Sự thoái hóa elastin
Da nhăn có tính đàn hồi bị suy giảm do mô elastin bất
nhăn và có thể có hoặc không có các nếp gấp dư thừa.
thường. Khi tiếp xúc với tia uv, số lượng elastase - enzym
chịu trách nhiệm làm thoái hóa elastin gia tăng và dẫn tới
tình trạng phá hủy elastin - một dấu hiệu của da bị lão hóa
quang hóa. Tuy nhiên, các nghiên cứu đã chứng minh rằng
da lão hóa không tiếp xúc với tia UV cũng cho thấy hiện
tượng giảm mô elastin [29].
15.2.1.2. Phân loại - nhận dạng
phải và số lượng các đường nhăn vừa phải.
- Tình trạng phân hủy elastin vừa phải.
Loại III (thang điểm 7-9):
- Các nếp nhăn mịn đến các nếp nhăn sâu, nhiều đường
Fitzpatrick đã để xuầt một phân loại nếp nhăn quanh
miệng và quanh mắt để sử dụng trong việc chứng minh tác
động tái tạo bề mặt da của laser. Phân loại của Fitzpatrick
chia làm ba nhóm hướng đến tình trạng nhăn nói chung
và sự phá hủy mô elastin hơn là độ sâu nếp nhăn cụ thể.
Glogau cũng đã đề xuất một phân loại khác bao gồm loại
I (không có nếp nhăn), loại II (các nếp nhăn động), loại III
(các nếp nhăn tĩnh) và loại IV.
Thang điểm phân loại nếp nhăn theo Fiizpatrick
Loại I (thang điểm 1-3):
- Các nếp nhăn mịn.
- Tình trạng phân hủy elastin nhẹ.
Loại II (thang điểm 4-6):
- Các nếp nhăn mịn đến các nếp nhăn có độ sâu vừa
230
Page
bookyhoc.com
- Tình trạng phân hủy elastin nặng.
Các nếp nhăn bề mặt có liên quan tới những thay đổi
cấu trúc của bể mặt da do lão hóa nội tại và lão hóa quang
hóa. Những đường nhăn mịn có thể nằm rời rạc và sau đó
theo thời gian nằm tập trung lại và tỏa ra nhiều hướng.
Các nếp nhăn động thường được gọi là các đường (dày
một phần) hoặc các rãnh (dày toàn bộ) là do các tác động
rõ rệt của sự gấp nếp sâu trong da gây ra do sự cử động và
biểu hiện vùng mặt lặp đi lặp lại kết hợp với sự phá hủy mô
elastin. Do đó, chúng có xu hướng vuông góc với hướng
của các cơ mặt nằm bên dưới da. chúng xảy ra cùng với
quá trình lão hóa tạo ra các rãnh nhăn giữa hai chân mày
(glabellar line), đường ngang ở trán (forehead line), các
nếp gấp mũi má (nasolabial fold), các đường tia quanh môi
(radial lip lines), các đường kéo dài từ góc mép xuống cằm
(marionette lines) và các đường nhăn ở các góc miệng.
Các rãnh nhăn giữa hai chân mày xuất hiện là do cau
mày thường xuyên và các đường nhăn quanh mắt hay các
nếp gấp mũi má là do cười. Các đường tia quanh môi và
các đường kéo dài từ góc mép xuống cằm gây ra do sự
chuyển động đồng thời của các cơ trong suốt quá trình
nhai.
Các nếp gấp là kết quả của sự chồng chéo da lên nhau
do tình trạng lỏng lẻo di truyển, lão hóa nội tại, mất trương
lực, teo xương, trọng lực và chảy xệ. Chúng tồn tại dưới
dạng các nếp gấp mi trên và mi dưới ở bệnh sụp mi mắt,
đồng thời là các nếp gấp mũi má ở da chảy xệ
231
Page
bookyhoc.com
vùng giữa mặt và là các nếp gấp ngang ở cổ, ở da lỏng lẻo
[2].
Hình 15.4. Các nếp nhân ở vùng trán, khoảng giữa hai
chân mày và vết chân chim quanh mắt.
Hình 15.5. Các nếp nhăn quanh vùng miệng
232
Page
bookyhoc.com
15.2.2.
Điều trị
Bệnh nhân phải hiểu rằng việc ngăn chặn hình thành
thêm nếp nhăn là bước quan trọng để kiểm soát da nhăn.
Các tác động của một số hành vi như tiếp xúc với nắng quá
mức và hút thuốc cần được đề cập đến và đưa ra kế hoạch
điều trị với những kết quả dự kiến trước một cách chi tiết
để bệnh nhân hiểu rõ. Bệnh nhân cần biết rằng kem chống
nắng và tránh nắng là các yếu tố quan trọng trong việc
ngăn ngừa lão hóa ngoại sinh. Mặc dù UVA liên quan tới
lão hóa da nhiều hơn nhưng việc bảo vệ da đối với cả UVA
và UVB được kiến nghị khi lựa chọn kem chống nắng. Phác
đồ chăm sóc da có chứa retinoid cũng có giá trị trong việc
ngăn chặn và điều trị lão hóa da. Các retinoid dạng bôi
đã được chứng minh là làm gia tăng tổng hợp collagen
và giảm MMPs có liên quan đến quá trình thoái giáng col-
lagen và elastin. Vì stress oxy hóa hình thành do bức xạ
uv và các gốc tự do có liên quan đến lão hóa da nên các
chất chống oxy hóa có một vai trò quan trọng trong việc
ngăn chặn và điều trị nếp nhăn. Trong số các chất chống
oxy hóa, vitamin c (acid ascorbic) được chú ý đặc biệt, nó
có vai trò trong con đường tổng hợp collagen thông qua
enzym prolyl hydroxylase. Các nghiên cứu cho thấy có sự
giảm các nếp nhăn sau khi sử dụng vitamin dạng dùng
ngoài da, tương ứng với sự gia tăng lượng collagen trên
mô học ở những vùng điều trị. Những chất chống oxy hóa
khác như coenzym Q10 (ubiquinon), trà xanh và vitamin E
cũng được cho là có giá trị trong việc ngăn chặn và điều trị
lão hóa. Gần đây, phương pháp trẻ hóa da bằng ánh sáng
(photo-rejuvenation) đã
233
Page
bookyhoc.com
trở thành một phương pháp phổ biến để giảm nếp nhăn.
Các quy trình với ánh sáng xung cường độ cao (IPL) và các
diod phát sáng (LEDs) cũng đã cho thấy các kết quả đầy
triển vọng trong điều trị da nhăn và lão hóa da.
Phương pháp mesotherapy là một lựa chọn tối ưu trong
điều trị nếp nhăn, đây là phương pháp an toàn, hiệu quả
lâu dài mà không gây đau, xâm lấn tối thiểu và không cần
nghỉ dưỡng. Mesotherapy sẽ đưa chất dinh dưỡng, thuốc
thẩm thấu sâu đến lớp trung bì của da giúp bổ sung các
yếu tố tăng trưởng nhanh chóng cho da hồi phục, thúc đẩy
quá trình tái tạo tự nhiên của da giúp căng da một cách
tự nhiên nhất, đặc biệt là quá trình tăng sinh collagen và
elastin đem lại hiệu quả tuyệt vời trong chống lão hóa và
trẻ hóa da, ngăn chặn xuất hiện nếp nhăn [29].
15.2.3.
Điều trị nếp nhăn bằng mesotherapy
Quy trình này được thực hiện tương tự như đối với quy
trình mesotherapy chung cho điều trị chảy xệ [84].
234
Page
bookyhoc.com
Hình 15.7. Hình ảnh bệnh nhân trước (a) và sau (b) điều trị
nếp nhăn quanh miệng.
Hình 15.6. Hình ảnh bệnh nhân trước (a) và sau (b) một
tháng điều tri nếp nhăn vùng trán.
235
Page
bookyhoc.com
Chương 16
Sẹo và rạn nứt
16.1. SẸO LÕM
Mụn có tỷ lệ xuất hiện trên 90% ở thanh thiếu niên và
tồn tại đến tuổi trưởng thành khoảng 12-14% trong số các
trường hợp. Tình trạng này gây ảnh hưởng khá nặng nề
đến tâm lý cũng như chất lượng cuộc sống.
Tất cả mọi vùng da trên cơ thể có sự hiện diện của nhiều
tuyến bã nhờn đều có thể hình thành mụn, tuy nhiên các
vùng thường gặp và nghiêm trọng nhất là mặt, lưng và
ngực. Các ổ mụn viêm có thể tạo sẹo vĩnh viễn và mức độ
nghiêm trọng của sẹo có thể phụ thuộc vào sự chậm trễ
trong điều trị mụn. Tỷ lệ và mức độ sẹo sau mụn trong dân
số hiện vẫn chưa được nghiên cứu nhiều, mặc dù các dữ
liệu có sẵn cho thầy có sự tương quan với mức độ nghiêm
trọng của mụn. Tình trạng sẹo nghiêm trọng
236
Page
bookyhoc.com
Viêm
Sự tái nhợt diễn ra sau hiện tượng co mạch cầm máu.
Sau khi dòng máu được ngăn lại, sự giãn mạch và ban đỏ
sẽ xuất hiện thay cho hoạt động co mạch. Quá trình tổng
hợp sắc tố melanin cũng có thể được kích thích. Bước này
do mụn thường đi kèm với những căng thẳng hay biến đổi
thể chất và tâm lý, đặc biệt là ở thanh thiếu niên [7].
16.1.1.
Cơ sở khoa học
16.1.1.1. Sinh lý bệnh
Cơ chế bệnh sinh của mụn liên quan đến nhiều yếu tố,
trong đó viêm quanh nang lông (perifollicular inflamma-
tion) nghiêm trọng, sự tăng sinh vi khuẩn gây mụn Propi-
onibacterium acnes (p. acnes), tăng tiết bã nhờn và tăng
sừng hóa nang lông là các yếu tố chính yếu. Một loạt các
cytokin gây viêm được kích thích dẫn đến vỡ nang lông
và hình thành áp xe quanh nang lông, từ đó kích hoạt
một chuỗi phản ứng làm lành vết thương, chữa lành vết
thương là một trong những quá trình sinh học phức tạp
nhất có sự tham gia của các chất trung gian hóa học, các
thành phần ngoại bào, các tê’ bào thường trú trong nhu
mô như tế bào sừng, nguyên bào sợi, tê bào nội mô, tê
bào thân kinh và các tế bào đi vào dòng máu như tế bào
lympho, bạch cầu đơn nhân và bạch cầu trung tính (được
gọi chung là các tế bào miễn dịch). Sẹo khởi nguổn từ các
vùng tổn thương mô và có thể phát triển thành dạng lõm
(atrophic) hoặc phì đại (hypertrophic). Quá trình làm lành
vết thương gồm ba giai đoạn: viêm, hình thành mô hạt và
tái tạo cấu trúc.
237
Page
bookyhoc.com
Hình thành mô hạt
Các mô tổn thương được phục hồi và hình thành các
đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành các tình
trạng ban đỏ và tăng sắc tố sau mụn. Một loạt các tế bào
máu bao gồm bạch cầu hạt, đại thực bào, bạch cầu trung
tính, tế bào lympho, nguyên bào sợi và tiểu cầu được kích
hoạt và phóng thích các chất trung gian gây viêm, sẵn sàng
cho sự hình thành mô hạt. Bằng cách kiểm tra các mẫu
sinh thiết của ổ mụn trên lưng các bệnh nhân có tình trạng
sẹo nghiêm trọng và không có sẹo, Holland và cộng sự đã
phát hiện ra rằng phản ứng viêm ở tuyến bã nhờn mạnh
hơn và kéo dài lâu hơn ở nhóm có sẹo so với nhóm không
sẹo. Ngoài ra, phản ứng viêm này cũng diễn ra với tốc độ
chậm hơn ở nhóm có sẹo. Những phát hiện trên cho thấy
có một mối liên hệ chặt chẽ giữa mức độ nghiêm trọng và
thời gian viêm với sự hình thành sẹo và việc điều trị giai
đoạn viêm sớm ở những ổ mụn có lẽ là cách tốt nhất để
ngăn ngừa sự hình thành sẹo.
mao mạch mới. Bạch cầu trung tính được thay thế bởi
bạch cầu đơn nhân vốn sẽ chuyển đổi thành các đại thực
bào và phóng thích các yếu tố tăng trưởng bao gồm yếu
tố tăng trưởng có nguồn gốc tiểu cầu PDGF, yếu tố tăng
trưởng nguyên bào sợi FGF và các yếu tố tăng trưởng biến
đổi TGF-a và TGF-ị3, từ đó kích thích sự tập trung và tăng
sinh của các nguyên bào sợi. Sự tổng hợp collagen mới bởi
các nguyên bào sợi bắt đầu khoảng 3-5 ngày sau khi vết
thương được tạo ra. Ban đầu, thành phần cấu trúc da mới
chủ yếu là collagen tuýp III cùng với một tỷ lệ nhỏ collagen
tuýp I (khoảng 20%). Tuy nhiên, sự cân bằng các
238
Page
bookyhoc.com
tuýp collagen ở vết sẹo sau khi chai hẳn sẽ chuyển đổi về
tương tự như ở làn da không tổn thương với khoảng 80%
collagen tuýp I.
collagen).
Tái tạo cấu trúc
Các nguyên bào sợi và tế bào sừng sản sinh ra các en-
zym bao gồm các loại quyết định cấu trúc của mạng lưới
ngoại bào là matrix metalloproteinases (MMPs) và các tác
nhân ức chế MMPs. MMPs là các enzym thoái hóa mạng
lưới cấu trúc ngoại bào (extracellular matrix - ECM) có tác
dụng tương tác và hình thành chuỗi tác động làm thủng
màng tế bào để tái cấu trúc ECM. Sự mất cân bằng về tỷ lệ
giữa MMPs và các tác nhân ức chế MMPs sẽ dẫn đến sự
hình thành các vết sẹo lõm hoặc phì đại. Đáp ứng không
đủ mạnh sẽ dẫn đến sự thiếu hụt trong tổng hợp và lắng
đọng collagen gây hình thành sẹo lõm trong khi đối với
phản ứng làm lành quá mức thì lượng mô sợi dư thừa sẽ
tạo nên các vết sẹo phì đại [7], [59].
16.1.1.2. Phân loại
Sẹo lõm phổ biến hơn so với sẹo lồi và sẹo phì đại với
tỉ lệ gặp phải là 3:1, được phân thành ba loại gồm sẹo đáy
nhọn (ice pick), đáy vuông (boxcar) và đáy tròn (rolling).
Trong đó, sẹo đáy nhọn chiếm tỷ lệ khoảng 60-70% trong
tất cả trường hợp, đáy vuông chiếm 20-30% và đáy tròn
Việc tạo sẹo diễn ra như một kết quả của tổn thương
da trong suốt quá trình làm lành mụn viêm. Có hai loại
sẹo cơ bản phụ thuộc vào việc mất đi hay tăng thêm
một lượng collagen nhất định (sẹo lõm và sẹo phì đại).
80-90% trường hợp đều gặp phải dạng sẹo lõm (mất
239
Page
bookyhoc.com
chiếm 15-25%. Đôi khi cả ba loại sẹo này có thể
được quan sát thấy trên cùng một bệnh nhân
và tương đối gây khó khăn cho việc phân biệt.
Sẹo đáy nhọn: các vết sẹo dạng điểm sâu vàhẹp (< 2mm)
với đường viển khá sắc nét. Đối với loại này, miệng vết sẹo
thường rộng hơn và hẹp dần xuống đáy (hình thành dạng
chữ “ V”).
Hình 16.2. Sẹo đáy nhọn
Hình 16.3. Sẹo đáy vuông
Sẹo đáy vuông: các mảng trũng có thể sâu hoặc cạn với
đường biên dốc và rõ ràng. Miệng sẹo rộng hơn sẹo đáy
nhọn và không có dạng chữ “V’. Thay vào đó, chúng có thể
biểu hiện dưới dạng chữ “U” với phần đáy khá rộng.
240
Page
bookyhoc.com
Sẹo đáy tròn: sẹo đáy tròn biểu hiện trên da như những
vùng trũng lượn sóng mà không có đường viển rõ ràng
(dạng chữ “M”). Hiện tượng này là do sự móc nối trung bì
và lớp mô dưới trung bì bởi những bó sợi bất thường. Sẹo
thường rộng hơn 4-5 mm [7].
Hình 16.4. Sẹo đáy tròn
Bảng 5. Phân loại sẹo mụn lõm theo hình thái
Loại sẹo
Đặc điểm
Đáy nhọn
Hẹp (<2mm), sâu, đường biên sắc và dốc đi
xuống trung bì sâu hoặc mô dưới trung bì.
Đáy tròn
Thường rộng hơn 4-5 mm. Các bó sợi bất
thường móc nối trung bì với lớp mô dưới trung
bì dẫn đến hình thành các vùng trũng lượn sóng
trên bề mặt da.
Cạn
Các mảng trũng với đường biên dốc và sắc
tương tự như sẹo thủy đậu. Miệng sẹo rộng
hơn so với sẹo đáy nhọn và không tụ lại một
điểm ở đáy.
Sâu
Có thể cạn (0,1 - 0,5mm) hoặc sâu (> 0,5mm)
và hẩu hết có đường kính trong khoảng từ 1,5 -
4mm.
Đáy
vuông
241
Page
bookyhoc.com
đầu kim vô trùng nhỏ và sắc nhọn tác động trên da giúp:
- Phá vỡ bề mặt chai cứng vết sẹo.
- Tạo vô số kênh dẫn hoạt chất vào sâu bên trong da
- Tạo các vi tổn thương làm khởi động quá trình viêm,
từ đó mang lại hiệu quả kích thích sản sinh collagen và
elastin đồng thời tăng cường tưới máu giúp tái tạo da và
làm đầy sẹo.
Trước tiên, da mặt cần phải được làm sạch và đắp thuốc
tê trong khoảng 60 phút. Độ dài kim được lựa chọn từ
1,0 - l,5mm tùy thuộc vào đặc điểm các vết sẹo. Thao tác
lăn kim được thực hiện bằng cách di chuyển dao động
thiết bị trên da theo nhiều hướng khác nhau với một lực
nhất định, khi đó các vùng da tổn thương có thể chảy máu
nhưng chỉ trong một thời gian ngắn. Các vết bầm nhỏ hình
thành ở trung bì sẽ giúp kích hoạt một chuỗi phức tạp các
yếu tố tăng trưởng mà kết quả cuối cùng là sự tăng cường
sản sinh collagen.
16.1.2.
Điều trị bằng mesotherapy
Lăn kim
Lăn kim là một kỹ thuật sử dụng con lăn với nhiều dãy
Kết quả mô học cho thấy có sự dày lên của làn da cùng
với một sự gia tăng đáng kể vể số lượng sợi collagen và
elastin. Các kết quả thường bắt đầu được quan sát thây
sau khoảng 6 tuần điều trị. Tuy nhiên, việc phát huy tác
dụng đầy đủ có thể cần phải mất ít nhất khoảng 3 tháng.
giúp làm tăng hiệu quả thẩm thấu của mỹ phẩm điều trị
lên gấp nhiều lần.
242
Page
bookyhoc.com
Hình 16.5. Hình ảnh trước khi
điều trị
Hình 16.5. Hình ảnh trước khi
với lăn kim
Lăn kim có thể được thực hiện an toàn trên mọi loại da
cũng như màu da khác nhau bởi nguy cơ tăng sắc tố sau
viêm tương đối thấp hơn so với các phương pháp khác,
chẳng hạn như mài mòn da, thay da hóa học và tái tạo bé
mặt da bằng laser. Các trường hợp chống chỉ định của lăn
kim bao gồm việc có thực hiện các liệu pháp chống đông,
nhiễm khuẩn ở trạng thái hoạt động, tiêm collagen và các
loại filler vào da trong thời gian 6 tháng trước đó, có tiểu
sử cá nhân hoặc gia đình vể sẹo lồi và sẹo phì đại.
Ngoài ra, vì sự lắng đọng collagen diễn ra tương đối
chậm, cấu trúc da sẽ tiếp tục được cải thiện trong 12 tháng
tiếp theo. Các kết quả lâm sàng rất khác nhau giữa từng
trường hợp, tuy nhiên tất cả bệnh nhân đều có được những
sự cải thiện nhất định. Số lượng quy trình cần thực hiện
cũng khác nhau tùy thuộc vào đáp ứng của bệnh nhân,
tình trạng mô sẹo cũng như kết quả mong muốn. Hầu hết
bệnh nhân đều cần ít nhất từ 4 - 6 quy trình với khoảng
cách 4 tuần giữa mỗi lần.
243
Page
bookyhoc.com
- Chăm sóc sau trị liệu:
+ Da bệnh nhân có thể sưng và đỏ trong 1-2 ngày sau
xông hơi.
+ Sử dụng các sản phẩm điểu trị sẹo tại nhà, đặc biệt
kem chống nắng là chỉ định bắt buộc khi tiếp xúc với ánh
nắng mặt trời.
Về tổng thể, vùng da điều trị được tái tạo và trẻ hóa trở
sẹo thì mức độ cải thiện phụ thuộc vào đặc điểm của sẹo
như sẹo cũ hay mới, mức độ chai sần, loại sẹo (đáy nhọn,
đáy vuông, đáy tròn). Nhìn chung, cần ít nhất từ 4 - 6 quy
trình trở lên (khoảng cách 4 tuân giữa mỗi lần) để có thể
thấy được kết quả rõ ràng.
nên mịn màng và trẻ trung hơn. Riêng về kết quả điều trị
điều trị.
+ Trong những ngày đầu sau trị liệu, bệnh nhân cần rửa
mặt bằng nước sạch vô khuẩn.
+ Hạn chế tiếp xúc với ánh nắng mặt trời.
+ Hạn chế các hoạt động ra mồ hôi, không mát-xa hay
Chú ý: hạn chế sử dụng thuốc kháng viêm trong khoảng
thời gian từ lúc thực hiện quy trình cho đến khi hồi phục.
Việc này sẽ làm giảm tác dụng của phương pháp lăn kim
(vốn thông qua sự kích hoạt các quá trình viêm của cơ thể)
[7].
244
Page
bookyhoc.com
Một số công thức pha trộn gợi ý
Thành phần
hoạt chất
Thể
tích
Công dụng chính
Gel X-DNA
2,5 ml
Phục hổi collagen tổn thương
Acid glycolic 1%
2 ml
Tăng sinh collagen
Vitamin A
100000UI
2 ml
Thúc đẩy tái tạo biểu mô
Dexpanthenol
20%
3 ml
Kích hoạt tăng sinh nguyên
bào sợi
Dexpanthenol
20%
5 ml
Kích hoạt tăng sinh nguyên
bào sợi
Vitamin c 20%
5 ml
Kích thích sản sinh collagen
Gel X-DNA
2,5 ml
Phục hổi collagen tổn thương
Gel X-DNA
2,5 ml
Phục hồi collagen tổn thương
Acid glycolic 1%
2 ml
Tăng sinh collagen
Vitamin A
100000UI
2 ml
Thúc đẩy tái tạo biểu mô
Silic hữu cơ
0,5% &
DMAE 2,5%
3 ml
Trẻ hóa, săn chắc da
Gel X-DNA
2 ml
Phục hồi collagen tổn thương
Vitamin A
100000UI
2 ml
Thúc đẩy tái tạo biểu mô
Acid glycolic 1%
2 ml
Tăng sinh collagen
Gel X-DNA
2,5 ml
Phục hồi collagen tổn thương
Acid glycolic 1%
2 ml
Thúc đẩy tái tạo biểu mô
Dexpanthenol
20%
2 ml
Tăng sinh collagen
Vitamin A
100000UI
3 ml
Kích hoạt tăng sinh nguyên
bào sợi
245
Page
bookyhoc.com
Gel X-DNA
2 ml
Phục hổi collagen tổn
thương
Acid glycolic 1%
2 ml
Tăng sinh collagen
Dexpanthenol
20%
5 ml
Kích hoạt tăng sinh
nguyên bào sợi
Hỗn hợp acid
amin
2 ml
Cung cấp nguyên liệu
cho sự tổng hợp colla
gen
Công thức 6
Hình 16.7. Sẹo phì đại
16.2. SẸO LỒI
16.2.1.
Cơ sở khoa học
16.2.1.1. So sánh sẹo lồi (keloid) và sẹo phì đại (hyper-
trophic scar)
Sẹo lồi và sẹo phì đại hình thành do sự tổng hợp và lắng
đọng collagen quá mức cùng với sự suy giảm hoạt động
thủy giải collagen. Sẹo phì đại thường biểu hiện bằng các
bó collagen dày, chắc và nhô lên trong giới hạn đường biên
của tổn thương ban đầu. Ngược lại, sẹo lồi biểu hiện bằng
các khối sần đỏ tím tăng sinh ra khỏi đường biên của tổn
thương ban đầu. Vể mặt mô học, chúng được mô tả là
những bó collagen dày sắp xếp theo vòng xoắn. Sẹo phì
đại và sẹo lồi xảy ra phổ biến hơn ở những người có làn da
tối màu và chủ yếu hình thành ở phần thân người. Sẹo phì
đại thường sẽ tự cải thiện dần theo thời gian trong khi sẹo
lồi lại có xu hướng tiếp tục phát triển.
246
Page
bookyhoc.com
Hình 16.8. Sẹo lồi
Bên cạnh biểu hiện lâm sàng, các chi tiết mô học cũng
giúp phân biệt sẹo phì đại và sẹo lồi. Làn da bình thường
chứa các bó collagen chạy song song với bề mặt biểu mô.
Ở các vết sẹo phì đại, các bó collagen tuýp III mỏng hơn và
các sợi sắp xếp theo mô hình lượn sóng, tuy nhiên chủ yếu
vẫn được định hướng song song với bề mặt biểu mô. Hơn
nữa, các cấu trúc dạng nổt trong đó có sự hiện diện của
sợi actin cơ trơn alpha (a-SMA) (biểu hiện các myofibro-
blast, mạch máu nhỏ và các sợi collagen mịn) là đặc trưng
cho sẹo phì đại (Hình 16.9a). Ngược lại, các bó collagen
hầu như không tồn tại ở sẹo lồi. Các sợi collagen tuýp I
và III nằm trong các mảng kết nối lung tung với nhau định
hướng ngẫu nhiên so với bề mặt biểu mô (Hình 16.9b).
Việc sản xuất quá mức các protein nguyên bào sợi như yếu
tố tăng trưởng biến đổi beta (TGF’P) và yếu tố tăng trưởng
nguồn gốc tiểu cầu (PDGF) ở cả hai loại sẹo cho thầy sự tổn
tại kéo dài không hợp lý của các
247
Page
bookyhoc.com
tín hiệu chữa lành vết thương hay sự thất bại trong việc
điểu chỉnh phù hợp các yếu tố tham gia quá trình làm lành
[7], [49].
Hình 16.9. Khái quát cấu trúc mô sẹo phì đại (A) và sẹo lồi (B)
248
Page
bookyhoc.com
Bảng 16.1. Đặc điểm lâm sàng của sẹo phì đại và sẹo lồi
Sẹo phì đại
Sẹo lồi
Phát triển trong thời gian ngắn
sau phẫu thuật
Thường tự cải thiện theo thời
gian
Nằm trong giới hạn đường biên
tổn thương ban đầu
Hình thành khi sẹo băng qua các
khớp hoặc vết nhăn da ở góc
nhất định
Có thể được cải thiện bằng
phương pháp phẫu thuật thích
hợp
Tỷ lệ mắc phải cao
Không có sự liên hệ nào với màu
da
Có thể phát triển trong thời gian
hàng tháng sau chấn thương
Hiếm khi tự cải thiện theo thời
gian Lan rộng ra ngoài ranh giới
tổn thương ban đầu
Hình thành chủ yếu ở thùy tai,
vai, khuyết cảnh xương ức; hiếm
khi xảy ra ở khớp
Thường trở nên nghiêm trọng
hơn sau phẫu thuật
Tỷ lệ mắc phải thấp
Dễ xảy ra hơn ở da tối màu
16.2.1.2. Sinh lý bệnh
Trong giai đoạn chai cứng sẹo bình thường, các khối mô
tại vết thương sẽ mềm và phẳng dần do sự diễn tiến đồng
thời của hai quá trình tổng hợp và thoái hóa collagen, sau
đó các thành phần mô liên kết sẽ thoái hóa sau tuần thứ
ba. Ở sẹo lồi, sự tổng hợp collagen thường cao hơn khoảng
20 lần so với vùng da không tạo sẹo và 3 lần so với sẹo phì
đại. Abergel và đồng nghiệp đã chứng minh rằng không chỉ
có sự tăng cường sản xuất collagen ở sẹo lồi và sẹo phì đại
mà tỷ lệ của collagen tuýp I so với tuýp III cũng tăng cao.
Friedman và đồng nghiệp đã mặc nhiên công nhận rằng
ở sẹo lồi, sự điều chỉnh giảm tổng hợp collagen là không
hiệu quả. Sự sản xuất collagen quá mức có thể là do hoạt
động tăng sinh mạnh hơn của các nguyên bào sợi tại vết
sẹo. Bên cạnh sự tổng hợp và tăng sinh mạnh mẽ của các
nguyên bào sợi trong
249
Page
bookyhoc.com
sẹo lồi, Oliver, Babu cùng các đồng nghiệp còn nhận thấy
rằng các nguyên bào sợi có nguồn gốc từ sẹo lồi có tỷ lệ
sinh tổng hợp fibronectin cao hơn gầp 4 lần so với nguyên
bào sợi ở các làn da và sẹo bình thường.
Các nghiên cứu gần đây đã tiến hành quan sát sự ảnh
hưởng của nhiều yếu tố tăng trưởng khác nhau đối với sự
hình thành sẹo. TGF-[3 và PDGF đã được chứng minh đóng
vai trò không thể thiếu trong hình thành sẹo lồi và sẹo phì
đại. Phần lớn các tế bào tham gia vào quá trình chữa lành
vết thương biểu lộ TGF-ỊB ở dạng không hoạt động có khả
năng thúc đẩy mạnh mẽ việc hóa hướng động các nguyên
các yếu tố tăng trưởng như TGF-ỊB và PDGE Sự tổng hợp
ít các phân tử thúc đây thoái hóa mạng lưới cấu trúc hơn
(chẳng hạn như MMPs) cũng có thể giải thích cho việc mô
sẹo không thuyên giảm ở sẹo lồi. Ngoài ra, các rối loạn
cơ chế chết tế bào cũng được xem xét trong sự hình
thành và phát triển của sẹo lồi và sẹo phì đại. Messadi,
Luo và các đồng nghiệp đã chứng minh tỷ lệ chết theo
chương trình
hồi vết thương hoàn thành, TGF-Ị3 ngừng hoạt động
theo cơ chế bình thường. Ở mô sẹo lồi, TGF-ịB được sản
sinh quá mức và điều hòa kém thông qua các cơ chế
truyền tín hiệu tự tiết (autocrine signaling - tế bào đáp
ứng với chất do chính chúng tiết ra) bình thường. Bên
cạnh đó, các nguyên bào sợi trong sẹo lồi có nhiều thụ
thể yếu tố tăng trưởng hơn và đáp ứng mạnh mẽ hơn với
bào sợi về vùng vết thương. Hơn nữa, yếu tố tăng
trưởng này đóng vai trò rất quan trọng trong sự tăng sinh
nguyên bào sợi và tổng hợp collagen. Khi quá trình phục
250
Page
bookyhoc.com
của nguyên bào sợi ở da bình thường là cao hơn nhiều so
với ở sẹo lồi [49].
16.2.1.3. Yếu tố nguy cơ
Các yếu tố đóng vai trò chính trong sự phát triển sẹo
lồi là đặc điểm di truyền và một số dạng tổn thương da.
Tình trạng căng vết thương hay căng da cũng đã được nhìn
nhận là một yếu tố đặc biệt quan trọng trong sẹo lồi và sẹo
phì đại. Các vết sẹo băng qua các khớp hay nếp nhăn da
với góc nhất định sẽ dễ hình thành dạng sẹo phì đại bởi có
sự xuất hiện liên tục của lực căng. Mặc dù có thể xảy ra ở
mọi độ tuổi, sẹo lồi có xu hướng phát triển dễ dàng hơn
trong suốt và sau giai đoạn dậy thì. Davies giải thích điều
này thông qua nhận định cho rằng các đối tượng trẻ tuổi
thường gặp phải chấn thương hơn cũng như sở hữu làn da
có độ đàn hồi cao hơn.
Tiêm corticoid
Tiêm corticoid trực tiếp vào vết sẹo là một trong những
phương pháp điều trị phổ biến nhất đối với sẹo lồi và sẹo
phì đại. Nó có thể được áp dụng đơn độc hoặc
Tình trạng sẹo lổi xảy ra ở các làn da tối màu với tỷ lệ
cao hơn thực chất là do ảnh hưởng di truyền. Sẹo lồi chủ
yếu hình thành ở các vùng cơ thể có lượng tế bào sinh sắc
tố (melanocyte) cao và hiếm gặp ở lòng bàn tay và lòng
bàn chân. Sự hình thành sẹo lồi cũng có mối liên hệ nhất
định đối với các yêu tố nội tiết. Mãn kinh thúc đẩy thoái
hóa sẹo trong khi có sự khởi phát hoặc tiến triển sẹo diễn
ra trong suốt thời gian thai kỳ theo một số báo cáo [49].
16.2.2.
Điều trị bằng mesotherapy