Các-kỹ-thuật-ghép-mỡ-tự-thân

22/11/2025 • by Bs CKI Phẫu thuật tạo hình, tái tạo và thẩm mỹ Trương Hoài Anh • cấy mỡ

Giới thiệu về Tài liệu Các Kỹ thuật Ghép Mỡ Tự Thân

Trong lĩnh vực phẫu thuật tạo hình và thẩm mỹ hiện đại, ghép mỡ tự thân (Autologous Fat Grafting) đã trở thành một tiêu chuẩn vàng nhờ khả năng tương thích sinh học và hiệu quả tái tạo mô mềm. Tài liệu “Các kỹ thuật ghép mỡ tự thân” do Hans-Oliver Rennekampff và các cộng sự biên soạn là một nguồn tham khảo quý giá, tổng hợp chi tiết các phương pháp thu hoạch, xử lý và cấy ghép mỡ tiên tiến nhất hiện nay.

Cuốn sách đi sâu vào phân tích các quy trình kỹ thuật, so sánh hiệu quả lâm sàng và đưa ra các hướng dẫn thực hành cụ thể cho từng vùng giải phẫu, đặc biệt là ngực và khuôn mặt.

Nội dung tóm tắt và các chương nổi bật

  • Kỹ thuật Coleman (Quy trình tiêu chuẩn): Phân tích chi tiết phương pháp kinh điển của Sydney Coleman, từ việc sử dụng kim hút 11G, quy trình ly tâm 3000 vòng/phút để tách 3 lớp (dầu, mỡ tinh khiết, dịch lỏng), đến kỹ thuật bơm mỡ vi thể để tối ưu hóa tỷ lệ sống của tế bào.
  • Các hệ thống lọc và xử lý mỡ khác: So sánh kỹ thuật Coleman với các phương pháp như lọc qua gạc vô trùng, hệ thống Shippert (Tissu-Trans Filtron), Pure Graft và hệ thống Revolve. Đánh giá ưu nhược điểm của từng hệ thống trong việc loại bỏ mảnh vụn tế bào và dầu tự do.
  • Hệ thống BRAVA và Mở rộng mô: Chương này tập trung vào việc sử dụng áp lực âm bên ngoài (BRAVA) để mở rộng khoang nhận trước khi cấy mỡ nâng ngực, giúp tăng thể tích mỡ cấy được và cải thiện tỷ lệ sống của mô mỡ, đặc biệt hữu ích trong tái tạo vú sau phẫu thuật hoặc dị dạng vú hình ống.
  • Quy trình BEAULI (Body-jet): Giới thiệu kỹ thuật hỗ trợ bằng tia nước (Water-jet Assisted Liposuction – WAL) để thu hoạch thể tích mỡ lớn (trên 100ml) cho nâng ngực thẩm mỹ, với ưu điểm bảo tồn mô và giảm thời gian phẫu thuật.
  • Microfat và Nanofat trong trẻ hóa khuôn mặt: Một phần quan trọng của tài liệu dành cho các kỹ thuật tinh vi vùng mặt. Tác giả Yves Surlemont trình bày chi tiết về việc sử dụng kim nhỏ (Microfat) để phục hồi thể tích và kỹ thuật nhũ tương hóa mỡ (Nanofat) để cải thiện chất lượng da, xóa nếp nhăn và điều trị quầng thâm mắt.

Giá trị lâm sàng

Tài liệu cung cấp cái nhìn toàn diện về sự tiến hóa của kỹ thuật cấy mỡ, từ mục đích làm đầy đơn thuần (Volumizing) đến tái sinh mô (Regenerative). Đây là cẩm nang không thể thiếu cho các bác sĩ phẫu thuật muốn nâng cao tay nghề trong các chỉ định thẩm mỹ ngực, mông và trẻ hóa toàn diện khuôn mặt.

Trang: / 40
Trang 1 Trang 2 Trang 3
📖 Xem bản dịch / Nội dung văn bản

2
Các kỹ thuật ghép mỡ tự thân
Hans-Oliver Rennekampff, Christian Herold Norbert Heine, and Klaus Ueberreiter
6
6.1
Cấy mỡ sử dụng phương pháp Cole­
man
Hans Oliver Rennekampff and Christian Her­
old

Cấy mỡ tự thân theo Coleman là một kỹ
thuật mở, được Coleman giới thiệu vào năm
1988 [1]. Quy trình nhiều bước có thể được
chia thành ba giai đoạn [2] được trình bày
trong Bảng 6.1.

Việc hút huyền phù chất béo được thực
hiện bằng kỹ thuật tumescence, trong đó lượng
dung dịch bơm vào phải tương ứng với lượng
chất béo được lấy ra.

Cuối cùng, một kim cùn 11G (khoảng
3 mm) có hai lỗ (Hình 6.1), gắn vào một ống
tiêm 10 mL, được đưa vào mô dưới da thông
qua một vết rạch. Bằng cách nhẹ nhàng kéo pít-
tông lên tạo ra áp suất âm, qua đó từng phần
mỡ nhỏ được hút vào ống tiêm. Tùy thuộc vào
lực kéo pít tông, có thể tạo ra áp suất âm lên
đến 0,52 bar [3].
• Coleman khuyến nghị tăng thêm 1–2 cm3 khi
hút mỡ.

Ngay sau khi hút đủ lượng mỡ, các ống
tiêm được đóng lại và được ly tâm trong các
hộp chứa vô trùng trong máy ly tâm (ví dụ như
Medilite, Mentor, v.v.) trong 3 phút với tốc độ
3000 vòng / phút (Hình 6.2). Điều này tương
ứng với một lực hấp dẫn là 920 g. Coleman
không khuyến khích sử dụng lực cao hơn, vì
mô có thể bị tổn hại [2].

Trong quá trình ly tâm, phải hết sức chú
ý đến việc duy trì sự vô trùng (quy trình mở).

Thông thường, sau ly tâm sẽ hình thành
ba lớp. Lớp trên cùng bao gồm chất béo tự do
từ các tế bào mỡ bị phá hủy; lớp dưới là máu,
lidocain và dung dịch Ringer cũng như mảnh
Bảng 6.1 Quy trình cấy mỡ tự thân theo kỹ thuật
Coleman
Giai đoạn
I
Hút huyền phù mỡ
II
Xử lý
III
Trả lại mỡ nguyên chất
vụn và lớp giữa chứa mô mỡ (Hình 6.3).

Trong các bước tiếp theo, lớp dầu được
hút ra ngoài, có thể loại bỏ cặn bằng cách sử
dụng bông thấm (Hình 6.4). Chất lỏng còn
lại phía trên được thoát ra khỏi đáy ống tiêm
(Hình 6.5).
Hình. 6.1 Kim hút Coleman

Phần mỡ tinh khiết còn lại được đưa vào
một ống tiêm 1 mL với sự hỗ trợ của khớp nối
và sẵn sàng cho quá trình bơm trở lại cơ thể
(Hình 6.6). Cấy huyền phù mỡ được thực hiện
trong kỹ thuật Coleman bằng các kim Coleman
I, II hoặc III, có đường kính 14 hoặc 16G (Men­
tor) (Hình 6.7).
• Kỹ thuật Coleman hiện là kỹ thuật được sử
dụng rộng rãi nhất và được coi là tiêu chuẩn
tham chiếu ngay cả trong các ấn phẩm khoa
học.

3
Hình 6.2 Máy ly tâm Hettich
Hình. 6.3 Ba lớp sau ly tâm
yến nghị cho các mảnh ghép nhỏ.

Các bài báo được xuất bản bởi Salinas et
al. [5] chỉ ra phân tách bằng gạc vô trùng có thể
cô đặc huyền phù đến 90%.
6.2 Các phương pháp cấy mỡ khác
Hans Oliver Rennekampff và Christian Herold
6.2.1 Tách bằng gạc vô trùng

Việc trải rộng dịch hút lên các miếng gạc
vô trùng là một kỹ thuật tiết kiệm chi phí đã
được sử dụng. Điều này là do không cần thiết bị
nào khác ngoại trừ kim hút, ống dẫn lưu và gạc
vô trùng. Thậm chí, việc lọc có thể được thực
hiện bằng cách chỉ sử dụng kim hút và ống dẫn
lưu.

Chấn thương cơ học và tiếp xúc với
không khí trong phòng được coi là những bất
lợi tiềm ẩn.

Trong một thử nghiệm, hàm lượng tế
bào gốc của mô ghép mỡ cao hơn và khả năng
sống sót lớn của mô ghép trên chuột chống lại
kỹ thuật dùng bộ lọc và kỹ thuật Coleman [4].
Nhưng thời gian tiến hành lâu hơn được cho là
một bất lợi, do đó, kỹ thuật này chỉ được khu

4
Hình. 6.4 Bỏ lớp dầu
Hình. 6.5 Bỏ lớp dung dịch
6.2.2 Hệ thống lọc
6.2.2.1 Quy trình Shippert
Hệ thống shippert
- Tissu-Trans Filtron
- Công nghệ Shippert
- Marketingv của Đức thông qua
Asclepios Medizintechnik

Kỹ thuật hút và lọc huyền phù chất béo
này được Ron D. Shippert giới thiệu vào năm
2006 [6]. Lấy mỡ theo kỹ thuật Shippert là một
quy trình hút và xử lý khép kín. Hệ thống Ship­
pert (Tissu-Trans Filtron, Shippert Medical
Technologies) bao gồm một ống hút lumen lớn
và bình thu lọc có dung tích khác nhau (100
mL, 300 mL, 500 mL, 1200 mL,2000 mL; Hình
6.8).

Đặc điểm của hệ thống Tissu-Trans Fitron
- Hệ thống ống lumen lớn
- Hút tiêu chuẩn áp lực thấp
- Không ly tâm
- Hệ thống lọc 800 μm để loại các mảnh vụn,
dầu và chất lỏng
- Có thể tiến hành rửa
- Tránh cấy mỡ mở (theo [6])

Sử dụng lực hút áp lực âm trong kỹ
thuật tumescence, kim thường có đường kính
lên đến 3 mm và khác cách hút mỡ cổ điển. R.
D. Shippert khuyến nghị dùng áp suất khoảng
−250 đến −500 mmHg.

Các bình tiếp nhận có chức năng lọc tích
hợp với đường kính lỗ lọc 800 μm (Hình 6.9).
Qua đó, người ta có thể tách dầu, nước và

5
Hình. 6.6 Mỡ tinh khiết
Hình. 6.7 Kim Coleman, type I
các chất hòa tan như epinephrine. Sau khi hút
được lượng mỡ cần thiết nó được đi qua đầu
nối vô trùng vào các ống tiêm có thể tích nhỏ
(Hình 6.10).

Shippert chỉ ra một số yếu tố không
mong muốn đã được loại bỏ nhờ thiết kế của hệ
thống ống và bộ lọc (xem Tóm tắt). Do đó, các
ống mềm kích thước lớn giúp dịch lọc không bị
ảnh hưởng.


Do không cần phải quay ly tâm nên
không cần nhân viên để điều khiển các máy
ly tâm. Ngoài ra còn rút ngắn thời gian chờ ly
tâm. Cũng không cần khuấy hoặc lọc mô mỡ.
• Vì đây là một hệ thống khép kín, nên mọi khả
năng ô nhiễm qua không khí hoặc con người
được loại trừ tuyệt đối. So với các kỹ thuật hút
thủ công khác, có thể lấy được dịch hút mỡ nhờ
Hệ thống Tissu-Trans Filtron trong điều kiện
áp suất hằng định và có thể tái tạo.

Phương pháp Tissu-Trans Filtron được
sử dụng để lấy dịch hút trong các điều kiện tiêu
chuẩn, ví dụ: cho các nghiên cứu lâm sàng yêu
cầu lấy mô trong các điều kiện độc lập với ng­
hiên cứu.

Các nghiên cứu riêng lẻ [7] phân tích
sự phân phối chất béo tự do (dầu), huyền phù
chất béo và dịch lỏng cho thấy lớp mỡ chiếm
trung bình 85% thể tích hút ra ban đầu sau 1
giờ (Hình 6.11).

Ngay cả sau khi thử nghiệm ly tâm bổ
sung, tỷ lệ mỡ được ghi lại là 75–80% (dữ liệu
riêng). Phần dung dịch lỏng chứa tỷ lệ cao các
yếu tố tăng trưởng và adipocytokine. Chất lỏng
còn sót lại trong dịch hút cần được cân nhắc
trong quá trình cấy mỡ tự thân. Sau thời gian
chờ 60 phút, không phát hiện được lượng dầu
đáng kể nào trong các mẫu nghiên cứu.
Gần đây, Fisher và cộng sự đã chỉ ra một giá trị
cực kỳ thấp có thể so sánh được đối với phần
dầu còn lại là 1%. [4]. Thử nghiệm giữa dịch
hút bằng Hệ thống Shippert và dịch hút được
xử lý trong các tế bào riêng lẻ, không có sự
khác biệt đáng kể so với các kỹ thuật lọc khác
[8](Hình 6.12).

Các hạt mỡ lấy bằng phương pháp Ship­
pert có đường kính 3 mm trong công trình được
thực hiện bởi Fisher và cộng sự. [4], kích thước
trung bình của phần đã lọc phải loại bỏ là 300
μm. Fisher và cộng sự hầu như không tìm thấy
bất kỳ tế bào sống nào mà chủ yếu là các mảnh
vụn trong phần dầu-nước bị loại bỏ sau khi sử
dụng Hệ thống Shippert. Một câu hỏi mở là liệu
kích thước bộ lọc của Hệ thống Shippert là 800
μm có thể hiện sự tối ưu theo quan điểm ngày
nay hay không. Câu hỏi này cần phải khảo sát
kỹ lưỡng vì ngay cả các hạt mỡ quan trọng có
kích thước khoảng 300 μm đã được mô tả là tối
ưu trong các mô hình in vivo thực nghiệm [9].
Ý nghĩa

Ưu điểm của Hệ thống Tissu-Trans Fil­
tron là một hệ thống vòng lặp kín xử lý đơn
giản: vào cuối quá trình hút, chúng ta có huyền
phù chất béo đã lọc và còn lại một lượng chất
lỏng chứa một yếu tố tăng trưởng cho quá
trình cấy. Người vận hành chỉ cần hút cơ học
giống hút thủ công trong kỹ thuật Coleman sẽ
thu được khối lượng lớn.

6
Hình 6.8 Các bình lọc có kích thước khác nhau (100 mL, 300 mL, 500 mL, 1200 mL, 2000 mL) với hệ
thống lọc tích hợp (© Shippert Medical Technologies Inc. with kind courtesy)
Hình 6.9 Chi tiết bộ lọc với các lỗ có đường kính 800 μm

7
Hình 6.10 Chiết tách vô trùng để sử dụng
Hình 6.11 (a, b) Dịch hút Tissu-Trans Filtron sau 0
phút (a) và 60 phút (b). Trung bình, dịch hút mỡ ban
đầu chứa 15% nước
6.2.2.2 LipiVage

Ống tiêm vô trùng dùng một lần (50 mL)
LipiVage
– Genesis Biosystems, Lewisville, USA
– Đức : Polytech Health & Aesthetics
GmbH
nối trực tiếp với vòi hút . Về cơ bản đây là một
hệ thống kín. Phần dầu-nước được loại bỏ
thông qua một bộ lọc tích hợp. Có thể dùng các
ống tiêm vô trùng thể tích nhỏ hơn nhờ gắn với
khớp nối Luer [10].
6.2.2.3 Pure graft

Pure Graft

– Solana Beach, CA, USA

– Marketing Germany:Aromando
Medizin Technik

Đây cũng là một hệ thống lọc kép khép
kín dưới dạng gói. Hiện tại, có ba kích cỡ khác
nhau (50 mL, 250 mL, 850 mL).

Huyền phù chất béo thu được chuyển
vào gói vô trùng sử dụng một lần, rửa sạch hai
lần bằng dung dịch Ringer và sau đó được
chia nhỏ thành ống tiêm 1 mL để bơm mỡ. Ở
trên khuôn mặt được quét bề mặt 3D (Vectra),
người ta chứng minh khả năng duy trì thể tích
vượt trội so với cấy mỡ được thu được nhờ kỹ
thuật Coleman (41% so với 32% sau thời gian
trung bình khoảng 17 tháng, [11]).
6.2.2.4 Hệ thống Revolve

Hệ thống Revolve

– Life Cell Inc. Branchburg, NJ, USA


Hệ thống Revolve về cơ bản là một hệ
thống vòng khép kín, có thể so sánh với Hệ
thống Shippert. Huyền phù chất béo được hút
trong một hộp nhựa duy nhất có hệ thống lọc
tích hợp, kích thước lỗ lọc 200 μm. Ngoài ra, có
một thiết bị để rửa và trộn cơ học tích cực bằng
một cánh quạt điều khiển bằng tay. Với thử ng­
hiệm trên chuột trụi lông, người ta chứng minh
khả năng duy trì thể tích vượt trội so với kỹ
thuật Coleman [12].

8
Hình 6.12 (a – d) Ví dụ về đánh giá dữ liệu của một bệnh nhân nữ mỗi góc phần tư, từ trên trái xuống
dưới cùng bên phải: (a) Tissu-Trans Filtron, (b) Coleman với 920 g, (c) ly tâm thực hiện theo phương
pháp Coleman với 1840 g
(d) mô mỡ tự nhiên, trục x, Annexin-V FITC; trục y, propidium iodide (PI). Không có sự khác biệt đáng kể
nào về số lượng tế bào sống (c) được tìm thấy trong các quá trình cấy

9
6.2.1 Hệ thống làm giàu tế bào gốc và tế bào
nền
• Các đặc điểm của quy luật chuyển mô phải
được tuân thủ trong tất cả các hệ thống, bao
gồm quá trình xử lý tiếp theo và quá trình làm
giàu chất nền và tế bào gốc. Không thể chứng
minh lợi thế của việc làm giàu tế bào gốc [13].
6.2.1.1 Hệ thống Celution

Hệ thống Celution

– Cytori Therapeutics Inc., San Diego,
CA, USA

Các tế bào mỡ không cần ly tâm được
rửa trong một hệ thống vòng kín để làm sạch,
tế bào gốc và tế bào trung mô cũng như các tế
bào tiền thân nội mô (“mảnh mạch máu nền”)
thu được bằng cách sử dụng collagenase người
từ dịch hút mỡ xử lý trong khoảng 2 giờ. Cuối
cùng, mô mỡ được trộn với tế bào nền cô đặc.
Dùng bơm tiêm 10 mL và kim Coleman 1 mm
để bơm.
6.2.3.2 Các hệ thống khác

Các hệ thống thương mại khác tương tự
dựa trên quy trình enzym, là:
- Minilab Multistation (Multistation P&C Inter­
national, Hàn Quốc)
- Lipokit GT (Medikan International Inc., Hàn
Quốc)
Ngoài ra, quy trình cơ học:
- Hệ thống Fastem-Corios [14].
6.3 Tăng thể tích với Hệ thống áp lực ngoài
(Hệ thống BRAVA)
Norbert Heine

Trong những năm 1990 của thế kỷ trước,
Roger Khouri đã phát triển một hệ thống tăng
thể tích thông qua một thiết bị giãn nở dưới áp
suất bên ngoài [15]. Mục đích ban đầu của ông
là làm to ngực mà không cần can thiệp phẫu
thuật, chỉ thông qua việc đeo liên tục một thiết
bị áp suất thấp có kiểm soát. Nhưng sự mở
rộng vẫn còngiới hạn; thậm chí để thành công,
người ta đã phải đeo thiết bị này nhiều lần

Với sự xuất hiện của phương pháp ghép
mỡ tự thân vào ngực phụ nữ, hai yếu tố quyết
định của kỹ thuật này đã sớm trở nên rõ ràng:
- Số lượng mô mỡ tối đa có thể đưa vào mỗi lần
điều trị
- Phần trăm mô tồn tại vĩnh viễn [16]

Những câu hỏi được quan tâm ở đây là
tiêu chí nào xác định sự sống sót của tế bào mỡ
và tiền tế bào mỡ, làm thế nào người ta có thể
can thiệp đến chúng.

Chất lượng và khả năng tiếp nhận của
vùng nhận ghép rất quan trọng đối với sự tồn
tại của mô mỡ được bơm. Khouri sớm phát
hiện ra Hệ thống BRAVA không chỉ có thể được
sử dụng để làm tăng thể tích ngực vĩnh viễn mà
còn để mở rộng tạm thời vùng tiếp nhận dưới
da trước khi bơm mỡ. Do đó, phù nề ở vùng
dưới da và sự hình thành tân mạch không chỉ
cải thiện điều kiện sống sót mà còn tạo điều
kiện tăng cường số lượng của mô mỡ được đưa
vào thông qua sự gia tăng thể tích của vùng
tiếp nhận [17].

Sự giãn nở của lớp da đạt được trong
khoảng thời gian vài tuần. Các vết sẹo có thể
tồn tại sau quá trình chuẩn bị ban đầu. Quy
trình kết hợp này có lợi thế so với việc chỉ bơm
mỡ.
• Mô đích trong quá trình bơm mỡ ngày càng
căng, cuối cùng hạn chế sức chứa của mô. Mở
rộng mô trước phẫu thuật cải thiện điều này.
6.3.1 Kỹ thuật
Hệ thống BRAVA bao gồm:
- Hai cốc có viền silicon bán dính
- Một máy bơm tay để hút không khí nhanh
chóng
- Một bơm tự động (được gọi là Sport box). duy
trì áp suất 15–30 mmHg liên tục (Hình 6.13)

Dùng dữ liệu sinh trắc học để chọn các
cốc giãn nở (xem Tóm tắt).

10
Hình 6.13 Hệ thống công nghệ BRAVA với Sport box

Ghi lại sinh trắc học trước khi nâng

ngực

- Độ rộng trên và dưới ngực

- Mức độ sa trễ

- Khoảng cách từ núm vú đến xương

đòn

- Kích cỡ áo ngực

- BMI, v.v.

Ngoài những điều này, các chỉ định
đều được ghi lại (tăng thẩm mỹ hoặc tái tạo).
Kích thước và hình dáng tối ưu của cốc phải
được tính toán từ những dữ liệu này. Một phụ
nữ mảnh khảnh, cao với bộ ngực nhỏ và căng
đòi hỏi những chiếc cúp ngực khác so với một
bệnh nhân thấp hơn và có sa trễ nhẹ.

Khi sử dụng lần đầu tiên, bệnh nhân
được hướng dẫn sử dụng và chăm sóc da. Cả
hai cốc (nếu tái tạo thì chỉ ở một bên) được đặt
trên ngực không có lực căng trên. Viền silicone
mềm, bán kết dính ở đúng vị trí xung quanh và
toàn bộ mô được mở rộng tự do (Hình 6.14).

• Đặc biệt trong trường hợp cấu trúc
không đều đặn, ranh giới bên trong của cúp
có thể phải được đặt thấp hơn một chút so với
đường viền dưới của bầu ngực.


Bơm tay và Sport box được kết nối với
cốc thông qua hệ thống ống mềm. Tạo ra áp
suất dưới áp suất cần thiết bằng cách sử dụng
bơm tay, sau đó sẽ duy trì bởi máy bơm điện.
Trong trường hợp bệnh nhân có lồng ngực hẹp,
ranh giới silicone của các cốc ban đầu lỏng lẻo
giờ sẽ tự động gắn vào sau khi tạo ra áp suất
thấp hơn.
Hình 6.14 Một bệnh nhân đeo thiết bị của Hệ thống
BRAVA
• Việc chăm sóc và quan sát da sau đó là quan
trọng hàng đầu. Kích ứng da là một trong
những biến chứng thường gặp nhất và đôi khi
có thể dẫn đến việc gián đoạn hoặc thậm chí
ngừng điều trị.

Tùy thuộc vào khả năng của từng cá
nhân, nên ưu tiên các sản phẩm chăm sóc đi
kèm vì các sản phẩm khác có thể làm hỏng viền
silicone.
• Các sản phẩm chăm sóc da không nằm trong
liệu pháp điều trị có thể dẫn đến hư hỏng vật
liệu.
6.3.1 Ứng dụng

Kết quả cuối cùng phụ thuộc vào cách hệ
thống hoạt động.

Cố gắng đeo không gián đoạn khoảng
8–10 giờ mỗi ngày nếu có thể, tốt nhất là nên
thực hiện vào ban đêm. Việc thường xuyên bị
gián đoạn hoặc lỏng lẻo có thể làm giảm cơ hội
thành công

11

Khoảng thời gian cần thiết phụ thuộc
vào chất lượng của mô được mở rộng và có thể
được đánh giá thông qua việc kiểm tra trực tiếp
sau khi lấy cốc ra. Nếu chúng được đeo đúng
cách, nhìn thấy mô trở nên phù nề rõ ràng chỉ
sau vài ngày (Hình 6.15).
Hình. 6.15 Sự mở rộng bên dưới cup
Hình 6.16 Sự mở rộng và lan rộng của các vết sẹo;
thể tích giãn nở (tạm thời) tương ứng với kết quả
lấp đầy sau đó (vĩnh viễn)
• Sự mở rộng đạt được khi kết thúc quá trình
gần như tương ứng với sự gia tăng thể tích
mong đợi sau phẫu thuật (Hình 6.16).

Trung bình, thời gian đeo cup cần thiết
trước khi phẫu thuật khoảng 4-6 tuần. Nên
tăng cường sử dụng hàng ngày trong khoảng
thời gian theo kế hoạch, không được để gián
đoạn trong vài ngày cuối cùng trước khi thực
hiện. Với trường hợp da tương đối lỏng lẻo và
chỉ định cho mục đích thẩm mỹ, khoảng thời
gian 4 tuần là đủ . Các vết phồng hoặc sẹo ở vú
căng và nhỏ hơn sau khi phẫu thuật cắt bỏ vú
sẽ cần đeo lâu hơn(Hình 6.17).

Bệnh nhân được điều trị bằng tia xạ là
một nhóm chỉ định đặc biệt. Mô bị chiếu xạ
mất tính đàn hồi; áp suất mô tăng lên trong
quá trình bơm mỡ ngay cả với một lượng nhỏ
[18]. Tổng số lần cấy mỡ cao hơn đáng kể so
với trường hợp ngực không bị chiếu xạ. Trong
trường hợp này, việc mở rộng trước khi phẫu
thuật không chỉ có thể giảm số lần cấy mỡ cần
thiết mà đôi khi có thể tạo ra thành công lâu
dài sau điều trị.
6.3.2.2 Hậu phẫu

Sau phẫu thuật, hệ thống nên được dùng
lại sau 24 giờ và nên đeo thêm trong khoảng
thời gian khoảng 10–14 ngày. Bằng cách này,
các mô mỡ được đưa vào sẽ cố định và ổn định
như trong trường hợp ghép da cho đến khi tái
tuần hoàn đảm bảo sự tồn tại vĩnh viễn của các
tế bào bằng cách tái tạo các mạch máu mới.
Ngoài ra, sự giãn nở sau phẫu thuật của da
trong giai đoạn quan trọng của quá trình chữa
bệnh dẫn đến giảm áp lực mô.
Ý nghĩa

Có thể tóm tắt rằng việc mở rộng mô bên
ngoài cải thiện đáng kể thành công của điều trị
cấy mỡ tự thân tại ngực. Quan trọng là để bệnh
nhân tuân thủ tốt thông qua sự tư vấn và trình
bày chi tiết trước và trong quá trình điều trị.
Những bệnh nhân thiếu tin cậy cần được phát
hiện sớm. Sự hợp tác của bệnh nhân là rất cần
thiết nếu muốn sử dụng phương pháp BRAVA
để điều trị thành công (Hình 6.18).

12
Hình 6.17 (a – c) Tình trạng sau phẫu thuật cắt bỏ vú ở bên phải
(a) Mở rộng trước với BRAVA, (b) lần khám thứ hai: phù và xung huyết, (c, d) 4 năm sau ghép mỡ
tự thân , ở bên phải, tăng thể tích từ núm vú đến quầng vú (tích tụ MAC) và mastopexy, ở bên trái

13
Hình 6.18 Bệnh nhân ghi lại thời gian đeo thiết bị hàng ngày

14

Mục tiêu điều trị

- Mở rộng mô người nhận

- Mở rộng mô dưới da

- Giảm áp lực mô

- Sự mở rộng của các vết sẹo

- Bất động sau mổ
6.3.3 Xử lý các cấu trúc vú bị lỗi bằng hệ thống
mở rộng bên ngoài (BRAVA-AFT)

Ngoài những bệnh nhân có mong muốn
làm to và tái tạo ngực thẩm mỹ, cũng có những
bệnh nhân bị dị tật bẩm sinh dưới dạng phát
triển sai lệch của tuyến vú. Đây là một nhóm
chỉ định khác đang có nhu cầu lớn về tiêm mỡ
tự thân.

Hầu hết phụ nữ trẻ trong nhóm này tồn
tại các cấu trúc sợi bẩm sinh (vú dạng ống;
Hình 6.19) hoặc sự biến đổi thành dạng sợi
một phần cho đến toàn bộ các tuyến vú (hội
chứng Poland, hội chứng Amazon). Bơm mỡ
có thể khó khăn ở vú giảm sản so với vú phát
triển bình thường. Trong trường hợp giải phẫu
đặc biệt của vú dạng ống với sự co thắt bao xơ
của phần tư dưới, thâm hụt da che phủ thùy
đuôi và phức hợp núm vú-quầng vú sa trễ, mỡ
được bơm vào thường làm giảm độ dốc của áp
lực mô xuống mức vẫn đủ hình thành góc phần
tư phía trên, mà không lấp đầy thể tích Bệnh
nhân nên được hướng dẫn sử dụng cẩn thận.
Nên chọn những chiếc cup lớn hơn tương đối,
bao phủ toàn bộ hình dạng bầu ngực đạt được
sau phẫu thuật nằm trong lớp viền silicone của
cốc.
• Lưu ý: Về cơ bản, nên tránh mọi áp lực của
cốc lên mô mỡ (“chắc chắn sẽ tiêu diệt mỡ”).

Giai đoạn mở rộng trước phẫu thuật do
bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ hoặc nhân viên y tế
có trình độ chuyên môn phụ trách và kiểm tra.
Một dấu hiệu rõ ràng nếu dùng đúng quầng vú
phù nề lan sang ranh giới của cốc; sờ thấy da
giãn nở đơn giản là lớp biểu bì dày lên do phù
nề.
• Kết thúc quá trình mở rộng đạt được thể tích
và hình dạng vú như mong muốn sau khi phẫu
thuật bơm mỡ. Mỡđược tiêm vào sẽ tạm thời
thay thế tình trạng phù nề xảy ra do sự giãn nở.

Nếu Hệ thống BRAVA đạt được hiệu
quả thì bệnh nhân nên được tư vấn lại về cách
đeo và thời gian đeo. Nên chỉ định thêm trong
khoảng thời gian từ 2 đến 3 tuần.

Thời gian mòn chủ yếu phải phù hợp với
từng cá nhân và phụ thuộc vào:
- Chất lượng da
- Độ dày của lớp ngoài mô mềm
- Sự mở rộng của các vết hằn hiện có

Việc kiểm tra kết quả mở rộng nên được
ghi chép vào bảng theo thời gian.

Quan trọng hơn, thể tích dự kiến sau
phẫu thuật phải được đặt ra cuối giai đoạn mở
rộng. Thời gian đeo tối thiểu từ 4–6 tuần. Nếu
được yêu cầu, phải kéo dài thêm 2–4 tuần nữa
[19].ngực dưới, vị trí này cần thiết để có hình
dạng và form tự nhiên.

Mở rộng trước giải quyết cho tình huống
này. Ở đây, điều quan trọng là phải đặt các cốc
ở vị trí thấp hơn đáng kể do so với nâng cao
thẩm mỹ, nếp gấp dưới vú phải mở rộng ở xị trí
xa hơn.
•
6.3.3.2 Trong phẫu thuật

Trong trường hợp dị dạng hình ống, mở
rộng các sợi xơ của phần dưới vú qua nhiều vết
rạch rất nhỏ trong mô liên kết (theo nghĩa của
kỹ thuật 3D mesh Rigottomy; Hình 6.19) trong
mổ. Sử dụng một cây kim 14–16G rạch toàn bộ
phần sợi thuộc mô liên kết dưới da bằng các lỗ
nhỏ. Không tạo ra các khoảng trống lớn trong
quá trình này để ngăn chặn sự tích tụ của mô
mỡ được tiêm vào

Hệ thống nên được để nguyên và chỉ
được tháo ra trước khi phẫu thuật để duy trì
tác dụng dãn mô trong thời gian dài nhất có
thể

Nên thực hiện cấy mỡ theo các quy tắc
chung của phẫu thuật; phân phối mỡ bằng kim
2–2,5 mm ba chiều ở dạng hộp (tránh tiêm bo­
lus)theo những phần nhỏ nhất vào lớp dưới
da cũng như trong cơ ngực. Số lượng lớn nhất
nên được đưa vào vị trí cao hơn một chút do
sự mở rộng của vùng nhận so với các phương
pháp thông thường.

15
Hình 6.19 (a – c) Ngực hình ống. (a), (b) 1 tuần
sau phẫu thuật sau khi mở rộng, bơm mỡ và mở
rộng mạng lưới 3D bằng kỹ thuật Rigottomy;
(c) 18 tháng sau phẫu thuật, kết quả được coi
là ổn định (1 OP)
•
6.3.3.3 Hậu phẫu

Bắt đầu từ ngày hậu phẫu đầu tiên, Hệ
thống BRAVA được đeo trở lại. Phải chú ý đến
việc chăm sóc da tốt và làm sạch kỹ lưỡng các
ranh giới silicone của cốc.
• Cần phải đợi trong trường hợp dịch vẫn tiếp
tục tiết ra từ vết chích cho đến khi chúng bám
dính tốt.

Sau phẫu thuật, người ta đợi chất tiết từ
vết rạch ngưng chảy. Sau đó, thiết bị được đeo
trong khoảng thời gian 2 tuần nữa để cố định
mô trong giai đoạn đầu của quá trình tái tạo
mạch máu, sau đó áp suất được giảm xuống
thông qua lớp viền xung quanh.
• Lưu ý: Cần phải đặc biệt cẩn thận, đặc biệt là
để định vị chính xác các cup để ngăn tác động
áp lực qua áo ngực đè lên mô mỡ mới được
bơm vào.

Lưu ý khi thực hiện

- Vị trí thấp hơn của các cup

- Phù nề đủ nhiều

- Lưới phẫu thuật 3D
6.4 Protocol BEAULI
Klaus Ueberreiter

Để có thể lấy được thể tích lớn (> 100
mL) một cách nhanh chóng, đáng tin cậy và
chất lượng tốt, Ueberreiter đã phát triển pro­
tocol BEAULI sau một số nghiên cứu được thực
hiện trước đó vào năm 2007 và cuối cùng đã
thử trong một nghiên cứu đa trung tâm có
kiểm soát bằng MRI. [20, 21].

Kỹ thuật này hút bằng thiết bị tia nước
(“body-jet”; Hình 6.20) do công ty Human Med
AG, Schwerin, Đức chế tạo.

16
Hình. 6.20 Body-jet (© with kind courtesy of
the com- pany Human Med)
Hình. 6.21 Chức năng của kim body-jet (© with
kind courtesy of the company Human Med)

Thiết bị này sử dụng kim có hai kênh
(Hình 6.21), một ống ở trung tâm, từ đó dung
dịch tumescence đi vào với các áp suất và thể
tích khác nhau, được điều khiển bằng bàn đạp
chân không chỉ trước mà còn trong quá trình
hút. Sau đây là những điểm quan trọng:
- Bảo tồn thành phần mô nhờ dòng nước không
đổi
- Kích thước đặc biệt nhỏ của các khối mỡ được
cấy ghép từ 0,7–1,2 mm [22], phù hợp để tiếp
nhận hoàn toàn [23]
6.4.1 Điều kiện cho chỉ định thẩm mỹ

Chúng tôi chỉ chấp nhận những bệnh
nhân nữ không hút thuốc có chỉ số BMI trên
18. Phù hợp nhất là những bệnh nhân nữ có
nhiều mỡ tích tụ ở bụng hoặc đùi trên, để việc
phẫu thuật mang lại lợi ích gấp đôi. Trước khi
can thiệp, cần cân nhắc vị trí có đủ số lượng
cần lấy. Trong phần lớn các trường hợp, ít nhất
phải thực hiện hai ca ghép trong khoảng thời
gian ít nhất là 3 tháng, tốt hơn là nên hút ra từ
các khu vực khác nhau trong các lần điều trị.
• Việc lấy mỡ có thể được thực hiện tối đa ba
lần từ cùng một khu vực.
Sau đây là các khu vực điển hình có thể thực
hiện hút mỡ dễ dàng:
- Vùng bụng và hông / hai bên sườn
- Đùi ngoài, đùi trong và đầu gối
- Mông

Chúng tôi khuyên nên thông báo trước
cho bệnh nhân là có thể đạt được khoảng một
nửa kích thước vú sau mỗi lần cấy ghép. Điều
này tương quan với cấy ghép silicone 100–150
mL. Những mô cấy nhỏ này có thể được đưa

17
trước cho bệnh nhân đặt vào áo ngực, để họ
có thể biết cảm giác của nó như thế nào. Nếu
trong quá trình tư vấn này, bạn cảm thấy mong
muốn vòng 1 lớn hơn rất nhiều chỉ trong một
lần phẫu thuật thì thông thường người ta nên
khuyên không nên nâng ngực bằng mỡ tự thân.
• Để đạt toàn bộ kích thước vú như mong
muốn, cần phải có hai lần ghép được thực hiện
trong khoảng
3 tháng. CẢNH BÁO: Mỗi lần ghép quá mức
(hơn 250/300 ml mỗi bên vú) sẽ dẫn đến việc
các mô mỡchết theo chương trình, tái hấp thu
và thậm chí tạo nang dầu.
6.4.2 Thuốc giảm đau và an thần

Việc hút mỡ được thực hiện trong khi
bệnh nhân đang được an thần bằng thuốc giảm
đau hoặc thậm chí gây tê tại chỗ. Nếu thực hiện
chỉ với gây tê tại chỗ sẽ chậm hơn đáng kể do
người ta phải đợi tê thấm.

Cũng có thể thực hiện dưới gây mê toàn
thân. Nhưng do người bệnh thiếu hợp tác nên
việc hút trở nên khó khăn, đặc biệt là mặt đối
diện của cơ thể. Ngoài ra, nguy cơ chấn thương
tăng cao do thiếu khả năng bảo vệ cơ bắp Một
giải pháp thay thế tốt là gây tê ngoài màng
cứng đang được khuyến khích sử dụng kể từ
vài năm ở Helsinki. Bệnh nhân có thể di động
trong toàn bộ cuộc mổ nhưng không đau.
6.4.3 Gây tê tumesscence

Sử dụng một dung dịch gồm 500 mg li­
docain và 1 mL adrenaline 1: 1000 trong 1 L
dung dịch muối.

Ví dụ

Dung dịch gồm 150 mL lidocain 1%

và 3 mL adrenalin 1: 1000 trong

3 L dung dịch NaCl

Trong trường hợp hoạt động dưới gây
tê cục bộ, người ta cũng nên sử dụng dung dịch
tumescence 8,4 mVal với liều lượng 12,5 mL
mỗi lít dung dịch để giảm đau trong quá trình
bơm.

Nên tránh sử dụng prilocaine do độc
tính cao đối với tiền tế bào mỡ [24]. Tốt nhất là
sử dụng các bình chứa lớn 3 hoặc 5 L, tùy thuộc
vào kinh nghiệm; dùng 1 đến 2 L dung dịch thu
lại 500 mL mỡ để bơm vào hai bên vú.
• Một phần quan trọng của quy trình là làm ấm
dung dịch lên đến nhiệt độ cơ thể trước khi
bơm vào.
6.4.4 Chuẩn bị

Tất cả các bệnh nhân nữ đều được cung
cấp đồ lót sử dụng một lần để có thể mặc trong
suốt quá trình phẫu thuật. Sát trùng da dễ thực
hiện nhất khi bệnh nhân đang đứng và sau đó
yêu cầu bệnh nhân ngồi trở lại bàn khử trùng.
Tư thế này phù hợp không gây biến chứng khi
thao tác ngay cả khi bệnh nhân xoay người
sang một bên nhiều lần mà không ảnh hưởng
đến tình trạng vô trùng.

Tại phòng khám của chúng tôi, chúng
tôi sử dụng các kit hoàn chỉnh được đóng gói
sẵn, chứa tất cả các dụng cụ cần thiết như săng,
găng tay, ống tiêm, plaster, v.v.
6.4.5 Phẫu thuật
6.4.5.1 Thì hút

Vị trí cần hút được đánh dấu trước và
rạch bằng dao mổ số 11. So với kỹ thuật tumes­
cence cổ điển, chỉ thực hiện được với thể tích
nhỏ 100–200 mL cho mỗi vùng. Cường độ hút
cài đặt ở Body jet là độ 3–4 và trong BodyJet
Evo là “Long 4”.

Để tránh tụ máu ở vùng vú và để mở
rộng không gian có sẵn cho sự phân bố chất
béo đồng đều, chúng tôi bơm dung dịch tu­
mescence vào từng vú (khoảng 200 mL mỗi
vú) không chỉ ở vùng dưới da mà còn cả vùng
trước cơ ngực trước khi hút. Mỡ được phân
phối dễ dàng theo cách này nhưng yêu cầu
đánh giá theo trình tự. Việc đưa dung dịch vào
vú được thực hiện một cách hợp lý sau khi xác
định được các khu vực mong muốn.

Sau đó, kim 2,5 mL được thay thế bằng
kim hút nhanh 3,8 mL. LipoCollector (Human
Med AG) được đặt trong dòng chảy ngược vào

18
Hình. 6.22 LipoCollector (© the company Human
Med with kind courtesy)
dưỡng tốt từ mô xung quanh cho đến khi các
tân mạch đầu tiên tạo ra. Điều này có thể thực
hiện dễ nhất bằng cách sử dụng một cây kim
cùn đủ dài. Chúng tôi sử dụng một điểm duy
nhất - bên dưới nếp gấp dưới tuyến vú khoảng
2 cm - cho mỗi bên vú, để đạt được kết quả
mong muốn (Hình 6.24).

Nhưng nếu bác sĩ phẫu thuật cảm thấy
tự tin hơn về việc đạt được sự phân bố đồng
đều qua một số vị trí thì điều này chắc chắn có
thể xảy ra. Trong trường hợp này, có thể thực
hiện tại một vị trí ở ranh giới quầng vú. Mỗi vị
trí đưa kim vào đều để lại một vết sẹo nhỏ.
Hai quy trình phổ biến được sử dụng:
- Kim được di chuyển qua lại với các chuyển
động của pít tông dài khoảng 10 cm. Pít tông
được đẩy xuống, do đó với tổng số chuyển động
của 10–20 pít tông, lượng mỡ chứa ống tiêm
bể hút (Hình 6.22). Mỡ được giữ lại chỉ có chất
lỏng dư thừa lại đến bình hút.

Áp suất âm được giảm xuống -500 để
ít gây hại nhất có thể. Một áp lực thấp hơn về
cơ bản là thuận lợi; tuy nhiên việc hút trở nên
kém hiệu quả và chậm hơn. Quá trình hút hoàn
thành với việc cài đặt cường độ tia phun là 1
trên thang đo từ 1–5 (thiết lập trên body jet),
vị trí hút trước sẽ hoàn thành trước. Bây giờ
cần chú ý không để hỗn hợp chất béo đã hút
và dung dịch tumescence bị khô bằng cách sử
dụng chất thấm gần như liên tục. Điều này rất
quan trọng vì khi này các tế bào mỡ dễ dàng bị
phá hủy do lực cắt hơn là do áp suất quá cao.
6.4.5.2 tiến hành Ghép

Chất lỏng và mỡ được tách tự động trong
LipoCollector. Chất lỏng được hút vào thùng
chứa chất thải. Khoảng 600 mL mỡ nổi (trong
LipoCollector) tạo ra một lượng 250–280 mL
đủ để làm nở ngực thẩm mỹ cả hai bên sau khi
bơm. Khi lấy đủ lượng mỡ, van phía dưới được
kết nối với bộ hút. Phải giảm xuống -200 mm
Hg để lưới lọc không bị hỏng. Các mảnh vụn
dầu được thoát ra cùng với chất thải có thể tích
biến đổi trong khoảng từ 10 đến 100 ml. Nó
không chứa bất kỳ tế bào gốc hay tế bào quan
trọng nào. Bộ lọc không cho phép các phân tử
mỡ đi qua

Phần mỡ còn lại được hút vào ống tiêm
50 cm3. Ống tiêm lớn giúp đánh giá lượng mỡ
được ghép. Ống tiêm 50 cc có thể được lắp trực
tiếp vào đầu của ống tiêm Luer Lock 10 cm3,
sử dụng cho mục đích bơm trở lại.

Việc đổ đầy ống tiêm được thể hiện
trong Hình 6.23.
6.4.5.3 Bơm trở lại
• Có thể kiểm soát chính xác thể tích được tiêm
bằng cách dùng năm ống tiêm, mỗi ống 10 cm3
đã được chứng minh là có lợi trong thực tế.
–
Cần thiết phải lấy những phần nhỏ nhất
có thể của tế bào mỡ để ghép thành công. Cần
có sự phân bố đồng đều trong mô. Tuyệt đối
tránh tích tụ số lượng lớn tại một điểm để các
đơn vị mô nhỏ này có nguồn cung cấp dinh

19
10 cm3 được phân phối trong mô (Hình 6.24).
bằng một nửa kích thước cúp áo ngực
Hình. 6.23 Đổ đầy ống tiêm
- Kim được đẩy về phía trước cho đến khi nó
dừng lại, bơm dần trong quá trình rút kim
đến chiều dài ít nhất 10 cm, thể tích đưa vào
khoảng 1 cm3. Có thể sử dụng một thiết bị cơ
học được đặt trên ống tiêm với mục đích định
lượng chính xác.

Tùy theo cơ địa và vị trí của vùng cần
làm đầy mà tiêm mỡ đến khi vùng này có sự
đàn hồi trở lại, nhưng không được bơm căng
cứng.
• Với nâng ngực thẩm mỹ, có thể cấy một thể
tích từ 200–300 mL cho mỗi bên vú; trong
phần lớn các trường hợp chúng tôi cấy khoảng
250 mL .

Trong một nghiên cứu tiến cứu có kiểm
soát bằng MRI, chúng tôi quan sát thấy khoảng
80% mô mỡ được thu hoạch không lành lại.
Chỉ thành phần mỡ tinh khiết sau khi ly tâm
được sử dụng để đánh giá, bao gồm 75% hỗn
hợp mỡ nổi, được cấy truyền lại [20, 25]. Phần
còn lại 25% bao gồm dung dịch tumescence
được sử dụng từ quá trình tách mỡ.
• Vì vậy, người ta có thể cho rằng khả năng
chữa lành của mô được cấy (tổng thể) là 60%.
Sau khi chữa bệnh, điều này tương ứng (trong
trường hợp thể tích ghép trung bình là 250
mL) để tăng thể tích

Các điểm đâm kim phải được đóng lại
bằng băng dính để trên da trong khoảng 10
ngày. Các vật liệu như Omnistrip (R) của công
ty Hartmann đã được chứng minh là đáng tin
cậy và có thể sử dụng được trong khoảng thời
gian mong muốn ngay cả khi tắm cũng không
cần thay băng. Bạn nên làm sạch khu vực xung
quanh vết thương trước bằng miếng gạc nhúng
cồn, để lớp thạch cao bám vào chắc chắn hơn.
6.4.5.4 Hậu phẫu

Băng ép vùng hút. Ngực được giữ ấm
bằng một miếng đệm coton thấm hút tốt.
Tránh mọi áp lực mạnh do mặc áo ngực hoặc
vận động quá mạnh (thể thao, xoa bóp) trong
khoảng thời gian 4 tuần sau khi phẫu thuật.
Bệnh nhân thấy được kết quả tương ứng (tình
trạng sưng tấy nói chung khoảng 7–10 ngày
sau phẫu thuật) và kết quả lâu dài sau lần can
thiệp thứ hai. Chúng tôi khuyên bệnh nhân nên
chụp “selfie” vào thời điểm này. Lần ghép mỡ
tiếp theo có thể được thực hiện sau đó 3 tháng.
Một ví dụ được thể hiện trong Hình 6.25.
Hình. 6.24 Tiêm (Hình vẽ của K. Ueberreiter)

20
Hình. 6.25 (a–g) Trước (a–c) sau năm năm sau 2 lần phẫu thuật (d–f), (g) MRI 5 năm sau phẫu thuật

21
Tóm tắt

Quy trình BEAULI (TM) được mô tả
ở đây đáp ứng tất cả các yêu cầu để cấy
ghép mô mỡ thành công. Trong 10 năm
qua, phương pháp này đã được chứng
minh là đáng tin cậy trên toàn thế giới với
hàng nghìn trường hợp. Độ tin cậy nằm ở
kết quả, sự đơn giản và nhanh chóng trong
thực hiện và hầu như không có bất kỳ biến
chứng nào. Một bác sĩ được đào tạo chỉ
mất không quá 60 phút để thực hiện nâng
ngực thẩm mỹ , tăng một nửa cỡ ngực chỉ
trong một lần phẫu thuật.

Các khả năng ứng dụng khác bao
gồm thay thế mô cấy silicon bằng mỡ tự
thân [26] cũng như tái cấu trúc vú sau ung
thư biểu mô tuyến vú [27].
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Coleman SR. Structural fat grafting. Aesthet
Surg J. 1998;18(5):386, 388
2. Coleman SR, Mazzola RF. Fat injection: from
fillingto regeneration. St Louis: Quality Medi­
cal; 2009.
3. Herold C, Utz P, Pflaum M, Wilhelmi M, Vogt
PM,Rennekampff HO. Negative pressure of
manual liposuction with Coleman technique
is highly dependanton the position of plunger
of the syringe. J PlastReconstr Aesthet Surg.
2012;65(7):983–4.
4. Fisher C, Grahovac T, Schafer M, Shippert R,
MarraK, Rubin P. Comparison of harvest and
processing techniques for fat grafting and ad­
ipose stem cell isolation. Plast Reconstr Surg.
2013;132:351.
5. Salinas HM, Broelsch GF, Fernandes JR,Mc­
Cormack MC, Meppelink AM, Randolph MA,
Colwell AS, Austin WG. Comparative study of
processing methods in fat grafting. Plast Re­
constr Surg.2014;134:675–83
6. Shippert RD. Autologous fat transfer: elimi­
nating the centrifuge, deceasing lipocyte trau­
ma and establishing standardization for scien­
tific study. Am J CosmetSurg. 2006;23:21–7.
7. Herold C, Pflaum M, Utz P, Wilhelmi M,
Rennekampff HO, Vogt PM. Viability of autol­
ogous fat grafts harvested with the Coleman
technique and the tissu trans system (ship­
pert method): a comparative study. Handchir
Mikrochir Plast Chir. 2011;43(6):361–7.
8. Utz P. Comparison of human fat grafts ob­
tained by the Coleman technique and the Ship­
pert method [Inaugural dissertation]. Han­
nover Medical School; 2012
9. Eto H, Kato H, Suga H, et al. The fate of adi­
pocytes after nonvascularized fat grafting: evi­
dence of early death and replacement of adipo­
cytes. Plast Reconstr Surg. 2012;129:1081–92.
10. Ferguson RE, Cui X, Fink BF, Vasconez HC,
Pu LL. The viability of autologous fat grafts
harvested with the LipiVage system: a compar­
ative study. Ann Plast Surg. 2008;60:594–7.
11. Gerth D, King B, Rabach L, Glasgold R,
Glasgold M. Long term volumetric retention
of autologous fat grafting processed with
closed-membrane filtration.
Aesthet Surg J. 2014;34(7):985–94.
12. Ansorge H, Garza JR, MaCormack MC, Leamy
P, Roesch S, Barere A, Connor J. Autologous fat
processing via the Revolve system: quality and
quantity of fat retention evaluated in an ani­
mal model. Aesthet Surg J. 2014;34:438–47.
13. Peltoniemi HH, Salmi A, Miettinen S, et al.
Stem cell enrichment does not warrant a high­
er graft survival in lipofilling of the breast: a
prospective comparative study. J Plast Recon­
str Aesthet Surg. 2013;66:1494–503.
14. Domenis R, Lazzaro L, Calabrese S, Mango­
ni D, Gallelli A, Bourkoula E, Manini I, Bergamin
N, Toffoletto B, Beltrami CA, Beltrami AP, Ces­
selli D, Parodi PC. Adipose tissue derived stem
cells: in vitro and in vivo analysis of a standard
and three commercially available cell-assisted
lipotransfer techniques. Stem Cell Res Ther.
2015;6:2.
15. Khouri RK, Schlenz I, Murphy BJ, Baker TJ.
Nonsurgical breast enlargement using an ex­
ternal soft-tissue expansion system. Plast Re­
constr Surg.B2000;105(7):2500–12; discus­
sion 2513–4
16. Khouri RK, Eisenmann-Klein M, Cardos E,
et al. Brava and autologous fat transfer is a safe
and effective breast augmentation alternative:

22
results of a 6-year, 81-patient, prospec­
tive multicenter study.Plast Reconstr Surg.
2012;129(5):1173–87
17. Del Veccio D, Fichadia H. Autologous fat
transplantation – a paradigm shift in breast re­
construction. 2012.
com/books/breast-reconstruction-cur­
rent-techniques/autologous-fat-transplanta­
tion-a-paradigm-shift-in-breast-reconstruc­
tion.
18. Klein SM, Prantl L, Geis S, et al. Pressure
monitoring during lipofilling procedures. Clin
HemorheolMicrocirc. 2014;58(1):9–17.
19. Mestak O, Mestak J, Bohac M, Edriss A, Su­
kopA. Breast reconstruction after a bilateral
mastectomy using the BRAVA expansion sys­
tem and fat grafting.Plast Reconstr Surg Glob
Open. 2013;1(8):e71.
20. Ueberreiter K, von Finckenstein JG, Crom­
me F et al. [BEAULI – a new and easy method
for largevolume fat grafts]. Handchir Mikrochir
Plast Chir. 2010;42(6):379–85.
21. Ueberreiter K, Tanzella U, Cromme F, Doll
D, Krapohl BD. One stage rescue procedure
after capsular contracture of breast implants
with autologous fat grafts collected by wa­
ter assisted liposuction (“BEAULI Method”).
GMS Interdiscip Plast Reconstr Surg DGPW.
2013;2:Doc03.
22. Mohrmann C, Herold C, Pflaum M et al. [Vi­
ability and particle size of fat grafts obtained
with WAL and PAL techniques]. Handchir
Mikrochir Plast Chir.2015;47(4):246–52.
23. Pu LL, Yoshimura K, Coleman SR. Fat graft­
ing: current concept, clinical application, and
regenerative potential, part 1. Clin Plast Surg.
2015;42(2):ix–x.
24. Keck M, Janke J, Ueberreiter K. [The influ­
ence of different local anaesthetics on the vi­
ability of preadipocytes]. Handchir Mikrochir
Plast Chir. 2007;39(3):215–9.
25. Herold C, Knobloch K, Grimme M, Vogt
PM. Does the injection plane matter in autol­
ogous fat transplantation? Aesthet Plast Surg.
2010;34(5):678–9.
26. Ueberreiter K, Tanzalla U, Cromme F. Au­
tologous fat tissue transplantation as a salvage
process after capsular contracture. Von Heim­
burg, Lemperle, Asthetische Chirurgie,
26. Ergänzungslieferung, Sept 2011.
Hüthig/Ecomed, Landsberg am Lech; 2011.
27. Hoppe DL, Ueberreiter K, Surlemont Y,
Peltoniemi H, Stabile M, Kauhanen S. Breast
reconstruction de novo by water-jet assisted
autologous fat grafting – a retrospective study.
Ger Med Sci. 2013;11:Doc17.

2
Mặt
Yves Surlemont
9
9.1 Điều trị nếp nhăn
9.1.1 Thu hoạch microfat và nanofat

Các thuật ngữ “mini”, “micro” và “nano”
đề cập đến kích thước của các hạt mỡ. Đường
kính của các hạt mỡ ảnh hưởng đến kết quả
của việc cấy ghép [1, 2], đường kính của dụng
cụ được sử dụng trong cấy ghép quyết định
đến kết quả thẩm mỹ của ca phẫu thuật.

Một bộ canuyn tiêu chuẩn dùng cho kỹ
thuật Coleman đã được giới thiệu vào cuối
những năm 1990 với mục đích sử dụng cho
vùng mặt [3]. Trước đó đường kính ngoài của
canuyn là 1,5 mm (17G).

Kích thước này thực sự không thích hợp
để sử dụng cho các vùng trên khuôn mặt, ví dụ
như mi mắt và môi [4]. Điều này dẫn đến việc
phát triển các loại dụng cụ mới để hút và ghép
các hạt mỡ nhỏ hơn. Những canuyn này được
gọi là “minis” [5]. Tác giả của bài báo này đã
sử dụng các canuyn có kích thước 16G, 19G và
22G (Hình 9.1) kể từ giữa những năm 2000.
Kim lên đến 25G được sử dụng để ghép da vào
da các canuyn có đầu tròn, cùn không thể dùng
cho các mô quá cứng như sẹo hoặc lớp trung
bì; trong những trường hợp như vậy, nên sử
dụng các loại kim sắc bén [5].

Việc sử dụng các canuyn cùn có đường
kính bé cấy các hạt mỡ nhỏ sau này được gọi
là “ghép microfat” [6], hoặc SNIF (“ghép mỡ
trong da bằng kim nhọn”) - tùy thuộc vào ứng
dụng [7] Hình 9.2).

Tonnard và cộng sự đã giới thiệu thuật
ngữ chất béo nano (“nanofat”) vào năm 2010
(xem Sect. 4.1.1) và xuất bản một bài báo vào
năm 2013. Mỡ nano cho phép chúng tôi cấy
vào cơ thể bằng cách sử dụng kim 27G. Với
mục đích này, dịch hút được tạo nhũ tương
một cách cơ học, bơm nó qua lại từ một ống
tiêm Luer Lock sang một ống tiêm khác thông
qua một van nghiêng ba chiều (Hình 9.3) nhờ
đó thực hiện được quá trình lọc. Sau khi nhũ
tương hóa, thu được Nanofat không còn chứa
các tế bào mỡ nguyên vẹn nữa.
Hình 9.1 Kim Coleman nhỏ (micro needles)
• Ghép nanofat thường được thực hiện cùng
ghép microfat lớp phía trên.

Trong khi sử dụng kỹ thuật này, lớp da
phía ngoài có thể có màu vàng tạm thời và biến
mất sau một thời gian.

Đôi khi nhìn thấy một bong bóng mỡ
nhỏ, bong bóng này sẽ tự hấp thụ sau một vài
ngày (Hình 9.4).

Nanofat có thể cải thiện chất lượng da và
do đó cải thiệ vẻ đẹp của da khi nó được tiêm
vào (Hình 9.5).

Việc cải thiện chất lượng da bằng
phương pháp cấy mỡ đã được biết đến từ lâu
và đã được chứng minh trong nhiều nghiên
cứu [8, 9]. Cơ chế tác dụng của mỡ nano trong
những trường hợp này vẫn chưa được xác định
rõ ràng. Tonnard và cộng sự. [10] đã báo cáo tác
động tích cực chủ yếu thông qua các tế bào gốc
được cấy. Điều này là do các tế bào mỡ không
tồn tại được trong quá trình tạo nhũ tương.

3
Hình 9.2 (a – e) Một bệnh nhân nữ 48 tuổi: giai đoạn cấy ghép mô mỡ tự thân của môi trên (3 mL)
và môi dưới (4 mm) bằng mini canuyn và kim 25G (2 mL) kết hợp với căng da vùng mặt và cổ

Hình. 9.3 valve 3 chiều

4
Hình 9.4 (a – g) Ghép mỡ nano bên dưới vết sẹo bỏng 30 tuổi vùng cánh tay dưới. (a) Trước phẫu
thuật. (b, c) Sự hình thành bong bóng mỡ trước phẫu thuật trong quá trình tiêm sử dụng kim 25G.
(d – g) Hình ảnh hậu phẫu vào ngày 1 (d), ngày 9 (e), và ngày 16 (f) và sau khoảng thời gian 6
tháng (g)
Hình 9.5 (a – g) Ghép mỡ nano trên khuôn mặt. (a) Bệnh nhân nữ 18 tuổi. (b, c) Hình ảnh trước
phẫu thuật, ảnh không có đèn flash(b) và (c) có đèn flash. Khi đó, bệnh nhân 46 tuổi, nặng 50 kg.
(d) Đánh dấu vùng tiêm nanofat. (e) Hình lâm sàng sau thủ thuật. (f, g) Kết quả sau khoảng thời
gian 18 tháng được chụp ảnh không có đèn flash (f) và (g) có đèn flash. Khi đó, bệnh nhân nặng
53 kg

5
Hình. 9.5 (tiếp)
9.2 Mỡ tự thân ở mặt

Kể từ khi Sidney Coleman giới thiệu
công nghệ cấu trúc mỡ để cấy ghép mô tự thân
vào năm 1998 tại Pháp [3, 11], quy trình này
không chỉ được ứng dụng trong phẫu thuật tái
tạo mà còn dùng trong phẫu thuật thẩm mỹ.
• Dưới bàn tay của một bác sĩ phẫu thuật giàu
kinh nghiệm, hầu như không có biến chứng
nào xảy ra.

Nhiều cải tiến đã được đưa ra trong
những năm sau đó [4–6, 12], kết quả của việc
ghép mỡ có thể tiên lượng được và thời gian
phục hồi cũng được rút ngắn. Dưới đây là kinh
nghiệm của tác giả bài báo kể từ khi mini
canuyn được giới thiệu vào năm 2007.
9.2.1 Hút mỡ

Có một điểm khác biệt cơ bản so với
filler: Sử dụng 1–2 mL axit hyaluronic, sẽ đạt
được hiệu quả thể tích lớn hơn đáng kể so với
cùng một lượng mỡ tự thân. Mỡ tự thân tồn tại
vĩnh viễn và có rất ít tác dụng phụ. Các thể tích
được sử dụng từ 5 đến 50 mL.

Nếu cần thể tích nhỏ hơn 15–20 mL, thì
người ta có thể thực hiện hút mỡ bằng tay. Sử
dụng các canuyn có đường kính ngoài 2 hoặc
1,6 mm tùy thuộc vào vị trí mỡ cần ghép. Ban
đầu, khu vực hút mỡ được tê bằng 40–80 mL
dung dịch tumescence. Nên chờ 10 phút trước

6
khi bắt đầu hút. Trong mọi trường hợp, không
được sử dụng Prilocaine vì nó có thể gây độc
cho tế bào [13]. Các canuyn tương ứng được
gắn với một ống tiêm Luer Lock 10 mL.
• Chỉ rút từng lượng nhỏ (tương ứng 2 mL) để
tránh gây tổn thương mô không cần thiết.

Đối với mỗi ống tiêm 10 mL, có thể hút
khoảng 5 mL mỡ. Tiến hành ly tâm trong thời
gian ngắn (ví dụ: máy ly tâm bằng tay), nhưng
không bắt buộc. Với bác sĩ đã quen với quy
trình thì thời gian có thể rút ngắn.

Nếu cần nhiều hơn 20 hoặc 30 mL thì
nên hút bằng quy trình tia nước (WAL) sử dụng
kim có đường kính ngoài 3,5 mm hoặc (thậm
chí tốt hơn) 3,0 mm và sau đó gạn lấy dịch hút.
• Nên băng vùng đã hút bằng băng dính y tế
trong vài ngày để tránh sưng tấy sau phẫu
thuật. Không nhất thiết phải mặc quần áo ép.
9.2.2 Cấy ghép

Việc cấy ghép được thực hiện bằng công
nghệ mini, micro hoặc nano [7]. Canuyn có
đường kính ngoài 1 và 0,7 mm; các kim 22 và
25G (Sect. 4.2.4). Về cơ bản, có thể sử dụng kim
nhọn. Ngày nay, nên ưu tiên sử dụng kim cùn vì
lý do an toàn (thuyên tắc mỡ).
Không cần bơm lượng mỡ quá mức vì không
mang lại kết quả tốt hơn và tránh được tình
trạng sưng nề mặt vĩnh viễn, thường thấy trong
phương pháp lipostructure.
• Nên lập kế hoạch cho lần điều trị thứ hai ngay
từ đầu vì quy trình này luôn mang lại kết quả
tốt hơn.

Trước khi phẫu thuật, các khu vực được
tiêm phải được đánh dấu với sự hợp tác của
bệnh nhân bằng cách sử dụng một tấm gương.
Trong quá trình này, người ta cũng có thể ước
tính khu vực nào, khối lượng nào và lượng mỡ
cần cấy. Ví dụ (Hình 9.6) cho thấy các đơn vị
giải phẫu của khuôn mặt, có liên quan đến quá
trình cấy mỡ.

Sử dụng kim 18G gần như không để lại
sẹo sau khi chọc vào. Do đó không cần thiết
đắn đo quá nhiều về vị trí tiêm.
• Điều quan trọng là phải lập kế hoạch tiêm ít
nhất hai điểm cho mỗi vị trí vì các đường hầm
ghép có thể giao nhau.

Hiện thời gian phục hồi ước tính đã
giảm xuống (Hình 9.7) vì kỹ thuật cấy dần trở
nên hoàn thiện và thay đổi theo hướng tốt hơn.
Nhìn chung, bệnh nhân trở nên bình thường
chỉ sau 3 ngày. Kết quả cuối cùng đạt được sau
4 tuần.
9.2.3 Các khu vực cấy mỡ trên khuôn mặt

Tất cả các vùng trên khuôn mặt có thể
được xem xét để cấy ghép mô mỡ nếu có chỉ
định. Nhưng có một số điểm khác biệt ở mỗi
khu vực.
9.2.3.1 Trán

Trong khu vực này, chỉ nên sử dụng chất
béo nano (Sect. 4.1.1), để tránh hình thành
khối phồng có thể nhìn thấy rõ ràng.
9.2.3.2 Vùng lông mày và thái dương

Thái dương bị lõm xuống là một dấu
hiệu điển hình của sự lão hóa. Tại vùng này,
hiệu quả trẻ hóa mạnh mẽ có thể đạt được
thông qua quá trình bơm mỡ tự thân trên diện
rộng (khoảng 10 mL mỗi bên). Việc tiêm được
thực hiện dưới da với các canuyn cùn 16–18G
để tránh làm tổn thương các mạch máu vùng
thái dương.

Thường thì phía ngoài lông mày cũng bị
trũng sâu vào trong, thậm chí ở đây, vị trí lông
mày có thể đồng thời đạt được hiệu ứng thể
tích (thể tích 2–5 mL mỗi bên, canuyn 16–18G).
Các ví dụ trong Hình. 9,8 và 9,9.

7
Hình 9.6 (a – c) Một phụ nữ 45 tuổi, nhiễm HIV qua truyền máu. (a) 24 tuổi. (b) Các vị trí được cấy. (c) Kết
quả sau khi tiêm hai lần (37 và 33 mL) sau 1 năm. Việc lấy mỡ được thực hiện bằng Body-jet. Cân nặng của
bệnh nhân ổn định ở mức 74 kg
Hình 9.7 Một phụ nữ 38 tuổi sau 3 ngày can thiệp, không trang điểm

8
Hình 9.8 (a, b) Các điểm vào thường được sử dụng, (a) trước phẫu thuật, (b) Kết quả sau 2 ngày
với 2,6 mL mỡ được ghép
Hình 9,9 (a, b) Trước khi điều trị ở tuổi 42 (BMI 20), (b) 4 năm sau (BMI 20,66) với 2,6 mL ghép
mỡ mini

9
9.2.3.3 Vùng quanh ổ mắt

Về mặt kỹ thuật, việc điều trị vùng quanh
mắt khó khăn hơn do vùng này không dày và
lớp da bao phủ cũng rất mỏng. Nhưng chính vì
thế, kết quả có thể rất ấn tượng do đạt được sự
gia tăng khối lượng và cải thiện chất lượng da
mặc dù thao tác kỹ thuật khó thực hiện.

Dấu hiệu của sự lão hóa bao gồm sự mất
mát mô mỡ ở vùng mi trên ngày càng nhiều,
dẫn đến đôi mắt trũng sâu. Khoảng 0,5–1 mL
microfat phía trên vách hốc mắt, đặc biệt là ở
giữa dẫn đến những thay đổi rất tích cực.

Hình 9.10 Ở đây cắt bỏ da sẽ là một lựa
chọn sai lầm để điều trị do nó sẽ dẫn đến "biến
dạng mắt trũng sâu."

Các nếp nhăn ở hai bên (“mắt cười”)
cũng có thể được điều trị tương tự. Đưa một
lượng nhỏ mỡ(khoảng 0,2–0,5 mL mỗi bên)
thẳng góc với nếp nhăn, liên tiếp với filler vùng
thái dương và chân mày vào bên trong da.
9.2.3.4 Mí dưới

Da của mí mắt dưới chỉ nên được lấp đầy
bằng các mảnh vụn tế bào (“Mỡ nano”). Nếu
không, u mỡ có thể dễ dàng hình thành ở đây.
Microfat cũng có thể được cấy vào vùng dưới
ổ mắt trong trường hợp mắt trũng sâu. Rãnh
lệ được cải thiện rõ nhất sau tiêm sâu quanh
màng xương 1–2 mL macrofat phía dưỡi.

Đối với mí mắt dưới, có thể điều trị giảm
quầng thâm (Hình 9.11, 9.12 và 9.13). Từng
phần nhỏ mỡ được phân bố bên dưới cơ vòng
mi, thậm chí ngay dưới da.
9.2.3.5 Phần giữa của khuôn mặt

Không cần kỹ thuật đặc biệt cho phần
giữa của khuôn mặt. Các điểm đưa kim vào
được chọn theo vị trí được yêu cầu.nếp nhăn,
liên tiếp với filler vùng thái dương và chân mày
vào bên trong da.
9.2.3.4 Mí dưới

Da của mí mắt dưới chỉ nên được lấp
đầy bằng các mảnh vụn tế bào (“Mỡ nano”).
Nếu không, u mỡ có thể dễ dàng hình thành ở
đây. Microfat cũng có thể được cấy vào vùng
dưới ổ mắt trong trường hợp mắt trũng sâu.
Rãnh lệ được cải thiện rõ nhất sau tiêm sâu
quanh màng xương 1–2 mL macrofat phía
dưỡi.

Đối với mí mắt dưới, có thể điều trị giảm
quầng thâm (Hình 9.11, 9.12 và 9.13). Từng
phần nhỏ mỡ được phân bố bên dưới cơ vòng
mi, thậm chí ngay dưới da.
9.2.3.5 Phần giữa của khuôn mặt

Không cần kỹ thuật đặc biệt cho phần
giữa của khuôn mặt. Các điểm đưa kim vào
được chọn theo vị trí được yêu cầu. Trong quy
này, quan trọng là đảm bảo những điểm đưa
kim vào không để lại sẹo trong tương lai.

Lên đến 40 mL chất béo mỗi bên được
đưa vào dưới da mỗi bên và nếu cần, cũng
được tiêm vào cơ hoặc quanh màng xương.

Trong trường hợp này, người ta có thể
sử dụng canuyn 16G.

Kết quả như mong đợi ở loạt ảnh trong
Hình 9.14 sau khi ghép mỡ vào phần giữa của
khuôn mặt.

10
Hình 9.10 (a, d) Một phụ nữ trẻ 21 tuổi (a) và 57 tuổi (b) trước phẫu thuật (c). Mỡ đưa vào tiếp xúc trực
tiếp với xương. 1,3 mL mi trên và 1,5 mL ở vùng thái dương bằng kỹ thuật mini. (d) Kết quả sau 6 năm
Hình 9.11 (a – d) Một phụ nữ 28 tuổi vào thời điểm điều trị đầu tiên bị thâm quầng mắt (a) và 5
năm sau (b). Thực hiện một quy trình mini với 1 mL mỡ và 0,7 mL 1 năm sau. Cùng một bệnh nhân
được chụp ảnh mà không có đèn flash (c) trước phẫu thuật, (d) 5 năm sau

11
Hình. 9.11 (tiếp)
Hình 9.12 (a – f) Hình ảnh trực diện (a, b) nhìn thẳng về phía trước. (a) Một người phụ nữ 38 tuổi
có lớp đệm mỡ ở mí mắt dưới và các mắt trũng sâu. (b) 2 năm sau phẫu thuật thẩm mỹ mí mắt
dưới, loại bỏ mỡ không cần cắt da. Ngoài ra, cấy mỡ tự thân vào rãnh lệ (2,5 mL bên phải và 2
mL bên trái). (c, d) Cùng một bệnh nhân, tư thế hướng lên trên (c trước phẫu thuật, (d) sau phẫu
thuật thẩm mỹ). (e, f) Cùng một bệnh nhân được chụp ảnh mà không sử dụng flash ((e) trước phẫu
thuật, (f) sau phẫu thuật tạo hình mí mắt dưới)

12
Hình 9.13 (a – d) Hình ảnh trực diện trong khi nhìn thẳng về phía trước. (a) Một người phụ nữ 60 tuổi có
lớp đệm mỡ ở mí mắt dưới và mắt trũng sâu. (b) Kết quả 1 năm sau phẫu thuật tạo hình mí mắt dưới bằng
lấy mỡ, cắt da và lấy mô mỡ tự thân cấy vào rãnh lệ (2 mL bên phải và 2 mL bên trái). (c, d) Cùng một bệnh
nhân trước (c) và sau phẫu thuật (d) được chụp ảnh mà không sử dụng đèn flash với tư thế hướng lên trên
Hình 9.14 (a – f) Bệnh nhân nữ 41 tuổi (từ trái sang) và 46 tuổi sau hai lần ghép mỡ được thực hiện bằng
phương pháp cấy mỡ tự thân (tương ứng là 37 và 33 mL bên phải). Mỡ được lấy bằng phương pháp WAL.
Các bệnh nhân có trọng lượng cơ thể ổn định là 74 kg. (a, b) Nhìn trực diện trong tư thế nhìn thẳng ra phía
trước. (c, d) Bệnh nhân hướng mặt lên trên. (e, f) Bệnh nhân có tư thế nhìn xuống

13
Hình. 9.14 (tiếp)

Trong quy này, quan trọng là đảm bảo
những điểm đưa kim vào không để lại sẹo
trong tương lai.

Lên đến 40 mL chất béo mỗi bên được
đưa vào dưới da mỗi bên và nếu cần, cũng
được tiêm vào cơ hoặc quanh màng xương.

Trong trường hợp này, người ta có thể
sử dụng canuyn 16G.

Kết quả như mong đợi ở loạt ảnh trong
Hình 9.14 sau khi ghép mỡ vào phần giữa của
khuôn mặt.
9.2.3.6 Phần dưới của khuôn mặt, môi và
vùng quanh miệng


Rất khó đạt được kết quả tự nhiên sau
khi cấy mỡ . Tỷ lệ thành công ở vùng môi
không quá nhiều như các vùng khác trên khu­
ôn mặt do đây là một khu vực liên tục chuyển
động và không thể cố định thích hợp trong bất
kỳ khoảng thời gian nào. Mặt khác, việc bơm
môi nên được ưu tiên sử dụng mỡ tự thân chứ
không phải các chất làm đầy khác. Với quy
trình thích hợp, không có nguy cơ căng cứng
hoặc sưng nề xảy ra.
• Tuy nhiên, cần giải thích rõ ràng cho bệnh
nhân ngay từ đầu (như trong trường hợp cấy
ghép mỡ) rằng trong nếu họ tăng cân hơn
(nhiều hơn
5 kg), các khu vực được cấy ghép cũng sẽ to ra
trông thấy.

Một mặt, mỡ được cấy bên dưới niêm
mạc trong vùng môi, để đạt được sự đầy đặn,
và mặt khác bên trong cơ, để có được hình dáng
đẹp. Việc tiêm dưới da trực tiếp vào môi trên
cần được thực hiện cẩn thận nhất và sử dụng
kỹ thuật micro hoặc nano [6].

Kết quả được thể hiện trong Hình 9.15.

14
Hình 9,15 (a – m) Một phụ nữ 34 tuổi (a – d), trước khi cấy mỡ tự thân (bên trái trang điểm, bên phải
không trang điểm, miệng khép và mở). (e, h, k) Trước phẫu thuật ở các vị trí khác nhau của miệng, (f, i, l) 2
năm sau khi cấy 4 mL mỡ tự thân vào môi trên và 5 mL vào môi dưới. (g, j, m) Cùng một bệnh nhân 5 năm
sau phẫu thuật

15
Hình 9.16 (a – i) Một người đàn ông 39 tuổi vào thời điểm cấy mỡ (5 mL theo kỹ thuật cổ điển sử
dụng kim 1,5 mm; a, d, g) và kết quả sau khoảng thời gian 3 năm (b, e, h) và sau 10 năm (c, f, i);
ngoài ra, “cải thiện thêm” hình ảnh chính diện, bên phải và bên trái
9.2.3.7 Cằm

Cằm có thể dễ dàng to ra nhờ cấy mỡ mà
không cần phẫu thuật cắt xương (Hình 9.16).
9.2.3.8 Đường quai hàm

Đường quai hàm cũng có thể được tạo
hình tương tự thông qua phương pháp tiêm
mỡ tự thân. Các can thiệp trong lĩnh vực này
thường được kết hợp với hút mỡ (Hình 9.17).

Chỉ định trong kỹ thuật này bị hạn chế
do sự sa trễ ngày càng tăng và chất lượng da
giảm ở vùng mặt lão hóa. Nhưng sự kết hợp
của kỹ thuật này với các quy trình khác tạo ra
kết quả tự nhiên, các ví dụ nghiên cứu điển
hình trong Hình. 9,18 và 9,19.

16
Hình 9.17 (a – f) Một phụ nữ 62 tuổi (a), người đã từ chối phẫu thuật chỉnh hình (b). Khu vực được
đánh dấu bằng màu tím đã được điều trị bằng hút mỡ; khu vực được đánh dấu bằng màu xanh lá
cây đã được xử lý bằng cấy mô mỡ tự thân (4,5 mL công nghệ mini). (c, e) trước phẫu thuật và (d,
f) phía trước và phía ngoài sau 2,5 năm

17
Hình 9.18 (a – j) Một phụ nữ 54 tuổi bị thừa da và sa trễ da vùng cổ và mặt (a, b trước phẫu thuật). (c, d)
Lập kế hoạch can thiệp: hút mỡ (đánh dấu màu tím), cấy mỡ tự thân (đánh dấu màu xanh lá cây), và căng
da mặt (quy trình cá nhân), (e , g, i) trước phẫu thuật và 1 năm sau phẫu thuật (f, h, j). Trong trường hợp
khuôn mặt hướng lên trên (kết quả sau 1 năm), hiệu ứng đặc biệt rõ ràng bởi sự phân bổ lại và hài hòa
của thể tích (i, j)

18
Hình. 9.18 (tiếp)
Hình 9.19 (a – h) Một phụ nữ 62 tuổi có làn da cháy nắng kết hợp với mất thể tích trên khuôn mặt (a, b, e
và g vị trí trước phẫu thuật b). (d) Lập kế hoạch can thiệp, cấy mỡ tự thân kỹ thuật mini và micro (đánh
dấu màu xanh lá cây), căng da mặt (kỹ thuật cá nhân) và phẫu thuật thẩm mỹ cho mí mắt dưới (d, f, h). Kết
quả sau 1 năm (xem chính diện và nửa mặt)

19
Hình. 9.19 (tiếp)

20
Hình. 9.19 (tiếp)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Folkman J, Hochberg M. Self-regulation
of growth in three dimensions. J Exp Med.
1973;138(4):745–53.
2. Kato H, Mineda K, Eto H, et al. Degener­
ation, regeneration, and cicatrization after
fat grafting: dynamic total tissue remodeling
during the first 3 months. Plast Reconstr Surg.
2014;133(3):303e–13e.
3. Coleman SR. Facial recontouring with lipo­
structure. Clin Plast Surg. 1997;24(2):347–67.
4. Trepsat F. Reshaping of the periorbital re­
gion. In: Terino EO, editor. Chapter 5: three
dimensional facial sculpting. London: Informa
Healthcare; 2007. p. 99–102.
5. Coleman SR. Update on structural fat graft­
ing. In: Coleman SR, Mazzola RF, editors. Chap­
ter 9: Fat injection. From filling to regeneration,
vol. 188. St. Louis: Quality Medical Publishing;
2009. p. 193.
6. Trepsat F. Midface reshaping with micro-fat
grafting. Ann Chir Plast Esthet. 2009;54:435–
443 (in French).
7. Zeltzer AA, Tonnard PL, Verpaele AM.
Sharp-needle intradermal fat grafting (SNIF).
Aesthet Surg J. 2012;32(5):554–61.
8. Klinger M, Caviggioli, Klinger F, Pagliari AV,
Villani F, Bandi V. Scar remodeling following
burn injuries

hacklink satın al mumu模拟器 雷电模拟器 向日葵 giftcardmall/mygift giftcardmall balance mygift giftcardmall Salvobet Salvobet Giriş Salvobet Salvobet Giriş matbet matbet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Betgaranti Betgaranti Güncel Adres Betgaranti Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Fim İzle Fim İzle Giriş Fim İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Fim İzle Fim İzle Güncel Adres Fim İzle jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş diyabetik ayak Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Giriş Casibom Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Jojobet Jojobet Giriş Jojobet Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Deneme Bonusu Film İzle Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Türkçe Dublaj Film İzle Film İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi perabet perabet giriş holiganbet holiganbet giriş Casibom Lesfillmercom Casibom Lesfillmercom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Gerbergirlcom Casibom Gerbergirlcom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Spcelectriccontrolcom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş marsbahis marsbahis giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş matbet matbet giriş matbet güncel giriş vaycasino vaycasino güncel giriş vaycasino giriş matbet matbet giriş pusulabet pusulabet giriş pusulabet pusulabet güncel giriş pusulabet giriş matbet matbet güncel giriş matbet giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Resmi Adres pusulabet pusulabet giriş pusulabet güncel giriş Fixbet Fixbet Güncel Giriş Salvobet Salvobet Giriş Salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Turk Porno Turk Porno Giriş Turk Porno casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi casibom casibom jojobet izmir escort izmir buca escort buca escort jojobet buhar kazanı casibom holiganbet holiganbet giriş jojobet holiganbet holiganbet giriş jojobet jojobet jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş izmir escort izmir buca escort buca escort izmir escort bayan salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Giriş Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Deneme Bonusu Veren Giriş Deneme Bonusu Veren salvobet salvobet salvobet salvobet Casibom betgaranti betgaranti betgaranti matbet matbet giriş matbet matbet giriş Casibom Casibom Salvobet jojobet Salvobet Salvobet Salvobet Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Güncel Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis bahsegel Fixbet Fixbet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş 1xbet 1xbet Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Listesi Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler grandpashabet grandpashabet grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler vaycasino vaycasino giriş jojobet grandpashabet casibom Casibom Casibom Giriş casibom www.giftcards.com Marsbahis grandpashabet jojobet jojobet jojobet grandpashabet Adana escort Seyhan escort Yüreğir escort escort adana casibom jojobet Casibom Casibom Casibom Casibom Casibom Grandpashabet Grandpashabet Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Marsbahis Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Didim Escort Akbük Escort Altınkum Escort Didim Altınkum Escort grandpashabet grandpashabet giriş