Asian Blepharoplasty and the Eyelid Crease: Sách chuyên sâu Phẫu thuật Tạo mí mắt người Châu Á, tái bản lần 3 – William PD Chen

14/10/2026 • by Bs CKI Phẫu thuật tạo hình, tái tạo và thẩm mỹ Trương Hoài Anh •

Tổng quan về Asian Blepharoplasty and the Eyelid Crease Third Edition

Cuốn Asian Blepharoplasty and the Eyelid Crease, tái bản lần thứ ba của tác giả William PD Chen, là tài liệu chuyên sâu và toàn diện về phẫu thuật tạo hình mí mắt trên, đặc biệt tập trung vào đặc điểm giải phẫu và kỹ thuật dành riêng cho người Châu Á.

Tác giả William PD Chen đã nhấn mạnh rằng phẫu thuật tạo hình mí mắt Châu Á là một hình thức phẫu thuật tạo hình mí mắt trên rất đặc thù, đòi hỏi sự thích nghi với từng cá nhân, mức độ hiểu biết cao nhất, sự tập trung và khéo léo để đạt được kết quả phù hợp. Sách cung cấp các hướng dẫn chi tiết từ căn bản đến nâng cao.

Tóm tắt nội dung chính

Phiên bản này được cập nhật để phản ánh những tiến bộ mới nhất trong lĩnh vực tạo hình mí mắt. Các phần nổi bật bao gồm:

  • Giải phẫu Chi tiết Vùng Mắt: Phân tích sâu về sự khác biệt giải phẫu của mí mắt trên ở người Châu Á, bao gồm cấu trúc của nếp gấp mí, cơ nâng mi, và đệm mỡ. Một nghiên cứu đã chỉ ra sự khác biệt về độ dày mí mắt trên ở phụ nữ Trung Quốc trẻ tuổi khi thực hiện phẫu thuật tạo hình mí đôi.
  • Các Kỹ thuật Phẫu thuật: Trình bày chi tiết các kỹ thuật tạo hình mí đôi, bao gồm cả phương pháp không rạch và rạch da, với các bước thực hiện cụ thể. Sách tập trung vào việc tạo ra nếp mí tự nhiên, hài hòa với khuôn mặt người Châu Á.
  • Quản lý Biến chứng và Phẫu thuật Sửa lại: Cung cấp kiến thức về cách xử lý các biến chứng thường gặp, cũng như các chiến lược cho các trường hợp phẫu thuật mí mắt sửa lại phức tạp.
  • Nghiên cứu Gần đây: Cập nhật các tài liệu nghiên cứu mới, ví dụ như đánh giá về việc sử dụng Arnica montana đồng căn để giảm bầm tím sau phẫu thuật cắt mí trên, với kết luận không tìm thấy bằng chứng có lợi.

Cuốn sách là một tài liệu không thể thiếu cho các bác sĩ phẫu thuật tạo hình, thẩm mỹ, và nhãn khoa muốn nắm vững các nguyên tắc và kỹ thuật tạo hình mí mắt Châu Á.

Trang: / 379
Trang 1 Trang 2 Trang 3
📖 Xem bản dịch / Nội dung văn bản

17 Quan niệm mới về vùng trượt liên quan đến tạo nếp mí, ứng dụng tạo mí
247
Trong phẫu thuật tạo mí thẩm mỹ người châu Á, với
mục tiêu là tạo ra nếp mí phù hợp về dân tộc, có hai
phương pháp được sử dụng để đạt được mục tiêu này.
Đầu tiên bao gồm các phương pháp tạo mí bằng chỉ
khâu3-5, mô tả là ít xâm lấn và đơn giản để thực hiện, và
sử dụng chỉ khâu để khâu nối các mô mềm dọc theo bờ
trên sụn mi, bao gồm cơ vòng mi, cân cơ nâng mi và cơ
Müller. Thứ 2 là rạch da bên ngoài, và lấy bỏ một dải cơ
da và tổ chức phần mềm dọc theo nếp mí; sau đó thì có
nhiều cách tạo mí như khâu tạo mí hay đính da vào cơ
nâng mi, da đính vào sụn mí hay cơ vòng mi đính vào
cân cơ nâng mi.
Kết quả phẫu thuật thường phụ thuộc vào sự dính của
tổ chức vào trước sụn mi và trước vách ngăn, nơi có sự
hiện diện của mỡ và da dày phủ qua, vị trí của nhãn cầu,
vị trí chân mày, chức năng nâng mi và cho dù da dính
chặt vào cơ vòng mi ở trong vùng trước sụn. Mí mắt trên
bình thường, khi nhìn thẳng về phía trước và mở mắt, cơ
nâng mi và cơ Muller co lại thì lớp phía trước sẽ giãn thụ
động, cho phép lớp phía sau kéo lên để mở mắt. Lớp sau
co lại (trượt) lên và vào trong 2-4 mm so với lớp trước
để hình thành nếp mí. Mặt phẳng thẳng đứng (mm) của
nếp mí, nếp gấp phủ qua nếp mí và có thể đo được chiều
cao mí bằng cách trừ đi ‘chiều cao nếp mí được quan sát’
(từ bờ mi đến mép dưới nếp gấp) từ chiều cao giải phẫu
nếp mí
(Chương 20, chúng ta có thể nói
Kích thước của nếp gấp = Chiều cao
nếp mí thật -
Chiều cao nếp
mí nhìn thấy.

Tuy nhiên, vì nếp gấp được quan sát tốt nhất và được
đo ở phía trước với lực hút trái đất nếp mí rơi xuống (định
nghĩa dựa trên lâm sàng là đủ). Nếp gấp cao từ 2 đến 4
mm. Do đó, lớp phía trước có rất ít tổ chức để kháng lại
và không thể hiện một “mặt phẳng đối kháng” đáng kể
đối với cơ nâng mi/sụn mi; ngoại trừ mí mắt quá nặng
(những người có nhiều mỡ và tổ chức trước cơ nâng mi
rất dày, và các mô dưới da lỏng lẻo) với chức năng nâng
mi kém, có thể sụp mi.
Vai trò của không gian trước cân cơ nâng mi và mỡ
thường được đề cập như là một cản trở cho bất kỳ cố gắng
để tạo nếp mí, và nguyên tắc phẫu thuật đòi hỏi phải cắt
bỏ 1 phần mỡ. Không có gì sai với khái niệm này; trên
thực tế, khi bệnh nhân có quá nhiều mô mềm dọc theo
mặt phẳng trước cân cơ nâng mi, tác giả đề xuất sử dụng
phương pháp cắt vát vào mặt phẳng trước cân cơ nâng
mi dọc theo bờ trên vết mổ và thực hiện loại bỏ theo hình
thang của da, cơ vòng mi, vách ngăn và mỡ. Nếu người
ta cần phải mổ lại vùng này bằng cách cắt vát, người ta
có thể xác định vùng trước cân cơ nâng mi và mỡ của nó
khá dễ dàng.7

248
Phẫu thuật tạo mí người châu Á

Vấn đề xuất phát lần mổ đầu tiên có thể liên quan đến
sự cắt bỏ tích mỡ trước cân cơ nâng mi hoặc chảy máu
trong vùng này thì nằm quanh cơ vòng mi xuất phát từ
cung mạch bờ mi, cung mạch ngoại vi và cung mạch ổ
mắt sâu (Chương 3). Bệnh nhân có hõm mắt vùng trước
sụn thường do mất tổ chức trước sụn, và nếp mí ít lõm
vào và da mí mắt cứng thì sẹo nằm dưới vùng trước sụn
và trước vách ngăn (Hình 17-5).
Trong quá trình sửa lại, người ta thấy một sự xuống
hoặc mất đi không gian trước cân cơ nâng mi và sự thiếu
mỡ trước cân cơ nâng mi. 2 lớp trước và sau hòa thành 1
lớp. Người ta có thể hình dung điều này như cơ nâng mi
bây giờ phải mang hoặc nâng sụn mi trên kháng lại tải
trọng của mí mắt, trái ngược với sinh lí mí đôi bình thường
là sụn mi trượt lên bên dưới lớp da trước và cơ vòng mi.
Da/cơ vòng mi hoạt động như một ‘lớp chống lại’ đối
với lớp sau của cơ nâng mi. Sự vắng mặt hoặc sự hiện
diện của ‘vùng trượt’ này (mỡ trước cân cơ nâng mi trong
không gian của nó) ở giữa hai lớp có thể gây trở ngại hoặc
tạo điều kiện hình thành nếp mí. Tác giả đã quan sát thấy
sự hiện diện của túi mỡ sẽ tạo mí mắt ban đầu, mỡ thâm
nhập vào vùng trượt sẽ gây cản trở hình thành nếp mí.
Việc định vị cẩn thận mỡ ở vị trí cao hơn sẽ tạo điều kiện
cho nếp mí hình thành tốt.
Các nếp mí hoạt động đúng được mô tả bởi Tiến sĩ
Khoo Boo-Chai8,9 trong bài viết năm 1963 giống như tấm
che mặt của mũ bảo hiểm xe máy. Ngoài ra, Flowers10 đã
đề cập về ý tưởng đính da tạo mí ở mức độ thấp hơn của
mỡ trước cân cơ nâng mi hoạt động như một quả bóng
mang tại điểm kết hợp vách ngăn-tới-cân cơ nâng mi (mức
độ thấp hơn của vùng trước cân cơ nâng mi).

17 Quan niệm mới về vùng trượt liên quan đến tạo nếp mí, ứng dụng tạo mí
249
Khái niệm của tôi có khác với các tác giả này theo cách:
không gian trước cân cơ nâng mi, sự hiện diện và sự bảo
tồn với túi mỡ bên trong nó, là một ‘lớp thứ ba’ cần thiết
và tính mềm mại cần được bảo toàn nguyên vẹn (Hình
17- 6). Trong sơ đồ, vùng giữa (vùng trượt), nơi các túi
mỡ trước cân cơ nâng mi có màu vàng và hoạt động giống
như một lớp không ma sát cho phép lớp sau (màu hồng
đậm) lướt lên.
Việc dựng hình véc-tơ của tấm biển được tạo điều kiện bởi
vùng trượt này, cho phép nó trượt lên trên so với nếp mí
mắt thụ động để tạo thành một nếp mí. Lớp da lướt qua
lớp sau (phần trên của tấm sụn mi ) trong vài mm trong
quá trình tạo nếp mí và trở thành nếp mí mí mắt.
Lớp trước
Lớp sau
* Vùng trượt

250
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
Thiếu vắng tổ chức dính và túi mỡ hiện diện trong
vùng trượt này cho phép mặt phẳng trước sụn (lớp sau)
dịch chuyển và lướt nhẹ một chút ở phía dưới mí mắt
(lớp trước) để tạo thành nếp mí sinh lý. Như đã đề cập
trước, độ trượt này có thể chỉ khoảng 2-4 mm cho nếp
mí thụt vào trong dưới nếp gấp, gồm da, cơ vòng mi và
vách ngăn ổ mắt phát sinh từ mép ngoài của bờ trên ổ
mắt. Lớp phía trước treo từ bờ trên ổ mắt và bờ ngoài
nông hơn, trong khi lớp sau bắt nguồn từ đỉnh ổ mắt và
lớp sau-nông co lại thì nằm trên bề mặt của mắt.
Các phát hiện điển hình sau khi phẫu thuật tạo mí
chưa tốt ở người châu Á và bất kỳ hiện tượng khi phẫu
thuật mí như: sưng nề, xuất huyết từ cơ vòng mi, hoặc
chảy máu bất kỳ, loại bỏ mỡ quá nhiều trong vùng trước
cân cơ nâng mi, và tạo nếp mí chưa đủ dựa trên nguyên
lí sinh học. Khi hết sưng, một hoặc nhiều hiện tượng sau
đây có thể xuất hiện: sụp mi, hõm mí, sự hình thành
không đầy đủ hoặc nếp mí nhiều đường (có hoặc không
có nếp mí chính)
Đây là tất cả các dấu hiệu liên quan đến thao tác quá
mức hoặc kỹ thuật không phù hợp vào mô trong vùng
trượt, với các tổ chức dính liên quan đến cơ vòng mi,
vách ngăn và cân cơ nâng mi. Có nghĩa là xóa bỏ không
gian trượt này bằng cách cắt vát để bỏ mỡ, sẹo sau chảy
máu quá mức hoặc xử lý trong vùng trước cân cơ nâng
mi, hoặc dính liên quan đến cơ vòng mi, vách ngăn ổ mắt
và cân cơ nâng mi.
Trong quá trình lành vết thương, nếp mí mắt có thể
biểu hiện sụp mi hoặc khó nhìn lên, với nếp mí không rõ.
Bệnh nhân than phiền là họ cố gắng mở mắt, khó nhìn
lên và phần trên của thị trường bị hạn chế. (với thời gian,
một loại sụp mi có thể tiến triển thành sụp mi mắc phải
do suy yếu thực sự của cơ nâng mi). Da trước sụn và da
trước vách ngăn có thể xuất hiện như một vùng mảng da
dày và lồi tương đối nằm ngang nhãn cầu. Điều này được
chỉ định bởi một hoặc tất cả những điều sau đây:

17 Quan niệm mới về vùng trượt liên quan đến tạo nếp mí, ứng dụng tạo mí
251

Bước 1. Bệnh nhân nhìn xuống, người kiểm tra nhẹ
nhàng đặt ngón tay trỏ của mình lên trên phần giữa
của da trước sụn và đẩy nhẹ hoặc lướt lớp da /cơ
phía trước lên trên. Nếu lớp da/cơ trước không di
chuyển lên trên > 2 mm hay bờ mi di chuyển theo
thì đó là dấu hiệu bất thường của ‘vùng trượt’ (Hình
17-7) (bệnh nhân nên tránh nhắm mắt bởi vì điều
này gợi ra sự tương phản tích cực của cơ vòng mi).
Bước 2. Khi bệnh nhân nhìn xuống, dùng ngón tay
cái và ngón trỏ của mình để cố gắng cầm lớp da ở
vùng phía trước vách ngăn nhấc lên khỏi tổ chức bên
dưới nó. Nếu điều này là không thể, cho thấy là lớp
sau và bờ mi sẽ tách ra khỏi nhãn cầu, đây là gợi ý
là mất vùng trượt, tạo thành một dấu hiệu kẹp da
bất thường (hình 17-8).


Bước 3. Bệnh nhân được yêu cầu nhìn xuống, và cố
định lông mày để chặn cơ trán hoạt động. Sau đó,
chúng ta nhất da vùng trước vách ngăn lên, bảo
bệnh nhân nhìn lên. Khi bệnh nhân nhìn lên, cơ
thẳng trên và cơ nâng mi đều co lại. Bình thường là
bờ mi bên dưới di chuyển lên một cách độc lập mà
không phụ thuộc vào da đã kẹp nhấc lên. Nếu ngón
tay cảm thấy bị kéo giật lên thì chứng tỏ lớp trước
và lớp sau bị dính nhau và là một dấu hiệu kéo da
‘nhìn lên’ bất thường (Hình 17-9).

252
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
Những phát hiện trên áp dụng cho những người
trưởng thành đã phẫu thuật và không thay đổi đáng kể
so với trước, và sẽ không chính xác trong những trường
hợp mà vẫn còn thừa da ở vùng trước vách ngăn hoặc ở
những bệnh nhân có dính cơ vòng mi và vách ngăn thì
cũng có thể xảy ra (tình huống, mặc dù mất vùng trượt,
vẫn có thể trượt và véo da liên quan đến cơ vòng mi và
không dính da khi nhìn lên). Có thể một bệnh nhân với các
lớp trước và sau hợp nhất có thể biểu hiện một kết quả
âm tính giả trong bất kỳ một hoặc hai test ở trên, nhưng
không chắc cả ba đều bình thường. Sự kết hợp giữa dấu
hiệu trượt, dấu hiệu kẹp và dấu hiệu kéo da khi nhìn lên
và là những công cụ bổ sung mà người ta có thể sử dụng
để giúp đánh giá lâm sàng của những bệnh nhân có vấn
đề cần sửa lại.
Trong bài viết trước đây của tôi cắt hình thang ở mặt
phẳng trước cân cơ nâng mi 7, tôi nhận thấy rằng khi cắt
mặt phẳng vát để bỏ da và cơ vòng mi không quá vài mm
vách ngăn ổ mắt dọc theo bờ trên vết mổ
Khi khâu da, cạnh dưới của vách ngăn sẽ lật xuống
dưới dọc theo bờ trên sụn mi để tạo mặt phẳng trượt.
Trong quá trình sửa lại mí, điều quan trọng là xác định lại
các vùng và khôi phục vùng trượt. Đồng thời, cắt bỏ bất
kỳ mô sẹo nào trong vùng này, gồm: loại bỏ chỉ khâu vùi
và chỉnh lại các nguyên nhân gây cản trở sự trượt (dịch
chuyển) của lớp sau. Các lớp da/cơ vòng mi có thể đã
được đặt không đúng vào nâng mi trong quá trình phẫu
thuật trước đó vì thiếu sự nới lỏng thích hợp của phẫu
thuật treo trên cơ trán. Việc tái lập vùng trượt, và nhìn
xuống và vị trí thích hợp của da và trán - lông mày cho
phép sụn mi được ‘tự do’ kéo lên trên bằng cơ chế nâng
mi tự do, sự co lại trong đó tạo ra nếp mí tại bờ trên sụn
mi. Điều này có thể được rõ ràng là bệnh nhân nằm trên
bàn phẫu thuật thậm chí không thấy có bất kỳ vết khâu
nào (Hình 17-10).

17 Quan niệm mới về vùng trượt liên quan đến tạo nếp mí, ứng dụng tạo mí
253
Các phương pháp tạo nếp mí khác nhau, bao gồm cả
việc làm chặt vùng sụn mi-cân cơ nâng mi hoặc bằng
phương pháp rạch ngoài, tất cả đều kỹ thuật là làm cho
vectơ sụn mi hướng ngược lại với lớp trước để tạo thành
nếp mí, với điều kiện vùng trượt được bảo tồn hoặc không
bị lẫn lộn.
Các biến chứng hay gặp mà khó thực hiện là xóa bỏ
vùng trượt. Kỹ thuật đơn giản khi khâu cố định da cân
cơ nâng mi qua đường kết mạc, chảy máu bất ngờ và đột
ngột đã được báo cáo và có thể gây ra khi làm tổn thương
các mạch thông nối như: cung mạch bờ mi, cung mạch
ngoại vi, cung mạch ổ mắt sâu12,13, và cũng có thể liên
quan đến động mạch vách ngăn-cân cơ nâng mi đã mô tả
gần đây được tìm thấy trong một tỷ lệ nhỏ nhất định14,15.
Chảy máu có thể xảy ra trong mặt phẳng sau cân cơ nâng
mi nếu các mạch quặt ngược từ sụn mi hoặc cân cơ nâng
mi, hoặc trong vùng trước cân cơ nâng mi (vùng trượt).
Độ dính có thể tan dần do cục máu đông tan dần và dẫn
đến sự không đều trong khi tạo nếp mí. Theo thời gian,
từng phần, từng đoạn, hoặc nếp mí có thể biến mất hoàn
toàn.
Tóm lại, nếp mí mắt là sự lõm vào giải phẫu của da mí
dọc theo bờ trên sụn mi. Nó có nguồn gốc từ sự tương
tác phức tạp của các lực vectơ bao gồm: cơ nâng mi tốt
(lớp sau), sự hiện diện của da / cơ vòng mi ở vùng trước
vách ngăn sẽ tạo nên nếp gấp (lớp trước), sự hiện diện
của một lớp thứ ba được gọi là lớp trượt với các túi mỡ
bình thường, và không hình thành sẹo tại mặt trước và
sau của lớp này. Cơ sở lý thuyết cho việc bảo tồn lớp thứ
ba này - vùng trượt - và vai trò của nó trong quá trình
tạo nếp mí trên, như được mô tả trong chương này nên
cung cấp thêm sự hiểu biết trong việc phẫu thuật tạo mí
và khi phẫu thuật sửa lại mí phức tạp
REFERENCES
1. Cheng J, Xu FZ. Anatomic microstructure of the upper eyelid in
the Oriental double eyelid. Plast Reconstr Surg 2001;107:1665.
2. Hwang K, Kim DJ, Chung RS, Lee SI, Hiraga Y. An anatomical
study of the junction of the orbital septum and the levator aponeu-
rosis in Orientals. Br J Plast Surg 1998;51:594.
3. Mutou Y, Mutou H. Intradermal double eyelid operation and its
follow-up results. Br J Plast Surg 1972;25:285.
4. Tsurukiri K. Double eyelid plasty: reliability and unfavorable
results to the patients (Abstract). J Jpn Aesth Plast Surg 1999;20:38.
5. Homma K, Mutou Y, Mutou H, Ezoe K, Fujita, T. Intradermal
stitch for Orientals: Does it disappear? Aesth Plast Surg 2000;24:
289.
6. Chen WPD. Concept of triangular, rectangular and trapezoidal
debulking of eyelid tissues: application in Asian blepharoplasty.
Plast Reconstr Surg 1996;97(1):212–218.
7. Chen WPD. Beveled approach for revisional surgery in Asian
blepharoplasty. Plast Reconstr Surg 2007;120(2): 545–552.
8. Boo-Chai K. Further experience with cosmetic surgery of the
upper eyelid. Proceedings of the Third International Congress of
Plastic Surgery, reprinted from Excerpta Medica International
Congress Series No. 66; 1963: 518.
9. Boo-Chai K. Secondary blepharoplasty in Orientals. In: Problems
in plastic and reconstructive surgery. Philadelphia: Lippincott,
1999: 520–535.
10. Flowers RS. Upper blepharoplasty by eyelid invagination: anchor
blepharoplasty. Clin Plast Surg 1993;20:193.
11. Chen WPD. The concept of a glide zone as it relates to upper lid
crease, lid fold, and application in upper blepharoplasty. Plast
Reconstr Surg 2007;119(1):379–386.
12. Kawai K, Imanishi N, Nakajima H, Aiso S, Kakibuchi M, Hoso-
kawa K. Arterial anatomic features of the upper palpebra. Plast
Reconstr Surg 2004;113:479.
13. Boo-Chai K. Perioperative bleeding in the pretarsal (postaponeu-
rotic) space in Oriental blepharoplasty. Br J Plast Surg 2001;54:370.
14. Kim BG, Youn DY, Yoon ES et al. Unexpected bleeding caused by
arterial variation inferolateral to levator palpebrae. Aesth Plast Surg
2003;27:123.
15. Hwang K, Kim BG, Kim YJ, Chung IH. Lateral septoaponeurotic
artery: source of bleeding in blepharoplasty performed in Asians.
Ann Plast Surg 2003;50:16.

255
NÂNG CAO: CẮT XIÊN VÀ LÀM SẠCH LỚP
GIỮA TRONG MỔ LẠI MÍ MẮT Ở
NGƯỜI CHÂU Á
 
Tác giả quan niệm rằng cắt bỏ mô trước nền cân cơ
nâng mi theo hình thang sử dụng đường vào xiên (dọc
theo đường rạch trên) trong phẫu thuật mí ở người châu
Á là một phương pháp logic và hiệu quả cho những ca
phẫu thuật lần đầu. Ông ủng hộ phương pháp này vì nó
có một số ưu điểm sau:
1. Là một đường vào dễ dàng và an toàn tới vùng
trước cân cơ nâng mi thông qua vách ngăn ổ mắt
khi bóc tách vùng này theo góc xiên.
2. Cắt bỏ được mô chỗ nối phủ lên vùng trước sụn và
trước vách ngăn một cách đồng nhất và có kiểm
soát.
3. Đem lại sự kết dính tốt nhất giữa cân cơ nâng mi
và mô dưới da dọc theo đường rạch dưới, hoặc với
các vách gian cơ trong những sợi cơ vòng mi trước
sụn (vùng nền trước sụn).
4. Việc tạo nếp mí có thể dựa trên chiều cao sụn của
từng người.
5. Loại trừ triệt để bất kỳ khả năng nào xuất hiện mặt
phẳng gồ ghề của phẫu thuật cắt bỏ, nhờ đó làm
giảm tỷ lệ biến chứng, bao gồm các vấn đề về mất
cân xứng, về chiều cao, hình dáng, tính liên tục, sự
lâu dài, phân đoạn của nếp mí, nếp mí mờ dần và
biến mất, nhiều nếp mí và phù dai dẳng của nếp
mí.
Nhiều vấn đề trên lâm sàng mà bệnh nhân mong
muốn phẫu thuật sửa lại là rất nhiều. Sẹo đường mí bị
giãn rộng, nếp mí cao gây hở mi khi nhắm mắt, và sụp
mi mắc phải khi nhìn lên với đầu thẳng. Trong lúc phẫu
thuật, nhìn thấy sẹo dày của lớp giữa bao gồm cơ vòng
mi và vách ngăn ổ mắt, hoặc thấy mô sẹo chặt gắn với
cơ vòng mi ở trước và cơ nâng mimi ở sau (Hình 18 - 1).
Như vậy thay vì duy trì sinh lý của “vùng trượt” nơi mà
túi mỡ trước cân cơ nâng mimi vẫn thấy ở cạnh thấp
nhất của vùng trượt, bây giờ đã có mô rắn chắc ở lớp
sau vector hướng lên để đối kháng lại lớp da - cơ vòng
mi lỏng lẻo và giãn ra. Mọi nỗ lực, vẫn không thể hình
thành nếp mí nào đáng kể. Bệnh nhân thường phàn nàn
về sự nặng nề của mí, cảm giác căng và có thể thấy rõ sự
hoạt động bù trừ ở vùng lông mày và trán.
Khi mổ lại, dù đơn giản hay phức tạp, thì một trong
những vấn đề khó xử lớn nhất là đường rạch da để không
thể nằm trên vùng sẹo đã có của phẫu thuật trước (từ
góc nhìn trước - quan niệm thẩm mỹ) với sẹo lớp giữa
có liên quan và sự co kéo (tổn hại về mặt chức năng xa
hơn)
Thành công với kết quả thẩm mỹ được cải thiện mà
không có thêm sự thụt lùi về mặt chức năng là một
thành công lớn đối với bất kỳ phẫu thuật viên nào định
làm loại phẫu thuật sửa lại. Không chỉ là cuộc phẫu thuật
khó, mà bệnh nhân còn thường mong muốn một kết quả
nhanh và thành công, và không bao giờ dễ dàng để thực
hiện khi xử lý sẹo và những hậu quả không thuận lợi từ
cuộc phẫu thuật trước. Tác giả thường hướng đến việc
làm thế nào gây ngạc nhiên cho những bệnh nhân này và
làm thế nào để bệnh nhân hài lòng khi sự cải thiện là rõ
ràng. Vấn đề quan trọng cho cả bệnh nhân và phẫu thuật
viên là phải thực tế để mong đợi cũng như kế hoạch về
quá trình hồi phục sau phẫu thuật sửa lại.
Tác giả quan niệm rằng những đòi hỏi tối thiểu sau
đây cho phẫu thuật sửa lại là phải cố gắng đạt được trong
quá trình thực hiện:
1. Không gây ra sự thiếu da thêm nữa.
2. Không làm tăng sự co kéo lớp giữa, với sự co rút
mí và khâu da tạo nếp mí kém.
3. Không gây ra cả hai yếu tố trên, sẽ dẫn đến mắt bị
hở mi và khô thường xuyên.
4. Bệnh nhân phải hiểu ngay từ đầu là phẫu thuật
viên sẽ không thể đạt được mức độ cải thiện thẩm
mỹ tương đương với phẫu thuật lần đầu tiên, khi
mà còn có điều kiện lý tưởng là có đầy đủ da và sự
kỳ vọng của bệnh nhân gần như là bình thường và
hợp lý.
5. Bệnh nhân phải được thông báo rằng mỗi lần
phẫu thuật sửa lại có thể chỉ cố gắng sửa chữa một
vấn đề trong danh sách các mục tiêu cần đạt được.
Làm tất cả một lần là không thể, ví dụ như sửa chữa
nếp mí cao bất thường, biến dạng đường nét ở bờ
nếp mí, sụp mi trước đó và sự thiếu da trong cùng
một lần.
Tóm lại: Nếu không có đủ da dư, thì sẽ không chắc là
có cơ hội cải thiện khi phẫu thuật mổ lại trừ khi phải
ghép da dày toàn bộ thêm. Kỹ thuật ghép da này cần phải
chính xác, kinh nghiệm và cố định đặc biệt phủ lên mảnh
ghép để đảm bảo nó có diện mạo thẩm mỹ chấp nhận
được. Tuy nhiên, có nhiều người còn trẻ cần phẫu thuật
sửa lại, mà vấn đề của họ là nghiêm trọng và không chắc
là sẽ có chút da dư nào trong tương lai do sự lão hoá

256
Phẫu thuật tạo mí người châu Á

Restriction on upgaze, poor
crease indentation, possible ptosis
Lid (levator) at rest
Lid open (looking ahead)
Bệnh nhân nhắm mắt vừa đủ kín để tránh lộ giác mạc
có thể phát triển những triệu chứng như vậy nếu những
phương pháp thông thường như cắt bỏ sẹo và tách bỏ
dính ở lớp giữa được. Nhắm mắt kém có thể xảy ra với
số lượng da được cắt bỏ nhiều hơn 2mm. Giải pháp lý
tưởng cho sự tiến thoái lưỡng nan này là tiếp cận lớp
giữa và lớp trước thông qua đường vào góc xiên hướng
lên. Để làm điều này, những điều kiện sau đây phải được
đáp ứng.
Đánh giá chiều cao nếp mí, và nếu nó cao thì kế hoạch
giảm thấp (mm) sẽ xác định số lượng tối thiểu của da thừa
trên nếp mí hiện tại (phủ qua vùng trước vách ngăn) cần
phải được bảo tồn. Ví dụ, nếp mí hiện tại là 10,5 mm và
bạn có kế hoạch giảm thấp nó xuống 7,5 mm, thì bệnh
nhân sẽ có 3mm da ở trên nếp cũ được giữ lại trước khi
phẫu thuật tiến hành. Nếu chỉ có 2mm, thì cần phải thảo
luận với bệnh nhân, là nếp mí chỉ có thể được hạ xuống
8,5mm với tình hình hiện tại, hoặc bệnh nhân có thể lựa
chọn chờ đợi cho da chùng xuống thêm do quá trình lão
hoá (họ có thể tiến hành phẫu thuật sửa lại lúc đó). Nếu
không thể đạt được điều này và bệnh nhân tuyệt vọng,
vì lý do chức năng hoặc tâm lý, thì phải thảo luận về lựa
chọn ghép da tự do.
Đối với đa số bệnh nhân cần phẫu thuật sửa lại mà
không cần ghép da, phương pháp của tác giả đầu tiên
cũng xuất phát theo đường rạch tương tự với mổ lần
đầu, sự khác biệt chính là các đường rạch trên và dưới
được đánh dấu trực tiếp bên cạnh nhau của một trong
hai bên vết sẹo hiện có. Bệnh nhân thuộc loại này có
nhiều khả năng đã có đường rạch nếp mí khoảng 8 - 9
mm đo từ mép mí trung tâm. Khoảng cách của đường
rạch trên và dưới không nên vượt quá 1mm, và rất hiếm
khi là 2mm. Dùng dao Bard-Parker số 15 rạch da toàn
bộ chiều dày dọc theo đường vạch trên và dưới (Hình 18
- 2). Bây giờ, thay vì sử dụng máy cắt đốt để đi qua cơ
vòng mi tới vách ngăn ổ mắt, thì lại sử dụng kéo cong
Westcott đầu nhọn để cắt qua đường trên của đường
rạch da theo kiểu góc xiên hướng lên (Hình 18 - 3). Ở
giai đoạn này, ta cắt xuyên qua chỗ dính da - cơ vòng mi.
Chuyển động cắt nhỏ của kéo sau đó được sử dụng như
là một lưỡi dao cắt ngang sẹo lớp giữa, mở xuyên qua
các lớp cân - sẹo màu trắng giữa cơ vòng mi và cân cơ
nâng mibên dưới (Hình 18 - 4 ). Việc này được thực hiện
thông qua chiều rộng của vết mổ dọc theo vết sẹo trước
đó.

18
Nâng cao: cắt xiên và làm sạch lớp giữa trong mổ lại mí mắt ở người châu Á
257

Phương pháp tiếp cận góc xiên là khá tương tự nhau,
nhưng dốc hơn so với những ca mổ lần đầu (Hình 18 -
5). Trong vùng sẹo giữa này có thể nhìn thấy: ít lớp mỡ
trước cân cơ nâng mi vì nó đã bị lấy bỏ trước đó; một ít
mỡ còn sót lại, kết hợp với mỡ vô định nhỏ rải rác hoặc
màng ngăn của mỡ phân tán. Các mô sẹo của lớp trước
cũng như lớp giữa - bao quanh bởi các mô giữa vector
hướng lên góc xiên (đường chấm trong hình) và đường
rạch da bên dưới (dọc theo mép trên sụn mi) trong hình
18 - 5 có thể được cắt bỏ sau các lớp da
trước vách ngăn/lông mày/trán được sắp sếp lại một cách
cẩn thận (bằng cách giải phóng bất kỳ sự dính hoặc sự xếp
nếp nào làm hạn chế phẫu thuật trên vùng trán của bệnh
nhân), miễn là phần da còn lại vẫn cho phép khép được
mi mắt thụ động. Tất cả mỡ được giữ lại. Cơ nâng mimi
có thể xác định được khi sẹo được giải phóng, và điều này
rất quan trọng để kiểm tra giới hạn một cách khách quan
(bằng cách kéo nhẹ sụn mi xuống) cũng như chủ quan
bằng cách yêu cầu bệnh nhân nhìn lên trên hoặc xuống
dưới hết cỡ. Những lợi ích và thuận lợi của phương pháp
này là:

258
Phẫu thuật tạo mí người châu Á


A: phẫu thuật tạo mí người châu Á lần đầu
B: phẫu thuật tạo mí người châu Á sửa lại

18 Nâng cao: cắt xiên và làm sạch lớp giữa trong mổ lại mí mắt ở người châu Á
259

1. Tiếp cận được vùng không gian trước cân cơ nâng
mimi rất gần và ưu thế với những nếp mí có sẹo
không tốt, người làm có thể tránh lấy đi một mảnh
da tốt quý giá chính xác đến 0,5 - 1 mm.
2. Làm cho đường trên của đường rạch gần với
đường sẹo mí, giúp người làm tránh tạo thêm sẹo
của đường rạch da.
3. Phương pháp tiếp cận góc xiên này giúp thăm dò
trước vùng không gian trước cân cơ nâng mimi để
cho phép đi vào vùng không gian này một cách an
toàn, mà không gây bất kỳ thương tích nào cho cơ
nâng mimi và cơ Muller bên dưới, cũng như tránh
các mạng lưới cung mạch máu trong cơ Muller và
cung động mạch trên sụn mi.
4. Trong một vài ca, phương pháp góc xiên này hướng
đến không gian trước cân cơ nâng mimi giải phóng
sự đi trệch hướng thẳng đứng của mí mắt trên
một cách đáng kể, giải phóng bất kỳ sự hạn chế
nào có thể góp phần gây ra hở mi và sụp mi mắc
phải. Phương pháp này tự nó có thể sửa chữa sụp
mí nhẹ, nhờ vậy mà việc sắp đặt lại nếp mí cao có
trước đó có thể thực hiện được sau đó.
5. Sự tiếp cận không gian trước cân cơ nâng mimi
trong bất kỳ phẫu thuật tạo hình mí trên sửa lại nào
cũng cho phép người làm xác định mỡ trước cân
cơ nâng mimi còn thừa mà có thể đã lan rộng ra
và trở thành miếng dán dính xuống cơ nâng mimi.
Mỡ dư thừa này có thể được bóc đi và đặt ở một
vị trí cao hơn trong khe mắt trên để giúp làm đầy
khe hõm thường thấy ở bệnh nhân cần phẫu thuật
tạo hình mí sửa lại.
6. Sẹo của lớp giữa đã dính trước đó với lớp trước
và lớp sau có thể được loại bỏ hoặc giảm đi một
cách an toàn, cho phép phục hồi một phần vùng
trượt
Theo dõi phẫu thuật tạo mí sửa lại ở người Châu Á
sử dụng phương pháp góc xiên hướng lên, phục hồi một
phần vùng trượt và cắt bỏ sẹo cẩn thận ( Hình 18 - 7). Dọn
sạch hết các mô gây cản trở tạo mí ở vùng nền trước cân
cơ nâng mimi. Mặc dù phẫu thuật viên thường bắt buộc
phải mổ đường mổ dài hơn bờ mí so với phẫu mí lần đầu,
sau khi khâu da thì chỗ vết khâu để lõm vào trong khi cơ
nâng mimi co, tạo thành nếp mí tốt hơn. Túi mỡ thừa ở
vùng giữa (vùng trượt) được bảo tồn và có thể làm đầy
vùng thêm cho thích hợp (trong trường hợp nặng có thể
ghép mỡ). Da trên đường rạch bây giờ là tự do để rơi
xuống và treo vào vùng xung quanh để hình thành nên
nếp mí.
NẾP MÍ ĐỘNG
Trong phương pháp truyền thống để tạo hình mí lần đầu,
đường rạch trên và dưới thường được tạo ra bởi dao phẫu
thuật rạch vuông góc với da. Da, cơ và mỡ trước cân cơ
nâng mi được giảm bớt một cách thích hợp. Khi đóng da
và hình thành lại nếp mí (chỗ đóng đường rạch da), vùng
không gian trước cân cơ nâng mi được phép đặt xuống
dưới và đi đến khu vực phủ lên bờ sụn mi trên. Có 3 khả
năng xảy ra sau:
1. Nếu mỡ trước cân cơ nâng milộ ra được cắt bỏ
hoàn toàn, phần còn lại của vách ngăn và cơ vòng
mi phủ lên trước vách ngăn và lúc này vách ngăn

260
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
Trong cả hai tình huống khi mà mỡ chỉ loại bỏ một
phần (hoặc ghép lại vào phía trên), cho dù thông qua việc
cắt bỏ vùng nền trước cân cơ nâng mimi theo kiểu hình
chữ nhật truyền thống hoặc thông qua sự cắt giảm mô
mềm theo hình thang, vùng không gian trước cân cơ nâng
mi phủ lên vùng trước vách ngăn ở giữa vẫn được bảo
tồn. Có mỡ đệm (từ việc bảo tồn vùng không gian trước
cân cơ nâng mi hay vùng trượt) cũng như khối mô mềm
(bao gồm da trước vách ngăn, cơ vòng mi, vách ngăn, và
mỡ trước cân cơ nâng mi) nằm thoải mái ở trên đỉnh
của sụn mi di động. Nền mô mềm còn lại (trước đây là
nền trước cân cơ nâng mi) đã được cắt giảm với một số
lượng phù hợp. Nếp mí hình thành là nếp động và tự
nhiên theo quan điểm thẩm mỹ.
Việc khôi phục và bảo tồn vùng không gian trước cân
cơ nâng mi là một yếu tố thiết yếu trong việc bổ sung
căn bản cho nếp mí ở người châu Á không có nếp mí rõ
ràng,
nằm trên và tiếp xúc trực tiếp với cân cơ nâng mimi
mà không có mỡ đệm. Đó sẽ là cơ hội tốt đề vùng
không gian trước cân cơ nâng mi(vùng trượt) bị
xoá mất. Kết quả là một khe trên sụn mi sâu và sự
hình thành nếp mí kém.
2. Nếu chỉ loại bỏ mỡ một phần hoặc dè dặt, có khả
năng một ít mỡ sẽ vẫn nằm xen kẽ giữa cơ vòng mi
trước vách ngăn (lớp trước) và cân cơ nâng mimi
(lớp sau).
3. Trong phương pháp đường vào góc xiên của tác giả
hướng lên trên, sau đó khâu da đơn thuần với cân
cơ nâng mimi dọc theo bờ sụn mi và mép da dưới;
có bảo tồn vùng không gian và mỡ trước cân cơ
nâng mixuống đến bờ trên sụn mi, cùng với một ít
mỡ đệm trong vùng trượt. Nhiều sợi cơ vòng mi
được loại bỏ dọc theo đường rạch trên, như vậy
cơ vòng mi được cắt ngang theo góc xiên hướng
lên. Điều này cho phép vùng lân cận ngay sát mép
đường rạch da trên được tiếp xúc với vùng trước
cân cơ nâng mi.

Mí mắt nhắm
Mí mắt mở

18 Nâng cao: cắt xiên và làm sạch lớp giữa trong mổ lại mí mắt ở người châu Á
261
thì đến bây giờ tác giả vẫn chưa gặp, vì hầu hết các
phẫu thuật viên ngày nay biết rằng không nên loại bỏ quá
nhiều mỡ mí mắt ở người châu Á; tuy nhiên, không có
quá nhiều người quen thuộc với việc cắt giảm theo hình
thang sử dụng đường vào góc xiên ở người châu Á).
Thường bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật thẩm mỹ mí
mắt trên và bây giờ thì nếp mí phẳng hoặc không nhìn thấy
với một khe hõm vào nhẹ. Bệnh nhân có thể hình thành
nếp mí kém vì một số lý do: sự kết dính phẫu thuật kém
giữa mép da và cân cơ nâng mi, hoặc sự xuất hiện của vô
định làm đầy xuống toàn bộ cân cơ nâng mi ở vùng trước
cân cơ nâng mi giữa da và cơ nâng mi.
Đường vào góc xiên được áp dụng cho phẫu thuật mí
sửa lại ở người châu Á cho phép phẫu thuật viên đi tới
vùng không gian trước cân cơ nâng mi một cách an toàn,
để tái sắp đặt bất kỳ mỡ trước cân cơ nâng mi nào còn
lại để làm đầy các chỗ lõm, để tiếp cận vùng không gian
trước cân cơ nâng mi mà không phải mất mm da quý giá
nào dọc theo đường rạch da trên. Nói cách khác, bạn đang
làm một cách chắc chắn rằng đường rạch sẽ không gây
thêm vấn đề, trong khi cho phép bạn t vào vùng không
gian trước cân cơ nâng mi để loại bỏ sẹo của lớp giữa, tái
lập lại bề mặt vùng trượt cũng như nếp mí động và sinh
lý nếp mí một cách tương đối (Hình 18 - 8).
nó là một vector hướng lên của sụn mi, cùng với sự có
mặt kèm theo của mỡ trong vùng trước cân cơ nâng mi
được bảo tồn, giúp tạo ra một nếp mí có hình dạng đẹp
dưới đường viền nếp mí trước vách ngăn ở phần giữa
của mí trên. Sẽ là không tốt nếu loại bỏ hoàn toàn mỡ
vùng này, vì sẽ làm xoá bỏ vùng không gian trước cân cơ
nâng, làm phằng vùng giữa trước sụn và tạo ra một khe
trên sụn mí mắt ở người châu Á.
Lý do sau đây được áp dụng cho phẫu thuật mí sửa lại.
Bằng cách sử dụng đường vào góc xiên dọc theo đường
rạch trên, tác giả muốn bảo tồn tính toàn vẹn của vùng
không gian trước cân cơ nâng mi. Nếu bệnh nhân đã phẫu
thuật cắt giảm mô theo hình chữ nhật cổ điển với loại
bỏ một phần mỡ, đường vào này sẽ cho phép xác định vị
trí vùng không gian trước cân cơ nâng mi mà không gặp
nhiều khó khăn. Nếu phẫu thuật viên trước đó tiến hành
phẫu thuật theo hình thang, thì sẽ tương đối dễ dàng để
tìm vùng không gian trước cân cơ nâng mi, như tác giả
làm khi tiến hành tăng cường cho nếp mí. Nếu bệnh nhân
đã trải qua phẫu thuật hình thang với loại bỏ toàn bộ
mỡ, đường vào góc xiên vẫn sẽ mang lại cơ hội lớn hơn
để đạt tới một vùng phẫu thuật tương tự là vùng không
gian trước cân cơ nâng mi (khả năng thứ tư là cắt giảm
theo hình thang với loại bỏ hoàn toàn mỡ

A
B

262
Phẫu thuật tạo mí người châu Á

Age and Gender
Preop OD
Postop OD
Change
Preop OS
Postop OS
Change
1
42F
12
7.5
4.5
11
7.5
3.5
2
38F
11
7.5
3.5
10
7.5
2.5
3
46F
11
7
4
10
7
3
4
60F
10
6
4
10
6
4
5
54F
9.5
7.5
2
9.5
7.5
2
6
32F
9
7
2
9
7
2
7
32F
8.5
6.5
2
8
22F
8.5
7
1.5
8.5
7
1.5
9
23M
8
7
1
8
7
1
10
63F
9
7
2
9
7
2
11
36F
12
8
4
14
8
6
12
58F
12
7
5
12
7
5
13
65F
11
7
4
11
7
4
14
29F
9
7
2
9
7
2
15
22F
9
8
1
9
8
1
16
55F
10
7.5
2.5
10
7.5
2.5
17
66F
9
6
3
8.5
6
2.5
18
30F
11
8.5
2.5
10
8
2
19
34F
9.5
8
1.5
20
25F
8.5
7
1.5
8.5
7
1.5
21
39F
9
7
2
9
7
2
22
47F
11
8
3
11
8
3
23
28F
8
6.5
1.5
24
63F
10
7
3
25
26F
9.5
6.5
3
9.5
6.5
3
26
28F
12
6
6
12
8
4
Subtotal =
240.5
172
68.5
235
171.5
63.5
Statis. Mean =
10.02
7.17
2.85
9.79
7.15
2.65
Total (OD + OS) =
475.5
343.5
132
Overall Mean =
9.9
7.15
2.75
Sẹo nhìn thấy được trong những ca phẫu thuật thẩm
mỹ mí mắt ở người châu Á làm không tốt có thể bao gồm
đường rạch da bị giãn rộng, nếp mí cao, hở mi, và sụp
mí mắc phải khi nhìn thẳng về trước hoặc nhìn trợn lên.
Trong lúc phẫu thuật, người làm nhìn thấy sẹo của lớp
giữa bao gồm cơ vòng mi và vách ngăn, hoặc mảng mô
sẹo dày gắn chặt cơ vòng mi ở trước với cân cơ nâng mi
ở sau. Thay vì bảo tồn sinh lý của vùng trượt nơi mà túi
mỡ trước cân cơ nâng mi vẫn còn ở cạnh thấp nhất của
vùng trượt, thì bây giờ lại có một mảng dày đặc của mô
đang ngăn cản lớp sau từ một vector hướng lên thích hợp
kháng lại một lớp da - cơ vòng mi lỏng lẻo và bị động.
Trong thực tế lâm sàng của tác giả, 26 bệnh nhân và
48 mí mắt đã trải qua phẫu thuật tạo mí sửa lại hơn 4
năm cho mục đích đặc biệt là đưa nếp mí cao xuống vị
trí thấp hơn.
Không đưa vào nghiên cứu những bệnh nhân châu Á
phẫu thuật tạo mí lần đầu, bao gồm những bệnh nhân có
nếp mí cao trước đó, phẫu thuật với mục đích tăng cường
(làm sâu hơn) nếp mí đang có, hoặc phẫu thuật tạo nếp
mí, sửa lại nếp mí không đầy đủ hoặc hình dạng mắt 1
mí, và chỉnh sửa đồng thời với sụp mi mắc phải
hoặc do co rút mi ở bệnh nhân châu Á phẫu thuật tạo mí
lần đầu. Có 5 nam và 21 nữ, có 4 bệnh nhân yêu cầu phẫu
thuật sửa lại mí 1 bên, còn lại tất cả là 2 bên.
Các dữ liệu được sắp xếp trong 2 cột (Bảng 18 - 1):
OD cho mí mắt trên phải, OS cho mí mắt trên trái. Cột
thứ 3 của mỗi 2 cụm dữ liệu phản ánh sự khác biệt giữa
các thông số đo trước và sau phẫu thuật. Có 24 mi mắt
cho mỗi loại, cho tất cả 48 mi mắt. Dữ liệu được gộp lại
để đạt được giá trị trung bình thống kê toàn thể. Độ cao
nếp mí trước phẫu thuật mổ lại được đo trong phòng sử
dụng thang đo milimet và thay đổi từ 8 đến 14 mm, với
trung bình khoảng 9,9 mm. Chiều cao nếp mí được thiết
kế trong phẫu thuật mổ lại (sai số 0,5 mm) thay đổi từ 6
đến 8,5 mm theo từng tình huống, với trung bình
khoảng 7,5 mm, và 7 mm là thường được áp dụng nhất
trong phẫu thuật dưới gây tê tại chỗ. Hiệu quả của sự hạ
thấp chiều cao nếp mí thay đổi từ 1 đến 6 mm khi đánh
giá lại sau 2 tháng phẫu thuật. Hạ thấp trung bình của
nếp mí là 2,75 mm, dựa trên 2 tháng theo dõi sau phẫu
thuật. Với diễn tiến điển hình như vậy thì chiều cao nếp
mí sẽ tiếp tục hạ xuống khi sưng giảm dần và quá trình
lành vết thương. Như vậy làm tăng khả năng giảm thấp
hiệu quả nếp mí ở tất cả bệnh nhân khi trở lại sau một
thời gian theo dõi dài hơn.

18 Nâng cao: cắt xiên và làm sạch lớp giữa trong mổ lại mí mắt ở người châu Á
263
REFERENCES AND FURTHER READING
1. Chen WPD. Concept of triangular, rectangular and trapezoidal
debulking of eyelid tissues: application in Asian blepharoplasty. Plast
Reconstr Surg 1996;971:212–218.
2. Chen WPD. Asian blepharoplasty: a surgical atlas. Oxford:
Butterworth–Heinemann, 1995.
3. Chen WPD. Asian blepharoplasty – update on anatomy and tech-
nique. J Ophthalmol Plast Reconstr Surg 1987;3:135–140.
4. Chen WPD. Aesthetic eyelid surgery in Asians: an East–West view.
Hong Kong J Ophthalmol 2000;3:27–31.
5. Chen WPD, Khan JA. Color atlas of cosmetic oculofacial surgery
(with DVD), 2nd edn. Philadelphia: Elsevier Science/Saunders,
2010.
6. Chen WPD. Beveled approach for revisional surgery in Asian
blepharoplasty. Plast Reconstr Surg 2007;120(2):545–552.
Việc sử dụng đường vào góc xiên hướng lên trong phẫu
thuật tạo mí sửa lại ở người châu Á có thể cho phép vùng
trượt được phục hồi một phần và sẹo của lớp giữa được
loại bỏ. Vùng nền trước cân cơ nâng mi được làm sạch
khỏi bất kỳ mô xâm lấn nào. Sự kết hợp các kỹ thuật
được thảo luận trong chương này thường cho phép một
đường sẹo tĩnh và cao bất thường được sắp xếp lại ở vị
trí thấp hơn và nếp mí trở nên động hơn, đến mức chấp
nhận được cho bệnh nhân. Và tránh được phải ghép da.

265
NÂNG CAO: GÓC QUAN
SÁT, NẾP MÍ CAO VÀ
HIỆU QUẢ TRÊN LÂM
SÀNG TRONG PHẪU
THUẬT TẠO MÍ
 
Chương này đề cập đến các khái niệm về chiều cao và
độ sâu của nếp mí, thay đổi vị trí quan sát mí mắt của
bệnh nhân khác nhau đối với góc quan sát của bác sĩ.
Chiều cao nếp mí ở mỗi người thay đổi khác nhau và chịu
ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác, bao gồm vị trí nghỉ, góc
quan sát và những bất thường về mắt. Ghi nhận những
quan sát được để lên kế hoạch phẫu thuật lần đầu hay
sửa lại mí mắt.

XÁC ĐỊNH GIẢI PHẪU NẾP MÍ TRÊN
Mí mắt là một vết lõm tự nhiên của da mí mắt, thường
được tìm thấy dọc theo bờ trên sụn mi, khi bệnh nhân
mở mắt (Hình 19-1). Nó được cho là kết quả co lại của
các sợi xa cân cơ nâng mi, kéo sụn mi, da trước sụn và
cơ vòng mi trước sụn lên trên và ra sau đối nghịch lại
với đoạn trên nếp mí vùng trước vách ngăn bị giãn ra
(da, cơ vòng mi, vách ngăn ổ mắt và các túi mỡ).

266
Phẫu thuật tạo mí người châu Á

CH 2
GÓC TRỤC THỊ GIÁC
(Vax)
Nhìn xuống (Hình 19-3)
Khi nhìn xuống, cơ thẳng dưới và cơ chéo trên co lại
trong khi đó cơ thẳng trên và cơ nâng mi giãn ra, kéo dài
nhất. Đối với người có nếp mí tự nhiên, kết quả nhìn xuống
bị mất nếp mí, mặc dù vẫn quan sát thấy nếp lằn da mí.
Nhìn lên (Hình 19-4)
Nếp mí là sâu nhất khi mí mắt nhìn lên tối đa - nơi cơ
nâng mi
VỊ TRÍ CỦA MÍ TRÊN VÀ NẾP MÍ
Tùy thuộc vào độ nghiêng của khuôn mặt, có một
phương sai quan sát được ở độ cao biểu kiến của nếp gấp
trên mí
Hầu hết bệnh nhân có nếp mí khi họ nhìn thẳng về phía
trước (Hình 19-2).
có lẽ co lại tối đa và có độ dài ngắn nhất. Góc nhìn lên
được đo ngang có thể chỉ định là dương (+) Vax (Vax =
góc trục thị giác của bệnh nhân, so với trục ngang).
Nếu người này mà nhìn lên nghiêng đỉnh (đỉnh đầu) về
phía sau một ít (cằm về phía trước) và vẫn duy trì ánh nhìn
về phía trước với độ nghiêng đầu sau, theo nhãn cầu thì
điều này tương tự như nhìn xuống và do đó nếp mí ít sâu
và rõ ràng hơn

19 Nâng cao: góc quan sát, nếp mí cao và hiệu quả trên lâm sàng trong phẫu thuật tạo mí
267

(+) Vax

(–) Vax

268
Phẫu thuật tạo mí người châu Á

(+) Vax
(+) ao
CH 1
Nghiêng đầu ra sau
Thật thú vị, có tỷ lệ nhiều người châu Á với mắt một mí
có xu hướng nghiêng đầu ra sau. Điều này là tương tự
như nhìn xuống nhẹ với Vax âm tính (-), cơ nâng mi trong
trạng thái nghỉ ngơi hơn, và giảm kéo đoạn trước sụn mi
lên trên. Có nhiều lý do: ở những người mắt 1 mí, nếp
mí có xu hướng lệch 5-100 trên thị trường trên, và độ
nghiêng đầu ra sau có thể là động thái bù lại để cố gắng
nhìn rõ hơn. Ngoài ra còn có sự xuất hiện đồng thời của
sụp mi tiềm ẩn hoặc có sụp mi nhẹ. Khi sinh ra, những
người này đã quen và sử dụng tư thế quay đầu nhẹ để xóa
trục thị giác. Họ thường khá ngạc nhiên khi phát hiện ra
lúc soi gương hay chụp ảnh 1 bên. Thật vậy, ngay cả sau
khi tạo mí thành công, nhiều bệnh nhân thường ít quan
tâm đến nếp mí mới mà không biết trước đây họ quen
quay đầu về phía sau. Nếp mí hình thành tốt có thể không
hoàn toàn lõm vào tối đa trên khuôn mặt của người có
trán đầy và nhìn thẳng về phía trước (Vax 0).
VAX dương tính
Như đã đề cập trước, cơ nâng mi co tối đa khi nhìn
lên; ở đây nếp mí xuất hiện sâu nhất. Chúng ta có thể xem
xét góc trục thị giác của bệnh nhân (Vax) ở vị trí nhìn
lên tối đa như là góc dương tính tối đa khi đầu thẳng về
phía trước (Hình 19-5).
AO dương tính
Khi người khám đứng ở vị trí quan sát cao hơn so với mắt
của bệnh nhân, bệnh nhân nhìn lại người quan sát ở vị
trí cao hơn, nếp mí sẽ xuất hiện sâu hơn do góc quan sát
dương (+ ao) từ người quan sát cũng như có bệnh nhân
nhìn lên bằng Vax dương tính (xem Hình 19-5). Điều này
cũng tương tự như yêu cầu bệnh nhân đưa cằm về phía
trước xương ức và nhìn về phía trước với người khám ở
một vị trí quan sát về phía sau hơn, về cơ bản đặt mắt
bệnh nhân ở vị trí nhìn lên liên quan đến ổ mắt. CH 1 <
CH 2.

19 Nâng cao: góc quan sát, nếp mí cao và hiệu quả trên lâm sàng trong phẫu thuật tạo mí
269
VAX âm tính
Cơ nâng mi ở trạng thái nghỉ khi mắt nhìn xuống, với mí
trên cũng như cơ thẳng trên ở trạng thái nghỉ (Hình
19-6). Ở đây góc trục thị giác (đo hướng xuống từ góc 0
thẳng về phía trước) nằm ở góc âm cực đại, và nếp mí
lõm vào sẽ cạn đi tự nhiên hoặc mờ dần khi nhìn xuống
dần.
AO âm tính
Nếu bệnh nhân ở vị trí cao hơn người khám, người khám
ở vị trí thấp hơn và nhìn lên (tạo ra Ao âm) trong khi
bệnh nhân đang nhìn xuống và có Vax âm tính. Nếp mí
trông cạn (xem hình 19-6). CH 3 >CH 2 và chiều cao mí
giải phẫu.
CH 3
(–) Vax
(–) ao

270
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
Vax trung tính (=Zero)
Khi người có nếp mí tự nhiên nhìn thẳng về phía trước
ngang tầm nhìn (Vax 0), thì nếp mí là tối ưu, không quá
sâu hay quá nông. Theo quan điểm của tác giả, tính động
của nếp mí tạo được bằng phương pháp phẫu thuật.
Phương pháp phẫu thuật do đó được lựa chọn để tạo mí
người châu Á và mô tả mục tiêu này.
GÓC QUAN SÁT (AO)
Góc quan sát của người khám (ao) cũng nên được
chuẩn hóa. Nó phải ở mức độ và vuông góc với mặt thẳng
đứng của bệnh nhân; đây sẽ là góc quan sát của người
khám (ao = 0) nhìn thẳng về phía trước (Hình 19-2).
Do đó với lược đồ Vax hoặc ao, giá trị dương của
nó được liên kết với độ sâu của nếp mí và giá trị âm của
một trong hai giá trị này được kết hợp với mức mờ của
nếp mí.
Mục đích nghiên cứu, Vax và ao nên luôn luôn
được quan sát thấy ở vị trí giá trị = 0 (cấp độ nhìn của
bệnh nhân và người khám và thẳng với nhau).
Ở những bệnh nhân lớn tuổi bị sụp mi tiến triển, thường
chúng ta thấy nếp mí vị trí bình thường lúc tuổi trẻ cao
hơn, ít đặc biệt hơn với sụp mi mới sinh.
Lý do nếp mí thứ 3: do suy yếu cơ nâng mi liên quan
đến tuổi và đính dọc theo bờ trên sụn mi, suy yếu của cơ
vòng mi trước sụn và trước vách ngăn gần khu vực ở
phía trước vùng trên sụn mi và bờ mi rơi xuống (gây ra
nghiêng đầu nhẹ phía sau và Vax âm tính), cộng với nếp
mí cạn dần. Sự suy yếu của các sợi cơ vòng mi giữa bờ
trên sụn mi và da trên của nó dẫn đến việc làm giảm các
sợi đầu xa cơ nâng mi mà trước đó đã cài vào nếp mí ở
vị trí ban đầu. Một số sợi cân cơ nâng mi vẫn còn đính ở
vùng này, sau đó tạo thành những gì các bác sĩ lâm sàng
mô tả như là “nếp mí di chuyển lên trên”; phần còn lại
của nếp mí này sẽ yếu hơn và không phải là nếp mí giải
phẫu thực sự vì nó không lõm vào tốt ở vị trí này.
Tầm quan trọng của các khái niệm này là “độ sâu nếp
mí” thường được đưa vào thảo luận giữa bệnh nhân và
bác sĩ và tốt nhất là phải hiểu rõ những gì nếp mí tự nhiên
được hình thành tốt, nếp mí phẫu thuật sẽ như thế nào
(mí động, mềm mại và tự nhiên, vv) và những gì đủ điều
kiện như một nếp mí không đầy đủ (về độ sâu, liên tục
hoặc không đầy đủ, vv). Thậm chí quan trọng hơn, tác
giả ngạc nhiên khi biết tần suất các bác sĩ và bệnh nhân
có thể không thảo luận chi tiết các mục tiêu về nơi chiều
cao nếp mí.

271
NÂNG CAO: QUAN NIỆM VỀ ĐỘ
NGHIÊNG CỦA SỤN MI - HIỆU
QUẢ CỦA NÓ TRONG TÌNH
HUỐNG LÂM SÀNG BÌNH
THƯỜNG VÀ BẤT THƯỜNG
 
Chương này đề cập đến phát hiện mới của tác giả về
độ nghiêng tự nhiên của sụn mi mí mắt là khoảng 45°
khi mí mắt mở. Chiều cao nếp mí là không chính xác khi
đo theo chiều dọc và thực tế tương ứng với chiều cao mí
giải phẫu thực tế trước sụnng qua hệ số √2÷1.0, giả sử
tam giác cân bằng 45°, hoặc là 1,41X, với X là mức thẳng
đứng được đo trước. Nói cách khác, phép đo dọc với mắt
mở đã đánh giá không chính xác chiều cao nếp mí thực
tế theo hệ số 1/√2. Sự thiếu chính xác trong thảo luận và
đo chiều cao nếp mí là nguyên nhân chính gây ra kết quả
có vấn đề chưa tốt.
Hình 20-1A cho thấy khái niệm về độ nghiêng sụn mi
của tác giả, với góc nghiêng của sụn mi và đoạn trước sụn
(nơi có nếp mí) thay đổi từ 45 -> 50°
Góc này có thể được nghiên cứu trước qua thuật toán
học và các phép đo lâm sàng bằng chụp ảnh và MRI.
Sự hiểu biết đúng đắn về hiệu quả của độ nghiêng sụn
mi và ảnh hưởng của nó lên chiều cao nếp mí nhìn thấy
là rất quan trọng đối với bất kỳ phẫu thuật viên nào khi
phẫu thuật mí. Độ nghiêng của sụn mi làm giảm chiều
cao mí nhìn thấy cũng như ảnh hưởng đến giải phẫu của
người châu Âu và châu Á khác nhau ở cả hai trạng thái
bình thường và bất thường của vị trí mí mắt. Sử dụng
thuật toán học cũng như các ví dụ điển hình, chương này
sẽ liên hệ các tác động của các lỗi hay gặp trong khi phẫu
thuật tạo mí thẩm mỹ mí trên người châu Á.

272
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
Chiều cao nếp mí theo
giải phẫu
Chiều cao nếp mí
nghiêng (Tch)
,°
A

20 Nâng cao: Quan niệm về độ nghiêng của sụn mi - hiệu quả của nó trong tính huống lâm sàng bình thường và bất thường
273

I°
Chiều cao mí nhìn thấy
I°
Chiều cao mí giải phẫu
Chiều cao mí nghiên (Tch)
Góc nghiêng
B
I°

274
Phẫu thuật tạo mí người châu Á

41°
SỰ KHÁC NHAU GIỮA CHIỀU CAO
MÍ NHÌN THẤY VÀ CHIỀU CAO MÍ
GIẢI PHẪU
Chúng tôi thường thấy nhân viên giảng dạy cho là đo
chức năng cơ nâng mi (độ co cơ) bằng cách đặt thước
đo milimet dọc theo mí mắt, có lẽ ở giữa của bờ mi trên.
Việc đo chiều cao nếp mí thường được thực hiện ở vị trí
tương tự
Để có được chiều cao nếp mí giải phẫu thực sự, chúng
ta nên để bệnh nhân nhìn xuống, sao cho vùng trước sụn
mi gần như thẳng đứng, hoặc đo chiều cao nếp mí khi mắt
nhắm; sau đó chúng ta có được chiều cao mí giải phẫu
thực sự, thường tương ứng với chiều cao ở giữa sụn mi.
Trong hình, chúng ta thấy mí mắt của người trưởng
thành (Hình 20-2), sụn mi trên được đo ở góc nghiêng
41° so với trục hoành.

20 Nâng cao: Quan niệm về độ nghiêng của sụn mi-hiệu quả của nó trong tính huống lâm sàng bình thường và bất thường 275
GIẢI PHẪU MÍ NGƯỜI CHÂU Á
Lấy ví dụ: nếp mí 7 mm tự nhiên của châu Á. Hình
20-3A cho thấy mí mắt trên ở vị trí nhắm hoặc nhìn
xuống, trong khi Hình 20-3B minh họa mí mắt ở vị trí mở,
bình thường nhìn về phía trước. Khi mặt thẳng đứng và
đôi mắt đang nhìn về phía trước, nếp mí được biểu hiện
cách tối ưu và chui vào dưới nếp gấp. Mặt phẳng phía
trên sụn mi là góc sau-trên theo hướng nghiêng, gần với
góc nghiêng (I) 45°. Do đó, sụn mi có thể nghiêng.
Chiều cao mí nghiêng (Ich) hoặc ‘ tilted crease height
(Tch) (màu xanh trong Hình 20-1) là chiều cao nếp mí
được nhìn thấy và đo theo chiều dọc bởi người quan sát
ngồi đối diện (mắt mở), và luôn luôn ít hơn hơn chiều
cao mí giải phẫu thực sự.
Chiều cao mí giải phẫu là 7 mm (da trước sụn hoặc sụn
mi, đường màu đỏ trong hình 20-1) có thể được coi là
liên kết trên cạnh huyền của tam giác cân 45°, trong khi
hai mặt còn lại là trục thẳng đứng và trục ngang (mỗi
trục hai bên sẽ xấp xỉ 7 mm x (1/√2), bằng 5 mm theo
chiều dọc và chiều ngang). Do đó nếp mí tự nhiên 7 mm
sẽ xuất hiện vì người khám giữ 5 mm trong chiều cao
thẳng đứng từ phần thụt vào của nếp mí cho đến bờ mi
(nghiêng hoặc Tch), và khoảng 3 mm nhưng chỉ khi có 2
mm nếp gấp phủ qua nếp mí (phần hiển thị bên mép
dưới của nếp gấp sẽ là ‘chiều cao mí nhìn thấy’ trên lâm
sàng). Do đó nó là khá bình thường đối với bệnh nhân có
mắt 1 mí yêu cầu kết quả nếp mí 3 mm; các học viên nên
nhận ra rằng nó cần phải có chiều cao nếp mí giải phẫu
là 7 mm.
Mặt phẳng phía trên sụn mi là góc sau-trên theo hướng
nghiêng, gần với góc nghiêng (I) 45°. Do đó, sụn mi có
thể nghiêng.

Chiều cao
mí giải
phẫu
Đường
mí
Chiều cao mí
nghiêng
(Tch)
I°
A
B

276
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
Chiều cao mí nhìn thấy < Chiều cao mí nghiêng
(theo chiều dọc) < Chiều cao mí giải phẫu
hay Chiều cao mí giải phẫu > Chiều cao mí nghiêng
(theo chiều dọc) >
Chiều cao mí nhìn thấy
Cho thấy rằng khi thiết kế nếp mí để phẫu thuật thì
phải cao hơn, lên đến giới hạn giải phẫu nhất định, so
với những gì bệnh nhân quan sát thấy hoặc cảm nhận.
Chiều cao mí nhìn thấy nhỏ hơn chiều cao nếp mí
nghiêng chúng ta thấy bằng mm nếp gấp mí phủ qua:
Chiều cao mí nghiêng - nếp gấp = chiều cao nếp mí
nhìn thấy
Chiều cao nếp mí nhìn thấy + nếp gấp = chiều cao mí
nghiêng


Chiều cao nếp mí nghiêng không có giá trị đo lường lâm
sàng, mặc dù nó thường xấp xỉ bằng 1/ √2 (= 0,72) chiều
cao nếp mí giải phẫu thực sự; chiều cao mí giải phẩu
phải được đo khi mí mắt nhắm hoặc nhìn xuống. Phương
pháp đo độ nghiêng sụn mi trong mắt mở là đoạn trước
sụn qua MRI. Trong hình 20-4 chúng ta thấy hình ảnh của
bệnh nhân có góc đo được của đoạn sụn mi (mắt mở) là
44,45°.

20 Nâng cao: Quan niệm về độ nghiêng của sụn mi-hiệu quả của nó trong tính huống lâm sàng bình thường và bất thường 277
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU PHÂN
TÍCH: THUẬT TOÁN MÔ PHỎNG
Thuật toán học thường được các kỹ sư và nhà vật lý
sử dụng để mô phỏng các tình huống thực tế khi không
thể đo được các sự kiện phức tạp ở giai đoạn hiện tại
của công nghệ hiện có, ví dụ như mô hình thời tiết, dự
đoán động đất, kiểm tra vũ khí hạt nhân hoặc động lực
của tên lửa. Bên cạnh biện pháp thực tế khả thi, nó được
coi là tiêu chuẩn vàng khi nói đến độ chính xác; Tôi sẽ cố
gắng làm tương tự ở đây bằng cách sử dụng hình học cơ
bản và lượng giác.
Khi mắt mở, góc nghiêng của phần trước (bao gồm da,
cơ vòng mi, sụn mi) vì nó nằm trên nhãn cầu có thể thay
đổi từ 40 đến 50° (giả sử rằng bờ mi nằm ở rìa trên giác
mạc và sụn mi kéo dài vượt quá điểm này); chúng ta sẽ
chỉ định góc nghỉ này là góc nghiêng.
Giản đồ mắt bình thường
Mắt người có đường kính trục 25 mm, bán kính 12,5
mm và chu vi 78,5 mm. Mỗi mm trên bề mặt nhãn cầu sẽ
trừ đi 4,6° khi được đo từ điểm trung tâm của mắt
(360°÷78,5 mm = 4,6° trên mỗi mm chu vi)
[Thêm: Chúng tôi sẽ đưa ra số giả định. Mặc dù các
chuyên gia về mắt khác nhau có thể xem xét vị trí nghỉ
của mí mắt trên khi mắt mở là trên rìa giác mạc (ở trẻ
nhỏ) và mm dưới rìa giác mạc (người lớn), chúng ta sẽ
giả sử nó ở mức cao hơn để loại bỏ sự khác biệt về độ
cong giác mạc và củng mạc ảnh hưởng đến tính toán,
nếu có. Chúng tôi cũng sẽ thảo luận về hai điều kiện lâm
sàng bất thường của việc co rút mí mắt 2 mm trên rìa
(nằm 2 mm củng mạc), cũng như khi sụp mi thì mí mắt
phủ qua rìa giác mạc 4 mm (4 mm phủ giác mạc). Điều
này cũng tương tự như nếu chúng ta áp dụng độ phủ 1
mm trên rìa giác mạc là vị trí tự nhiên của mí mắt trên
khi mắt mở, và sau đó hai điều kiện lâm sàng bất thường
nêu trên sẽ bằng 3 mm co kéo từ vị trí nghỉ của mí mắt
ban đầu (1 mm che giác mạc) với kết quả thừa 2 mm che
củng mạc; trong khi 4 mm sụp mi phủ qua rìa giác mạc
là 3 mm từ vị trí nghỉ của bờ mi và 1 mm qua giác mạc.
Bạn cũng có thể nghĩ về điều này khi cố gắng mô phỏng
những gì xảy ra với hàm tuyến tính như hàm sin, khi
chúng ta lệch lên và xuống lượng bằng nhau 3 mm theo
mỗi hướng, nếu chúng ta giả định bờ mi của phần còn
lại nằm ở 1 mm bên dưới rìa trên.]

278
Phẫu thuật tạo mí người châu Á

10 mm
r = 12.5 mm
5 mm
67°
46°
23°
I°
Người châu Âu với chiều cao sụn mi 10
mm (Hình 20-5)
Người châu Âu với sụn mi trên 10 mm theo chiều dọc
(chiều cao), được đo từ phần rộng nhất (ở giữa) của sụn
mi. Với mí mắt trên mở hoàn toàn, bờ mi nằm ở rìa của
giác mạc. Nếp mí của nó sẽ là 10 mm từ bờ mi. Bản thân
sụn mi sẽ trừ đi 46° chu vi của nhãn cầu. Nửa trên của
giác mạc, là 5 mm, sẽ trừ 23°. Sụn mi trừ 46°. Như chúng
ta biết từ 2 rìa nối với nhãn cầu cho tới bờ mi và tương
tự với nếp mí là bằng nhau, ta có thể tính góc nghiêng (I)
so với trục hoành cho người châu Âu là I = (180° - 46°)/
2 -23° = 44° (Hình 20-5).
Hình 20-5 Người châu Âu với sụn mi trên 10 mm.
Vòng tròn là nhãn cầu. Không thể hiện hình ảnh mí trên
nhưng bờ mi nằm ở rìa trên của giác mạc khi mí mắt mở.
Đường viền màu xanh là giác mạc nhìn thấy trung bình
có đường kính 10 mm. Vòng cung 10 mm đại diện cho
phần trên của sụn mi khi mí mắt mở. (Đường ngang với
mũi tên được vẽ song song với đường trục chạy từ tâm
giác mạc đến mặt sau của nhãn cầu). Đường chấm là độ
dốc của sụn mi
thay vì vị trí thực của nó trong không gian (do đó độ
nghiêng của sụn mi là I° khi nó thụt vào để tạo thành nếp
mí = mũi tên màu xanh là bờ trên sụn mi).
Độ lớn của góc nghiêng I (dựa trên vị trí mí mắt) có thể
được sử dụng để liên kết những gì chúng ta thấy (Tch)
so với những gì chúng ta đo lường chính xác khi mí mắt
đang nhìn xuống (hoặc nhắm): chúng ta có thể nhớ lại
từ lượng giác học {tìm sin = cạnh đối / cạnh huyền}.
Do đó, hàm sin của giá trị I (góc nghiêng từ độ nghiêng
sụn mi) bằng với tổng hợp dọc được quan sát của nếp
mí trong không gian (Tch, chưa biết), chia cho chiều cao
giải phẫu (cạnh huyền) của sụn mi (có đường viền sụn
mi cao hơn thường tương ứng với vị trí của nếp mí mắt),
được biết đến thường là 10 mm ở người châu Âu (Hình
20-3):
Sine
Tch
mm
Sine
Do đó Tch
mm
mm f
44
10
44
0 69
10
0 69
6 9
° =
° =
=
×
=
.
.
.
or người châu Âu
Sụn mi của người châu Âu cao 6.9 mm khi kiểm tra với
mí mắt mở, mặc dù nó thực sự là 10 mm. Chiều cao nếp
mí dường như là 6,9 mm khi nó phải là 10 mm giả định
rằng nếp gấp nằm trong vùng dọc theo bờ trên sụn mi.

20 Nâng cao: Quan niệm về độ nghiêng của sụn mi-hiệu quả của nó trong tính huống lâm sàng bình thường và bất thường 279
Người châu Âu có sụp mi 4 mm (Hình 20-6)
Với người châu Âu có sụp mi 4 mm. Vòng tròn là nhãn
cầu. Mí mắt thì không thể hiện thấy bờ mi trên nằm phủ
qua giác mạc 4 mm và chỉ là 1 mm ở giữa theo trục hoành.
Đường viền màu xanh là giác mạc nhìn thấy trung bình
có đường kính 10 mm. Đường kính 10 mm (bao gồm
đường chấm) đại diện cho phần mí mắt. Đường chấm là
độ dốc đồng nhất ở giữa chiều cao của sụn mi (do đó độ
nghiêng của mí mắt là I° khi nó thụt vào để tạo thành nếp
mí = mũi tên màu xanh là bờ trên sụn mi).
Nếu người châu Âu sụp mi 4 mm, mí mắt trên sẽ bao
phủ 4 mm qua bờ trên của giác mạc. (Lưu ý rằng bác sĩ
nhãn khoa thường đo từ điểm tham chiếu của bờ mi
bình thường như bao phủ 1 mm giác mạc, do đó

10 mm
r = 12.5 mm
1 mm
67°
46°
4.6°
I°
4 mm trên giác mạc thực sự chỉ sụp mi 3mm. Xem các
cuộc thảo luận trước đây về thuật toán học). Tính tương
tự như trước đây, biết rằng mỗi mm trên bề mặt của nhãn
cầu sẽ trừ đi 4,6°. Khi mí mắt xuống 4 mm, nó chỉ là cao
hơn 1 mm so với đường giữa của mắt, góc đó là 4,6° như
được gắn trên nhãn cầu.
I (góc nghiêng) = 67° - 4,6° = 62°, sin I = 0,89 = Tch/10
mm, với Tch là 8,9 mm. Do đó chúng ta sẽ thấy nhiều
chiều cao mí thực sự hơn (Tch gần đến 10 mm) với sụp
mi vừa phải; trong trường hợp này, giá trị của Tch là 8,9
mm. Tương tự như vậy, khi mí mắt trên rơi xuống, chúng
ta thấy vùng trước sụn lớn hơn và cho thấy gần với kích
thước nếp mí giải phẫu thực sự hơn.

280
Phẫu thuật tạo mí người châu Á

10 mm
r = 12.5 mm
2 mm
67°
46°
32°
I°
Mí người châu Âu co ngắn 2 mm
(Hình 20-7)
Mí trên người châu Âu bị co kéo 2mm. Vòng tròn là nhãn
cầu. Mí trên không kéo xuống mà bị kéo lên trên rìa của
giác mạc 2 mm lộ củng mạc. Đường màu xanh là giác mạc
nhìn thấy trung bình có đường kính 10 mm. Đường kính
10 mm (ngoại vi với đường chấm) biểu thị phần trên của
sụn mi khi mí mắt mở. Đường chấm là độ dốc đồng dạng
ở giữa chiều cao của sụn mi (do đó độ nghiêng của mí
mắt là I° khi nó thụt vào để tạo thành nếp mí = mũi tên
màu xanh là bờ trên sụn mi). Bờ mi trên bị kéo lên trên
rìa của giác mạc 2 mm
(hoặc 3 mm co lại theo quy ước của bác sĩ nhãn khoa
1mm bao gồm giác mạc trên như vị trí mí mắt trên bình
thường với mắt mở), bờ mi cao nhất là 7 mm từ giữa
mắt hoặc đường giữa của nhãn cầu.
Chúng tôi biết rằng mỗi mm trên bề mặt của nhãn cầu
sẽ trừ đi 4,6°. Bờ mi mí cao hơn đường giữa nhãn cầu 7
mm sẽ trừ 32°. Điều này cho phép chúng tôi tính toán:
Giá trị = 67° - 32° = 35°.
Sine I
sine
Tch
mm
Tch is
mm
mm
=
° =
=
×
=
35
10
0 57
10
0 57
5 7
.
.
.
.
Quan sát thấy, mí mắt trên được co lại với sụn mi cao
10 mm sẽ hiển thị chiều cao nếp mí chỉ 5,7mm theo
phương thẳng đứng.

20 Nâng cao: Quan niệm về độ nghiêng của sụn mi-hiệu quả của nó trong tính huống lâm sàng bình thường và bất thường 281

7 mm
r = 12.5 mm
5 mm
74°
23°
32°
I°
Người châu Á có chiều cao sụn mi 7 mm
(Hình 20-8)
Chúng tôi sẽ áp dụng các tính toán tương tự cho giải
phẫu mí mắt bình thường người châu Á, sụp mi 4 mm,
và mí mắt trên bị co rút 2 mm trên rìa giác mạc.
Hình 20-8 cho thấy mí người châu Á có chiều cao sụn
mi thẳng đứng 7 mm. Đường kính nhãn cầu vẫn 25 mm.
Sụn mi là 7 mm khi mí mắt mở và bờ mi trên nằm dọc
theo rìa trên của giác mạc (đỉnh của giác mạc). Đường
chấm là độ dốc ở giữa chiều cao của sụn mi (do đó độ
nghiêng của mí mắt là I° khi nó thụt vào để tạo thành
nếp mí = mũi tên màu nâu là bờ trên sụn mi)
Chiều cao trung bình sụn mi người châu Á là 6,5->7,5
mm, với phần lớn đo ở giữa 7 mm (Hình 20-8). Hãy nhớ
rằng 4,6° là góc phụ (bao phủ) bởi mỗi mm của vòng
tròn của nhãn cầu. 7 mm sụn mi khoảng 32°, và 5 mm
giác mạc (nửa trên) bao gồm 23°.
Khi mí mắt mở ra, sụn mi có góc nghiêng
(I) of (180−32)/2, then minus 23°: 74 − 23 = 51°.
Sine I
sine
Tch
mm
Tch vertical component o
=
° =
=
51
0 77
7
.
(
f the crease height
mm
mm for Asians
)
.
.
.
=
×
=
0 77
7
5 4
Chiều cao nếp mí giải phẫu 7 mm trong người châu Á
bình thường sẽ trông giống như là 5,4 mm khi nhìn phía
trước (phần thẳng đứng là 5,4 mm). Nếu có lớp gấp mí
nhô ra 2 mm, chiều cao nếp mí sẽ thấy rõ (có thể không
chính xác) 3,5 mm. (Khi bệnh nhân yêu cầu chiều cao mí
thấp hơn so với chiều cao trung bình và bác sĩ giải thích
không đúng khi nếp mí 3,5 mm và sau đó làm cho vết
mổ thấp hơn, thì có thể dự đoán rằng kết quả không tốt
có thể xảy ra)

282
Phẫu thuật tạo mí người châu Á

7 mm
r = 12.5 mm
5 mm
1 mm
74°
4.6°
32°
I°
Người châu Á có chiều cao sụn 7
mm, có 4 mm sụp mi (Hình 20-9)
Chúng tôi đưa ra mô hình mí mắt châu Á với 4 mm sụp
mi. Mí mắt trên không thể hiện ở đây nhưng bờ mi trên
nằm dưới của rìa giác mạc là 4 mm (ranh giới). Đường
viền màu nâu là giác mạc nhìn thấy trung bình có đường
kính 10 mm. Vòng cung 7 mm đại diện cho sụn mi trên.
Đường chấm là độ cong đồng nhất ở giữa chiều cao của
sụn mi (do đó độ nghiêng của mí mắt là I° khi nó thụt
vào để tạo thành nếp mí = mũi tên màu nâu, nơi bờ trên
của sụn mi).
Đối với người Châu Á bị sụp mi 4 mm, I = (180−32)/
2, trừ đi 4,6°:
I
Sine I
sine
Tch
mm
Tch
sine I
mm
=
−
=
°
=
=
=
=
×
74 0
4 6
69 4
69 4
0 936
7
7
.
.
.
.
.
=
×
=
0 936
7
6 5
.
.
.
mm
mm
Mí mắt người châu Á có sụp mi 4 mm, chúng ta thấy
chiều cao mí nghiêng là 6,5 mm. Ngược lại, nếu Tch có
vẻ là 6,5 mm (thay vì Tch bình thường là 5,4 mm), nên
xem xét cẩn thận cho tình trạng sụp mi. Cần chỉ số nghi
ngờ cao để phát hiện tình trạng sụp mi vì sự khác biệt
trong Tch mà chúng ta thấy giữa sụp mi bình thường và
nặng chỉ là 1,1 mm.

20 Nâng cao: Quan niệm về độ nghiêng của sụn mi-hiệu quả của nó trong tính huống lâm sàng bình thường và bất thường 283
Người châu Á có co ngắn mí trên (Hình
20-10)
Bây giờ chúng ta sẽ mô hình người châu Á với co ngắn mí
trên là 2 mm. Vòng tròn là nhãn cầu. Mí mắt trên không
thể hiện ở đây nhưng bờ mi trên nằm trên rìa giác mạc
2 mm. Đường viền màu nâu là giác mạc nhìn thấy trung
bình có đường kính 10mm. Đường chấm là độ cong ở
giữa chiều cao của sụn mi (do đó độ nghiêng của mí mắt
là I° khi nó thụt vào để tạo thành nếp mí = mũi tên màu
nâu, nơi bờ trên của con sụn mi). Sụn mi trừ 32° khi đó

7 mm
r = 12.5 mm
5 mm
2 mm
74°
32°
32°
I°
đường kính là 7 mm từ bờ mi mắt đến bờ trên sụn mi;
bờ mí nằm trên đường giữa nhãn cầu là 320.
Đối với người châu Á có co ngắn bờ mi trên 2 mm, sụn
mi 7 mm thì chiều dọc của sụn mi 4,7 mm.
I = (180 − 32) 2 − 32° = 74 − 32 = 42°
Sine I = Sine 42° = 0.67 = Tch 7 mm
Tch = sine I × 7 mm = 0.67 × 7 mm = 4.7 mm.
=
°
=
°
=
=

284
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
Dữ liệu từ các mô hình trên đã được nhập vào biểu đồ
vẽ nghiêng (hoặc góc nghiêng, I; trục x) so với chiều cao
mí nghiêng, Tch (thành phần dọc của đoạn nghiêng của
trục, trục y) (Hình 20 -11) Hình vuông màu đỏ đại diện
cho giải phẫu sụn mi 7 mm người châu Á; phần hình thoi
màu xanh đại diện cho sụn mi 10 mm của người châu Âu.
Sụp mi của người châu Âu và
người châu Á
Khi bờ mi rơi xuống gần đường xích đạo, thu được thị
trường trong độ cao của nếp mí thậm chí không có bất
kỳ ‘sự kết dính giải phẫu’ thực sự về mặt lâm sàng nào
của các sợi cân cơ nâng mi là đáng kể. Khi sụn mi 10 mm
(châu Âu, hình thoi màu xanh trong hình 20-11) với sụp
mi vừa và nặng, đường kính của nếp mí bình thường mở
rộng thêm 2 mm (từ ‘bình thường’ 6,9 mm lên 8,9 mm).
Tương tự, sụp mi có chiều cao sụn mi là 7 mm (châu Á,
hình vuông màu đỏ) chỉ thị trường mở rộng của Tch từ
5,4 mm đến 6,5 mm, kéo dài thị trường 1,1 mm. Một
phần của nhiều hiệu ứng mà chúng ta nhìn thấy trong
giải phẫu người châu Âu là do đường kính lớn hơn của
sụn mi; lý do khác trong sụp mi thì vị trí mí giảm nhiều
ở giữa của giác mạc, trong hiệu ứng góc I nghiêng của
sụn mi lớn hơn, và do đó giá trị hàm sin là lớn hơn. Cùng
với đó, chức năng sin của I nhân với kích thước sụn mi
(10 mm thay vì 7 sụn mi của châu Á) Tch cho giá trị lớn
hơn trong giải phẫu da người châu Âu. Sự biến dạng thị
giác này từ vị trí được quan sát phía trước nhiều hơn
không có nghi ngờ nào góp phần vào nhận thức rằng
‘Nếp mí đã di chuyển cao hơn trong sụp mi mắc phải’.
Co kéo mí trên của người châu Âu
và người châu Á
Người châu Âu khi co kéo mí trên nhẹ, Tch thay đổi từ
6,9 xuống 5,7 mm, với chênh lệch 1,2 mm. Người châu
Á có chiều cao sụn mi là 7 mm.
độ co rút cũng tương tự là thay đổi Tch từ 5,4 xuống
4,7 mm, sự khác biệt chỉ 0,7 mm so với nếp mí bình
thường. Tch của Người châu Âu giảm lớn nhất cũng như
sụp mi trước: nếp mí người châu Âu dọc theo bờ trên sụn
mi, bây giờ co ngắn lại 2 mm nằm trên bờ trên của rìa giác
mạc, khoảng 17 mm từ giữa trung tâm giác mạc (I = 3 °);
trong khi đó nếp mí của người châu Á chỉ 14 mm từ giác
mạc (I = 42°). Điều đó có nghĩa là giá trị Tch Người châu
Âu bị ảnh hưởng nhanh hơn. Mí trên di chuyển lên trên
và ra sau nhiều hơn (như ở người châu Âu), sau đó mặt
phẳng nghiêng (I), cũng như thay đổi nhanh giá trị hàm
sin và ảnh hưởng của nó đến Tch. Điều này là do thực tế
rằng hàm sin có sự thay đổi gia tăng lớn hơn khi nó tiếp
cận các giá trị góc thấp hơn (nhỏ hơn).
Điều kiện lâm sàng tương đương cùng mức độ (4 mm
sụp mi và 2 mm co kéo) xuất hiện gần như 2 lần (2 x)
như được biểu hiện cho người châu Âu, bắt đầu từ sụn
mi lớn hơn so với người châu Á. Hiệu ứng gần đôi này
trong giải phẫu người châu Âu có thể được nhìn thấy từ
độ nghiêng của đường vẽ các điểm dữ liệu màu đỏ cũng
như các điểm dữ liệu màu xanh trong Hình 20-11: các
điểm xanh của nhãn cầu ở độ dốc cao hơn so với châu Á
‘điểm đỏ. Người ta cũng có thể nghĩ về điều này như thể
hiện rằng sự thiếu chính xác trong việc lập kế hoạch vị
trí cho chiều cao của mí mắt có khả năng lớn hơn của các
hậu quả xấu cho giải phẫu người châu Á nhỏ hơn.
ỨNG DỤNG LÂM SÀNG
Có sự thiếu sáng suốt của bác sĩ phẫu thuật tạo hình và
bác sĩ nhãn khoa là cố gắng tạo ra một vị trí chính xác
cho phẫu thuật tạo mí thẩm mỹ. Các phát hiện chưa tốt
sau đây.

20 Nâng cao: Quan niệm về độ nghiêng của sụn mi-hiệu quả của nó trong tính huống lâm sàng bình thường và bất thường 285

I = Nghiêng/Góc nghiêng (degrees)
Chiều cao mí nghiêng (mm)
4 mm sụp mi
(62°, 8.9 mm)
bình thường
(44°, 6.9 mm)
2 mm co kéo UL
(35°, 5.7 mm)
10
9
8
7
6
5
4
3
2
1
0
0
10
20
30
40
50
60
70
80
2 mm co kéo UL
(42°, 4.7 mm)
4 mm sụp mi
(69.4°, 6.5 mm)
bình thường
(51°, 5.4 mm)
10 mm sụn mi
7 mm sụn mi

286
Phẫu thuật tạo mí người châu Á


Chiều cao nếp mí
Thường thì tôi thấy bệnh nhân châu Á đến trung tâm để
tư vấn sửa lại là lấy bỏ da thừa và nếp mí cao (Hình 20-12,
20-13). Quá trình suy nghĩ ban đầu dẫn đến điều này có
thể phát sinh từ chuỗi sai lầm sau: “Nếu mí mắt của người
châu Âu lý tưởng về mặt thẩm mỹ là 10-11 mm, thì những
người châu Á mong muốn xây dựng nếp mí sẽ có kết quả
tương tự nếu nếp mí được thiết kế ở độ cao đó. ‘ kết quả
không mong muốn có thể được ngăn chặn với sự hiểu
biết đúng đắn về giải phẫu học, sinh động lực học vectơ
tạo nếp mí và hiệu ứng độ nghiêng sụn mi. Ngay cả khi
bác sĩ
tận tình thiết kế nếp mí hơi thấp hơn với bình thường
về giải phẫu của người châu Á, và nó thấp hơn 1-2 mm
so với bình thường, với vết rạch ở 8-9 mm trên bờ mi
thì nếp mí tạo nên sẽ vẫn quá cao.
Điều này sẽ dẫn đến sụp mi thứ phát, bù trừ của cơ
trán và hở mi. Sau đó, những nỗ lực có ý nghĩa tốt trong
việc làm lại nếp mí cao thường loại bỏ da bị sẹo ban đầu
cũng như ít da ở trên đó, tiếp tục sai lầm liên quan đến
tình trạng thiếu da, dẫn đến khó khâu da để tạo mí, cũng
như nếp mí cao sẽ tồn tại lâu dài.

20 Nâng cao: Quan niệm về độ nghiêng của sụn mi-hiệu quả của nó trong tính huống lâm sàng bình thường và bất thường 287
sau đó thậm chí khó có thể đạt được nếp mí tốt hơn
trong trường hợp này. Quy trình tạo mí đôi sử dụng
phương pháp khâu tạo mí, đây có thể là yếu tố có xu
hướng hướng dẫn tới nếp mí mất đi.
Hình 20-14 cho thấy sự mất dần dần của nếp mí trên
mắt phải của bệnh nhân, và nếp mí cao thô có sự phân
đôi nếp mí khi đi vào phía trong của mắt trái. Cố gắng
sửa mắt trái sẽ khó khăn hơn.
Bước tiếp theo là sửa nếp mí tĩnh thấp, cố tạo nếp mí
cao từ 3-5 mm từ bờ mi sẽ tạo vết sẹo vĩnh viễn vùng
trước sụn, và thiếu sự lộn vào trong ở dọc theo bờ trên
sụn mi để tạo nếp mí.
Nếp mí thấp, nếp mí không rõ
Nếu nếp mí trên tự nhiên của châu Á là đẹp và kích
thước dọc đo bằng thước là 5 mm (khi đo nghiêng) với
mặt của bệnh nhân thẳng đứng và mắt mở, và bác sĩ phẫu
thuật sau đó quyết định sử dụng phép đo này trên mắt 1
mí, đánh dấu nó tại 5 mm khi mắt nhắm, kết quả sẽ là vết
sẹo tĩnh nằm mặt phía trước của da sụn mi, hoặc nếp mí
tạm thời sau đó mất đi.
Trường hợp thứ hai là nếu bác sĩ phẫu thuật nghĩ rằng
nếp mí nên đặt ở mức 5 mm (khi thực tế 7 mm) và bệnh
nhân mong muốn nếp mí ‘thấp’ hơn bình thường và bác
sĩ phẫu thuật tuân thủ và đánh dấu nó ở mức 3 -4 mm,

288
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
Lấy bỏ mỡ và cố gắng ghép
mỡ
Sau khi loại bỏ mỡ thừa, chúng ta thường thấy mí mắt
bị hõm vùng phía trên của sụn mi và nếp mí xuất hiện
nhiều đường đặc biệt không thích hợp ở người châu Á.
Điều này thường được nhìn thấy là không có nếp mí thực
sự hoặc có thể thấy nếp mí giả cao và sâu.
Cố gắng sửa lại nếp mí thấp thì sau đó sẽ để lại vết
sẹo nằm trước sụn mi khoảng 3 và 5 mm từ bờ mi. Điều
này có thể ngăn chặn bởi sự hiểu biết đúng đắn về tác
động của độ nghiêng sụn mi trên chiều cao mí cũng như
nếp mí động.
Với biến dạng làm sâu hõm mí trên khi lấy mỡ quá nhiều,
cố gắng sửa lại mí đổi bằng cách sử dụng mỡ tiêm hoặc
ghép mỡ tự thân cùng với những nỗ lực làm lại nếp mí là
khó tiên lượng được kết quả. Chỉ tiêm mỡ có thể dẫn đến
sẹo nhiều hơn trong vùng trước cân cơ nâng mi vì không
còn vùng trượt/ mặt phẳng còn tốt (xem Chương 17) cũng
như không gian nhìn thấy để người ta có thể điều khiển
kim tiêm. Ngay cả phải cảnh giác với độ nghiêng sụn mi,
tầm quan trọng của vùng trượt, và cách tiếp cận vát để
sửa đổi nếp mí cao với tình trạng thiếu da, bất kỳ nỗ lực
nào để đạt được nếp mí được cải thiện ở vị trí chính xác
khi đối mặt với chỗ hõm sâu hoặc kết hợp với ghép mỡ
là nỗ lực nhấn tạo mí là có kết quả không thể đoán trước.
Mỡ ghép, cho dù đó là ở dạng ghép tự do hoặc cố
định mỡ, có thể teo nhỏ hoặc phì đại cũng như trải qua
sự xâm nhập xơ để tạo thành khối cứng (như hình 20-15,
nơi mà mí mắt phía trên bên trái đã được ghép đầy bởi
các mảnh mỡ đã bị phì đại và bị xơ hóa). Điều này dẫn
đến cố gắng sửa chữa nhiều hơn.
MÔ HÌNH TOÁN HỌC
Đối với những người có giải phẫu sụn mi cao 8 mm theo
chiều dọc và những người có nếp mí tự nhiên, tôi tính
được giá trị là:
(
.
)
.
.
.
;
.
180
36 6
2
23
71 6
23
48 6
0 75
8
0 75
8
−
°
−
° =
−
=
°
=
=
×
Sine I
Tch
mm Tch
mm
mm
Chiều cao nếp mí nghiêng cho sụn mi 8 mm là 6mm.
= 6
.
Đối với người có sụn mi 9 mm và nếp mí tự nhiên, là:
(
.
)
.
.
.
.
;
180
41 4
2
23
69 3
23
46 3
46 3
0 72
9
0
−
°
−
° =
−
° =
°
=
=
=
Sine
Tch
mm Tch
.
.
(
.
)
72
9
6 48
6 5
×
=
mm
mm round out to
mm
Chiều cao nếp mí
nghiêng cho sụn mi 9mm là 6.5 mm.

20 Nâng cao: Quan niệm về độ nghiêng của sụn mi-hiệu quả của nó trong tính huống lâm sàng bình thường và bất thường 289
THÀNH TỰU VÀ CẠM BẪY
1. Chúng tôi quan sát thấy hậu quả của việc thiết kế
nếp mí 8 mm và 9 mm, thì chiều cao mí nghiêng
(Tch) tương ứng là 6 mm và 6,5 mm. Nhìn vào hình
20-11, những điểm này có cùng độ cao nếp mí mà
ở người châu Á có khoảng 2 mm sụp mi và 4 mm
sụp mi, tương ứng. (Những con số này rất gần với
những gì người ta thấy cho người châu Âu trung
bình với sụn mi 10 mm có Tch là 6,9 mm.)
2. Mí mắt châu Á, với tỷ lệ giải phẫu tổng thể nhỏ hơn,
dễ bị sụp mi, hở mi và mắt nhắm không kín hơn so
với châu Âu nếu vết mổ cao, lấy bỏ da nhiều, vùng
trượt bị mất do cắt bỏ nhiều mỡ.
3. Rất có lý do để nghi ngờ sụp mi khi nhìn thấy mí
mắt có chiều cao mí cao hơn bình thường, cho dù
đó là trong trường hợp mổ mới hoặc sửa lại.
4. Không hợp lí: Nhìn vào chiều cao mí của người châu
Âu và người châu Á 7 mm trong hình 20-11, sụn mi
10 mm của châu Âu tương đương Tch là 6,9 mm
(độ nghiêng sụn mi khi mắt nhìn xuống là 3,1 mm
từ 10 mm), trong khi người châu Á là 7 mm có Tch
là 5,4 mm (giảm 1,6 mm). Dường như tình trạng
bất thường của sụp mi và điều kiện co rút mí mắt
phía trên có phạm vi hẹp của việc mở rộng và co
giá trị trong Tch giữa người châu Á (7 mm sụn mi)
trong nếp mí ở vị trí bình thường và bệnh lý so với
người châu Âu với điều kiện giống hệt nhau. Nghịch
lý ở đây là giải phẫu châu Á sẽ cho thấy: dễ bị tổn
thương và độ lệch lớn hơn từ mí tiêu chuẩn và nếu
chiều cao mí được thiết lập cao hơn hoặc thấp hơn
nếp mí chuẩn. Nói cách khác, bất kỳ kế hoạch chưa
hoàn chỉnh và thực hiện các quy trình có thể dễ
dàng ‘nhảy’ các đặc điểm dân tộc thành đặc trưng
của người châu Âu, mà những bệnh nhân châu Á có
thể không mong muốn.
5. Đối với giải phẫu châu Á, nếu người ta nên thiết kế 8
hoặc 9 mm cho chiều cao sụn mi 7 mm cho bất kỳ
loại nào
của phẫu thuật tạo mí mắt (xem thêm mô hình toán
học), sẽ dễ bị lệch hướng, dẫn đến xác suất cao:
sụp mi mắc phải và nếp mí ít lõm vào như nếp mí
chuẩn. Thay vì được tạo dọc theo bờ trên sụn mi
với cân cơ nâng mi, người ta có thể phát hiện: hạn
chế khi nhìn lên cũng như số mức độ sụp mi. Nếp
mí cao hơn và thường là nếp mí tĩnh, có nghĩa là
nó là nhìn thấy rõ và không thay đổi trên da mí khi
như bệnh nhân nhìn xuống. Đoạn mí (đoạn trước
sụn mi) xuất phát từ vết mổ 8-9 mm có thể xuất
hiện vượt quá chiều cao nếp mí nghiêng cho ngay
cả 3-4 mm sụp mi (trong đó có Tch 6,5 mm, xem
điểm hình vuông màu đỏ cho giải phẫu châu Á trong
hình 20-11). Do đó, sụp mi thu được từ neo cao
của nếp mí sẽ kết hợp tính chất tĩnh, cao và không
tự nhiên của nếp mí.
6. Chiều cao nếp mí nhìn thấy tự nhiên là giá trị của
chiều cao nếp mí nghiêng (Tch) trừ chiều cao nếp
gấp, tức là nếp mí tự nhiên hoặc phẫu thuật 7 mm
có Tch là 5 mm và phần nhìn thấy chỉ 3,5 mm có
1,5mm nếp gấp, hoặc
Chiều cao mí nhìn thấy = Tch - chiều cao nếp gấp (mm);
=
−
trong tình huống có nếp mí cao, được tạo thành
bằng phẫu thuật 8 mm hoặc cao hơn, và số lượng
da loại bỏ quá mức sẽ bị thiếu nếp mí, chiều cao mí
không mong muốn nhìn thấy có thể là hai đến ba
lần những gì được mong đợi hoặc mong muốn vì
nếp mí không xuất hiện do phẫu thuật.
7. Với sụp mi thứ phát hoặc sau khi phẫu thuật thẩm
mỹ, bờ mi rơi xuống và sụp mi, mí mắt không thấy,
chiều cao mí nhìn thấy có thể được tăng lên.
Người ta không thể không nhận ra rằng chúng tôi
đang làm việc với nhiều ràng buộc chặt chẽ hơn
trong phẫu thuật mí mắt châu Á.

291
 
NÂNG CAO: HIỆU QUẢ KHÂU NEO CAO
NẾP MÍ, HIỆU ỨNG NHƯ FADEN VÀ SỬ
DỤNG CHỈ KHÂU VÙI
Chương này đề cập đến quan điểm hiện tại của tác giả
về việc áp dụng chỉ khâu vùi bên trong để tạo ra hoặc định
dạng nếp mí. Một phân tích sâu hơn về các hiệu ứng cản
trở bất lợi của nó kèm theo hai đoạn video.
Cách đây không lâu, cách thích hợp cho các bác sĩ phẫu
thuật thẩm mỹ và bác sĩ phẫu thuật mắt để thực hiện phẫu
thuật tạo mí là loại bỏ nhiều da và mỡ nhất có thể, và áp
dụng cách cố định nếp mí cao. Kết quả cho thấy là nếp
mí nhìn rất rõ đoạn da trước sụn mi nằm dọc theo bờ mi,
và lõm trải dài về phía đỉnh của ổ mắt. Nhìn mắt không
mấy thiện cảm khi có sự giảm khối lượng mỡ liên quan
đến tuổi ở phần trên của ổ mắt (cho dù mỡ bị co lại và di
chuyển vào sâu và xuống dưới hơn). Một tác dụng phụ
thường không được chú ý mà bác sĩ nhãn khoa gặp phải
từ kỹ thuật này là cố định nếp mí cao, đó là bằng chứng
tạo nên sụp mi sau đó (mí mắt trên xa xuống theo cố
định cao trên cân cơ nâng mi). Do đó, theo kinh nghiệm:
Khâu tạo mí cao (khâu da) → có thể dẫn đến sụp
mi sau đó.







.
Hãy nhớ rằng khi tôi nói neo cao, là cao hơn 1-2 mm
so với mí chuẩn; với các tiêu chuẩn là nếp mí dọc theo bờ
trên sụn mi. Đối với tôi cao hơn 1-2 mm so với bờ trên
sụn mi là đủ khiến cho kết quả ít lý tưởng. (Xem Chương
14).
Khâu neo nếp mí tại một điểm gần hơn (gần hơn đến
đỉnh ổ mắt) so với điểm chèn tự nhiên của nó là giống
như làm giảm lực co lại cũng như độ dài hiệu quả của cơ
nâng mi (khoảng 40 mm từ đỉnh ổ mắt tới nếp mí). Có
sức mạnh hoặc chiều dài bị ảnh hưởng không? Hoặc cả
hai?
Để hiểu được điều này, các phẫu thuật viên học cách
khâu phía sau (Faden 1-3) khi cố gắng làm suy yếu hiệu
quả của cơ thẳng trong trong phẫu thuật chỉnh lác trong,
đặc biệt là lác trong nặng bẩm sinh. Vị trí cố định phía
sau thường được thực hiện kết hợp với làm co ngắn cơ
chéo ngoài.
Ý tưởng là bằng cách di chuyển chỗ bám của cơ thẳng
trong ra sau hơn và khâu vào củng mạc không khâu vào
sụn mi (ví dụ: 3-5 mm sau), người ta có thể phóng đại
thêm một ít hiệu ứng của quy trình phẫu thuật làm giảm
chức năng cơ vận nhãn, đó là mục tiêu sửa lác trong.
Hơn nữa, vị trí của Faden là cố định mũi chỉ đơn ở sau
hơn (có nghĩa là, đặt mũi khâu gần chỗ bám của nó trên
nhãn cầu) mà không cần giải phóng chỗ bám của cơ thẳng
trong. (Faden có nghĩa là một mẩu chỉ bằng tiếng Đức; ở
đây nó có nghĩa là chỉ khâu.)
Lý thuyết trước kia đã cho rằng điều này là do mất
vòng cung quay hiệu quả của nhãn cầu khi điểm tiếp xúc
được chuyển ra sau (tương đối) dẫn đến giảm hiệu quả
xoay, hoặc là kết quả quay của cơ ít hiệu quả hơn do
giảm chiều dài của cơ, hoặc thông qua hiệu ứng dây thắt
khi một phân giữa của cơ bị đính chặt vào nhãn cầu
Bác sĩ phẫu thuật mắt hiểu rằng khi cố tình làm dài
cơ nâng mi là một hình thức điều trị ở những bệnh nhân
bị co rút mí mắt, đường đi của cơ nâng mi bị hạn chế và
nếp mí ít rõ là vị trí bám của cơ nâng mi. Giải phóng hoàn
toàn co kéo mí trên có thể phải ghép thêm chất liệu. Giải
phóng cơ nâng mi sẽ dẫn đến sụp mi thứ phát, và giác
mạc thường được bảo vệ tốt.
Clark và cộng sự, 4-7 thông qua một số bài báo đã
chứng minh rằng có thể có các yếu tố bổ sung khi nhãn
cầu hoạt động, gồm hiệu quả xoay tối đa nơi nhãn cầu bị
thắt chặt khi cơ thẳng trong hướng vào vỏ của cơ thẳng
trước (gồm mỡ và tổ chức vách ngăn không đổi) tại chỗ
mũi khâu nơi cơ bắt đầu chèn vào nhãn cầu, và cũng như
hiệu ứng của cố định Faden mà không cần phải áp dụng
bất kỳ khâu trên củng mạc nới cơ thẳng trong chèn vào.
Clark quy định để làm giảm tác dụng giảm của Faden là
thay đổi lực kéo quanh nhãn cầu hơn là làm giảm hiệu
quả của cơ thẳng trong trên nhãn cầu. Mũi khâu bắt đầu
thay đổi,

292
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
Cố định (liên kết) thêm các mô trước sụn mi cho cân
cơ nâng mi và Müller (đó là mặt sau mỏng của mí mắt)
tới da tới cơ thẳng trong được cố định mô ổ mắt lân cận
gần điểm bán tận (Clark và cs 4-7); sau đó tái tạo hiệu
ứng cố định vị trí (kỹ thuật Faden), nơi cơ thẳng trong
được khâu qua một phần độ dày đến bên dưới củng mạc
tại một vị trí phía sau cho đến chỗ chèn ban đầu của nó.
Vị trí cao của chỉ khâu vùi cả hai đều bổ sung các mô cũng
như tạo ra hiệu ứng ‘Faden’ cao vì nó có thể làm cho cơ
nâng mi phía trước cao hơn điểm chèn ban đầu của nó.
Cơ nâng mi được buộc vào da- cơ vòng mi cơ phía trước
tương tự như cơ thẳng trong bị cố ý buộc vào tổ chức của
nhãn cầu hoặc dưới củng mạc. Bệnh nhân thường phàn
nàn về độ nặng của mí mắt. Cuối cùng chúng ta thấy cơ
nâng mi yếu đi và mí mắt sụp mi.
Chúng ta có thể nghĩ về nếp mí đính cao vì có ‘ngoài-
Faden’, vì khâu đóng da trong tạo mí là khâu ở phía trước
và phía bán tận của cơ nâng mi.
Chúng ta có thể thấy một đường rạch mí cao hơn bình
thường, ngay cả khi cao hơn chỉ một mm, vô tình có thể
dẫn đến một hạn chế nâng mí lên.
Khâu cố định nếp mí cao trên cơ nâng mi
→ Hiệu ứng như Faden (phương pháp rạch da
ngoài).









Hiệu ứng có thể được nhìn thấy ngay cả khi không sử
dụng chỉ khâu, miễn là các chỉ khâu bên ngoài được sử
dụng được đặt cao hơn vị trí lý tưởng và sau phẫu thuật
nếp mí được tạo ở vị trí cao.
trong khi sự thay đổi xảy ra trong các mô ở chỗ chèn
vào của cơ thẳng trong (ở bên trên và dưới).
Điều này là thú vị vì nó cho thấy rằng ít nhất là phần bán
tận của cơ như cơ thẳng trong, cố định mặt sau khâu bên
dưới nó về phía củng mạc (mà tôi gọi là ‘endo-Faden’,
hoặc cố định vào bên trong hoặc dưới), cũng như khâu
cùng vị trí (cực) của cơ thẳng trong với các mô mềm xung
quanh (vỏ ổ mắt và cơ chế ròng rọc), tôi sẽ gọi nó là ‘ecto-
Faden’, được gắn liền với nhau hoặc lớp phủ bên trên),
có thể mỗi tổ chức độc lập làm giảm lưới chức năng của
cơ đó dọc theo trục hoạt động chính. vì thế:
Faden (trong hay ngoài)
→ có thể dẫn đến làm yếu cơ thẳng t







Điều này trùng hợp với sự quan sát của người sụp mi
thứ phát mà chúng ta thấy ở bệnh nhân (cho dù người
châu Âu hay người châu Á) có nếp mí ở vị trí sinh lý cao
hơn bình thường, cũng như ở những người đã dùng
phương pháp khâu vùi với chỉ không tiêu mà chỉ khâu
được bao quanh phức hợp cơ nâng mi -Müller qua phía
sau trên cao. (‘Phạm vi tiếp cận cao’ có nghĩa là xa hơn
bờ trên sụn mi). Điều này có khả năng là do sự giảm chức
năng của cơ nâng mi, khi gắn kết cơ nâng mi vào một điểm
gần hơn (cao hơn) so với thông thường dọc theo bờ trên
sụn mi và da.
Việc giảm chức năng cơ nâng mi có thể là hiệu ứng kết
hợp của co cơ theo chiều dài với nếp mí cao hơn (bằng
cách đặt các mũi sát gần với phần cơ của cơ nâng mi, và
gần với nguyên ủy của nó từ đỉnh ổ mắt có khả năng ảnh
hưởng đến độ dài tối ưu trên đường cong co bóp của cơ),
cũng như tăng tải (thêm trở kháng mô) vào khả năng nâng
mí mắt. Tiếp theo là xuất phát từ phần cơ nâng mi và cân
cơ nâng mi bị buộc lại bởi cố định cao hoặc thắt vòng
(phương pháp khâu vùi) bây giờ phải mang tải trọng lớn
hơn trên các mô (bờ mi, phân da trước sụn/cơ vòng mi,
bên dưới cân cơ nâng mi bị buột cao bởi chỉ khâu).

21
Hiệu quả khâu neo cao nếp mí, hiệu ứng Faden và sử dụng chỉ khâu vùi
293
Hình 21-1
B'
B
A'
A
3
1
2
4
Trong các phương pháp khâu (Hình 21-1), một đường
may điển hình được sử dụng có thể là chữ U với nylon
6-0 hoặc 7-0. Đoạn đầu tiên (1) liên quan đến việc lật bờ
mi và chuyển nó qua một vài mm, ở mức thông thường
vài mm trên bờ trên sụn mi (A′ - B′). Đoạn thứ hai (2)
một đầu cây kim về phía da, hướng dọc theo bờ trên của
sụn mi (B′ - B). Tương tự như vậy đối với đầu còn lại của
đường khâu, đoạn thứ ba (3) đi từ A′ - A.
Nếu mỗi sợi chỉ khâu được gắn trên da tại thời điểm
này, nó sẽ là một phần nén lên độ dày gồm cơ Müller,
cân cơ nâng mi, cũng như cơ vòng mi.
Nó cũng vô tình tạo ra hiệu ứng Faden tại mỗi vị trí của
B′ - B và A′ - A, và sự co lại theo chiều ngang của chiều
rộng cân cơ nâng mi tại A′ - B′. Trong thực tế, đầu kim
thứ hai ra khỏi da tại A được xuyên lại (4) dưới da qua
để tham gia B (A-B), thoát ra vết mổ nhỏ. Các đầu nylon
được buộc chắc chắn và nút buột vùi vào vết mổ nhỏ. Theo
truyền thống, các phương pháp khâu sử dụng ba bộ chỉ
khâu này, trong, giữa và ngoài. Với ba bộ chỉ khâu, hiệu
ứng hạn chế được tăng gấp ba lần. Với các phương pháp
chạy qua lại trên bề rộng của cơ nâng mi, hiệu ứng sẽ bị
khuếch đại lên nhiều lần

294
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
FIGURE 21-2
(Người ta có thể lập luận rằng có một hiệu ứng khâu
neo xiên về phía sau thì phần bán tận cân cơ nâng mi bị
buột chặt lại, điều này giải thích tại sao hầu hết các bệnh
nhân đã trải qua khâu [không rạch] trong phẫu thuật
tạo mí mắt đôi có khuynh hướng co rút mi ngay sau thủ
thuật)
Hình 21-2 cho thấy một giải thích mặt cắt ngang của
phương pháp chỉ khâu vùi.
Lưu ý vị trí của vết khâu vùi bao gồm cơ cơ nâng mi (màu
hồng), và cơ Müller, với cơ cơ vòng mi (màu xám) với mí
mắt mở. Vòng sau của đường khâu khép kín được đặt tại
A′B ′ trong hình trước (Hình 21-1) trong khi nút khâu vùi
nằm dưới da ở mức A - B ở mức độ cho một nếp mí thích
hợp (dọc theo bờ trên sụn mi).

21 Hiệu quả khâu neo cao nếp mí, hiệu ứng Faden và sử dụng chỉ khâu vùi
295
Có một hiệu ứng rút ngắn trên cơ nâng mi của chỉ khâu,
giống như khi khâu gập lại, giải thích đường viền mi trên
rộng ra thường xuyên (mở mắt) hoặc nhìn chằm chằm,
với khó chịu trên một số bệnh nhân; trong khi đoạn
ngang của cơ nâng mi bị gấp lại, có lẽ làm suy yếu khả
năng của nó. Nếu chiều rộng trung bình của cân cơ nâng
mi phía trên bờ trên sụn mi là từ 24-27 mm, khi khâu vùi
3 mũi 3x (2-3) mm thì trên mỗi cơ nâng mi sẽ giảm đi =
6-9 mm tương đương (25-33).
Hình 21-3 cho thấy vị trí ba mũi khâu cao vĩnh viễn
trên mỗi mí trên (tương ứng với A - B, bước 4 của đoạn
nối, trong Hình 21-1); các chỉ khâu được gắn dưới da.
Có thể thấy những chỗ mũi khâu rõ trên mí mắt khi nhìn
xuống hay nhắn mắt.
Về mặt chức năng, với ba bộ mũi khâu vùi, hiệu ứng
Faden (suy giảm) đã được tạo ra tại sáu vị trí dọc theo
chiều dài cơ nâng mi, và ba đoạn ngang của cơ nâng mi
(A′ - B ′ và A - B) vô tình bó lại với nhau. (Xem Video clip
Trường hợp 31 cho thấy hiệu ứng làm giảm vị trí của các
mũi khâu neo cao.)
Nếp mí thụt vào được tạo ra từ việc nén da với cơ
nâng mi, và nhìn thấy khi mí mắt mở cũng như khi nhìn
xuống hoặc nhắm.
HÌNH 21-3

296
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
Hình 21-4 ■ (A) Bệnh nhân có nếp mí cao bị sụp mi. (B) Sau khi sửa lại thì nếp mí ở vị trí có thể chấp nhận được hơn và giải
phóng tình trạng sụp mi gây ra. (Ảnh chụp hai tuần sau khi sửa.)
A
B
Hiệu quả lâu dài của chỉ khâu thường là giảm chức năng
cơ nâng mi, với biểu hiện sụp mi nhẹ hoặc hở mi (Hình
21-4 A, B). Đặc biệt, trong trường hợp chỉ khâu bị buột
chặt và cuối cùng là mất hiệu quả do dây chỉ thắt chặt qua
các mô mí mắt, hiệu ứng hạn chế trên cơ nâng mi có thể
làm nếp mí giảm đi theo thời gian và nông dần
mặc dù suy giảm chức năng vĩnh viễn có thể xảy ra ở một
số bệnh nhân. Người ta có thể thấy một sự biến mất (xóa
đi) nếp mí dự định nhưng gánh nặng của hiệu ứng làm
suy giảm cơ nâng mi vẫn còn vì chỉ khâu vùi là vĩnh viễn
(trong hầu hết các trường hợp).

21
Hiệu quả khâu neo cao nếp mí, hiệu ứng Faden và sử dụng chỉ khâu vùi
297
viền mi được mở rộng ra (nâng nhẹ). Hiệu quả lâu dài
thường có thể là các chỉ khâu không còn hiệu quả như các
nút thắt qua các mô mí dẫn đến không đạt được chiều cao
cũng không tạo thành nếp mí. Tồi tệ nhất, làm giảm hoạt
động của cơ nâng mi là kết quả do gánh nặng của mô bị
gián đoạn. Một đường chéo xiên qua đoạn trước sụn của
mi có thể dẫn đến lộn mi ra ngoài (bờ mi bị lật ra khỏi
nhãn cầu khi mí mắt mở.).
Đối với phương pháp DST (hai mũi khâu), nó liên quan
đến đoạn gấp đôi của khâu vùi, nơi một vòng hình chữ U
của chỉ khâu không tiêu bị chôn vùi. Ở phía trước, cũng
như phía sau cơ nâng mi hoạt động, chúng ta sẽ tăng gấp
đôi hiệu ứng Faden (ngoài + trong Faden).
Có những bác sĩ phẫu thuật không thường xuyên sử
dụng chỉ khâu vùi xuyên qua sụn mi (qua sụn): chỉ khâu
được xuyên qua mặt sau của sụn mi, có thể 2-3 mm dưới
bờ trên sụn mi (thường là 6,5-7,5 mm cho người châu Á,
và 10 mm cho người châu Âu). Để tránh kích thích giác
mạc, các vòng của chỉ khâu được gắn chặt để dính vào
mặt sau của sụn mi.
Tôi nghĩ rằng nó sẽ giảm hiệu quả theo thời gian, và
thực sự không còn cách nào khác là xuyên qua sụn mi.
Nếp mí hình thành phía trước có khả năng là nếp mí tĩnh
thấp.
Nếu người ta đảo ngược đường khâu này, đi xuyên
qua sụn mi và sau đó nghiêng cao hơn để tới cơ nâng mi
(nghiêng xa hơn), một lần nữa lại rơi vào vấn đề khâu
neo cao. Ở đây nó giống như ngoài-Faden về tác dụng
phụ của nó trên chức năng của cơ nâng mi, mặc dù đoạn
bắt đầu từ phía sau của sụn mi.
Một biến thể của các phương pháp khâu bị chôn vùi,
neo cao có xu hướng tạo mí tròn hơn, mí mắt bị nề và
phù đoạn trước sụn mi. Gọi là ‘mắt Nhật bản’.
Trong Bảng 21-1, tiêu đề cột thứ năm của ‘Tải trọng
cho cơ nâng mi’ là công việc được cộng thêm vào thông
qua cản trở hoạt động bình thường của cơ nâng mi khi
chỉ khâu vùi sử dụng ở các mức khác nhau trên cơ nâng
mi. Thuật ngữ ‘kháng tải’ dễ hiểu hơn, mặc dù thuật ngữ
cản trở tải thì chính xác hơn.
Có vẻ như tôi có một xu hướng không thiện cảm đối
với phương pháp khâu vùi. Thật vậy, tôi nên nói rằng hầu
hết các phương pháp khâu vùi có thể vẫn tốt trong một
thời gian do sự thắt chặt các mô để tạo ra nếp mí và hầu
hết các trường hợp không dẫn đến bất kỳ biến chứng hoặc
di chứng đáng kể nào. Nhưng bệnh nhân vẫn chịu đựng
và giữ im lặng về sự khó chịu của họ vì mục đích thẩm
mỹ; và hậu quả lâu dài của việc đặt các chỉ khâu vĩnh
viễn bao quanh các sợi cơ không được công bố và cũng
không được hiểu rõ và đôi khi được các bác sĩ khuyên
dùng, chẳng hạn như bản thân tôi chỉ mới hiểu điều này
sau hơn 30 năm làm việc, đến mức mà bây giờ tôi có thể
cố gắng trình bày nó trong một khuôn khổ khoa học có
tính khách quan hơn.
Trong các phương pháp khâu, hiệu ứng này thường
thấy từ xuyên-mí (qua dưới da), và đôi khi qua kết mạc.
Sau đó dễ gây kích thích giác mạc (mắt).
Khi xuyên từ phía da (xuyên qua da), đường khâu bao
quanh và liên kết với nhau, cân cơ nâng mi và các sợi của
cơ Müller, và cơ vòng mi và sau đó nút thắt được chôn
dưới da. Điều nguy hiểm buột chặt lớp phía sau là thường
cao hơn bờ trên sụn mi; khi vòng chỉ đi qua hết độ dày của
mí và thoát ra ở mặt trước, nó giảm xuống và hướng về
phía một điểm thấp hơn để tạo thành nếp mí mong muốn.
Khi kết hợp hiệu ứng của ba mũi khâu mí ‘ngoài-Faden’
này (thực ra là ngoài- cũng như trong), và thắt chặt chúng
để tạo thành một nút thắt trên các mô mềm bên trong,
giữ cho chúng được vùi một cách thường xuyên (thường
6-0 nylon hoặc polypropylene), người ta có thể thấy một
hiệu ứng sụp mi sau vài năm, trừ khi các mũi khâu không
hiệu quả (dây chỉ qua các mô) và lỏng ra. Nếp mí sau đó
có thể biến mất một phần hoặc hoàn toàn, nhưng bệnh
nhân vẫn có thể cảm thấy những mũi khâu bị vùi này.
Khâu vùi: vị trí cao hơn (phía sau). Trên bờ trên sụn
mi ---> trong và ngoài-Faden




:


(Điều này thấy trong phương pháp khâu chỉ không
rạch da, cũng như tạo mí bằng rạch da khi bác sĩ phẫu
thuật quyết định tăng cường vị trí nếp mí bằng cách đặt
các chỉ khâu neo cao vĩnh viễn. Tôi tin rằng hiệu ứng
Faden có thể lớn hơn khi dùng phương pháp khâu tạo
mí liên tục, giống như DST (’chỉ khâu đôi’) hoặc phương
pháp kim xoắn.)
Khi phương pháp khâu tạo mí áp dụng thông qua một
hướng qua kết mạc, có nghĩa là các chỉ khâu được xuyên
qua mặt dưới hay mặt sau của mí trên, một lần nữa các
lớp mô động được kết chặt lại với nhau, một lần nữa
chúng siết chặt và khâu ở một vị trí phía sau cao hơn
(cao hơn về phía kết mạc). Có ba mũi khâu ‘trong-Faden’.
Kết quả không tốt là như nhau, và cũng thấy sụp mi thứ
phát sau một hoặc hai năm; ngoại trừ bệnh nhân khiếu
nại ngay sau khi phẫu thuật vì họ có cảm giác khích thích
giác mạc do chỉ khâu dưới kết mạc.
Bảng 21-1 là so sánh giải phẫu bình thường giữa người
châu Âu có nếp mí, người châu Á có và không có nếp mí
(với tổ chức thừa hiện có thể cản trở hình thành nếp
mí), so với hiệu ứng tải trên mí sau khi trải qua khâu chỉ
vùi (phương pháp ‘không rạch’), cũng như phương pháp
rạch bên ngoài (sử dụng kỹ thuật ưa thích của tạo mí
người châu Á).
Trong phương pháp khâu vùi, đôi khi phẫu thuật viên
quyết định đặt các nút chỉ khâu phía trước thấp hơn bờ
trên sụn mi (vòng sau nằm ngay phía trên bờ trên sụn
mi, do đó phía trước thấp hơn). Ban đầu, chỉ khâu có hiệu
ứng thắt chặt và rút ngắn cho một ý nghĩa sai lầm rằng
nó đã làm cho khe hở dọc theo chiều dọc mở rộng hơn
(’một sự nâng nhẹ’).

298
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
BẢNG 21-1 Sinh động học của hiệu quả của kỹ thuật cố định mí
Giải phẫu


(Thang)


tissues
Net load for levator
Người châu Âu
có mí
+
Ít
Ít hơn
Người châu Á
có mí
Bình thường
Trung bình
Bình thường
Người châu Á
Mí đơn
Sinh ra có hoặc 0 Trên bình thường
Tăng lên
Sau khí tạo mí châu Á*
Si nh lí bình thư ờng
T hường +1 or 0 ít hơn
Lightened
Người châu Á mắt 1 mí sau khi
dùng chỉ khâu tạo mí
1. Qua da (phía trước:
Nút khâu dưới da)
A. Trên bờ trên sụn mi
−2, −3
Not removed
Tạo ra kháng tải (ngoài -Faden)
−2,−3
Cơ nâng mi và cơ vòng mi B. Tại bờ trên sụn mi
−1, −2
Not removed
Ngoài-Faden −1, −2
C. Vòng chỉ dưới bờ trên sụn
(trước sụn mụn)
Hiệu ứng ban
đầu
Nhẹ
Not removed
Có thể có ít sẹo, hiệu ứng Faden nhẹ
Không nếp mi
2. Qua kết mạc/quy trình phía
sau (chỉ khâu dưới kết mạc)
Than phiền chính: cảm giác có dị vật
B. Tại bờ trên sụn mi
−1, −2
Not removed
Endo-Faden −1, −2
Vòng chỉ sâu (trước sụn cơ
nâng mi và cơ vòng mi)
of tarsus)
C. Deep loop is below STB (front
Có thể tệ hơn −1
Not removed
Endo-Faden −1. May have tarsal
ectropion
3. Qua mí/Qua sụn (nốt chỉ khâu ở
trước dưới da)
Vòng chỉ sâu dưới bờ trân sụn
mi, Mũi kim xuyên qua sụn mi
Có thể tệ hơn −1
Not removed
Nguy cơ đến giác mạc, bị ép,
mất hiệu quả,
STB, Superior tarsal border.
*Technique by Chen.
Bệnh nhân
:

nốt khâu vùi
T h ư ờn g k é m
Không lấy bỏ
khâu giữ, hầu hết là chỉ
không tiêu
−
−
2, 3
Not removed

A. Trên bờ trên sụn mi
Tệ hơn
Tạo ra kháng tải ngoài -Faden
−
−
2, 3

21 Hiệu quả khâu neo cao nếp mí, hiệu ứng Faden và sử dụng chỉ khâu vùi
299
Trong khi liên quan đến sụp mi thứ phát theo phương
pháp khâu là một quan sát được biết đến với các bác sĩ lâm
sàng thực hiện loại phẫu thuật này, tôi tin rằng nó chưa
được báo cáo. Bệnh nhân thường không miễn cưỡng quay
lại bác sĩ phẫu thuật ban đầu khi nếp mí của họ biến mất
theo thời gian (và do đó tự phát sinh một số hiệu ứng
Faden); điều này thêm vào báo cáo ‘Tỷ lệ thành công’ từ
phương pháp khâu, và thậm chí được thừa nhận trong
một số báo cáo trước đó từ số đông những bác sĩ phẫu
thuật mí bằng cách sử dụng phương pháp khâu.
Xem xét thảo luận của chúng tôi, chúng tôi đã phát
triển các khái niệm sau:
1. Faden phẫu thuật (cố định phía sau với Faden)
(cố định tổ chức lân cận) → có thể dẫn đến yếu
sự co cơ thẳng trong (trong sửa tật lác mắt).
2. Cắt cơ nâng mi (phẫu thuật làm yếu
đường đi) → yếu cơ nâng mi (khả năng co
và nâng mi).
3. Nếp mí đính cao (khâu da) → sụp mi tiếp
theo.
4. Khâu cố định mí cao trên bờ mặt trước của cơ
nâng mi → (ngoài -).Hiệu ứng Faden .
5. Khâu vùi, Vòng chỉ sâu hơn là loại cao →
(trong-)hiệu ứng Faden, thắt bụng của cơ nâng
mi..
6. Khâu vùi: khi đặt ca (phía sau) trên bờ trên
sụn mi → trong - and ngoài -hiệu ứng Faden*.
(* Thường thì thoát chỉ ra phía trước của đường khâu
vùi qua da cũng cao hơn của bác sĩ phẫu thuật để tăng
tạo nếp mí, mà không loại bỏ hoặc sửa chữa theo phương
pháp đường mổ nhỏ.)
Theo nghĩa nào đó, cơ cơ nâng mi giống như cơ bụng
sâu của chúng ta làm cong cột sống. Sự tương tự hiển
nhiên đối với bất kỳ ai đã thử yoga, những bài tập tăng
sức khỏe hoặc các bài tập tăng cường cơ bắp. Thường
thì liên quan đến tập bóng đá và lưng của chúng ta căng
lên khi nằm với một phần nhỏ lưng trên quả bóng đầy
hơi. Trong việc giãn cơ lưng và co cơ, sẽ gập khớp hông
hay co cơ thẳng bụng. Điều này có hiệu quả là chúng ta
đang điều chỉnh phần xa (bán tận) của cơ lưng dưới kéo
dài nhất.
Đây là phần thiết yếu của cơ, trái ngược với việc làm
ít kéo dài và tạo cơ mà không có sự linh hoạt và tính
di động chung.
Chúng ta có thể nghĩ rằng phần hiệu dụng của cơ
nâng mi (tổng chiều dài là 40 mm từ nguyên ủy đến
bán tậnt) như là phân đoạn xa, và đây là cân cơ nâng
mi và dài khoảng 10 mm. Đây là phần chúng tôi phẫu
thuật sửa lại mí hay sửa sụp mi. Nếp mí neo cao và
phương pháp khâu vùi mà các vòng khâu bao quanh
cân cơ nâng mi, một là ức chế sự mở rộng đầy đủ của
cân cơ nâng mi và kìm hãm sự co cơ nâng mi tối đa.
Các chức năng cơ nâng mi bị ảnh hưởng bất lợi.
Trường hợp video 31 cho thấy trình tự phẫu thuật tạo
mí cho bệnh nhân người châu Âu và chức năng của
mí trên. Trong video này, người ta có thể thấy chuyển
động trước phẫu thuật mà chưa gây tê của mí trên là
xung quanh 14-15 mm. Sau khi tiêm thuốc gây tê vào
da và cơ vòng mi, với bệnh nhân nằm ngửa, cơ nâng
mi vẫn di chuyển 12 mm từ tầm nhìn của bác sĩ phẫu
thuật (hơi khác so với ống kính máy ảnh). Cạnh của
thước giấy được định vị bằng 0 so với bờ mi. Nếp mí
cho bệnh nhân này dựa trên giải phẫu nên được đặt ở
8 mm. Khi nếp mí được neo cao hơn 3 mm với ba mũi
khâu (ở 11 mm), nó sẽ hạn chế chuyển động đến 8
mm. Tất nhiên, chỉ khâu này đã được gỡ bỏ và nếp mí
sau đó được đặt chính xác tại 8 mm. Sau khi đóng vết
thương, chuyển động của cơ nâng mi được phục hồi
13-14 mm trong khi vẫn còn thuốc tê tại chỗ. Hiệu ứng
làm giảm khi thiết lập nếp mí không đúng hoặc đóng
vết thương có thể lớn tới 3-6 mm
Bây giờ chúng ta có thể hiểu được độ cao của một
nếp mí thường dẫn đến sụp mi thứ phát. Nỗ lực của
bệnh nhân để xem dẫn đến hoạt động bù của cơ trán
(BrOA: Brow Over-Action) và nâng lên của bất kỳ mí
mắt (cộng với đôi khi nghiêng đầu). Với hiệu ứng Faden
trên cơ nâng mi, tỷ lệ chênh lệch có một vết lõm mí
được giảm bớt.
Vì vậy:
Đính cao
Sụp mi tiếp theo
Hoạt động bù của cơ chán BrOA



→
→
+ hiệu ứng giống Faden
Nếp mí không hoàn
thiện + đường sẹo cao




→
Quy trình cắt vát để sửa nếp mí cao (được đề cập
Chương 18) cho phép đặt lại mặt phẳng mô (giữa mặt
trước và sau) và giải phóng hiệu ứng Faden gây ra bởi
nếp mí cao. Sụp mi sẽ giảm một phần hoặc hoàn toàn khi
giảm hoạt động bù của lông mày. Các cơ nâng mi lấy lại
hoạt động của nó trong khi da đi kèm với việc thiết lập lại
mặt phẳng tổ chức. Hiệu ứng ít thắt chặt cơ nâng mi, làm
cho nếp mí lõm tốt hơn và nếp gấp ổn hơn được phép tự
thư giãn xuống.

hacklink satın al mumu模拟器 雷电模拟器 向日葵 giftcardmall/mygift giftcardmall balance mygift giftcardmall matbet matbet giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Betgaranti Betgaranti Güncel Adres Betgaranti Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Fim İzle Fim İzle Giriş Fim İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Fim İzle Fim İzle Güncel Adres Fim İzle jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Giriş Casibom Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Jojobet Jojobet Giriş Jojobet Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Deneme Bonusu Film İzle Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Türkçe Dublaj Film İzle Film İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi perabet perabet giriş holiganbet holiganbet giriş Casibom Lesfillmercom Casibom Lesfillmercom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Gerbergirlcom Casibom Gerbergirlcom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Spcelectriccontrolcom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş marsbahis marsbahis giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş matbet matbet giriş matbet güncel giriş vaycasino vaycasino güncel giriş vaycasino giriş matbet matbet giriş pusulabet pusulabet giriş pusulabet pusulabet güncel giriş pusulabet giriş matbet matbet güncel giriş matbet giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Resmi Adres pusulabet pusulabet giriş pusulabet güncel giriş Fixbet Fixbet Güncel Giriş Salvobet Salvobet Giriş Salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Turk Porno Turk Porno Giriş Turk Porno casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi casibom casibom jojobet izmir escort izmir buca escort buca escort jojobet casibom holiganbet holiganbet giriş jojobet holiganbet holiganbet giriş jojobet jojobet jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş izmir escort izmir buca escort buca escort izmir escort bayan salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Giriş Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Deneme Bonusu Veren Giriş Deneme Bonusu Veren salvobet salvobet salvobet salvobet Casibom betgaranti betgaranti betgaranti matbet matbet giriş matbet matbet giriş Casibom Casibom Salvobet jojobet Salvobet Salvobet Salvobet Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Güncel Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis bahsegel Fixbet Fixbet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş 1xbet 1xbet Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Listesi Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler grandpashabet grandpashabet grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler vaycasino vaycasino giriş jojobet grandpashabet casibom Casibom Casibom Giriş casibom www.giftcards.com Marsbahis grandpashabet jojobet jojobet grandpashabet casibom jojobet Casibom Casibom Casibom Casibom Casibom Grandpashabet Grandpashabet Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Marsbahis Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres grandpashabet grandpashabet giriş Casibom Fixbet Fixbet Giriş Casibom Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Holiganbet Holiganbet Güncel Adres Nevşehir escort Kapadokya escort Nevşehir escort bayan nevşehir eskort escort nevşehir Casibom Casibom Giriş Adresi Kapadokya esc Casibom Casibom Resmi Adres Matbet Matbet Matbet Güncel Adres Pusulabet Pusulabet Giriş Adresi imajbet giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Trabzon escort escort trabzon Trabzon escort bayan Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler