144
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
TRƯỜNG HỢP 41 (Hình 13-41 A, B)
Nữ 23 tuổi, mặt 1 mí mí, có rãnh góc trong nhỏ, thích nếp mí song song. Có nếp quạt mắt nhẹ (A).
: lật mí ra và đo chiều cao sụn mi 6 mm. Thiết kế nếp mí song song 6 mm.
Mắt P: có một lượng mỡ lớn trước cân cơ nâng mi, nhìn xuống dưới.Cắt bỏ lớp mỡ trước cân cơ
nâng mi. Cắt bỏ nhiều dải cơ da, và cả lớp mỡ dưới cơ vòng mi.
Chỉnh nếp quạt góc trong
Một phần da dư ở góc trong tạo (tai chó). Bờ da trên phủ qua bờ da dưới và canh chỉnh để cắt bỏ một cách
thích hợp. Khâu lại bằng chỉ Silk 6.0. Các vết khâu dọc theo mép da sao cho vừa đủ và độ sâu qua cơ vong mi
để tạo được nếp mí. Các nút thắt chỉ nằm bên ngoài và trên vết mổ. Khâu da không căng nhiều để tạo điều
kiện lành vết thương tốt.
Mắt T: cũng loại bỏ các dải cơ da nhiều hơn. Da dư góc trong cũng làm tương tự
(B) Một tuần sau phẫu thuật.
A
B
13 Kết quả phẫu thuật tạo mí người châu Á lần đầu (trước và sau)
145
TRƯỜNG HỢP 42 (Hình 13-42 A, B)
Nữ 22 tuổi, Mắt phải nếp mí không liên tục, mắt trái không có nếp mí và khe mi nhỏ hơn. Thích nếp mí song
song với phần đuôi mắt hơi đưa lên. Chức năng cơ nâng mi OD 9 mm, OS:12-13 mm. 5′3 ″ (A).
I / O: chiều cao sụn mi 8 mm. Được thiết kế nếp mí song song nhưng phần góc trong thì nhỏ hơn, da dư 2
mm. Cắt bỏ mỡ ở trước cơ nâng mi đến bờ trên sụn mi, mặc dù nó không rõ ràng về mặt lâm sàng khi kiểm
tra trước phẫu thuật.Cắt bỏ dải cơ da.
(B) Một tuần sau phẫu thuật.
A
B
TRƯỜNG HỢP 43 (Hình 13-43)
Nữ 34 tuổi, co rút mi nhẹ.Bờ mi trên nằm ở rìa của giác mạc. Mí mắt có nhiều đường. Mong muốn nếp mí giảm
dần ở mũi .5′3 ″.
I / O: cao sụn mi 9 mm. Thiết kế nếp mí giảm dần ở mũi 7mm, + 2 mm da. Mắt P: có 3+mỡ ở 2/3 ngoài, Mắt T:
2+ mỡ 2/3 ngoài. Cơ vòng mi có rất nhiều mạch máu.
146
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
TRƯỜNG HỢP 44 (Hình 13-44 A, B)
Nữ 27 tuổi, lông mày cao, lớp mỡ trước cơ nâng mi vừa phải, mắt to với OS lớn hơn.5′7 ″. Mong muốn nếp
mí giảm dần ở mũi.
I / O: thiết kế nếp mí chiều cao là 6,5 mm. Lớp mỡ ở trước cơ nâng mi cho đến bờ trên sụn mi. Cắt bỏ dải cân cơ
và mỡ dọc mặt trước ở bờ trên sụn mi. Tạo nếp mí với chỉ silk 6-0 và 7-0
A
B
TRƯỜNG HỢP 45 (Hình 13-45 A, B)
Nữ 28 tuổi, mắt 1 mí, mong muốn nếp mí giảm dần ở mũi.5′3 ″. Chân mày vễnh ra sau (A).
I / O: sụn mi: 8 mm. Thiết kế nếp mí 7,5 mm + 2 mm da dư. Cắt bỏ lớp mỡ trước cơ nâng mi. Cắt bỏ lớp mô
mềm thừa dọc bờ trên sụn mi.
(B) Một tuần sau phẫu thuật.
A
B
13 Kết quả phẫu thuật tạo mí người châu Á lần đầu (trước và sau)
147
TRƯỜNG HỢP 46 (Hình 13-46 A, B)
Nữ 23 tuổi, có nếp mírõ bên P, và không rõ bên T. Nếp gấp mí phủ qua bờ mi T, và các đường nếp mí không
liên tục bên T. Thích nếp mí giảm dần ở mũi (A).
I / O: chiều cao sụn mi 7,5 mm. Thiết kế nếp mí: 7 mm.
P: Cắt bỏ lớp mỡ trước cân cơ nâng mi; cắt bỏ dải mô mỡ dọc theo bờ trên sụn mi.
T: Kiểm tra lại chiều cao nếp mí 7 mm, quy trình như bên P.
(B) Một tuần sau phẫu thuật.
A
B
TRƯỜNG HỢP 47 (Hình 13-47 A, B)
Nữ 28 tuổi, thường sử dụng băng dán để tạo mí. Nếp gấp da dư che khuất bờ mi. Muốn nếp mí song song
(A).
I / O: chiều cao sụn 8,5 mm. Thiết kế nếp mí song song 7,5 mm. Mỡ trước cơ nâng mi và tổ chức sợi bên
dưới. Dùng máy đốt lưỡng cực Wetfield để đốt bỏ. Cắt bỏ dải cơ da có nhiều mạch máu. Nếp mí1 bên to hơn
bên còn lại vì chảy máu và có máu tụ.
(B) Một tuần sau phẫu thuật.
A
B
148
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
TRƯỜNG HỢP 48 (Hình 13-48 A, B)
Nam 25 tuổi, mắt 1 mí. Da góc trong dư trùm qua và có hình tam giác. Thích nếp mí giảm dần ở mũi với chiều
cao mí trung bình. 5′10 ″ (A).
I / O: chiều cao sụn 7,5 mm. Thiết kế nếp mí 7 mm. Không lấy mỡ mắt. Xóa mặt phẳng trước cân cơ nâng mi.
Tạo thành nếp mí. (B) Một tuần sau phẫu thuật.
A
B
TRƯỜNG HỢP 49 (Hình 13-49 A, B)
Nữ 35 tuổi, nếp mí giảm dần ở mũi với nếp quạt góc trong rõ. Mong muốn một nếp mí rõ hơn.5′5 ″.
I / O: chiều cao sụn 7,5 mm. Thiết kế nếp mí 7,5 mm với da dư 2 mm. (So sánh 2 bên, cẩn thận bác sĩ phẫu
thuật thuận tay phải hoặc mắt phải dễ làm hơn mắt trái).
A
B
13 Kết quả phẫu thuật tạo mí người châu Á lần đầu (trước và sau)
149
TRƯỜNG HỢP 50 (Hình 13-50 A, B)
Nữ 18 tuổi, mắt một mí có sụp mi nhẹ, P nhiều hơn bên T. Mong muốn nếp mi giảm dần ở mũi.5′3 ″.
I / O: chiều cao sụn 8 mm. Thiết kế nếp mí 7,5 mm. Lấy bỏ mỡ. Cắt bỏ các tổ chức dính dưới da và cơ vòng
mi với cân cơ nâng mi nằm dọc theo bờ trên sụn mi, khâu tạo mí bằng chỉ silk 6-0.
T: tai chó góc mắt trong sẽ loại bỏ bằng các mũi khâu tạo mí.
B
A
TRƯỜNG HỢP 51 (Hình 13-51)
Nữ 21 tuổi, mắt một mí, với nếp quạt mắt góc trong. Thích nếp mí song song với chiều cao trung bình.
I / O: chiều cao sụn 7 mm. Thiết kế nếp mí song song 7 mm. Lấy bỏ số lượng lớn mỡ trước cân cơ nâng mi bằng
đầu đốt lưỡng cực. Cắt bỏ lớp mỡ dưới da và cơ vòng mi dọc theo bờ trên sụn mi. Dùng từng mũi khâu bằng
chỉ 6-0 để tạo nếp mí.
150
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
TRƯỜNG HỢP 52 (Hình 13-52 A, B)
Nữ 26 tuổi, P không có nếp mí, T có một đường mí nhỏ nông 3 mm từ bờ mi. 5′4 ″. Mong muốn nếp mí
giảm dần ở mũi (A).
I / O: chiều cao sụn 7 mm. Thiết kế nếp mí 7 mm + 2 mm da. Cắt bỏ ít mỡ trước cơ nâng mí.
(B) P tạo mí tốt. Nửa trong mí mắt T khâu tăng cường chỉ 6-0.
A
B
13 Kết quả phẫu thuật tạo mí người châu Á lần đầu (trước và sau)
151
TRƯỜNG HỢP 53 (Hình 13-53 A, B)
Nữ 19 tuổi, thường tạo mí bằng keo dán. Nếp mí có nhiều mỡ.5′5 ″. Thích nếp mí giảm dần ở mũi(A).
I / O: chiều cao sụn 7,5 mm. Thiết kế 7 mm + 2 mm da dư. Cắt xiên để tiếp xúc với vách ngăn ổ mắt. P có
nhiều mỡ cần cắt bỏ bớt. Tạo nếp mí ở 7 mm.
T: cũng loại bỏ một phần mỡ. Do đó nếp mí xuất hiện giảm xuống 6,5 mm. Điều này có thể là do lượng mỡ
khác nhau cắt bỏ giữa hai bên, và sự thay đổi tiếp theo trong căng da khi mỡ giảm đi.
(B) Một tuần sau phẫu thuật.
A
B
TRƯỜNG HỢP 54 (Hình 13-54)
Nữ 30 tuổi, không có nếp mí. Thích nếp mí giảm dần ở mũi với chiều cao chuẩn.5′7 ″.
I / O: chiều cao sụn 8 mm. Chiều cao nếp mí thiết kế 7 mm + 3 mm da thừa. Không cắt bỏ mỡ. Vách ngăn hòa
với cân cơ nâng mi rất mỏng. Dùng máy đốt để xóa bỏ dọc theo bờ trên sụn mi và dùng chỉ định 6-0 để khâu
nhiều mũi tạo mí.
152
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
TRƯỜNG HỢP 55 (Hình 13-55 A-C)
Nữ 24 tuổi, 5′2 ″. Tôi đã tạo mí đôi lần đầu. (A) Trước phẫu thuật.
Tcó nếp da thừa bên trên nếp mí cũ, thấy hai đường mí.
(B) Sau mổ lần 1. Sửa lại I / O: chiều cao sụn 7 mm. Thiết kế 7 mm và gồm vết sẹo da 1,5 mm. Cắt xiên dọc
theo bờ trên vết mổ để tiếp xúc với cân cơ nâng mi. Vẫn còn một ít mỡ, một ít đã lấy lần trước. Cắt bỏ dải da cơ
và ít mỡ thừa dọc theo bờ trên sụn mi. Tạo nếp mí. (C) Sau phẫu thuật sau sửa lại bên trái.
A
B
C
13 Kết quả phẫu thuật tạo mí người châu Á lần đầu (trước và sau)
153
TRƯỜNG HỢP 56 (Hình 13-56 A-C)
Nam35 tuổi, túi mỡ mí mắt rất nặng. Nếp gấp sa nhiều che phủ cả giác mạc 4 mm, nhưng thực sự chỉ 2 mm trên
giác mạc. 5′5 ″. Thích nếp mí giảm dần ở mũi (A).
I / O: chiều cao sụn 9,0 mm. Mổ lần đầu thiết kế nếp mí 7 mm. Da dày với cơ vòng mi khỏe, mỡ thì ít. Tạo nếp
mí với chỉ silk 6-0 và 7-0.
(B) T nếp mí bị mất đi sau 6 tháng và yêu cầu làm lại.
I / O (sửa lại): Mỡ nhiều trước cân cơ nâng mi. Chúng không bị lấy đi. Cắt bỏ sẹo và dải da cơ vòng mi, tạo rãnh
nhỏ dọc theo bờ trên sụn mi. Tạo nếp mí với chỉ khâu6-0 và 7-0. (C) Một tuần sau phẫu thuật.
A
B
C
154
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
TRƯỜNG HỢP 57 (Hình 13-57 A, B)
Nữ 23 tuổi, thường sử dụng kẹp móng để tạo mí. Nhiều đường mí thô. Thích nếp mí song song trên đường mí
cao nhất của mắt. I / O: chiều cao sụn 7 mm. Thiết kế nếp mí song song 7,5 mm + 2,5 mm da dư. Ít mỡ. Cắt bỏ
dải da cơ. Tạo nếp mí.
A
B
13 Kết quả phẫu thuật tạo mí người châu Á lần đầu (trước và sau)
155
TRƯỜNG HỢP 58 (Hình 13-58 A, B)
Nữ34 tuổi, Trung Quốc / Hawaii, 5′4 ″. P nếp mí giảm dần ở mũi và có da dư. T mắt hõm vào và nhiều nếp mí thô. Da rất
rám nắng (A).
I / O: chiều cao sụn 6,5-7 mm.
P + 2 mm da, T + 3 mm da. Da mỏng, rất mạch máu. Cả hai bên có rất ít mỡ và ngay cả khi nhìn xuống; Mỡ được cắt ra và
bố trí lại trên nếp mí. Tạo nếp mí tốt. (B) Sau phẫu thuật (đeo kính áp tròng màu).
A
B
TRƯỜNG HỢP 59 (Hình 13-59)
Nữ 30 tuổi, P không có nếp mí, T có nếp mí không thường xuyên. Thích mí đôitrên mức trung
bình. I / O: chiều cao sụn 8,5 mm. Được thiết kế mí song song 7,5 mm (7 + 0,5) với 2 mm da.
P: mỡ rất mềm, bố trí lại. Cơ vòng mi có nhiều mạch máu. Cắt dải da cơ vòng mi. T: túi mỡ ngoài
bị sa xuống.
156
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
TRƯỜNG HỢP 60 (Hình 13-60 A, B)
Nữ 22 tuổi, 5′7 ″. Cô ấy có mắt 1 mí cho đến 16 tuổi. Bây giờ có nếp mí không hoàn thiện hoặc một phần. Sử
dụng băng dán tạo mí hàng ngày (A).
I / O: chiều cao sụn 7,5 mm. Thiết kế nếp mí song song 8 mm giống như mí bị phù nề hay tiêm xylocaine. Cắt
bỏ dải cơ da 2 mm. Cơ vòng mi rất mềm và nhiều mạch máu. Cắt xiên để tiếp xúc vách ngăn. Túi mỡ nhìn
thấy khi bệnh nhân nhìn xuống. Bố trí lại mỡ. Cắt dải da cơ và ở cạnh dưới của vết mổ. Tạo nếp mí. (B) Một
tuần sau phẫu thuật.
A
B
TRƯỜNG HỢP 61 (Hình 13-61)
Nam22 tuổi, không nếp mí. Khe góc trong bên T > P. Muốnnếp mí song songthấp.
I / O: chiều cao sụn 8,5 mm. Thiết kế 7 mm. Rất mạch máu trên cơ vòng mi. Ít mỡ. Cắt bỏ dải da cơ để tạo mặt
phẳng trước cân cơ nâng mi. Dùng chỉ silk 6-0 để tạo nếp mí, khâu lien tục bằng silk 7-0.
13 Kết quả phẫu thuật tạo mí người châu Á lần đầu (trước và sau)
157
TRƯỜNG HỢP 62 (Hình 13-62 A, B)
Nam 31 tuổi, mắt 1 mí. Mí mắt nặng, khuôn mặt lớn.5′10 ″ (A).
I / O: chiều cao sụn 8,5 mm. Thiết kế nếp mí song song 7 mm. Da rất mỏng và kéo dài; cơ vòng mi nhiều
mạch máu, với mỡ mắt ít. Cắt dải da cơ vòng mi 3,5 mm. Nếp mí hình thành tốt. (B) Một tuần sau phẫu thuật.
A
B
TRƯỜNG HỢP 63 (Hình 13-63 A, B)
Nữ 31 tuổi, không có nếp mí. 5′2 ″. Thích nếp mí giảm dần ở mũi với chiều cao trung bình.
I / O: chiều cao sụn 7,5 mm. Được thiết kế 7,5 mmbằng + 2 mmda dư. Mỡ mắt ít ngay cả khi nhìn xuống. Bố
trí lại mỡ mắt. Cắt bỏ dải da cơ. Tạo nếp mí. (B) Một tuần sau phẫu thuật.
A
B
159
CÁC YẾU TỐ LÀM CHO MÍ KHÔNG ĐẸP
Phẫu thuật sửa lại những kết quả chưa hoàn thiện là
việc làm cần thiết của phẫu thuật viên. Kết quả chưa hoàn
thiện như: nếp mí không đúng vị trí, chất liệu khâu da bị
dị ứng, máu tụ quá nhiều, cắt bỏ mỡ thừa không hợp lí,
khâu tạo mí quá chắc hoặc quá lỏng, kỹ thuật không phù
hợp và thiếu kiến thức là một phần của bác sĩ phẫu thuật
(Hình 14-1).
Thường có những yếu tố không rõ ràng nằm ngoài tầm
kiểm soát của bác sĩ phẫu thuật. Ví dụ: bệnh nhân không
tuân thủ quy trình hướng dẫn chăm sóc vết thương sau
mổ; thực hiện quá sớm các bài tập nhắm mở mắt quá
mạnh, dẫn đến phù nề kéo dài của mí mắt; tăng huyết áp
tiềm ẩn dễ chảy máu trở lại;
tăng cân; những bệnh nhân đã mổ nhiều lần trước thì
không thể đoán trước quá trình lành vết thương; kết quả
đạt được nhưng bệnh nhân vẫn không hài lòng; hoặc
những khái niệm không được tiên đoán trước về bệnh
nhân mong đợi nếp mí của họ.
Giả sử các bác sĩ có kiến thức và có khả năng, sai lệch
ý tưởng vẫn có thể xảy ra vô tình hoặc thậm chí không
được chú ý, phát sinh từ một sự trùng hợp bất thường của
một sự kiện liên quan đến bệnh nhân và bác sĩ. Kết quả
không tốt vẫn có thể xảy ra với bác sĩ phẫu thuật giỏi.
A
B
C
160
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
Bác sĩ có thể không biết trước bệnh nhân bị thiếu máu,
hoặc số lượng tiểu cầu thấp, hoặc yếu tố đông máu kém,
đang dùng aspirin hoặc thảo dược. Chảy máu có ý nghĩa
và gây khó khăn trong khi phẫu thuật. Điều này đòi hỏi
phải dùng dao mổ đơn cực hay lưỡng cực. Gây tê tại chỗ
làm cho bệnh nhân lo lắng và có thể tăng huyết áp, dẫn
đến hình thành máu tụ. Đốt cầm máu quá nhiều có thể gây
sụp mi sau phẫu thuật. Điều này ảnh hưởng đến khả năng
để tạo nếp mí như mong muốn. Sưng phù dẫn đến nếp mí
đều, giống như mắt cây tre, hoặc mí không đối xứng giữa
hai bên. Thậm chí có đường rạch da không thẳng, mặc dù
bác sĩ phẫu thuật có bàn tay hoàn toàn bình thường. Bệnh
nhân quá lo âu dẫn đến đột nhiên khó thở và lắc lư đầu
trong lúc mổ, dẫn đến kết quả ít lý tưởng. Phẫu thuật tạo
mí ở người châu Á đòi hỏi sự tập trung cao độ, và ngay cả
bệnh nhân thân thiện và nói chuyện hay những câu hỏi
vô tình từ nhân viên trong phòng mổ có thể làm sao lãng
bác sĩ phẫu thuật.
Có những tình huống khác không có gì liên quan đến
bác sĩ mà có kết quả không đẹp, ví dụ:
• Một phụ nữ trẻ gầy đã phẫu thuật tạo mí ở người
châu Á thành công. Cô ta rất vui, và sau khi hồi phục
bệnh biếng ăn, cô ta đã tăng 30 pound. Nếp mí một
bên mắt trở bị xóa, đòi hỏi phải mổ lại để lấy mỡ
trước vách ngăn.
• Một nha sĩ đã được phẫu thuật tạo mí ở người châu
Á thành công. Sáu tháng sau phẫu thuật nếp mí
trông tuyệt vời. Trong lúc ông đi cắm trại, ông bị
côn trùng cắn mí trên. Nếp mí trên trở nên cạn và
các mô trước sụn giãn ra, dẫn đến nếp mí cao hơn
bên còn lại. Ông ta yêu cầu sửa lại để tạo nếp mí
thấp hơn.
• Một luật sư 30 tuổi đã bị viêm quầng 4 sau ngày
phẫu thuật. Cả hai nếp mí đều chuyển sang màu đỏ
và đoạn trước sụn trở nên rộng hơn, kèm theo xuất
huyết vùng gò má. Dùng kháng sinh toàn thân và
nhiễm trùng nhanh chóng giảm xuống.
Những trường hợp đó cho thấy lý do tại sao tôi lại
ngần ngại sử dụng thuật ngữ ‘biến chứng’ trong phẫu
thuật tạo mí ở người châu Á. Thuật ngữ ‘kết quả chưa tốt’
là phù hợp hơn; và đôi khi có thể theo một kỹ thuật đã
thực hiện đúng cách. Chúng tôi nghĩ rằng các biến chứng
trong y học và phẫu thuật có liên quan nhiều hơn đến các
bệnh nghiêm trọng, thường có các yếu tố nguy cơ (tuổi
tác, tình trạng bệnh, tình trạng mạch máu, gây mê, vv) ở
từng cá nhân và làm phức tạp kết quả phẫu thuật. Điều
này ít rõ ràng hơn trong phẫu thuật thẩm mỹ, đặc biệt là
phẫu thuật mí ở người châu Á
không có bất kỳ xuất huyết đáng kể hoặc yếu tố nguy
cơ nào, mà đơn giản là vì sự tương quan giữa các yếu tố
khác nhau (sâu hơn vào các chương sau và video), bác sĩ
không chuyên sâu có thể khó để phát hiện ra. Thật khó để
nói là thiếu chú ý đến một yếu tố nào đó mà dẫn đến kết
quả không tối ưu. Quan sát, phát hiện và xử lí kịp thời là
tốt nhất để đạt mục tiêu có kết quả tốt.
Trên lâm sàng, tôi luôn lắng nghe bệnh nhân để tìm
ra ý quan trọng, khi họ đã phẫu thuật tạo mí ở nơi khác
và kết quả không hài lòng.
Trao đổi kỹ với bệnh nhân là quan trọng để đưa ra
một số khía cạnh của phẫu thuật hoặc kết quả giả định,
không nên bỏ qua, không thảo luận hoặc hiểu sai. Khi
gây mê thì có thể thay đổi, mức độ khó chịu hoặc sưng
quá mức.
Không thay đổi, chúng ta quay trở lại 4 tham số quan
trọng nhất của nếp mí: chiều cao, hình dạng, tính liên tục
và lâu dài (Hình 14-2).
CHIỀU CAO
Tạo mí quá cao hoặc quá thấp, đó là một vấn đề. Nếp
mí cao thường thấy khi cắt bỏ mỡ quá nhiều, gây lõm
mí trên hoặc trông ‘ famined ‘ thì rất khó sửa lại (Hình
14-3). Bệnh nhân có một chút hõm ở mí trên, cắt bỏ túi
mỡ sẽ dẫn đến hõm mí trên nhiều hơn và dễ hình thành
nhiều nếp mí cao (Hình 14-4). Trong tình huống này,
cắt bỏ nhiều da để cắt bỏ các nếp mí phụ mà không giải
quyết được vấn đề hõm mí mắt thì sẽ dẫn đến biến dạng
nặng hơn.
Nếp mí cao dẫn đến vùng da trước sụn rõ hơn, thường
liên quan đến giảm chức năng của cơ nâng mi bên cạnh
mất cân bằng thẩm mỹ (trong Advanced: Chương 21).
Nếp mí thấp ở một vị trí không phù hợp, sẽ không hỗ
trợ để tạo nếp mí đầy đủ. Nguy cơ tạo ra một vết sẹo ở
vùng trước sụn; và nó có thể phai dần theo thời gian.
Một trong những yếu tố phổ biến có kết quả không tốt
liên quan đến cắt bỏ mỡ quá nhiều. Cắt bỏ mỡ thừa nhiều
dẫn đến hõm mí trên. Chỗ hõm sâu trên mí là chỗ đính
tạo mí vào cân cơ nâng mi.
14 Các yếu tố chưa tốt
161
Hình dạng
Chiều cao
Liên tục
Lâu dài
162
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
A
B
14 Các yếu tố chưa tốt
163
Nếp mí cao hay hình bán nguyệt
Nếp mí song song
Nếp mí giảm dần ở mũi
*
Hình 14-5 minh họa cho nếp mí cao có hình bán
nguyệt. Nếu da còn mềm mại thì sửa lại có thể tiến hành
thông qua làm lại nếp mí có hình song song và giảm chiều
cao. Cố gắng để tạo nếp mí giảm giảm dần ở mũi (đường
chấm và mũi tên trong hình).
Chiều cao chính xác ở giữa nếp mí là để thiết kế nếp
mí song song hoặc nếp mí giảm dần ở mũi và tránh nếp
mí hình bán nguyệt.
Không đối xứng chiều cao nếp mí có thể xảy ra ngay
cả khi đã đo nếp mí mỗi bên, vì sức căng tổ chức thay đổi
khi tiêm, rạch và chảy máu trong và sau khi phẫu thuật.
Thay đổi trong chiều cao mí có thể trong quá trình hậu
phẫu bình thường và không dự đoán được kết quả. Những
thao tác trong quá trình phẫu thuật dẫn đến cắt bỏ mô
không đều 2 bên và điều này cũng có thể dẫn đến bất đối
xứng.
Hình dạng
Khuôn mặt không phù hợp nếu làm nếp mí bán nguyệt
(nửa mặt trăng) cho mí mắt người châu Á (Hình 14-6).
Khi phẫu thuật tạo nếp mí giảm dần ở mũi thì phần
góc trong của mắt phải tạo được nếp gấp nhỏ, nếu chúng
ta tạo nếp mí ở góc trong không tốt thì nếp gấp sẽ xuất
hiện bên dưới nó, kết quả là một nếp mí có hai đầu ở
trong (Hình 14-7). Nếu phần bên trong của nếp mí giảm
dần và làm trên nếp mí cũ, hiếm khi nhìn thấy nếp gấp
bên dưới. Tôi đã gặp bệnh nhân có nếp mí ở phần ngoài
cao quá hơn ở trong, lấn lên tới phần da dày của vùng
lông mày. Nên tránh ‘nếp mí cao lên phía ngoài’ vì ít sợi
cân cơ nâng mi.
Nếp mí bán nguyệt thì rất khó sửa lại, cao nhất ở giữa
và thấp xuống 2 góc mắt. Hình dạng nếp mí hình bán
nguyệt không phù hợp với mắt người châu Á, nếp mí hơi
sụp mi, cũng như phần trước sụn luôn sưng nề.
Không hài lòng về hình dạng nếp mí nếu cả bác sĩ phẫu
thuật và bệnh nhân chưa thống nhất trước. Sự lựa chọn
hình dạng mí nên từ chính bệnh nhân và ghi nhận lại. Nếu
không quen, bác sĩ nên thảo luận về ưu và nhược điểm
của từng hình dạng nếp mí. Cuối cùng, vẫn nên theo sở
thích của bệnh nhân.
164
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
Trong phương pháp khâu (xem Hình 14-8), mí lõm vào
do khâu ép da vào cơ nâng mi, và nhìn thấy khi bệnh
nhân mở mắt, nhìn xuống và nhắm mắt. Có hiệu ứng làm
giảm hoạt động cơ nâng mi do chỉ khâu, làm cho mí trợn
lên, trông lúc nào cũng nhìn chằm chằm, do khâu ép quá
chặt làm cho bệnh nhân khó chịu.
Hiệu quả lâu dài ròng của chỉ khâu là làm chức năng
cơ nâng mi gây sụp mí nhẹ và / hoặc hở mi. Điều thú vị
là, trong trường hợp các chỉ khâu bị buột chặt và bị mất
tác dụng mở mắt lâu dài hơn ở một số bệnh nhân.
Hình 14-9 vị trí nếp mí cao ở 3 vị trí khâu, từ 10-12
mm từ bờ mi, thấy rõ sẹo trên mí mắt khi bệnh nhân
nhìn xuống hoặc nhắm mắt.
14 Các yếu tố chưa tốt
165
Hình dáng
Cao
Liên tục
Lâu dài
Quá cao (đường mổ không đúng, khâu cao, phù nề) Lấy mỡ quá
Nhiều (hõm mi trên)
Quá thấp
Nếp mí đứt đoạn (không liên tục)
Nếp mí nông
Nếp mí bị xiên 1 phần hay hoàn toàn
Không đối xứng
Phần ngoài cao lên
Mí hình bán nguyệt
Nếp mí phai đi 1/3 trong
Trợn mắt
2 nếp mí
Nhiều nếp mí
13
166
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
Hình 14-10 cho thấy một phương pháp khâu, thường
sử dụng ba mũi khâu nylon 5-0 hoặc 6-0.
Đoạn đầu tiên (1 trong sơ đồ) liên quan đến việc lộn
mí mắt ra và thêm vài milimet, ở mức bình thường vài
milimet trên bờ mi trên (A′ - B′). Đoạn thứ hai (2) 1 đầu
kim về phía da, hướng dọc theo bờ trên sụn mi (B′ - B).
Tương tự như vậy đối với đầu kim còn lại của đường
khâu, đoạn thứ ba (3) đi từ A′ - A. Nếu hai đầu ở phía da
buột tại thời điểm này, nó sẽ là một lực nén nén đủ độ
dày của mí gồm cơ vòng mi, cơ nâng mi, cơ Muller ở bờ
trên sụn mi. Nó vô tình tạo ra hiệu ứng Faden (Chương
21) ở mỗi vị trí của B′ - B và A′ - A, và sự co lại theo
chiều ngang của mí mắt tại A′ - B ′. Trong thực tế, đầu
kim thứ hai thoát ra khỏi da tại A được xuyên lại (4)
dưới da ngang qua để tham gia B, thoát ra tại một lỗ mở
phẫu thuật nhỏ (A - B). Do đó, có hai điểm giao cắt
ngang dọc theo trục ngang của cơ nâng mi, A′ - B ′ và A -
B. Các đầu nylon được buộc chắc chắn và nút khâu sẽ
vùi chỗ vết mổ. Từ xưa đến nay, phương pháp khâu sử
dụng ba vị trí khâu này: trong, giữa và ngoài. Chức năng,
hiệu ứng Faden (suy giảm) đã được tạo ra tại sáu vị trí
theo chiều dọc dọc theo trục chức năng của cơ nâng mi,
và sáu phân đoạn ngang của cơ nâng mi (A′ - B ′ và A -
B) vô tình bị thu hẹp.
Xem đoạn video trong Chương 21 cho thấy hiệu ứng
làm giảm vị trí của ba mũi khâu cao hơn.
TÍNH LIÊN TỤC VÀ LÂU DÀI
Liên tục đề cập đến độ mềm mại và độ sâu phân bố
đồng đều của nếp mí sau phẫu thuật. Đôi khi một nếp mí
xuất hiện ở độ sâu và chiều cao thích hợp có thể mất đi
hoặc cạn dần theo thời gian. Điều này có thể xảy ra trên
một phần hoặc toàn bộ nếp mí. Nếp mí có thể có 1 phần
hay toàn bộ.
Phương pháp khâu thường dẫn đến nếp mí phai dần
do khuynh hướng cắt đứt tổ chức của chỉ khâu theo thời
gian, có thể thông qua hiệu ứng dây thắt hoặc do không
lấy bỏ da thừa, cơ vòng mi và mỡ. Một nếp mí bị phân
đoạn khi một phần nếp mí mất đi. Có khi toàn bộ nếp mí
biến mất với các phương pháp khâu hay mổ ngoài, mặc
dù chúng ta vẫn thấy vết tích của chỉ khâu hay đường
rạch da.
Các vấn đề liên quan đến tính liên tục và tính hiệu quả
như sau: Nếu nếp mí không kết dính liên tục với cân cơ
nâng mi, nếp mí không liên tục hoặc bị hỏng thì thấy rõ
ngay sau mổ. Ban đầu, một nếp mí liên tục có thể được
hình thành tốt nhưng sau đó bị xóa đi, dẫn đến một nếp
mí nông hoặc không có nếp mí - trong bản chất nếp mí
không vĩnh viễn; hoặc nếp mí có thể bung ra theo từng
đoạn, trở nên không liên tục nhưng vĩnh viễn (Hình
14-11). Mất nếp mí có tỉ lệ cao hơn khi dùng phương
pháp khâu.
Bệnh nhân có nhiều nếp mí thường phải mổ nhiều lần
Nhiều nếp mí hình thành vết sẹo không thể đoán trước
sau khi mổ lại, và do cắt bỏ quá mức trong quá trình tạo
mí (Hình 14-12).
Với bất kỳ khía cạnh nào của y học, một quy trình phải
chịu được sự kiểm tra theo thời gian, ít nhất là vài năm.
Sự vĩnh viễn là phải đảm bảo nếp mí theo thời gian. Thông
thường, có thể thấy nếp mí cạn dần. Có một số yếu tố có
thể dẫn đến điều này. Do sự giãn dần của nếp mí gắn
vào cân cơ nâng mí không đủ chắc, hoặc chỉ khâu vùi có
thể thất bại. Phù nề sau phẫu thuật cũng làm nếp mí sa
xuống dần.
14 Suboptimal Factors
167
A’
B’
B
A
Cơ nâng mi
Cơ Muller
Kết mạc
1
3
2
2
4
168
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
Nếp mí cũng có thể di chuyển xuống dưới dần dọc theo
bờ trên sụn mi. Chảy máu trong hoặc sau phẫu thuật có
thể dẫn đến sưng nề nhiều và ảnh hưởng đến nếp mí.
Tạo mí khó nhất là 1/3 trong của nếp mí. Vùng trước
cân cơ nâng mi có ít tổ chức dính tự nhiên, làm cho khó
khăn để khâu tạo mí. Vùng này ít đầy hơn khi lực kéo
hướng lên trên hoặc thiếu vùng trượt (bóng nano, xem
Chương 23) giữa các lớp trước và sau của mí.
Nếp mí cũng có thể di chuyển xuống dưới dần dọc theo
bờ trên sụn mi. Chảy máu trong hoặc sau phẫu thuật có
thể dẫn đến sưng nề nhiều và ảnh hưởng đến nếp mí.
Tạo mí khó nhất là 1/3 trong của nếp mí. Vùng trước
cân cơ nâng mi có ít tổ chức dính tự nhiên, làm cho khó
khăn để khâu tạo mí. Vùng này ít đầy hơn khi lực kéo
hướng lên trên hoặc thiếu vùng trượt (bóng nano, xem
Chương 23) giữa các lớp trước và sau của mí.
169
CÁC YẾU TỐ CẦN CHỈNH SỬA
VÒNG TRÒN CÁC YẾU TỐ KHÔNG
THUẬN LỢI, NGUYÊN NHÂN VÀ CÁC
YẾU TỐ LIÊN QUAN
Trong các thông số ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật,
yếu tố quan trọng nhất là chiều cao của nếp mí, như được
vẽ từ giữa mí mắt từ bờ mi trên. Các nếp mí nên được
thiết kế thấp chiều cao trung tâm của sụn mi trên. Ở châu
Á, nếp mí thường cao từ 6,5 -> 7,5 mm, cho thấy vẻ ngoài
tự nhiên và tạo nếp mí tốt. Khi nếp mí được thiết kế cao
hơn chiều cao của sụn mi, kết quả là một không tự nhiên,
nhìn lên không hết tầm và thường nề ở vùng trước sụn,
trông như phù ở viền mí mắt. Khi nếp mí được thiết kế
thấp hơn chiều cao của sụn mi sẽ dẫn đến vết sẹo ở vùng
trước sụn, khó có thể che lấp, hoặc ứ đọng bạch huyết và
cuối cùng dẫn đến nhiều nếp mí (xem hình 15-1).
Tiếp theo trong tầm quan trọng là hình dạng của nếp mí,
tức là song song hoặc hình nón mũi. Nếp mí hình nón
mũi là phổ biến và tương thích với hầu hết dân tộc châu
Á. Tính năng đặc biệt của nó là một sự giảm dần về phía
góc mắt trong, và nó đổ dần đều về góc mắt trong. Vì
nếp đi vào trong, nó thụt vào và hợp nhất với bất kỳ
nếp mí đã có sẵn. Nếp mí hình nón ở mũi thì phổ biến
hơn ở miền nam Trung Quốc, cũng như ở các nhóm dân
tộc Đông nam Á như Malaysia, Thái Lan, Việt Nam và
Campuchia. Nếp mí song song thường thấy ở miền bắc
Trung Quốc cũng như Bắc Á. Nếp mí đẹp là nếp mí có
chiều rộng cong đồng đều từ góc mắt này sang góc mắt
khác. Nó thích hợp về mặt thẩm mỹ với nhiều khuôn mặt
to hơn, khuôn mặt hình chữ nhật hoặc hình vuông, hoặc
một người cao lớn và do đó có khuôn mặt tương đối lớn
hơn. Nếp mí song song thường gặp ở những người châu
Á ở phía nam và nếp mí hình nón ở mũi thì gặp ở những
người phía bắc.
Nếu thiết kế hình dạng nếp mí chính xác nhưng chiều
cao hơn mức bình thường, nó sẽ dễ thấy và không tự
nhiên. Khi thiết kế nếp mí không theo cung bờ mi trên
riêng từng người, đây cũng là nếp mí rất ấn tượng và
không tự nhiên, ví dụ nếp mí cao ở bên trong, hoặc nếp
mí giảm ở phần ngoại (cả thường có thể xảy ra). Điều
này áp dụng khi so sánh tính đối xứng giữa hai mí mắt:
một lần nữa, nó sẽ ít hơn lý tưởng để có hình dạng mí
một bên khác với bên còn lại.
Hình dáng
Cao
Liên tục
Lâu dài
Quá cao (đường mổ không
đúng, khâu cao, phù nề) Lấy mỡ quá
nhiều (hõm mi trên)
Quá thấp
Nếp mí đứt đoạn (không liên tục)
Nếp mí nông
Nếp mí bị xiên 1 phần hay hoàn toàn
Không đối xứng
Phần ngoài cao lên
Mí hình bán nguyệt
Nếp mí phai đi 1/3 trong
Trợn mắt
2 nếp mí
Nhiều nếp mí
170
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
Khi phẫu thuật viên phát hiện ra là đã bị nếp mí hình
bán nguyệt 1 bên thì nên sắp xếp thời gian để sửa lại
cho phù hợp, miễn sao là vẫn có còn da dư để mổ.
Trong quá trình thiết kế và phẫu thuật tạo mí, và đặc
biệt là cho một nếp mí hình nón ở mũi, nếu phẫu thuật
viên không định hướng nếp mí mới từ góc mắt trong thì
dễ có két quả bị 2 nếp mí ở phần trong của mí.
Vết mổ tạo mí cao tự nhiên sẽ khiến cho phẫu thuật
viên phải lấy bỏ lượng mỡ lớp ở trước cơ nâng mi. Có
một cơ hội mà các bác sĩ phẫu thuật sau đó sẽ được vô
Đây là kết quả của phẫu thuật viên chưa có kiến thức và
kinh nghiệm. Điều này dẫn đến:
1. Hõm ở vùng trước vách ngăn. (mở rộng khoang
trên sụn).
2. Dễ hình thành của nhiều nếp mí hoặc nếp mí nằm
trên vết mổ, trong vùng trước vách ngăn. Sau đó
có một hình ảnh khó hiểu của các nếp mí là nhiều
nếp, không có nếp mí chính, dễ quay lại nếp mí cũ.
3. Dễ tạo ra sơ cứng ở vùng trước sụn do da và xơ
vòng mi bị dính vào mặt trước sụn mi.
Do đó, rõ ràng là việc cắt bỏ mỡ thừa có ảnh hưởng
đến việc hình thành nếp mí ở giai đoạn cuối. Nó không
chỉ giúp hình thành nếp mí hoặc tính thẩm mỹ cuối cùng
của mí mắt, mà còn làm cho khi sửa chữa lại sẽ khó khăn
hơn.
Tiếp tục liên quan đến các yếu tố để tạo nếp mí: phải
thống nhất và thận trọng, với các kỹ thuật khác nhau phù
hợp với cụ thể của chiều cao nếp mí. Nếu nếp mí bị mất 1
đoạn nhỏ, kết quả là một nếp mí không liên tục hoặc một
phần (hoặc một phần bị xóa một phần). Các nếp mí có
thể có đặc điểm riêng, rõ ở trong nhưng khi đến giữa mí
và ngoài mắt thì mờ dần.
Sự vĩnh viễn lý tưởng của nếp mí tồn tại trong hơn 3-5
năm. Khi toàn bộ nếp mí mờ dần trong 6 tháng đầu, nó
thường là do tạo sự liên kết chưa đủ chắc chắn, sự thoái
triển của mỡ, mô mềm, hoặc đường rạch tạo mí quá thấp
ở trước sụn mi.
Tiếp tục, liên quan đến việc cố định nếp mí, ví dụ như
khi chúng ta đã mổ đúng đường và đúng mặt phẳng. Nếp
mí vĩnh viễn được thực hiện để đảm bảo tính liên tục, lâu
dài và hiệu quả của một phương pháp, được áp dụng cho
từng bệnh nhân riêng.
Thách thức là với bất kỳ yếu tố nào được đề cập và
hiển thị trong vòng tròn các tham số, mỗi yếu tố chưa tốt
sẽ dẫn đến kết quả ít hoàn hảo hơn. Tổng hợp của các yếu
tố chưa tốt có thể đặt ra vấn đề là phải sửa lại.
Không nên cố tạo mí mà cắt bỏ nhiều nếp mí hoặc
nhiều da thừa để dẫn đến tình trạng thiếu da do mắt nhắm
không kín hay lật mí. Tương tự như vậy, việc ghép mỡ tự
do có thể dẫn sụp mi, chỗ ghép mỡ phình to. Sụp mi mắc
phải rất hay gặp sau khi sửa lại mí và có thể do sẹo (do
nếp mí cao) hoặc phần trước sụn mi (cứng trước sụn).
Sẹo ở vùng giữa và liên quan đến cơ nâng mi có thể dẫn
đến hở mi và sụp mi, cũng như khi khâu da không tốt sẽ
dẫn đến lộn mi.
Hy vọng rằng với kiến thức, kỹ năng và thảo luận trước
mổ, phẫu thuật viên có thể tránh được các yếu tố dẫn đến
kết quả không tốt (như đã thảo luận trong Chương 14).
Tuy nhiên, sẽ luôn có những bệnh nhân cần phẫu thuật
sửa lại và chương này sẽ thảo luận về một số vấn đề mà
tác giả đã gặp phải trong điều trị các bệnh nhân đó và
các giải pháp.
Các kỹ thuật sửa lại cho các dạng mí khác nhau được
thảo luận bên dưới.
NẾP MÍ KHÔNG ĐỐI XỨNG
Cho đến nay vấn đề thường gặp nhất là 2 mí không đều
nhau. Bao gồm chiều cao nếp mí không đều 2 bên (Hình
15-2), không đều về hình dạng và độ liên tục, đã trải qua
chuyển dịch nếp mí (di chuyển xuống hoặc xóa một phần
hoặc toàn bộ nếp mí) hoặc mờ dần phần giữa của nếp mí
(Hình 15-3).
15 Các yếu tố cần chỉnh sửa
171
Sửa nếp mí thấp
Đối với những bệnh nhân có một số làn da dư thừa,
phương pháp tốt nhất là cắt bỏ vết sẹo đơn giản liên quan
đến nếp mí thấp, cho phép nó lành lại, và sau đó thực
hiện quy trình nếp mí sau đó tối thiểu là 6 tháng sau đó.
Theo kinh nghiệm của tôi, việc sửa đổi đồng thời và xây
dựng một nếp mí mới thường cho phép kiểm soát tối ưu
chiều cao mí.
Khi da bị căng và không thừa thì khi cắt bỏ nếp mí
cũ không hề đơn giản, vì nó sẽ tạo sẹo quá phát rất rõ
(hình 15-6). Lựa chọn tốt nhất cho nếp mí thấp có thiếu
da là cắt bỏ toàn bộ nếp mí và tạo lại mí và vá da dày
nguyên lớp lên chỗ thiếu da. Nên cho bệnh nhân biết là
sau mổ thì nếp mí sẽ cao trong vòng 6 tháng.
Nếu thiếu da nhiều trên và dưới nếp mí thì nên dừng
việc tạo mí, sẽ tạo mí lại sau 6 tháng (Hình 15-7).
Chiều cao mí không đều
Khi nếp mí của một mắt xuất hiện cao hơn bên còn
lại, thường thì nếp mí cao hơn là bất thường. Nó là điều
cần thiết để phát hiện bất kỳ sụp mi mắc phải, bởi vì đầu
bán tận cân cơ nâng mi bị dính cao hơn (Hình 15-4).
Trong trường hợp này, sửa lại sụp mi thì chỉ cần cắt bỏ
phần da mí cao hơn mà không cần tạo lại mí.
Nếp mí cao hơn bình thường có thể phát sinh từ lúc
vẽ đánh dấu cho tới khi rạch da, do khâu tạo mí không
chính xác, hay bị phù nề lâu dài phần trước sụn. Nếu nếp
mí vẫn cao sau 6->9 tháng phẫu thuật, việc sửa lại như
sau:
Sửa nếp cao
Mí mắt bị lật ra và đo chiều cao ở giữa sụn sụn mi (xem
Chương 7). Điều này ví như là một điểm tham chiếu cho
vị trí mí. Khi chiều cao sụn mi trên di chuyển trên da và
được nhìn thấy là gần với bờ mi hơn nếp mí hiện tại, cắt
bỏ vài mm da khác nhau tại vị trí sẹo mổ trước, miễn sao
không bị thiếu da khi nhắm mắt. (Hình 15-5). Giúp giải
phóng những sẹo dính dọc theo bên trên vết mổ. Giải
phóng tất cả các tổ chức sẹo dính trên cơ nâng mi với bờ
trên sụn mi để tạo lại nếp mí mới.
Nếu chiều cao nếp mí đã vẽ lại mà vẫn cao hơn nếp mí
giả định thì phải xem nếp mí bên còn lại có quá thấp hay
không.
Sửa nếp mí thấp
Sửa nếp mí quá thấp khó khăn (quá gần bờ mi) hơn
để sửa nếp mí cao. Điều chỉnh mà không bị thừa da.
172
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
Nếp mí mất đi theo thời gian
Nếp mí mất đi gồm: nếp mí nông, nếp mí đẩy lên, phai đi
1/3 trong hay toàn bộ nếp mí (Figure 15-8).
Sửa lại mí phai đi theo thời gian
Miễn sao là vẫn còn có đủ da dư để phẫu thuật, phẫu
thuật tạo mí người châu Á mô tả trong Chương 7, 8 và 9
có thể mổ 1 đoạn hay toàn bộ nếp mí (Hình 15-9 đến
15-11). Phát hiện hay gặp nhất lúc phẫu là sẹo dưới da
quá mức và không còn rõ ràng cơ vòng mi, vách ngăn,
hoặc túi mỡ (trước sụn mi hoặc trước cơ nâng mi) dọc
theo phần tiếp giáp giữa bờ trước sụn và trước cơ nâng
(Hình 15- 12).
Nếp mí mất đoạn là nếp mí không liên tục, tốt hơn nên
sửa lại. Cần thiết là nên cắt tỉa mặt phẳng dưới tổ chức
sẹo giữa da và cơ nâng mi dọc theo bờ trên sụn mi. Có
nếp mí không đầy đủ ở 1/3 trong (ít hơn) ở giữa mí mắt
(Hình 15-3). Đây là kết quả do đính chưa đủ chắc trong
lần phẫu thuật đầu tiên và có thể ngăn ngừa bằng 3 mũi
khâu tạo mí ở ½ trong của mí mắt (Hình 15-13)
Có thể cắt bỏ nhiều tổ chức phần mềm bên dưới để phần
trên sẽ phủ qua khi mở mắt.
15 Các yếu tố cần chỉnh sửa
173
NHIỀU NẾP MÍ
Bệnh nhân có thể có nhiều nếp mí trên mỗi mắt. Những
trường hợp này có thể được chia thành: người bắt đầu
có nhiều nếp mí mờ, nhưng kết thúc với nhiều nếp mí và
có nếp mí nổi trội nhất, và những người từ đầu không
có bất kỳ nếp mí.
Nếp mí sau phẫu thuật xuất
hiện cùng nếp mí ban đầu
Trong loại đầu tiên: người có nếp mí bắt đầu là nhiều
nếp mí nông bằng nhau (Hình 15-14), hoặc những người
một nếp mí rõ và các nếp mí khác ít rõ nhưng nó sẽ rõ
hơn sau phẫu thuật. Theo kinh nghiệm của tôi, vấn đề
này thường gặp ở những bệnh nhân đã can thiệp nhiều
vào vùng trước sụn mi và trước vách ngăn (Hình 15-15),
loại bỏ quá nhiều mô và mỡ trước sụn mi, hoặc loại bỏ
mỡ trước cân cơ nâng mi. Những nếp mí này thấp và ở
vùng trước sụn mi.
Sửa chữa nhiều nếp mí
Phương pháp tạo mí dựa theo chiều cao giải phẫu của
sụn mi để tạo mí trên người châu Á thì vẫn là cách tốt
nhất để quy tụ nhiều nếp mí thành 1 nếp mí rõ, miễn là
có đủ da để phẫu thuật. Thông thường, một số nếp mí
có khoảng cách gần nhau có thể được loại bỏ hoàn toàn,
với kết quả tốt (xem Hình 15-15). Khi bệnh nhân có
nhiều nếp mí kèm với thiếu hụt da nhiều, việc điều
chỉnh thiếu da bằng ghép da dày nguyên lớp sẽ ưu tiên
hơn việc sửa mí thẩm mỹ. Các nếp mí thừa được cắt bỏ
khi ghép da, và quy trình làm ra mắt 1 mí.
Nhiều nếp mí sau phẫu thuật ở
bệnh nhân không có nếp mí ban
đầu
Nhiều nếp mí sau phẫu thuật thì hầu hết là do khi
phẫu thuật đã loại bỏ quá nhiều mỡ trước vách ngăn.
Những bệnh nhân này thường có nếp mí quá cao so với
nếp chính của họ, những nếp mí thừa đều nằm trên sụn
mi; đó là khoảng giao nhau các nếp gấp da sau khi loại
bỏ mỡ trước cơ nâng mi.
Mắt hõm mí trên hay không có
nhiều nếp mí.
Hõm mí trên nhiều là do lấy bỏ mỡ quá nhiều , hoặc
cũng có thể do tình trạng bệnh lí khác
Sửa mắt hõm mí trên
Chúng tôi chưa tìm thấy y văn nào về phẫu thuật sửa
hõm mí trên, gồm cấy ghép silicone,
174
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
15 Các yếu tố cần chỉnh sửa 175
hơn theo chiều ngang, và lớn hơn theo chiều dọc khi mở
mắt hết cỡ.
Sửa nếp mí hình bán nguyệt
Một kỹ thuật dựa trên chiều cao sụn mi để tạo mí châu
Á được ưa thích, chiều cao mí 6,5-8,5 mm, với dạng mí
hình nón ở mũi hay song song. Phương pháp rạch da
“bên ngoài” cho phép đặt các đường khâu chính xác qua
cân cơ nâng mi và giúp kiểm soát tốt nếp mí hơn.
1. Mí cao từ 10 mm trở xuống. Nếu chiều cao tối đa
của nếp mí được sửa lại là 10 mm hoặc nhỏ hơn, 50% ở
giữa của nếp mí có thể được di chuyển xuống theo cách
sau:
A. Bệnh nhân có da. 6-9 tháng sau lần phẫu thuật
cuối cùng, chiều cao trung tâm được đo và ghi trên da
mí mắt. Rạch bỏ da 1 đoạn dài 2-3 mm ở giữa nếp mí tại
đỉnh hình bán nguyệt đã đánh dấu. 50% ở giữa nếp mí
bán nguyệt được cắt bỏ, cùng với dải da rộng 2 mm
(Hình 15-17). Động tác này có tác dụng chuyển đổi nếp
mí thành nếp mí hình nón ở mũi.
Nếp mí hình bán nguyệt ít thì nên rạch da qua đỉnh
hình bán nguyệt và cắt bỏ các tổ chức dính da với cân cơ
nâng mi và vách ngăn.
và tiêm collagen, dầu silicon hoặc ghép mỡ tự do vào
trong khoang hõm. Tác giả cảm thấy không tốt, không
lâu dài để chỉnh lại khi đã lấy mỡ quá nhiều. Ghép da-mỡ
thì đã đạt được một số thành công. Theo tôi, bệnh nhân
có hõm mi trên và nhiều nếp mí dư da thì lựa chọn đầu
tiên là tạo mí đôi dựa theo chiều cao sụn mi trên.
NẾP MÍ HÌNH BÁN NGUYỆT
Bệnh nhân có nếp mí hình bán nguyệt (nửa mặt trăng)
thì thường không hài lòng với kết quả. Phẫu thuật viên
chính có thể thiết kế nếp mí dựa trên kỹ thuật tạo mí cổ
điển, đặt nếp mí sao cho nó cao nhất ở giữa mí và giảm
dần về 2 góc mắt. Mí mắt như thế trông tròn hơn khi mở
mắt. Điều này đặc biệt rõ ràng ở người châu Á vì họ có
khuynh hướng mí mắt hẹp hơn so với người châu Âu.
Cùng một khoảng cách 10 mm từ nếp mí đến bờ mi, cong
về phía góc mắt 2 bên, góc cung tròn ở người châu Á lớn
hơn so với người châu Âu (Hình 15-16), do đó nhìn mắt
trông tròn hơn ‘mắt tròn’. Điều này trái ngược với điều
mà hầu hết người châu Á mong muốn. Ngược lại, một nếp
mí hình nón ở mũi với đuôi mắt nhếch lên một ít hoặc
một nếp mí song song làm cho khe nếp mí rộng
(θ2 > θ1)
Khe mí người châu
Á
Khe mí người
châu Âu
Nếp mí hình bán
nguyệt
Nếp mí cao hơn 10 mm góc
cung lớn hơn θ2 ở người châu Á
hơn người châu Âu θ1
Đường khe mí trông tròn hơn
q2
q1
176
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
Nếp mí hình bán nguyệt;
ở giữa cao ít hơn 10 mm
Nếp mí ưa thích
(song song hay hình nón ở mũi)
Nếp mí song song
Nếp mí hình
nón
ở
mũi
25% ở phần trong của nếp mí bán nguyệt trở thành nếp
mí hình nón ở mũi là được ưa thích. 50% ở giữa được
định hình lại ở mức thấp hơn với nếp mí liên tục song
song; 25% ở ngoài được cắt và sửa đổi sao cho nó song
song hoặc hơi chếch lên, bằng cách cố ý neo nó cao hơn.
Động tác này làm giảm các mô dưới da ở phía góc mắt
ngoài. Thách thức phát sinh khi thiếu da ở góc mắt ngoài
của nếp mí. Nếu phát hiện ra thì cứ đóng da lại và đợi 6
tháng sau thì thực hiện sửa chữa nếp mí ở phía ngoài.
B. Bệnh nhân bị thiếu da. Một nếp mí bán nguyệt
không dễ dàng sửa đổi trừ khi có nếp mí. Sẹo bên dưới,
da giữa nó và nếp mí mới mong muốn (chiều cao sụn
mi) thì được loại bỏ hoàn toàn. Chỗ thiếu da thì ghép da
dày toàn bộ và cho phép tạo nếp mí mới (Hình 15-18,
15-19), nếp mí mới được hình thành tại điểm giao nhau
giữa da trước sụn mi và da ghép
2. Nếp mí cao hơn 10 mm. Một tình huống cực kỳ khó
khăn tồn tại khi nếp mí bán nguyệt là hơn 10 mm từ bờ
mi. Tôi đã gặp bệnh nhân có nếp mí cao tới 12-14 mm
từ bờ mi
Cơ vòng mi
Nếp mí hình bán nguyệt dưới
10mm có thiếu da
(Hình 15-20) (xem thêm Hình 1-15 và Chương 1). Việc
sửa lại có liên quan đến lớp da dày gần lông mày, có
nguy cơ ít ngụy trang và tăng nguy cơ sẹo phì đại.
A. Bệnh nhân có da thừa. Rất ít khi bệnh nhân còn
đủ da thừa kết hợp với nếp mí hình bán nguyệt cao
15 Các yếu tố cần chỉnh sửa 177
Hiệu quả cải thiện khi sửa lại
nếp mí
Cải thiện đáng kể
Cải thiện đáng kể là cắt bỏ các nếp mí và vết sẹo, và thu
ngắn cơ nâng mi cùng với ghép cân thái dương tự thân,
hoặc Alloderm (ghép da người đã qua xử lí).
Cải thiện một ít
Cải thiện một ít là cắt bỏ các nếp mí và vết sẹo, giải
phóng cơ chỗ dính cơ vòng mí và cố định da với cân cơ
nâng mi.
Cải thiện một ít cũng đạt được bằng cách loại bỏ nếp mí
và vết sẹo và dùng băng dính 1/4 vô trùng vào vết khâu
da. Bảo bệnh nhân tránh nhìn lên trong tuần đầu tiên sau
mổ để tránh co kéo cơ nâng mi.
Cải thiện tối thiểu
1. Cải thiện tối thiểu là đạt được với cắt bỏ các nếp
mí và vết sẹo và dùng các mũi khâu tạo mí dưới da
(đảo ngược Frost sutures).
2. Dùng kéo nhỏ giải phóng các tổ chức dính dưới da
cũng cải thiện tối thiểu.
TÓM LƯỢC CÁC GIẢI PHÁP SỬA LẠI MÍ
Khi phẫu thuật có chuyên môn sâu, kết quả không tốt
mà trước đây không thể giải quyết được có thể được phân
tích hợp lý, nhiều như một nhà hóa-sinh khi phân tích
các yếu tố khác nhau của một phản ứng phức tạp. Khi các
thông số khác nhau có thể được mô tả rõ ràng và chính
xác, có thể lập kế hoạch sửa vấn đề một cách hài hòa. Rõ
ràng, việc điều chỉnh sẽ không bao giờ dẫn đến sự xấu
hơn hiện tại.
Hình 15-21 đưa ra các cách sửa nếp mí, trong đó cột
dọc là các yếu tố chưa tốt xảy ra ở vùng trên nếp mí, vùng
trước vách ngăn (trên mi trên), và hàng ngang là các yếu
tố chưa tốt xảy ra ở vùng bên dưới nếp mí và trước sụn
mi. Vì kết quả chưa tốt hiếm khi xảy ra chỉ một vùng, nên
các giải pháp phẫu thuật được liệt kê trong mỗi ô (ô) hiển
thị hiệu chỉnh cho khu vực trước vách ngăn ở trên cũng
trước sụn mi bên dưới, với nếp mí được chỉ định bởi
đường chấm chấm.
Bảng đã được thiết kế lần đầu tiên khoảng 25 năm
trước và được dùng để chỉ điểm cho những trường hợp
cực mà không có cách nào để chỉnh sửa. Hướng đến mục
tiêu đó, nó vẫn là một sự hướng dẫn hữu ích. Lưu ý rằng
việc sử dụng ghép da dày (FTSG) xung quanh mí mắt chỉ
nên được các phẫu thuật viên có kinh nghiệm thực hiện.
(hơn 10 mm từ bờ mi), có thể thử nhiều cách cho
những bệnh nhân có nếp mí bán nguyệt dưới 10 mm
(xem ở trên).
B. Bệnh nhân bị thiếu da. Thật không may, hầu hết các
bệnh nhân có nếp mí sau phẫu thuật hơn 10 mm do cắt
bỏ da quá mức và ít có khả năng tạo hình. Việc sửa lại đòi
hỏi phải ghép da đầy nguyên lớp (như trên), và bờ trên
của mảnh ghép thì dễ nhìn thấy (tham khảo Chương 18)
SỬA LẠI TOÀN BỘ NẾP MÍ
Thách thức lớn của phẫu thuật viên là gặp những bệnh
nhân mong muốn thực sự cần sửa lại toàn bộ nếp mí. Đối
với những bệnh nhân này tôi có nhiều phương pháp để
sửa lại, một số có kết quả tốt hơn so với trước đó (xem
Chương 16, Trường hợp 31), và chúng được tôi đánh giá
trong phần tiếp theo.
Ghép da dày toàn bộ
Sụn mi trên
178
Asian Blepharoplasty and the Eyelid Crease
Trên
và
Nhiều mí
T h i ếu d a Da bị dính
Sẹo đến cơ nâng mi
Dưới
Giải pháp
Nhiều mí
Ghép mỡ
Sửa lại, cắt lại mí thấp hơn
Giải phóng sẹo dính, sửa
lại theo nếp mí ban đầu
Sửa lại, tạo lại mí
Sửa lại mí
+ ghép da dày
Sửa lại, tạo lại mí
Sửa lại mí
+ ghép da dày
Sửa lại, tạo lại mí
Sửa sụp mi
Sửa lại, tạo lại mí
Thiếu da
Ghép mỡ
Ghép da dày
Giải phóng sẹo dính, sửa
lại theo nếp mí ban đầu
Ghép da dày
Sửa lại mí
+ ghép da dày
Ghép da dày
Sửa lại mí
+ ghép da dày
Ghép da dày trước sụn mi
Sửa sụp mi
Ghép da dày
Sẹo đến
vách ngăn
Ghép mỡ
Rạch da, sửa và
ghép da dày
Giải phóng sẹo dính, sửa
lại theo nếp mí ban đầu
Rạch da, sửa và
ghép da dày
Sửa lại mí
+ ghép da dày
Rạch da
+/-- ghép da dày
Sửa lại mí
+ ghép da dày
Rạch da, sửa và
Ghép da dày
Sửa sụp mi
Rạch da, sửa và
Ghép da dày
Mí cao,
phù nề,
Mắt húp
Ghép mỡ
Sửa lại/nếp mí thấp hơn
Giải phóng sẹo dính, sửa
lại theo nếp mí ban đầu
Sửa lại/nếp mí thấp hơn
Sửa lại mí
+ ghép da dày toàn bộ
Sửa lại/nếp mí thấp hơn
Sửa lại mí
+ ghép da dày toàn bộ
S ửa l ại / n ếp m í t h ấp h ơ n Sửa lại/nếp mí thấp hơn
Sửa sụp mi
Vùng trước sụn
Vùng trước vách ngăn
Hõm mí
15 Các yếu tố cần chỉnh sửa
179
Vùng 1
Vùng 2
Vùng 3
Hình 15-22 cho thấy 3 vùng: trước sụn mi trên,
trước vách ngăn và quanh ổ mắt. Trong vùng trước sụn
mi (vùng 1) gần bờ mi (hang ngang trong hình 15-21),
bao gồm bộ mí cao, loại bỏ da thừa với thiếu da, vết sẹo
thừa trước sụn mi và nhiều nếp mí.
Một nếp mí cao có thể xuất phát từ đường vẽ mí, hay
khâu tạo mí (để chỉ khâu hay cắt bỏ).
Tổn thương cơ cơ nâng mi làm dính cơ nâng mi với
sụn mi trên gây ra nếp mí cao và sụp mi.
Nếu chưa có kinh nghiệm mà lấy bỏ da trước sụn mi
quá nhiều thì sẽ thiếu da, khó đóng vết mổ, mí mắt dễ
bị lộn ra, gây lật sụn mi và bờ mi trên lộn ra ngoài.
180
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
Nhìn lên khó, nếp mí không rõ, có thể sụp mi.
B
A
15 Các yếu tố cần chỉnh sửa
181
Đây là một vấn đề khó khăn, và nếu không được giải
quyết một cách kịp thời thường sẽ phải ghép da.
Cắt bỏ quá mức vùng trước sụn sẽ dẫn đến 2 vấn đề:
sẹo cũng như phù nề lâu dài và hình thành nhiều nếp mí
nông. Đã có các bài báo công bố, tác giả ủng hộ việc cắt
bỏ hoàn toàn mô dưới da và cơ vòng mi, chỉ để lại da và
sụn mi trên. Sau đó là phù nề mãn tính. Giải pháp tiếp
theo là cắt bỏ sẹo, sửa lại mí hoặc ghép da dày (FTSG).
Trong lớn hơn (Vùng 2), nhiều nguy hiểm đang chờ
đợi. Thường thấy nhất là nếp mí cao do loại bỏ mỡ quá
nhiều, tạo ra chỗ lõm trên mí hoặc đôi mắt lõm. Trong 1
thập kỷ qua, sự thích nghi sử dụng mỡ ghép như là một
phương tiện để bổ sung lượng thiếu hụt bằng các báo là
gây xơ cứng không thể đoán trước và phì đại mỡ ghép.
Kỹ thuật ghép mỡ tự thân đã có những tiến bộ và duy trì
duy trì tính bền vững của các mảnh ghép mỡ, mặc dù tỷ
lệ hình thành u cục không mong muốn vẫn xảy ra.
Dùng axit hyaluronic (Juvederm, Restylane) đã được
phổ biến; tuổi thọ cũng tăng dần với các sản phẩm như
Radiesse (có chứa microspheres và canxi), kéo dài đến
9->12 tháng. Tuy nhiên, tôi có cảm nhận rằng những sản
phẩm này cũng cản trở sinh động học của mí mắt do lực
kháng cơ học.
Hình thành nhiều nếp mí thường có thể được sửa
chữa nếu có đủ da để sửa. Giải phóng sẹo dính cùng với
làm lại mí là nhiệm vụ bắt buộc.
Tình trạng thiếu da do cắt bỏ da quá mức, có thể dẫn
đến mắt hở mi khi nhìn xuống cũng như sụp mi.
Ghép da là cần thiết để bảo vệ mắt nếu thiếu da là
đáng kể và gây cản trở việc nhắm mắt và cơ chế bảo vệ
mắt khi ngủ.
Phẫu thuật quá mức hoặc xử lý thô bạo vùng trước sụn
mi có thể dẫn đến sẹo lồi cao ở tại vết mổ và dính với cơ
nâng mi bên dưới.
Tạo sẹo trên vùng da di động (vùng trước cân cơ nâng
mi) dẫn đến da chuyển động không khớp với cơ nâng mi
bên dưới.
Có thể gặp một mảng mô sẹo không di động nằm ở
vùng trước vách ngăn, và không thể nhấc lớp da phía
trước lên khỏi tổ chức phía sau. Người ta thấy không có
nếp mí cũng như tình trạng sụp mi do dính cơ nâng mi
(Hình 15-23). Cắt bỏ sẹo và bằng ghép da (chỗ thiếu da),
cùng với giải phóng chỗ dính và sửa lại cơ nâng mi, có
thể thực hiện dựa trên đánh giá trong lúc phẫu thuật.
Trong một số trường hợp khi áp dụng, kỹ thuật mới
để sửa lại thì được mô tả trong Chương 18, có thể dùng
mảnh da mới và đặt lại thấp hơn nếp mí cao bất thường.
Đây không phải là biến chứng duy nhất mà chúng ta
gặp. Phân tích chi tiết về từng phần của giải pháp trong
Hình 15-21, đi xa hơn mục đích mà tôi hình dung là tài
liệu cơ bản. Nó sẽ phụ thuộc rất nhiều vào các tính năng
trình bày độc đáo của mỗi người.
Giải phóng tổ chức dính và thiết lập lại chiều cao nếp
mí đòi hỏi kiến thức và kỹ năng lâm sàng, như với bất kỳ
can thiệp nào. Mỗi trường hợp sẽ yêu cầu đánh giá cẩn
thận, cân bằng lợi ích trước và sau phẫu thuật và sự hiểu
của biết lẫn nhau bệnh nhân về các bước liên quan đến
việc điều chỉnh vấn đề hiện tại. Đôi khi các giải pháp có thể
cải thiện về một vấn đề ở mức độ chấp nhận được, thoải
mái cho bệnh nhân. Một cuộc thảo luận toàn diện cũng
như sự đồng ý của bênh nhân về kết quả không lường
trước được khi sửa lại là một thói quen thực hành tốt.
FURTHER READING
Chen WPD. Management of the eyelid crease: advanced techniques.
In: Chen WPD, Khan J. Color atlas of cosmetic oculofacial surgery
(with DVD), 2nd edn. Philadelphia: Elsevier Science/Saunders; 2010:
ch 15.
183
Chương này minh họa những hình ảnh sửa lại (kết quả
chưa tốt), tất cả các phương pháp phẫu thuật trước
đó gồm phương pháp chỉ khâu vùi và / hoặc phương
pháp rạch da.
Sự tương phản giữa mí mắt người châu Á và người
châu Âu, và sự đa dạng ngay cả trong số người châu
Á, là những gì làm cho phẫu thuật mí mắt người châu
Á như một nghệ thuật thú vị và đầy thử thách.
Vùng da bị trắng ra sau khi gây tê tại chỗ cho bệnh nhân khi sửa lại mí. Da chặt hơn và ít lan rộng thuốc tê ra
xung quanh.
SỬA LẠI MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP
CHƯA TỐT
184
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
Nữ 25 tuổi, đã từng phẫu thuật trước với nếp mí cao và hình dạng bất đối xứng. (A) Trước và (B) sau khi sửa lại
A
B
Nữ 22 tuổi, đã phẫu thuật mí lúc 10 tuổi. (A) Bị lông quặm (lông mi chọc vào trong) mí trên. (B, C)
Xem sau phẫu thuật.
A
B
C
16 Sửa lại một số trường hợp chưa tốt 185
Nam 32 tuổi, đã áp dụng phương pháp khâu tạo mí. (A) Mắt P: có nếp mí da và mắt T không nếp mí. Trong
quá trình sửa lại, nếp mí làm lại 7 mm.
(B) Ảnh sửa lại sau.
A
B
Nữ 47 tuổi, đã dùng phương pháp rạch da và lấy bỏ da thừa. Cô ta thích nếp mí rõ hơn. (A) Trước và
(B) sau sửa lại.
A
B
186
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
Nữ 23 tuổi, đã mổ 4 lần. Mắt T không nếp mí. Mong muốn nếp mí giảm dần ở mũi. (A) Trước và (B) sửa lại sau.
A
B
Nữ 48 tuổi, mắt T có sụp mi. (A) Trước và (B) sau khi sửa lại nếp mí, kết hợp với chỉnh sửa sụp mi mắt trái.
A
B
16 Sửa lại một số trường hợp chưa tốt 187
Nữ 22 tuổi, đã phẫu thuật theo phương pháp rạch da. Cả hai bên mí đều thấy sẹo.
A
B
Nữ 45 tuổi, đã mổ theo phương pháp khâu vùi và 2 nếp mí mắt T (A) Trước khi sửa lại và (B) 7 ngày sau khi
sửa lại 2 bên, sưng bình thường.
A
B
188
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
Nữ 55 tuổi, có nếp mí cao vừa phải. (A) Trước và (B) sau khi sửa lại để giảm nếp mí cả hai bên.
A
B
16 Sửa lại một số trường hợp chưa tốt
189
Người phụ nữ trẻ không nếp mí, hoặc nếp mí rất thấp nằm ở phần trước sụn. Ảnh cho thấy mí mắt, thường
thấy mặc dù đã phẫu thuật theo phương pháp khâu vùi cách đây 10 năm.
A
B
C
190
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
Nữ (A) 22 tuổi, có nếp mí cao, hình bán nguyệt. Có những đường mí thừa, với da bên mắt T ít.
(B, C) Tỷ lệ trước sụn/ trước vách ngăn là gần như 1: 1.
Sau khi sửa lại (D), đặt lại nếp mí ở vị trí thấp hơn và chuyển sang hình dạng nếp mí song song.
A
B
C
D
16 Sửa lại một số trường hợp chưa tốt
191
Nữ 55 tuổi, có nếp mí cao: Mắt P là 9 mm, mắt T là 10 mm.
(A) Trước và (B) sau sửa lại: 7 mm chiều cao mí. Nếp mí bây giờ trông tự nhiên hơn.
A
B
Người phụ nữ trẻ mí cao. (A) Lưu ý Tỷ lệ trước sụn/ trước vách ngăn là gần như 1:1. Sụp mi và nhìn lên bị hạn
chế, cũng như hở mi. (B) Hai tuần sau sửa lại và làm lại chiều cao mí. Hết sụp mi và chiều cao nếp mí sẽ giảm
dần sau vài tháng. Tỷ lệ tỉ lệ trước sụn/trước vách ngăn cải thiện đáng kể. (Bệnh nhân quay trở về nhà ngay sau
đó.)
A
B
192
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
Bệnh nhân đã tạo mí. (A) Lưu ý: nếp mí không hợp nhất thành nếp ở góc trong. 1/3 trong vẫn còn nếp mí
cũ, dẫn đến nếp mí 2 bờ.
(B) Mắt P: Độ phóng đại cao hơn.
A
B
16 Sửa lại một số trường hợp chưa tốt
193
Nữ 50 tuổi, mắt T bị liệt thần kinh VII và đã phẫu thuật tạo mí. Lưu ý mắt nhắm không kín do liệt thần kinh VII,
tiếp xúc với nhãn cầu.
A
B
Nữ 35 tuổi, đã cắt bỏ mỡ nhiều gây hõm phần trên sụn mi. Lưu ý nếp mí hình thành không đầy đủ và hõm mí
trên.
194
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
Nữ sinh viên đại học đã phẫu thuật tạo mí (A) Mắt T nếp mí cao, mắt P nếp mí phân đoạn và sẹo ở nửa ngoài
nếp mí. Tôi đề nghị sửa lại nếp mí bên phải, và sửa lại nếp mí T thấp hơn. Cô ta yêu cầu chỉ sửa mắt P. Phẫu
thuật tạo hình mí đôi người châu Á dựa trên chiều cao sụn mi ở mắt bên P, sẹo cũng được cắt bỏ (B). (C) Một
tuần sau phẫu thuật.
A
B
C
16 Sửa lại một số trường hợp chưa tốt
195
Nếp mí chưa hoàn chỉnh và mí 2 nếp: 1/3 trong thì nếp mí không hình thành. Mí P: nếp mí phân tách rất rõ.
Bệnh nhân có nếp mí không đối xứng. Mắt P: nếp mí quá gần với bờ mi, và sẹo kéo xuống tới mặt trước sụn
mi. Nếp mí trên bên trái: cao, chắc, và hình bán nguyệt.
A
B