9 Phẫu thuật tạo mí II: Vector thứ 2
93
5. Chen WPD. Review of Aguilar G. Complications of oriental
blepharoplasty. In: Mauriello J, ed. Management and avoidance of
complications of eyelid surgery. Vol. 3. Philadelphia: Field &
Wood; 1994.
6. Sayoc BT. Plastic construction of the superior palpebral fold. Am
J Ophthalmol 1954;38:556–559.
7. Hayashi K. The double eyelid operation. Jpn Rev Clin Ophthalmol
1938;33:1000–1010 (Part 1) and 33:1098–1110 (Part 2).
8. Fernandez LR. Double eyelid operation in the Oriental in Hawaii.
Plast Reconstr Surg 1960;25(3):257–264.
9. Inoue S. The double eyelid operation. Jpn Rev Clin Ophthalmol
1947;42:306.
10. Mitsui Y. Plastic construction of a double eyelid. Jpn Rev Clin
Ophthalmol 1950;44:19.
11. Sayoc BT. Anatomic considerations in the plastic construction
of a palpebral fold in the full upper eyelid. Am J Ophthalmol
1967;63:155–158.
12. Collin JR, Beard C, Wood I. Experimental and clinical data on the
insertion of the levator palpebrae superioris muscle. Am J Ophthal-
mol 1978;85:792–801.
13. Chen WPD. Concept of triangular, rectangular and trapezoidal
debulking of eyelid tissues: application in Asian blepharoplasty.
Plast Reconstr Surg 1996;97(1):212–218.
14. Chen WPD. The concept of a glide zone as it relates to upper lid
crease, lid fold and application in upper blepharoplasty. Plast
Reconstr Surg 2007;119(1):379-386.
15. Chen WPD. Beveled approach for revisional surgery in Asian
blepharoplasty. Plast Reconstr Surg 2007;120(2):545–552.
16. Chen WPD, Khan J. Color atlas of cosmetic oculofacial surgery
(with DVD), 2nd edn. Philadelphia: Elsevier Science/Saunders;
2010.
KHÂU TĂNG CƯỜNG NẾP MÍ: CỐ
ĐỊNH MŨI KHÂU (Hình 9-8)
Để tăng cường làm sâu thêm nếp mí, người ta có thể áp
dụng ba mũi khâu Vicryl 5. 0 để xuyên từ tổ chức dưới
mép da đến dọc bờ trên sụn mi (áp dụng ở 1/3 trong, 1/3
giữa và 1/3 ngoài của mí mắt) để đóng da cho đều. Các
mũi khâu này buột bên ngoài. Sau 1 tuần, mỗi mũi khâu
cắt sát da và chôn vào dưới da. Phương pháp rất tốt vì
không bị phản kích thích mi mắt.
FURTHER READING
1. Chen WPD. Asian blepharoplasty. Ophthal Plast Reconstr Surg
1987;3(3):135–140.
2. Chen WPD. Insights from a series of Asian blepharoplasty.
Presented at the Annual Scientific Symposium of the American
Society of Ophthalmic Plastic and Reconstructive Surgery,
Atlanta, Georgia, 1990.
3. Chen WPD. A comparison of Caucasian and Asian blepharoplasty.
Ophthalmic Pract 1991;9(5):216–222.
4. Chen WPD. Upper blepharoplasty in the Asian patient. In:
Putterman AM, ed. Cosmetic oculoplastic surgery, 2nd edn.
Philadelphia: WB Saunders; 1993: ch 11.
95
PHẪU THUẬT TẠO HÌNH MÍ NGƯỜI CHÂU
Á III: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN KẾT QUẢ
CHƯƠNG 10
TẠO THIẾT KẾ TỐI ƯU
Theo tôi, phẫu thuật tạo nếp mí giảm dần ở mũi thì
dễ hơn nếp mí song song. Hầu hết người châu Á, khi
sinh ra thì có nhiều dạng nếp quạt mắt nhưng không có
nếp mí. Do đó, không cần thiết phải cắt bỏ toàn bộ nếp
quạt mắt để thiết kế một nếp mí giảm dần ở mũi, nhưng
đủ để làm giảm nếp quạt mắt nơi bắt đầu của nếp mí.
Đối với người muốn có nếp mí song song, cần phải
thực hiện triệt để loại bỏ nếp quạt mắt: bao gồm da và
các mô dưới da là chưa đủ, hoặc hình thành nếp mí ở góc
trong thì không rõ. Phải đính tạo mí ở cuối góc trong để
tạo nếp mí song song là cần thiết.
TẠO HÌNH NẾP QUẠT MẮT
Thuật ngữ tạo hình nếp quạt góc trong thường được đề
cập về phẫu thuật mí mắt châu Á và nói lên mối quan tâm
của phẫu thuật viên về tạo nếp mí đơn thuần sẽ không đủ.
Nguồn gốc của thuật ngữ này có liên quan đến nếp quạt
mắt bất thường được thấy ở bệnh nhân hẹp khe mi hoặc
những người có hội chứng Down. Giải pháp phẫu thuật
thường liên quan đến tạo hình V-Y hoặc tạo hình chữ W
với nhiều bước ở bệnh nhân có bệnh bất thường bẩm sinh
nếu không được điều trị và do đó các vết sẹo phẫu thuật
có thể là ít hơn.
Nếu tạo hình nếp quạt mắt thực sự như được mô tả trong
y văn trước kia cho những bệnh bất thường hay được
thực hiện ở một người châu Á bình thường khác, nguy cơ
có thể nhìn thấy sẹo lớn hơn so với cơ hội thẩm mỹ thu
được, vì thường nếp mí nhỏ có thể được xử lý dễ dàng
thông qua việc cắt bỏ da của nếp mí và tạo hình góc mắt
trong ở người châu Á. Hầu hết các bác sĩ phẫu thuật, bao
gồm cả tác giả hiện tại, đều nhận thức được điều này và
chỉ đơn giản là thực hiện việc giảm nếp mí, không gợi lên
‘tạo hình nếp quạt mắt’ cho những bước nhỏ này. Một số
ít thực sự thực hiện hoặc thực hiện toàn bộ phẫu thuật
có nguy cơ thấy sẹo rất rõ. Những người thực hiện cắt tỉa
nhỏ nhưng dù sao gọi thủ thuật ‘tạo hình góc mắt trong’
đang sử dụng thuật ngữ này theo nghĩa rất rộng và có thể
duy trì thông tin sai lệch giữa các bệnh nhân và các bác sĩ
phẫu thuật.
ĐỘ SÂU CỦA NẾP MÍ
Để kiểm soát độ sâu của nếp mí phẫu thuật thì liên quan
đến việc đính da vào bờ trên sụn mi, cơ nâng mi, cơ vòng
mi, hoặc chỉ mô dưới da; và có thể sử dụng bất kỳ chỉ
khâu không tiêu để cố định vĩnh viễn, hoặc cắt bỏ sau
phẫu thuật. Bảng 10-1 cho thấy một đề xuất hợp lý để
kiểm soát tạo nếp mí thay đổi từ sâu đến nông.
BẢNG 10-1 : 9 độ sâu của nếp mí
Level
Mô tả
Level VIII
Đóng da (khâu vùi, khâu ép tạo mí).
Level VII
Da dưới da - sụn mi-da (khâu vùi; nếp mí tĩnh)
Level VI
Da dưới da-cân cơ nâng mi-da (nếu khâu vùi).
Level V
Khâu cố định bờ dưới cơ vòng mi-cơ nâng mi (khâu vùi, chỉ tiêu).
Level IV
Da - sụn mi - da (cắt chỉ).
Level III
Da-cân cơ nâng mi-da (cắt chỉ, tạo ra nếp mí động).
Level II
Da-vách ngăn/cơ nâng mi-da (tỷ lệ thất bại cao hơn mức III).
Level I
Da-cơ vòng mi-da (cắt chỉ, nếp mí mờ hay không có nếp mí).
Level 0
Da-da (cắt chỉ, không nếp mí).
96
Phẫu thuật tạo mí mắt người châu Á
Trước tiên, sụp mi phải xác định chính xác. Những
người có cơ nâng mi không được tốt thì nên cho
họ biết trước là vấn đề tạo nếp mí động sẽ khó
khăn bằng phẫu thuật rạch da. Tuy nhiên, phương
pháp rạch vẫn là lựa chọn tốt hơn trong việc tạo
nếp mí ở những người có cơ nâng mi không tốt.
8. Những người có nếp mí cao (khi mở mắt), muốn
làm nhỏ lại thì đơn giản hơn.
9. Những người có mắt nhỏ thì họ không thích nếp
mí cao hơn bình thường. Vấn đề quan trọng là xem
họ có bị sụp mi, hay cơ nâng mi yếu hay không.
Khi mổ tạo mí, nên dùng Vicyl (tiêu chậm vài tuần)
khâu bờ dưới của cơ vòng mi vào cơ nâng mi.
10. Những người có cơ vòng mi khỏe sẽ dễ bị chảy
máu và sưng nề dọc theo cơ vòng mi. Những
bệnh nhân như vậy cần phải kiểm tra thường
xuyên khi kết quả sưng làm méo lệch nếp mí và
dẫn đến vị trí nếp mí không tốt, cũng như tạo ra
quá trình phục hồi. Máu tụ có thể ảnh hưởng đến
chức năng cơ nâng mi trong giai đoạn sau mổ
nếu tụ máu nhiều.
THAY ĐỔI
Bệnh nhân người cao tuổi châu Á, có hoặc không có
nếp mí, có thể biểu hiện với da thừa đơn thuần, da thừa
với mỡ thừa, hoặc da thừa với sụp mi. Đánh giá những
thay đổi liên quan đến lão hóa có thể phát hiện tình
trạng sụp mi nhẹ, thừa da, mất lớp mỡ tự nhiên và nếp
mí phủ qua bờ mi (Hình 10-1). Khi da mất độ đàn hồi thì
sẽ xuất hiện nếp nhăn. Những yếu tố bổ sung sẽ có các
kỹ thuật làmthêmvà biện pháp phòng ngừa cần được
thực hiện trong việc xử lý các yếu tố kết hợp ở bệnh
nhân cao tuổi.
Như được tóm tắt trong Hình 10-2, trong một bệnh
nhân người cao tuổi châu Á có nếp mí và:
1. Da thừa đơn thuần: được sửa chữa bằng cách bảo
tồn nếp mí, và thực hiện một phẫu thuật tạo mí có
cắt bỏ da.
2. Da thừa với mỡ thừa: được xử lý tốt nhất bằng
cách bảo tồn nếp mí và thực hiện phẫu thuật tạo mí
với cắt bỏ vừa đủ tổ chức mỡ dọc bờ trên sụn mi
để cho phép tạo nếp mí (lấy bỏ mỡthừa phụ thuộc
khoang trên sụn mi).
3. Da thừa với sụp mi-nếp thường di chuyển lên
trên; bố trí lại nếp mí dựa vào
KIỂM SOÁT PHẪU THUẬT TẠO MÍ,
PHƯƠNG PHÁP RẠCH DA
1. Vị trí để tạo nếp mí. Rạch da bắt đầu ở góc mắt
trong, có thể chỉ có các mô xơ hoặc sợi cân hơn là
cân cơ nâng mi. Có thể không có bất kỳ sợi cơ nào
để khâu vào. Trong trường hợp này này, khâu
qua tổ chức sợi tới sụn mi trong, vị trí tùy thuộc
vào hình dạng nếp mí mong muốn. Tương tự như
vậy ở phía ngoài, có các sợi của cơ nâng mi không
phân biệt được, nó hòa lẫn với vỏ xơ. Một lần nữa,
khâu vào tổ chức sợi ở bờ trên sụn mi.
2. Chảy máu dọc theo cơ nâng mi. Chúng tôi đã đề
cập đến sự hiện diện cung động mạch trên sụn mi,
một biến thể của động mạch tuyến lệ, cũng như
động mạch cân-vách ngăn ngoài, tất cả đều có thể
gây ra chảy máu bất ngờ nếu xiên kim qua cân cơ
nâng mi ở gần bờ trên sụn mi (cho dù đơn giản là
khâu nhẹ trên bề mặt trước hoặc khâu buột toàn
bộ độ dày của cân cơ nâng mi). Khi xảy ra chảy
máu, phải thận trọng cố gắng kiểm soát các mao
mạch hoặc khối máu tụ trước khi làm bước tiếp
theo.
3. Phần còn lại của cơ vòng mi dọc theo bờ dưới của
vết rạch gây cản trở để hình thành nếp mí. Điều
này có thể ít cắt bỏ vuông góc hơn (vector thứ hai)
vạt da-cơ vòng mi, để lại phía sau cơ vòng mi vẫn
phủ lên bờ trên sụn mi tại bờ rạch dưới. Nó nên
được cắt tỉa. Nhìn thấy cơ vòng mi nơi nó hòa lẫn
với tổ chức mỡ xơ-sợi. Cắt bỏ bớt một ít ở mép
vết mổ trên và mép vết mổ dưới.
4. Lớp mỡ. Lớp mỡ trước cơ nâng mi có thể lấn
xuống dọc theo bờ trên sụn mi cũng như phần
dưới mặt phẳng trước cân cơ nâng mi. Ở đây, lớp
mỡ được cắt tỉa qua đường rạch da hay dùng đầu
đốt lưỡng cực để đốt teo lớp mỡ, hoặc ghép bố trí
lại ở phần trên nếp mí cho đều. Điều quan trọng
không nên lấy bỏ hoàn toàn túi mỡ.
5. Nếu đính tạo nếp mí quá cao, sẽ được đề cập
trong Chương 21 về hiệu ứng Faden.
6. Thay đổi đường vẽ. Đường vẽ có thể lên cao hơn
dẫn đến đường rạch da cao hơn, vì thế nên liên
tục đo bằng thước trong khi mổ.
7. Khi bệnh nhân cơ tiềm ẩn sụp mi chưa phát hiện ra
(mí mắt sụp xuống); trước khi phẫu thuật không
phát hiện được cơ nâng mi bám lệch dọc bờ trên
sụn mi. Các nếp mí sẽ không có nếp gấp đều dọc
theo bờ trên sụn mi.
10 Yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật tạo mí III
97
Hình 10-1 ■ Người phụ nữ cao tuổi có biểu hiện sụp mi nhẹ,
hõm mí trên, dư thừa da và nếp mí phủ qua bờ mi.
Chiều cao của sụn mi bằng cách sử dụng kỹ thuật
tạo hình mí người Châu Á, với cắt bỏ da cộng với
thu ngắn cơ nâng mi (cắt bỏ và / hoặc thu ngắn).
Khi bệnh nhân người cao tuổi châu Á không có nếp
mí, có tùy chọn thêm nếp mí:
1. Da thừa đơn thuần: tạo hình mí Châu Á với cắt bỏ
các da thừa và tạo ra một nếp mí (nếu bệnh nhân
mong muốn có nếp mí).
2. Da thừa với mỡ thừa: tạo hình mí Châu Á với cắt
bỏ da thừa và tạo nếp mí và cắt tỉa mỡ sao cho đủ
để hình thành nếp mí.
3. Da thừa với sụp mi: chỉ rạch để tạo hình mí châu
Á, với việc tạo ra một nếp mí, cộng với thu ngắn cơ
nâng mi (cắt bỏ và/hoặc thu ngắn).
Khi bệnh nhân người cao tuổi châu Á không có nếp
mí sẵn có và thích giữ lại những nếp đang có:
1. Da thừa đơn thuần: cắt bỏ da tạo hình mí và đóng
da mà không tạo nếp mí.
2. Da thừa với mỡ thừa: cắt bỏ da tạo hình mí, cắt bỏ
mỡ tối thiểu và đóng da mà không tạo nếp mí.
3. Da thừa với sụp mi: cắt bỏ da tạo hình mí cộng với
thu ngắn cơ nâng mi (cắt bỏ và/hoặc thu ngắn) và
đóng da mà không tạo mí.
Khi bệnh nhân không có nếp mí muốn nếp mí và có sụp
mi, điều quan trọng là sửa chữa sụp mi trước, vì cơ nâng
mi cần có chức năng đầy đủ (chức năng) và khả năng co
cơ nâng mi là cơ hội hợp lí để tạo mí. Nếu phương pháp
khâu (chôn vùi) được sử dụng ở một người nào đó có
sụp mi, nó sẽ đơn giản làm nặng thêm sụp mi, cũng như
không tạo thành một nếp mí.
CÁCH TẠO ĐỘ SÂU NẾP MÍ
Cách đây một thế kỷ, những người tiên phong trong
lĩnh vực này được công bố trong các y văn Nhật Bản,
làm thế nào họ thay đổi chiều sâu bằng cách sử dụng
các mũi khâu cỡ lớn hơn và/hoặc để các mũi khâu lại
lâu hơn sau phẫu thuật. Ngày nay, các chỉ khâu chúng ta
sử dụng tinh tế hơn (6. 0 đến 7. 0) và thực sự nó có thể
để lại lâu ngày hơn để hình thành nếp mí. Trong thực tế
của tôi, nếu đôi khi sau khi cắt bỏ một nửa các mũi khâu
có thể cảm thấy rằng nếp mí có thể được cải thiện, các
mũi khâu còn lại được để trong 2-3 ngày tiếp theo. Các
yếu tố cần phải cân bằng này thực tế là sẽ có nhiều mũi
khâu bị phản ứng và kích ứng, mặc dù điều này có thể
dễ dàng khắc phục bằng cách sử dụng thuốc mỡ kháng
sinh/kháng viêm tại chỗ.
TẬP CƠ MẮT (nhắm mở)
Bệnh nhân có thể rất nhạy cảm và theo dõi với chỉ khâu tại
chỗ, họ sợ mí mắt không mở được. Tuần đầu tiên, không
tập cơ nâng mi. Ngày thứ 3 sau mổ, tôi khuyến khích bệnh
nhân nên nhắm mở mắt bình thường kể cả nhìn lên. Cơ
nâng mi sẽ thích nghi với chức năng mới là bám vào dọc
bờ trên sụn mi. Phải học yếu tố thần kinh cơ. Kết quả nếp
mí cuối cùng sẽ tự nhiên và mí động.
CHĂM SÓC TẠI CHỖ, ĂN KIÊNG
Việc chăm sóc vết thương bắt buộc thường áp dụng:
làm sạch, tránh ánh mặt trời trực tiếp trên vết mổ - mà
một trong những mong muốn lành vết thương sau mổ.
Có một loạt các đề xuất về chế độ ăn uống dọc theo các
dòng y học cổ truyền Trung Quốc có thể áp dụng cho
một số người Châu Á nhiều hơn những người khác.
98
Phẫu thuật tạo mí mắt người châu Á
Hình 10-2 ■ Dạng lâm sàng của tạo hình mí người châu Á lớn tuổi. (Chen WP: 221, Hinh 15-18. )
Mí mắt người châu Á lớn tuổi
Có nếp mí
Không nếp mí
Có da thừa
Có da thừa
+ mỡ
Có da thừa
+ sụp mi
Phẫu thuật tạo
mí bằng rạch da,
bảo tồn nếp mí
Da + lấy bỏ ít mỡ,
bảo tồn nếp mí
Thu ngắn cơ nâng
mi, tạo lại chiều cao
nếp mí
Giữ không nếp mí
Bệnh nhân muốn nếp mí
Da thừa
Da thừa
+ Mỡ
Da thừa
+ sụp mi
Da thừa
Da thừa
+ mỡ
Da thừa
+ sụp mi
Tạo hình mí
người châu Á +
tạo nếp mí
Tạo hình mí
người châu Á,
rạch da lấy ít
mỡ,
+ tạo nếp mí
Tạo hình mí người
châu Áthu ngắn cơ
nâng mi, + tạo nếp
mí
Tạo hình mí
người châu Á
Tạo hình mí
người châu Á,
rạch da lấy ít
mỡ
Tạo hình mí
ngườI châu Á
+ thu ngắn cơ
nâng mi
99
QUAN NIỆM CẮT DA HÌNH TAM
GIÁC, HÌNH THANG, HÌNH CHỮ NHẬT-
ỨNG DỤNG TRONG PHẪU THUẬT TẠO
HÌNH MÍ
Chương này đề cập đến kỹ thuật được tác giả sử dụng
để tạo nếp mí trên từng bệnh nhân riêng: bằng cách lấy
bỏ các tổ chức thừa (định hướng đúng để loại bỏ các lớp
khác nhau cho vết mổ tự nhiên), độ căng của sẹo là nhỏ
nhất, và hoàn thành kỹ lưỡng từng thao tác sẽ giảm sưng
sau phẫu thuật. Các bước có thể áp dụng cho bất kỳ kiểu
tạo mí trên nào, cho dù mổ mới hoặc sửa lại, ở người
châu Á hoặc không phải người châu Á.
Trong các lần xuất bản trước, 1-6 tôi đã thảo luận khái
niệm hình dạng nếp mí trên và các bước cần thiết để có
thể dự đoán được nếp mí cho bệnh nhân mắt một mí.
Phương pháp này dựa trên đo chiều cao ở giữa sụn mi
trên rất chính xác, sử dụng nó để định hướng vị trí của
đường rạch bên ngoài để tạo nếp mí. Như đã được đề cập
trong các chương trước, nếp mí lý tưởng có xu hướng là
dạng nếp mí giảm dần ở mũi hoặc dạng nếp mí song song.
Nếp quạt mắt thường là 1 phần của nếp mí người châu
Á, cho dù chúng có nếp mí hay không, và không nên xem
là bệnh lý và không loại bỏ triệt để.
QUY TRÌNH
PHẪU THUẬT
Vẽ
Tôi hay dùng cây tăm nhúng vào xanh methylen để
vẽ tạo nếp mí. Gây tê từ 0, 5 và 0, 75 ml thuốc tê vào mí
mắt trên vài phút trước đó. Tôi lật mí trên ra và đo chiều
cao của sụn mi trên ở giữa của nếp bằng thước caliper.
Đo chiều cao nếp mí thường từ 6, 5 đến 7, 5 mm. Ghi lại
cẩn thận lên da, ở giữa của da mí mắt. Điểm này nằm trực
tiếp trên bờ trên sụn mi và sẽ đóng vai trò là điểm tham
chiếu cho chiều cao nếp mí dọc theo 1/3 giữa của mí mắt,
cho dù hình dạng nếp mí là giảm dần ở mũi, song song
hay bị hếch lên phía ngoài. Đối với những bệnh nhân có
nếp mí, tôi cũng đo sụn mi để xác định lại nếp mí mà tôi
đang thấy.
- nếu tôi có kế hoạch bảo tồn hoặc làm lớn nếp mí - thực
sự là đường mí chính xác để phẫu thuật. Nếu nếp mí
giảm dần ở mũi, tôi đánh dấu 1/3 trong của đường rạch
da đến góc mắt trong hoặc nơi bắt đầu của nếp gấp mí ở
góc mắt. 1/3 ngoài thì ngang bằng hoặc nhếch lên một tí.
Đối với một nếp mí song song, chiều cao đo bằng với bờ
trên sụn mi. Tóm lại, chiều cao của sụn mi xác định vị trí
ở giữa của nếp mí cần phẫu thuật; hình dạng được xác
định bằng cách thiết kế 1/3 trong và 1/3 ngoài theo sở
thích của bệnh nhân (Hình 8-4 và 8-5).
Rạch / Cắt da
Để tạo độ dính thích hợp, cần phải loại bỏ da và mô
dưới da. Một dải da đo khoảng 2 mm ở trên và song
song với đường rạch dưới. Trong trường hợp bệnh nhân
muốn có nếp mí giảm dần ở mũi, tôi sẽ mổ đường rạch
trên hướng vào góc mắt trong hoặc kết hợp với bất kỳ
nếp mítrong nào đã có sẵn. Kết quả là, cắt bỏ da ở phần
trong của mí thường ít hơn 2 mm so với phần giữa. Dùng
dao mổ số 15 rạch da theo 2 đường vẽ sẵn, chỉ rạch tới
tổ chức dưới da. Dùng đầu đốt lưỡng cực để cầm các mao
mạch (Dùng kéo cắt bỏ dải da theo đường rạch trên và
dưới, hoặc tốt hơn là cắt bỏ đi sau khi mở vách ngăn dọc
theo vết rạch và vạt vách ngăn - cơ vòng mi được chuyển
xuống dưới dọc theo bờ trên sụn mi, xem bên dưới). Việc
cắt bỏ một dải da là không cần thiết trong mọi trường
hợp; tuy nhiên, tôi tin rằng nó tạo điều kiện loại bỏ các
tổ chức phụ không cần thiết, do đó cho phép tạo nếp mí
đầy đủ hơn (Hình 8-6).
Mở vách ngăn
Lúc này, bờ trên sụn mi bị phủ bỡi phần cơ vòng mi
trước sụn, phần cuối cùng của vách ngăn và mặt trước
của cơ nâng mi hòa lẫn với vách ngăn.
100
Phẫu thuật tạo mí mắt người châu Á
Bên cạnh mũi khâu ở giữa nếp mí, khâu thêm hai hoặc
ba khâu bên trong và ngoài. Với 5 hoặc 6 mũi khâu tạo
mí như vậy, phần còn lại khâu liên tục bằng nylon 6-0
hoặc 7-0 (Hình 9-7 A - D).
QUAN NIỆM CẮT BỎ TỔ CHỨC HÌNH
TAM GIÁC, HÌNH THANG VÀ HÌNH CHỮ
NHẬT
Trong quy trình tạo mí đôi bằng phương pháp rạch da,
để lại các mô trước bờ trên sụn mi sẽ can thiệp vào việc
hình thành nếp mí sau phẫu thuật. Có nhiều kỹ thuật lấy
bỏ da với cơ vòng mi8, 9, da với lớp mỡ trước sun, 10 và
da với cơ vòng mi và vách ngăn và túi mỡ11, 12cố gắng tạo
được mặt phẳng rõ ràng cho hình thành sự kết dính các
sợi của cơ nâng mi và các tổ chức dưới da.
Lấy bỏ tổ chức hình tam giác và hình thang cho phép
làm sạch toàn bộ và đồng nhất tổ chức trước cân cơ nâng
mi dọc theo bờ trên sụn mi và và mặt phẳng trước sụn.
Hình 11-1: mí mắt trên của châu Á không nếp mí. Cho
thấy:
1. Khi cắt bỏ da (<2 mm) được thực hiện tiếp với vị
trí nếp mí, kéo bờ da trên lên sẽ thấy mặt phẳng
nghiêng qua cơ nâng mi ở bờ trên sụn và một phần
vách ngăn (người châu Á không có nếp mí, vách
ngăn ổ mắt thường được hợp nhất với bán tận cân
cơ nâng mi nằm cao hơn 2-4 mm so với bờ trên
sụn mi, và nó có thể thấp chỉ đến một nửa chiều
cao của sụn mi). Vách ngăn và túi mỡ nhìn thấy rõ
ràng.
2. Vách ngăn mở theo chiều ngang. Hình thang của
mô trước cân cơ nâng mi (xem mặt phẳng cắt
ngang) bao gồm túi mỡ tối thiểu, vách ngăn, cơ
vòng mitrên sụn, mỡ dưới da và da nằm phủ qua
(2 mm), tất cả đều giấu bên dưới nằm dọc theo bờ
trên sụn mi và có thể cắt đi. Bề mặt phía trước của
hình thang bao gồm: da, phần sau của hình thang
thì rộng hơn và bao gồm tất cả các mô trước cân
cơ nâng mi từ vách ngăn đến bờ trên sụn mi.
3. Cắt tỉa một dải nhỏ cơ vòng mi ở bờ dưới vết mổ.
Cắt hình thang thì nếp mídễ cuộn vào bên trong về
phía cân cơ nâng mi,
Để mở vách ngăn, tôi kéo bờ trên vết mổ lên trên và sử
dụng đầu đốt đơn cực cắt hơi xiên lên trên qua cơ vòng
mi và vách ngăn dọc theo dường rạch trên. Ở người châu
Á, vách ngăn ổ mắt chỉ cao hơn 2-3 mm so với bờ trên
sụn mi. Dễ dàng mở ra, lộ các túi mỡ (hình 8-7).
Cắt bỏ Cơ vòng mi và Vách
ngăn (Hình 9-5)
Sau khi vách ngăn được mở theo chiều ngang, dải da,
cơ vòng mi trên sụn và vách ngăn được lật xuống dọc
theo bờ trên sụn mi. Gồm khoảng 2-3 mm da, cơ vòng
mi trước sụn và một ít vách ngăn (cắt hình thang các tổ
chức trước cân cơ nâng mi).
Túi mỡ
Tùy thuộc vào mức độ đầy của mí trên, dùng kéo nhọn
để loại bỏ một lượng mỡ nhỏ. Tôi kiểm soát chảy máu
bằng đầu đốt lưỡng cực (cắt bỏ túi mỡ thường đòi hỏi
chích thêm ít lidocain vào trong túi mỡ). Nếu bệnh nhân
có da thừa và xóa nếp mí đã có hay vết hõm trên mí, tôi
không lấy bỏ bất kỳ lớp mỡnào nếu nó sẽ gây hõm mí
trên và kết quả là nhiều nếp mí thừa (Hình 9-4).
Cắt cơ vòng mi
Để tạo điều kiện thuận lợi cho nếp mí mới, tôi rạch
một dải cơ vòng mi khoảng 1-2 mm, dọc theo bờ trên
sụn mi. Có một số tác giả cắt bỏ hoàn toàn tổ chức trước
sụn, họ tin rằng sẽ tốt hơn khi chỉ có da phủ mặt trước
sụn. Kinh nghiệm của tôi thì khác, và tôi loại bỏ một số
mô trước sụn nếu lớp mỡ thừa nhiều đe dọa đến khả
năng hình thành nếp mí đẹp. Ở mặt phẳng trước sụn ở
người châu Á không có nếp mí thì có rất ít các sợi bán tận
của cơ nâng mi cài vào da mi. Tôi hạn chế cắt bỏ nhiều
các tổ chức dọc theo bờ trên sụn mi vì sẽ phù nềkéo dài
sau phẫu thuật và có thể gây nguy cơ hình thành máu tụ
không mong muốn. Hơn nữa, nó là khá tự nhiên cho
người châu Á bẩm sinh với một mí tự nhiên, họ có độ
đầy của mí nằm giữa nếp mí và lông mi (Hình 9-6 A, B).
Tạo nếp mí và đóng da
Để tạo nếp mí động, các sợi cân bán tận của cơ nâng
mi dọc bờ trên sụn mi được hướng đến mặt phẳng dưới
da của đường rạch dưới. Dùng chỉ 6-0 không tiêu (6-0
silk hoặc nylon) để khâu cạnh dưới da và mô dưới da
với cân cơ nâng mi dọc theo bờ trên sụn mi và tiếp tục
khâu với đường rạch trên và khâu bên ngoài (mũi đơn).
11
Quan niệm cắt da hình tam giác, hình thang, hình chữ nhật- ứng dụng trong phẫu thuật tạo hình mí
101
Cơ vòng mi
L
M
C
Vách ngăn
Đường rạch
da trên
Đường rạch
da đơn
102
Phẫu thuật tạo mí mắt người châu Á
Cắt hình tam giác (không loại bỏ da)
Cơ vòng mi ÷ Skin = vô cùng (hoặc n, với n >>
1) (đo dọc một trong hai tổ chức)
Do đó, ở những người trẻ tuổi:
δ
δ
Cơ vòng mi
da
>>1.0
Khi bạn tiến hành xử lý hình thang và hình chữ nhật,
tỷ lệ: cơ vòng mi/da (theo phương thẳng đứng) tiếp cận
1: 1 (n đến gần 1).
Ở người lớn tuổi:
δ
δ
cơ vòng mi
da
ít khi
=
<
1 0
1 0
.
(
. )
Tỷ lệ nhỏ hơn 1. 0 chỉ khi lượng thừa da quá nhiều, ở
người cao tuổi, cho phép loại bỏ da nhiều mà không ảnh
hưởng đến khi đóng da sẽ gây lộn mi hay hở mi. Trong
trường hợp này, cắt tổ chức theo hình thang ngược, với cắt
da nhiều hơn cơ vòng mi. Ngay cả khi cắt bỏ da nhiều, đi
qua cơ vòng mi (Bước 2) vẫn vuông góc với cơ nâng mi.
Kết luận, các ứng dụng và lợi ích của cắt hình thang
trong tạo hình mí người Châu Á như sau:
1. Khi cắt vát thì dễ tiếp cận vách ngăn. Ít làm tổn
thương cơ nâng mi khi có các tổ chức đệm và túi
mỡ bên dưới.
2. Kiểm soát tốt mặt phẳng trước cân cơ nâng mi và
trên sụn mi.
3. Hình thành kết dính tối ưu giữa cơ nâng mi và mô
dưới da nằm dọc theo bờ trên sụn mi, hoặc để tổ
chức sợi đan xen vào trong cơ vòng mi ở mặt phẳng
trước sụn (trước sụn mi).
4. Tạo nếp mí dựa trên chiều cao của sụn mi.
5. Giảm tỷ lệ biến chứng: không đối xứng, hình dạng,
chiều cao, tính liên tục, chắt chắn, phân đoạn của
nếp mí, mờ dần và sự biến dạng của nếp mí, nhiều
nếp mí và phù nề dai dẳng.
tạo điều kiện cho sự hình thành nếp mí sau phẫu
thuật. (Collin13 đã nghiên cứu trên kính điện tử:
mô tả chèn các sợi bán tận của cân cơ nâng mi vào
trong vách ngăn nằm ở giữa cơ vòng mi trước sụn
hơn bất kỳ tổ chức dưới da nào dọc theo nếp mí.
Nếu đây là trường hợp riêng thì sự hình thành của
một nếp mí có thể được tạo điều kiện bởi các thao
tác phẫu thuật trước bởi vì nó liên kết cân cơ nâng
mi đến bờ trên sụn mi. Không nên cắt bỏ nhiều tổ
chức trước sụn, dễ gây phù nề lâu và hình thành
nhiều nếp mí sau phẫu thuật.)
Nếu cắt bỏ tổ chức mà không cắt bỏ da, khối mô
được loại bỏ tương tự như một dạng tam giác ở mặt cắt
ngang.
Nếu bệnh nhân có rất nhiều da dư, lượng da cắt bỏ
được tăng lên bằng cách mở rộng đường trên của vết
rạch da. Mặt phẳng đi qua cơ vòng mi thì ít xiên hơn và
cắt hình thang dần dần biến thành hình chữ nhật.
Trong hình 11-2, khi cắt ngang qua mí trên, bên phải
là da, bên trái là vách ngăn, ở giữa là cơ vòng mi. Cạnh
dưới là bờ trên sụn mi (STB). Vùng màu hồng là cơ vòng
mi bị cắt đi.
Biểu đồ hiển thị vectơ qua cơ vòng mi (Bước 2) khi
cắt ngược chiều kim đồng hồ và cắt vát từ da vào đến
bờ trên sụn mi [Bước l (U)].
Bước (1) liên quan đến đường rạch trên và dưới, 1 (U)
và 1 (L), vết rạch danằm phía trên bờ trên sụn M.
Bước (2) liên quan đến mặt phẳng xiên qua cơ vòng
mi.
Ở bước (3), khi đến và mở vách ngăn, cắt phần dưới
hướng lên bờ trên sụn mi.
Bước 4 cho thấy cắt vát cơ vòng mi và da thừa phía
trên bờ trên sụn mi.
Vectơ qua vòng mi đầu tiên (Bước 2) và cắt bỏ nhiều
da là cần thiết và mặt phẳng ngang của tổ chức phần mềm
thay đổi từ hình tam giác thành hình thang, và cuối cùng
là hình chữ nhật.
Điều này có thể được biểu diễn bằng:
Cắt hình tam giác < cắt hình thang < cắt
hình chữ nhật
11
Quan niệm cắt da hình tam giác, hình thang, hình chữ nhật- ứng dụng trong phẫu thuật tạo hình mí
103
Vách
ngăn
Bước 3
Cơ vòng mi
Mức độ bờ trên sụn mi
Bước 4
Bước
1 (U)
1 (L)
Step 2
Da
104
Phẫu thuật tạo mí mắt người châu Á
REFERENCES
1. Chen WPD. Asian blepharoplasty and the eyelid crease (with
DVD), 2nd edn. Oxford: Butterworth–Heinemann/Elsevier;
2006.
2. Chen WPD. Asian blepharoplasty. Ophthal Plast Reconstr Surg
1987;3(3):135–140.
3. Chen WPD. Insights from a series of Asian blepharoplasty.
Presented at the Annual Scientific Symposium of the American Society
of Ophthalmic Plastic and Reconstructive Surgery, Atlanta, GA,
1990.
4. Chen WPD. A comparison of Caucasian and Asian blepharoplasty.
Ophthalmic Pract 1991;9:216.
5. Chen WPD. Upper blepharoplasty in the Asian patient. In:
Putterman AM, ed. Cosmetic oculoplastic surgery, 2nd edn.
Philadelphia: Saunders; 1993.
6. Chen WPD. Review of Aguilar G. Complications of oriental
blepharoplasty. In: Mauriello J, ed. Management and avoidance of
complications of eyelid surgery. Vol. 3. Philadelphia: Field &
Wood; 1994.
7. Sayoc BT. Plastic construction of the superior palpebral fold. Am
J Ophthalmol 1954:38:556.
8. Hayashi K. The double eyelid operation. Jpn Rev Clin Ophthalmol
1938;33:1000–1010 (Part 1) and 33:1098–1110 (Part 2).
9. Fernandez LR. Double eyelid operation in the Oriental in Hawaii.
Plast Reconstr Surg 1960;25:257.
10. Inoue S. The double eyelid operation. Jpn Rev Clin Ophthalmol
1947;42:306.
11. Mitsui Y. Plastic construction of a double eyelid. Jpn Rev Clin
Ophthalmol 1950;44:19.
12. Sayoc BT. Anatomic considerations in the plastic construction
of a palpebral fold in the full upper eyelid. Am J Ophthalmol
1967;63:155.
13. Collin JR, Beard C, Wood I. Experimental and clinical data on the
insertion of the levator palpebrae superioris muscle. Am J Ophthal-
mol 1978;85:792.
105
KHÂU DA VÀ KIỂM SOÁT VẾT MỔ
Khâu da mà không để lại chân chỉ luôn là điều mong
muốn khi khâu vùng da mí trên (qua một nếp mí hiện có).
Nếu cố gắng thực hiện thao tác cần thiết đến mức độ chính
xác mà đã có kế hoạch, thực hiện quy trình mà không gây
sang chấn vùng mổ đáng kể và kết thúc mà không gây ra
tổn thương so với trước đó, để lại những trường hợp có
khi phải mổ lại về sau, đó sẽ là lý tưởng. Về bản chất, cách
ninja (Hình 12-1). (Sự phổ biến của những người làm
nội soi và robot được cơ bản tuân theo tiền đề này). Tất
nhiên, không ai trong chúng ta tốt như những nhân vật
huyền thoại này. Tuy nhiên, người ta nên suy nghĩ, phân
tích và lập kế hoạch để thực hiện quy trình.
Có nhiều yếu tố góp phần vào việc lành vết mổ đẹp.
Chúng ta thường chỉ nghĩ áp dụng các mũi khâu, buột
chỉ, thay băng và cắt chỉ như các yếu tố chính. Trong khi
tất cả những điều này tất nhiên là quan trọng, nhưng có
những khía cạnh của kỹ thuật phẫu thuật đặc biệt góp
phần rất lớn vào việc lành tự nhiên, cho phép vết mổ
lành da tự nhiên và hoạt động như đã được thiết kế.
Các chương trước đã nói về cách thiết kế để tạo nếp
mí, nơi nếp mí được đặt sao cho nó
phù hợp với cấu trúc nếp mí động hai bên như nhau,
mặt phẳng vát (xiên) đi ngang qua các lớp khác nhau của
mí mắt, và khâu da. Theo tôi, cách phân phối phẫu thuật
ở một mặt phẳng xiên và thực hiện việc cắt bỏ mô thành
một khối, phản ứng mô tại chỗ sẽ giảm đi rất nhiều. Kiểm
soát chảy máu nhẹ nhàng được thực hiện ngay lúc rạch
da, mở vách ngăn cao hơn vết mổ trên da, túi mỡ được
bảo tồn và cắt bỏ khối hình thang cho phép cắt nhiều cơ
vòng mi hơn da. Đường rạch trên sao cho khi cắt đi
không bị thiếu da, và khi khâu da thì tạo ra được nếp mí
mắt. Tương tự như vậy, sự cắt tỉa một ít mô dưới da dọc
theo vết mổ cũng cho phép đóng da không căng. Vì vậy,
ta nên thiết lập tiêu chuẩnđể tạo điều kiện lý tưởng cho
lành vết mổ, và giảm phù nề sau phẫu thuật.
Các kỹ thuật khâu khác nhau được sử dụng trong các
phương pháp rạch bên ngoài đã được thảo luận. Chúng
bao gồm đính da trên sụn mi, đính da về phía cơ nâng mi,
hoặc dọc theo bờ trên sụn mi, và dính phần dưới củacơ
vòng mivào phần bán tận của cơ nâng mi.
Tất cả những kỹ thuật này đều là kỹ thuật đóng da
bằng kỹ thuật cơ bản, nhưng người ta có thể không nghĩ
đến việc thực hiện lâu hơn, đến mức chi tiếthơn (thực ra
ở mức độ vài phút). Tôi cho rằng dao mổ sẽ giúp nhiều
cho bác sĩ phẫu thuật, hoặc góc đầu nhọn của lưỡi dao liên
quan đến bề mặt da khi rạch da, tất cả đều quan trọng.
QUAN NIỆM NẾP MÍ ĐỘNG VÀ NẾP MÍ
TĨNH
Nếp mí mí động là nếp mí rõ ràng khi nhìn lên về phía
trước và nhưng có xu hướng mờ dần khi nhìn xuống, và
hầu như rõ lắm khi nhìn thẳng 90° với bề mặt da. Nếp
mí tĩnh là nếp mí nhìn thấy rõ ở ba vị trí: nhìn lên, thẳng
về phía trước và nhìn xuống, khi góc quan sát là 90°. Do
đó, nếp mí động trông giống như nếp mí tự nhiên
106
Phẫu thuật tạo mí mắt người châu Á
3. Cong tròn đều (vùng trên) nên được bảo tồn bằng
cách giữ lại và bố trí lại túi mỡsao cho túi mỡ không
bị thiếu ở ổ mắt gây nên lõm mí mắt. Không nên loại
bỏ quá nhiều da để tránh làm thu hẹp vùng này.
Ba tiêu chí này tạo ra mặt phẳng trước sụn khá chắc
chắn (sụn-nếp mí) để vectơ lên trên và da ở trên phủ qua
nó, mà không cần lực nhiều hoặc có bất kỳ lực cản trở nào
trên nếp mí. Vùng trước vách ngăn tự do phủ qua vùng
trước sụn bên dưới, và nếp mí hình thành ở giữa.
Về mặt khái niệm, nếp mí được hình thành là vị trí
cao nhất của các sợi cân bán tận của cơ nâng mi chèn vào
cơ vòng mi và ra da dọc theo đường mí. Không thể nói
rằng không có sợi cân cơ nâng mi nào nằm trên đường
mí. Phương pháp cắt hình thang (Chương 11) cho phép
đóng da-cân cơ nâng mi-da, với khoảng 1-2 mm, nơi cơ
vòng mi chuyển động (dọc theo mặt phẳng xiên của vết
mổ trên da) có thể dính cân cơ nâng mi vào bờ trên sụn
mi, do đó giải thích trước đây là do quặc ngược phần vỏ
của cân cơ nâng mi lên trên để hòa vào vách ngăn, và hoạt
động hạn chế khi bị túi mỡ chèn xuống dưới. Phẫu thuật
tạo nếp mí chỉ đơn giản là hình thành trực tiếp trên vùng
này. Do đó, mặc dù nếp mí được hình thành dọc theo bờ
trên sụn mi, bằng cách lấy da để cân cơ nâng mi tiếp xúc
với da, nếp mí hình thành có thể nằm ngay trên ngã ba
này. Một cách khác để khái niệm hóa điều này là cân cơ
nâng mi được gắn vào cả hai cạnh trên và dưới của vết
mổ, với nếp mí tạo ra nằm trên nó.
Một số yếu tố ở vùng trên/trước sụn có thể dẫn đến
hình thành nếp mí không tốt. Nếu cắt bỏ mỡ ở vùng
trước cân cơ nâng mi quá nhiều, thì có thể tiếp xúc trực
tiếp giữa cân cơ nâng mi và cơ vòng mi, lúc này vách
ngăn đã được mở ra. Khoảng không trước cân cơ nâng
mi bị thu hẹp lại, có thể hình thành sẹo và vùng này trở
nên sơ. Nếu chúng ta kiểm soát không tốt vùng này, hoặc
gây chảy máu, có thể dẫn đến gia tăng sẹo và hậu quả
cứng chắc. Nếu cắt bỏ da quá mức có khả năng không
thể tạo nếp mí bằng vectơ hướng dưới lên vì những mô
sẹo và tổ chức trước sụn quá chắc chắn (da, cơ vòng mi,
vách ngăn và có thể các mô mỡ bị xơ hóa). Những yếu tố
dường như bình thường này có thể kết hợp để gây cản
trở đến sự hình thành nếp mí.
Ở người da trắng sinh ra với một nếp mí tự nhiên,
điểm hợp nhất cao hơn của vách ngăn vào cơ nâng mi sẽ
giới hạn túi mỡ ở trên. Nếp mí có thể đã hình thành từ
đầu bán tận của cân cơ nâng mi hướng tới cơ vòng mi,
đính dưới da
Nghĩa là phải đóng da hơi xiên từ bờ da trên đến bờ
da dưới, đó cũng là đề tài để tranh luận về cách tạo ra
các kết dính chỉ từ các sợi bán tận cơ nâng mi đến bờ
dưới vết mổ, hoặc cho cả da bờ trên và dưới. Đó là điều
cần thiết để khi khâu tạo mí phải nới lỏng hay thắt chặt
hơn, để cho phép da trên mí phủ dọc da của bờ trên sụn
mi mà không quá căng. Bảo bệnh nhân nhìn lên và nhìn
xuống trước và sau khi đặt mũi khâu tạo mí.
Khâu da-sụn mi-da có xu hướng tạo ra một nếp mí
tĩnh. Trong kỹ thuật của tôi, sử dụng chỉ silk 6-0 hoặc
nylon để khâu mũi đơn kết nối bờ da dưới với cơ nâng
mi dọc theo bờ trên sụn mi, và sau đó đến bờ da trên.
Bên cạnh các mũi khâu ở giữa nếp mí, tôi áp dụng ba chỉ
khâu ở trong và hai đến ba mũi khâu bên ngoài. Với 6
hoặc 7 mũi khâu tạo nếp mí, phần còn lại được đóng da
bằng 6-0 hoặc 7-0 nylon khâu liên tục hoặc dưới da. Khi
khâu liên tục chỉ khâu đến lớp hạ bì, mà không cần lấy cơ
vòng mi. Mục tiêu ở đây sẽ là tránh sự xuất huyết từ cơ
vòng mi và để cung cấp một mặt phẳng tối ưu để đóng
da. Trong phương pháp này, tất cả các chỉ khâu đều cắt
bỏ sau mổ.
Phương pháp khâu đính tổ chức dưới da đơn thuần,
hoặc cơ vòng mi vào cơ nâng mi, thường liên quan đến
khâu chôn, không tiêu. Tôi đã gặp những bệnh nhân phàn
nàn về tính chất tĩnh của nếp mí do việc sử dụng các chỉ
khâu vùi, và một số phàn nàn về sự kích thích mí mắt do
chỉ khâu bị chôn trong mí mắt của họ.
HÌNH DẠNG NẾP MÍ VÀ
NẾP MÍ ĐỘNG
Tương tác động của mặt phẳng
trước sụn và vùng trước cơ nâng
mi.
Người ta có thể chia mí mắt trên thành ba vùng: nếp
mí mí mắt (hoạt động cuộn như quả bóng, xem Chương
23), vùng dưới nó và vùng phía trên nó (Hình 12-2).
Mục tiêu của các bác sĩ phẫu thuật trong việc hình thành
hoặc làm thêm nếp mí mí mắt:
1. Để tạo điều kiện nếp mí cuộn vào trong nếp gấp là
làm giảm lớp mô mềm phủ qua bằng cách cắt bỏ
tổ chức thừa trước cân cơ nâng mi, tổ chức cản trở
sự hình thành nếp mí, hoặc bằng cách cố định trục
xoay thông qua các mũi chỉ khâu (ít hơn hiệu quả
hơn , và dễ bị mất nếp mí). Bằng cách tạo ra một
vùng ranh giới rõ ràng, để có trục xoay tạo mí tốt.
2. Vùng trước sụn (vùng dưới) có thể được làm vững
chắc hơn thông qua (a) cắt bỏ một ít cơ vòng mi
dọc theo bờ dưới vết mổ, hoặc (b) khâu buột qua
kết mạcvà chôn chỉ ở mặt phẳng dưới da hoặc
qua da đường rạch ngoài khi cố định vào cân cơ
nâng mi.
12
Khâu da và kiểm soát vết mổ
107
Vùng trước sụn
Vùng trước vách ngăn
Nếp mí
Vùng ổ mắt
108
Phẫu thuật tạo mí mắt người châu Á
cắt xuyên qua các lớp mô khi nó buột các mô lại với
nhau.)
Việc áp dụng các dạng khâu tạo nếp mí phụ thuộc vào
vị trí chính xác dọc theo bờ trên sụn mi và các sợi bán
tận cơ nâng mi. Số lượng thích hợp các mũi chỉ khâu phụ
thuộc vào sự lõm vào của nếp mí. Khi buột các chỉ khâu
này, chúng ta nên tránh căng quá mức hoặc tác dụng quá
chặc trên các mô. Khâu chạy chỉ đơn thuần là khép các
mép da lại với nhau.
Lựa chọn vật liệu khâu phụ thuộc vào sở thích của bác
sĩ phẫu thuật, phản ứng của vết thương, gây khó chịu
hoặc bình thường cho bệnh nhân, và lành vết thương
như mong muốn để giúp tăng cường tạo nếp mí. Nó xác
định số ngày mà các chỉ khâu được cắt bỏ, một lần nữa
cân bằng tỷ lệ thành công cho sự hình thành nếp mí so
với phản ứng da.
Sau mổ: làm sạch và băng vết mổ, kết hợp dùng thuốc
mỡ tra mắt và thuốc kháng sinh, kháng viêm (steroid).
Ở những bệnh nhân có da nhờn, người ta có thể chọn
thêm việc sử dụng kháng sinh uống dự phòng và các chế
phẩm da chống mụn trứng cá. Ngoài ra còn có một loạt
các khuyến nghị chế độ ăn uống có thể được cung cấp
cho bệnh nhân châu Á theo phong tục ăn uống của họ,
dựa trên hệ thống y học cổ truyền Trung Quốc.
Các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến lành vết thương
trước tiên bao gồm các mô của chính bệnh nhân (kiểu
gen và kiểu hình), tiếp xúc với môi trường bên ngoài
(phơi nắng, vệ sinh tại chỗ), tiền sử bị tổn thương do
nắng, các bệnh ngoài da như eczema và vẩy nến, và gần
đây bất kỳ phẫu thuật nào được thực hiện ở các lớp sâu
và nông của mí mắt.
MÁNH KHÓE VÀ CẠM BẪY
Trong y văn Nhật Bản trước đó, sử dụng lực của các
vết khâu trên da là để tăng cường sự hình thành nếp mí.
Lực quá lớn có thể dẫn đến thiếu máu nuôi da và khó
lành vết thương. Khâu vùi là phải xiên qua bề mặt da có
thể xuất hiện trên bề mặt da, và chỉ tiêu có thể tạo ra
phản ứng gây u hạt khi các chỉ khâu tan dần.
Một vết mổ đẹp để tạo nên nếp mí động cần phải làm
đẹp về mặt thẩm mỹ, lâu dài, không bị nhìn thấy khi
nhìn xuống, vết mổ biến không bị dạng hoặc lan rộng, và
không bị nhấp nhô.
Kiểu khâu. Trong phẫu thuật tạo hình mí của người châu
Á, tôi sử dụng hai loại chỉ khâu:
1. Khâu tăng cường - thường là silk 6-0 (màu đen),
được sử dụng từ 5->6 mũi khâu rời nhau, khâu
da- cơ nâng mi-da dọc theo vết mổ nằm ở bờ trên
sụn mi. Nếp mí mới cuộn vào dễ dàng. Cắt chỉ sau
1 tuần.
2. Khâu liên tục thì dùng silk 7-0 lụa khâu để đóng
các cạnh da. Cắt chỉ sau 1 tuần.
hoặc ‘sâu hơn’ từ cơ nâng mi, và giới hạn bên dưới túi
mỡ thông qua phần quặc ngược của lớp sau vách ngăn lên
đến cơ nâng mi (phần lồi ở mí trên của người châu Á chưa
phẫu thuật mí mắt). Điều này, là kết hợp của vùngtrước
vách ngăn mềm mại và mỏng da với tổ chức chắc chắn
trước sụn mi thì dễ dàng để tạo thành một nếp mí.
Ở người châuÁ không có nếp mí, có nhiều lý do khó
khăn để hình thành nếp mí vì: mô mềm trước sụn mi
(da và cơ vòng mi dày) thường mềm hơn và thừa hơn;
điểm hòa lẫn của cơ nâng mi và vách ngăn thì thấp hơn;
túi mỡnằm thấp hơn; vùng trước vách ngăn thì đầy hơn
và hướng về ổ mắt (người châu Á có đôi mắt ít sâu, do
bờ trên ổ mắt ít nhô ra). Những yếu tố này có nhiều khả
năng mang lại mắt một mí mà không có nếp mí.
Theo dõi quy trình tạo mí người châu Á, với việc bảo
tồn túi mỡ ở giữa, cùng với làm giảm mô mềm mại ở bờ
dưới vết mổ, cũng như làm sạch dọc theo bờ trên sụn mi
và kiểm soát khi cắt tổ chức trước cân cơ nâng mi, nó sẽ
được dễ dàng hơn cho nếp mí lõm vào. Khi cơ nâng mi co
tối đa thì sẽ cuộn tổ chức mỡ không dính (túi giữa) phủ
bên ngoài qua phía trước da -cơ vòng mi. Về bản chất,
sụn mi và da cho phép cuộn được nhiều lớp tổ chức (túi
mỡ, vách ngăn, cơ vòng mi, mỡ dưới da và da). Sẽ khó
khăn hơn nếu lấy mỡ nhiều ở trước cân cơ nâng mi; tạo
sẹo ở vùng này sẽ xảy ra giữa lớp ở trước là da-cơ-vách
ngăn và lớp sau là cơ nâng mi- cơ Muller của cơ kết mạc
thông qua gây tổn thương mô hoặc chảy máu nhiều và
hậu quả là gây dính. Kết quả là tạo ra nhiều tổ chức sẹo
chắc dính vào nhau và dính luôn vào sụn mi, rất khó khăn
để hình thành nếp mí mí. Chúng ta có thể thấy trên lâm
sàng như mảng rắn chắc gồm da/cơ/sụn, kèm theo một
nếp mí trông rất tĩnh.
Đôi khi, sưng sau phẫu thuật có thể che lấp một phần
nếp mí; và khi hết sưng, sụn mi sẽ lên cao so với mô mềm
phía trước và nếp mí sau đó xuất hiện một cách thích
hợp.
Các phương pháp khâu buột tạo nếp mí qua bờ trên
sụn mi, tạo ra sự co vững chắc hơn giữa lớp dưới da và
cơ nâng mi (thông qua lớp trước là da hoặc lớp sau là
kết mạc). Nó cho phép tăng cường lực kéo lên ở sụn mi
và dưới các mô mềm trước vách ngăn. Nếu không loại
bỏ mô thừa thì nếp mí chỉ tồn tại ngắn (có thể tới 5
năm). Tuy nhiên, với sự lão hóa và tăng dần sự dư thừa
mô mềm, nếp mí do đó tạo ra có thể trở nên được che
khuất hoặc cạn dần theo thời gian (mờ dần) do lực xé tổ
chức của chỉ khâu được sử dụng trong các phương pháp
này. (Hiệu ứng của khâu buộtcó thể giảm dần theo thời
gian, không phải là do hòa tan, nới lỏng, hoặc bẻ gãy các
đường khâu, nhưng các sợi chỉ
12
Khâu da và kiểm soát vết mổ
109
Nếp mí gần bờ mi khi mô dưới da bịphù nề là do chặn
hệ thống bạch huyết và mạch máu. Cho bệnh nhân biết
là nếp mí phẫu thuật sẽ mất từ 3-6 tháng để ổn định khi
tất cả diễn ra tốt đẹp.
Nếu cần sửa chữa, ví dụ nếu mí không hình thành rõ
ràng, nên mổ lại sau 6 tháng. Nếu mổ ở nơi khác thì nên
mổ sửa lại sau 12 tháng.
Bệnh nhân được đưa ra hướng dẫn để theo dõi sau
phẫu thuật.
Chăm sóc sau phẫu thuật tạo mí
• Nghỉ ngơi trên giường trong 24 giờ.
• Băng ép trong 1 ngày.
• Không đọc, xem tivi hoặc sử dụng máy tính..
Không chơi game trên máy tính.
• Vệ sinh vết mổ và mặt: làm sạch mặt và vết rạch
vết mổ 3-4 lần mỗi ngày với nước sạch.
• Tránh sử dụng mỹ phẩm trên vết mổ và mũi khâu.
• Bôi thuốc mỡ kháng sinh 4 lần/ngày, trong 7 ngày.
• Bệnh nhân có thể tắm vào ngày hôm đó.
• Tránh sử dụng xông nóng trong 3 ngày đầu.
• Tránh hoạt động mạnh hoặc tập luyện ít nhất 1
tuần.
• Tránh dùng aspirin hoặc chất gì có chứa ibuprofen.
• Tránh thức ăn cay, sô-cô-la, các sản phẩm từ sữa
và thức ăn chiên trong 2 tháng.
Tập cho mắt
Bệnh nhân không có nếp mí trước
đó
Đối với vài bệnh nhân, thực hành nhắm mở mắt được
khuyến khích, từ nhìn xuống đến nhìn lên, mà không di
chuyển lông mày và không cho phép đầu nghiêng ngược
lại, bắt đầu ngày thứ ba cho đến 2 tuần. Các bài tập này
giúp bắt đầu hình thành nếp mí. Hoạt động của cơ nâng
mi cho phép nếp mí hình thành mà không gây chảy máu
và gây tụ máu sau phẫu thuật.
Điểm cuối cùng giải thích thêm. Một số bệnh nhân có
thể có khả năng chịu đau thấp, họ không dám nhìn lên
hoặc thậm chí là thẳng về phía trước, vì chỉ khâu da có
thể gây ra một số kích thích tại chỗ. Họ có thể giữ một vị
trí đầu nghiêng lại cả tuần mà không kích hoạt bất kỳ di
chuyển của cơ nâng mi hoặc nhìn lên. Nếp mí có thể
không hình thành tốt nếu không có nỗ lựcnhìn lên trong
10 ngày đầu tiên. Hình thức chuyển động mắt này được
thực hiện chậm nhất, do đó thuật ngữ “Mắt-Chi”, được
đặt ra bởi tác giả (như tác giả Tai-Chi).
Không khâu vùi và cũng không dùng chỉ tiêu. Kết cấu mềm
của chỉ silk đảm bảo rằng khâu không quá cứng (như trong
nylon hoặc Prolene), có thể gây kích ứng. Nó ít phản ứng
hơn chỉ khâu như catgut chromic, Vicryl hoặc Dexon.
Thao tác khâu từng nốt và khâu liên tục. Các nút
thắt có thể được đặt trực tiếp trên 2 cạnh da, hoặc
nghiêng về 1 bên. Chiều dài của khâu liên tục có thể
được sử dụng để đảm bảo vị trí nút bằng cách lặp lại nó
bên dưới nút khâu rời trước đó hoặc bên trên.
Kỹ thuật tạo nếp mí ở góc trong. Nếp mí ở trong góc
thường phải được cắt bỏ bớt da chồng lên nhau. Trong
quá trình khâu da, một lần nữa các nút thắt có thể được
thao tác để tạo ra lực nén lớn hơn trên chính vết mổ,
chẳng hạn như tạo ra một nếp mí giảm dần ở mũi hoặc
nếp mí song song.
Khi tạo một nếp mí song song, mặc dù vết mổ được
vẽ trước, thực hiện và có ý định song song khi nó hướng
từ góc mắt trong đến phần giữa mí mắt, nếp mí ở giữa
là rõ nhất, thì nếp mí phải giảm dần. Nếu không, nó sẽ
cản trở hình dạng nếp mí mong muốn (gần nếp mígiảm
dần ở mũi).
Xử lí góc mắt ngoài. Thường thì da dày hơn; sợi cơ
vòng mi dày và khỏe. Điều này có thể dẫn đến vết mổ
rộng ra. Cẩn thận đánh giá trên mỗi người, và đóng danên
dùng chỉ khâu ít phản ứng như nylon, và để chỉ khâu
trong một thời gian lâu hơn để vết mổ không bị giãn ra.
Lưu ý. Vết mổ không nên khâu quá căng, mà có nhiều
khả năng nếu phần trên hoặc dưới của vết mổ bị ép quá
bỡi các vết khâu. Nếu khâu quá căng sẽ dễ dẫn đến: nếp
mí cao, hở mi, và lật mi gây trợn mắt.
Đo lại và xác nhận chiều cao nếp mí ở các bước khác
nhau trong quy trình giúp giảm thiểu sự không đối
xứng.
CHĂM SÓC SAU PHẪU THUẬT
Sau phẫu thuật thì vết mổ nên làm sạch hằng ngày và
bôi mỡ kháng sinh. Không nên băng dính. Không dùng
thuốc lợi tiểu và steroid. Tùy thuộc vào chỉ khâu được sử
dụng, cắt bỏ sau 7 ngày. Theo tôi để các nốt khâu (da-cơ
nâng mi-da) một thời gian dài hơn nếu nếp mí xuất hiện
chậm, vì điều này dường như giúp đảm bảo đính kèm
thích hợp của cơ nâng mi đính dọc theo bờ trên sụn mi.
Khoảng 80% sau 1-2 tuần thì sưng nề sẽ giảm hết,
hoặc. 20% còn lại sẽ hồi phục sau 2 tháng
110
Phẫu thuật tạo mí mắt người châu Á
góc mắt trong, cố định giữa 2 góc mắt, kỹ thuật tạo hình
V->Y sẽ chú ý.
Bệnh nhân có thể lo lắng hoặc khiếu nại, gồm:
1. Độ không đều của nếp mí, ngay cả trong ngày hoặc
tuần đầu tiên. Điều này thường do mức độ sưng
khác nhau giữa hai mí. Có thể nằm trong vùng trước
sụn, gây rộng nếp mí (tăng chiều cao nếp mí), hoặc
ở vùng trước vách ngăn và vùng quanh ổ mắt, có
thể làm giảm chiều cao dự kiến của nếp mí. Thường
sau phẫu thuật, chiều cao của nếp mí có thể bị ảnh
hưởng bởi vị trí của mặt khi ngủ: nằm nghiên bên
nào nhiều sẽ thì bên đó sẽ nề hơn và do đó nếp mí
sẽ cao hơn.
2. Sau khi cắt chỉ (1 tuần) nếp mí có thể không đầy
đủ. Giải thích: do sưng tạm thời làm cạn nếp mí.
3. Sau khi phẫu thuật có thể nếp mí bị nếp gấp che
khuất, có thể là do mô trước sưng nhô ra nhiều
hoặc vị trí lông mày không đối xứng.
4. Chảy máu và tụ máu vượt quá 2 ngày đầu tiên.Điều
này xảy ra thường xuyên, thường xuất phát từ hoạt
động quá mức sau phẫu thuật.
5. Nhiễm trùng, viêm mô tế bào, viêm quần, kèm
theo mẩn đỏ, ngứa và đau khi chạm vào.
6. Ngứa, thường do viêm da dị ứng hoặc phản ứng
với thuốc mỡ kháng sinh bôi.
7. Nếp mí không nếp gấp ở 1/3 trong của mí: phần
đính của da-cơ nâng mi có thể quá nông, cơ nâng
mi có thể không được hình thành tốt, hoặc sưng nề
tạm thời làm mất đi sự cong của nếp mí. Nếp mí
xuất hiện sau 2-3 tháng.
Điều quan trọng là bắt đầu nhìn lên và do đó hợp lực
co cơ nâng mi để hỗ trợ hình thành một nếp mí thích
hợp. Nhắm mở mắt chậm hàng ngày giúp giảm sưng trên
vùng trước sụn và vùng trước vách ngăn. Nó cũng giúp
bệnh nhân giảm ý thức của họ là thiếu nếp mí, và một tỷ
lệ nhỏ hơn có thể bị sụp mi tạm thời, mặc dù điều này
thường nhẹ và không rõ, thường dưới 10 mm. Việc tập
trí nhớ có thể hoàn toàn mới đối với những bệnh nhân.
Nó giúp họ trở nên nhận biết rằng không nên va chạm
vào vùng trán và lông mày.
Bác sĩ phẫu thuật nên mong đợi các cuộc gọi từ bệnh
nhân và nên cung cấp sự bảo đảm. Tôi thường thấy bệnh
nhân thấy sự đảm bảo là cần thiết để giúp giảm bớt lo
lắng.
Sự chú ý tỉ mỉ đến hình dáng và vị trí nếp mí là quan
trọng không nên nhấn mạnh quá mức. Những yếu tố
này được quyết định bởi vẽ thiết kế nếp mí và vị trí của
các mũi khâu tạo mí. Cẩn thận tránh tạo nếp mí quá cao,
quá sâu hoặc quá rõ. Tránh việc loại bỏ túi mỡ quá nhiều.
Khi cắt chỉ, cho dù cắt cùng lúc hoặc cách nhau vài ngày,
nó không phải là bất thường khi nhìn thấy trên vết mổ
và đường khâu (Hình 12-3). Một số trường hợp, các chỉ
khâu tạomí quá căng, phản ứng da có thể nhiều hơn so
với bình thường. Khi tôi gặp phải loại phản ứng này, tôi
kê đơn một loại thuốc mỡ fluometholone (FML) để thoa
lên vết mổ. Những dấu hiệu này có xu hướng hồi phục
trong vài tuần; các phản ứng như sẹo quá phát có thể
kéo dài lâu hơn. Theo y văn, sẹo lồi hiếm khi thấy trên
mí mắt trên. Tôi đã tìm thấy điều này là đúng, đã thấy
không có sự hình thành sẹo lồi trên nếp mí. Sẹo lồi có
thể hình thành trên vùng da dày hơn của vùng góc mắt
trong, tuy nhiên, nơi những vết sẹo rất rõ từ
12
Khâu da và kiểm soát vết mổ
111
A
B
8. Thang phiền muộn hơn:
• Nếp mí mất đi ở 1/3 trong của mí (hạ bì dày)
• Hình thành u bã đậu trên đường khâu
• Mụn đầu đen (comedo) hình thành do sử dụng
sớm mỹ phẩm trong giai đoạn hậu phẫu
• Dính vết mổ (hiếm)
• Phù nề dai dẳng vùng trước sụn (hiếm khi nếu
các kỹ thuật tạo mí người Châu Á được mô tả
trong y văn)
• Viêm kết mạc (hiếm khi).
Nói chung, chăm sóc sau phẫu thuật thẩm mỹ tạo mí
người châu Á đòi hỏi sự hiểu biết rất kiên nhẫn cả bệnh
nhân và bác sĩ. Bệnh nhân nên hiểu quá trình lành vết
thương bình thường của da mí người châu Á, để họ có
một khung thời gian thích hợp để quan sát sự tiến triển
của việc lành vết thương. Phẫu thuật nên thông cảm với
nhu cầu tâm lý và sự lo lắng của họ, nên tạo sự bảo đảm
an toàn và nên gọi điện để chăm sóc trong giai đoạn hậu
phẫu kéo dài.
Hình 12-4 -> 12-15: những bức ảnh ghép trước và sau
phẫu thuật, minh họa các trường hợp phẫu thuật tạo hình
mí đôi điển hình người châu Á với kết quả mong đợi.
HÌNH 12-5
A
B
112
Phẫu thuật tạo mí mắt người châu Á
Hình 12-6
A
B
12
Khâu da và kiểm soát vết mổ
113
A
B
C
Hình 12-7
114
Phẫu thuật tạo mí mắt người châu Á
A
B
Hình 12-8
Hình 12-9
A
B
12
Khâu da và kiểm soát vết mổ
115
Hình 12-10
A
B
Hình 12-11
A
B
116
Phẫu thuật tạo mí mắt người châu Á
A
B
HÌNH 12-13
A
B
12
Khâu da và kiểm soát vết mổ
117
HÌNH 12-14
A
B
118
Phẫu thuật tạo mí mắt người châu Á
HÌNH 12-15
A
B
C
119
KẾT QUẢ CẮT MÍ LẦN ĐẦU Ở NGƯỜI
CHÂU Á
CHƯƠNG 13
Trong chương này, các hình ảnh nhiều trường hợp khác
nhau được trình bày nhằm mục đích chỉ dành cho đào
tạo. Kết quả từng người cụ thể là duy nhất và không có
mức độ chắc chắn nào có thể áp dụng thành công như
những hình ảnh được hiển thị ở đây.
(A, B) Người trung niên không có nếp mí khi mở mắt.
A
B
Continued
TRƯỜNG HỢP 2 (Hình 13-2 A, B)
(A) Người trung niên có nhiều nếp mí nhưng không có nếp mí chính. (B) Với chiều cao nếp mí vừa phải, hình
dạng giảm dần ở mũi.
A
B
120
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
TRƯỜNG HỢP 1 (Hình 13-1 A - C) -Tiếp theo
C
(C) Sau khi tạo nếp mí song song vừa phải (cổ điển).
13 Kết quả phẫu thuật tạo mí người châu Á lần đầu (trước và sau)
121
TRƯỜNG HỢP 3 (Hình 13-3 A, B)
(A) Người phụ nữ trung niên không nếp mí và da mí phủ qua bờ mi. (B) Sau phẫu thuật: hình dạng nếp mí song
song nhưng hơi thấp.
A
B
TRƯỜNG HỢP 4 (Hình 13-4 A, B)
(A) Người phụ nữ trung niên mắt 1 mí, và dạng hình tam giác tỏa ra từ da phủ qua bờ mi ở phía ngoài. (B) Sau khi tạo mí
đôi người châu Á, với chiều cao nếp mí vừa phải, giảm dần ở mũi. Hình dạng hình tam giác được loại bỏ.
A
B
122
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
TRƯỜNG HỢP 5 (Hình 13-5 A, B)
(A) Người trung niên không có nếp mí. (B) Sau phẫu thuật: nếp mí hơi cao, hình dạng song song. Lưu ý rằng
nếp mí ở góc mắt trong không rõ.
A
B
TRƯỜNG HỢP 6 (Hình 13-6 A, B)
(A) Người trung niên với nếp mí không hằng định, bất đối xứng; bên phải là nếp mí song song, bên trái là giảm
dần ở mũi. (B) Bệnh nhân chọn nếp mí hơi cao và hình dạng song song.
A
B
13 Kết quả phẫu thuật tạo mí người châu Á lần đầu (trước và sau)
123
TRƯỜNG HỢP 7 (Hình 13-7 A - C)
(A) Người đàn ông còn trẻ không có nếp mí, mắt phải có rãnh hình tam giác, nếp mí phủ qua bờ mi. (B, C) Nếp
mí có giảm dần ở mũi, nếp mí góc mắt trong được bảo tồn.
A
B
C
124
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
TRƯỜNG HỢP 8 (Hình 13-8 A, B)
(A) Người đàn ông còn trẻ không có nếp mí mắt trái. (B) Sau phẫu thuật: tạo nếp mí phù hợp cho mắt trái.
A
B
TRƯỜNG HỢP 9 (Hình 13-9 A, B)
(A) Người đàn ông còn trẻ không nếp mí và khe mắt hẹp. (B) Sau phẫu thuật: nếp mí song song.
A
B
13 Kết quả phẫu thuật tạo mí người châu Á lần đầu (trước và sau)
125
TRƯỜNG HỢP 10 (Hình 13-10 A, B)
(A) Người đàn ông còn trẻ không nếp mí và nhìn hơi giống hình chữ nhật. Mí mắt không bị lõm (cơ mắt khỏe,
không bị sụp mi).
(B) Sau phẫu thuật: nếp mí song song hơi thấp; một tháng sau phẫu thuật, vết mổ hoàn thiện dần.
A
B
126
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
TRƯỜNG HỢP 11 (Hình 13-11 A, B)
Nữ, 25 tuổi với phẫu thuật tạo mí đôi lần đầu ở châu Á với 2 mắt không đối xứng khi mở mắt. Trước và sau
phẫu thuật.
A
B
TRƯỜNG HỢP 12 (Hình 13-12 A, B)
Nam, 41 tuổi. Trước và sau phẫu thuật.
A
B
13 Kết quả phẫu thuật tạo mí người châu Á lần đầu (trước và sau)
127
TRƯỜNG HỢP 13 (Hình 13-13 A, B)
Nam, 37 tuổi. Trước và sau phẫu thuật.
A
B
TRƯỜNG HỢP 14 (Hình 13-14 A, B)
Nam, 19 tuổi. Trước và sau phẫu thuật: giảm nếp mí bên phải và tạo nếp mí bên trái.
A
B
128
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
TRƯỜNG HỢP 15 (Hình 13-15 A, B)
Nữ, 27 tuổi. Mong muốn có nếp mí song song. (A) Trước và (B) sau phẫu thuật 10 ngày.
A
B
TRƯỜNG HỢP 16 (Hình 13-16 A, B)
Nữ, 27 tuổi. Mong muốn có nếp mí song song. Tạo mí đôi, thu ngắn cơ nâng mi bên mắt phải 13 mm và mắt trái
14 mm. Trước và sau phẫu thuật.
A
B
13 Kết quả phẫu thuật tạo mí người châu Á lần đầu (trước và sau)
129
TRƯỜNG HỢP 17 (Hình 13-17 A, B)
Nữ, 28 tuổi người châu Âu nhưng có đặc điểm mí mắt như người châu Á và mí mắt nặng. Trước và sau phẫu
thuật.
A
B
TRƯỜNG HỢP 18 (Hình 13-18 A, B)
Nữ 46 tuổi. Trước và sau phẫu thuật một tuần.
A
B
130
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
TRƯỜNG HỢP 19 (Hình 13-19 A - D)
Nữ, 24 tuổi với mí mắt phải nhiều nếp mí; phía bên trái nếp mí thấp có giảm dần ở mũi. (A, B) Trước mổ. (C, D) Quy trình
phẫu thuật tạo mí 2 bên như nhau: cả hai bên đều có một nếp mígiảm dần ở mũi.
A
B
C
D
13 Kết quả phẫu thuật tạo mí người châu Á lần đầu (trước và sau)
131
TRƯỜNG HỢP 20 (Hình 13-20 A, B)
Nữ 30 tuổi.(A) Trước phẫu thuật và (B) sau phẫu thuật một tuần, với máu tụ bên góc của mí dưới, sau đó sẽ
giảm dần.
A
B
TRƯỜNG HỢP 21 (Hình 13-21 A, B)
Nữ, 12 tuổi với bất thường, mí mắt phải và không nếp mí. Chỉ định phẫu thuật tạo mí. Ảnh trước và sau phẫu thuật một
tháng cho thấy mí mắt còn sưng nề.
A
B
132
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
TRƯỜNG HỢP 22 (Hình 13-22 A, B)
Nữ, 35 tuổi có nhiều nếp mí và không đối xứng 2 bên. Trước và sau phẫu thuật.
A
B
TRƯỜNG HỢP 23 (Hình 13-23 A, B)
Nữ 54 tuổi. Trước và sau phẫu thuật.
A
B
13 Kết quả phẫu thuật tạo mí người châu Á lần đầu (trước và sau)
133
TRƯỜNG HỢP 24 (Hình 13-24 A, B)
Nam 27 tuổi với nếp mí bất đối xứng. Trước và sau phẫu thuật.
A
B
TRƯỜNG HỢP 25 (Hình 13-25 A, B)
Nam 25 tuổi không nếp mí và sụp mi mắt phải. Trước và sau phẫu thuật 2 tháng: tạo mí đôi và mổ chữa sụp
mi.
A
B
134
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
TRƯỜNG HỢP 26 (Hình 13-26 A, B)
Nữ 33 tuổi có nếp mí cao và không đối xứng. Cô thích nếp mí thấp hơn. Nó không cần thiết sửa sụp mi.
A
B
TRƯỜNG HỢP 27 (Hình 13-27 A, B)
Nữ 25 tuổi. Trước và sau phẫu thuật.
A
B
13 Kết quả phẫu thuật tạo mí người châu Á lần đầu (trước và sau)
135
TRƯỜNG HỢP 28 (Hình 13-28 A, B)
Nữ 47 tuổi. Mong muốn nếp mí song song. Trước và sau phẫu thuật 2 tháng.
A
B
TRƯỜNG HỢP 29 (Hình 13-29 A - D)
Nữ 34 tuổi. Trước phẫu thuật (A) và sau phẫu thuật (B, C, D).
A
C
B
D
136
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
TRƯỜNG HỢP 30 (Hình 13-30 A, B)
Nữ 28 tuổi. Trước và sau phẫu thuật làm tăng thêm nếp mí, thay đổi từ nếp mí giảm dần ở mũi đến một nếp mí
song song.
A
B
TRƯỜNG HỢP 31(Hình 13-31 A, B)
Nữ 63 tuổi. Trước và sau phẫu thuật, với cải thiện chức năng và thẩm mỹ tuyệt vời.
A
B
13 Kết quả phẫu thuật tạo mí người châu Á lần đầu (trước và sau)
137
TRƯỜNG HỢP 32 (Hình 13-32 A, B)
Nữ 62 tuổi. Trước và sau phẫu thuật, với cải thiện chức năng và thẩm mỹ tốt.
A
B
138
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
TRƯỜNG HỢP 33 (Hình 13-33 A-C)
Nữ 37 tuổi. Trước mổ (A) và 1 tháng (B) và 4 tháng (C) sau phẫu thuật.
A
B
C
13 Kết quả phẫu thuật tạo mí người châu Á lần đầu (trước và sau)
139
TRƯỜNG HỢP 34 (Hình 13-34 A, B)
Nam 38 tuổi. Trước và sau phẫu thuật.
A
B
140
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
TRƯỜNG HỢP 35 (Hình 13-35A-C)
Nữ 18 tuổi. Trước phẫu thuật (A) và 2 tháng (B) và 3 năm (21 tuổi) (C) sau phẫu thuật.
A
B
C
13 Kết quả phẫu thuật tạo mí người châu Á lần đầu (trước và sau)
141
TRƯỜNG HỢP 36 (Hình 13-36 A, B)
Nữ 75 tuổi. Trước và sau phẫu thuật mí trên và mí dưới.
A
B
TRƯỜNG HỢP 37 (Hình 13-37 A, B)
Nữ 39 tuổi có mí mắt hình tam giác. Trước và sau phẫu thuật một tuần.
A
B
142
Phẫu thuật tạo mí người châu Á
TRƯỜNG HỢP 38 (Hình 13-38 A, B)
Nữ 41 tuổi. Trước và sau phẫu thuật sau khi sửa sụp mi hai bên với bảo tồn mí cũ.
A
B
TRƯỜNG HỢP 39 (Hình 13-39 A, B)
Nữ 32 tuổi. Trước và sau phẫu thuật 1 tháng. Không có phát hiện nào gợi ý phải sửa sụp mi.
A
B
13 Kết quả phẫu thuật tạo mí người châu Á lần đầu (trước và sau)
143
TRƯỜNG HỢP 40 (Hình 13-40 A, B)
Nam 22 tuổi. Trước và sau phẫu thuật sau khi tạo mí đôi.
A
B