1
Page
bookyhoc.com
Phần 1 CƠ SỞ KHOA HỌCCỦA MESOTHERAPY 8
Chương 1 Khoa học da Cơ bản
9
Chương 2 Tổng quan về Mesotherapy
31
Chương 3 Kỹ thuật thực hiện
38
Phần2
CÁC HOẠT CHẤT SỬ DỤNG
TRONG MESOTHERAPY
74
Chương 4 Nhóm chất làm trắng
75
Chương 5 NHÓM CHẤT DỮ ẨM
95
Chương 6 NHÓM CHẤT GIẢM BÉO
113
Chương 7 Nhóm chất kích thích
130
sản sinh collagen
Chương 8 Nhóm tăng sức bền thành mạch
142
Chương 9 Nhóm đưa trị nếp nhăn-
147
săn chắc da
147
Chương 10 Nhóm hồi phục da
158
Chương 11 Nhóm cung, cấp dưỡng, chất
162
Chương 12 Nhóm điều trị rụng, tóc
178
Phần 3
TRỊ LIÊU MESOTHERAPY THEO VẤN ĐỀ
193
Chương 13 Tăng sắc tố
194
Chương 14 Hurt
210
Chương 15 Trẻ Hóa Da
221
Chương 16 Sẹo và rạn nứt
235
Chương 17 Thâm quầng mắt
259
Chương 18 Rụng tóc
269
Chương 19 Cellulite
287
Mục Lục
2
Page
bookyhoc.com
Hoàn thành quyển sách là cả một quá trình dày công
nghiên cứu và tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn tài liệu
trong và ngoài nước. Tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành
nhất đến những người cộng sự tuyệt vời, cũng là những
người đồng nghiệp, người em, người học trò đáng quý của
Tôi, đã hỗ trợ và giúp đõ Tôi trong công tác tổng họp tài
liệu và biên soạn thành công quyển sách này:
- DS. Trương Thị Thái Phương
- DS. Trân Văn Phương
- DS. Nguyễn Thị Trà My
- DS. Nguyễn Minh Trí
- DS. Lê Quang Vinh
- DS. Võ Thanh Vy
Quyển sách này còn là một lời cảm ơn chân thành dành
cho người cô đáng kính đã luôn ủng hộ, động viên và
truyền cảm hứng cho Tôi kể từ khi Tôi còn là sinh viên cho
đến nay: ThS. DS. Dương Thị Trúc Ly.
Ngoài ra, Tôi cũng xin gửi lòng tri ân sâu sắc của mình
đêh các thây cô Khoa Dược, Trường Đại học Y Dược Cân
Thơ đã hết lòng dạy dỗ và truyền thụ kiến thức cũng như
Lời cảm ơn
3
Page
bookyhoc.com
Thị Thanh Hà.
Và cuối cùng, Con xin cảm ơn ba mẹ và gia đình đã luôn
sát cánh bên Con trong mọi hoàn cảnh và điều kiện để ước
mơ của Con có thể ngày một bay cao và bay xa hơn.
Tác giả
DS. Phạm Minh Hữu Tiến
tâm huyết nghề nghiệp cho Tôi, là cái nôi nuôi dưỡng Tôi
khôn lớn với nghề mà Tôi không bao giờ quên được.
Tôi cũng không quên cảm ơn một người chị đã hết lòng
giúp đỡ và tạo nguồn động lực, cũng như định hướng cho
Tôi hoàn thành được quyển sách này: Chị Võ
4
Page
bookyhoc.com
Đối tượng mà chúng tôi hướng đến là tất cả bạn đọc có
nhu cầu tìm hiểu sâu hơn lĩnh vực chăm sóc, điểu trị thẩm
mỹ hoặc đơn thuần là muốn có thêm thông tin vể phương
pháp này áp dụng trong chăm sóc và trị liệu da hiệu quả.
Quyển sách được chia thành ba phần với 20 chương, đề
cập đến phương pháp mesotherapy từ tổng quát đến cụ
thể và chuyên sâu. Làm đẹp là một quá trình lâu dài và đòi
hỏi sự cập nhật kiến thức thường xuyên, chúng tôi hy vọng
“Các Hoạt Chất Mesotherapy ứng Dụng Trong Da Liễu
Làm đẹp đã và đang trở thành xu hướng của thời đại
với các công nghệ tiên tiến như thay da, laser, mesother-
apy,... Trong đó, mesotherapy đã trở thành một phương
pháp quen thuộc với cả giới chuyên môn lẫn khách hàng.
Tuy nhiên, nguồn tài liệu cung cấp kiến thức cơ bản và
nâng cao về kỹ thuật này vẫn chưa được phổ biến rộng rãi
tại Việt Nam, từ đó gây rất nhiều khó khăn cho cả người
cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ. Chính vì vậy,
quyển sách “CÁC HOẠT CHẤT MESOTHERAPY ỨNG DỤNG
TRONG DA LIỄU THẨM MỸ” ra đời nhằm cung cấp những
kiến thức cơ bản vể phương pháp Mesotherapy, đặc biệt
là các hoạt chất được sử dụng và ứng dụng cụ thể của
chúng trong da liễu thẩm mỹ.
5
Page
bookyhoc.com
Thẩm Mỹ” sẽ là bạn đồng hành đáng tin cậy của bạn đọc
trong suốt lộ trình làm đẹp cũng như điều trị của mình.
DS. Phạm Minh Hữu Tiến
Tác giả cùng các cộng sự đã nỗ lực hết sức để có thể
truyền tải đến bạn đọc những kiên thức bổ ích và chuẩn
xác nhất, tuy nhiên sẽ không tránh khỏi những thiếu sót.
Rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý bạn đọc cho
những lần tái bản tiếp theo.
6
Page
bookyhoc.com
NMF : natural moisturizing factor
TNF
: tumor necrosis factor
IL - 1 : interleukin - 1
GM - CSF: granulocyte - monocyte colony - stimulating
factor: yêu tố kích thích bạch cầu hạt, bạch
cầu monocyte (-)
G - CSF : granulocyte colony - stimulating factor:
yếu tố kích thích bạch cầu hạt (-)
M - CSF : monocyte colony - stimulating factor: yếu tố
kích thích bạch câu đơn nhân (-)
PPC
:
phosphatidyl cholin
DHT
:
dihydrotestosteron
PIH
:
post-inflammatory hyperpigmentation: .
tăng sắc tỗ sau viêm
NF-KỊB :
nuclear factor kappa beta
TNF -a : tumor necrosis factor alpha: yếu tố hoại tử
khối u
DEJ
:
Dermal Epidermal Junction
AGE
:
Advanced Glycation End products:
các sản phẩm đã được đường hóa
SLRP :
small leucine-rich proteoglycan
proteoglycan: proteoglycan có lõi leucin
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
7
Page
bookyhoc.com
DHT
: dihydrotestosteron
DHEA : dehydroepiandrosteron
TEBG : estosterone-estradiol-binding globulin
LTR
: localized transport regions
8
Page
bookyhoc.com
Phần 1
CƠ SỞ KHOA HỌC
CỦA MESOTHERAPY
9
Page
bookyhoc.com
Chương 1
Khoa học da Cơ bản
Cấu tạo da gốm ba lớp: lớp biểu bì, lớp trung bì và lớp
hạ bì.
1.1. CẤU TRÚC DA
Da là mô ngoài cùng của cơ thể và là cơ quan lớn
nhất cả về khối lượng và diện tích bể mặt. Da người lớn có
diện tích bề mặt khoảng 1,5 m2, chiếm khoảng 15% trọng
lượng cơ thể. Mỗi cm2 da có hàng triệu tế bào và là nơi
tận cùng của các dây thần kinh. Da có nhiệm vụ bao bọc và
che chở cơ thể khỏi tác động, sự ảnh hưởng không có lợi
của môi trường bên ngoài đối với cơ thể. Vùng da mỏng
nhất trên cơ thể là trên mí mắt và ở mặt trong của khuỷu
tay. Vùng da dày nhất là trên lòng bàn tay, lòng bàn chân
và lưng [89], [95].
10
Page
bookyhoc.com
Lớp đáy là lớp trong cùng của biểu bì. Các tế bào sừng
được sản sinh trong lớp đáy. Lớp đáy chứa khoảng 8%
Hình 1.1. Cấu tạo của da
và mao mạch ở lớp này. Độ dày của lớp biểu bì khoảng 0,1-
1 mm và độ dày này thay đổi tùy thuộc vào vị trí trên cơ
thể. Lớp biểu bì gổm năm lớp tế bào: lớp đáy, lớp tế bào
gai, lớp hạt, lớp bóng và lớp sừng. Lớp biểu bì là một mô
hoạt động trao đổi chất. Các tế bào sừng được sản sinh tại
lớp đáy, sau đó di chuyên đến bề mặt da. Quá trình này
được gọi là sừng hóa. Trong quá trình này, các tê bào sừng
thay đổi cẩu trúc của chúng và chức năng sinh lý. Mỗi chu
kỳ của quá trình này mất khoảng 28 ngày.
1.1.1.1. Lớp đáy
1.1.1.
Lớp biểu bì
Lớp biểu bì là lớp ngoài cùng của da. Không có tĩnh mạch
11
Page
bookyhoc.com
lượng nước của biểu bì. Khi bị lão hóa, lớp này trở nên
mỏng hơn và mẩt khả năng giữ nước.
1.1.1.2. Lớp tế bào gai
Lớp hạt gồm 2-4 lớp tế bào có độ dày khoảng 3[zm. Ở
lớp này, quá trình sừng hóa bắt đầu diễn ra. Các tê’ bào
ngày càng đầy sợi keratin và có độ ẩm nhỏ hơn cũng như
hình dạng của các tế bào phẳng hơn so với lớp đáy và lớp
tê’ bào gai.
1.1.14.
Lớp bóng
Lớp bóng chỉ được tìm thấy trong lòng bàn tay và lòng
bàn chân. Các tê’ bào của lớp này trở nên phẳng và dày
đặc hơn. Đây là lớp có khả năng khúc xạ cao.
1.1.15.
Lớp sừng
Lớp tê’ bào gai gổm 10-20 lớp, dày khoảng 50 - 150[zm.
Thông qua quá trình sừng hóa, hình dạng của các tế bào
trở nên phẳng hơn (đa chiều). Những tê’ bào có gai nhỏ ở
bên ngoài màng và được gọi là tế bào gai.
1.1.1.3. Lớp hạt
Lớp sừng là lớp ngoài cùng của biểu bì và dày khoảng
8 - 15[zm. Lớp này bao gồm nhiều lớp tế bào phẳng, cứng
và có hình lục giác được gọi là tế bào sừng. Đây là những
tế bào chết và chứa đầy sợi keratin. Lớp này ngăn chặn sự
mất nước quá mức của các tê bào da và thường chứa 10 -
15% khối lượng nước của biểu bì, tùy thuộc vào tình trạng
da. Tê’ bào sừng được bao quanh bởi lipid nội bào. Thành
phần chính là ceramid, chất đóng vai trò rất
12
Page
bookyhoc.com
Lớp nhú: là lớp phía trên của trung bì, là một mô liên
kết lỏng lẻo và bao gồm lượng lớn các sợi thần kinh, mạch
máu, nước và các tế bào. Trong lớp nhú, các sợi collagen
tạo thành một mạng lưới tốt hơn so với lớp lưới.
Lớp lưới: là lớp phía dưới lớp nhú. Lớp này có các sợi
thần kinh và mao mạch ít hơn so với lớp nhú. Trong lớp
lưới, các sợi collagen được tổng hợp thành bó dày liên kết
song song với bề mặt của da [89].
1.1.2.1. Tuyến mồ hôi
quan trọng trong việc giữ nước. Tế bào sừng cũng chứa
các hợp chất hóa học đặc biệt là yếu tố giữ ẩm tự nhiên
(natural moisturizing factor-NMF) đóng một vai trò quan
trọng trong việc duy trì độ ẩm cho da. NMF gồm natri
pyroglutamat, sphingolipid, ceramide, phospholipid, acid
béo, glycerol, squalen và cholesterol [89].
1.1.2.
Lớp trung bì
Lớp trung bì là lớp thứ hai của da, bên dưới lớp biểu bì.
Lớp này là dày hơn nhiều so với các lớp biểu bì (thường
là 0,5 - 4 mm). Lớp trung bì chứa các tuyến mồ hôi, tuyến
bã nhờn mạch máu, dây thần kinh, các mạch bạch huyết,
các nang lông và tế bào cơ. Các thành phần chính của lớp
trung bì là sợi collagen và sợi elastin, giúp da săn chắc và
đàn hồi. Lớp trung bì có hai lớp gồm: lớp nhú và lớp lưới.
Tuyến mổ hôi là một tuyến ngoại tiết, cấu trúc hình ống
nhỏ, sản xuất và tiết lên bể mặt biểu mô bằng một ống
dẫn. Có hai loại tuyến mồ hôi chính khác nhau vể cầu trúc,
chức năng, sản phẩm tiết, cơ chế bài tiết và giải phẫu:
13
Page
bookyhoc.com
Nang lông là nơi sợi lông từ đó phát triển và là nơi chất
bã nhờn tích lũy. Mỗi nang thường trải qua một chu kỳ 5
năm, với khoảng 90% nang lông có lông phát triển ở bất
kỳ thời gian nào và tăng trưởng trung bình khoảng 15 cm
tuyến mồ hôi toàn vẹn (eccrin gland) và tuyến mồ hôi gây
mùi hay còn gọi là tuyến mồ hôi đầu hủy (apocrin gland).
Tuyến mồ hôi toàn vẹn được phân bố rải rác khắp nơi trên
da, với mật độ khác nhau. Tuyến mồ hôi gây mùi chủ yếu
phân bố ở nách, bẹn, vùng quanh hậu môn. Sổ lượng của
các tuyến mồ hôi hoạt động khác nhau tùy thuộc từng cơ
địa của mỗi người và cũng tùy thuộc vào từng vị trí trên
cơ thể. Lòng bàn tay có khoảng 370 đơn vị/cm2, mặt sau
của bàn tay có 200 đơn vị/cm2, trán có 175 đơn vị/cm2,
vú, bụng và cánh tay có 155 đơn vị/cm2, lưng và chân có
60 - 80 đơn vị/cm2[167].
1.1.2.2. Tuyến bã nhờn
Tuyến bã nhờn là tuyến ngoại tiết nhỏ trong da tiết ra
một chất nhờn được gọi là bã nhờn đổ vào phần trên của
nang lông. Tuyến bã nhờn có ở khắp nơi trên cơ thể (trừ
lòng bàn tay và lòng bàn chân) từ 20 - 50 đơn vị/cm2 và có
thể lên đến 900 - 1000 đơn vị/cm2 ở da mặt, vai và ngực.
Tuyên bã nhờn tiết ra acid nhẹ trên bé mặt da giúp trung
hòa tính kiểm của các chất gây ô nhiễm và giúp duy trì sự
toàn vẹn của hàng rào da. Tuyến bã nhờn hoạt động như
một hệ thống phân phối các chất chống oxy hóa, kháng
khuẩn, pheromon và hydrat hóa của các tầng lớp sừng
[166].
1.1.2.3. Nang lông
14
Page
bookyhoc.com
mỗi năm. Nang lông nằm ở khắp cơ thể trừ lòng bàn tay và
lòng bàn chân [159].
1.1.3.
Lớp hạ bì
Lớp hạ bì là lớp thứ ba của da. Hạ bì có tính chất đàn hồi
và bao gồm một số lượng lớn các tế bào chất béo. Ở lớp
hạ bì có nhiểu mạch máu và dây thần kinh. Độ dày của lớp
này trung bình khoảng 4-9 mm. Tuy nhiên, độ dày thực tế
tùy vào từng cơ địa cũng như phụ thuộc vào khu vực cơ
thể [89].
1.2. SINH LÝ DA
1.2.1.
Sinh lý học của da bình thường
Lớp sừng là lớp ngoài cùng của da. Chức năng của lớp
sừng là làm giảm sự mất nước và bảo vệ da trước các tác
động của môi trường. Lớp sừng chứa các tế bào sừng được
cấu tạo chủ yếu từ keratin. Khoảng gian bào giữa tế bào
sừng gồm các tác nhân giữ ẩm tự nhiên và lipid biểu bì
(ceramide, acid béo, squalen, detriglycerid squalen), đóng
vai trò là hàng rào bảo vệ da.
Lớp biểu bì gồm 10-20 lớp tế bào. Các biểu mô lát tầng
có chứa các tê’ bào sinh sắc tố (melanocyte) liên quan đến
sắc tố da, tế bào Langerhans tham gia trình diện kháng
linh động. Sự đổi mới của lớp sừng được kiểm soát bởi hệ
thống phân hóa tê’ bào. Đá có nhiều thí nghiệm nghiên
cứu vể chức năng của lớp sừng bằng cách gây nhiễu hàng
rào bảo vệ da rồi từ đó xem phản ứng của lớp biểu bì như
thê’ nào. Các thí nghiệm khác nhau được thực hiện như:
chiết lipid của da bằng dung môi không phân cực, sử dụng
nguyên và đáp ứng miễn dịch. Lớp biểu bì có một cấu trúc
băng dính để lấy lớp sừng và gây kích ứng bằng phương
15
Page
bookyhoc.com
Khi bị tổn thương mô, một số chất được sản sinh như:
histamin (làm tăng tính thấm mạch máu, gây co cơ trơn và
co thắt các tiểu phê’ quản), serotonin, các chất trung gian
lipid (prostaglandin, leukotrien, lipoxin và các yếu tố hoạt
pháp hóa học. Kết quả của các thí nghiệm đểu dẫn đến
sự sụt giảm tạm thời hiệu quả bảo vệ của hàng rào da thể
hiện qua sự mất nước. Những thay đổi của lớp sừng làm
gia tăng tế bào sừng để khôi phục lại hàng rào da. Điều này
có thể trực tiếp ảnh hưởng đến sự hầp thụ các chất dinh
dưỡng (chẳng hạn như các acid béo thiết yếu), sự tổng
hợp protein, lipid hoặc việc xử lý các phân tử tiền chất cần
thiết cho chức năng bảo vệ da [156].
1.2.2.
Sinh lý của quá trình viêm
Viêm là một đáp ứng bảo vệ cơ thể của hệ miễn dịch
trước sự tấn công của một tác nhân bên ngoài (vi sinh
vật, tác nhân hóa, lý) hoặc của tác nhân bên trong (hoại
tử do thiếu máu cục bộ, bệnh tự miễn). Đây là một đáp
ứng miễn dịch tự nhiên. Quá trình viêm thường kèm theo
các triệu chứng sưng, nóng, đỏ và đau do các mạch máu
giãn nở, đưa nhiều máu đến nơi tổn thương. Các bạch
cầu cũng theo mạch máu xâm nhập vào mô, tiết các chầt
prostaglandin, cytokine nhằm tiêu diệt hoặc trung hòa các
tác nhân gây tổn thương. Khi viêm không lành lâu ngày sẽ
trở thành viêm mạn tính. Tình trạng viêm mạn tính có thể
dẫn đến một loạt các bệnh như sốt, viêm nha chu, xơ vữa
động mạch, viêm khớp dạng thấp và thậm chí cả ung thư
(ung thư túi mật, ung thư biểu mô).
16
Page
bookyhoc.com
của tổ chức sau đó trở thành tế bào cố định của tổ chức.
- Bạch cầu đa nhân trung tính (neutrophil - N): thực
bào các dị vật nhỏ như vi khuẩn, hồng cầu, khi tiêu hóa
xong thì chết giải phóng ra các chất trung gian hóa học
khởi phát đáp ứng viêm.
- Bạch cầu ái toan (eozinophil - E): thực bào dị vật nhỏ,
thường xuất hiện ở ổ viêm dị ứng.
Các yếu tố chi phối sinh học (cytokin) được sản sinh bởi
các đại thực bào bao gồm: yếu tố hoại tử khối u (tumor
hóa tiểu cầu), bradykinin, các sản phẩm của hệ thống bổ
thể, các sản phẩm của hệ thống đông máu và các chất được
sản sinh bởi các tế bào lympho (lymphokin). Các chất này
được sản sinh từ các tế bào phản ứng với các kích thích
khác nhau.
Viêm được đặc trưng bởi:
- Giãn mạch.
- Tăng tính thấm mao dẫn.
- Đông dịch kẽ (do fibrinogen)
- Gia tăng bạch cầu đơn nhân và bạch cầu hạt.
- Sưng mô.
Các bạch cầu trong quá trình viêm:
- Đại thực bào (mastocyte): thực bào các mảnh chết
- Bạch cầu lympho (lymphocyte - L): thường ở các ổ
viêm mãn tính, không làm nhiệm vụ thực bào mà có chức
năng tạo ra kháng thể và tạo ra một hàng rào bao quanh ổ
viêm, ngăn chặn sự lan tràn của ổ viêm.
17
Page
bookyhoc.com
nước.
- Tiếp tục từ lớp biểu bì vào mạch đến các mô da tưới
máu cao.
- Sự xâm nhập của hoạt chất qua vi tuần hoàn vào hệ
tuần hoàn.
necrosis factor - TNF), interleukin - 1 (IL - 1), yếu tố
kích thích bạch cầu hạt, bạch cầu monocyte
(granulocyte monocyte colony stimulating factor -
GMCSF), yếu tố kích thích bạch cầu hạt (granulocyte
colony stimulating factor - GCSF), yếu tố kích thích bạch
cầu đơn nhân (monocyte colony stimulating factor -
MCSF), những yếu tổ gây ra sự gia tăng sản xuất bạch
cầu hạt và bạch câu đơn nhân của tủy xương và giúp loại
bỏ các nguyên nhân của tình trạng viêm [90], [163].
1.3. SINH KHẢ DỤNG CỦA THUỐC TRÊN DA
1.3.1.
Cơ chế hấp thu của thuốc qua da
Hoạt chất thâm nhập vào lớp sừng bằng cách
khuếch tán thụ động và vận chuyển tích cực, nhưng
chủ yếu là khuếch tán thụ động. Hoạt chất thông qua các
cấu trúc da ở lớp biểu bì và tiếp tục một cách thụ động
thông qua các khớp nối trung bì - biểu bì, nơi các hoạt
chất sẽ theo mạch máu vận chuyển đến hệ tuần hoàn.
Đặc điểm của con đường hấp thụ qua da:
- Các chất tương tác với lớp sừng.
- Sự khuếch tán của các chất qua lớp sừng.
- Hoạt chất từ lớp sừng thân dầu đến lớp biểu bì thân
18
Page
bookyhoc.com
- Thấm qua lớp biểu bì bằng cách đi xuyên qua các khe
giữa các tê’ bào, thấm trực tiếp qua tế bào biểu bì.
- Thấm qua da theo các bộ phận phụ như lỗ chân lông,
tuyến mồ hôi, tuyến bã nhờn.
Trong đó, đường thấm qua lớp biểu bì là chủ yếu vì diện
tích bề mặt của nó lớn hơn 100 - 1000 lân diện tích bề mặt
của các phần phụ [32].
1.3.2.
Động học của quá trình hấp thu
13.2.1. Định luật Fick 1
Định luật Fick 1 về khuếch tán được áp dụng trong điểu
kiện cụ thể:
Hoạt chất có thể được thầm và được hấp thu qua da
theo hai con đường:
Hoạt chất qua da đầu tiên phải vượt qua cấu trúc không
có mạch máu và thân dầu (lớp sừng) và tiếp tục đi qua lớp
thân nước (lớp biểu bì dưới và trung bì) để vào các mao
mạch máu. Hệ số thấm của các chất tăng lên khi tính thân
dầu tăng. Một hoạt chất thân dầu sẽ dễ dàng vượt qua
lớp sừng nhưng tỷ lệ thâm nhập lại thấp khi hoạt chất di
chuyển đến các lớp ưa nước của biểu bì. Tốc độ khuyếch
tán hoạt chất chậm lại và lắng đọng tạm thời trong da.
Các hoạt chất có kích hước phân tử nhỏ có khả năng thẩm
thầu tốt hơn chất có kích thước phân tử lớn. Các chất điện
giải được hòa tan trong dung môi nước khó được hấp thu
qua da do quá trình hydrate hóa các ion chất điện giải làm
tăng kích thước của chúng.
19
Page
bookyhoc.com
1.3.3.
Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hấp thu
hoạt chất của da
1.3.3.1. Vị trí vùng da
Maibach (1967) đã nghiên cứu khả năng thâm nhập của
oct
octanol
nước
oct
1.3.2.2. Hệ sô phân bố octanol - nước
Hệ số phân bố octanol - nước (k ) là tỷ số nồng độ cân
bằng của chất thẩm thấu trong môi trường có hai dung
môi không đồng tan (octanol và nước). Koct được sử dụng
để mô tả tính thân dầu của chất thẩm thầu. Được định
nghĩa bằng công thức: K = C / C . Khả năng hấp
thu của một chất càng lớn khi K có giá trị từ 1 - 2 và giảm
đáng kể khi vượt quá 3,5.
Vị trí vùng da tiếp xúc với hoạt chất có ảnh hưởng đến
khả năng thẩm thấu của nhiều hoạt chất. Feldman và
20
Page
bookyhoc.com
hydrocortison và cho kết quả khả năng thâm nhập tăng
dần: bàn chân < lòng bàn tay < lưng < da < đầu < nách <
trán < bìu. Tỷ lệ thâm nhập vào vùng da ở bìu gấp 42 lần
vùng da ở bàn chân. Kết quả này là do sự khác nhau số
lượng các nang, độ dày của lớp sừng, các thành phần bã
nhờn cũng như khoảng cách của các mao mạch trên bề
mặt của các vùng da.
1.3.3.2. Tuổi
Tuổi có ảnh hưởng đến da cũng như sự thâm nhập của
hoạt chất qua da. Tuổi càng lớn, lớp sừng trở nên khô hơn
do hoạt động của tuyến bã nhờn và lipid bề mặt giảm.
Lượng collagen giảm dần và trở nên ít tan hơn ở lão hóa
tự nhiên, nhưng lại dày và tan nhiều hơn ở vùng da lão hóa
quang hóa. Lão hóa nội tại cũng làm giảm elastin. Chính vì
vậy, các chất tan trong nước được hấp thu hiệu quả trong
khi các chất tan trong dầu vẫn có thể qua được lớp sừng
dù cho hàm lượng lipid trong da có suy giảm. Tuổi tác càng
lớn càng làm tăng lượng nếp gấp protein nhưng lại giảm
sự tương tác của protein với nước. Như vậy, mặc dù da
ở người lớn tuổi gia tăng khả năng giữ nước nhưng phần
lớn trong sỗ này không được gắn kết với protein. Lão hóa
khiến mạng mao mạch bị thoái hóa dần dẫn đến khả năng
cung cấp máu cũng sẽ giảm và ảnh hưởng đến khả năng
hấp thu hoạt chất.
1.3.3.3. Hàng rào bảo vệ của da
Chức năng hàng rào bảo vệ da phụ thuộc chủ yếu vào
lớp sừng. Nhưng sự thay đổi hoặc làm tổn thương đến cấu
trúc da có thể làm tăng tính thấm. Tính thấm có
21
Page
bookyhoc.com
thể bị ảnh hưởng bởi các tác nhân như hóa học (chất tẩy
rửa, dung môi), vật lý (thời tiết, ánh sáng mặt trời) hoặc
bệnh lý (tổn thương cơ, bệnh). Kezic và cộng sự (2001) đã
thực hiện nghiên cứu về tác động của các chất hóa học đến
hàng rào bảo vệ như một số chất tẩy rửa, cồn, dung môi
và cho kết quả là làm thay đổi hoàn toàn thuộc tính của
hàng rào bảo vệ dẫn đến thay đổi chức năng của cấu trúc
này. Bronaugh và Stewart (1985) sử dụng tia UV, phương
pháp mài mòn, băng dính da (một phương pháp cơ học
loại bỏ các lớp sừng) làm ảnh hưởng đến hàng rào bảo vệ
ghi nhận khả năng hấp thu tăng 2 đến 100 lần. Roy và cộng
sự (1994) sử dụng phương pháp băng dính và thấy rằng sự
hấp thu của fentanyl và sufentanil được tăng lên 40 lần.
Ngoài ra, các bệnh lý cũng có thể gây ra khiếm khuyết
ở hàng rào bảo vệ da như viêm da dị ứng hoặc vảy cá, các
bệnh này làm giảm hoặc thay đổi lượng lipid ở lớp sừng
dẫn đến bất thường cầu trúc lipid và suy giảm chức năng
lớp màng bảo vệ. Jakasa và cộng sự (2007) nghiên cứu khả
năng hấp thu hoạt chất của da bị ảnh hưởng bởi bệnh viêm
da dị ứng, kết quả thu được: natri lauryl sulfat và polyeth-
ylen glycol được hầp thu nhiều hơn ở bệnh nhân bị viêm
da dị ứng so với nhóm đối chứng.
I.3.3.4.
Loài
Có sự khác biệt đáng kể về khả năng hấp thu hoạt chất
qua da ở động vật và người. Nguyên nhân được giải thích
có thể là do sự khác biệt về hàm lượng lipid, cấu trúc và
độ dày của lớp sừng. Các khác biệt này làm cho khả năng
thấm và hấp thu qua da rất khác nhau.
22
Page
bookyhoc.com
1.3.3.5. Trao đổi chất
Mặc dù gan là cơ quan trao đổi chất chủ yếu của cơ thể,
nhưng da đảm nhiệm một phần chức năng này. Da có hệ
enzym có khả năng làm thoái hóa các chất được hấp thu
qua da. Các enzym xúc tác phản ứng chuyển hóa các chất
nội sinh như steroid, hormon và các chất lạ (dược phẩm
và hóa chất). Hầu hết các chất được hấp thu qua hàng rào
da có tính thân dầu ở một mức độ phù hợp. Vai trò của
enzym là giải độc và tăng độ phân cực, chuyển hóa các
hợp chất hóa học, sinh học, đóng vai trò quan trọng trong
chức năng loại bỏ độc tố. Tuy nhiên, các enzym cũng có
thể kích hoạt các phân tử thành các chất độc hại hơn. Liu
và cộng sự đã thực hiện thí nghiêm nghiên cứu vần đề này
trên carbosulfan và furathiocarb, kết quả thu được là các
chất này được chuyển hóa thành carbofuran - một chất
độc hơn [32].
1.3.3.6. Khả năng hydrat hóa
Mức độ hydrat hóa lớp sừng là một trong những yếu tố
quan trọng đối với tính thẩm và hấp thu qua da. Khả năng
hydrat hóa tăng giúp tăng khả năng hấp thu hoạt chất. Khi
da bão hòa hơi nước thì mức độ giữ nước sẽ tăng lên,
lớp sừng sẽ trương phồng, mềm ra làm giảm tính cản trở
của làn da và sự hấp thu qua da sẽ dễ dàng hơn. Wester
và Maibach đã nghiên cứu vể khả năng hydrat hóa làn da
trong môi trường mà da bị bít tắc. Kết quả cho thấy các
hoạt chất dế được hấp thu hơn nên cần lưu ý các loại hóa
chất trong bao tay có thể bị thôi nhiễm và thấm vào da tay,
gây tác động có hại [32], [67].
23
Page
bookyhoc.com
1.3.3.7. Nhiệt độ da
Sự thay đổi nhiệt độ da ảnh hưởng đến sự hấp thu
hoạt chất qua da. Brown và Scott đã thực hiện nghiên cứu
về nhiệt độ của da ảnh hưởng đến khả năng thầm của
hoạt chất và kết quả cho thấy có gia tăng hấp thu methyl
salicylat do sự gia tăng nhiệt độ da. Fritsch và Stoughton đã
nghiên cứu in vitro về ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự hấp
thu acid acetylsalicylic qua da người. Họ phát hiện rằng
ở nhiệt độ 4o°c, khả năng hấp thu của salicylat lớn hơn
khoảng 8 lần so với nhiệt độ 10°C. Arita và cộng sự (1970)
đưa ra kết quả về việc tăng tốc độ hăp thu acid salicylic và
carbinoxamin lên gấp 5 lần khi nhiệt độ da bụng của chuột
lang được nâng từ 20°C đến 38°c [32].
1.3.3.8. pH và sự ion hóa
Độ pH của dung dịch ảnh hưởng đến sự hấp thu qua
da. Sự khuếch tán qua da - chủ yếu qua màng lipid - phụ
thuộc vào mức độ phân cực hay sự ion hóa của dược chất.
Đối với dược chất có tính acid yếu hoặc kiềm yêu thì mức
độ ion hóa phụ thuộc vào pH của môi trường. Kushla và
cộng sự (1991) nghiên cứu ảnh hưởng của pH và mức độ
ion hóa đến tính thấm qua da của lidocain ở chuột nhắt và
ở người. Ong thực hiện thí nghiệm hòa tan lidocain trong
hỗn hợp propylene glycol - nước (40 : 60). Khi pH thay đổi
độ tan và mức độ hấp thu của lidocain cũng thay đổi. Kết
quả thu được hệ số thấm của lidocain dạng không ion hóa
so với dạng ion hóa qua da chuột nhắt cao gấp 15 lần và
qua da người cao gầp 52 lần. Tuy nhiên, trong hỗn hợp
được nghiên cứu ở pH phù hợp dạng ion hóa lại có độ tan
rất lớn, do đó sự hấp thu qua
24
Page
bookyhoc.com
Samitz và cộng sự cho thấy sự hấp thu các dung dịch crom
clorua, crom sulfat hoặc crom nitrat trong ống nghiệm
ở pH = 7 ít hơn ở pH = 5 hoặc pH = 9. Arita và cộng sự thực
hiện thí nghiệm nghiên cứu sự ảnh hưởng của pH đến việc
hấp thu acid salicylic và carbinoxamin. Kết quả thu được
là khả năng hấp thu acid salicylic ít ở pH — 5 và cao hơn
ở các giá trị pH acid hơn, trong khi với carbinoxamin, hấp
thu thấp nhất ở pH — 7 và tăng lên trong môi trường có
pH kiềm [51], [67].
13.3.9. Hệ số phân bố dầu - nước
Theo định luật Fick, tốc độ khuếch tán tỉ lệ thuận với
hiệu số nồng độ hoạt chất giữa hai bên màng. Để tăng tốc
tìm nồng độ hoạt chất phù hợp và thường khá cao để tạo
chênh lệch nồng độ lớn.
Hệ số phân bố dầu - nước của hoạt chất có ý nghĩa quan
trọng trong quá trình khuếch tán từ pha này sang pha khác
và tỉ lệ thuận với vận tốc khuếch tán. Hoạt chất sẽ liên tục
phân bố giữa các pha của tá dược, giữa tá dược với lớp
sừng và với các lớp khác của da. Vì da có cấu tạo nhiều lớp
thân dầu và thân nước xen kẽ nhau nên nêu dược chất
chỉ thân dầu hoặc thân nước (hệ số phân bỗ dầu nước rất
khác so với 1) sẽ khó thấm qua da. Thực nghiệm cho thầy
hoạt chất có hệ số phân bố dầu - nước xầp xỉ bằng 1 sẽ
được hầp thu qua da tốt nhất [93].
1.3.3.10. Nông độ hoạt chất
độ và lưu lượng hoạt chất thám qua da, trong bào chê’ cần
25
Page
bookyhoc.com
Lượng thuốc phóng thích:
m = 2Co(Dt/7t)1/2
m: lượng hoạt chất phóng thích trong một đơn vị diện
tích.
C : nồng độ hoạt chất ban đầu.
D: hệ số khuếch tán của hoạt chất trong tá dược.
t: thời gian sau khi dùng.
Barry và cộng sự (1985) chứng minh sự phụ thuộc của
lượng hoạt chất giải phóng theo thời gian là hàm số mũ,
khi lấy căn bậc hai của thời gian làm trục hoành thì đường
biểu diễn sự phụ thuộc của lượng hoạt chất theo thời gian
sẽ là đường thẳng [73].
Q
1.3.3.11. Câu trúc hóa học
Scheuplein, Blank, Brauner và McFarlane (1969) thực
hiện nghiên cứu vể sự hầp thu qua da của các chất với sự
hiện diện của nhóm phân cực có khối lượng phân tử nằm
trong khoảng khối lượng phân tử của oestron (khối lượng
phân tử 270,3 Da) và hydrocortison (khối
26
Page
bookyhoc.com
lượng phân tử là 360,4 Da). Họ thực hiện trên nhóm chất
gồm: progesteron, pregnenolon, hydroxypregnenolon,
hydroxyprogesteron, cortexon, testosteron, cortexolon,
corticosteron, cortison, hydro cortison và aldosteron. Họ
nhận thấy rằng các phân tử phân cực hơn sẽ hấp thu chậm
hơn vì kém hòa tan trong lớp lipid của da. Như vậy, trong
trường hợp của steroid, các cấu trúc hóa học ảnh hưởng
đến một mức độ đáng kể sự hấp thu qua lớp sừng. Cấu
nước và khả năng tương tác giữa các hợp chất và lớp sừng.
trúc hóa học ảnh hưởng trực tiếp đến hệ số phân bố dầu/
Cũng đã có nghiên cứu vể khả năng hấp thu qua da của
dung dịch crom hóa trị 3 và dung dịch crom hóa trị 6. Kết
quả cho thấy dung dịch crom hóa trị 3 chậm hấp thu hơn
crom hóa trị 6 ở nổng độ 0,017 - 0,239 M. Nguyên nhân có
thể là do sự khác biệt trong khả năng tương tác với protein
lớp sừng của hai hợp chất. Với hóa trị 3, crom gắn chặt với
protein của lớp sừng gấp ba lẳn so với crom hóa trị 6 [67].
1.3.3.12. Kích thước phân tử
Hoạt chất có kích thước phân tử càng nhỏ càng dễ thấm
qua da. Tuy nhiên, trong một khoảng kích thước phân tử
hẹp, sự khác biệt về hệ số thấm không đáng kể. Tác động
của kích thước phân tử đỗi với tính thấm chỉ rõ rệt khi sự
khác biệt ảnh hưởng đến độ tan của hoạt chầt. Những cấu
trúc đại phân tử như keo sulfur, albumin, dextran, polyvi-
nyl pyrrolidone và các polypeptide có thể dễ dàng thấm
qua lớp hàng rào bảo vệ da nêu chúng được phân bố trong
một dung môi thân dầu. Trong khi vẫn những hoạt chất
27
Page
bookyhoc.com
này sẽ khó thấm hơn khi được phàn bỗ trong một dung
môi thân nước. Vì vậy, các nhà nghiên cứu kết luận rằng
kích thước phân tử đơn thuần không quyết định nhiều
đến độ thấm của hoạt chất qua da trừ khi sự khác biệt kích
thước quá lớn [67].
1.3.3.13. Tá dược
Vai trò và sự ảnh hưởng của tá dược đối với sự hấp
thu thuốc qua da thể hiện thông qua sự tương tác giữa tá
dược và hoạt chất, tương tác giữa tá dược với da, trong đó
chủ yếu tác động trên lớp sừng làm thay đổi tính thấm và
khả năng hấp thu qua da.
Các hình thức tác động nổi bật:
- Làm tăng hydrat hóa lớp sừng
- Làm tăng nhiệt độ da
- Làm tăng cường sự hấp thu qua da.
Các tá dược dẫn chất dùng tại chỗ có thể làm tăng hoặc
giảm độ ẩm của lớp sừng làm ảnh hưởng lên sự hydrat
hóa lớp sừng và sự thấm thuốc qua da. Các tá dược dầu
mỡ như lanolin, isopropyl myristat, parafin,... tạo một lớp
mỏng phủ kín trên da làm chậm sự mất nước, duy trì sự
hydrat hóa tốt và làm tăng nhiệt độ của da (tác động làm
tăng hấp thu do nhiệt độ thường không đáng kể so với sự
hydrat hóa). Các tá dược nhũ tương nước/dầu (N/D) mức
độ che kín ít hơn tá dược dầu mỡ nhưng nhiều hơn dầu/
nước (D/N). Các tá dược nhũ tương vừa có vai trò làm
chậm sự mất nước vừa làm tăng sự hydrat hóa. Ngoài ra,
các chất hút ẩm như glycerol, glycol, polyethylen glycol,...
có thể hút nước từ da làm giảm sự hydrat hóa [67].
28
Page
bookyhoc.com
1.3.3.14. Dung môi
Nhóm alkyl methyl sulfoxid
Công thức chung: R - SO - CH3
Các chất thông dụng: dimethyl sulfoxid (DMSO),
dimethyl formamid (DMF) và dimethyl acetamid (DMA).
Cơ chế làm tăng hẩp thu:
- Do hòa tan trong lipid làm thay đổi cầu trúc của các
lipoprotein đồng thời làm tăng sự hydrat hóa.
- Tăng dự trữ thuốc ở lớp sừng như corticoid, griseo
fulvin.
- Sự phối hợp DMSO và propylene glycol hoặc acid
Một số dung môi khác có tác dụng tương tự như
propylene glycol, PEG 300 (polyethylen glycol 300),
PEG 400 (polyethylenglycol 400), isopropyl myristat,
oleic làm tăng hấp thu cao hơn so với dùng dung môi riêng
lẻ. Tuy nhiên, DMSO có mùi và có hiện tượng kích ứng da.
transcutol,... Hsu, Tsai và Huang (1991) nghiên cứu sự hấp
thu qua da thỏ của piroxicam dạng gel 5%, trước khi bôi
thuốc, da được xử lý với các dung môi ở các thời gian khác
nhau. Kết quả cho thấy sau một giờ xử lý với hỗn hợp 10%
acid oleic hòa tan trong propylenglycol, sinh khả dụng tăng
khoảng 8 lẳn so với da không xử lý. Sau 24 giờ tăng 22 lần,
với hỗn hợp DMSO trong propylene glycol sau 1 giờ lượng
hấp thu không tăng, sau 24 giờ tăng gấp 4 lần.
Các acid béo no và các este alkyl của chúng
Công thức chung: CH3(CH2)nCOOR. Acid caprilic được
sử dụng nhiều nhất.
29
Page
bookyhoc.com
Các acid béo không no và các este alkyl của chúng
Công thức chung: .
CH3(CH2)n - CH2 - CH = CH - CH2 - (CH2)n - COOR.
Ngoài cơ chế làm tăng sự hấp thu các chất này cũng làm
tăng sự hydrat hóa lớp sừng. Acid oleic được sử dụng phổ
biến để làm tăng tính thấm của nhiều hợp chất.
Các dẫn chất của pyrrolidon:
Taro Ogiso và cộng sự (1987) nghiên cứu sự hấp thu qua
da của dexamethason acetat và dexamethason palmitat
từ thuốc mỡ với tá dược hydrocarbon và gel thân
nước có thêm 5% azon và span 80. Kết quả cho thấy mức
độ giải phóng và hầp thu hoạt chất tăng lên rõ rệt. Tỉ lệ tăng
hấp thu qua các loại da khác nhau (với nồng độ azon3%) ở
da người tỉ lệ tăng chỉ gấp 3 lần, ở da chuột nhắt tăng đến
70 lần.
Các chất khác
a-bisabolol làm giảm tính liên kết chặt chẽ của lớp lipid
trong lớp sừng vì vậy hoạt chất dễ đi xuyên qua da làm
tăng sự hấp thu.
Teruko Imai và cộng sự (1984) sử dụng Ịi-cyclodextrin
nhằm làm tăng độ tan, tốc độ giải phóng và hấp thu qua da
của flutbiprofen. Kết quả thu được là tốc độ hòa tan, tính
thấm và sinh khả dụng của flurbiprofen qua da tăng lên khi
hoạt chất được tạo phức với (3-cyclodextrin).
30
Page
bookyhoc.com
- Làm giảm sức căng bề mặt giữa các pha do đó làm
tăng tính thẩm [26], [67], [76], [93].
- Làm giảm độ nhớt của môi trường do đó làm tăng sự
khuếch tán.
Chất diện hoạt
Ảnh hưởng của chất diện hoạt đến sinh khả dụng của
thuốc rất phức tạp, trên nhiểu khía cạnh khác nhau như:
- Làm thay đổi độ tan, thay đổi hệ số phân bố, hệ số
khuếch tán của hoạt chất trong tá dược và với các lớp của
da.
31
Page
bookyhoc.com
Chương 2
Tổng quan về Mesotherapy
2.1. ĐỊNH NGHĨA
Tiếp đầu ngữ “meso” có nghĩa là “ở giữa”, “lớp giữa”
hay “trung bình”, nên thuật ngữ “mesotherapy” được giải
thích dựa trên vị trí tiêm ở lớp “giữa da”, hay “trong da”
hay còn gọi là “intradermotherapy” (liệu pháp tiêm trong
da). Mesotherapy bao gồm nhiều mũi tiêm trong da hoặc
dưới da của một hỗn hợp các hợp chất (chiết xuất thực
vật, hoạt chất vi lượng đổng căn, dược chất, các loại vita-
min, và các chất có hoạt tính sinh học khác) ở liều lượng
thấp, sử dụng những mũi kim rất mảnh, để chữa trị những
bệnh lý y khoa (thường là cục bộ) và cải thiện các tình trạng
thẩm mỹ. Thuật ngữ mesotherapy được đề xuất bởi bác sỹ
Pistol (cha đẻ của mesotherapy) vào năm 1958. Tiếp đầu
ngữ meso- thường gây nhiều tranh cãi, và đối với tác giả,
liệu pháp mesotherapy của anh ta chỉ hiệu quả trên những
vần đề ở trung bì mà thôi. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế của
liệu pháp này trên mô/tổ chức còn vượt xa hơn thế nên
mesotherapy được sử dụng rộng rãi như một liệu pháp
chữa trị y khoa kể cả cho mạch máu, gân - khớp, hay các
32
Page
bookyhoc.com
mô liên kết. Mesotherapy không phải là một phương pháp
trị liệu đặc hiệu cho bất kỳ một tình trạng bệnh lý nào, mà
chỉ đơn thuần là một thuật ngữ mô tả một phương pháp
đưa thuốc/hoạt chất vào cơ thể hay tới đích.
Mesotherapy được xem là một kỹ thuật y khoa do thực
hiện mesotherapy cần kiến thức và kinh nghiệm thực hành
y khoa, chẩn đoán chính xác vấn đề và tình trạng da bệnh
nhân là hết sức cần thiết, hiệu quả trị liệu không chỉ phụ
thuộc vào lượng thuốc đưa vào mà còn phụ thuộc vào bản
chất của hoạt chất được lựa chọn, và đặc biệt là phương
pháp này đòi hỏi sự hiểu biết sâu rộng cũng như những
tiêu chuẩn dược lý chính xác. Mesotherapy đòi hỏi phải có
chỉ định đúng đắn, tiếp cận lâm sàng chính xác, công nghệ
bào chế hiện đại nhằm đảm bảo tiêu chí vô trùng - vô chí
nhiệt tố, kỹ thuật thực hiện chuẩn mực và sự phối hợp
hoạt chất thuốc phù hợp về loại và lượng hoạt chất.
2.2. CƠ CHẾ
Cơ chế chung của mesotherapy là vận chuyển thuốc
tới vị trí mục tiêu. Khi hoạt chất được tiêm vào da bằng
phương pháp mesotherapy, làn da sẽ đóng vai trò như
một kho lưu giữ thuốc và giải phóng dần theo thời gian.
Thuốc được tiêm vào da sẽ được lưu giữ tại vị trí cục bộ đó
lâu hơn do ít bị ảnh hưởng và đào thải bởi hệ tuần hoàn
chung. Bên cạnh đó, các loại hoạt chất khi được tiêm nông
ở bể mặt da cũng sẽ có xu hướng khuếch tán dần và đi sâu
vào da hơn theo thời gian, nên khi tiêm càng nông thì hoạt
chất thuốc sẽ lưu lại ở da càng lâu.
33
Page
bookyhoc.com
2.3. ƯU ĐIỂM
Các lợi ích mà mesotherapy mang lại cho làn da có thể
kể đến như tăng cường lưu thông bạch huyết cũng như
tưới máu đến vùng điều trị, giúp teo nhỏ tế bào mỡ, ly giải
mỡ, loại trừ mô xơ và các mô liên kết chai cứng, kích thích
tăng cường sản sinh collagen và elastin cho làn da và đặc
biệt nhất là tăng cường hoạt tính của các hoạt chất nhờ
vào khả năng tập trung nồng độ thuốc cao tại vị trí cần trị
liệu. Các hoạt chất được đưa vào da bằng phương pháp
mesotherapy không cần đi vào tuần hoàn chung, không
bị phá hủy bởi hệ thống men tiêu hóa, cũng như không
bị chuyển hóa lần đầu qua gan nên hiệu quả mong muốn
trở nên mạnh mẽ và nhanh chóng hơn rất nhiều. Các loại
thuốc khi dùng đường uống sẽ bị dạ dày và gan phá hủy
một phần, cũng như toàn bộ lượng thuốc được hấp thu sẽ
khuếch tán khắp nơi trong cơ thể, dẫn tới nguy cơ gây nên
các tác dụng phụ trên toàn thân trong khi lượng thuốc đến
được vị trí trị liệu thì lại quá ít đôi khi không đủ tạo nên tác
dụng sinh học. Chính vì lẽ đó, mesotherapy cũng giúp giảm
thiểu lượng thuốc cần sử dụng (đôi khi chỉ cần 1% so với
liều dùng đường uống) nhờ vào khả năng đưa hoạt chất
nguyên vẹn đến chính xác mục tiêu trị liệu, từ đó giảm
thiểu được tác dụng phụ trên hệ thống cũng như độc tính
của thuốc, đồng thời tránh được nguy cơ kháng thuốc của
cơ thể. Thuốc tiêm bằng phương pháp mesotherapy cũng
có thể được lựa chọn nhiểu loại và pha trộn tuỳ theo từng
cơ địa, tình trạng da cũng như vẩn đê’ khác nhau để tối ưu
hóa được hiệu quả trị liệu.
34
Page
bookyhoc.com
2.4. CÁC HÌNH THỨC MESOTHERAPY KHÁC
Khi nhắc đến liệu pháp mesotherapy, đa phần chúng
ta sẽ nghĩ ngay đến phương pháp tiêm vào da. Tuy nhiên,
thực tế vẫn còn có những kỹ thuật mesotherapy khác, cũng
với cơ chế là đưa thuốc qua da một cách chủ động đến vị
trí tác động, có thể kể đến như lăn kim, hay các công nghệ
mesotherapy không dùng kim.
• Lăn kim là phương pháp dùng những đầu lăn có mang
kim để lăn nhẹ trên bề mặt da nhằm tạo ra những tổn
thương vi điểm lành tính đóng vai trò là các kênh dẫn để
hoạt chất thấm qua biểu bì một cách dễ dàng hơn. Bên
cạnh đó, các tổn thương vi điểm lành tính này còn có tác
dụng kích thích quá trình tái tạo, tăng sinh collagen và elas
tin cho làn da nên thường được ứng dụng trong các quy
trình trẻ hóa làn da, tăng cường độ đàn hồi - săn chắc, xóa
các nếp nhăn li ti, se khít chân lông hay điều trị sẹo lõm.
Tùy thuộc vào vùng da và vấn đề trị liệu mà bác sĩ sẽ lựa
chọn độ dài kim cũng như hoạt chất phù họp.
• Các công nghệ mesotherapy không dùng kim có thể
kể đến như điện chuyển ion, siêu âm hay điện di. Đây là
những kỹ thuật mesotherapy đòi hỏi trang thiết bị công
nghệ cao và dung dịch thuốc dùng kèm chuyên dụng.
Thuốc dùng cho các công nghệ này phải đáp ứng các điều
kiện thiết yếu để công nghệ phát huy tác dụng (hoạt chất
thuốc ở dạng phân cực hay không phân cực, điện ly mạnh
hay yếu, thân dầu hay thân nước,...) nhưng lại không đòi
hỏi quá nghiêm ngặt về tiêu chí vô trùng hay công nghệ
bào chế như thuốc tiêm.
35
Page
bookyhoc.com
2.5. TÁC DỤNG PHỤ
Tác dụng phụ của liệu pháp mesotherapy có thể do bản
• Tác dụng phụ tại chỗ: các tác dụng phụ tại chỗ của me
sotherapy thường là thoáng qua, dễ hồi phục và thường
xuất hiện ở lần đầu trị liệu, có thể là một hoặc một vài
trong các biểu hiện như đau nhẹ, chảy máu, các vết tụ
máu nhỏ, đỏ da nhẹ, sưng, bong da, vết xước da, hằn da
vẽ nổi hay mày đay vẽ nổi (một dạng mày đay vật lý). Các
biểu hiện này có thể được che phủ bằng trang điểm.
• Các tai biến hiếm gặp: dị ứng (cần được kiểm soát kỹ
bằng cách tiêm test da trước khi thực hiện), tăng sắc tố
hay các tai biến cực kì hiếm như hoại tử nhiễm trùng, u
hạt, sẹo lồi, nhiễm khuẩn.
chất thuốc hoặc do kỹ thuật tiêm của bác sĩ. Thông thường,
thuốc sử dụng liều thấp và tiêm cục bộ trong da rẩt ít khi
nào gây ra các tác dụng phụ trên hệ thống. Liều thuốc càng
cao, hiệu lực thuốc càng mạnh, và tiêm càng sâu thì nguy
cơ phát sinh tác dụng phụ trên hệ thống càng cao. Bên
cạnh các tác dụng phụ của thuốc hay của kỹ thuật tiêm,
thì phản ứng dị ứng cũng cần được hết sức quan tâm, với
bất kỳ kỹ thuật nào. Tuy nhiên, phản ứng tức thì với thuốc
hay đỏ da, nề da do thuốc (ví dụ sau khi tiêm phosphatidyl
cholin) cần phải được nhận diện rõ ràng và không được
nhầm lẫn với phản ứng dị ứng. Cũng cần lưu ý là những
vùng nhạy cảm như môi hay vùng xung quanh mắt cũng dễ
dàng bị sưng phù do các kích thích vật lý từ kỹ thuật tiêm.
36
Page
bookyhoc.com
• Kích thước nòng kim càng lớn tất nhiên sẽ càng cho
hoạt chất khác nhau có thể sẽ có những đặc tính khác
nhau, cũng như những tác dụng phụ tức thời hay lâu dài
phản ứng bình thưòng và bất thường có thể xảy ra. Ví
dụ như trường hợp sử dụng hỗn họp phosphatidyl cholin
không
• Các tác dụng phụ đặc trưng của hoạt chất: mỗi loại
như nhau, nên các bác sĩ cần tìm hiểu kỹ về từng loại hoạt
chất trước khi thực hiện để có thể tiên liệu được những
và deoxy cholate để tiêm tan mỡ thường xuất hiện các
kích ứng cục bộ như đỏ da, sưng và ngứa tức thì ngay
sau khi tiêm và có thể kéo dài trong 3 - 5 ngày hoặc hon
(tùy thuộc vào liều lượng và kỹ thuật tiêm). Cảm giác
đau (do phản ứng viêm) và các vết tụ máu có thể tồn tại
đến 2 tuần.
2.6. CẢM GIÁC ĐAU KHI THỰC HIỆN MESOTHERAPY
Kỹ thuật mesotherapy là một kỹ thuật xâm lần tối thiểu
bằng cách sử dụng đầu kim mảnh với độ dài thích hợp
để đưa thuốc vào da ở một độ sâu nhất định với liều
lượng phù hợp. Chính vì vậy, cảm giác đau là không thể
tránh khỏi. Tuy nhiên, đa phần các cảm giác đau này có
thể chịu đựng được và thường được hỗ trợ giảm đau bằng
cách bôi kem tê (ủ tê) trước khi thực hiện khoảng 30 - 45
phút. Cảm giác đau của liệu pháp mesotherapy thường
phụ thuộc vào kích thước kim, bản chất và liều lượng
thuốc, cũng như kỹ thuật tiêm của bác sĩ.
cảm giác đau nhiều hơn nên thông thường các bác sĩ
trừ
hay chọn kích thước nòng kim rất bé (30G đến 34G)
khi dung dịch có độ nhớt quá cao.
37
Page
bookyhoc.com
• Các loại thuốc có bản chất là acid, hay có tính điện ly
mạnh, hoặc dung dịch có tính ưu trương hay nhược trương
so với nội môi cơ thể thường cho cảm giác đau buốt
nhiều hơn. Đối vói các chất điện ly mạnh và dung dịch
quá ưu trương có thể đau rát ngoài khả năng chịu
đựng, phồng rộp vùng da sau khi tiêm và dễ hình thành
sẹo thâm sau đó, hoặc nghiêm trọng hơn có thể gây chết
tế bào da hàng lọat và dẫn tói hoại tử da.
• Kỹ thuật tiêm của bác sĩ cũng quyết định rất nhiều
đến cảm giác đau trên bệnh nhân. Kỹ thuật véo da khi tiêm
sâu (tiêm tan mỡ) là một cách giảm đau hiệu quả, đặc biệt
đối vói cảm giác kim đâm vào da, nhưng lại kém hiệu quả
khi cảm giác đau buốt gây ra bởi dung dịch thuốc tiêm.
Tiêm trong da thường đau hơn tiêm dưới da, đặc biệt là
khi tiêm lượng thuốc lớn. Không nên dùng kim tiêm mảnh
đâm vào nút cao su để rút thuốc vì sẽ làm mòn đầu kim và
khiến cho kim đâm vào da không sắc, tạo cảm giác đau và
khó chịu hơn trên bệnh nhân
38
Page
bookyhoc.com
3.1. NGUYÊN TẮC THỰC HIỆN
3.1.1.
Kỹ thuật vệ sinh phòng chống lây nhiễm
3.1.1.1. Vệ sinh bàn tay
Chương 3
Kỹ thuật thực hiện
Vệ sinh bàn tay là cách tốt và đơn giản nhầt để ngăn chặn
sự lây lan của vi sinh vật. Vệ sinh bàn tay nên được thực
hiện hoặc bằng xà phòng và nước sinh hoạt (nếu tay dính
bẩn) hoặc với cồn (nếu tay sạch). Nếu tay dơ, dính bẩn,
rửa tay bằng xà phòng diệt khuẩn dưới vòi nước chảy, sau
đó lau khô bằng khăn giấy sử dụng một lần. Nếu tay sạch,
không dính bẩn, rửa tay bằng sản phẩm rửa tay khử trùng
(thường chứa cồn) sau đó lau khô bằng khăn giầy một lần.
Thực hiện vệ sinh tay trước khi tiến hành thủ thuật và sau
khi thực hiện xong. Có thể cân nhắc vệ sinh
39
Page
bookyhoc.com
tay giữa các mũi tiêm nếu trong quá trình tiêm, tay có
tiếp xúc với máu, dịch cơ thể.
3.1.1.2. Găng tay
Mang găng sạch, chọn găng vừa với tay, sử dụng một
lần. Mang găng khi:
- Có tiếp xúc trực tiếp với máu của bệnh nhân hoặc
những vật liệu có khả năng lây nhiễm khác.
Khẩu trang, kính bảo vệ mắt và quần áo bảo hộ được sử
dụng khi các thủ thuật tiêm bao phủ được dự kiến sẽ có
văng máu, bắn máu.
3.1.1.4. Chuẩn bị da và khử trùng
Khử trùng da gồm ba bước:
- Lau sạch khu vực trung tâm vùng tiêm rồi lau xoắn ốc
ra ngoài, không đi qua khu vực đã lau.
- Lau xong chờ trong 30 giây để da khô hoàn toàn.
- Nếu da các nhân viên y tê có tổn thương (eczema, da
khô, nứt, vết thương hở).
- Nếu da bệnh nhân có tổn thương (eczema, bỏng hoặc
nhiễm trùng da).
3.1.13.
Dụng cụ bảo hộ khác
- Cho dung dịch cồn (isopropyl alcohol hoặc ethanol)
60 - 70% lên một miếng gạc hoặc bông gòn sử dụng một
lần. Không sử dụng methanol hoặc cồn methyl vì chúng
không an toàn cho người sử dụng.
40
Page
bookyhoc.com
Không nên tẩm cồn vào gòn rồi để sẵn trong các hộp
đựng - vì chúng dế bị nhiễm bẩn bởi bàn tay và vi khuẩn
trong môi trường.
Sử dụng kim và bơm tiêm mới cho mỗi thủ thuật. Kiểm
tra bao bì của các dụng cụ để đảm bảo rằng các hàng rào
bảo vệ vẫn còn nguyên vẹn. Không sử dụng các dụng cụ có
bao bì đã bị thủng, rách nát, hư hỏng do tiếp xúc với độ
ẩm, hoặc hết hạn sử dụng [105].
3.1.2.
Dụng cụ
3.1.2.1. Kim và bơm tiêm
Tiêm trong mesotherapy thường chỉ là tiêm vi điểm
nhưng bác sĩ vẫn cần kiểm soát sao cho bệnh nhân ít đau
và ít tổn thương nhất. Ngoài các hoạt chất tiêm, kỹ thuật
tiêm và chất lượng của bơm tiêm và kim tiêm là các yêu tố
quyết định. Tất cả các vật liệu không nên chứa silicon và
nhựa latex. Bơm tiêm gồm các loại: 1 ml, 2,5 ml, 5 ml và
10 ml. Mỗi bơm tiêm phải đảm bảo ba bộ phận: pít-tông,
xi lanh và kim. Pít-tông phải được gắn đốc cao su, đảm bảo
tiêm dễ dàng, mượt mà. Nêu sử dụng súng tiêm điện tử,
các bơm tiêm được sản xuất với chất lượng chuẩn là rất
quan trọng để đảm bảo đưa hết toàn bộ thuốc trong ống
vào kim.
Kim tiêm ngắn 4 mm và 6 mm được sử dụng đặc biệt
phổ biến trong phương pháp mesotherapy (mesoram, ne-
sorelle, mesojet). Các kim mesojet được đặc trưng bởi mặt
giác kim ngũ giác giúp giảm chảy máu đáng kể từ da.
41
Page
bookyhoc.com
3.1.2.2. Súng tiêm (mesogun, meso-pisto)
Súng tiêm là một công cụ chuyên dụng trong thực hành
tay thích hợp hơn trong điều trị vùng cung mày, bàn tay,
bàn chân hoặc niêm mạc miệng (điều trị bệnh nha chu), vì
bác sĩ dễ kiểm soát hơn ở những khu vực nhạy cảm.
Tuy nhiên, chỉ nên sử dụng loại kim này với súng tiêm
điện tử, vì mặt kim ngũ giác khó xâm nhập vào da hơn
kim mặt tam giác, cho dù kim tiêm có chất lượng cao, sản
phẩm cho hiệu quả thực hiện cao, chúng vẫn cần phải
được thay khi dùng tiêm nhiều lần. Kim tiêm có thể bị uốn
cong hoặc trở nên cùn, đặc biệt là khi sử dụng kỹ thuật
nappage. Bên cạnh đó, ống kim cân được kiểm tra độ lưu
thông và toàn vẹn trước mỗi liệu trình. Mỗi kim phải được
xử lý ngay sau khi sử dụng, sử dụng hộp chứa chuyên
dụng cho vật sắc nhọn. Trong quá trình thao tác, không
đậy kim để tránh khả năng chảy máu do kim đâm trúng.
Các kim được khuyến cáo sử dụng:
- Vùng mặt, cổ: 4 mm 30G.
- Cellulite, tan mỡ: 6 mm 30G và 1,27cm 30G.
thẩm mỹ, cho phép tiêm hoạt chất thấm sâu hiệu quả với
liều lượng chính xác, đồng bộ và hạn chế cảm giác đau so
với phương pháp tiêm bằng tay. Súng tiêm cho tốc độ tiêm
nhanh khi kết hợp với các dụng cụ cố định bề mặt da.
Súng tiêm được sử dụng chủ yếu cho các khu vực
da nhạy cảm như trong điểu trị cellulite, điều trị trên
khuôn mặt (mesolift), hoặc các bệnh nhân đặc biệt nhạy
cảm với cảm giác đau. Súng tiêm giúp hạn chế hình thành
những vết trầy xước trên mặt trong quá trình điều trị. Tiêm
42
Page
bookyhoc.com
Phân loại súng tiêm
Do quá trình tiêm bằng máy gồm hai giai đoạn: tiêm và
Hướng dẫn sử dụng súng tiêm gổm những bước cơ bản
sau:
suất tiêm [38], [116].
Súng tiêm tự động hoàn toàn: hai giai đoạn tiêm và
phân bố thuốc được thực hiện hoàn toàn bởi máy.
phân bố hoạt chất vào da. Vì vậy có hai dạng súng tiêm
được phân loại dựa vào mức độ tự động hóa:
Súng tiêm bán phần: một trong hai giai đoạn của quá
trình tiêm được điều chỉnh bởi con người.
hoặc tùy chỉnh.
Súng tiêm thường có hai chế độ: tiêm liên tục và tiêm
ngắt quãng. Trong chê độ tiêm liên tục, khi thiết bị được
khởi động cơ chế tiêm, kim tiêm xuyên qua da và quá
trình phân bố thuốc diễn ra liên tục. Trong chế độ tiêm
ngắt quãng: khi thiết bị được khởi động cơ chế tiêm, kim
tiêm được đâm xuyên vào da, tần suất tiêm có thể cố định
- Kết nối súng tiêm với nguồn điện và bơm hút chân
không, bàn đạp (nếu có),...
- Gắn bơm tiêm với kim tiêm có độ sâu hoặc đầu đa
kim tiêm phù hợp.
- Gắn bơm tiêm vào súng tiêm.
- Điểu chỉnh áp suất tiêm, thể tích hoạt chất mỗi nhát
tiêm.
- Lựa chọn chế độ tiêm (liên tục hay ngắt quãng), tần
43
Page
bookyhoc.com
• Kích thích thấm thuốc qua da một cách đơn giản và
hiệu quả
• Không đau
• Không gây chảy máu
• Nhanh chóng
• Có thể ứng dụng để điều trị trên diện rộng.
Tiêm papule: tiêm vào bể mặt phân cách giữa lớp trung
3.1.3.
Kỹ thuật tiêm
Kỹ thuật tiêm trong phương pháp mesotherapy khác
biệt so với phương pháp tiêm thông thường. Góc tiêm sẽ
quyết định độ sâu kim tiêm đâm vào da. Phân loại kỹ thuật
tiêm phụ thuộc vào độ sâu khi tiêm (trung bì, hạ bì hay lớp
dưới da) như sau:
Tiêm trong da: tiêm vào lớp biểu bì, không gây đau và có
thể tiêm trên một diện tích da rộng. Kỹ thuật này thường
sử dụng kim dài 13 mm, 30G, tiêm một lượng thuốc có thể
tích khoảng 2-5 ml. Sau khi tiêm, bệnh nhân cần nghỉ ngơi
3-5 phút để quá trình thẩm thuốc diễn ra hoàn toàn. Ưu
điểm của phương pháp này gồm:
Tiêm nappage: tiêm góc tiêm 30 - 60° so với bề mặt
da, tân suất tiêm 2-4 nhát tiêm/giây với áp lực tiêm.
bì và biểu bì (độ sâu 1-2 mm theo phương thẳng đứng
tính từ bề mặt da). Sau khi tiêm, lớp biểu bì có thể bị tách
tạm thời với lớp đáy (basal layer). Kỹ thuật này thường sử
dụng kim tiêm dài 4 mm, tiêm lượng hoạt chất có thể tích
2-5 ml. Kỹ thuật được ứng dụng phổ biến trong điểu trị các
nếp nhăn vùng mặt.
44
Page
bookyhoc.com
không thay đổi. Độ sâu kim tiêm đâm vào da trong khoảng
2 -4 mm. Kỹ thuật này sử dụng kim dài 4 mm, tiêm lượng
thuốc có thể tích từ 5 - 10 ml. Ưu điểm của phương pháp
tiêm này như sau:
cellulite.
Tiêm rải (mesoperfusion): kỹ thuật đặc trưng bởi
phương pháp tiêm tuần tự độ sâu 4 mm rồi 13 mm, cần
được hỗ trợ bởi máy tiêm. Lượng hoạt chất tiêm trong
khoảng 2,5 - 10 ml trong thời gian 30 - 90 phút trên 4-6
vùng điều trị. Phương pháp tạo cảm giác thoải mái cho
bệnh nhân, không gây đau và cho phép điều trị trên cả
• Kích thích trung bì
• Có thể điểu trị trên diện rộng
• ít gây đau
• Thực hiện nhanh chóng.
Phươngpháp được ứng dụng nhiều trong điều trị
Tiêm điểm (point by point): tiêm điểm giúp cung cấp
hoạt chất đến lớp trung bì sâu. Kỹ thuật này cũng sử dụng
kim tiêm dài 4 mm, với lượng hoạt chất khoảng
5 ml. Tiêm điểm được ứng dụng chủ yếu trong điểu trị
vùng thùy xơ ở triệu chứng cellulite, các thể xơ và xơ cứng
trong cellulite.
Tiêm hệ thống (systematic mesotherapy): được mô
tả bởi Didier Mrejen, với độ tiêm sâu đến lớp trung bì
và lớp hạ bì. Kỹ thuật thường sử dụng kim dài 13 mm,
đầu kim nhỏ, tiêm lượng thuốc trong khoảng 2-3 ml. Tuy
nhiên, kỹ thuật này ít được ứng dụng trong phương pháp
mesotherapy.
45
Page
bookyhoc.com
những vùng da nhạy cảm.
Tiêm dưới da (tiêm vào lớp hạ bì): tiêm vào hạ bì là
một hình thức tiêm của y khoa truyền thống nhưng cũng
được ứng dụng phổ biến trong lĩnh vực thẩm mỹ. Phương
pháp được ứng dụng phổ biến trong điểu trị tích mỡ cục
bộ [8].
Tiêm luồng thẳng (linear threading): chỉ nên thực hiện
tiêm thẳng đứng hay nằm ngang. Tiêm thẳng đứng thường
dùng trong tiêm nếp nhăn vùng rãnh mũi má hay giữa hai
chân mày 10-15 ngày trước khi tiêm filler da và botulinum
toxin. Tiêm ngang rất hữu ích trong việc điều trị các nếp
nhăn cổ (hình 3.3). Mũi kim luôn nghiêng góc 45° [16].
Hình 3.2. Tiêm luồng thắng rãnh mủi má
46
Page
bookyhoc.com
Hình 3.3. Tiêm ngang trong điểu trị nếp nhàn vùng cổ
Hình 3.4. Các đường kẻ hưông dẫn nơi tiêm hoạt chất
Tiêm đan lưới crosslinking
Tiêm theo chiều dọc, đi hết chiểu dài kim, tiếp theo thực
hiện tiêm theo chiều ngang, khoảng cách giữa các dòng là
lcm (Hình 3.4). Hoạt chất được tiêm vào lớp hạ bì trong khi
rút kim ra từ từ. Kỹ thuật này đặc biệt hữu ích cho vùng má
và vùng đường viển cổ áo thấp. Góc kim luôn là 45°.
47
Page
bookyhoc.com
Thuốc tê tác động đến kênh Na+ theo hai phương thức
như sau:
Mát-xa nhẹ vùng tiêm để giúp thuốc còn đọng trong da
được hấp thu tốt hơn. Dùng gạc tẩm dung dịch nước muối
sinh lý lạnh đắp lên vùng điếu trị. Các vết đỏ da do đâm
kim thường xuất hiện ở chỗ đâm kim và tổn tại khoảng 5
phút sau đó [16].
3.1.4.
Thuốc tê
Vì mesotherapy là phương pháp điểu trị ít xâm lấn nên
liệu pháp giảm đau được ứng dụng chủ yếu là các biện
pháp gây tê cục bộ do cơ chế ức chế hoạt động của kênh
Na+ xuyên màng.
3.1.4.1. Cơ chế tác dụng
Cấu trúc hóa học dạng thuốc tê cục bộ gồm một đầu
thân lipid và một đầu thân nước dưới dạng amin bậc bốn
có liên kết este hoặc amide. Thuốc tê cục bộ có tác dụng
giảm đau tại vị trí thoa và khu vực lân cận vùng dẫn truyền
thần kinh bị ức chế. Thuốc tê làm suy giảm sự nhập bào
của ion Na+, khiến điện thế màng tế bào không vượt qua
được điện thế ngưỡng dẫn đến ức chế quá trình khởi phát
và dẫn truyển xung thần kinh cảm giác.
Thuổc tê tan tốt trong dầu có khả năng hòa màng và gắn
vào receptor kênh Na+ bên trong màng tế bào, gây chuyển
dạng cấu trúc kênh và khởi phát tác dụng. Thuốc tê có độ
phân cực cao kém thấm qua màng. Thuốc tê cục bộ có
hệ số pKa gân với pH sinh lý sẽ có 50% hoạt chất ở dạng
ion hóa, 50% ở dạng không ion hóa. Đây là tỷ lệ tối ưu để
thuốc tê phát huy tác dụng.
48
Page
bookyhoc.com
Thuốc tê được chuyển hóa chủ yếu nhờ cơ chế
Việc hạn chế điểu kiện khuyếch tán của thuốc tê cục bộ
bằng các loại thuốc co mạch như epinephrin, clonidin,... sẽ
kéo dài thời gian tác dụng của thuốc.
3.1.4.3. Chống chỉ định
Thuốc tê cục bộ như bupivacain và ropivacain có cău trúc
hình con suốt (spindle shape) có thể xâm nhập qua kênh
Na+ trực tiếp (chỉ khi đang ở trạng thái mở). Hình thức tác
dụng này cho hiệu quả cao ngay cả khi thuốc tê ở nồng độ
thấp.
3.1.4.2. Chuyển hóa
khuyếch tán vào hệ thống động mạch nhỏ cung cấp máu
cho hệ thần kinh ngoại biên hoặc tuần hoàn máu chung.
Trong máu, liên kết giữa vòng thơm và gốc nitơ bị chuyển
hóa và bất hoạt. Liên kết este bị bất hoạt bởi enzym
pseudocholinesterase, cholinesterase, enzym esterase từ
hồng cầu. Liên kết amide được chuyển hóa tại gan qua ba
con đường: gắn kết nhóm hydroxyl vào vòng thơm, tách
nhóm alkyl từ nito, thủy phân amid.
Các đối tượng dị ứng với para-aminobenzoic acid (PABA)
có nguy cơ dị ứng cao với thuốc tê tại chỗ dạng ester.
Methylparaben là chất bảo quản có cầu trúc tương tự PABA
có thể là tác nhân gây dị ứng ở một số đối tượng. Thuốc tê
dạng ester cân được giảm liều ở những bệnh nhân có dấu
hiệu thiếu hụt cholinesterase điển hình như: khó thở, co
rút cơ trơn đường hô hấp,... [144].
49
Page
bookyhoc.com
3.1.4.4. Chú ý khi sử dụng lỉảocaỉn trong mesotherapy
Lidocain là loại thuốc tê cục bộ được sử dụng phổ biến
trong phương pháp mesotherapy với nồng độ 2%, 4%, 5%,
10%. Dấu hiệu ngộ độc xuất hiện khi nồng độ lidocain trong
máu vượt ngưỡng 5 yg/mL. Hầu hết các trường hợp ngộ
độc với lidocain ở thể từ nhẹ đến trung bình với các dấu
hiệu như: chóng mặt, mất phương hướng, thay đổi giọng
nói, rung giật nhãn cầu, tăng huyết áp,... Bác sĩ cần phải
nhận biết các dău hiệu ban đầu của triệu chứng ngộ độc
và tiến hành loại bỏ phần thuốc trên da. Nếu bệnh nhân
có dấu hiệu co giật, động kinh, biện pháp hỗ trợ hô hấp và
thuốc chống co giật diazepam có thể được sử dụng [124].
50
Page
bookyhoc.com
3.1.5.
Thuốc tiêm và tiêu chuẩn thuốc tiêm
3.1.5.1 Thuốc tiêm
Thuốc tiêm, thuốc tiêm truyển là những chế phẩm thuóc
vô khuẩn dùng để tiêm hoặc truyển vào cơ thể.
Thuốc tiêm, thuốc tiêm truyền được phân thành ba loại:
- Thuốc tiêm: các dung dịch, hỗn dịch hoặc nhũ tương
vô khuẩn, để tiêm vào cơ thể bằng các đường tiêm khác
nhau.
bằng cách hòa tan, phân tán hoặc nhũ hoá dược chất
- Thuốc tiêm truyền: là dung dịch nước hoặc nhũ tương
dầu trong nước vô khuẩn, không có chất gây sốt, không có
nội độc tố vi khuẩn, không chứa chăt sát khuẩn, thường
đẳng trương với máu, dùng để tiêm truyền tĩnh mạch với
thể tích lớn và tốc độ chậm.
- Bột pha tiêm hoặc dung dịch đậm đặc để pha thuốc
tiêm hay thuốc tiêm truyền: bao gồm cả các chế phẩm
đông khô hoặc dung dịch đậm đặc để pha thuốc tiêm hay
thuốc tiêm truyền là những chế phẩm vô khuẩn, phải pha
với một thể tích quy định của một chất lỏng vô khuẩn thích
hợp ngay trước khi dùng. Sau khi pha, chúng phải tuân
theo các yêu cầu chất lượng đối với thuốc tiêm hoặc thuốc
tiêm truyền.
3.1.5.2.Tiêu chuẩn cho thuốc tiêm và thuốc tiêm truyền
Yêu cầu về pha chế thuốc tiêm, thuốc tiêm truyền
Thuốc tiêm, thuốc tiêm truyền được pha chế - sản xuất
