Phẫu Thuật Thẩm Mỹ Vùng Kín Phụ Nữ (Thieme) – Tập 2

13/10/2026 • by Bs CKI Phẫu thuật tạo hình, tái tạo và thẩm mỹ Trương Hoài Anh •

Tài liệu dịch từ nhà xuất bản Thieme danh tiếng, chuyên sâu về phẫu thuật thẩm mỹ phụ khoa. Hướng dẫn chi tiết giải phẫu, kỹ thuật thu gọn môi bé, tạo hình tầng sinh môn và các thủ thuật trẻ hóa âm đạo.


📂 Chuyên mục: Tài liệu thẩm mỹ, Phẫu thuật thẩm mỹ, Tạo hình khác

🏷️ Từ khóa: thẩm mỹ vùng kín, tạo hình môi bé, thu hẹp âm đạo, trẻ hóa phụ khoa

Trang: / 241
Trang 1 Trang 2 Trang 3
📖 Xem bản dịch / Nội dung văn bản

143
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 10-21 Cắt quá mức môi lớn. A, Trước và B, sau khi cắt.
Đường rạch phía trong chỉ nên được đặt
ở bên trong một chút so với đường mang
tóc. Cắt bỏ cẩn thận và đảo ngược hoặc
cuộn nhẹ mép vạt trong bằng chỉ khâu da
giúp che giấu vết sẹo vào phía trong môi
lớn (Hình. 10-20).
Cắt quá nhiều tổ chức
Việc cắt bỏ quá nhiều tổ chức dẫn đến
tình trạng ‘lộ’ các cơ quan phía bên trong và
hiện tượng khô âm đạo (Hình. 10-21).

144
Chương 10
Biến chứng phẫu thuật thẩm mỹ vùng kín
Hình. 10-22 Đường rạch kiểu váy Hawaii
Có thể ngăn ngừa việc cắt bỏ quá mức
bằng cách đánh dấu đường gian môi lệch
vào trong 1 chút, sau đó rạch ở phía ngoài
để tạo vạt. Khi đã cắt bỏ phần bên đường
rạch đầy đủ, việc cắt đoạn da được thực
hiện bằng cách chia đôi vạt da ở ngay ngoài
vị trí đường rạch mặt trong. Các đoạn vạt
hình tam giác phía trước và phía sau được
cắt bỏ (cắt bỏ váy Hawaii), và đường rạch
rãnh gian môi được đóng lại (Hình. 10-22).

145
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 10-23 A và B, Bệnh nhân 42 tuổi, với hình ảnh trước khi ghép mỡ vào vùng gò mu và
môi lớn. Bệnh nhân được tiêm 18 cc vào vùng gò mu và 12 cc được tiêm vào mỗi bên môi
lớn. C và D, Hình ảnh sau phẫu thuật 4 tháng.
Trước khi ghép mỡ
4 tháng sau khi ghép mỡ
Một môi lớn trẻ trung là môi có sự đầy
đặn và tròn trịa (Hình. 10-23), không phẳng
hoặc lồi lõm. Vì vậy, nên cố gắng cắt bỏ vừa
đủ tổ chức.

146
Chương 10
Biến chứng phẫu thuật thẩm mỹ vùng kín
Thủ thuật bổ sung
Những bệnh nhân đã được phẫu thuật
môi có thể bị biến dạng sau phẫu thuật do
sẹo. Đánh giá cẩn thận toàn bộ âm hộ là
điều cần thiết trước khi tiến hành can thiệp
phẫu thuật. Phần tổ chức môi âm hộ còn
lại rất quan trọng và thường cần phải sửa
đổi để đạt được kết quả thẩm mỹ tốt nhất.
Ví dụ, trong trường hợp tách mép vết mổ
sau kỹ thuật wedge, nên kết hợp giữa cắt
bỏ sẹo và trim các đoạn còn lại của môi âm
hộ để phục hồi thẩm mỹ môi.
Sẹo phì đại nói chung hiếm gặp trong
phẫu thuật thẩm mỹ âm hộ. Các vết sẹo ở
môi lớn có thể trở nên rộng hơn, đặc biệt
nếu quá trình đóng vết mổ, đường mổ này
phải chịu lực. Có thể dùng triamcinolone
liều thấp để làm phẳng những vết sẹo này.
Các lựa chọn khác để điều trị sẹo có thể
nhìn thấy bằng mắt thường hoặc sẹo phì
đại là xăm để ngụy trang khu vực hoặc tái
tạo bề mặt từng phần để phục hồi sắc tố.
Một lựa chọn khác là phẫu thuật cắt bỏ các
vết sẹo và thực hiện đóng theo lớp để giảm
thiểu sức căng cho đường khâu.

e-bacsy.com
Chương 11
Tạo hình tầng sinh môn
và tạo hình âm đạo
Marco A. Pelosi III, Marco A. Pelosi II

148
Chương 11
Tạo hình tầng sinh môn và tạo hình âm đạo
Những điểm chính
• Thủ thuật tạo hình tầng sinh môn giúp
cải thiện mối liên kết giữa tổ chức da và
cơ của vùng âm hộ, đồng thời giúp môi
lớn hai bên có thể hội tụ lại với nhau ở
phía sau.
• Thủ thuật tạo hình âm đạo – đáy chậu
giúp cải thiện mối liên kết giữa da và cơ
chi phối cho phần dưới ống âm đạo và
lỗ âm đạo.
• Ở cả hai thủ thuật – tạo hình tầng sinh
môn và tạo hình âm đạo – đáy chậu –
vạt ở tầng sinh môn sẽ được bóc đến
lớp mỡ nông dưới da, trong khi vạt âm
đạo chỉ tách đến lớp da, thuộc kỹ thuật
bóc tách nông.
• Thăm trực tràng giúp tạo điều kiện
thuận lợi cho việc hình dung và khâu
các nhóm cơ nâng hậu môn.
Tạo hình âm đạo là một thuật ngữ
chung cho bất kỳ thủ thuật nào giúp định
hình lại âm đạo. Chúng bao gồm các hoạt
động thẩm mỹ và điều trị cho cả lỗ và ống
âm đạo. Một vài ví dụ phổ biến là tạo hình
tầng sinh môn, tạo hình tiền đình, tạo hình
sa bàng quang, tạo hình sa trực tràng, và
tạo hình âm đạo – đáy chậu. Trong thẩm
mỹ phụ khoa, từ tạo hình âm đạo đã mang
một ý nghĩa cụ thể hơn để chỉ các thủ thuật
làm giảm kích thước của lỗ âm đạo và ống
âm đạo với sự co thắt đồng thời của các cơ
nâng hậu môn.
Tạo hình tầng sinh môn thực chất là thủ
thuật nhằm giảm chiều rộng của đáy chậu.
Về mặt kỹ thuật, nó hỗ trợ việc cắt bỏ các
mô ở đường giữa trải dài qua đáy chậu và
phía dưới âm đạo sau và ‘điều chỉnh’ lại
phần tổ chức ngay phía bên ngoài vùng cắt.
Trong các phẫu thuật phụ khoa, phẫu thuật
tạo hình tầng sinh môn được thực hiện để
tăng cường, cải thiện trương lực cơ, cân
mạc sàn chậu cùng với tái tạo khung chậu.
Trong phụ khoa thẩm mỹ, phẫu thuật tạo
hình tầng sinh môn được thực hiện để làm
tăng trương lực cơ thắt, dẫn tới giảm chu vi
âm đạo, đồng thời cải thiện trương lực cơ
thắt hậu môn và cắt bỏ phần da lỏng lẻo ở
thành sau âm đạo. Kết quả là môi âm hộ sẽ
hội tụ ở phần phía sau (Hình. 11-1), các cấu
trúc giải phẫu sẽ được ‘tổ chức lại’ giúp thắt
chặt sự lỏng lẻo dọc theo chiều dài của môi
âm hộ. Chúng tôi tận dụng hiệu ứng này khi
lập kế hoạch cho các quy trình thẩm mỹ
của môi âm hộ. Thuật ngữ perineorrhaphy
(khâu đáy chậu) thường được sử dụng như
một từ đồng nghĩa với perineoplasty (tạo
hình đáy chậu). Hầu hết các Bs sẽ sử dụng
những từ này thay thế cho nhau, mặc dù
làm như vậy là không chính xác về mặt
ngôn ngữ. Hậu tố -rrhaphy chỉ đơn giản
có nghĩa là “để khâu”, trong khi -plasty có
nghĩa là “để tạo hình.”

149
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 11-1 A, Bờ trong của cơ hành hang và cơ đáy chậu được tách biệt lẫn nhau trước khi
phẫu thuật (mũi tên), B, Tạo hình tầng sinh môn giúp các đường đánh dấu hội tụ lại với
nhau (mũi tên) để thắt chặt lỗ âm đạo và cải thiện trương lực cơ dưới môi lớn.
Trong hầu hết các trường hợp, phẫu
thuật tạo hình tầng sinh môn được thực
hiện như một thành phần của phẫu thuật
tạo hình âm đạo – đáy chậu - ống âm đạo
sẽ được thắt chặt và cơ nâng hậu môn sẽ
được cải thiện trương lực. Tình huống phổ
biến nhất đối với phẫu thuật tạo hình tầng
sinh môn đơn thuần là một phẫu thuật tạo
hình âm đạo – đáy chậu sửa đổi cho một
phàn nàn về tình trạng lỏng lẻo dai dẳng
trong đó chỉ phần bên ngoài của ống âm
đạo bị lỏng lẻo. Tuy nhiên, chẩn đoán này
rất dễ bị bỏ sót, dẫn tới tình trạng bệnh nhân
không được chỉ định phẫu thuật. Trong
điều trị phụ khoa, tạo hình tầng sinh môn
đôi khi được chỉ định khi bệnh nhân phải
can thiệp cắt khối u tân sinh tại chỗ. Nhiều
bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ sử dụng thuật
ngữ phẫu thuật tạo hình âm đạo ngoài khi
thảo luận về phẫu thuật tạo hình đáy chậu
hoặc thậm chí phẫu thuật môi âm hộ. Đây
là cách sử dụng không chính xác (nhưng
phổ biến) của thuật ngữ, đặc biệt là trên
Internet.
Tạo hình tầng sinh môn liên quan tới bất
kỳ sự thay đổi nào về hình dạng của tầng
sinh môn, bao gồm cả việc mở rộng tầng
sinh môn và tạo lỗ âm đạo rộng hơn. Tuy
nhiên, trên thực tế, việc mở rộng như vậy
không được coi là tạo hình đáy chậu. Trong
những tình huống này, chúng tôi thấy nhiều
thuật ngữ để mô tả hơn như mở rộng tầng
sinh môn, giải phóng tầng sinh môn hoặc
cắt tiền đình sinh dục, thường đề cập đến lý
do cơ bản của can thiệp.
Trẻ hóa âm đạo là một từ đồng nghĩa
một cách tương đối với phẫu thuật tạo hình
âm đạo. Việc sử dụng phổ biến thuật ngữ
trẻ hóa âm đạo trong phụ khoa thẩm mỹ bắt
nguồn từ cuối những năm 1990, khi Tiến sĩ
David Matlock ở Beverly Hills, California,
một bác sĩ phụ khoa, đặt ra và đăng ký
bản quyền thuật ngữ Trẻ hóa âm đạo bằng
Laser (LVR) để tiếp thị cho một thủ thuật
tạo hình đáy chậu – âm đạo sửa đổi, sử
dụng tia laser như một công cụ cắt. Một tia
laser sợi quang 980-diode được sử dụng để

150
Chương 11
Tạo hình tầng sinh môn và tạo hình âm đạo
cắt chứ không phải để giảm tổ chức như
nhiều người đã nghĩ. Phẫu thuật tạo hình
âm đạo là một thuật ngữ phụ khoa truyền
thống bao gồm các thủ thuật tạo hình thành
trước và sau âm đạo, nhưng công chúng sử
dụng nó rộng rãi để xác định các thủ thuật
thu hẹp lỗ âm đạo và ống âm đạo.

Lịch sử
Khái niệm thắt chặt các thành âm đạo
lỏng lẻo sau khi sinh con không phải là một
khái niệm mới. Trẻ hóa hoặc se khít âm đạo
đã có từ hơn 1000 năm trước và được giới
thiệu bởi phụ nữ. Công trình của nữ bác sĩ
Trotula de Ruggiero của Salerno được xuất
bản vào năm 1050 sau Công nguyên với
tựa đề các phương pháp điều trị cho phụ
nữ. Tác giả đã mô tả việc khâu vết rách âm
đạo khi sinh con, đây là cơ sở cho tất cả
các Kỹ thuật tạo hình âm đạo hiện đại.
Cũng trong bài này chúng tôi sẽ giới
thiệu năm công thức không phẫu thuật để
“phục hồi trinh tiết”. Phần mở đầu như sau:
“Ống âm đạo sẽ được co lại, để phụ nữ có
thể cảm nhận như thể họ còn là trinh nữ.”
Nhà sử học thời Trung cổ nổi tiếng Moni-
ca Green, người đã dành nhiều thập kỷ ng-
hiên cứu tất cả các phiên bản còn tồn tại
của Trotula ensemble và văn hóa Salernan
trong bản dịch của cô ấy, đã nhận định: “Có
thể một số trong số những biện pháp này
chỉ nhằm thắt chặt âm đạo để tăng cường
ma sát khi giao hợp, chứ không thể phục
hồi như cách phụ nữ vẫn ra máu sau lần
đầu quan hệ; nói cách khác, chúng có thể
được dùng để hỗ trợ cải thiện khoái cảm
tình dục trong hôn nhân. ”
Thời kỳ Phục hưng mang lại những tiến
bộ lớn trong việc phân tích giải phẫu người
thông qua khám nghiệm tử thi. Vhsalius
(1514 đến 1564), tại Đại học Padua, đã
trình bày rõ nhất những phân tích này trong
De Humana Corporis Fabrica. Máy in, được
phát minh trước đó một thế kỷ, là công cụ
phổ biến rộng rãi thông tin này.
Tuy nhiên, các kỹ thuật phụ khoa và
dụng cụ phẫu thuật có khá ít thay đổi so
với thời đại Hy Lạp-La Mã. Tuy nhiên, bác
sĩ phẫu thuật nổi tiếng người Pháp Am-
broise Paré (1510 đến 1590), ở Gynaecio-
rium Physicus et Chirurgicus, và sau đó là
học trò của ông Jacques Guillemeau (1550
đến 1612), trong văn bản năm 1609 De la
Grossesse et Accouchement des Femmes,
là người đầu tiên mô tả quy trình xử trí vết
rách âm đạo khi sinh con, đánh dấu sự khởi
đầu của phẫu thuật tạo hình tầng sinh môn
phức tạp hơn sau này.

Chỉ định và chống chỉ định
Phẫu thuật tạo hình tầng sinh môn chỉ
được chỉ định để thắt chặt lỗ âm đạo. Phẫu
thuật tạo hình âm đạo – đáy chậu được
chỉ định để thắt chặt lỗ âm đạo và thành
sau âm đạo. Sa trực tràng, sa bàng quang
và són tiểu không phải là chỉ định của
tạo hình tầng sinh môn hoặc tạo hình âm
đạo – đáy chậu mà cần những thủ thuật
chuyên biệt, tuy nhiên chúng có có thể thực
hiện đồng thời. Tạo hình tầng sinh môn và đáy
chậu – âm đạo nên được hoãn lại đối với
những bệnh nhân có kế hoạch sinh con
bằng đường âm đạo. Bệnh nhân bị nhiễm
trùng đang hoạt động hoặc tổn thương da
chưa được chẩn đoán hoặc mắc bệnh lý
khác của vùng âm hộ nên được điều trị bởi
bác sĩ phụ khoa trước khi phẫu thuật.

Đánh giá bệnh nhân
Không giống như những bệnh nhân tìm
cách điều trị bệnh tật, dị tật hoặc rối loạn
chức năng, những bệnh nhân thẩm mỹ
mong muốn thỏa mãn nhu cầu cá nhân
hoặc xã hội như sự tự tin và chấp nhận phải
hoàn toàn “khỏe mạnh”. Hiệp hội bác sĩ gây
mê Hoa Kỳ đã phát triển một Hệ thống
phân loại tình trạng sinh lý cho những bệnh
nhân phẫu thuật. Bệnh nhân được phân

151
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
thành 6 loại: ASA I đến ASA VI. Bệnh nhân
lý tưởng cho phẫu thuật thẩm mỹ là bệnh
nhân có ASA I hoặc ASA II. Những bệnh
nhân này không có bệnh hoặc có bệnh mạn
tính nhưng được kiểm soát tốt. (Thông tin
chi tiết về hệ thống ASA có tại
org.) Chi phí nằm viện liên quan đến các thủ
thuật thẩm mỹ, có kế hoạch hoặc không có
kế hoạch, không được bảo hiểm chăm sóc
sức khỏe thông thường chi trả.
Sau cuộc trò chuyện ban đầu về yêu
cầu thẩm mỹ và phân tích tâm lý xã hội cần
thiết, bạn sẽ có được một tiền sử phụ khoa
và tình dục đầy đủ. Thông tin này rất hữu
ích để xác định xem bệnh nhân có các triệu
chứng của rối loạn chức năng bàng quang,
ruột hoặc sàn chậu hoặc các vấn đề tình
dục có thể ảnh hưởng đến việc điều trị hay
không.
Khám lâm sàng được tiến hành với bệnh
nhân ở cả tư thế đứng và tư thế sản khoa
để đánh giá đầy đủ xem có sa cơ quan vùng
chậu hay không. Tiếp theo, bệnh nhân sẽ
được kiểm tra bằng mỏ vịt để xác định bất
kỳ nhiễm trùng nào có thể cản trở quy trình
phẫu thuật. Các phản xạ âm vật và hành
hang sẽ được đánh giá ở vùng đáy chậu.
Chạm vào âm vật hoặc vuốt dọc theo chiều
dài môi lớn sẽ tạo ra phản xạ co thắt cơ
vòng hậu môn bên ngoài. Bệnh nhân được
yêu cầu ho để đánh giá tình trạng trương
lực của bàng quang. Chiều rộng của lỗ gian
cơ thắt hậu môn và trương lực cơ mu trực
tràng được đánh giá trực tiếp bằng tay.
Cách phổ biến nhất là đánh giá chiều rộng
lỗ gian cơ thắt hậu môn (tính bằng ngón
tay) khi cơ giãn và khi cơ co. Những thông
số này được chuyển đổi sang cm. Nếu các
cơ lỏng lẻo hoặc bị tách biệt một khoảng
lớn, chỉ riêng phẫu thuật tạo hình tầng sinh
môn sẽ không đủ để đáp ứng yêu cầu thắt
chặt âm đạo của bệnh nhân và phẫu thuật
tạo hình đáy chậu – âm đạo lúc này sẽ
được chỉ định. Độ dày và kích thước các
chiều đáy chậu sẽ được ghi lại. Cơ đáy
chậu suy yếu cần được sửa chữa thường
là một đáy chậu được phủ bởi da mỏng với
lượng tổ chức cơ ít. Bs sẽ thăm trực tràng
để đánh giá tình trạng sa trực tràng, thoát
vị các tạng đáy chậu, để đảm bảo có thể xử
trí luôn trong quá trình phẫu thuật tạo hình.
Trực tràng đầy, chướng và táo bón là những
triệu chứng rất phổ biến liên quan tới tình
trạng sa cơ quan.
Các bác sĩ phẫu thuật nên xác định các
giới hạn của việc thu hẹp âm đạo bằng
cách sờ nắn các cấu trúc mục tiêu và giải
thích cho bệnh nhân trực tiếp thông qua
1 chiếc gương cầm tay. Đánh dấu hữu ích
để xác định vùng phẫu thuật tùy theo các
phương pháp điều trị được đề xuất và hiển
thị các cấu trúc ngoài mục tiêu khi hội chẩn
và khi phẫu thuật. Thuốc giãn cơ và ngón
tay được sử dụng như một phương tiện hỗ
trợ để giúp bệnh nhân hình dung mức độ
thắt chặt theo dự tính. Cần thảo luận về
tình trạng căng tức sau phẫu thuật.
Đánh giá đầy đủ và liệt kê thành văn
bản (hồ sơ bệnh án) trước khi phẫu thuật
ở những bệnh nhân mới để nắm được toàn
bộ diễn biến bệnh lý và các vấn đề liên quan
đến phẫu thuật lần này. Bất kỳ biến dạng
giải phẫu nào đều có thể làm tăng nguy cơ
chấn thương, và đều cần được đánh giá và
xử trí bằng các biện pháp thích hợp trước
phẫu thuật. Xét nghiệm máu bao gồm xét
nghiệm các dấu hiệu nhiễm trùng, thiếu
máu và rối loạn đông máu. Thử thai được
thực hiện khi khám và lặp lại vào ngày phẫu
thuật bất kể tiền sử.
Thuốc, thực phẩm chức năng, thảo mộc
và các chất khác có thể làm giảm đông
máu (ví dụ: vitamin E, gingko biloba, ibu-
profen và statin) nên được ngừng sử dụng
1 tuần trước khi phẫu thuật. Các chất tương
tác tiêu cực với thuốc gây mê và các thuốc
điều trị cũng nên được loại bỏ. Nếu không
thể ngừng sử dụng thuốc hoặc dùng các
thuốc thay thế, kế hoạch phẫu thuật sẽ cần
được chỉnh sửa, trì hoãn hoặc ngừng lại.
Hút thuốc lá không phải là chống chỉ định
đối với tạo hình tầng sinh môn.

152
Chương 11
Tạo hình tầng sinh môn và tạo hình âm đạo
Kỳ vọng và động lực đến phẫu thuật cần
được tìm hiểu kỹ ở bệnh nhân thẩm mỹ.
Những mong đợi không thực tế sẽ không
bao giờ được thực hiện bằng phẫu thuật
ngay cả khi các thủ tục được thực hiện hoàn
hảo theo bất kỳ tiêu chuẩn y khoa hoặc
thẩm mỹ nào. Những “người nghiện” phẫu
thuật thẩm mỹ, “bác sĩ hoàn hảo” và những
bệnh nhân mong đợi phẫu thuật thẩm mỹ
để khắc phục những mâu thuẫn không có
cơ sở là những ví dụ về nhận thức sai lầm
mà cần được sàng lọc ngay từ đầu khi tiếp
cận với bệnh nhân. Cần nhấn mạnh mức độ
thắt chặt theo kế hoạch, các rủi ro của việc
thắt chặt quá mức cần được giải thích kỹ
cho bệnh nhân và các kỹ thuật/biện pháp
sửa đổi cần được giải thích rõ ràng.

Lên kế hoạch và chuẩn bị
Chuẩn bị cho phẫu thuật thẩm mỹ âm
đạo là khá đơn giản. Kết quả xét nghiệm
máu có một chút bất thường vẫn có thể
chấp nhận được. Bệnh nhân đến phẫu
thuật nên nghỉ ngơi và uống đủ nước. Nếu
dự định dùng thuốc an thần hoặc gây mê,
bệnh nhân không được ăn hoặc uống bất
cứ thứ gì trong 8 giờ trước khi phẫu thuật.
Bệnh nhân sẽ được ký vào một bản cam
kết, và các loại thuốc sau phẫu thuật cũng
như hướng dẫn chăm sóc vết mổ được
xem lại 1 lượt trước khi tiến hành pthuat và
thông tin mới được cập nhật khi cần thiết.

Mô tả kỹ thuật
Vô cảm
Tạo hình tầng sinh môn có thể được
thực hiện với gây tê tại chỗ kèm hoặc không
kèm theo thuốc an thần, với tê ngoài màng
cứng hoặc gây mê. Mỗi phương thức đều
có ưu điểm, nhược điểm, rủi ro cố hữu và
sự phù hợp với nhu cầu riêng của từng ca
mổ và bệnh nhân. Trong thực tế của chúng
tôi, bệnh nhân tạo hình tầng sinh môn được
gây tê tại chỗ trừ khi các thủ thuật kết hợp
cần 1 biện pháp vô cảm khác. Bất kể là kỹ
thuật gì, nhóm phẫu thuật phải có kiến thức
và chuẩn bị tốt, cũng như trang bị cơ sở vật
chất cơ bản để có thể quản lý tất cả các tác
dụng phụ có thể xảy ra của thuốc.
Tê tại chỗ bằng tumescent (TLA),
thường được sử dụng để hút mỡ, là một
tác nhân vô cảm tuyệt vời, tác dụng lâu
dài cho phẫu thuật thẩm mỹ âm đạo và có
khả năng cầm máu. TLA bao gồm lidocaine
hydrochloride (800 mg / L), natri bicarbonate
(10 mEq / L ), và epinephrine (1 mg / L) pha
loãng trong dung dịch muối đẳng trương.
Nó được tiêm trực tiếp vào vùng phẫu thuật
đủ để gây co mạch cục bộ. Thông thường
30 đến 60 mlTLA là đủ với tác dụng kéo dài
từ 8 đến 12 giờ. Thuốc gây tê cục bộ phổ
biến khác bao gồm bupivacaine (Marcaine
và Exparel) với epinephrine và ropivacaine
(Naropin) với epinephrine.
Chăm sóc chu phẫu
Kháng sinh phổ rộng dự phòng thường
được dùng ngay trước khi phẫu thuật. Bệnh
nhân được đặt ở tư thế sản khoa với hai
chân được gác lên giá đỡ hai bên. Tất tạo
áp lực ngắt quãng được sử dụng thường
xuyên để đảm bảo lưu thông tuần hoàn. Đặt
ống thông tiểu và đặt ống âm đạo không
thường được sử dụng trong tạo hình tầng
sinh môn. Khi phẫu thuật tạo hình âm đạo
– đáy chậu, một ống thông bàng quang
qua đường niệu đạo và ống âm đạo được
duy trì sau phẫu thuật trong 24 giờ.
Kỹ thuật tạo hình tầng sinh môn
Đánh dấu
Quy trình bắt đầu bằng việc đánh dấu
đường kính mong muốn (sau phẫu thuật)
của lỗ âm đạo. Bác sĩ phẫu thuật sẽ chèn

153
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
hai ngón tay của bàn tay không thuận vào
âm đạo trong khi dùng tay thuận để ép môi
lớn lại với nhau. Điểm tiếp xúc trên cùng
giữa môi lớn và lỗ âm đạo mỗi bên được
đánh dấu, và thực hiện vẽ các đường xiên
như Hình. 11-2.
Bờ trước của cơ thắt ngoài hậu môn
được đánh dấu. Vị trí này là giới hạn sau
của trường phẫu thuật. Mở rộng trường
phẫu thuật vào cơ vòng là không nên và
sẽ gây khó chịu cho bệnh nhân sau phẫu
thuật.
Hình. 11-2 Đánh dấu vạt chữ U ở đáy chậu,
với giới hạn dưới là bờ trước cơ thắt ngoài
hậu môn và hai bên là mức độ tiếp xúc
mong muốn với môi lớn.
Vùng cắt bỏ tầng sinh môn được đánh
dấu là hình chữ U hoặc hình chữ V trong
giới hạn của bờ trước cơ thắt đã được đánh
dấu trước đó. Mỗi cạnh của chữ U hoặc V
phải đủ rộng để cho phép tiếp cận các cơ
hành hang dưới bề mặt da. Điều này giảm
thiểu nhu cầu phẫu thuật bổ sung sau này
và tạo ra một cuộc mổ xẻ hiệu quả hơn.
Vô cảm
TLA được tiêm cho dù thủ thuật được
thực hiện với bệnh nhân vô cảm tại chỗ
hay gây mê. Công dụng chính là cầm máu
và giảm đau thời gian dài. Nó được tiêm
bằng một cây kim tuỷ sống (18-gauge) nối
với một ống tiêm. Khi bệnh nhân được chỉ
định vô cảm tại chỗ đơn thuần, trước tiên
da được tiêm một lượng nhỏ TLA bằng một
cây kim nhỏ (30-gauge) để loại bỏ cảm giác
khó chịu khi đưa cây kim lớn hơn vào.
Tầng sinh môn sẽ được tiêm TLA theo
một ‘đường’ từ trái sang phải hoặc theo
đường từ giữa sang trái và sang phải riêng
biệt tùy thuộc vào đường viền tổ chức.
Phía dưới thành sau âm đạo cũng được
tiêm TLA dưới niêm mạc song song với
bề mặt theo kiểu hình quạt khi áp bàn tay
không thuận đặt như hình 11-2 tạo một áp
lực hướng xuống.
Đường rạch tầng sinh môn
Vết rạch chữ U hoặc chữ V ở tầng sinh
môn sẽ kéo dài vào bên trong lỗ màng
trinh. Clamp sẽ được đặt vào lỗ màng
trinh tại vị trí đích để kiểm soát tối đa,
tránh khỏi việc đi vào quá sâu (Hình. 11-3,
A). Đường rạch được đưa sâu vào lớp mỡ
dưới da để tạo một vạt có độ dày đồng đều
(Hình. 11-3, B). Vết rạch có thể được thực
hiện bằng bất kỳ dụng cụ nào mà bác sĩ
phẫu thuật lựa chọn. Chúng tôi thích các
vết rạch bằng dao tat, kéo và cầm máu
bằng đốt điện ở giai đoạn này.

154
Chương 11
Tạo hình tầng sinh môn và tạo hình âm đạo
Hình. 11-3 A, Clamp đánh dấu giới hạn trên (gần) của vạt U tầng sinh môn ngang với lỗ
màng trinh. B, Vạt đáy chậu hình chữ U với một lớp mỡ dày dưới da. Mô sẹo có thể hình
thành tại vạt này.
Đường rạch khoang trực tràng – âm đạo
Việc xác định và ‘xâm nhập’ vào khoang
trực tràng - âm đạo là điều cần thiết để tiếp
cận thành âm đạo dưới và ngăn ngừa tổn
thương thành trực tràng. Khoang trực tràng
– âm đạo được tiếp cận dễ nhất vằng cách
kéo vạt tầng sinh môn, ấn các ngón tay của
bàn tay không thuận vào vạt và tiếp tục
bóc tách bằng kéo dựa vào áp lực của các
ngón tay (Hình. 11-4). Kéo phần tổ chức hai
bên đường rạch sang hai bên bằng cách
sử dụng Gelpi retractor hoặc kẹp Allis để
tạo điều kiện thuận lợi cho việc bóc tách.
Khi đã bóc tách tới vị trí clamp kẹp trong lỗ
màng trinh trước đó, khoang trực tràng âm
đạo sẽ được bộc lộ. Việc bóc tách được mở
rộng cho đến khi tất cả lớp da bề ngoài giữa
các kẹp đã được rạch.
Đường rạch tạo vạt
Một hình tam giác được đánh dấu từ
các kẹp ở lỗ màng trinh, hướng vào trong
về phía đường giữa (Hình. 11-5). Chiều dài
của hình tam giác tương tự với chiều dài
của vạt đáy chậu. Vạt âm đạo được rạch
bằng kéo chống lại áp lực từ ngón tay của
tay không thuận, như trong bước trước.

155
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 11-4 Tiếp cận khoang trực tràng âm
đạo. Bóc tách lớp dưới da dọc theo thành
âm đạo, tạo áp lực ngược hướng bằng tay
không thuận để hỗ trợ bóc tách tới ngang
với lỗ màng trinh.
Hình. 11-5 Vạt phía dưới lỗ âm đạo hình
chữ V có kích thước tương tự như vạt chữ
U ở tầng sinh môn. Nó được nâng lên như
1 vạt chỉ có da đơn thuần. Đối với tạo hình
tầng sinh môn, đây là bước cuối cùng của
quá trình bóc tách. Còn đối với tạo hình âm
đạo – đáy chậu, thành sau âm đọa sẽ được
bóc tách sâu qua vạt chữ V, vạt sẽ được mở
rộng lên trên.
Hình. 11-6 A, Sau khi cắt bỏ vạt âm đạo, vết rạch âm đạo được đóng lại bắt đầu từ đỉnh
bằng mối vắt thưa. B, Vết mổ đóng âm đạo kết thúc ở lỗ màng trinh.

156
Chương 11
Tạo hình tầng sinh môn và tạo hình âm đạo
Sẽ có một trợ lý ‘kéo lại’ đỉnh của tam
giác này bằng một cái kẹp phẫu tích không
mấu. Một khi vạt đã được ‘hình thành’ đầy
đủ, nó sẽ được cắt bỏ. Không cần mổ xẻ bổ
sung trừ khi có kế hoạch khâu âm đạo – đáy
chậu. Nếu TLA được tiêm đúng cách và tiến
hành bóc tách đúng cách, vùng phẫu thuật
sẽ không mất nhiều máu.
Khu phẫu thuật được tưới rửa bằng dung
dịch muối. Nếu nghi ngờ tính toàn vẹn của
thành trước trực tràng, nên thăm trực tràng
kiểm tra.
Đóng vết mổ
Bắt đầu từ đỉnh của vết rạch âm đạo,
thực hiện 1 đường khâu mối vắt với chỉ tiêu
chậm, không khóa được sử dụng để đóng
thành sau âm đạo xuống ngang với mức lỗ
màng trinh (Hình. 11-6). Nên chú ý tới tính
cân đối trong suốt quá trình khâu, đồng thời
giữ khoảng cách ngắn giữa các mũi kim.
Các cơ hành hang được xác định. Môi
lớn được giữ giữa các ngón tay của bàn tay
không thuận, và dùng kẹp kéo phần tổ chức
cơ ra như hình. 11-7, A. Lấy một lượng cơ
vừa đủ sẽ giúp ‘tạo sức căng’ cho môi lớn.
Nếu không cảm thấy căng, kẹp phải được
điều chỉnh. Phần mô được kẹp vào sẽ được
móc chờ 1 đường kim, kẹp được tháo ra và
quá trình này được lặp lại ở bên còn lại để
lấy gần đúng lượng mô cơ như bên trước,
thực hiện khâu khoảng 2-3 mũi khâu rời, chỉ
tiêu chậm (Hình. 11-7, B và C). Không nên
lấy nhiều tổ chức cơ, vì chúng sẽ gây căng
quá mức trên đáy chậu.
Tiếp theo, các cơ ngang đáy chậu giữa
cơ hành hang và cơ thắt hậu môn được xác
định (Hình. 11-7, D). Chúng được khâu nối
bằng hai hoặc ba mối chỉ rời, tiêu chậm
(Hình. 11-7, E). Da được đóng thành hai
lớp — mối vắt dưới da, sau đó là mối rời ở
da — với các chỉ khâu nhỏ tiêu chậm để kết
thúc quy trình.

157
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 11-7 A, Cơ hành hang phải được xác định bằng một cái kẹp. Bạn sẽ có thể cảm giác
được lực kéo trên kẹp dọc theo chiều dài của kẹp môi lớn bên phải khi kẹp được đặt đúng
cách. B, Kẹp được tháo ra và thay thế bằng một đường khâu “crown stitch” để lấy gần đúng
cơ hành hang bên phải và trái ở đường giữa. C, Hai hoặc ba mối khâu rời được đặt để cố
định 1 phần cơ hành hang. D, Cơ đáy chậu ngang nằm ngay sau cơ hành hang sẽ được cố
định tiếp. E, Hai hoặc ba mối khâu rời ở cơ ngang đáy chậu hoàn thành việc tạo hình cơ
của cơ đáy chậu. Đóng da.

158
Chương 11
Tạo hình tầng sinh môn và tạo hình âm đạo
Kỹ thuật tạo hình âm đạo – đáy
chậu
Phẫu thuật tạo hình đáy chậu – âm đạo
về cơ bản là phẫu thuật tạo hình tầng sinh
môn kết hợp với phẫu thuật mở rộng thành
sau âm đạo và ‘cố định’ cơ nâng hậu môn ở
đường giữa. Các bước ban đầu để bóc tách
vạt tầng sinh môn cũng như các bước cuối
khâu đóng vết mổ giống hệt nhau. Điểm
khác biệt bắt đầu từ bước bóc tách vạt âm
đạo.
Vạt âm đạo mở rộng
Trái ngược với phương pháp bóc tách
vạt âm đạo hình chữ V được sử dụng trong
phẫu thuật tạo hình tầng sinh môn, phẫu
thuật bóc tách thành sau âm đạo trong
tạo hình âm đạo – đáy chậu được thực
hiện thông qua một đường rạch ở giữa, và
đường rạch hình chữ V được bắt đầu từ
phía bên phải và bên trái về đường giữa,
sau khi cơ nâng hậu môn đã được ‘cố định’.
Mặt phẳng âm đạo – trực tràng vô mạch
sẽ được bóc tách hiệu quả hơn khi tiếp cận
qua một đường rạch ở giữa hơn là qua cạnh
của một chữ V đã được rạch trước đó.
Một cách tiếp cận điển hình, bắt đầu
bằng việc cắt bỏ vạt U tầng sinh môn ở gốc
của nó ngang với lỗ màng trinh. Thành sau
âm đạo được ‘kéo’ (bằng kẹp phẫu tích) ở
ba điểm: hai bên ở hai góc lỗ màng trinh và
một ở trên đường giữa , cách hai vị trí còn
lại càng xa càng tốt mà phần thành sau âm
đạo vẫn giữ được độ căng (Hình. 11-8, A).
Tiếp theo, đặt 1 cái kéo nằm trên đường
giữa, ngay bên dưới biểu mô âm đạo để tạo
ra một đường hầm để bóc tách khoang âm
đạo – trực tràng (Hình. 11-8, B). Quá trình
bóc tách được mở rộng ra hai bên đến vị trí
kẹp phẫu tích phía trên, biểu mô âm đạo lúc
này được tách biệt bởi 1 đường giữa, tạo
điều kiện cho việc bóc tách tiếp theo (Hình.
11-8, C đến E).
Hình. 11-8 A, Vạt tầng sinh môn đã được cắt (màu xanh), và thành sau âm đạo được kéo
căng ở ba điểm (màu đỏ) để chuẩn bị cho việc bóc tách. B, Kéo được đặt ở đường giữa để
tạo một đường hầm ngay bên dưới biểu mô âm đạo trong khoang âm đạo – trực tràng.

159
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Khi đã hoàn thành bóc tách, lại thực hiện
kẹp 3 điểm như trước nhưng đưa 3 kẹp vào
vị trí sâu hơn bên thành sau âm đạo, và kéo
kẹp ra ngoài để đưa phần niêm mạc chưa
được phẫu tích ra như Hình. 11-8, F. Lặp lại
quy trình rạch như mô tả ở phía trên cho
đến khi bóc tách hết thành sau âm đạo.
Hình. 11-8, (tiếp) C-E, Bóc tách khoang âm đạo - trực tràng về phía hai bên, biểu mô âm
đạo được rạch dọc ở đường giữa, và lực kéo vào thành âm đạo hướng ra phía ngoài để tiến
hành bóc tách thêm. F, Khi hoàn thành việc bóc tách, kẹp đỉnh được đặt vào sâu hơn dọc
theo đường giữa thành âm đạo, và lực kéo hướng ra ngoài được áp dụng vào các cạnh của
biểu mô âm đạo đã rạch.

160
Chương 11
Tạo hình tầng sinh môn và tạo hình âm đạo
Hình. 11-9 A, Khâu cố định cơ nâng hậu môn bắt đầu từ bờ trong cơ nâng bên trái (mũi
tên), được hỗ trợ bằng cách dùng ngón tay đưa vào trực tràng và nâng tổ chức cơ lên. B,
Cơ nâng hậu môn bên phải và bên trái đã được kéo lên bởi 1 mối chỉ. Mối khâu bổ sung sẽ
được đặt dưới mối khâu ban đầu. Còn các mối khâu cơ bản sẽ được đặt phía trên mối khâu
ban đầu để đạt độ ‘cố định’ mong muốn.
Khâu cố định cơ nâng hậu môn
Ở giai đoạn này, cơ nâng hậu môn sẽ
được xác định. Ngón trỏ của bàn tay không
thuận đưa qua trực tràng, nâng tổ chức cơ
lên để bộc lộ bó cơ nâng hậu môn. Một trợ
lý sẽ kéo vạt âm đạo ở cùng bên lên cao
hơn để tăng khả năng quan sát được bó cơ
này. Bất kỳ kết nối còn lại nào giữa cơ và
vạt âm đạo bên trên đều được tách ra để
đảm bảo tính di động hoàn toàn của cơ.
Đặt một mối khâu bằng chỉ tiêu chậm ‘ôm’
lấy bó cơ, cách khoảng 1 cm với mép trong
và đủ sâu để đảm bảo rằng nó sẽ không bị
rách (Hình. 11-9, A). Quy trình được lặp lại
ở bên đối diện với cùng một sợi chỉ, và độ
căng được đánh giá bằng cách kéo lên vết
khâu. Vừa duy trì lực kéo, các mối khâu bổ
sung được đặt ở vị trí thấp hơn và cao hơn
(nếu cần) để đạt mức ‘cố định’ và độ căng
mong muốn (Hình. 11-9, B). Lớp khâu thức
2 được thực hiện trên lớp đầu tiên để gia
cố. Một vạt hình chữ V của biểu mô âm đạo
được cắt ra khỏi thành sau âm đạo, quá
trình đóng âm đạo và tầng sinh môn được
hoàn thành giống như phẫu thuật tạo hình
tầng sinh môn. Do cần phải tiến hành bóc
tách mở rộng để cố định cơ, nên gạc chèn
âm đạo, nén chặt, cùng với ống thông Foley
qua niệu đạo được nối với 1 túi đựng nước
tiểu. Gạc chèn được duy trì qua đêm.
Chú ý về kỹ thuật
Đặt chỉ khâu cơ nâng hậu môn không
quá 1cm so với mép trong của nó, tránh
việc hình thành các cầu chỉ có thể sờ thấy
dọc theo thành sau âm đạo. Đây là một lý
do gây khó chịu khi quan hệ tình dục. Thao
tác này cũng giúp kiểm soát tốt với mức
độ căng mong muốn. Nếu muốn căng hơn,
hàng thứ hai của chỉ khâu bên trên có thể
được đặt gối lên lớp đầu để khép thêm 1
đến 2 cm mà không tạo ra cầu chỉ.

161
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Có thể lựa chọn nhiều loại chỉ khâu. Tuy
nhiên, không nên sử dụng chỉ khâu đơn sợi
dạng cứng hoặc các loại chỉ tạo nút thắt
to (có thể sờ thấy), bởi vì trong khi quan hệ
tình dục, người bạn tình sẽ cảm thấy như
có kim châm. Loại chỉ tiêu chậm đơn sợi
2-0, khâu mối vắt là một lựa chọn tuyệt vời,
giúp giảm khả năng hình thành các nút thắt
quá khổ.
Chăm sóc sau phẫu thuật
Khu vực này được rửa sạch bằng xà
phòng phẫu thuật và sau đó đặt vào 1
miếng đệm âm đạo. Ống thông Foley và
gạc chèn âm đạo được lấy ra vào buổi sáng
hôm sau. Bệnh nhân được hướng dẫn để
tránh tạo lực tác động trực tiếp vào đường
khâu trong tuần đầu tiên và tránh bất kỳ sự
chèn ép nào vào âm đạo cho đến khi lành
vết mổ hoàn toàn, mất khoảng 6 tuần sau
phẫu thuật. Bệnh nhân cũng được hướng
dẫn rửa khu vực phẫu thuật bằng dung dịch
chlorhexidine loãng sau khi tiểu và đại tiện.
Không khuyến khích ngâm mình trong bồn
tắm. Thuốc chống viêm không steroid đủ
để giảm đau. Không cần ăn kiêng. Chúng
tôi nhận thấy rằng việc duy trì chế độ ăn
tránh táo bón là rất quan trọng để hồi phục
tốt. Có thể uống sữa chứa magie hàng ngày.
Chúng tôi cũng khuyến nghị các sản phẩm
Colace và chất xơ (ví dụ, FiberCon hoặc
Metamucil), mận khô và nước ép mận.
Bệnh nhân được khám lại vào ngày hôm
sau phẫu thuật tạo hình âm đạo – đáy chậu,
còn tạo hình tầng sinh môn là khoảng sau
1-3 ngày và 6 tuần sau cả hai phẫu thuật
đánh giá vết mổ và xác định xem bệnh
nhân có thể sinh hoạt tình dục bình thường
hay chưa.

Kết quả
Tạo hình tầng sinh môn
Một vận động viên 29 tuổi khỏe mạnh
không có tiền sử phẫu thuật trước đó đã
yêu cầu ‘thắt chặt’ âm đạo để điều trị “cảm
giác lỏng lẻo hơn khi quan hệ tình dụ” (Hình.
11-10). Cô ấy cao 5 feet 5 inch, nặng 130
pound, và là para 0. Khi khám, cô ấy bị ‘lỏng
lẻo’ phần đáy chậu với các phản xạ thần
kinh cơ còn nguyên vẹn, không bị ‘lỏng lẻo’
âm đạo, và cơ nâng hậu môn dày, trương
lực tốt. Cô ấy đã được thực hiện tạo hình
tầng sinh môn dưới gây tê tại chỗ. Tổng
thời gian tiến hành phẫu thuật là 45 phút,
lượng máu mất ít và một miếng đệm âm
đạo đã được đặt lên vị trí phẫu thuật. Cô ấy
được xuất viện về nhà với một đơn thuốc có
ibuprofen và sau 24h khám lại, cô ấy không
còn cảm giác đau. Cô ấy đã hoàn toàn bình
phục khi đi khám lại sau 6 tuần, tiếp tục
quan hệ tình dục vào tuần thứ 8 và báo cáo
hoàn toàn hài lòng với kết quả của mình
sau 12 tuần.

162
Chương 11
Tạo hình tầng sinh môn và tạo hình âm đạo
Hình. 11-10 A, Hình ảnh trước phẫu thuật. B, Ngay sau phẫu thuật tạo hình tầng sinh môn,
bệnh nhân đã tăng “chiều dài” đáy chậu và môi lón đã hội tụ lại với nhau ở phía sau, trương
lực cơ dọc theo môi âm hộ cũng được cải thiện.
Tạo hình đáy chậu – âm đạo
Một người mẫu thể hình khỏe mạnh 35
tuổi đã từng phẫu thuật cắt khâu tầng sinh
môn trước đó đã yêu cầu ‘thắt chặt’ âm đạo
để điều trị tình trạng lỏng lẻo âm đạo do
sinh nở và làm đầy môi lớn để điều chỉnh
tình trạng giảm thể tích do lão hóa (Hình.
11-11). Cô ấy cao 5 feet 2 inch, nặng 110
pound, và là para 1. Khi khám, cô ấy bị lỏng
và sẹo ở tầng sinh môn với các phản xạ
thần kinh cơ còn nguyên vẹn, âm đạo ‘lỏng
lẻo’, và cơ nâng hậu môn có độ dày trung
bình , trương lực tốt và với lỗ gian cơ nâng
có đường kính khoảng 5cm. Cô ấy đã trải
qua một ca phẫu thuật tạo hình đáy chậu –
âm đạo, hút mỡ đùi trong và cấy mỡ tự thân
vào môi lớn. Bệnh nhân được gây tê tại chỗ.
Tổng thời gian mổ là 140 phút, lượng máu
mất ít. Một ống thông Foley, gạc chèn âm
đạo và miếng đệm âm đạo đã được đặt vào
cuối cuộc phẫu thuật. Cô ấy được xuất viện
về nhà với đơn thuốc Percocet và một loại
kháng sinh uống và cho biết kết quả kiểm
tra thấy giảm đau tốt trong 24 giờ sau phẫu
thuật. Cô ấy đã hoàn toàn bình phục sau 8
tuần, có thể hoạt động tình dục trở lại sau
9 tuần và, trong một email, đã nói rằng cô
ấy hoàn toàn hài lòng với kết quả của mình.

163
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 11-11 A, Hình ảnh trước phẫu thuật. B, Hình ảnh ngay sau mổ. “Chiều dài” đáy chậu
tăng lên và thể tích cũng như hiệu quả thắt chặt của việc kết hợp tiêm mỡ với cố định cơ
bằng phẫu thuật là rõ ràng.
Tai biến và biến chứng
Tai biến
Các tai biến trong phẫu thuật tạo hình
tầng sinh môn cực kỳ hiếm và thường chỉ
giới hạn ở tổn thương trực tràng do bóc
tách vạt âm đạo không đúng cách. Mặc
dù chúng tôi chưa từng để xảy ra tai biến
chấn thương thành trực tràng trong quá
trình phẫu thuật, chúng tôi vẫn khuyên bạn
nên tuân theo các nguyên tắc và chiến lược
tương tự được áp dụng cho các chấn thương
âm đạo – trực tràng khi sinh con qua đường
âm đạo nếu gặp phải tai biến này: (1) các
mô xung quanh chỗ khuyết được bóc tách
để thành tổ chức di động, trong khi đó ngón
tay trỏ của bàn tay không thuận vẫn ở trong
trực tràng để hướng dẫn cho đến khi các
cạnh của phần khuyết không bị căng bởi
các mô xung quanh; (2) khu vực phẫu thuật
được tưới rửa thường xuyên bằng dung
dịch muối; (3) các mối khâu rời (Vicryl 3-0
trên kim đầu thuôn nhọn) được đặt ngang
qua chỗ khuyết; và (4) một lớp chỉ khâu gối
lên, mối vắt được đặt trên lớp đầu tiên, lấy
1 lượng mô cần thiết để đường khâu không
bị căng. Nên dùng chỉ tiêu chậm. Các bác sĩ
phẫu thuật tiếp tục thực hiện tạo hình tầng
sinh môn. Thuốc làm mềm phân và thuốc
kháng sinh đường uống (ví dụ: cephalexin
hoặc cephalosporin thế hệ thứ hai khác)
được kê đơn trong tuần đầu tiên sau phẫu
thuật.
Biến chứng
Nhiễm khuẩn vùng phẫu thuật rất hiếm
khi xảy ra với phẫu thuật thẩm mỹ âm đạo
mặc dù vị trí gần hậu môn và tần suất nhu
động ruột gần với vùng phẫu thuật. Các vi
sinh vật phổ biến nhất là hệ vi khuẩn chí
đường ruột. Cấy dịch vết mổ có thể giúp chỉ
định liệu pháp kháng sinh thích hợp nhưng
không được trì hoãn việc xử trí, liên quan
đến các nguyên tắc tiêu chuẩn về chăm
sóc vết thương.

164
Chương 11
Tạo hình tầng sinh môn và tạo hình âm đạo
Nhiễm nấm do dùng kháng sinh tại thời
điểm phẫu thuật thường gặp hơn. Chúng có
thể được chẩn đoán bằng mắt thường khá
dễ dàng vì có kèm theo dịch màu trắng, vón
cục. Bệnh nhân thường thấy ngứa. Những
bệnh nhiễm trùng này được điều trị hiệu
quả bằng thuốc kháng nấm đường uống.
Viêm bàng quang và viêm niệu đạo đôi
khi gặp phải sau phẫu thuật âm đạo, tuy
nhiên không khó để chẩn đoán và dễ dàng
điều trị bằng kháng sinh đường uống. Các
triệu chứng bao gồm co thắt cơ vùng trên
mu, tiểu buốt và tiểu rắt. Chẩn đoán dựa
trên phân tích nước tiểu và điều trị bằng
uống sulfamethoxazole / trimethoprim
(Bactrim). Bí tiểu, mặc dù khá hiếm ở bệnh
nhân tạo hình tầng sinh môn, đôi khi vẫn
xảy ra và có thể gây khó chịu nghiêm trọng
nếu không được xử trí kịp thời bằng ống
thông tiểu trong 24 giờ đầu.
Tách vết mổ, thường là 1 phần, có thể
xảy ra với chấn thương ở đáy chậu trong
giai đoạn lành vết mổ sớm. Điều trị là phẫu
thuật khâu lại (như lúc đóng vết mổ trước
đó). Khâu đóng lại tốt có thể giúp nhanh
liền vết mổ. Nếu đóng lại vẫn căng thì cơ
bản vẫn còn tồn tại nguy cơ tách vết mổ
lần nữa. Nếu nó xảy ra, thường xuyên rửa
sạch khu vực bằng dung dịch chlorhexidine
gluconate loãng (2% đến 4%) và thoa một
lớp mỏng Vaseline sẽ thúc đẩy quá trình
hình thành mô hạt khỏe mạnh cho đến khi
lành vết mổ. Nguy cơ hình thành đường
dò không tăng lên nếu có biến chứng tách
vết mổ, vì phẫu thuật không liên quan đến
thành trực tràng.
Đau do tạo hình tầng sinh môn có thể
được kiểm soát bằng cách kéo dài thời gian
sử dụng dụng cụ làm giãn âm đạo hoặc giải
phóng tầng sinh môn. Việc giải phóng bao
gồm rạch một đường dọc qua trung tâm
của sẹo (khi tạo hình) tầng sinh môn đủ để
làm giảm sức căng và khâu hai bên trái và
phải của vết rạch một cách độc lập. Có thể
thực hiện đường rạch này chỉ với gây tê tại
chỗ.
Có thể kiểm soát cơn đau do ‘cố định’
quá mức cơ nâng hậu môn bằng hai cách.
Lựa chọn đầu tiên, một lựa chọn không
phẫu thuật, là tiêm độc tố botulinum A trực
tiếp vào khối cơ hai bên tại vị trí khâu cố
định. Nên dùng tay không thuận đưa qua
trực tràng để nâng vùng tiêm lên. Liều
lượng phụ thuộc vào lượng mô cơ liên quan
và mức độ căng hiện tại. Liều ban đầu hợp
lý là 50 đến 100 đơn vị chia đều cho 2 bên.
Lựa chọn điều trị thứ hai là giải phóng bằng
phẫu thuật. Điều này được thực hiện thông
qua một đường rạch ngang qua lỗ âm đạo
để đi vào khoang âm đạo. Biểu mô âm đạo
sẽ được rạch tới vị trí tổ chức bị co kéo, và
một vết rạch dọc được thực hiện qua mô
bị co kéo trong khi độ sâu của vết rạch tới
ngang mức thành trực tràng.

Kết luận
Phẫu thuật tạo hình tầng sinh môn là
một thủ thuật đơn giản có hiệu quả làm
giảm kích thước của lỗ âm đạo và cung cấp
một cầu nối dày của mô cơ giúp tăng cường
thắt chặt âm đạo khi được kết hợp với tạo
hình âm đạo – đáy chậu. Một lợi điểm nữa
là chúng giúp hội tụ môi lớn ở phía sau.

e-bacsy.com
Chương 12
Tạo hình màng trinh
Otto J. Placik

166
Chương 12
Tạo hình màng trinh
Những điểm chính
• Tạo hình màng trinh là phẫu thuật
thẩm mỹ vùng kín nữ được giữ bí
mật nhiều nhất và cũng ít được ng-
hiên cứu nhất.
• Thông tin về quy trình thực hiện chủ
yếu dựa trên các báo cáo trong y văn
kinh điển.
• Tạo hình màng trinh mắc phải nhiều
vấn đề về tính đạo đức.
• Các yếu tố văn hóa xã hội đóng một
vai trò quan trọng.
• Hầu hết các chỉ định tạo hình màng
trinh đều mang tính nghi thức và
thẩm mỹ.
• Nên thiết lập các mục tiêu của quy
trình cho từng bệnh nhân cụ thể.
• Hiếm khi phải theo dõi sau phẫu
thuật tạo hình màng trinh.
• Tư vấn trước phẫu thuật có thể giúp
làm giảm số ca phẫu thuật không
cần thiết tới 75%.

Các vấn đề chung
Tạo hình màng trinh, còn được gọi là
khâu lỗ màng trinh, tái tạo màng trinh,
sửa màng trinh, phục hồi màng trinh, phẫu
thuật màng trinh, và tái tạo ‘trinh tiết’, là
thuật ngữ phổ biến nhất dùng để chỉ phẫu
thuật tái lập tính toàn vẹn của màng trinh,
sẽ được giới thiệu trong chương này. Trong
tất cả các thủ thuật thẩm mỹ bộ phận sinh
dục nữ, tạo hình màng trinh là một trong
những thủ thuật tranh cãi và được bí mật
nhiều nhất. Mặc dù nó đã được Tổ chức
Y tế Thế giới phân loại là thủ thuật cắt bỏ
bộ phận sinh dục nữ, nhưng hiện nay nó
đã khác đi rất nhiều. Tạo hình màng trinh
thường được thực hiện như một thủ thuật
tự chọn (theo nguyện vọng bệnh nhân); tuy
nhiên, việc phân loại nó như một thủ thuật
thẩm mỹ có thể gây hiểu lầm, bởi vì những
người khác cho rằng đây thuộc nhóm phẫu
thuật tái tạo, mặc dù thủ thuật này không
giải quyết các vấn đề về chức năng cho
bệnh nhân.
Mặc dù có rất nhiều ý kiến về bản chất
của thủ thuật, nhưng rất ít bài báo thảo luận
về kỹ thuật và dữ liệu không đủ để cung cấp
bằng chứng hỗ trợ hoặc khuyến nghị một
phương pháp phẫu thuật hiệu quả. Việc
theo dõi bệnh nhân ít khi cần thiết, bởi vì kết
quả thường không duy trì lâu dài và bệnh
nhân cũng không muốn công khai danh
tính sau phẫu thuật.
Người ta nói rằng, “Tương lai của một
người phụ nữ có thể bị treo lơ lửng, đúng
theo nghĩa đen, bởi một lớp màng (trinh).”
Mặc dù an toàn của bệnh nhân là điều tối
quan trọng, nhưng cuộc tranh luận về rủi
ro sau phẫu thuật và kỹ năng (không hoàn
hảo) của bác sĩ bị phản đối bởi nỗi sợ xã hội
tẩy chay và / hoặc tổn hại thể chất. Trọng
tâm của cuộc thảo luận này là liệu Tạo
hình màng trinh có nên được thực hiện hay
không, về cơ bản đây là một vấn đề về đạo
đức cần cân nhắc.
Những vấn đề về tính pháp lý và
văn hóa dẫn tộc
Cách tiếp cận để tạo hình màng trinh
phụ thuộc vào nền văn hóa và giá trị của hai
chữ trinh tiết trong xã hội đó. Trong số các
sinh viên đại học ở Thổ Nhĩ Kỳ, một cuộc
khảo sát gần đây đã chứng minh sự tồn tại
của tiêu chuẩn kép về thái độ của nam và
nữ đối với giá trị truyền thống của trinh tiết,
điều đã ảnh hưởng sâu sắc tới nhu cầu tạo
hình màng trinh của phụ nữ. Mặc dù nhiều
người cho rằng tạo hình màng trinh phổ
biến hơn trong các nền văn hóa Hồi giáo,
quy trình này đã được thực hiện ở các nền
văn hóa/tôn giáo khác trên thế giới. Ví dụ,
ước tính khoảng 2% phụ nữ ở Guatemala
có thể đã thực hiện phẫu thuật này, thường
là bởi các Bs chưa được đào tạo chuyên
sâu và thiếu sự theo dõi hoặc giám sát sau
phẫu thuật.

167
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Tạo hình màng trinh là thủ thuật phẫu
thuật thẩm mỹ bộ phận sinh dục nữ được
giữ bí mật nhiều nhất và ít được nghiên
cứu nhất. Thông tin về thủ tục thường dựa
trên các báo cáo trong y văn kinh điển. Ảnh
hưởng của tôn giáo, phong tục truyền thống
và niềm tin cá nhân cũng có thể được phản
ánh trong các quy tắc pháp lý của một xã
hội cụ thể. Ở những quốc gia này, những Bs
hành nghề sẽ chỉ định thủ thuật này dựa
trên nguyện vọng của ‘khách hàng’, bất
chấp những vấn đề về đạo đức y khoa, đạo
đức cá nhân và nguy cơ dẫn đến hậu quả
nghiêm trọng.
Mặc dù định nghĩa về trinh tiết có thể
còn bị tranh cãi, nhưng nhiều người coi rằng
một màng trinh nguyên vẹn là sự hiện diện
của trinh tiết. Đối với nhiều nền văn hóa, sự
hiện diện của một màng trinh còn nguyên
vẹn phù hợp với chuẩn mực đạo đức và là
dấu hiệu của danh dự và sự chính trực. Tôi
đã được nghe những câu chuyện về (1) các
thủ tục kiểm tra bắt buộc để chứng minh
phụ nữ “đủ tiêu chuẩn” trước khi làm lễ kết
hôn, (2) yêu cầu phá vỡ một màng trinh còn
nguyên vẹn bằng vải bông / lụa quấn quanh
ngón trỏ của người thăm khám nếu có chỉ
định y khoa bắt buộc, (3) người mẹ kế vẫn
phải là người còn trinh tiết, và (4) màn ‘thể
hiện’ đáng tự hào của những phụ nữ với
ga giường thấm máu sau đêm tân hôn. Ở
Thổ Nhĩ Kỳ, gần như bất kỳ ai muốn đảm
bảo về “lợi ích” của mình đều có thể yêu
cầu kiểm tra màng trinh để xác nhận trinh
tiết. Trong lịch sử, các tôn giáo lớn (Cơ đốc
giáo, Do Thái giáo, Hồi giáo, Phật giáo và
Ấn Độ giáo) cho rằng việc tiết chế tình dục
là biểu hiện của sự thuần khiết về đạo đức,
và hoạt động tình dục chỉ được ‘cởi mở’ khi
hai người đã kết hôn. Phụ nữ đã từng hoặc
thậm chí bị nghi ngờ có hoạt động tình dục
trước hôn nhân (bằng chứng là màng trinh
bị tổn thương được đánh giá bằng nhiều
phương pháp khác nhau) có thể bị hủy bỏ
lời thề ước trong hôn nhân, sỉ nhục nơi công
cộng, bị cộng đồng tẩy chay, trục xuất, lạm
dụng thể xác , hoặc các hậu quả pháp lý
khác, bao gồm bắt giữ, bỏ tù hoặc tử hình
(giết người vì danh dự) . Một báo cáo đã đề
cập về việc tạo hình màng trinh của người
Ai Cập thực sự đã làm giảm tới 80% các vụ
giết người “vì danh dự” so với thập kỷ trước.
Các ủy ban đạo đức của nhiều hiệp hội y
tế quốc tế (Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Pháp,
Canada, New Zealand, Úc và Tổ chức Y tế
Thế giới) nhìn chung đã đồng thuận tạo
hình màng trinh là một thủ thuật thẩm mỹ
bộ phận sinh dục.
Goodman và cộng sự đã đề xuất bốn
nguyên tắc đạo đức (sự tự nguyện của bệnh
nhân, không có ý đồ xấu, lợi ích và sự công
bằng) để phân biệt phẫu thuật thẩm mỹ âm
hộ tự chọn với cắt bộ phận sinh dục bắt
buộc. Các nhà đạo đức học ủng hộ quyết
định của bác sĩ thực hiện phẫu thuật để bảo
vệ phụ nữ khỏi những hậu quả bất lợi. Ngược
lại, những người khác đề xuất, “Các bác sĩ
phụ khoa có đủ kỹ năng thực hiện thủ thuật
nên tính đến hậu quả của việc họ từ chối”.
Kopelman cho rằng nên đưa ra tiêu chuẩn
mang tính cá nhân hóa khi cân nhắc quyết
định tạo hình màng trinh nhưng cơ bản việc
không quyết định phẫu thuật thường dẫn
tới gia tăng các vấn đề sau hôn nhân do
bị ép buộc. Earp đề xuất rằng các bác sĩ
sẽ chỉ được tính “mức thù lao thấp nhất có
thể” để “chống lại” nhu cầu ngày một gia
tăng của xã hội. Một số người đề xuất rằng
sự sẵn có của thủ tục này làm tăng tỷ lệ
lạm dụng tình dục, quấy rối tình dục, trong
khi giáo dục tình dục lại không được quan
tâm đúng mức. Những người chỉ trích thủ
tục này cho rằng nó có thể trở nên lỗi thời
nếu công chúng nhận thức đúng đắn hơn
về trinh tiết, và rằng chúng không chỉ đơn
giản là một lớp màng hoặc những “giọt máu
đêm tân hôn”. Những người ủng hộ lại những
lập luận tiên tiến hơn để ủng hộ tính khoa
học trong thực hành tạo hình màng trinh và
theo đó, một nhóm đa ngành gồm “bác sĩ
phẫu thuật, luật sư, nhà hoạt động xã hội,
nhà đấu tranh cho nhân quyền và các nhà
lãnh đạo tôn giáo” đã được thành lập để
đưa ra giải pháp cho cuộc tranh luận này.

168
Chương 12
Tạo hình màng trinh
Phẫu thuật chọn lọc với phẫu
thuật tái tạo
Chúng tôi hiếm khi phải thực hiện các
ca phẫu thuật tạo hình màng trinh chỉ
nhằm mục đích tuân thủ tiêu chuẩn đặt ra
của 1 cuộc hôn nhân truyền thống hoặc để
kỷ niệm tuần trăng mật thứ hai. Tuy nhiên,
một phụ nữ, dù có hoặc không có các thành
viên trong gia đình đi cùng, thường yêu cầu
BS giữ kín lịch sử quan hệ tình dục trước
hôn nhân với người chồng tương lai và để
đảm bảo nhận thức về trinh tiết. Điều này
rất được mong đợi để ngăn chặn những hậu
quả “thảm khốc” đã được thảo luận trước
đây. Các vấn đề đạo đức đã thảo luận trước
đó cũng được áp dụng. Trong bối cảnh này,
nhiều bác sĩ, bao gồm cả bác sĩ phẫu thuật
thẩm mỹ nam và nữ, từ chối tham gia vào
một phẫu thuật mà (1) không cần thiết về
mặt y khoa, (2) giúp phụ nữ giữ được các
tiêu chuẩn đạo đức trước hôn nhân, và (3)
lừa dối một “nạn nhân” vô danh: bạn tình.
Một tác giả cho rằng ngay cả khi chàng rể
nhận thức được, thì thầy thuốc đang thông
đồng với những người khác trong gia đình
lừa dối chàng rể đó. Những người khác đặt
câu hỏi về những lập luận đạo đức này đối
với các bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ thực
hiện nâng ngực và hút mỡ. Tương tự như
vậy, các thủ thuật cũng này không được
tiết lộ cho bạn tình/người chồng của bệnh
nhân.
Một số người nghĩ rằng tạo hình màng
trinh không giống như các thủ thuật thẩm
mỹ thuần túy như nâng ngực mà có thể
phục vụ mục đích giúp người phụ nữ đáng
được “công nhận và được bảo vệ hơn”. Ở
một số nền văn hóa, “giấy chứng nhận trinh
tiết” có thể được bệnh nhân yêu cầu sau
khi Bs hoàn thành thủ thuật; do đó, bác sĩ
phẫu thuật phải chuẩn bị để quản lý và giải
quyết xung đột đạo đức này và đối mặt với
việc đồng lõa với sự gian dối. Các nhà đạo
đức học nghĩ rằng cần thiết phải cung cấp
các chứng chỉ này cho những bệnh nhân
có nguy cơ bị tổn hại lớn đến “sức khỏe,
quyền tự chủ hoặc tính toàn vẹn cá nhân”.
Sự xấu hổ khi phải khám phụ khoa với mục
đích được “chính thức chứng nhận” là trinh
nữ đã khiến một số phụ nữ tự tử. Điều này
đã thúc đẩy một số người ủng hộ đề xuất
rằng nên cung cấp một phần tiền bảo hiểm
cho những trường hợp được chỉ định không
hoàn toàn vì lý do thẩm mỹ.
Những người ủng hộ cho rằng tính bảo
mật mối quan hệ giữa bác sĩ - bệnh nhân
và yêu cầu của người phụ nữ sẽ thay thế
tất cả các mối quan tâm khác. Những
người khác phản đối dựa trên cơ sở rằng
điều này duy trì một tiêu chuẩn trinh tiết có
định kiến của xã hội mà chỉ phụ nữ mới có.
Do đó, phẫu thuật tạo hình màng trinh bảo
tồn một ‘huyền thoại’ rằng một màng trinh
nguyên vẹn là biểu tượng của trinh tiết. Một
số người cho rằng việc loại bỏ những định
kiến này có thể không phải là một vấn đề y
khoa hoặc pháp lý và đòi hỏi nhiều hơn sự
thay đổi cấu trúc xã hội. Những người khác
mô tả nó như một “phẫu thuật mang tính
nghi lễ” tương đương với cắt bao quy đầu
và liên quan với tính đạo đức trong phẫu
thuật thẩm mỹ.

Chỉ định và chống chỉ định
Chức năng của màng trinh chưa được
biết rõ nhưng đã được coi như một hàng rào
âm đạo chống lại các nguồn lây nhiễm bên
ngoài cho đến tuổi dậy thì. Một số người đã
tuyên bố rằng “không có chỉ định khoa học
hợp lệ” cho tạo hình màng trinh, và nó được
thực hiện chủ yếu do truyền thống văn hóa
hoặc tập tục.
Gần như bất kỳ ai có một mong muốn
thực tế và có đủ tổ chức đều là ‘ứng cử
viên’ cho tạo hình màng trinh (tự chọn). Tùy
thuộc vào lượng tổ chức còn lại mà lựa chọn
thủ thuật sao cho phù hợp (Hình. 12-1).
Thời điểm giao hợp “dự kiến” cũng có thể
đóng một vai trò quan trọng trong việc lựa
chọn phương pháp phẫu thuật và sẽ được
thảo luận sau trong chương này. Những

169
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
người chỉ trích quy trình cho rằng bác sĩ
phẫu thuật vô đạo đức có thể không cung
cấp thông tin thích hợp cho bệnh nhân và
khuyến khích bệnh nhân thực hiện quy trình
này để hưởng lợi từ phí phẫu thuật.
Hình. 12-1 Khám lâm sàng đơn thuần rất khó xác định phần tổ chức còn lại của màng trinh
Chống chỉ định cho tạo hình màng trinh
bao gồm “sự nhầm lẫn” với các thủ thuật
thắt chặt âm đạo, nhiễm trùng âm hộ đang
hoạt động, tình trạng viêm âm hộ đang
hoạt động, kỳ vọng về một màng trinh “lý
tưởng” với lỗ tròn ở trung tâm, rối loạn đông
máu và hút thuốc.

Đánh giá bệnh nhân
Đánh giá bất thường giải phẫu
Mặc dù các phương pháp sàng lọc đã
được khuyến nghị cho bệnh nhân phẫu
thuật thẩm mỹ bộ phận sinh dục nữ, nhưng
không có công cụ nào được thiết lập để
đánh giá cho tạo hình màng trinh. Thông
thường các tổn thương ở màng trinh lành
khá nhanh và chúng cũng không có hình
dạng chuẩn (nhiều biến thể giải phẫu). Hình
thái học của màng trinh có thể thay đổi
theo tuổi. Các nghiên cứu đã thấy rằng có
sự đa dạng rất lớn về hình thái học ở phụ nữ
không tiền sử lạm dụng tình dục.
Hơn nữa, đường kính hoặc kích thước
màng trinh tối ưu vẫn chưa được xác định.
Các nghiên cứu đã được thực hiện để thiết
lập chiều rộng màng trinh và / hoặc đường
kính lỗ trong “lý tưởng”, tuy nhiên vẫn chưa
đưa ra được kết luận. Do đó, không có hình
thái âm đạo tiêu chuẩn để tạo hình hoặc
tái tạo.

Lên kế hoạch và chuẩn bị
Bệnh nhân cần được thông báo về quy
trình với việc xem xét kỹ lưỡng các rủi ro,
các lựa chọn thay thế và lợi ích lâu dài.
Khi thảo luận về vai trò và mục tiêu của
thủ thuật, bác sĩ phẫu thuật nên thảo luận
về các chủ đề như sau:
• Việc sửa chữa không đem lại lợi ích về
mặt y khoa.
• Không còn màng trinh hoặc quan hệ
lần đầu không chảy máu không hẳn là
người đã từng quan hệ tình dục.
• Dưới 50% số phụ nữ cho biết họ không
bị chảy máu ở lần đầu quan hệ.

170
Chương 12
Tạo hình màng trinh
Trong một nghiên cứu từ Amsterdam,
75% phụ nữ đã được tư vấn đồng ý rằng
không nên tiến hành tạo hình màng trinh.
Họ nói rằng mặc dù mong muốn “những
chiếc ga giường thấm máu” và một âm đạo
đủ “nhỏ” trong đêm tân hôn, nhưng phẫu
thuật vẫn có thể cũng cần thiết.
Chảy máu trong lần quan hệ đầu tiên
không nhất thiết là biểu hiện của sự trinh
trắng, và trong một cuộc khảo sát với 41
phụ nữ, chỉ có 34% số trinh nữ chảy máu
trong lần giao hợp đầu tiên, và 63% còn lại
thì không.
Không phải lúc nào cũng có thể xác
định được khi khám lâm sàng, rằng bệnh
nhân đã có hoạt động tình dục trước đó
hay chưa. Trong một nghiên cứu đánh
giá việc thăm khám bằng mỏ vịt, chúng
khá dễ dàng đưa vào ở 56% phụ nữ chưa
từng quan hệ tình dục nhưng đã sử dụng
tampons, trong khi nó được đưa vào dễ
dàng ở 81% bệnh nhân có quan hệ tình
dục. Nghiên cứu tương tự cũng tiết lộ rằng
những đối tượng không hoạt động tình dục
có hình ảnh màng trinh và các đặc điểm
phụ khoa tương đương với nhau bất kể việc
họ có sử dụng tampon hay không, tham gia
các hoạt động thể thao hoặc khám vùng
chậu trước đó. Tuy nhiên, rách màng trinh
khi không có hoạt động tình dục có liên
quan đến phẫu thuật trước đó, đặt tampon,
tập thể dục và thủ dâm. Ngược lại, màng
trinh nguyên vẹn, không bị rách được báo
cáo ở 52% phụ nữ đã từng quan hệ tình dục
trước đó. Chảy máu có thể không xảy ra,
hoặc các phẫu thuật giúp cải thiện trương
lực cơ vùng này có thể dẫn tới phải rạch
hoặc cắt bỏ màng trinh.
Đối với bệnh nhân Hồi giáo, các bác sĩ
nên phân biệt rằng mặc dù quan hệ tình
dục trước hôn nhân hoặc ngoài hôn nhân
bị nghiêm cấm, nhưng việc chứng minh
trinh tiết bằng những giọt máu ở đêm tân
hôn là không cần thiết. Tất cả phụ nữ (và
các thành viên trong gia đình) những người
muốn tạo hình màng trinh với mục đích có
xuất hiện những giọt máu trong đêm tân
hôn, nên được thông báo rằng việc tạo hình
không giúp họ đạt được mục đích đó.

Mô tả kỹ thuật
Trong hầu hết các bài đánh giá, các kỹ
thuật đều được mô tả một cách mơ hồ, và
tỷ lệ thành công hoặc không được báo cáo
hoặc được báo cáo là thấp, với tỷ lệ thành
công 67% được báo cáo trong 1 nghiên cứu.
Tuy nhiên, các phương pháp phẫu thuật có
thể được phân loại là phẫu thuật tạo vạt,
khâu đính, giảm đường kính trong, khâu
đơn thuần, hoặc đặt màng trinh nhân tạo.
Thời gian ‘kiêng’ từ sau phẫu thuật tới khi
được hoạt động tình dục trở lại là một vấn
đề quan trọng thường ít được chú ý. Một tác
giả đã thảo luận về các BS thậm chí thực
hiện thủ tục “ngay trước đám cưới.”. Tôi đã
học được nhiều điều về nó từ các buổi trao
đổi với Bs khác. Đối với những bệnh nhân
muốn toàn vẹn cấu trúc và cần màng trinh
còn nguyên vẹn khi nhìn bằng mắt thường,
việc sửa chữa nên được thực hiện 3 tháng
trước khi “hoàn thành lời thề trong hôn
nhân”. Tuy nhiên, khi biết rõ thời gian cần
quan hệ trở lại và bệnh nhân muốn chảy
máu nhưng không cần nhìn thấy bằng mắt
thường, tốt nhất nên lên lịch phẫu thuật 3
tuần trước ngày đó. Ở những bệnh nhân bị
chấn thương, mô hạt đủ để gây chảy máu
với ma sát nhẹ nhất. Van Moorst và cộng
sự đề nghị thực hiện phẫu thuật trong vòng
14 ngày trước đám cưới để tăng khả năng
xuất hiện máu khi quan hệ, nhưng không
quá gần đám cưới để người chồng có thể
nhìn thấy vết khâu.
Vô cảm, Kháng sinh và Đánh dấu
Gần như tất cả các bệnh nhân đều có
biểu hiện lo lắng rõ rệt vì những sự kiện
xảy ra trước đó hoặc vì họ là người ‘hướng
nội’ về tình dục; do đó, tôi khuyên các Bs
nên gây mệ hoặc tiền mê với các thuốc

171
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
chu phẫu thích hợp. Gây tê cục bộ có hoặc
không có thuốc an thần đường uống hoặc
tiêm tĩnh mạch, hoặc dùng thuốc tiền mê,
hiếm khi được thực hiện cho bệnh nhân
thấy thoải mái trước phẫu thuật, chẳng hạn
như những người đang tổ chức tuần trăng
mật thứ hai, những người sẵn sàng chịu
đựng việc tiêm và những người có thời gian
chuẩn bị. Trong những trường hợp này, một
miếng lót Telfa cuộn vào tampon sẽ được
đưa sâu vào âm đạo. Tampons được lấy ra
ngay sau khi bệnh nhân đã nằm đúng tư
thế trước phẫu thuật nhưng trước khi tiêm
và chuẩn bị. Mục đích của miếng đệm Tel-
fa là tạo áp lực và tác động trực tiếp của
kem bôi lên các ‘mảnh’ màng trinh còn sót
lại thay vì cho phép trọng lực tác động vào
những mảnh này. Không có nghiên cứu có
nhóm chứng nào yêu cầu sử dụng kháng
sinh, nhưng chúng phù hợp với các báo
cáo cho thấy lợi ích của chúng đối với vết
thương tầng sinh môn cấp III sau sinh.
Tư thế bệnh nhân
Bệnh nhân được đặt ở tư thế sản khoa
và chuẩn bị vô trùng thông thường.
Kỹ thuật tạo vạt
Các nghiên cứu về thủ thuật vạt niêm
mạc âm đạo hiện rất hạn chế và chỉ được
đề cập ngắn gọn là khi không có đủ những
‘mảnh’ màng trinh để khâu nối. Mô tả của
toàn bộ quy trình đơn giản là, “. . . Một dải
hẹp của thành sau âm đạo được bóc tách
để tái tạo. ” Hiếm khi được thực hiện, vì nó
đòi hỏi ‘sửa chữa’ đủ chắc chắn để vẫn còn
nguyên vẹn khi hoạt động nhưng đủ yếu để
bị rách khi dương vật được đưa vào. Nếu
biểu mô vảy thực sự lành lại, vạt có thể cần
phẫu thuật để giải phóng.
Khâu đính
Kỹ thuật phổ biến nhất cho đến nay là
kỹ thuật khâu đính. Tuy nhiên, một trong
những bài báo mô tả về kỹ thuật này chỉ
trích dẫn 9 trường hợp được thực hiện trong
vòng 10 năm. Tác giả đã dựa trên kỹ thuật
của mình trên một ấn phẩm đã được công
bố trước đó (tổng cộng 20 ca lâm sàng và
không khám lại sau phẫu thuật). Phương
pháp phẫu thuật được đề cập ngắn gọn chỉ
với 29 từ.
Chúng tôi sẽ đề cập chi tiết các bước
thực hiện phẫu thuật ở phần dưới.
Giảm đường kính trong âm đạo
Trong phần tổng quan về phẫu thuật
tạo hình bộ phận sinh dục nữ, Goodman đã
thảo luận về hai kỹ thuật. Ông đã báo cáo
về một phương pháp làm giảm chu vi của lỗ
trong màng trinh bằng cách sử dụng nhiều
vết cắt nhỏ, hình thoi dọc theo ngoại vi của
màng trinh

172
Chương 12
Tạo hình màng trinh
6 khe được xác định
dọc theo vùng ngoại
vi của lỗ màng trinh
Rạch một đường
rạch nhỏ hình thoi
ở đáy các khe
Việc khâu nối này
sẽ làm giảm đường
kính ngoài và
đường kính trong
lỗ màng trinh
Đầu của các mảnh
sẽ được cắt bỏ lớp
biểu mô
Khâu nối các đầu
mảnh đối xứng
theo cặp đã xác
định từ trước.
Sau khi khâu đính, các mảnh
được nối lại nhưng không làm
giảm đường kính ngoài của lỗ
âm đạo.
Đóng toàn bộ các khe này sẽ
làm giảm đường kính trong,
thắt chặt lỗ âm đạo
Khâu đính từng
cặp mảnh
Khâu nối 2 bờ
của khe
KỸ THUẬT GOODMAN
KỸ THUẬT KHÂU ĐÍNH
Xác định các mảnh
còn dư lại, tìm cặp
đối xứng
Hình. 12-2 So sánh kỹ thuật Goodman và kỹ thuật khâu đính kinh điển.
Và một thủ thuật khâu đính kinh điển,
chủ yếu bằng cách tìm các cặp mảnh còn
dư đối xứng nhau và khâu nối lại.
Kỹ thuật Goodman giúp làm giảm đường
kính ngoài và trong bằng cách sử dụng các
vết cắt hình kim cương giữa các mảnh tồn
dư, sau đó khâu nối, còn kỹ thuật khâu đính
hình thành các cầu biểu mô nối hai phía lỗ
màng trinh, tuy giúp “tái tạo lại màng trinh”
nhưng không tác động vào đường kính
(Hình .12-2).
Kỹ thuật khâu đơn thuần
Nhiều phương pháp khâu đơn giản,
nhanh chóng đã được thực hiện để tái tạo
màng trình. Ou và cộng sự đã mô tả một
mối khâu vắt bằng chỉ catgut 5-0 chromic
ngay bên dưới các mảnh tồn dư, bắt đầu
từ vị trí 6 giờ, kéo dài và kết thúc ở vị trí 12
giờ, sau đó khâu ngược lại để trở về vị trí
cũ (6h). Chỉ khâu được buộc quanh dụng
cụ nong Hegar 12 mm với một nút thắt vùi.
Mặc dù kỹ thuật có vẻ đơn giản, nhưng rất
hữu ích trong việc gia cố các mối chỉ trong
kỹ thuật khâu đính đơn thuần.
El Hennawy khuyến nghị sử dụng chỉ
khâu catgut để khâu đính các mảnh tồn dư,
ít nhất trong khoảng 3 đến 7 ngày trước khi
quan hệ (không được muộn hơn) vì còn chờ
liền vết khâu. Ngoài ra, ông còn mô tả một
kỹ thuật thậm chí còn dễ dàng hơn khi đặt
một đường khâu đơn giản nối hai thành âm
đạo lại với nhau.
Màng trinh nhân tạo
Kỹ thuật cấy màng trinh nhân tạo bao
gồm việc khâu hoặc đặt các viên nang gel-
atin chứa đầy dịch tương tự máu bên trong
âm đạo. Chúng nhằm mục đích xuất hiện
những giọt máu khi quan hệ, mô phỏng sự
rách của màng trinh còn nguyên vẹn. Các
nguồn trực tuyến cung cấp màng trinh nhân

173
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
tạo (được gọi là màng trinh Trung Quốc
hoặc màng trinh giả) bao gồm một màng
giả chứa đầy “thuốc chứa chất lỏng (y tế)
màu đỏ”(có thể so sánh với máu người)
được đưa vào âm đạo mà không cần phẫu
thuật.
Kỹ thuật chúng tôi thực hiện:
Khâu đính cải tiến
Các bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ đều biết
rằng vết khâu sẽ được liền nhanh nhất dựa
trên lượng máu cấp tới vùng đó và tính chịu
lực của vết khâu. Thông qua kinh nghiệm
của tôi có được trong một chương trình đào
tạo phẫu thuật thẩm mỹ, tôi liên hệ cách
tiếp cận của mình với phương pháp phẫu
thuật tạo hình Furlow Z-plasty áp dụng các
nguyên tắc này. Việc cầm máu có thể xử lý
bằng tay đơn thuần. Kỹ thuật được mô tả
trong các bước sau.
1.
Bệnh nhân được đặt ở tư thế sản
khoa và tiêm lidocain 1% với epineph-
rine bằng kim 30G. Bệnh nhân được trải
xăng và mặc quần áo vô trùng.
2.
Môi bé hai bên được kéo một cách
thận trọng bằng chỉ khâu hoặc dụng
cụ kéo để tạo phẫu trường rộng, nhưng
phải duy trì độ căng tối thiểu trên lỗ âm
đạo (Hình 12-3, A).
Hình. 12-3, A, B
Kéo môi bé sang hai bên
Xác định ít nhất 3 cặp mảnh đối xứng
3.
Xác định các mảnh màng trinh còn
sót lại, tìm và đánh dấu các cặp mảnh
đối xứng, ít nhất là 3 cặp mảnh (Hình.
12-3, B).

174
Chương 12
Tạo hình màng trinh
4.
Đối với mỗi cặp mảnh, thực hiện
thủy tách các đầu mảnh bằng lidocain
1% với kim 30G để vừa có thể tăng kích
thước và vừa tạo thuận cho quá trình
khâu đính. Sau khi tiêm lidocaine, có
thể không cần sử dụng epinephrine, vì
Tiêm lidocain 1% vào
các đầu mảnh để tăng
diện tích tiếp xúc và tạo
thuận cho khâu nối
Hình. 12-3, C
các mô này không có mạch máu, và
trong lúc khâu nối vẫn cần đánh giá
tình trạng chảy máu. Nên ép mô cầm
máu thay vì đốt điện (chỉ nên được sử
dụng ít nhất có thể). Tôi thích kẹp mô
Gerald có răng để cầm máu tổ chức.
5.
Sau khi tiêm xong, một lưỡi dao số
15C, một lưỡi dao số 11 hoặc kéo cắt
mống mắt được sử dụng để tạo ra một
vạt trước trên (xa), giúp kéo dài phần
còn lại một cách hiệu quả. Phía còn lại
cũng được thực hiện tương tự để tạo ra
một vạt sau dưới (gần). Phương pháp
này được sử dụng để giảm sức căng
vết mổ, đồng thời tăng diện tích bề mặt
trong quá trình lành vết mổ (Hình. 12-3,
D).

175
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Đường rạch mặt trước phía mảnh B’
Lật ngược vạt B’
Lật vạt sau B lên trên
Điều chỉnh cho 2 vạt này tiếp xúc với phần
bóc tách của vạt còn lại,
sau đó mới thực hiện khâu nối
(GIỐNG KIỂU KHÂU NỐI BÊN – BÊN)
Một vạt sau được tạo ở phía mảnh B
Hình. 12-3, D

176
Chương 12
Tạo hình màng trinh
6.
Nếu cần thiết, có thể nới lỏng việc
kéo môi bé hai bên để tạo thuận lợi cho
việc khâu (Hình. 12-3, E).
Hình. 12-3, E
Hình. 12-3, F
Nới lỏng hai môi bé để tạo thuận cho việc khâu nối
Vạt B + B’ sẽ được khâu nối “sang bờ bên kia”
bằng chỉ 5-0 monocryl với đầu kim RB-1.
7.
Các vạt được khâu bằng chỉ khâu
Monocryl 5-0 với kim thuôn nhọn RB-1.
Đôi khi, nếu các mảnh màng trinh đủ
dày, có thể đặt một mũi khâu vùi. Tuy
nhiên, thường thì các đường khâu này
sẽ tương tự như khâu nối mạch máu
kiểu bên - bên (Hình. 12-3, F).
8.
Nếu chảy máu, dùng lực ép và theo
dõi cho tới khi máu ngừng chảy. Hạn
chế sử dụng dao điện để cầm máu.
9.
Áp một Telfa pad có bôi một lớp oint
mỏng lên vùng phẫu thuật.

177
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Ví dụ ca lâm sàng
Các mảnh âm đạo được đánh dấu. A sẽ
được nối với A, B với B ‘, và C với C’, (Hình.
12-4, A).
Phân mảnh B ‘ được khâu với B (Hình.
12-4, B). Phân mảnh C được khâu với C ‘
(Hình. 12-4, C). Đã khâu nối mảnh A với A ‘
(Hình. 12-4, D).
Lỗ thông vào trong âm đạo phía bên
phải bệnh nhân sau khâu đính mảnh A - A‘
(bên phải bệnh nhân) (Hình. 12-4, E). Lỗ
thông vào trong âm đạo phía bên trái bệnh
nhân sau khâu đính mảnh A - A‘ (bên trái
bệnh nhân) (Hình. 12-4, F).
Hình. 12-4 A-F

178
Chương 12
Tạo hình màng trinh
Kỹ thuật khâu đính được mô phỏng bằng
hình ảnh hai bàn tay đan vào nhau. Các bàn
tay đại diện cho các mảnh màng trinh đối
lập (Hình. 12-4, G). Bàn tay mở, phía trên
đại diện cho mảnh trên được rạch, tạo ra
một vạt quay xuống (các đầu ngón tay là
đầu của vạt; lòng bàn tay là mặt sau khi
đã lật vạt) (Hình. 12-4, H). Bàn tay mở, phía
dưới đại diện cho mảnh dưới được rạch, tạo
ra một vạt được xoay và nâng lên trên (các
đầu ngón tay là đầu của vạt; lòng bàn tay là
mặt sau khi đã lật vạt) (Hình. 12-4, I). Phần
tay trên mở đại diện cho phần vạt trên được
khâu vào vị trí mặt sau, khi đã lật vạt và
ngược lại (Hình. 12-4, J ).
Bàn tay thể hiện cho các
vạt đối xứng
Vạt trên được rạch và lật hướng
xuống dưới (mở bàn tay phía trên)
Vạt dưới được rạch và lật hướng lên
trên (Mở bàn tay phía dưới)
Khâu nối hai vạt (Tay dưới ở phía
trước tay trên)
Hình. 12-4 G-J
Hình. 12-4 K-M
Mảnh B ‘được rạch dọc theo bề mặt
trước và mặt xa để tạo ra một vạt lật ngược
dựa trên (Hình. 12-4, K). Vạt trên là mảnh
B ’khi nó đang được rạch (Hình. 12-4, L).
Mảnh B được rạch dọc theo bề mặt sau
và mặt gần để tạo ra một vạt lật ngược lên
trên (Hình. 12-4, M).

179
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 12-4 N-P
Hình. 12-4 Q-S
Phân mảnh C’ sẽ được cặp lên trước
khi tiêm lido (Hình. 12-4, N). Mảnh C ‘được
tiêm để ‘phóng to’ nó trước khi rạch và tạo
Mảnh C ‘được rạch dọc theo bề mặt
trước và mặt xa để tạo ra một cánh lật ngửa
dựa trên (Hình. 12-4, Q). Vạt lật trên mảnh C
‘được quan sát thấy khi nó đang được rạch
một vạt (Hình. 12-4, O). Mảnh C được cặp
lên và tiêm để ‘phóng to’ nó trước khi rạch
và tạo một vạt (Hình. 12-4, P).
(Hình. 12-4, R). Chỉ nên cầm máu bằng lực
ép với một miếng gạc hoặc bông. Hạn chế
tối đa đốt điện (Hình. 12-4, S).
Khâu nối mảnh C với C’ (Hình. 12-4, T).
Chỉ khâu Monocryl 5-0 với kim RB-1 đầu
thuôn nhọn được sử dụng để giảm thiểu
chấn thương cho mô. Chỉ khâu màu tím tạo
điều kiện thuận lợi cho việc giấu đi đường
khâu (mịn) (Hình. 12-4, U). Ba vị trí khâu —
A-A’, B-B’, C-C ’— được đánh dấu trong Hình.
12-4, V. Lỗ âm đạo sau khi đã tháo bỏ dụng
cụ kéo môi bé (Hình. 12-4, W).

180
Chương 12
Tạo hình màng trinh
Hình. 12-4 T-W

181
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 12-5 A, Hình ảnh trước phẫu thuật. B, Kéo môi bé sang hai bên. C, Điểm bắt đầu ở góc
6h. D, kéo căng vùng mô ở điểm bắt đầu để tiến hành khâu.
Kỹ thuật buộc vòng (dải rút)
Các bước thực hiện kỹ thuật được mô tả
trong Hình. 12-5.

182
Chương 12
Tạo hình màng trinh
Hình. 12-5 (tiếp) E-J, Vị trí khâu bắt đầu ở vị trí 6 giờ. 4-0 cromic catgut được khâu móc qua
lớp dưới niêm mạc theo chiều kim đồng hồ, khâu liên tục giống mũi vắt, dọc theo chiều kim
đồng hồ tới vị trí 12h. K, Vừa khâu vừa kéo chỉ để làm giảm đường kính trong của lỗ âm
đạo. L, Kết thúc bằng một nút thắt ở vị trí 6 giờ. (đi 1 vòng đồng hồ).

183
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 12-6 A, Kéo môi bé sang hai bên để bộc lộ phẫu trường. B, Hình ảnh ngay sau phẫu
thuật khâu buộc vòng. C, Ba tuần sau phẫu thuật.
Thủ thuật bổ sung
Có một quan niệm sai lầm rằng tạo hình
màng trinh sẽ làm se khít âm đạo, và nhiều
chuyên gia thực hành đã nhầm lẫn giữa hai
quy trình. Ngoại trừ kỹ thuật thu nhỏ đường
kính ngoài âm đạo đã được mô tả trước đây
của Goodman, tạo hình màng trinh không
làm se khít âm đạo. Điều này được thảo
luận trong CHƯƠNG 11, Tạo tầng sinh môn
và âm đạo. Các nhà thực hành sẽ khuyên
bạn nên sử dụng kem làm se khít âm đạo
như một liệu pháp bổ sung.
Chăm sóc sau phẫu thuật
Nên chườm lạnh trong vòng 24 đến 48
giờ đầu tiên sau phẫu thuât (chăm sóc sau
phẫu thuật vùng kín tiêu chuẩn). Chăm sóc
vết thương bao gồm rửa vùng kín sau khi
đi tiểu và sau khi đại tiện. Bệnh nhân được
khuyến khích tắm vòi hoa sen, nhưng họ
không nên tắm bồn, trừ bồn tắm sitz (nước
lạnh thì tốt hơn ấm); và bệnh nhân không
nên sử dụng hồ bơi công cộng, bồn tắm
nước nóng và phòng tắm hơi trong 4 tuần.
Khuyến cáo hạn chế hoạt động thể chất và
không tập thể dục trong 4 tuần. Bệnh nhân
được hướng dẫn không sử dụng băng vệ
sinh. Nếu phải dùng thì nên thoa nhẹ thuốc
mỡ lên băng vệ sinh hoặc sử dụng băng
Telfa không dính.
Một trong những hướng dẫn quan trọng
nhất là không kiểm tra vết mổ (có thể gây
rách vết mổ). Việc này sẽ được thực hiện
ở lần khám hậu phẫu đầu tiên, 4 tuần sau
phẫu thuật.
Đôi khi, một bệnh nhân sẽ được kiểm tra
bởi Bs có chuyên môn một cách chi tiết (để
có giấy chứng nhận). Trong trường hợp này,
chỉ khâu có thể được gỡ bỏ sau 3 đến 4
tuần. Tuy nhiên, chỉ khâu thường được hấp
thu hoàn toàn trong 6 đến 8 tuần.

Đánh giá kết quả sau phẫu
thuật
Kết quả thường dựa trên mong muốn
của bệnh nhân, thường là chảy máu khi
quan hệ. Trong khi các bác sĩ có thể đánh
giá sự thành công của thủ thuật bằng cách
khôi phục nguyên vẹn màng trinh, điều
này ít ý nghĩa đối với những bệnh nhân,
vì cơ bản họ chỉ muốn có cảm giác đau,
thắt chặt và có máu ra khi quan hệ. Tôi tìm
kiếm sự hài lòng của bệnh nhân trong tin
nhắn văn bản di động sau phẫu thuật mà
một bệnh nhân đã gửi cho tôi vào ngày sau
khi kết hôn. (Chưa sửa lỗi chính tả và dấu
câu.) “Everthin is ok if u know what I mean
[đã xảy ra chảy máu] dnt text back ttyl [nói
chuyện với bạn sau] I’m with my hubby tell
everyone thanks”. Người phụ nữ nà cho biết
cô ấy sẽ bị ly hôn ngay lập tức và lo ngại về
tổn hại cơ thể nếu cô ấy không bị chảy máu
ở lần quan hệ đầu tiên.

184
Chương 12
Tạo hình màng trinh
Kết quả
Kết quả của những sửa chữa này rất khó
đánh giá vì thiếu theo dõi sau thủ thuật; do
đó tỷ lệ “thành công” khác nhau. Trong một
báo cáo về 20 bệnh nhân được phẫu thuật
khâu đính các mảnh màng trinh, trong đó
10 bệnh nhân được theo dõi, Longmans
và cộng sự cho biết cả 10 đều có kết quả
tốt. Ou và cộng sự đã thực hiện Kỹ thuật
Longman trên 2 bệnh nhân và báo cáo
rằng cần phải thực hiện lại quy trình ở cả
hai (100% thất bại) nhưng trích dẫn rằng tất
cả 6 bệnh nhân đã được thực hiện kỹ thuật
khâu vòng đều báo cáo “không hối tiếc”.
Van Moorst và cộng sự cho thấy trong số
24 bệnh nhân, 19 bệnh nhân quay lại tái
khám, chỉ 2 (11%) bị chảy máu khi quan hệ,
và 17 (89%) thì không. Tuy nhiên, mặc dù số
bệnh nhân không bị chảy máu, 13 trong số
19 (68%) nói rằng họ sẽ làm lại thủ thuật, và
tất cả 19 bệnh nhân được phẫu thuật cho
biết họ không hối tiếc về việc làm thủ thuật.
Theo kinh nghiệm của tôi, ở sáu trong
số bảy bệnh nhân (trải qua quy trình được
mô tả) được khám, việc sửa chữa được coi
là thành công. Thành công được xác định
là hai hoặc ba vết đính còn nguyên tại lần
thăm khám sau phẫu thuật kéo dài 1 tháng
hoặc chảy máu trong quá trình giao hợp.
Một trong bảy bệnh nhân được khám 4
tuần sau khi phẫu thuật; một trong ba vết
đính đã lành. Bệnh nhân này được điều trị
bằng chỉ khâu catgut 5-0 5 ngày trước khi
kết hôn để đảm bảo có chảy máu; và bệnh
nhân xác nhận đã có chảy máu khi quan
hệ.

Biến chứng
Rất ít bài viết về biến chứng tạo hình
màng trinh ngoài các kết quả đã thảo luận
trước đó và các tác động xã hội, tôn giáo,
văn hóa và đạo đức đã được xem xét. Hầu
hết các tác giả báo cáo rằng tỷ lệ các biến
chứng thấp; tuy nhiên, một số mô tả rằng
có nguy cơ “biến dạng, sửa chữa quá mức
với chứng giao hợp đâu thứ phát hoặc làm
cho dương vật khó đưa vào âm đạo, tách
vết mổ, các biến dạng của âm đạo sau
phẫu thuật; sự lừa dối đối với người chồng,
và sự tồn tại của bất công xã hội đối với phụ
nữ ”; không chảy máu; và các biến chứng y
khoa nghiêm trọng. Chúng tôi biết rằng nếu
phẫu thuật chỉ giới hạn ở màng trinh, các
vết thương ở màng trinh có xu hướng lành
nhanh chóng và không để lại bằng chứng
về chấn thương trước đó.
Tạo hình màng trinh là một thủ thuật
thú vị trong đó biến chứng phổ biến nhất là
tình trạng tách vết mổ, về cơ bản là trạng
thái tự nhiên của màng trinh khi bị tổn
thương. Trong một loạt ca lâm sàng được
thảo luận bởi Longmans và cộng sự, Ou và
cộng sự, và van Moorst và cộng sự, trường
hợp không chảy máu và phẫu thuật chỉnh
sửa lại là những biến chứng duy nhất được
báo cáo. Họ không báo cáo về hậu quả liên
quan đến văn hóa của những người không
bị chảy máu, nhưng theo dõi của nghiên
cứu van Moorst (có lẽ là ít sai lệch nhất)
cho thấy 19 trong số 24 phụ nữ trải qua thủ
thuật đều không hối tiếc về những gì mình
đã làm.

e-bacsy.com
Chương 13
Thủ thuật bổ sung
Clara Santos, Red Alinsod

186
Chương 13
Thủ thuật bổ sung
KỸ THUẬT GIẢM SẮC TỐ DA
Clara Santos
Những điểm chính
• Tăng sắc tố da vùng âm hộ là do tăng
nồng độ melanin, có thể là hậu quả của
một số vấn đề y khoa, thuốc và kích
thích vật lý. Nó có thể ảnh hưởng tới sự
tự tin và sức khỏe tình dục.
• Các phương pháp điều trị bao gồm sử
dụng acid làm giảm sắc tố da và mềm
da, lột để tái tạo bề mặt da, và sử dụng
laser CO2 phân doạn.
Thẩm mỹ là tập hợp các nguyên tắc
chi phối các ý tưởng về cái đẹp và gu nghệ
thuật. Nó giúp nâng cao nhận thức và quan
niệm về cái đẹp và những cảm xúc mà cái
đẹp khơi gợi.
Ngày nay, mọi người có xu hướng tìm
đến sự hoàn thiện về thể chất, hình dáng
hơn là chỉ cải thiện những bất thường chức
năng. Khi phụ nữ trở nên cởi mở hơn với ý
tưởng về các thủ tục tự chọn được thiết kế
để cải thiện vẻ ngoài và sự tự tin của họ, sẽ
không có gì ngạc nhiên khi họ có thể muốn
thay đổi, “trẻ hóa” hoặc tái tạo lại những
vùng kín trên cơ thể mình.

Nguyên nhân dẫn tới tình
trạng tăng sắc tố
Sắc tố được hình thành do sự kết hợp
của các sắc tố carotene, hemoglobin và
melanin. Nguyên nhân chính gây ra chứng
tăng sắc tố âm hộ là do quá trình tăng sản
sắc tố melanin. Mọi người đều có số lượng
tế bào sản xuất melanin (tế bào hắc tố) như
nhau, không phân biệt dân tộc; tuy nhiên,
lượng melanin được tạo ra và cách thức
phân bố sẽ khác nhau ở mỗi người.
Chứng tăng sắc tố lành tính của âm hộ
có thể xảy ra ở những bệnh nhân mắc các
bệnh lý về da như nốt ruồi son, tăng sắc
tố, tăng sắc tố sau viêm, dày sừng tiết bã,
chứng gai đen, mụn cóc, lichen phẳng, SLE,
và vảy nến.
Các vấn đề toàn thân như bệnh Cushing
và bệnh Addison có thể góp phần làm tăng
sắc tố âm hộ.
Tổn thương sắc tố ác tính bao gồm một
số trường hợp ung thư biểu mô âm hộ và
u ác tính. Sinh thiết luôn được khuyến cáo
khi không thể chẩn đoán chắc chắn sau khi
khám lâm sàng và soi da.
Ít phổ biến hơn, các loại thuốc như pso-
ralens, bergamot, asen và cytostatics có
thể gây tăng sắc tố. Các bệnh lý nội tiết như
kwashiorkor và dư thừa hormone kích thích
tuyến thượng thận, cũng như các trạng thái
sinh lý nội tiết như mang thai, có thể kích
thích vùng kín tăng sắc tố. Trong những
tình trạng này, phản ứng của da của bệnh
nhân chủ yếu liên quan đến các sắc tố từ
hemoglobin và carotenes.
Hầu hết các nguyên nhân phổ biến dẫn
tới tăng sắc tố âm hộ đều liên quan tới lực
cơ học: điều trị tẩy lông và mặc áo lót dây
G và quần áo bó sát hoặc đồ bơi, dẫn đến
việc cọ xát quá nhiều vào da, gây kích ứng
và thâm đen vùng âm hộ-bẹn và quanh hậu
môn. Vùng da đen sạm này có thể khiến
bệnh nhân xấu hổ và ảnh hưởng đến sự tự
tin của họ.

187
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Thẩm mỹ lý tưởng vùng âm
hộ
Tổn thương sắc tố của niêm mạc sinh
dục thường gặp ở phụ nữ nhiều hơn nam
giới. Một số phụ nữ có thể tìm đến các
phương pháp điều trị âm hộ hoặc âm đạo
để cải thiện thẩm mỹ đơn thuần hoặc cải
thiện chức năng. Một trong những lý do
phổ biến nhất là chứng tăng sắc tố âm
hộ. Ngay cả khi không quan tâm đến chức
năng, chứng tăng sắc tố âm hộ khiến nhiều
phụ nữ kém tự tin, có thể dẫn đến suy giảm
khả năng tình dục.

Tác nhân hóa học điều trị
tăng sắc tố da
Acid lactic
Axit lactic thuộc nhóm axit alpha-
hydroxy và là một loại axit yếu thường được
sử dụng trong nhiều sản phẩm chăm sóc
da. Nó xuất hiện trong tự nhiên và có trong
sữa chua hoặc sữa lên men. Axit lactic cải
thiện độ ẩm, màu sắc và chất lượng da. Tác
nhân hóa học này có đặc tính dưỡng ẩm,
tẩy tế bào chết và làm sáng da. Là một chất
giữ ẩm, axit lactic cải thiện mức độ hydrat
hóa của da bằng cách tạo ra một hàng rào
để giữ độ ẩm bên trong tế bào da. Đặc tính
của axit lactic giúp nhẹ nhàng loại bỏ các
tế bào da chết. Sau khi tẩy da chết, lớp da
mới trẻ hơn, trông mềm mại và mịn màng
hơn. Để làm sáng da, nên sử dụng nồng độ
axit lactic thấp cho nhiều chu kỳ tế bào da
(chu kỳ thay da).
Acid azelaic
Axit azelaic được tạo ra bởi Malassezia
furfur, là một loại nấm men sống trên da
bình thường. Đặc tính hóa học chính của
nó là kháng khuẩn và tiêu sừng, đồng thời
nó cũng loại bỏ các gốc tự do. Ban đầu,
axit azelaic được sử dụng để điều trị bệnh
trứng cá đỏ và mụn trứng cá cấp I và II. Đối
với chứng tăng sắc tố, axit azelaic được sử
dụng để làm sáng da và như một chất ức
chế tyrosinase để giảm tổng hợp melanin.
Nó cũng có đặc tính chống oxy hóa và diệt
khuẩn.
Acid Mandelic
Axit Mandelic được chiết xuất từ quả
hạnh đắng. Nó có đặc tính tẩy da chết và
nhẹ nhàng bám vào da để làm bong tróc
các tế bào da chết. Giống như axit glycolic
và axit lactic, axit mandelic là một axit al-
pha-hydroxy. Kích thước phân tử của nó lớn
hơn (so với axit glycolic và axit lactic) giúp
ít thâm nhập vào da hơn và do đó ít kích
ứng hơn. Nó cũng có đặc tính diệt khuẩn
và giữ ẩm.

Kỹ thuật làm sáng da
Peel da hóa học
Lột da hóa học là một kỹ thuật cũ nhưng
vẫn rất tuyệt vời để tái tạo bề mặt da. Sau
khi lột da, bề mặt da mới sáng và mịn hơn.
Việc điều trị peel da hóa học đối với da bộ
phận sinh dục ngoài khó hơn vì độ nhạy cảm
của mô ở khu vực này khá cao. Một thách
thức khác là xác định mức độ của khu vực
cần điều trị, vì sắc tố dư thừa có thể vượt
ra ngoài da âm hộ và ảnh hưởng đến vùng
bẹn trong. Do các nếp gấp tự nhiên của da
vùng bẹn cọ xát khi vận động và với quần
áo nên da vùng này có thể dễ bị tổn thương
và tăng sắc tố. Tuy nhiên, một số công thức
và chất peel da hóa học đã được sử dụng
trong những lĩnh vực này với kết quả tốt,
bao gồm các công thức kết hợp axit phytic,
retinoic và azelaic ở nồng độ thấp.
G-Peel
G-Peel là một hợp chất chủ yếu được sử

188
Chương 13
Thủ thuật bổ sung
dụng để làm sáng bộ phận sinh dục. Hợp
chất này hoạt động bằng cách làm giảm
sắc tố mà không tạo ra tổn thương da.
Điều trị G-Peel được chia thành tám
phiên. Bệnh nhân nên tiến hành trichotomy
một ngày trước mỗi lần khám. Ngay trước
khi lột da, khu vực điều trị phải được làm
sạch bằng xà phòng có độ pH trung tính,
sau đó bảo vệ niêm mạc bằng gạc. Dung
dịch được chà lên các vùng tăng sắc tố của
âm hộ và môi âm hộ bằng bàn chải dùng
một lần, và giữ nguyên trong 15 đến 20
phút. Sau đó rửa vùng điều trị bằng nước.
Da thường sẽ khá dịu và bệnh nhân không
thấy khó chịu. Nếu bệnh nhân cho biết có
bất kỳ kích ứng nào trong quá trình phẫu
thuật, nên loại bỏ dung dịch peel ngay lập
tức. Đối với những bệnh nhân không có bất
thường gì, việc peel da được lặp lại sau mỗi
15 ngày trong vòng 2 tháng cho đến khi đạt
được kết quả mong muốn.
Chăm sóc tại nhà sau liệu trình này kéo
dài trong 2 tháng và khá dễ thực hiện. Để
làm sạch, người bệnh nên sử dụng các sản
phẩm xà phòng dịu nhẹ có chứa lactobacil-
li, có tác dụng phục hồi độ pH tự nhiên của
âm đạo. Các thành phần hoạt tính lý tưởng
cho các sản phẩm này bao gồm hoa cúc, lô
hội và calendula. Bệnh nhân nên tránh các
loại xà phòng có chứa axit và xà phòng tẩy
rửa. Người bệnh nên bôi kem duy trì ngày 2
lần; kem này có chứa nồng độ thấp của các
chất làm sáng như vitamin C, axit phytic và
axit kojic là thành phần chính của nó.
Laser CO2 phân đoạn
Laser phân đoạn đã được sử dụng cho
nhiều thủ thuật da liễu, phụ khoa và thẩm
mỹ (xem CHƯƠNG 17). Laser CO2 phân
đoạn chỉ điều trị một cột da cụ thể và do
đó không tác động gì tới vùng da bên cạnh.
Loại tia laser này có thể được sử dụng để
điều trị tăng sắc tố âm hộ ở một số bệnh
nhân được chọn có loại da Fitzpatrick từ I
đến III, vì da sẫm màu hơn dễ bị tăng sắc
tố trở lại.

Chú ý về tính an toàn
Đối với da ở bộ phận sinh dục, việc sử
dụng các chất lột và laser cần phải được
chăm sóc để tránh làm bỏng da và tăng
hoặc giảm sắc tố sau viêm.
Nên ngừng điều trị nếu bệnh nhân phát
triển bất kỳ dấu hiệu nào sau đây:
• Đỏ da
• Bóc vẩy
• Ngứa
• Rát
Phiên điều trị tiếp theo nên được hoãn
lại cho đến khi da bình thường trở lại nếu có
hiện tượng nhạy cảm như vậy.

Kết quả
Các ví dụ về kỹ thuật bổ trợ được hiển
thị trong Hình. 13-1 và 13-2.

Kết luận
Khi có tăng sắc tố âm hộ, phải loại trừ
các tổn thương và một số tình trạng bệnh lý
nhất định, thông qua chẩn đoán lâm sàng,
soi da hoặc sinh thiết. Bước tiếp theo sẽ
là tẩy vùng da âm hộ để điều trị tình trạng
tăng sắc tố. Chăm sóc thích hợp, peels và
laser đã cho thấy kết quả có lợi, điều này đã
khuyến khích nhiều bệnh nhân tìm đến các
loại phương pháp điều trị này. Khi các kỹ
thuật này trở nên phổ biến hơn, nhiều bệnh
nhân sẽ được hưởng lợi từ chúng như một
cách để nâng cao sự tự tin.

189
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 13-1 A, Bệnh nhân 32 tuổi, với hinh ảnh trước điều trị. Cô ấy bị tăng sắc tố và thiếu
thể tích môi lớn. B, Sau khi điều trị. Chất làm đầy axit hyaluronic được tiêm vào môi âm hộ
của cô ấy (5 cc mỗi bên) và điều trị tình trạng tăng sắc tố bằng G-Peel.
Hình. 13-2 A, Bệnh nhân 58 tuổi, với hình ảnh trước điều trị. Cô bị chứng tăng sắc tố và giảm
thể tích sau mãn kinh ở môi lớn. B, Sau khi điều trị. Chất làm đầy axit hyaluronic được tiêm
vào môi lớn (4 cc mỗi bên) và điều trị tẩy trắng bằng G-Peel được thực hiện trên các vùng
da tăng sắc tố.

190
Chương 13
Thủ thuật bổ sung
ĐIỀU TRỊ TĂNG SẮC TỐ BẰNG ĐIỆN DI
QUA DA
Red Alinsod
Những điểm chính
• Điện di qua da làm giảm thoáng qua
“trở kháng” của da và giúp mở các kênh
dẫn nước, cho phép các đại phân tử
được vận chuyển qua da.
• Sự “xâm nhập” của acid ascorbic qua
da rất hạn chế.
• Các đại phân tử như BV-OSC (tetrahex-
yldecyl ascorbate) hoạt động như chất
chống oxy hóa sinh học và chất làm
trắng, có thể được sử dụng để điều trị
tăng sắc tố.
• Sử dụng điện di qua da có thể dễ dàng
điều trị các tình trạng dẫn tới tăng sắc
tố âm hộ, nhưng hiệu quả phải được
duy trì bằng các phương pháp trị liệu
định kỳ.
• Các đại phân tử khác (chẳng hạn như
collagen và acid hyaluronic) có thể
được sử dụng với điện di qua da để đạt
được vẻ trẻ trung như mong muốn.

Điện di: Công nghệ sử dụng
trong liệu pháp gen
Điện di là một phương pháp điều trị
được sử dụng để đưa thuốc “cứu mạng” và
các gen có lợi trực tiếp vào tế bào của con
người. Ba thập kỷ trước, các nhà nghiên
cứu đã phát hiện ra rằng việc áp dụng điện
trường trong một thời gian ngắn lên tế bào
sống làm tăng tính thấm nhất thời ở màng
ngoài của tế bào. Sự thẩm thấu này được
biểu hiện bằng sự xuất hiện của các lỗ trên
màng.
Sau khi ngừng sử dụng, các lỗ chân lông
sẽ đóng lại trong vòng 30 phút mà không
gây tổn hại đáng kể đến các tế bào tiếp xúc
và các phân tử điều trị bị mắc kẹt bên trong
các tế bào đích. Hiện tượng này được gọi là
điện di, hình thành từ các cấu từ điện và lỗ.
Điện di hiện nay phổ biến trong liệu pháp
điều trị ung thư và như một phương pháp
phân phối DNA trong liệu pháp gen và “tiêm
chủng” DNA.
Các xung điện áp cao, ngắn có thể có
tác động đáng kể nhưng có thể đảo ngược
trên các đặc tính điện của da. Trong một
xung nhịp, “điện trở” của da giảm nhiều
nhất là ba bậc trong vòng micro giây. Sự
thay đổi sức trở kháng của da có thể hoàn
toàn hoặc một phần, và có thể hồi phục
trong vòng vài phút hoặc lâu hơn. Ở điện
áp tương đối thấp (dưới 30 V), sự suy giảm
điện trở của da này có thể là do sự kết hợp
điện của các phần phụ (ví dụ, tuyến mồ hôi
và nang lông). Hiệu ứng này cho phép đạt
được các mục tiêu thẩm mỹ cụ thể và cụ
thể, chẳng hạn như làm sáng da vùng âm
hộ và hậu môn.
Đối với quá trình điện di qua da, mục
tiêu là đạt được sự phân bố đồng nhất hóa
chất tại trường hiệu dụng. Đối với việc cung
cấp tại chỗ các hoạt chất qua da, có thể
phủ điện trường tới lớp bề mặt da nông để
các dây thần kinh và cơ bên dưới không bị
kích thích điện mạnh. Sau khi “phá vỡ” lớp
sừng bằng điện đi, độ sâu của điện trường
được quyết định bởi khoảng cách điện cực.
Khoảng cách hẹp giữa các điện cực sẽ giới
hạn điện trường trong một vùng bề mặt và
do đó là “cấu hình” được ưu tiên có thể cho
phép các hiệu ứng làm sáng có mục tiêu

191
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
đến một vùng cụ thể như vùng âm hộ.
Đối với các mục đích thẩm mỹ, hiệu
quả và cảm giác là những tiêu chí rất quan
trọng. Kết quả của các nghiên cứu cho thấy
ít nhất bốn yếu tố ảnh hưởng đến những
cân nhắc quan trọng này: công thức và giá
trị pH tương ứng, thiết kế điện cực, thông
số điện học và vị trí da. Đối với ngành thẩm
mỹ, công thức phải ưu tiên tính ổn định và
có độ pH trung tính. Tính ổn định của công
thức xác định khoảng thời gian mà chất
nền (ví dụ: collagen) sẽ hoạt động trên da.

Điện di qua da: Phương pháp
đưa hóa chất qua da không
dùng kim
Điện di qua da - như tên gọi của nó - đề
cập đến tác động trên da của quá trình điện
di, được tối ưu hóa để cung cấp các chất
ion hóa vào lớp trung bì và hạ bì. Điện di
qua da là công nghệ được cấp bằng sáng
chế được phát triển ở Florence, Ý, nhiều
năm trước bởi Mattioli Engineering và được
nghiên cứu và thử nghiệm lâm sàng tại Đại
học Siena. Dòng điện trung bình bằng 0
cho phép sử dụng tất cả các loại dung dịch
chứa ion (không chỉ những loại được phê
duyệt cho điện di ion) bởi vì không xảy ra
phản ứng điện phân ở các điện cực. Các thử
nghiệm lâm sàng đã chứng minh khả năng
đạt được, ngay từ lần đầu tiên, việc diện
di qua da của các đại phân tử (1.000.000
Dalton trở lên) như collagen, hyaluronates,
elastin, vitamin C, axit kojic và hydroqui-
none; điều này cho thấy các ứng dụng tiềm
năng của các loại chất mới không thể cung
cấp bằng phương pháp điện di cổ điển –
phương pháp vốn bị giới hạn với các phân
tử trọng lượng thấp.

Nghiên cứu về điện di
Since Bacchi tại Đại học Siena, Ý, báo
cáo về các thử nghiệm lâm sàng ban đầu
bằng cách sử dụng điện di qua da, hơn
4000 báo cáo khoa học đã được công bố
đã được trình bày, thảo luận về kết quả và
khả năng của phương pháp.
Các thuốc và đại phân tử có hoạt tính
sinh học như peptide, protein, oligo-nucle-
otide và glycosaminoglycans được đặc
trưng bởi thời gian bán hủy sinh học ngắn
và sinh khả dụng kém. Những đặc điểm này
làm cho chúng khó được sử dụng cho các
chiến lược điều trị khác ngoài việc tiêm trực
tiếp, thường chỉ có thể thực hiện được trong
bệnh viện. Tuy nhiên, trong một nghiên
cứu ca lâm sàng, các tác giả đã sử dụng
kỹ thuật điện di qua da, gọi là Transderm®
Ionto System® (Mattioli Engineering) hoặc
thiết bị Collagenizer® (Vitality Concept)
(xem Hình 13-3). Hơn nữa, sự phân phối
qua da của các phân tử có hoạt tính sinh
học trong cơ thể đã được phân tích. Lợi thế
của việc sử dụng xung điện có kiểm soát
so với áp dòng điện trực tiếp đã cho thấy
sự suy giảm đáng kể của các phân tử được
phân phối qua da.
Ba phần đã được điều tra:
• Phần 1. Phân tích hiển vi mô da sau khi
đặt điện trường
• Phần 2. Phân tích định tính sự phân
phối qua da của đại phân tử protein
(collagen Loại 1)
• Phần 3. Phân tích định lượng quá trình
phân phối lidocain qua da
Nghiên cứu cho thấy rằng điện di có
thể được sử dụng để phân phối qua da các
phân tử có hoạt tính sinh học, trong trường
hợp này là đại phân tử protein lớn (collagen
1) và phân tử gây tê tại chỗ (lidocain).
Phương pháp này phù hợp cho những
bệnh nhân bị mụn trứng cá hoặc giai đoạn
đầu của quá trình lão hóa da mà không có
trường mô, và để duy trì kết quả phẫu thuật
thẩm mỹ ở các vùng trên khuôn mặt và cơ
thể. Quy trình này bao gồm đầu tiên là “mài”
da bề mặt được thực hiện bằng các tinh
thể corundum để loại bỏ lớp sừng và kích

192
Chương 13
Thủ thuật bổ sung
thích tân sinh mạch. Ngay sau đó, các chất
có hoạt tính cao được đưa vào sử dụng
phương pháp điện di - một phương pháp
phân phối chùm, bao gồm phân phối xung
điện có kiểm soát, hình thành “cổng gian
bào” trong các tế bào trung bì, do đó cho
phép các phân tử thẩm thấu qua da. Một
tác động rung sẽ hoàn thành quá trình điện
di bằng cách kích thích các tiểu thể Merkel
để tái cấu trúc mô liên kết tốt hơn.

Điều trị bằng điện di
Vào đầu những năm 1970, một nhóm
bác sĩ da liễu người Mỹ đã phát hiện ra sự
thay đổi trong quá trình phân cực của màng
tế bào có thể được sử dụng để thúc đẩy
một loại “xung” tế bào bằng cách áp dụng
một xung điện mạnh trong một thời gian
ngắn với cường độ sóng thích hợp. Sau cú
shock ban đầu, màng tế bào dần được tái
cực, các kênh gian bào mở ra, qua đó các
chất có thể đi qua. Phương pháp này được
đặt tên là “điều trị bằng điện di” và được sử
dụng, với các kỹ thuật đặc biệt, trong điều
trị u ác tính qua da.
Để đạt được hiệu ứng điện di, một điện
áp xuyên màng (0,5 đến 1,5 V) được tạo ra
thông qua một chuỗi phân phối xung điện
có kiểm soát. Các xung này làm cho các
thành phần lipid trong màng tế bào hình
thành các kênh dẫn nước và mở các lỗ
chân lông trên da. Những thay đổi này làm
cho màng có khả năng thẩm thấu tốt hơn
đối với nhiều loại phân tử ưa nước mà mặt
khác không thể xâm nhập vào da. Khi các
kênh này được hình thành, chúng vẫn mở
trong một thời gian tương đối dài, khoảng
vài giây. Điện di tuân theo các quy tắc tương
tự. Tuy nhiên, nó không làm tổn thương tế
bào hoặc làm thay đổi màng. Ngược lại với
quá trình điện di thông thường, điện di qua
da cung cấp các xung điện điện áp thấp hơn
có dạng sóng phù hợp, do đó ngăn chặn
hiệu ứng điện phân trong khi cho phép các
kênh nội bào mở ra và hoạt chất thâm nhập
vào da.
Thiết bị điện di qua da sử dụng mạch
khép kín phân phối xung cho phép các
phân tử vĩ mô (ví dụ: collagen, axit hyal-
uronic, elastin, vitamin C, axit kojic và lido-
cain) được phân phối qua da vào lớp trung
bì. Công nghệ mới này cung cấp các chùm
xung với phân cực ngược, ngăn chặn hiệu
ứng điện phân ở các điện cực trong khi vẫn
giữ được hoàn toàn việc phân phối hóa chất
qua da bằng cách sử dụng điện áp công
suất thấp và dòng điện thấp. Bệnh nhân
không có cảm giác khó chịu, và không có
tác dụng phụ nào xảy ra.
Cùng với việc cung cấp một chuỗi xung
cụ thể, một dao động cơ học từ 50 đến 100
Hz được áp dụng, gây ra một hiệu ứng rung
với xung hình sin nhẹ nhàng và kích thích
các tiểu thể Merkel. Rung động hỗ trợ điều
trị theo hai cách:
• 1. Tác dụng gây mê: Tần số xung điện
bằng hoặc gấp đôi tần số rung. Điều
này gây ra tác dụng giảm đau vì rung
động vượt qua cảm giác xung điện trên
da.
• 2. Rung động cải thiện lưu thông máu
và bạch huyết; cùng với massage, điều
này thúc đẩy sự thâm nhập của hoạt
chất vào lớp trung bì.
Năm 2003, giải Nobel Hóa học đã được
trao chung cho Tiến sĩ. Peter Agre và
Roderick MacKinnon. Các nghiên cứu của
họ về cấu trúc và hoạt động của các kênh
ion đã đưa ra những bằng chứng đầu tiên
cho việc có thể sử dụng một trong những
đặc điểm hấp dẫn nhất của lớp da con
người: “hydroelectrophores”. Đây là những
kênh nằm giữa các tế bào mở ra do kết quả
của các tác động vật lý, rung động, cơ học,
hóa học và thần kinh một cách tự phát và
theo cách cho phép “thế giới bên ngoài” giao
tiếp với “thế giới bên trong”của các tế bào.
Các kênh phụ thuộc nước này có thể mở
khoảng
1.000.000.000.000.000.000.000
lần mỗi ngày.

hacklink satın al mumu模拟器 雷电模拟器 向日葵 giftcardmall/mygift giftcardmall balance mygift giftcardmall matbet matbet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Betgaranti Betgaranti Güncel Adres Betgaranti Fixbet Fixbet Güncel Giriş Fixbet Fim İzle Fim İzle Giriş Fim İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Fim İzle Fim İzle Güncel Adres Fim İzle jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Casibom Giriş Casibom Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Turk İfsa Turk İfsa Güncel Giriş Turk İfsa Porno İzle Porno İzle Güncel Adres Porno İzle Jojobet Jojobet Giriş Jojobet Canlı Maç Canlı Maç İzle Canlı Maç Deneme Bonusu Film İzle Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Türkçe Dublaj Film İzle Film İzle Deneme Bonusu Deneme Bonusu Giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi perabet perabet giriş holiganbet holiganbet giriş Casibom Lesfillmercom Casibom Lesfillmercom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Gerbergirlcom Casibom Gerbergirlcom Güncel Giriş Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Tevfikmuratyildirimcom Casibom Spcelectriccontrolcom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş marsbahis marsbahis giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş jojobet jojobet giriş Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Giriş Casibom Casibom Güncel Giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş matbet matbet giriş matbet güncel giriş vaycasino vaycasino güncel giriş vaycasino giriş matbet matbet giriş pusulabet pusulabet giriş pusulabet pusulabet güncel giriş pusulabet giriş matbet matbet güncel giriş matbet giriş Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Güncel Giriş Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom Casibom Resmi Adres pusulabet pusulabet giriş pusulabet güncel giriş Fixbet Fixbet Güncel Giriş Salvobet Salvobet Giriş Salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Turk Porno Turk Porno Giriş Turk Porno casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Giriş Adresi Casibom salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet casibom casibom casibom casibom Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Adresi casibom casibom jojobet izmir escort izmir buca escort buca escort jojobet casibom holiganbet holiganbet giriş jojobet holiganbet holiganbet giriş jojobet jojobet jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş izmir escort izmir buca escort buca escort izmir escort bayan salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet salvobet marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis marsbahis Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Veren Siteler Giriş Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Deneme Bonusu Veren Giriş Deneme Bonusu Veren salvobet salvobet salvobet salvobet Casibom betgaranti betgaranti betgaranti matbet matbet giriş matbet matbet giriş Casibom Casibom Salvobet jojobet Salvobet Salvobet Salvobet Casibom Casibom Casibom Güncel Adres Casibom Güncel Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis bahsegel Fixbet Fixbet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş 1xbet 1xbet Resmi Adres Casibom Casibom Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Casibom Casibom Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş vaycasino vaycasino giriş vaycasino güncel giriş jojobet jojobet giriş jojobet güncel giriş Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Listesi Grandpashabet Grandpashabet Giriş Grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Adres Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Güncel Giriş Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler grandpashabet grandpashabet grandpashabet Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Grandpashabet Grandpashabet Giriş Adresi Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler vaycasino vaycasino giriş jojobet grandpashabet casibom Casibom Casibom Giriş casibom www.giftcards.com Marsbahis grandpashabet jojobet jojobet jojobet grandpashabet casibom jojobet Casibom Casibom Casibom Casibom Casibom Grandpashabet Grandpashabet Giriş Marsbahis Marsbahis Marsbahis Marsbahis Grandpashabet Grandpashabet Resmi Adres grandpashabet grandpashabet giriş Casibom Fixbet Fixbet Giriş Casibom İzmir Escort İzmir eskort İzmir Escort Bayan Vip escort Deneme Bonusu Deneme Bonusu Veren Siteler Holiganbet Holiganbet Güncel Adres Nevşehir escort Kapadokya escort Nevşehir escort bayan nevşehir eskort escort nevşehir Casibom Casibom Giriş Adresi Kapadokya esc Casibom Casibom Resmi Adres Matbet Matbet Matbet Güncel Adres Pusulabet Pusulabet Giriş Adresi