43
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Trong trường hợp môi âm hộ mỏng, teo
đét với phần hạ niêm tối thiểu thì không
nằm trong chỉ định kỹ thuật Wesge vì các
đường khâu hạ niêm mạc sẽ có xu hướng
bị xé rách, dẫn đến tình trạng tách mép vết
mổ hoặc thủng lỗ (Hình 4-10).
Biến thể dạng phễu
Biến thể dạng phễu này bản chất là
do môi bé ‘mở rộng’ từ một nền môi hẹp,
dẫn tới hình thành dạng phễu (Hình 4-11).
Những biến thể này có thể áp dụng phẫu
thuật wedge bảo tồn hạ niêm mạc hoặc
cắt bờ tự do điều được. Nếu áp dụng kỹ
thuật wedge, nên chú ý phần môi phía sau.
Nếu cắt hình nêm quá rộng, có thể làm
ảnh hưởng tới kích thước lỗ âm đạo (hẹp
do co kéo sau phẫu thuật) và sẽ gây đau
khi quan hệ. Phần web cũng phải được giải
phóng, tương tự như khi thực hiện 1 đường
rạch nhỏ để mở rộng tầng sinh môn (cắt
khâu tầng sinh môn khi sinh đẻ). Vết rạch
này thường sẽ xuất hiện tình trạng đau sau
phẫu thuật vì vị trí giải phẫu đặc biệt của nó
ở đáy chậu. Do đó, Bs nên sử dụng một tấm
gương để quan sát và xác định rõ phần môi
âm hộ phía sau dư thừa trước phẫu thuật
và giải thích cho bệnh nhân về đường sẹo
có thể có đó sau phẫu thuật.
Hình. 4-11 A và B, Bệnh nhân nữ 46 tuổi với biến thể dạng phễu. C và D, Bệnh nhân sau
phẫu thuật wedge mở rộng và giải phóng .
44
Chương 4
Giảm môi âm hộ: Kỹ thuật Wedge
Hình. 4-12 Bệnh nhân nữ 50 tuổi với nếp môi kép/dôi.
Biến thể nếp môi kép/đôi
Nhiều bệnh nhân có nhiều nếp môi âm
hộ. Các nếp gấp này xuất phát từ vị trí giao
nhau của hãm âm vật và môi bé và mở
rộng lên phía trên tiến dần tới đường giữa
(Hình 4-12). Bệnh nhân có nếp gấp đôi một
bên có thể không để ý đến điều này và chỉ
khi tới khám vì các lý do khác, họ mới được
thông báo về tình trạng bất thường đó. Các
nếp gấp đôi thường được cắt dọc theo bờ
tự do để loại bỏ toàn bộ, việc làm này dẫn
tới hình thành sẹo ở rãnh gian môi. Vết sẹo
có xu hướng lành tốt và do đó được khuyến
khích phẫu thuật luôn trong lúc tạo hình để
ngăn ngừa sự bất đối xứng sau phẫu thuật.
Mũ âm vật rộng
Những bệnh nhân có môi bé dư thừa
cũng có thể có mũ âm vật rộng hoặc ‘thừa’
kèm theo. Kỹ thuật tạo hình bờ tự do nếu
được áp dụng ở những bệnh nhân này có
thể dẫn đến tình trạng lỏng lẻo của mũ âm
vật và xuất hiện một khối thừa trông như
‘dương vật’ (Hình. 4-13). Hunter thấy rằng
tình trạng ‘dư thừa’ mũ âm vật là lý do
chính dẫn tới chỉ định tạo hình môi âm hộ.
Kỹ thuật wedge nâng cao được mô tả bởi
Alter đã giúp giải quyết phần mũ âm vật
rộng bằng cách mở rộng phần cắt hình
nêm về phía mũ âm vật (Hình. 4-14). Do nối
hai đường rạch lại với nhau nên tổ chức môi
bé ‘vô tình’ giúp kéo phần mũ âm vật xuống,
tránh chúng ‘nhô’ ra ngoài quá nhiều, giúp
cải thiện hình thể giải phẫu của vùng kín.
45
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 4-13 Bệnh nhân nữ 41 tuổi sau phẫu thuật cắt bờ tự do quá mức, dẫn tới biến chứng
mũ âm vật nhô ra ngoài quá nhiều, trông giống hình ảnh ‘dương vật’ ở nam giới.
Hình. 4-14 Kỹ thuật wedge mở rộng về phía mũ âm vật của Alter.
46
Chương 4
Giảm môi âm hộ: Kỹ thuật Wedge
Hình. 4-15 Giải phẫu động mạch cấp máu
cho môi bé (chủ yếu bởi động mạch thẹn
trong).
Hình. 4-16 Đường rạch trong kỹ thuật tạo
hình bờ tự do môi âm hộ giúp bảo tồn mạch
máu chính.
Chống chỉ định
Các biến chứng thường gặp của kỹ thuật
wedge là tách vết mổ hoặc nứt mép môi bé.
Tỷ lệ tách vết mổ và thủng giữa (do bục chỉ)
cao hơn ở nhóm người hút thuốc lá so với
quần thể dân số còn lại, có thể do tình trạng
lưu thông tuần hoàn ở các vạt môi kém hơn
ở nhóm đối tượng này. Georgiou và cộng sự
đã thấy rằng môi bé được cấp máu bởi động
mạch thẹn trong và thẹn ngoài (Hình 4-15).
Nguồn cấp máu chính cho môi bé là nhánh
sau động mạch thẹn trong, đi dọc theo
chiều dài môi bé và tách thành các nhánh
tận vuông góc với nhánh chính. Một nhánh
nhỏ của hệ mạch thẹn ngoài cấp máu cho
mũ âm vật và phần trước của môi bé. Khi
thực hiện kỹ thuật wedge chú ý không nên
cắt vào bên trong quá sâu vì có nguy cơ
tổn thương mạch máu chính, dẫn tới thiếu
máu cho vùng bờ tự do vì lúc này vùng bờ
chỉ còn được cấp máu bởi nhánh nhỏ của
động mạch thẹn ngoài. Đối với những bệnh
nhân có hút thuốc hoặc bệnh lý liên quan
mạch máu, Bs phẫu thuật nên chỉ định kỹ
thuật cắt bờ từ do thay vì wedge. Theo các
tác giả, cắt bờ tự do môi âm hộ sẽ bảo tồn
được mạch máu chính cấp máu cho môi bé
(Hình. 4-16).
47
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Chiều dài trước sau của môi bé không
đủ lớn là một chống chỉ định khác của kỹ
thuật wedge. Vì việc chúng không đủ mức
dư thừa dẫn tới việc khi cắt và khâu nối, mũi
khâu sẽ phải chịu lực giằng rất lớn, điều này
làm tăng khả năng dẫn tới biến chứng bục
chỉ vết mổ. Ở những bệnh nhân có tăng sắc
tố dọc theo chiều dài của môi bé, việc cắt
theo kỹ thuật wedge sẽ gây nên tình trạng
mismatch (không đồng đều/phù hợp) sắc
tố ở đường nối. Tốt nhất ở những bệnh nhân
này nên áp dụng kỹ thuật tạo hình bờ tự do
để đạt hiệu quả thẩm mỹ cao hơn.
Đánh giá bệnh nhân
Khi đánh giá bệnh nhân trước phẫu thuật,
việc hiểu rõ mục đích và mong đợi của họ
là rất quan trọng. Cần có tiền sử ngắn gọn
về hoạt động tình dục và phụ khoa. Sau khi
bệnh nhân nêu ra mong muốn của mình, họ
sẽ được giải thích về các bất thường giải
phẫu của chính mình và Bs cũng sẽ đưa các
lựa chọn phẫu thuật, rủi ro và biến chứng
tiềm ẩn tương ứng. Các khu vực khác thuộc
hệ sinh dục cũng nên được kiểm tra đánh
giá. Nên có một người chứng kiến khi Bs
thăm khám bệnh nhân. Môi âm hộ sẽ được
đánh giá đầy đủ về độ dư thừa, tình trạng
không đối xứng và bất thường sắc tố. Sau
đó, nên kiểm tra kỹ môi lớn và mũ âm vật.
Bệnh nhân được đưa cho một chiếc
gương và Bs sẽ yêu cầu họ chỉ ra những
khu vực gây khó chịu trực tiếp trên CQSDN.
Bác sĩ phẫu thuật xác định vị trí đường mổ
và thông báo cho bệnh nhân. Điều quan
trọng cần giải thích cho bệnh nhân là tình
trạng bất đối xứng hai bên âm hộ của họ, và
tình trạng này vẫn có thể tồn tại sau phẫu
thuật. Các thủ tục kết hợp như giảm môi
lớn hoặc tạo hình mũ âm vật nên được thảo
luận tại thời điểm khám/tư vấn.
Lên kế hoạch và chuẩn bị
Tại buổi tư vấn trước phẫu thuật, bác sĩ
và bệnh nhân thảo luận về phương pháp
phẫu thuật dự kiến cũng như các rủi ro và
biến chứng tiềm ẩn. Nên tận dụng tối đa
các sơ đồ được soạn thảo sẵn trong hồ sơ
điện tử để giải thích cho bệnh nhân quy
trình và lựa chọn phẫu thuật.
Vì tính đặc thù của PTTM vùng kín, nên
các bức ảnh chỉ được chụp vào sáng ngày
phẫu thuật. Nếu chỉ định vô cảm là gây tê
tại chỗ, bệnh nhân sẽ được sử dụng một
loại kháng sinh cephalosporin đường uống
30 phút trước khi phẫu thuật. Hình ảnh
trước và sau phẫu thuật sẽ được chụp ở tư
thế đứng, hai chân hơi dạng (Hình. 4-17, A).
Điều này giúp đánh giá trực quan các thông
số như phần nhô ra ngoài của môi âm hộ,
kích thước và vị trí cùng với tình trạng bất
đối xứng của chúng. Khi bệnh nhân ở trong
phòng mổ, các hình ảnh trước phẫu thuật
sẽ được chụp thêm ở tư thế sản khoa(Hình
4-17, B).
Tạo hình môi âm hộ có thể được thực
hiện dưới gây mê hoặc gây tê tại chỗ. Bệnh
nhân dưới 25 tuổi và những người hay lo
lắng trong khi thăm khám và trước phẫu
thuật sẽ được tiêm tĩnh mạch an thần hoặc
gây mê thay vì gây tê tại chỗ.
48
Chương 4
Giảm môi âm hộ: Kỹ thuật Wedge
Hình. 4-17 Trước phẫu thuật A, tư thế đứng và B, tư thế sản khoa ở bệnh nhân nữ 28 tuổi
với tình trạng môi bé và mũ âm vật ‘dư thừa’.
Những bệnh nhân đã gây mê rồi thì
không cần gây tê tại chỗ và sẽ được tiêm
kháng sinh đường tĩnh mạch (cephalosporin
thế hệ thứ nhất) 30 phút trước khi làm thủ
thuật. Lidocaine với epinephrine, sẽ được
thảo luận ở phần sau, được tiêm để cầm
máu.
Tê tại chỗ đơn thuần hoặc kết hợp với
thuốc an thần đường uống như Percocet và
Valium có tác dụng tốt đối với hầu hết bệnh
nhân, đồng thời họ sẽ tránh được việc phải
gây mê. Thoa benzocain, lidocain hoặc tet-
racaine tại chỗ 20 phút trước khi làm thủ
thuật cho hiệu quả tốt hơn nhóm không
thoa. Bệnh nhân thường không cảm nhận
được thuốc đang được tiêm vào cơ thể nếu
chúng được tiêm rất chậm bằng kim 30G,
bắt đầu từ lớp niêm mạc môi bé. Niêm mạc
dễ bị căng phồng hơn khi dùng lidocain,
bệnh nhân sẽ đỡ đau hơn khi mổ. Tiêm
vào rãnh gian môi, giữa môi lớn và môi bé
mỗi bên, là bắt buộc khi thực hiện kỹ thuật
wedge mở rộng, nhưng sẽ gây khó lúc phẫu
thuật vì chúng làm niêm mạc vùng này dày
lên.
Mô tả kỹ thuật
Đánh dấu
Đánh dấu vùng phẫu thuật sau khi đã
chụp ảnh trước phẫu thuật ở tư thế sản
khoa. Đường rạch phải được đánh dấu
trước. Đánh dấu hình chữ V thì sẽ đánh
dấu cạnh phía trên trước, sau đó môi bé sẽ
được gấp và đánh dấu sao cho cạnh phía
dưới dài hơn cạnh trên (như hình 4-18).
Cạnh trên không được quá gần (dưới 0,5
cm) so với lỗ niệu đạo, vì sau khi lành vết
mổ, sẹo co kéo có thể làm ảnh hưởng đến
dòng nước tiểu (tung tóe mà không thành
tia như trước). Hai cạnh của chữ V phải xấp
xỉ nhau (cạnh dưới dài hơn 1 chút) với lực
căng nhỏ nhất khi khâu nối. Đánh dấu hai
bên có thể khác nhau tùy theo bất thường
ở mỗi bên. Nếu bệnh nhân có vùng môi bé
dư thừa gần ngay cạnh mép môi sau, thì sẽ
rạch giải phóng mép môi sau trước bằng
một đường rạch duy nhất dọc theo mặt
phẳng dọc giữa của cơ thể.
49
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Nói chung, việc tinh toán lượng tổ chức
cắt bỏ phải luôn hướng tới mục tiêu đường
khâu nối sẽ chịu lực nhỏ nhất. Bệnh nhân
được đánh dấu xong mới gây tê tại chỗ.
Nên nhớ là hình chữ V phải nằm ngay ở
phần ‘dư thừa’ nhiều nhất của môi bé và
đường cắt phải đảm bảo không phạm vào
các mạch lớn (Hình 4-18 và 4-19). Khi phần
Hình. 4-18 Đường cắt hình chữ V với cạnh
trên ngắn hơn cạnh dưới sẽ giúp phần còn
lại tưới máu tốt hơn.
chữ V nằm trên cùng môi âm hộ, phải đánh
giá cả tương quan giữa hãm âm vật, mũ âm
vật và môi bé để rạch sao cho phù hợp. Một
đường rạch phía trên điểm hợp lưu 3 vùng
giải phẫu này sẽ tạo ra một vạt hình chữ W
và phải cần nối với nhau trước khi nối với
cạnh sau chữ V.
Hình. 4-19 Đường rạch hình cái nêm ngay
dưới chỗ hợp lưu 3 vùng giải phẫu để tránh
việc phải đóng vạt chữ W.
Mũ âm vật
Hai bờ ở trên với 1
bờ ở dưới
Phần loại bỏ
Hãm âm vật
Môi bé
50
Chương 4
Giảm môi âm hộ: Kỹ thuật Wedge
Vô cảm
Sau khi đánh dấu xong, lidocain 1% với
epinephrine 1: 100.000 được tiêm dưới da
(sử dụng kim cỡ 30) dọc theo đường đánh
dấu và phía trên rãnh gian môi (để cầm
máu). Cần ít nhất 10 phút để thuốc mê và
epinephrine phát huy tác dụng. Nếu bệnh
nhân có chỉ định tê tại chỗ đơn thuần, một
loại thuốc gây tê tại chỗ (benzocain 20%,
lidocain 6%, tetracaine 4%) được bôi lên
vùng đó và cần 15 phút để phát huy tác
dụng. Bệnh nhân sẽ được uống hoặc tiêm
1 liều cephalosporine thế hệ 2 trước phẫu
thuật, tùy thuộc vào loại vô cảm được chỉ
định.
Tư thế bệnh nhân
Bệnh nhân được đưa vào phòng mổ và
nằm trong tư thế sản khoa với hai chân
được gác lên giá đỡ. Ảnh sẽ được chụp tại
thời điểm này (hình 4-20). Môi bé sẽ được
chụp ở hai tư thế là khi ‘dạng’ và ‘khép’ để
đánh giá tình trạng bất đối xứng hai bên,
xác định xem có nếp gấp đôi ở 1 hoặc cả
2 bên hay không., xác định xem môi bé
hai bên có hợp lại với nhau ở phía sau hay
không, và hình thể mũ âm vật như thế nào.
Những biến thể này có thể ảnh hưởng đến
toàn bộ chiến lược phẫu thuật, tuy nhiên
mục tiêu cuối cùng là làm sao cho môi bé
hai bên cân đối và về gần hình thể giải phẫu
nhất có thể.
Hình. 4-20 Bệnh nhân 28 tuổi với hình ảnh trước phẫu thuật ở tư thế sản khoa.
51
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Kỹ thuật
Bắt đầu rạch lớp niêm mạc bằng lưỡi
dao số 15 Peak PlasmaBlade (Medtronic),
hoặc dùng dao điện. Nhiệt độ thấp (40 °
đến 100 ° C) của plasma (plasma lạnh) so
với phương pháp đốt điện truyền thống đã
được chứng minh là làm giảm chấn thương
do nhiệt và thúc đẩy quá trình liền vết mổ.
Phần hạ niêm mạc sẽ được cắt bỏ ở phần
lớn bệnh nhân. Còn đối với trường hợp có
môi âm hộ rất mỏng, teo nhỏ, tốt nhất là
nên khử biểu mô và giữ lại phần hạ niêm
thay vì cắt bỏ toàn bộ. Có thể cầm máu
bằng dao điện, và/hoặc tiêm Marcaine
0,05% với epinephrine 1: 200.000.
Khi đã cầm máu xong, hai mép vết
mổ được khâu nối lại với nhau theo từng
lớp bằng chỉ tự tiêu monofilament như
Monocryl 4-0 với đầu kim SH thuôn nhọn.
Bắt đầu khâu vùi lớp hạ bì cạnh chữ V trên
và dưới với nhau, trung bình khoảng 5 mũi
khâu. Bờ tự do sẽ được tái tạo một cách
tỉ mỉ với đường khâu chần bông dọc bằng
5-0 Monocryl với đầu kim RU thuôn nhọn.
Đường khâu này giúp ngăn ngừa biến chứng
tách mép vết mổ. Nếu sau khâu nối có 1
vùng niêm mạc thừa ở trên đường khâu nối
hoặc lúc này quan sát thấy mũ âm vật còn
rộng, nên rạch một đường tam giác (hẹp)
ở phía trên ngoài môi bé rồi khâu nối, cố
gắng ‘giấu’ sẹo sau mổ vào vị trí hố gian
môi. Lớp niêm mạc cuối cùng được đóng
lại bằng chỉ khâu tiêu mối rời hoặc mối vắt
5-0 Vicryl Rapide hoặc 5-0 Monocryl.
Chăm sóc sau phẫu thuật
Vết mổ được làm sạch bằng dung dịch
nước muối sinh lý và bôi thuốc mỡ kháng
sinh tại chỗ. Áp một túi chườm và/hoặc
miếng chườm lạnh tầng sinh môn dùng
một lần (Medline Industries), sau đó mặc
một chiếc quần lót bằng lưới có màng vô
trùng, dùng một lần vào thì có thể yên tâm
vùng mổ được vô khuẩn. Marcaine có tác
dụng giảm đau trong 4h, sau đó bệnh nhân
có thể bị đau vùng mổ. Lúc này, họ được
hướng dẫn uống Vicodin mỗi 4 đến 6 giờ
nếu cần, trong 24 đến 48 giờ tiếp theo. Khi
xuất viện, bệnh nhân được kê dùng dung
dịch tưới rửa tầng sinh môn và được hướng
dẫn xịt nước ấm lên các vết mổ sau khi đi
tiểu. Đối với những bệnh nhân trên 35 tuổi,
một loại estrogen kết hợp (Premarin) được
kê và hướng dẫn bôi vào vùng phẫu thuật
ba lần mỗi tuần trong 6 tuần. Điều này thúc
đẩy quá trình lành vết mổ. Ngoài ra cũng
phải kê thuốc kháng sinh thế hệ 2 (Duricef),
uống hai lần mỗi ngày trong 5 ngày. Bệnh
nhân bị ngứa và tiết dịch được cho uống
thuốc kháng nấm như Diflucan.
Kết quả
Kỹ thuật Wedge mở rộng cùng với giải
phóng mép môi sau
Người phụ nữ 32 tuổi này có tình trạng
môi bé như hình dưới. Cô ấy đã rất xấu hổ và
thậm chí còn né tránh chuyện quan hệ. Cô
ấy cũng rụt rè trong những lần thăm khám.
Trong lần kiểm tra ở tư thế đứng, Bs khám
thấy rãnh giữa hai môi âm hộ rộng, môi bé
dư thừa khá nhiều. Ở tư thế sản khoa, thấy
rõ tình trạng thừa và dày môi bé, đặc biệt ở
bờ tự do. Hai bên môi bé hợp lại với nhau
tại mép môi sau và tình trạng tăng sắc tố
cũng thấy rõ ở bờ tự do môi bé (Hình. 4-21,
A và B).
Bệnh nhân đã được thực hiện phẫu thuật
wedge mở rộng đồng thời giải phóng mép
môi sau. Cuộc phẫu thuật thành công. Sau
phẫu thuật, ghi nhận tình trạng hai bên môi
âm hộ tách khá xa nhau vì môi bé đã được
cắt bỏ khá nhiều và mũ âm vật cũng đã hẹp
hơn trước. Có một chút mismatch sắc tố ở
vị trí khâu nối (Hình 4-21, B và C).
52
Chương 4
Giảm môi âm hộ: Kỹ thuật Wedge
Hình. 4-21 A và B, Bệnh nhân nữ 32 tuổi được thực hiện phẫu thuật wedge mở rộng + giải
phóng mép môi sau. C và D, kết quả sau phẫu thuật
Kỹ thuật Wedge mở rộng với tạo
hình mũ âm vật (cắt bỏ phần tổ
chức có hình chữ V ngược)
Người phụ nữ 55 tuổi này có tình trạng
môi âm hộ như hình dưới, chú ý thấy mũ
âm vật cũng dài hơn bình thường. Cô phàn
nàn rằng môi bé hay lộ ra bên ngoài đồ lót
của cô vì chúng thừa ra quá nhiều. Khám
tư thế đứng phát hiện thấy môi bé dài, khe
gian môi hẹp, còn mũ âm vật thì dài và hẹp.
Ở tư thế sản khoa, thấy môi bé có nền hẹp,
nhô ra phía trước nhiều kèm theo tình trạng
tăng sắc tố và dày lớp hạ niêm mạc. Mũ âm
vật hẹp nhưng dài, bao trùm toàn bộ âm
vật và có vẻ teo đét. Âm vật không to (Hình.
4-22, A và B).
Bệnh nhân được thực hiện phẫu thuật
wedge mở rộng với tạo hình mũ âm vật
(cắt hình chữ V ngược). Sau mổ, bệnh nhân
tiến triển tốt và hài lòng với kết quả. Bức
ảnh chụp sau phẫu thuật ở tư thế sản khoa
thấy mũ âm vật đã được thu gọn, đồng thời
đường mổ được giấu rất khéo ở vị trí giữa
âm hộ. Môi bé đã nhỏ hơn và mỏng hơn.
Trong ảnh chụp tư thế đứng, môi bé không
‘vượt’ ra ngoài môi lớn (Hình. 4-22, C và D).
53
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 4-22 A và B, Bệnh nhân nữ 55 tuổi được thực hiện phẫu thuật wedge mở rộng và tái
tạo mũ âm vật. C và D, Kết quả sau phẫu thuật.
54
Chương 4
Giảm môi âm hộ: Kỹ thuật Wedge
Biến chứng
Các biến chứng sau phẫu thuật bao gồm
bục chỉ vết mổ, khối máu tụ, mismatch sắc
tố đường khâu nối, và giảm môi âm hộ
không thỏa đáng (quá ít hoặc quá nhiều).
Cho đến nay, bục chỉ vết mổ là vấn đề
thường gặp nhất sau phẫu thuật, đặc biệt
là ở những người hút thuốc (xem Hình 10-
2). Điều này có thể được giảm thiểu bằng
cách cắt hình nêm nhỏ để giảm sức căng ở
đường khâu nối và bằng cách đặt vị trí nêm
càng gần mép trước càng tốt để hạn chế
cắt phạm phải động mạch cấp máu chính.
Ở những người hút thuốc, nên giảm môi
bằng kỹ thuật tạo hình bờ tự do thay vì kỹ
thuật wedge.
Máu tụ hình thành sau phẫu thuật
thường xảy ra trong vòng 24 đến 48 giờ
đầu. Các khối máu tụ nhỏ có biểu hiện
sưng và đau không đồng đều hai bên. Bệnh
nhân nên được đánh giá và theo dõi, nhưng
hiếm khi cần can thiệp phẫu thuật. Những
khối máu tụ lớn hơn đôi khi cần phải phẫu
thuật loại bỏ, bệnh nhân lúc này cần được
gây mê.
Nhu cầu phẫu thuật thẩm mỹ của phụ
nữ ngày một tăng nhanh. Chúng ta vẫn cần
những nghiên cứu sâu hơn để đánh giá các
kết quả dài hạn. Tạo hình môi bé bằng kỹ
thuật wedge mở rộng là một lựa chọn an
toàn và hiệu quả để giảm kích thước và độ
nhô ra của môi bé. Nó được chỉ định ở bệnh
nhân có dày môi bé (dày tổ chức dưới niêm
mạc) và ở những bệnh nhân có mũ âm vật
‘dư thừa’ xét trên mặt phẳng dọc giữa. Chú
ý đến việc cầm máu và căn chỉnh mép để
ngừa các biến chứng như tách mép, bục
chỉ vết mổ và khối máu tụ. Các biến chứng
tạo hình môi âm hộ bằng kỹ thuật wedge sẽ
được thảo luận trong CHƯƠNG 10.
e-bacsy.com
Chương 5
Giảm môi âm hộ:
Kỹ thuật tạo hình bờ tự do
Red Alinsod
56
Chương 5
Giảm môi âm hộ: Kỹ thuật tạo hình bờ tự do
Những điểm chính
• Hầu hết các Bs phụ khoa đều chỉ định
phẫu thuật cắt bờ tự do để giải quyết
vấn đề thẩm mỹ vùng kín. Trong một
cuộc khảo sát, phần lớn (52.7%) các Bs
phẫu thuật lựa chọn phương pháp phẫu
thuật này, kỹ thuật wedge chỉ đứng thứ
hai với 36.1% số ca thực hiện.
• Mặc dù kỹ thuật tạo hình bờ tự do ít
xuất hiện những biến chứng liên quan
tới liền vết mổ hơn, nhưng chúng để
lại một đường sẹo dài ngay vị trí bờ tự
do đôi khi gây co kéo vết mổ và đau
kéo dài, đặc biệt khi quan hệ. Kỹ thuật
wedge cũng để lại sẹo tương tự nhưng
nằm ngang thay vì nằm dọc như cắt bờ
tự do. Tuy nhiên tình trạng đau vết mổ
sau phẫu thuật ở kỹ thuật này là cực kỳ
hiếm, và ưu điểm nữa là khả năng ‘giấu’
đường sẹo đi khéo léo. Sau 6 tháng
thường hiếm khi thấy được sẹo ở cả 2
kỹ thuật này.
• Tùy thuộc mong muốn bệnh nhân, đặc
điểm bệnh lý như mức độ và vị trí của
môi bé bị phì đại cũng như ưu nhược
điểm của từng kỹ thuật để lựa chọn sao
cho phù hợp. Nói chung, cắt bờ tự do
là con đường thuận tiện nhất đạt đến
hình thể giải phẫu mà bệnh nhân mong
muốn, nhưng chúng thường để lại sẹo
và/hoặc bờ tự do không tự nhiên. Nhưng
để nói, kỹ thuật wedge không thể giảm
môi âm hộ một cách toàn diện như cắt
bờ tự do được.
• Hầu hết phụ nữ đều muốn loại bỏ phần
niêm mạc tăng sắc tố, nhưng một số
lại thích giữ phần niêm mạc này để
trông tự nhiên hơn và chỉ yêu cầu Bs
giảm phần môi bé dư thừa. Tuy nhiên,
kỹ thuật tạo hình bờ tự do mới có thể
cắt bỏ nhiều và chính xác hơn so với
wedge.
• Các bằng chứng mới ủng hộ việc sử
dụng sóng cao tần trong giảm môi âm
hộ để cải thiện tính an toàn, độ chính
xác, chức năng và thẩm mỹ. Tuy nhiên
kỹ thuật này cần được thực hiện bởi
Bs đã được đào tạo bài bản và có kinh
nghiệm.
Tạo hình môi âm hộ, đôi khi được gọi
là giảm môi âm hộ, là một phẫu thuật phụ
khoa nhằm giảm kích thước và đôi khi kết
hợp với tạo hình môi lớn hoặc môi bé. Đây
hiện là một trong những phẫu thuật thẩm
mỹ vùng kín được thực hiện nhiều nhất theo
thống kê hàng năm. Như chúng ta đã biết,
nếp gấp da ở hai bên, nằm giữa môi lớn và
tiền đình âm đạo được gọi là môi bé hoặc
mnymphae. Môi bé là vị trí cực kỳ nhạy
cảm với nhiều thụ thể cảm giác và tổ chức
mô liên kết có khả năng cương cứng, đây
cũng là vị trí gây kích thích trong khi quan
hệ tình dục. Môi bé có sự đa dạng về các
biến thể giải phẫu (về chiều dài, độ dày, tính
đối xứng, độ ‘nhô’ và hình chiếu của chúng).
Hiếm khi, môi bé ‘nhô’ ra ngoài hơn 3cm so
với bờ tự do của môi lớn và nếu vượt qua
ranh giới này thì được gọi là môi bé phì đại,
mất tiêu chuẩn về tính thẩm mỹ. Nguyên
nhân của phì đại môi bé âm hộ có thể do
nhiều yếu tố, bao gồm chứng phì đại bẩm
sinh, và phì đại vô căn mắc phải do quan
hệ hoặc có thể do thủ dâm, sinh con qua
đường âm đạo, tắc nghẽn bạch huyết, phản
ứng viêm (viêm da vùng kín), do chứng tiểu
không tự chủ, do tăng cân hoặc do hor-
mone androgen ngoại sinh.
Năm 1984, Hodgkinson và Hait đã mô
tả 3 trường hợp lâm sàng có bất thường về
kích thước và hình dạng môi bé. Nghiên cứu
của họ đã được xuất bản và cũng là báo
cáo đầu tiên về các trường hợp phẫu thuật
giảm môi âm hộ chọn lọc nhằm mục đích
cải thiện tính thẩm mỹ CQSDN theo quan
điểm của phụ nữ phương Tây. Hiện nay, các
kỹ thuật phẫu thuật thẩm mỹ môi bé bao
gồm cắt thẳng (thỉnh thoảng gọi là kỹ thuật
cắt cụt – cắt toàn bộ), cắt bỏ hình elip (đôi
khi còn gọi là kỹ thuật trim), kỹ thuật wedge
(cắt hình chêm), kỹ thuật wedge sửa đổi
57
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
(cắt hình chữ V), khử biểu mô, tạo hình môi
bằng laser và tạo hình môi bằng RF. Tuy
nhiên, với bất kỳ kỹ thuật nào, việc quan
trọng nhất là bảo tồn được cấu trúc mạch
máu và thần kinh. Ngoài ra, tùy theo yêu
cầu của bệnh nhân, phẫu thuật tạo hình
môi âm hộ đôi khi cần phải bảo tồn bờ tự
do, màu sắc, kết cấu của mép môi âm hộ.
Bệnh nhân sẽ được thực hiện phẫu thuật
này tại bệnh viện hoặc các phòng khám tư
nhan, với phương pháp vô cảm là gây tê tại
chỗ (0.25% Marcaine hoặc 1% lidocain với
1:100000 epinephrine), an thần hoặc gây
mê toàn thân.
Năm 2005, chúng tôi đã báo cáo một
phẫu thuật xâm lấn tối thiểu được gọi là
Barbie look (Hình 5-1). Đây là một thuật
ngữ trong ngành được sử dụng cho những
bệnh nhân được phẫu thuật ở Los Angeles,
những người yêu cầu cắt bỏ toàn bộ hoặc
gần như toàn bộ môi bé. Các kỹ thuật khác
như rim look và hybrid look cũng được mô
tả (Hình 5-2 và 5-3).
Hình. 5-1 Hình ảnh trước và sau phẫu thuật Barbie look.
Hình. 5-2 Hình ảnh trước và sau phẫu thuật tạo hình môi kiểu rim (look).
58
Chương 5
Giảm môi âm hộ: Kỹ thuật tạo hình bờ tự do
Kỹ thuật rim look bản chất là cắt bỏ
môi bé theo một đường cong dọc theo bờ
tự do (phần tăng sắc tố nhiều nhất) để cải
thiện tính cân đối và hình thể giải phẫu của
chúng. Còn kỹ thuật hybrid look đề cập đến
một phương pháp tiếp cận từ đường giữa,
liên quan đến việc loại bỏ gần như toàn bộ
môi bé và bảo tồn một lượng mô nhỏ (ngay
dưới môi lớn), một hình thể được coi là
giải phẫu tiêu chuẩn. Có thể thực hiện một
đường cắt chính xác qua tổ chức niêm mạc
môi bé bằng cách sử dụng 1 đầu RF. Tuy
nhiên kỹ thuật nêm thì không thể loại bỏ
chính xác phần tổ chức dư thừa ước đoán
như kỹ thuật hybrid look.
Kỹ thuật Barbie look, tuy nhiên, chỉ được
‘yêu thích’ ở một số khu vực, chủ yếu là Bờ
Tây hơn là Bờ Đông, và ở phía Nam hơn là
phía Bắc. Trong một nghiên cứu trên 238
phụ nữ phẫu thuật giảm môi âm hộ, thì tới
98% tìm cách giảm môi bé xuống ngang
bằng hoặc dưới môi lớn để thu được hình
thể giải phẫu ‘tối ưu’. Trong khảo sát của
chúng tôi, trong số 200 bệnh nhân thì không
có một ai muốn giữ lại phần bờ tự do ‘thừa’
và tăng sắc tố cả.
Thay vào đó, tất cả các bệnh nhân đều
yêu cầu cắt bỏ, đặc biệt là vùng tăng sắc
tố. Theo kinh nghiệm của chúng tôi, rất ít
người yêu cầu Bs phẫu thuật giữ lại phần
bờ tự do tăng sắc tố ở môi bé. Trong nghiên
cứu của Millos và Moore trên 550 phụ nữ,
Hình. 5-3 Hình ảnh trước và sau phẫu thuật tạo hình môi kiểu hybrid (look).
97% muốn loại bỏ phần niêm mạc tăng sắc
tố này và chỉ giữ lại phần niêm mạc màu
hồng, và đặc biệt là sau khi cắt bỏ phần
niêm mạc đó, phần bờ viền còn lại cũng
mềm mại hơn.
Kỹ thuật Wedge nên được chỉ định cho
những phụ nữ muốn giữ lại phần niêm mạc
tăng sắc tố hoặc phần viền tự nhiên của
môi bé. Tuy nhiên, việc cắt theo hình nêm
toàn bộ tổ chức (kỹ thuật ban đầu) và kỹ
thuật wedge sửa đổi sẽ giúp bảo tồn hệ
thống mạch máu thần kinh, đường sẹo và
tránh được việc cắt bỏ quá mức dẫn tới sẹo
co kéo sau mổ. Năm 1998, Alter đã giới
thiệu kỹ thuật wedge sửa đổi, bao gồm việc
cắt tổ chức hình nêm ở vị trí trung tâm và ở
bên ngoài (hockey stick V), một đường cắt
hình Z 90 độ, một đường cắt hình nêm phía
dưới và Kỹ thuật zigzag Maas và Hage.
Kỹ thuật wedge trung tâm mở rộng kết
hợp với wedge bên ngoài (hockey stick V)
nhằm mục đích loại bỏ phần mũ âm vật
thừa hai bên (đôi khi gọi là tai chó). Cách
tiếp cận này giúp giảm tỉ lệ tách mép vết
mổ, tránh hình thành các xoang hoặc
đường dò, giải quyết được phần mũ âm
vật dư thừa và giảm đau sau phẫu thuật,
mặc dù không phải tất cả bệnh nhân đều
đến viện khám để Bs có thống kê đầy đủ.
Việc bổ sung thêm kỹ thuật Z-plasty 90 độ
cùng với wedge trung tâm giúp phân tán
lực đồng đều dọc trên đường khâu, hạn chế
59
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
tối đa tình trạng co kéo vết mổ. Trong cách
tiếp cận wedge phía dưới, phần tổ chức
hình nêm được lại bỏ ở phía dưới môi bé, và
phần cuống phía trên sẽ được sử dụng để
tái cấu trúc môi. Kỹ thuật zigzac của Maas
và Hage thực chất là một biến tấu tự kỹ
thuật wedge. Bản chất chúng là các đường
rạch tạo thành hình chữ W ở vị trí nhô ra
ngoài nhiều nhất của môi bé, sau đó được
nối lại với nhau bằng các mối nối đan chéo.
Nhược điểm của các phẫu thuật tạo hình
môi âm hộ ‘kiểu wedge’ này là cấp máu cho
phần còn lại của môi thay đổi tùy theo phần
hình nêm được cắt bỏ và sức căng đường
khâu chủ yếu tập trung ở vùng bờ tự do. Tạo
hình môi âm hộ kiểu wedge làm tăng nguy
cơ chậm lành vết mổ, hình thành các lỗ ở
môi bé (nếu bục chỉ) và các khoảng trống
hình tam giác lộn ngược khi các mép vế
mổ bị co kéo. Những biến chứng này chưa
được báo cáo trong các trường hợp cắt
thẳng (cắt cụt) được thực hiện bởi những
Bs có chuyên môn. Nên nhớ, hai bên môi
âm hộ có thể thực hiện các kỹ thuật khác
nhau tùy thuộc vào tình trạng lâm sàng mỗi
bên.
Trong quá trình khử biểu mô, cả mặt
trong và mặt ngoài đều phải được đánh dấu
để phân định các khu vực khử biểu mô (vì
phần tổ chức loại bỏ ở 2 mặt có thể hơi khác
nhau đôi chút), và phần biểu mô này có thể
loại bỏ bằng dao hoặc laser. Quy trình này
sẽ được thực hiện trong khoảng 30 phút. Kỹ
thuật này nên được áp dụng trong trường
hợp chỉ phải cắt bỏ 1 lượng nhỏ môi bé. Tuy
nhiên, nếu phải cắt bỏ lượng lớn, dùng cách
này có thể dẫn tới thừa bờ tự do, làm tăng
độ dày môi bé, thậm chí bục chỉ hoặc hoại
tử vết mổ. Tạo hình môi bằng laser không
nên chỉ định trong trường hợp muốn sửa
chữa bờ tự do môi bé sau khi đã cắt bờ này
(Kỹ thuật tạo hình bờ tự do – trim). Mặc
dù tạo hình môi bằng laser có thể được áp
dụng trong kỹ thuật khử biểu mô, nhưng
chúng làm tăng nguy cơ hình thành các
nang biểu bì.
Kỹ thuật Alinsod trong tạo
hình môi bé bằng RF
Trong thập kỷ trước, phẫu thuật thẩm
mỹ vùng kín bằng sóng cao tần đã dần trở
nên phổ biến. PTTM vùng kín bằng RF được
thực hiện và báo cáo lần đầu tiên vào năm
2005 và được trình bày vào năm 2006 tại
cuộc họp của Học viện Phụ khoa Thẩm mỹ
Hoa Kỳ. Kỹ thuật này đặc biệt thích hợp cho
phẫu thuật tạo hình môi âm hộ, vì mức độ
lan tỏa nhiệt tối thiểu chỉ từ 20 đến 40 (am
khi thủ thuật được thực hiện với đầu nối
hair-tips). Với lượng nhiệt này, bệnh nhân
sẽ không bị bỏng tổ chức hoặc xuất hiện
các phỏng huyết thanh, sẹo sau phẫu thuật
cũng không bị lộ. Cả hai ưu điểm này đều
đã khẳng định tính an toàn của RF trong
các phẫu thuật khu vực nhỏ, đặc biệt là
vùng kín ở nữ. RF cũng cho phép tạo lông
ở các bờ viền không đều và làm mềm cũng
như làm phẳng tai chó.
Phẫu thuật cắt và rạch bằng RF có thể
được thực hiện trên tất cả các kỹ thuật
được mô tả ở trên. Tuy nhiên, nó được sử
dụng thường xuyên nhất với kỹ thuật cắt
thẳng (cắt cụt). Kỹ thuật này được mô tả
chi tiết ngay dưới đây.
Chỉ định và chống chỉ định
Phẫu thuật giảm môi bé âm hộ có thể
được thực hiện vì lý do chức năng hoặc
thẩm mỹ hoặc cả 2. Chỉ định liên quan
chức năng của chúng bao gồm khó giữ
vệ sinh sạch sẽ (ví dụ do giấy vệ sinh dính
vào), thường xuyên cọ sát với da mu, đùi,
kích ứng khi mặc quần áo chật, đau khi đi
xe đạp hoặc các hoạt động thể thao tương
tự, và môi âm hộ vướng vào dây kéo khóa
quần. Nhiều phụ nữ cần tới phẫu thuật để
cải thiện tính thẩm mỹ, đặc biệt là phàn nàn
về ‘khối phồng’ dưới quần áo của họ hoặc
do ngại ngùng khi quan hệ tình dục. Vì liên
quan đến cả việc phục hồi chức năng và
60
Chương 5
Giảm môi âm hộ: Kỹ thuật tạo hình bờ tự do
thẩm mỹ, các thủ thuật này đều được coi
là cả can thiệp điều trị lẫn thủ thuật thẩm
mỹ tùy thuộc vào nhu cầu. Không có chống
chỉ định tuyệt đối cho phẫu thuật này, tuy
nhiên, các chống chỉ định tương đối bao
gồm bệnh nhiễm trùng phụ khoa đang hoạt
động và bệnh lý ác tính.
Đánh giá bệnh nhân
Việc tư vấn cho bệnh nhân nên được
thực hiện vài ngày trước phẫu thuật nhưng
cũng có thể ở ngay trong ngày phẫu thuật
(qua internet hoặc các phương tiện truyền
thông khác). Ví dụ, 1 VĐV điền kinh có thể
phàn nàn về tình trạng môi âm hộ không
đều khiến họ xấu hổ và đau đớn khi tập
luyện. Tình trạng sa niêm mạc trực tràng
trước đây của cô đã được giải quyết triệt
để, nhưng hậu quả để lại là một bên môi bị
lệch so với bên còn lại, và bệnh nhân luôn
có cảm giác 1 bên bị kéo ra sau (sẹo co kéo
từ phẫu thuật trực tràng) khiến cô cảm thấy
khó chịu. Cô ấy yêu cầu phẫu thuật cắt gần
hoàn toàn môi âm hộ, chỉ để lại 1 phần nhỏ
để trông tự nhiên hơn. Khám lâm sàng thấy
môi bé bên trái có kích thước gấp đôi bên
phải và dày hơn, bờ tự do cũng sẫm màu
hơn. Cô ấy cũng muốn loại bỏ phần sẫm
màu này.
Mũ âm vật không gây khó chịu cho
bệnh nhân, nhưng cô ấy không muốn mũ
âm vật quá to so với phần còn lại của âm
hộ sau phẫu thuật. Cô được khuyên nên tạo
hình luôn vùng này để trông cân đối hơn. Bs
chú ý nên khám lâm sàng trong tư thế nằm
và đứng, quan sát và chụp ảnh trước phẫu
thuật để ước đoán và thảo luận với bệnh
nhân về hình thể ngoài ‘tối ưu’ mà họ có thể
thực hiện phẫu thuật.
Lên kế hoạch và chuẩn bị
Sau khi thảo luận kỹ với bệnh nhân,
quyết định phẫu thuật được đưa ra và ghi lại
bằng các bản vẽ hoặc hình ảnh trực quan.
Bệnh nhân sẽ được kiểm tra sức khỏe tổng
quát, tình trạng dị ứng, mang thai, những
biểu hiện lo lắng, khả năng chịu đựng cơn
đau, nhận thức về các giai đoạn cuộc phẫu
thuật và yêu cầu sự đồng thuận với tất cả
các điểm trên.
Vô cảm
Khoảng 2 giờ trước khi phẫu thuật, bệnh
nhân sẽ được bôi kem tê tại chỗ (EMLA
hoặc thuốc gây tê dạng hỗn hợp) lên các
vị trí phẫu thuật. Trước phẫu thuật 15 tới
30 phút, bệnh nhân sẽ được đặt tấm điện
di thuốc tê qua da để ‘đẩy’ toàn bộ các
đại phân tử (thuốc tê) xuống dưới lớp da
nhằm mục đích giảm đau thật tốt cho cuộc
mổ (Hình 5-4). Thuốc an thần đường uống
hoặc tiêm bắp được dùng kết hợp với thuốc
giải lo âu như Valium.
Hình. 5-4 Tiêm tê tại chỗ.
61
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Đánh dấu
Đánh dấu vùng mổ bắt đầu từ phía
ngoài, ngay dưới hãm âm vật và mở rộng
xuống dưới âm đạo như hình 5.5. Vì phần
tổ chức mặt ngoài 1/3 trên môi bé thường
bị co kéo nhiều hơn nên đường đánh dấu sẽ
thuôn dần từ vị trí dưới hãm âm vật 1.5 cm
xuống dưới, sao cho tới ngang lỗ âm vật thì
gần như không còn phần môi bé còn lại nào
nữa. Mặt trong của môi bé được đánh dấu
tương tự, môi bé phía còn lại cũng được
đánh dấu sao cho hai bên cân xưng nhau.
Nếu bệnh nhân yêu cầu môi bé có thể nhô
ra ngoài một chút so với môi lớn, Bs sẽ
đánh dấu lùi ra ngoài sao cho phù hợp. Nên
thận trọng trong bước này vì để lại môi bé
nhiều vẫn còn tốt hơn là cắt đi quá nhiều.
Nên cắt bỏ mặt trong nhiều hơn 1 chút và
mặt ngoài rộng hơn 1 chút so với vị trí đánh
dấu để sau này sẹo có thể được giấu ở mặt
trong môi bé.
Hình. 5-5 A, Đánh dấu cho kỹ thuật khử biểu mô. B, Chỉ loại bỏ phần ngoài bờ tự do (rim
look). C, Loại bỏ phần lớn môi bé sao cho phần còn lại nằm ngang hoặc dưới môi lớn (hy-
brid look). D, Loại bỏ hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn môi bé (Barbie look). E, Hình ảnh trước
phẫu thuật. F, Đánh dấu đường rạch.
62
Chương 5
Giảm môi âm hộ: Kỹ thuật tạo hình bờ tự do
Tư thế bệnh nhân
Bệnh nhân được đặt ở tư thế sản khoa,
với giá đỡ chân đủ để đảm bảo sự thoải mái
và giúp lưu thông máu tốt. Nên đặt miếng
đệm dưới đầu gối và bắp chân thay vì chỉ
đặt đệm ở gót chân.
Mô tả kỹ thuật
Vùng âm hộ được sát khuẩn bằng
Betadine hoặc các chất sát khuẩn tương
đương. Bệnh nhân sẽ được trải xăng vô
trùng. Thường cần đánh dấu lại vùng phẫu
thuật sau các bước chuẩn bị vì dung dịch
sát khuẩn có thể làm mờ vết đánh dấu ban
đầu. Khoảng 4-7 mL thuốc tê được tiêm
ngay dưới da ở tất cả các khu vực được
đánh dấu. Nên dùng kim cỡ nhỏ để gây tê.
Áp dụng kỹ thuật vi phân (phân bố từng
lượng nhỏ thuốc tê lên vùng phẫu thuật)
để tránh hiện tượng biến dạng mô. Khu vực
phẫu thuật nên được kiểm tra lại xem đã
vô cảm tốt chưa trước khi tiến hành đường
rạch đầu tiên.
Hình. 5-6 A và B, Đường cắt bằng RF.
Đường rạch được bắt đầu từ vị trí dưới
hãm âm vật 1-1.5 cm, đi từ trên xuống dưới,
kết thúc ở ngang lỗ âm đạo hoặc đáy chậu
tùy thuộc vào vị trí bám của phần dưới môi
bé (Hình 5-6, A và B). Vào thời điểm viết
sách này, chỉ có ở Hoa Kỳ mới có hệ thống
phẫu thuật Pelleve (Ellman International,
Hicksville, NY) có các tay cầm đầu nhỏ (hair
tips) mới có thể rạch được chính xác điểm
đã đánh dấu. Mode để cắt có công suất
10-15W, mode Coag và Blend với công suất
20-25W sẽ được sử dụng để cầm máu. Một
chế độ khác nữa là Hemo mode, với công
suất cao có thể giúp kiểm soát chảy máu
và hữu ích cho việc ‘chải’ các nếp nhăn, các
vị trí mô không đều, giúp chúng phẳng và
mịn hơn. Về cơ bản, mô có thể được cắt
bỏ bằng cách thực hiện các đường rạch từ
phía trong và phía ngoài về phía bờ tự do
của môi bé. Kỹ thuật này sẽ tạo một đường
ống nhỏ làm cho bờ tự do của môi bé dính
vào với nhau khi chúng ngả về phía sau.
63
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Sử dụng dao diện tiêu chuẩn và laser
980-diode đều không hiệu quả vì khả năng
cầm máu (gây đông máu) của chúng có thể
gây biến dạng và hình thành các nếp gấp,
đoạn nhăn nhúm ở môi bé. Sau khi đã cầm
máu được, có thể tiến hành chỉnh sửa (Hình
5-6,C). Đường rạch hình chữ ‘A’, còn được
gọi là đường rạch Alinsod, được thực hiện
ngay bên dưới hoặc phía ngoài hãm âm vật
để giấu đường mổ vào phía trong (Hình 5-6,
D và E). Điều này giúp tránh được hình dạng
tai chó sau phẫu thuật và giấu được sẹo.
Đây là phần khó nhất của kỹ thuật này và
đòi hỏi tư duy chiến lược để đạt được kết
quả tốt. Có thể cân đối hai bên, căn chỉnh
và khớp các cạnh lại với nhau bằng cách sử
dụng một hair tips siêu nhỏ ở các vị trí chủ
chốt, để đường mổ chính xác tuyệt đối. Giai
đoạn này có thể để bệnh nhân quan sát
vùng phẫu thuật, chỉnh sửa lại những gì họ
muốn. Sau đó có thể kết thúc phẫu thuật.
Trong thực hành lâm sàng, chúng tôi
luôn cố gắng thực hiện phẫu thuật chỉ
cần gây tê tại chỗ để bệnh nhân có thể
yêu cầu ‘chỉnh sửa’ lại những gì họ muốn.
Sau phẫu thuật bắt đầu đóng vết mổ theo
lớp (Hình 5-6, F). Có thể dùng chỉ tự tiêu
monofilament 4-0 hoặc 5-5 như Monocryl
để khâu lớp trong cùng.
Hình. 5-6, (tiếp) C, Đánh giá phần mũ âm vật sau khi cắt môi bé. D và E, Thực hiện đường
rạch chỉnh sửa mũ. F, Khâu đóng vết mổ theo lớp.
64
Chương 5
Giảm môi âm hộ: Kỹ thuật tạo hình bờ tự do
Loại sợi này có thời gian tự tiêu lâu,
điều khó đạt được ở các loại chỉ đa sợi
như chỉ khâu tổng hợp tự tiêu, như loại axit
polyglycolic sẽ có sợi polyglactin 910 (ví
dụ, Vicryl) và các loại chỉ khâu chế tạo từ
axit polyglycolic khác được xử lý để tự tiêu
nhanh (ví dụ, Vicryl Rapide). Vicryl là loại
chỉ có thể lựa chọn để khâu mối rời lớp cuối
cùng, vì chúng không chọc vào các mô
xung quanh. Chỉ khâu catgut không nên sử
dụng trong các phẫu thuật này, vì chúng làm
tăng nguy cơ phản ứng quá mẫn tại chỗ với
các vật liệu có nguồn gốc từ ruột. Ngoài ra
cũng có thể khâu bằng các kim nhỏ như SH
thuôn nhọn. Kim nhỏ hơn thì hữu dụng hơn,
tuy nhiên không nên sử dụng kim cắt vì có
thể gây thêm tổn thương mô.
Các nguyên tắc khâu đóng vết mổ cần
được tuân thủ nghiêm. Đầu tiên, các kho-
ang sâu hơn với các mạch lớn phải được
đóng lại nhẹ nhàng để tránh hình thành
áp xe hoặc khối máu tụ. Chỉ khâu lỏng lẻo
nhưng vẫn phải đảm bảo tổ chức được liên
kết với nhau để có thể liền vết thương, đồng
thời không gây co kéo quá mức. Không
nên để lớp da bị cuốn vào vì nó có thể hình
thành các nang vùi. Các mũi khâu lớp sâu
có thể là mối rời, nhưng tốt nhất khâu đệm
ngược vì chúng sẽ giúp căn chỉnh các mép
tốt hơn. Thứ hai, một lớp chỉ khâu dưới da
4-0 hoặc 5-0 Vicryl hoặc Monocryl sẽ giữ
các mép sát với nhau. Cuối cùng, một số
mối khâu chỉ 4-0 được đặt một cách ‘chiến
lược’ dọc theo chiều dài của bờ tự do môi
bé hai bên. Bệnh nhân sẽ được xem kết quả
cuối cùng và đưa ra phản hồi cũng như đề
xuất của mình. Nếu cô ấy hài lòng, có thể
tiêm thuốc tê tại chỗ để kéo dài tác dụng
giảm đau sau mổ.
Chăm sóc sau phẫu thuật
Bệnh nhân sẽ được thực hiện quy trình
chăm sóc sau phẫu thuật tiêu chuẩn. Không
tập thể dục, nâng vật nặng hoặc hoạt động
tình dục trong 6 tuần sau mổ, tuy nhiên được
phép đi bộ nhẹ nhàng và chậm rãi. Vùng
phẫu thuật nên được làm sạch hàng ngày
bằng xà phòng và nước sau đó thấm khô
và không được chà xát. Không được ngâm
mình trong các bồn nước và không được
phép sử dụng bồn tắm Sitz. Việc này có
thể làm lỏng tổ chức, ‘yếu’ vết mổ và có thể
dẫn tới hở vết mổ. Bệnh nhân được hướng
dẫn bôi kem estradiol lên môi bé hàng ngày
để thúc đẩy quá trình lành vết mổ. Kem
collagen cũng đã được sử dụng sau phẫu
thuật để hỗ trợ chữa lành; tuy nhiên thực
hành lâm sàng ít dùng. Bệnh nhân có thể
đi lại hoặc hoạt động nhẹ để kích thích quá
trình lành vết mổ. Ngoài ra, khi ngồi bệnh
nhân nên khép chân hoặc vắt chéo để làm
giảm căng đường khâu nối. Nên tái khám
sau 2 và 6 tuần sau phẫu thuật.
Các chỉ khâu bắt đầu tự tiêu từ khoảng
ngày thứ 10-14. Bệnh nhân có thể có cảm
giác ngứa và chảy dịch tương đối nhiều. Lúc
này có thể hướng dẫn họ bôi kem diphen-
hydramine để hạn chế tình trạng đó. Nhiều
bệnh nhân cho rằng chảy dịch là dấu hiệu
nhiễm trùng nhưng thực chất thì không hẳn.
Ở tuần thứ 4, các mép vết thương thường
đã đóng hẳn lại, bệnh nhân được phép tắm
và có thể hoạt động lại như thường. Đến
khoảng tuần 6-8, quá trình lành vết mổ đã
hoàn tất, bệnh nhân có thể trở về sinh hoạt
như thường. Họ có thể bắt đầu quan hệ tình
dục lại sau thời gian này, khi các mép vết
mổ đã lành hẳn.
65
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 5-7 A, Hình ảnh trước phẫu thuật. B, Ngay sau phẫu thuật. C, và 2 tháng sau phẫu
thuật.
Kết quả thường khá hài lòng (hình 5-7),
nhưng một tỷ lệ nhỏ các trường hợp sẽ cần
phẫu thuật chỉnh sửa để làm ‘mịn’ các cạnh
không đồng đều hoặc ‘cắt tai chó’.
Kết quả
Nhiều nghiên cứu cho thấy mức độ hài
lòng cao ở những phụ nữ trải qua phẫu
thuật tạo hình môi âm hộ được thực hiện
bằng cách sử dụng các kỹ thuật kể trên.
Trong số 177 bệnh nhân được tạo hình môi
âm hộ và / hoặc thu nhỏ mũ âm vật, 97,2%
nói chung hài lòng với kết quả. Trichot và
cộng sự đã tiến hành đánh giá hồi cứu 21
bệnh nhân được tạo hình môi âm hộ với tái
tạo cuống vạt (86%) và phần còn lại được
cắt bỏ toàn bộ môi bé (14%). Trong số 18
người trả lời khảo sát, tất cả đều hài lòng
với kết quả của họ (xếp hạng trung bình 8,7
/ 10; 10 = xếp hạng cao nhất).
Thu nhỏ môi lớn với môi bé được thực
hiện một cách an toàn và hiệu quả, kết
hợp với phẫu thuật thu nhỏ mũ âm vật, đã
được thực hiện thành công trên 100 bệnh
nhân trong 6 năm qua. Trong năm 2011,
chúng tôi đã chứng minh những lợi ích của
phương pháp phẫu thuật kết hợp tại Đại hội
phẫu thuật thẩm mỹ. Phẫu thuật kết hợp
cũng được báo cáo là an toàn và hiệu quả
trong hai báo cáo trường hợp. Di Saia đã
báo cáo một trường hợp phẫu thuật theo
hai giai đoạn. Bệnh nhân đã được giảm
môi lớn trước, sau đó xuất hiện khối máu
tụ, Bs đã phải can thiệp điều trị và sau 5
66
Chương 5
Giảm môi âm hộ: Kỹ thuật tạo hình bờ tự do
tháng, bệnh nhân mới được thực hiện phẫu
thuật giảm môi bé. Bệnh nhân hài lòng với
kết quả phẫu thuật sau 6 tuần hoàn thành
trị liệu. Gần đây hơn, Miklos và Moore đã
mô tả liệu pháp phẫu thuật nối tiếp ở bệnh
nhân có phì đại môi lớn và môi bé. Đối với
phẫu thuật tạo hình môi âm hộ đồng thời
và phẫu thuật tạo hình môi lớn, tôi khuyên
bạn nên thực hiện phẫu thuật tạo hình môi
lớn trước để ước tính chính xác hơn lượng
môi bé cần phải cắt bỏ. Sau khi giảm môi
bé, môi lớn hai bên sẽ có xu hướng co kéo
môi bé xuống; do đó thực hiện phẫu thuật
tạo hình môi bé trước có thể dẫn tới hiện
tượng overcorrect (cắt quá mức).
Rezai và Jansson đã thực hiện một ng-
hiên cứu so sánh giữa cắt bỏ hình chữ W
phần nhô ra ngoài nhiều nhất của môi bé
(50 bệnh nhân) so với phẫu thuật tạo hình
môi khử biểu mô (50 bệnh nhân). Bệnh
nhân ở cả hai nhóm đều có sự cải thiện về
triệu chứng gây kích thích, quan hệ tình dục
và vệ sinh, và giảm thiểu các tr.chứng khác
6 tháng sau phẫu thuật. Trong số những
bệnh nhân được phẫu thuật cắt bỏ hình chữ
W, 5 bệnh nhân không hài lòng với phần bờ
tự do của môi bé. Ở 8 bệnh nhân, xuất hiện
tình trạng mất cảm giác (2 năm sau mới
có lại). Trong một nghiên cứu khác trên 21
bệnh nhân được phẫu thuật kiểu wedge và
tái tạo cuống vạt trên, 95,2% hài lòng với
kết quả phẫu thuật, trong khi 85,7% cho
rằng kết quả thẩm mỹ là tốt hoặc rất tốt.
Alter đã thực hiện kỹ thuật wedge trung
tâm cải tiến, cùng với giảm mũ âm vật hai
bên, với kiểu thiết kế hockey stick hai bên
ở 407 bệnh nhân. Trong số 166 bệnh nhân
trả lời bảng câu hỏi khảo sát của anh ấy,
điểm trung bình là 9,2 / 10 (10 = hài lòng
nhất), với sự cải thiện về sự tự tin, đời sống
tình dục và sự khó chịu tương ứng là 93%,
71% và 95% .Tỷ lệ biến chứng thấp đáng
kể (4%), và 98% cho biết họ sẽ phẫu thuật
lại nếu sau 1 thời gian tình trạng này lại
xuất hiện. Tương tự, Solanki và cộng sự
đã quan sát thấy kết quả thuận lợi về mặt
thẩm mỹ và chức năng ở 12 bệnh nhân trải
qua phẫu thuật giảm môi âm hộ bằng kỹ
thuật Maas và Hage (đường cắt hình chữ W
đan chéo). Chỉ có một bệnh nhân xuất hiện
khối máu tụ (gây đau tức) 2 giờ sau phẫu
thuật, và một bệnh nhân bị bí tiểu sau phẫu
thuật và phải đặt ống thông tiểu qua đêm.
Với kỹ thuật Maas và Hage, các đường cắt
hình chữ Z đối lập được khép lại bằng một
đường khâu zigzac không căng chạy xiên
qua mép môi bé. Phương pháp phẫu thuật
này làm giảm khả năng tách vết mổ và co
kéo mép môi sau, có thể dẫn đến thắt lỗ
âm đạo. Các bệnh nhân hài lòng với kết quả
thẩm mỹ trông tự nhiên của họ và không có
phẫu thuật chỉnh sửa nào được thực hiện
sau 14 tuần sau phẫu thuật.
Rouzier và cộng sự đã thực hiện một
nghiên cứu trên 163 phụ nữ đã phẫu thuật
giảm môi. 98 bệnh nhân đã trả lời bảng
câu hỏi của họ. Tỷ lệ hài lòng là 83% đối
với kết quả phẫu thuật nói chung, 89% và
93% đối với kết quả thẩm mỹ và chức năng
tương ứng. Bốn bệnh nhân (khoảng 4%) nói
rằng họ sẽ không muốn phẫu thuật lại nữa.
Tách vết mổ xảy ra ở 7% trường hợp. Kinh
nghiệm và kỹ năng của bác sĩ phẫu thuật
là điều quan trọng hàng đầu khi thực hiện
phẫu thuật wedge hoặc cắt thẳng, bởi vì,
hầu hết các Bs phẫu thuật đều phải thông
thạo các kỹ thuật xử lý trên phẫu trường
nhỏ nếu muốn tham gia vào một ca giảm
môi âm hộ.
Biến chứng
Các tác dụng ngoại ý liên quan đến giảm
môi âm hộ nói chung là rất thấp, dao động
từ 2,65% đến 4% và cao nhất là 6%. Các
biến chứng liên quan bao gồm nhiễm trùng
sau phẫu thuật, khối máu tụ, nhiễm trùng,
môi bé không đối xứng, chậm liền vết mổ,
tiêuhoặc đứt chỉ khâu sớm, cắt quá ít hoặc
quá nhiều tổ chức, bí tiểu, co kéo da, đau tại
vùng phẫu thuật muộn và đau khi quan hệ.
Tình trạng đau khi quan hệ xảy ra khi mối
khâu môi bé phạm phải lỗ âm đạo. Trong
67
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
một báo cáo trường hợp, kỹ thuật wedge
có liên quan đến biến chứng chảy máu sau
phẫu thuật và quá nhạy cảm thoáng qua
trong 4 đến 6 tuần sau phẫu thuật.
Kỹ thuật tạo vạt làm tăng nguy cơ hoại
tử mô, trong khi từng loại chỉ khâu khác
nhau có ảnh hưởng nhất định tới tình trạng
tách vết mổ. Một đường khâu bằng chỉ tự
tiêu, mối vắt sẽ có nguy cơ làm xấu phần bờ
tự do của môi bé sau phẫu thuật hơn là một
mối khâu vùi. Chỉ có số ít các trường hợp
cần phải phẫu thuật chỉnh sửa lại sau lần
phẫu thuật đầu tiên, nhưng tình trạng cắt
bỏ quá ít hoặc quá nhiều vẫn luôn tiềm ẩn
trong bất kỳ ca phẫu thuật nào. Có lẽ biến
chứng rắc rối nhất xảy ra khi cắt bỏ toàn
bộ môi bé hoặc môi bé co lại nhiều hơn dự
kiến sau phẫu thuật, dẫn đến việc tạo hình
kiểu Barbie thay vì kiểu rim hoặc hybrid như
dự kiến.
Các nghiên cứu PTTH môi âm hộ cho
thấy tỷ lệ hài lòng cao về kết quả thẩm
mỹ, chức năng và cải thiện tâm lý xã hội,
bao gồm cả sự tự tin. Khi có nhiều sự lựa
chọn trong việc thực hiện phẫu thuật, các
nhà lâm sàng có càng nhiều cơ hội để áp
dụng thủ thuật phù hợp, hoặc có thể kết
hợp chúng với nhau 1 cách khéo léo để đạt
mục tiêu điều trị. Mặc dù kỹ thuật tạo hình
bờ tự do được báo cáo có ít biến chứng liên
quan tới lành vết mổ hơn, nhưng nó để lại
một đường khâu ở ngoại vi có thể dẫn đến
sẹo co kéo và đau mạn tính sau phẫu thuật.
Những tác dụng phụ này cực kỳ hiếm, vì
phức hợp âm hộ rất dễ hồi phục, hiếm khi
để lại sẹo lâu dài. Một số chuyên gia lựa
chọn kỹ thuật wedge làm tiêu chuẩn, trong
khi 1 số khác thì áp dụng khử biểu mô là kỹ
thuật chính trong các ca điều trị của họ.
Do chưa có sự thống nhất về tiêu chuẩn
chăm sóc theo quy trình, các kỹ thuật nên
được lựa chọn tùy thuộc tình trạng lâm
sàng của bệnh nhân. Các kỹ thuật được
chọn cho mỗi bệnh nhân sẽ dựa trên những
ưu và nhược điểm của thủ thuật, mức độ
và vị trí của phì đại môi bé, cũng như yêu
cầu thẩm mỹ của bệnh nhân. Một số phụ
nữ thích giữ phần bờ tự do tăng sắc tố và
chỉ yêu cầu giảm kích thước môi, trong
khi những người khác muốn loại bỏ bờ tự
do này. So với các quy trình giảm môi âm
hộ khác, phẫu thuật tạo hình môi bằng RF
được thực hiện bởi 1 BS có trình độ chuyên
môn tốt sẽ đạt độ an toàn, chính xác cao,
giúp cải thiện chức năng và thẩm mỹ cho
bệnh nhân theo đúng yêu cầu của họ.
e-bacsy.com
Chương 6
Giảm môi âm hộ:
Tạo hình môi lớn
Evgenii Leshunov
69
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Những điểm chính
• Tạo hình môi lớn thường được chỉ định
rộng rãi trên lâm sàng với kết quả tốt
sau phẫu thuật.
• Loại bỏ vùng da thừa, chùng nhão ở
môi lớn hầu như không làm tổn thương
các mạch máu lớn, dây thần kinh hay
độ nhạy cảm của da.
• Chảy máu là một biến chứng tiềm ẩn
cần chú ý trong quá trình thực hiện lọc
bỏ các miếng đệm mỡ, vì quy trình này
cần cắt đốt các mạch lớn.
• Kiểm soát tình trạng đau sau phẫu
thuật thường khó khăn với thủ thuật lọc
bỏ các miếng đệm mỡ.
• Các nghiên cứu cho thấy RF đơn cực
tần số cao và đốt điện là những công
cụ hữu ích trong phẫu thuật giảm môi
lớn âm hộ.
• Tạo hình môi bé và môi lớn có thể thực
hiện thành hai giai đoạn khác nhau trên
1 bệnh nhân. Khi thực hiện bởi các Bs
phẫu thuật đã được đào tạo bài bản,
có thể kết hợp hai giai đoạn này trong
cùng một cuộc mổ ở những bệnh nhân
đủ điều kiện và sức chịu đựng cho cuộc
phẫu thuật lớn.
Môi lớn, được cấu tạo phần lớn bởi tổ
chức mỡ, là cấu trúc đôi nằm đối xứng hai
bên lỗ âm đạo kéo dài từ đáy gò mu tới gần
hậu môn-trực tràng. Các biến thể giải phẫu
liên quan đến chiều dài và thể tích của môi
lớn phần lớn là bình thường và hiếm khi
được coi là bất thường bệnh lý. Chiều dài
dao động từ 7-12 cm, trung bình là 9.3 cm.
Các yếu tố di truyền và môi trường có thể
góp phần vào sự khác biệt về kích thước và
hình dạng của môi lớn. Theo thời gian, môi
lớn có thể bị sa hoặc chảy xệ do lão hóa
hoặc sau phẫu thuật điều trị béo phì (Hình
6-1). Ngược lại, việc tích tụ các chất béo dư
thừa (do di truyền hoặc do béo phì) có thể
làm tăng kích thước và kéo dài môi lớn, dẫn
tới mất cân đối. Cuối cùng, tình trạng lỏng
lẻo tổ chức dưới da ở những bệnh nhân
sau giảm cân lượng lớn có thể khá nghiêm
trọng, cần tới phẫu thuật tạo hình hoặc RF
để thu nhỏ môi.
Kích thước môi lớn thường là vấn đề nan
giải của một số phụ nữ, điển hình là hiện
tượng lộ ra dưới các lớp quần áo bó, đồ
bơi hoặc khi quan hệ. Điều này có thể ảnh
hưởng tới chức năng khi quan hệ tình dục,
vệ sinh kém và đặc biệt là tình trạng khó
chịu cho bệnh nhân. Ví dụ như những người
hay đi xe đạp, cưỡi ngựa, chèo thuyền… Từ
trước tới nay chúng ta vẫn luôn đề cập đến
một hình ảnh dễ liên tưởng tới vấn đề này
của phụ nữ, đó là hình ảnh bàn chân lạc
đà. Mặc dù là biệt ngữ không chính thống,
song nhiều website hay bài báo vẫn đưa
cụm này vào để bình luận về hình ảnh của
những người nổi tiếng, nhân vật quan trọng
và cho rằng đây là vấn đề của họ. Tuy nhiên
trên thực tế thì đây lại là điều hoàn toàn
bình thường.
70
Chương 6
Giảm môi âm hộ: Tạo hình môi lớn
Hình. 6-1 Hình ảnh âm hộ và môi lớn bị lão hóa theo thời gian. Bằng việc cạo lông mu và
dưới tác động của tình trạng lão hóa dẫn tới giảm lượng collagen và elastin, môi lớn của
phụ nữ thường trở nên ‘bất thường’ và buộc họ phải tìm tới Bs..
Tuy nhiên, có 1 số phụ nữ khi mới sinh ra
đã có phần tổ chức mỡ dưới da rất ‘đầy đặn’
ở môi lớn. Các vấn đề về tính cân đối cũng
như các triệu chứng (nếu có) xuất phát từ
môi lớn quá khổ sẽ đều cần được chăm sóc
y tế đầy đủ.
Chỉ định và chống chỉ định
Tạo hình môi là một thủ thuật thẩm mỹ
được thực hiện nhằm mục đích giảm kích
thước của môi lớn phì đại, giúp cải thiện
vẻ ngoài thẩm mỹ của vùng âm hộ. Quy
trình này bao gồm loại bỏ phần da thừa
của môi lớn và những miếng đệm mỡ ‘dư
thừa’; chúng tương tự như phẫu thuật cắt
bỏ toàn bộ âm hộ sửa đổi nhưng không bao
gồm nạo vét hạch bẹn. Đôi khi, phẫu thuật
này được chỉ định để giải quyết tình trạng
phù bạch huyết bẩm sinh của âm hộ. Giảm
môi âm hộ này thường được thực hiện trên
môi bé và hiện nay là cả môi lớn của những
người phụ nữ sau sinh nở hoặc có vùng âm
hộ đã lão hóa theo thời gian. Phì đại môi
lớn nguyên phát là kết quả của sự dư thừa
thể tích do tích tụ chất béo ở môi lớn, trong
khi dư môi lớn thứ phát là do tình trạng mất
thể tích, dẫn tới chùng/nhão da vùng môi
lớn.
Tạo hình môi lớn được thực hiện với mục
đích thẩm mỹ, chức năng hoặc cả hai và ít
phổ biến hơn tạo hình môi bé. Giảm môi lớn
được chỉ định cho bệnh nhân phì đại môi
âm hộ ở tất cả các lứa tuổi khác nhau và
dành cho những bệnh nhân béo phì sau các
liệu trình giảm cân nghiêm ngặt. Ở Mỹ, nhu
cầu về phẫu thuật tạo hình môi lớn tương
đương với môi bé.
Chống chỉ định bao gồm các tổn thương
ở âm hộ chưa được chẩn đoán và loạn
dưỡng âm hộ, các tổn thương do nhiễm
khuẩn đang hoạt động như herpes hoặc
HPV. Chống chỉ định tương đối bao gồm
những bệnh nhân đang trong liệu trình
giảm cân nghiêm ngặt, vì những bệnh nhân
này phẫu thuật sau đó giảm cân có thể dẫn
tới tình trạng lỏng lẻo tổ chức dưới da nhiều
hơn, lại cần tới chỉnh sửa. Tốt nhất là nên
giảm cân trước phẫu thuật.
Đánh giá bệnh nhân
Bệnh nhân được khám ở cả 2 tư thế
đứng và sản khoa để đánh giá được tốt
nhất giải phẫu liên quan và xác nhận ngoại
hình lý tưởng mà cô ấy mong muốn. Mức
71
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
độ lỏng lẻo của môi lớn sẽ được đánh giá
và chụp ảnh lại để lên kế hoạch phẫu thuật.
Bệnh nhân cũng có thể được đánh dấu
ngay trong lúc khám để xác định đúng mức
độ lỏng lẻo của da, tính bất đối xứng và vị
trí của các đường rạch, đường khâu sau
này. Trong quá trình đánh giá, bệnh nhân
sẽ được đưa cho 1 tấm gương để thảo luận
trực tiếp với bệnh nhân về tình trạng và
hướng xử trí của họ. Bệnh nhân có thể chỉ
ra những khu vực gây khó chịu, mất thẩm
mỹ đối với cá nhân họ và yêu cầu lượng tổ
chức cần loại bỏ. Bằng cách khám trực tiếp,
Bs sẽ ước chừng ngoại hình sau phẫu thuật
của bệnh nhân và xem xem có thể đạt được
yêu cầu như bệnh nhân mong muốn không.
Tốt nhất nên giải thích kỹ, rằng việc loại bỏ
quá mức môi lớn có thể kéo lỗ âm đạo rộng
ra hơn mức bình thường do tình trạng co
kéo sau phẫu thuật, ảnh hưởng tới chức
năng tinh dục của bệnh nhân. Nếu điều này
không ảnh hưởng tới sinh hoạt của họ, vẫn
có thể chấp nhận yêu cầu và phầu thuật.
Tuy nhiên, loại bỏ lượng mô vừa đủ là tốt
nhất, đặc biệt những bệnh nhân có yêu cầu
cao về mặt thẩm mỹ.
Nên khám sức khỏe tổng quát và thử
thai ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Các
xét nghiệm máu, chẳng hạn như CBC và
chất điện giải, thường không cần thiết ở
phụ nữ khỏe mạnh. Các thăm khám khác
sẽ tùy theo từng trường hợp cụ thể.
Lên kế hoạch và chuẩn bị
Sau khi thảo luận, bác sĩ phẫu thuật và
bệnh nhân sẽ thống nhất được kế hoạch, và
ghi lại bằng các bản vẽ và / hoặc hình ảnh
về phần tổ chức sẽ được cắt bỏ. Sau khi
hoàn tất các thủ tục, bệnh nhân cần ký vào
một cam kết đồng thuận về phẫu thuật sắp
sửa được thực hiện trên cơ thể mình.
Mô tả kỹ thuật
Vô cảm
Bệnh nhân được hướng dẫn bôi kem gây
tê tại chỗ (EMLA hoặc hỗn hợp thuốc gây tê
tại chỗ) lên vùng phẫu thuật khoảng 2 giờ
trước khi bắt đầu phẫu thuật. Trước khi bắt
đầu khoảng 15-30 phút, nên áp máy điện
di thuốc tê qua da để đẩy các phần tử lớn
xuống dưới da, tạo điều kiện vô cảm tốt cho
cuộc mổ.
Nên chuẩn bị khoảng 10 ml thuốc gây
tê cục bộ với epinephrine, đưa qua da bằng
kim 30G để tránh hiện tượng thuốc giảm
đau phân bố không đều. Thuốc an thần
dạng uống hoặc tiêm bắp được dùng kết
hợp với thuốc giải lo âu như Valium hoặc
Ativan trước phẫu thuật. Thuốc gây tê cục
bộ phủ liposome tác dụng kéo dài, chẳng
hạn như Exparel, có thể sử dụng để kiểm
soát cơn đau sau phẫu thuật; tác dụng
trong 72 giờ hoặc hơn. Nếu dùng Exparel,
không nên dùng cùng lido, vì nó sẽ phá vỡ
liposome và làm giảm thời gian tác dụng
của Exparel.
Đánh dấu
Hình. 6-2 đánh dấu vùng phẫu thuật.
Đánh dấu 1 đường thẳng bắt đầu từ điểm
trên cùng mũ âm vật, đi thẳng theo rãnh
môi lớn (giữa măt ngoài môi lớn và mặt
trong mũ âm vật. Đường thẳng được đánh
dấu tới mức ngang lỗ âm đạo. Một nửa
đường elip được dựng với cạnh lớn nhất
là đường thẳng chúng ta vừa vẽ, sao cho
đường bán elip này ‘bao phủ’ toàn bộ môi
lớn. Thực hiện đánh dấu bên còn lại một
hình bán elip đối xứng với đường vừa rồi.
Có thể điều chỉnh kích thước hình elip để
chừa lại 1 phần, tránh làm rộng lỗ âm đạo
sau phẫu thuật.
72
Chương 6
Giảm môi âm hộ: Tạo hình môi lớn
Tư thế bệnh nhân
Bệnh nhân được đặt ở tư thế sản khoa,
chân được gác trên giá đỡ, đảm bảo sự
thoải mái và máu được lưu thông tốt. Nên
Hình. 6-2 Đánh dấu vùng phẫu thuật. Chú ý đường đánh dấu phải ôm sát các nếp tự nhiên
giữa mũ âm vật, môi lớn và môi bé để ‘giấu’ các đường sẹo một cách khéo léo. Nên loại bỏ
vùng da thừa nếu có.
đặt đệm lót dưới gối và bắp chân hơn là đặt
ở gót chân đơn thuần.
Kỹ thuật
Các thiết bị và dụng cụ phẫu thuật được
sử dụng trong phẫu thuật giảm môi lớn bao
gồm dụng cụ hút mỡ, dao mổ, dao điện, la-
ser tiếp xúc và RF. Hút mỡ thường sử dụng
nhất trong những ca có phì đại môi lớn,
nhưng hậu quả để lại phần da thừa hoặc
tổ chức dưới da lỏng lẻo sau phẫu thuật.
Kết quả sau hút mỡ thường không quá khả
quan vì lượng mô mỡ ở môi lớn thường
không quá nhiều, dẫn tới việc sử dụng hút
mỡ vừa không hiệu quả (thường áp dụng
cho tổ chức nhiều mỡ) vừa không giải quyết
được tình trạng da thừa và chảy xệ. Phần
lớn các trường hợp tạo hình môi lớn đều
cần thực hiện các công đoạn là lấy bỏ tổ
chức mỡ dưới da và lọc bỏ phần da chùng
nhão, da thừa. Do đó, hút mỡ nên được kết
hợp với giảm môi âm hộ tiêu chuẩn, còn
trong trường hợp giảm môi âm hộ có tạo
hình (cắt bỏ nhiều) thì có thể không cần
hút mỡ đi kèm. Bốc hơi trực tiếp hoặc lọc
bỏ lượng mỡ thừa bên dưới là một ưu điểm
của giảm môi âm hộ chuyên biệt (có tạo
hình). Tuy nhiên, hút mỡ vùng gò mu hoặc
môi lớn trong quá trình phẫu thuật có thể
dẫn tới tình trạng phù nề, mất cân đôi hoặc
thậm chí làm sai lệch giải phẫu và kéo dài
thời gian lành vết mổ sau này.
73
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Ở những bệnh nhân có môi lớn to bất
thường, giảm môi có thể bằng cách cắt bỏ
lượng mỡ dưới da có hoặc không kèm theo
hút mỡ, cắt phần tổ chức da thừa hoặc
cả hai. Vì hút mỡ có thể dẫn tới tình trạng
chùng và thừa da, nên ưu tiên các kỹ thuật
giảm môi âm hộ kinh điển trước khi nghĩ
tới hút mỡ. Các kỹ thuật chính bao gồm kỹ
thuật cắt theo chiều dọc (thẳng) hoặc cắt
thẳng có sửa đổi, kiểu wedge hình quả bóng,
bắt đầu từ phía trên môi lớn hai bên, đi dọc
xuống dưới tới mức ngang đáy chậu. Phần
tổ chức dư thừa của môi lớn có thể loại bỏ
bằng cách cắt theo chiều dọc, đường cắt
hình quả bóng của phần môi phì đại ở giữa
và tái tạo mép bằng chỉ tự tiêu. Đường rạch
dọc theo chiều dài của môi lớn, từ vị trí cao
nhất của phức họp mũ âm vật, tới ngang vị
trí của lỗ âm đạo. Kỹ thuật này có thể thực
hiện ngay tại phòng khám bằng gây tê tại
chỗ, với tổng thời gian thực hiện từ 60 tới
90 phút. Nó để lại 1 vết sẹo dọc có thể nhìn
thấy được ở trên đầu môi lớn, tuy nhiên vết
sẹo này có thể giấu dưới lớp lông mu.
Một cách tiếp cận đạt tính thẩm mỹ cao
và tinh tế hơn là đường rạch dọc có sửa lại
bờ từ do bằng chỉ monofilament nhiều lớp.
Với cách này, phần bên trong mặt trong hình
lưỡi liềm của môi lớn được cắt chính xác
trên rãnh giữa môi lớn và môi bé, với đường
cắt hướng lên trên, qua ngay vị trí cao nhất
của môi lớn. Vết mổ lúc này nằm giữa môi
lớn và môi bé, khó có thể phát hiện được.
Phẫu thuật tạo hình môi lớn có thể được
thực hiện trong phòng phẫu thuật hoặc
phòng thủ thuật với gây tê tại chỗ. Các Bs
phẫu thuật môi âm hộ giàu kinh nghiệm có
thể thực hiện 98% các trường hợp tạo hình
môi (lớn + bé) ngay tại phòng thủ thuật
với gây tê cục bộ. Quy trình này được thực
hiện trong khoảng 60 -90 phút (Hình 6-3).
Trong kỹ thuật này, RF đầu nhỏ sẽ được sử
dụng để cắt bỏ tổ chức. Tuy nhiên cũng có
thể dùng laser CO2, laser 980-diode hoặc
dao điện, tuy nhiên các loại dao này không
chính xác bằng RF. Cắt bỏ bằng dao lạnh
cũng có thể được áp dụng. Sau khi đã rạch
da, phần tổ chức dưới da nên xử lý bằng
dao điện để tiện cầm máu hơn.
74
Chương 6
Giảm môi âm hộ: Tạo hình môi lớn
Hình. 6-3 Tạo hinh môi lớn. A, Hình ảnh trước phẫu thuật B, Đường rạch. C, Cầm máu. D,
Đóng theo từng lớp. E, Hình ảnh ngay sau phẫu thuật F, Hai tháng sau phẫu thuật. Kỹ thuật
này có xu hướng gây bầm tím nhiều hơn ở vị trí phẫu thuật, so với phẫu thuật tạo hình môi
bé. Đảm bảo cầm máu hoàn toàn trước khi đóng da. Việc sử dụng túi nước đá và các biện
pháp làm mát sau phẫu thuật mang lại cảm giác thoải mái và giảm bầm tím.
75
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Chúng ta chỉ cần cắt bỏ phần da thừa
ở những bệnh nhân không có quá nhiều tổ
chức mỡ dưới da. Thông thường, chỉ có 1
lượng nhỏ chất béo nằm dưới da môi lớn,
và ngay dưới lớp mỡ mỏng đó sẽ là tổ chức
cân mạc. Tuy nhiên, 1 số trường hợp có
phần chất béo dưới da nhiều, không cân
đối thì chúng ta có thể sử dụng RF để bốc
hơi chúng hoặc đốt điện để ‘gọt’ mỏng tổ
chức và ‘cố định’ tổ chức phía dưới. Trong
các trường hợp đặc biệt, có khi phải đi qua
lớp cân mạc dưới da để loại bỏ lượng mỡ
nếu việc lấy bỏ phần chất béo phía trên là
chưa đủ. Việc này yêu cầu vô cảm tốt hơn,
thủ thuật phải được thực hiện tại các trung
tâm phẫu thuật lớn có kíp gây mê giàu kinh
nghiệm, vì các đệm mỡ chứa nhiều đầu dây
thần kinh nên khó có thể ‘quản lý’ tốt nếu
chỉ ở phòng khám.
Web (một hoặc cả hai bên) nằm giữa
môi lớn và môi bé có thể được xử lý ngay
trong phẫu thuật giảm môi. Trong quá trình
thực hiện PTTH môi âm hộ toàn diện này,
có thể kết hợp tạo hình môi lớn với giảm
mũ âm vật và tạo hình môi bé. Khử biểu
mô ở mặt ngoài mũ âm vật có thể kết hợp
với các kỹ thuật bổ trợ như Z plasty để điều
chỉnh nếp da thừa giữa môi lớn và môi bé.
Kỹ thuật này yêu cầu phải nối được hãm
âm vật với môi lớn. Do đó cần để lại đoạn
hãm âm vật dài khoảng 1-2 cm dưới âm vật
để tạo ‘sự chuyển tiếp’ mềm mại từ mũ âm
vật tới hãm âm vật và tới môi lớn. Phương
pháp này giúp ‘làm phẳng’ phần mũ âm vật
‘nhô’ ra ngoài. Các thiết bị như Ellman RF
(Ellman International, Hicksville, NY) đã
chứng minh được tính ưu việt của chúng
trong PTTM tạo hình môi lớn, giúp tối thiểu
hóa tác động nhiệt từ dụng cụ phẫu thuật
và đồng thời thúc đẩy quá trình lành vết mổ.
Hơn nữa, sự chính xác gần như tuyệt đối
khi sử dụng thiết bị này phù hợp cho các
phẫu thuật tổ chức nhỏ như phức hợp mũ
âm vật, đồng thời tránh được tổn thương
mô và thần kinh. Năng lượng RF cũng có
thể sử dụng để ‘gọt’ tổ chức mỡ dư thừa ở
dưới da, giúp giảm kích thước môi lớn và
để thu nhỏ mặt ngoài mũ âm vật, giúp tạo
sự chuyển tiếp ‘mềm mại’ và giảm độ ‘nhô’
của mũ, tương tự như laser CO2. Cách tiếp
cận kết hợp này, được gọi là phẫu thuật tạo
hình môi âm hộ toàn diện, chỉ nên được chỉ
định và thực hiện bởi các Bs PTTM có kinh
nghiệm, trên những bệnh nhân thực sự
thích hợp.
Đóng mép vết mổ sao cho chúng chịu ít
lực nhất là phần quan trọng nhất trong quá
trình phẫu thuật môi (Hình 6-3 D). Đóng da
theo từng lớp giúp ngăn ngừa các khoang
chết, đồng thời giúp giảm thiểu các vết
bầm tím, chảy máu, abscess, và sẹo lớn.
Lớp sâu nhất có thể được đóng lại bằng các
mối khâu rời hoặc mũi đệm vắt lộn trong.
Nên dùng chỉ tự tiêu monocryl 3-0 hoặc 4-0
là tốt nhất, vì chúng giúp hạn chế tình trạng
tự tiêu quá nhanh như khi dùng Vicryl. Tiếp
đó, lớp dưới da nên dùng chỉ tiêu chậm như
Vicryl hoặc Monocryl 4-0 hoặc 5-0 mối rời
để có thể kiểm soát được toàn bộ khoảng
chết và đồng thời giúp cải thiện thẩm
mỹ. Còn lớp ngoài cùng thì nên dùng chỉ
Vicryl mối rời để ngăn tình trạng chọc vào
niêm mạc của các đầu chỉ monocryl sắc
nhọn. Các đường khâu dưới da có thể lành
lại trong 6 tuần sau phẫu thuật. Tuy nhiên
đường khâu sau mổ có thể bị cứng, do đó
nên mát xa hàng ngày trong vòng 2-4 tuần
kết hợp với bôi estrogen tại chỗ để ‘làm
mềm’ vết khâu. Tuy nhiên điều này có thể
mất tới 3 tháng.
Matlock đã phát triển một cách tiếp cận
khác — một phương pháp tạo hình tầng sinh
môn sửa đổi — để giảm độ ‘nhô’ của da môi
lớn lỏng lẻo. Mục tiêu của phương pháp này
là kéo xuống và làm phẳng môi âm hộ lồi
lõm, mang lại một lỗ âm đạo ‘trẻ trung’ hơn
với hình chữ V thay cho hình chữ U ở phần
dưới cùng của lỗ. Một số bác sĩ phẫu thuật
thẩm mỹ đã sử dụng một phương pháp bổ
sung để kéo môi lớn lên trên bằng cách
thực hiện phẫu thuật tạo hình gò mu hoặc
76
Chương 6
Giảm môi âm hộ: Tạo hình môi lớn
phẫu thuật tạo hình bụng sửa đổi (kéo lên
trên) để giảm độ ‘nhô’ của vùng âm hộ phía
dưới. Các quy trình này nên được thực hiện
trước khi phẫu thuật tạo hình môi lớn để tạo
điều kiện đánh giá chính xác tình trạng môi
lớn và ước đoán lượng mô cần loại bỏ. Hút
mỡ ở gò mu sẽ được thực hiện sau, trong
một quy trình riêng biệt vì việc làm này sẽ
dẫn tới phù nề gò mu và có thể ảnh hưởng
tới cả môi lớn.
Thủ thuật bổ sung
Thủ thuật bổ sung có thể được thực
hiện trong quá trình phẫu thuật tạo hình
môi âm hộ bao gồm tạo hình tầng sinh
môn, và tạo hình lỗ âm đạo (từ chữ U thành
chữ V). Nhược điểm của phương pháp này
là tình trạng đau khi giao hợp trong thời
gian ngắn sau phẫu thuật. Phẫu thuật tạo
hình môi bé và thu nhỏ mũ âm vật có thể
được thực hiện sau khi giảm môi lớn. Tốt
nhất là phẫu thuật từ môi lớn tới môi bé và
cuối cùng là mũ âm vật để có thể đánh giá
được tính cân đối và tính toán được lượng
tổ chức ở môi bé cần loại bỏ. Giảm môi lớn
có xu hướng ‘kéo’ môi bé và giúp làm phẳng
1 phần của chúng. Việc giảm môi âm hộ ở
mức vừa phải sẽ tốt hơn là cắt bỏ toàn bộ,
bởi vì hiện tượng kéo môi bé sang hai bên
(sau giảm môi lớn) khiến chúng trông nhỏ
hơn hoặc gần như không nhìn thấy trong
một số trường hợp.
Chăm sóc sau phẫu thuật
Các hướng dẫn chăm sóc sau phẫu
thuật tương tự như các thủ thuật khác.
Bệnh nhân được hướng dẫn hạn chế các
hoạt động có thể làm căng vết mổ để ngăn
ngừa bục chỉ sớm hoặc rách vết khâu. Nên
chú ý không dạng hai chân quá mức để
tránh tình trạng căng vết mổ. Bệnh nhân có
thể đi bộ, nhưng nên tuyệt đối hạn chế các
hoạt động mạnh như tập thể dục, đạp xe,
cưỡi ngựa và bất kỳ môn thể thao nào phải
vận động cường độ cao. Nên áp dụng các
biện pháp làm mát như chườm lạnh để giúp
giảm sưng nề tổ chức và giảm đau. Nên đặt
một túi đá nên vùng phẫu thuật (cứ đặt 20
phút thì nghỉ 20 phút) trong 5 ngày tới 1
tuần sau phẫu thuật.
Vệ sinh và chăm sóc vết mổ hàng ngày:
rửa bằng nước và xà phòng sau đó lau khô.
Bệnh nhân không nên chà xát vùng kín, bơi,
tắm quá lâu, hoặc ngồi trong bồn tắm. Việc
này sẽ làm yếu các mũi khâu, tăng nguy cơ
bục chỉ. Nên thoa kem estradiol hàng ngày
ở vùng phẫu thuật để giúp chữa lành và
ngăn không cho quần áo dính vào vết mổ.
Sử dụng kem bôi âm đạo estrogen có
thể giúp thúc đẩy quá trình lành vết mổ,
nhưng chưa có nghiên cứu có nhóm chứng
nào chứng minh tính ưu việt của chúng. Một
số bác sĩ phẫu thuật ủng hộ việc bôi kem
collagen để hỗ trợ chữa lành vết thương.
Thuốc kháng sinh sau phẫu thuật đã được
sử dụng rộng rãi, nhưng không có sự thống
nhất về thời gian và loại kháng sinh sử
dụng. Hầu hết các bệnh nhiễm trùng xảy ra
đều có nguồn gốc từ đường tiết niệu. Nếu
cần dùng kháng sinh, thì nên dùng kháng
sinh phổ rộng trong 7 đến 10 ngày sau
phẫu thuật. Bệnh nhân được khám lại 2 và
6 tuần sau phẫu thuật. Các hoạt động như
tập thể dục và quan hệ tình dục có thể bắt
đầu lại từ 6 đến 8 tuần sau phẫu thuật.
Kết quả
Di Saia đã thực hiện một ca giảm môi
bé và môi lớn ở một phụ nữ 42 tuổi muốn
cải thiện thẩm mỹ. Bs đã lên kế hoạch phẫu
thuật thành 2 giai đoạn, bắt đầu giảm môi
lớn trước. Bệnh nhân sau phẫu thuật xuất
hiện khối máu tụ và đã được xử trí. Tình
trạng quá mẫn cảm ở vùng tiếp xúc của cơ
quan sinh dục sẽ hết sau khoảng 4 đến 6
tuần, nên giải thích với họ ngay sau phẫu
thuật. Tạo hình môi bé được thực hiện 4
tháng sau đó, và 6 tuần sau phẫu thuật,
bệnh nhân đã cảm thấy hài lòng với kết quả.
Trong một báo cáo trường hợp hiếm gặp,
Miklos và Moore đã thực hiện đồng thời
77
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
phẫu thuật tạo hình môi lớn và bé ở một
phụ nữ có biểu hiện phì đại môi âm hộ toàn
bộ. Cuộc phẫu thuật diễn ra thành công, và
không có biến chứng nghiêm trọng.
Trong loạt bài của tôi được báo cáo vào
năm 2011, 100 phụ nữ với độ tuổi trung
bình là 45 đã được PTTH môi âm hộ bằng
kỹ thuật tạo hình đường cong (chương 5)
vơi sự hài lòng là 98% và không có biến
chứng nào nghiêm trọng. Có hai bệnh nhân
không hài lòng với kết quả và yêu cầu cắt
bỏ thêm mô. Thủ thuật một lần nữa được
thực hiện và cả hai bệnh nhân đều vô cùng
hài lòng với kết quả hậu phẫu. Hai bệnh
nhân khác đã phải khâu lại vết mổ (do bục
chỉ) nhưng không có dấu hiệu nhiễm trùng
và mất máu chỉ khoảng 10 ml. Tất cả các
quy trình trong loạt bài này được thực hiện
tại phòng khám bằng tê tại chỗ. Không cần
tiêm tĩnh mạch và tất cả các loại thuốc đều
được dùng dưới dạng kem, uống hoặc tiêm
bắp. Thể tích thuốc tê tại chỗ trung bình
được sử dụng là 4 ml cho phẫu thuật tạo
hình môi bé, 7 ml cho phẫu thuật tạo hình
môi lớn và 15 ml cho liệu pháp kết hợp 2
kỹ thuật này. Chảy máu nhiều hơn (50 đến
100 ml) khi có kèm kỹ thuật lọc bỏ tổ chức
mỡ. Không có bệnh nhân nào xuất hiện
tình trạng giao hợp đau kéo dài. Không có
tác dụng phụ của gây mê nào xảy ra ngoại
trừ trường hợp hiếm gặp xuất hiện phản xạ
phế vị (thoáng qua) sau phẫu thuật. Những
bệnh nhân này được cho là có tình trạng
giảm thể tích, tuy nhiên có thể bù trừ tốt
bằng đường uống mà không cần can thiệp
gì thêm.
Nói chung, phẫu thuật môi âm hộ gặp
khá ít biến chứng với tỉ lệ bệnh nhân hài
lòng cao. Trong loạt bài của tôi, tình trạng
tách vết mổ và yêu cầu các thủ thuật chỉnh
sửa thường xảy ra với phẫu thuật tạo hình
môi bé nhiều hơn môi lớn. Các bệnh nhân
thường thấy tự tin và thoải mái hơn sau
phẫu thuật tạo hình môi lớn. Kết quả có thể
rất ấn tượng về mặt thẩm mỹ khi phẫu thuật
môi lớn được kết hợp với phẫu thuật môi bé
và phẫu thuật tạo hình âm đạo / tầng sinh
môn (Hình 6-4 và 6-5) và lọc bỏ lớp mỡ dưới
da ở 1 số trường hợp (Hình 6-6 và 6-7).
Hình. 6-4 Ví dụ về phẫu thuật tạo hình môi lớn và môi bé kết hợp. A Hình ảnh trước phẫu
thuật, B Hình ảnh sau phẫu thuật 2 tháng.
78
Chương 6
Giảm môi âm hộ: Tạo hình môi lớn
Hình. 6-5 Bệnh nhân này đã được thực hiện phẫu thuật giảm môi lớn (to và thừa da), với
một ‘ngoại hình’ ‘trẻ trung’ hơn khi nhìn từ phía sau. A: Hình ảnh trước phẫu thuật và B:
Hình ảnh sau phẫu thuật 2 tháng.
Hình. 6-6 A, Hình ảnh trước phẫu thuật, B: Sau phẫu thuật 2 tháng.
Hình. 6-7 A, Hình ảnh trước phẫu thuật lọc bỏ mỡ dưới da và B: sau phẫu thuật 2 tháng.
79
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Biến chứng
Các biến chứng sau phẫu thuật liên quan
đến tạo hình môi bao gồm đau mức độ nhẹ
đến trung bình, chảy máu, bầm tím, phù
nề (thoáng qua) và quá mẫn cảm (thoáng
qua) trong 4 trong 6 tuần. Chườm lạnh và
thuốc an thần đường uống giúp giảm phù
nề và khó chịu. Lượng máu mất trung bình
cho phẫu thuật tạo hình môi lớn là 5 đến
10 ml. Biến chứng chảy máu mà tác giả Di
Saia quan sát thấy sau giai đoạn một của
phẫu thuật tạo hình môi âm hộ không ảnh
hưởng tới quá trình liền vết mổ. Trong loạt
bài của tôi, biến chứng phổ biến nhất là bục
chỉ sớm ở 5% bệnh nhân do hoạt động thể
chất kéo căng mép vết mổ, do đó cần phải
khâu lại. Việc tuân thủ nghiêm ngặt chế độ
chăm sóc sau phẫu thuật trong khoảng 4
đến 6 tuần là rất quan trọng.
Việc thít quá chặt các mối khâu rời có
thể dẫn đến rách mép môi, với các đường
ngang có thể nhìn thấy bằng mắt thường.
Tình trạng này càng trở nên tồi tệ hơn trong
giai đoạn phù nề vết mổ. Lông mu mọc dài
nằm giữa rãnh môi lớn và bé có thể gây
khó chịu và cần phải điều trị. Phương pháp
triệt lông bằng ánh sáng xung cường độ
cao / bằng laser có thể giải quyết vấn đề
này ở những người không cạo lông mu. Đây
không phải là vấn đề đối với những phụ nữ
thường xuyên cạo hoặc tẩy lông vùng kín.
e-bacsy.com
Chương 7
Kỹ thuật tạo hình mũ âm vật
Charles Runels
81
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Những điểm chính
• Giảm mũ âm vật (CHR) hiếm khi được
coi như một thủ thuật riêng biệt.
• CHR thường được thực hiện cùng với
các kỹ thuật giảm môi âm hộ (môi bé).
• Những thay đổi/cải thiện chức năng
sinh lý và đời sống tình dục sau thực
hiện CHR chưa được biết rõ.
• CHR thường được coi là 1 thủ thuật
thẩm mỹ thay vì là 1 thủ thuật trị liệu.
• CHR nên được phân biệt rõ với các thủ
thuật liên quan đến âm vật.
• Thủ thuật này không phải là cắt bộ
phận sinh dục nữ, cũng không phải là
khóa giao hợp, hoặc các hủ tục khác
theo văn hóa/tín ngưỡng tôn giáo khu
vực.
Chỉ định và chống chỉ định
Những vấn đề thường gặp
CHR là một thủ thuật thường bị nhầm
với cắt bỏ mũ âm vật, tạo hình âm vật, cố
định mũ âm vật, gỡ dính mũ âm vật với âm
vật. Chúng ta nên hiểu và phân biệt rõ các
khái niệm quy đầu âm vật, thể hang âm vật
và bao âm vật để có thể hiểu được sự khác
biệt giữa các thủ thuật. Cụ thể, mũ âm vật
là bao âm vật, chúng tương tự như bao quy
đầu ở nam giới. Chúng tôi đã cố ý không sử
dụng thuật ngữ cắt bao quy đầu để tránh
nhầm lẫn và tránh ý hiểu tiêu cực (cắt cụt
âm vật). Mũ âm vật tách biệt hẳn so với âm
vật, và trong chương này chỉ đề cập tới CHR
mà không có bất kỳ thủ thuật nào liên quan
tới âm vật. Nói chung, có rất ít nghiên cứu
công bố về thủ thuật này cũng như biến
chứng sau thực hiện chúng. Điều này có
thể giải thích là do phần lớn những trường
hợp thực hiện thủ thuật này được kết hợp
trong các kỹ thuật giảm môi âm hộ, và do
đó ít được đề cập. CHR chủ yếu được chỉ
định vì mục đích thẩm mỹ và thường chỉ
là cắt bỏ phần da thừa. Các thủ thuật khác
thực hiện trên âm vật có đi cùng với tạo
hình mũ âm vật bao gồm:
• Cố định âm vật
• Giảm âm vật (tạo hình âm vật) trong
những trường hợp có âm vật lớn bất
thường như trong bệnh lý tăng sản
tuyến thượng thận bẩm sinh, mơ hồ
CQSD, giả lưỡng tính nữ, chứng to âm
vật, phì đại âm vật và chứng nam hóa
bộ phận sinh dục.
• Bóc tách âm vật, thường là hậu quả của
lichen xơ hóa.
Trong những phẫu thuật trên, một phần
của mũ âm vật có thể bị cắt bỏ trong giai
đoạn tái cấu trúc phức hợp âm vật – mũ
âm vật. CHR nên được phân biệt với các
thủ thuật cắt bỏ BPSD nữ như khóa giao
hợp, cắt bỏ âm vật – thủ thuật được coi
như một đặc trưng của nền văn hóa hoặc
tín ngưỡng tôn giáo. Mặc dù xỏ lỗ ở BPSD
thường được thực hiện ở mũ âm vật, nhưng
việc này không làm giảm mũ âm vật được,
mà cần tới một phẫu thuật chuyên biệt hơn,
chính là CHR.
Đặc điểm giải phẫu
Mặc dù các BS PTTM BPSD nữ đều
được học cách đánh giá ranh giới và mức
độ ‘nhô’ của mũ âm vật trên lâm sàng, y văn
lại rất ít tài liệu chính thống về cách đánh
giá này. Một số tác giả đã gọi phần mũ âm
vật (bao âm vật) là phần trước nhất (cao
nhất) hoặc phần phân chia 2 môi bé. Mũ
âm vật có hình thể rất khác biệt giữa các cá
thể, với bề mặt nhẵn hoặc xuất hiện các nếp
gấp bất thường/gồ ghề, và do đó dẫn tới
tình trạng hai nửa không đối xứng với nhau.
Hầu hết các nhà giải phẫu học coi phần bờ
tự do của mũ âm vật là mũ, phần còn lại lại
được gọi bằng một thuật ngữ khác. Các BS
PTTM coi mũ âm vật là phần mở rộng ra
82
Chương 7
Kỹ thuật tạo hình mũ âm vật
phía trước và phía trên của âm vật, hướng
tới rãnh gian môi. Bờ dưới chính là bờ tự do
của mũ âm vật và mở rộng xuống dưới tiếp
điểm của chính nó với môi bé. Đây đóng
vai trò là điểm xác định hãm âm vật - một
phần của môi bé – tiếp nối với âm vật, bắt
đầu từ đường giữa chạy sang hai bên tới vị
trí môi bé. Một số tác giả cho rằng hãm âm
vật chính là điểm tiếp nối với các cấu trúc
phía dưới của mũ âm vật, và việc không tôn
trọng mốc giải phẫu này có thể dẫn tới biến
dạng mũ âm vật khi phẫu thuật tạo hình
môi.
Bên cạnh đó, mũ âm vật được bao bởi
rãnh liên môi (Hình 7-1). Chiều dài của mũ
âm vật được đo từ điểm trên cùng rãnh gian
môi tới đầu xa của bao âm vật, thẳng theo
đường dọc giữa cơ thể, dao động trung bình
từ 2 tới 6 cm. Độ ‘nhô’ của mũ âm vật rất đa
dạng và tùy theo kích thước âm vật (một số
âm vật có thể lớn như một dương vật ‘nhỏ’).
Hình. 7-1 A, Da mũ âm vật được kéo ra, để bộc lộ âm vật và hãm âm vật. B, Vị trí được coi
là tiêu chuẩn của một mũ âm vật (đường màu đỏ là ranh giới).
Hình. 7-1, (tiếp) C, Cũng bệnh nhân đó nhưng trước phẫu thuật tạo hình mũ âm vật. D, Khu
vực được đánh dấu là vùng thực hiện thủ thuật CHR.
83
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Tĩnh mạch nông
Bó mạch mặt lưng của
âm vật
Thể hang và mạch máu
Cân nông (Cân Dartos)
Da
Cân sâu (Cân Buck)
Bao trắng
Vách thể hang
Hình. 7-2 Lát cắt ngang qua thân âm vật
Độ dày được coi là tiêu chí đánh giá về
mặt chức năng của da, mô dưới da và mạc
dartos của âm vật. Các lớp từ nông đến
sâu của âm vật bao gồm da, mô dưới da,
mạc Dartos, mạc Buck và dây treo âm vật,
bó mạch thần kinh, bao trắng và thể hang
(Hình 7-2).
Thông thường, quy đầu âm vật sẽ nhô
ra ngoài một chút so với mũ âm vật, độ nhô
có thể thay đổi ở từng cá thể. Trong trường
hợp mũ âm vật lớn, bao trùm toàn bộ quy
đầu âm vật dù cho nguyên nhân là gì thì
cũng cần tới phẫu thuật hoặc các thủ thuật
chỉnh sửa.
Chi phối cho âm vật và mũ âm vật chủ
yếu là bó mạch thần kinh mặt lưng âm vật,
dây này đi qua đáy chậu một đoạn 2.4 tới 3
cm tới cạnh lỗ niệu đạo (Hình 7-3). Nó cũng
đi qua đáy chậu, tới vị trí cách ngành chậu
mu đoạn 1.8 tới 2.2 cm, nơi nó chuyển ra
mặt trước ngoài thân âm vật, vào sâu tới
cân Buck, một đoạn 2.0 tới 2.5 cm. Do đó,
các Bs phẫu thuật nên thận trọng khi phẫu
thuật tới cân Buck và phía hai bên mũ âm
vật, hạn chế can thiệp sâu tới vị trí rãnh
gian môi gần lỗ niệu đạo. Mặc dù có ít các
nghiên cứu về giải phẫu người ở vùng này,
chúng ta vẫn nên biết rằng mặt dưới của
bao âm vật có rất nhiều thụ thể cảm giác,
và bất kỳ phẫu thuật nào liên quan tới vùng
này đều không được khuyến khích trừ khi
được chỉ định rõ ràng như trong bệnh lichen
xơ hóa.
Chức năng của bao âm vật vẫn chưa
được hiểu rõ, nhưng cơ bản chúng giúp bảo
vệ âm vật, các tuyến ngoại tiết sinh dục, và
giữ ẩm cho các tuyến, rãnh tuyến này.
84
Chương 7
Kỹ thuật tạo hình mũ âm vật
Khớp mu
Quy đầu âm vật
Lỗ niệu đạo
Hành tiền đình
Lỗ âm đạo
Xương ngồi
Trụ âm vật
Thể hang
Bó mạch mặt lưng
của âm vật
Lỗ hậu môn
Hình. 7-3 A, Cấu trúc âm vật và tương quan giữa xương mu và thần kinh thẹn cùng các
nhánh cảm giác của mũ âm vật. B, Nhánh cảm giác của âm hộ và tương quan với các cơ
đáy chậu
Thần kinh thẹn
Thần kinh mặt lưng của
môi âm hộ (TK thẹn)
Thần kinh bì đùi sau,
nhánh cho đáy chậu
Thần kinh bì đùi sau
Thần kinh thẹn
TK trực tràng sau
(TK thẹn)
Thần kinh đáy chậu
(tách từ TK thẹn)
Thần kinh thẹn
85
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Chỉ định
Các mục tiêu của phẫu thuật bao gồm
loại bỏ và làm giảm phần bao âm vật thừa
hoặc nhô ra ngoài quá mức. Tuy nhiên, các
chỉ định cụ thể khá mơ hồ. Hogkinson và
Hait đã thấy rằng những phụ nữ có thể yêu
cầu PTTM BPSDN, những người cảm thấy
rằng việc để lộ âm vật ra ngoài mũ âm vật
mới là tiêu chuẩn của BPSD bình thường,
hoặc việc giảm mũ âm vật có thể cải thiện
thẩm mỹ BPSDN của họ. Tuy nhiên, quy
trình mà chính họ mô tả lại không đạt được
yêu cầu này của bệnh nhân. Sau đó, Alter
đã sửa đổi định nghĩa về BPSDN lý tưởng,
nói rằng hình ảnh lý tưởng là môi bé và mũ
âm vật không nhô ra ngoài so với môi lớn.
Ông đề cập đến bản chất của thủ thuật, khi
nhấn mạnh rằng chúng nhằm mục đích loại
bỏ phần môi âm hộ và mũ âm vật ‘dư thừa’
(nếu bệnh nhân muốn). Và chính vì tùy từng
mong muốn của bệnh nhân như thể mà chỉ
định cho thủ thuật này cũng rất linh hoạt.
Ở những bài báo khác, ông tuyên bố rằng
thực hiện thủ thuật cho phép loại bỏ phần
lớn tổ chức ‘khó coi’, giúp cải thiện thẩm mỹ
và đôi khi là chức năng, nhưng lại không nói
rõ là cải thiện chức năng gì! Gress đã cho
rằng mục đích của việc phẫu thuật là đáp
ứng được nhu cầu của bệnh nhân và cân
bằng với tình trạng thực tế. Goodman cho
rằng CHR nhằm mục đích tăng khả năng
tiếp xúc của thân âm vật với dương vật khi
quan hệ, giúp cải thiện kích thích tình dục
(trên lý thuyết) nhưng không chứng minh
được trên thực tế, do đó ông đã chỉnh sửa
chỉ định thành phục vụ mục đích thẩm mỹ.
De Alencar Felicio nói rằng với CHR, âm
vật sẽ được ‘bộc lộ’; tuy nhiên, Hunter đã
bày tỏ sự bất đồng của mình về ý kiến này,
và tuyên bố rằng các Bs phẫu thuật không
bao giờ được bộc lộ âm vật. Hamori đã chỉ
định những trường hợp thực hiện CHR bao
gồm mũ âm vật nhô ra ngoài so với môi lớn,
hoặc vượt quá chiều rộng vùng giữa môi
lớn hai bên. Cô ấy cũng đã thảo luận với
bệnh nhân, họ nói rằng muốn có một môi
bé và mũ âm vật nhỏ. Kết hợp với tiêu chí
lâm sàng là quy đầu âm vật không được lộ
ra ngoài mũ âm vật, cô ấy sẽ đưa ra chiến
lược điều trị riêng cho từng bệnh nhân.
Ostrzenski đã phân biệt mũ âm vật dài
và mũ âm vật dày. Một mũ âm vật dài sẽ
được điều trị phẫu thuật sao cho quy đầu
âm vật sẽ lộ ra 1 đoạn dài khoảng 3-5 mm,
thông qua kỹ thuật thủy tách với tạo hình
chữ V ngược. Bệnh nhân thường có những
phàn nàn về đời sống tình dục cũng như
ảnh hưởng tâm lý khi có mũ âm vật quá dài,
các vấn đề vệ sinh, sự khó chịu,… Những
trường hợp này sẽ được chỉ định phẫu thuật
trên, tuy nhiên hiệu quả của phương pháp
này còn đang gây tránh cãi. Benson đã
thảo luận về những đối tượng sẽ phù hợp
cho thủ thuật này (Bảng 7-1). Các vấn đề về
cải thiện thẩm mỹ ‘vẻ ngoài’, bờ viền và các
nếp bất thường ít được đề cập hơn.
86
Chương 7
Kỹ thuật tạo hình mũ âm vật
Phù hợp
Không phù hợp
Không đạt cực khoái
Bệnh nhân cũng sẽ hài lòng sau phẫu thuật
mặc dù có thể chưa đạt đến cao trào, nếu
không có vấn đề về cảm xúc.
Tránh phẫu thuật nếu nghi ngờ có bất thường
xúc cảm, vấn đề tâm lý, tâm thần.
Bệnh nhân có những đặc điểm sau:
Bệnh nhân có thể đạt cực khoái với tư thế cơ
bản.
Bệnh nhân có thể đạt cực khoái chỉ với quan hệ
đơn thuần mà không có kích thích khác.
Cực khoái chậm hoặc không rõ
Bệnh nhân thường sẽ hài lòng sau phẫu thuật,
vì tốc độ đạt đến cực khoái nhanh hơn, cũng
như rõ ràng hơn.
Không ảnh hưởng tới đời sống tình dục
Nên tránh những phẫu thuật không cần thiết.
Đạt cực khoái nhưng phải dùng tay/miệng/máy
rung hoặc tư thế
Bệnh nhân thường sẽ hài lòng sau phẫu thuật
nhưng vẫn cần tăng tốc độ và cường độ kích
thích.
Tần suất hoạt động tình dục thấp
Nếu vấn đề của bệnh nhân nằm ở yếu tố tâm
lý hoặc suy giảm hormone sinh dục, việc phẫu
thuật sẽ không đem lại hiệu quả.
Đau âm vật
Cơn đau sẽ được giải quyết do tình trạng viêm
mạn hoặc viêm dính được điều trị.
Mong muốn đạt cực khoái ‘hơn nữa’
Nên tránh phẫu thuật ở những bệnh nhân này,
mặc dù kết quả này có thể đạt được sau phẫu
thuật, tuy nhiên con số này rất nhỏ
Bệnh nhân tạo hình môi âm hộ
Bệnh nhân sẽ hài lòng với hình dạng, bờ viền
mũ âm vật được cải thiện.
Mãn kinh
Vấn đề này liên quan đến nồng độ hormone.
Sẹo lichen xơ hóa
Tình trạng này hầu như sẽ tái phát sau vài
tháng, nên việc phẫu thuật dường như vô ích.
Body Modifiers
Nên tránh phẫu thuật trong những trường hợp
này vì hầu như không có kết quả.
Bảng 7-1 Bệnh nhân phù hợp và không phù hợp với phẫu thuật giảm mũ âm vật
Gần như bất kỳ ai có nguyện vọng có thể
thực hiện được thì đều là ‘ứng cử viên’ cho
thủ thuật tự chọn. Một số tác giả đã mô
tả tình trạng mũ âm vật bị biến dạng sau
phẫu thuật môi âm hộ. Hamori đã báo cáo
rằng phương pháp giảm môi kiểu trim có
thể làm giảm môi bé một cách tương đối
so với mũ âm vật đã ‘nhô’ ra từ trước đó,
khiến cho chúng càng lộ ra nhiều hơn, tạo
cảm giác về hình ảnh “dương vật nhỏ”. Tuy
nhiên, tác giả đã không bình luận về việc
liệu giảm mũ âm vật có nên là 1 bước trong
quy trình giảm môi âm hộ hay không, như
cách mà các Bs phẫu thuật khác vẫn làm.
Điều này có thể thực hiện cùng với kỹ thuật
giảm môi kiểu wedge (được gọi là cắt kiểu
wedge phía dưới và tái tạo cuống vạt phía
trên), dẫn tới việc BS Alter đối tên thành kỹ
87
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
thuật cắt kiểu wedge trung tâm mở rộng.
Ông nói rằng phần cắt bỏ sẽ bao gồm cả
phần mũ âm vật phía bên ngoài (nếu bệnh
nhân yêu cầu). Trong phần thảo luận của
mính, Alter nhận xét rằng kỹ thuật trim có
thể dẫn tới hãm âm vật bị cắt cụt và mũ âm
vật lộ ra nhiều hơn. Cắt bỏ mũ âm vật được
thực hiện ngay sau kỹ thuật cắt kiểu wedge
trung tâm hoặc cách khác là cắt bỏ bằng
đường rạch elip độc lập với kỹ thuật giảm
môi, nhưng tất nhiên được thực hiện trong
cùng 1 cuộc mổ. Xem hình 10-18 trong
chương 10 (Biến chứng phẫu thuật thẩm
mỹ vùng kín) để biết thêm thông tin chi tiết.
Chống chỉ định
Chống chỉ định đối với CHR bao gồm
những kỳ vọng không thực tế của bệnh
nhân hoặc các bất thường về tâm lý, chức
năng tình dục không được điều trị, bệnh
nhân chưa hiểu rõ về phẫu thuật, nhiễm
trùng âm đạo đang hoạt động, các tình
trạng viêm âm hộ đang hoạt động, rối loạn
đông máu, và bệnh nhân đang hút thuốc.
Đánh giá bệnh nhân
Đánh giá bất thường giải phẫu
Mặc dù các phương pháp sàng lọc cho
bệnh nhân PTTH BPSD nữ đã được mô tả,
bao gồm đánh giá truyền thống và khảo sát
chức năng tình dục (đặc biệt rối loạn khả
năng đạt cực khoái), nhưng không có công
cụ nào được thiết lập để đánh giá các ‘ứng
cử viên’ phù hợp cho thủ thuật CHR. Bởi vì
phẫu thuật hiếm khi được thực hiện như 1
thủ tục riêng biệt,
Đánh giá thường được thực hiện theo
tiêu chuẩn phẫu thuật giảm môi âm hộ (vì
được phẫu thuật chung). Hamori gợi ý rằng
độ thừa của da mũ âm vật nên được đánh
giá ở tư thế đứng, nên chú ý tới độ dày và
lượng mô thừa so với môi âm hộ, các nếp
gấp bất thường, sự đối xứng, khoảng cách
khe môi trước, và những phẫu thuật đã được
thực hiện trước đó (đặc biệt là phẫu thuật
trim), âm vật cũng sẽ được quan sát để loại
trừ bệnh lý to âm vật. Vì kỹ thuật Gress có
thể ảnh hưởng tới độ nhô của âm vật, ông
đã đưa ra đề nghị phân tích kỹ tương quan
giữa quy đầu âm vật, thân âm vật với mũ
âm vật để xác định xem phần quy đầu âm
vật được lộ ra nhiều hay ít, có tình trạng phì
đại quy đầu âm vật hay không…trước phẫu
thuật để có thể xây dựng chiến lược điều trị
toàn diện. Nên đo khoảng cách từ quy đầu
âm vật tới lỗ niệu đạo, khoảng cách này
nếu bình thường thì tối thiểu là 1.5mm.
Cần đánh giá xem có tình trạng dính mũ
âm vật với quy đầu hay không, có hẹp bao
quy đầu không, có sẹo, xỏ lỗ, chấn thương,
đau hoặc loạn cảm giác vùng này không.
Âm vật và mũ âm vật không có hình dạng
chuẩn, và các biến thể giải phẫu cũng rất
đa dạng. Ostrzenski đã đề xuất một phân
loại mũ âm vật được áp dụng trong việc
định hướng chiến lược điều trị như sau:
Dính với nhau như trong bệnh lichen xơ hóa
(Loại 1), phì đại (Loại 2) và phì đại và không
đối xứng (Loại 3).
Lên kế hoạch và chuẩn bị
Như với tất cả các kế hoạch phẫu thuật
khác, nên nắm được nguyện vọng của bệnh
nhân và đưa ra tư vấn dựa trên tình trạng
thực tế. Sau khi khai thác tiền sử, bệnh sử
đầy đủ và khám lâm sàng (đánh giá tình
trạng tâm lý, phụ khoa và đời sống tình dục)
có thể thực hiện bởi các Bs chuyên khoa.
Có thể tiến hành điều trị ngay nếu thấy có
vấn đề, vd như Bs tâm thần sẽ thực hiện
liệu pháp nhận thức hành vi để điều trị tâm
lý cho bệnh nhân, Bs phụ khoa sẽ đánh giá
kỹ chức năng tình dục và việc này có vai trò
quan trọng không kém hơn bất kỳ đánh giá
về giải phẫu hoặc thẩm mỹ nào. Hiệp hội
BS sản phụ khoa Canada đã đề nghị các
88
Chương 7
Kỹ thuật tạo hình mũ âm vật
BN dưới 16 tuổi nên hoãn lại phẫu thuật
cho tới khi phát triển BPSDN toàn diện.
Bệnh nhân cần được thông báo về quy trình
phẫu thuật cũng như các rủi ro, lợi ích và
lựa chọn thay thế sao cho hạn chế tối đa
tổn hại cho bệnh nhân.
Khi thảo luận về vai trò và mục tiêu của
thủ thuật, bác sĩ nên thông báo cho bệnh
nhân rằng ngoại hình bình thường có thể
rất khác nhau giữa mỗi cá thể và việc sửa
chữa có thể không đem lại lợi ích rõ ràng.
Nên chú ý tới tình trạng bất đối xứng và giải
phẫu chức năng vùng.
Mô tả kỹ thuật
Lịch sử
Trong y văn, hầu hết các kỹ thuật giảm
mũ âm vật được mô tả một cách mơ hồ và
theo lý thuyết được coi là một phương pháp
hỗ trợ sau khi thực hiện giảm môi âm hộ.
Trong lịch sử, việc điều trị chứng to âm vật
luôn có 1 bước là giảm mũ âm vật, và dần
dần người ta để ý đến chúng, coi chúng như
1 kỹ thuật riêng biệt.
Khe/Mép môi trước
Mũ âm vật
Khớp nối: Mũ âm vật, hãm
âm vật và môi bé
Âm vật
Lỗ niệu đạo
Bờ tự do của mũ âm vật
Môi bé
Hãm âm vật
Môi lớn
Lỗ âm đạo
Mép môi sau
Vùng cắt nhỏ
Đường giữa
Đường cắt ở mặt đối diện
Đo chiều dài/rộng
Hình. 7-4 Giải phẫu bộ phận sinh dục nữ
89
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 7-5 CHR được mô tả bởi tác giả Graves, là một phần
của phẫu thuật điều trị to âm vật.
Vùng cắt nhỏ
Đường giữa
Đường cắt ở mặt đối diện
Đo chiều dài/rộng
Đối với chỉ định thẩm mỹ, các nghiên
cứu chỉ mới được báo cáo gần đây. Năm
2005, Alter lần đầu tiên mô tả kỹ thuật
của ông về việc kết hợp cắt kiểu wedge
với giảm môi âm hộ bằng đường cắt hình
chữ V ngược để giảm thiểu hiện tượng mà
chúng ta vẫn gọi là tai chó ở hai bên mũ
âm vật. Tuy nhiên, phần tổ chức dưới da
mũ âm vật không được cắt bỏ (Hình 7-6).
Giải quyết phần mũ âm vật này là một cải
tiến trong các kỹ thuật trước đây mà ông
đã báo cáo, kỹ thuật giảm môi âm hộ đơn
thuần. Năm 2006, Gress đã cung cấp hình
ảnh minh họa và tài liệu ảnh đầu tiên sử
dụng kỹ thuật giảm môi âm hộ kết hợp, tức
là giảm môi âm hộ cả ở trên và ở dưới âm
vật bằng kỹ thuật trim cải tiển (Hình 7-7).
90
Chương 7
Kỹ thuật tạo hình mũ âm vật
Vùng cắt nhỏ
Đường giữa
Đường cắt ở mặt đối diện
Đo chiều dài/rộng
Vùng cắt nhỏ
Đường giữa
Đường cắt ở mặt đối diện
Đo chiều dài/rộng
Hình 7-6: CHR được mô tả bởi Alter như một bước trong
phẫu thuật giảm môi kiểu wedge.
Hình 7-7: CHR được mô tả bởi Gress như 1 bước trong phẫu
thuật giảm môi âm hộ.
91
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Vùng cắt nhỏ
Đường giữa
Đường cắt ở mặt đối diện
Đo chiều dài/rộng
Hình 7-8 CHR được mô tả bởi tác giả de Alencar Felicio.
Trong năm 2007 và 2008, Alter đã mô
tả chi tiết kỹ thuật mới của ông ấy, trong
đó đường cắt kiểu wedge phía trong mặt
trong được thiết kế theo chiều ngang và
nằm ở ½ trên của môi âm hộ để cắt bỏ
được phần nhô ra nhiều nhất của môi,
đường cắt wedge mặt ngoài, phía ngoài sẽ
hướng cong ra ngoài và ra trước (hockey-
stick) để cắt bỏ được phần da môi âm hộ
và mũ âm vật thừa ở mặt ngoài (nếu bệnh
nhân mong muốn). Do đó đường cắt mặt
trong và mặt ngoài của kiểu wedge sẽ
không giống nhau, với phần tổ chức dưới da
được bảo tồn. Chỉ nên cắt bỏ đủ số lượng
mô cần thiết, điều này sẽ giúp đạt được kết
quả thẩm mỹ tốt vì phần tổ chức dưới da
sẽ dễ dàng khâu đóng hơn và do đó, giúp
giảm tỉ lệ tách vết mổ và hình thành đường
dò. Năm 2007, de Alencer Felicio lần đầu
tiên thảo luận về CHR, cắt bỏ mặt ngoài mũ
âm vật với đường cắt hình thoi (Hình 7-8).
Cô ấy đã nhấn mạnh tầm quan trọng của
việc duy trì vị trí mũ âm vật nằm trên mặt
phẳng dọc giữa cơ thể để chúng đối xứng
với môi lớn và môi bé, đồng thời có thể để
lộ quy đầu âm vật dưới mũ. Tuy nhiên, cô
ấy không khuyến khích thực hiện giảm môi
bé và CHR đồng thời vì chúng gây nên tình
trạng phù nề kéo dài.
Năm 2008, Apesos và cộng sự đã mô
tả một ca giảm mũ âm vật hình chêm (chữ
V ngược hoặc chữ V ở giữa đỉnh mũ, đỉnh
hình chữ V đó nằm hướng lên vị trí của
mép môi trên) (Hình 7-9). Những người ủng
hộ cho rằng việc này có thể giúp ‘thu hẹp’
khoảng cách giữa hai môi lớn ở vùng mép
môi trên. Vào năm 2013, Gress đã hoàn
thiện hơn kỹ thuật ban đầu của chính ông
bằng việc thực hiện một đường cắt hình
lưỡi liềm nằm ngang nằm ngay dưới âm vật
nhưng ở trên lỗ niệu đạo, kết hợp cùng với
giảm môi âm hộ trước đó thì sẽ điều chỉnh
được độ nhô của mũ âm vật (Hình 7-10).
Hamori đã đưa ra hai cách tiếp cận CHR
trong bài báo của cô ấy để giải quyết biến
chứng biến dạng mũ âm vật sau phẫu thuật.
Cách thứ nhất là cắt bỏ phần da mũ âm vật
thừa bằng một đường hình chữ V ngược ở
mặt lưng mũ. Không giống như đường cắt
của tác giả Apesos, đường cắt này có tâm
điểm thấp hơn, và khá giống với mô tả của
tác giả Graves trong điều trị chứng âm vật
to (Hình 7-5 trên).
92
Chương 7
Kỹ thuật tạo hình mũ âm vật
Vùng cắt nhỏ
Đường giữa
Đường cắt ở mặt đối diện
Đo chiều dài/rộng
Vùng cắt nhỏ
Đường giữa
Đường cắt ở mặt đối diện
Đo chiều dài/rộng
Hình 7-9 Phẫu thuật CHR được mô tả bởi tác giả Apesos.
Hình 7-10 Phẫu thuật CHR sửa đổi, được mô tả bởi BS Gress,
như 1 bước trong phẫu thuật giảm môi âm hộ.