93
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Nên cắt bỏ tổ chức tối thiểu để giảm
khả năng lộ quy đầu âm vật. Các Bs phẫu
thuật khác, như de Alencar Felicio, cũng
đồng thuận với chú ý này nhưng đều không
giải thích được hậu quả có thể xảy đến. Tuy
nhiên, Triana và Robledo giải thích rằng tình
trạng ‘nhô’ ra quá mức của mũ có thể dẫn
đến đau và khó chịu kéo dài khi đi và ngồi.
Phương pháp thứ hai của Hamori thực
chất là các đường cắt hình thoi ở mỗi bên
mũ âm vật, song song với trục của mũ,
nhằm mục đích giảm bớt chiều rộng thay vì
phần da thừa ở mặt lưng. Phương pháp này
tương tự như kỹ thuật của Alencar Felicio
(Hình. 7-8 trên).
Có rất ít tài liệu nói về các kỹ thuật này.
Từ một cuộc khảo sát, chúng tôi nhận thấy
rằng hầu hết các học viên đều sử dụng
cách tiếp cận sau này và thực hiện cắt sao
cho phần thân trên loe rộng ra, giống như
hình chữ X hoặc )( như trong hình 7-11 A.
Tuy nhiên, một số BS phẫu thuật thích các
đường mổ hội tụ với nhau ở phía trên để
giải quyết tình trạng dư thừa mũ âm vật
theo chiều dọc, giống như hình ảnh chữ V
ngược dài hoặc / \. Những người khác sử
dụng một đường cắt ngang như hình chữ H
hoặc )-( để ‘rút ngắn’ mũ âm vật dài (Hình
7-11). Các phương pháp sửa đổi khác cũng
đã được báo cáo nhưng không được mô tả
một cách rõ ràng, ví như cách cắt bỏ hình
móng ngựa của Triana và Robledo.
Vùng cắt nhỏ
Đường giữa
Đường cắt ở mặt đối diện
Đo chiều dài/rộng
Hình 7-11 Các kỹ thuật CHR. A, Đường cắt
hình )(. B, Đường cắt chữ V ngược. C, Đường
cắt hình chữ H.
94
Chương 7
Kỹ thuật tạo hình mũ âm vật
Các vấn đề cần giải quyết là tình trạng
dài (theo chiều dọc) và rộng (theo chiều
ngang) quá mức của mũ âm vật cùng với
tình trạng bất đối xứng. Do đó, việc đánh
giá kỹ lưỡng các mục tiêu điều trị và giải
phẫu liên quan sẽ giúp Bs trong việc xây
dựng chiến lược phẫu thuật và lựa chọn
phương pháp phẫu thuật tối ưu đối với mỗi
trường hợp.
Kỹ thuật: Vô cảm, Kháng sinh và
đánh dấu vùng phẫu thuật
CHR hiếm khi được thực hiện như 1
thủ thuật riêng biệt và hầu hết thường là
1 bước trong phẫu thuật giảm môi âm hộ.
Trong những trường hợp này, việc vô cảm,
sử dụng kháng sinh dự phòng và đánh dấu
vùng phẫu thuật được thực hiện đồng thời.
Kỹ thuật mà chúng tôi thường sử dụng
không nhất thiết phải tuân theo các kết quả
từ nghiên cứu, vì chúng khá hạn chế trong
lĩnh vực thẩm mỹ này, do đó có thể không
ngoại suy được với toàn bộ quần thể. Chuẩn
bị trước phẫu thuật bao gồm thuốc kháng
sinh (thuốc kháng nấm hoặc kháng virus)
đường uống được kê đơn tùy theo tiền sử
bệnh nhân vào đêm trước và sáng hôm
phẫu thuật. Bệnh nhân cũng được hướng
dẫn tắm bằng loại dung dịch kháng khuẩn
vào sáng ngày phẫu thuật. Khăn lau chlor-
hexidine sẽ được sử dụng trước phẫu thuật.
Thông thường, bệnh nhân sẽ được gây tê
tại chỗ. Những bệnh nhân này được hướng
dẫn bôi tê tại chỗ như LMX 5% Anorectal
Cream (Ferndale Lab) hoặc Anecream 5%
(Focus Health Group) ít nhất 1 giờ trước
phẫu thuật và băng vô trùng bằng băng ép
sau phẫu thuật.
Quy trình phẫu thuật dự kiến được thảo
luận lại với bệnh nhân sau bước chuẩn bị
trước mổ. Sau khi đã xong các thủ tục giấy
tờ, bệnh nhân sẽ được sử dụng thuốc an
thần đường uống (diazepam và alprazolam)
để hỗ trợ thuốc tê tại chỗ trong khâu vô
cảm. Sau đó, Bs hoặc trợ lý tiến hành chụp
ảnh trước phẫu thuật ở tư thế đứng và tư
thế sản khoa. Trong tư thế đứng, Bs sẽ đánh
dấu mức độ nhô ra trước của rãnh môi trên
và tương quan giữa mũ âm vật và môi lớn
(độ ‘nhô’). Chiều rộng của mũ âm vật, sự
tách biệt của môi lớn hai bên, và phần mũ
âm vật dư thừa theo chiều dọc cũng được
ghi nhận. Bệnh nhân được đặt ở tư thế sản
khoa, các đánh dấu trước đó được xem lại,
đánh giá thêm tình trạng bất đối xứng của
mũ âm vật và độ sâu của rãnh liên môi.
Trước khi tiến hành các bước tiếp theo, test
véo da sẽ được thực hiện để xác định phần
thừa theo chiều dọc và ngang của mũ. Nếu
làm test này mà thấy phần đánh dấu không
rõ ràng hoặc còn đang cân nhắc, nên phẫu
thuật bảo tồn là chính để tránh cắt bỏ quá
nhiều tổ chức. Tuy nhiên, có thể xác định
lại đường rạch trong quá trình phẫu thuật
bằng mũi chỉ tailor’s-tack.
Các cấu trúc liên quan đến vùng âm
hộ sẽ được tiêm hỗn hợp 50:50 gồm 1%
lidocain với 1: 100.000 epinephrin và 0,5%
bupivacain với 1: 100.000 epinephrin hoặc
với articaine 4% với 1: 100.000 epinephrin
sử dụng kim 27 hoặc 30 G. Hiếm khi cần
nhiều hơn 2 hoặc 3 ml thuốc tê cho phẫu
thuật mũ âm vật. Điều này cho phép thời
gian để epinephrine có hiệu lực trong khi
bệnh nhân được đưa đến phòng mổ. Nói
chung gây mê hiếm khi được sử dụng trừ
khi được yêu cầu hoặc khi các thủ tục kết
hợp yêu cầu nó được thực hiện.
Tư thế bệnh nhân
Bệnh nhân được đặt trong tư thế sản
khoa và chuẩn bị vô trùng theo quy trình.
Khi vô cảm đạt yêu cầu, các dấu sẽ được
vẽ lại (Hình. 7-12, A). Khi sử dụng kỹ thuật
cắt để giảm mũ theo chiều dọc, kết hợp với
giảm môi bé kiểu wedge/trim hoặc áp dụng
như một thủ thuật riêng biệt, nên đánh dấu
(ở tư thế đứng) ở đỉnh của mép môi trên
trước, bao gồm giới hạn trên của đường
rạch; điều này thường trùng hợp với phần
95
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
gò mu bắt đầu có lông mu. Phẫu thuật trên
điểm này sẽ gây ra sẹo và có liên quan đến
tỷ lệ nang vùi cao hơn.
Mặc dù có nhiều phương thức khác nhau
(dao mổ, kéo, dao điện, laser và RF) được
sử dụng để cắt mô, chúng tôi sử dụng dao
điện công suất thấp, thường là 8 đến 12
với máy đốt điện ConMed (Aspen Excalibur
PLUS PC) cho cả hai chế độ cắt (Blendl)
và cầm máu (Standard). Các đường rạch
được thực hiện bằng dòng cắt, và da được
bóc tách tới lớp cân Buck. Điều này về cơ
bản dẫn đến việc loại bỏ lớp da có độ dày
thường từ 2 đến 3 mm; bóc tách sâu hơn
có thể dẫn đến tổn thương mạch thần kinh.
Hình ảnh dưới đây mô tả quy trình thực
hiện CHR. Chúng tôi thường để lại một dải
da dài 6-8 mm thẳng đường giữa mũ âm
vật (độ dài khi kéo căng) tính từ vị trí thân
âm vật trở lên (Hình 7-12, B). Vì trong quá
trình thực hành lâm sàng, chúng tôi nhận ra
cầu da có cuống sẽ giúp hạn chế tình trạng
phù nề sau phẫu thuật.
Hình. 7-12 A, Bệnh nhân sau các bước chuẩn bị và đánh dấu vùng phẫu thuật. B, Một dải
da dài từ 6-8 mm (kéo căng) tính từ thân âm vật lên trên, nằm trên mặt phẳng doc giữa
mũ âm vật.
Một đường được vẽ ở phía trong (Hình.
7-12, C đến I) và một đường khác ở phía
ngoài (Hình. 7-12, J đến N) MỖI BÊN, để
bảo tồn khoảng 6 đến 8 mm da mũ âm vật
ở giữa. Điểm bắt đầu cách mép tự do của
mũ âm vật (vị trí gắn với môi bé) khoảng
5 đến 6 mm (Hình. 7-12, O). Nếu bắt đầu
ngay ở vị trí môi bé tiếp nối vói mũ âm vật
thì khả năng phạm phải mạch máu thần
kinh rất cao.
96
Chương 7
Kỹ thuật tạo hình mũ âm vật
Hình. 7-12, (tiếp) C-I, A Đường vẽ phía trong.
97
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 7-12, (tiếp) J-N, A đường vẽ phía ngoài. Thực hiện 2 đường rạch tại vị trí vừa vẽ và khâu
nối chúng lại với nhau. O, Đường phía trong nằm cách mép tự do của mũ âm vật đoạn 5
to 6 mm.
98
Chương 7
Kỹ thuật tạo hình mũ âm vật
Hình. 7-12, (tiếp) P, Đường đánh dấu phía trong sẽ loe dần ra khi đi dần xuống phía dưới.
Q và R, Lượng da cắt sẽ được xác định và đánh dấu lại sau khi thực hiện test véo da hoặc
mũi khâu tailor’s tack nếu muốn.
Chú ý thấy đường đánh dấu phía trong
sẽ loe ra dần khi xuống phía dưới, đặc biệt
khi bệnh nhân đứng (Hình 7-12, P). Điều
này giúp cân đối phần tổ chức còn lại sau
phẫu thuật, đồng thời đảm bảo hình thể giải
phẫu mũ âm vật.
Lượng da cắt sẽ được xác định và đánh
dấu lại sau khi thực hiện test véo da hoặc
mũi khâu tailor’s-tack, nếu muốn (Hình 7-12,
Q và R). Đường kẻ lại có thể khác đường kẻ
trước khi test.
Khi mũ âm vật chủ yếu thừa chiều rộng,
vị trí đường đánh dấu phía ngoài có thể tới
tận rãnh liên môi. Tuy nhiên, đường đánh
dấu này sẽ liên tục với đường đánh dấu để
cắt môi bé nếu như bệnh nhân thực hiện
kỹ thuật kết hợp. Nếu thực hiện CHR đơn
thuần, giới hạn của đường này sẽ là vị trí
gắn của môi bé với mũ âm vật mà chúng
ta mong muốn (điểm gắn sau phẫu thuật).
Còn ở phía trên thì chúng tới nối với điểm
cuối cùng của đường đánh dấu bên trong,
tại vị trí mép môi trước. Đôi khi, ở những
bệnh nhân có phần tổ chức thừa quá nhiều,
có thể đặt thêm hai đường rạch ngang hình
chữ V ngược, để tạo nên đường rạch hình
chữ H. Ngoài ra, tất cả các vết rạch có thể
hội tụ lại 1 điểm để tạo hình thành chữ V
ngược, nhưng chúng tôi ít khi sử dụng cách
rạch này vì bệnh nhân thường bị phù nề sau
phẫu thuật.
Các nhà phẫu thuật vẫn chưa thống nhất
về việc sử dụng đường đánh dấu dọc bờ
trong của môi bé. Nếu bệnh nhân được chỉ
định kỹ thuật wedge sửa đổi, đường đánh
dấu ở bờ trong sẽ thường dành cho việc
giảm môi bé chứ không liên quan nhiều
tới phẫu thuật mũ. Còn khi thực hiện kết
hợp với kỹ thuật trim thì phần đánh dấu của
CHR sẽ được liên tục xuống tới mặt trong
môi bé.
Vị trí đánh dấu mặt trong môi bé
sửa đổi
Có hai cách đánh dấu mặt trong môi bé
sửa đổi. Cách thứ nhất, ở mặt trong môi bé,
điểm khớp nối giữa hãm âm vật và môi bé
sẽ được rạch tới ngay trước vị trí gắn của
chúng với quy đầu âm vật (Hình 7-13, A tới
D). Đây là kỹ thuật thường được áp dụng ở
cơ sở của tôi.
Nên ước đoán được vị trí dưới cùng của
môi lớn gắn với mũ âm vật sau phẫu thuật.
Nên tính toán sao cho sau khi gắn mũ với
môi bé bằng mối khâu chia ba (một mũi
khâu đệm ngang chôn ½ hoặc hai mũi khâu
đệm dọc) thì sẽ có một lực kéo nhẹ mũ âm
vật (tạo độ căng tự nhiên). Một đường khâu
tương tự ở bên đối diện được khâu sao cho
cân đối.
99
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 7-13 A-D, Ở mặt trong mối bé, điểm khớp nối giữa hãm âm vật và môi bé sẽ được rạch
theo chiều dọc tới ngay vị trí giao thoa giữa mũ âm vật và quy đầu âm vật.
100
Chương 7
Kỹ thuật tạo hình mũ âm vật
Đây là một trong những bước quan trọng
nhất để xác định hình dáng thẩm mỹ (Hình.
7-13, E). Hãm âm vật được đóng lại bằng
cách sử dụng một mối khâu vắt có khóa
(không thít chặt chỉ) bằng chỉ Vicryl Rapide
5-0 được chôn chặt để giảm thiểu nút thắt
gây khó chịu ở khu vực nhạy cảm (Hình.
7-13, F). Các vết rạch phía ngoài được đóng
lại bằng cách sử dụng mối khâu vắt với chỉ
5-0 Vicryl Rapide, sau đó là một đường khâu
trong da, mối vắt với chỉ 5-0 Monocryl. Có
thể coi như 1 lớp khâu cuối, một vài mối
chỉ rời hoặc đệm dọc, lỏng, được khâu bằng
chỉ Vicryl Rapide 5-0 tại các vị trí trọng yếu
(mép vết mổ), để ‘lấp đầy’ các khoảng trống
và tạo độ mềm mại cho bờ mép vết mổ
(Hình. 7-13, G). Chỉ khâu được đặt lỏng để
‘thích nghi’ với tình trạng phù nề sau mổ và
để giảm thiểu ‘bóp nghẹt’ mép vết mổ. Sau
đó, các mép vết mổ được tiêm bupivacain
0,5% với 1: 100.000 epinephrine bằng kim
30G để giảm đau sau phẫu thuật và được
băng bằng một miếng băng vô trùng phủ
thuốc mỡ bacitracin.
Hình. 7-13, (tiếp) E và F, Phần mở rộng phía dưới của mũ âm vật đã được ghép và khâu
đóng lại với hãm âm vật. G, Vết mổ được gia cố bằng một vài mối chỉ rời hoặc mối đệm
thẳng, lỏng lẻo để ‘thích nghi’ với tình trạng phù nề sau phãu thuật.
101
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Cách tiếp cận thứ 2, được Cress mô tả
là phương pháp điều trị chứng ‘lồi’ âm vật,
vùng phẫu thuật được đánh đấu bởi đường
lưỡi liềm nằm ngang,, để lại khoảng cách
tối thiểu 1.5cm giữa quy đầu âm vật với lỗ
niệu đạo. Để khi đóng vết mổ, lực căng hình
thành khi đóng đường lưỡi liềm sẽ làm quy
đầu âm vật ‘thụt’ về phía trong, và đóng
vết mổ ở hai bên sẽ đẩy mũ âm vật ra phía
trước, giúp giảm tình trạng ‘lồi’ âm vật.
Chăm sóc sau phẫu thuật
Chăm sóc sau phẫu thuật cũng giống
như sau khi thu nhỏ môi bé. Bệnh nhân
được hướng dẫn chườm đá khu vực này
trong 24 đến 48 giờ đầu tiên, nếu có thể
chịu được. Bệnh nhân sẽ được sử dụng
giảm đau đường uống nếu cần. Chăm
sóc vết thương bao gồm rửa bằng nước
sau khi tiểu tiện và bằng xà phòng kháng
khuẩn sau đại tiện. Tắm vòi sen được
khuyến khích nhưng không tắm bồn, trừ
bồn sitz (nước lạnh thì tốt hơn ấm) để giảm
bớt sự khó chịu hoặc làm sạch. Bệnh nhân
không nên sử dụng hồ bơi công cộng, bồn
tắm nước nóng, hoặc phòng tắm hơi trong
4 tuần. Nên hạn chế hoạt động thể chất và
không tập thể dục trong 4 tuần. Bệnh nhân
được hướng dẫn không sử dụng tampon
và bôi một lượng nhỏ thuốc mỡ vào băng
vệ sinh để chống dính hoặc sử dụng băng
Telfa không dính.
Trong một nghiên cứu đo độ nhạy cảm
sau phẫu thuật sau khi tạo hình môi âm hộ
với CHR, các triệu chứng tăng nhạy cảm
thoáng qua (3 tuần sau thủ thuật) là phổ
biến nhất, tương tự như ở núm vú sau khi
nâng ngực. Tôi nhận thấy rằng các bệnh
nhân báo cáo sự thuyên giảm khi sử dụng
Neo To Co! một loại khử trùng và xịt giảm
đau trong hộp sơ cứu ban đầu.
Thủ thuật bổ sung
Trong một loạt 407 bệnh nhân trải qua
phẫu thuật giảm môi bé và mũ âm vật, Alter
đã thực hiện phẫu thuật cố định âm vật ở
35 bệnh nhân (8,6%), CHR đường ngang ở 4
bệnh nhân (1%) và “cắt bỏ 1 phần mặt lưng
của nũ âm vật” ở 1 bệnh nhân. (0,25%). Như
đã thảo luận trước đây, Gress đã mô tả một
thủ thuật CHR sửa đổi, giúp điều chỉnh sự
nhô ra của âm vật. Đôi khi, ở những bệnh
nhân bị teo môi lớn rõ rệt, việc chuyển mỡ
và / hoặc nâng cao môi lớn có thể làm giảm
độ nhô mũ âm vật 1 cách tương đối.
Kết quả
Kết quả của những sửa chữa này là vô
cùng khó đánh giá vì thiếu dữ liệu. Không
có báo cáo nào về loạt trường hợp thực
hiện CHR có theo dõi lâu dài. Bởi vì thủ
thuật này thường được thực hiện kết hợp
với các thủ thuật thu nhỏ môi âm hộ, các
biến chứng thường được nhóm lại với nhau;
do đó, độc giả nên tham khảo các chương
về giảm môi âm hộ (xem các CHƯƠNG 4
đến 6 và 9.) Một trong những phàn nàn phổ
biến nhất là tình trạng lộ và nhô ra ngoài
của âm vật và / hoặc nắp âm vật, dẫn tới
yêu cầu cắt bỏ, sửa đổi chúng ngày một
nhièu, nhưng hầu hết các BS đều khuyên
nên điều trị bảo tồn.
Biến chứng
Đã có rất ít thông tin được công bố liên
quan đến các biến chứng, ngoài những kết
quả đã thảo luận trước đây chủ yếu liên
quan đến các thủ thuật kết hợp, mà không
có biến chứng riêng sau thực hiện CHR.
Hamori đề nghị rằng một vạt mở rộng V-Y
của phần mũ còn lại sẽ được sử dụng để
che phủ nếu loại bỏ quá nhiều mũ âm vật,
để âm vật lộ ra ngoài. Trong loạt ca lâm
sàng của Alters gồm 407 bệnh nhân trải
qua các thủ thuật kết hợp, các biến chứng
ở vị trí mũ âm vật là một u hạt ở tai chó và
bốn u hạt ở vị trí vết khâu.
102
Chương 7
Kỹ thuật tạo hình mũ âm vật
Theo Lean và Minto, ca phẫu thuật trên
âm vật của những người có cơ quan sinh
dục không rõ ràng nên được thực hiện bởi
bác sĩ phẫu thuật có kinh nghiệm để giảm
thiểu tổn thương mạch máu thần kinh, và
để đạt được kết quả thẩm mỹ tốt nhất có
thể. Biến chứng tái phát hẹp bao quy đầu
âm vật sau phẫu thuật là cao (hơn 50%).
Đôi khi, các vết mổ không được như ý muốn
có thể ‘sửa’ bằng cách sử dụng RF để tái
tạo bề mặt.
e-bacsy.com
Chương 8
Kỹ thuật
ghép mỡ làm đầy môi lớn
Lina Triana, Paul E. Banwell
104
Chương 8
Kỹ thuật ghép mỡ làm đầy môi lớn
Những điểm chính
• Chỉ định chính của làm đầy môi lớn là
các trường hợp giảm sản, da chùng
nhão hoặc cả hai.
• Nếu môi lớn có phần da chùng nhão
nhiều thì cũng nên cân nhắc việc giảm
môi lớn trước khi làm đầy. Các phương
án điều trị bao gồm ghép mỡ tự thân và
tiêm filler.
• Khi thực hiện ghép mỡ ở những bệnh
nhân có da môi lớn chùng nhão, Bs
phẫu thuật không nên đặt quá nhiều
mỡ ở 1/3 dưới môi lớn. Các trường hợp
cần ghép nhiều mỡ có thể chia thành
nhiều phiên phẫu thuật để tránh các
biến chứng không đáng có.
Tại sao cần làm đầy môi lớn?
Mục đích của CHƯƠNG này là mô tả
một phương pháp tiếp cận không phẫu
thuật làm đầy môi lớn bằng mỡ tự thân.
Thủ thuật này có thể được thực hiện một
mình hoặc kết hợp với các thủ tục phẫu
thuật thẩm mỹ BPSDN để tối ưu kết quả.
Trong xã hội ngày nay, chúng ta đã có
nhận thức rõ hơn về ngoại hình bộ phận
sinh dục vì sự thịnh hành của xu hướng wax
lông mu cũng như các vấn đề về vùng kín
dần được đề cập nhiều hơn trên các phương
tiện thông tin đại chúng. Đặc biệt, phần môi
âm hộ mịn màng và ‘nổi bật’ có thể mang
lại vẻ ngoài trẻ trung hơn đối với CQSD nữ.
Phụ nữ ngày nay hầu hết đều mong muốn
‘vẻ ngoài’ này, không chỉ bởi vì tính thẩm
mỹ, mà chúng còn giúp người phụ nữ tự tin
hơn, loại bỏ được các rào cản tâm lý xã hội.
Do đó, việc thực hiên thành thạo kỹ
thuật làm đầy môi lớn là kỹ năng nên có
của 1 bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ. Ghép mỡ
tự thân, là một kỹ thuật khá phổ biến nhằm
mục đích cải thiện hình dáng môi lớn và là
một thủ thuật quan trọng trong phẫu thuật
tạo hình môi.
Chỉ định và chống chỉ định
Chỉ định chính để làm đầy môi lớn là
giảm sản, da chùng hoặc cả hai.
Chứng giảm sản và / hoặc lỏng lẻo
da môi lớn hình thành từ một số nguyên
nhân, và những nguyên nhân này có thể
được phân loại thành bẩm sinh hoặc mắc
phải. Các nguyên nhân mắc phải bao gồm
những thay đổi thứ phát sau chấn thương
hoặc khối u nhưng cũng có thể là những
nguyên nhân sinh lý như lão hóa và những
nguyên nhân liên quan đến mãn kinh hoặc
những thay đổi khi mang thai. Những bệnh
nhân sụt cân hàng loạt cũng có thể có biểu
hiện chùng da và giảm thể tích môi lớn.
Nhiều bệnh nhân trẻ tuổi có môi âm hộ
bình thường có thể vẫn muốn môi âm hộ
“phồng” hơn, đầy đặn hơn, vì mục đích cải
thiện thẩm mỹ.
Không có chống chỉ định tuyệt đối nào
cho việc làm đầy môi lớn. Tuy nhiên, bác sĩ
phẫu thuật vẫn phải cảnh báo bệnh nhân về
khả năng nhiễm trùng, nhưng nguy cơ này
không lớn hơn bất kỳ phẫu thuật bộ phận
sinh dục nữ nào khác. Ở những bệnh nhân
rất gầy với lượng mỡ dưới da tối thiểu, dẫn
tới tình trạng thiếu mỡ ghép có thể được coi
là một chống chỉ định tương đối và việc lập
kế hoạch phẫu thuật và thảo luận với bệnh
nhân là điều tối quan trọng trong những
trường hợp này.
Giải phẫu
Giải phẫu cơ quan sinh dục ngoài của
phụ nữ đã được mô tả trong CHƯƠNG 1.
Về mặt phôi thai, môi lớn ở phụ nữ có
nguồn gốc từ sự phình ra của 1 bộ phận
sinh dục, mà ở nam, bộ phận này phát triển
thành bìu. Chúng là hai nếp da chuyên biệt,
bắt đầu từ gò mu mở rộng ra phía sau;
mở rộng ra hai bên môi bé và bắt đầu thu
hẹp về phía sau để ôm lấy toàn bộ môi bé.
Chúng bao bọc các cấu trúc bên trong của
105
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
cơ quan sinh dục nữ, đặc biệt là ở người
chưa sinh con, mặc dù hình dạng giải phẫu
có thể rất khác nhau.
Môi lớn mặt ngoài có lông và mặt trong
không lông với lớp da mịn bao phủ các phần
phụ dưới da và các tuyến sinh dục. Môi âm
hộ thường được làm đầy tự nhiên với phần
mô mỡ dưới da ở các mức độ khác nhau.
Nguồn cung cấp máu cho môi lớn là từ
động mạch môi âm hộ sau và động mạch
đáy chậu, cả hai nhánh đều của động mạch
thẹn trong. Dây thần kinh chi phối là thần
kinh thẹn.
Đánh giá lâm sàng và lên kế
hoạch
Phẫu thuật thẩm mỹ bộ phận sinh dục
không khác nhiều so với thẩm mỹ các khu
vực khác; do đó, việc hiểu được mong muốn
của bệnh nhân là điều tối quan trọng. Động
cơ cho việc tới điều trị cần được thảo luận
chi tiết, bao gồm những kỳ vọng của bệnh
nhân và sự hiểu biết về các biến chứng.
Sau bước trên, bệnh nhân sẽ được khám
lâm sàng. Tốt nhất nên khám ở thư thế
đứng, bệnh nhân cầm gương chỉ vào đúng
những vị trí mà họ cho rằng là ‘bất thường’.
Bs cũng nên nắm được các biến thể giải
phẫu để thuận tiện trong quá trình tư vấn
và đưa ra chỉ định sao cho phù hợp.
Nếu môi âm hộ có rất nhiều da thừa thì
cũng nên xem xét việc giảm môi lớn trước
khi làm đầy (xem CHƯƠNG 6). Việc thảo
luận và đưa ra quyết định về mức độ làm
đầy môi sẽ tương tự như những cuộc thảo
luận liên quan đến việc định kích thước túi
ngực. Các quyết định nên được thực hiện
sau khi lắng nghe cẩn thận mong muốn của
bệnh nhân để hiểu kết quả cuối cùng mà họ
mong muốn. Chúng tôi phải luôn thông báo
cho bệnh nhân rằng một lượng chất béo sẽ
được hấp thụ lại sau khi làm đầy môi bằng
mỡ tự thân.
Mô tả kỹ thuật
Kỹ thuật chuyển mỡ Coleman đã được
mô tả và áp dụng rộng rãi trên lâm sàng.
Các bác sĩ phẫu thuật thường cá nhân hóa
các kỹ thuật để hút mỡ, chuẩn bị và tiêm
chất béo tùy theo thiết bị hiện có ở cơ sở
y tế và cũng tùy theo từng nhóm đối tượng
điều trị. Thủ thuật có thể được thực hiện với
bệnh nhân gây tê tại chỗ ở ngay phòng thủ
thuật tại phòng khám, tùy thuộc vào hướng
dẫn ở mỗi quốc gia. Không cần phong bế
thần kinh.
Đánh dấu
Nếu chỉ thực hiện ghép mỡ thì chúng tôi
khuyến nghị đánh dấu vùng phẫu thuật ở
tư thế sản khoa. Bệnh nhân sẽ được đánh
dấu bằng một đường viền dài, hình bầu dục,
bắt đầu từ mức ngang với lỗ âm đạo lên tới
ngành mu (2 đến 3 cm phía trên đầu ngoại
vi mũ âm vật).
Chuẩn bị mô mỡ ghép
Mỡ ghép có thể được lấy từ khu vực có
sẵn (vùng có mỡ thừa). Có thể lấy mỡ ở
vùng đùi trong hoặc gối trong vì khá dễ lấy,
lại gần với vùng phẫu thuật.
Khu vực cần hút mỡ cũng được đánh
dấu, và dung dịch làm phồng có thể được
tiêm vào tổ chức dưới da, theo thường lệ,
bao gồm dung dịch muối 500 ml, 1 ống
adrenaline (1: 1000), và 25 ml lidocain 1%
(Hình. 8-1).
Thông thường, có thể thu khoảng 80 đến
120 cc chất béo bằng ống tiêm 10 ml hoặc
lượng bất kỳ tùy theo lượng mỡ cần ghép
(lượng chất béo gấp khoảng ba lần lượng
mỡ dự tính ghép vào môi lớn). Chúng tôi
thích sử dụng canuyn từ 1,8 đến 2,0 mm để
chiết xuất chất béo. Cũng có thể sử dụng
canuyn này để tiêm dung dịch làm phồng
nếu cần.
106
Chương 8
Kỹ thuật ghép mỡ làm đầy môi lớn
Hình. 8-1 A, Canuyn để hút mỡ. B, Vùng đùi trong, khu vực thường được hút mỡ để ghép
vào môi lớn.
Hình. 8-2 Chuẩn bị mô ghép. A, Gạn chất béo B, Đẩy bỏ lượng chất lỏng, giữ lại mỡ ghép. C,
Chuyển mỡ từ xilanh này qua xilanh khác để điều chỉnh độ đặc của mô ghép.
Năm 1994, Coleman đã nghĩ ra một
phương pháp ghép mỡ, mà ông đặt tên là
LipoStructure. Quy trình cải tiến này đã
giảm thiểu các thao tác có thể làm tổn
thương mô ghép và tối ưu hóa khả năng
tồn tại của các tế bào mỡ được tiêm vào.
Các tác giả khác đã mô tả nhiều kỹ thuật
nhằm tối ưu việc hút và chuẩn bị chất béo.
Phân tích hình thái tế bào mỡ cho thấy rằng
số lượng tế bào mỡ trong mẫu được ly tâm
cao hơn có ý nghĩa thống kê so với mẫu để
lắng.
Chúng tôi thích thu chất béo bằng ống
tiêm 10 ml thông thường và xử lý mẫu bằng
cách gạn đơn giản.
Một số kỹ thuật đã được mô tả để hút mỡ
và xử lý chất béo như ly tâm, rửa và lọc, và
gạn (Hình 8-2).
Cấy mô ghép vào môi lớn
Bệnh nhân nằm ở tư thế sản khoa.
Thực hiện 2 đường rạch, mỗi bên một
đường ở vị trí trên môi lớn 1 chút. Vị trí của
các vết rạch này là rất quan trọng để đảm
bảo toàn bộ chiều dài của môi lớn đều được
ghép mỡ. Đặt chúng quá thấp đôi khi dẫn
đến ghép mỡ thiếu cho vùng mô phía trên
đường rạch. Hình. 8-3 mô tả quy trình ghép.
107
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 8-3 Ghép mỡ tự thân. A, Đưa đầu kim tới vị trí cần ghép mỡ. B, Tiêm (Ghép mỡ). C,
Dùng tay để ‘phân bố’ mô ghép cho đều.
Kỹ thuật tiêm tốt là chìa khóa để tránh
tình trạng mỡ tích tụ ở 1 vị trí, có thể gây
nên hoại tử và / hoặc hình thành u nang.
Phương pháp tiếp cận nhiều lớp kiểu
“spaghetti” được áp dụng (thực chất là tiêm
lượng nhất định mỡ từ sâu lên đến nông
sao cho vùng nào cũng được ghép mỡ).
Khi chất béo được đưa vào, một tay giữ
ống tiêm và đẩy nhẹ ống tiêm, trong khi tay
kia đặt ở vùng mô đích để ‘hướng’ chất béo
đến nơi nó cần ở lại bằng các thao tác tay.
Chất béo được tiêm đều vào môi lớn cho
đến khi đạt được kích thước mong muốn
(Hình 8-4). Kết thúc quy trình, bác sĩ phẫu
thuật sẽ ‘tái phân bố’ mỡ bằng cả hai tay..
Chăm sóc sau phẫu thuật
Sưng và đau có thể kéo dài đến 4 tuần.
Không có khuyến cáo đặc biệt nào được
đưa ra cho bệnh nhân ngoài việc tránh tập
thể dục gắng sức và quan hệ tình dục trong
4 tuần.
108
Chương 8
Kỹ thuật ghép mỡ làm đầy môi lớn
Hình. 8-4 Tiêm mỡ. A, Vừa ghép mỡ ở phía bên phải. B, Ghép xong cả 2 bên.
Kết quả
Mục tiêu của làm đầy môi lớn là tạo ra
môi lớn ‘đầy đặn’ và ‘trẻ trung’ hơn. Và ghép
mỡ là biện pháp có thể giúp đạt được kết
quả mong muốn này, nhưng sự tích hợp
của ghép mỡ với các phương pháp khác có
thể rất khác nhau tùy theo mong muốn của
bệnh nhân (Hình 8-5 đến 8-7).
Hình. 8-5 Bệnh nhân 57 tuổi thực hiện tạo hình môi kết hợp ghép mỡ. A và C, Hình ảnh
trước phẫu thuật. B và D, Kết quả sau phẫu thuật.
109
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 8-6 Bệnh nhân 32 tuổi thực hiện giảm môi bé kết hợp làm đầy môi lớn bằng mỡ tự
thân. A, C, và E, Hình ảnh trước phẫu thuật. B, D, và F, Kết quả sau phẫu thuật.
110
Chương 8
Kỹ thuật ghép mỡ làm đầy môi lớn
Hình. 8-7 Bệnh nhân 32 tuổi thực hiện tạo hình môi và làm đầy môi lớn. A và C, Hình ảnh
trước phẫu thuật. B và D, Kết quả sau phẫu thuật.
111
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Biến chứng
Trong toàn bộ quy trình ghép mỡ, chúng
ta nên nhớ rằng phần dưới môi lớn phải ‘dẹt’
hơn phần trên, còn phần trên phải ‘rộng’
hơn phần dưới. Nếu chỉ ghép mỡ trên bệnh
nhân có nhiều da chùng thì không được
đặt mỡ ở 1/3 dưới của môi lớn. Sai lầm này
rất dễ mắc phải, vì thường vùng da này có
lượng da chùng nhiều hơn.
Ghép mỡ về mặt kỹ thuật ít phức tạp
hơn các thủ thuật làm đầy khác và để lại
sẹo nhỏ hơn, nhưng quá trình tái hấp thu
chất béo luôn xảy ra và rất khác nhau đối
với từng bệnh nhân,. Trong một số trường
hợp, lượng mỡ hấp thụ không thể tính toán
được.
Bệnh nhân nên được tư vấn về điều này
trước khi phẫu thuật. Những người muốn
có môi lớn đầy đặn mà phải ghép quá nhiều
mỡ thì có thể chia phẫu thuật thành nhiều
giai đoạn. Trong những tình huống như vậy,
các thủ tục theo giai đoạn nên được lên lịch
tối thiểu 3 tháng/lần để đảm bảo cấp máu
tối ưu cho mô ghép.
Nang mỡ có thể xuất hiện trong khoảng
30% các trường hợp. Tuy nhiên, ít khi nang
này to đến mức nhìn thấy bằng mắt thường.
Chúng tôi khuyên bệnh nhân nên xoa bóp
thường xuyên để giúp giảm kích thước nang
này và cải thiện tình trạng tăng nhạy cảm.
Hoại tử mỡ có thể xảy ra và có thể dẫn
đến nhiễm trùng mỡ nếu không được điều
trị kịp thời. Nếu nghi ngờ có hoại tử mỡ,
có thể hút bỏ tổ chức mỡ đã bị hóa lỏng
qua các đường rạch phụ. Hoại tử mỡ có
thể biểu hiện bởi tình trạng viêm và / hoặc
đau, thường giảm sau khi dùng kháng sinh
đường uống. Tuy nhiên, dẫn lưu luôn được
khuyến khích nếu các triệu chứng vẫn còn.
Kết luận
Làm đầy môi lớn bằng mỡ tự thân có
thể cải thiện diện mạo của vùng âm đạo và
tầng sinh môn mà không để lại sẹo trong
khi vẫn giữ được độ nhạy cảm bình thường
cho vùng này. Kỹ thuật này là một trị liệu
quan trọng trong phẫu thuật thẩm mỹ cơ
quan sinh dục nữ, và có liên quan nhiều đến
các thủ tục khác.
e-bacsy.com
Chương 9
Kỹ thuật tiêm filler
làm đầy môi lớn
Nicolas Berreni
113
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Những điểm chính
• Việc sử dụng HA dạng tiêm để tái cấu
trúc môi lớn đã dần trở nên phổ biến.
Chúng đã được ca ngợi về tính hiệu
quả cũng như tính an toàn khi được
thực hiện bởi các Bs lâm sàng có trình
độ chuyên môn cao, kỹ năng tuyệt vời
cùng với các dụng cụ tiêm filler tốt.
• Trẻ hóa hoặc phục hồi cấu trúc âm
hộ bằng các sản phẩm có khả năng
tự thoái giáng không đồng nhất như
HA hứa hẹn sẽ là một xu hướng trong
tương lại, đặc biệt là khi kết hợp với các
phương pháp không phẫu thuật khác.
Môi lớn đóng 1 vai trò quan trọng trong
việc bảo vệ môi bé ở PHẦN trên của tiền
đình âm hộ và phần lỗ âm đạo (1/3 dưới
của âm hộ) ở phía dưới. Lớp bảo vệ này
ngăn chặn ma sát của quần áo với môi bé,
đặc biệt do các hoạt động thể thao (ví dụ,
cưỡi ngựa và đi xe đạp) hoặc quần áo bó
sát/ôm dáng. Chứng teo môi lớn là nguyên
nhân gây ra viêm âm hộ mãn tính và khô
âm hộ, gây khó chịu, ngứa và chứng giao
hợp đau. Hậu quả về chức năng, tâm lý và
tình dục là những hạn chế thực sự trong
cuộc sống của phụ nữ và có thể ảnh hưởng
đến tình dục, ham muốn tình dục và sự tự
tin.
Tính thẩm mỹ của vùng âm hộ phụ
thuộc vào ‘cấu trúc’ của vùng mỡ dưới da
nằm trên xương mu và phần mỡ dưới môi
lớn.
Mong muốn của phụ nữ trong việc điều
chỉnh hoặc giữ lại vẻ trẻ trung của bộ phận
sinh dục có lẽ đã được khuếch đại bởi sự
phổ biến của xu hướng wax lông mu, nhưng
nó cũng là mong muốn nhằm xóa bỏ hậu
quả của quá trình lão hóa, sinh con, và các
chấn thương vùng kín. Sự hiểu biết về giải
phẫu của vùng âm hộ là điều cần thiết để
thực hiện kỹ thuật trẻ hóa và phục hồi bộ
phận sinh dục. Sự phức tạp trong mối quan
hệ giữa cấu trúc nông và sâu cùng với các
tương quan cấu trúc giữa da, tổ chức dưới
da, cơ, dây chằng và cân mạc đã tạo nên
những thách thức không hề nhỏ cho Bs lâm
sàng.
Quy đầu âm vật
Lỗ niệu đạo
Mép môi trên (trước)
Hãm âm vật
Môi bé
Lỗ âm đạo
Bao âm vật
Mũ âm vật
Môi lớn
Mép môi dưới (sau)
Giải phẫu và mô học
Khớp mu
114
Chương 9
Kỹ thuật tiêm filler làm đầy môi lớn
Hình. 9-1 A, Cấu trúc nông vùng đáy chậu (xem chú thích hình 1.1). B, Bóc tách phần dưới
trung bì và lớp chất béo nông để quan sát phần chất béo môi lớn (a, Phần niệu đạo của tiền
đình; b, phần màng trinh của tiền đình 1, sự mở rộng mạc nối mu âm vật; 2, sự mở rộng
vùng bẹn; 3, tiểu thể mỡ trong môi; 4, sự mở rộng phần mông; 5, sự mở rộng đáy chậu
Môi lớn được hình thành từ tổ chức da
bao gồm các tế bào biểu mô vảy phân tầng
(sừng hóa và sắc tố), lớp trung bì dày đặc
mạch máu cùng với nhiều tuyến bã nhờn,
tuyến bán hủy và một lớp sâu chứa các sợi
cơ trơn: mạc môi lớn (Hình 9-1).
Các thành phần khác của môi âm hộ
bao gồm một lớp mỡ dưới da thoái triển
theo thời gian hoặc khi giảm cân quá mức
và một tiểu thể mỡ môi lớn, cả hai đều là
một dạng xơ sợi giàu mạch máu và một
cơ quan bán cương cứng được củng cố bởi
các sợi đàn hồi với các sợi xơ hướng ra phía
trước, phía sau và đi ngang. Sự thoái triển
của mô mỡ môi âm hộ là kết quả của tác
động của trọng lượng cơ thể lên đáy chậu
và từ chuyển động ma sát lặp đi lặp lại của
đùi.
Trong quá trình lão hóa, bề mặt da của
môi âm hộ trải qua quá trình ‘xuống cấp’
giống như lớp trung bì của các phần da
khác trong cơ thể. Phần mỡ dưới da môi
lớn sẽ trải qua quá trình “chảy” hay còn gọi
là teo mỡ. Điều này dẫn tới tình trạng xẹp
lún và giảm trương lực, làm mất thể tích và
bề mặt da sẽ xuất hiện nếp nhăn. Việc mất
đi ‘hàng rào’ này cũng ảnh hưởng tới môi
bé và tiền đình, dẫn đến khô âm hộ, đau tự
phát hoặc khi quan hệ tình dục và phì đại
của môi bé khi tăng ma sát.
115
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Nguyên tắc chính của việc ‘tái cấu trúc’
môi lớn dựa trên việc tái tạo lại các mặt
phẳng khác nhau:
• Trẻ hóa phần da bề mặt môi lớn tương
tự như cách chúng ta phục hồi da mặt:
- Áp dụng kỹ thuật tiêm vi điểm, HA
không có liên kết chéo hoặc liên kết
yếu được tiêm vào trong da hoặc ở
các lớp nông bằng kim, kim lăn, vi
kim và hoặc súng kim.
- Việc sử dụng PRP tiêm vi điểm, đơn
độc hoặc kết hợp với HA đã cho phép
tái tạo đáng kể độ dày của lớp da,
loại bỏ các nếp nhăn và các đường
gờ ở vùng âm hộ.
• Việc điều trị trẻ hóa môi lớn ở phần
sâu dưới da đã giúp cải thiện trương
lực cơ âm hộ và môi (các mạc dartos),
độ “đầy đặn” và “trẻ trung” của môi âm
hộ. Kỹ thuật RF và hiệu ứng nhiệt được
áp dụng lên vùng sinh dục giúp điều
chỉnh đáng kể tình trạng giảm thể tích
hoặc lão hóa âm hộ - âm đạo hoặc các
chấn thương khi sinh bằng đường âm
đạo thông qua tác động của chúng lên
việc hình thành collagen và điều chỉnh
trương lực cơ trơn (xem chương 16).
• Liên tục với tổ chức mỡ vùng gò mu,
phần mỡ dưới môi lớn giúp cải thiện
tương quan giữa hai vùng giải phẫu này,
đồng thời giúp phân cách giữa vùng có
lông mu và không có lông mu. Lớp mỡ
dưới da này được chia thành 2 phân lớp
là phân lớp nông bề mặt và sâu phía
dưới – bao phủ bề mặt đáy chậu. Các
tuyến Bartholin và thể cương, với nhiều
tổ chức cơ và cân mạc, nằm giữa lớp
cân nông của đáy chậu và mạc chậu
(hoặc lớp cân dưới của hoành niệu
dục), tiếp nối với lớp mỡ sâu. Các cơ
hành xốp bao phủ phần hành tiền đình,
và cơ ngồi hang nằm trên thể hang
(Hình. 9-2).
Giảm tổ chức mỡ dưới da thường liên
quan tới các nguyên nhân như lão hóa (sau
mãn kinh), giảm estrogen, giảm cân lượng
lớn (sau các liệu trình giảm cân nghiêm ngặt
hoặc sau mang thai), và vi chấn thương (do
chơi thể thao, mặc quần áo chật, wax lông)
thường xuyên. Không dừng lại ở đó, điều
này còn dẫn tới tình trạng chùng nhão da
và tổ chức dưới da ‘lỏng lẻo’, hình thành nên
các nếp nhăn hằn sâu. Đường viền môi lớn
– với mặt ngoài, mặt trong và phần mép
tự do nhô ra ngoài – đều được cấu thành
1 phần từ tổ chức mỡ dưới da. Chúng hình
thành một hình chữ V ngược ‘mềm mại’.
116
Chương 9
Kỹ thuật tiêm filler làm đầy môi lớn
Hình. 9-2 Lớp cân chậu nông và mạc chậu.
Chúng ta có thể giải quyết tình trạng
này bằng cách tiêm HA thay vì ghép mỡ tự
thân. Phương pháp trẻ hóa bộ phận sinh
dục không phẫu thuật, xâm lấn tối thiểu này
đặc biệt được chú ý đến vì tính đơn giản khi
thực hiện, không yêu cầu thực hiện tại các
cơ sở y tế lớn và kết quả thu được tương đối
thuyết phục.
Chỉ định và chống chỉ định
Chỉ định
• Phụ nữ trên 18 tuổi
• Bệnh nhân mong muốn trẻ hóa môi lớn
vừa vì mục đích thẩm mỹ, vừa vì mục
đích bảo vệ cho các cấu trúc phía trong.
Chống chỉ định
• Phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú
• Có tiền sử dị ứng với các hoạt chất filler
(HA và mannitol)
• Nhiễm trùng âm đạo ở vùng tiêm
(nhiễm khuẩn hoặc virus như HPV,
herpes hoặc nhiễm nấm)
• Những vấn đề về da như tình trạng viêm
da vùng gần vị trí tiêm
• Có các vật dụng cấy ghép vĩnh viễn
hoặc tạm thời tại vùng tiêm
• Bệnh nhân vừa được phẫu thuật tại khu
vực dự tính tiêm filler do căn nguyên
ung thư
Chống chỉ định liên quan tới acid
hyaluronic
• Tiền sử bệnh lý miễn dịch, nhiễm
streptococcus, sốt thấp cấp có tổn
thương khu trú tại tim.
Đánh giá bệnh nhân
Việc đánh giá tổ chức mỡ môi lớn bị
teo, và ước đoán lượng hoạt chất cần tiêm,
được thực hiện bằng cách so sánh và đánh
117
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
giá độ dày của mỡ ở gò mu và độ ‘nhô’ của
môi âm hộ. Chúng ta cần tìm ra sự ‘cân
bằng’ về mặt thẩm mỹ và chức năng giữa
các cấu trúc này.
Lên kế hoạch và chuẩn bị
Bệnh nhân được sử dụng kháng sinh
dự phòng trong 3 ngày bằng neomycin với
polymyxin B và nystatin đặt âm đạo. Trong
3 ngày trước khi can thiệp, không được cạo
lông mu hoặc dùng bất kỳ dụng cụ nào tác
động vào khu vực này. Nếu bệnh nhân có
lông mu mọc nhiều và có khả năng ảnh
hưởng tới việc thực hiện thủ thuật, chúng
tôi yêu cầu họ tỉa gọn khoảng 2 hoặc 3
ngày trước khi làm thủ thuật. Có thể dùng
kéo cắt, chỉ để lại đoạn dài 1 cm.
Trước khi tiêm, nên sát trùng cẩn thận
trước, ít nhất ba lần trên khắp bề mặt da, âm
hộ và âm đạo. (Chúng tôi thường sử dụng
povidone iodine 10%, đôi khi, chlorhexidine
gluconate hoặc benzalkonium chloride).
Mô tả kỹ thuật
Vô cảm
Xylocaine 2% được tiêm trong da, mỗi
bên 0,2 ml. Chúng tôi cũng tiêm các lớp da
sâu và tiêm dưới da (năm đến bảy lần tiêm
0,3 ml) dọc theo đường đi của canuyn, theo
đường đã vẽ trước đó, sẽ được mô tả ở phía
dưới.
Đánh dấu
Có thể đặt kim ở 1 số điểm khác nhau
tùy thuộc vào vị trí và kinh nghiệm người
thực hiện. Hình 9-3 đánh dấu các điểm đặt
kim được cho là an toàn và phù hợp hơn
cả dựa trên đặc trưng giải phẫu vùng. Các
điểm phía trên mà chúng tôi sử dụng là ở
vùng mép ngoài của gò mu, cách 1 đoạn
khoảng 2-3 ngón tay so với đường dọc giữa
(từ gò mu thẳng tới mép môi sau). Còn
điểm phía dưới sẽ cách môi bé 2cm về phía
ngoài, ngang với mép môi sau.
118
Chương 9
Kỹ thuật tiêm filler làm đầy môi lớn
Hình. 9-3 Vị trí tiêm filler. A, Điểm trên (1 và 2 ). Vị trí đầu kim phải nằm ở lớp mỡ nông ngay
dưới da, và ngay trên lớp mỡ sâu với cơ hành xốp. B, Điểm dưới.
119
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Đối với những mũi tiêm này, bệnh nhân
sẽ nằm ở tư thế sản khoa, và bác sĩ phẫu
thuật sẽ đưa kim hoặc ống tiêm hướng lên
trên và chéo về phía rãnh sinh dục-đùi.
Các đường nét đứt được vẽ trên da là
chỉ điểm cho hướng đi của canuyn. Hướng
chếch về phía nút đáy chậu mà không tràn
vào bên trong bờ tự do của môi âm hộ và
rãnh sinh dục đùi. Chúng ta dừng kim ở
ngay dưới mép môi sau và ngay trên trung
tâm đáy chậu.
Tư thế bệnh nhân
Bệnh nhân có thể được đặt ở tư thế phụ
khoa với hai chân hơi dạng hoặc nằm ngửa
trên bàn thủ thuật (Hình 9-4). Người thực
hiện có thể đứng như khi khám sàn chậu
hoặc ngồi trên ghế đẩu. (Một chiếc bàn có
thể điều chỉnh là điều cần thiết để có tầm
nhìn tối ưu và sự thoải mái khi làm việc.)
Khi thực hiện tiêm mỡ, tôi thích đứng cùng
bên với vùng tiêm.
Hình. 9-4 A, Người thực hiện có thể ngồi trước mặt bệnh nhân, như khi khám phụ khoa.
B, Vị trí ưa thích là đứng cùng với bên thực hiện thủ thuật, bệnh nhân ở tư thế nằm ngửa.
Kỹ thuật
Dụng cụ
Những dụng cụ cần thiết để thực hiện
thủ thuật (Hình. 9-5):
• Kim: Dài 13 mm, 20 mm, 25 mm; đường
kính 27 G hoặc 30 G
• Cannuyn: Dài 80 mm; đường kính
18-gauge
• Xylocaine 2%
• Băng ép, găng tay
• Bơm tiêm chứa HA: 2 ml mỗi bơm
• Bút đánh dấu
120
Chương 9
Kỹ thuật tiêm filler làm đầy môi lớn
Dung dịch vô trùng
Kim
Xylocaine
Bút đánh
dấu
Hyaluronic
acid
Hình. 9-5 Dụng cụ cần dùng cho thủ thuật.
Acid Hyaluronic
HA là một polyme anion trọng lượng
phân tử cao. Nó là một ‘thành viên’ của
siêu họ glycos- aminoglycan nonsulfat-
ed, và cấu trúc của nó dựa trên sự kết hợp
luân phiên của các chuỗi disaccharide (axit
D-glucuronic và D-N-acetylglucosamine).
HA được tổng hợp nội sinh. Nó xuất
hiện trong nhiều mô và đóng các vai trò
sinh lý quan trọng trong cơ thể sống, bao
gồm duy trì độ nhớt của các mô liên kết
lỏng như hoạt dịch ở khớp và thủy tinh thể
ở mắt; kiểm soát quá trình hydrat hóa mô,
đặc biệt là ở da, màng nhầy và các lớp mô
dưới niêm mạc; vận chuyển nước; tổ chức
hóa proteoglycan ở chất nền ngoại bào;
sửa chữa mô; và các chức năng khác qua
trung gian thụ thể trong việc giải phóng liên
kết giữa các tế bào, quản lý khối u và viêm.
Một trong những đặc điểm quan trọng
nhất của phân tử này là khả năng ‘bảo tồn’
đặc trưng của nó giữa các loài. Cấu trúc
HA xuất hiện giống hệt nhau ở khắp các
ngành và các loài sinh vật đa dạng như
Pseudomonas slime, giun đũa và động vật
có vú như chuột, thỏ và người.
Sự luân chuyển HA nội sinh được kiểm
soát bởi các thành phần tổng hợp HA
(isoforms 1, 2 và 3) và các hyaluronidase
(Hyal-1, Hyal-2 và Hyal-3) và dường như
tương đối nhanh: Thời gian bán hủy HA
bình thường dao động từ 3 tuần trong sụn
đến 2 ngày trong da. Quá trình luân chuyển
HA là rất quan trọng trong việc thiết kế các
sản phẩm tiêm filler. Vào đầu những năm
1990, các sản phẩm HA dạng tiêm bắt đầu
được tung ra thị trường. Sự luân chuyển nội
sinh nhanh như vậy đòi hỏi phải tăng cường
thêm các gel có thành phần HA để kéo dài
tác dụng lâm sàng của chúng. Vì vậy, giải
pháp đã được tìm thấy, đó chính là HA liên
kết chéo. Về cơ bản, nó là một phản ứng
đơn giản giữa một chất hóa học và sợi HA.
Mục đích là tạo liên kết cộng hóa trị, bền
vững để ‘gắn kết’ các sợi HA lại với nhau.
Khi thực hiện bước này, khả năng tiếp cận
của hyaluronidase đối với mạng HA giảm
mạnh. Các liên kết cộng hóa trị được tạo
ra sẽ ảnh hưởng đến tính lưu biến của sản
phẩm, đặc biệt là các thông số về độ nhớt
121
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
và độ đàn hồi. Cho đến nay, các sản phẩm
có sẵn trên thị trường đều được liên kết
chéo với diepoxyoctane, polyethyleneglycol
hoặc 1,4-butanediol diglycidylether.
Trong phụ khoa, HA lần đầu tiên được
nghiên cứu vì đặc tính chống dính tổ chức
sau phẫu thuật đặc biệt của chúng. Nó cũng
được sử dụng rộng rãi như một thành phần
quan trọng trong gel bôi trơn và hydrat hóa
tại chỗ hoặc tiêm điều trị chứng giao hợp
đau. Chất làm đầy có HA giúp làm căng da
mặt trong phẫu thuật thẩm mỹ, do đó việc
sử dụng sản phẩm này như một công cụ
mới để điều trị tình trạng teo mỡ do tuổi
tác ở cơ quan sinh dục nữ có vẻ hợp lý. Rất
nhiều tài liệu đã được xuất bản để mô tả kỹ
thuật ghép mỡ môi lớn. Các quy trình này
được thực hiện trong phòng phẫu thuật, và
điều chỉnh quá mức ban đầu thường là cần
thiết vì quá trình tiêu mỡ ghép luôn xảy ra
sau phẫu thuật. Để dễ dàng bù đắp sự mất
mát này, gel có thành phần HA đã được
phát triển.
Ghép mỡ làm đầy môi lớn với HA nên
được điều chỉnh phù hợp với lớp giải phẫu.
Mỡ dưới da có ở lớp da nông, trung gian và
sâu của môi âm hộ (Hình. 9-6). Kế hoạch
tiêm HA phải được điều chỉnh cho phù hợp
với vị trí giải phẫu cụ thể. Nhiều sản phẩm
trên thị trường được thiết kế để tiêm vào
tổ chức mỡ, nhưng liệu mỡ môi âm hộ có
thể được coi là tương đương với mỡ mặt
không?
Hình. 9-6 Đảo mỡ và các dải cân mạc vùng đáy chậu.
Vùng mở rộng
bụng – mu âm vật
Rãnh sinh dục đùi
Thể/Đảo mỡ
122
Chương 9
Kỹ thuật tiêm filler làm đầy môi lớn
Thành phần kiểu gen của tế bào mỡ
môi lớn vẫn chưa được nghiên cứu cụ thể,
nhưng về mặt giải phẫu, chất béo ở môi lớn
liên tục với mạc nông Camper, và cũng với
mạc Colles ở phía dưới (có thể so sánh với
cân Scarpa ở môi lớn). Mạc Colles là phần
mở rộng của lớp cân nông thành bụng. Nó
được gắn vào ngành cơ ngồi mu và hoành
niệu sinh dục; do đó chất béo này phải chịu
các ràng buộc cơ học cao: Các tác động cơ
học trên môi âm hộ có liên quan đến các
lực tạo bởi trọng lực, trọng lượng cơ thể,
ma sát của đùi, thói quen đi bộ nhiều, hoạt
động thể thao và áp lực do co cơ bụng phía
trên đáy chậu.
Hơn nữa, môi lớn là cấu trúc giải phẫu
chủ yếu dành để bảo vệ và hấp thụ các
sang chấn. Vì tất cả những lý do này, mỡ
môi âm hộ khác với mỡ mặt. Do đó, các
đặc tính của gel HA được tiêm phải được
điều chỉnh phù hợp với ‘môi trường’ cụ thể
này để ngăn chặn sự ‘di chuyển’ của sản
phẩm sau tiêm.
Vì tầm quan trọng về giải phẫu, chức
năng và tình dục của vùng này, đặc biệt là
môi lớn, chúng ta cần phải lựa chọn các
sản phẩm chúng ta sử dụng một cách
cẩn thận. Nhiều HA có dạng tiêm đã được
tạo ra dưới dạng filler “thể tích”, bao gồm
Vbluma (Allergan) (thường được sử dụng
nhất), Belotero (Merz), Sculptra (Sanofi) và
Radiesse (Bioform Medical). Nhưng những
sản phẩm được FDA chấp thuận nhằm mục
đích trẻ hóa da mặt. Mặc dù có thể đạt được
kết quả tốt khi sử dụng các sản phẩm này ở
vùng sinh dục, nhưng chúng chỉ được dùng
dưới dạng off-label. Nên chú ý thay đổi kỹ
thuật sao cho phù hợp với chỉ định và tính
pháp lý cũng như tính an toàn. Chỉ một sản
phẩm (Desirial Plus, Vivacy) đã được thử
nghiệm lâm sàng và nhận được sự chấp
thuận của Châu Âu cho chỉ định này.
Nó chưa được FDA chấp thuận. Sản
phẩm này cũng chứa mannitol, một thành
phần tự nhiên có nguồn gốc thực vật có thể
trì hoãn sự phân hủy của axit hyaluronic bởi
hyaluronidase trong cơ thể và các gốc tự
do được tạo ra trong quá trình tiêm.
Desirial Plus là sản phẩm chúng tôi sử
dụng để ‘tân trang’ vùng âm hộ. Hoạt chất
này đã được nghiên cứu lâm sàng. Sản
phẩm cuối cùng là kết quả của sự “dung
hòa” giữa các đặc điểm hóa lý khác nhau
đặc trưng cho HA, bao gồm độ nhớt, trọng
lượng phân tử, nồng độ (21 mg / g), độ đặc
hiệu đơn pha, tính đàn hồi, tính lưu động,
liên kết chéo, tính hút ẩm. Do đó, sản phẩm
loại tăng thể tích có thể hoàn toàn phù hợp
cho các ứng dụng vùng sinh dục và khắc
phục được các hạn chế đã đề cập trước
đây.
Do đặc tính lưu biến của chất làm đầy
chứa HA rất khác với chất béo được ghép
nên không nên so sánh trực tiếp thể tích
tiêm được. Vào năm 2011, Vogt và cộng
sự đã công bố một báo cáo trường hợp
trong đó 52 ml chất béo được tiêm vào để
điều chỉnh sự bất đối xứng của môi âm hộ.
Lượng thể tích quá lớn này nằm ngoài khả
năng của filler HA. Tuy nhiên, với 1 đến 4
ml HA, có thể điều chỉnh tốt và tự nhiên vì
gel có độ đàn hồi cao hơn so với mỡ ghép.
Chất làm đầy chứa HA cũng có thể được
sử dụng để chỉnh hình sau phẫu thuật ghép
mỡ.
Phương pháp
Sau khi tiêm xylocaine 2%, đợi vài phút
để nó có hiệu lực. Chúng tôi tạo một lỗ nhỏ
bằng cách sử dụng kim 27G và đưa vào
một canuyn dài 8 cm với kim 18G. Đường
đi cannula sẽ theo đường đã được đánh
dấu sao cho đầu kim luôn đi ngay dưới lớp
da. HA được tiêm theo kiểu ngược dòng từ
dưới lên trên (Hình. 9-7).
123
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 9-7 Hướng đi của canuyn từ điểm trên.
Ưu điểm của phương pháp tiêm này là
nó cho phép quan sát trực tiếp toàn bộ
diễn biến và giúp phân phối HA một cách
hài hòa vì lượng hoạt chất tiêm được kiểm
soát giữa ngón cái và ngón trỏ. Chúng tôi
cố gắng tạo ra một vẻ ngoài nữ tính và
môi âm hộ trẻ trung nhất có thể. Sau khi
tiêm, chúng tôi sẽ xoa bóp vùng vừa tiêm
để phân phối đều HA để đạt được kết quả
thẩm mỹ tối ưu.
Chăm sóc sau phẫu thuật
Bệnh nhân được hướng dẫn không sinh
hoạt tình dục, tắm, bơi, thể thao sau thủ
thuật 1 thời gian, cũng không nên mặc đồ
lót chật trong 1 tuần đầu.
124
Chương 9
Kỹ thuật tiêm filler làm đầy môi lớn
Kết quả
Người phụ nữ 25 tuổi này lo lắng về
những vết nhăn vùng âm hộ sẽ làm ảnh
hưởng nghiêm trọng đến đời sống tình dục
của cô ấy (Hình. 9-8). Tôi đã tiêm 2 ml HA
(Desirial Plus) ở mỗi bên môi lớn.
Hình. 9-8 A, Bệnh nhân này, một vận động viên lướt ván diều chuyên nghiệp, với hình ảnh
trước khi tiêm HA. B, Ngay sau khi tiêm. C, Một tháng sau khi tiêm. D, Ba tháng sau khi tiêm.
125
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 9-9 A Hình ảnh trước khi tiêm. B, Giữa các lần tiêm. C, Sáu tháng sau khi tiêm.
Người phụ nữ 45 tuổi này đã trải qua
liệu pháp progestin trong 10 năm để điều
trị bệnh phụ khoa. Liệu pháp này đã ảnh
hưởng nghiêm trọng đến lớp da vùng kín
của cô và gây ra chứng teo mỡ môi âm hộ.
Tôi đã tiêm 2 ml HA (Desirial Plus) vào mỗi
bên môi lớn (Hình. 9-9).
Hình. 9-10 cho thấy cách tiêm Desirial
Plus đã cải thiện đáng kể các rối loạn chức
năng sau thời gian ngắn.
126
Chương 9
Kỹ thuật tiêm filler làm đầy môi lớn
Hình. 9-10 Xác nhận mức độ giảm ngứa và nứt nẻ âm hộ trung bình rất đáng kể trên 35
bệnh nhân và thời gian duy trì tác dụng (lâu hơn 6 tháng) sau một lần điều trị duy nhất với
Desirial Plus. A, Tình trạng ngứa. B, Tình trạng nứt nẻ. (FSFI, Chỉ só chức năng tình dục ở nữ
giới.)
Mức giảm sau mỗi lần điều trị
Mức giảm sau mỗi lần điều trị
Đánh giá chủ quan trung bình của bệnh nhân (FSFI)
Đánh giá chủ quan trung bình của bệnh nhân (FSFI)
Thời gian
Thời gian
127
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Biến chứng
Các biến chứng liên quan đến việc làm
đầy môi âm hộ được liệt kê trong CHƯƠNG
8. Không giống như các kỹ thuật tiêm mỡ
tự thân (lipofilling) để định hình lại môi âm
hộ, các biến chứng của tiêm HA rất hiếm
gặp. Các biến chứng khi tiêm Desirial Plus
vào môi âm hộ liên quan đến kỹ thuật tiêm
và phân bố chất làm đầy kém, dẫn tới hình
thành các nốt sần và các vết lõm khó coi
ngay sau phẫu thuật, bao gồm hình dạng
“bánh pudding”, hình các cột hoặc “tinh
hoàn”.
Tiêm vào tiểu thể mỡ môi âm hộ có thể
hình thành khối máu tụ, nang, viêm hạch
bạch huyết gây đau đớn hoặc sự phân bố
không hài hòa của sản phẩm làm đầy tạo
ra các nốt sần. Kết quả được mô tả như
hình cái “tất” hoặc “trụ”.
Về mặt lý thuyết, cũng như khi tiêm HA
ở mặt, một nốt hoặc u hạt có thể là hậu quả
của phản ứng viêm sau tiêm, biến chứng
này có thể điều trị bằng corticosteroid hoặc
cắt bỏ.
Bác sĩ cần thực hiện đúng đủ các
bước trong kỹ thuật tiêm và đánh dấu các
vùng an toàn xung quanh môi lớn. Hầu
hết các vấn đề là nhỏ và dễ giải quyết
(Bảng 9-1). Chú ý, sẽ xảy ra tình trạng rò rỉ
và mất toàn bộ chất làm đầy khi tiêm nhầm
vào vị trí miếng đệm mỡ ụ ngồi trực tràng
(Hình.9-11).
Bảng 9-1 Tác dụng không mong muốn sau tiêm filler*
Tác dụng không mong muốn
Tần suất
Bầm tím (nhẹ đến trung bình)
3
Đau trong quá trình tiêm (nhẹ đến trung bình)
6
Phù thoáng qua (nhẹ đến trung bình)
9
Đau sau khi mát xa phân bố filler (nhẹ đến
trung bình)
6
Tấy đỏ/phát ban (nhẹ đến trung bình)
9
*Ngoài ra còn có các tác dụng phụ kinh điển cổ điển, tuy nhiên chúng không kéo dài.
Kết quả nghiên cứu lâm sàng trên 50 bệnh nhân khẳng định rằng tác dụng tiêu cực xảy
ra ở dưới 10% các trường hợp và giống với tác dụng phụ khi tiêm các hoạt chất khác.
128
Chương 9
Kỹ thuật tiêm filler làm đầy môi lớn
Hình. 9-11 Mỡ dưới môi lớn liên tiếp với đệm mỡ ụ ngồi trực tràng.
Đệm mỡ ụ ngồi-trực tràng
e-bacsy.com
Chương 10
Biến chứng
phẫu thuật thẩm mỹ vùng kín
Christine A. Hamori
130
Chương 10
Biến chứng phẫu thuật thẩm mỹ vùng kín
Những điểm chính
• Biến chứng phẫu thuật thẩm mỹ vùng
kín khá thấp, chỉ từ 2-4%.
• Giảm môi bé là một phẫu thuật an toàn
và hiệu quả. Các biến chứng thường
xảy ra ở những người hút thuốc hoặc
có BMI cao. Tách mép vết mổ là biến
chứng phổ biến nhất của cả 2 kỹ thuật
cắt thẳng và wedge.
• Các khối máu tụ lớn hiếm khi gặp nhưng
đều cần dẫn lưu để điều trị triệt để. Các
khối máu tụ nhỏ hơn sẽ tự hết sau một
thời gian nhưng thường gây bầm tím và
đau.
• Có thể xuất hiện nhiều biến chứng khác
nhau như sẹo phì đại, thủng, “coin slot”,
webbing, và mismatch sắc tố sau phẫu
thuật bằng kỹ thuật wedge.
• Các biến chứng của kỹ thuật trim bao
gồm đường bờ viền không mềm mại,
cắt cụt, và biến dạng hình dương vật.
• Ghép mỡ và làm đầy có thể giúp phục
hồi thể tích vùng gò mu và môi lớn
nhưng có thể cần tới nhiều lần điều trị.
Hoại tử mỡ thường hiếm khi xảy ra, tuy
nhiên vẫn cần lưu ý tới chúng.
• Biến chứng giảm môi lớn bao gồm sẹo
sau mổ và cắt bỏ quá nhiều tổ chức. Do
đó, việc cắt bỏ đủ lượng mô cần thiết,
cùng với các đường khâu không chịu
lực là chìa khóa để hạn chế những biến
chứng kể trên.
Thần kinh lưng âm vật
(TK thẹn)
Thần kinh lưng môi
âm vật (TK thẹn)
TK bì đùi sau, nhánh
chi phối cho đáy chậu
TK bì đùi sau
TK thẹn
TK đáy chậu (TK thẹn)
TK trực tràng sau
(TK thẹn)
Hình. 10-1 TK nông và sâu ở đáy chậu nữ.
131
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 10-2 Bệnh nhân nữ 33 tuổi tiền sử hút thuốc với hình ảnh 8 tuần sau phãu thuật kiểu
wedge. Bệnh nhân xuất hiện biến chứng webbing bên phải (tách một phần vết mổ).
Nhìn chung, các biến chứng của phẫu
thuật thẩm mỹ âm hộ là thấp, từ 2% đến
4%. Các cấu trúc thần kinh khá sâu và được
bảo tồn tốt (Hình. 10-1). Các biến chứng có
đôi chút khác biệt tùy thuộc vào các quy
trình. Bởi vì phẫu thuật tạo hình môi âm hộ
là thủ thuật thẩm mỹ phổ biến nhất dành
cho phụ nữ, thông tin về tỷ lệ biến chứng
chủ yếu liên quan đến thủ thuật giảm môi.
Trong một đánh giá về 407 giảm thiểu môi
âm hộ, Alter đã báo cáo tỷ lệ phải mổ lại do
tất cả các nguyên nhân là 2,9%.
Biến chứng phẫu thuật giảm
môi bé
Biến chứng kỹ thuật wedge
Giảm môi bé là một kỹ thuật an toàn và
hiệu quả để giảm kích thước và độ lồi của
môi bé. Tuy nhiên, các biến chứng có thể
xảy ra và bác sĩ phẫu thuật phải thành thạo
trong việc xử lý chúng. Các biến chứng của
kỹ thuật wedge đòi hỏi phải phẫu thuật lại
xảy ra trong 4% các trường hợp. Các biến
chứng này bao gồm tụ máu, tách mép vết
mổ, thủng, mismatch sắc tố và sẹo phì đại
(Hình 10-2 đến 10-6). Những bệnh nhân có
chỉ số BMI cao hoặc có tiền sử hút thuốc
thì vết mổ sẽ lâu lành hơn. Kỹ thuật cắt
thẳng (theo chiều dọc) có thể là lựa chọn
tốt hơn ở những bệnh nhân này. Các biến
chứng sau mổ do kỹ thuật cắt theo chiều
dọc nói chung ít hơn.
132
Chương 10
Biến chứng phẫu thuật thẩm mỹ vùng kín
Hình. 10-3 Bệnh nhân nữ 22 tuổi tiền sử hút thuốc, hình ảnh sau thực hiện kỹ thuật wedge
4 tháng, để lại 1 khối bất thường, kích thước tương đối lớn ở phía bên phải.
Hình. 10-4 Nữ 18 tuổi tiền sử hút thuốc, sau
thực hiện giảm môi kiểu wedge 8 tuần, xuất
hiện biến chứng thủng.
Hình. 10-5 Bệnh nhân nữ 42 tuổi, với hình
ảnh sau phẫu thuật giảm môi bằng kỹ thuật
wedge, cho thấy sẹo phì đại và còn tồn tại
tình trạng tăng sắc tố ở nửa dưới.
133
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 10-6 Bệnh nhân 25 tuổi tiền sử hút
thuốc, với hình ảnh 4 tháng sau thực hiện
kỹ thuật wedge kết hợp giảm môi lớn đồng
thời, xuất hiện mismatch sắc tố, sẹo phì đại,
tách bờ tự do môi âm hộ và hẹp lỗ âm đạo.
Hình. 10-7 Ngày đầu tiên sau phẫu thuật của 2 bệnh nhân. A, Bầm tìm nhẹ. B, Bầm tím mức
độ vừa.
Khối máu tụ và bầm tím
Vết bầm sau phẫu thuật thường gặp
trong tuần đầu tiên sau phẫu thuật tạo hình
môi. Những người dễ bị bầm tím có thể
dùng Arnica montana trong khoảng thời
gian làm thủ thuật để giúp nhanh hồi phục.
Khối máu tụ khá hiếm gặp sau phẫu thuật
tầng sinh môn (Hình. 10-7). Các khối máu
tụ nhỏ thường có biểu hiện đau, sưng cục
bộ và căng tức. Bệnh nhân thường sợ hãi
và lo lắng không biết có cần can thiệp phẫu
thuật hay không. Sử dụng camera trên điện
thoại di động, bệnh nhân có thể chụp nhanh
khu vực đó và gửi cho bác sĩ phẫu thuật, và
họ sẽ được hướng dẫn các bước xử lý tiếp
theo. Các khối máu tụ nhỏ thường tự hấp
thụ, nhưng đôi khi dịch tiết (sẫm màu) có
thể chảy ra từ vết mổ vài ngày hoặc thậm
chí vài tuần sau đó. Bệnh nhân nên được
thông báo về khả năng này nếu xuất hiện
khối máu tụ sau phẫu thuật. Các khối máu
tụ nếu có ở môi bé thì thường chỉ có ở 1
bên, có thể gây lo ngại cho bệnh nhân về
tình trạng mất đối xứng. BS nên trấn an
bệnh nhân để giảm bớt nỗi lo về di chứng
dị tật sau này. Chườm đá, băng ép và quan
sát kỹ để theo dõi diễn biến tổn thương là
những phương pháp điều trị cơ bản.
Các khối máu tụ lớn thường hình thành
trong vòng 24 giờ đầu sau phẫu thuật (Hình.
10-8). Theo kinh nghiệm của tôi, máu tụ do
phẫu thuật xảy ra thường xuyên hơn sau
các thủ thuật giảm môi lớn. Cân đáy chậu
và khoang ảo của âm hộ cho phép tích tụ
134
Chương 10
Biến chứng phẫu thuật thẩm mỹ vùng kín
một lượng lớn máu trước khi xuất hiện tình
trạng chèn ép (Hình 10-9). Những trường
hợp này cần được điều trị kịp thời với gây
mê toàn thân. Sau khi đã cầm máu và loại
bỏ phần máu đông ra ngoài, nên đặt ống
dẫn lưu để ngăn ngừa tái hình thành khối
máu tụ.
Hình. 10-8 A, BN nữ 24 tuổi này xuất hiện khối máu tụ lớn sau 8 giờ phẫu thuật giảm môi
lớn. B, Hai tuần sau khi dẫn lưu khối máu tụ lớn.
Hình. 10-8 Cơ đáy chậu và các khoang ảo.
Khoang phúc mạc
Tử cung
Khoang dưới phúc
mạc
Âm đạo
Hố ngồi – hậu môn
Cơ nâng hậu
Cơ bịt trong
Cơ ngồi hang
Cơ đáy chậu ngang
Khoang đáy chậu
nông
Cơ hành xốp
Hố đáy chậu nông
135
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Tách mép môi âm hộ
Biến chứng thường gặp nhất đối với kỹ
thuật wedge là tách mép môi hoặc bục chỉ
vết mổ. Những biến chứng này thường gặp
nhất ở những bệnh nhân hút thuốc và béo
phì. Tư vấn cẩn thận trước phẫu thuật về
tình trạng hút thuốc (ngừng hút thuốc hoàn
toàn 8 tuần trước khi phẫu thuật) và quản lý
cân nặng nên là một phần của việc quản lý
trước phẫu thuật của bệnh nhân phẫu thuật
tạo hình môi.
Tách mép hoặc bục chỉ thường xảy ra
ở mép xa nhất của đường khâu (bờ tự do)
(xem Hình. 10-3). Các mép niêm mạc có xu
hướng lộn vào trong, do đó cần khâu đóng
phần dưới niêm mạc tốt để mép niêm mạc
có thể liền tốt. Chỉ khâu 4-0 Monocryl mối
rời, khâu vùi khâu trong lớp niêm mạc sẽ
giúp hạn chế biến chứng tách mép hoặc
bục chỉ. Đường khâu phải chịu lực là 1 căn
nguyên khác dẫn tới tách mép; do đó việc
cắt bỏ vừa đủ tổ chức là điều tối quan trọng.
Trong khi khâu đóng mặt trước và mặt sau,
đều phải cảm nhận lực đóng vết mổ, tốt
nhất là đường khâu không chịu lực. Một
đường khâu đệm dọc 5-0 Monocryl chạy
dọc theo bờ tự do sẽ hạn chế tình trạng
tách mép hoặc bục chỉ.
Đối với những bệnh nhân có vấn đề về
lành vết mổ, chẳng hạn như bệnh nhân hút
thuốc và bệnh nhân béo phì, nên thực hiện
kỹ thuật trim thay vì wedge. Cắt kiểu trim
không ‘đi sâu’ vào môi bé như kiểu wedge.
Do đó, nếu các vấn đề về chữa lành vết
thương phát triển, thì việc xử lý cũng dễ
dàng hơn, sẹo để lại cũng nhỏ hơn. Tách
mép sau kỹ thuật wedge thường được điều
trị bằng cách cắt bỏ phần bờ tự do (cắt bớt
các đoạn nhô ra để phù hợp với đường cơ
sở của phân đoạn bị tách mép).
Sẹo lớn/phì đại
Các vết sẹo trong tạo hình môi kiểu
wedge thường lành tốt. Tuy nhiên, nếu vết
mổ căng quá mức, sẹo có thể phì đại hoặc
dày lên (Hình. 10-10). Việc cắt bỏ sẹo là
không khả thi, vì điều này vô tình làm đường
khâu sau chịu lực nhiều hơn. Sẹo dày, rất
hiếm khi xảy ra ở môi âm hộ, có thể được
điều trị bằng cách tiêm steroid liều thấp.
Hình. 10-10 Bệnh nhân 24 tuổi sau 8 tuần phẫu thuật giảm môi lớn xuất hiện sẹo phì đại.
136
Chương 10
Biến chứng phẫu thuật thẩm mỹ vùng kín
Thủng
Vị trí lỗ thủng thường nằm ở đầu gần,
dọc theo đường khâu đóng khi thực hiện kỹ
thuật wedge. Biến chứng này có thể xảy ra
khi phần tổ chức dưới niêm mạc được loại
bỏ bởi kỹ thuật wedge cắt toàn bộ (Hình.
10-11). Tuy nhiên tình trạng thủng cũng xảy
ra trong trường hợp chỉ khử biểu mô. Các
nguyên nhân khác gây thủng bao gồm các
vết khâu quá chặt trong quá trình đóng vết
thương dẫn tới làm tắc mạch. Các mối chỉ
phải được thắt tương đối lỏng, chỉ đủ để hai
mép áp sát vào nhau, tránh đường khâu
chịu áp lực. Để ngăn ngừa các biến chứng,
nên loại bỏ phần tổ chức dưới niêm tối thiểu
và căn chỉnh sao cho mép da sát nhau.
Ngoại lệ duy nhất là trường hợp môi âm
hộ rất dày, nên cần giảm lượng lớn tổ chức
(bao gồm cả lớp dưới niêm mạc thừa) để
đạt được kết quả thẩm mỹ tốt (Hình 10-12
và 10-13).
Hình. 10-11 Bệnh nhân 30 tuổi xuất hiện biến chứng thủng sau 8 tuần phẫu thuật giảm
môi.
Hình. 10-12 Bệnh nhân 49 tuổi có phần niêm mạc bờ tự do dày và thừa tổ chức dưới da
nhiều.
137
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Các lỗ thủng nhỏ, còn đủ tổ chức có thể
khâu đóng lại ngay. Các lỗ thủng lớn hơn có
thể điều trị bằng cách áp dụng kỹ thuật trim
để cắt bỏ phần niêm mạc chứa lỗ thủng
(Hình. 10-14). Phần viền được chỉnh sửa lại
này có thể làm giảm đáng kể sự nhô ra của
môi bé nhưng có thể không áp dụng được
trong trường hợp lỗ thủng quá lớn hoặc quá
xa bờ tự do. Nếu đường mổ bị tách hoàn
toàn, có thể cần các vạt tại chỗ từ phần môi
âm hộ còn lại hoặc chuyển vạt từ mũ âm
vật.
Hình. 10-13 Bệnh nhân 22 tuổi có phần tổ
chức dưới niêm mạc dày, không đối xứng và
kết nối với nhau ở mép môi sau.
Hình. 10-14 A, Bệnh nhân 29 tuổi được phẫu thuật giảm môi bằng kỹ thuật wedge, sau
phẫu thuật gặp phải biến chứng thủng, đã được cắt bỏ phần tổ chức chứa lỗ thủng, B, Hình
ảnh sau 8 tuần phẫu thuật.
138
Chương 10
Biến chứng phẫu thuật thẩm mỹ vùng kín
Hình. 10-15 Bệnh nhân nữ 30 tuổi với hình ảnh coin slot sau khi được phẫu thuật tạo hình
môi kiểu wedge, mũ âm vật bị kéo về phía sau.
Coin Slot (Khe đồng tiền)
Việc cắt bỏ quá mức niêm mạc môi bé
có thể dẫn tới âm hộ bị ‘hẹp’ lại rất nhiều, tạo
ra hình ảnh khe đồng tiền (coin slot) (Hình.
10-15). Hình ảnh này phổ biến ở các bang
ven biển như California và Florida. Phụ nữ
trong ngành công nghiệp giải trí dành cho
người lớn thường yêu thích “ Barbie look”
(xem CHƯƠNG 5). Những người khác cho
rằng coin slot là 1 vẻ ngoài không tự nhiên.
Tuy nhiên, việc cắt bỏ phần môi bé quá
nhiều có thể dẫn tới việc kéo nắp âm vật
về phía sau, che phủ quy đầu âm vật. Điều
này có thể làm giảm độ nhạy cảm của âm
vật. Có thể điều trị bằng cách cắt dọc mặt
lưng mũ âm vật 1 hình chữ V ngược, do đó
rút ngắn chiều dài và khôi phục độ phủ âm
vật thích hợp.
Webbing
Webbing phía sau có thể là kết quả của kỹ
thuật wedge ở những bệnh nhân có môi bé
hợp nhất ở mép môi sau (xem Hình 10-13).
Bệnh nhân có thể cảm thấy cọ xát và khó
chịu khi giao hợp do phần lỗ âm đạo phía
sau bị hẹp (Hình. 10-16). Điều trị bằng cách
rạch giải phóng mép môi sau. Lưu ý biến
thể giải phẫu này trước khi phẫu thuật và
thực hiện thủ thuật rạch ngay tại thời điểm
thực hiện xong đường khâu wedge. Bệnh
nhân cần được tư vấn trước phẫu thuật về
vị trí của sẹo có thể có sau phẫu thuật. Vị trí
này liền vết mổ lâu hơn và thường gây khó
chịu nhiều hơn so với đường rạch môi bé
trong kỹ thuật wedge.
139
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 10-16 Web hình thành sau khi khâu nối trong kỹ thuật wedge. Những bệnh nhân có
phần môi bé hội tụ lại mép môi sau dễ bị đau khi giao hợp do phần lỗ âm đạo bị hẹp lại.
Để ngăn chặn tình trạng này, thực hiện 1 đường rạch dọc sau khi khâu nối, để hình thành
hai môi bé riêng biệt, không hội tụ với nhau ở phía sau.
Mismatch sắc tố
Có sự khác biệt lớn về sắc tố ở vùng đáy
chậu. Tuy nhiên, môi bé thường là vùng có
sắc tố đậm nhất, đặc biệt là ở phần bờ tự
do. Đường cắt trong kỹ thuật wedge (thân
trên và thân dưới) phải tính toán sao cho khi
nối lại thì hai bên có sắc tố tương tự nhau.
Mismatch sắc tố có thể dẫn tới hiện tượng
thay đổi sắc tố đột ngột hoặc hình thành
dải sắc tố (Hình. 10-17). Nếu tình trạng bất
thường sắc tố làm bệnh nhân không hài
lòng, tốt nhất nên thực hiện kỹ thuật trim
thay vì wedge. Sự kết hợp giữa kỹ thuật trim
và wedge nên được áp dụng khéo léo để
hạn chế tối đa biến chứng mismatch. Nói
chung, phần lớn mismatch có thể tự hết,
nhưng có thể phải mất từ 6 đến 12 tháng.
140
Chương 10
Biến chứng phẫu thuật thẩm mỹ vùng kín
Hình. 10-17 Bệnh nhân 23 tuổi, với hình ảnh chụp 2 tuần sau phẫu thuật wedge, với 1 sọc
sắc tố chạy dọ theo đường khâu.
Có thể nói, mismatch sắc tố hoặc dải
sắc tố thường khó điều trị. Tẩy trắng bằng
hydroquinone hiếm khi đạt được hiệu quả
lâu dài. Có thể cần phải cắt bỏ thêm phần
rìa môi bé và vùng không phù hợp sắc tố.
Biến chứng kỹ thuật trim
Cắt cụt
Các thủ thuật loại bỏ phần bờ tự do (trim)
về mặt kỹ thuật dễ thực hiện hơn nhưng có
thể xảy ra tương đối nhiều biến chứng. Vấn
đề phổ biến nhất là tình trạng cắt bỏ quá
mức tổ chức. Cắt quá mức có thể dẫn đến
cắt cụt hoàn toàn môi bé. Cụ thể, một phần
ba trên cùng của môi bé rút lại nhiều hơn rất
nhiều so với hai phần ba phía dưới, do đó,
lúc đánh dấu nên cân đối lượng cắt ở từng
khu vực để phần còn lại không bị cụt. Bác
sĩ phẫu thuật cần tránh dùng clamp để kẹp
lên vùng môi âm hộ trước khi cắt vì việc này
có thể làm sai lệch tính toán của họ (clamp
đã che mất 1 phần tổ chức), đặc biệt trong
trường hợp không đánh dấu. Niêm mạc
màu hồng, ẩm ướt phía bên trong môi bé
thường ngắn hơn phần mô tăng sắc tố và
sừng hóa, bắt đầu từ phía ngoài đi vào phía
trong. Khi thực hiện kỹ thuật trim, việc cắt
bỏ 1 phần bờ tự do có thể làm lộ phần niêm
mạc phía trong này, dẫn tới khô âm đạo và
khó chịu khi giao hợp.
Biến dạng hình dương vật
Bệnh nhân có mũ âm vật lớn trải qua
các thủ thuật cắt mép có thể dẫn tới mũ
‘nhô’ ra quá nhiều sau phẫu thuật (Hình. 10-
18). Bệnh nhân có thể nói rằng họ nhìn thấy
“dương vật” ở khu vực này khi họ nhìn vào
gương, vì kỹ thuật trim không làm giảm độ
nhô của mũ âm vật mà thậm chí còn làm
chúng nhô ra nhiều hơn, một cách tương
đối. Do đó tình trạng này nên được giải
quyết ngay sau khi kết thúc các bước của
kỹ thuật trim.
141
e-bacsy.com
Phẫu thuật thẩm mỹ vùng Kín
Hình. 10-18 Bệnh nhân 41 tuổi
xuất hiện biến dạng hình dương
vật sau 10 tháng phẫu thuật
bằng kỹ thuật trim.
Phần tiếp giáp của mũ âm vật và hãm
âm vật là một khu vực giải phẫu phức tạp
về mặt thẩm mỹ, và cần phải chú ý nhiều
đến việc can thiệp vào phần chuyển tiếp
này. Điều trị dự phòng bằng cách cố định
mũ âm vật và môi bé ngay trong quá trình
thực hiện kỹ thuật trim.
‘Chỉnh sửa’ mũ âm vật là kết quả của kỹ
thuật trim mở rộng, bao gồm việc giảm mũ
âm vật và di chuyển phần mũ ra sau để về
đúng vị trí giải phẫu. Có thể kết hợp chỉnh
mũ âm vật trong kỹ thuật wedge nếu môi
bé ‘dư thừa’ 1 lượng vừa đủ lớn, là đủ hoặc
bằng cách ‘chuyển’ phần tiếp nối của mũ
âm vật và môi bé lùi về phía sau.
Biến chứng ghép mỡ và thủ thuật
làm đầy
Ghép mỡ dưới gò mu và môi âm hộ
có thể giúp tái tạo vùng này, mang lại vẻ
ngoài trẻ trung hơn. Cũng như các vùng
khác của cơ thể, sự tích hợp và ‘tuổi thọ’
của chất béo có thể khác nhau. Bs nên giải
thích kỹ với bệnh nhân rằng có thể cần tới
1 đợt ghép mỡ thứ hai sau khoảng 6 đến 8
tháng. Hoại tử mỡ dẫn đến u và nang ít gặp
nếu sử dụng đúng kỹ thuật (đó là Kỹ thuật
Coleman, dùng các canuyn nhỏ và tiêm
chậm). Trong trường hợp hoại tử và viêm
nhiễm tổ chức mỡ dai dẳng, có thể phải chỉ
định phẫu thuật cắt bỏ mô ghép.
Chất làm đầy axit hyaluronic và chất làm
đầy chứa canxi có hiệu quả trong việc ‘làm
phồng’ môi âm hộ. Các phương pháp điều
trị này có thể tốn kém vì cần nhiều ‘nguyên
liệu’ (ba đến tám ống tiêm). Các biến chứng
bao gồm bầm tím và đau khi tiêm. Tình
trạng không cân xứng sau khi tái hấp phụ
chất làm đầy có thể là một vấn đề và cần
phải tiêm thêm để điều chỉnh. Chất làm đầy
axit hyaluronic có lợi, vì chúng có thể được
giáng hóa bởi hyaluronidase nếu quá nhiều
HA được tiêm vào trong cơ thể. Không có
trường hợp thuyên tắc chất làm đầy nào
được báo cáo, nhưng các mạch lớn dưới da
sâu đến lớp hạ bì có thể gặp rủi ro.
Biến chứng phẫu thuật giảm
môi lớn
Hình thành sẹo
Sẹo lồi/phì đại sau phẫu thuật, có thể
nhìn thấy bằng mắt thường dường như
là vấn đề phổ biến nhất với giảm môi lớn
(Hình. 10-19). Vị trí sẹo rất quan trọng để
có được kết quả thẩm mỹ đẹp. Phần da
mang lông bắt đầu ngay ở phía ngoài rãnh
gian môi.
142
Chương 10
Biến chứng phẫu thuật thẩm mỹ vùng kín
Hình. 10-19 A Hình ảnh trước phẫu thuật giảm môi lớn. B, Sau phẫu thuật xuất hiện sẹo.
Hình. 10-20 Trường hợp phẫu thuật môi lớn thành công. A, Trước phẫu thuật tạo hình môi.
B, Ngay sau phẫu thuật. C, Kết quả cuối cùng.